GEN 1:1 Ban đầu Thượng Đế tạo nên trời và đất.
GEN 1:2 Lúc bấy giờ đất trống không và vô hình dạng. Bóng tối bao trùm vực thẳm, còn Thần Linh của Thượng Đế bay là là trên mặt nước.
GEN 1:3 Thượng Đế phán, “Ánh sáng hãy xuất hiện,” thì liền có ánh sáng.
GEN 1:4 Thượng Đế nhận thấy ánh sáng thật tốt lành, nên Ngài phân ánh sáng ra với bóng tối.
GEN 1:5 Ngài gọi ánh sáng là “ngày” và bóng tối là “đêm.” Buổi chiều qua đi, buổi sáng đến. Đó là ngày đầu tiên.
GEN 1:6 Sau đó Thượng Đế phán, “Phải có một cái vòm phân chia nước ra làm hai.”
GEN 1:7 Nên Thượng Đế tạo cái vòm để chứa một số nước ở phía trên khoảng không và một số nước bên dưới khoảng không ấy.
GEN 1:8 Thượng Đế gọi khoảng không là “bầu trời.” Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ hai.
GEN 1:9 Rồi Thượng Đế phán, “Nước ở dưới trời phải gom lại một chỗ để đất khô hiện ra.” Sự việc liền xảy ra như thế.
GEN 1:10 Ngài gọi chỗ khô ráo là “đất” và chỗ nước tụ lại là “biển.” Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
GEN 1:11 Sau đó Thượng Đế phán, “Đất phải sinh ra cây cối, một vài loại sinh ra hột giống và loại khác sinh ra trái cây có hột. Mỗi loại hột sẽ sinh ra nhiều cây khác cùng giống.” Sự việc liền xảy ra như Ngài phán.
GEN 1:12 Đất sinh ra cây có hột giống, có thứ cây sinh ra trái có hột. Mỗi hột giống tạo ra cây cùng loại. Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
GEN 1:13 Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ ba.
GEN 1:14 Rồi Thượng Đế phán, “Phải có các đèn sáng trên trời để phân biệt ngày với đêm. Các đèn đó sẽ dùng làm dấu hiệu chỉ mùa, ngày và năm.
GEN 1:15 Các đèn trên trời sẽ chiếu sáng đất.” Sự việc liền xảy ra như vậy.
GEN 1:16 Nên Thượng Đế tạo ra hai cái đèn lớn. Ngài làm cái đèn sáng hơn để cai trị ban ngày, còn đèn nhỏ hơn để cai trị ban đêm. Ngài cũng tạo ra các ngôi sao.
GEN 1:17 Ngài đặt tất cả những vật đó trong bầu trời để chiếu sáng đất
GEN 1:18 và dùng cai trị ngày và đêm, cùng để phân biệt ánh sáng với bóng tối. Thượng Đế thấy tất cả những điều đó thật tốt lành.
GEN 1:19 Buổi chiều qua, buổi sáng đến. Đó là ngày thứ tư.
GEN 1:20 Sau đó Thượng Đế phán, “Nước phải chứa đầy các sinh vật, chim phải bay trong vòm trời phía trên mặt đất.”
GEN 1:21 Cho nên Thượng Đế tạo ra các quái vật dưới biển cùng các sinh vật sống trong biển. Biển đầy dẫy các loài đó, mỗi loài sinh ra nhiều con khác cùng giống. Ngài cũng tạo các loài chim bay, mỗi loài chim sinh sản ra các con cùng giống. Thượng Đế thấy những điều đó thật tốt lành.
GEN 1:22 Thượng Đế ban phước cho chúng và phán, “Hãy sinh sản cho nhiều để làm cho đầy biển, chim cũng phải sinh ra thật đông trên đất.”
GEN 1:23 Buổi chiều qua, buổi mai đến. Đó là ngày thứ năm.
GEN 1:24 Rồi Thượng Đế phán, “Đất phải sinh ra các loài thú vật, mỗi loài sinh sản ra nhiều con khác cùng giống. Phải có các loài gia súc, các loài bò sát cùng các dã thú, mỗi loài phải sinh sản ra nhiều con khác cùng giống.” Sự việc liền xảy ra như thế.
GEN 1:25 Thượng Đế làm ra các loài dã thú, các loài gia súc, các động vật bò sát để chúng sinh ra các con khác cùng giống. Thượng Đế thấy điều đó thật tốt lành.
GEN 1:26 Sau đó Thượng Đế bảo, “Chúng ta hãy tạo nên con người theo hình ảnh của chúng ta, để họ quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, các loài gia súc, để họ cai trị khắp đất cùng các loài bò sát.”
GEN 1:27 Nên Thượng Đế tạo con người theo hình ảnh Ngài. Thượng Đế tạo ra họ theo hình ảnh Ngài. Ngài tạo ra người đàn ông và đàn bà.
GEN 1:28 Thượng Đế ban phước cho con người và bảo, “Hãy sinh con đẻ cái thật nhiều cho chật đất và hãy quản trị đất. Hãy cai quản loài cá trong biển, chim trên trời và các động vật trên đất.”
GEN 1:29 Thượng Đế phán, “Nầy, ta đã cho các con mọi thứ cây sinh hột giống và các thứ cây ra trái có hột. Dùng những thứ đó mà làm thức ăn.
GEN 1:30 Ta cũng đã dùng mọi loài rau cỏ xanh làm thức ăn cho các loài dã thú, chim trên trời cùng các động vật bò sát.” Sự việc liền xảy ra như vậy.
GEN 1:31 Thượng Đế nhìn những vật Ngài đã dựng nên, tất cả đều vô cùng tốt đẹp. Buổi chiều qua đi, buổi mai đến. Đó là ngày thứ sáu.
GEN 2:1 Thế là trời, đất và mọi vật trong đó đã được dựng nên xong.
GEN 2:2 Đến ngày thứ bảy Thượng Đế hoàn tất công tác của Ngài, cho nên Ngài nghỉ việc.
GEN 2:3 Thượng Đế ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày ấy vì là ngày Thượng Đế nghỉ ngơi công tác sáng tạo thế giới.
GEN 2:4 Đây là câu truyện tạo dựng trời đất. Khi Thượng Đế mới dựng nên trời đất,
GEN 2:5 mặt đất chưa có một bụi cây nào cả. Cũng chẳng có gì mọc ngoài đồng vì CHÚA chưa cho mưa xuống đất. Cũng chưa có ai chăm sóc đất,
GEN 2:6 nhưng có một luồng sương mù bốc lên từ dưới đất tưới ướt khắp cả mặt đất.
GEN 2:7 Sau đó Thượng Đế lấy bụi đất tạo nên con người. Ngài thổi hơi thở vào lỗ mũi, thì con người trở thành người sống.
GEN 2:8 Thượng Đế lập một cái vườn ở Ê-đen về phía Đông, rồi Ngài đặt con người Ngài đã dựng nên vào đó.
GEN 2:9 CHÚA khiến các loài cây từ đất mọc lên. Cây thì đẹp và trái ăn rất ngon. Ở giữa vườn có cây tạo sự sống và cây biết điều thiện lẫn điều ác.
GEN 2:10 Có một con sông chảy ra từ Ê-đen để tưới vườn. Con sông nầy chia ra bốn nhánh sông khác.
GEN 2:11 Nhánh sông thứ nhất tên Phi-sôn, chảy quanh vùng đất Ha-vi-la là nơi có vàng.
GEN 2:12 Vàng xứ đó rất quí giá. Ở đó cũng có nhũ hương và hồng ngọc.
GEN 2:13 Con sông thứ hai tên Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cút.
GEN 2:14 Con sông thứ ba tên Ti-gờ-rít, chảy về hướng đông đến A-xy-ri. Con sông thứ tư là Ơ-phơ-rát.
GEN 2:15 Thượng Đế đặt con người trong vườn Ê-đen để chăm sóc và trồng trọt.
GEN 2:16 Ngài ra chỉ thị cho con người như sau, “Con được phép ăn tất cả trái cây trong vườn,
GEN 2:17 nhưng không được ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. Nếu con ăn trái cây ấy con sẽ chết!”
GEN 2:18 Thượng Đế bảo, “Con người sống một mình không tốt. Ta sẽ làm một người giúp đỡ thích hợp cho nó.”
GEN 2:19 Thượng Đế lấy đất tạo nên mọi loài muông thú trên đất, mọi loài chim trời, xong Ngài đưa chúng đến trước con người, để xem con người đặt tên cho chúng ra sao. Con người đặt tên cho sinh vật nào thì thành tên ấy cho nó.
GEN 2:20 Con người đặt tên cho tất cả các loài gia súc, các loài chim trên trời và các muông thú sống trên đất. Nhưng về con người thì không tìm được ai giúp đỡ thích hợp cả.
GEN 2:21 Cho nên Thượng Đế khiến con người ngủ mê; trong khi đang ngủ Ngài lấy ra một xương hông của con người, rồi lấp chỗ ấy lại.
GEN 2:22 Thượng Đế dùng cái xương hông từ người nam mà làm thành một người nữ, xong đưa người nữ ấy đến gặp người nam.
GEN 2:23 Người nam nói, “Đây là con người mà xương là do xương tôi ra, thân thể cũng do thân thể tôi mà ra. Tôi sẽ gọi nàng là ‘đàn bà’ vì nàng ra từ người đàn ông.”
GEN 2:24 Cho nên người đàn ông phải rời cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Hai người sẽ trở thành một thân.
GEN 2:25 Cả người đàn ông và vợ đều trần truồng nhưng không cảm thấy xấu hổ.
GEN 3:1 Trong số các muông thú mà CHÚA là Thượng Đế dựng nên thì có con rắn là loài ranh mãnh hơn cả. Một hôm nó hỏi người đàn bà, “Có phải Thượng Đế dặn ông bà không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn không?”
GEN 3:2 Người đàn bà đáp, “Chúng tôi được phép ăn các trái cây trong vườn.
GEN 3:3 Nhưng Thượng Đế căn dặn chúng tôi, ‘Các con không được phép ăn trái của cây giữa vườn. Cũng không được đụng đến cây ấy. Nếu bất tuân các con sẽ chết.’”
GEN 3:4 Con rắn bảo người đàn bà, “Ông bà sẽ chẳng chết đâu.
GEN 3:5 Thượng Đế biết rõ rằng khi ông bà ăn trái cây ấy thì mắt sẽ mở ra, biết phân biệt thiện ác và sẽ trở nên giống như Ngài vậy đó!”
GEN 3:6 Người đàn bà thấy trái cây ấy đẹp, ngon và hấp dẫn vì sẽ khiến mình khôn ngoan, nên với tay hái mấy trái và ăn. Rồi cũng đưa cho chồng đang đứng gần đó, ông chồng cũng ăn luôn.
GEN 3:7 Bấy giờ mắt họ như được mở ra, tự thấy mình trần truồng, liền lấy các lá cây vả kết lại làm khố che thân.
GEN 3:8 Buổi chiều mát, hai người nghe tiếng Thượng Đế đi trong vườn, liền núp trốn Thượng Đế trong các lùm cây.
GEN 3:9 Nhưng Thượng Đế kêu con người hỏi, “Con ở đâu?”
GEN 3:10 Con người đáp, “Con nghe tiếng CHÚA đi trong vườn nên sợ phải trốn Ngài, vì con trần truồng.”
GEN 3:11 Thượng Đế hỏi, “Ai bảo rằng con trần truồng? Con có ăn trái cây mà ta căn dặn đừng ăn không?”
GEN 3:12 Con người thưa, “CHÚA ban cho con người đàn bà nầy, nàng đưa cho con trái cây ấy, nên con ăn rồi.”
GEN 3:13 Thượng Đế liền hỏi người đàn bà, “Tại sao con làm vậy?” Người đàn bà đáp, “Con rắn nó gạt con nên con ăn trái cây đó.”
GEN 3:14 Thượng Đế quở con rắn, “Vì mầy làm chuyện nầy, cho nên mầy bị nguyền rủa. Mầy bị rủa thậm tệ hơn tất các loài thú khác, dù là loài hiền hay dữ. Mầy sẽ bò bằng bụng, suốt đời mầy sẽ phải ăn bụi đất.
GEN 3:15 Ta sẽ khiến mầy và người đàn bà nghịch thù nhau. Dòng dõi mầy và dòng dõi người đàn bà sẽ chống nghịch nhau. Có một người thuộc dòng dõi người đàn bà sẽ chà đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người ấy.”
GEN 3:16 Sau đó Thượng Đế bảo người đàn bà, “Ta sẽ gia tăng khổ cực cho con và con sẽ phải sinh đẻ nhiều. Ngoài sự khổ cực khi sinh đẻ, con sẽ rất đau đớn. Con sẽ lệ thuộc vào chồng mình, còn chồng sẽ cai trị con.”
GEN 3:17 Rồi Thượng Đế bảo người đàn ông, “Vì con đã nghe lời vợ xúi mà ăn trái ta cấm không được ăn nên ta nguyền rủa đất. Con phải làm việc cực nhọc mới có ăn. Suốt đời con sẽ vất vả mới có thức ăn.
GEN 3:18 Đất sẽ sinh ra gai gốc và cỏ dại, con sẽ phải ăn cây cỏ nơi đồng ruộng.
GEN 3:19 Con phải làm đổ mồ hôi và cực khổ mới có ăn. Cuối cùng con sẽ trở về bụi đất là nơi con được tạo ra. Vì con vốn là bụi đất nên khi chết con sẽ trở về với bụi đất.”
GEN 3:20 A-đam gọi vợ là Ê-va vì bà là mẹ của nhân loại.
GEN 3:21 Sau đó Thượng Đế lấy da thú làm áo quần cho hai vợ chồng và mặc cho họ.
GEN 3:22 Ngài phán, “Con người đã trở thành như chúng ta, biết thiện và ác. Chúng ta phải giữ không cho chúng ăn trái cây sự sống nếu không chúng sẽ sống đời đời.”
GEN 3:23 Cho nên Thượng Đế đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày bừa ruộng đất, là nơi mà con người được tạo ra.
GEN 3:24 Sau khi Thượng Đế đuổi con người ra khỏi vườn, Ngài đặt các thiên sứ và một cây gươm lửa chói sáng khắp phía đông vườn. Như thế để ngăn không cho con người bước đến cây sự sống.
GEN 4:1 A-đam ăn ở với vợ là Ê-va. Nàng thụ thai và sinh ra Ca-in. Ê-va nói, “Nhờ CHÚA giúp đỡ tôi tạo ra được một người.”
GEN 4:2 Sau đó, Ê-va sinh ra em của Ca-in là A-bên. A-bên lo chăn nuôi, còn Ca-in thì làm ruộng.
GEN 4:3 Ít lâu sau, Ca-in mang hoa lợi do đất sinh sản dâng cho CHÚA. Còn A-bên thì mang những con tốt nhất trong các con đầu lòng của bầy gia súc dâng cho CHÚA. Ngài nhận lễ vật của A-bên,
GEN 4:5 nhưng Ngài không nhận lễ vật của Ca-in. Vì thế Ca-in lấy làm tức giận, cảm thấy như bị ruồng bỏ.
GEN 4:6 CHÚA hỏi Ca-in, “Tại sao con tức giận? Tại sao con có vẻ bất bình?
GEN 4:7 Nếu con làm đúng, ta đã hẳn chấp nhận con; nhưng nếu con làm sai thì hãy cẩn thận, tội lỗi đang chờ chụp bắt con đó. Tội lỗi rất thèm muốn con nhưng con phải thắng nó.”
GEN 4:8 Một hôm Ca-in bảo em là A-bên rằng, “Chúng mình hãy ra đồng đi.” Trong khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in cãi nhau với A-bên. Ca-in liền xông tới giết A-bên, em mình.
GEN 4:9 Sau đó CHÚA hỏi Ca-in, “A-bên, em con đâu rồi?” Ca-in thưa, “Con đâu có biết. Con có nhiệm vụ lo cho em con sao?”
GEN 4:10 CHÚA liền bảo, “Con đã làm gì? Huyết của em con từ đất kêu van lên đến ta.
GEN 4:12 Từ nay khi cày ruộng, con sẽ bị nguyền rủa nơi đất mà huyết em con rơi xuống, khi tay con giết em mình. Con sẽ cày bừa vất vả nhưng đất sẽ không sinh hoa lợi nữa. Con sẽ phải đi lang thang trên đất.”
GEN 4:13 Ca-in thưa cùng CHÚA rằng, “Hình phạt nầy quá sức chịu đựng của con!
GEN 4:14 Hôm nay Ngài đuổi con ra khỏi đất và khỏi mặt Ngài. Trong khi con lang thang trên đất, lỡ ai gặp họ sẽ giết con đi.”
GEN 4:15 CHÚA phán cùng Ca-in rằng, “Không sao! Ai giết con, ta sẽ trừng phạt người ấy gấp bảy lần.” Rồi CHÚA đánh dấu trên mình Ca-in để ai gặp người thì không giết.
GEN 4:16 Vì thế Ca-in ra khỏi mặt CHÚA và sinh sống ở xứ Nót, về phía đông Ê-đen.
GEN 4:17 Người ăn ở với vợ, nàng thụ thai và sinh ra Ê-nóc. Lúc đó Ca-in xây một thành đặt tên là Ê-nóc theo tên con mình.
GEN 4:18 Ê-nóc sinh ra một con tên Y-rát, Y-rát sinh ra một con tên Mê-hu-gia-ên, Mê-hu-gia-ên sinh ra một con tên Mê-tu-sa-ên, Mê-tu-sa-ên sinh ra một con tên La-méc.
GEN 4:19 La-méc cưới hai vợ, một người tên A-đa, người kia tên Xi-la.
GEN 4:20 A-đa sinh Gia-banh, là người đầu tiên sống trong các lều trại và nuôi gia súc.
GEN 4:21 Em của Gia-banh tên Giu-banh, người đầu tiên chơi đờn cầm và sáo.
GEN 4:22 Xi-la sinh Tu-banh Ca-in, người làm các dụng cụ bằng đồng và sắt. Em gái Tu-banh Ca-in là Na-a-ma.
GEN 4:23 La-méc bảo hai vợ mình rằng: “A-đa và Xi-la hãy nghe đây! Các vợ của La-méc hãy lắng nghe lời ta nói. Ta đã giết một người vì gây thương tích cho ta. Đó là một thanh niên đã đánh ta.
GEN 4:24 Nếu kẻ giết Ca-in bị phạt bảy lần thì kẻ giết La-méc sẽ bị phạt.”
GEN 4:25 A-đam lại ăn ở với vợ là Ê-va, nàng sinh một con trai đặt tên là Sết. Ê-va bảo, “Thượng Đế đã ban cho tôi một con trai nữa thế cho A-bên mà Ca-in đã giết.”
GEN 4:26 Sết sinh ra một con trai đặt tên là Ê-nóc. Từ đó người ta bắt đầu thờ lạy CHÚA.
GEN 5:1 Sau đây là gia phổ của A-đam. Khi Thượng Đế dựng nên loài người, Ngài tạo dựng họ giống như hình ảnh của Ngài.
GEN 5:2 Ngài dựng nên người đàn ông và đàn bà. Ngày đó Ngài ban phúc cho họ và gọi họ là loài người.
GEN 5:3 Khi A-đam được 130 tuổi thì sinh một con trai nữa giống mình và đặt tên là Sết.
GEN 5:4 Sau khi Sết ra đời thì A-đam sống thêm 800 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 5:5 Vậy A-đam sống được 930 tuổi, rồi qua đời.
GEN 5:6 Khi Sết được 105 tuổi thì sinh một con trai tên Ê-nóc.
GEN 5:7 Sau khi Ê-nóc sinh ra, Sết sống thêm 807 năm nữa, người sinh con trai con gái.
GEN 5:8 Vậy Sết sống được 912 năm rồi qua đời.
GEN 5:9 Lúc Ê-nóc được 90 tuổi thì sinh một con trai tên Kê-nan.
GEN 5:10 Sau khi Kê-nan ra đời, Ê-nóc sống thêm 815 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 5:11 Vậy Ê-nóc sống được 905 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:12 Khi Kê-nan được 70 tuổi thì sinh một con trai tên Ma-ha-la-lên.
GEN 5:13 Sau khi Ma-ha-la-lên ra đời, Kê-nan sống thêm 840 năm nữa sinh con trai con gái.
GEN 5:14 Vậy Kê-nan sống được 910 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:15 Khi Ma-ha-la-lên được 65 tuổi thì sinh một con trai đặt tên là Gia-rết.
GEN 5:16 Sau khi sinh Gia-rết, Ma-ha-la-lên sống thêm 830 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 5:17 Vậy Ma-ha-la-lên sống được 895 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:18 Khi Gia-rết được 162 tuổi sinh một con trai tên Ê-nóc.
GEN 5:19 Sau khi sinh Ê-nóc, Gia-rết sống được 800 năm nữa sinh con trai con gái.
GEN 5:20 Vậy Gia-rết sống được 962 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:21 Khi được 65 tuổi, Ê-nóc sinh ra một con trai tên Mê-tu-sê-la.
GEN 5:22 Sau khi Mê-tu-sê-la ra đời, Ê-nóc đồng đi với Thượng Đế trong 130 năm, ông sinh con trai con gái.
GEN 5:23 Vậy Ê-nóc sống được 365 năm.
GEN 5:24 Ê-nóc đi với Thượng Đế; không ai thấy ông nữa vì Thượng Đế đã mang ông đi.
GEN 5:25 Khi được 187 tuổi, Mê-tu-sê-la sinh một con trai tên La-méc.
GEN 5:26 Sau khi La-méc ra đời, Mê-tu-sê-la sống thêm 782 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 5:27 Vậy Mê-tu-sê-la sống được tổng cộng 969 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:28 Khi được 182 tuổi, La-méc sinh một con trai
GEN 5:29 đặt tên là Nô-ê và nói rằng, “Đứa con nầy sẽ an ủi chúng ta trong công việc nhọc nhằn khi cày bừa, vì đất đã bị CHÚA nguyền rủa.”
GEN 5:30 Sau khi Nô-ê ra đời, La-méc sống thêm 595 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 5:31 Vậy La-méc hưởng thọ tổng cộng 777 tuổi rồi qua đời.
GEN 5:32 Khi được 500 tuổi, Nô-ê sinh Sem, Cham và Gia-phết.
GEN 6:1 Dân số trên đất càng ngày càng tăng, con gái sinh ra cũng nhiều.
GEN 6:2 Khi các con trai Thượng Đế thấy các cô gái đó xinh đẹp thì chọn làm vợ.
GEN 6:3 CHÚA phán, “Thần linh ta sẽ không thể nào ở cùng loài người mãi được vì loài người chỉ là xác thịt. Chúng nó chỉ sống đến 120 tuổi thôi.”
GEN 6:4 Dân Nê-phi-lim sống trên đất trong thời kỳ đó và những thời kỳ sau. Đó là thời kỳ mà con trai Thượng Đế ăn ở với con gái loài người và sinh ra con cái. Chúng nổi tiếng và trở thành những chiến sĩ anh dũng thời xưa.
GEN 6:5 CHÚA thấy loài người trên đất rất độc ác, còn tư tưởng của họ lúc nào cũng xấu xa.
GEN 6:6 Ngài hối hận đã dựng ra con người trên đất, nên rất buồn lòng.
GEN 6:7 CHÚA bảo, “Ta sẽ tiêu diệt loài người mà ta đã tạo dựng trên đất. Ta sẽ tiêu diệt mọi loài thú vật và mọi loài bò sát, mọi loài chim trời, vì ta rất hối hận đã tạo dựng ra chúng.”
GEN 6:8 Nhưng Nô-ê sống đẹp lòng CHÚA.
GEN 6:9 Sau đây là gia phổ của Nô-ê. Nô-ê là người nhân đức, chân thật nhất trong thời đại ông. Nô-ê đồng đi với Thượng Đế.
GEN 6:10 Ông có ba con trai: Sem, Cham và Gia-phết.
GEN 6:11 Dân cư trên đất làm những điều Thượng Đế cho là độc ác. Đâu đâu cũng thấy điều bạo ngược.
GEN 6:12 Khi Thượng Đế thấy loài người đã làm hư hoại đất vì họ chỉ chuyên làm ác,
GEN 6:13 thì Ngài phán cùng Nô-ê rằng, “Vì đất đã đầy dẫy điều bạo ngược do con người tạo ra, nên ta sẽ tiêu diệt mọi sinh vật khỏi đất.
GEN 6:14 Con hãy đóng một chiếc tàu bằng gỗ bách cho con. Hãy làm nhiều phòng trong tàu rồi lấy nhựa chai trét bên trong và bên ngoài.
GEN 6:15 Tàu sẽ có kích thước như sau: dài 150 thước, rộng 25 thước, cao 15 thước.
GEN 6:16 Hãy làm một cửa sổ quanh nóc tàu cao 5 tấc tính từ mép của nóc xuống. Trổ một cửa lớn bên hông tàu. Bên trong tàu chia làm ba từng: từng trên, từng giữa và từng dưới.
GEN 6:17 Ta sẽ mang nước lụt đến trên đất để tiêu diệt tất cả các sinh vật sống dưới bầu trời, toàn thể các sinh vật có hơi sống. Mọi loài trên đất đều sẽ chết hết.
GEN 6:18 Nhưng ta sẽ lập giao ước với con. Các con trai con, vợ con, các nàng dâu con sẽ đi vào tàu.
GEN 6:19 Ngoài ra con phải mang vào tàu mỗi sinh vật một cặp, trống và mái. Hãy nuôi sống các loài ấy.
GEN 6:20 Loài chim, thú vật, động vật bò sát, mỗi loài một cặp sẽ đến với con để sống còn.
GEN 6:21 Con cũng phải thu góp các loại thực phẩm để dự trữ trên tàu dùng làm thức ăn cho con và các loài sinh vật.”
GEN 6:22 Nô-ê làm đúng theo lời Thượng Đế truyền dặn.
GEN 7:1 Sau đó CHÚA bảo Nô-ê, “Ta nhận thấy con là người tốt nhất trong thời đại nầy, nên con và cả gia đình hãy đi vào tàu.
GEN 7:2 Mỗi loài thú sạch, hãy mang theo bảy cặp, mỗi loại một đực một cái; còn thú không sạch thì mang theo một cặp, một đực một cái.
GEN 7:3 Loài chim trời thì đem theo bảy cặp, một trống một mái, để cho các loài nầy tồn tại trên đất sau khi trận lụt chấm dứt.
GEN 7:4 Bảy hôm nữa ta sẽ cho mưa xuống đất. Mưa sẽ đổ xuống trong bốn mươi ngày bốn mươi đêm. Ta sẽ tiêu diệt khỏi mặt đất tất cả mọi sinh vật mà ta đã dựng nên.”
GEN 7:5 Nô-ê làm đúng theo như lời CHÚA truyền dặn.
GEN 7:6 Khi trận lụt xảy ra thì Nô-ê được sáu trăm tuổi.
GEN 7:7 Nô-ê và vợ cùng các con trai và con dâu đi vào tàu để tránh nước lụt.
GEN 7:8 Các loài thú sạch, không sạch, các loài chim và các loài bò sát
GEN 7:9 đều đi đến cùng Nô-ê để vào tàu từng cặp, trống mái, đực cái theo như Thượng Đế truyền dặn ông.
GEN 7:10 Bảy ngày sau đó nước lụt tràn tới.
GEN 7:11 Nước lụt xảy ra khi Nô-ê được sáu trăm tuổi. Ngày mười bảy tháng hai năm đó, các suối ngầm sâu dưới biển vỡ ra, các cổng chận nước trên trời mở ra, đổ mưa ào xuống.
GEN 7:12 Mưa lũ đổ xuống ròng rã bốn mươi ngày bốn mươi đêm.
GEN 7:13 Ngày hôm ấy Nô-ê, vợ, các con trai: Sem, Cham và Gia-phết, cùng các người vợ của họ, đi vào tàu.
GEN 7:14 Các loại thú hoang và gia súc, các động vật bò sát cùng các loại chim đều đi vào tàu.
GEN 7:15 Các sinh vật có hơi sống đều đi đến cùng Nô-ê, vào tàu từng cặp một.
GEN 7:16 Mỗi cặp thú vật gồm một trống một mái, một đực một cái đều đến theo như Thượng Đế truyền dặn Nô-ê. Rồi CHÚA đóng cửa tàu lại.
GEN 7:17 Nước ngập mặt đất trong bốn mươi ngày. Khi nước dâng thì nâng bổng tàu lên khỏi mặt đất.
GEN 7:18 Mực nước tiếp tục dâng lên, con tàu nổi trên nước khỏi mặt đất.
GEN 7:19 Nước dâng cao đến nỗi các ngọn núi cao nhất dưới bầu trời cũng bị phủ lấp.
GEN 7:20 Nước dâng cao hơn các đỉnh núi đến bảy thước.
GEN 7:21 Mọi loài bò sát đều chết hết kể cả các loài chim, các loài gia súc, loài dã thú, các sinh vật tràn đầy mặt đất và luôn cả loài người nữa.
GEN 7:22 Thế là mọi loài có hơi sống trên mặt đất đều chết hết.
GEN 7:23 Thượng Đế tiêu diệt các sinh vật khỏi mặt đất: Loài người, thú vật, bò sát, chim trời. Chỉ có Nô-ê và những loài nào cùng ở với ông trong tàu là còn sống thôi.
GEN 7:24 Nước ngập phủ đất trong 150 ngày.
GEN 8:1 Nhưng Thượng Đế nhớ lại Nô-ê cùng các loại dã thú và các loại thú hiền hoà sống trong tàu. Ngài liền khiến một trận gió thổi qua đất, nước liền hạ.
GEN 8:2 Các suối ngầm dưới đất ngưng phun nước, các cổng chận nước trên trời đóng lại.
GEN 8:3 Nước, trước kia phủ mặt đất, bắt đầu hạ xuống. Sau một trăm năm mươi ngày, mực nước hạ xuống thấp đến nỗi chiếc tàu chạm đất trở lại. Tàu tấp trên một đỉnh thuộc rặng núi A-ra-rát vào ngày mười bảy tháng bảy.
GEN 8:5 Nước tiếp tục hạ, đến ngày mười một tháng thứ mười thì các đỉnh núi bắt đầu xuất hiện.
GEN 8:6 Bốn mươi ngày sau Nô-ê mở cửa sổ ông đã làm trên tàu
GEN 8:7 và thả một con quạ ra. Nó bay đây đó cho đến khi nước đã cạn khô trên đất.
GEN 8:8 Sau đó Nô-ê thả một con chim bồ câu ra, xem thử nước đã khô khỏi mặt đất chưa.
GEN 8:9 Chim bồ câu không tìm được chỗ nào đáp xuống vì nước hãy còn phủ kín mặt đất, nên nó bay trở về tàu. Nô-ê giơ tay ra bắt bồ câu mang vào trong tàu.
GEN 8:10 Bảy ngày sau, Nô-ê lại thả chim bồ câu ra khỏi tàu.
GEN 8:11 Chiều hôm đó nó trở về cùng ông, mỏ ngậm một lá ô liu tươi. Nô-ê hiểu rằng mặt đất đã gần khô.
GEN 8:12 Bảy ngày sau, ông lại thả con chim bồ câu ra, nhưng lần nầy nó không trở về nữa.
GEN 8:13 Khi Nô-ê được 601 tuổi, vào ngày một tháng giêng năm đó, nước rút khô khỏi mặt đất. Nô-ê mở cửa tàu ra thì thấy đất đã khô.
GEN 8:14 Đến ngày hai mươi bảy tháng hai thì đất hoàn toàn khô ráo hẳn.
GEN 8:15 Rồi CHÚA bảo Nô-ê,
GEN 8:16 “Con, vợ con, các con trai và các con dâu con hãy ra khỏi tàu.
GEN 8:17 Hãy mang theo tất cả các loài vật trong tàu với con: Chim chóc, thú vật và mọi sinh vật bò sát, để chúng sinh sôi nẩy nở thật nhiều ra.”
GEN 8:18 Vậy Nô-ê, các con trai, vợ ông cùng các con dâu ra khỏi tàu.
GEN 8:19 Mọi loài thú, loài bò sát trên đất, mọi loài chim đều ra khỏi tàu theo chủng loại.
GEN 8:20 Sau đó Nô-ê xây một bàn thờ cho CHÚA. Ông bắt một vài con chim và thú tinh sạch dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ cho Thượng Đế.
GEN 8:21 CHÚA rất hài lòng về mùi thơm của các của lễ ấy nên tự nhủ, “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất vì loài người nữa. Từ lúc còn trẻ, chúng đã suy nghĩ về việc ác, nhưng ta sẽ không bao giờ tiêu diệt mọi sinh vật trên đất như ta đã làm lần nầy.
GEN 8:22 Đất còn bao lâu thì mùa gieo giống, mùa gặt, mùa nóng và mùa lạnh, mùa hạ và mùa xuân, ngày và đêm sẽ vẫn còn.”
GEN 9:1 Thượng Đế ban phúc cho Nô-ê và các con trai ông như sau, “Hãy sinh thật đông con, làm tràn ngập đất.
GEN 9:2 Mọi loài thú trên đất, các loài chim trời, mọi loài bò sát trên đất, các loài cá dưới biển sẽ sợ các con. Ta đã trao chúng nó vào tay các con.
GEN 9:3 Mọi loài vật di động, mọi sinh vật là đồ ăn cho các con. Trước đây ta ban cho các con thực vật, nay các con có thể ăn đủ mọi thứ.
GEN 9:4 Nhưng các con không được ăn thịt còn máu trong đó, vì máu là sự sống.
GEN 9:5 Ta sẽ đòi sự sống nơi máu. Ta sẽ đòi mạng của súc vật nào giết người, ta sẽ đòi mạng của người nào cướp mạng sống kẻ khác.
GEN 9:6 Ai giết người sẽ bị người khác giết, vì Thượng Đế tạo dựng nên con người theo hình ảnh Ngài.
GEN 9:7 Còn về phần con, Nô-ê, ta muốn con và gia đình con sinh thật nhiều con cái trên đất.”
GEN 9:8 Rồi Thượng Đế bảo Nô-ê và các con trai ông,
GEN 9:9 “Bây giờ ta lập ước với con và con cháu của con,
GEN 9:10 cùng những sinh vật ở với con; chim trời, các loài thú hiền hoà, các loài dã thú và những loài cùng ra khỏi tàu với con, tức mọi sinh vật sống trên đất.
GEN 9:11 Ta lập giao ước sau đây với con: Ta sẽ không bao giờ dùng nước lụt để tiêu diệt trái đất nữa. Sẽ không bao giờ có nước lụt tiêu diệt địa cầu nữa.”
GEN 9:12 Thượng Đế bảo, “Đây là dấu hiệu của giao ước giữa ta với con và các sinh vật cùng ở với con, cho đến mọi thế hệ mai sau.
GEN 9:13 Ta đặt cái mống trên các đám mây để làm dấu hiệu giữa ta và địa cầu.
GEN 9:14 Khi ta đưa mây phủ trái đất và cái mống xuất hiện giữa các đám mây,
GEN 9:15 thì ta sẽ nhớ lại giao ước ta lập với con cùng các sinh vật. Nước lụt sẽ không bao giờ tiêu diệt các sinh vật trên đất nữa.
GEN 9:16 Khi cái mống xuất hiện trong mây, ta nhìn thấy và sẽ nhớ lại giao ước muôn đời giữa ta và các sinh vật trên địa cầu.”
GEN 9:17 Thượng Đế bảo Nô-ê, “Cái mống là dấu hiệu ta lập với các sinh vật trên đất.”
GEN 9:18 Các con trai cùng ra khỏi tàu với Nô-ê là Sem, Cham và Gia-phết. (Cham là cha của Ca-na-an.)
GEN 9:19 Đó là các con trai của Nô-ê. Tất cả dân tộc trên đất đều do ba người con trai ấy mà ra.
GEN 9:20 Nô-ê làm nghề nông và trồng một vườn nho.
GEN 9:21 Ông uống rượu nho đến nỗi say, rồi nằm trần truồng trong lều.
GEN 9:22 Cham, cha của Ca-na-an, thấy cha mình trần truồng thì đi ra kể lại cho hai anh em mình đang ở ngoài lều.
GEN 9:23 Sem và Gia-phết liền lấy một cái áo mang trên vai và đi giật lùi vào trong lều, lấy áo trùm lên cha mình. Họ quay mặt đi nên không thấy cha mình trần truồng.
GEN 9:24 Vì say rượu nên Nô-ê ngủ mê. Khi tỉnh dậy hay biết điều Cham, con út, làm cho mình,
GEN 9:25 liền bảo, “Ca-na-an sẽ bị nguyền rủa! Nó sẽ làm nô lệ hạng bét cho các anh nó.”
GEN 9:26 Nô-ê bảo, “Chúc tụng CHÚA là Thượng Đế của Sem, Cầu cho Ca-na-an làm nô lệ cho Sem.
GEN 9:27 Nguyền Thượng Đế ban thêm đất đai cho Gia-phết. Nguyền Gia-phết ở trong lều của Sem và Ca-na-an làm nô lệ cho họ.”
GEN 9:28 Sau trận lụt lớn, Nô-ê sống thêm 350 năm nữa.
GEN 9:29 Ông hưởng thọ được 950 tuổi rồi qua đời.
GEN 10:1 Đây là gia phổ của Sem, Cham và Gia-phết, các con trai của Nô-ê. Sau trận đại hồng thủy, họ sinh ra các con trai khác.
GEN 10:2 Các con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gót, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-sết và Ti-ra.
GEN 10:3 Các con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát và Tô-ga-ma.
GEN 10:4 Các con trai của Gia-van là Ê-li-sa, Tạc-kít, Kít-tim và Rô-đa-nim.
GEN 10:5 Dân cư sống trong vùng đất quanh Địa-trung-hải đều do các con trai trên đây của Gia-phết mà ra. Các gia đình sinh sôi nẩy nở, trở thành nhiều dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc có lãnh thổ và ngôn ngữ riêng.
GEN 10:6 Các con trai của Cham là Cút, Mít-ra-im, Phút và Ca-na-an.
GEN 10:7 Các con trai của Cút là Xê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-a-ma và Sáp-tê-ca. Các con trai của Ra-a-ma là Sê-ba và Đê-đan.
GEN 10:8 Cút cũng có một con tên Nim-rốt là một vị anh hùng trên đất.
GEN 10:9 Nim-rốt là một thợ săn rất giỏi trước mặt CHÚA nên người ta hay ví “giống như Nim-rốt, chàng thợ săn giỏi trước mặt CHÚA.”
GEN 10:10 Lúc đầu vương quốc của Nim-rốt gồm Ba-by-lôn, Ê-réc, Ác-cát và Canh-ne trong vùng đất Ba-by-lôn.
GEN 10:11 Từ đó ông đi đến A-xy-ri, xây thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bốt Y-rơ, và Ca-la.
GEN 10:12 Ông cũng xây Rê-sen là thành lớn nằm giữa Ni-ni-ve và Ca-la.
GEN 10:13 Mít-ra-im là tổ tiên của người Lu-đít, A-na-mít, Lê-ha-bít, Náp-tu-hít,
GEN 10:14 Ba-ru-sít, Cát-lu-hít và dân cư Cơ-rết. (Dân Phi-li-tin xuất thân từ Cát-lu-hít.)
GEN 10:15 Ca-na-an sinh ra Xi-đôn, con đầu lòng, rồi sinh ra Hết.
GEN 10:16 Ông cũng là tổ tiên của người Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-ra-sít,
GEN 10:17 Hi-vít, Ạc-kít, Si-nít,
GEN 10:18 Ạc-va-đít, Giê-ma-rít và Ha-ma-thít. Các gia tộc của Ca-na-an tản mác ra khắp nơi.
GEN 10:19 Lãnh thổ của họ chạy từ Xi-đôn đến Ghê-ra cho tới Ga-xa, sang qua Xô-đôm, Gô-mô-rơ, Ách-ma, Giê-bô-im cho tới La-sa.
GEN 10:20 Tất cả các dân tộc ấy là con cháu của Cham. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, lãnh thổ và quốc gia riêng biệt.
GEN 10:21 Sem, anh của Gia-phết cũng có con trai. Một trong con cháu của ông là ông tổ của tất cả các con trai của Ê-be.
GEN 10:22 Các con trai của Sem là Ê-lam, Át-sua, Ạc-pha-xát, Lút, và A-ram.
GEN 10:23 Các con trai của A-ram là Út, Hun, Ghê-the, và Mê-séc.
GEN 10:24 Ạc-pha-xát sinh ra Sê-la, Sê-la sinh Ê-be.
GEN 10:25 Ê-be có hai con trai, một người tên Phê-léc, vì đất bị chia ra trong đời người, còn người kia tên Giốc-tan.
GEN 10:26 Giốc-tan sinh ra An-mô-đát, Sê-lép, Ha-xa-ma-vết, Giê-ra,
GEN 10:27 Ha-đô-ram, U-san, Điếc-la,
GEN 10:28 Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
GEN 10:29 Ô-phia, Ha-vi-la, và Giô-báp. Tất cả các người đó là con của Giốc-tan.
GEN 10:30 Họ sống trong vùng nằm giữa Mê-sa và Sê-pha ở vùng đồi núi phía Đông.
GEN 10:31 Đó là những người thuộc gia tộc Sem, xếp theo họ hàng, ngôn ngữ, quốc gia và lãnh thổ.
GEN 10:32 Trên đây là những gia tộc thuộc các con trai Nô-ê, xếp theo quốc gia. Từ các gia tộc đó sinh ra các dân tộc rải rác khắp trái đất sau trận lụt toàn thế giới ấy.
GEN 11:1 Lúc đó cả thế giới chỉ có một ngôn ngữ, mọi người đều dùng một thứ tiếng mà thôi.
GEN 11:2 Khi dân chúng di cư khỏi phía đông thì họ tìm được một bình nguyên ở vùng đất Xi-na, nên định cư tại đó.
GEN 11:3 Họ bảo nhau, “Chúng ta hãy lấy gạch nướng thật cứng.” Nên họ dùng gạch thay cho đá, và dùng nhựa chai thay cho vôi.
GEN 11:4 Rồi họ bảo nhau, “Chúng ta hãy xây một cái thành và một cái tháp cao đến tận trời. Chúng ta sẽ làm một đài kỷ niệm cho mình. Như thế chúng ta sẽ không bị tản lạc khắp nơi trên đất nữa.”
GEN 11:5 CHÚA ngự xuống thấy thành phố và tháp mà con người đã xây.
GEN 11:6 Ngài bảo, “Bây giờ các dân nầy đã đoàn kết với nhau và nói cùng một ngôn ngữ. Đây chỉ là giai đoạn đầu chúng nó định làm thôi. Không có gì ngăn chặn điều chúng định làm.
GEN 11:7 Bây giờ chúng ta hãy xuống làm lộn xộn ngôn ngữ của chúng để chúng không còn hiểu nhau được nữa.”
GEN 11:8 Vậy CHÚA phân tán họ khắp đất, nên họ bỏ dở việc xây thành.
GEN 11:9 Nơi đó được gọi là Ba-bên vì là chỗ CHÚA làm lộn xộn ngôn ngữ của cả thế gian. Thế là CHÚA làm họ tản lạc khắp nơi trên thế giới.
GEN 11:10 Đây là gia phổ của Sem. Hai năm sau trận lụt lớn, lúc Sem được 100 tuổi thì sinh A-phác-xác.
GEN 11:11 Sau đó Sem sống thêm 500 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:12 Khi A-phác-xác được 35 tuổi thì sinh ra Sê-la.
GEN 11:13 Sau đó A-phác-xác sống thêm 403 năm nữa sinh con trai con gái.
GEN 11:14 Khi Sê-la được 30 tuổi thì sinh Ê-be.
GEN 11:15 Sau đó Sê-la sống thêm 403 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:16 Khi Ê-be được 34 tuổi thì sinh Phê-léc.
GEN 11:17 Sau đó Ê-be sống thêm 430 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:18 Khi Phê-léc được 30 tuổi thì sinh ra Rêu.
GEN 11:19 Sau đó Phê-léc sống thêm 209 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:20 Khi Rêu được 32 tuổi thì sinh Sê-rúc.
GEN 11:21 Sau đó Rêu sống thêm 207 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:22 Khi Sê-rúc được 30 tuổi thì sinh Na-ho.
GEN 11:23 Sau đó Sê-rúc sống thêm 200 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:24 Khi Na-ho được 29 tuổi, sinh Thê-ra.
GEN 11:25 Sau đó Na-ho sống thêm 119 năm nữa, sinh con trai con gái.
GEN 11:26 Sau khi Thê-ra được 70 tuổi thì sinh Áp-ram, Na-ho và Ha-ran.
GEN 11:27 Đây là gia phổ của Thê-ra. Thê-ra sinh Áp-ram, Na-ho, và Ha-ran. Ha-ran sinh ra Lót.
GEN 11:28 Ha-ran qua đời trong thành U-rơ thuộc miền Ba-by-lôn, nơi sinh trưởng, trong khi cha mình hãy còn sống.
GEN 11:29 Cả Áp-ram và Na-ho đều lập gia đình. Vợ Áp-ram tên Sa-rai, vợ Na-ho tên Minh-ca. Nàng là con gái Ha-ran, là người sinh ra Minh-ca và Ích-ca.
GEN 11:30 Sa-rai hiếm muộn không sinh con được.
GEN 11:31 Thê-ra mang Áp-ram, con mình, và Lót, cháu mình, con dâu Sa-rai tức vợ của Áp-ram, di cư ra khỏi thành U-rơ, xứ Ba-by-lôn. Họ dự định đi qua xứ Ca-na-an, nhưng đi đến thành Ha-ran thì định cư tại đó.
GEN 11:32 Thê-ra hưởng thọ 205 tuổi rồi qua đời tại Ha-ran.
GEN 12:1 CHÚA bảo Áp-ram, “Hãy rời bỏ xứ sở, thân nhân và gia đình cha con, đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
GEN 12:2 Ta sẽ làm cho con trở thành một dân lớn và sẽ ban phước cho con. Ta sẽ khiến con nổi danh và là nguồn phước cho nhiều người.
GEN 12:3 Ta sẽ ban phước cho kẻ chúc phước con và nguyền rủa kẻ hại con. Mọi dân tộc trên đất sẽ nhờ con mà được phước.”
GEN 12:4 Vậy Áp-ram rời Ha-ran theo như CHÚA đã dặn bảo, có Lót cùng đi. Lúc đó Áp-ram đã 75 tuổi.
GEN 12:5 Ông mang Sa-rai vợ mình, Lót cháu mình và mọi vật thuộc về mình cùng các đầy tớ ông đã có tại Ha-ran và lên đường ra đi, dự định đến đất Ca-na-an, sau cùng thì tới nơi.
GEN 12:6 Áp-ram đi qua suốt cả xứ đến tận cây sồi lớn Mô-rê thuộc Sê-chem. Lúc đó dân Ca-na-an đang cư ngụ trong xứ nầy.
GEN 12:7 CHÚA hiện ra cùng Áp-ram và bảo, “Ta sẽ cấp đất nầy cho dòng dõi con.” Vì thế tại đó, Áp-ram xây một bàn thờ cho CHÚA, Đấng đã hiện ra cùng ông.
GEN 12:8 Rồi từ Sê-chem ông đi đến núi phía đông của Bê-tên và dựng trại tại đó. Bê-tên nằm về phía tây, còn A-hi nằm về phía đông. Nơi ấy Áp-ram xây một bàn thờ nữa cho CHÚA và thờ phụng Ngài.
GEN 12:9 Rồi ông tiếp tục đi đến vùng Nê-ghép.
GEN 12:10 Lúc ấy trong xứ có cơn đói kém, nên Áp-ram đi xuống Ai-cập để sống, vì trong xứ không đủ lương thực.
GEN 12:11 Trước khi đến Ai-cập ông bảo Sa-rai vợ mình, “Anh biết em là người đàn bà đẹp.
GEN 12:12 Khi người Ai-cập thấy em họ sẽ bảo, ‘Cô nầy là vợ hắn.’ Họ sẽ giết anh và để em sống.
GEN 12:13 Nên em hãy bảo họ rằng em là em của anh, để họ biệt đãi anh, nhờ đó mạng sống anh được bảo toàn.”
GEN 12:14 Khi Áp-ram đến Ai-cập, người Ai-cập thấy Sa-rai rất đẹp.
GEN 12:15 Các quan chức Ai-cập thấy bà và trầm trồ với vua Ai-cập về nhan sắc Sa-rai. Họ đưa bà vào cung vua,
GEN 12:16 nhà vua đối xử rất tốt với Áp-ram, vì tưởng Áp-ram là anh Sa-rai. Vua cấp cho Áp-ram chiên, gia súc, lừa đực, lừa cái, tôi trai tớ gái và lạc đà rất nhiều.
GEN 12:17 Nhưng CHÚA giáng bệnh tật khủng khiếp trên vua và những gia nhân vì chuyện Sa-rai, vợ của Áp-ram.
GEN 12:18 Nên vua liền mời Áp-ram lại hỏi, “Anh làm gì cho ta vậy? Tại sao không nói thẳng với ta rằng Sa-rai là vợ anh?
GEN 12:19 Tại sao anh bảo, ‘Cô ta là em gái tôi’ để đến nỗi ta đã lấy nàng làm vợ? Bây giờ vợ anh đây. Nhận lại rồi đi đi!”
GEN 12:20 Rồi vua truyền cho thuộc cấp đưa Áp-ram ra khỏi Ai-cập. Vậy Áp-ram và vợ mình mang theo các tài sản đi ra khỏi xứ.
GEN 13:1 Áp-ram, vợ ông, và Lót rời Ai-cập mang theo các tài sản và đi về vùng Nê-ghép, miền nam Ca-na-an.
GEN 13:2 Áp-ram rất giàu, có vô số gia súc, bạc và vàng.
GEN 13:3 Sau đó ông rời vùng Nê-ghép trở về lại Bê-tên, nơi ông dựng trại trước kia, tức nơi nằm giữa Bê-tên và A-hi,
GEN 13:4 là chỗ ông đã xây một bàn thờ. Vậy ông thờ phụng CHÚA tại đó.
GEN 13:5 Trong thời gian cùng đi với Áp-ram, Lót cũng có rất nhiều bầy gia súc và lều trại.
GEN 13:6 Áp-ram và Lót có quá nhiều gia súc đến nỗi đất không đủ cho cả hai người cư ngụ,
GEN 13:7 vì thế mà những bọn chăn gia súc của Áp-ram và Lót bắt đầu gây sự với nhau. Trong khi đó dân Ca-na-an và dân Phê-ri-xít đang sống trong xứ.
GEN 13:8 Áp-ram bảo Lót, “Bác với cháu không nên gây sự với nhau làm gì, và bọn chăn gia súc chúng ta cũng không nên cãi nhau vì chúng ta là thân nhân ruột thịt.
GEN 13:9 Thôi chúng ta nên chia tay nhau. Cả xứ ở trước mặt cháu đó. Nếu cháu chọn phía Bắc, bác sẽ đi phía Nam. Nếu cháu chọn phía Nam, bác sẽ đi phía Bắc.”
GEN 13:10 Lót nhìn quanh thấy toàn vùng thung lũng sông Giô-đanh có nhiều nước, giống như vườn của CHÚA, như xứ Ai-cập về hướng Xoa. (Đó là trước khi CHÚA hủy diệt Xô-đôm và Gô-mô-rơ.)
GEN 13:11 Vì thế Lót chọn vùng phía Đông và định cư trong thung lũng sông Giô-đanh. Vậy là Áp-ram và Lót chia tay nhau.
GEN 13:12 Áp-ram sống trong xứ Ca-na-an, còn Lót sống trong các thành phố nằm trong thung lũng sông Giô-đanh, rồi dời lều đến Xô-đôm.
GEN 13:13 Dân Xô-đôm rất độc ác và phạm tội nặng cùng CHÚA.
GEN 13:14 Sau khi Lót ra đi rồi, CHÚA bảo Áp-ram, “Hãy nhìn quanh con từ bắc đến nam, từ đông sang tây.
GEN 13:15 Tất cả vùng đất mà con nhìn thấy, ta sẽ ban cho con và dòng dõi con đời đời.
GEN 13:16 Ta sẽ khiến cho dòng dõi con đông như cát bụi trên đất. Ai có thể đếm được cát bụi trên đất mới có thể đếm được con cháu con.
GEN 13:17 Hãy đứng dậy! Đi khắp vùng đất mà ta sẽ cấp cho con.”
GEN 13:18 Vậy Áp-ram dời trại và đi đến định cư gần các cây sồi lớn tại Mam-rê nơi thành Hếp-rôn. Ông xây một đền thờ cho CHÚA tại đó.
GEN 14:1 Lúc ấy Am-ra-phên làm vua vùng đất Ba-by-lôn, A-ri-ốc là vua Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me là vua Ê-lam, còn Ti-đan là vua Gô-im.
GEN 14:2 Tất cả các vua nầy họp nhau lại đánh các vua: Bê-ra của Xô-đôm, Biếc-sa, vua Gô-mô-rơ, Si-náp vua Ách-ma, Sê-mê-be vua Giê-bô-im và vua của Bê-la. (Bê-la cũng có tên là Xoa.)
GEN 14:3 Các vua bị tấn công tập họp các đạo quân trong thung lũng Xi-đim (bây giờ là Biển Chết).
GEN 14:4 Trước đây họ thần phục Kết-rô-lao-me trong mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba thì họ dấy loạn.
GEN 14:5 Đến năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me, cùng các vua đồng minh, tiến đánh và thắng dân Rê-pha-ít trong vùng Ách-tê-rốt Ka-na-im, dân Giu-xít trong vùng Cham, và dân Ê-mít trong vùng Sa-vê Ki-ri-át-tha-im.
GEN 14:6 Họ cũng đánh thắng dân Hô-rít trong vùng đồi núi Sê-ia đến tận Ên Pha-ran gần sa mạc.
GEN 14:7 Xong họ trở về tiến đánh Ên-mích-phát tức Ca-đe. Họ đánh thắng dân A-ma-léc, dân A-mô-rít sống trong vùng Ha-xa-xôn Tha-ma.
GEN 14:8 Lúc đó các vua Xô-đôm, Gô-mô-rơ, Ách-ma, Giê-bô-im và Bê-la giàn trận trong thung lũng Xi-đim. (Bê-la còn có tên là Xoa.)
GEN 14:9 Họ đánh nhau với Kết-rô-lao-me, vua Ê-lam; Ti-đan, vua Gô-im; Am-ra-phên, vua Ba-by-lôn; và A-ri-ốc, vua Ê-la-xa; bốn vua chống năm vua.
GEN 14:10 Trong thung lũng Xi-đim có nhiều hố nhựa chai. Khi các vua Xô-đôm và Gô-mô-rơ cùng đạo quân họ bỏ chạy thì một số quân sĩ rơi vào trong các hố nhựa chai, nhưng số còn lại chạy trốn lên núi.
GEN 14:11 Bấy giờ vua Kết-rô-lao-me và đạo quân ông đoạt hết tài sản của dân Xô-đôm và Gô-mô-rơ, kể luôn thực phẩm của họ.
GEN 14:12 Họ cũng bắt Lót, cháu Áp-ram đang cư ngụ tại Xô-đôm, và đoạt hết tài sản ông ta rồi bỏ đi.
GEN 14:13 Một trong những người trốn thoát được đến báo với Áp-ram, người Do-Thái, thuật lại cho ông nghe mọi việc. Trong lúc đó Áp-ram đang dựng lều gần các cây sồi lớn của Mam-rê người A-mô-rít. Mam-rê là anh của Ết-côn và A-ne. Họ đồng ý họp nhau giúp Áp-ram.
GEN 14:14 Khi Áp-ram nghe tin Lót đã bị giặc bắt, ông liền tập họp 318 gia nhân đã được huấn luyện thuần thục, sinh trưởng trong trại mình. Ông hướng dẫn họ rượt đuổi quân thù cho đến thành Đan.
GEN 14:15 Đêm đó ông chia gia nhân ra thành nhiều toán, mở cuộc tấn công bất ngờ quân thù. Họ rượt đuổi chúng chạy tới Hô-ba, phía bắc thành Đa-mách.
GEN 14:16 Áp-ram mang về đầy đủ mọi thứ giặc đã cướp, cùng các đàn bà và nhiều người khác, luôn cả Lót và tài sản ông ta nữa.
GEN 14:17 Sau khi đánh thắng Kết-rô-lao-me và các vua đồng minh, Áp-ram trở về. Trên đường về, vua Xô-đôm ra đón ông tại thung lũng Sa-ve, bây giờ gọi là Thung lũng Vua.
GEN 14:18 Mên-chi-xê-đéc mang bánh và rượu ra. Ông là thầy tế lễ của Thượng Đế Tối Cao
GEN 14:19 và chúc phước cho Áp-ram như sau, “Áp-ram ơi, nguyện ông được Thượng Đế Tối Cao, Đấng sáng tạo trời đất, ban phúc lành.
GEN 14:20 Chúc tụng Thượng Đế Tối Cao, Đấng đã giúp ông thắng quân thù.” Rồi Áp-ram lấy một phần mười chiến lợi phẩm dâng cho Mên-chi-xê-đéc.
GEN 14:21 Vua Xô-đôm bảo Áp-ram, “Ông hãy giữ những thứ nầy cho mình đi. Chỉ giao lại cho tôi những người bị bắt thôi.”
GEN 14:22 Nhưng Áp-ram bảo vua Xô-đôm rằng, “Tôi đã hứa với CHÚA, Thượng Đế Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất,
GEN 14:23 rằng những gì thuộc về vua tôi sẽ không giữ, dù một sợi chỉ hay một sợi dây giày đi nữa, để vua khỏi nói rằng, ‘Nhờ ta mà Áp-ram được giàu có.’
GEN 14:24 Tôi chỉ giữ lại bằng số thực phẩm mà các thanh niên trai tráng đã ăn thôi. Nhưng hãy cấp cho A-ne, Ết-côn và Mam-rê phần của họ trong số chiến lợi phẩm thu được, vì họ cùng tham chiến với tôi.”
GEN 15:1 Sau các việc ấy CHÚA phán với Áp-ram trong một sự hiện thấy, “Áp-ram ơi, đừng sợ. Ta sẽ bảo vệ con, ta sẽ cho con phần thưởng lớn.”
GEN 15:2 Nhưng Áp-ram thưa, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, CHÚA sẽ ban gì cho con? Con không có con trai, nên sau khi con qua đời thì Ê-li-ê-xe, người nô lệ từ Đa-mách sẽ hưởng hết tài sản của con.”
GEN 15:3 Áp-ram tiếp, “CHÚA xem, Ngài không cho con đứa con trai nào, nên kẻ nô lệ được sinh trong nhà con sẽ hưởng tài sản của con.”
GEN 15:4 Nhưng CHÚA phán cùng Áp-ram rằng, “Kẻ nô lệ đó không phải là người thừa hưởng tài sản con đâu. Con sẽ có một con trai ruột, là người sẽ hưởng tài sản con.”
GEN 15:5 Rồi Thượng Đế dẫn Áp-ram ra ngoài và bảo, “Hãy ngước nhìn bầu trời! Các ngôi sao nhiều vô số không thể đếm nổi. Con cháu con cũng đông như vậy.”
GEN 15:6 Áp-ram tin CHÚA. Ngài chấp nhận ông. Đức tin ấy khiến ông trở nên công chính trước mặt CHÚA.
GEN 15:7 CHÚA bảo Áp-ram, “Ta là CHÚA, đã đem con ra khỏi thành U-rơ, xứ Canh-đê, để cấp cho con đất nầy.”
GEN 15:8 Nhưng Áp-ram thưa, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, làm sao con biết chắc con sẽ hưởng đất nầy?”
GEN 15:9 CHÚA bảo Áp-ram, “Hãy mang cho ta một con bò cái tơ ba tuổi, một con dê ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu đất và một con bồ câu con.”
GEN 15:10 Áp-ram mang các súc vật ấy đến cùng Thượng Đế. Ông giết các súc vật, chặt ra làm đôi, đặt mỗi nửa miếng đối diện nhau. Nhưng ông không chặt các con chim ra làm đôi.
GEN 15:11 Sau đó có các con chim lớn đáp xuống định ăn thịt các súc vật ấy, nhưng Áp-ram đuổi chúng đi.
GEN 15:12 Khi mặt trời lặn, thì Áp-ram ngủ mê. Trong khi ông đang ngủ, một bóng tối kinh khiếp ập đến.
GEN 15:13 CHÚA phán cùng Áp-ram rằng, “Con có thể biết chắc rằng, con cháu con sẽ phải đi qua xứ khác, làm người nước ngoài. Tại đó dân bản xứ sẽ bắt chúng nó làm nô lệ trong bốn trăm năm.
GEN 15:14 Nhưng ta sẽ phạt dân tộc đã bắt chúng làm nô lệ. Con cháu con sẽ ra khỏi xứ ấy, mang theo nhiều tài sản.
GEN 15:15 Phần con, Áp-ram, con sẽ qua đời bình yên và được chôn cất lúc cao tuổi.
GEN 15:16 Sau khi cháu chít con ra đời, chúng nó sẽ về lại xứ nầy. Phải cần thời gian lâu như thế vì ta chưa sẵn sàng trừng phạt tội ác dân A-mô-rít.”
GEN 15:17 Sau khi mặt trời lặn thì trời tối sầm lại. Bỗng nhiên có một nồi lửa bốc khói và một cây đuốc cháy sáng đi qua lại giữa các phần thịt đã chặt của các súc vật dâng lễ.
GEN 15:18 Ngày đó CHÚA lập giao ước với Áp-ram. Ngài nói, “Ta sẽ ban cho dòng dõi con vùng đất nằm giữa sông Ai-cập và sông lớn Ơ-phơ-rát.
GEN 15:19 Đó là đất của dân Kê-nít, dân Kê-ni-xít, dân Cát-mô-nít,
GEN 15:20 dân Hi-tít, dân Phê-ri-sít, dân Rê-pha-ít,
GEN 15:21 dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Ghi-rê-sít và dân Giê-bu-sít.”
GEN 16:1 Sa-rai, vợ Áp-ram không có con nhưng bà có một cô nô lệ người Ai-cập tên Ha-ga.
GEN 16:2 Sa-rai bảo Áp-ram, “CHÚA không cho tôi sinh con, nên ông hãy đến với đứa nô lệ tôi. Nếu nó sinh con thì có thể tôi có gia đình đầy đủ qua nó.” Áp-ram làm theo lời Sa-rai.
GEN 16:3 Mười năm sau khi sinh sống ở Ca-na-an thì Sa-rai đưa Ha-ga cho chồng mình là Áp-ram để làm vợ. Ha-ga là nữ nô lệ của Sa-rai từ Ai-cập.
GEN 16:4 Áp-ram ăn nằm với Ha-ga. Nàng mang thai. Khi biết mình mang thai, Ha-ga không còn kính trọng bà chủ mình là Sa-rai như trước nữa.
GEN 16:5 Nên Sa-rai bảo Áp-ram, “Lỗi nầy là do ông. Tôi giao con nô lệ tôi cho ông, mà từ khi mang thai nó xem thường tôi. Hãy để CHÚA phân xử xem ai phải, ông hay tôi.”
GEN 16:6 Nhưng Áp-ram bảo Sa-rai, “Em là chủ của con nô lệ. Muốn xử sao đối với nó cũng được tùy ý.” Sa-rai liền hành hạ Ha-ga nên Ha-ga bỏ trốn.
GEN 16:7 Thiên sứ của CHÚA thấy Ha-ga ngồi bên giếng nước trong sa mạc, nơi con đường dẫn đến Su-rơ.
GEN 16:8 Thiên sứ hỏi, “Ha-ga, nô lệ của Sa-rai, cô từ đâu đến đây? Cô định đi đâu?” Ha-ga đáp, “Tôi chạy trốn khỏi chủ tôi là Sa-rai.”
GEN 16:9 Thiên sứ của CHÚA bảo, “Cô hãy trở về với chủ và phục tùng bà ấy.”
GEN 16:10 Thiên sứ tiếp, “Tôi sẽ làm cho dòng dõi cô đông đến nỗi không thể đếm được.”
GEN 16:11 Thiên sứ tiếp, “Cô hiện đang mang thai. Cô sẽ sinh con trai. Hãy đặt tên nó là Ích-ma-ên vì CHÚA đã nghe biết cô bị ngược đãi.
GEN 16:12 Ích-ma-ên sẽ giống như con lừa hoang. Nó sẽ chống lại mọi người, còn mọi người cũng sẽ chống nó. Nó sẽ tấn công tất cả các anh em mình.”
GEN 16:13 Cô nô lệ đặt tên cho CHÚA, Đấng đã nói chuyện cùng mình. Cô bảo, “Ngài là ‘Thượng Đế, Đấng nhìn thấy tôi,’” vì cô tự nhủ, “Phải chăng tôi đã nhìn thấy Thượng Đế, mà vẫn còn sống?”
GEN 16:14 Ở đó có cái giếng, nằm giữa Ka-đe và Bê-rết, giếng đó mang tên Bia-la-hai-roi.
GEN 16:15 Ha-ga sinh một trai cho Áp-ram. Áp-ram đặt tên nó là Ích-ma-ên.
GEN 16:16 Khi Ha-ga sinh Ích-ma-ên thì Áp-ram được tám mươi sáu tuổi.
GEN 17:1 Khi Áp-ram được 99 tuổi, thì CHÚA hiện ra cùng ông và bảo, “Ta là Thượng Đế Toàn Năng. Hãy vâng lời ta và làm điều phải.
GEN 17:2 Ta sẽ lập giao ước giữa chúng ta. Ta sẽ làm cho con trở thành ông tổ của nhiều người.”
GEN 17:3 Áp-ram liền cúi mọp mình xuống đất. Thượng Đế bảo ông,
GEN 17:4 “Ta đang lập giao ước với con: Ta sẽ khiến con trở thành cha của nhiều dân tộc.
GEN 17:5 Nay ta đổi tên con từ Áp-ram ra Áp-ra-ham vì ta sẽ khiến con trở nên cha của nhiều dân tộc.
GEN 17:6 Ta sẽ làm cho dòng dõi con đông đảo. Nhiều dân tộc sẽ từ con mà ra, nhiều vua cũng sẽ là dòng dõi của con.
GEN 17:7 Từ nay ta sẽ lập giao ước giữa ta với con và dòng dõi con: Ta sẽ làm Thượng Đế con và là Thượng Đế của tất cả dòng dõi con.
GEN 17:8 Hiện con đang sống trong xứ Ca-na-an như dân tạm trú, nhưng ta sẽ cấp xứ nầy cho con và dòng dõi con đời đời. Ta sẽ làm Thượng Đế của dòng dõi con.”
GEN 17:9 Rồi CHÚA phán cùng Áp-ra-ham, “Từ nay về sau con và dòng dõi con phải giữ giao ước nầy.
GEN 17:10 Giao ước giữa ta với con và dòng dõi con mà các con phải giữ như sau: Mọi người nam trong các con phải chịu cắt dương bì.
GEN 17:11 Hãy cắt da qui đầu để làm dấu hiệu về giao ước giữa ta với con.
GEN 17:12 Từ nay về sau, khi một bé trai sơ sinh được tám ngày, con phải cắt dương bì cho nó. Tục lệ nầy áp dụng cho mọi bé trai, sinh ra trong dòng dõi con hay bởi các nô lệ của con, tức những người không phải dòng dõi của con.
GEN 17:13 Hãy cắt dương bì cho mọi bé trai sinh ra trong nhà con hay được mua làm nô lệ. Thân thể các con sẽ được ghi dấu như thế để chứng tỏ các con là một phần của giao ước vĩnh viễn.
GEN 17:14 Người nam nào không chịu cắt dương bì sẽ bị loại khỏi dân tộc mình vì con đó đã phá giao ước ta.”
GEN 17:15 Thượng Đế phán cùng Áp-ra-ham, “Ta sẽ đổi tên Sa-rai, vợ con, ra Sa-ra.
GEN 17:16 Ta sẽ ban phúc cho nàng và cho nàng một con trai, con sẽ là cha nó. Nàng sẽ làm mẹ của nhiều dân. Vua của nhiều dân tộc sẽ từ nàng mà ra.”
GEN 17:17 Áp-ra-ham sấp mặt xuống đất và cười. Ông tự nhủ, “Có đàn ông nào mà sinh con khi đã gần một trăm tuổi không? Còn Sa-ra đã chín mươi tuổi rồi mà sinh con được sao?”
GEN 17:18 Áp-ra-ham thưa cùng Thượng Đế, “Xin Ngài hãy cho Ích-ma-ên nhận ân phúc và sự bảo hộ của Ngài.”
GEN 17:19 Thượng Đế bảo, “Không. Sa-ra vợ con sẽ sinh một con trai, con hãy đặt tên nó là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước với nó, một giao ước với dòng dõi nó và còn đời đời.
GEN 17:20 Còn về phần Ích-ma-ên, ta đã nghe điều con xin. Ta sẽ ban phúc và cho nó vô số con cái. Ta sẽ khiến dòng dõi nó tăng thêm nhiều. Nó sẽ làm cha của mười hai đại lãnh tụ, ta sẽ khiến nó thành một dân lớn.
GEN 17:21 Nhưng ta sẽ lập giao ước với Y-sác, đứa con mà Sa-ra sẽ sinh vào thời gian nầy trong năm tới.”
GEN 17:22 Sau khi nói xong với Áp-ra-ham, thì Thượng Đế đứng dậy từ giã ông.
GEN 17:23 Sau đó Áp-ra-ham tập họp Ích-ma-ên, tất cả những người nam sinh trong trại mình và những người nô lệ ông đã mua. Ngày đó Áp-ra-ham cắt dương bì cho mọi người đàn ông và con trai trong trại mình theo như Thượng Đế đã dặn.
GEN 17:24 Khi Áp-ra-ham được cắt dương bì, ông đã 99 tuổi.
GEN 17:25 Còn khi Ích-ma-ên được cắt dương bì thì đã 13 tuổi.
GEN 17:26 Áp-ra-ham và con trai mình được cắt dương bì cùng ngày.
GEN 17:27 Cũng trong ngày đó mọi người nam trong trại Áp-ra-ham được cắt dương bì, gồm tất cả những người sinh ra trong trại ông và các nô lệ ông mua từ những người ngoài.
GEN 18:1 Sau đó CHÚA lại hiện ra cùng Áp-ra-ham gần các cây sồi lớn tại Mam-rê. Áp-ra-ham đang ngồi nơi cửa lều mình lúc trời đang nắng gắt.
GEN 18:2 Ông ngước lên thấy ba người đứng trước mặt mình. Khi thấy họ, Áp-ra-ham liền từ cửa trại chạy ra chào đón. Ông cúi mọp mình xuống đất trước mặt họ
GEN 18:3 nói, “Thưa quí ông, nếu quí ông cho là phải thì xin lưu lại đây với tôi, kẻ tôi tớ quí ông.
GEN 18:4 Tôi sẽ mang nước để quí ông rửa chân. Quí ông sẽ nằm nghỉ dưới gốc cây,
GEN 18:5 rồi tôi sẽ mang ít bánh để quí ông dùng cho lại sức. Sau đó quí ông sẽ lên đường.” Ba người đó bảo, “Được, hãy làm theo như con nói.”
GEN 18:6 Áp-ra-ham vội vàng về trại bảo Sa-ra, “Hãy mau mau lấy hai mươi lít bột mịn làm bánh đi.”
GEN 18:7 Rồi Áp-ra-ham ra bầy bắt một con bò con tốt nhất. Ông giao cho đầy tớ bảo giết thịt chuẩn bị thức ăn gấp.
GEN 18:8 Áp-ra-ham thết ba người khách thịt bò con đã được nấu trong sữa và bơ. Đang khi họ ăn thì ông đứng hầu dưới gốc cây gần đó.
GEN 18:9 Các người khách hỏi Áp-ra-ham, “Sa-ra vợ con đâu?” Áp-ra-ham đáp, “Nàng ở trong trại đàng kia.”
GEN 18:10 Một trong các người khách bảo, “Vào ngày nầy năm tới ta sẽ chắc chắn trở lại thăm con. Lúc đó Sa-ra sẽ có một con trai.” Sa-ra đang nghe lén nơi cửa trại sau lưng Áp-ra-ham.
GEN 18:11 Cả Áp-ra-ham lẫn Sa-ra đều đã già. Vì Sa-ra đã quá tuổi sinh sản bình thường,
GEN 18:12 nên bà cười thầm và tự nhủ, “Hai vợ chồng tôi già rồi làm sao mà sinh con được!”
GEN 18:13 CHÚA hỏi Áp-ra-ham, “Tại sao Sa-ra cười? Tại sao nàng bảo, ‘Tôi già rồi làm sao sinh con được?’
GEN 18:14 Có việc gì quá khó đối với CHÚA không? Vào ngày nầy năm tới, ta sẽ trở lại. Sa-ra sẽ có một con trai.”
GEN 18:15 Sa-ra sợ nên chối, “Tôi có cười đâu.” Nhưng CHÚA bảo, “Con thật có cười đó.”
GEN 18:16 Các người khách đứng dậy ra về theo hướng Xô-đôm. Áp-ra-ham cùng đi với họ một khoảng để tiễn đưa.
GEN 18:17 CHÚA bảo, “Ta có nên giấu Áp-ra-ham biết điều ta sắp làm không?
GEN 18:18 Áp-ra-ham chắc hẳn sẽ trở thành một dân lớn và hùng cường. Các dân tộc trên đất sẽ nhờ người nầy mà được phước.
GEN 18:19 Ta đã chọn Áp-ra-ham để khuyên dạy con cháu và dòng dõi mình sống theo ý muốn Thượng Đế, tức là sống phải lẽ. Rồi ta, là CHÚA, sẽ ban cho Áp-ra-ham điều ta đã hứa.”
GEN 18:20 Rồi CHÚA bảo, “Ta đã nghe nhiều tiếng kêu than về dân cư hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ. Chúng nó rất gian ác.
GEN 18:21 Ta sẽ đi xuống xem thử có phải quả thật chúng xấu như thế chăng. Nếu không, ta sẽ biết.”
GEN 18:22 Vậy các người đó quay đi về hướng Xô-đôm. Nhưng Áp-ra-ham còn đứng đó trước mặt CHÚA.
GEN 18:23 Áp-ra-ham đến gần CHÚA thưa, “CHÚA dự định tiêu diệt người tốt cùng với người ác sao?
GEN 18:24 Nếu trong thành có năm mươi người tốt thì CHÚA cũng tiêu diệt thành sao? Chắc hẳn CHÚA sẽ không tiêu diệt thành vì có năm mươi người tốt sinh sống ở đó.
GEN 18:25 Chắc CHÚA sẽ không tiêu diệt người tốt cùng với người xấu? Nếu không, hóa ra CHÚA đối xử với người tốt và người xấu như nhau sao? CHÚA là thẩm phán của cả trái đất. Chắc hẳn Ngài sẽ làm điều công bình chứ?”
GEN 18:26 CHÚA phán, “Nếu ta tìm được năm mươi người tốt trong thành Xô-đôm, ta sẽ không tiêu diệt thành vì năm mươi người ấy.”
GEN 18:27 Áp-ra-ham tiếp, “Dù con đây là tro bụi cũng xin bạo gan thưa cùng CHÚA.
GEN 18:28 Giả sử chỉ có bốn mươi lăm người tốt trong thành thì sao? Chả lẽ thiếu năm người mà CHÚA cũng tiêu diệt cả thành sao?” CHÚA bảo, “Nếu ta tìm được bốn mươi lăm người tốt ở đó, ta cũng sẽ không tiêu diệt thành.”
GEN 18:29 Áp-ra-ham lại hỏi, “Nếu giả như chỉ có bốn mươi người tốt ở đó, CHÚA cũng tiêu diệt thành sao?” CHÚA bảo, “Nếu tìm được bốn mươi người, ta sẽ không tiêu diệt thành đó.”
GEN 18:30 Áp-ra-ham thưa tiếp, “Xin CHÚA đừng nổi giận với con, cho con hỏi câu nầy. Nếu Ngài chỉ tìm được có ba mươi người tốt trong thành đó thì Ngài có tiêu diệt thành không?” CHÚA bảo, “Nếu tìm được ba mươi người tốt ở đó, ta sẽ không tiêu diệt thành.”
GEN 18:31 Áp-ra-ham hỏi thêm, “Con xin bạo gan thưa cùng CHÚA. Giả sử như chỉ có hai mươi người tốt trong thành thì sao?” Ngài đáp, “Nếu tìm được hai mươi người tốt ở đó, ta sẽ không tiêu diệt thành.”
GEN 18:32 Áp-ra-ham hỏi tiếp, “Xin CHÚA đừng nổi giận cùng con, xin cho phép con hỏi câu chót. Nếu chỉ có mười người thì sao?” CHÚA đáp, “Nếu tìm được mười người, ta sẽ không tiêu diệt thành đó.”
GEN 18:33 Sau khi CHÚA nói chuyện với Áp-ra-ham xong thì Ngài ra đi, còn Áp-ra-ham trở về nhà mình.
GEN 19:1 Hai thiên sứ đến Xô-đôm vào lúc chiều tối, khi Lót đang ngồi nơi cửa thành. Nhìn thấy họ, Lót đứng dậy đến trước mặt cúi mọp xuống đất để chào.
GEN 19:2 Lót thưa, “Xin mời các ngài vào nhà tôi nghỉ đêm. Các ngài sẽ rửa chân rồi ngày mai hãy lên đường.” Các thiên sứ đáp, “Không, đêm nay chúng tôi sẽ ngủ ngoài công viên thành phố.”
GEN 19:3 Nhưng Lót năn nỉ quá nên họ bằng lòng vào nhà. Lót dọn bữa ăn cho họ. Ông nướng bánh mì không men, rồi họ ăn.
GEN 19:4 Trước khi họ đi ngủ thì toàn thể đàn ông trong thành Xô-đôm, từ già đến trẻ, kéo đến bao vây nhà Lót.
GEN 19:5 Họ gọi Lót, “Ê, hai người mới đến nhà anh đêm nay đâu? Mang họ ra đây để chúng ta ăn nằm với họ.”
GEN 19:6 Lót bước ra ngoài gặp họ, rồi đóng cửa nhà sau lưng mình.
GEN 19:7 Ông bảo, “Không được, anh em ơi! Chớ có làm việc ác nầy.
GEN 19:8 Nầy, tôi có hai đứa con gái còn trinh trắng, chưa hề ngủ với đàn ông nào. Tôi sẽ đưa chúng nó cho các anh em. Các anh em làm gì cũng được, nhưng xin anh em chớ đụng đến hai người nầy. Họ đã đến nhà tôi. Tôi có bổn phận phải bảo vệ họ.”
GEN 19:9 Bọn đàn ông vây quanh nhà Lót đáp, “Đi chỗ khác!” Rồi chúng bảo nhau, “Thằng Lót nầy đến ở thành phố chúng ta như kiều dân mà bây giờ còn dám lên mặt dạy chúng ta nữa à?” Rồi chúng bảo Lót, “Chúng tôi sẽ xử với anh còn tệ hơn với hai người nầy.” Chúng bắt đầu xô ông và định xông tới phá cửa.
GEN 19:10 Nhưng hai người ở nhà Lót mở cửa lôi ông vào, và đóng ập cửa lại.
GEN 19:11 Rồi hai người ấy khiến bọn người ở ngoài cửa bị mù, đến nỗi già trẻ đều lần mò mà không tìm được cửa.
GEN 19:12 Hai người hỏi Lót, “Anh còn có thân nhân nào nữa trong thành nầy không? Anh có con rể, con trai, con gái hay bà con nào nữa không? Nếu có thì bảo họ phải rời thành ngay,
GEN 19:13 vì chúng tôi sắp tiêu diệt thành nầy. CHÚA đã nghe những việc độc ác trong thành cho nên Ngài sai chúng tôi đến để tiêu diệt thành.”
GEN 19:14 Nên Lót đi ra nói với các con rể tương lai, đã hứa hôn với con gái mình rằng, “Hãy mau mau ra khỏi thành nầy, vì CHÚA sắp sửa tiêu diệt nó!” Nhưng họ tưởng Lót nói đùa.
GEN 19:15 Sáng sớm hôm sau các thiên sứ hối thúc Lót. Họ bảo, “Nhanh lên. Mang vợ và hai con gái anh đi ra để các con không bị tiêu diệt khi ta trừng phạt thành nầy.”
GEN 19:16 Nhưng Lót lừng khừng. Cho nên hai người ấy nắm tay Lót, cùng vợ và hai con gái ông, dẫn ra khỏi thành. CHÚA tỏ lòng thương xót đối với Lót và gia đình ông.
GEN 19:17 Sau khi mang họ ra khỏi thành rồi một trong hai người bảo, “Hãy chạy cứu mạng mau lên! Chớ ngoái cổ nhìn và đừng dừng lại nơi nào trong thung lũng. Hãy chạy lên núi. Nếu không các con sẽ bị tiêu diệt đó.”
GEN 19:18 Nhưng Lót năn nỉ một trong hai người đó, “Xin làm ơn đừng bắt tôi đi xa như thế!
GEN 19:19 Các ngài đã nhân từ thương xót mà cứu mạng tôi, nhưng tôi không thể chạy lên núi kịp đâu. Thảm họa sẽ chụp bắt tôi, tôi sẽ mất mạng.
GEN 19:20 Kia có cái thành nhỏ không xa lắm. Xin cho tôi chạy đến đó. Vì là thành nhỏ, chắc tôi được an toàn.”
GEN 19:21 Thiên sứ bảo Lót, “Được, ta cho phép anh. Ta sẽ không tiêu diệt thành đó.
GEN 19:22 Nhưng phải chạy nhanh đến đó vì chúng tôi không thể tiêu diệt Xô-đôm trước khi anh đã đến đó an toàn.” (Thành đó tên là Xoa vì nó nhỏ.)
GEN 19:23 Khi mặt trời vừa mọc thì Lót cũng vừa đến Xoa.
GEN 19:24 CHÚA giáng mưa lửa diêm sinh từ trời xuống trên Xô-đôm và Gô-mô-rơ,
GEN 19:25 đốt cháy tiêu hai thành đó. Ngài cũng tiêu diệt toàn thung lũng Giô-đanh, hủy diệt mọi người trong các thành đó, luôn cả cây cối vùng ấy.
GEN 19:26 Ngay lúc đó vợ Lót quay lại nhìn, nên bà liền biến thành cột muối.
GEN 19:27 Sáng sớm hôm sau Áp-ra-ham dậy, đi đến nơi ông đã đứng trước mặt CHÚA.
GEN 19:28 Nhìn về hướng Xô-đôm và Gô-mô-rơ và toàn thung lũng Giô-đanh, ông thấy khói từ dưới đất bốc lên giống như khói của lò lửa.
GEN 19:29 Khi Thượng Đế tiêu diệt các thành trong thung lũng thì Ngài nhớ đến Áp-ra-ham. Nên Ngài cứu mạng Lót, nhưng hủy diệt thành phố Lót sinh sống.
GEN 19:30 Lót sợ không dám ở lâu trong Xoa nên ông và hai cô con gái đi vào trong núi sống trong một cái hang.
GEN 19:31 Một hôm cô chị bảo cô em, “Cha chúng ta nay đã già rồi. Ai trên đất nầy cũng có vợ có chồng nhưng quanh đây không có đàn ông nào để lấy chúng ta theo như lệ thường.
GEN 19:32 Thôi chúng ta hãy phục rượu cho cha say rồi đến nằm với cha. Chúng ta sẽ nhờ cha mà sinh con để lưu truyền nòi giống.”
GEN 19:33 Hôm đó hai cô phục rượu cho cha khiến ông say. Cô chị đến nằm với cha mình. Nhưng Lót chẳng biết lúc nào cô ta nằm xuống hay lúc nào cô ta dậy hết.
GEN 19:34 Hôm sau cô chị bảo cô em, “Hôm qua chị đã đến nằm với cha rồi. Đêm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha say nữa, để em vào với cha. Làm như thế để nhờ cha mà lưu truyền nòi giống.”
GEN 19:35 Cho nên đêm đó hai cô lại phục rượu cho cha say nữa, rồi cô em vào nằm với cha mình. Lần nầy Lót cũng không hay lúc nào nàng nằm hay lúc nào nàng dậy hết.
GEN 19:36 Vậy hai cô con gái mang thai qua cha mình.
GEN 19:37 Cô chị sinh ra một con trai đặt tên là Mô-áp. Nó là ông tổ của các dân Mô-áp mà hiện nay vẫn còn.
GEN 19:38 Cô em cũng sinh ra một con trai đặt tên là Bên-Am-mi. Nó là ông tổ của dân Am-môn hiện nay vẫn còn đó.
GEN 20:1 Áp-ra-ham rời Hếp-rôn đi đến miền Nê-ghép, cư ngụ giữa Ca-đe và Su-rơ một thời gian. Khi đến Ghê-ra
GEN 20:2 thì ông bảo mọi người rằng Sa-ra là em gái mình. A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra nghe thế liền sai mấy đầy tớ cho bắt Sa-ra.
GEN 20:3 Nhưng một đêm kia Thượng Đế bảo A-bi-mê-léc trong chiêm bao rằng, “Con sẽ chết, vì người đàn bà con lấy đã có chồng rồi.”
GEN 20:4 Nhưng A-bi-mê-léc chưa lại gần Sa-ra nên ông thưa, “Lạy CHÚA, Ngài sẽ tiêu diệt cả một dân tộc vô tội sao?
GEN 20:5 Chính Áp-ra-ham đã bảo con, ‘Người đàn bà nầy là em gái tôi,’ mà chính nàng cũng đã nói với con, ‘Ông nầy là anh tôi.’ Cho nên con vô tội. Con đâu có biết mình làm sai trái?”
GEN 20:6 Thượng Đế trả lời A-bi-mê-léc trong mộng, “Phải, ta biết con không biết mình làm sai. Cho nên ta không cho phép con phạm tội cùng ta và đụng đến nàng.
GEN 20:7 Hãy trả lại vợ cho Áp-ra-ham. Ông ta là nhà tiên tri đó. Ông ta sẽ cầu khẩn cho con thì con mới khỏi chết. Nếu con không trả Sa-ra lại thì con và cả nhà chắc chắn sẽ chết.”
GEN 20:8 Nên sáng sớm hôm sau, A-bi-mê-léc triệu tập các cận thần và thuật lại cho họ nghe sự việc ông thấy trong mộng. Ai nấy đều đâm sợ.
GEN 20:9 A-bi-mê-léc liền gọi Áp-ra-ham lại bảo, “Anh đã làm gì cho chúng ta vậy? Ta đã làm gì sai trái với anh? Tại sao anh gây tội tày đình cho nước ta, bằng cách khiến ta làm điều sai trái?
GEN 20:10 Tại sao anh lại hành động như vậy?”
GEN 20:11 Áp-ra-ham thưa, “Tôi nghĩ trong xứ nầy không có ai kính sợ Thượng Đế cả, nên có thể sẽ có người giết tôi để đoạt Sa-ra.
GEN 20:12 Thật ra nàng là em gái tôi. Nàng là con của cha tôi nhưng khác mẹ, và tôi lấy nàng làm vợ.
GEN 20:13 Khi Thượng Đế bảo tôi rời nhà cha tôi đi lang thang đây đó thì tôi dặn Sa-ra, ‘Em phải làm ơn cho anh một điều. Bất cứ đi đâu cũng phải nói anh là anh của em nghe chưa.’”
GEN 20:14 Rồi A-bi-mê-léc cấp cho Áp-ra-ham một số chiên, gia súc, tôi trai tớ gái, và cũng trả lại vợ, là Sa-ra cho ông.
GEN 20:15 Rồi vua bảo, “Hãy xem quanh xứ ta! Ngươi muốn định cư đâu tùy ý.”
GEN 20:16 A-bi-mê-léc bảo Sa-ra, “Ta cho anh ngươi hai mươi lăm cân bạc để đền bù lại điều hiểu lầm của người ta về ngươi. Ta muốn mọi người biết rằng ngươi vô tội.”
GEN 20:17 Sau đó Áp-ra-ham cầu khẩn cùng CHÚA. Ngài chữa lành cho A-bi-mê-léc, cùng hoàng hậu và các tớ gái, để họ có con.
GEN 20:18 Vì CHÚA đã không cho người đàn bà nào trong nhà A-bi-mê-léc có con cả, để phạt vua về tội đoạt vợ của Áp-ra-ham.
GEN 21:1 CHÚA chăm lo cho Sa-ra như Ngài nói, nên Ngài thực hiện lời hứa mình.
GEN 21:2 Sa-ra thụ thai và sinh một con trai cho Áp-ra-ham trong tuổi già. Mọi việc xảy ra đúng thời điểm như Thượng Đế phán.
GEN 21:3 Áp-ra-ham đặt tên con là Y-sác, tức con mà Sa-ra sinh ra cho mình.
GEN 21:4 Khi Y-sác được tám ngày thì Áp-ra-ham cắt dương bì cho con mình theo như Thượng Đế dặn.
GEN 21:5 Lúc Y-sác ra đời thì Áp-ra-ham được một trăm tuổi.
GEN 21:6 Sa-ra bảo, “Thượng Đế đã làm cho tôi cười. Ai nghe tin nầy cũng sẽ cười với tôi.
GEN 21:7 Không ai có thể bảo rằng tôi có thể cho con bú được. Nhưng tuy Áp-ra-ham đã già mà tôi lại sinh cho ông một con trai.”
GEN 21:8 Y-sác lớn lên và khi cậu bé đủ tuổi ăn thức ăn bình thường thì Áp-ra-ham bày một bữa tiệc lớn ăn mừng.
GEN 21:9 Nhưng Sa-ra thấy đứa con, mà người nữ nô lệ Ha-ga đã sinh cho Áp-ra-ham, cười giỡn.
GEN 21:10 Nên Sa-ra bảo Áp-ra-ham, “Ông hãy đuổi con nhỏ nô lệ nầy và con nó đi đi. Con nó sẽ không được hưởng chút gia tài nào hết; con tôi sẽ hưởng tất cả.”
GEN 21:11 Lời yêu cầu nầy khiến Áp-ra-ham khó xử, vì nó cũng là con mình.
GEN 21:12 Nhưng Thượng Đế bảo Áp-ra-ham, “Đừng quá băn khoăn về đứa trẻ và người nữ nô lệ. Hãy làm theo điều Sa-ra yêu cầu. Dòng dõi mà ta hứa với con sẽ ra từ Y-sác.
GEN 21:13 Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi của con trai người nữ nô lệ thành ra một dân lớn vì nó cũng là con trai con.”
GEN 21:14 Sáng sớm hôm sau Áp-ra-ham lấy ít thức ăn và một túi da đựng đầy nước. Ông trao mọi thứ cho Ha-ga rồi đuổi nàng đi. Mang các thứ đó theo người, Ha-ga đi lang thang trong sa mạc gần Bê-e-sê-ba.
GEN 21:15 Chẳng bao lâu, túi đựng nước cạn, Ha-ga để con mình dưới một bụi cây.
GEN 21:16 Rồi nàng đi một khoảng xa xa xong ngồi xuống. Nàng nghĩ, “Con tôi thế nào cũng chết. Tôi không có can đảm nhìn cảnh đau lòng nầy.” Nàng ngồi đó và òa khóc.
GEN 21:17 Thượng Đế nghe tiếng đứa trẻ, nên từ thiên đàng thiên sứ của Thượng Đế gọi Ha-ga, “Ha-ga, có việc gì vậy? Đừng sợ! Thượng Đế đã nghe tiếng đứa trẻ đàng kia.
GEN 21:18 Hãy đến cầm tay đỡ nó dậy. Ta sẽ khiến dòng dõi nó thành ra một dân lớn.”
GEN 21:19 Rồi CHÚA chỉ cho Ha-ga thấy một giếng nước. Nàng đến đó lấy nước đổ đầy bình cho đứa nhỏ uống.
GEN 21:20 Thượng Đế ở cùng đứa nhỏ khi nó khôn lớn. Ích-ma-ên sống trong sa mạc và trở nên tay bắn cung rất giỏi.
GEN 21:21 Nó sống trong sa mạc Pha-ran. Mẹ nó tìm cho nó một người vợ gốc Ai-cập.
GEN 21:22 Sau đó A-bi-mê-léc cùng Phi-côn, viên tư lệnh quân đội, đến bảo Áp-ra-ham, “Việc gì anh làm cũng được Thượng Đế phù hộ cả.
GEN 21:23 Vậy tại đây trước mặt Thượng Đế anh hãy cam kết với ta rằng anh sẽ đối xử tốt với tôi, con cái và dòng dõi tôi. Hãy tỏ lòng tử tế cùng tôi và cùng xứ mà anh đang cư ngụ như một kiều dân, giống như tôi đã tử tế với anh.”
GEN 21:24 Áp-ra-ham đáp, “Tôi xin cam kết.”
GEN 21:25 Sau đó Áp-ra-ham phàn nàn cùng A-bi-mê-léc về vụ những tôi tớ của vua chiếm đoạt một giếng nước.
GEN 21:26 Nhưng A-bi-mê-léc bảo, “Ta chẳng biết ai làm chuyện đó. Sao đến hôm nay anh mới nói? Từ trước tới giờ tôi có nghe chuyện nầy đâu?”
GEN 21:27 Rồi Áp-ra-ham biếu A-bi-mê-léc một số chiên cừu, gia súc và hai bên kết ước với nhau.
GEN 21:28 Áp-ra-ham đặt bảy con cừu cái trước mặt A-bi-mê-léc.
GEN 21:29 A-bi-mê-léc hỏi Áp-ra-ham, “Anh đặt bảy con cừu cái riêng chi vậy?”
GEN 21:30 Áp-ra-ham đáp, “Xin vua hãy nhận các con cừu nầy từ tay tôi để chứng tỏ rằng vua tin tôi đã đào giếng nầy.”
GEN 21:31 Nên chỗ đó được gọi là Bê-e-sê-ba, vì là nơi họ lập ước với nhau.
GEN 21:32 Sau khi Áp-ra-ham và A-bi-mê-léc lập ước với nhau tại Bê-e-sê-ba thì A-bi-mê-léc và Phi-côn, tư lệnh quân đội ông, trở về xứ Phi-li-tin.
GEN 21:33 Áp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e-sê-ba và cầu khẩn cùng CHÚA, Đấng hằng sống.
GEN 21:34 Áp-ra-ham kiều ngụ trong xứ Phi-li-tin khá lâu.
GEN 22:1 Sau các việc ấy, Thượng Đế thử đức tin của Áp-ra-ham. Thượng Đế gọi Áp-ra-ham, “Áp-ra-ham!” Ông thưa, “Dạ.”
GEN 22:2 Thượng Đế bảo, “Con hãy bắt đứa con trai một của con là Y-sác, đứa con mà con rất thương yêu, đi đến xứ Mô-ri-a. Hãy dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên một hòn núi mà ta sẽ chỉ cho.”
GEN 22:3 Sáng hôm sau Áp-ra-ham dậy sớm và chuẩn bị yên cương cho lừa. Ông mang Y-sác và hai đứa đầy tớ nữa cùng đi. Sau khi đốn củi để làm của lễ thiêu thì họ lên đường, đi đến nơi Thượng Đế chỉ định.
GEN 22:4 Đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham ngước mắt lên thấy địa điểm đó từ đàng xa.
GEN 22:5 Ông bảo mấy đứa đầy tớ, “Mấy chú ở đây với con lừa. Con trai ta và ta sẽ đi đến đàng kia thờ phụng rồi sẽ trở lại với các chú.”
GEN 22:6 Áp-ra-ham chất củi để làm của lễ thiêu lên cho Y-sác vác, còn mình thì cầm dao và lửa. Hai cha con cùng đi.
GEN 22:7 Y-sác gọi Áp-ra-ham cha mình, “Cha ơi!” Áp-ra-ham đáp, “Cha đây, con!” Y-sác hỏi, “Thưa cha, mình có lửa và củi đây, nhưng chiên con đâu mà làm của lễ thiêu?”
GEN 22:8 Áp-ra-ham đáp, “Con ơi, Thượng Đế sẽ chuẩn bị chiên con để chúng ta làm của lễ thiêu.” Hai cha con lại tiếp tục đi.
GEN 22:9 Đến nơi Thượng Đế chỉ định, Áp-ra-ham dựng một bàn thờ tại đó. Xong ông đặt củi lên rồi trói con mình là Y-sác đặt nằm lên đống củi trên bàn thờ.
GEN 22:10 Xong Áp-ra-ham giơ dao định giết con mình.
GEN 22:11 Nhưng thiên sứ của CHÚA từ trời kêu xuống, “Áp-ra-ham! Áp-ra-ham!” Áp-ra-ham đáp, “Thưa, con đây!”
GEN 22:12 Thiên sứ bảo, “Đừng đụng đến con của con! Bây giờ ta biết con thật kính sợ Thượng Đế. Con đã không tiếc con trai, tức con một mình, đối với ta.”
GEN 22:13 Áp-ra-ham ngước lên thấy một con chiên đực đang mắc kẹt sừng trong bụi cây, nên Áp-ra-ham bắt giết nó. Ông dâng nó lên làm của lễ thiêu cho Thượng Đế, thế cho con mình.
GEN 22:14 Vì vậy, Áp-ra-ham gọi chỗ đó là Nơi CHÚA Cung Ứng. Đến ngày nay người ta vẫn nói “Trên hòn núi của CHÚA mà mọi việc sẽ được cung ứng.”
GEN 22:15 Thiên sứ của CHÚA từ trời gọi Áp-ra-ham một lần nữa
GEN 22:16 rằng, “CHÚA phán, ‘Vì đối với ta, con đã không tiếc con trai, tức con một của con, nên nhân danh chính mình, ta hứa như sau:
GEN 22:17 Ta chắc chắn sẽ ban phước và cho con vô số con cháu. Chúng nó sẽ đông như sao trên trời, như cát bãi biển. Chúng sẽ chiếm đoạt thành trì của quân thù.
GEN 22:18 Nhờ con cháu con mà nhiều dân tộc trên đất sẽ được phước, vì con vâng lời ta.’”
GEN 22:19 Sau đó Áp-ra-ham trở lại nơi các đầy tớ đang chờ. Họ trở về Bê-e-sê-ba, rồi Áp-ra-ham cư ngụ tại đó.
GEN 22:20 Sau các việc ấy có người báo tin cho Áp-ra-ham, “Na-ho, anh ông, và bà vợ là Minh-ca hiện đã có con.
GEN 22:21 Con trưởng là U-xơ, con thứ nhì là Bu-xơ. Con thứ ba là Kê-mu-ên (cha của A-ram).
GEN 22:22 Rồi họ có thêm Kê-sết, Hát-so, Phinh-đát, Dít-láp và Bê-thu-ên.”
GEN 22:23 Bê-thu-ên sinh Rê-be-ca. Minh-ca là mẹ của tám người con trai còn Na-ho, em của Áp-ra-ham là cha các người ấy.
GEN 22:24 Na-ho cũng có bốn con trai qua người vợ lẽ là Rêu-ma. Tên bốn người đó là Thê-ba, Ga-ham, Ta-hát và Ma-a-ca.
GEN 23:1 Sa-ra hưởng thọ được 127 tuổi.
GEN 23:2 Bà qua đời ở Ki-ri-át Ạc-ba (tức Hếp-rôn) trong xứ Ca-na-an. Áp-ra-ham rất đau buồn và than khóc vợ mình.
GEN 23:3 Sau đó ông đứng dậy rời khỏi xác vợ, đến nói chuyện với dân Hê-tít. Ông bảo,
GEN 23:4 “Tôi chỉ là kiều dân ở đây. Mấy anh hãy bán cho tôi một miếng đất để tôi chôn cất vợ tôi.”
GEN 23:5 Dân Hê-tít đáp cùng Áp-ra-ham,
GEN 23:6 “Ông ơi, ông là bậc đáng trọng của chúng tôi nên ông cứ chọn chỗ nào tốt nhất để chôn cất người quá cố của ông thì chọn. Ông lấy chỗ đất chôn cất nào của chúng tôi cũng được. Không ai trong chúng tôi cản trở việc ông chôn cất vợ ông cả.”
GEN 23:7 Áp-ra-ham đứng dậy cúi mình trước dân xứ đó, tức người Hê-tít.
GEN 23:8 Ông bảo họ, “Nếu mấy anh quả thực muốn cho tôi chôn cất nhà tôi ở đây thì xin nói hộ tôi với Ép-rôn, con của Xô-ha.
GEN 23:9 Hãy yêu cầu ông ta bán cho tôi hang Mặc-bê-la ở cuối khu ruộng của ông ta. Tôi sẽ trả nguyên giá. Còn mấy anh sẽ làm chứng rằng tôi mua chỗ đó để chôn cất.”
GEN 23:10 Đang ngồi chung với các người Hê-tít nơi cửa thành, Ép-rôn trả lời với Áp-ra-ham để cho mọi người có mặt ở cửa thành đều nghe. Ông ta bảo:
GEN 23:11 “Không sao. Tôi sẽ biếu ông miếng đất có cái hang trong nó, có mấy người đây làm chứng. Xin cứ chôn cất vợ ông ở đó.”
GEN 23:12 Rồi Áp-ra-ham cúi lạy trước người Hê-tít.
GEN 23:13 Trước mặt mọi người Áp-ra-ham bảo Ép-rôn, “Xin cho tôi được trả nguyên giá cho thửa ruộng. Hãy nhận tiền tôi thì tôi mới chôn cất thân nhân quá cố tôi ở đó.”
GEN 23:14 Ép-rôn đáp với Áp-ra-ham,
GEN 23:15 “Thưa ông, miếng đất đó đáng giá mười cân bạc nhưng tôi sẽ không thắc mắc với ông về giá cả. Ông cứ lấy miếng đất để chôn cất bà đi.”
GEN 23:16 Áp-ra-ham bằng lòng và trả cho Ép-rôn trước mặt những nhân chứng người Hê-tít. Ông cân đúng giá, tức mười cân bạc. Họ đếm trọng lượng theo như các nhà buôn hay làm.
GEN 23:17 Vậy là miếng ruộng của Ép-rôn trong vùng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, được bán xong. Áp-ra-ham trở thành chủ nhân miếng ruộng có cái hang và cây cối trên thửa đất. Cuộc mua bán được thực hiện ở cửa thành trước các nhân chứng người Hê-tít.
GEN 23:19 Sau đó Áp-ra-ham chôn cất Sa-ra, vợ mình, trong hang trên thửa ruộng ở Mặc-bê-la gần Mam-rê. (Mam-rê về sau gọi là Hếp-rôn thuộc xứ Ca-na-an.)
GEN 23:20 Vậy là Áp-ra-ham mua miếng ruộng của người Hê-tít, có cái hang trong đó để làm đất chôn cất.
GEN 24:1 Áp-ra-ham tuổi đã rất cao. CHÚA ban phước cho ông đủ mọi thứ.
GEN 24:2 Áp-ra-ham bảo đầy tớ cao niên nhất, là người quản trị tất cả tài sản của mình rằng, “Hãy đặt tay con lên đùi ta.
GEN 24:3 Phải hứa với ta, có CHÚA là Thượng Đế của trời đất chứng giám, rằng anh sẽ không kiếm vợ nào cho con trai ta trong vòng các thiếu nữ Ca-na-an, mặc dù ta đang sống giữa họ.
GEN 24:4 Anh phải về quê hương ta, xứ sở của thân nhân ta, kiếm một người vợ cho Y-sác, con trai ta.”
GEN 24:5 Người đầy tớ đáp, “Nhưng nếu cô đó không chịu đi về với tôi trong xứ nầy thì sao? Tôi có phải mang con trai ông trở về quê hương ông không?”
GEN 24:6 Áp-ra-ham đáp, “Không! Anh không được mang con ta về xứ đó.
GEN 24:7 CHÚA là Thượng Đế của trời đất đã mang ta ra khỏi nhà cha ta và xứ sở quê hương ta. Ngài hứa rằng, ‘Ta sẽ ban cho dòng dõi con xứ nầy.’ CHÚA sẽ sai thiên sứ Ngài đi trước anh để giúp anh tìm được một người vợ cho con trai ta ở đó.
GEN 24:8 Nếu cô ta không chịu đi về với anh thì anh khỏi mắc lời hứa hôm nay. Nhưng anh chớ bao giờ mang con ta về xứ ấy.”
GEN 24:9 Vậy người đầy tớ đặt tay lên đùi của chủ và hứa với Áp-ra-ham sẽ làm theo như thế.
GEN 24:10 Người đầy tớ đem mười con lạc đà của Áp-ra-ham rồi lên đường, mang theo mình nhiều tặng phẩm quí giá. Anh đi đến vùng tây bắc xứ Mê-sô-bô-ta-mi vào thành Na-ho.
GEN 24:11 Chiều đến khi các thiếu nữ đi ra lấy nước, anh cho các con lạc đà quì xuống nơi giếng nước ngoài thành phố.
GEN 24:12 Người đầy tớ khẩn nguyện, “Lạy CHÚA là Thượng Đế của Áp-ra-ham, chủ con, xin cho con tìm được vợ của chủ con hôm nay. Xin tỏ lòng nhân từ không thay đổi của Ngài cùng Áp-ra-ham, chủ con!
GEN 24:13 Bây giờ con đứng đây gần giếng nước. Các cô gái trong thành sẽ đi ra lấy nước.
GEN 24:14 Con sẽ nói với một trong các cô rằng, ‘Xin làm ơn đặt bình nước của cô xuống cho tôi uống một hớp.’ Xin cho cô ta nói, ‘Ông cứ uống đi, tôi sẽ mang nước cho lạc đà ông uống nữa.’ Nếu mọi việc xảy ra y như vậy thì con sẽ biết rằng cô đó đúng là người vợ cho tôi tớ Ngài là Y-sác, và rằng Ngài đã tỏ lòng nhân từ không thay đổi đối với chủ con.”
GEN 24:15 Trước khi người đầy tớ khẩn nguyện xong, thì Rê-be-ca, con gái Bê-thu-ên, từ thành đi ra. (Bê-thu-ên là con của Minh-ca và Na-ho, em của Áp-ra-ham.) Rê-be-ca mang bầu nước trên vai.
GEN 24:16 Cô rất đẹp và còn trinh trắng, chưa hề ăn ở với đàn ông nào. Cô đi đến giếng lấy nước đầy bầu rồi kéo bầu lên.
GEN 24:17 Người đầy tớ vội chạy lại bảo cô, “Cô làm ơn cho tôi xin hớp nước trong bầu của cô.”
GEN 24:18 Rê-be-ca đáp, “Dạ ông cứ uống đi.” Cô vội vàng hạ bầu nước trên vai xuống để ông ta uống.
GEN 24:19 Ông uống xong, Rê-be-ca tiếp, “Tôi sẽ đổ nước cho các lạc đà ông uống nữa.”
GEN 24:20 Cô lật đật đổ nước trong bầu vào rãnh uống nước cho lạc đà. Cô chạy đi chạy lại xuống giếng lấy nước cho đến khi tất cả lạc đà đều đã khát.
GEN 24:21 Người đầy tớ im lặng nhìn cô. Ông muốn biết chắc xem CHÚA có giúp chuyến đi của mình thành công hay không.
GEN 24:22 Sau khi các lạc đà uống xong, ông trao cho Rê-be-ca một chiếc nhẫn vàng nặng khoảng một phần năm lượng, hai vòng đeo tay vàng mỗi cái nặng bốn lượng.
GEN 24:23 Ông hỏi, “Cha cô là ai? Trong nhà cô có chỗ cho tôi và những bạn đồng hành trú đêm hay không?”
GEN 24:24 Rê-be-ca đáp, “Cha tôi là Bê-thu-ên, con của Minh-ca và Na-ho.”
GEN 24:25 Cô tiếp, “Dạ nhà tôi có rơm cho lạc đà của ông và đủ chỗ cho quí ông nghỉ đêm nay.”
GEN 24:26 Người đầy tớ liền quì xuống bái lạy CHÚA
GEN 24:27 và thưa, “Chúc tụng CHÚA, Thượng Đế của Áp-ra-ham, chủ con. Ngài đã tỏ lòng nhân từ và chân thật cùng người và dẫn con đến ngay nhà thân nhân của người.”
GEN 24:28 Rê-be-ca vội chạy về nhà mẹ mình báo tin cho mọi người.
GEN 24:29 Cô có một người anh, tên La-ban, cũng chạy ra gặp người đầy tớ của Áp-ra-ham, lúc đó vẫn còn đứng bên giếng nước.
GEN 24:30 Khi nghe cô kể lại và thấy chiếc nhẫn cùng các vòng đeo trên tay em gái mình, La-ban vội chạy ra giếng thì gặp người đầy tớ vẫn đang đứng bên các lạc đà cạnh giếng.
GEN 24:31 La-ban nói, “Thưa ông, cầu CHÚA ban phúc cho ông. Xin mời ông vào nhà với tôi. Ông không phải đứng ngoài đường như thế. Tôi đã chuẩn bị nhà sẵn cho ông và chỗ nghỉ cho lạc đà của ông.”
GEN 24:32 Vậy đầy tớ của Áp-ra-ham đi vào nhà. Sau khi đã hạ đồ đạc xuống khỏi lưng lạc đà, và cho chúng rơm cùng thức ăn, La-ban mang nước ra cho người đầy tớ Áp-ra-ham và những người đồng hành rửa chân.
GEN 24:33 Sau đó La-ban mời người đầy tớ dùng bữa. Nhưng ông ta nói, “Tôi sẽ không ăn cho đến khi tôi thuật cho quí vị biết lý do tại sao tôi đến đây.” La-ban bảo, “Vậy ông cứ nói đi.”
GEN 24:34 Ông bắt đầu kể, “Tôi là đầy tớ của Áp-ra-ham.
GEN 24:35 CHÚA đã ban phúc rất nhiều cho chủ tôi về mọi mặt, nên chủ tôi rất giàu. CHÚA ban cho chủ tôi vô số cừu, gia súc, bạc và vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà, và lừa.
GEN 24:36 Sa-ra, vợ của chủ tôi, sinh được một con trai trong tuổi già nua. Chủ tôi đã giao hết tài sản của mình cho người con ấy.
GEN 24:37 Chủ tôi đã buộc tôi hứa như sau, ‘Đừng bao giờ kiếm vợ cho con trai ta trong vòng các thiếu nữ Ca-na-an, mặc dù ta đang sống giữa họ,
GEN 24:38 nhưng hãy về nhà thân nhân cha ta và gia đình ta để kiếm vợ cho con ta.’
GEN 24:39 Tôi hỏi chủ tôi như sau, ‘Nếu người con gái ấy không chịu theo tôi về đây thì sao?’
GEN 24:40 Chủ tôi bảo, ‘Ta phục vụ Thượng Đế. Ngài sẽ sai thiên sứ Ngài đi với con và giúp đỡ con. Con sẽ tìm được một người vợ cho con trai ta trong vòng thân tộc của cha ta.
GEN 24:41 Nếu họ không chịu gả con gái để làm vợ cho con ta thì con khỏi thất hứa.’
GEN 24:42 Hôm nay trong khi đang ngồi ở suối nước nầy tôi thầm nguyện: Lạy CHÚA là Thượng Đế của Áp-ra-ham chủ con, xin cho chuyến đi của con thành công.
GEN 24:43 Con đang đứng cạnh suối nước nầy chờ một thiếu nữ đi ra lấy nước. Con sẽ xin cô đó, ‘Cô làm ơn cho tôi uống chút nước trong bầu.’
GEN 24:44 Nếu cô nói, ‘Xin ông cứ uống đi, rồi tôi sẽ lấy nước cho lạc đà ông uống nữa.’ Nhờ dấu hiệu đó con sẽ biết rằng, CHÚA đã chọn người cho con của chủ con.
GEN 24:45 Trước khi dứt lời thầm nguyện thì Rê-be-ca từ thành ra vác bầu nước trên vai. Cô ta đi thẳng xuống suối lấy nước. Tôi nói với cô, ‘Cô làm ơn cho tôi xin hớp nước để uống.’
GEN 24:46 Cô vội vàng hạ bầu nước trên vai xuống và bảo, ‘Ông uống đi rồi tôi sẽ lấy nước cho lạc đà ông uống nữa.’ Khi tôi uống xong, cô mang nước cho lạc đà của tôi.
GEN 24:47 Rồi tôi hỏi cô, ‘Cha cô là ai?’ Cô đáp, ‘Cha tôi là Bê-thu-ên, con của Minh-ca và Na-ho.’ Sau đó tôi đặt chiếc nhẫn nơi mũi cô và đeo chiếc vòng nơi tay cô.
GEN 24:48 Tôi cúi đầu cảm tạ CHÚA. Tôi ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của chủ tôi, là Áp-ra-ham, vì Ngài đã dẫn tôi đi đúng đường đến cô con gái của em trai chủ tôi để chọn nàng làm vợ cho con chủ tôi.
GEN 24:49 Bây giờ xin quí vị hãy đối xử tốt và thành thật cùng chủ tôi. Nếu không cũng xin cho biết để tôi liệu.”
GEN 24:50 La-ban và Bê-thu-ên đáp, “Việc nầy rõ ràng là do CHÚA sắp đặt, chúng ta không thể thay đổi được.
GEN 24:51 Rê-be-ca thuộc về gia đình anh rồi đó. Mang nó đi về đi, để nó kết hôn với con trai chủ anh theo như CHÚA đã định.”
GEN 24:52 Nghe vậy, người đầy tớ của Áp-ra-ham liền sấp mặt xuống đất trước mặt CHÚA.
GEN 24:53 Rồi ông trao cho Rê-be-ca nữ trang bằng vàng, bạc và áo quần. Ông cũng biếu cho anh cô và mẹ cô nhiều tặng phẩm quí giá.
GEN 24:54 Người đầy tớ cùng các bạn đồng hành dùng bữa và nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau khi thức dậy, người đầy tớ bảo, “Tôi xin phép trở về với chủ tôi.”
GEN 24:55 Mẹ và anh Rê-be-ca nói, “Hãy để Rê-be-ca ở thêm với chúng tôi ít nhất mười ngày nữa rồi hãy đi.”
GEN 24:56 Nhưng người đầy tớ đáp, “Xin đừng bắt tôi chờ vì CHÚA đã giúp chuyến đi của tôi thành công. Thôi xin để tôi trở về với chủ tôi.”
GEN 24:57 Mẹ và anh Rê-be-ca bảo, “Để gọi hỏi nó xem nó muốn sao.”
GEN 24:58 Họ gọi và hỏi cô, “Con có muốn đi với người nầy ngay bây giờ không?” Cô đáp, “Dạ, con muốn đi.”
GEN 24:59 Vậy họ để Rê-be-ca cùng người vú nuôi đi với người đầy tớ của Áp-ra-ham và những người đồng hành.
GEN 24:60 Họ chúc phước cho Rê-be-ca như sau, “Em ơi, nguyện em làm mẹ của hàng ngàn người, nguyện dòng dõi em chiếm được thành quân thù.”
GEN 24:61 Rồi Rê-be-ca cùng những người đầy tớ gái của cô leo lên lưng lạc đà đi theo người đầy tớ Áp-ra-ham và các người đồng hành. Người đầy tớ lên đường, mang theo Rê-be-ca.
GEN 24:62 Lúc đó Y-sác đã rời Bê-e La-chai-roi và đang sống ở vùng Nê-ghép.
GEN 24:63 Một buổi chiều nọ khi ông đang đi ra đồng để trầm tư, Y-sác ngước lên thấy một đoàn lạc đà đang đến.
GEN 24:64 Rê-be-ca cũng nhìn và trông thấy Y-sác. Cô vội vàng xuống khỏi lạc đà
GEN 24:65 và hỏi người đầy tớ, “Người đang đi trong đồng ra đón chúng ta là ai vậy?” Người đầy tớ đáp, “Chủ tôi đó.” Rê-be-ca vội vàng lấy tấm khăn mỏng che mặt mình.
GEN 24:66 Người đầy tớ thuật lại cho Y-sác nghe mọi việc.
GEN 24:67 Y-sác đưa Rê-be-ca vào lều của Sa-ra, rồi lấy nàng làm vợ. Y-sác yêu quí Rê-be-ca, nên rất được an ủi sau khi mẹ ông qua đời.
GEN 25:1 Áp-ra-ham lại cưới vợ và kết hôn với Kê-tu-ra.
GEN 25:2 Bà sinh ra Xim-ran, Giốc-san, Mê-đan, Mi-đi-an, Ích-bát, và Su-a.
GEN 25:3 Giốc-san sinh ra Sê-ba và Đê-đan. Dòng dõi của Đê-đan là các dân A-xy-ri, Lê-úc, và Lê-um.
GEN 25:4 Các con của Mi-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nốc, A-bi-đa, và Ên-đa-a. Tất cả những người đó là dòng dõi của Kê-tu-ra.
GEN 25:5 Áp-ra-ham để lại tất cả tài sản của mình cho Y-sác.
GEN 25:6 Tuy nhiên trước khi qua đời, Áp-ra-ham có chia ít tài sản cho các con của các bà vợ khác rồi cho họ đi qua cư ngụ vùng phía đông, xa khỏi Y-sác.
GEN 25:7 Áp-ra-ham hưởng thọ 175 tuổi.
GEN 25:8 Ông trút hơi thở cuối cùng và qua đời khi cao tuổi, sau khi sống một cuộc đời mãn nguyện.
GEN 25:9 Các con trai ông là Y-sác và Ích-ma-ên chôn cất ông trong hang Mặc-bê-la trong ruộng của Ép-rôn nằm về phía đông Mam-rê. (Ép-rôn là con của Xô-ha, người Hê-tít.)
GEN 25:10 Áp-ra-ham được chôn cất chung chỗ với Sa-ra, trong cùng thửa ruộng mà ông đã mua từ người Hê-tít.
GEN 25:11 Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Thượng Đế ban phước cho con ông là Y-sác. Lúc ấy Y-sác đang sống ở Bê-e La-chai-roi.
GEN 25:12 Sau đây là gia phổ của Ích-ma-ên, con của Áp-ra-ham và Ha-ga (người Ai-Cập, nữ nô lệ của Sa-ra).
GEN 25:13 Tên của các con Ích-ma-ên theo thứ tự sinh ra như sau: Nê-bai-ốt là con trưởng nam, rồi đến Kê-đa, Át-bê-ên, Míp-sam,
GEN 25:14 Mích-ma, Đu-ma, Ma-xa,
GEN 25:15 Ha-đát, Thê-ma, Giê-tua, Na-phích và Kê-đê-ma.
GEN 25:16 Đó là mười hai con trai của Ích-ma-ên và là trưởng tộc. Gia tộc của mỗi người con đều có nơi định cư và địa điểm đóng trại riêng.
GEN 25:17 Ích-ma-ên hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi khi trút hơi thở cuối cùng. Ông qua đời và được mai táng.
GEN 25:18 Dòng dõi của người sống trong vùng từ Ha-vi-la cho đến Su-rơ về phía đông Ai-cập kéo dài đến xứ A-xy-ri. Họ thường định cư gần các anh em mình.
GEN 25:19 Sau đây là dòng dõi Y-sác. Áp-ra-ham sinh một con trai tên Y-sác.
GEN 25:20 Khi Y-sác được 40 tuổi thì kết hôn với Rê-be-ca, người miền Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi. Nàng là con gái Bê-thu-ên, người A-ram, và là em của La-ban, cũng người A-ram.
GEN 25:21 Vợ của Y-sác không có con nên ông khẩn nguyện cùng CHÚA. Ngài nghe lời khẩn xin của ông, nên Rê-be-ca thụ thai.
GEN 25:22 Khi Rê-be-ca đang mang thai, hai đứa bé trong bụng tranh giành nhau. Nàng hỏi, “Tại sao chuyện nầy lại xảy ra cho tôi?” Nàng cầu nguyện cùng CHÚA thì nhận được lời đáp của Ngài.
GEN 25:23 CHÚA cho nàng biết, “Hai quốc gia ở trong bụng con, hai đám dân sẽ do con mà ra. Một dân sẽ mạnh hơn dân kia, đứa anh sẽ làm tôi cho đứa em.”
GEN 25:24 Đến kỳ Rê-be-ca đẻ sinh đôi.
GEN 25:25 Đứa đầu tiên lọt lòng có màu da đỏ. Vì đa nó màu đỏ hung hung cho nên được đặt tên là Ê-sau.
GEN 25:26 Khi đứa thứ nhì sinh ra thì nó nắm gót chân Ê-sau, nên được đặt tên là Gia-cốp. Lúc hai đứa bé sinh ra, Y-sác đã được 60 tuổi.
GEN 25:27 Lớn lên, Ê-sau trở thành tay thợ săn giỏi, thích ở ngoài đồng. Còn Gia-cốp thì trầm lặng hơn, chỉ hay quanh quẩn bên lều trại.
GEN 25:28 Y-sác yêu Ê-sau vì anh hay mang thịt rừng về. Nhưng Rê-be-ca lại yêu Gia-cốp hơn.
GEN 25:29 Một hôm Gia-cốp đang nấu một món canh. Ê-sau đi săn từ đồng về đói bụng.
GEN 25:30 Ê-sau hỏi Gia-cốp, “Cho anh ăn ít canh đỏ đó đi vì anh đang đói lả.” (Vì thế mà người ta gọi Ê-sau là Ê-đôm.)
GEN 25:31 Nhưng Gia-cốp bảo, “Anh hãy bán quyền trưởng nam của anh cho tôi đi!”
GEN 25:32 Ê-sau đáp, “Anh sắp chết đói đây rồi. Anh mà chết thì quyền trưởng nam cũng vô dụng thôi.”
GEN 25:33 Nhưng Gia-cốp bảo, “Anh phải hứa anh sẽ trao quyền tài sản cho tôi trước đã.” Vì thế Ê-sau hứa với Gia-cốp và trao quyền trưởng nam Gia-cốp.
GEN 25:34 Rồi Gia-cốp cho Ê-sau ăn bánh mì và canh đậu. Ăn uống xong, ông ra đi. Ê-sau coi thường quyền trưởng nam của mình.
GEN 26:1 Lúc đó trong xứ có cơn đói kém ngoài cơn đói kém xảy ra trong đời Áp-ra-ham. Cho nên Y-sác đi xuống thành Ghê-ra thăm A-bi-mê-léc vua dân Phi-li-tin.
GEN 26:2 CHÚA hiện ra cùng Y-sác bảo rằng, “Đừng đi xuống Ai-cập nhưng hãy sống trong xứ ta bảo con.
GEN 26:3 Hãy ở trong xứ nầy, ta sẽ ở cùng và ban phước cho con. Ta sẽ cho con và dòng dõi con đất nầy. Ta sẽ giữ lời thề ta lập cùng Áp-ra-ham, cha con.
GEN 26:4 Ta sẽ làm cho dòng dõi con đông như sao trên trời không ai đếm được, và ta sẽ ban cho chúng nó đất nầy. Nhờ dòng dõi con mà các dân trên đất sẽ được phước.
GEN 26:5 Ta sẽ thực hiện mọi điều đó, vì cha con là Áp-ra-ham đã vâng lời ta. Người đã làm theo điều ta bảo, vâng theo mệnh lệnh cùng lời giáo huấn và giữ luật lệ ta.”
GEN 26:6 Vậy Y-sác cư ngụ tại Ghê-ra.
GEN 26:7 Rê-be-ca, vợ Y-sác rất đẹp cho nên các người đàn ông ở đó trầm trồ với Y-sác về nàng. Y-sác bảo, “Cô đó là em gái tôi.” Ông sợ không dám nói nàng là vợ mình, vì ngại rằng họ sẽ giết mình để đoạt nàng.
GEN 26:8 Y-sác sống ở vùng đó khá lâu. Một ngày kia A-bi-mê-léc, vua dân Phi-li-tin nhìn qua cửa sổ thấy Y-sác đang âu yếm Rê-be-ca.
GEN 26:9 A-bi-mê-léc gọi Y-sác hỏi, “Cô nầy là vợ anh, tại sao anh lại bảo là em gái?” Y-sác đáp, “Tôi sợ rằng vua sẽ giết tôi để đoạt nàng.”
GEN 26:10 A-bi-mê-léc tiếp, “Ngươi đã làm gì cho chúng tôi vậy? Vì một người trong chúng tôi có thể ăn nằm với nàng, rồi tất cả chúng tôi đều mang trọng tội.”
GEN 26:11 A-bi-mê-léc liền cảnh cáo mọi người, “Ai đụng đến người nầy hay vợ người sẽ bị xử tử.”
GEN 26:12 Y-sác trồng trọt trong vùng đó, và năm ấy ông trúng mùa. Thượng Đế ban phước cho ông rất nhiều,
GEN 26:13 nên ông trở nên giàu có. Ông tạo ra nhiều của cải đến nỗi trở nên giàu sụ.
GEN 26:14 Y-sác có nhiều nô lệ và gia súc nên người Phi-li-tin ganh tức với ông.
GEN 26:15 Chúng lấp các giếng nước mà những tôi tớ của Áp-ra-ham, cha Y-sác, đã đào. Họ đào giếng nầy trong khi Áp-ra-ham còn sống. Người Phi-li-tin lấy đất lấp các giếng ấy lại.
GEN 26:16 A-bi-mê-léc bảo Y-sác, “Thôi, anh hãy ra khỏi xứ chúng tôi đi, vì anh đã trở nên hùng mạnh hơn chúng tôi.”
GEN 26:17 Vì thế Y-sác rời vùng ấy, dựng lều và định cư trong thung lũng Ghê-ra.
GEN 26:18 Trước đó khá lâu Áp-ra-ham đã cho đào nhiều giếng nước, nhưng sau khi ông qua đời người Phi-li-tin lấy đất lấp tất cả các giếng đó. Nên Y-sác cho đào các giếng đó lại và đặt tên như trước đây cha mình đã đặt.
GEN 26:19 Các người đầy tớ Y-sác đào một cái giếng trong thung lũng thì tìm được nước ngọt.
GEN 26:20 Nhưng bọn chăn chiên ở Ghê-ra tranh dành với họ và bảo, “Giếng nầy của tụi tao.” Nên Y-sác gọi giếng đó là Ê-séc, vì chúng nó tranh dành với ông.
GEN 26:21 Rồi những người đầy tớ ông đào một giếng khác. Chúng cũng tranh giành nữa, nên Y-sác gọi giếng đó là giếng Sít-na.
GEN 26:22 Ông bỏ đó và đào một cái giếng khác nữa. Lần nầy không ai tranh dành, nên ông gọi giếng đó là Rê-hô-bốt. Y-sác bảo, “Bây giờ CHÚA đã dành chỗ cho chúng ta, nên chúng ta sẽ phát đạt trong xứ nầy.”
GEN 26:23 Từ đó Y-sác dời qua Bê-e-sê-ba.
GEN 26:24 Đêm ấy, CHÚA hiện ra cùng ông và bảo, “Ta là Thượng Đế của Áp-ra-ham, cha con. Đừng sợ vì ta ở cùng con. Ta sẽ ban phước và cho con đông con cháu, vì cớ đầy tớ ta là Áp-ra-ham.”
GEN 26:25 Vậy Y-sác xây một bàn thờ và thờ lạy CHÚA tại đó. Ông cũng cho dựng lều tại đây. Các người đầy tớ ông đào một cái giếng.
GEN 26:26 A-bi-mê-léc từ Ghê-ra đến thăm Y-sác. Ông mang theo A-hu-giác, cố vấn của mình và Phi-côn, tư lệnh quân đội.
GEN 26:27 Y-sác hỏi họ, “Các ông đến thăm tôi làm gì? Các ông đã ganh ghét và đuổi tôi ra khỏi xứ các ông rồi mà.”
GEN 26:28 Họ đáp, “Bây giờ chúng tôi biết CHÚA ở cùng anh. Chúng ta hãy thề nguyền cùng nhau và lập ước giữa chúng tôi và anh.
GEN 26:29 Chúng tôi không làm hại gì cho anh, nên anh cũng sẽ không làm hại chúng tôi. Chúng tôi đối xử tốt với anh và để anh đi ra bình yên. Bây giờ CHÚA đã ban phước cho anh.”
GEN 26:30 Y-sác thết đãi họ, mọi người ăn uống vui vẻ.
GEN 26:31 Sáng sớm hôm sau họ thề nguyện cùng nhau. Y-sác tiễn họ lên đường rồi họ ra đi bình yên.
GEN 26:32 Hôm đó các người đầy tớ đến báo cáo về giếng họ đã đào, Họ báo, “Chúng tôi đã thấy nước trong giếng.”
GEN 26:33 Cho nên Y-sác gọi giếng ấy là Si-ba và thành đó gọi là Bê-e-sê-ba cho đến ngày nay.
GEN 26:34 Khi Ê-sau được 40 tuổi thì lấy hai vợ người Hê-tít tên là Giu-đít con của Bê-e-ri và Bát-sê-ma con của Ê-lôn.
GEN 26:35 Hai nàng dâu đó làm phiền lòng Y-sác và Rê-be-ca không ít.
GEN 27:1 Khi Y-sác về già thì mắt bị lòa, không còn thấy rõ. Một hôm ông gọi con trưởng là Ê-sau lại bảo, “Con ơi.” Ê-sau đáp, “Dạ.”
GEN 27:2 Y-sác bảo, “Cha nay già rồi không biết lúc nào qua đời.
GEN 27:3 Con hãy lấy cung tên đi ra đồng săn thú làm thịt cho cha ăn.
GEN 27:4 Con hãy chuẩn bị món ăn ngon mà cha thích, mang đến đây. Ăn xong, cha sẽ chúc phước cho con trước khi cha qua đời.”
GEN 27:5 Ê-sau liền ra đồng săn. Khi Y-sác nói chuyện với Ê-sau thì Rê-be-ca nghe lén.
GEN 27:6 Bà liền bảo con mình là Gia-cốp, “Nầy con, mẹ nghe cha con bảo Ê-sau, anh con, như sau
GEN 27:7 ‘Hãy giết thú làm món gì ngon cho cha ăn rồi cha sẽ chúc phước cho con trước mặt CHÚA trước khi cha qua đời.’
GEN 27:8 Cho nên con hãy nghe mẹ và làm theo điều mẹ dặn.
GEN 27:9 Hãy đi ra bầy bắt hai con dê con tốt nhất. Mẹ sẽ làm món ăn mà cha con thích.
GEN 27:10 Rồi con sẽ mang vào cho cha con ăn để cha chúc phước cho con trước khi qua đời.”
GEN 27:11 Nhưng Gia-cốp đáp, “Anh con có nhiều lông còn da con mịn!
GEN 27:12 Nếu cha sờ vào con, cha sẽ biết đây không phải Ê-sau, rồi không những cha sẽ không chúc phước cho con mà trái lại sẽ nguyền rủa, vì con phỉnh gạt cha.”
GEN 27:13 Rê-be-ca bảo Gia-cốp, “Nếu cha nguyền rủa con thì mẹ sẽ gánh chịu. Bây giờ con cứ làm theo lời mẹ, ra bắt dê đi.”
GEN 27:14 Vậy Gia-cốp đi ra bắt hai con dê mang vào cho mẹ rồi bà nấu món ăn đúng sở thích của Y-sác.
GEN 27:15 Bà lấy áo tốt nhất của Ê-sau để ở trong nhà, mặc vào cho con thứ là Gia-cốp.
GEN 27:16 Bà cũng lấy da dê quấn tay và cổ Gia-cốp;
GEN 27:17 rồi đưa cho Gia-cốp thức ăn ngon và bánh mì bà mới làm.
GEN 27:18 Gia-cốp bưng vào cho cha và nói, “Thưa cha.” Cha ông hỏi, “Cha đây, con. Con là đứa nào?”
GEN 27:19 Gia-cốp thưa, “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha. Con đã làm điều cha dặn. Bây giờ xin cha hãy ngồi dậy ăn thịt mà con săn được cho cha, rồi cha sẽ chúc phước cho con.”
GEN 27:20 Nhưng Y-sác hỏi, “Sao con săn được thú nhanh vậy?” Gia-cốp trả lời, “Dạ nhờ CHÚA là Thượng Đế của cha phù hộ nên con săn được thú nhanh như vậy.”
GEN 27:21 Y-sác liền bảo Gia-cốp, “Con ơi, hãy lại gần đây cho cha sờ con để cha biết có đúng là Ê-sau, con cha hay không.”
GEN 27:22 Gia-cốp liền đến gần Y-sác. Y-sác sờ ông rồi nói, “Tiếng nói thì giống tiếng Gia-cốp mà tay thì lại giống tay Ê-sau.”
GEN 27:23 Y-sác không biết đó là Gia-cốp vì tay ông có lông giống như tay Ê-sau nên Y-sác chúc phước cho Gia-cốp.
GEN 27:24 Y-sác hỏi, “Có quả thật con là Ê-sau không?” Gia-cốp đáp, “Dạ phải.”
GEN 27:25 Y-sác bảo, “Con hãy mang món ăn lại cho cha ăn, rồi cha sẽ chúc phước cho con.” Gia-cốp liền bưng thức ăn vào, rồi Y-sác ăn. Gia-cốp cũng mang rượu cho cha mình uống.
GEN 27:26 Rồi Y-sác bảo, “Con hãy lại gần hôn cha đi.”
GEN 27:27 Gia-cốp liền lại gần hôn cha mình. Khi Y-sác ngửi mùi áo của Ê-sau liền chúc phước, “Mùi của con ta như mùi của cánh đồng được CHÚA ban phước.
GEN 27:28 Nguyện Thượng Đế ban cho con đủ mưa và đất đai phì nhiêu để con tràn đầy ngũ cốc và rượu mới.
GEN 27:29 Nguyện các nước sẽ phục vụ con và các dân sẽ cúi lạy con. Nguyện con cai quản các anh em con và nguyện các con của mẹ con cúi lạy con. Nguyện kẻ nào nguyền rủa con sẽ bị nguyền rủa, kẻ nào chúc phước con sẽ được phước.”
GEN 27:30 Y-sác chúc phước cho Gia-cốp xong; và vừa khi Gia-cốp bước ra, thì Ê-sau từ đồng đi săn về.
GEN 27:31 Ông chuẩn bị thức ăn ngon mang vào cho Y-sác. Ông thưa, “Xin mời cha dậy ăn món thịt rừng con của cha đã giết được, rồi chúc phước cho con.”
GEN 27:32 Y-sác hỏi, “Con là đứa nào vậy?” Ê-sau đáp, “Con là Ê-sau con trưởng nam của cha.”
GEN 27:33 Nghe vậy Y-sác giận run lên và hỏi, “Thế thì đứa nào săn thú mang thức ăn vào cho cha trước khi con vào đây? Cha ăn và đã chúc phước cho nó rồi. Vậy nó sẽ nhận được phước ấy.”
GEN 27:34 Ê-sau nghe vậy thì oà khóc cay đắng. Ông thưa với cha, “Cha ơi, xin cha chúc phước cho con nữa!”
GEN 27:35 Nhưng Y-sác bảo, “Em con đã vào đây phỉnh cha. Nó đã cướp phước lành của con rồi.”
GEN 27:36 Ê-sau bảo, “Cái tên Gia-cốp của nó là đúng lắm, vì nó đã phỉnh con hai lần rồi. Nó đã phỉnh để cướp quyền trưởng nam của con, bây giờ lại lấy luôn phúc lành của con nữa.” Ê-sau tiếp, “Vậy bây giờ cha không còn phước nào dành cho con sao?”
GEN 27:37 Y-sác trả lời, “Cha đã cho Gia-cốp quyền cai trị trên con, mọi anh em nó sẽ làm tôi cho nó. Ta giúp nó có đầy ngũ cốc và rượu mới. Con ơi, cha đâu còn phước nào nữa mà cho con.”
GEN 27:38 Nhưng Ê-sau năn nỉ, “Chẳng lẽ cha không còn một phước nào sao? Cha ơi, hãy chúc phước cho con nữa!” Rồi Ê-sau lớn tiếng òa khóc thảm thiết.
GEN 27:39 Y-sác bảo, “Con sẽ sống xa vùng đất phì nhiêu, xa mưa móc.
GEN 27:40 Con sẽ phải vất vả để sinh sống và làm tôi cho em con. Nhưng khi con vùng vẫy thì con sẽ thoát khỏi ách của em con.”
GEN 27:41 Từ đó Ê-sau rất ghét Gia-cốp vì lời chúc phước của Y-sác cho. Ông tự nhủ, “Cha mình sắp qua đời rồi, ta sẽ buồn bã. Sau đó ta sẽ giết Gia-cốp.”
GEN 27:42 Rê-be-ca nghe ý định Ê-sau muốn giết Gia-cốp nên cho gọi Gia-cốp vào bảo, “Nầy con, anh con muốn tự an ủi bằng cách giết con đó.
GEN 27:43 Vậy bây giờ hãy làm theo điều mẹ dặn. Anh của mẹ hiện ở Cha-ran. Con hãy đi đến ở với cậu con liền đi!
GEN 27:44 Ở với cậu một thời gian cho đến khi anh con nguôi giận.
GEN 27:45 Lâu dần anh con sẽ bớt giận, quên mất điều con đã làm cho nó. Lúc đó mẹ sẽ sai một đầy tớ mang con về. Mẹ không muốn mất hai đứa con cùng một ngày.”
GEN 27:46 Sau đó Rê-be-ca bảo Y-sác, “Tôi chán sống giữa mấy người đàn bà Hê-tít lắm. Nếu Gia-cốp lấy một trong mấy đứa con gái Hê-tít nầy làm vợ chắc tôi chết mất.”
GEN 28:1 Y-sác gọi Gia-cốp vào chúc phước và dặn, “Con không được lấy đàn bà Ca-na-an nào làm vợ.
GEN 28:2 Hãy đi đến nhà Bê-thu-ên, ông ngoại con ở vùng tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi, nơi La-ban cậu con đang sống. Hãy lấy một trong các con gái của cậu con làm vợ.
GEN 28:3 Nguyện Thượng Đế Toàn Năng ban phước, cho con nhiều con cái, và khiến con trở thành một dám dân đông đảo,
GEN 28:4 Nguyện Ngài ban cho con và dòng dõi con phước lành của Áp-ra-ham, để con sẽ làm chủ miền đất mà con đang ở tạm, đất mà Thượng Đế đã ban cho Áp-ra-ham.”
GEN 28:5 Vậy Y-sác sai Gia-cốp đến vùng tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi, nơi La-ban, anh của Rê-be-ca sinh sống. Bê-thu-ên người A-ram là cha của La-ban và Rê-be-ca. Rê-be-ca là mẹ của Gia-cốp và Ê-sau.
GEN 28:6 Ê-sau biết Y-sác đã chúc phước và bảo Gia-cốp đi sang vùng tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi để tìm vợ.
GEN 28:7 Ê-sau cũng biết Y-sác dặn Gia-cốp không được lấy con gái Ca-na-an làm vợ, và Gia-cốp đã vâng theo lời cha mẹ đi sang vùng đó.
GEN 28:8 Nên Ê-sau biết Y-sác, cha mình, không thích các con mình lấy gái Ca-na-an.
GEN 28:9 Tuy Ê-sau đã có vợ nhưng ông đi đến Ích-ma-ên, con của Áp-ra-ham lấy Ma-ha-lát, con gái Ích-ma-ên làm vợ. Ma-ha-lát là chị của Nê-bai-ốt.
GEN 28:10 Gia-cốp rời Bê-e-sê-ba lên đường sang Cha-ran.
GEN 28:11 Đến một nơi kia, ông ngủ đêm vì mặt trời đã lặn. Ông tìm một tảng đá làm gối đầu để ngủ.
GEN 28:12 Gia-cốp nằm chiêm bao thấy một cái thang từ đất bắc lên đến tận trời, và thấy các thiên sứ của Thượng Đế lên xuống trên thang.
GEN 28:13 Gia-cốp cũng thấy CHÚA đứng trên đầu thang bảo rằng, “Ta là CHÚA, Thượng Đế của Áp-ra-ham, ông nội con, và là Thượng Đế của Y-sác. Ta sẽ cho con và dòng dõi con đất mà con hiện đang nằm ngủ.
GEN 28:14 Dòng dõi con sẽ đông như bụi đất. Chúng sẽ lan tràn ra từ tây sang đông, từ bắc đến nam. Các gia tộc trên đất sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước.
GEN 28:15 Ta sẽ ở cùng con, phù hộ con bất cứ nơi nào con đi và sẽ mang con về xứ nầy. Ta sẽ không rời bỏ con cho đến khi ta đã thực hiện xong lời hứa với con.”
GEN 28:16 Gia-cốp thức giấc nói, “Nơi đây thật có CHÚA mà tôi không biết.”
GEN 28:17 Ông đâm ra sợ hãi và tự nhủ, “Chỗ nầy thật đáng sợ! Đúng là nhà của Thượng Đế và là cửa thiên đàng.”
GEN 28:18 Sáng sớm hôm sau Gia-cốp thức dậy, lấy tảng đá mình đã tựa đầu để ngủ dựng ngược lên rồi đổ dầu ô-liu trên đó.
GEN 28:19 Trước kia thành ấy tên Lu-xơ, nhưng Gia-cốp đặt tên là Bê-tên.
GEN 28:20 Rồi Gia-cốp khấn hứa, “Nguyện cầu Thượng Đế ở cùng và phù hộ con trong chuyến đi nầy. Cầu xin Ngài cho con đủ ăn đủ mặc,
GEN 28:21 dẫn con trở về bình yên nơi nhà cha con. Nếu CHÚA thực hiện mọi điều đó thì Ngài sẽ là Thượng Đế con.
GEN 28:22 Tảng đá mà con dựng lên đây sẽ là nhà của Thượng Đế. Con sẽ dâng lên Ngài một phần mười những gì Ngài ban cho con.”
GEN 29:1 Gia-cốp tiếp tục cuộc hành trình và đến xứ các dân miền đông.
GEN 29:2 Ông nhìn thì thấy một cái giếng giữa đồng, gần đó có ba bầy chiên đang nằm nghỉ vì chúng uống nước giếng đó. Trên miệng giếng có một tảng đá lớn chặn lại.
GEN 29:3 Khi các con chiên đã tụ tập đông đủ thì các chú chăn chiên lăn tảng đá đi cho chiên uống nước, xong rồi họ lăn tảng đá đậy miệng giếng lại.
GEN 29:4 Gia-cốp hỏi mấy chú chăn chiên, “Các anh em từ đâu đến vậy?” Họ đáp, “Chúng tôi từ Cha-ran đến.”
GEN 29:5 Gia-cốp tiếp, “Mấy anh em có biết La-ban, cháu Na-ho không?” Họ trả lời, “Chúng tôi biết.”
GEN 29:6 Gia-cốp hỏi thêm, “Ông ta có mạnh giỏi không?” Họ đáp, “Ông ta mạnh. Ra-chên, con gái của ông ta, đang dắt bầy chiên đi đến kia kìa!”
GEN 29:7 Gia-cốp hỏi, “Nhưng bây giờ là giữa trưa, chưa phải lúc gom chiên lại để nghỉ đêm cho nên các anh hãy cho chiên uống nước rồi thả ra đồng lại đi.”
GEN 29:8 Nhưng họ đáp, “Chúng tôi không làm như thế được. Chỉ khi chiên đến đông đủ, chúng tôi mới lăn tảng đá chặn miệng giếng rồi cho chiên uống nước.”
GEN 29:9 Trong khi Gia-cốp đang nói chuyện với mấy chú chăn chiên thì Ra-chên dắt bầy chiên của cha mình đến, vì nhiệm vụ của cô là chăn giữ chiên.
GEN 29:10 Khi thấy Ra-chên, con gái La-ban, cùng bầy chiên của ông, Gia-cốp bước đến lăn tảng đá chặn miệng giếng để cho chiên của La-ban uống nước. La-ban là anh của Rê-be-ca, mẹ Gia-cốp.
GEN 29:11 Rồi Gia-cốp hôn Ra-chên và khóc.
GEN 29:12 Ông cho nàng biết mình thuộc gia tộc nàng, và là con của Rê-be-ca. Ra-chên vội chạy về báo tin cho cha mình hay.
GEN 29:13 Khi La-ban nghe tin con của em gái mình là Gia-cốp thì liền chạy ra gặp. La-ban ôm hôn Gia-cốp, đưa về nhà. Gia-cốp thuật lại mọi chuyện.
GEN 29:14 La-ban bảo, “Cháu là thân nhân ruột thịt của cậu.” Rồi Gia-cốp ở lại đó một tháng.
GEN 29:15 Sau đó La-ban bảo Gia-cốp, “Cháu là thân nhân của cậu nhưng làm việc cho cậu mà không trả thù lao thì không phải lẽ. Cháu muốn cậu trả thù lao cho cháu như thế nào?”
GEN 29:16 Số là La-ban có hai cô con gái. Cô chị tên Lê-a, cô em tên Ra-chên.
GEN 29:17 Mắt Lê-a yếu nhưng Ra-chên lại đẹp toàn diện.
GEN 29:18 Gia-cốp yêu Ra-chên nên bảo La-ban, “Xin cho cháu được lấy Ra-chên, con gái của cậu. Rồi cháu sẽ làm việc cho cậu trong bảy năm.”
GEN 29:19 La-ban đáp, “Thà nó lấy cháu còn hơn lấy người khác. Thôi được, cháu ở đây với cậu.”
GEN 29:20 Vậy Gia-cốp làm việc cho La-ban bảy năm để cưới Ra-chên. Nhưng vì quá yêu Ra-chên nên ông xem bảy năm như vài ba ngày.
GEN 29:21 Sau bảy năm, Gia-cốp bảo La-ban, “Xin cậu gả Ra-chên cho cháu. Thời hạn cháu làm việc cho cậu đã hết rồi.”
GEN 29:22 La-ban liền làm tiệc thết đãi mọi người ở đó.
GEN 29:23 Đêm ấy, ông đưa Lê-a đến cho Gia-cốp, rồi hai người ân ái cùng nhau.
GEN 29:24 (La-ban cũng đưa đứa nữ tì là Xinh-ba đến để hầu con gái mình.)
GEN 29:25 Sáng hôm sau khi Gia-cốp biết mình đã ăn nằm với Lê-a liền hỏi La-ban, “Tại sao cậu đối xử với cháu thế nầy? Cháu vất vả làm việc cho cậu để cưới Ra-chên. Tại sao cậu lại gạt cháu?”
GEN 29:26 La-ban giải thích, “Tục lệ xứ nầy là gả chị trước rồi mới gả em sau.
GEN 29:27 Thôi cháu cứ sống hết tuần trăng mật với Lê-a đi rồi cậu sẽ đưa Ra-chên cho cháu làm vợ. Nhưng cháu phải làm việc cho cậu thêm bảy năm nữa.”
GEN 29:28 Vậy Gia-cốp sống suốt tuần trăng mật với Lê-a. Rồi La-ban gả tiếp Ra-chên cho Gia-cốp.
GEN 29:29 (La-ban cũng đưa đứa nữ tì tên Bi-la để hầu hạ Ra-chên, con gái mình.)
GEN 29:30 Gia-cốp ăn nằm với Ra-chên. Gia-cốp yêu Ra-chên hơn Lê-a. Rồi ông phục vụ tiếp cho La-ban thêm bảy năm nữa.
GEN 29:31 Khi CHÚA thấy Gia-cốp yêu Ra-chên hơn Lê-a thì Ngài cho Lê-a có con, còn Ra-chên thì không con.
GEN 29:32 Lê-a mang thai và sinh một trai đặt tên là Ru-bên vì nàng nói, “CHÚA đã trông thấy nỗi sầu khổ tôi. Bây giờ chắc hẳn chồng tôi sẽ yêu tôi.”
GEN 29:33 Lê-a lại mang thai và sinh ra một trai nữa đặt tên là Xi-mê-ôn và bảo, “CHÚA đã nghe rằng tôi không được chồng yêu nên ban cho tôi đứa con trai nầy.”
GEN 29:34 Lê-a lại mang thai và sinh ra một con trai nữa đặt tên là Lê-vi và bảo, “Bây giờ chắc hẳn chồng sẽ gần gũi tôi vì tôi đã sinh cho chàng ba con trai.”
GEN 29:35 Lê-a sinh ra một trai nữa đặt tên là Giu-đa vì nàng bảo, “Bây giờ tôi sẽ ca ngợi CHÚA.” Sau đó nàng không sinh sản thêm nữa.
GEN 30:1 Ra-chên thấy mình không sinh con được cho Gia-cốp thì ganh tức với chị là Lê-a. Nàng bảo Gia-cốp, “Cho em sinh con nếu không em chết!”
GEN 30:2 Gia-cốp nổi giận cùng nàng và đáp, “Em tưởng anh là Trời hay sao mà làm được chuyện ấy? Ngài là Đấng làm cho em không sinh con được.”
GEN 30:3 Nên Ra-chên bảo, “Thôi, con nữ tì em là Bi-la đây, anh hãy đến với nó để nó sinh con giùm em. Như thế để em có con nối dòng.”
GEN 30:4 Vậy Ra-chên trao Bi-la, nữ tì của mình, cho Gia-cốp làm vợ. Ông ăn nằm với nàng.
GEN 30:5 Nàng mang thai sinh ra một trai cho Gia-cốp.
GEN 30:6 Ra-chên bảo, “Thượng Đế nhận thấy tôi vô tội. Ngài đã nghe lời khẩn cầu tôi và cho tôi một trai,” nên nàng đặt tên nó là Đan.
GEN 30:7 Bi-la mang thai nữa và sinh ra đứa trai thứ nhì cho Gia-cốp.
GEN 30:8 Ra-chên bảo, “Tôi đã tranh giành với chị tôi và thắng.” Cho nên nàng đặt tên nó là Nép-ta-li.
GEN 30:9 Lê-a thấy mình không sinh con thêm nữa, nên đưa nữ tì là Xinh-ba cho Gia-cốp làm vợ.
GEN 30:10 Khi Xinh-ba sinh con trai
GEN 30:11 Lê-a nói, “Tôi rất may mắn,” nên nàng đặt tên nó là Gát.
GEN 30:12 Xinh-ba sinh thêm một con trai nữa.
GEN 30:13 Lê-a bảo, “Tôi rất sung sướng! Bây giờ mọi người đàn bà sẽ cho tôi là hạnh phúc.” Vì vậy, nàng đặt tên nó là A-se.
GEN 30:14 Trong mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra đồng lượm được những củ ngải sâm mang về cho mẹ mình là Lê-a. Nhưng Ra-chên bảo Lê-a, “Chị làm ơn cho em xin củ ngải sâm con chị mang về đó.”
GEN 30:15 Lê-a đáp, “Dì đã cướp chồng tôi mà bây giờ còn đòi lấy luôn củ ngải sâm của con tôi nữa sao?” Nhưng Ra-chên đáp, “Nếu chị cho em mấy củ ngải sâm của con chị thì đêm nay chị có thể ngủ với Gia-cốp.”
GEN 30:16 Chiều tối đó khi Gia-cốp từ đồng về, Lê-a đi ra đón và nói, “Anh phải đến với em đêm nay vì em đã trả giá bằng các củ ngải sâm của con em rồi.” Cho nên Gia-cốp đến với nàng đêm ấy.
GEN 30:17 Thượng Đế đáp lời khẩn nguyện của Lê-a, nên nàng thụ thai nữa và sinh ra con trai thứ năm.
GEN 30:18 Nàng nói, “Thượng Đế đã trả công cho tôi, vì tôi đã trao đứa nữ tì cho chồng tôi.” Nên nàng đặt tên nó là Y-xa-ca.
GEN 30:19 Lê-a lại thụ thai và sinh ra con trai thứ sáu.
GEN 30:20 Nàng bảo, “Thượng Đế đã ban cho tôi một món quà quí giá. Bây giờ Gia-cốp sẽ nể tôi vì tôi đã sinh cho chàng sáu con trai,” cho nên nàng đặt tên nó là Xê-bu-lôn.
GEN 30:21 Sau đó Lê-a sinh ra một con gái đặt tên là Đi-na.
GEN 30:22 Rồi Thượng Đế nhớ lại Ra-chên, đáp lời khẩn nguyện của nàng và cho nàng sinh sản.
GEN 30:23 Khi nàng thụ thai và sinh ra một trai nàng bảo, “CHÚA đã cất bỏ sự sỉ nhục cho tôi,”
GEN 30:24 nên nàng đặt tên nó là Giô-xép. Ra-chên bảo, “Tôi mong CHÚA ban cho tôi thêm một con nữa.”
GEN 30:25 Sau khi Giô-xép ra đời, Gia-cốp bảo La-ban, “Xin cậu cho cháu trở về gia đình và xứ sở của cháu.
GEN 30:26 Xin trao lại vợ con của cháu để cháu ra đi. Cháu đã làm việc cho cậu để có được vợ con. Cậu cũng biết cháu phục vụ cậu hết lòng.”
GEN 30:27 La-ban trả lời, “Nếu cậu đã làm cháu vừa lòng thì hãy ở lại. Cậu biết là CHÚA đã ban phước cho cậu nhiều nhờ cháu.
GEN 30:28 Bây giờ hãy cho cậu biết phải trả cháu bao nhiêu.”
GEN 30:29 Gia-cốp đáp, “Cậu biết cháu đã phục vụ cậu hết lòng cho nên bầy gia súc của cậu đã gia tăng nhiều trong thời gian được cháu chăm sóc.
GEN 30:30 Trước khi cháu đến, cậu chẳng có bao nhiêu, nhưng nay cậu có rất nhiều. Mỗi khi cháu giúp gì cho cậu thì CHÚA ban phước cho cậu. Nhưng bao giờ thì cháu mới giúp được cho gia đình mình?”
GEN 30:31 La-ban hỏi, “Vậy cậu phải cho cháu cái gì?” Gia-cốp đáp, “Cháu không cần cậu cho gì cả. Cậu chỉ cần làm điều nầy thì cháu sẽ trở về chăn bầy gia súc của cậu.
GEN 30:32 Hôm nay, xin cho phép cháu đi xem các bầy gia súc của cậu. Hễ con chiên nào lấm chấm, có đốm, hay đen tuyền, hoặc những con dê nào lấm chấm, có đốm thì cháu xin. Đó là thù lao của cháu.
GEN 30:33 Trong tương lai cậu sẽ rất dễ thấy cháu có lương thiện hay không. Khi cậu soát các bầy gia súc của cháu mà thấy con nào không có lấm chấm, có đốm, hay chiên con nào không phải đen tuyền là cậu biết ngay cháu đã ăn cắp!”
GEN 30:34 La-ban đáp, “Đồng ý! Chúng ta sẽ làm theo như cháu yêu cầu.”
GEN 30:35 Nhưng hôm đó La-ban để riêng tất cả các con dê đực lấm chấm và có đốm, các con dê cái lấm chấm, có đốm (tức những con có đốm trắng) cùng các con chiên đen tuyền. Ông bảo các con trai mình canh giữ các con ấy.
GEN 30:36 Rồi ông mang cả đoàn gia súc đó đến một nơi xa khỏi Gia-cốp khoảng ba ngày đường. Gia-cốp chăn các gia súc còn lại.
GEN 30:37 Gia-cốp chặt các cành cây bạch dương, cây hạnh nhân và cây bồ đào, đem lột vỏ ngoài để lộ ruột có sọc trắng ra.
GEN 30:38 Rồi ông đặt các nhánh cây ấy trước mặt các gia súc chỗ máng uống nước. Khi đến uống nước thì chúng nó giao hợp ở đó.
GEN 30:39 Các gia súc giao hợp nhau trước các nhánh cây có sọc trắng cho nên những con sinh ra đều có sọc, có đốm và lấm chấm.
GEN 30:40 Gia-cốp để riêng các gia súc mới đẻ khỏi các con khác và cho chúng nó đối diện các gia súc có sọc hay đen trong bầy của La-ban. Gia-cốp để các gia súc đó riêng khỏi các gia súc của La-ban.
GEN 30:41 Khi các gia súc mạnh khỏe trong bầy giao hợp nhau thì Gia-cốp để các nhánh cây đã lột vỏ trước mắt chúng, để chúng giao hợp nhau gần các nhánh cây.
GEN 30:42 Nhưng khi các gia súc ốm yếu giao hợp nhau thì Gia-cốp không để các nhánh cây ở đó. Cho nên những con sinh ra từ các gia súc ốm yếu thì thuộc về La-ban, những con sinh ra từ các gia súc mạnh khoẻ thì thuộc Gia-cốp.
GEN 30:43 Nhờ vậy mà Gia-cốp trở nên giàu có. Ông có rất nhiều bầy gia súc, đông tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.
GEN 31:1 Một hôm Gia-cốp nghe lén các con trai La-ban nói chuyện nhau rằng, “Gia-cốp đoạt hết tài sản của cha chúng ta và nhờ đó mà nó trở nên giàu có.”
GEN 31:2 Gia-cốp cũng để ý thấy La-ban không thân thiện với mình như trước nữa.
GEN 31:3 CHÚA bảo Gia-cốp, “Con hãy đi trở về xứ tổ tiên con, nơi con sinh ra. Ta sẽ ở cùng con.”
GEN 31:4 Nên Gia-cốp bảo Ra-chên và Lê-a gặp mình ở ngoài đồng, nơi ông chăn bầy.
GEN 31:5 Ông bảo họ, “Anh thấy cha các em không còn thân thiện với anh như trước nữa, nhưng Thượng Đế vẫn phù hộ anh.
GEN 31:6 Hai em biết anh đã phục vụ cha các em hết lòng,
GEN 31:7 thế mà ông ấy đã thay đổi tiền công của anh mười lần. Nhưng Thượng Đế không cho phép ông ta hại anh.”
GEN 31:8 Khi La-ban bảo, “Anh hãy bắt những gia súc có đốm để làm thù lao,” thì những gia súc sinh ra đều có đốm. Nhưng khi ông ta bảo, “Anh hãy bắt những gia súc có sọc để thay tiền công,” thì các gia súc sinh ra đều có sọc.
GEN 31:9 Như thế Thượng Đế đã bắt các gia súc của cha các em đưa cho anh.
GEN 31:10 Trong mùa các gia súc giao hợp, anh nằm chiêm bao thấy các con dê đực giao hợp đều có sọc, có đốm và có vết.
GEN 31:11 Thiên sứ của Thượng Đế nói với anh trong mộng rằng, “Gia-cốp ơi!” Anh trả lời, “Dạ con đây!”
GEN 31:12 Thiên sứ bảo, “Xem đây! Chỉ có các con dê đực có sọc, có đốm và có vết đang giao hợp mà thôi. Ta đã thấy những chuyện không tốt La-ban làm cho con.
GEN 31:13 Ta là Thượng Đế đã hiện ra cùng con tại Bê-tên nơi con đã đổ dầu ô-liu lên tảng đá mà con đã dựng ngược đầu lên, và là nơi con khấn hứa cùng ta. Bây giờ ta muốn con rời nơi đây, trở về nơi chôn nhau cắt rốn của con.”
GEN 31:14 Ra-chên và Lê-a trả lời, “Nếu chúng em ở lại đây, chúng em sẽ chẳng nhận được gì trong nhà cả.
GEN 31:15 Cha chúng em đã đối với chúng em như người dưng. Cha chúng em đã bán đứng chúng em, rồi xài hết tiền anh trả cho ông ấy.
GEN 31:16 Cho nên Thượng Đế đã lấy hết tài sản của cha chúng em cho nên bây giờ tài sản đó thuộc chúng ta và con cháu chúng ta. Vậy anh cứ việc làm theo điều Thượng Đế dặn bảo.”
GEN 31:17 Thế rồi Gia-cốp đỡ các vợ con lên lưng lạc đà,
GEN 31:18 và lên đường về với Y-sác, cha mình trong xứ Ca-na-an. Gia-cốp cho các bầy gia súc của mình đi trước. Ông mang theo tất cả những gì ông tạo ra được trong khi sống ở vùng Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi.
GEN 31:19 Trong khi La-ban bận đi hớt lông chiên thì Ra-chên ăn cắp những tượng chạm của cha mình.
GEN 31:20 Gia-cốp phỉnh La-ban người A-ram không cho ông biết mình ra đi.
GEN 31:21 Gia-cốp và gia đình vội vàng ra đi, băng qua sông Ơ-phơ-rát và đi về hướng núi Ghi-lê-át.
GEN 31:22 Ba ngày sau La-ban hay tin Gia-cốp đã bỏ trốn,
GEN 31:23 liền tập họp gia nhân lại đuổi theo. Sau bảy ngày thì đuổi kịp họ trong vùng núi Ghi-lê-át.
GEN 31:24 Đêm ấy Thượng Đế hiện ra cùng La-ban người A-ram trong chiêm bao dặn rằng, “Con hãy cẩn thận! Dù lời lành hay dữ chớ nói gì đụng đến Gia-cốp hết.”
GEN 31:25 Vậy La-ban đuổi kịp Gia-cốp. Lúc đó Gia-cốp đang dựng trại trong vùng núi, còn La-ban và gia nhân đóng trại trong núi Ghi-lê-át.
GEN 31:26 La-ban hỏi Gia-cốp, “Cháu làm chuyện gì vậy? Cháu gạt cậu, mang các con gái cậu đi như thể tù binh.
GEN 31:27 Tại sao cháu phỉnh cậu mà lén ra đi như vậy? Sao không cho cậu hay để cậu vui mừng tiễn cháu ra đi có đờn hát, trống cơm và đờn cầm?
GEN 31:28 Cháu cũng không cho cậu có dịp hôn từ giã các cháu và con gái của cậu nữa. Cháu làm chuyện nầy thật quá ngu xuẩn!
GEN 31:29 Cậu có quyền hại cháu nhưng đêm qua Thượng Đế của cha cháu đã hiện ra và dặn cậu chớ nói với cháu lời lành hay dữ.
GEN 31:30 Cậu biết cháu muốn trở về quê nhà nhưng tại sao cháu lại ăn cắp các tượng thần của cậu?”
GEN 31:31 Gia-cốp đáp với La-ban, “Sở dĩ cháu ra đi mà không cho cậu hay vì cháu sợ cậu bắt lại mấy đứa con gái của cậu.
GEN 31:32 Bây giờ đây nếu cậu tìm được ai ăn cắp các tượng thần của cậu thì người đó phải chết! Gia nhân của cậu đây sẽ là nhân chứng. Cậu cứ việc tìm những gì thuộc về cậu và lấy lại đi.” (Gia-cốp không biết rằng Ra-chên đã ăn cắp các tượng thần của La-ban.)
GEN 31:33 Cho nên La-ban lục soát trong lều của Gia-cốp, lều của Lê-a, lều của hai đứa nữ tì nhưng không thấy các tượng chạm. Khi ra khỏi lều Lê-a thì ông đi vào lều của Ra-chên.
GEN 31:34 Ra-chên giấu các tượng chạm bên dưới yên lạc đà rồi ngồi lên trên. La-ban lục soát khắp lều nhưng không thấy.
GEN 31:35 Ra-chên thưa với cha mình, “Cha ơi, xin đừng giận con. Con không đứng dậy chào cha được vì con đang có kinh nguyệt.” La-ban lục soát hết trại vẫn không tìm ra tượng chạm.
GEN 31:36 Gia-cốp liền nổi giận hỏi, “Cháu đã làm điều gì quấy? Cháu phạm luật gì mà cậu đuổi theo cháu?
GEN 31:37 Cậu đã lục soát mọi tài sản cháu mà không tìm được món nào thuộc về cậu. Nếu cậu tìm được thì trình ra cho mọi người thấy đi. Đưa ra trước mặt gia nhân cậu và gia nhân cháu để họ xem ai phải ai quấy.
GEN 31:38 Cháu đã làm việc cho cậu suốt hai mươi năm nay, trong thời gian đó không hề có một con chiên hay con dê cái nào sảo thai, cháu không hề ăn một con chiên hay dê đực nào trong bầy của cậu.
GEN 31:39 Khi có gia súc nào bị thú dữ xé ăn, cháu không thèm mang đến cho cậu xem mà bắt gia súc của cháu thế vào. Cậu đã bắt cháu phải đền những gia súc nào bị đánh cắp ban ngày hay ban đêm.
GEN 31:40 Ban ngày cháu giang nắng mệt lả, buổi tối cháu chịu dầm sương lạnh, không ngủ được.
GEN 31:41 Cháu làm việc cực khổ cho cậu như làm tôi mọi trong suốt hai mươi năm. Mười bốn năm đầu để cưới hai cô con gái của cậu, sáu năm sau để lấy bầy gia súc của cậu. Thế mà trong thời gian ấy, cậu đã mười lần thay đổi tiền công của cháu.
GEN 31:42 Nhưng Thượng Đế của cha cháu tức Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế đáng kính sợ của Y-sác đã phù hộ cháu. Nếu không cậu đã đuổi cháu đi hai tay không rồi. Ngài thấy nỗi khổ và công việc nhọc nhằn của cháu nên hôm qua Ngài đã chỉnh cậu.”
GEN 31:43 La-ban đáp, “Mấy cô gái nầy là con của cậu. Con cái chúng nó là cháu của cậu. Các bầy gia súc nầy là của cậu. Những gì cháu thấy đều là của cậu hết, nhưng cậu sẽ không làm gì để giữ lại các con cái và cháu của cậu cả.
GEN 31:44 Thôi bây giờ chúng mình hãy lập giao ước với nhau. Hãy dựng một đống đá để làm chứng về giao ước giữa chúng ta.”
GEN 31:45 Vậy Gia-cốp lấy một tảng đá lớn dựng đầu lên.
GEN 31:46 Ông bảo gia nhân gom đá lại chất lên thành một đống, rồi họ ăn uống cạnh đống đá.
GEN 31:47 La-ban gọi chỗ đó là Giê-ga-xa-ha-đu-tha, còn Gia-cốp gọi chỗ đó là Ga-lít.
GEN 31:48 La-ban bảo Gia-cốp, “Đống đá nầy sẽ nhắc chúng ta nhớ đến giao ước với nhau.” Vì thế mà chỗ đó gọi là Ga-lít.
GEN 31:49 Chỗ đó cũng gọi là Mích-ba vì La-ban bảo, “Nguyện CHÚA canh giữ chúng ta trong khi chúng ta chia tay nhau.
GEN 31:50 Nên nhớ rằng Thượng Đế là nhân chứng của chúng ta, nếu không có ai khác quanh chúng ta. Ngài sẽ biết nếu cháu làm hại các con gái cậu hay lấy đàn bà khác làm vợ.
GEN 31:51 Đây là đống đá cậu đã chất lên, và đây cũng là tảng đá cậu dựng lên.
GEN 31:52 Đống đá nầy và tảng đá dựng đầu nầy sẽ nhắc nhở chúng ta về giao ước giữa hai chúng ta. Cậu sẽ không đi quá đống đá nầy để hại cháu, còn cháu cũng sẽ không đi qua phía cậu để hại cậu.
GEN 31:53 Nguyện Thượng Đế của Áp-ra-ham là Thượng Đế của Na-ho và Thượng Đế đáng kính sợ của các tổ phụ họ trừng phạt chúng ta nếu một trong hai chúng ta phá giao ước nầy.” Gia-cốp liền kết ước, nhân danh Thượng Đế mà cha mình là Y-sác thờ phụng.
GEN 31:54 Rồi Gia-cốp giết một gia súc dâng lên làm của lễ trên hòn núi và mời các thân nhân dự bữa ăn. Sau khi ăn xong, họ nghỉ đêm trên núi.
GEN 31:55 Sáng sớm hôm sau, La-ban hôn từ biệt các cháu và con gái mình, chúc phước cho rồi lên đường trở về nhà.
GEN 32:1 Đang khi Gia-cốp đi đường thì các thiên sứ của Thượng Đế đón ông.
GEN 32:2 Nhìn thấy họ ông thốt lên, “Chao ôi, đây là doanh trại của Thượng Đế!” Nên ông gọi chỗ đó là Ma-ha-na-im.
GEN 32:3 Ê-sau, anh Gia-cốp, đang sống trong vùng gọi là Sê-ia thuộc xứ Ê-đôm. Gia-cốp cho người nhắn với Ê-sau
GEN 32:4 rằng, “Hãy thưa với Ê-sau, chủ tôi, như sau: ‘Gia-cốp, kẻ tôi tớ ông, nói thế nầy: Tôi đã sống với La-ban từ lâu cho đến bây giờ.
GEN 32:5 Tôi có gia súc, lừa, bầy vật, tôi trai tớ gái. Tôi nhờ người nhắn tin nầy cho ông để ông tiếp nhận chúng tôi.’”
GEN 32:6 Các người đưa tin trở về cùng Gia-cốp và trình, “Chúng tôi đã đi đến gặp anh ông là Ê-sau. Ông ta cùng bốn trăm gia nhân đang đi đến gặp ông đó.”
GEN 32:7 Gia-cốp đâm ra sợ hãi và vô cùng lo âu. Ông chia gia nhân và tất cả các bầy gia súc và lạc đà ra hai nhóm.
GEN 32:8 Gia-cốp tự nghĩ, “Nếu Ê-sau tiêu diệt một nhóm thì nhóm kia có thể chạy thoát được.”
GEN 32:9 Rồi Gia-cốp khẩn nguyện, “Lạy CHÚA của ông nội con là Áp-ra-ham! Thượng Đế của cha con là Y-sác ơi! CHÚA ơi! Ngài đã bảo con trở về xứ sở và gia đình con. Ngài hứa rằng Ngài sẽ hậu đãi con.
GEN 32:10 Con không xứng đáng gì với lòng nhân từ và ân huệ dồi dào mà Ngài đã ban cho con. Lần đầu tiên khi băng qua sông Giô-đanh, con chỉ có cây gậy, nhưng nay con có cả hai đoàn người.
GEN 32:11 Xin cứu con khỏi Ê-sau, anh con. Con sợ rằng anh ấy sẽ đến giết tất cả chúng con, giết luôn cả vợ con của con.
GEN 32:12 Ngài đã bảo con, ‘Ta sẽ hậu đãi con và khiến con cháu con đông như cát bãi biển, không thể đếm được.’”
GEN 32:13 Gia-cốp ở đó suốt đêm chuẩn bị một món quà cho Ê-sau từ tài sản mình:
GEN 32:14 Hai trăm dê cái, hai mươi dê đực, hai trăm chiên cái, hai mươi chiên đực,
GEN 32:15 ba mươi lạc đà mẹ luôn lạc đà con, bốn mươi bò cái, mười bò đực, hai mươi lừa cái, mười lừa đực.
GEN 32:16 Gia-cốp giao mỗi bầy vật cho một đầy tớ giữ và bảo chúng, “Hãy đi trước ta và giữ khoảng cách giữa mỗi bầy.”
GEN 32:17 Gia-cốp truyền lệnh cho họ. Ông dặn đứa đầy tớ của bầy gia súc đầu tiên, “Nếu Ê-sau, anh ta sẽ đến hỏi con, ‘Anh là đầy tớ của ai? Anh đang đi đâu vậy, còn những gia súc nầy là của ai?’
GEN 32:18 Thì hãy đáp với người, ‘Các gia súc là của Gia-cốp, kẻ tôi tớ ông. Người bảo con mang các gia súc nầy đến biếu ông, Ê-sau, chủ chúng con. Người đang đến sau chúng con đây.’”
GEN 32:19 Gia-cốp cũng dặn như thế với người đầy tớ thứ nhì, thứ ba và tất cả các đầy tớ khác. Ông bảo, “Hễ gặp Ê-sau thì nói y như vậy.
GEN 32:20 Hãy nói rằng, ‘Gia-cốp, kẻ tôi tớ ông đang đi sau chúng con đây.’” Vì Gia-cốp nghĩ, “Nếu ta gởi các món quà nầy đi trước, chắc Ê-sau sẽ tha thứ cho ta. Rồi khi ta gặp, anh ấy sẽ chấp nhận ta.”
GEN 32:21 Nên Gia-cốp gửi các quà đó đi trước, còn mình thì ở lại trại đêm ấy.
GEN 32:22 Đang đêm Gia-cốp đứng dậy băng qua sông Gia-bốc, mang theo hai vợ mình, hai nữ tì và mười một con trai.
GEN 32:23 Ông cho gia đình và tài sản mình qua sông.
GEN 32:24 Còn ông thì ở lại một mình. Có một người đến vật lộn với ông cho đến gần sáng.
GEN 32:25 Khi người đó thấy mình không thắng nổi, thì thoi vào mông Gia-cốp làm trẹo gân.
GEN 32:26 Người đó bảo Gia-cốp, “Thôi để ta đi. Mặt trời sắp mọc rồi.” Nhưng Gia-cốp bảo, “Ông chúc phước cho tôi thì tôi mới cho ông đi.”
GEN 32:27 Người đó hỏi, “Anh tên gì?” Ông đáp, “Gia-cốp.”
GEN 32:28 Người đó tiếp, “Tên anh sẽ không còn là Gia-cốp nữa mà từ nay sẽ là Ít-ra-en vì con đã vật lộn với Thượng Đế và người ta mà anh đều thắng cả.”
GEN 32:29 Gia-cốp liền hỏi người ấy, “Tên ông là gì?” Nhưng người ấy đáp, “Anh hỏi tên ta làm gì?” Rồi người chúc phước cho Gia-cốp tại đó.
GEN 32:30 Gia-cốp gọi nơi đó là Phê-ni-ên vì ông nói rằng, “Tôi đã gặp Thượng Đế mặt đối mặt mà mạng sống tôi vẫn còn toàn vẹn.”
GEN 32:31 Khi ông rời nơi ấy thì mặt trời đã mọc. Ông đi khập khiễng, vì chân bị trẹo gân.
GEN 32:32 Cho nên ngày nay người Ít-ra-en không ăn bắp thịt nơi mông của gia súc vì đó là chỗ trong thân thể của Gia-cốp bị thoi.
GEN 33:1 Gia-cốp ngước lên thấy Ê-sau cùng bốn trăm người đang đi đến. Ông vội chia con cái ra cho Lê-a, Ra-chên và hai người nữ tì.
GEN 33:2 Gia-cốp cho hai người nữ tì và con cái họ đi trước, tiếp đến Lê-a và con cái nàng, rồi sau cùng là Ra-chên và Giô-xép.
GEN 33:3 Còn chính Gia-cốp đi trước tiên và vừa đi vừa cúi lạy sát đất bảy lần cho đến khi gặp anh mình.
GEN 33:4 Nhưng Ê-sau chạy đến gặp Gia-cốp, choàng tay ôm ông. Rồi Ê-sau hôn Gia-cốp, xong cả hai đều khóc.
GEN 33:5 Khi Ê-sau ngước lên thấy đàn bà trẻ con mới hỏi, “Những người cùng đi với em là ai vậy?” Gia-cốp trả lời, “Đây là những con cái Thượng Đế đã ban cho em, kẻ tôi tớ của anh.”
GEN 33:6 Hai người nữ tì và các con đến trước Ê-sau cúi lạy sát mặt đất.
GEN 33:7 Lê-a và các con cũng đến trước mặt Ê-sau và cúi lạy sát đất. Sau cùng Giô-xép và Ra-chên cũng đến trước mặt Ê-sau rồi cúi lạy sát đất.
GEN 33:8 Ê-sau hỏi, “Đang khi đi đến đây, anh thấy có nhiều bầy gia súc. Em mang chúng đến làm chi vậy?” Gia-cốp đáp, “Em mang chúng đến để biếu anh, để được anh, chủ của em, thương cho.”
GEN 33:9 Nhưng Ê-sau bảo, “Em ơi, anh có đủ rồi. Em cứ giữ lấy cho mình!”
GEN 33:10 Nhưng Gia-cốp năn nỉ, “Không, xin anh làm ơn nhận món quà nầy em biếu anh. Em rất vui được gặp lại anh. Gặp mặt anh như thể thấy Thượng Đế vậy đó, vì anh đã tiếp nhận em.
GEN 33:11 Cho nên em xin anh hãy nhận món quà em biếu anh. Thượng Đế đã rất hậu đãi em, nên em có dư lắm.” Vì Gia-cốp nài nỉ quá nên Ê-sau bằng lòng nhận quà.
GEN 33:12 Rồi Ê-sau bảo, “Thôi chúng ta cùng đi. Anh sẽ đi chung với em.”
GEN 33:13 Nhưng Gia-cốp đáp, “Chủ ơi, anh biết mấy đứa nhỏ yếu lắm. Em cũng phải thận trọng đối với các bầy gia súc và những con còn non. Nếu em bắt chúng nó đi quá xa trong một ngày các con còn non sẽ chết hết.
GEN 33:14 Vậy chủ ơi, xin anh cứ đi trước kẻ tôi tớ anh đi. Em sẽ đi sau chầm chậm tùy theo sức của những gia súc còn non và các cháu bé. Em sẽ gặp anh ở Ê-đôm sau.”
GEN 33:15 Ê-sau đề nghị, “Thôi hay anh để lại vài gia nhân của anh đi cùng với em.” Gia-cốp đáp, “Cám ơn anh, nhưng em được anh thương cho là tốt lắm rồi.”
GEN 33:16 Ngay hôm đó, Ê-sau lên đường trở về Ê-đôm.
GEN 33:17 Nhưng Gia-cốp đi đến Su-cốt. Ở đó ông cất một cái nhà cho mình và các lều cho gia súc. Vì thế mà nơi đó gọi là Su-cốt.
GEN 33:18 Gia-cốp rời vùng tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi và về đến thành Sê-chem trong xứ Ca-na-an bình yên vô sự. Ông đến đó đóng trại gần thành phố.
GEN 33:19 Ông mua một phần của thửa ruộng nơi ông dựng trại từ các con trai Ha-mô, cha của Sê-chem, với giá một trăm miếng bạc.
GEN 33:20 Ông dựng một bàn thờ tại đó và đặt tên là En, tức Thượng Đế của Ít-ra-en.
GEN 34:1 Lúc đó Đi-na, con gái của Lê-a và Gia-cốp đi ra thăm viếng các phụ nữ trong xứ.
GEN 34:2 Khi hoàng tử Sê-chem con trai Ha-mô, người Hê-vít, vua xứ ấy, thấy nàng thì bắt nàng và làm tình cùng nàng.
GEN 34:3 Sê-chem mê Đi-na nên lấy lời ngon ngọt nói cùng nàng.
GEN 34:4 Anh chàng nói với Ha-mô cha mình rằng, “Cha làm ơn xin phép cho con cưới cô nầy làm vợ.”
GEN 34:5 Gia-cốp hay tin Sê-chem đã làm nhục con gái mình, nhưng vì tất cả các con trai ông đang ở ngoài đồng chăn gia súc, nên ông không nói gì, chờ họ trở về.
GEN 34:6 Trong khi ông đang chờ thì Ha-mô cha Sê-chem đi đến nói chuyện với Gia-cốp.
GEN 34:7 Khi các con trai Gia-cốp hay biết sự việc, họ liền từ đồng trở về. Họ vô cùng tức giận vì Sê-chem dám làm chuyện bỉ ổi như thế cho Ít-ra-en. Hắn ta không có quyền ăn nằm với con gái Gia-cốp.
GEN 34:8 Nhưng Ha-mô nói với các anh của Đi-na rằng, “Sê-chem, con trai tôi mê Đi-na lắm. Làm ơn cho nó lấy cô ấy làm vợ.
GEN 34:9 Các ông hãy lập sui gia với chúng tôi. Chúng tôi sẽ kết hôn cùng các phụ nữ quí ông rồi quí ông hãy lấy phụ nữ chúng tôi làm vợ.
GEN 34:10 Các ông có thể cùng sinh sống trong đất nầy với chúng tôi. Các ông được tự do tậu đất đai và kinh doanh ở dây.”
GEN 34:11 Sê-chem cũng năn nỉ Gia-cốp và các anh của Đi-na rằng, “Làm ơn nhận đề nghị của chúng tôi. Các ông đòi gì tôi cũng bằng lòng hết.
GEN 34:12 Các ông muốn sính lễ bao nhiêu cũng được, tôi sẽ thoả mãn miễn là tôi lấy được Đi-na.”
GEN 34:13 Các con trai Gia-cốp dùng mưu để nói chuyện với Sê-chem và cha anh ta, vì Sê-chem đã làm nhục Đi-na, em gái mình.
GEN 34:14 Các người anh bảo họ, “Gả em gái chúng tôi cho anh là điều chúng tôi không thể làm được, vì mấy anh không cắt dương bì. Làm chuyện đó là điều nhục nhã cho chúng tôi.
GEN 34:15 Chúng tôi chỉ có thể cho anh lấy nó với một điều kiện: Tất cả các người đàn ông trong thành phố nầy của các anh phải chịu cắt dương bì giống như chúng tôi.
GEN 34:16 Rồi các anh sẽ kết hôn với phụ nữ của chúng tôi và chúng tôi sẽ kết hôn với phụ nữ của các anh. Sau đó chúng tôi sẽ sinh sống trong xứ các anh và trở thành cùng một dân.
GEN 34:17 Nhưng nếu các anh không chịu cắt dương bì thì chúng tôi sẽ bắt Đi-na và đi nơi khác.”
GEN 34:18 Ha-mô và Sê-chem bằng lòng lời đề nghị của họ.
GEN 34:19 Cho nên Sê-chem vội vàng bằng lòng cắt dương bì vì anh ta quá mê con gái Gia-cốp. Sê-chem vốn được trọng vọng hơn cả trong gia đình.
GEN 34:20 Ha-mô và Sê-chem đi đến cửa thành nói chuyện với các người đàn ông trong thành rằng,
GEN 34:21 “Những người nầy muốn kết thân với chúng ta. Cho nên chúng ta hãy cho họ sống chung trong đất ta và kinh doanh ở đây. Đất nầy đủ rộng cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy kết sui gia với họ.
GEN 34:22 Nhưng chúng ta phải chịu một điều kiện: Tất cả đàn ông trong chúng ta phải chịu cắt dương bì như họ. Như thế họ sẽ bằng lòng sống trong xứ ta, rồi chúng ta sẽ trở thành một dân mà thôi.
GEN 34:23 Nếu chúng ta làm như thế thì các bầy gia súc của họ sẽ thuộc về chúng ta. Thôi chúng ta hãy làm theo như điều họ muốn để họ lưu cư trong xứ chúng ta.”
GEN 34:24 Tất cả những người đi đến cửa thành đều nghe chuyện nầy. Họ đồng ý với Ha-mô và Sê-chem, nên mọi người đàn ông đều chịu cắt dương bì.
GEN 34:25 Ba ngày sau khi chịu cắt dương bì, lúc mọi người đàn ông hãy còn đau ê ẩm thì Xi-mê-ôn và Lê-vi, hai con trai Gia-cốp, anh của Đi-na, lấy gươm tấn công bất ngờ vào thành, giết sạch mọi người đàn ông trong thành.
GEN 34:26 Họ giết Ha-mô và Sê-chem con ông ta rồi mang Đi-na ra khỏi nhà Sê-chem, xong ra đi.
GEN 34:27 Các con trai Gia-cốp lục soát các xác chết lấy hết những gì trong thành, nơi em gái mình bị làm nhục.
GEN 34:28 Họ cướp gia súc, bầy chiên, lừa, mọi thứ trong thành và trong đồng ruộng.
GEN 34:29 Họ lấy hết nữ trang, thậm chí đến vợ và con cùng mọi thứ trong nhà.
GEN 34:30 Gia-cốp quở Xi-mê-ôn và Lê-vi, “Tụi bay gây rắc rối cho tao. Bây giờ người Ca-na-an và Phê-rê-sít trong xứ sẽ ghét tao. Mình chỉ có ít người. Nếu họ họp nhau lại đánh, thì chúng mình chỉ có chết thôi.”
GEN 34:31 Nhưng các anh em bảo, “Chúng con không thể để họ đối xử với em gái chúng con như với con điếm được.”
GEN 35:1 Thượng Đế bảo Gia-cốp, “Hãy đi đến Bê-tên và lập nghiệp ở đó. Hãy lập một bàn thờ cho Thượng Đế, Đấng đã hiện ra cùng con tại đó, khi con đang chạy trốn khỏi Ê-sau, anh con.”
GEN 35:2 Vậy Gia-cốp bảo các gia nhân và những người đi theo mình rằng, “Hãy dẹp hết các thần lạ mà các con có, chuẩn bị mình cho thanh sạch, thay quần áo mới đi!
GEN 35:3 Chúng ta sẽ rời nơi đây, dọn đến Bê-tên. Ta sẽ dựng một bàn thờ cho Thượng Đế tại đó, Đấng đã phù hộ ta trong cơn khốn khó. Ngài đã phù hộ ta mọi nơi ta đã đi.”
GEN 35:4 Vậy họ giao cho Gia-cốp các tượng thần lạ họ có, các bông tai đang đeo, rồi ông chôn tất cả dưới gốc cây sồi gần thành Sê-chem.
GEN 35:5 Gia-cốp và các con rời nơi đó. Thượng Đế khiến cho dân cư các thành gần đó hoảng sợ nên không ai dám đuổi theo họ.
GEN 35:6 Gia-cốp cùng những người theo mình đi đến Lu-xơ, nay gọi là Bê-tên, trong xứ Ca-na-an.
GEN 35:7 Gia-cốp dựng một bàn thờ và đặt tên là “Thượng Đế của Bê-tên,” theo tên Thượng Đế vì Thượng Đế đã hiện ra cùng ông khi ông đang chạy trốn khỏi anh mình.
GEN 35:8 Đê-bô-ra, người vú em của Rê-be-ca qua đời và được chôn cất bên gốc cây sồi ở Bê-tên cho nên họ gọi chỗ đó là Cây Sồi Khóc Lóc.
GEN 35:9 Khi Gia-cốp từ miền tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi trở về thì Thượng Đế lại hiện ra cùng ông và ban phước cho ông.
GEN 35:10 Thượng Đế bảo ông, “Tên con hiện là Gia-cốp nhưng con sẽ không được gọi là Gia-cốp nữa. Tên mới của con sẽ là Ít-ra-en.” Nên Ngài gọi ông là Ít-ra-en.
GEN 35:11 Thượng Đế bảo ông, “Ta là Thượng Đế Toàn Năng. Hãy sinh thật đông con để trở thành một dân tộc. Con sẽ là tổ phụ của nhiều dân nhiều vua.
GEN 35:12 Đất mà ta cho Áp-ra-ham và Y-sác ta cũng sẽ cho con và dòng dõi con.”
GEN 35:13 Nói xong, Thượng Đế ngự lên khỏi nơi ấy.
GEN 35:14 Gia-cốp dựng tảng đá nơi Thượng Đế nói chuyện với mình. Ông đổ của lễ uống và dầu ô liu trên đó để biệt riêng ra cho Ngài.
GEN 35:15 Gia-cốp gọi chỗ ấy là Bê-tên.
GEN 35:16 Gia-cốp và đoàn người cùng đi với ông rời Bê-tên. Trước khi họ đến Ếp-rát thì Ra-chên bắt đầu chuyển bụng nhưng sinh khó.
GEN 35:17 Bà đỡ thấy vậy bảo, “Ra-chên ơi, đừng sợ. Chị đang sinh thêm một con trai nữa đó.”
GEN 35:18 Ra-chên sinh ra một trai, nhưng rồi qua đời. Khi đang hấp hối nàng đặt tên cho đứa bé là Bê-nô-ni, nhưng Gia-cốp đặt tên nó là Bên-gia-min.
GEN 35:19 Ra-chên được chôn cất trên con đường đi đến Ếp-rát, gọi là Bết-lê-hem,
GEN 35:20 Gia-cốp dựng một tảng đá làm bia để tưởng nhớ nàng. Tảng đá đó hiện vẫn còn.
GEN 35:21 Rồi Ít-ra-en tiếp tục cuộc hành trình và đóng trại gần miền nam tháp Ê-đe.
GEN 35:22 Trong khi Ít-ra-en ở đó thì Ru-bên đến ăn nằm với đứa nữ tì Bi-la, Ít-ra-en nghe biết chuyện ấy. Gia-cốp có mười hai con trai.
GEN 35:23 Sáu người con trai đầu do Lê-a sinh ra: Ru-bên, con trưởng nam, rồi đến Xi-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-xa-ca, và Xê-bu-lôn.
GEN 35:24 Ông có hai con trai do Ra-chên sinh ra: Giô-xép và Bên-gia-min.
GEN 35:25 Ông cũng có hai con do Bi-la, nữ tì của Ra-chên sinh ra: Đan và Nép-ta-li.
GEN 35:26 Ngoài ra ông cũng có hai con trai do Xinh-ba, nữ tì của Lê-a sinh ra: Gát và A-se. Đó là tất cả những người con trai của Gia-cốp sinh ra ở miền Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi.
GEN 35:27 Gia-cốp trở về cùng cha mình là Y-sác ở Mam-rê gần Hếp-rôn, nơi Áp-ra-ham và Y-sác sinh sống.
GEN 35:28 Y-sác hưởng thọ một trăm tám mươi tuổi.
GEN 35:29 Y-sác trút hơi thở cuối cùng và qua đời khi tuổi cao. Hai con trai Y-sác, Ê-sau và Gia-cốp chôn cất ông.
GEN 36:1 Sau đây là gia phổ của Ê-sau (cũng có tên là Ê-đôm).
GEN 36:2 Ê-sau lấy các người nữ trong xứ Ca-na-an: A-đa, con gái Ê-lôn người Hê-tít; Ô-hô-li-ba-ma, con gái của A-na, cháu gái của Xi-bê-ôn người Hê-vít;
GEN 36:3 và Bát-sê-mát, con gái Ích-ma-ên, chị của Nê-bai-ốt.
GEN 36:4 A-đa sinh ra Ê-li-pha cho Ê-sau. Bát-sê-mát sinh cho ông Ru-ên,
GEN 36:5 còn Ô-hô-li-ba-ma sinh Giê-út, Gia-lam và Co-ra cho ông. Đó là các con trai của Ê-sau sinh ra trong xứ Ca-na-an.
GEN 36:6 Ê-sau đưa các vợ, con trai, con gái và những người cùng sống với mình, bầy gia súc và thú vật khác cùng tất cả tài sản có được trong xứ Ca-na-an đến một vùng cách xa em mình là Gia-cốp.
GEN 36:7 Vì tài sản của Ê-sau và Gia-cốp quá nhiều nên đất không đủ rộng cho hai người. Đất đai ở đó không nuôi nổi hai người, vì họ có quá nhiều gia súc.
GEN 36:8 Ê-sau định cư trong vùng núi Sê-ia. Ê-sau cũng có tên là Ê-đôm.
GEN 36:9 Gia phổ của Ê-sau gồm có: Ê-sau là tổ tiên của người Ê-đôm sống trong vùng núi Ê-đôm.
GEN 36:10 Các con trai của Ê-sau là: Ê-li-pha, con của Ê-sau với A-đa, Ru-ên, con của Ê-sau với Bát-sê-mát.
GEN 36:11 Ê-li-pha có năm con trai: Thê-man, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tam và Kê-nát.
GEN 36:12 Ê-li-pha cũng có một nữ tì tên Thim-na. Thim-na và Ê-li-pha sinh ra A-ma-léc. Đó là cháu của Ê-sau thuộc dòng vợ A-đa.
GEN 36:13 Ru-ên có bốn con trai: Na-hát, Xê-ra, Sam-ma, và Mích-xa. Đó là các cháu nội của Ê-sau thuộc dòng vợ Bát-sê-mát.
GEN 36:14 Vợ thứ ba của Ê-sau là Ô-hô-li-ba-ma, là con gái A-na và cháu gái của Xi-bê-ôn. Ê-sau và Ô-hô-li-ba-ma sinh ra Giê-út, Gia-lam và Co-ra.
GEN 36:15 Sau đây là những tộc trưởng xuất thân từ Ê-sau: Con cả của Ê-sau là Ê-li-pha. Từ Ê-li-pha sinh ra các tộc trưởng sau đây: Thê-man, Ô-ma, Xê-phô, Kê-nát,
GEN 36:16 Co-ra, Ga-tam, và A-ma-léc. Đó là những tộc trưởng thuộc dòng Ê-li-pha trong đất Ê-đôm. Họ là cháu của A-đa.
GEN 36:17 Ru-ên, con Ê-sau, sinh ra các tộc trưởng sau đây: Na-hát, Xê-ra, Sam-ma, và Mích-xa. Đó là những tộc trưởng thuộc dòng Ru-ên trong đất Ê-đôm. Họ là cháu của dòng vợ Ba-sê-mát của Ê-sau.
GEN 36:18 Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau sinh ra các tộc trưởng sau đây: Giê-út, Gia-lam và Co-ra. Tất cả những tộc trưởng đó thuộc dòng Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau, và là con gái của A-na.
GEN 36:19 Đó là các con trai của Ê-sau đều là tộc trưởng.
GEN 36:20 Sau đây là các con trai của Sê-ia, người Hô-rít, sinh sống trong xứ: Lô-tan, Sô-ban, Xi-bê-ôn, A-na,
GEN 36:21 Đi-sôn, Ê-xe, và Đi-san. Các con trai của Sê-ia làm tộc trưởng dân Hô-rít thuộc xứ Ê-đôm.
GEN 36:22 Các con trai của Lô-tan là Hô-ri và Hô-man. (Thim-na là em gái Lô-tan.)
GEN 36:23 Các con trai của Sô-ban là An-van, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phô, và Ô-nam.
GEN 36:24 Các con trai của Xi-bê-ôn là Ai-gia và A-na. A-na là người tìm được các suối nước nóng trong sa mạc, khi đang chăn lạc đà cho cha mình.
GEN 36:25 Các con của A-na là Đi-sôn và Ô-hô-li-ba-ma, con gái của A-na.
GEN 36:26 Các con trai của Đi-sôn là Hem-đan, Ết-ban, Ít-ran, và Kê-ran.
GEN 36:27 Các con trai của Ê-xe là Binh-hanh, Xa-a-van và A-can.
GEN 36:28 Các con trai của Đi-san là U-xơ và A-ran.
GEN 36:29 Sau đây là tên các tộc trường người Hô-rít: Lô-tan, Sô-ban, Xi-bê-ôn, A-na,
GEN 36:30 Đi-sôn, Ê-xe, và Đi-san. Những người nầy là tộc trưởng của dân Hô-rít sống trong xứ Ê-đôm.
GEN 36:31 Sau đây là các vua cai trị xứ Ê-đôm trước khi dân Ít-ra-en có vua:
GEN 36:32 Bê-la con của Bê-ô là vua của Ê-đôm. Ông là người thành Đinh-ha-ba.
GEN 36:33 Khi Bê-la qua đời, Giô-báp con Xê-ra lên nối ngôi. Giô-báp người thành Bốt-ra.
GEN 36:34 Khi Giô-báp qua đời thì Hu-sam lên ngôi vua. Ông sinh ra ở miền đất của dân Thê-man.
GEN 36:35 Khi Hu-sam qua đời, Ha-đát con của Bê-đát lên ngôi. Ha-đát người thành A-vít và là vị vua đã đánh bại dân Mi-đi-an xứ Mô-áp.
GEN 36:36 Khi Ha-đát qua đời thì Sam-la lên ngôi. Ông người thành Mát-rê-ca.
GEN 36:37 Khi Sam-la qua đời thì Sa-un lên ngôi. Ông người thành Rê-hô-bốt nằm trên bờ sông.
GEN 36:38 Khi Sa-un qua đời thì Ba-anh Ha-nan, con trai của Ác-bo lên ngôi.
GEN 36:39 Khi Ba-anh Ha-nan con của Ác-bo qua đời thì Ha-đát lên ngôi. Ông người thành Bao. Vợ ông tên Mê-hê-ta-bên con gái Ma-trết, Ma-trết là con gái của Mê-xa-háp.
GEN 36:40 Sau đây là tên các tộc trưởng người Ê-đôm, liệt kê theo họ hàng và theo vùng, Tất cả đều là con cháu của Ê-sau: Thim-na, Anh-va, Giê-thết,
GEN 36:41 Ô-hô-li-ba-ma, Ê-la, Phi-nôn,
GEN 36:42 Kê-nát, Thê-man, Míp-xa,
GEN 36:43 Mác-đi-ên, và Y-ram. Họ đều là tộc trưởng xứ Ê-đôm. (Ê-sau là ông tổ của dân Ê-đôm.) Các gia tộc được liệt kê theo vùng họ định cư.
GEN 37:1 Gia-cốp sống trong xứ Ca-na-an, nơi cha mình sống trước kia.
GEN 37:2 Sau đây là gia phổ của Gia-cốp: Giô-xép, là thanh niên mới mười bảy tuổi, chăn chiên cùng với các anh khác, tức con trai của Bi-la và Xinh-ba, vợ của cha mình. Giô-xép mách với cha về những điều xấu các anh mình làm.
GEN 37:3 Vì Giô-xép ra đời khi cha cậu đã cao tuổi nên được cha là Ít-ra-en thương hơn các con trai khác. Ông may cho Giô-xép một cái áo đẹp dài tay.
GEN 37:4 Khi thấy cha cưng Giô-xép hơn, các anh đều ganh ghét và ăn nói cộc cằn với cậu.
GEN 37:5 Có lần Giô-xép nằm chiêm bao. Khi cậu kể lại chiêm bao đó cho các anh mình, thì họ lại càng ghét cậu hơn nữa.
GEN 37:6 Giô-xép kể, “Các anh hãy nghe em kể chiêm bao của em nhé!
GEN 37:7 Chúng ta đang bó lúa ở ngoài đồng. Bó lúa của em thì đứng được, còn bó lúa của các anh cứ nằm mọp chung quanh bó lúa em.”
GEN 37:8 Mấy người anh hỏi, “Vậy mầy là vua của tụi tao à? Bộ mầy sẽ cai trị tụi tao sao?” Vì chiêm bao đó mà các anh càng ghét Giô-xép hơn nữa.
GEN 37:9 Sau đó Giô-xép có một chiêm bao khác, Giô-xép cũng kể lại cho các anh mình nghe. Cậu kể, “Mời các anh nghe, em lại có một chiêm bao nữa. Em thấy mặt trời, mặt trăng và mười một ngôi sao cúi lạy trước mặt em.”
GEN 37:10 Giô-xép kể lại chiêm bao đó cho cha mình nghe nhưng cha anh mắng, “Chiêm bao gì mà lạ thế? Như vậy nghĩa là mẹ mầy, các anh mầy và cả tao nữa phải cúi lạy mầy sao?”
GEN 37:11 Các anh Giô-xép ganh ghét cậu, nhưng cha anh thì suy tư về những điều ấy.
GEN 37:12 Một ngày kia, các anh Giô-xép đi xuống Sê-chem để cho các bầy gia súc ăn cỏ.
GEN 37:13 Ít-ra-en bảo Giô-xép, “Con hãy xuống thăm các anh con đang cho các gia súc ăn cỏ ở Sê-chem.” Giô-xép thưa, “Con sẽ đi.”
GEN 37:14 Cha ông dặn tiếp, “Xuống thăm xem các anh con và bầy gia súc có bình yên không rồi trở về cho cha hay.” Cha Giô-xép sai cậu đi từ thung lũng Hếp-rôn. Khi Giô-xép đến Sê-chem
GEN 37:15 thì có người thấy cậu đi lạc trong đồng mới hỏi, “Anh đi tìm gì vậy?”
GEN 37:16 Giô-xép đáp, “Tôi đi tìm các anh tôi. Ông có biết họ đang cho bầy gia súc ăn cỏ ở đâu không?”
GEN 37:17 Người đó trả lời, “Họ đi rồi. Tôi nghe họ bảo nhau đi xuống Đô-than.” Vì vậy Giô-xép đi tìm và gặp các anh ở Đô-than.
GEN 37:18 Các anh Giô-xép thấy cậu từ xa đi lại, nên họ liền bàn kế thủ tiêu trước khi cậu đến nơi.
GEN 37:19 Họ bảo nhau, “Ê thằng nằm chiêm bao đến kìa.
GEN 37:20 Chúng ta hãy giết nó, quăng xác xuống giếng rồi bảo với cha là nó bị thú dữ xé xác để xem mộng mị nó ra sao.”
GEN 37:21 Nhưng Ru-bên nghe âm mưu đó thì tìm cách cứu Giô-xép. Ông bảo, “Thôi đừng giết nó làm gì.
GEN 37:22 Đừng làm chuyện đổ máu. Hãy quẳng nó vào cái giếng nầy, trong sa mạc, nhưng đừng làm nó bị thương!” Ru-bên muốn cứu Giô-xép để trả cậu ta về với cha mình.
GEN 37:23 Nên khi Giô-xép đến gặp các anh, thì họ liền lột áo đặc biệt dài tay của cậu ra,
GEN 37:24 rồi quăng xuống giếng. Giếng ấy khô, không có nước.
GEN 37:25 Trong khi Giô-xép bị quăng xuống giếng thì các anh ngồi lại ăn uống. Họ nhìn lên thấy một đoàn người Ích-ma-ên đang đi từ Ghi-lê-át đến Ai-cập. Đoàn lạc đà chở gia vị, thuốc thơm và mộc dược.
GEN 37:26 Giu-đa liền bàn với các anh em, “Giết em mình rồi che giấu việc nó đã chết thì ích lợi gì?
GEN 37:27 Chẳng thà bán nó cho đám dân Ích-ma-ên nầy còn hay hơn. Như thế mình khỏi mang tội giết em. Dù sao nó cũng là anh em ruột thịt của chúng mình.” Các anh em kia đồng ý.
GEN 37:28 Nên khi các lái buôn Mi-đi-an đi ngang qua, họ liền lôi Giô-xép lên khỏi giếng, bán cậu cho đám dân Ích-ma-ên với giá hai mươi miếng bạc. Đám dân Ích-ma-ên mang anh sang xứ Ai-cập.
GEN 37:29 Khi Ru-bên trở lại giếng, không thấy Giô-xép đâu, liền xé quần áo tỏ sự buồn bực.
GEN 37:30 Ông trở lại với các anh em hỏi, “Thằng nhỏ đâu mất rồi, không thấy ở trong giếng nữa! Chao ôi, bây giờ tôi làm sao đây?”
GEN 37:31 Các anh em giết một con dê rồi nhúng áo Giô-xép vào trong huyết,
GEN 37:32 xong, mang áo về đưa cho cha mình xem và bảo, “Chúng con tìm được cái áo nầy. Cha xem kỹ có phải áo của con trai cha không?”
GEN 37:33 Gia-cốp xem xét kỹ rồi nói, “Đúng là áo của con trai ta! Ôi thôi chắc nó bị thú dữ ăn thịt rồi. Con trai ta bị xé xác rồi!”
GEN 37:34 Gia-cốp liền xé quần áo mình, mặc vải sô bày tỏ nỗi đau buồn. Ông buồn bực về con trai mình trong một thời gian khá lâu.
GEN 37:35 Các con trai, con gái xúm lại an ủi ông nhưng ông không chịu. Ông bảo, “Tao buồn về con trai tao cho đến ngày tao chết.” Gia-cốp khóc than cho Giô-xép, con trai mình.
GEN 37:36 Trong khi đó đám dân Mi-đi-an đã mua Giô-xép mang cậu ta xuống Ai-cập, bán cho Phô-ti-pha, một sĩ quan của vua Ai-cập, chỉ huy đội quân cận vệ.
GEN 38:1 Trong thời gian đó, Giu-đa rời anh em mình đến sống với một người tên Hi-ra, ở A-đu-lam.
GEN 38:2 Ở đó Giu-đa gặp một thiếu nữ Ca-na-an, con gái của một người tên Sua và lấy nàng. Giu-đa ăn ở với nàng.
GEN 38:3 Nàng mang thai sinh ra một con trai. Giu-đa đặt tên là Ê-rơ.
GEN 38:4 Sau đó nàng lại thụ thai sinh một trai nữa đặt tên là Ô-nan.
GEN 38:5 Rồi nàng sinh một con trai khác đặt tên là Sê-la. Lúc đứa con trai thứ ba ra đời thì nàng đang ở tại Kê-xíp.
GEN 38:6 Giu-đa chọn một thiếu nữ tên Ta-ma làm vợ cho Ê-rơ, con cả mình.
GEN 38:7 Nhưng Ê-rơ, con trưởng của Giu-đa làm chuyện ác trước mặt CHÚA nên Ngài giết anh ta.
GEN 38:8 Giu-đa liền bảo Ô-nan, em Ê-rơ, “Con hãy đến ăn nằm với chị dâu của con để nối dòng cho anh con.”
GEN 38:9 Nhưng Ô-nan biết các con sinh ra sẽ chẳng phải thuộc về mình, nên khi ngủ với Ta-ma anh ta cho tinh dịch xuất ra ngoài, vì thế Ta-ma không thụ thai được và Ê-rơ không thể có con nối dòng.
GEN 38:10 CHÚA không bằng lòng chuyện ác nầy của Ô-nan nên Ngài cũng giết anh ta luôn.
GEN 38:11 Vì Giu-đa sợ Sê-la cũng sẽ chết giống như các anh nên bảo Ta-ma, con dâu mình rằng, “Thôi, con hãy về nhà cha con đi, đừng tái hôn cho đến khi con út của ta là Sê-la khôn lớn, rồi sẽ lấy nó.” Thế là Ta-ma trở về nhà cha mình.
GEN 38:12 Sau đó khá lâu, vợ Giu-đa, con gái Sua qua đời. Sau khi Giu-đa nguôi buồn thì đi xuống Thim-na xem các người làm đang hớt lông chiên. Bạn ông là Hi-ra từ thành A-đu-lam cũng đi xuống với ông.
GEN 38:13 Ta-ma nghe rằng Giu-đa, cha chồng mình đang đi xuống Thim-na để hớt lông chiên.
GEN 38:14 Cho nên nàng cởi áo tang, lấy khăn che đầu để ngụy trang. Rồi nàng ngồi nơi cổng thành Ê-na-im trên đường đi xuống Thim-na. Sở dĩ nàng làm vậy là vì nàng thấy con út Giu-đa là Sê-la đã khôn lớn nhưng Giu-đa không định cưới nàng cho Sê-la.
GEN 38:15 Khi Giu-đa thấy nàng thì tưởng là gái điếm vì nàng lấy khăn mỏng che mặt lại.
GEN 38:16 Giu-đa liền đến bảo nàng, “Cho anh đến với em đi.” Ông không biết đó là Ta-ma, dâu mình. Nàng hỏi, “Nếu em cho anh đến với em thì anh sẽ trả em bằng gì?”
GEN 38:17 Giu-đa đáp, “Anh sẽ cho em một con dê con, bắt từ trong bầy của anh.” Nàng đáp, “Trước hết anh phải đưa em cái gì để làm tin đã, cho đến khi anh mang con dê đến.”
GEN 38:18 Giu-đa hỏi, “Vậy em muốn anh đưa em món gì để làm tin?” Ta-ma đáp, “Cho em cái ấn, sợi dây và cây gậy của anh.” Giu-đa liền trao các món đó cho nàng. Rồi Giu-đa và Ta-ma ăn nằm với nhau. Ta-ma liền mang thai.
GEN 38:19 Khi về nhà Ta-ma cởi bỏ cái khăn mỏng che mặt và mặc quần áo tang trở lại.
GEN 38:20 Giu-đa nhờ Hi-ra là bạn mang con dê con đi tìm nàng để chuộc lại cái ấn và cây gậy đã cho nàng nhưng Hi-ra tìm không được.
GEN 38:21 Ông hỏi thăm mấy người trong thành Ê-na-im, “Cô gái điếm hôm trước trong đền thờ ngồi bên đường bây giờ đâu rồi?” Họ đáp, “Ở đây làm gì có gái điếm nào trong đền thờ!”
GEN 38:22 Nên ông trở về bảo Giu-đa, “Tôi tìm người đàn bà đó không ra, còn dân chúng ở đó thì bảo không hề có gái điếm nào ở đó cả.”
GEN 38:23 Giu-đa bảo, “Thôi để cô ta cứ giữ mấy món đồ đó đi. Tôi không muốn người ta chê cười chúng ta. Tôi gởi cho cô ta con dê như tôi hứa nhưng anh tìm cô ta không ra.”
GEN 38:24 Khoảng ba tháng sau có người báo cáo với Giu-đa, “Ta-ma, con dâu ông ngoại tình cho nên bây giờ mang bầu rồi.” Giu-đa bảo, “Mang nó ra thiêu sống đi.”
GEN 38:25 Khi người ta mang nàng ra thì nàng nhờ người nhắn với cha chồng mình rằng, “Người làm cho tôi mang thai là người có những món đồ nầy. Hãy xem thử coi cái ấn, sợi dây và cây gậy là của ai.”
GEN 38:26 Giu-đa nhận ra các món đó và bảo, “Nàng làm đúng hơn ta. Nàng làm như thế vì ta đã không gả con trai ta cho nàng.” Rồi Giu-đa không ăn ở với nàng nữa.
GEN 38:27 Đến kỳ sinh nở, Ta-ma sinh đôi.
GEN 38:28 Trong khi đang sinh thì một hài nhi thò tay ra. Bà đỡ cột sợi chỉ đỏ trên tay nó và bảo, “Thằng nầy ra trước.”
GEN 38:29 Nhưng nó lại rút tay vào cho nên đứa kia sinh ra trước. Bà đỡ nói, “Vậy chú mầy chui ra trước hả?” Nên người ta đặt tên nó là Phê-rê.
GEN 38:30 Sau đó đứa bé có sợi chỉ đỏ trên tay mới ra, nên người ta đặt tên nó là Xê-ra.
GEN 39:1 Các lái buôn mang Giô-xép xuống Ai-cập. Có một người Ai-cập tên Phô-ti-pha làm quan cho vua Ai-cập và chỉ huy đội cận vệ hoàng cung. Ông ta mua Giô-xép từ mấy người Ích-ma-ên, là những người đã mang Giô-xép đến đó.
GEN 39:2 CHÚA ở cùng Giô-xép, nên ông rất thành công. Ông sống trong nhà ông chủ là Phô-ti-pha người Ai-cập.
GEN 39:3 Phô-ti-pha thấy CHÚA ở cùng Giô-xép và phù hộ Giô-xép thành công mọi phương diện.
GEN 39:4 Phô-ti-pha rất hài lòng về Giô-xép, nên cất nhắc Giô-xép làm đầy tớ riêng cho mình. Ông đặt Giô-xép quản trị cả nhà, giao hết cho Giô-xép mọi tài sản mình.
GEN 39:5 Vì Giô-xép quản trị nhà cửa và tài sản Phô-ti-pha, nên CHÚA ban phúc lành cho mọi người trong nhà đó nữa. CHÚA cũng ban phước cho cả mọi thứ thuộc về Phô-ti-pha, trong nhà cũng như ngoài đồng ruộng.
GEN 39:6 Nên Phô-ti-pha để Giô-xép quản trị mọi tài sản mình, không quan tâm về chuyện gì cả ngoại trừ thức ăn của mình. Giô-xép có vóc dáng khoẻ mạnh và đẹp trai.
GEN 39:7 Sau một thời gian, vợ của chủ nhìn Giô-xép và bảo, “Hãy đến ân ái cùng ta!”
GEN 39:8 Nhưng Giô-xép từ chối bảo rằng, “Ông chủ tin cậy giao cho tôi mọi thứ trong nhà nầy. Ông đặt tôi cai quản mọi tài sản của ông.
GEN 39:9 Trong nhà nầy không có ai lớn hơn tôi. Ông chủ không giữ lấy cho mình cái gì cả ngoại trừ bà, vì bà là vợ ông ấy. Làm sao tôi dám làm chuyện gian ác như thế được? Vì đó là phạm tội với Thượng Đế.”
GEN 39:10 Hàng ngày bà ta cứ nói hoài như thế với Giô-xép nhưng ông không chịu đi lại với bà hay lại gần bà.
GEN 39:11 Một ngày nọ, Giô-xép đi vào nhà lo công việc thường lệ, lúc ấy không một gia nhân nào khác có mặt trong nhà.
GEN 39:12 Bà chủ liền níu áo Giô-xép bảo, “Hãy lại ân ái với em nào!” Nhưng Giô-xép buông áo bỏ chạy ra ngoài.
GEN 39:13 Khi thấy Giô-xép đã bỏ áo lại trong tay mình và chạy ra ngoài,
GEN 39:14 bà liền kêu mấy đứa đầy tớ trong nhà lại nói rằng, “Xem nầy! Họ mang thằng nô lệ Do-Thái vào đây để làm nhục chúng ta. Nó đến gần định cưỡng hiếp tao nhưng tao la lên.
GEN 39:15 Nghe tao la nó hoảng sợ thoát chạy bỏ lại cái áo nầy trong tay tao.”
GEN 39:16 Bà ta giữ cái áo cho đến khi chồng về,
GEN 39:17 rồi mách lại chuyện đó. Bà bảo, “Thằng nô lệ Do-thái anh mang về nhà đã làm nhục em!
GEN 39:18 Khi nó định đến gần em thì em la lên. Nó thoát chạy bỏ lại cái áo nó mặc đây.”
GEN 39:19 Khi chủ Giô-xép nghe vợ kể lại rằng, “Đây là điều thằng nô lệ của anh làm cho em” thì ông ta phừng phừng nổi giận.
GEN 39:20 Phô-ti-pha bắt Giô-xép tống vào ngục giam các tù nhân của nhà vua. Thế là Giô-xép ngồi tù.
GEN 39:21 Nhưng CHÚA phù hộ Giô-xép và tỏ lòng nhân từ, nên Ngài khiến cai ngục cũng thích Giô-xép.
GEN 39:22 Viên cai ngục chọn Giô-xép cai quản tất cả các tù nhân, nên Giô-xép quản trị mọi việc trong tù.
GEN 39:23 Viên cai ngục không bao giờ bận tâm đến những gì đã giao cho Giô-xép lo, vì CHÚA phù hộ Giô-xép, khiến ông thành công trong mọi việc.
GEN 40:1 Sau các chuyện ấy, có hai sĩ quan hoàng gia làm vua bất bình, đó là quan dâng rượu và quan làm bánh cho vua.
GEN 40:2 Nhà vua nổi giận với quan dâng rượu và quan làm bánh,
GEN 40:3 nên tống giam họ vào nhà ngục của viên chỉ huy đội cận vệ, cùng nơi Giô-xép bị giam.
GEN 40:4 Viên chỉ huy đội cận vệ giao hai tên tù mới cho Giô-xép coi sóc. Cả hai bị giam một thời gian.
GEN 40:5 Một đêm nọ trong khi họ đang ngồi tù, cả hai quan hầu rượu và quan làm bánh đều chiêm bao. Mỗi giấc mộng có ý nghĩa riêng.
GEN 40:6 Sáng hôm sau, khi đến thăm họ, Giô-xép thấy hai người có vẻ lo âu.
GEN 40:7 Ông hỏi họ, “Hôm nay sao các ông có vẻ không vui như thế?”
GEN 40:8 Hai người trả lời, “Đêm qua chúng tôi nằm chiêm bao nhưng không ai biết giải thích ý nghĩa chiêm bao đó cho chúng tôi cả.” Giô-xép bảo, “Thượng Đế là Đấng có thể giải thích ý nghĩa chiêm bao. Mấy ông hãy thuật chiêm bao cho tôi nghe đi.”
GEN 40:9 Quan hầu rượu kể cho Giô-xép nghe chiêm bao của mình. Ông kể, “Trong chiêm bao tôi thấy một dây nho,
GEN 40:10 trên dây nho có ba nhánh. Tôi thấy các nhánh trổ nụ và hoa rồi sinh ra trái nho chín.
GEN 40:11 Tôi đang cầm ly vua trong tay nên tôi hái các trái nho ép nước vào trong ly và dâng lên cho vua.”
GEN 40:12 Giô-xép bảo, “Tôi sẽ giải thích điềm chiêm bao cho ông. Ba nhánh tức là ba ngày.
GEN 40:13 Ba ngày nữa nhà vua sẽ thả ông ra, rồi cho ông nhận lại việc cũ. Ông sẽ hầu rượu cho vua như trước.
GEN 40:14 Nhưng khi được tự do rồi thì xin nhớ đến tôi nhé. Hãy tốt với tôi, nói với vua giùm cho tôi để tôi ra khỏi nhà tù nầy.
GEN 40:15 Tôi bị cưỡng bách mang ra khỏi đất nước của người Do-thái, mặc dù tôi không làm gì nên tội để phải ngồi tù.”
GEN 40:16 Quan làm bánh thấy lời giải thích của Giô-xép có vẻ tốt, nên cũng kể cho ông nghe chiêm bao mình, “Tôi cũng có một chiêm bao. Trong chiêm bao tôi thấy có ba giỏ bánh trên đầu tôi.
GEN 40:17 Trong giỏ trên cùng có đủ thứ bánh tôi làm cho vua nhưng mấy con chim đáp xuống ăn hết bánh trong giỏ trên đầu tôi.”
GEN 40:18 Giô-xép bảo, “Tôi sẽ giải thích cho ông biết ý nghĩa chiêm bao đó. Ba giỏ bánh tức là ba ngày.
GEN 40:19 Ba ngày nữa vua sẽ chém đầu ông! Vua sẽ treo xác ông lên cây rồi chim sẽ bay đến rỉa thịt ông.”
GEN 40:20 Ba hôm sau vào ngày sinh nhật mình, vua mở tiệc thết đãi các sĩ quan hoàng gia. Trước mặt các quan, vua đưa trưởng quan hầu rượu và trưởng quan làm bánh ra khỏi ngục.
GEN 40:21 Vua phục chức cho trưởng quan hầu rượu, nên quan đó lại được dâng rượu vào tay vua.
GEN 40:22 Nhưng vua cho treo cổ viên trưởng quan làm bánh lên cây. Mọi việc xảy ra y như Giô-xép giải đoán,
GEN 40:23 nhưng trưởng quan hầu rượu không còn nhớ đến Giô-xép nữa. Ông quên bẵng Giô-xép đi.
GEN 41:1 Hai năm sau, vua nằm mộng thấy mình đang đứng bên bờ sông Nin.
GEN 41:2 Vua thấy bảy con bò cái mập tốt từ sông đi lên và đứng đó ăn cỏ.
GEN 41:3 Rồi có bảy con bò cái ốm yếu xấu xí cũng từ sông đi lên. Chúng đứng cạnh các con bò mập trên bờ sông Nin.
GEN 41:4 Bảy con bò gầy còm ốm yếu ăn thịt bảy con bò mập tốt. Rồi vua thức giấc.
GEN 41:5 Vua ngủ lại và thấy chiêm bao lần thứ nhì. Trong chiêm bao vua thấy bảy gié lúa chắc cùng mọc trên một cọng lúa.
GEN 41:6 Sau đó có bảy gié lúa khác cũng mọc lên nhưng lép và bị gió Đông cháy sém.
GEN 41:7 Các gié lúa lép nuốt bảy gié lúa chắc. Nhà vua chợt thức giấc và thấy đó chỉ là chiêm bao.
GEN 41:8 Sáng hôm sau vua rất băn khoăn lo lắng về hai điềm chiêm bao, nên vua triệu tập các thuật sĩ và học giả trong xứ Ai-cập đến. Vua kể lại chiêm bao cho họ nghe nhưng không ai giải thích được.
GEN 41:9 Lúc đó quan hầu rượu thưa cùng vua rằng, “Bây giờ tôi mới nhớ lại lỗi của tôi.
GEN 41:10 Trước đây, khi nổi giận cùng quan làm bánh và tôi, bệ hạ đã tống giam chúng tôi vào ngục trong nhà của viên chỉ huy đội cận vệ.
GEN 41:11 Lúc ngồi tù, hai chúng tôi thấy chiêm bao cùng một đêm, mỗi chiêm bao mang ý nghĩa khác nhau.
GEN 41:12 Có một thanh niên Do-Thái, tôi tớ của viên chỉ huy đội cận vệ, cũng ngồi tù chung với chúng tôi. Khi chúng tôi kể lại chiêm bao cho anh ta, thì anh ta giải thích được ý nghĩa chiêm bao của từng người.
GEN 41:13 Rồi mọi việc xảy ra đúng y như anh ta tiên đoán: Tôi được phục chức, còn quan làm bánh bị treo cổ.”
GEN 41:14 Nhà vua cho triệu Giô-xép đến. Các lính cận vệ liền mang Giô-xép ra khỏi ngục, cạo râu, cho mặc quần áo mới rồi đi ra trình diện vua.
GEN 41:15 Nhà vua hỏi Giô-xép, “Ta có một chiêm bao nhưng không ai giải thích ý nghĩa được. Ta nghe nói ngươi có thể giải mộng được, nếu kể lại giấc mơ cho ngươi nghe.”
GEN 41:16 Giô-xép trả lời, “Tự mình tôi không thể giải thích ý nghĩa của chiêm bao nhưng Thượng Đế có thể làm được điều đó cho vua.”
GEN 41:17 Vậy vua kể cho Giô-xép nghe như sau, “Trong chiêm bao ta thấy ta đang đứng trên bờ sông Nin.
GEN 41:18 Ta thấy bảy con bò cái mập tốt từ sông đi lên ăn cỏ.
GEN 41:19 Rồi ta thấy bảy con bò nữa gầy còm ốm yếu cũng từ sông đi lên. Mấy con bò đó thật xấu xí mà ta chưa hề thấy trong cả xứ Ai-cập từ trước tới nay.
GEN 41:20 Bảy con bò gầy còm xấu xí nầy nuốt bảy con bò mập đầu tiên,
GEN 41:21 nhưng sau khi chúng ăn thịt bảy con bò kia, không ai thấy có gì khác vì chúng vẫn gầy còm ốm yếu như trước. Rồi ta thức giấc.
GEN 41:22 Ta lại thấy một chiêm bao nữa. Ta thấy bảy gié lúa chắc cùng mọc trên một cọng lúa.
GEN 41:23 Rồi có bảy gié lúa khác mọc lên sau nhưng bảy gié lúa nầy thì lép và bị gió nóng thổi từ phương đông cháy sém.
GEN 41:24 Mấy gié lúa lép nuốt mấy gié lúa chắc. Ta kể chiêm bao nầy cho các thuật sĩ, nhưng không ai giải thích được ý nghĩa cả.”
GEN 41:25 Giô-xép liền thưa với vua, “Cả hai chiêm bao đều có cùng một ý nghĩa thôi. Thượng Đế báo cho vua biết điều Ngài sắp làm.
GEN 41:26 Bảy con bò cái mập tức là bảy năm, và bảy gié lúa chắc cũng là bảy năm. Hai chiêm bao mang cùng một ý nghĩa.
GEN 41:27 Bảy con bò cái gầy còm ốm yếu tức bảy năm, và bảy gié lúa lép bị gió Đông thổi cháy sém là bảy năm đói kém.
GEN 41:28 Biến cố nầy sẽ xảy ra như tôi đã tâu vua. Thượng Đế tỏ ra cho vua điều Ngài sắp làm.
GEN 41:29 Vua sẽ có bảy năm trúng mùa, thức ăn dư dật trong khắp xứ Ai-cập.
GEN 41:30 Nhưng sau bảy năm đó sẽ có bảy năm đói kém theo sau và người ta sẽ không còn nhớ lương thực đã trồng trong xứ Ai-cập nữa. Thời gian đói kém sẽ làm đất đai tiêu điều.
GEN 41:31 Dân chúng không còn nhớ thời kỳ dư dật lương thực nữa vì cơn đói kém tiếp theo rất khủng khiếp.
GEN 41:32 Hai điềm chiêm bao của vua mang cùng một ý nghĩa. Điều nầy cho thấy Thượng Đế nhất quyết thực hiện ý định Ngài, và Ngài sẽ sớm thực hiện ý đó.
GEN 41:33 Cho nên vua hãy chọn một người khôn ngoan hiểu biết đặt cai quản cả xứ Ai-cập.
GEN 41:34 Vua cũng hãy bổ nhiệm các viên chức cai trị khắp xứ. Họ sẽ thu một phần năm lương thực trong bảy năm trúng mùa.
GEN 41:35 Rồi tích trữ lương thực trong các năm trúng mùa sắp đến, và nhân danh vua chứa số lương thực ấy trong các thành phố và canh giữ cẩn thận.
GEN 41:36 Số lương thực ấy sẽ được dùng vào bảy năm đói kém sẽ đến trong xứ Ai-cập. Như thế trong bảy năm đói kém dân chúng Ai-cập sẽ không phải chết đói.”
GEN 41:37 Nghe lời đề nghị đó, vua thấy có vẻ hợp lý. Tất cả các quan trong triều cũng đồng ý.
GEN 41:38 Vua hỏi họ, “Chúng ta tìm đâu ra người nào xứng đáng hơn Giô-xép để đảm nhận việc nầy? Thần linh của Thượng Đế quả thật ngự trong anh ta!”
GEN 41:39 Vua liền bảo Giô-xép, “Thượng Đế đã tỏ cho ngươi biết những việc nầy. Không ai khôn ngoan thông sáng hơn ngươi nữa
GEN 41:40 cho nên ta cử ngươi quản trị cung điện ta. Mọi người phải tôn trọng ngươi, chỉ có một mình ta là trên quyền ngươi mà thôi.”
GEN 41:41 Vua bảo Giô-xép, “Nầy ta đã cử ngươi cai quản cả xứ Ai-cập.”
GEN 41:42 Rồi vua tháo nhẫn mình, có ấn vua, khỏi ngón tay và đeo vào ngón tay Giô-xép. Vua cấp cho Giô-xép áo quần bằng vải gai mịn để mặc và đeo vòng vàng vào cổ Giô-xép.
GEN 41:43 Vua cho Giô-xép đi xe ngựa thứ nhì của vua rồi cho người đi trước hô lên, “Hãy cúi đầu xuống!” Đó là dấu hiệu cho thấy vua đề cử Giô-xép quản trị cả xứ Ai-cập.
GEN 41:44 Vua bảo Giô-xép, “Ta là vua. Ta bảo rằng không ai trong xứ nầy được phép giơ tay hay chân nếu ngươi không cho.”
GEN 41:45 Vua đặt tên Giô-xép là Xa-phê-nát Ba-nê-a. Vua cũng ban cho Giô-xép cô vợ tên A-xê-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành On. Vậy Giô-xép đi thăm khắp xứ Ai-cập.
GEN 41:46 Giô-xép được ba mươi tuổi khi bắt đầu phục vụ vua Ai-cập. Ông rời triều đình vua và kinh lý khắp xứ Ai-cập.
GEN 41:47 Trong bảy năm trúng mùa, đất cho hoa lợi rất nhiều
GEN 41:48 Giô-xép thu góp hết thực phẩm sản xuất trong xứ Ai-cập trong bảy năm trúng mùa và tồn trữ trong các thành phố. Ở thành nào Giô-xép cũng trữ ngũ cốc trồng trong ruộng quanh thành đó.
GEN 41:49 Giô-xép tồn trữ ngũ cốc nhiều như cát bãi biển đến nỗi ông không thể tính được nữa.
GEN 41:50 Vợ của Giô-xép là A-sê-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành On. Trước khi cơn đói kém đến, Giô-xép và A-sê-nát đã sinh hai con trai.
GEN 41:51 Giô-xép đặt tên cho đứa đầu là Ma-na-xe và bảo, “Thượng Đế đã làm cho tôi quên hết những cảnh khốn khó tôi đã gặp và quên gia đình cha tôi.”
GEN 41:52 Giô-xép đặt tên con trai thứ nhì là Ép-ra-im và bảo, “Thượng Đế đã ban cho tôi con cái trong xứ mà tôi gặp khốn khó.”
GEN 41:53 Bảy năm trúng mùa chấm dứt trong xứ Ai-cập.
GEN 41:54 Sau đó bảy năm đói kém bắt đầu, đúng như Giô-xép tiên liệu. Trong khắp thế gian dân chúng không có gì ăn nhưng trong xứ Ai-cập thì có lương thực.
GEN 41:55 Cơn đói kém trở nên khủng khiếp trong cả xứ Ai-cập cho nên dân chúng đến kêu xin vua ban cho lương thực. Vua bảo họ, “Mấy anh hãy đi đến Giô-xép mà xin, người bảo gì thì làm như thế.”
GEN 41:56 Cả thế giới lâm nạn đói nên Giô-xép mở kho bán ngũ cốc cho dân chúng Ai-cập, vì cơn đói kém trở nên khủng khiếp trong nước.
GEN 41:57 Dân chúng tất cả các nước đều đến mua ngũ cốc từ Giô-xép vì đâu đâu trên thế giới cũng gặp nạn đói kinh khủng.
GEN 42:1 Gia-cốp nghe tin ở Ai-cập có thóc lúa, nên bảo mấy người con, “Sao tụi bây cứ ngồi đó mà nhìn nhau vậy?
GEN 42:2 Tao nghe ở Ai-cập có thóc lúa. Hãy đi xuống đó mua thóc cho chúng ta ăn để khỏi chết.”
GEN 42:3 Vậy mười anh em Giô-xép liền đi xuống Ai-cập mua thóc lúa.
GEN 42:4 Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em ruột Giô-xép đi với họ vì sợ lỡ rủi ro xảy ra cho cậu.
GEN 42:5 Các con trai của Ít-ra-en cùng đi với nhiều người xuống Ai-cập mua ngũ cốc vì dân chúng Ca-na-an cũng lâm nạn đói.
GEN 42:6 Lúc đó Giô-xép làm tể tướng Ai-cập. Người nào đến mua ngũ cốc thì ông bán. Các anh Giô-xép đến quì mọp trước mặt Giô-xép.
GEN 42:7 Khi thấy họ, Giô-xép nhận ra ngay nhưng giả bộ không biết. Ông gắt gỏng hỏi, “Các anh ở đâu tới?” Họ trả lời, “Dạ chúng tôi từ xứ Ca-na-an đến để mua lương thực.”
GEN 42:8 Giô-xép biết là anh em mình, nhưng họ lại không nhận ra Giô-xép.
GEN 42:9 Giô-xép nhớ lại mấy chiêm bao về các anh em quì mọp trước mặt mình. Ông quát, “Các anh là lũ do thám đến đây để xem chỗ yếu ớt trong xứ ta!”
GEN 42:10 Nhưng các anh em phân trần, “Không phải đâu, thưa ngài. Kẻ tôi tớ ngài chỉ đến để mua lương thực thôi.
GEN 42:11 Chúng tôi là anh em cùng một cha. Chúng tôi là dân lương thiện chứ đâu phải do thám.”
GEN 42:12 Giô-xép nhất quyết, “Không! Các anh chỉ đến dòm ngó các chỗ sơ hở của xứ ta mà thôi!”
GEN 42:13 Họ giải thích, “Chúng tôi là mười trong số mười hai anh em, con của cùng một cha. Chúng tôi sống trong xứ Ca-na-an. Thằng út hiện ở với cha tôi, còn đứa em nữa thì chết rồi.”
GEN 42:14 Nhưng Giô-xép bảo họ, “Ta nói đúng rồi! Các anh là lũ do thám!
GEN 42:15 Nhưng ta cho một cơ hội để các anh chứng tỏ mình nói thật. Ta chỉ mạng sống vua mà thề rằng các anh không được phép rời nơi đây cho đến khi đứa em út xuống đây.
GEN 42:16 Một người trong các anh đi về mang em út xuống. Những người còn lại phải ngồi tù ở đây để ta xem các anh nói thật hay không. Nếu không thì ta chỉ mạng sống vua mà tin chắc rằng các anh là lũ do thám.”
GEN 42:17 Rồi Giô-xép giam họ trong ba ngày.
GEN 42:18 Đến ngày thứ ba Giô-xép bảo họ, “Ta kính sợ Thượng Đế. Các anh hãy làm như sau thì ta sẽ để cho các anh sống:
GEN 42:19 Nếu các anh quả là người lương thiện thì một người trong các anh phải ở lại đây ngồi tù còn những người khác đi về mang thóc cứu đói cho gia đình các anh,
GEN 42:20 rồi mang em trai út xuống đây cho ta. Các anh làm như thế thì ta mới tin các anh nói thật, và các anh mới khỏi chết.” Các anh em đồng ý.
GEN 42:21 Họ bảo nhau, “Tụi mình bị phạt vì tội đã hại em mình. Nó lâm cảnh khổ van xin chúng mình giúp đỡ mà chúng mình không chịu nghe. Bởi vậy mà bây giờ chúng mình mới lâm cảnh khốn khó thế nầy.”
GEN 42:22 Ru-bên lên tiếng bảo họ, “Tao đã bảo tụi bây đừng làm hại nó mà tụi bây không nghe, nên bây giờ mình mới phải đền tội vì việc ác mình làm cho nó.”
GEN 42:23 Khi Giô-xép nói chuyện với các anh, ông dùng người thông dịch, nên họ tưởng Giô-xép không hiểu những gì họ nói riêng với nhau.
GEN 42:24 Giô-xép liền rời họ, bước ra ngoài và khóc. Ít phút sau ông trở lại nói chuyện với họ. Ông bắt trói Xi-mê-ôn trước mặt các anh em.
GEN 42:25 Rồi bảo các đầy tớ mình đổ thóc đầy bao của các anh em và để tiền họ đã trả mua thóc lại trong bao. Các đầy tớ cũng được lệnh cung cấp cho họ đủ lương thực đi đường. Các đầy tớ làm y như thế.
GEN 42:26 Vậy các anh em chất thóc lên lưng lừa rồi lên đường.
GEN 42:27 Khi họ dừng lại nghỉ đêm thì một anh em mở bao ra lấy thóc cho lừa ăn thấy tiền của mình nằm trong bao.
GEN 42:28 Anh bảo các anh em kia, “Tiền tôi mua thóc được trả lại đây. Nằm ngay trong bao nầy!” Họ đâm hoảng và bảo nhau, “Thượng Đế làm gì cho chúng ta đây?”
GEN 42:29 Các anh em trở về cùng Gia-cốp trong xứ Ca-na-an thuật lại cho ông nghe mọi việc.
GEN 42:30 Họ thuật, “Ông quan xứ đó ăn nói cộc cằn với chúng con. Ông ta buộc tội chúng con là sang để do thám,
GEN 42:31 nhưng chúng con bảo chúng con là người lương thiện không phải do thám.
GEN 42:32 Chúng con bảo ông ta rằng, ‘Chúng tôi là mười anh em cùng một cha. Một đứa em đã mất tích còn đứa em út hiện đang ở với cha chúng tôi trong xứ Ca-na-an.’
GEN 42:33 Ông quan xứ đó bảo chúng con, ‘Đây là cách chứng tỏ các anh là người lương thiện: Để một người trong các anh lại đây, còn các anh mang thóc về cứu đói cho gia đình các anh,
GEN 42:34 rồi mang đứa em út xuống đây thì ta mới tin rằng các anh là người lương thiện, không phải do thám. Sau đó ta sẽ trả người các anh đã để lại làm con tin, rồi các anh sẽ được tự do đi lại trong xứ ta.’”
GEN 42:35 Khi họ đổ bao ra thì ai nấy đều thấy tiền của mình nằm trong bao. Thấy vậy, họ và người cha đều vô cùng sợ hãi.
GEN 42:36 Gia-cốp, cha họ bảo, “Tụi bây cướp mất các con tao. Giô-xép mất tích rồi, Xi-mê-ôn cũng đi luôn, rồi bây giờ bay còn lăm le bắt Bên-gia-min đi nữa à! Mọi chuyện đều trái ý tao cả.”
GEN 42:37 Ru-bên liền thưa với cha rằng, “Cha ơi, nếu con không mang Bên-gia-min về thì cha cứ việc giết hai đứa con trai của con đi. Cha hãy giao em cho con, con sẽ mang nó về bình yên cho cha.”
GEN 42:38 Nhưng Gia-cốp nhất quyết, “Tao không cho Bên-gia-min đi với tụi bay đâu. Anh nó chết rồi, bây giờ chỉ còn có một mình nó thôi. Lỡ có chuyện gì xảy ra cho nó trong khi đi xuống Ai-cập thì tao chỉ có nước rầu rĩ cho đến ngày chết.”
GEN 43:1 Lúc đó trong xứ Ca-na-an vẫn bị đói kém trầm trọng.
GEN 43:2 Sau khi gia đình Gia-cốp ăn hết thóc mang về từ Ai-cập thì Gia-cốp bảo các con, “Hãy đi xuống Ai-cập mua thêm thóc để chúng ta ăn.”
GEN 43:3 Nhưng Giu-đa thưa với Gia-cốp, “Ông quan xứ đó cảnh cáo chúng con rằng, ‘Nếu các anh không mang em của các anh xuống thì đừng mong thấy mặt ta.’
GEN 43:4 Nếu cha cho Bên-gia-min đi với chúng con thì chúng con sẽ xuống đó mua lương thực.
GEN 43:5 Nhưng nếu cha không cho Bên-gia-min đi thì chúng con sẽ không đi. Ông quan xứ đó nói trước là ‘không mang Bên-gia-min xuống thì khỏi thấy mặt ông ta.’”
GEN 43:6 Ít-ra-en bảo, “Sao tụi bay nói cho ông ta biết là tụi bay còn một em trai nữa? Tụi bây thật gây rắc rối cho tao.”
GEN 43:7 Các anh em đáp, “Ông ấy gạn hỏi chúng con về gia đình ta kỹ lắm. Ông hỏi, ‘Cha các anh còn sống không? Các anh còn anh em trai nào khác không?’ Chúng con phải trả lời mọi câu hỏi của ông ta. Làm sao chúng con biết được ông ta sẽ đòi chúng con mang em trai nữa xuống?”
GEN 43:8 Giu-đa thưa cùng Gia-cốp, cha mình, rằng, “Xin cha để Bên-gia-min đi với con, chúng con sẽ lên đường ngay để chúng con, cha và con cháu chúng con khỏi chết đói.
GEN 43:9 Con bảo đảm với cha nó sẽ bình yên vô sự vì con sẽ chịu trách nhiệm về nó. Nếu con không mang nó về cho cha, thì cha cứ buộc tội con suốt đời.
GEN 43:10 Nếu chúng ta không mất thì giờ vì vụ nầy thì chúng con đã đi về được hai chuyến rồi.”
GEN 43:11 Ít-ra-en, cha họ, liền nói rằng, “Nếu sự thể đã như vậy thì các con phải làm thế nầy: Hãy mang theo một vài món sản phẩm tốt nhất của xứ ta trong bao các con để biếu người đó như thuốc thơm, mật ong, hương liệu, mộc dược, hạt đào, và hạnh nhân.
GEN 43:12 Lần nầy mang theo gấp đôi số tiền lần trước để trả lại họ số tiền họ đã bỏ lại trong bao các con. Chắc họ lầm lẫn đó thôi.
GEN 43:13 Các con có thể mang Bên-gia-min theo. Thôi các con lên đường gặp người đó đi.
GEN 43:14 Ta cầu xin Thượng Đế Toàn Năng khiến cho ông quan đó thương xót các con để cho Xi-mê-ôn và Bên-gia-min trở về. Còn nếu cha phải mất mấy đứa con thì cha đành chịu vậy!”
GEN 43:15 Vậy các anh em mang quà biếu theo. Họ mang theo gấp đôi số tiền đã mang lần trước, cũng mang Bên-gia-min theo nữa. Họ vội vàng đi xuống Ai-cập và ra trình diện Giô-xép.
GEN 43:16 Khi Giô-xép thấy Bên-gia-min đến với họ thì ông bảo người quản gia, “Mang những người đó vào nhà ta rồi giết gia súc làm tiệc đi. Trưa nay họ sẽ ăn ở với ta.”
GEN 43:17 Người đầy tớ làm theo điều Giô-xép dặn và mang họ vào nhà Giô-xép.
GEN 43:18 Khi được đưa vào nhà Giô-xép thì các anh em sợ hãi bảo nhau, “Chúng ta bị đưa vào đây chắc vì món tiền người nào bỏ lại trong bao chúng ta trong chuyến trước. Có lẽ ông nầy muốn tấn công chúng ta, bắt chúng ta làm nô lệ, rồi cướp lừa chúng ta chăng.”
GEN 43:19 Cho nên các anh em bước đến gần cửa hỏi quản gia của Giô-xép,
GEN 43:20 “Ông ơi, chúng tôi lần trước đến đây mua lương thực.
GEN 43:21 Đang khi đi về chúng tôi nghỉ đêm, mở bao ra thì thấy tiền của mỗi chúng tôi nằm trong bao. Bây giờ chúng tôi có mang theo số tiền đó để trả lại cho ông.
GEN 43:22 Chúng tôi cũng mang thêm tiền để mua lương thực lần nầy. Chúng tôi không biết ai đã bỏ tiền lại trong bao chúng tôi.”
GEN 43:23 Nhưng người đầy tớ trấn an, “Không sao, các anh đừng lo. Thượng Đế của các anh, Thượng Đế của cha các anh có lẽ đã bỏ tiền trong bao các anh đó. Lần trước tôi đã nhận đủ tiền mua thóc của các anh rồi.” Rồi người đầy tớ mang Xi-mê-ôn ra cho họ.
GEN 43:24 Người đầy tớ dẫn họ vào nhà Giô-xép, cho họ nước rửa chân rồi lấy thức ăn cho lừa.
GEN 43:25 Họ chuẩn bị quà biếu Giô-xép khi ông trở về lúc trưa vì họ nghe sẽ ăn chung với Giô-xép ở đó.
GEN 43:26 Khi Giô-xép về nhà thì các anh em biếu ông món quà họ đã mang vào nhà, rồi họ cúi mọp mình trước mặt ông.
GEN 43:27 Giô-xép hỏi thăm sức khoẻ họ. Ông hỏi, “Sức khoẻ của ông cha già mà các anh nói với tôi ra sao? Ông còn sống không?”
GEN 43:28 Các anh em trả lời, “Kẻ đầy tớ ông, là cha tôi, khoẻ và vẫn còn sống.” Họ lại cúi mọp trước Giô-xép để tỏ lòng tôn kính.
GEN 43:29 Khi Giô-xép nhìn thấy em mình là Bên-gia-min, tức em cùng mẹ với mình thì hỏi, “Đây có phải là em út mà các anh nói với tôi không?” Rồi ông bảo Bên-gia-min, “Con ơi, nguyện Thượng Đế thương xót con!”
GEN 43:30 Giô-xép vội vàng bước ra vì ông không cầm được nước mắt khi nhìn thấy Bên-gia-min, em mình. Giô-xép bước vào phòng trong để khóc.
GEN 43:31 Xong, ông rửa mặt và bước ra. Ông lấy lại bình tĩnh bảo, “Hãy dọn ăn đi.”
GEN 43:32 Vậy họ dọn cho Giô-xép một bàn riêng, các anh em ông ăn một bàn riêng, còn những người Ai-cập cùng dự tiệc thì ngồi ở một bàn khác vì người Ai-cập không chịu ăn chung với người Hê-bơ-rơ.
GEN 43:33 Bàn của các anh em Giô-xép đặt đối diện với bàn của ông, và được xếp ngồi theo thứ tự tuổi tác, từ lớn tuổi nhất đến nhỏ tuổi nhất. Họ nhìn nhau vì quá sức kinh ngạc.
GEN 43:34 Thức ăn được mang từ bàn Giô-xép đến họ, nhưng Bên-gia-min được phần ăn gấp năm lần những người khác. Các anh em Giô-xép tự do ăn uống với ông.
GEN 44:1 Sau đó Giô-xép ra lệnh cho quản gia. Ông bảo, “Hãy đổ thóc đầy bao của họ, họ mang được bao nhiêu cho họ bấy nhiêu, rồi bỏ lại tiền của họ trong bao.
GEN 44:2 Hãy lén bỏ ly bạc của ta trong bao của đứa em út cùng với tiền của nó mua thóc.” Quản gia làm y như điều Giô-xép căn dặn.
GEN 44:3 Sáng sớm các anh em cỡi lừa lên đường về.
GEN 44:4 Họ chưa đi xa khỏi thành bao nhiêu thì Giô-xép bảo quản gia, “Hãy đuổi theo những người đó. Khi đuổi kịp rồi thì hỏi họ, ‘Sao các anh lấy dữ trả lành? Sao mấy anh ăn cắp cái ly bạc của chủ tôi?
GEN 44:5 Cái ly mà các anh ăn cắp là đồ chủ ta dùng để uống và để bói toán đó. Các anh làm chuyện thật gian ác!’”
GEN 44:6 Quản gia đuổi kịp họ và nói với họ y như Giô-xép dặn.
GEN 44:7 Nhưng các anh em bảo quản gia, “Tại sao ông lại nói thế? Chúng tôi đời nào làm chuyện ấy!
GEN 44:8 Chúng tôi mang tiền chúng tôi tìm thấy trong bao từ xứ Ca-na-an để trả lại cho ông. Làm sao có chuyện chúng tôi ăn cắp vàng bạc từ nhà chủ ông được?
GEN 44:9 Nếu ông tìm được cái ly bạc trong bao của ai trong chúng tôi thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ các ông.”
GEN 44:10 Người đầy tớ bảo, “Thôi thì hãy làm như các anh nói. Ai lấy ly đó phải làm nô lệ cho tôi, còn các anh có thể tự do đi về.”
GEN 44:11 Thế là mỗi người vội vàng hạ bao mình xuống đất và mở ra.
GEN 44:12 Người đầy tớ lục soát hết các bao, của người lớn tuổi nhất cho đến người nhỏ tuổi nhất và tìm được cái ly trong bao của Bên-gia-min.
GEN 44:13 Các anh em xé quần áo mình để bày tỏ sự bực tức. Rồi họ chất các bao lên lưng lừa và đi trở lại thành.
GEN 44:14 Khi Giu-đa và các anh em trở về nhà Giô-xép thì ông vẫn còn ở đó, nên các anh em cúi mọp mình xuống đất trước mặt ông.
GEN 44:15 Giô-xép hỏi họ, “Các anh làm chuyện gì vậy? Các anh không biết một người như ta có thể giải đoán mọi việc bằng ma thuật sao?”
GEN 44:16 Giu-đa thưa, “Thưa Ngài, chúng tôi biết ăn nói làm sao bây giờ? Làm sao chúng tôi chứng minh được là chúng tôi vô tội? Thượng Đế đã phơi bày tội chúng tôi ra, nên tất cả chúng tôi sẽ làm nô lệ cho ngài chứ không phải chỉ một mình Bên-gia-min thôi.”
GEN 44:17 Nhưng Giô-xép đáp, “Ta không bắt tất cả các anh làm nô lệ! Người nào ăn cắp cái ly phải làm nô lệ ta còn tất cả các anh có thể đi về bình yên với cha các anh.”
GEN 44:18 Giu-đa đến nói với Giô-xép, “Thưa Ngài xin cho phép tôi nói thẳng với ngài và đừng nổi giận. Tôi biết ngài có quyền như vua Ai-cập vậy.
GEN 44:19 Lần trước khi chúng tôi đến đây ngài hỏi, ‘Các anh có cha hay anh em nào khác nữa không?’
GEN 44:20 Chúng tôi thưa, ‘Chúng tôi có một ông cha già và còn một em nữa, sinh ra trong khi cha chúng tôi đã cao tuổi. Anh của đứa em út đó đã qua đời rồi, nên nó là đứa con trai duy nhất mẹ nó sinh ra mà còn sống, nên cha tôi cưng nó lắm.’
GEN 44:21 Rồi ngài bảo, ‘Hãy mang đứa em đó xuống đây. Ta muốn thấy mặt nó.’
GEN 44:22 Chúng tôi thưa với ngài, ‘Thằng út đó không thể xa cha nó được vì nếu nó ra đi, cha nó sẽ chết.’
GEN 44:23 Nhưng ngài bảo, ‘Các anh không đem đứa em út xuống thì đừng mong thấy mặt ta nữa.’
GEN 44:24 Cho nên chúng tôi trở về cùng cha và thuật lại cho cha chúng tôi điều ngài nói.
GEN 44:25 Sau đó cha chúng tôi bảo, ‘Hãy đi mua thêm lương thực đi.’
GEN 44:26 Chúng tôi thưa, ‘Chúng tôi không thể đi mà không có em út theo. Vì nếu không mang em út theo thì chúng tôi không thể được gặp ông quan đó.’
GEN 44:27 Cha chúng tôi bảo: Các con biết vợ của cha sinh cho cha hai con trai.
GEN 44:28 Khi một đứa ra đi biệt tích thì cha nghĩ, ‘Chắc nó bị thú dữ xé xác rồi, và từ đó đến nay cha không thấy mặt nó.
GEN 44:29 Bây giờ các con lại muốn mang luôn thằng nầy đi nữa. Lỡ có chuyện chẳng lành xảy ra cho nó thì cha sẽ đau khổ suốt đời cho đến ngày chết.’
GEN 44:30 Bây giờ nếu chúng tôi trở về cùng cha chúng tôi mà không mang em út theo thì sao? Thằng út quan trọng trong đời sống cha tôi đến nỗi
GEN 44:31 nếu cha chúng tôi không thấy thằng nhỏ đi về với chúng tôi thì chắc chắn ông sẽ chết. Chúng tôi sẽ mang tội vì đã gây khổ não giết chết cha già.
GEN 44:32 Tôi đã bảo đảm với cha tôi là thằng nhỏ sẽ bình yên. Tôi cam kết với cha tôi, ‘Nếu con không mang nó về thì cha cứ buộc tội con mãn đời.’
GEN 44:33 Nên bây giờ tôi tình nguyện ở lại đây làm nô lệ cho ngài, nhưng xin cho thằng nhỏ đi về với các anh em nó.
GEN 44:34 Tôi không thể trở về cùng cha tôi mà không có thằng nhỏ đi theo. Tôi không nỡ nào thấy cha tôi đau khổ.”
GEN 45:1 Giô-xép không cầm lòng nổi trước mặt các đầy tớ mình được nữa cho nên ông quát lên, “Các ngươi ra ngoài hết đi!” Khi chỉ còn có các anh em thì Giô-xép tỏ thật cho họ biết lai lịch của mình.
GEN 45:2 Giô-xép khóc lớn đến nỗi người Ai-cập cũng nghe, và những người làm việc trong cung vua cũng nghe nữa.
GEN 45:3 Ông bảo các anh em, “Tôi là Giô-xép đây. Cha tôi còn sống không?” Nhưng các anh em không biết trả lời ra sao, vì quá khiếp sợ.
GEN 45:4 Giô-xép bảo họ, “Các anh em hãy lại gần đây.” Khi họ bước lại gần thì ông bảo, “Tôi là Giô-xép, người em mà các anh đã bán làm nô lệ sang Ai-cập.
GEN 45:5 Bây giờ xin đừng lo âu hay tức giận với mình vì đã bán tôi xuống đây. Thượng Đế đã sai tôi xuống trước các anh em để cứu mạng sống nhiều người.
GEN 45:6 Nạn đói đã kéo dài hai năm nay, không trồng cấy gì được, còn năm năm nữa cũng sẽ bị mất mùa.
GEN 45:7 Vì thế Thượng Đế đã sai tôi sang đây trước các anh em, để anh em có con cái nối dòng trên đất và giữ cho anh em khỏi chết nhờ đường lối kỳ diệu.
GEN 45:8 Không phải anh em sai tôi đến đây đâu mà là Thượng Đế. Ngài đã đặt tôi làm cố vấn chính của vua Ai-cập. Tôi quản trị cung vua và cai trị toàn xứ Ai-cập.”
GEN 45:9 Vậy anh em hãy mau về với cha. Thưa với cha rằng, “Giô-xép, con trai cha nói: ‘Thượng Đế đã đặt con làm tể tướng xứ Ai-cập. Xin cha hãy mau xuống với con.
GEN 45:10 Xin định cư trong đất Gô-sen để được gần con. Các con cháu của cha, bầy gia súc và tài sản của cha cũng sẽ ở gần con.
GEN 45:11 Trong năm năm đói kém sắp đến con sẽ lo cho cha. Cha và cả nhà ta sẽ không phải chết đói.’
GEN 45:12 Bây giờ các anh đang thấy tận mắt, cũng như Bên-gia-min thấy, rằng người đang nói với các anh đây chính là Giô-xép.
GEN 45:13 Hãy nói cho cha biết là tôi rất có quyền hành trong xứ Ai-cập. Kể lại cho cha nghe những gì anh em thấy. Thôi anh em hãy mau về đón cha xuống đây cho tôi.”
GEN 45:14 Rồi Giô-xép ôm em mình là Bên-gia-min và khóc. Bên-gia-min cũng khóc.
GEN 45:15 Giô-xép ôm hôn các anh em mình và khóc. Sau đó các anh em nói chuyện với Giô-xép.
GEN 45:16 Khi vua Ai-cập và quần thần nghe tin các anh em Giô-xép đã đến thì họ rất mừng.
GEN 45:17 Vua liền bảo Giô-xép, “Hãy bảo anh em ngươi chất đồ lên lưng lừa và trở về Ca-na-an
GEN 45:18 mang cha họ và tất cả các gia đình xuống đây. Ta sẽ dành cho họ vùng đất tốt nhất trong xứ Ai-cập. Họ sẽ được ăn thức ăn tốt nhất ở đây.
GEN 45:19 Bảo họ hãy lấy mấy chiếc xe từ Ai-cập để chở con cái, vợ và cha họ xuống.
GEN 45:20 Bảo họ đừng lo mang theo tài sản gì vì chúng ta sẽ cấp cho họ những thức tốt nhất của Ai-cập.”
GEN 45:21 Các con trai của Ít-ra-en làm y như vậy. Giô-xép cho họ xe cộ như vua đã dặn và mang theo thức ăn đi đường.
GEN 45:22 Ông cho mỗi anh em áo quần để thay nhưng ông cho Bên-gia-min năm bộ để thay và khoảng bảy cân rưỡi bạc.
GEN 45:23 Giô-xép cũng gởi cho cha mình mười con lừa chở theo những vật tốt nhất của Ai-cập và mười con lừa cái chở theo thóc, bánh và các thức ăn khác cho cha mình trên đường đi.
GEN 45:24 Rồi Giô-xép tiễn các anh em lên đường. Khi họ khởi hành, Giô-xép dặn họ, “Đi về dọc đường đừng cãi nhau nhé!”
GEN 45:25 Các anh em rời Ai-cập và về cùng cha mình, là Gia-cốp, trong đất Ca-na-an.
GEN 45:26 Họ thuật lại cho ông, “Giô-xép vẫn còn sống và hiện nay cai trị xứ Ai-cập.” Ông cha kinh ngạc và không tin họ.
GEN 45:27 Nhưng các anh em kể lại mọi điều Giô-xép nói và khi Gia-cốp thấy các xe cộ Giô-xép gởi đến để mang mình về Ai-cập thì ông cảm thấy an lòng.
GEN 45:28 Ít-ra-en bảo, “Bây giờ cha tin các con. Giô-xép, con ta vẫn còn sống. Ta phải đi thăm nó trước khi ta qua đời.”
GEN 46:1 Vì thế Ít-ra-en thu góp tài sản mình và lên đường. Ông đến Bê-e-sê-ba và dâng của lễ cho Thượng Đế của Y-sác, cha mình.
GEN 46:2 Ban đêm Thượng Đế nói chuyện với Ít-ra-en trong mộng rằng, “Gia-cốp, Gia-cốp.” Gia-cốp thưa, “Dạ.”
GEN 46:3 Thượng Đế phán, “Ta là Thượng Đế, Thượng Đế của cha con. Đừng sợ khi đi xuống Ai-cập, vì ta sẽ khiến cho dòng dõi con trở thành một dân đông ở đó.
GEN 46:4 Ta sẽ cùng đi xuống Ai-cập với con và sẽ mang con từ Ai-cập trở về. Tay của Giô-xép sẽ vuốt mắt con nhắm lại khi qua đời.”
GEN 46:5 Rồi Gia-cốp rời Bê-e-sê-ba. Các con trai của Ít-ra-en đỡ cha mình và vợ con họ lên các xe mà vua Ai-cập gởi đến.
GEN 46:6 Họ cũng mang theo các gia súc và tài sản họ có ở Ca-na-an. Vậy Gia-cốp đi xuống Ai-cập cùng với con cháu mình
GEN 46:7 gồm các con trai, cháu trai, các con gái và cháu gái. Ông mang tất cả gia đình xuống Ai-cập.
GEN 46:8 Sau đây là tên các con Ít-ra-en cùng đi xuống Ai-cập (tức Gia-cốp và các con cháu). Ru-bên là con trưởng nam của Gia-cốp.
GEN 46:9 Các con trai của Ru-bên là Ha-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
GEN 46:10 Các con trai của Xi-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha và Sa-un (người nầy là con của Xi-mê-ôn, do một người đàn bà Ca-na-an sinh ra).
GEN 46:11 Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Cô-hát và Me-ra-ri.
GEN 46:12 Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, Sê-la, Phê-rê và Xê-ra (nhưng Ê-rơ và Ô-nan đã qua đời trong xứ Ca-na-an). Các con trai của Phê-rê là Hết-rôn và Ha-mun.
GEN 46:13 Các con trai của Y-xa-ca là Tô-la, Phu-a, Gia-súp, và Sim-rôn.
GEN 46:14 Các con trai của Xê-bu-lôn là Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên.
GEN 46:15 Đó là các con trai của Lê-a và Gia-cốp sinh ở miền tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi, ngoài cô con gái Đi-na. Có tất cả là ba mươi ba người trong nhánh nầy của gia đình Gia-cốp.
GEN 46:16 Các con trai của Gát là Xê-phôn, Ha-ghi, Su-ni, Ết-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li.
GEN 46:17 Các con trai của A-se là Im-na, Ít-va, Ít-vi, và Bê-ri-a. Em gái họ là Sê-ra. Các con trai của Bê-ri-a là Hê-be và Manh-ki-ên.
GEN 46:18 Đó là các con trai do Xinh-ba sinh ra, bà là nữ tì mà La-ban cho Lê-a, con gái mình. Nhánh nầy của gia đình Gia-cốp có tất cả là mười sáu người.
GEN 46:19 Các con trai mà Ra-chên vợ Gia-cốp sinh ra là Giô-xép và Bên-gia-min.
GEN 46:20 Trong xứ Ai-cập, Giô-xép sinh ra Ma-na-xe và Ép-ra-im do A-sê-nát, vợ mình tức con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành On.
GEN 46:21 Các con trai của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-ke, Ách-bên, Ghê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rốt, Múp-bim, Húp-bim và A-rát.
GEN 46:22 Đó là các con cháu sinh ra qua Ra-chên, vợ Gia-cốp. Nhánh nầy của gia đình Gia-cốp có tất cả là mười bốn người.
GEN 46:23 Con trai của Đan là Hu-sim.
GEN 46:24 Các con trai của Nép-ta-li là Gia-xi-ên, Gu-ni, Ghê-xe, và Si-lem.
GEN 46:25 Đó là các con trai sinh ra bởi Bi-la, người nữ tì mà La-ban cho Ra-chên, con gái mình. Nhánh nầy có bảy người thuộc gia đình Gia-cốp.
GEN 46:26 Như thế tổng số con cháu trực tiếp của Gia-cốp đi xuống Ai-cập với ông là sáu mươi sáu người, không kể các con dâu của Gia-cốp.
GEN 46:27 Giô-xép sinh ra hai con ở Ai-cập, nên tổng số người trong gia đình Gia-cốp là bảy mươi người.
GEN 46:28 Gia-cốp sai Giu-đa đi trước để gặp Giô-xép ở Gô-sen. Khi Gia-cốp và những người đi theo đến Gô-sen
GEN 46:29 thì Giô-xép chuẩn bị xe đi xuống đón cha mình là Ít-ra-en ở Gô-sen. Khi Giô-xép vừa thấy cha mình, ông ôm chầm lấy cha và khóc thật lâu.
GEN 46:30 Ít-ra-en bảo Giô-xép, “Bây giờ cha có chết cũng vui lòng vì cha đã thấy mặt con và biết con vẫn còn sống.”
GEN 46:31 Giô-xép nói với các anh em và gia đình cha mình rằng, “Tôi sẽ đi báo cho vua hay là gia đình mình đã đến đây. Tôi sẽ nói, ‘Các anh em và gia đình tôi đã rời xứ Ca-na-an đến đây với tôi.
GEN 46:32 Họ làm nghề chăn chiên và nuôi gia súc. Họ có mang theo các bầy gia súc và tài sản.’
GEN 46:33 Khi gọi các anh, vua sẽ hỏi, ‘Các anh làm nghề gì?’
GEN 46:34 Thì phải trả lời như sau: ‘Kẻ tôi tớ vua suốt đời làm nghề chăn nuôi gia súc. Tổ tiên chúng tôi cũng vậy.’ Như thế vua sẽ cho các anh em định cư ở đất Gô-sen, cách xa khỏi người Ai-cập vì dân Ai-cập không thích ở gần những người chăn chiên.”
GEN 47:1 Giô-xép đi gặp vua và thưa, “Cha và các anh em tôi đã từ Ca-na-an đến cùng với các bầy gia súc và tài sản. Họ hiện đang cư ngụ trong đất Gô-sen.”
GEN 47:2 Giô-xép chọn năm anh em để giới thiệu với vua.
GEN 47:3 Vua hỏi họ, “Các anh làm nghề gì?” Họ đáp, “Chúng tôi, kẻ tôi tớ vua, làm nghề chăn chiên giống như tổ tiên chúng tôi.”
GEN 47:4 Họ thưa với vua, “Chúng tôi đến định cư trong xứ nầy vì ở xứ Ca-na-an không có cỏ cho gia súc chúng tôi, và nạn đói kém ở đó thật khủng khiếp. Nên xin vua cho chúng tôi được định cư ở đất Gô-sen.”
GEN 47:5 Vua liền bảo Giô-xép, “Cha và các anh em ngươi đã đến với ngươi,
GEN 47:6 nên ngươi hãy chọn chỗ ở Ai-cập cho họ định cư. Hãy cho cha và anh em ngươi vùng đất tốt nhất; để họ định cư trong đất Gô-sen. Ai trong họ chăn chiên giỏi, thì cử họ chăn chiên và gia súc ta luôn.”
GEN 47:7 Sau đó Giô-xép đưa Gia-cốp, cha mình vào giới thiệu với vua. Gia-cốp chúc phước cho vua.
GEN 47:8 Vua hỏi Gia-cốp, “Cụ bao nhiêu tuổi?”
GEN 47:9 Gia-cốp đáp, “Đời tôi sống lưu lạc đây đó. Cuộc đời tôi ngắn ngủi và đầy gian lao, tôi chỉ mới có một trăm ba mươi tuổi thôi. Các tổ tiên tôi sống lâu hơn tôi.”
GEN 47:10 Rồi Gia-cốp chúc phước cho vua và bước ra.
GEN 47:11 Giô-xép làm theo điều vua dặn, cấp cho cha và các anh em mình vùng đất tốt nhất ở Ai-cập, gần thành Ram-se.
GEN 47:12 Giô-xép cấp cho cha, anh em mình và những người cùng ở với họ đủ lương thực cần dùng.
GEN 47:13 Nạn đói kém càng trở nên trầm trọng. Vì khắp xứ không có lương thực, xứ Ca-na-an và Ai-cập trở nên nghèo khổ.
GEN 47:14 Giô-xép thu hết tất cả tiền bạc trong xứ Ai-cập và Ca-na-an. Dân chúng dùng tiền mua thóc, cho nên Giô-xép mang tiền đó vào kho bạc của vua.
GEN 47:15 Sau một thời gian, khi hết tiền thì dân chúng đến nói cùng Giô-xép, “Xin cấp lương thực cho chúng tôi vì chúng tôi hết tiền rồi. Nếu chúng tôi không có gì ăn, chúng tôi sẽ chết ngay trước mặt ông đó.”
GEN 47:16 Giô-xép bảo, “Nếu các anh không còn tiền thì đưa gia súc cho ta để đổi lấy lương thực.”
GEN 47:17 Vậy dân chúng mang gia súc đến cho Giô-xép rồi ông đổi lương thực cho họ lấy ngựa, chiên, dê, gia súc, và lừa. Trong năm đó dân chúng sống được nhờ lấy gia súc đổi lương thực.
GEN 47:18 Năm sau dân chúng lại đến cùng Giô-xép kêu xin, “Ngài biết chúng tôi không còn tiền nữa, các gia súc chúng tôi cũng thuộc về ngài. Bây giờ chúng tôi chẳng còn gì ngoài bản thân chúng tôi và đất ruộng.
GEN 47:19 Chắc chắn chúng tôi cùng đất ruộng sẽ chết trước mắt ông tại đây. Thôi ông hãy mua chúng tôi và đất ruộng chúng tôi đi và trả bằng lương thực. Chúng tôi sẽ làm nô lệ cho nhà vua. Xin ông hãy cấp hột giống cho chúng tôi trồng để chúng tôi khỏi chết, và để đất khỏi biến thành sa mạc.”
GEN 47:20 Cho nên Giô-xép mua hết đất đai trong xứ Ai-cập cho nhà vua. Tất cả người Ai-cập đều bán ruộng mình cho Giô-xép vì cơn đói kém rất kinh khủng. Vì thế đất ruộng đều thuộc về nhà vua.
GEN 47:21 Tất cả mọi công dân toàn xứ Ai-cập đều trở thành tôi mọi.
GEN 47:22 Chỉ có đất thuộc về các thầy tế lễ là Giô-xép không mua mà thôi. Họ không phải bán đất vì nhà vua trả lương cho họ, nên họ có tiền để mua lương thực.
GEN 47:23 Giô-xép bảo dân chúng, “Nay ta đã mua các ngươi và ruộng nương các ngươi cho nhà vua, ta sẽ cấp hột giống để các ngươi trồng trong ruộng.
GEN 47:24 Đến mùa gặt các ngươi phải giao một phần năm cho vua. Các ngươi được giữ lại bốn phần năm dùng làm giống để trồng trọt và làm lương thực cho mình, gia đình và con cái mình.”
GEN 47:25 Dân chúng thưa cùng Giô-xép, “Ngài đã cứu mạng chúng tôi, nên nếu ngài muốn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho nhà vua.”
GEN 47:26 Vì thế Giô-xép lập ra một luật trong xứ Ai-cập mà ngày nay vẫn còn áp dụng: Một phần năm đất đai thuộc về nhà vua. Chỉ có đất đai của các thầy tế lễ là không thuộc về nhà vua mà thôi.
GEN 47:27 Dân Ít-ra-en tiếp tục sinh sống trong đất Gô-sen thuộc xứ Ai-cập. Họ có tài sản, sinh con đẻ cái thêm nhiều.
GEN 47:28 Gia-cốp sống ở xứ Ai-cập mười bảy năm, hưởng thọ một trăm bốn mươi bảy tuổi.
GEN 47:29 Khi Ít-ra-en biết mình sắp qua đời liền gọi Giô-xép, con mình đến bên cạnh và dặn, “Nếu con thương cha, hãy đặt tay con lên đùi ta. Hãy hứa rằng con sẽ không chôn ta trong đất Ai-cập.
GEN 47:30 Sau khi cha qua đời, hãy mang cha ra khỏi Ai-cập và chôn cha cùng chỗ với tổ tiên cha.” Giô-xép đáp, “Con sẽ làm theo điều cha dặn.”
GEN 47:31 Xong, Gia-cốp bảo, “Con hứa đi.” Giô-xép hứa. Rồi Ít-ra-en sụp xuống bái lạy đang khi dựa trên đầu cây gậy.
GEN 48:1 Sau đó ít lâu Giô-xép nghe tin cha mình mang bệnh nặng nên ông mang Ma-na-xe và Ép-ra-im, hai con trai mình đi thăm Gia-cốp.
GEN 48:2 Khi Giô-xép đến có người báo cho Gia-cốp hay rằng, “Giô-xép, con ông đang đến thăm ông.” Lúc đó Gia-cốp yếu lắm rồi nên phải cố hết sức mới ngồi dậy trên giường được.
GEN 48:3 Gia-cốp bảo Giô-xép, “Thượng Đế Toàn Năng đã hiện ra cùng cha tại Lu-xơ trong đất Ca-na-an và chúc phước cho cha.
GEN 48:4 Ngài bảo cha, ‘Ta sẽ ban cho con thật đông con. Ta sẽ lập con làm cha của nhiều dân tộc. Ta sẽ cho dòng dõi con đất nầy đời đời.’
GEN 48:5 Hai con trai của con sinh ra trong xứ Ai-cập trước khi cha xuống đây sẽ được xem như con của cha. Ép-ra-im và Ma-na-xe sẽ là con của cha như Ru-bên và Xi-mê-ôn vậy.
GEN 48:6 Nhưng nếu con có con nào khác thì chúng nó sẽ là con của con. Đất của chúng nó sẽ là một phần đất cấp cho Ép-ra-im và Ma-na-xe.
GEN 48:7 Khi cha từ miền tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi trở về thì Ra-chên qua đời trong xứ Ca-na-an trong khi chúng ta đang đi về Ếp-rát. Cha rất buồn khổ và cha mai táng mẹ con ở đó.” (Ếp-rát bây giờ là Bết-lê-hem.)
GEN 48:8 Khi Ít-ra-en thấy mấy đứa con trai Giô-xép thì hỏi, “Mấy đứa nầy là ai vậy?”
GEN 48:9 Giô-xép trả lời, “Đây là các con mà Thượng Đế đã ban cho con trong xứ Ai-cập.” Ít-ra-en bảo, “Mang chúng nó đến gần cha để cha chúc phước cho chúng nó.”
GEN 48:10 Lúc đó mắt Ít-ra-en kém lắm vì đã cao tuổi. Giô-xép đem các con lại gần ông. Ít-ra-en ôm hôn chúng nó.
GEN 48:11 Ông bảo Giô-xép, “Cha tưởng sẽ chẳng bao giờ được gặp mặt con lại, mà bây giờ Thượng Đế đã cho cha thấy mặt con và các con của con.”
GEN 48:12 Rồi Giô-xép đỡ các con mình ra khỏi lòng Ít-ra-en và cúi xuống đất lạy.
GEN 48:13 Ông để Ép-ra-im bên phải mình và Ma-na-xe bên trái. (Ép-ra-im ở gần tay trái và Ma-na-xe gần tay phải của Ít-ra-en.) Giô-xép đưa hai đứa con lại gần Ít-ra-en.
GEN 48:14 Nhưng Ít-ra-en lại tréo tay và đặt tay phải lên đầu Ép-ra-im là em và đặt tay trái lên đầu Ma-na-xe là con trưởng nam.
GEN 48:15 Ít-ra-en chúc phước cho Giô-xép như sau, “Các tổ tiên cha là Áp-ra-ham và Y-sác đã phục vụ Thượng Đế chúng ta. Ngài như người chăn đã dẫn dắt cha suốt đời.
GEN 48:16 Ngài như thiên sứ đã giải thoát cha khỏi mọi cảnh khốn khó. Nay cha cầu xin Ngài ban phước cho hai đứa nầy. Nguyện danh cha được biết đến qua chúng nó, và nguyện danh của các tổ tiên chúng ta là Áp-ra-ham và Y-sác cũng được biết đến qua chúng nó. Nguyện chúng nó có đông con cái.”
GEN 48:17 Khi Giô-xép thấy cha mình đặt tay phải lên đầu Ép-ra-im thì không chịu. Ông liền dời tay cha mình từ đầu Ép-ra-im qua đầu Ma-na-xe.
GEN 48:18 Giô-xép bảo với cha, “Cha lộn rồi. Ma-na-xe là con đầu lòng. Xin cha đặt tay trên đầu nó mới đúng.”
GEN 48:19 Nhưng cha ông không chịu và bảo, “Cha biết, con ơi, cha biết mà. Ma-na-xe sẽ trở nên lớn mạnh và có đông con cái nhưng em nó sẽ lớn mạnh hơn nó nữa. Con cháu nó sẽ đông đến nỗi thành một dân tộc được.”
GEN 48:20 Hôm ấy Ít-ra-en chúc phước cho chúng nó và bảo, “Khi Ít-ra-en nhận được phước lành thì người ta sẽ nói: ‘Nguyện CHÚA làm cho con như Ép-ra-im và Ma-na-xe.’” Đó là lý do tại sao ông đặt Ép-ra-im trên Ma-na-xe.
GEN 48:21 Rồi Ít-ra-en nói cùng Giô-xép, “Con hãy nhìn cha đây. Cha sắp qua đời rồi nhưng Thượng Đế sẽ ở với con và đưa con về nơi quê hương của tổ tiên con.
GEN 48:22 Ta đã cho con điều mà cha không cho các anh con tức là đất Sê-chem mà cha đã dùng gươm và cung tên mà chiếm lấy từ dân A-mô-rít.”
GEN 49:1 Rồi Gia-cốp gọi các con trai đến gần mình. Ông bảo, “Các con hãy lại gần cha, cha sẽ cho các con biết những chuyện sẽ xảy ra trong tương lai.
GEN 49:2 Các con trai Gia-cốp hãy lắng tai nghe. Hãy nghe lời của Ít-ra-en, cha các con.
GEN 49:3 Ru-bên, con trưởng nam ta, là sức mạnh của cha. Con đã chứng tỏ mình có thể làm cha được. Con đóng vai trò cao nhất trong các con trai cha, con cũng là người hùng mạnh nhất.
GEN 49:4 Nhưng con giống như nước lụt, không biết tự chế ngự, nên con không thể lãnh đạo các em con được. Vì con đã vào giường cha và sỉ nhục cha bằng cách ăn nằm với đứa nữ tì của cha.
GEN 49:5 Xi-mê-ôn và Lê-vi là hai anh em dùng gươm giáo để làm chuyện hung bạo.
GEN 49:6 Ta sẽ không tham gia chuyện bàn bạc bí mật của chúng nó. Ta cũng sẽ không họp với chúng nó để âm mưu việc ác. Chúng nó giết người vì nổi giận. Chúng chặt nhượng bò đực chỉ để cho vui.
GEN 49:7 Nguyện cơn giận của chúng nó bị nguyền rủa vì quá hung bạo. Nguyện sự hung bạo của chúng nó bị nguyền rủa vì nó quá hung ác. Ta sẽ phân chia chúng ra trong các lãnh thổ Gia-cốp và phân tán chúng ra trong các lãnh thổ Ít-ra-en.
GEN 49:8 Còn Giu-đa, các anh em sẽ ca ngợi con. Con sẽ nắm cổ kẻ thù, các anh em con sẽ quì lạy trước mặt con.
GEN 49:9 Giu-đa giống như sư tử tơ. Con ơi, con từ chuyến săn mồi về. Giống như sư tử, con duỗi thân ra nằm xuống nghỉ ngơi. Không ai dám đánh thức con dậy.
GEN 49:10 Các vua sẽ từ gia đình Giu-đa mà ra; Con cháu Giu-đa lúc nào cũng có người ngồi trên ngôi vua. Giu-đa sẽ cai trị cho đến khi Đấng Si-lô hiện đến, các quốc gia sẽ vâng phục Ngài.
GEN 49:11 Ngài cột lừa mình nơi gốc nho, cột lừa con mình nơi nhánh tốt nhất. Ngài dùng rượu để giặt quần áo và rượu ngon nhất để giặt áo dài mình.
GEN 49:12 Mắt ngài đậm như màu rượu, răng ngài trắng như sữa.
GEN 49:13 Xê-bu-lôn sẽ sống gần biển. Bờ biển của nó là bến an toàn cho tàu bè, đất nó kéo dài đến tận Xi-đôn.
GEN 49:14 Y-xa-ca giống như con lừa dũng mãnh, vừa chở hàng vừa nằm nghỉ.
GEN 49:15 Khi nhìn thấy nơi an nghỉ tốt đẹp và đất đai màu mỡ, nó sẽ lại chất hàng lên lưng và làm tôi mọi trở lại.
GEN 49:16 Đan sẽ cai trị dân mình giống như các chi tộc khác trong Ít-ra-en.
GEN 49:17 Đan sẽ giống như con rắn nằm cạnh đường, con rắn độc nằm cạnh lối đi. Nó sẽ cắn vó ngựa, và người cỡi sẽ té ngửa.
GEN 49:18 Lạy CHÚA, tôi trông đợi sự cứu rỗi của Ngài.
GEN 49:19 Một toán quân cướp sẽ tấn công Gát, nhưng nó sẽ đánh thắng và đuổi chúng đi.
GEN 49:20 Đất A-se sẽ sản xuất nhiều lương thực; nó sẽ cung cấp lương thực cho vua.
GEN 49:21 Nép-ta-li giống như con nai cái chạy rông, sinh ra các nai con xinh đẹp.
GEN 49:22 Giô-xép giống như dây nho sai trái, dây nho tươi tốt được suối nước nhuần tưới, cành lá phủ qua tường.
GEN 49:23 Các tay bắn cung tấn công nó tới tấp, tức giận nhắm bắn nó,
GEN 49:24 Nhưng nó nhắm cung vững vàng. Cánh tay nó vững mạnh. Nó nhận quyền lực từ nơi Thượng Đế Toàn Năng của Gia-cốp và sức mạnh từ Đấng Chăn chiên, Khối Đá của Ít-ra-en.
GEN 49:25 Thượng Đế của cha con sẽ giúp đỡ con. Thượng Đế Toàn Năng sẽ ban phước cho con. Từ trên trời Ngài ban mưa xuống cho con, từ dưới đất các suối phun lên, Ngài ban cho vợ con sinh ra nhiều trẻ thơ,
GEN 49:26 Phước lành của cha con lớn hơn phước lành của các núi cổ xưa nhất, lớn hơn những điều tốt đẹp của các đồi núi lâu đời. Nguyện những phước lành đó ngự trên đầu Giô-xép, trên trán của người đã bị xa lìa anh em.
GEN 49:27 Bên-gia-min như chó sói đói. Buổi sáng nó ăn mồi đã bắt được, và buổi chiều nó chia ra của chiếm được.”
GEN 49:28 Trên đây là mười hai chi tộc Ít-ra-en và những điều cha họ đã nói về họ. Ông ban cho mỗi đứa con phần phước lành mà mỗi đứa đáng nhận.
GEN 49:29 Rồi Ít-ra-en dặn các con như sau, “Cha gần qua đời rồi. Hãy mai táng cha chung với tổ tiên cha trong hang nằm trong ruộng của Ép-rôn người Hê-tít.
GEN 49:30 Hang đó nằm trong đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê thuộc đất Ca-na-an. Áp-ra-ham đã mua cánh đồng và hang đó từ Ép-ôn, người Hê-tít để làm chỗ mai táng.
GEN 49:31 Áp-ra-ham và Sa-ra được mai táng tại đó. Y-sác và vợ là Rê-be-ca cũng được chôn ở đó, cha cũng đã chôn Lê-a vợ cha nơi đó.
GEN 49:32 Cánh đồng và hang trong đồng đó được mua từ người Hê-tít.”
GEN 49:33 Sau khi nói chuyện xong với các con, Gia-cốp nằm xuống. Ông gác chân lên giường, thở hơi cuối cùng và qua đời.
GEN 50:1 Sau khi Gia-cốp qua đời, Giô-xép ôm xác cha, hôn và khóc lóc thảm thiết.
GEN 50:2 Ông truyền lệnh cho các y sĩ chăm sóc cha mình tẩm liệm xác Ít-ra-en, nên họ thi hành thủ tục tẩm liệm để mai táng.
GEN 50:3 Các y sĩ mất bốn mươi ngày để tẩm liệm xác Gia-cốp. Đó là thời gian trung bình. Người Ai-cập có tục lệ than khóc Gia-cốp trong bảy mươi ngày.
GEN 50:4 Sau khi thời kỳ than khóc chấm dứt, Giô-xép bảo các quan cận thần của vua rằng, “Nếu các ông thương tôi thì xin thưa với vua như sau:
GEN 50:5 ‘Khi cha tôi gần qua đời, tôi có hứa với người rằng tôi sẽ mai táng người trong hang nơi đất Ca-na-an, chỗ an táng mà người đã chuẩn bị sẵn cho mình. Vì thế xin cho phép tôi đi mai táng cha tôi rồi sẽ trở về.’”
GEN 50:6 Vua đáp, “Ngươi hãy giữ lời hứa của mình. Đi mai táng cha ngươi đi.”
GEN 50:7 Nên Giô-xép đi mai táng cha mình. Tất cả các quan võ, các quần thần và các nhà lãnh đạo của Ai-cập đều cùng đi với Giô-xép.
GEN 50:8 Tất cả mọi người trong nhà Giô-xép, các anh em ông và những người trong gia đình cha ông đều đi cùng Giô-xép. Họ chỉ để lại các con nhỏ, các bầy gia súc trong đất Gô-sen.
GEN 50:9 Họ đi với Giô-xép bằng xe và ngựa. Toán đi rất đông.
GEN 50:10 Khi đến sân đập lúa của Go-ren A-tát, gần sông Giô-đanh thì họ kêu khóc cho cha của Giô-xép rất thảm thiết. Thời kỳ than khóc của Giô-xép kéo dài bảy ngày.
GEN 50:11 Những người Ca-na-an thấy cảnh bi thảm ở sân đập lúa của A-tát thì bảo nhau, “Những người Ai-cập than khóc thật bi thảm!” Cho nên ngày nay người ta gọi chỗ đó là A-bên-mi-ra-im.
GEN 50:12 Các con của Gia-cốp làm y theo lời trối của cha mình.
GEN 50:13 Họ mang xác ông về đất Ca-na-an và mai táng trong hang nơi đồng ruộng Mặc-bê-la gần Mam-rê. Áp-ra-ham đã mua hang và ruộng đó từ Ép-rôn, người Hê-tít để dùng làm nơi mai táng.
GEN 50:14 Sau khi chôn cất cha xong, Giô-xép trở về Ai-cập cùng với các anh em mình và những người đi theo dự lễ mai táng cha ông.
GEN 50:15 Sau khi Gia-cốp qua đời, các anh em Giô-xép bảo nhau, “Lỡ Giô-xép vẫn còn tức giận mình thì sao? Mình đối xử tệ bạc với nó. Nó dám trả thù mình lắm.”
GEN 50:16 Cho nên họ nhắn với Giô-xép như sau, “Trước khi mất, cha có trối như thế nầy:
GEN 50:17 ‘Các anh con có lỗi và đối xử tệ bạc với con. Con hãy tha thứ cho chúng nó, tức các anh con. Chúng nó là tôi tớ của Thượng Đế của cha con.’” Khi Giô-xép nghe như thế thì ông bật khóc.
GEN 50:18 Các anh em đến cùng Giô-xép, cúi lạy trước mặt ông và bảo, “Các anh đây là nô lệ của em.”
GEN 50:19 Giô-xép bảo họ, “Xin các anh đừng sợ. Em đâu có quyền thay Thượng Đế?
GEN 50:20 Các anh định hại em, nhưng Thượng Đế đã biến điều ác của các anh thành điều thiện để cứu mạng sống nhiều người, là điều đang được thực hiện.
GEN 50:21 Cho nên các anh đừng sợ. Em sẽ chăm sóc các anh và con cái các anh.” Giô-xép an ủi các anh em mình và dùng lời lẽ ôn hòa nói với họ.
GEN 50:22 Giô-xép tiếp tục sống trong xứ Ai-cập cùng với gia đình của cha mình. Ông qua đời khi được 110 tuổi.
GEN 50:23 Trong khi Giô-xép còn sống, Ép-ra-im sinh con cháu, và Ma-na-xe, con của Giô-xép cũng có một con trai tên Ma-kia. Giô-xép sống lâu và thấy được con cái của Ma-kia.
GEN 50:24 Giô-xép trối cùng các anh em mình rằng, “Em sắp qua đời nhưng Thượng Đế sẽ chăm sóc các anh em. Ngài sẽ dẫn anh em ra khỏi xứ nầy để về xứ mà Ngài hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.”
GEN 50:25 Rồi Giô-xép bắt các con trai của Ít-ra-en cam kết. Ông bảo, “Các anh phải hứa sẽ mang hài cốt em ra khỏi Ai-cập.”
GEN 50:26 Giô-xép qua đời khi được một trăm mười tuổi. Các y sĩ tẩm liệm xác ông để chôn cất. Họ đặt xác ông vào một quan tài trong xứ Ai-cập.
EXO 1:1 Khi đi xuống Ai-cập, Gia-cốp mang theo các con trai, và mỗi người con mang theo gia đình mình. Sau đây là tên các con trai của Ít-ra-en:
EXO 1:2 Ru-bên, Xi-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa,
EXO 1:3 Y-xa-ca, Sa-bu-lôn, Bên-gia-min,
EXO 1:4 Đan, Nép-ta-li, Gát, và A-se.
EXO 1:5 Tất cả con cháu Gia-cốp tổng cộng là 70 người. Giô-xép, con Gia-cốp đã cư ngụ tại Ai-cập.
EXO 1:6 Ít lâu sau, Giô-xép và các anh em qua đời cùng với những người đương thời.
EXO 1:7 Nhưng dân Ít-ra-en có đông con nên dân số gia tăng rất nhanh. Họ trở nên rất hùng mạnh. Người Ít-ra-en lan tràn khắp xứ Ai-cập.
EXO 1:8 Rồi một vua mới lên cai trị nước Ai-cập. Vua nầy không quen biết Giô-xép.
EXO 1:9 Vua bảo dân chúng, “Xem nầy! Dân Ít-ra-en đã trở nên quá đông và quá hùng mạnh, chúng ta không kham nổi!
EXO 1:10 Nếu chúng ta không làm gì cả thì họ sẽ còn gia tăng hơn nữa. Nay mai nếu xảy ra chiến tranh, họ rất có thể nhập với quân thù đánh chúng ta rồi trốn ra khỏi nước!”
EXO 1:11 Nên người Ai-cập gây khổ nhọc cho dân Ít-ra-en. Họ đặt các cai nô lệ trên người Ít-ra-en, bắt xây các thành Phi-thom và Ram-se để làm trung tâm chứa hàng cho nhà vua.
EXO 1:12 Nhưng người Ai-cập càng hành hạ cực nhọc bao nhiêu, dân Ít-ra-en càng sinh sản thêm bấy nhiêu, lan tràn khắp nơi. Nên người Ai-cập đâm ra sợ hãi người Ít-ra-en
EXO 1:13 và càng hành hạ họ thêm.
EXO 1:14 Họ gây khổ nhọc cho người Ít-ra-en. Họ bắt người Ít-ra-en trộn vữa để đúc gạch, cùng làm những việc đồng áng. Người Ai-cập không nương tay chút nào trong việc hành hạ người Ít-ra-en.
EXO 1:15 Hai bà đỡ người Do-thái, tên Síp-ra và Phu-a, giúp đỡ đẻ cho phụ nữ Ít-ra-en. Vua Ai-cập dặn các bà ấy như sau,
EXO 1:16 “Khi các chị đi đỡ đẻ cho phụ nữ Do-thái thì hãy lưu ý. Nếu là con gái thì để cho sống, còn nếu con trai thì giết đi!”
EXO 1:17 Nhưng các bà đỡ kính sợ Thượng Đế nên không vâng lệnh vua. Họ để cho các bé trai sống hết.
EXO 1:18 Vua Ai-cập liền gọi các bà đỡ lại hỏi, “Tại sao các chị làm vậy? Tại sao các chị để cho các bé trai sống?”
EXO 1:19 Các bà đỡ thưa, “Các phụ nữ Do-thái khoẻ hơn các phụ nữ Ai-cập. Họ sinh con trước khi chúng tôi đến.”
EXO 1:20 Thượng Đế tỏ lòng nhân từ với các bà đỡ. Dân Do-thái tiếp tục gia tăng nên càng ngày càng hùng mạnh.
EXO 1:21 Vì các bà đỡ kính sợ Thượng Đế nên Ngài ban phước cho họ có gia đình.
EXO 1:22 Vua ra lệnh cho toàn dân, “Hễ khi nào người Do-thái sinh con trai thì ném xuống sông Nin, nhưng con gái thì để cho sống.”
EXO 2:1 Có một người thuộc họ Lê-vi, kết hôn với một cô gái cũng thuộc họ Lê-vi.
EXO 2:2 Nàng mang thai và sinh một bé trai. Thấy con mình kháu khỉnh, nên đem giấu nó suốt ba tháng.
EXO 2:3 Sau ba tháng, thấy không thể giấu được nữa, nàng lấy một cái thúng trét nhựa để nó nổi trên nước. Nàng đặt đứa bé vào thúng rồi thả trong đám lau sậy dọc theo bờ sông Nin.
EXO 2:4 Chị đứa bé đứng xa xa nhìn, để theo dõi mọi việc.
EXO 2:5 Lúc đó công chúa Ai-cập xuống sông tắm, còn các đầy tớ gái thì đi dọc theo bờ sông. Nàng thấy cái thúng trong đám lau sậy, liền sai các đầy tớ gái đến lấy.
EXO 2:6 Khi mở thúng ra, công chúa thấy một bé trai đang khóc nên động lòng thương. Nàng nói, “Đây là một trong những con của người Do-thái.”
EXO 2:7 Lúc đó chị của đứa bé hỏi công chúa, “Cô có muốn cháu đi kêu một người đàn bà Do-thái để nuôi nó không?”
EXO 2:8 Công chúa đáp, “Ừ, em đi kiếm giùm tôi đi.” Nên cô đi kêu mẹ đứa trẻ.
EXO 2:9 Công chúa bảo người đàn bà, “Chị hãy nuôi đứa bé nầy cho tôi, tôi sẽ trả công cho chị.” Nên người đàn bà mang đứa nhỏ về nuôi.
EXO 2:10 Khi đứa nhỏ đã lớn, người đàn bà mang nó vào cho công chúa. Công chúa nhận nó làm con nuôi và đặt tên là Mô-se, vì nàng đã vớt nó ra khỏi nước.
EXO 2:11 Mô-se lớn lên, rồi trưởng thành. Một ngày nọ ông đi thăm dân mình, thì thấy họ bị bắt buộc làm việc rất cực nhọc. Ông thấy một người Ai-cập đánh một người Do-thái là đồng bào mình.
EXO 2:12 Nhìn quanh quất không thấy ai, ông liền giết người Ai-cập rồi vùi xác trong cát.
EXO 2:13 Hôm sau Mô-se trở lại thấy hai người Do-thái đang đánh nhau. Ông bảo người có lỗi rằng, “Sao anh đánh đồng bào ruột thịt của mình?”
EXO 2:14 Người đó trả lời, “Ai cử anh làm quan cai trị và thẩm phán cho chúng tôi? Bộ anh muốn giết tôi như đã giết người Ai-cập hôm qua sao?” Nghe vậy, Mô-se đâm hoảng và nghĩ thầm, “Thôi chết, mọi người biết hết chuyện tôi làm rồi!”
EXO 2:15 Khi vua nghe việc Mô-se làm, thì tìm cách giết ông. Mô-se liền chạy trốn khỏi xứ Ai-cập và đến sinh sống trong xứ Mi-đi-an. Tới nơi rồi, ông ngồi cạnh một giếng nước.
EXO 2:16 Ở Mi-đi-an có một thầy tế lễ có bảy cô con gái. Các cô ấy đi đến giếng lấy nước để đổ vào máng cho bầy gia súc của cha mình uống.
EXO 2:17 Có mấy chú chăn chiên đến đuổi các cô đi, nên Mô-se ra tay bênh vực các cô và lấy nước cho bầy gia súc của cha các cô uống.
EXO 2:18 Khi các cô về nhà cha mình, là Rêu-ên, thì ông hỏi, “Sao hôm nay các con về sớm vậy?”
EXO 2:19 Các cô đáp, “Có một ông người Ai-cập bênh vực chúng con khỏi bọn chăn chiên. Ông ta lấy nước và cho súc vật uống giùm chúng con.”
EXO 2:20 Người cha hỏi, “Ông ta đâu rồi? Sao các con bỏ ông ta ngoài đó vậy? Mời ông ta vào dùng bữa với chúng ta.”
EXO 2:21 Mô-se bằng lòng ở lại với ông ấy. Ông gả con gái mình là Xíp-bô-ra cho Mô-se làm vợ.
EXO 2:22 Nàng sinh ra một con trai. Mô-se đặt tên là Ghẹt-sôn, vì ông đang sống ở nước ngoài.
EXO 2:23 Sau đó khá lâu, vua Ai-cập qua đời. Dân Ít-ra-en than van vì họ bị bắt buộc làm việc quá nhọc nhằn. Khi họ kêu xin, Thượng Đế nghe tiếng họ.
EXO 2:24 Ngài nghe tiếng than khóc của họ và nhớ lại giao ước Ngài lập với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
EXO 2:25 Ngài thấy nỗi cực nhọc của dân Ít-ra-en và ái ngại cho họ.
EXO 3:1 Một ngày nọ, Mô-se đang chăn chiên cho Giê-trô. Giê-trô là thầy tế lễ của vùng Mi-đi-an và là cha vợ Mô-se. Khi dẫn bầy súc vật về phía tây sa mạc, Mô-se đến Hô-rếp là núi của Thượng Đế.
EXO 3:2 Một thiên sứ của CHÚA hiện ra cùng ông trong đám lửa phát ra từ một bụi cây. Mô-se thấy bụi cây đang cháy nhưng không tàn.
EXO 3:3 Nên ông bảo, “Ta phải đến gần xem chuyện lạ nầy mới được. Tại sao bụi cây nầy cháy mãi không tàn?”
EXO 3:4 Khi thấy Mô-se đến gần xem bụi cây, Thượng Đế từ trong bụi cây gọi ông, “Mô-se, Mô-se!” Mô-se liền thưa, “Dạ, con đây.”
EXO 3:5 Thượng Đế bảo, “Chớ đến gần hơn nữa. Hãy cởi dép ra, vì con đang đứng trên đất thánh.
EXO 3:6 Ta là Thượng Đế của tổ tiên con, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác và Thượng Đế của Gia-cốp.” Mô-se lấy tay che mặt lại, vì ông sợ nhìn thấy Thượng Đế.
EXO 3:7 CHÚA bảo, “Ta đã trông thấy nỗi khổ cực của dân ta trong xứ Ai-cập. Ta đã nghe thấy tiếng kêu than của họ, khi các cai nô lệ hành hạ họ. Ta rất lo âu về sự đau khổ của họ,
EXO 3:8 nên ta ngự xuống để giải cứu họ khỏi tay người Ai-cập. Ta sẽ mang họ ra khỏi xứ đó và dẫn họ đến một xứ tốt tươi, và phì nhiêu, không còn gặp khốn khổ nữa. Đó là đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-ri-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
EXO 3:9 Ta đã nghe tiếng kêu than của dân Ít-ra-en và đã thấy cách người Ai-cập hành hạ họ.
EXO 3:10 Nên ta sai con đi đến vua Ai-cập. Hãy đi, dẫn dắt dân ta, tức dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập!”
EXO 3:11 Nhưng Mô-se thưa cùng Thượng Đế, “Con là ai mà đến với vua và dẫn dắt dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập được?”
EXO 3:12 Thượng Đế bảo, “Ta sẽ ở cùng con. Đây là dấu hiệu ta sai con: Sau khi con dẫn dân chúng ra khỏi Ai-cập, các con sẽ thờ phụng ta trên hòn núi nầy.”
EXO 3:13 Mô-se thưa cùng Thượng Đế, “Khi con đi đến dân Ít-ra-en con sẽ bảo họ, ‘Thượng Đế của cha ông các anh em sai tôi đến cùng anh em.’ Nhưng nếu họ hỏi, ‘Tên Ngài là gì?’ thì con nói làm sao?”
EXO 3:14 Thượng Đế đáp, “Ta là Đấng Hằng Hữu. Khi con đi đến cùng dân Ít-ra-en thì cứ bảo họ, ‘Đấng Hằng Hữu sai tôi đến cùng anh em.’”
EXO 3:15 Thượng Đế bảo Mô-se, “Con phải bảo dân chúng như sau: ‘CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên anh em, tức Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác, và Thượng Đế của Gia-cốp. Ngài sai tôi đến cùng anh em.’ Đó là danh vĩnh viễn của ta, từ nay về sau dân chúng sẽ biết ta qua danh đó.”
EXO 3:16 “Hãy đi tập họp các bô lão và bảo họ như sau: ‘CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên anh em, là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, đã hiện ra cùng tôi. Ngài bảo: Ta lo lắng cho các con, ta đã thấy tình trạng của các con tại Ai-cập.
EXO 3:17 Ta đã hứa sẽ rút các con ra khỏi cảnh khốn khó tại Ai-cập. Ta sẽ dẫn các con đi đến xứ dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-ri-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít. Đó là một miền đất phì nhiêu.’
EXO 3:18 Các bô lão sẽ nghe lời con. Rồi con và các bô lão của dân Ít-ra-en sẽ đi đến vua Ai-cập và thưa rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế của người Do-thái đã hiện ra cùng chúng tôi. Xin vua hãy cho phép chúng tôi đi vào sa mạc ba ngày đặng dâng của lễ cho Thượng Đế, CHÚA chúng tôi.’
EXO 3:19 Nhưng ta biết vua Ai-cập sẽ không cho các con đi đâu. Chỉ có một quyền năng lớn lao mới buộc người thả các con đi.
EXO 3:20 Nên ta sẽ dùng quyền năng lớn của ta để địch lại nước Ai-cập. Ta sẽ dùng các phép lạ đánh Ai-cập. Sau đó, vua sẽ để cho các con ra đi.
EXO 3:21 Ta sẽ làm cho người Ai-cập có thiện cảm với người Ít-ra-en. Nên khi các con ra đi họ sẽ biếu quà cho các con.
EXO 3:22 Mỗi người đàn bà hãy xin người láng giềng Ai-cập hoặc bất cứ người đàn bà Ai-cập nào sống chung nhà với mình những của báu: bạc, vàng, và áo quần. Các con hãy đeo những tặng phẩm đó vào con cái các con khi rời Ai-cập. Đó là cách các con sẽ lột trần người Ai-cập.”
EXO 4:1 Sau đó Mô-se thưa, “Nếu dân Ít-ra-en không tin hay không nghe con thì sao? Nếu họ bảo, ‘CHÚA chẳng có hiện ra cùng ông đâu’ thì con làm thế nào?”
EXO 4:2 CHÚA bảo ông, “Trong tay con hiện đang cầm vật gì?” Mô-se thưa, “Con đang cầm cây gậy chăn chiên.”
EXO 4:3 CHÚA phán, “Hãy ném nó xuống đất.” Mô-se ném xuống đất thì nó biến ra con rắn. Mô-se chạy trốn khỏi nó.
EXO 4:4 Nhưng CHÚA bảo ông, “Hãy giơ tay ra nắm đuôi nó.” Khi Mô-se giơ tay nắm con rắn thì nó trở thành cây gậy như cũ.
EXO 4:5 CHÚA phán, “Nhờ dấu hiệu nầy, dân Ít-ra-en sẽ tin rằng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các con, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác, và Thượng Đế của Gia-cốp, đã hiện ra cùng con.”
EXO 4:6 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Hãy cho tay con vào bên trong áo.” Mô-se cho tay vào bên trong áo. Khi ông rút tay ra thì tay trở nên trắng như mắc bệnh ngoài da.
EXO 4:7 Ngài bảo, “Bây giờ cho tay con vào trong áo trở lại.” Mô-se cho tay vào áo trở lại. Khi rút tay ra thì tay lành lặn như cũ, da giống như bình thường.
EXO 4:8 Sau đó CHÚA bảo, “Nếu dân chúng không tin hay không lưu ý đến phép lạ thứ nhất, họ sẽ tin khi con làm phép lạ thứ nhì.
EXO 4:9 Sau hai phép lạ đó, nếu họ vẫn không tin hay không nghe con thì hãy lấy ít nước sông Nin đổ lên đất khô. Nước sẽ biến ra máu khi chạm đất.”
EXO 4:10 Nhưng Mô-se thưa với CHÚA, “Thưa CHÚA, con không phải là người ăn nói lưu loát. Ngay như bây giờ sau khi nói chuyện với Ngài, con vẫn không nói được trôi chảy. Con nói chậm chạp và hay ấp úng.”
EXO 4:11 CHÚA liền hỏi, “Ai làm ra miệng con người? Ai làm điếc, làm câm? Ai làm sáng hay mù mắt? Chính ta là CHÚA làm ra những việc đó.
EXO 4:12 Bây giờ hãy đi! Ta sẽ giúp con nói, và chính ta sẽ dạy con những gì phải nói.”
EXO 4:13 Nhưng Mô-se thưa, “Lạy CHÚA, xin sai người khác đi.”
EXO 4:14 CHÚA liền nổi giận cùng Mô-se và bảo, “A-rôn, anh con thuộc dòng họ Lê-vi, là người có tài ăn nói. Người đang đi tìm con và sẽ vui mừng khi gặp được.
EXO 4:15 Con hãy nói với A-rôn và bảo người những gì phải nói. Ta sẽ giúp hai con nói, và dạy những gì hai con phải làm.
EXO 4:16 A-rôn sẽ nói với dân chúng thế cho con. Con sẽ bảo người những gì Thượng Đế nói, rồi người sẽ nói thế con.
EXO 4:17 Hãy cầm theo cây gậy để làm phép lạ.”
EXO 4:18 Mô-se trở về với Giê-trô, cha vợ mình và nói, “Xin cho phép con trở về với dân tộc con ở Ai-cập. Con muốn biết họ còn sống sót không.” Giê-trô bảo Mô-se, “Con cứ đi! Cha chúc con may mắn.”
EXO 4:19 Trong khi Mô-se còn đang ở tại Mi-đi-an, CHÚA bảo ông, “Hãy trở về Ai-cập, vì những người muốn giết con đã chết hết rồi.”
EXO 4:20 Nên Mô-se mang vợ và các con trai cho lên lưng lừa và lên đường trở về Ai-cập. Ông cũng mang theo cây gậy của Thượng Đế.
EXO 4:21 CHÚA phán cùng Mô-se, “Khi con trở về Ai-cập, hãy làm các phép lạ mà ta đã ban quyền con làm. Hãy cho vua Ai-cập thấy các phép lạ đó. Nhưng ta sẽ làm cho nhà vua ngoan cố, người sẽ không để dân chúng đi đâu.
EXO 4:22 Lúc đó hãy bảo nhà vua, ‘Đây là lời CHÚA phán: Ít-ra-en là con đầu lòng của ta.
EXO 4:23 Ta đã bảo ngươi hãy để con ta đi để nó thờ phụng ta. Nhưng ngươi không chịu để dân Ít-ra-en đi, nên ta sẽ giết con trưởng nam của ngươi.’”
EXO 4:24 Trong khi Mô-se đang trên đường về Ai-cập, ông dừng tại một chỗ để nghỉ đêm. CHÚA hiện ra cùng ông ở đó và định giết ông.
EXO 4:25 Nhưng Xíp-bô-ra lấy một con dao bằng đá lửa cắt dương bì cho con trai mình. Cầm miếng dương bì của con, nàng quẹt vào chân Mô-se và bảo, “Anh là chàng rể đổ máu của em.”
EXO 4:26 Nàng nói, “Anh là chàng rể đổ máu,” là vì nàng phải cắt dương bì cho con trai mình. Vì thế CHÚA tha không giết Mô-se.
EXO 4:27 Trong khi đó CHÚA bảo A-rôn, “Hãy đi ra sa mạc gặp Mô-se.” Khi A-rôn đi ra thì gặp Mô-se ở núi của Thượng Đế, liền hôn Mô-se.
EXO 4:28 Mô-se thuật lại cho A-rôn nghe những gì CHÚA đã bảo mình và thuật lại những phép lạ CHÚA dặn ông làm.
EXO 4:29 Mô-se và A-rôn đi triệu tập tất cả các bô lão của Ít-ra-en lại.
EXO 4:30 A-rôn thuật lại cho họ nghe mọi điều CHÚA dặn bảo Mô-se. Rồi Mô-se làm phép lạ cho mọi người thấy,
EXO 4:31 nên tất cả dân chúng Ít-ra-en đều tin. Khi họ nghe rằng CHÚA rất lo ngại cho họ và đã thấy những nỗi khổ cực của họ thì họ cúi xuống bái lạy Ngài.
EXO 5:1 Sau khi Mô-se và A-rôn nói chuyện với dân chúng xong thì hai người đi gặp vua Ai-cập và thưa rằng, “CHÚA là Thượng Đế của dân Ít-ra-en nói: ‘Hãy để dân ta đi để chúng nó cử hành một lễ cho ta trong sa mạc.’”
EXO 5:2 Nhưng vua Ai-cập hỏi lại, “CHÚA là ai? Tại sao ta phải vâng lời người để cho dân Ít-ra-en đi? Ta chẳng biết CHÚA nào cả. Ta cũng sẽ không cho dân Ít-ra-en đi đâu hết.”
EXO 5:3 A-rôn và Mô-se liền nói, “Thượng Đế của dân Do-thái đã hiện ra cùng chúng tôi. Bây giờ xin vua cho chúng tôi đi ba ngày trong sa mạc để chúng tôi dâng của lễ cho CHÚA, là Thượng Đế chúng tôi. Nếu chúng tôi không làm như thế Ngài có thể dùng dịch lệ hay chiến tranh tiêu diệt chúng tôi.”
EXO 5:4 Nhưng nhà vua bảo họ, “Nầy hai anh Mô-se và A-rôn, tại sao các anh làm cho dân chúng xao lãng công việc? Hãy trở lại làm việc của các anh đi!
EXO 5:5 Dân Do-thái khá đông đảo, mà bây giờ các anh muốn họ bỏ bê công việc à?”
EXO 5:6 Ngày hôm đó nhà vua liền hạ lệnh cho các cai và trưởng toán nô lệ.
EXO 5:7 Vua bảo, “Đừng phát rơm cho họ để làm gạch nữa. Bảo họ đi kiếm rơm ở đâu thì kiếm.
EXO 5:8 Nhưng họ phải sản xuất cho đủ số gạch y như trước. Không cho họ làm ít hơn. Họ đã trở nên lười biếng nên mới kiếm cớ xin ta, ‘Hãy cho phép chúng tôi đi dâng của lễ cho Thượng Đế chúng tôi.’
EXO 5:9 Hãy bắt họ làm cực nhọc hơn nữa, đừng cho họ rảnh tay, để họ không có thì giờ nghe những lời dối gạt của Mô-se.”
EXO 5:10 Thế là những người cai và trưởng toán nô lệ đi đến nói với người Ít-ra-en, “Vua truyền: Ta sẽ không cấp rơm cho các ngươi nữa.
EXO 5:11 Các ngươi hãy đi kiếm rơm ở đâu ra thì kiếm. Nhưng các ngươi phải làm đủ số gạch như trước.”
EXO 5:12 Nên họ đi khắp nơi trong xứ Ai-cập để tìm gốc rạ khô làm rơm.
EXO 5:13 Các cai nô lệ bắt họ làm cực nhọc hơn trước và bảo họ, “Các anh phải sản xuất đủ số gạch như trước, lúc các anh còn được cấp rơm.”
EXO 5:14 Các cai nô lệ bắt những trưởng toán người Ít-ra-en chịu trách nhiệm về công việc dân chúng làm. Các cai nô lệ người Ai-cập đánh đập các trưởng toán và hạch hỏi, “Tại sao các anh không làm đủ số gạch như trước?”
EXO 5:15 Các trưởng toán Ít-ra-en đi đến khiếu nại với vua, “Tâu bệ hạ, tại sao ngài đối xử với các kẻ tôi tớ ngài như thế nầy?
EXO 5:16 Ngài không cấp rơm cho chúng tôi mà buộc chúng tôi phải làm ra gạch. Các cai nô lệ đánh đập chúng tôi, nhưng lỗi là ở dân ngài.”
EXO 5:17 Nhà vua đáp, “Các ngươi lười lắm! Các ngươi không muốn làm việc nên mới giả bộ xin phép đi dâng của lễ cho CHÚA.
EXO 5:18 Bây giờ hãy trở lại làm việc đi! Ta sẽ không cấp rơm cho các ngươi đâu, nhưng các ngươi phải giao đủ số gạch như trước.”
EXO 5:19 Các trưởng toán Ít-ra-en biết mình đang gặp lôi thôi vì nhà vua đã bảo họ, “Các ngươi phải làm đủ số gạch mỗi ngày như trước.”
EXO 5:20 Sau khi gặp vua rồi về, họ gặp Mô-se và A-rôn, hai người đang chờ họ.
EXO 5:21 Họ liền bảo Mô-se và A-rôn, “Cầu CHÚA phạt các ông. Các ông làm cho vua và các quần thần ghét chúng tôi. Các ông gây cớ cho họ giết chúng tôi.”
EXO 5:22 Mô-se liền trở lại thưa cùng CHÚA, “Lạy CHÚA, tại sao Ngài đưa chuyện lôi thôi nầy đến cho dân Ngài? CHÚA sai con để làm gì?
EXO 5:23 Con đã đến gặp vua và thuật lại cho vua mọi điều Ngài dặn con, nhưng từ lúc đó trở đi vua lại hành hạ dân Ngài càng khổ sở hơn. Còn Ngài thì chẳng làm gì để cứu họ cả.”
EXO 6:1 CHÚA bảo Mô-se, “Bây giờ con sẽ thấy điều ta sẽ làm cho vua Ai-cập. Ta sẽ dùng quyền năng lớn lao của ta nghịch lại người, rồi người sẽ để dân ta đi. Vì quyền năng của ta, người sẽ đuổi dân ta ra khỏi xứ.”
EXO 6:2 Rồi Thượng Đế bảo Mô-se, “Ta là CHÚA.
EXO 6:3 Ta đã hiện ra cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp qua danh Thượng Đế Toàn Năng, nhưng ta không tỏ danh ta là CHÚA cho họ biết.
EXO 6:4 Ta cũng đã kết ước với họ rằng ta sẽ cấp cho họ đất Ca-na-an. Họ đã cư ngụ trong xứ đó nhưng đất không thuộc về họ.
EXO 6:5 Bây giờ ta đã nghe tiếng kêu ca của dân Ít-ra-en mà người Ai-cập đã đối xử như nô lệ, ta liền nhớ lại giao ước của ta.
EXO 6:6 Nên con hãy nói với dân Ít-ra-en rằng ta bảo họ, ‘Ta là CHÚA. Ta sẽ giải cứu các con khỏi công việc cực nhọc mà người Ai-cập đã buộc các con làm. Ta sẽ giải thoát các con khỏi ách nô lệ của người Ai-cập. Ta sẽ dùng quyền năng lớn lao của ta mà giải thoát các con. Ta sẽ trừng phạt người Ai-cập rất khủng khiếp.
EXO 6:7 Ta sẽ chọn các con làm dân ta, ta sẽ là Thượng Đế của các con. Các con sẽ biết rằng ta là CHÚA, Thượng Đế của các con, Đấng cứu các con ra khỏi công việc cực nhọc mà người Ai-cập bắt các con làm.
EXO 6:8 Ta sẽ dẫn các con đến xứ ta đã hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Ta sẽ ban cho các con đất ấy. Ta là CHÚA.’”
EXO 6:9 Mô-se thuật lại mọi điều ấy cho dân Ít-ra-en, nhưng họ không nghe ông nữa. Họ rất thất vọng vì ách nô lệ đè trên họ quá nặng.
EXO 6:10 Sau đó CHÚA phán cùng Mô-se,
EXO 6:11 “Hãy đi bảo vua Ai-cập để cho dân ta rời khỏi xứ nầy.”
EXO 6:12 Nhưng Mô-se đáp, “Dân Ít-ra-en sẽ không nghe con, nên chắc chắn nhà vua cũng sẽ không nghe con nữa. Con có phải là người có tài ăn nói đâu?”
EXO 6:13 Nhưng CHÚA nói với Mô-se và A-rôn rồi truyền lệnh cho hai người về dân Ít-ra-en và về vua Ai-cập. Ngài truyền cho họ dẫn dắt dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
EXO 6:14 Sau đây là các trưởng tộc của Ít-ra-en: Ru-bên, con trưởng nam của Ít-ra-en có bốn con trai: Ha-nóc, Pha-ly, Hết-rôn, và Cát-mi. Đó là những gia tộc thuộc dòng họ Ru-bên.
EXO 6:15 Các con trai của Xi-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sa-un, con trai của một phụ nữ Ca-na-an. Đó là những gia tộc thuộc họ Xi-mê-ôn.
EXO 6:16 Lê-vi sống được một trăm ba mươi bảy tuổi. Sau đây là tên các con trai ông theo gia phổ: Ghẹt-sôn, Cô-hát, và Mê-ra-ri.
EXO 6:17 Ghẹt-sôn có hai con trai, Líp-ni và Si-mê-i, cùng với gia đình họ.
EXO 6:18 Cô-hát sống được một trăm ba mươi ba tuổi. Các con trai của Cô-hát là Am-ram, Ích-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
EXO 6:19 Các con trai của Mê-ra-ri là Ma-li và Mu-si. Sau đây là các gia tộc của Lê-vi theo gia phổ.
EXO 6:20 Am-ram lấy Giô-kê-bết, em của cha mình. Nàng sinh ra A-rôn và Mô-se. Am-ram sống được một trăm ba mươi bảy tuổi.
EXO 6:21 Các con trai của Ích-ha là Cô-ra, Nê-phét, và Xích-ri.
EXO 6:22 Các con trai của U-xi-ên là Mi-sa-ên, Ên-sa-phan, và Sít-ri.
EXO 6:23 A-rôn lấy Ê-li-sê-ba, con gái của Am-mi-na-đáp và em gái của Na-sôn. Ê-li-sê-ba sinh ra Na-đáp, A-bi-hu, Ê-li-a-xa, và Y-tha-ma.
EXO 6:24 Các con trai của Cô-ra là Át-xia, Ên-ca-na, và A-bi-a-sáp. Đó là những gia tộc thuộc dòng họ Cô-ra.
EXO 6:25 Ê-lê-a-xa, con trai A-rôn, lấy con gái Phu-ti-ên. Nàng sinh ra Phi-nê-ha. Đó là các trưởng gia tộc thuộc họ Lê-vi.
EXO 6:26 A-rôn và Mô-se là hai người mà CHÚA đã bảo, “Hãy dẫn dắt dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập theo từng đoàn.”
EXO 6:27 A-rôn và Mô-se là hai người đến yêu cầu vua Ai-cập cho dân Ít-ra-en ra khỏi nước.
EXO 6:28 CHÚA phán cùng Mô-se trong xứ Ai-cập rằng,
EXO 6:29 “Ta là CHÚA. Hãy nói với vua Ai-cập mọi điều ta đã bảo con.”
EXO 6:30 Nhưng Mô-se đáp, “Con không có tài ăn nói. Nhà vua sẽ không chịu nghe con đâu.”
EXO 7:1 CHÚA phán cùng Mô-se, “Ta đã làm con trở nên như Thượng Đế của vua Ai-cập, còn A-rôn, anh con sẽ như nhà tiên tri cho con.
EXO 7:2 Hãy bảo A-rôn, anh con, mọi điều ta truyền dặn con để người yêu cầu vua Ai-cập cho dân Ít-ra-en ra khỏi nước mình.
EXO 7:3 Nhưng ta sẽ làm cho nhà vua ương ngạnh để ta sẽ làm nhiều phép lạ tại Ai-cập.
EXO 7:4 Tuy nhiên người sẽ vẫn không chịu nghe. Nên ta sẽ trừng phạt Ai-cập rất khủng khiếp, rồi ta sẽ dẫn các đoàn quân ta, tức dân Ít-ra-en của ta, ra khỏi nước ấy.
EXO 7:5 Ta sẽ dùng quyền năng ta trừng phạt Ai-cập, rồi ta sẽ mang dân Ít-ra-en ra khỏi xứ đó. Lúc bấy giờ họ sẽ biết ta là CHÚA.”
EXO 7:6 Mô-se và A-rôn làm theo như điều CHÚA dặn mình.
EXO 7:7 Khi hai người nói chuyện với vua thì Mô-se đã tám mươi tuổi, còn A-rôn tám mươi ba.
EXO 7:8 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
EXO 7:9 “Nầy Mô-se, khi nhà vua bảo con làm phép lạ thì hãy bảo A-rôn ném cây gậy của người xuống đất trước mặt nhà vua, nó sẽ hóa thành con rắn.”
EXO 7:10 Mô-se và A-rôn đi đến gặp vua và làm theo như CHÚA dặn bảo. A-rôn ném cây gậy của mình xuống đất trước mặt vua và các quần thần, thì nó hóa ra con rắn.
EXO 7:11 Nhà vua liền triệu các học giả và các thuật sĩ đến. Các thuật sĩ Ai-cập, nhờ tà thuật, cũng làm được như thế.
EXO 7:12 Họ ném các cây gậy họ xuống đất, các cây gậy đều hoá ra con rắn. Nhưng gậy A-rôn nuốt các cây gậy của họ.
EXO 7:13 Dù vậy nhà vua vẫn ương ngạnh, không chịu nghe Mô-se và A-rôn, đúng theo như CHÚA đã nói trước.
EXO 7:14 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Nhà vua tỏ ra ương ngạnh, không chịu để dân ta đi.
EXO 7:15 Buổi sáng nhà vua sẽ ra sông Nin. Con hãy ra gặp người ở bờ sông, mang theo cây gậy đã hoá thành rắn.
EXO 7:16 Nói với vua như sau: CHÚA là Thượng Đế của người Do-thái, sai tôi đến gặp vua. Ngài phán, ‘Hãy để dân ta đi để họ thờ phụng ta trong sa mạc.’ Cho đến giờ nầy vua chưa chịu nghe tôi.
EXO 7:17 Nên CHÚA phán như sau: ‘Ngươi sẽ biết ta là CHÚA. Ta sẽ lấy cây gậy đập nước sông Nin, nước sẽ biến thành máu.
EXO 7:18 Tất cả cá trong sông Nin sẽ đều chết hết, sông sẽ trở nên hôi thối. Người Ai-cập không thể uống nước sông ấy được.’”
EXO 7:19 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy nói với A-rôn: ‘Hãy cầm cây gậy trong tay anh giơ ra trên các sông, kênh đào, hồ, và ao trên xứ Ai-cập.’ Khắp nơi trên xứ Ai-cập nước sẽ biến ra máu, thậm chí cho đến nước chứa trong thùng gỗ hay trong lu sành cũng vậy.”
EXO 7:20 Mô-se và A-rôn làm y theo như lời CHÚA dặn. Đứng trước mặt nhà vua và các quần thần, A-rôn giơ cây gậy lên và đập nước sông Nin. Tất cả nước sông đều biến thành máu hết.
EXO 7:21 Cá trong sông Nin đều chết, sông bắt đầu hôi thối nên người Ai-cập không thể uống nước sông được. Khắp nơi trong xứ Ai-cập đều thấy máu.
EXO 7:22 Các thuật sĩ Ai-cập dùng tà thuật của họ cũng làm được như thế nên nhà vua đâm ra ương ngạnh, không chịu nghe Mô-se và A-rôn, đúng như lời CHÚA đã nói trước.
EXO 7:23 Nhà vua quay trở vào đền, không thèm để ý đến điều Mô-se và A-rôn làm nữa.
EXO 7:24 Vì người Ai-cập không thể uống nước sông Nin, nên họ đào dọc bờ sông để tìm nước uống.
EXO 7:25 Bảy ngày trôi qua, sau khi CHÚA biến nước sông Nin ra máu.
EXO 8:1 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đi đến vua Ai-cập và nói với người rằng, ‘CHÚA phán: Hãy để dân ta đi để họ thờ phụng ta.
EXO 8:2 Nếu ngươi không chịu, ta sẽ trừng phạt nước Ai-cập bằng ếch nhái.
EXO 8:3 Sông Nin sẽ đầy ếch nhái. Chúng nó sẽ nhảy vào cung điện ngươi, vào phòng ngủ, lên giường ngươi, vào nhà của các quần thần ngươi, trong dân cư ngươi. Chúng sẽ vào cả trong lò nướng bánh và khay bánh nữa.
EXO 8:4 Ếch nhái sẽ nhảy lên ngươi, dân chúng và quần thần ngươi.’”
EXO 8:5 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy bảo A-rôn giơ cây gậy người cầm trong tay lên các sông, kênh, lạch, và ao hồ. Hãy khiến ếch nhái từ trong nước nhảy lên trên khắp xứ Ai-cập.”
EXO 8:6 Nên A-rôn giơ tay lên khắp các nơi có nước trên toàn xứ Ai-cập, ếch nhái liền từ dưới nước nhảy lên khắp xứ Ai-cập.
EXO 8:7 Các thuật sĩ dùng tà thuật của họ cũng làm được như thế, nên ếch nhái càng tràn lên nhiều hơn nữa trên khắp xứ Ai-cập.
EXO 8:8 Nhà vua gọi Mô-se và A-rôn lại bảo, “Các ngươi hãy cầu nguyện để CHÚA đem ếch nhái khỏi ta và dân ta. Ta sẽ cho các ngươi đi dâng của lễ cho CHÚA.”
EXO 8:9 Mô-se thưa với vua, “Xin vua hãy định lúc nào tôi phải cầu nguyện cho vua, dân chúng và quần thần vua. Ếch nhái sẽ đi khỏi vua và nhà cửa vua. Chúng nó chỉ sẽ ở trong sông Nin mà thôi.”
EXO 8:10 Vua đáp, “Ngày mai.” Mô-se thưa, “Điều vua muốn sẽ xảy ra. Nhờ dấu hiệu nầy vua sẽ biết rằng không có ai giống CHÚA là Thượng Đế chúng tôi.
EXO 8:11 Ếch nhái sẽ đi khỏi vua, nhà cửa vua, dân chúng cùng quần thần của vua. Chúng nó sẽ chỉ ở trong sông Nin mà thôi.”
EXO 8:12 Sau khi Mô-se và A-rôn từ giã vua thì Mô-se cầu xin CHÚA về ếch nhái mà Ngài sai đến với vua.
EXO 8:13 CHÚA làm theo điều Mô-se cầu xin. Ếch nhái chết trong nhà, trong sân và trong đồng ruộng.
EXO 8:14 Người Ai-cập dồn chúng lại thành từng đống, cả xứ vô cùng hôi thối.
EXO 8:15 Nhưng sau khi vua thấy không còn ếch nhái nữa thì đâm ra ương ngạnh trở lại. Vua không nghe Mô-se và A-rôn, y như lời CHÚA đã nói trước.
EXO 8:16 CHÚA liền bảo Mô-se, “Hãy bảo A-rôn giơ cây gậy đập bụi trên đất. Bụi sẽ hóa thành các con muỗi mòng trên khắp xứ Ai-cập.”
EXO 8:17 Họ làm theo điều CHÚA dặn. Khi A-rôn giơ cây gậy đập bụi trên đất thì bụi biến thành muỗi mòng trên khắp xứ Ai-cập. Muỗi mòng bu vào người và súc vật.
EXO 8:18 Các thuật sĩ dùng tà thuật để định bắt chước nhưng họ không làm sao biến bụi ra con muỗi mòng được. Các con muỗi mòng bu vào người và súc vật.
EXO 8:19 Nên các thuật sĩ tâu với vua là quyền năng của Thượng Đế làm việc ấy. Nhưng vua vẫn cứ ương ngạnh, không chịu nghe hai người, y như CHÚA đã nói trước.
EXO 8:20 CHÚA bảo Mô-se, “Sáng mai dậy sớm ra gặp vua Ai-cập ở bờ sông khi vua đi ra đó. Hãy bảo người rằng, ‘CHÚA phán: Hãy để dân ta đi để họ thờ phụng ta.
EXO 8:21 Nếu không ta sẽ sai ruồi nhặng vào nhà ngươi. Ruồi nhặng sẽ bu trên ngươi, quần thần ngươi và dân tộc ngươi. Nhà của người Ai-cập sẽ đầy ruồi nhặng. Chúng sẽ đầy trên đất nữa.
EXO 8:22 Nhưng ta không đối với dân Ít-ra-en như ta đối với dân Ai-cập. Trong khắp xứ Gô-sen, nơi dân ta sống, sẽ không có con ruồi nhặng nào. Nhờ đó ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA, đang ngự trên đất nầy.
EXO 8:23 Ta sẽ đối với dân ta khác với dân ngươi. Ngày mai, phép lạ nầy sẽ xảy ra.’”
EXO 8:24 Vậy CHÚA làm đúng như Ngài đã phán, hàng bầy ruồi nhặng bay vào cung vua và nhà cửa của các quần thần. Đất Ai-cập bị ruồi nhặng làm hại.
EXO 8:25 Vua gọi Mô-se và A-rôn bảo, “Các ngươi hãy dâng của lễ cho Thượng Đế các ngươi trong xứ nầy đi.”
EXO 8:26 Nhưng Mô-se đáp, “Làm như thế không được vì người Ai-cập ghê tởm các của lễ mà chúng tôi dâng cho Thượng Đế, CHÚA chúng tôi. Nếu họ thấy chúng tôi dâng của lễ mà họ ghê tởm, họ sẽ ném đá giết chúng tôi.
EXO 8:27 Vua hãy để chúng tôi đi ba ngày trong sa mạc. Chúng tôi phải dâng của lễ cho Thượng Đế, CHÚA chúng tôi ở đó, theo như CHÚA chúng tôi dặn bảo.”
EXO 8:28 Nhà vua bảo, “Ta sẽ cho các ngươi dâng của lễ cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi trong sa mạc, nhưng không được đi quá xa. Bây giờ hãy đi cầu nguyện cho ta.”
EXO 8:29 Mô-se thưa, “Tôi sẽ ra cầu nguyện cùng CHÚA, ngày mai Ngài sẽ đuổi ruồi nhặng khỏi vua, các quần thần, và dân sự vua. Nhưng xin vua đừng phỉnh gạt chúng tôi bằng cách cản trở chúng tôi đi dâng của lễ cho CHÚA.”
EXO 8:30 Mô-se từ giã vua và cầu nguyện cùng CHÚA,
EXO 8:31 Ngài liền làm theo điều người cầu xin. Ngài đuổi ruồi nhặng ra khỏi vua, các quần thần, và dân chúng, đến nỗi không con nào còn sót lại.
EXO 8:32 Nhưng nhà vua lại đâm ra ương ngạnh không cho dân chúng đi.
EXO 9:1 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đi nói với vua Ai-cập, ‘CHÚA là Thượng Đế của người Do-thái phán: Hãy cho dân ta đi thờ phụng ta.
EXO 9:2 Nếu ngươi không cho đi mà còn cầm giữ họ,
EXO 9:3 thì CHÚA sẽ phạt ngươi. Ngài sẽ sai một bệnh dịch khủng khiếp đến trên các gia súc ngươi ở ngoài đồng. Ngài sẽ khiến ngựa, lừa, lạc đà, gia súc, dê và chiên con mắc bệnh.
EXO 9:4 Nhưng CHÚA sẽ biệt riêng các gia súc của người Ít-ra-en khỏi các gia súc của người Ai-cập. Sẽ không có gia súc nào của người Ít-ra-en bị chết.
EXO 9:5 Ngày mai là ngày CHÚA định sẽ giáng tai họa nầy trên khắp xứ.’”
EXO 9:6 Ngày hôm sau, CHÚA thực hiện điều Ngài hứa. Tất cả các gia súc trong xứ Ai-cập chết, nhưng không có gia súc nào của người Ít-ra-en chết cả.
EXO 9:7 Nhà vua sai người đi xem xét các gia súc của người Ít-ra-en thì thấy rằng không có con nào chết cả. Nhưng nhà vua vẫn ương ngạnh, không chịu để dân Ít-ra-en đi.
EXO 9:8 CHÚA phán cùng Mô-se và A-rôn, “Hãy lấy nắm tro trong lò đầy tay con. Rồi Mô-se sẽ tung tro lên trời trước mặt vua Ai-cập.
EXO 9:9 Tro sẽ bay tứ tung như bụi trên khắp xứ Ai-cập. Tro đó sẽ gây ung nhọt lở lói trên da người và thú vật cả xứ.”
EXO 9:10 Vậy Mô-se và A-rôn lấy tro trong lò và đi ra đứng trước mặt vua. Mô-se tung tro lên trời gây ung nhọt lở lói trên người và súc vật.
EXO 9:11 Các thuật sĩ không thể đứng trước mặt Mô-se vì tất cả người Ai-cập đều bị ung nhọt, cho đến thuật sĩ cũng vậy.
EXO 9:12 Nhưng CHÚA làm cho nhà vua ương ngạnh, không chịu nghe Mô-se và A-rôn y như Ngài đã nói trước.
EXO 9:13 Rồi CHÚA nói cùng Mô-se, “Sáng mai hãy dậy sớm đi đến gặp vua Ai-cập. Nói với người rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế của dân Do-thái phán: Hãy để dân ta đi thờ phụng ta.
EXO 9:14 Nếu ngươi không chịu, lần nầy ta sẽ dùng hết quyền năng ta phạt ngươi, quần thần và dân tộc ngươi. Rồi ngươi sẽ biết rằng khắp xứ không có ai giống như ta.
EXO 9:15 Đến nay ta đã có thể dùng quyền năng ta gây dịch hạch khủng khiếp để tiêu diệt ngươi và dân ngươi khỏi mặt đất.
EXO 9:16 Nhưng ta đã để cho ngươi sống vì ta muốn tỏ cho ngươi thấy quyền năng ta để danh ta được đồn ra khắp đất.
EXO 9:17 Ngươi vẫn còn nghịch lại dân ta và không chịu để họ đi.
EXO 9:18 Nên ngày mai vào giờ nầy ta sẽ sai một trận mưa đá khủng khiếp mà Ai-cập từ ngày lập quốc chưa bao giờ thấy.
EXO 9:19 Bây giờ hãy mang các gia súc và những gì ngươi có ngoài đồng vào một nơi an toàn. Mưa đá sẽ rơi trên đầu của người hay súc vật còn ngoài ruộng. Nếu không mang chúng vào, tất cả đều sẽ chết hết.’”
EXO 9:20 Một số quần thần của vua để ý lời của CHÚA và vội vàng mang nô lệ và gia súc vào nhà.
EXO 9:21 Nhưng những người khác không thèm để ý đến lời cảnh cáo của CHÚA nên cứ để nô lệ và gia súc ngoài đồng.
EXO 9:22 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy giơ tay con lên trời. Mưa đá sẽ bắt đầu rơi xuống khắp xứ Ai-cập. Mưa đá sẽ rơi trên người, gia súc, cùng mọi thứ mọc trong đồng ruộng xứ Ai-cập.”
EXO 9:23 Khi Mô-se giơ cậy gậy lên trời, CHÚA khiến sấm chớp và mưa đá rơi xuống đất. Ngài làm cho mưa đá rơi trên toàn xứ Ai-cập.
EXO 9:24 Mưa đá, sấm chớp loè ra khi mưa đá rơi. Trận mưa đá kinh khủng trên khắp xứ mà từ khi lập quốc, Ai-cập chưa bao giờ thấy.
EXO 9:25 Mưa đá tiêu diệt mọi người và súc vật còn ở ngoài đồng trên khắp xứ Ai-cập. Mưa đá cũng tiêu diệt mọi thứ mọc ngoài ruộng, bẻ gãy các cây trong đồng.
EXO 9:26 Vùng mà mưa đá không rơi là đất Gô-sen, nơi dân Ít-ra-en cư ngụ.
EXO 9:27 Vua cho gọi Mô-se và A-rôn lại bảo, “Lần nầy ta đã phạm tội. CHÚA đúng, ta và dân ta sai.
EXO 9:28 Ngươi hãy cầu nguyện cùng CHÚA. Chúng ta đã có đủ sấm chớp và mưa đá của Thượng Đế rồi. Ta sẽ để các ngươi đi. Các ngươi không phải lưu lại đây thêm nữa.”
EXO 9:29 Mô-se thưa với vua, “Khi tôi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay cầu nguyện cùng CHÚA, sấm chớp và mưa đá sẽ ngưng. Rồi vua sẽ biết rằng trái đất nầy thuộc về CHÚA.
EXO 9:30 Nhưng tôi biết vua và các quần thần chưa kính sợ CHÚA là Thượng Đế.”
EXO 9:31 Lúc đó cây gai đang trổ hoa, lúa mạch đang chín nên các hoa màu đó đều bị dập nát.
EXO 9:32 Nhưng lúa mì trổ muộn nên không bị dập.
EXO 9:33 Mô-se rời nhà vua và ra ngoài thành. Ông giơ tay lên cùng CHÚA, sấm chớp và mưa đá ngưng. Mưa cũng ngưng không còn rơi xuống trên đất nữa.
EXO 9:34 Khi vua thấy mưa, mưa đá và sấm chớp ngưng thì lại phạm tội nữa. Nhà vua và các quần thần đâm ra ương ngạnh.
EXO 9:35 Nhà vua lại ương ngạnh không chịu để dân Ít-ra-en đi y theo lời CHÚA đã nói trước với Mô-se.
EXO 10:1 CHÚA phán cùng Mô-se, “Hãy đi gặp vua Ai-cập. Ta đã làm cho người và quần thần ương ngạnh để ta chứng tỏ cho họ thấy quyền năng của ta qua các phép lạ.
EXO 10:2 Ta làm điều nầy để các con thuật lại cho con cháu mình biết ta đã nghiêm khắc đối với người Ai-cập ra sao. Hãy thuật cho con cháu các con biết những phép lạ ta làm giữa họ để tất cả các con biết ta là CHÚA.”
EXO 10:3 Vậy Mô-se và A-rôn đi gặp nhà vua và bảo, “CHÚA là Thượng Đế của dân Do-thái phán như sau: ‘Ngươi không chịu hối hận về những điều ngươi làm cho đến bao giờ? Hãy để dân ta đi thờ phụng ta.
EXO 10:4 Nếu ngươi không cho dân ta đi, ngày mai ta sẽ sai cào cào đến trên xứ ngươi.
EXO 10:5 Chúng sẽ phủ kín đất và sẽ ăn sạch những gì còn sót lại từ trận mưa đá, cùng những lá của mọi cây mọc ngoài đồng.
EXO 10:6 Chúng sẽ tràn ngập cung điện và nhà cửa của các quần thần ngươi cùng nhà cửa của người Ai-cập. Cào cào nhiều đến nỗi cha ông và tổ tiên ngươi chưa bao giờ thấy; nhiều đến nỗi từ khi có người sống ở Ai-cập cũng chưa thấy như vậy.’” Rồi Mô-se quay đi khỏi mặt vua.
EXO 10:7 Các quần thần hỏi vua, “Tên nầy sẽ gây rối cho chúng ta cho đến bao giờ? Hãy để dân Ít-ra-en đi thờ phụng CHÚA là Thượng Đế của chúng nó đi. Vua không thấy rằng xứ Ai-cập đang bị tàn phá sao?”
EXO 10:8 Người ta liền đưa Mô-se và A-rôn trở lại gặp vua. Vua hỏi, “Hãy đi thờ phụng CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Nhưng cho ta biết ai sẽ đi?”
EXO 10:9 Mô-se đáp, “Tất cả nam phụ lão ấu, con trai, con gái, các bầy gia súc của chúng tôi, vì chúng tôi sẽ làm một lễ tôn kính CHÚA.”
EXO 10:10 Vua bảo hai người, “Chỉ có Trời can thiệp thì ta mới cho các ngươi và con cái các ngươi rời khỏi đất Ai-cập mà thôi. Các ngươi định âm mưu ác!
EXO 10:11 Không! Chỉ có đàn ông được phép đi thờ phụng thôi. Vì đó là điều các ngươi xin.” Rồi vua đuổi Mô-se và A-rôn ra khỏi cung điện.
EXO 10:12 CHÚA phán cùng Mô-se, “Hãy giơ tay con lên xứ Ai-cập thì cào cào sẽ bay tới. Chúng sẽ phân tán khắp xứ Ai-cập và ăn sạch mọi thứ thảo mộc mà mưa đá không làm giập.”
EXO 10:13 Mô-se giơ gậy lên xứ Ai-cập rồi CHÚA làm một trận gió mạnh thổi từ phía đông đến. Gió thổi qua xứ suốt ngày và đêm đó. Đến sáng hôm sau, gió đông mang cào cào tới.
EXO 10:14 Hàng bầy cào cào che kín đất Ai-cập và đậu xuống khắp nơi. Từ trước chưa bao giờ có nhiều cào cào đến như thế, và sau nầy cũng không có nữa.
EXO 10:15 Chúng phủ kín đất đến nỗi đất hoá đen. Chúng ăn sạch những gì mưa đá còn chừa lại mọi cây trong đồng cùng các trái trên cây. Không còn màu xanh nào còn sót lại trên cây hay thảo mộc trên khắp xứ Ai-cập.
EXO 10:16 Vua lập tức gọi Mô-se và A-rôn lại. Vua bảo, “Ta đã phạm tội cùng CHÚA là Thượng Đế và phạm tội cùng chính các ngươi nữa.
EXO 10:17 Bây giờ hãy tha lỗi cho ta. Hãy cầu nguyện CHÚA là Thượng Đế ngươi, xin Ngài hãy ngưng sự trừng phạt chết chóc nầy.”
EXO 10:18 Mô-se từ giã vua và cầu nguyện cùng CHÚA.
EXO 10:19 Nên CHÚA đổi chiều gió. Ngài làm một trận gió mạnh từ hướng tây lại thổi đùa cào cào xuống Hồng hải. Khắp xứ không còn sót một con cào cào nào.
EXO 10:20 Nhưng CHÚA làm cho nhà vua ương ngạnh trở lại, không chịu để cho dân Ít-ra-en đi.
EXO 10:21 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Hãy giơ tay con lên trời thì bóng tối sẽ phủ cả xứ Ai-cập. Bóng tối dầy đặc đến nỗi người ta phải lần mò để đi.”
EXO 10:22 Mô-se liền giơ tay lên trời, thì bóng tối toàn diện bao phủ khắp xứ Ai-cập trong ba ngày.
EXO 10:23 Không ai thấy ai cả, cũng không ai đi đâu trong vòng ba ngày. Nhưng chỗ người Ít-ra-en ở thì có ánh sáng.
EXO 10:24 Một lần nữa vua cho gọi Mô-se đến. Vua bảo, “Tất cả các ngươi có thể đi thờ phụng CHÚA. Các ngươi có thể mang đàn bà, con trẻ đi theo nhưng các ngươi phải để gia súc lại đây.”
EXO 10:25 Mô-se đáp, “Vua phải cho chúng tôi mang gia súc theo để làm sinh tế và của lễ thiêu vì chúng tôi phải dâng lên cho CHÚA là Thượng Đế chúng tôi.
EXO 10:26 Nên chúng tôi phải mang theo gia súc, không chừa con nào. Chúng tôi phải dùng một số gia súc để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi chưa biết đích xác phải cần gì để thờ phụng CHÚA cho đến khi chúng tôi tới đó.”
EXO 10:27 Nhưng CHÚA làm cho nhà vua ương ngạnh, nên không để cho họ đi.
EXO 10:28 Vua bảo Mô-se, “Ngươi hãy ra khỏi đây ngay, chớ bao giờ trở lại nữa! Ngày nào ngươi thấy mặt ta là ngươi chết đó.”
EXO 10:29 Mô-se đáp, “Tôi sẽ làm như điều vua muốn. Tôi sẽ không bao giờ thấy mặt vua nữa đâu.”
EXO 11:1 CHÚA bảo Mô-se, “Ta còn sẽ phạt vua và dân Ai-cập một lần nữa. Sau đó vua sẽ cho các con đi ra khỏi xứ Ai-cập. Khi người cho các con ra đi người sẽ đuổi tất cả các con ra khỏi xứ.
EXO 11:2 Hãy bảo các người đàn ông đàn bà trong Ít-ra-en xin láng giềng của mình những nữ trang vàng hay bạc.”
EXO 11:3 CHÚA làm cho người Ai-cập kính nể người Ít-ra-en, cho đến cả các quần thần của vua và dân Ai-cập cũng xem Mô-se như vĩ nhân.
EXO 11:4 Mô-se thưa với vua, “CHÚA phán như sau: ‘Khoảng nửa đêm nay ta sẽ đi tuần khắp xứ Ai-cập.
EXO 11:5 Tất cả con trưởng nam trong xứ Ai-cập từ con trưởng nam của vua ngồi trên ngôi, cho đến con trưởng nam của người nữ nô lệ đang xay cối đều sẽ chết, luôn cả con đầu lòng của súc vật cũng vậy.
EXO 11:6 Khắp xứ Ai-cập sẽ có tiếng kêu khóc lớn đến nỗi từ trước tới giờ và sau nầy cũng không có như thế nữa.
EXO 11:7 Nhưng trong Ít-ra-en dù đến một con chó cũng sẽ không sủa người hay thú vật. Rồi ngươi sẽ biết CHÚA đối với Ít-ra-en khác với Ai-cập.’
EXO 11:8 Tất cả các quần thần vua sẽ đến quì mọp trước mặt tôi và nói, ‘Tất cả các ngươi hãy đi ra khỏi nước hết đi.’ Sau đó, chúng tôi sẽ ra đi.” Rồi Mô-se giận dữ ra về.
EXO 11:9 CHÚA đã bảo Mô-se, “Nhà vua sẽ không nghe con và A-rôn đâu để ta có dịp làm nhiều phép lạ trong xứ Ai-cập.”
EXO 11:10 Mô-se và A-rôn đã làm nhiều phép lạ đó trước mắt nhà vua nhưng CHÚA khiến vua ương ngạnh nên không chịu để dân Ít-ra-en ra khỏi xứ mình.
EXO 12:1 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn trong xứ Ai-cập như sau:
EXO 12:2 “Tháng nầy là tháng thứ nhất, tức tháng đầu tiên trong năm cho các con.
EXO 12:3 Hãy bảo toàn thể dân Ít-ra-en rằng vào ngày mười tháng nầy mỗi người phải kiếm một chiên con cho từng gia đình, mỗi gia đình một con.
EXO 12:4 Nếu người trong nhà ăn không hết con chiên thì chia với người láng giềng gần nhất, tùy theo số người. Phải làm sao mỗi người có đủ thịt chiên con để ăn.
EXO 12:5 Con chiên phải là chiên con đực một tuổi, không tật nguyền. Con thú ấy có thể là chiên con hay dê con cũng được.
EXO 12:6 Phải nuôi nó cho đến ngày mười bốn của tháng. Vào ngày đó, mọi người dân trong Ít-ra-en phải giết con vật lúc sẩm tối.
EXO 12:7 Lấy một ít máu của nó bôi lên hai bên cửa và phía trên khung cửa của nhà sẽ ăn thịt nó.
EXO 12:8 Trong đêm đó họ phải quay chiên con trên lửa. Họ phải ăn thịt nó với rau đắng và bánh mì không men.
EXO 12:9 Đừng ăn thịt sống hay luộc trong nước. Hãy quay con chiên trên lửa, luôn đầu, chân và bộ lòng.
EXO 12:10 Các con không được để món gì còn lại đến sáng hôm sau. Món gì còn lại qua sáng hôm sau phải thiêu trong lửa.
EXO 12:11 Các con phải ăn như sau: Ai nấy phải nai nịt sẵn sàng như thể sắp lên đường đi xa. Phải mang giày và cầm gậy sẵn trong tay. Phải ăn vội vàng, vì đó là Lễ Vượt Qua cho CHÚA.
EXO 12:12 Đêm đó ta sẽ đi tuần qua xứ Ai-cập và giết hết các con đầu lòng của người và thú vật trên toàn xứ. Ta cũng sẽ phạt các thần của xứ Ai-cập. Ta là CHÚA.
EXO 12:13 Nhưng nhà nào có bôi huyết tức là dấu hiệu các con ở. Khi thấy huyết, ta sẽ đi qua khỏi. Các con sẽ không bị tổn hại gì khi ta trừng phạt xứ Ai-cập.
EXO 12:14 Các con phải nhớ ngày nầy để kỷ niệm cho CHÚA. Con cháu các con từ nay về sau phải giữ lễ nầy để tôn kính CHÚA.
EXO 12:15 Trong lễ nầy, các con phải ăn bánh mì không men trong bảy ngày. Ngày đầu tiên các con phải lấy hết men ra khỏi nhà. Không ai được phép ăn món gì có men suốt bảy ngày, nếu không người đó sẽ bị loại khỏi dân Ít-ra-en.
EXO 12:16 Các con cũng phải giữ những buổi họp thánh vào ngày đầu và ngày cuối của lễ. Trong mấy ngày đó, các con không được làm gì hết; chỉ được phép chuẩn bị bữa ăn thôi.
EXO 12:17 Các con phải kỷ niệm Lễ Bánh Không Men, vì trong ngày nầy ta dẫn đoàn dân ta ra khỏi Ai-cập. Nên con cháu các con phải giữ lễ nầy. Đây là luật định vĩnh viễn từ nay về sau.
EXO 12:18 Vào tháng đầu của năm, các con phải ăn bánh không men, từ chiều ngày mười bốn đến chiều ngày hai mươi.
EXO 12:19 Trong suốt bảy ngày, nhà các con không được có men. Ai ăn men trong thời gian nầy, dù là người Ít-ra-en, hay người ngoại quốc sống giữa các con, sẽ bị loại ra khỏi cộng đồng Ít-ra-en.
EXO 12:20 Trong lễ nầy các con không được ăn món gì có men. Dù sống ở bất cứ đâu, các con chỉ được ăn bánh không men.”
EXO 12:21 Rồi Mô-se gọi các bô lão Ít-ra-en lại bảo, “Hãy chuẩn bị thú vật cho gia đình các ông và giết chiên con cho Lễ Vượt Qua.
EXO 12:22 Hãy lấy một nhánh cây kinh giới, nhúng trong chén đựng huyết rồi bôi huyết lên hai bên và phía trên khung cửa. Không ai được ra khỏi nhà cho đến sáng hôm sau.
EXO 12:23 Khi CHÚA đi tuần qua xứ để giết người Ai-cập, Ngài sẽ thấy huyết hai bên cùng phía trên cánh cửa, và sẽ đi qua nhà đó. Ngài không để kẻ mang cái chết vào nhà giết các ông.
EXO 12:24 Các ông phải giữ lệnh nầy làm một luật lệ cho các ông và con cháu các ông từ nay về sau.
EXO 12:25 Phải giữ lễ đó khi các ông vào xứ mà CHÚA hứa ban cho các ông.
EXO 12:26 Khi con cháu các ông hỏi, ‘Tại sao chúng ta giữ lễ nầy?’
EXO 12:27 thì hãy trả lời, ‘Đây là của Lễ Vượt Qua để tôn kính Thượng Đế. Trước kia khi chúng ta còn ở Ai-cập, CHÚA vượt qua các nhà của người Ít-ra-en. Khi Ngài giết người Ai-cập, Ngài cứu nhà của chúng ta.’” Rồi mọi người cúi xuống bái lạy và thờ phụng CHÚA.
EXO 12:28 Họ làm theo như điều CHÚA căn dặn Mô-se và A-rôn.
EXO 12:29 Vào nửa đêm CHÚA giết các con đầu lòng trong xứ Ai-cập từ con đầu lòng của vua ngồi trên ngôi cho đến con đầu lòng của tù nhân ngồi trong khám. Ngoài ra con đầu lòng của thú vật cũng bị giết.
EXO 12:30 Vua, các quần thần, và toàn dân Ai-cập thức giấc nửa đêm vì nhà nào cũng có người bị giết. Cả xứ vang tiếng kêu khóc thê thảm.
EXO 12:31 Đang đêm vua gọi Mô-se và A-rôn đến bảo, “Hãy rời khỏi dân ta ngay lập tức. Ngươi và dân ngươi hãy làm theo như điều các ngươi xin; hãy đi thờ phụng CHÚA.
EXO 12:32 Mang hết các gia súc như các ngươi xin và đi đi. Ngoài ra cũng hãy chúc phước cho ta.”
EXO 12:33 Người Ai-cập cũng hối thúc người Ít-ra-en ra đi cho nhanh. Họ bảo, “Nếu các ông bà không ra đi, chúng tôi sẽ chết hết!”
EXO 12:34 Vậy dân chúng mang theo bột chưa pha men đi theo. Họ gói các chén bát để trộn bột trong áo quần rồi vác lên vai.
EXO 12:35 Người Ít-ra-en làm theo như Mô-se dặn và xin các láng giềng người Ai-cập các đồ trang sức bằng bạc và vàng, cùng quần áo.
EXO 12:36 CHÚA khiến người Ai-cập có cảm tình với họ, nên người Ai-cập cho họ bất cứ thứ gì họ xin. Như thế người Ít-ra-en lấy tất cả những báu vật của người Ai-cập.
EXO 12:37 Dân Ít-ra-en đi từ Ram-se đến Xu-cốt. Có khoảng sáu trăm ngàn người đàn ông ra đi, không kể đàn bà trẻ con.
EXO 12:38 Nhiều người không thuộc dân Ít-ra-en cũng đi theo, cùng với một số rất lớn chiên, dê, và gia súc.
EXO 12:39 Người Ít-ra-en dùng bột đã mang ra khỏi Ai-cập để làm bánh không men. Vì bột không pha men, và vì bị hối thúc ra khỏi Ai-cập nên họ không thể chần chờ hay chuẩn bị kịp thức ăn cho chuyến ra đi.
EXO 12:40 Dân Ít-ra-en đã cư ngụ trong xứ Ai-cập 430 năm;
EXO 12:41 vào đúng ngày chót của năm 430, các đoàn người của CHÚA ra khỏi Ai-cập.
EXO 12:42 Đêm ấy CHÚA canh chừng để đem họ ra khỏi Ai-cập nên từ đó về sau người Ít-ra-en cũng phải thức canh đêm ấy để tôn kính CHÚA.
EXO 12:43 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn, “Đây là các qui tắc về Lễ Vượt Qua: Không một người ngoại quốc nào được phép ăn lễ đó.
EXO 12:44 Nếu ai mua nô lệ và làm phép cắt dương bì cho nó thì người nô lệ ấy được phép ăn Lễ Vượt Qua.
EXO 12:45 Nhưng người tạm cư trong xứ hay kẻ làm thuê không được phép ăn lễ đó.
EXO 12:46 Phải ăn trong nhà; không được mang thịt ra ngoài. Không được làm gãy cái xương nào.
EXO 12:47 Tất cả cộng đồng Ít-ra-en phải tham dự lễ nầy.
EXO 12:48 Người ngoại quốc sống chung với các con chỉ được phép ăn Lễ Vượt Qua của CHÚA nếu mọi người đàn ông trong nhà họ chịu cắt dương bì. Và vì người đó đã trở thành công dân Ít-ra-en nên có thể dự bữa ăn đó. Nhưng người chưa chịu phép cắt dương bì không được ăn Lễ Vượt Qua.
EXO 12:49 Luật nầy áp dụng cho người Ít-ra-en sinh trưởng trong xứ hay cho người ngoại quốc sống trong nước.”
EXO 12:50 Vậy toàn dân Ít-ra-en làm theo như CHÚA căn dặn Mô-se và A-rôn.
EXO 12:51 Cùng ngày đó CHÚA dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập theo từng đoàn.
EXO 13:1 CHÚA bảo Mô-se,
EXO 13:2 “Hãy dâng mọi con đầu lòng cho ta. Tất cả những con đầu lòng trong Ít-ra-en, bất kỳ người hay súc vật đều thuộc về ta.”
EXO 13:3 Mô-se nói cùng dân chúng, “Hãy nhớ hôm nay, ngày các ngươi rời Ai-cập. Các ngươi đã làm nô lệ trong xứ, nhưng CHÚA đã dùng quyền năng lớn lao Ngài mang các ngươi ra khỏi nơi nầy. Các ngươi không được ăn món gì có men.
EXO 13:4 Hôm nay trong tháng A-bíp, các ngươi ra đi.
EXO 13:5 CHÚA sẽ dẫn các ngươi đến xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít. Đó là xứ mà Ngài hứa với tổ tiên các ngươi là sẽ ban cho các ngươi. Đất đó rất phì nhiêu. Tại đó các ngươi phải kỷ niệm lễ nầy vào tháng giêng mỗi năm.
EXO 13:6 Trong bảy ngày, các ngươi chỉ được ăn bánh mì không men, rồi đến ngày thứ bảy, sẽ có một lễ lớn tôn kính CHÚA.
EXO 13:7 Vì thế trong bảy ngày, các ngươi không được ăn bánh mì có men. Trong khắp xứ, các ngươi không được có bánh mì có men.
EXO 13:8 Trong ngày đó, các ngươi hãy bảo con trai mình: Chúng ta giữ lễ nầy để nhớ điều CHÚA làm cho cha khi cha ra khỏi Ai-cập.
EXO 13:9 Lễ nầy sẽ giúp các ngươi nhớ lại, như dấu hiệu trên tay hay dấu ghi nhớ trên trán các ngươi. Lễ nầy sẽ nhắc các ngươi nhớ thuật lại điều giáo huấn của CHÚA vì Ngài đã dùng quyền năng lớn lao mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.
EXO 13:10 Vì vậy, phải kỷ niệm lễ nầy mỗi năm vào đúng kỳ.
EXO 13:11 Khi CHÚA đã mang các ngươi vào xứ dân Ca-na-an rồi, xứ mà Ngài đã hứa ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi,
EXO 13:12 thì phải dâng mọi con trưởng nam. Ngoài ra, các gia súc đực đầu lòng cũng phải dâng cho CHÚA.
EXO 13:13 Các ngươi hãy chuộc lại con lừa đầu lòng bằng cách dâng một con chiên con. Nhưng nếu các ngươi không muốn chuộc con lừa đầu lòng thì phải bẻ cổ nó. Các ngươi phải chuộc mọi con trưởng nam từ CHÚA.
EXO 13:14 Sau nầy, khi con trai các ngươi hỏi, ‘Điều đó có ý nghĩa gì?’ thì hãy giải thích, ‘CHÚA dùng quyền năng lớn lao mang chúng ta ra khỏi Ai-cập, xứ mà chúng ta làm nô lệ.
EXO 13:15 Vua Ai-cập ương ngạnh không chịu cho chúng ta đi. Nhưng CHÚA giết mọi con đầu lòng trong xứ Ai-cập, từ người cho đến súc vật. Vì thế chúng ta dâng mọi gia súc đầu lòng cho CHÚA. Cũng vì lý do ấy ta chuộc mọi con trưởng nam của ta từ CHÚA.’
EXO 13:16 Lễ nầy cũng như dấu hiệu trên tay hay dấu nhắc nhở trên trán để giúp nhớ lại việc CHÚA đã dùng quyền năng lớn lao mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.”
EXO 13:17 Khi vua Ai-cập đuổi dân Ít-ra-en ra khỏi xứ, Thượng Đế không dẫn họ đi theo đường băng qua xứ dân Phi-li-tin, tuy rằng đó là đường ngắn nhất. Thượng Đế bảo, “Nếu họ phải chiến đấu, họ rất có thể đổi ý quay trở lại Ai-cập.”
EXO 13:18 Vì thế Ngài dẫn họ qua sa mạc về hướng Hồng hải. Dân Ít-ra-en nai nịt sẵn sàng chiến đấu khi họ rời xứ Ai-cập.
EXO 13:19 Mô-se mang hài cốt của Giô-xép theo mình vì trước khi chết, Giô-xép buộc dân Ít-ra-en hứa làm như thế. Ông bảo, “Khi Thượng Đế giải thoát các anh, hãy nhớ mang hài cốt tôi ra khỏi Ai-cập.”
EXO 13:20 Dân Ít-ra-en rời Xu-cốt và đóng trại tại Ê-tham, nơi ven sa mạc.
EXO 13:21 CHÚA chỉ đường họ đi; ban ngày Ngài đi trước họ trong một trụ mây, và ban đêm Ngài ngự trong trụ lửa để soi sáng đường. Vì thế họ có thể đi cả ngày lẫn đêm.
EXO 13:22 Ban ngày lúc nào cũng có trụ mây, còn ban đêm bao giờ cũng có trụ lửa đi với họ.
EXO 14:1 CHÚA nói cùng Mô-se,
EXO 14:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en quay lại về hướng Bi Ha-hi-rốt và đóng trại giữa Mi-đôn và Hồng hải. Đóng trại đối ngang Ba-anh Xê-phôn, trên bờ biển.
EXO 14:3 Vua Ai-cập sẽ nghĩ, ‘Bọn Ít-ra-en bị lạc đường, mắc kẹt trong sa mạc rồi.’
EXO 14:4 Ta sẽ khiến cho nhà vua ương ngạnh trở lại, để người rượt đuổi theo dân Ít-ra-en; nhưng ta sẽ đánh bại nhà vua và đoàn quân của người. Như thế ta sẽ được tôn kính và người Ai-cập sẽ biết rằng ta là CHÚA.” Dân Ít-ra-en làm theo như điều Mô-se dặn bảo.
EXO 14:5 Khi vua Ai-cập được báo cáo là dân Ít-ra-en đã ra đi, thì vua và các quần thần đổi ý. Họ hỏi nhau, “Chúng ta đã làm gì vậy? Chúng ta đã để dân Ít-ra-en ra đi. Vậy là mình mất một lũ nô lệ rồi!”
EXO 14:6 Nên nhà vua chuẩn bị chiến xa và kéo đạo quân theo mình.
EXO 14:7 Vua mang theo sáu trăm quân xa tốt nhất cùng với tất cả các chiến xa của Ai-cập, mỗi quân xa có một sĩ quan điều khiển.
EXO 14:8 CHÚA khiến cho vua Ai-cập trở nên ương ngạnh, nên người đuổi theo dân Ít-ra-en đang ra đi trong đắc thắng.
EXO 14:9 Người Ai-cập cùng với tất cả ngựa, lính lái quân xa, và đạo quân đuổi theo dân Ít-ra-en. Chúng đuổi kịp dân Ít-ra-en trong khi họ đang cắm trại bên bờ Hồng hải, gần Bi Ha-hi-rốt và Ba-anh Xê-phôn.
EXO 14:10 Khi dân Ít-ra-en thấy vua và đạo quân rượt theo mình thì họ đâm hoảng liền kêu cứu cùng CHÚA.
EXO 14:11 Họ hỏi Mô-se, “Ông đã làm gì cho chúng tôi đây? Tại sao ông mang chúng tôi ra khỏi Ai-cập để bỏ xác trong sa mạc? Xứ Ai-cập không đủ mồ chôn chúng tôi hay sao?”
EXO 14:12 Chúng tôi đã bảo ông hồi còn ở Ai-cập là, “Để mặc chúng tôi; thà chúng tôi ở lại làm nô lệ cho người Ai-cập hơn là phải chết trong sa mạc nầy.”
EXO 14:13 Nhưng Mô-se đáp, “Đừng sợ! Hãy đứng yên chứng kiến, CHÚA sẽ giải cứu các ngươi hôm nay. Những người Ai-cập thấy hôm nay, các ngươi sẽ không còn thấy họ nữa.
EXO 14:14 Các ngươi chỉ việc bình tĩnh; CHÚA sẽ chiến đấu cho các ngươi.”
EXO 14:15 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Tại sao các con kêu cứu cùng ta? Hãy bảo dân Ít-ra-en cứ đi tới.
EXO 14:16 Hãy giơ gậy con ra trên biển để nó rẽ làm đôi cho dân chúng đi trên đất khô.
EXO 14:17 Ta sẽ làm cho người Ai-cập ương ngạnh, để họ đuổi theo người Ít-ra-en, nhưng ta sẽ được tôn kính khi ta đánh bại nhà vua, hết các tài xế quân xa cùng mọi quân xa.
EXO 14:18 Khi ta đánh bại nhà vua, các tài xế quân xa và tất cả quân xa thì người Ai-cập sẽ biết ta là CHÚA.”
EXO 14:19 Lúc đó thiên sứ của Thượng Đế, thường đi trước mặt dân Ít-ra-en, quay trở lại phía sau. Còn trụ mây, thường đi trước dân chúng, thì lại đứng phía sau họ.
EXO 14:20 Nên trụ mây đứng giữa dân Ai-cập và dân Ít-ra-en, khiến cho phía Ai-cập thì tối mà phía dân Ít-ra-en thì sáng, và suốt đêm ấy trụ mây phân cách hai đoàn quân.
EXO 14:21 Mô-se giơ tay lên trên biển. Đêm đó CHÚA mang đến một ngọn gió đông mạnh dồn biển lại, khiến biển trở thành đất khô. Nước biển chia làm đôi,
EXO 14:22 và dân Ít-ra-en đi qua biển trên đất khô, các vách nước chắn ở bên phải và bên trái họ.
EXO 14:23 Sau đó ngựa, quân xa, và các tài xế quân xa của nhà vua theo họ đi xuống biển.
EXO 14:24 Đến sáng, từ trụ mây và trụ lửa CHÚA nhìn xuống trông thấy đạo quân Ai-cập liền khiến họ kinh hoảng.
EXO 14:25 Ngài khóa bánh xe các quân xa khiến họ phải vất vả điều khiển. Người Ai-cập la lớn, “Thôi chúng ta hãy tránh xa dân Ít-ra-en! CHÚA đang chiến đấu cho chúng chống lại Ai-cập.”
EXO 14:26 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Hãy giơ tay con ra trên biển để nước ào trở lại lấp người Ai-cập, quân xa và các tài xế.”
EXO 14:27 Mô-se liền giơ tay ra trên biển, đến sáng sớm biển trở lại vị trí cũ. Người Ai-cập tìm cách chạy trốn nhưng CHÚA xô họ xuống biển sâu.
EXO 14:28 Nước tràn trở lại lấp xuống biển các quân xa, tài xế, và toàn thể đạo quân của vua đã đuổi theo dân Ít-ra-en. Không ai sống sót.
EXO 14:29 Nhưng dân Ít-ra-en băng qua biển như đi trên đất khô, nước tạo thành vách bên phải và bên trái họ.
EXO 14:30 Vậy trong ngày đó CHÚA giải cứu dân Ít-ra-en khỏi tay người Ai-cập. Dân Ít-ra-en nhìn thấy người Ai-cập nằm chết la liệt trên bờ biển.
EXO 14:31 Khi dân Ít-ra-en thấy quyền năng lớn lao mà CHÚA đã dùng để nghịch lại người Ai-cập thì họ kính sợ CHÚA, tin cậy Ngài cùng Mô-se, tôi tớ Ngài.
EXO 15:1 Rồi Mô-se và toàn dân Ít-ra-en hát bài ca sau đây cho CHÚA: “Tôi sẽ hát cho CHÚA, vì Ngài đáng tôn kính. Ngài đã xô ngựa và người lái quân xa xuống biển.
EXO 15:2 CHÚA ban cho tôi sức lực và khiến tôi ca hát; Ngài đã cứu tôi. Ngài là Thượng Đế tôi, Nên tôi sẽ ca tụng Ngài. Ngài là Thượng Đế của tổ tiên tôi, Tôi sẽ tôn kính Ngài.
EXO 15:3 CHÚA là chiến sĩ; Danh Ngài là CHÚA.
EXO 15:4 Ngài đã xô quân xa và binh sĩ của Ai-cập xuống biển sâu. Những sĩ quan tài giỏi nhất của vua đều bị chết đuối ở Hồng hải.
EXO 15:5 Nước sâu vùi lấp chúng, chúng chìm xuống đáy biển như viên đá.
EXO 15:6 Lạy CHÚA, tay phải Ngài mạnh mẽ lạ lùng. Lạy CHÚA, tay phải Ngài đánh tan kẻ thù ra từng mảnh.
EXO 15:7 Trong trận đại thắng, Ngài tiêu diệt những kẻ chống nghịch Ngài. Cơn giận Ngài tiêu diệt chúng, Như lửa hừng thiêu đốt rơm rạ.
EXO 15:8 Chỉ cần một luồng hơi thở của Ngài, Nước dồn lại thành đống. Nước chảy cuồn cuộn, dựng đứng lên như tấm vách; Nước sâu trở thành cứng như đá giữa biển.
EXO 15:9 Kẻ thù chúng con khoe khoang bảo rằng, ‘Ta sẽ rượt theo và bắt kịp chúng. Ta sẽ cướp các tài sản chúng; Ta sẽ tha hồ chiếm đoạt. Ta sẽ rút gươm ra, Tay ta sẽ tiêu diệt chúng.’
EXO 15:10 Nhưng Ngài thổi bay chúng bằng hơi thở mình, Lấy biển vùi lấp chúng. Chúng chìm xuống như chì rơi trong biển sâu.
EXO 15:11 Lạy CHÚA, có thần nào giống Ngài không? Thật không có thần nào như Ngài. Ngài thật thánh khiết lạ lùng, Ngài đáng ca tụng và đáng kính sợ, Ngài làm nhiều phép lạ.
EXO 15:12 Ngài giơ tay phải ra, thì đất nuốt các kẻ thù chúng con.
EXO 15:13 Ngài giữ lời hứa yêu thương, Dắt dân tộc Ngài đã giải cứu. Dùng sức mạnh dìu họ đến đất thánh Ngài.
EXO 15:14 Các quốc gia khác nghe chuyện nầy liền hoảng sợ; Cơn kinh hoàng chụp lấy người Phi-li-tin.
EXO 15:15 Các tộc trưởng của Ê-đôm sẽ kinh hoảng; Những kẻ thế lực của Mô-áp sẽ run sợ; Dân Ca-na-an sẽ mất hết can đảm.
EXO 15:16 Sự kinh hãi và cuống cuồng sẽ rơi trên chúng. Khi thấy quyền năng Ngài, Chúng sẽ đứng yên như tảng đá. Lạy CHÚA, chúng sẽ đứng yên cho đến khi dân Ngài đã đi qua hết. Chúng sẽ đứng yên cho đến khi dân, mà Ngài đã chọn riêng cho mình, đi qua.
EXO 15:17 Ngài sẽ dẫn dân Ngài và đặt họ trên núi của Ngài, Lạy CHÚA, đó là nơi Ngài chuẩn bị để cư ngụ, Lạy CHÚA, đó là đền thờ tay Ngài xây nên.
EXO 15:18 CHÚA là vua cho đến đời đời!”
EXO 15:19 Tất cả ngựa, tài xế quân xa, và quân xa của vua Ai-cập đều chạy vào biển, rồi CHÚA lấp chúng lại bằng nước biển. Nhưng dân Ít-ra-en đi qua biển như trên đất khô.
EXO 15:20 Bấy giờ Mi-ri-am, chị của A-rôn, một nữ tiên tri, cầm trống cơm trong tay. Các người đàn bà đi theo sau nàng, cầm trống cơm và nhảy múa.
EXO 15:21 Mi-ri-am lặp lại các lời ca sau đây: “Hãy hát cho CHÚA, vì Ngài đáng được tôn kính; Ngài đã xô ngựa và lính lái quân xa vào biển sâu.”
EXO 15:22 Từ Hồng hải Mô-se dẫn dân chúng đi vào sa mạc Su-rơ. Họ đi ròng rã ba ngày trong sa mạc nhưng không tìm được nước.
EXO 15:23 Sau cùng họ đến Ma-ra, nơi có nước nhưng uống không được vì nước quá đắng. Vì thế mà nơi đó gọi là Ma-ra.
EXO 15:24 Dân chúng oán trách Mô-se. Họ hỏi, “Chúng ta lấy gì mà uống đây?”
EXO 15:25 Nên Mô-se kêu xin cùng CHÚA, Ngài liền chỉ cho ông một khúc cây. Khi Mô-se ném khúc cây xuống nước, nước liền hóa ngọt, có thể uống được. Nơi đó CHÚA ban cho dân chúng một qui tắc và luật lệ để họ sống theo, cũng là nơi Ngài thử lòng trung thành của họ đối với Ngài.
EXO 15:26 Ngài bảo, “Ngươi phải vâng lời CHÚA là Thượng Đế ngươi và làm theo điều Ngài dặn bảo. Nếu ngươi vâng theo huấn lệnh và giữ các qui luật Ngài thì ta sẽ không gây cho ngươi những bệnh tật mà ta đã gây ra cho người Ai-cập. Ta là CHÚA, Đấng chữa lành ngươi.”
EXO 15:27 Rồi dân chúng đi đến Ê-lim, nơi có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Dân chúng dựng trại tại đó gần mé nước.
EXO 16:1 Toàn thể cộng đồng Ít-ra-en rời Ê-lim đi đến sa mạc Xin, nằm giữa Ê-lim và Si-nai, vào ngày mười lăm tháng thứ nhì sau khi ra khỏi Ai-cập.
EXO 16:2 Lúc đó toàn dân Ít-ra-en oán trách Mô-se và A-rôn trong sa mạc.
EXO 16:3 Họ bảo hai người, “Chẳng thà CHÚA giết chúng tôi trong xứ Ai-cập còn hơn. Ít ra ở đó chúng tôi có thịt và thức ăn tha hồ. Nhưng hai ông mang chúng tôi vào sa mạc nầy để chết đói.”
EXO 16:4 CHÚA liền bảo Mô-se, “Ta sẽ khiến thức ăn từ trời rơi xuống trên các ngươi. Mỗi ngày mọi người phải đi ra lượm thức ăn đủ cho ngày đó. Ta muốn xem dân chúng có vâng theo lời ta dạy hay không.
EXO 16:5 Tuy nhiên ngày thứ sáu mỗi tuần, họ có thể lượm gấp đôi số lượng mỗi ngày. Rồi họ lấy đó mà chuẩn bị thức ăn.”
EXO 16:6 Vậy Mô-se và A-rôn bảo lại với dân chúng: “Chiều nay các ngươi sẽ biết rằng CHÚA là Đấng mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.
EXO 16:7 Sáng mai các ngươi sẽ thấy sự vinh hiển của CHÚA, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài. Chúng tôi chẳng là gì cả, nên không phải các ngươi oán trách chúng tôi mà là oán trách CHÚA.”
EXO 16:8 Mô-se dặn tiếp, “Mỗi chiều, CHÚA sẽ ban thịt cho các ngươi, và mỗi sáng Ngài sẽ cấp bánh cho các ngươi vô hạn định, vì Ngài đã nghe các ngươi oán trách Ngài. Không phải các ngươi oán trách chúng tôi vì chúng tôi có ra gì đâu, nhưng các ngươi oán trách CHÚA.”
EXO 16:9 Rồi Mô-se bảo A-rôn, “Anh hãy bảo toàn thể cộng đồng Ít-ra-en như sau, ‘Hãy tập họp trước mặt CHÚA vì Ngài đã nghe các ngươi oán trách.’”
EXO 16:10 Trong khi A-rôn đang nói chuyện với cộng đồng Ít-ra-en, họ nhìn về phía sa mạc thì thấy vinh hiển của CHÚA hiện ra trong đám mây.
EXO 16:11 CHÚA bảo Mô-se,
EXO 16:12 “Ta đã nghe lời oán trách của dân Ít-ra-en. Nên con hãy bảo họ, ‘Lúc chạng vạng các ngươi sẽ ăn thịt, mỗi sáng các ngươi tha hồ ăn bánh. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA, Thượng Đế các ngươi.’”
EXO 16:13 Chiều hôm đó chim cút bay đến phủ đầy cả doanh trại, rồi buổi sáng sương mai thấm ướt quanh trại.
EXO 16:14 Khi lớp sương tan đi để lại những lớp mỏng giống như nước đá trên mặt đất.
EXO 16:15 Khi người Ít-ra-en thấy thì hỏi nhau, “Cái gì vậy?” vì họ không biết nó là cái gì. Nên Mô-se bảo họ: Đây là bánh mà CHÚA cho các ngươi ăn.
EXO 16:16 CHÚA đã dặn, “Mỗi người trong các ngươi hãy lượm đủ phần ăn của mình, tức khoảng hai lít cho mỗi người trong gia đình.”
EXO 16:17 Vậy dân Ít-ra-en làm theo như thế; người lượm nhiều, người lượm ít.
EXO 16:18 Rồi họ đong. Người lượm nhiều không nhận quá, còn người lượm ít cũng không thiếu hụt. Mỗi người lượm đủ lượng cần dùng cho mình.
EXO 16:19 Mô-se bảo họ, “Đừng giữ gì lại cho đến sáng mai.”
EXO 16:20 Nhưng một số người không nghe Mô-se. Họ để dành một ít đặng sáng hôm sau ăn. Món đó hóa ra dòi bọ và xông lên mùi hôi thối. Mô-se nổi giận cùng mấy người đó.
EXO 16:21 Mỗi sáng ai nấy lượm đủ thức ăn cho mình. Nhưng khi mặt trời mọc lên thì vật đó tan đi.
EXO 16:22 Đến ngày thứ sáu dân chúng lượm gấp đôi, mỗi người bốn lít. Các lãnh tụ cộng đồng đến thuật lại cho Mô-se hay,
EXO 16:23 ông trả lời, “Đó là điều CHÚA căn dặn vì mai là ngày Sa-bát, ngày thánh để nghỉ ngơi cho CHÚA. Hôm nay các ngươi muốn nấu nướng gì cũng được. Thức ăn còn dư thì có thể để đến sáng mai.”
EXO 16:24 Vì thế dân chúng để dành lại đến sáng hôm sau như Mô-se dặn. Món ăn đó không bị hôi thối hay hóa dòi.
EXO 16:25 Mô-se bảo dân chúng, “Hãy ăn thức ăn các ngươi lượm hôm qua. Hôm nay là ngày Sa-bát, ngày nghỉ ngơi của CHÚA; các ngươi sẽ không tìm ra món ăn đó trong đồng hôm nay đâu.
EXO 16:26 Các ngươi lượm thức ăn trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát. Trong ngày đó sẽ không có thức ăn nào trên mặt đất.”
EXO 16:27 Vào ngày thứ bảy có mấy người đi ra lượm thức ăn nhưng chẳng tìm được gì hết.
EXO 16:28 CHÚA liền bảo Mô-se, “Các ngươi sẽ bất tuân huấn lệnh ta cho đến bao giờ?
EXO 16:29 Nầy, CHÚA đã lập nên ngày Sa-bát để các ngươi nghỉ ngơi. Nên ngày thứ sáu CHÚA ban cho các ngươi thức ăn đủ hai ngày, nhưng đến ngày thứ bảy, các ngươi phải nghỉ. Không đi đâu cả.”
EXO 16:30 Vậy dân chúng nghỉ ngơi ngày thứ bảy.
EXO 16:31 Dân Ít-ra-en gọi thức ăn đó là ma-na. Vì nó giống như hột ngò trắng, ăn giống như bánh kẹp pha mật ong.
EXO 16:32 Sau đó Mô-se bảo, “CHÚA phán, ‘Hãy để dành hai lít thức ăn nầy cho con cháu chúng ta. Để chúng nó thấy thức ăn ta cho các ngươi trong sa mạc khi ta mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.’”
EXO 16:33 Mô-se bảo A-rôn, “Hãy lấy một cái hũ đổ ma-na đầy vào. Đặt hũ đó trước mặt CHÚA, để dành lưu lại cho con cháu các ngươi.”
EXO 16:34 Vậy A-rôn làm theo điều CHÚA dặn Mô-se. Ông để hũ đựng ma-na trước Hộp Giao Ước để giữ cho an toàn.
EXO 16:35 Dân Ít-ra-en ăn ma-na trong 40 năm cho đến khi vào xứ họ định cư tức biên giới xứ Ca-na-an.
EXO 16:36 Lường họ dùng cho ma-na là hai lít, khoảng một phần mười ê-pha.
EXO 17:1 Cả cộng đồng Ít-ra-en rời sa mạc Xin và đi từ nơi nầy đến nơi kia theo như CHÚA dặn. Họ đóng trại ở Rê-phi-đim nhưng ở đó không có nước uống.
EXO 17:2 Họ liền gây sự với Mô-se, “Kiếm nước cho chúng tôi uống.” Mô-se trả lời, “Sao các ngươi gây sự với tôi? Sao các ngươi thử CHÚA?”
EXO 17:3 Nhưng dân chúng khát nước quá nên họ oán trách Mô-se. Họ bảo, “Ông mang chúng tôi ra khỏi xứ Ai-cập làm gì? Có phải để chúng tôi, con cái và súc vật chúng tôi chết khát không?”
EXO 17:4 Nên Mô-se kêu cầu cùng CHÚA, “Con làm thế nào đối với dân nầy đây? Thiếu điều họ muốn ném đá giết con.”
EXO 17:5 CHÚA phán cùng Mô-se, “Hãy đi trước dân chúng, mang theo một số bô lão trong Ít-ra-en cùng đi. Cũng hãy mang theo cây gậy con đã dùng để đập nước sông Nin. Rồi đi.
EXO 17:6 Ta sẽ đứng trước mặt con nơi một tảng đá trên núi Hô-rếp. Lấy cây gậy đập tảng đá thì nước sẽ phun ra cho dân chúng uống.” Mô-se làm y như vậy trước sự chứng kiến của các bô lão Ít-ra-en.
EXO 17:7 Ông đặt tên chỗ đó là Mát-xa, vì dân Ít-ra-en đã thử CHÚA khi họ hỏi, “CHÚA có ở với chúng tôi hay không?” Ông cũng gọi nơi đó là Mê-ri-ba vì họ cãi nhau với Mô-se.
EXO 17:8 Đến Rê-phi-đim, dân A-ma-léc tấn công dân Ít-ra-en.
EXO 17:9 Nên Mô-se bảo Giô-suê, “Hãy chọn một số người đi đánh dân A-ma-léc. Ngày mai ta sẽ đứng trên đỉnh đồi, cầm cây gậy của Thượng Đế trong tay.”
EXO 17:10 Giô-suê làm theo lời Mô-se ra đánh dân A-ma-léc trong khi Mô-se, A-rôn và Hu-rơ lên đỉnh đồi.
EXO 17:11 Hễ Mô-se giơ tay bao lâu lên thì dân Ít-ra-en thắng thế, nhưng khi Mô-se bỏ tay xuống thì dân A-ma-léc thắng thế.
EXO 17:12 Lâu dần, khi Mô-se mỏi tay thì mấy người kia lấy một tảng đá lớn để Mô-se ngồi lên. Rồi A-rôn và Hu-rơ đỡ cánh tay Mô-se lên A-rôn đỡ tay bên nầy còn Hu-rơ đỡ tay bên kia. Hai người giữ tay Mô-se như thế cho đến khi mặt trời lặn.
EXO 17:13 Vì thế trong trận ấy Giô-suê đánh bại dân A-ma-léc.
EXO 17:14 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Hãy ghi lại trận đánh nầy vào sách để dân chúng nhớ. Đồng thời đừng quên cho Giô-suê biết rằng ta sẽ tận diệt dân A-ma-léc khỏi mặt đất.”
EXO 17:15 Rồi Mô-se dựng một bàn thờ, đặt tên “CHÚA là Ngọn Cờ của tôi.”
EXO 17:16 Mô-se bảo, “Tôi giương cao ngọn cờ của CHÚA. Ngài sẽ chiến đấu chống lại dân A-ma-léc cho đến đời đời.”
EXO 18:1 Giê-trô, cha vợ của Mô-se, là thầy tế lễ xứ Mi-đi-an. Ông nghe hết những điều Thượng Đế làm cho Mô-se và Ít-ra-en, dân của Ngài, và CHÚA đã dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi xứ Ai-cập ra sao.
EXO 18:2 Lúc đó Mô-se đã cho Xíp-bô-ra, vợ mình về ở với Giê-trô, cha vợ mình,
EXO 18:3 cùng với hai con trai. Con trai đầu tên Ghẹt-sôn vì khi sinh nó ra Mô-se bảo, “Tôi là một lữ khách tạm cư ở một nước ngoài.”
EXO 18:4 Con trai thứ nhì tên Ê-li-ê-xe, vì khi nó sinh ra, Mô-se bảo, “Thượng Đế của cha tôi là Đấng trợ giúp tôi. Ngài cứu tôi khỏi tay vua Ai-cập.”
EXO 18:5 Nên Giê-trô, cha vợ của Mô-se mang vợ và hai con trai Mô-se đi gặp ông. Giê-trô đóng trại trong sa mạc gần núi của Thượng Đế.
EXO 18:6 Giê-trô cho người nhắn trước với Mô-se rằng, “Ta, Giê-trô, cha vợ của con, đang đi đến thăm con cùng với vợ và hai con trai con.”
EXO 18:7 Mô-se đi ra đón cha vợ, cúi mọp xuống và hôn cha vợ. Sau khi hai người thăm hỏi sức khoẻ của nhau thì họ đi vào lều của Mô-se.
EXO 18:8 Mô-se thuật lại cho cha vợ mình những gì CHÚA làm cho vua Ai-cập và người Ai-cập để giải cứu dân Ít-ra-en. Ông cũng kể lại những khó khăn dọc đường và CHÚA giải cứu họ ra sao.
EXO 18:9 Giê-trô rất vui nghe biết những điều tốt CHÚA làm cho Ít-ra-en khi Ngài giải cứu họ khỏi tay người Ai-cập.
EXO 18:10 Ông bảo, “Đáng chúc tụng CHÚA. Ngài đã cứu con khỏi tay vua cùng người Ai-cập, Ngài cũng đã cứu dân chúng khỏi quyền lực của người Ai-cập.
EXO 18:11 Bây giờ ta biết CHÚA lớn hơn các thần, vì Ngài làm những điều đó cho những ai khinh thường dân Ít-ra-en.”
EXO 18:12 Rồi Giê-trô, cha vợ Mô-se dâng một của lễ toàn thiêu và các của lễ khác cho Thượng Đế. A-rôn và các bô lão của Ít-ra-en đến thăm cha vợ Mô-se và dùng bữa ăn thánh chung trước mặt Thượng Đế.
EXO 18:13 Hôm sau Mô-se giải quyết những vụ tranh chấp giữa dân chúng. Dân chúng đứng chầu chực quanh ông từ sáng cho đến tối.
EXO 18:14 Khi cha vợ Mô-se thấy việc ông làm cho dân chúng, mới hỏi, “Con làm gì cho dân chúng vậy? Tại sao chỉ có một mình con giải quyết những vụ tranh chấp, còn tất cả dân chúng thì chỉ đứng chầu chực quanh con từ sáng đến tối?”
EXO 18:15 Mô-se giải thích cho cha vợ mình rằng, “Sở dĩ dân chúng đến với con là nhờ Thượng Đế giúp giải quyết những tranh chấp của họ.
EXO 18:16 Khi họ gặp bất hoà thì đến với con. Con sẽ phân xử ai phải ai quấy. Con cho họ biết luật lệ và lời dạy bảo của Thượng Đế.”
EXO 18:17 Cha vợ Mô-se bảo ông, “Con làm thế nầy không đúng.
EXO 18:18 Con và những người tới gặp con sẽ mệt đuối. Việc nầy quá sức con. Con cáng đáng một mình không nổi đâu.
EXO 18:19 Bây giờ hãy nghe cha, để cha cho con vài ý kiến. Cha muốn Thượng Đế phù hộ con. Con phải thay mặt dân chúng thưa với Thượng Đế về những bất hoà của họ.
EXO 18:20 Khuyên răn họ về luật lệ và những điều giáo huấn, đồng thời dạy họ cách sống và hành động cho phải lẽ.
EXO 18:21 Nhưng con nên chọn một số người có khả năng trong dân chúng tức những người kính sợ Thượng Đế, đáng tin, không tham của hối lộ, làm lệch lạc phán quyết của mình. Cắt cử họ chỉ huy dân chúng, để họ coi sóc từng ngàn, từng trăm, từng năm chục và từng mười người một.
EXO 18:22 Những người chỉ huy nầy sẽ thường xuyên giải quyết những tranh chấp của dân chúng. Họ sẽ mang những trường hợp khó xử đến con giải quyết, còn họ sẽ giải quyết những trường hợp đơn giản. Do đó sẽ bớt gánh nặng cho con, vì họ san sẻ công tác với con.
EXO 18:23 Nếu con làm như thế, theo như Thượng Đế đã truyền dặn con, thì con có thể làm tròn phận sự, còn dân chúng ra về thảnh thơi vì những mối bất hòa của họ được giải quyết.”
EXO 18:24 Mô-se nghe theo ý kiến của cha vợ mình và làm theo như Giê-trô khuyên.
EXO 18:25 Ông chọn những người có khả năng trong vòng dân Ít-ra-en và đề cử họ chỉ huy dân chúng; họ coi sóc hàng ngàn, hàng trăm, hàng năm chục, và hàng mười người.
EXO 18:26 Các người chỉ huy ấy có mặt để giải quyết những tranh chấp giữa vòng dân chúng. Họ trình những trường hợp khó khăn lên cho Mô-se, còn tự họ giải quyết những trường hợp đơn giản.
EXO 18:27 Mô-se tiễn cha vợ mình lên đường, rồi Giê-trô lên đường trở về nhà.
EXO 19:1 Đúng ba tháng sau khi ra khỏi Ai-cập, dân Ít-ra-en đến sa mạc Si-nai.
EXO 19:2 Rời Rê-phi-đim, họ đến sa mạc Si-nai và đóng trại trong sa mạc ngay trước núi.
EXO 19:3 Rồi Mô-se lên núi gặp Thượng Đế. Từ trên núi CHÚA gọi Mô-se rằng, “Hãy bảo điều nầy cho gia đình Gia-cốp, và nói cho toàn dân Ít-ra-en biết:
EXO 19:4 ‘Mỗi người trong các ngươi đã thấy điều ta làm cho dân Ai-cập. Các ngươi đã thấy ta mang ngươi ra khỏi Ai-cập như mang ngươi trên cánh chim ưng. Ta đã đưa các ngươi đến đây cho ta.
EXO 19:5 Nên bây giờ nếu các ngươi vâng lời và giữ giao ước ta, các ngươi sẽ thuộc về ta, thành tài sản quí giá mà ta chọn ra từ các dân. Mặc dù cả trái đất đều thuộc về ta,
EXO 19:6 nhưng các ngươi sẽ làm nước của thầy tế lễ ta và là một dân thánh.’ Con hãy bảo cho toàn dân Ít-ra-en những lời ấy.”
EXO 19:7 Vậy Mô-se xuống núi và triệu tập các bô lão của dân chúng lại. Ông thuật lại cho họ nghe hết mọi điều CHÚA truyền dặn mình.
EXO 19:8 Tất cả dân chúng đồng đáp, “Chúng tôi sẽ làm theo mọi điều Ngài dặn.” Sau đó Mô-se mang lời đáp của dân chúng lên cho CHÚA.
EXO 19:9 CHÚA phán cùng Mô-se, “Ta sẽ ngự xuống trong đám mây dầy đặc và nói chuyện với con. Dân chúng sẽ nghe ta nói chuyện với con và họ sẽ luôn luôn tin cậy con.” Rồi Mô-se thuật lại cho CHÚA điều dân chúng nói.
EXO 19:10 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đến bảo dân chúng dành hôm nay và ngày mai chuẩn bị mình cho sạch. Họ phải giặt quần áo
EXO 19:11 và sẵn sàng cho ngày mốt. Trong ngày đó, ta, CHÚA các ngươi sẽ ngự xuống trên núi Si-nai, và mọi người sẽ nhìn thấy ta.
EXO 19:12 Nhưng con hãy đặt một ranh giới quanh núi để dân chúng không được vượt qua. Bảo họ không được lên núi hay sờ vào chân núi. Ai đụng vào núi sẽ bị xử tử
EXO 19:13 bằng cách ném đá hay bắn tên. Không ai được phép đụng vào người đó. Dù là người hay thú vật cũng phải bị giết. Dân chúng phải chờ hồi kèn thật dài rồi sau đó mới được lên núi.”
EXO 19:14 Sau khi từ núi xuống gặp dân chúng thì Mô-se bảo họ dọn mình để chuẩn bị nghi thức cho Thượng Đế, và giặt quần áo.
EXO 19:15 Rồi Mô-se bảo dân chúng, “Trong ba ngày hãy chuẩn bị sẵn sàng. Trong thời gian đó không được ăn nằm với vợ.”
EXO 19:16 Sáng ngày thứ ba có sấm chớp và mây dầy đặc trên núi. Có một hồi kèn thật to và dài, dân chúng trong trại sợ run.
EXO 19:17 Tiếp đó Mô-se dẫn dân chúng ra khỏi trại để gặp Thượng Đế. Tất cả đều đứng nơi chân núi.
EXO 19:18 Khắp núi Si-nai bị khói bao trùm vì CHÚA ngự xuống núi trong đám lửa. Khói từ núi bốc lên như khói của lò lửa lớn và cả núi rung chuyển mạnh.
EXO 19:19 Tiếng kèn mỗi lúc một lớn. Lúc đó Mô-se nói chuyện và có tiếng Thượng Đế đáp lại.
EXO 19:20 Rồi CHÚA ngự xuống trên đỉnh núi Si-nai. Ngài gọi Mô-se lên đỉnh núi, Mô-se liền đi lên.
EXO 19:21 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đi xuống cảnh cáo dân chúng chớ có tìm cách xông lên gặp ta. Nếu không nhiều người trong đám họ sẽ chết đó.
EXO 19:22 Dù cho thầy tế lễ là những người có thể đến gần ta cũng phải dọn mình cho sạch. Nếu không, ta là CHÚA sẽ phạt họ.”
EXO 19:23 Mô-se thưa với CHÚA, “Dân chúng không thể lên núi Si-nai vì chính Ngài đã dặn: Hãy lập một giới hạn quanh núi, dành giới hạn đó ra thánh.”
EXO 19:24 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đi xuống mang A-rôn lên với con, nhưng đừng để thầy tế lễ hay dân chúng đến gần ta. Nếu không ta sẽ phạt họ.”
EXO 19:25 Mô-se liền xuống núi gặp dân chúng và dặn họ những điều ấy.
EXO 20:1 Sau đó Thượng Đế phán những lời nầy:
EXO 20:2 “Ta là Thượng Đế, CHÚA ngươi, Đấng đã mang ngươi ra khỏi xứ Ai-cập, nơi ngươi làm nô lệ.
EXO 20:3 Ngoài ta, ngươi không được có thần nào khác.
EXO 20:4 Ngươi không được làm cho mình một thần tượng nào giống như bất cứ vật gì trên trời cao hay dưới đất thấp nầy, hoặc trong nước bên dưới đất.
EXO 20:5 Ngươi không được bái lạy hay phục vụ thần tượng nào, vì ta, CHÚA và Thượng Đế ngươi là một Thượng Đế đố kỵ. Nếu ngươi ghét ta, ta sẽ trừng phạt con cái ngươi, cho đến cả cháu chít ngươi nữa.
EXO 20:6 Nhưng ta sẽ tỏ lòng nhân từ đến ngàn thế hệ sau cho những ai yêu mến ta và giữ các mệnh lệnh ta.
EXO 20:7 Ngươi không được dùng danh CHÚA là Thượng Đế ngươi một cách bừa bãi; CHÚA sẽ trừng phạt kẻ nào lạm dụng danh Ngài.
EXO 20:8 Hãy nhớ giữ ngày Sa-bát làm ngày thánh.
EXO 20:9 Hãy làm việc trong sáu ngày,
EXO 20:10 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ để tôn kính CHÚA là Thượng Đế ngươi. Trong ngày đó, không ai được phép làm việc gì cả: ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái, súc vật ngươi, hay những người ngoại quốc cư ngụ trong các thị trấn ngươi cũng vậy.
EXO 20:11 Vì trong sáu ngày CHÚA dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó. Đến ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ ngơi. Nên CHÚA đã chúc phước cho ngày Sa-bát và hoá thánh ngày ấy.
EXO 20:12 Hãy tôn kính cha mẹ ngươi để ngươi được sống lâu trong xứ mà CHÚA là Thượng Đế sẽ ban cho ngươi.
EXO 20:13 Ngươi không được giết người.
EXO 20:14 Ngươi không được phạm tội ngoại tình.
EXO 20:15 Ngươi không được trộm cắp.
EXO 20:16 Ngươi không được đặt điều nói dối về người láng giềng mình.
EXO 20:17 Ngươi không được thèm muốn nhà người láng giềng mình. Ngươi không được tham vợ người, tôi trai tớ gái, bò, lừa của người hay bất cứ vật gì thuộc về láng giềng ngươi.”
EXO 20:18 Khi dân chúng nghe sấm và tiếng kèn, và thấy chớp loè cùng khói bốc lên trên đỉnh núi, họ sợ run nên đứng cách xa núi.
EXO 20:19 Họ bảo Mô-se, “Thôi, chính ông hãy nói với chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe. Nhưng đừng để Thượng Đế nói với chúng tôi chắc chúng tôi sẽ chết hết.”
EXO 20:20 Sau đó Mô-se bảo dân chúng, “Đừng sợ vì Thượng Đế đến để thử các ngươi. Ngài muốn các ngươi kính sợ Ngài để không phạm tội.”
EXO 20:21 Dân chúng đứng cách xa núi, trong khi Mô-se đến gần đám mây đen có Thượng Đế ngự.
EXO 20:22 Rồi CHÚA bảo Mô-se nói với dân Ít-ra-en như sau: “Chính mắt các ngươi đã thấy ta nói chuyện với ngươi từ trời.
EXO 20:23 Ngươi không được làm hình tượng cho mình dù bằng vàng hay bạc; ngoài ta ra ngươi không được thờ thần nào khác.
EXO 20:24 Hãy lập một bàn thờ bằng đất cho ta rồi dâng lên trên đó của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu, chiên và gia súc của ngươi. Hãy thờ phụng ta ở nơi nào ta chọn lập bàn thờ, ta sẽ đến ban phước cho ngươi.
EXO 20:25 Nếu ngươi dùng đá để xây bàn thờ cho ta thì không được dùng đá đẽo. Khi ngươi dùng dụng cụ bằng sắt để đẽo các tảng đá đó, ngươi đã làm cho các tảng đá đó không thích hợp cho việc thờ phụng nữa.
EXO 20:26 Ngươi không nên bước lên bực thang để đến bàn thờ ta, vì người ta sẽ nhìn thấy da thịt qua áo quần của ngươi.”
EXO 21:1 Sau đó Thượng Đế bảo Mô-se, “Sau đây là những luật lệ về cách sống mà ngươi phải truyền cho dân chúng:
EXO 21:2 Nếu ngươi mua một người nô lệ người Do-thái, thì nó sẽ phục vụ ngươi trong sáu năm. Đến năm thứ bảy ngươi phải trả tự do cho nó, còn nó thì sẽ không phải trả gì cho ngươi cả.
EXO 21:3 Nếu khi bắt đầu làm nô lệ cho ngươi mà nó độc thân thì nó sẽ độc thân ra đi. Nhưng khi bắt đầu làm nô lệ cho ngươi mà nó có vợ thì nó có thể mang vợ theo khi ra đi.
EXO 21:4 Nếu người chủ nô lệ cưới vợ cho nó, rồi vợ nó sinh con trai hay con gái thì vợ và con nó thuộc về người chủ. Khi người nô lệ được trả tự do thì chỉ một mình nó ra đi mà thôi.
EXO 21:5 Nhưng nếu người nô lệ nói, ‘Tôi thương chủ tôi, vợ và con tôi, tôi không muốn được trả tự do,’
EXO 21:6 thì người chủ nô lệ phải mang nó đến trước mặt Thượng Đế. Chủ sẽ mang nó đến trước cánh cửa hay khung cửa, rồi dùng cái dùi xỏ lỗ tai nó. Như thế nó sẽ phục vụ chủ suốt đời.
EXO 21:7 Nếu ai bán con gái làm nô lệ thì luật lệ trả tự do cho nó khác với luật lệ trả tự do cho nô lệ nam.
EXO 21:8 Nếu người chủ muốn lấy cô gái đó làm vợ, nhưng sau thấy không thích nàng thì người đó phải để cho thân nhân gần nhất của nàng chuộc nàng lại. Người chủ không có quyền bán nàng cho người ngoại quốc, vì như thế là đối xử bất công với nàng.
EXO 21:9 Nếu người mua nàng hứa để nàng lấy con trai mình, thì phải đối xử với nàng như con gái mình.
EXO 21:10 Nếu người mua nàng lại lấy người đàn bà khác thì người ấy không được giảm bớt thức ăn, quần áo hay liên hệ thể xác với người vợ cũ.
EXO 21:11 Nếu người chủ không cho người vợ cũ ba điều ấy thì nàng có thể tự do ra đi, khỏi phải trả gì cả.
EXO 21:12 Ai đánh người khác và làm thiệt mạng người ấy thì phải bị xử tử.
EXO 21:13 Nhưng nếu ai vô ý làm thiệt mạng người khác, tức Thượng Đế đã để chuyện đó xảy ra, thì người đó phải đi đến một nơi ta chọn.
EXO 21:14 Nhưng nếu ai cố tình giết người khác thì phải bị xử tử, dù cho nó chạy đến bám nơi bàn thờ ta đi nữa cũng vậy.
EXO 21:15 Ai đánh cha hay mẹ mình phải bị xử tử.
EXO 21:16 Ai bắt cóc người khác để bán làm nô lệ hay vẫn còn giữ người bị bắt cóc đang khi bị bắt quả tang thì phải bị xử tử.
EXO 21:17 Ai mắng chửi cha mẹ mình phải bị xử tử.
EXO 21:18 Khi hai người cãi nhau mà người nầy đánh người kia bằng nắm tay hay hòn đá, người kia bị thương nhưng không chết phải nằm liệt giường,
EXO 21:19 về sau người đó đi đứng lại được nhưng phải chống gậy, thì người gây ra thương tích không bị phạt nhưng phải hoàn trả cho người bị thương số tiền tương đương với thời gian liệt giường, và phải lo cho người bị thương cho đến khi người đó bình phục.
EXO 21:20 Nếu ai lấy cây đánh nô lệ nam hay nữ của mình mà người nô lệ chết ngay tại chỗ thì người chủ phải bị trừng phạt.
EXO 21:21 Nhưng nếu người nô lệ bình phục sau một hai ngày thì người chủ sẽ không bị phạt vì người nô lệ đó đã là tài sản của người rồi.
EXO 21:22 Khi hai người đánh nhau mà vô tình đánh phải một người đàn bà có thai khiến người đó bị sẩy thai, nếu không gây ra thương tích trầm trọng gì khác thì người gây ra tai nạn phải bồi thường tiền. Số tiền sẽ do người chồng ấn định, và theo tòa án cho phép.
EXO 21:23 Nhưng nếu gây ra thương tích khác thì sự trừng phạt sẽ là mạng đền mạng,
EXO 21:24 mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân,
EXO 21:25 bỏng đền bỏng, thương tích đền thương tích, và sây sát đền sây sát.
EXO 21:26 Nếu ai đánh người nô lệ nam hay nữ trúng mắt khiến bị mù, thì người đó phải trả tự do cho người nô lệ để đền bù lại con mắt bị mù ấy.
EXO 21:27 Nếu người chủ đánh gãy răng của người nô lệ nam hay nữ thì phải trả tự do cho người nô lệ đó để bù lại chiếc răng gãy.
EXO 21:28 Nếu bò của ai húc chết một người đàn ông hay đàn bà, thì ngươi phải ném đá chết con bò ấy, ngươi không được ăn thịt nó. Nhưng người chủ con bò thì được xem như vô tội.
EXO 21:29 Tuy nhiên nếu con bò trước đây đã gây thương tích cho nhiều người, và mặc dù đã được cảnh cáo, người chủ vẫn thả con bò chạy rông. Nếu nó giết người nào, thì phải ném đá chết con bò, còn người chủ cũng phải bị xử tử luôn.
EXO 21:30 Nhưng nếu gia đình của người chết chịu nhận tiền bồi thường, thì người chủ con bò xem như đã chuộc mạng mình, nhưng phải trả tiền bồi thường tùy theo gia đình nạn nhân đòi.
EXO 21:31 Nếu con bò giết chết con trai hay con gái người nào thì cũng áp dụng luật trên đây.
EXO 21:32 Nếu con bò giết chết một người nô lệ nam hay nữ, người chủ bò phải trả người chủ nô lệ 30 miếng bạc tức giá của một người nô lệ mới, còn con bò thì phải bị ném đá chết.
EXO 21:33 Ai lấy nắp chận hố hay đào hố mà không đậy nắp lại, nếu bò hay lừa của người khác rơi vào đó,
EXO 21:34 thì người chủ hố phải đền bù thiệt hại tương đương với giá con vật chết. Nhưng con vật chết sẽ thuộc về người bồi thường.
EXO 21:35 Nếu bò của ai húc chết bò người khác thì phải bán con bò sống. Hai bên sẽ chia đôi số tiền bán được, và chia đôi con bò chết.
EXO 21:36 Nhưng nếu con bò của người ấy trước kia đã từng gây thương tích cho các con vật khác mà chủ vẫn để chạy rông, thì người ấy phải bồi thường con bò chết, còn con bò chết thì thuộc về mình.”
EXO 22:1 “Nếu ai ăn cắp bò hay chiên rồi giết hay bán nó, thì phải đền bù năm con bò đánh cắp và bốn con chiên đánh cắp.
EXO 22:2 Tên trộm bị bắt phải trả lại con vật ăn cắp. Nếu không có bò hay chiên gì, thì nó phải bị bán làm nô lệ để bồi thường con vật nó ăn cắp. Nếu con vật bị đánh cắp vẫn còn sống trong tay tên trộm, thì nó phải đền cho chủ hai con vật khác, bất kỳ con thú đó là bò, lừa hay chiên. Nếu tên trộm bị giết trong khi đang lẻn vào ban đêm thì người giết nó sẽ không mang tội sát nhân. Nhưng nếu chuyện đó xảy ra ban ngày thì người ấy mang tội sát nhân.
EXO 22:5 Nếu ai thả gia súc mình ăn cỏ trong ruộng hay vườn nho mình mà con vật đi lạc sang ruộng hay vườn nho người khác thì người chủ con vật phải lấy từ hoa lợi tốt nhất của mình, đền cho người kia số thiệt hại.
EXO 22:6 Nếu ai đốt lửa cháy lan qua các bụi cây vào ruộng của láng giềng, mà lửa đốt cháy lúa đang mọc hay lúa đã bó lại của người láng giềng, hoặc thiêu rụi ruộng của láng giềng, thì người đốt lửa phải bồi thường vật bị cháy.
EXO 22:7 Ai giao tiền hay đồ vật cho láng giềng giữ giùm mà bị ăn cắp trong nhà láng giềng, và nếu tên trộm bị bắt thì nó phải bồi thường gấp đôi vật nó đã ăn cắp.
EXO 22:8 Nhưng nếu không bắt được tên trộm thì chủ nhà phải cam kết trước mặt Thượng Đế là mình không ăn cắp đồ vật của người gởi.
EXO 22:9 Khi hai người bất đồng ý với nhau về chủ quyền một món gì chẳng hạn như bò, lừa, chiên, áo quần hay vật gì khác đã bị mất. Nếu cả hai cùng nhận, ‘Cái nầy của tôi,’ thì cả hai phải trình sự việc trước mặt Thượng Đế. Ngài sẽ phân xử ai quấy, rồi người có lỗi sẽ phải trả cho người kia gấp đôi trị giá của vật tranh chấp.
EXO 22:10 Nếu ai nhờ láng giềng giữ giùm lừa, bò, chiên hay bất cứ gia súc nào mà nó bị chết, bị thương hay bị đánh cắp không ai chứng kiến,
EXO 22:11 thì người láng giềng đó phải cam kết trước mặt CHÚA là mình không gây ra thương tích hay giết con vật của người kia, còn người chủ con vật phải chấp nhận lời cam kết đó trước mặt Thượng Đế. Người láng giềng không phải đền con vật cho sở hữu chủ.
EXO 22:12 Nhưng nếu con vật bị đánh cắp khỏi tay người láng giềng thì người đó phải đền cho sở hữu chủ con vật.
EXO 22:13 Nếu nó bị một dã thú giết chết thì người láng giềng phải đưa xác nó ra làm bằng chứng để không phải đền con vật bị giết.
EXO 22:14 Nếu ai mượn một con vật của láng giềng mà nó bị thương hay bị chết trong khi chủ nhân không có mặt tại đó thì người mượn phải đền con vật cho chủ nhân.
EXO 22:15 Nhưng nếu chủ nhân có mặt tại đó thì người mượn không phải đền. Nếu con vật được thuê, thì giá thuê sẽ bù cho sự thiệt hại.”
EXO 22:16 “Giả sử một người đàn ông tìm được một trinh nữ chưa đính hôn cũng chưa hề ăn nằm với người đàn ông nào. Nếu người đàn ông đó ăn nằm với nàng thì người ấy phải trả giá cưới nàng mang về làm vợ.
EXO 22:17 Nhưng nếu người cha không chịu gả con gái mình cho người đó thì người đàn ông đó vẫn phải trả lễ vật cưới thông thường như trả cho cô dâu còn trinh.
EXO 22:18 Hãy xử tử bất cứ đàn bà nào làm nghề đồng bóng.
EXO 22:19 Ai giao hợp với thú vật phải bị xử tử.
EXO 22:20 Hãy tiêu diệt những ai dâng sinh tế cho thần nào khác ngoài CHÚA.
EXO 22:21 Không được lừa gạt hay làm hại người ngoại quốc vì chính ngươi cũng đã từng là người ngoại quốc, cư ngụ trong xứ Ai-cập.
EXO 22:22 Không được ức hiếp đàn bà góa hay trẻ mồ côi.
EXO 22:23 Nếu không họ kêu cứu cùng ta, ta chắc chắn sẽ nghe tiếng kêu của họ.
EXO 22:24 Rồi ta sẽ nổi giận và giết ngươi trong chiến trận. Lúc đó vợ ngươi sẽ thành góa bụa, con cái ngươi sẽ hóa ra mồ côi.
EXO 22:25 Khi ngươi cho một trong con dân nghèo khó của ta vay, đừng đối xử với họ như những kẻ chuyên cho vay tiền. Đừng tính lời trên số tiền cho vay.
EXO 22:26 Nếu láng giềng ngươi đưa áo họ cho ngươi làm đồ cầm, thế số tiền họ thiếu, thì phải trả áo lại cho họ trước chiều tối,
EXO 22:27 vì đó là đồ mặc duy nhất của người ấy để che ấm thân. Người đó sẽ không có gì khác để ngủ. Nếu người kêu cứu cùng ta, ta sẽ nghe, vì ta đầy nhân ái.
EXO 22:28 Ngươi không được nói phạm đến Thượng Đế hay nguyền rủa một người lãnh đạo của dân chúng ngươi.
EXO 22:29 Đừng giữ lại của dâng từ sản vật đầu mùa hay rượu đầu mùa mà ngươi làm. Ngươi cũng phải dâng con trưởng nam cho ta.
EXO 22:30 Đối với bò đực hay chiên cũng phải làm như vậy. Các con vật đầu lòng sẽ ở với mẹ chúng trong bảy ngày, rồi đến ngày thứ tám ngươi hãy dâng nó cho ta.
EXO 22:31 Ngươi hãy làm một dân thánh cho ta. Ngươi không được ăn thịt con vật nào đã bị dã thú giết chết. Phải cho chó ăn thịt nó.”
EXO 23:1 “Ngươi không được nói dối. Nếu ngươi ra làm chứng trước tòa thì không nên giúp kẻ ác bằng cách nói dối.
EXO 23:2 Không phải vì mọi người đều làm quấy mà ngươi cũng phải làm quấy theo. Nếu ngươi ra làm chứng trước tòa thì không được phá hỏng một vụ xử công bằng. Không phải vì mọi người nói dối mà ngươi phải nói dối theo.
EXO 23:3 Nếu một người nghèo ra hầu tòa, ngươi không nên thiên vị người đó chỉ vì người đó nghèo.
EXO 23:4 Nếu ngươi thấy bò hay lừa của kẻ thù đi lạc thì phải dẫn nó về cho người đó.
EXO 23:5 Nếu ngươi thấy lừa của kẻ thù quỵ ngã vì chở nặng thì đừng làm ngơ. Ngươi phải giúp kẻ thù, đỡ con lừa lên.
EXO 23:6 Ngươi không được bất công với người nghèo khi người đó ra hầu tòa.
EXO 23:7 Khi ngươi kiện người nào ra tòa thì không được nói dối. Không được để cho người vô tội hay thanh liêm bị tử hình, vì ta cũng không xem kẻ có tội như vô tội.
EXO 23:8 Ngươi không được nhận tiền hối lộ để nói dối trước tòa, vì tiền đó khiến ngươi mù, không còn thấy lẽ phải. Của hối lộ khiến người tốt đâm ra nói dối.
EXO 23:9 Ngươi không được ngược đãi người ngoại quốc, vì ngươi đã biết thân phận người ngoại quốc như thế nào, bởi chính ngươi cũng đã từng là người ngoại quốc trong xứ Ai-cập.”
EXO 23:10 “Trong sáu năm, ngươi hãy trồng trọt và gặt hái trong đất ruộng ngươi.
EXO 23:11 Nhưng đến năm thứ bảy, đừng cày bừa hay trồng trọt gì trong đất cả. Nếu năm ấy đất sinh hoa lợi hoang thì hãy để cho người nghèo dùng, còn lại thì để cho muông thú ăn. Còn về vườn nho, vườn cây ô-liu cũng vậy.
EXO 23:12 Ngươi hãy làm việc sáu ngày trong tuần, nhưng đến ngày thứ bảy ngươi phải nghỉ ngơi. Như thế để cho bò và lừa ngươi nghỉ ngơi và cũng để cho kẻ nô lệ sinh trong nhà ngươi và người ngoại quốc lấy lại sức.
EXO 23:13 Hãy làm theo những điều ta dặn biểu. Ngươi không được nhắc đến tên của các thần khác; miệng ngươi không được nói đến tên chúng nữa.”
EXO 23:14 “Mỗi năm ba lần ngươi phải giữ lễ lớn để tôn kính ta.
EXO 23:15 Ngươi phải giữ Lễ Bánh Không Men theo cách ta đã dặn. Trong bảy ngày ngươi phải ăn bánh mì không men theo đúng thời gian ấn định trong tháng A-bíp, tức tháng mà các ngươi ra khỏi Ai-cập. Không ai được đến thờ phụng ta mà không mang theo của lễ.
EXO 23:16 Ngươi phải giữ Lễ Các Tuần. Hãy dâng cho Thượng Đế sản vật đầu mùa, ngươi gặt hái từ đồng ruộng mình. Ngươi phải giữ Lễ Lều Tạm vào mùa thu, khi ngươi gom góp hết hoa lợi trong ruộng.
EXO 23:17 Như thế mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông phải đến thờ phụng CHÚA là Thượng Đế.
EXO 23:18 Ngươi không được dâng huyết thú vật với thứ gì có men. Ngươi không được để dành mỡ trong của lễ cho đến hôm sau.
EXO 23:19 Ngươi phải mang sản vật đầu mùa tốt nhất của đất đai ngươi vào Nhà của CHÚA là Thượng Đế ngươi. Ngươi không được nấu dê con trong sữa mẹ nó.”
EXO 23:20 “Ta sai một thiên sứ đi trước ngươi, người sẽ bảo vệ ngươi khi đi đường. Người sẽ dẫn ngươi đến nơi ta đã chuẩn bị sẵn.
EXO 23:21 Hãy để ý và vâng lời người. Đừng chống nghịch người; người sẽ không dung tha những sự chống đối, vì quyền lực ta ở trong tay người.
EXO 23:22 Nếu ngươi lắng nghe kỹ những điều người nói và làm theo những điều ta bảo ngươi, thì ta sẽ làm kẻ thù của kẻ thù ngươi. Ta sẽ chiến đấu chống lại những kẻ chống lại ngươi.
EXO 23:23 Thiên sứ ta sẽ đi trước, đưa ngươi vào xứ dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-ri-sít, dân Ca-na-an, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít. Ta sẽ tận diệt chúng nó.
EXO 23:24 Ngươi không được bái lạy các thần chúng nó, hay thờ phụng chúng. Ngươi không nên sống như chúng nó. Ngươi phải tiêu hủy tất cả các thần tượng của chúng nó, đập bể các trụ đá mà chúng dùng để thờ phụng.
EXO 23:25 Nếu ngươi thờ phụng CHÚA là Thượng Đế ngươi, ta sẽ ban phước, cho ngươi bánh ăn và nước uống. Ta sẽ cất bệnh tật ra khỏi ngươi.
EXO 23:26 Không đàn bà nào trong vòng các ngươi sẽ bị sẩy thai, tất cả đàn bà đều sẽ sinh con. Ta sẽ cho các ngươi sống lâu.
EXO 23:27 Ta sẽ khiến kẻ thù ngươi khiếp sợ ta. Ta sẽ làm rối loạn hàng ngũ dân nào mà ngươi tranh chiến, và ta sẽ khiến tất cả các kẻ thù ngươi bỏ chạy trước mặt ngươi.
EXO 23:28 Ta sẽ giáng sự kinh hoàng đi trước ngươi để đánh đuổi các dân Hê-vít, dân Ca-na-an, và dân Hê-tít khỏi trước mặt ngươi.
EXO 23:29 Nhưng ta sẽ không đuổi chúng đi hết trong một năm vì đất sẽ trở thành hoang vu, dã thú sẽ sinh sôi quá nhiều ngươi không chịu nổi.
EXO 23:30 Nhưng ta sẽ đuổi các dân đó dần dần, cho đến chừng ngươi có đông đủ dân để bình trị xứ.
EXO 23:31 Ta sẽ cấp cho ngươi đất từ Hồng hải cho đến Địa-trung-hải, và từ sa mạc cho đến sông Ơ-phơ-rát. Ta sẽ cho ngươi quyền lực trên dân hiện đang cư ngụ trong xứ, ngươi sẽ đuổi chúng ra.
EXO 23:32 Ngươi không được kết ước với các dân đó hay với các thần của chúng.
EXO 23:33 Ngươi không được để chúng sống trong đất ngươi, nếu không chúng sẽ khiến ngươi phạm tội cùng ta. Nếu ngươi thờ phụng các thần của chúng, ngươi sẽ bị rơi vào bẫy.”
EXO 24:1 CHÚA bảo Mô-se, “Ngươi, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu, và 70 bô lão của Ít-ra-en phải lên gặp ta, và đứng xa xa thờ lạy ta.
EXO 24:2 Rồi chỉ một mình Mô-se sẽ đến gần ta; những người khác không được lại gần. Còn dân chúng không được phép lên núi với Mô-se.”
EXO 24:3 Mô-se thuật lại cho dân chúng mọi lời của CHÚA cùng những luật lệ về cách sống. Rồi toàn thể dân chúng đồng thanh đáp lớn, “Chúng tôi sẽ làm theo mọi điều CHÚA dặn.”
EXO 24:4 Mô-se liền ghi lại mọi lời của CHÚA. Sáng hôm sau ông dậy sớm và xây một bàn thờ gần chân núi. Ông dựng mười hai tảng đá, mỗi tảng đại diện cho một trong mười hai chi tộc Ít-ra-en.
EXO 24:5 Sau đó Mô-se phái các thanh niên Ít-ra-en đi dâng của lễ toàn thiêu và dâng các bò đực làm của lễ thân hữu cho CHÚA.
EXO 24:6 Mô-se đựng phân nửa số huyết của các con vật đó trong các chén bát, và rưới phần nửa số huyết kia lên bàn thờ.
EXO 24:7 Rồi ông lấy sách Giao Ước ra đọc cho dân chúng nghe. Ông nói, “Chúng ta sẽ làm theo mọi điều CHÚA phán; chúng ta sẽ vâng theo.”
EXO 24:8 Sau đó Mô-se lấy huyết từ trong các chén bát rưới lên dân chúng và nói, “Đây là huyết khởi đầu Giao Ước, Giao Ước mà CHÚA đã lập với đồng bào về những lời nầy.”
EXO 24:9 Mô-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu và bảy mươi bô lão Ít-ra-en đi lên núi
EXO 24:10 và nhìn thấy Thượng Đế của Ít-ra-en. Dưới chân Ngài có một mặt phẳng giống như tráng bằng bích ngọc và trong như bầu trời!
EXO 24:11 Các lãnh tụ nầy của Ít-ra-en nhìn thấy Thượng Đế nhưng Ngài không tiêu diệt họ. Họ ăn uống chung với nhau.
EXO 24:12 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy lên núi gặp ta. Hãy chờ đó rồi ta sẽ cho ngươi hai bảng đá. Trên các bảng đó có ghi những lời giáo huấn và mệnh lệnh ta viết để dạy dân chúng.”
EXO 24:13 Vậy Mô-se và phụ tá Giô-suê ra đi. Mô-se đi lên núi Si-nai, tức núi của Thượng Đế.
EXO 24:14 Mô-se bảo các bô lão, “Hãy chờ đây cho đến khi tôi trở về cùng các ngươi. A-rôn và Hu-rơ sẽ ở với các ngươi, nên nếu ai có bất hoà gì với nhau thì nhờ họ giải quyết.”
EXO 24:15 Khi Mô-se lên núi thì cả núi bị mây phủ.
EXO 24:16 Sự vinh quang của Thượng Đế ngự xuống trên núi Si-nai, cả núi bị mây phủ trong sáu ngày. Đến ngày thứ bảy CHÚA gọi Mô-se từ trong đám mây.
EXO 24:17 Người Ít-ra-en nhìn thấy vinh quang của CHÚA giống như lửa cháy trên đỉnh núi.
EXO 24:18 Rồi Mô-se đi vào trong mây và đi lên núi. Ông ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.
EXO 25:1 CHÚA bảo Mô-se,
EXO 25:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en dâng hiến cho ta. Hãy nhận cho ta quà dâng từ người nào sẵn lòng dâng hiến.
EXO 25:3 Sau đây là những quà dâng mà con phải nhận từ họ: vàng, bạc, đồng;
EXO 25:4 chỉ xanh, tím và đỏ; vải gai mịn, lông dê,
EXO 25:5 da chiên đã nhuộm đỏ; da thuộc tốt; gỗ cây keo;
EXO 25:6 dầu ô-liu dùng thắp đèn; các loại hương liệu dùng trong dầu xức khi tấn phong chức tế lễ hay thắp hương.
EXO 25:7 Hãy nhận ngọc mã não, và các đồ trang sức khác để gắn lên áo ngắn thánh và phần che ngực.”
EXO 25:8 “Dân chúng phải xây một nơi thánh cho ta để ta ngự giữa họ.
EXO 25:9 Hãy dựng Trại Thánh nầy và mọi thứ trong đó theo sơ đồ mà ta sẽ chỉ cho con.
EXO 25:10 Dùng gỗ cây keo đóng một Rương dài một trăm hai mươi lăm phân, rộng bảy mươi lăm phân, và cao bảy mươi bảy lăm phân.
EXO 25:11 Lấy vàng ròng bọc bên trong lẫn bên ngoài Rương, rồi đóng một đường viền vàng quanh Rương.
EXO 25:12 Làm bốn khoen vàng cho Rương và gắn nơi bốn chân, mỗi bên hai khoen.
EXO 25:13 Làm các cây đòn bằng gỗ cây keo và bọc vàng các cây đòn đó.
EXO 25:14 Xỏ các cây đòn qua các khoen hai bên Rương và dùng đòn đó để khiêng Rương.
EXO 25:15 Các cây đòn đó phải luôn luôn xỏ vào các khoen trong Rương, không được rút ra.
EXO 25:16 Xong đặt Giao Ước ta sẽ lập với các con vào trong Rương.
EXO 25:17 Rồi làm một cái nắp bằng vàng ròng cho Rương; đó là ngôi nhân ái. Nắp dài một trăm hai mươi lăm phân, rộng bảy mươi lăm phân.
EXO 25:18 Tạc bằng vàng hai con vật có cánh, đặt mỗi con một đầu Rương.
EXO 25:19 Gắn một con vật vào đầu nắp và liền với cuối nắp Rương.
EXO 25:20 Các cánh của hai con vật phải giương lên trên, che nắp Rương, và hai con vật phải đối diện nhau trên nắp.
EXO 25:21 Gắn nắp đó lên trên Rương, và đặt vào trong Rương Giao Ước mà ta sẽ lập với các con.
EXO 25:22 Ta sẽ gặp các con tại đó, phía trên nắp giữa hai con vật có cánh trên Rương Giao Ước. Tại đó ta sẽ cho con mọi huấn lệnh cho dân Ít-ra-en.”
EXO 25:23 “Hãy đóng một cái bàn bằng gỗ cây keo dài một thước 6, rộng năm mươi phân, cao bảy mươi lăm phân.
EXO 25:24 Lấy vàng bọc bàn đó và chạy đường viền vàng quanh bàn.
EXO 25:25 Đóng một khung rộng bảy phân chạy quanh bàn, và viền vàng quanh khung.
EXO 25:26 Xong làm bốn khoen bằng vàng. Gắn các khoen đó nơi bốn góc chỗ chân bàn.
EXO 25:27 Gắn các khoen gần khung quanh mặt bàn vì bốn khoen đó sẽ giữ bốn cây đòn dùng khiêng bàn.
EXO 25:28 Làm các cây đòn bằng gỗ cây keo, bọc vàng, và dùng các đòn đó để khiêng bàn.
EXO 25:29 Hãy làm các dĩa và chén dùng cho bàn, cùng với các lọ, cốc, tất cả bằng vàng. Các món đó sẽ dùng để rót các của lễ uống.
EXO 25:30 Trên bàn đó sẽ bày bánh trước mặt ta luôn luôn.”
EXO 25:31 “Hãy làm một chân đèn bằng vàng giát mỏng. Đáy, chân, các chén đựng hình cánh hoa, nụ hoa, và cánh hoa phải gắn chung lại thành một khối.
EXO 25:32 Chân đèn phải có sáu nhánh tỏa ra hai bên, mỗi bên ba nhánh.
EXO 25:33 Mỗi nhánh phải có ba chén tạc hình hoa hạnh nhân. Mỗi chén phải có một nụ hoa và một cánh hoa. Tất cả sáu nhánh tỏa ra từ chân đèn phải giống y nhau.
EXO 25:34 Rồi phải làm bốn chén nữa tạc hình hoa hạnh nhân gắn trên chân đèn. Các chén đó cũng phải có nụ và cánh hoa.
EXO 25:35 Hãy đặt một nụ hoa bên dưới mỗi cặp nhánh, tỏa ra từ chân đèn. Tất cả sáu nhánh tỏa ra từ chân đèn phải giống nhau.
EXO 25:36 Các nhánh, nụ hoa, và chân đèn phải làm thành một khối, tạc bằng vàng ròng.
EXO 25:37 Rồi làm bảy cái đèn dầu đặt trên chân đèn để chiếu sáng phía trước chân đèn.
EXO 25:38 Dụng cụ hớt tim đèn và các khay phải làm bằng vàng ròng.
EXO 25:39 Hãy dùng 75 cân vàng ròng để làm chân đèn và các đồ phụ tùng.
EXO 25:40 Hãy cẩn thận làm theo sơ đồ ta đã chỉ cho con trên núi.”
EXO 26:1 “Hãy may mười cái màn cho Lều Thánh bằng vải gai mịn, dùng chỉ xanh, tím, và đỏ. Bảo thợ thủ công khéo thêu hình các con vật có cánh trên vải.
EXO 26:2 Các màn phải may cùng một kích thước dài mười bốn thước và rộng hai thước.
EXO 26:3 Kết năm bức màn lại với nhau thành một bộ, và kết các bức màn còn lại thành bộ thứ nhì.
EXO 26:4 Làm các vòng bằng vải xanh trên viền của mỗi một bộ, bộ kia cũng làm y như vậy.
EXO 26:5 Làm năm mươi vòng trên viền của bộ màn thứ nhất, và năm mươi vòng trên viền màn của bộ thứ nhì. Các vòng phải đối nhau.
EXO 26:6 Làm năm mươi móc vàng nối hai bộ màn với nhau để Lều Thánh thành một miếng mà thôi.
EXO 26:7 Hãy làm một cái lều nữa để bọc Lều Thánh, dùng mười một bức màn làm bằng lông dê.
EXO 26:8 Tất cả các bức màn nầy phải may cùng một kích thước dài mười lăm thước, rộng hai thước.
EXO 26:9 Kết năm bức màn lại thành một bộ. Rồi đính sáu bức màn kia thành bộ thứ nhì. Xếp bức màn thứ sáu phủ lên trước Lều.
EXO 26:10 Làm năm mươi vòng dọc xuống theo viền cuối một bộ màn, bộ kia cũng làm y như vậy.
EXO 26:11 Làm năm mươi móc đồng máng vào các vòng kết lều lại với nhau để tấm che làm thành một miếng.
EXO 26:12 Phần nửa miếng dư thì rủ xuống phía sau của Lều Thánh.
EXO 26:13 Mỗi bên hông Lều Thánh phải có miếng rủ xuống dài nửa thước để che chở Lều.
EXO 26:14 Hãy làm một miếng phủ Lều Thánh bằng da chiên nhuộm đỏ, và dùng một miếng da mịn phủ lên miếng che.
EXO 26:15 Hãy dùng gỗ cây keo để làm khung dựng cho Lều Thánh.
EXO 26:16 Mỗi khung dài năm thước, ngang bảy tấc rưỡi,
EXO 26:17 có hai lỗ mộng để gắn liền với nhau. Mỗi khung đều phải làm giống nhau.
EXO 26:18 Làm hai mươi khung cho mặt phía nam của Lều Thánh.
EXO 26:19 Mỗi khung phải có hai đáy bằng bạc nằm bên dưới, có hai cây cọc để giữ đáy. Con cũng phải làm bốn mươi đáy bạc cho các khung.
EXO 26:20 Đóng hai mươi khung nữa cho phía bắc của Lều Thánh
EXO 26:21 và bốn mươi đáy bạc cho các khung đó mỗi khung có hai đáy bạc.
EXO 26:22 Con phải đóng sáu khung cho phía sau hoặc phía tây của Lều Thánh
EXO 26:23 và hai khung cho mỗi góc phía sau.
EXO 26:24 Hai khung phải rời ra nơi đáy nhưng dính lại phía trên bằng một khoen sắt. Cả hai khung nơi góc đều phải đóng như thế.
EXO 26:25 Như vậy có tất cả là tám khung nằm phía sau của Lều, và mười sáu đáy bằng bạc hai đáy cho mỗi khung.
EXO 26:26 Hãy làm các thanh ngang bằng gỗ cây keo để nối khung đứng của Lều Thánh. Làm năm thanh ngang để giữ mỗi bên khung
EXO 26:27 và năm thanh ngang để giữ các khung với nhau phía bên kia. Cũng hãy làm năm thanh ngang để giữ khung phía tây, về phía sau.
EXO 26:28 Thanh ngang giữa phải đặt nửa chừng khung, và chạy dọc suốt chiều dài của mỗi bên và phía sau.
EXO 26:29 Làm các khoen vàng bên các cạnh của khung để giữ các thanh ngang, rồi bọc vàng các khung và các thanh ngang.
EXO 26:30 Hãy dựng Lều Thánh theo sơ đồ đã chỉ cho con trên núi.
EXO 26:31 Hãy may một bức màn bằng vải gai mịn dùng chỉ xanh, tím và đỏ. Bảo thợ thủ công lành nghề thêu các hình con vật có cánh trên đó.
EXO 26:32 Treo bức màn bằng các móc vàng trên bốn cột gỗ cây keo bọc vàng và đặt các cột đó trên bốn đế bằng bạc.
EXO 26:33 Treo bức màn bằng các móc trên mái, và đặt Rương Giao Ước có hai bảng đá phía sau bức màn. Màn nầy sẽ phân cách Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh.
EXO 26:34 Đặt nắp lên Rương Giao Ước trong Nơi Chí Thánh.
EXO 26:35 Bên ngoài bức màn đặt cái bàn về phía bắc Lều Thánh. Đặt chân đèn về phía nam Lều Thánh đối diện cái bàn.
EXO 26:36 Rồi làm cửa vào Lều bằng một bức màn bằng vải gai mịn dùng chỉ xanh, tím và đỏ. Ai khéo tay thì bảo họ thêu các kiểu trên đó.
EXO 26:37 Làm năm cây cột bằng gỗ cây keo bọc vàng. Dùng các móc vàng để treo màn, và cũng làm năm đế đồng cho các cột đó.”
EXO 27:1 “Hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ cây keo, cao bốn bộ rưỡi. Bàn hình vuông hai thước rưỡi mỗi chiều, một thước rưỡi chiều cao.
EXO 27:2 Hãy làm bốn góc nhô ra như cái sừng sao cho bốn góc và sừng làm thành một khối. Rồi dùng đồng bọc hết bàn thờ.
EXO 27:3 Dùng đồng làm tất cả các dụng cụ và dĩa sẽ dùng trên bàn thờ: chậu đựng tro, các xẻng xúc, tô để rưới huyết, nĩa xiên thịt, và mâm khiêng củi chụm.
EXO 27:4 Làm một tấm lưới lớn bằng đồng để đựng củi, và tra các khoen đồng vào bốn góc, mỗi góc một cái.
EXO 27:5 Đặt lưới bên trong bàn thờ, dưới cái viền, lưng chừng đáy.
EXO 27:6 Làm các cây đòn bằng gỗ cây keo bọc đồng.
EXO 27:7 Xỏ các cây đòn qua các khoen hai bên bàn thờ để khiêng nó.
EXO 27:8 Lấy ván đóng bàn thờ và chừa rỗng bên trong. Làm giống như kiểu con đã được chỉ trên núi.
EXO 27:9 May các màn làm vách tạo một sân họp quanh Lều Thánh. Phía nam phải có màn vách bằng vải gai mịn dài năm mươi thước.
EXO 27:10 Dùng các móc bạc và đòn treo màn trên hai mươi cây cột bằng đồng có hai mươi đế đồng.
EXO 27:11 Phía bắc cũng phải dài năm mươi thước Dùng các móc bạc và khoanh để treo màn trên hai mươi cây cột bằng đồng có hai mươi đế đồng.
EXO 27:12 Phía tây của sân họp cũng phải có một bức vách bằng màn dài hai mươi lăm thước, với mười cây cột và mười đế trên vách đó.
EXO 27:13 Phía đông của sân họp cũng phải dài hai mươi lăm thước.
EXO 27:14 Một bên của lối vào phải có một bức vách bằng màn dài bảy thước rưỡi, đỡ bằng ba cây cột dựng trên ba đế.
EXO 27:15 Phía bên kia của lối vào cũng phải có một bức vách bằng màn dài bảy thước rưỡi, đỡ bằng ba cây cột dựng trên ba đế.
EXO 27:16 Lối vào sân họp phải có một bức màn rộng mười thước, làm bằng vải gai mịn may bằng chỉ xanh, tím và đỏ. Kiếm người lành nghề thêu các kiểu trên đó. Màn đó phải được đỡ bằng bốn cây cột dựng trên bốn đế.
EXO 27:17 Tất cả các cây cột quanh sân họp phải có các khoanh bạc, các móc bạc và các đế đồng.
EXO 27:18 Sân họp phải dài năm mươi thước, rộng hai mươi lăm thước, xung quanh có vách màn cao hai thước rưỡi, làm bằng vải gai mịn. Các đế của các cây cột phải làm bằng đồng.
EXO 27:19 Tất cả những đồ dùng trong Lều Thánh, các cọc Lều Thánh và các cọc của khung quanh sân họp phải làm bằng đồng.”
EXO 27:20 “Hãy bảo dân Ít-ra-en mang dầu ô-liu nguyên chất làm bằng trái ô-liu ép, để giữ cho các đèn trên chân đèn cháy luôn.
EXO 27:21 A-rôn và các con trai người phải giữ cho đèn cháy luôn từ chiều tối đến sáng hôm sau. Đó là đèn trong Lều Họp, bên ngoài bức màn và phía trước Rương. Dân Ít-ra-en và các con cháu họ phải giữ qui tắc nầy luôn từ nay về sau.”
EXO 28:1 “Hãy bảo A-rôn, anh con cùng với các con trai người là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-xa, và Y-tha-ma đến cùng con. Con hãy biệt riêng họ ra khỏi các người Ít-ra-en khác để làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 28:2 Hãy may các trang phục thánh cho A-rôn, anh con để người được tôn kính và tươm tất.
EXO 28:3 Hãy bảo các thợ thủ công lành nghề mà ta đã ban khôn ngoan để may các trang phục cho A-rôn tức là những trang phục chứng tỏ người thuộc về ta đặng làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 28:4 Sau đây là những trang phục họ phải may: một bảng che ngực, một áo lót thánh, một áo ngoài, một áo dệt trong, một khăn vấn đầu, và một thắt lưng bằng vải. Các thợ thủ công phải may các trang phục thánh đó cho A-rôn và các con trai người. Rồi những người đó sẽ làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 28:5 Các thợ thủ công phải dùng chỉ vàng, xanh, tím và đỏ để may và vải gai mịn.”
EXO 28:6 “Hãy dùng chỉ vàng, xanh, tím và đỏ và vải gai mịn để may áo ngắn thánh. Các thợ thủ công sẽ may áo đó.
EXO 28:7 Ở mỗi góc phía trên của áo ngắn thánh phải có một cặp nâng vai cột với nhau ngang qua vai.
EXO 28:8 Các thợ thủ công phải cẩn thận dệt một sợi dây đai trên áo ngắn thánh làm cùng một loại vật liệu tức chỉ vàng, xanh, tím, đỏ và vải gai mịn.
EXO 28:9 Dùng hai viên ngọc mã não và khắc tên của mười hai con trai Ít-ra-en lên đó,
EXO 28:10 mỗi viên ghi sáu tên. Hãy khắc các tên theo thứ tự từ con trai cả cho đến con trai út.
EXO 28:11 Hãy khắc tên của các con trai Ít-ra-en trên các viên ngọc đó như người ta khắc chữ hay kiểu trên con dấu. Lót vàng quanh các viên ngọc để giữ chúng trong áo ngắn thánh.
EXO 28:12 Xong đính hai viên ngọc lên hai đai vai của áo ngắn thánh để ghi nhớ mười hai con trai Ít-ra-en. A-rôn phải đeo tên của họ trên vai khi ra trước mặt CHÚA để nhắc nhở các con trai Ít-ra-en.
EXO 28:13 Làm hai miếng vàng để giữ các viên ngọc
EXO 28:14 và hai sợi dây chuyền vàng, xoắn lại như dây thừng. Buộc dây chuyền vào hai miếng vàng để giữ các viên ngọc.”
EXO 28:15 “Hãy làm một bảng che ngực (hay túi phán xử) để giúp những khi cần quyết định. Các thợ thủ công phải làm bảng nầy như làm áo ngắn thánh tức dùng chỉ vàng, xanh, tím, đỏ và vải gai mịn.
EXO 28:16 Bảng che ngực hình vuông dài một gang tay, rộng một gang tay và xếp đôi lại để làm túi.
EXO 28:17 Hãy nạm bốn hàng ngọc trên bảng che ngực: hàng đầu dùng hồng ngọc, bích ngọc, và hoàng ngọc;
EXO 28:18 hàng nhì dùng thanh ngọc, lam ngọc, lục ngọc
EXO 28:19 hàng thứ ba dùng bửu ngọc, bạch ngọc, và tinh ngọc;
EXO 28:20 hàng thứ tư dùng kim ngọc, vân ngọc, và ngọc thạch. Cẩn vàng quanh các viên ngọc nầy để gắn chúng vào trong bảng che ngực.
EXO 28:21 Gắn mười hai viên ngọc trên bảng che ngực mỗi viên cho một tên của các con trai Ít-ra-en. Trên mỗi viên ngọc khắc một tên trong mười hai chi tộc như người ta khắc con dấu.
EXO 28:22 Làm các sợi dây chuyền vàng, xoắn lại như dây thừng, để đeo bảng che ngực.
EXO 28:23 Làm hai khoen vàng móc vào hai góc trên của bảng che ngực.
EXO 28:24 Cột hai sợi dây chuyền vàng vào hai khoen ở góc trên của bảng che ngực.
EXO 28:25 Cột đầu kia của hai sợi dây chuyền vào hai miếng vàng trên đai vai trước áo ngắn thánh.
EXO 28:26 Làm hai khoen vàng gắn nơi hai góc dưới của bảng che ngực, bên viền trong cạnh áo ngắn thánh.
EXO 28:27 Làm hai khoen vàng nữa gắn nơi cuối của đai vai trước áo ngắn thánh. Đặt các khoen đó gần đường may phía trên thắt lưng bằng vải dệt của áo ngắn thánh.
EXO 28:28 Nối các khoen của bảng che ngực với các khoen của áo ngắn thánh bằng dải băng xanh, nối nó với thắt lưng bằng vải để bảng che ngực không bị lúc lắc khỏi áo ngắn thánh.
EXO 28:29 Khi A-rôn vào Nơi Thánh, người sẽ đeo tên của các con trai Ít-ra-en trên bảng che ngực để giúp người thực hiện những quyết định. Đó sẽ là vật nhắc nhở luôn luôn trước mặt CHÚA.
EXO 28:30 Đặt U-rim và Thu-mim bên trong bảng che ngực để chúng luôn luôn nằm trước ngực khi người đi vào trước mặt CHÚA. Chúng sẽ giúp người làm các quyết định cho dân Ít-ra-en. Nên khi A-rôn đến trước mặt CHÚA người sẽ mang chúng theo luôn luôn.
EXO 28:31 May một cái áo dài ngoài để mặc bên dưới áo ngắn thánh, chỉ dùng vải xanh mà thôi.
EXO 28:32 Khoét một lỗ ngay giữa để A-rôn tròng đầu vào và dệt nơi cổ để lỗ không bị rách.
EXO 28:33 Làm các quả cầu tròn giống trái lựu bằng chỉ xanh, tím, đỏ để treo chúng quanh viền dưới của áo dài ngoài, chen giữa các trái cầu là các chuông vàng.
EXO 28:34 Xung quanh viền dưới của áo dài ngoài treo một chuông vàng rồi một quả lựu, chuông vàng rồi quả lựu nữa nối tiếp nhau.
EXO 28:35 Khi thi hành chức thầy tế lễ, A-rôn phải mặc áo dài đó. Khi vào ra Nơi Thánh trước mặt CHÚA thì tiếng chuông sẽ rung lên để A-rôn khỏi chết.
EXO 28:36 Hãy làm một thẻ bằng vàng ròng và khắc trên đó những chữ sau đây giống như khắc con dấu: ‘Thánh khiết cho CHÚA.’
EXO 28:37 Dùng dải băng xanh để buộc nó vào khăn vành quấn đầu; đặt nó phía trước khăn vành quấn đầu.
EXO 28:38 A-rôn phải mang nó trên trán. Như thế để người chịu trách nhiệm nếu có gì sơ xuất trong những của lễ của người Ít-ra-en. A-rôn phải mang nó trên đầu người luôn luôn để Thượng Đế chấp nhận của lễ của dân chúng.
EXO 28:39 Dệt một áo trong bằng vải gai mịn, và làm băng bịt đầu cũng bằng vải gai mịn. Làm thắt lưng bằng vải có thêu kiểu trên đó.
EXO 28:40 Ngoài ra dệt các áo dài trong, thắt lưng bằng vải, và băng quấn đầu cho các con trai A-rôn để họ được tôn kính và tươm tất.
EXO 28:41 Mặc các trang phục đó cho A-rôn, anh con, và các con trai người. Đổ dầu ô-liu trên đầu để phong chức tế lễ cho họ. Khiến họ thuộc về ta để làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 28:42 May cho họ các trang phục ngắn để che thân họ từ thắt lưng cho đến đùi.
EXO 28:43 A-rôn và các con trai người phải mặc những trang phục lót nầy khi họ vào Lều Họp hay bất cứ lúc nào họ đến gần bàn thờ để thi hành chức thầy tế lễ trong Nơi Thánh. Không mặc các y phục ấy, tức là họ phạm tội và sẽ chết. Đây là luật định mãi mãi từ nay về sau cho A-rôn và con cháu người.”
EXO 29:1 “Khi tấn phong A-rôn và các con trai người làm thầy tế lễ cho ta thì con phải thi hành như sau. Bắt một con bò đực và hai con chiên đực không tật nguyền.
EXO 29:2 Dùng bột mịn không men làm bánh mì, bánh ngọt trộn với dầu ô-liu, và bánh kẹp tẩm dầu.
EXO 29:3 Để tất cả các món đó trong một cái giỏ rồi mang đến với con bò đực và hai con chiên đực.
EXO 29:4 Mang A-rôn và các con trai người đến trước cửa Lều Họp và tắm họ trong nước.
EXO 29:5 Lấy trang phục mặc vào cho A-rôn theo thứ tự áo trong và áo ngoài. Xong mặc áo ngắn thánh cho người cùng với bảng che ngực, rồi buộc thắt lưng bằng vải đẹp vào người.
EXO 29:6 Đặt khăn vành trên đầu người và đặt mão triều thánh lên khăn vành.
EXO 29:7 Dùng một loại dầu ô-liu đặc biệt đổ lên đầu để bổ nhiệm người làm thầy tế lễ.
EXO 29:8 Sau đó đem các con trai người ra và mặc áo dài trong cho họ.
EXO 29:9 Đặt băng quấn trên đầu họ và buộc thắt lưng quanh hông họ. A-rôn và con cháu người sẽ làm thầy tế lễ trong Ít-ra-en từ nay cho đến mãi mãi theo luật định. Đó là thể thức tấn phong chức thầy tế lễ cho A-rôn và các con trai người.
EXO 29:10 Mang con bò đực ra trước Lều Họp, A-rôn và các con trai người sẽ đặt tay lên đầu nó.
EXO 29:11 Rồi giết nó trước mặt CHÚA nơi cửa vào Lều Họp.
EXO 29:12 Lấy ngón tay bôi huyết con bò đực lên các góc bàn thờ, huyết còn lại thì đổ nơi chân bàn thờ.
EXO 29:13 Lấy tất cả mỡ bọc bộ lòng cùng với phần tốt nhất của lá gan, hai trái cật, và mỡ quanh trái cật đem thiêu trên bàn thờ.
EXO 29:14 Còn thịt con bò, da, và ruột thì đốt bên ngoài doanh trại. Đó là của lễ chuộc tội.
EXO 29:15 Bắt một con chiên đực, bảo A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó
EXO 29:16 sau đó giết nó, lấy huyết rưới lên trên và bốn cạnh của bàn thờ.
EXO 29:17 Xẻ nó ra từng miếng, rửa bộ lòng và bốn chân, đặt chung với đầu và các miếng khác.
EXO 29:18 Thiêu hết con chiên trên bàn thờ; đó là của lễ thiêu dâng lên cho CHÚA. Mùi thơm của nó sẽ làm vừa lòng Ngài.
EXO 29:19 Bắt con chiên đực thứ nhì, bảo A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó.
EXO 29:20 Giết nó và lấy ít huyết. Xức huyết nơi cuối vành tai phải của A-rôn và các con trai người và trên ngón cái tay mặt, ngón cái chân mặt của họ. Sau đó rưới chỗ huyết còn lại lên bốn cạnh bàn thờ.
EXO 29:21 Lấy ít huyết từ bàn thờ trộn với một loại dầu đặc biệt dùng tấn phong các thầy tế lễ. Rưới lên áo quần của A-rôn và các con trai người để chứng tỏ A-rôn, các con trai người và áo quần họ được biệt riêng để phục vụ ta.
EXO 29:22 Lấy mỡ từ con chiên đực, cái đuôi nguyên, và mỡ bọc bộ lòng. Ngoài ra, lấy phần tốt nhất của lá gan, hai trái cật, mỡ bao quanh trái cật, và cái đùi phải. (Đó là con chiên đực dùng trong lễ tấn phong các thầy tế lễ.)
EXO 29:23 Rồi lấy giỏ bánh không men đã đặt trước mặt CHÚA. Lấy ra một ổ bánh, một bánh ngọt làm với dầu và một cái bánh kẹp.
EXO 29:24 Đặt tất cả vào tay A-rôn và các con trai người, bảo họ dâng những món đó lên và đưa qua đưa lại làm của lễ cho CHÚA.
EXO 29:25 Sau đó lấy các món đó ra khỏi tay họ và thiêu trên bàn thờ cùng với của lễ toàn thiêu. Đó là của lễ thiêu dâng lên cho CHÚA; mùi thơm của nó sẽ làm vừa lòng Ngài.
EXO 29:26 Rồi lấy ức của con chiên đực dùng tấn phong chức tế lễ cho A-rôn dâng lên đưa qua đưa lại làm của lễ trước mặt CHÚA. Phần nầy của con vật sẽ là phần của con.
EXO 29:27 Để riêng ức và đùi của con chiên đã dâng lên khi tấn phong A-rôn và các con trai người. Những phần ấy thuộc về họ.
EXO 29:28 Đó là phần thường xuyên mà dân Ít-ra-en biếu cho A-rôn và các con trai người. Đó là của dâng mà người Ít-ra-en phải mang đến cho CHÚA lấy từ của lễ thân hữu.
EXO 29:29 Những trang phục may cho A-rôn sẽ thuộc về con cháu người để mỗi khi họ được tấn phong làm thầy tế lễ thì sẽ mặc.
EXO 29:30 Con trai A-rôn, người sẽ kế vị A-rôn làm thầy tế lễ cả, sẽ đến Lều Họp để phục vụ Nơi Thánh. Người phải mặc các trang phục đó trong bảy ngày.
EXO 29:31 Bắt con chiên đực dùng tấn phong các thầy tế lễ và luộc thịt nó trong một chỗ thánh.
EXO 29:32 A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt đó và bánh mì trong giỏ tại cửa Lều Họp.
EXO 29:33 Họ phải ăn những của lễ đó tức của lễ đã được dùng tẩy tội lỗi họ đồng thời khiến họ nên thánh khi họ được tấn phong chức tế lễ. Không ai khác được ăn các món ấy vì là những vật thánh.
EXO 29:34 Thịt chiên hay bánh mì còn dư lại đến sáng hôm sau thì phải đốt đi. Không được phép ăn, vì là vật thánh.
EXO 29:35 Hãy làm theo như ta dặn con phải làm cho A-rôn và các con trai người. Lễ tấn phong sẽ kéo dài trong bảy ngày.
EXO 29:36 Mỗi ngày con phải dâng một con bò đực để chuộc tội cho A-rôn và các con trai người để họ sẵn sàng phục vụ CHÚA. Chuẩn bị bàn thờ sẵn sàng phục vụ CHÚA bằng cách dâng của lễ chuộc tội cho bàn thờ, đổ dầu lên bàn thờ để thánh hóa nó.
EXO 29:37 Hãy dành bảy ngày để chuẩn bị bàn thờ sẵn sàng phục vụ Thượng Đế bằng cách chuộc tội cho bàn thờ và thánh hóa nó. Sau đó bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, vật gì đụng đến bàn thờ cũng phải thánh.”
EXO 29:38 “Từ nay về sau, mỗi ngày phải dâng hai chiên con một tuổi.
EXO 29:39 Một con dâng buổi sáng, con kia dâng buổi chiều trước chạng vạng.
EXO 29:40 Buổi sáng, khi con dâng con chiên đầu tiên thì phải dâng hai lít bột mịn trộn với một lít dầu ô-liu ép. Đổ một lít rượu làm của lễ uống.
EXO 29:41 Chiên con dâng buổi chiều cũng dùng cùng một loại của lễ chay và của lễ uống như buổi sáng. Đó là của lễ dâng bằng lửa lên cho CHÚA. Mùi thơm của nó sẽ làm vừa lòng Ngài.
EXO 29:42 Từ nay về sau con phải thiêu những thứ nầy mỗi ngày làm của lễ dâng lên cho CHÚA tại cửa Lều Họp trước mặt Ngài. Khi con dâng của lễ thì ta, CHÚA, sẽ gặp con và nói chuyện với con tại đó.
EXO 29:43 Ta cũng sẽ gặp dân Ít-ra-en tại nơi đó và vì vinh quang ta, nơi đó sẽ là nơi thánh.
EXO 29:44 Ta sẽ khiến Lều Họp và bàn thờ hóa thánh; ta cũng sẽ hoá thánh cho A-rôn và các con trai người để họ làm thầy tế lễ phục vụ ta.
EXO 29:45 Ta sẽ sống giữa dân Ít-ra-en và làm Thượng Đế của họ.
EXO 29:46 Họ sẽ biết ta là CHÚA, Thượng Đế đã dẫn họ ra khỏi Ai-cập để ta sống với họ. Ta là CHÚA và là Thượng Đế của họ.”
EXO 30:1 “Hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ cây keo để xông hương.
EXO 30:2 Bàn hình vuông mỗi cạnh năm tấc, cao một thước. Các góc nhô ra như cái sừng phải gắn liền với bàn thờ.
EXO 30:3 Bọc vàng ròng mặt trên, bên hông và các góc, đồng thời chạy một đường viền vàng quanh bàn thờ.
EXO 30:4 Làm hai khoen vàng bên dưới đường viền vàng nơi hai mặt đối nhau để xỏ đòn khiêng vào.
EXO 30:5 Làm các đòn khiêng bằng gỗ cây keo bọc vàng.
EXO 30:6 Đặt bàn thờ xông hương truớc bức màn gần Rương Giao Ước, trước nắp che Rương. Đó là nơi ta sẽ gặp con.
EXO 30:7 A-rôn phải xông hương thơm trên bàn thờ mỗi sáng khi người vào để chăm sóc các đèn dầu.
EXO 30:8 Người phải xông hương buổi chiều khi thắp đèn để từ nay về sau trầm hương sẽ cháy nghi ngút luôn trước mặt CHÚA.
EXO 30:9 Không được dùng bàn thờ nầy để dâng hương lạ, của lễ thiêu, của lễ chay, hay của lễ uống.
EXO 30:10 Mỗi năm một lần A-rôn phải sửa soạn bàn thờ để phục vụ Thượng Đế bằng cách bôi huyết trên các góc bàn thờ tức huyết của súc vật dâng lên để chuộc tội. Từ nay về sau người phải làm như thế mỗi năm một lần. Bàn thờ nầy thuộc về CHÚA hoàn toàn và chỉ để phục vụ Ngài mà thôi.”
EXO 30:11 CHÚA bảo Mô-se,
EXO 30:12 “Khi con kiểm tra dân Ít-ra-en thì mỗi người phải chuộc mạng mình từ nơi CHÚA để không có điều bất hạnh nào xảy đến cho họ khi con kiểm tra họ.
EXO 30:13 Mỗi một người được kiểm tra phải trả một phần năm lượng bạc. Đơn vị nầy được định theo phần nửa đơn vị Nơi Thánh, tức hai phần năm lượng. Món tiền nầy là của dâng cho CHÚA.
EXO 30:14 Mỗi người từ hai mươi tuổi trở lên được kiểm tra phải dâng số tiền nầy cho CHÚA.
EXO 30:15 Người giàu không được đóng hơn một phần năm lượng, người nghèo cũng không được đóng ít hơn. Các con phải trả món tiền nầy để chuộc mạng mình từ nơi CHÚA.
EXO 30:16 Hãy thu số tiền chuộc mạng nầy từ dân Ít-ra-en và dùng nó vào các dịch vụ thuộc Lều Họp. Số tiền nầy sẽ nhắc CHÚA nhớ rằng dân Ít-ra-en đã chuộc mạng sống họ lại.”
EXO 30:17 CHÚA bảo Mô-se,
EXO 30:18 “Hãy làm một cái chậu đồng đặt trên một cái đế để rửa ráy. Đặt cái chậu và đế giữa khoảng Lều Họp và bàn thờ rồi đổ nước vào.
EXO 30:19 A-rôn và các con trai người phải lấy nước trong chậu đó để rửa tay và chân.
EXO 30:20 Mỗi khi họ vào Lều Họp họ phải rửa bằng nước để khỏi chết. Bất cứ khi nào đến gần bàn thờ để thi hành nhiệm vụ thầy tế lễ và dâng của lễ thiêu cho CHÚA,
EXO 30:21 họ phải rửa tay chân để khỏi chết. Đây là luật định đời đời từ nay về sau A-rôn và con cháu người phải giữ.”
EXO 30:22 Rồi CHÚA bảo Mô-se,
EXO 30:23 “Hãy chọn các hương liệu tốt nhất: 12 cân nhũ hương lỏng, phần nửa lượng đó (tức 6 cân) quế thơm, sáu cân mía thơm,
EXO 30:24 và 12 cân quế theo tiêu chuẩn Nơi Thánh. Ngoài ra cũng lấy 3 lít dầu ô-liu.
EXO 30:25 Trộn tất cả lại để làm hương thơm cho dầu ô-liu thánh. Dầu đặc biệt nầy dùng xức trên người và đồ vật để chuẩn bị sẵn sàng phục vụ Thượng Đế.
EXO 30:26 Xức dầu nầy trên Lều Họp và Rương Giao Ước,
EXO 30:27 trên bàn và mọi thứ dĩa, trên chân đèn và mọi đồ phụ tùng, và trên bàn thờ xông hương.
EXO 30:28 Ngoài ra hãy xức dầu trên bàn thờ của lễ thiêu và mọi dụng cụ, cũng như chậu và đế chậu.
EXO 30:29 Con phải chuẩn bị mọi thứ nầy để sẵn sàng phục vụ Thượng Đế, vì chúng sẽ trở nên rất thánh. Vật gì đụng đến chúng cũng phải thánh.
EXO 30:30 Xức dầu trên A-rôn và các con trai người để họ phục vụ ta, làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 30:31 Hãy bảo dân Ít-ra-en như sau: Từ nay về sau, đây là dầu ô-liu thánh. Dầu đó phải xức trên người và đồ vật để chuẩn bị cho công việc Thượng Đế.
EXO 30:32 Không được xức dầu đó trên người thường và cũng không được pha chế dầu thơm theo công thức pha chế dầu nầy. Đó là dầu thánh nên con phải xem nó là thánh.
EXO 30:33 Nếu ai pha chế dầu thơm giống như vậy mà xức lên người không phải thầy tế lễ, thì người đó sẽ bị loại khỏi dân chúng.”
EXO 30:34 Đoạn CHÚA bảo Mô-se, “Lấy các hương liệu sau đây: nhựa thơm, yểm hương, chi hương và mộc dược nguyên chất. Mỗi loại cân lượng bằng nhau.
EXO 30:35 Rồi làm ra trầm hương như kiểu người ta làm dầu thơm. Thêm muối vào đó để giữ nó tinh khiết và thánh.
EXO 30:36 Nghiền một ít trầm hương thành bột rồi đặt trước Rương Giao Ước trong Lều Họp, nơi ta sẽ gặp con. Con phải dùng loại bột trầm hương nầy vào mục đích đặc biệt của nó mà thôi.
EXO 30:37 Không được chế biến trầm hương cho mình theo cách con làm loại trầm hương nầy. Phải xem nó như loại trầm hương thánh cho CHÚA.
EXO 30:38 Ai chế biến trầm hương loại nầy để dùng làm dầu thơm sẽ bị loại khỏi dân chúng.”
EXO 31:1 Sau đó CHÚA bảo Mô-se,
EXO 31:2 “Ta đã chọn Bên-xa-lên, con U-ri thuộc chi tộc Giu-đa. (U-ri là con Hu-rơ)
EXO 31:3 Ta đã ban cho Bên-xa-lên tràn đầy Thần Linh của Thượng Đế, đồng thời ban cho người tài khéo, khả năng và hiểu biết để làm mọi công tác.
EXO 31:4 Người có thể chế biến những vật dụng bằng vàng, bạc, hay đồng,
EXO 31:5 chạm trổ ngọc quí, nhận vào trong kim loại, khắc gỗ, và làm đủ thứ công tác khác.
EXO 31:6 Ta cũng đã chọn Ô-hô-hi-áp, con A-hi-xa-mách thuộc chi tộc Đan để làm việc chung với Bên-xa-lên. Ta đã ban tài khéo cho tất cả thợ thủ công, nên họ có thể làm những đồ sau đây như ta đã dặn con:
EXO 31:7 Lều Họp, Rương Giao Ước, nắp che Rương, và mọi thứ trong Lều.
EXO 31:8 Các thứ đó gồm cái bàn và mọi vật dụng trên bàn, chân đèn bằng vàng nguyên chất và mọi vật dụng liên hệ, bàn thờ xông hương,
EXO 31:9 bàn thờ của lễ thiêu và mọi vật dụng liên hệ, chậu và đế chậu bên dưới.
EXO 31:10 Họ sẽ dệt vải và may các trang phục thánh cho A-rôn cùng các trang phục cho các con trai người mặc khi thi hành nhiệm vụ thầy tế lễ.
EXO 31:11 Họ cũng sẽ chế biến loại dầu ô-liu đặc biệt dùng tấn phong, và trầm hương cho Nơi Thánh. Các thợ nầy sẽ làm những vật dụng trên đây như ta đã dặn con.”
EXO 31:12 Sau đó CHÚA bảo Mô-se,
EXO 31:13 “Hãy bảo dân Ít-ra-en, ‘Các ngươi phải giữ luật lệ về ngày Sa-bát ta, vì đó là dấu hiệu giữa ta và các ngươi từ nay về sau. Do đó các ngươi sẽ biết ta là CHÚA, Đấng khiến ngươi ra thánh.
EXO 31:14 Hãy biến ngày Sa-bát làm ngày thánh. Nếu ai xem ngày Sa-bát như những ngày thường khác thì người đó phải bị xử tử; ai làm việc trong ngày Sa-bát sẽ bị trục xuất khỏi dân tộc mình.
EXO 31:15 Có sáu ngày để làm việc, nhưng thứ bảy là ngày nghỉ, ngày thánh cho CHÚA. Ai làm việc trong ngày Sa-bát phải bị xử tử.
EXO 31:16 Dân Ít-ra-en phải giữ ngày Sa-bát, tôn trọng ngày ấy cho mọi thế hệ mai sau để làm giao ước muôn đời.
EXO 31:17 Ngày Sa-bát sẽ là dấu hiệu giữa ta và dân Ít-ra-en cho đến đời đời, vì ta là CHÚA, đã dựng nên trời đất trong sáu ngày. Ngày thứ bảy ta không làm việc, ta nghỉ ngơi.’”
EXO 31:18 Khi CHÚA nói chuyện xong với Mô-se trên núi Si-nai, Ngài trao cho ông hai bảng đá trên đó có khắc Giao Ước, do chính ngón tay của Thượng Đế viết.
EXO 32:1 Dân chúng chờ lâu mà không thấy Mô-se xuống núi nên họ xúm quanh A-rôn nói, “Mô-se dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập nhưng bây giờ chúng tôi không biết ông ta gặp chuyện gì rồi. Thôi ông hãy làm những thần để dẫn chúng tôi đi.”
EXO 32:2 A-rôn bảo dân chúng, “Hãy cởi các bông tai vàng mà vợ, con trai, con gái các ngươi đeo, mang đến cho ta.”
EXO 32:3 Vậy dân chúng mang các bông tai vàng đến cho A-rôn.
EXO 32:4 Ông lấy vàng đó của dân chúng và dùng dụng cụ tạc một tượng bò con vàng. Rồi dân chúng bảo, “Ít-ra-en ơi, đây là thần đưa các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập!”
EXO 32:5 Khi A-rôn thấy vậy liền xây một bàn thờ trước mặt con bò và long trọng tuyên bố “Ngày mai sẽ có một lễ đặc biệt cho CHÚA.”
EXO 32:6 Sáng hôm sau dân chúng dậy sớm dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu. Họ ngồi xuống ăn uống rồi đứng dậy vui chơi.
EXO 32:7 CHÚA liền bảo Mô-se, “Hãy đi xuống núi mau vì dân mà con mang ra khỏi xứ Ai-cập đã hư đốn rồi.
EXO 32:8 Chúng nó đã vội bỏ những điều ta truyền dặn mà tự tạc cho mình một bò con vàng và bái lạy nó, dâng của lễ cho nó. Chúng nó bảo, ‘Ít-ra-en ơi, đây là các thần đã mang con ra khỏi Ai-cập!’”
EXO 32:9 CHÚA bảo Mô-se, “Ta đã thấy rõ dân nầy là dân ương ngạnh.
EXO 32:10 Nên bây giờ hãy để ta ra tay. Ta tức giận chúng nó đến nỗi ta sẽ tiêu diệt chúng nó. Rồi ta sẽ làm cho con và dòng dõi con thành một dân lớn.”
EXO 32:11 Nhưng Mô-se van xin CHÚA là Thượng Đế mình rằng, “CHÚA ơi, xin đừng tức giận mà tiêu diệt dân Ngài, là dân Ngài đã mang ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh lớn lao của mình.
EXO 32:12 Xin đừng để dân Ai-cập phê bình, ‘CHÚA đã mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vì mục đích xấu. Ngài đã dự định giết họ trong núi và diệt họ khỏi đất.’ Nên xin Ngài bớt giận, đừng tiêu diệt dân Ngài.
EXO 32:13 Xin nhớ lại những người phục vụ Ngài: Áp-ra-ham, Y-sác, và Ít-ra-en. Ngài hứa bằng lời thề với họ rằng: Ta sẽ làm cho con cháu các con đông như sao trên trời. Ta sẽ cấp cho con cháu các con xứ nầy mà ta đã hứa, xứ đó sẽ thuộc về chúng nó đời đời.”
EXO 32:14 Nhờ vậy, CHÚA đổi ý, không tiêu diệt dân chúng như Ngài đã định làm.
EXO 32:15 Rồi Mô-se xuống núi, trong tay mang hai bảng đá có khắc Giao Ước. Giao Ước được viết trên cả hai mặt, mặt trước và mặt sau của mỗi bảng.
EXO 32:16 Chính tay Thượng Đế đã làm các bảng đá đó, và cũng chính Ngài đã khắc các mệnh lệnh lên bảng.
EXO 32:17 Khi Giô-suê nghe tiếng dân chúng reo hò, ông bảo Mô-se, “Nghe giống như tiếng ồn ào của chiến trận trong doanh trại.”
EXO 32:18 Mô-se đáp, “Không phải tiếng reo mừng chiến thắng, cũng không phải tiếng kêu khóc vì thua trận, mà ta nghe như tiếng ca hát.”
EXO 32:19 Khi Mô-se đến gần doanh trại và nhìn thấy bò con vàng và mọi người nhảy múa, thì ông vô cùng giận dữ. Ông liền ném xuống đất hai bảng đá đang cầm trong tay, bể tan tành nơi chân núi.
EXO 32:20 Rồi ông lấy tượng bò con bằng vàng mà dân chúng đã tạc, đốt chảy nó trong lửa rồi nghiền thành bột. Ông ném bột vào trong nước, bắt dân Ít-ra-en uống.
EXO 32:21 Mô-se hỏi A-rôn, “Dân nầy làm gì cho anh? Tại sao anh gây cho họ phạm tội ghê gớm như vậy?”
EXO 32:22 A-rôn đáp, “Xin chủ đừng giận. Ngài biết dân nầy có khuynh hướng làm bậy.
EXO 32:23 Dân chúng bảo tôi, ‘Mô-se dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập nhưng không biết ông ta gặp chuyện gì rồi. Xin ông làm những thần để dẫn chúng tôi đi.’
EXO 32:24 Nên tôi bảo họ, ‘Hãy cởi đồ trang sức bằng vàng của các con.’ Khi họ trao vàng cho tôi thì tôi ném nó vào lửa rồi làm ra bò con nầy!”
EXO 32:25 Mô-se thấy dân chúng phóng túng vì A-rôn để họ phóng túng và làm trò cười trước mặt kẻ thù.
EXO 32:26 Nên Mô-se đứng trước cửa doanh trại tuyên bố, “Ai muốn theo CHÚA thì đến cùng ta.” Tất cả những người trong họ Lê-vi liền tập họp quanh Mô-se.
EXO 32:27 Mô-se liền bảo họ, “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, phán như sau: ‘Ai nấy phải mang gươm và đi từ đầu nầy đến đầu kia của doanh trại. Mỗi người phải giết anh em, bạn hữu và láng giềng mình.’”
EXO 32:28 Mọi người thuộc họ Lê-vi vâng lời Mô-se và trong ngày đó có khoảng ba ngàn người Ít-ra-en chết.
EXO 32:29 Sau đó Mô-se bảo, “Hôm nay các ngươi đã hiến mình phục vụ CHÚA. Các ngươi đã sẵn lòng giết con trai và anh em mình, nên Thượng Đế đã ban phước cho các ngươi.”
EXO 32:30 Hôm sau Mô-se bảo dân chúng, “Các ngươi đã phạm tội tầy đình. Nhưng bây giờ tôi sẽ lên gặp CHÚA. Tôi sẽ cố gắng van xin để may ra CHÚA sẽ xóa tội các ngươi.”
EXO 32:31 Nên Mô-se đi trở lại gặp CHÚA và thưa, “Dân nầy đã phạm tội ghê gớm! Họ đã làm các thần cho mình bằng vàng.
EXO 32:32 Bây giờ xin Ngài tha tội cho họ. Nếu không, xin xóa tên tôi khỏi Sách của Ngài đi.”
EXO 32:33 Nhưng CHÚA bảo Mô-se, “Ta sẽ xóa tên khỏi sách kẻ nào phạm tội cùng ta.
EXO 32:34 Bây giờ, hãy lên đường, dẫn dân chúng đến nơi ta đã bảo con. Thiên sứ ta sẽ hướng dẫn con. Đến kỳ trừng phạt, ta sẽ trừng phạt tội của họ.”
EXO 32:35 Nên CHÚA giáng tai hoạ ghê gớm cho dân chúng để phạt họ về tội con bò vàng mà A-rôn đã làm.
EXO 33:1 CHÚA bảo Mô-se, “Con và dân chúng mà con mang ra khỏi Ai-cập phải rời nơi nầy, đi đến xứ mà ta thề hứa cấp cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp khi ta bảo, ‘Ta sẽ ban xứ đó cho con cháu con.’
EXO 33:2 Ta sẽ sai thiên sứ hướng dẫn con, và ta sẽ đuổi các dân sau đây ra khỏi xứ: dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-ri-xít, và dân Giê-bu-xít.
EXO 33:3 Hãy đi đến xứ phì nhiêu. Nhưng ta sẽ không đi với các con vì ta rất có thể tiêu diệt các con dọc đường, vì các con là dân ương ngạnh.”
EXO 33:4 Khi nghe tin đó, mọi người đều buồn bã, không ai muốn mang trang sức nữa.
EXO 33:5 Vì CHÚA đã phán cùng Mô-se, “Hãy bảo dân Ít-ra-en, ‘Các ngươi là dân ương ngạnh. Nếu ta chỉ đi với các ngươi một lát thôi, ta sẽ tiêu diệt các ngươi. Nên hãy cởi các đồ trang sức ra, ta sẽ quyết định xử trí với các ngươi ra sao.’”
EXO 33:6 Dân Ít-ra-en liền tháo các đồ trang sức mình nơi núi Si-nai.
EXO 33:7 Mô-se dùng một cái lều và dựng cách xa bên ngoài doanh trại; ông gọi đó là “Lều Họp.” Ai muốn cầu hỏi CHÚA điều gì thì đến Lều Họp ngoài doanh trại.
EXO 33:8 Hễ khi nào Mô-se đi đến Lều, tất cả dân chúng ngồi dậy và đứng nơi cửa lều mình, nhìn theo Mô-se cho đến khi ông đi khuất vào Lều Họp.
EXO 33:9 Sau khi Mô-se vào Lều Họp, thì trụ mây lúc nào cũng hạ xuống và đứng yên ở cửa Lều trong khi CHÚA nói chuyện với Mô-se.
EXO 33:10 Hễ khi nào dân chúng thấy trụ mây ở cửa Lều thì mỗi người đứng dậy và bái lạy ngay trước cửa lều mình.
EXO 33:11 CHÚA nói chuyện với Mô-se, mặt đối mặt như người ta nói chuyện với bạn mình. Rồi Mô-se trở về doanh trại, nhưng người phụ tá trẻ tuổi của ông là Giô-suê thì không ra khỏi Lều.
EXO 33:12 Mô-se thưa với CHÚA, “Ngài bảo con hướng dẫn dân nầy, nhưng Ngài không nói sẽ sai ai đi với con. Ngài đã bảo con, ‘Ta biết con rất rõ, và ta hài lòng về con.’
EXO 33:13 Nếu quả thật con làm vừa lòng Ngài, thì xin chỉ cho con chương trình của Ngài để con hiểu Ngài và luôn luôn làm đẹp lòng Ngài. Xin Ngài nhớ cho rằng, dân nầy là dân của Ngài.”
EXO 33:14 CHÚA đáp, “Chính mình ta sẽ đi với con, và ban cho con sự an nghỉ.”
EXO 33:15 Rồi Mô-se thưa với CHÚA, “Nếu Ngài không đi với chúng con thì xin đừng đưa chúng con ra khỏi nơi nầy.
EXO 33:16 Nếu Ngài không đi với chúng con, sẽ không ai biết Ngài hài lòng về con và dân của Ngài. Dân nầy và con chẳng khác gì các dân khác trên thế giới.”
EXO 33:17 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Ta sẽ làm theo điều con yêu cầu vì ta biết con rất rõ, và ta hài lòng về con.”
EXO 33:18 Sau đó Mô-se xin, “Bây giờ xin tỏ vinh hiển Ngài cho con thấy.”
EXO 33:19 CHÚA đáp, “Ta sẽ cho con thấy sự nhân từ ta đi qua trước con, ta sẽ hô danh ta là CHÚA cho con nghe. Ta sẽ tỏ sự nhân từ cho người nào ta muốn tỏ ra, tỏ lòng nhân ái với ai ta muốn tỏ.
EXO 33:20 Nhưng con không thể thấy mặt ta được, vì không ai thấy ta mà còn sống.
EXO 33:21 Có một nơi gần ta; con có thể đứng trên tảng đá kia.
EXO 33:22 Khi vinh quang của ta đi ngang, ta sẽ đặt con trong một khe đá và lấy tay ta che con cho đến chừng ta đã qua khỏi.
EXO 33:23 Khi ta rút tay ta đi thì con sẽ thấy phía sau ta nhưng con không thể thấy mặt ta được.”
EXO 34:1 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy đục hai bảng đá nữa giống như hai bảng trước, rồi ta sẽ viết trên đó những gì đã viết trên hai bảng mà con đã đập bể.
EXO 34:2 Sáng mai hãy chuẩn bị sẵn sàng lên núi Si-nai. Hãy đứng trước mặt ta trên đỉnh núi.
EXO 34:3 Không ai được đi với con hay lảng vảng gần núi. Gia súc cũng không được ăn cỏ gần núi đó.”
EXO 34:4 Vậy Mô-se đục hai bảng đá mới như hai bảng trước. Rồi sáng sớm hôm sau ông lên núi Si-nai, như CHÚA dặn, mang theo hai bảng đá.
EXO 34:5 Rồi CHÚA hiện xuống trong đám mây và đứng đó với Mô-se. CHÚA hô danh Ngài: CHÚA.
EXO 34:6 CHÚA đi qua trước mặt Mô-se và hô lên, “Ta là CHÚA. CHÚA là Thượng Đế nhân ái, vị tha, chậm giận, giàu tình yêu và thành tín,
EXO 34:7 Ngài tỏ lòng nhân từ cho hàng ngàn người. CHÚA tha thứ cho con người về sự gian ác, về tội lỗi, và về sự phản nghịch của họ đối với Ngài nhưng Ngài không quên trừng phạt kẻ có tội. Ngài không những trừng phạt kẻ có tội mà phạt luôn cả đến con cháu chắt chít họ nữa.”
EXO 34:8 Mô-se liền quì xuống đất thờ lạy.
EXO 34:9 Ông thưa, “Lạy CHÚA, nếu Ngài hài lòng về con, xin đi cùng chúng con. Con biết dân nầy rất ương ngạnh, nhưng xin Ngài hãy tha sự gian ác và tội lỗi chúng con. Xin nhận chúng con làm dân Ngài.”
EXO 34:10 CHÚA bảo, “Ta lập giao ước nầy với con. Ta sẽ làm phép lạ trước mặt dân sự con những việc chưa hề được làm cho bất cứ dân nào trên đất. Dân sự con sẽ thấy công việc của tay ta. Ta, CHÚA, sẽ làm những điều kỳ diệu cho con.
EXO 34:11 Hôm nay hãy vâng theo những mệnh lệnh ta thì ta sẽ đánh đuổi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-ri-xít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-xít trước mặt các con.
EXO 34:12 Ngươi chớ nên lập ước với dân sống trong xứ mà các ngươi sẽ đến, vì nó sẽ tạo ra cạm bẫy cho ngươi đó.
EXO 34:13 Hãy tiêu hủy các bàn thờ chúng nó, đập bể các trụ thờ, và phá sập các tượng thần A-sê-ra.
EXO 34:14 Không được thờ lạy thần nào khác, vì ta, CHÚA, là Đấng đố kỵ, Thượng Đế ghen tương.
EXO 34:15 Đừng lập ước với dân sống trong xứ đó. Khi các ngươi thờ lạy các thần chúng nó thì chúng nó sẽ dụ các ngươi nhập theo chúng nó. Các ngươi sẽ ăn các của cúng của chúng nó.
EXO 34:16 Nếu các ngươi cưới con gái chúng làm vợ cho con trai các ngươi, thì bọn con gái ấy sẽ dụ con trai các ngươi thờ lạy theo, vì chúng thờ lạy các thần.
EXO 34:17 Đừng tạc các thần bằng đồng cho mình.
EXO 34:18 Hãy giữ Lễ Bánh Không Men. Trong bảy ngày các ngươi phải ăn bánh không men như ta đã truyền dặn. Kỷ niệm lễ ấy trong tháng ta đã chọn tức tháng A-bíp, vì trong tháng đó các ngươi ra khỏi Ai-cập.
EXO 34:19 Các con đầu lòng của người mẹ, luôn cả con đực đầu lòng của súc vật sinh trong bầy của các ngươi, đều thuộc về ta.
EXO 34:20 Các ngươi có thể chuộc lừa mình bằng một con chiên con, nhưng nếu các ngươi không muốn chuộc lừa mình thì phải bẻ cổ nó. Các ngươi phải chuộc lại các con trưởng nam của mình. Không ai được ra mắt ta mà không mang của dâng.
EXO 34:21 Ngươi được phép làm việc trong sáu ngày nhưng đến ngày thứ bảy, ngươi phải nghỉ ngơi dù là nhằm mùa trồng trọt hay mùa gặt hái cũng vậy.
EXO 34:22 Hãy giữ Lễ Các Tuần khi ngươi gặt lúa đầu mùa. Và giữ Lễ Lều Tạm vào mùa thu.
EXO 34:23 Mỗi năm ba lần, mọi đàn ông trong các ngươi phải ra mắt CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
EXO 34:24 Ta sẽ đánh đuổi các dân trước mặt các ngươi và mở rộng ranh giới của xứ các ngươi. Các ngươi sẽ ra mắt CHÚA, Thượng Đế các ngươi, ba lần mỗi năm. Trong những dịp đó, không ai có thể chiếm đất các ngươi.
EXO 34:25 Không được dâng huyết làm của lễ cho ta cùng với món gì có men, và không được giữ lại chút gì của con sinh tế trong Lễ Vượt Qua cho đến sáng hôm sau.
EXO 34:26 Hãy mang sản vật đầu mùa tốt nhất các ngươi gặt hái từ đất đai vào Lều của CHÚA là Thượng Đế ngươi. Ngươi không được nấu dê con trong sữa của mẹ nó.”
EXO 34:27 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Hãy viết ra những lời nầy, vì là lời ta dùng lập giao ước với con và dân Ít-ra-en.”
EXO 34:28 Mô-se ở lại đó với CHÚA trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, trong thời gian đó ông không ăn uống gì. Mô-se viết những lời của Giao Ước Mười Điều Giáo Lệnh trên các bảng đá.
EXO 34:29 Rồi Mô-se từ núi Si-nai đi xuống, trong tay ôm hai bảng đá Giao Ước. Nhưng ông không biết rằng mặt mình sáng rực lên vì đã hầu chuyện cùng CHÚA.
EXO 34:30 Khi A-rôn và toàn dân Ít-ra-en nhìn thấy mặt Mô-se sáng rực thì họ sợ không ai dám tới gần ông.
EXO 34:31 Khi Mô-se gọi họ thì A-rôn và các vị lãnh đạo dân chúng mới đến cùng ông. Rồi ông nói chuyện với họ.
EXO 34:32 Sau đó toàn dân Ít-ra-en đến gần ông. Ông truyền cho họ mọi huấn lệnh CHÚA đã trao cho ông trên núi Si-nai.
EXO 34:33 Sau khi nói chuyện với dân chúng xong, Mô-se lấy khăn che mặt mình.
EXO 34:34 Khi đi gặp mặt CHÚA để thưa chuyện với Ngài, Mô-se bỏ khăn che mặt ra cho đến lúc ông đi ra. Sau đó Mô-se thuật lại cho dân Ít-ra-en biết những điều CHÚA căn dặn.
EXO 34:35 Họ thấy mặt ông sáng rực, nên ông phải lấy khăn che mặt cho đến khi đi vào nói chuyện cùng CHÚA.
EXO 35:1 Mô-se triệu tập toàn thể cộng đồng Ít-ra-en lại bảo, “Đây là những điều CHÚA truyền dặn đồng bào.
EXO 35:2 ‘Ngươi sẽ làm việc trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày thánh, ngày Sa-bát nghỉ ngơi để tôn kính CHÚA. Ai làm việc trong ngày đó sẽ bị xử tử.
EXO 35:3 Trong ngày Sa-bát, ngươi không được nhen lửa trong nhà ngươi.’”
EXO 35:4 Mô-se bảo toàn dân Ít-ra-en, “Đây là điều CHÚA truyền:
EXO 35:5 Lấy trong của cải ngươi, dâng một của lễ cho CHÚA. Tùy lòng mỗi người, hãy dâng cho CHÚA những món sau đây: vàng, bạc, đồng,
EXO 35:6 chỉ xanh, tím và đỏ, vải gai mịn, lông dê
EXO 35:7 da chiên đực nhuộm đỏ. Các ngươi cũng có thể mang da thuộc loại tốt, gỗ cây keo,
EXO 35:8 dầu ô-liu dùng thắp đèn, các hương liệu cho dầu ô-liu đặc biệt dùng để bổ nhiệm các thầy tế lễ và trầm hương,
EXO 35:9 ngọc mã não và các thứ ngọc để kết vào áo ngắn thánh cùng bảng che ngực của các thầy tế lễ.
EXO 35:10 Các thợ thủ công khéo tay sẽ làm mọi điều như CHÚA truyền:
EXO 35:11 Lều Thánh, lều bên ngoài và miếng phủ, móc, khung, đòn ngang, trụ, và đế,
EXO 35:12 Rương Giao Ước, các đòn khiêng, nắp đậy, và bức màn phía trước Rương;
EXO 35:13 cái bàn, và các đòn khiêng và mọi đồ phụ tùng chung với bàn, cùng bánh bày ra trước sự hiện diện của Thượng Đế;
EXO 35:14 chân đèn để soi sáng và mọi vật dụng phụ tùng, cái đèn, dầu ô-liu dùng thắp đèn;
EXO 35:15 bàn thờ xông hương và các đòn khiêng, dầu đặc biệt và trầm hương, bức màn che cửa ra vào Lều Thánh;
EXO 35:16 bàn thờ dâng của lễ thiêu và lưới sắt, các đòn khiêng và dụng cụ, chậu đồng và đế;
EXO 35:17 các bức màn quanh sân họp, cột và đế, bức màn che cửa vào sân họp;
EXO 35:18 các cọc Lều Thánh và của sân họp cùng các dây thừng;
EXO 35:19 các trang phục đặc biệt mà các thầy tế lễ sẽ mặc trong Nơi Thánh. Đó là những trang phục thánh cho A-rôn, là thầy tế lễ, và các con trai ông mặc khi thi hành chức vụ tế lễ.”
EXO 35:20 Rồi toàn dân ra về sau khi gặp Mô-se.
EXO 35:21 Ai có lòng đều đến dâng một món quà cho CHÚA để làm Lều Thánh, mọi vật dụng của Lều, và các trang phục đặc biệt.
EXO 35:22 Tất cả đàn ông, đàn bà, ai vui lòng đều mang trang sức bằng vàng đủ loại kẹp, bông tai, nhẫn, vòng xuyến. Họ dâng các món đồ bằng vàng ấy cho CHÚA.
EXO 35:23 Ai có chỉ xanh, tím, và đỏ, vải gai mịn, hoặc ai có lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ hoặc da thuộc loại tốt mang đến cho CHÚA.
EXO 35:24 Ai có thể dâng vàng hay đồng mang đến dâng cho CHÚA, và người nào có gỗ cây keo dùng trong công tác cũng mang đến.
EXO 35:25 Các phụ nữ khéo tay làm chỉ xanh, tím, và đỏ, vải gai mịn, đều mang đến những gì họ làm ra.
EXO 35:26 Tất cả các phụ nữ khéo tay đều vui lòng giúp làm chỉ bằng lông dê.
EXO 35:27 Các lãnh tụ mang ngọc mã não và các thứ ngọc quý khác để nạm vào áo ngắn thánh và bảng che ngực cho thầy tế lễ.
EXO 35:28 Họ cũng mang các hương liệu và dầu ô-liu để pha trầm hương, dầu đặc biệt, và dầu để thắp đèn.
EXO 35:29 Tất cả đàn ông, đàn bà trong Ít-ra-en có lòng muốn đóng góp đều rộng rãi mang của dâng đến cho CHÚA để dự phần vào công tác Ngài truyền dặn Mô-se và dân chúng.
EXO 35:30 Rồi Mô-se bảo người Ít-ra-en, “Nầy, CHÚA đã chọn Bê-xa-lên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, từ chi tộc Giu-đa.
EXO 35:31 CHÚA đã đổ Thần linh của Thượng Đế lên Bên-xa-lên và ban cho ông tài khéo tay, khả năng và hiểu biết để làm đủ mọi công tác.
EXO 35:32 Ông có thể chế các kiểu để khắc vào vàng, bạc, và đồng,
EXO 35:33 có thể đẽo đá và ngọc quý để nạm vào trong kim loại, khắc gỗ, và làm đủ mọi công việc.
EXO 35:34 Ngoài ra, CHÚA cũng ban cho Bên-xa-lên và Ô-hô-li-áp, con trai A-hi-ma-sách từ chi tộc Đan, khả năng giảng dạy người khác.
EXO 35:35 CHÚA đã ban cho họ tài khéo tay để làm đủ thứ công việc. Hai người đó có thể khắc các kiểu vào gỗ, sắt và đá. Họ cũng có thể vẽ kiểu và thêu lên vải gai mịn dùng chỉ xanh, tím và đỏ. Họ cũng có tài dệt nữa.”
EXO 36:1 Vậy Bê-xa-lên, Ô-hô-hi-áp và những người khéo tay làm mọi việc CHÚA truyền dặn vì Ngài cho họ sự khôn ngoan và hiểu biết để thực hiện các công việc tinh xảo cần để dựng Lều Thánh.
EXO 36:2 Rồi Mô-se gọi Bê-xa-lên, Ô-hô-hi-áp, và tất cả các thợ thủ công tài giỏi mà CHÚA đã cho tài năng, mọi người đều đến vì họ muốn giúp tay vào công tác.
EXO 36:3 Họ nhận từ Mô-se mọi thứ mà dân Ít-ra-en đã mang dâng vào công tác xây dựng Lều Thánh. Dân chúng đều tiếp tục mang của dâng đến mỗi sáng vì họ vui lòng làm điều đó.
EXO 36:4 Các thợ thủ công đều đến làm công tác nơi Lều Thánh,
EXO 36:5 và báo cáo với Mô-se, “Dân chúng mang đến quá nhiều của dâng hơn nhu cầu thực hiện công tác CHÚA dặn.”
EXO 36:6 Mô-se liền ra lệnh khắp doanh trại: “Xin đừng mang của dâng đến Lều Thánh nữa.” Nên dân chúng không mang của dâng đến nữa,
EXO 36:7 vì các thợ thủ công đã có quá dư vật liệu để thực hiện công tác rồi.
EXO 36:8 Vậy các thợ thủ công cất Lều Thánh. Họ may mười bức màn bằng vải xanh, tím và đỏ đồng thời thêu kiểu các con vật có cánh lên các bức màn.
EXO 36:9 Mỗi bức màn đều cùng một cỡ bốn mươi hai bộ chiều dài, sáu bộ chiều ngang.
EXO 36:10 Năm bức màn được kết chung với nhau thành một bộ, năm bức kia kết chung làm thành bộ thứ nhì.
EXO 36:11 Họ cũng làm các vòng bằng vải xanh dọc theo viền trên của màn cho bộ gồm năm bức màn thứ nhất, và cũng làm như vậy cho bộ gồm năm bức màn thứ nhì.
EXO 36:12 Mỗi bức màn có năm mươi vòng đối xứng nhau.
EXO 36:13 Họ làm năm mươi móc bằng vàng dùng kết hai bức màn lại với nhau để Lều Thánh làm thành một miếng mà thôi.
EXO 36:14 Rồi các người thợ làm một cái lều khác gồm mười một bức màn bằng lông dê để phủ lên Lều Thánh.
EXO 36:15 Tất cả mười một bức màn đều cùng một cỡ bốn mươi lăm bộ chiều dài, sáu bộ chiều ngang.
EXO 36:16 Các người thợ kết năm bức màn lại thành một bộ, và sáu bức màn kia làm bộ thứ nhì.
EXO 36:17 Họ làm năm mươi vòng dọc theo viền ngoài của một bộ màn, và năm mươi vòng dọc theo viền ngoài của bộ kia.
EXO 36:18 Rồi họ làm năm mươi khoen đồng nối hai bộ lại với nhau để lều thành một miếng mà thôi.
EXO 36:19 Họ làm hai miếng phủ nữa cho lều ngoài một cái làm bằng da chiên đực nhuộm đỏ, cái kia làm bằng da thuộc loại tốt.
EXO 36:20 Rồi họ làm các khung đứng bằng gỗ cây keo cho Lều Thánh.
EXO 36:21 Mỗi khung cao mười lăm bộ, rộng hai mươi bảy phân Anh,
EXO 36:22 và mỗi khung có hai cây cọc kế cận nhau. Mỗi khung của Lều Thánh đều đóng cùng kiểu như vậy.
EXO 36:23 Họ đóng hai mươi khung cho mặt phía Nam của Lều,
EXO 36:24 và làm bốn mươi đế bạc đặt bên dưới hai mươi khung. Mỗi khung có hai đế, một đế cho mỗi cọc của khung.
EXO 36:25 Họ cũng đóng hai mươi khung cho mặt Bắc của Lều Thánh
EXO 36:26 và bốn mươi đế bạc, hai đế cho mỗi khung.
EXO 36:27 Họ đóng sáu khung cho phía sau hoặc phía Tây của Lều Thánh
EXO 36:28 và hai khung cho các góc phía sau của Lều.
EXO 36:29 Hai khung nầy được đóng cặp đôi vào nơi đáy và gắn nhau phía trên bằng một khoen sắt. Mỗi góc họ đều làm như thế.
EXO 36:30 Như thế có tám khung và mười sáu đế bạc mỗi khung có hai đế.
EXO 36:31 Rồi họ đóng các đòn ngang bằng gỗ cây keo để nối các khung đứng của Lều Thánh. Năm đòn ngang giữ một bên các khung của Lều lại với nhau,
EXO 36:32 và năm đòn ngang giữ các khung về phía bên kia của Lều. Ngoài ra còn có năm đòn ngang giữ các khung về phía Tây, và về phía sau của Lều.
EXO 36:33 Họ làm một đòn ngang giữa chạy dọc suốt chiều dài mỗi bên và phía sau của Lều. Đòn ngang được đặt nửa chừng khung từ đáy lên.
EXO 36:34 Họ làm các khoen vàng ở mỗi bên khung để giữ các đòn ngang, và bọc vàng các khung cùng các đòn ngang.
EXO 36:35 Sau đó họ may một bức màn bằng chỉ xanh, tím, đỏ và vải gai mịn. Một thợ thủ công khéo tay thêu kiểu các con vật có cánh trên đó.
EXO 36:36 Họ làm bốn cây cột bằng gỗ cây keo bọc vàng rồi làm các móc vàng cho các cây cột cùng bốn đế bạc để dựng cột.
EXO 36:37 Họ may một bức màn che cửa vào bằng chỉ xanh, tím, đỏ, và vải gai mịn. Rồi các thợ thêu khéo thêu các kiểu lên đó.
EXO 36:38 Rồi họ đóng năm cây cột và các móc cho cột. Họ bọc vàng nơi đầu các cây cột và que treo màn, họ cũng làm năm đế đồng cho các cây cột đó nữa.
EXO 37:1 Bê-xa-lên đóng Rương bằng gỗ cây keo; Rương dài một thước rưỡi, rộng bảy mươi lăm phân, và cao bảy mươi lăm phân.
EXO 37:2 Ông bọc Rương bằng vàng cả mặt trong lẫn mặt ngoài và chạy đường viền vàng quanh Rương.
EXO 37:3 Ông làm bốn khoen vàng gắn vào bốn chân, mỗi bên hai khoen.
EXO 37:4 Rồi ông làm các đòn khiêng bằng gỗ cây keo bọc vàng.
EXO 37:5 Ông xỏ các đòn khiêng qua các khoen để khiêng Rương.
EXO 37:6 Ông đóng một cái nắp bằng vàng ròng dài một thước hai và rộng bảy tấc rưỡi.
EXO 37:7 Sau đó Bê-xa-lên tạc hai con vật có cánh bằng vàng gắn vào hai đầu của nắp.
EXO 37:8 Ông làm một con cho đầu nầy, và một con cho đầu kia của nắp. Ông gắn hai con vật vào nắp để làm thành một khối duy nhất.
EXO 37:9 Cánh của các con vật giương lên trên, che nắp, và chúng ngồi đối diện nhau trên nắp Rương.
EXO 37:10 Sau đó ông đóng một cái bàn bằng gỗ cây keo dài một thước, rộng nửa thước, cao bảy tấc rưỡi.
EXO 37:11 Ông bọc vàng cái bàn và chạy một đường viền vàng quanh bàn.
EXO 37:12 Ông đóng một cái khung cao một tấc chạy quanh viền bàn, và gắn một viền vàng quanh khung đó.
EXO 37:13 Rồi ông làm bốn khoen vàng cho cái bàn bắt vào bốn góc nơi chân bàn.
EXO 37:14 Các khoen được đặt vào gần khung quanh phía trên mặt bàn vì chúng dùng để xỏ các đòn khiêng bàn.
EXO 37:15 Các đòn khiêng bàn làm bằng gỗ cây keo bọc vàng.
EXO 37:16 Những vật dụng trên bàn đều làm bằng vàng ròng: dĩa, chậu, cốc, lọ chai, ly chén dùng rót của lễ uống.
EXO 37:17 Rồi ông làm cái chân đèn bằng vàng ròng, đóng đáy và chân. Các chén hình hoa, nụ hoa, cánh hoa của đèn đều gắn thành một khối chung với đế và chân.
EXO 37:18 Sáu nhánh tỏa ra mỗi bên chân đèn ba nhánh bên nầy, ba nhánh bên kia.
EXO 37:19 Mỗi nhánh có ba cái cốc làm giống hình hoa hạnh nhân, mỗi cốc có một nụ hoa và một cánh hoa. Sáu nhánh tỏa ra từ chân đèn đều giống y nhau.
EXO 37:20 Có bốn cốc nữa hình hoa hạnh nhân gắn trên chân đèn, mỗi cốc đều có các nụ hoa và cánh hoa.
EXO 37:21 Có ba cặp nhánh tỏa ra từ chân đèn. Chỗ mỗi cặp gắn vào chân đèn thì có một nụ hoa. Tất cả sáu nhánh tỏa ra từ chân đèn đều giống y nhau.
EXO 37:22 Các nụ hoa, nhánh, và chân đèn đều làm bằng một khối vàng nguyên nhất được tạc.
EXO 37:23 Ông làm bảy ngọn đèn bằng vàng nguyên chất cho chân đèn nầy, đồng thời ông cũng làm các đồ hớt tim đèn và khay bằng vàng ròng.
EXO 37:24 Ông dùng khoảng bảy mươi lăm cân vàng nguyên chất để làm chân đèn và các vật dụng phụ tùng cho đèn.
EXO 37:25 Sau đó ông đóng bàn thờ xông hương bằng gỗ cây keo. Bàn hình vuông dài nửa thước, rộng nửa thước, cao một thước. Mỗi góc nhô ra như cái sừng được gắn liền thành một khối vào bàn thờ.
EXO 37:26 Ông bọc mặt trên, bốn bên và góc bằng vàng ròng đồng thời thếp vàng quanh bàn thờ.
EXO 37:27 Ông làm hai khoen vàng và gắn bên dưới chỗ thếp vàng nơi hai cạnh bàn đối nhau; các khoen nầy dùng xỏ đòn khiêng bàn.
EXO 37:28 Ông cũng đóng các đòn khiêng bằng gỗ cây keo bọc vàng.
EXO 37:29 Rồi ông chế dầu ô-liu thánh dùng bổ nhiệm các thầy tế lễ, và trầm hương nguyên chất. Ông pha chế các thứ nầy như thợ pha chế nước hoa.
EXO 38:1 Sau đó ông đóng bàn thờ của lễ thiêu bằng gỗ cây keo. Bàn thờ hình vuông dài hai thước rưỡi, hai thước rưỡi cao một thước rưỡi.
EXO 38:2 Ông làm mỗi góc nhô ra như cái sừng để các sừng và bàn thờ làm thành một khối nguyên. Rồi ông bọc đồng bàn thờ.
EXO 38:3 Ông làm các dụng cụ bằng đồng cho bàn thờ: Nồi, xẻng múc, chậu để rưới huyết, nĩa xiên thịt, và mâm đựng lửa.
EXO 38:4 Ông làm một miếng lưới lớn bằng đồng để giữ củi cho bàn thờ và đặt nó bên trong bàn thờ, ngay dưới viền, lưng chừng đáy.
EXO 38:5 Ông làm các khoen đồng để xỏ các đòn khiêng bàn và gắn các khoen đó ở bốn góc miếng lưới.
EXO 38:6 Rồi ông đóng các đòn khiêng bằng gỗ cây keo bọc đồng.
EXO 38:7 Ông xỏ các đòn khiêng qua các khoen nằm hai bên bàn thờ để khiêng bàn. Ông đóng gỗ xung quanh bàn thờ, để ở giữa rỗng.
EXO 38:8 Ông làm cái chậu đồng để rửa ráy trên đế chậu. Ông dùng đồng lấy từ các miếng gương soi mặt của các phụ nữ phục vụ nơi cửa vào Lều Họp.
EXO 38:9 Rồi ông may một bức màn chắn vách để làm sân họp quanh Lều Thánh. Về phía nam của Lều các bức màn dài năm mươi thước, làm toàn bằng vải gai mịn.
EXO 38:10 Các bức màn treo bằng các móc và khoanh bạc, đặt trên hai mươi cột đồng, dựng trên hai mươi đế đồng.
EXO 38:11 Về phía bắc các bức màn cũng dài năm mươi thước, treo trên các móc và khoanh bạc, đặt trên hai mươi cột đồng dựng trên hai mươi đế đồng.
EXO 38:12 Về phía Tây của sân họp, các bức màn dài hai mươi lăm thước. Các bức màn được treo bằng các móc và khoanh bạc đặt trên mười đế.
EXO 38:13 Phía Đông cũng dài hai mươi lăm thước.
EXO 38:14 Một bên của lối vào có một vách màn chắn dài bảy thước rưỡi, giữ bằng ba cây cột và ba đế.
EXO 38:15 Bên kia của lối vào cũng có một vách màn dài bảy thước rưỡi, giữ bằng ba cây cột và ba đế.
EXO 38:16 Tất cả các bức màn quanh sân họp đều làm bằng vải gai mịn.
EXO 38:17 Các đế cột đều làm bằng đồng. Các móc và khoanh trên cột làm bằng bạc, và đầu chóp cột cũng bọc bạc. Tất cả các cột trong sân họp có khoanh bạc bọc quanh.
EXO 38:18 Màn của lối vào sân họp may bằng vải gai mịn dùng chỉ xanh, tím và đỏ do một thợ may khéo thực hiện. Bức màn dài mười thước, cao hai thước rưỡi, cùng chiều cao của các bức màn bao quanh sân họp.
EXO 38:19 Bức màn được giữ bằng bốn cây cột dựng trên bốn đế đồng. Các móc và khoanh trên cột làm bằng bạc, và các đỉnh cột đều bọc bạc.
EXO 38:20 Các cọc lều của Lều Thánh và của các bức màn quanh sân họp đều làm bằng đồng.
EXO 38:21 Sau đây là bảng kết toán những vật liệu dùng may Lều Thánh, nơi chứa Giao Ước. Mô-se bảo người Lê-vi làm bảng kết toán, còn Y-tha-ma, con trai A-rôn có nhiệm vụ giữ bảng đó.
EXO 38:22 Bê-xa-lên con trai U-ri, cháu Hu-rơ thuộc chi tộc Giu-đa, làm theo mọi điều CHÚA truyền dặn Mô-se,
EXO 38:23 Ô-hô-hi-áp con A-hi-xa-mách thuộc chi tộc Đan giúp Bê-xa-lên. Ông có thể khắc các kiểu trên sắt hay đá; ông là người có tài vẽ kiểu và rất khéo tay trong việc may và dùng vải gai mịn, chỉ xanh, tím và đỏ.
EXO 38:24 Tổng số vàng dùng xây Lều Thánh được dâng cho CHÚA. Vàng đó cân nặng 2.000 cân theo cân Nơi Thánh.
EXO 38:25 Số bạc do dân chúng trong cộng đồng dâng được ghi nhận. Bạc đó nặng 7.550 cân theo cân Nơi Thánh.
EXO 38:26 Tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên đều được kiểm kê. Có tất cả 603.550 người, mỗi người phải trả một phần năm lượng bạc, theo cân Nơi Thánh.
EXO 38:27 Trong số bạc đó, 7.550 cân được dùng để làm một trăm đế cho Lều Thánh và các bức màn tức 75 cân cho mỗi đế.
EXO 38:28 Họ dùng 50 cân bạc còn lại để làm móc cho các cây cột đồng thời dùng để bọc đầu chóp cột cùng khoanh bao cột.
EXO 38:29 Tổng số đồng dâng cho CHÚA cân nặng khoảng hai tấn rưỡi.
EXO 38:30 Họ dùng đồng đó để làm các đế nơi cửa vào Lều Họp, làm bàn thờ và lưới đồng, cùng các vật dụng phụ tùng cho bàn thờ.
EXO 38:31 Số đồng nầy cũng được dùng để làm các đế cho vách màn quanh sân họp, các đế cho màn nơi lối vào sân họp, cùng để làm các cọc lều trong Lều Thánh và các bức màn quanh sân họp.
EXO 39:1 Họ dùng chỉ xanh, tím và đỏ để dệt vải may trang phục cho các thầy tế lễ mặc khi họ phục vụ Nơi Thánh. Họ may trang phục cho A-rôn theo như CHÚA truyền dặn Mô-se.
EXO 39:2 Họ cũng may áo ngắn thánh bằng chỉ vàng, xanh, tím, đỏ và dùng loại vải gai mịn.
EXO 39:3 Họ giát vàng thành miếng mỏng và cắt ra thành từng thẻ mỏng và dài. Họ kết vàng vào trong chỉ xanh, tím, đỏ, và vải gai mịn. Công tác đó do các thợ thủ công lành nghề làm.
EXO 39:4 Họ làm các đai vai cho áo ngắn thánh gắn vào các góc trên của áo và kết với nhau choàng ngang qua vai.
EXO 39:5 Thắt lưng dệt tỉ mỉ cũng làm theo một kiểu đó, được gắn vào áo ngắn thánh. Thắt lưng đó làm bằng chỉ vàng, xanh, tím, đỏ và vải gai mịn theo như cách CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:6 Họ bọc vàng quanh các viên ngọc mã não trên đó khắc tên các con trai Ít-ra-en, như người ta khắc chữ hay kiểu trên con dấu.
EXO 39:7 Rồi họ gắn các viên ngọc đó trên các đai vai của áo ngắn thánh để làm vật ghi nhớ mười hai con trai Ít-ra-en theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:8 Các thợ thủ công lành nghề cũng làm bảng che ngực giống như áo ngắn thánh. Bảng che ngực làm bằng vàng, chỉ xanh, tím và đỏ và bằng vải gai mịn.
EXO 39:9 Bảng che ngực hình vuông mỗi cạnh hai mươi lăm phân, xếp đôi lên để làm túi.
EXO 39:10 Rồi họ nạm bốn hàng ngọc quí lên đó. Hàng thứ nhất dùng hồng ngọc, bích ngọc, và hoàng ngọc;
EXO 39:11 hàng thứ hai dùng thanh ngọc, lam ngọc, lục ngọc;
EXO 39:12 hàng thứ ba dùng miêu ngọc, kim ngọc, tử ngọc;
EXO 39:13 hàng thứ tư, kim châu, mã não, và ngọc thạch. Vàng được nạm quanh các viên ngọc nầy để gắn vào bảng che ngực.
EXO 39:14 Tên của các con trai Ít-ra-en được khắc lên trên mười hai viên ngọc như kiểu người ta khắc con dấu. Mỗi viên ngọc mang một tên chi tộc Ít-ra-en.
EXO 39:15 Họ làm các dây chuyền bằng vàng ròng, xoắn lại như dây thừng, để treo bảng che ngực.
EXO 39:16 Các người thợ thủ công làm hai thẻ vàng và hai khoen vàng. Họ đặt hai khoen vàng vào hai góc trên của bảng che ngực.
EXO 39:17 Rồi họ đặt hai sợi dây chuyền vàng vào hai khoen vàng ở hai đầu bảng che ngực,
EXO 39:18 và họ cột hai đầu kia của các dây chuyền vào hai thẻ vàng. Họ cột các thẻ vàng vào hai đai vai trước áo ngắn thánh.
EXO 39:19 Họ làm hai khoen vàng gắn ở các góc bên dưới của bảng che ngực về phía trong, sát với áo ngắn thánh.
EXO 39:20 Họ làm hai khoen vàng nữa cho phần dưới của dây đai vai trước áo ngắn thánh, gần đường may, ngay bên trên thắt lưng bằng vải dệt của áo ngắn thánh.
EXO 39:21 Rồi họ dùng một dải băng xanh cột các khoen của bảng che ngực vào các khoen của áo ngắn thánh, nối với thắt lưng bằng vải dệt. Như thế bảng che ngực sẽ không đong đưa khỏi áo ngắn thánh. Họ làm tất cả đúng như CHÚA truyền dặn.
EXO 39:22 Rồi họ may áo ngoài để mặc bên dưới áo ngắn thánh. Áo đó may toàn bằng vải xanh mà thôi.
EXO 39:23 Họ cũng khoét một lỗ ở giữa áo ngoài, viền quanh cổ để khỏi bị rách.
EXO 39:24 Rồi họ làm các quả cầu giống trái lựu bằng chỉ xanh, tím, đỏ, và bằng vải gai mịn để treo quanh viền dưới của áo ngoài.
EXO 39:25 Họ cũng làm các trái chuông bằng vàng ròng treo quanh viền dưới áo ngoài xen vào giữa các quả cầu.
EXO 39:26 Như thế quanh viền dưới áo ngoài, có những cái chuông được treo xen kẽ với những quả hình trái lựu. Thầy tế lễ mặc chiếc áo khoác nầy khi hành lễ, theo như CHÚA truyền dặn Mô-se.
EXO 39:27 Họ dệt các áo trong bằng vải gai mịn cho A-rôn và các con trai ông,
EXO 39:28 rồi làm các khăn quấn đầu, băng bịt đầu, và áo lót bằng vải gai mịn.
EXO 39:29 Rồi họ làm thắt lưng bằng vải gai mịn, chỉ xanh, tím, đỏ rồi thêu các kiểu lên đó theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:30 Họ cũng làm một miếng thẻ bằng vàng ròng dùng làm mão thánh, khắc trên đó các chữ sau đây như người ta khắc con dấu: “Thánh cho CHÚA.”
EXO 39:31 Rồi họ buộc miếng thẻ nầy vào khăn quấn đầu bằng một cái dải băng xanh theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:32 Như thế công tác làm Lều Thánh hoàn tất. Người Ít-ra-en làm mọi điều đúng như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:33 Rồi họ mang Lều Thánh đến cho Mô-se: Lều Thánh và các đồ phụ tùng, các móc, khung, thanh ngang, cột, và đế;
EXO 39:34 khăn phủ làm bằng da chiên đực nhuộm đỏ, khăn phủ làm bằng da thuộc loại tốt, và bức màn che lối vào Nơi Chí Thánh;
EXO 39:35 Rương Giao Ước, các đòn khiêng và nắp;
EXO 39:36 cái bàn, những đồ chứa, và bánh hiện diện của Thượng Đế;
EXO 39:37 chân đèn bằng vàng ròng cùng với các đèn dựng theo một hàng, dầu ô-liu đốt đèn,
EXO 39:38 bàn thờ vàng, dầu ô-liu đặc biệt dùng để bổ nhiệm các thầy tế lễ, trầm hương, bức màn che lối vào Lều;
EXO 39:39 bàn thờ và lưới bằng đồng, các đòn khiêng và các đồ phụ tùng, chậu và đế;
EXO 39:40 các bức màn bao quanh sân họp cùng với các cây cột và đế, bức màn che lối vào sân họp, dây cột, cọc, và những đồ dùng trong Lều Thánh.
EXO 39:41 Họ mang đến các áo lễ để các thầy tế lễ mặc khi hành lễ trong nơi thánh, áo lễ thánh cho A-rôn là thầy tế lễ và áo lễ cho các con trai ông mặc khi hành lễ.
EXO 39:42 Dân Ít-ra-en hoàn tất các công tác đó y như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 39:43 Sau khi Mô-se xem xét kỹ lưỡng các công tác và thấy họ đã làm giống như CHÚA đã truyền dặn thì ông chúc phước cho họ.
EXO 40:1 Sau đó CHÚA bảo Mô-se:
EXO 40:2 “Vào ngày đầu tháng giêng, hãy dựng Lều Thánh dùng làm Lều Họp.
EXO 40:3 Hãy để Rương Giao Ước trong đó và treo một bức màn trước Rương.
EXO 40:4 Mang cái bàn vào và sắp xếp mọi thứ trên bàn cho đầy đủ. Rồi đem chân đèn và dựng các đèn lên.
EXO 40:5 Đặt bàn thờ vàng xông hương trước Rương Giao Ước, và treo bức màn ngay lối vào Lều Thánh.
EXO 40:6 Đặt bàn thờ dâng của lễ thiêu trước lối vào Lều Thánh, tức Lều Họp.
EXO 40:7 Đặt cái chậu ở khoảng giữa Lều Họp và bàn thờ, rồi đổ nước vào.
EXO 40:8 Làm một sân họp quanh Lều Thánh, và treo bức màn ngay lối vào sân họp.
EXO 40:9 Dùng dầu ô-liu đặc biệt xức trên Lều Thánh và mọi vật dụng bên trong để Lều và mọi vật dụng biệt riêng cho CHÚA. Tất cả các thứ đó sẽ trở nên thánh.
EXO 40:10 Đổ dầu ô-liu đặc biệt lên bàn thờ dâng của lễ thiêu và mọi đồ phụ tùng. Hãy biệt riêng bàn thờ cho công việc Thượng Đế. Nó sẽ trở nên cực thánh.
EXO 40:11 Rồi đổ dầu ô-liu đặc biệt lên chậu, đế bên dưới, biệt riêng chúng ra cho Thượng Đế.
EXO 40:12 Mang A-rôn và các con trai người đến trước cửa vào Lều Họp, tắm cho họ.
EXO 40:13 Rồi mặc trang phục thánh vào cho A-rôn. Xức dầu cho người để biệt người riêng ra phục vụ Thượng Đế đặng người làm thầy tế lễ cho ta.
EXO 40:14 Mang các con trai A-rôn ra và mặc các áo trong cho chúng.
EXO 40:15 Xức dầu đặc biệt cho chúng giống như khi con tấn phong cha chúng làm thầy tế lễ để chúng cũng phục vụ ta trong chức vụ tế lễ. Xức dầu trên chúng sẽ khiến chúng thành một gia đình thầy tế lễ, tức chúng và con cháu chúng từ nay về sau.”
EXO 40:16 Mô-se làm mọi điều y như CHÚA đã truyền dặn.
EXO 40:17 Như thế Lều Thánh được dựng lên vào ngày mồng một tháng giêng, năm thứ hai sau khi họ rời Ai-cập.
EXO 40:18 Khi Mô-se dựng Lều Thánh, ông đặt các đế vào vị trí, rồi đặt các khung lên các đế. Rồi ông xỏ các thanh ngang qua các khoen trên khung. Sau đó ông dựng các cây cột.
EXO 40:19 Sau đó Mô-se trải tấm vải trên Lều Thánh và đặt tấm phủ lên, theo như CHÚA truyền dặn.
EXO 40:20 Mô-se đặt các bảng đá có ghi Giao Ước trên đó vào trong Rương. Ông xỏ các đòn khiêng qua các khoen của Rương xong đặt cái nắp lên trên.
EXO 40:21 Kế đó ông mang Rương vào trong Lều; xong, treo bức màn che Rương, theo như CHÚA đã truyền dặn ông.
EXO 40:22 Mô-se đặt cái bàn trong Lều Họp về phía bắc Lều Thánh trước bức màn.
EXO 40:23 Rồi ông bày bánh mì trên bàn trước mặt CHÚA theo như Ngài đã truyền dặn mình.
EXO 40:24 Mô-se đặt cái chân đèn trong Lều Họp về phía nam của Lều Thánh đối diện với cái bàn.
EXO 40:25 Rồi ông gắn các đèn lên chân trước mặt CHÚA theo như Ngài đã truyền dặn mình.
EXO 40:26 Mô-se đặt bàn thờ xông hương bằng vàng trong Lều Thánh trước bức màn.
EXO 40:27 Rồi ông đốt trầm hương trên đó theo như CHÚA đã truyền dặn mình.
EXO 40:28 Tiếp đó ông treo bức màn ngay lối vào Lều Thánh.
EXO 40:29 Ông đặt bàn thờ của lễ thiêu nơi lối vào Lều Thánh, tức Lều Họp, và dâng một của lễ toàn thiêu cùng của lễ chay trên đó theo như CHÚA đã truyền dặn mình.
EXO 40:30 Mô-se đặt cái chậu ở khoảng giữa Lều Họp và bàn thờ của lễ thiêu, rồi đổ nước vào đó để rửa ráy.
EXO 40:31 Mô-se, A-rôn và các con trai A-rôn dùng nước đó để rửa tay và chân.
EXO 40:32 Mỗi khi họ vào Lều Họp hay đến gần bàn thờ của lễ thiêu thì họ tắm theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
EXO 40:33 Sau đó Mô-se dựng sân họp quanh Lều Thánh và bàn thờ, rồi ông treo một bức màn nơi cửa vào sân họp. Như thế Mô-se hoàn tất công tác.
EXO 40:34 Đám mây che phủ Lều Họp và vinh quang CHÚA ngự đầy trong Lều Thánh.
EXO 40:35 Mô-se không thể vào Lều Họp vì đám mây đã phủ trên đó, và vinh quang CHÚA đầy khắp Lều Thánh.
EXO 40:36 Khi đám mây cất lên khỏi Lều Thánh thì dân Ít-ra-en bắt đầu ra đi,
EXO 40:37 nhưng bao lâu mà đám mây còn ngự trên Lều Thánh, thì họ không đi. Họ cứ ở yên nơi đó cho đến khi đám mây cất lên.
EXO 40:38 Đám mây của CHÚA ngự trên Lều Thánh ban ngày, còn ban đêm thì có đám lửa. Vì thế toàn dân Ít-ra-en có thể nhìn thấy đám mây đang khi đi đường.
LEV 1:1 Từ Lều Họp Chúa gọi và truyền cho Mô-se như sau,
LEV 1:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: ‘Khi dâng của lễ cho Chúa thì hãy mang một con vật bắt từ trong bầy.
LEV 1:3 Nếu đó là của lễ toàn thiêu từ bầy gia súc, thì phải dâng con đực không tật nguyền. Ngươi sẽ mang con vật đến cửa Lều Họp để Chúa đoái nhận của lễ đó.
LEV 1:4 Ngươi sẽ đặt tay trên đầu con vật, Chúa sẽ nhận nó và tha tội cho ngươi.
LEV 1:5 Ngươi sẽ giết con bò đực tơ đó trước mặt Chúa, rồi các con trai A-rôn, là thầy tế lễ, sẽ lấy huyết nó rưới chung quanh bàn thờ nơi cửa Lều Họp.
LEV 1:6 Rồi ngươi sẽ lột da con vật và chặt nó ra từng miếng.
LEV 1:7 Sau khi chất củi và lửa trên bàn thờ, các thầy tế lễ
LEV 1:8 sẽ đặt cái đầu, mỡ, và các miếng khác lên trên củi lửa nơi bàn thờ.
LEV 1:9 Bộ lòng và chân con vật phải rửa bằng nước. Rồi thầy tế lễ phải thiêu hết các phần của con vật trên bàn thờ. Đó là của lễ toàn thiêu bằng lửa dâng lên, có mùi thơm làm vừa lòng Chúa.
LEV 1:10 Nếu của lễ thiêu là con chiên hay dê bắt từ trong bầy, phải chọn con đực không tật nguyền.
LEV 1:11 Ngươi phải giết con vật về hướng bắc của bàn thờ trước mặt Chúa, rồi các con trai A-rôn, là thầy tế lễ, phải rưới huyết nó xung quanh bàn thờ.
LEV 1:12 Ngươi sẽ chặt con vật ra làm nhiều phần, rồi thầy tế lễ sẽ đặt cái đầu con vật cùng với mỡ nó lên củi cháy nơi bàn thờ.
LEV 1:13 Ngươi sẽ lấy nước rửa bộ lòng và giò. Rồi thầy tế lễ sẽ thiêu hết các phần đã chặt trên bàn thờ. Đó là của lễ toàn thiêu dùng lửa dâng lên, có mùi thơm làm vừa lòng Chúa.
LEV 1:14 Nếu của lễ toàn thiêu cho Chúa là loài chim thì phải là con cu đất hay bồ câu con.
LEV 1:15 Thầy tế lễ sẽ mang con chim đến bàn thờ, vặn đứt đầu ra rồi thiêu nó trên bàn thờ; còn huyết nó thì cho chảy bên cạnh bàn thờ.
LEV 1:16 Ngươi sẽ lấy cái đuôi và nguyên cái bầu diều ném về phía đông của bàn thờ nơi đổ tro.
LEV 1:17 Sau đó ngươi mổ nó ra nơi cánh nhưng không cắt rời, rồi thiêu con chim trên bàn thờ, trên củi đang cháy. Đó là của lễ toàn thiêu bằng lửa dâng lên, có mùi thơm làm vừa lòng Chúa.’”
LEV 2:1 “Khi ai dâng của lễ chay cho Chúa thì phải chọn loại bột mịn. Xong đổ dầu và bỏ trầm hương lên trên,
LEV 2:2 rồi mang đến cho các con trai A-rôn, là thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột mịn có dầu và trầm hương, rồi thiêu trên bàn thờ làm phần kỷ niệm. Đó là của lễ thiêu có mùi thơm, làm vừa lòng Chúa.
LEV 2:3 Phần còn lại sẽ thuộc về A-rôn và các thầy tế lễ; đó là phần chí thánh trong của lễ thiêu dâng lên cho Chúa.
LEV 2:4 Nếu ngươi mang của lễ chay đã được nướng trong lò thì phải dùng bột mịn làm bánh không men tẩm dầu, hay làm bánh kẹp không men đổ dầu lên.
LEV 2:5 Nếu của lễ chay được chiên trên chảo thì phải dùng bột mịn không men trộn dầu.
LEV 2:6 Bẻ vụn ra rồi đổ dầu lên; của lễ chay là như vậy.
LEV 2:7 Nếu của lễ chay chiên trên chảo lớn thì phải dùng bột mịn với dầu.
LEV 2:8 Mang của lễ chay được chế biến như thế đến với Chúa. Trao cho thầy tế lễ để người mang đến bàn thờ.
LEV 2:9 Người sẽ lấy phần kỷ niệm từ của lễ chay đem đốt trên bàn thờ để làm của lễ thiêu. Mùi thơm sẽ làm vừa lòng Chúa.
LEV 2:10 Phần còn lại trong của lễ chay thuộc về A-rôn và các thầy tế lễ. Đó là phần chí thánh dâng lên bằng lửa cho Chúa.
LEV 2:11 Tất cả các của lễ chay dâng cho Chúa, không được bỏ men vào, ngươi không được đốt men hay mật ong trong của lễ thiêu dâng lên cho Chúa.
LEV 2:12 Ngươi có thể mang men và mật ong đến cho Chúa làm của lễ sản vật đầu mùa, nhưng đừng thiêu để lấy mùi thơm.
LEV 2:13 Ngươi phải bỏ muối lên mọi của lễ chay. Muối tiêu biểu cho giao ước đời đời giữa ngươi với Thượng Đế; không được thiếu muối trong của lễ chay. Phải thêm muối vào tất cả các của lễ.
LEV 2:14 Nếu ngươi dâng cho Chúa của lễ chay từ sản vật đầu mùa thì phải mang gié lúa tán rang trong lửa.
LEV 2:15 Đổ dầu và trầm hương lên; đó là của lễ chay.
LEV 2:16 Thầy tế lễ sẽ thiêu phần kỷ niệm của gié lúa tán cùng dầu và trầm hương để lên trên. Đó là của lễ thiêu dâng lên cho Chúa.”
LEV 3:1 “Khi người nào dâng cho Chúa của lễ thân hữu lấy từ trong bầy thì có thể dâng con đực hay cái cũng được nhưng phải không tật nguyền.
LEV 3:2 Người sẽ đặt tay trên đầu con vật rồi giết nó tại cửa Lều Họp. Sau đó các con trai của A-rôn, là thầy tế lễ, phải rưới huyết nó xung quanh bàn thờ.
LEV 3:3 Từ của lễ thân hữu, người đó phải dâng một của lễ thiêu cho Chúa. Phải dâng mỡ và bộ lòng con vật (mỡ bên trong và mỡ bọc bộ lòng),
LEV 3:4 hai trái cật với mỡ trên trái cật gần bắp thịt dưới lưng, phần tốt nhất của lá gan, lấy ra cùng một lượt với trái cật.
LEV 3:5 Thầy tế lễ sẽ đốt các phần nầy nơi bàn thờ, bằng cách đặt lên của lễ toàn thiêu đang được đốt trên củi cháy. Đó là của lễ thiêu có mùi thơm cho Chúa.
LEV 3:6 Nếu của lễ thân hữu là cừu con hay dê thì dâng con đực hay con cái cũng được, nhưng phải không tật nguyền.
LEV 3:7 Nếu người đó dâng cừu con thì phải mang nó đến trước mặt Chúa,
LEV 3:8 đặt tay trên đầu nó rồi giết con vật trước cửa Lều Họp rồi thầy tế lễ sẽ rưới huyết nó xung quanh bàn thờ.
LEV 3:9 Từ của lễ thân hữu người sẽ dâng của lễ thiêu cho Chúa. Người phải mang mỡ, nguyên cái đuôi cắt gần xương sống, mỡ của bộ lòng (mỡ trong bộ lòng và mỡ bọc bộ lòng)
LEV 3:10 hai trái cật cùng với mỡ trên trái cật, gần bắp thịt dưới lưng, phần tốt nhất của lá gan mà người sẽ lấy ra cùng với trái cật.
LEV 3:11 Rồi thầy tế lễ sẽ thiêu các phần nầy trên bàn thờ để làm thức ăn; đó là của lễ thiêu dâng lên cho Chúa.
LEV 3:12 Nếu của lễ là con dê thì phải dâng nó lên cho Chúa,
LEV 3:13 người sẽ đặt tay trên đầu nó rồi giết nó trước Lều Họp rồi thầy tế lễ sẽ rưới huyết nó xung quanh bàn thờ.
LEV 3:14 Từ của lễ nầy, người sẽ dâng của lễ thiêu cho Chúa. Người sẽ dâng toàn thể mỡ của bộ lòng con vật gồm mỡ trong bộ lòng và mỡ bọc bộ lòng,
LEV 3:15 hai trái cật cùng với mỡ trên trái cật gần bắp thịt dưới lưng, phần tốt nhất của lá gan mà người lấy ra cùng với trái cật.
LEV 3:16 Rồi thầy tế lễ sẽ thiêu các phần nầy trên bàn thờ để làm thức ăn. Đó là của lễ thiêu có mùi thơm làm vừa lòng Chúa. Tất cả mỡ đều thuộc về Chúa.
LEV 3:17 Luật nầy áp dụng từ nay về sau cho toàn thể dân chúng ở bất cứ nơi nào: Các ngươi không được ăn mỡ hay huyết.”
LEV 4:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 4:2 “Hãy dặn bảo dân Ít-ra-en như sau: ‘Khi ai vô tình phạm điều Chúa cấm thì phải làm như sau:
LEV 4:3 Nếu là thầy tế lễ đương nhiệm mà phạm lỗi gây cho dân chúng mắc tội thì người phải dâng một con bò tơ đực không tật nguyền cho Chúa để chuộc tội mình đã vô ý phạm.
LEV 4:4 Người sẽ mang con vật đến cửa Lều Họp trước mặt Chúa, đặt tay trên đầu nó rồi giết nó trước mặt Chúa.
LEV 4:5 Rồi thầy tế lễ đương nhiệm phải mang huyết của con vật vào trong Lều Họp.
LEV 4:6 Người sẽ nhúng ngón tay vào huyết và rưới nó bảy lần trước mặt Chúa ngay trước bức màn của Nơi Chí Thánh.
LEV 4:7 Thầy tế lễ cũng phải dùng huyết thoa các góc bàn thờ xông hương đặt trước mặt Chúa trong Lều Họp. Phần huyết còn lại thì đổ nơi chân bàn thờ dâng làm của lễ nơi cửa Lều Họp.
LEV 4:8 Người sẽ lấy mỡ khỏi con vật dâng làm của lễ chuộc tội lầm lỡ, tức mỡ bên trên và mỡ bọc bộ lòng,
LEV 4:9 hai trái cật và mỡ trên trái cật gần bắp thịt dưới lưng và phần tốt nhất của lá gan lấy ra cùng với trái cật.
LEV 4:10 Người phải làm giống y như khi lấy mỡ ra khỏi con vật dâng làm của lễ thân hữu. Rồi thầy tế lễ sẽ đốt các phần của con vật trên bàn thờ làm của lễ thiêu.
LEV 4:11 Nhưng thầy tế lễ phải mang da con bò đực, thịt nó cùng với các phần còn lại gồm đầu, chân, ruột và bộ lòng.
LEV 4:12 Người phải mang các thứ đó ra ngoài doanh trại đến một nơi tinh sạch để đổ tro. Người phải đốt nó trên củi cháy ngay trên đống tro.
LEV 4:13 Nếu toàn dân Ít-ra-en vô ý phạm điều Chúa cấm mà không biết thì toàn dân sẽ mắc tội.
LEV 4:14 Sau khi nhận biết lỗi lầm mình thì họ phải dâng một con bò tơ làm của lễ chuộc tội, mang nó đến trước Lều Họp.
LEV 4:15 Các trưởng lão sẽ đặt tay trên đầu con vật trước mặt Chúa, xong giết nó trước mặt Ngài.
LEV 4:16 Rồi thầy tế lễ đương nhiệm phải mang huyết con vật vào bên trong Lều Họp.
LEV 4:17 Người sẽ nhúng ngón tay trong huyết và rảy bảy lần trước mặt Chúa trước bức màn.
LEV 4:18 Xong người sẽ bôi huyết trên các góc bàn thờ trước mặt Chúa trong Lều Họp. Thầy tế lễ phải đổ phần huyết còn lại nơi chân bàn thờ của lễ thiêu nơi cửa Lều Họp.
LEV 4:19 Người phải lấy tất cả mỡ trong con vật rồi thiêu trên bàn thờ;
LEV 4:20 cách dâng con bò đực nầy cũng giống y như con bò trước đã dâng làm của lễ chuộc tội. Như thế thầy tế lễ sẽ chuộc tội lỗi của dân chúng để họ thuộc về Thượng Đế và sẽ được tha thứ.
LEV 4:21 Sau đó thầy tế lễ sẽ mang con bò ra bên ngoài doanh trại và hỏa thiêu nó y như đã làm cho con vật trước. Đó là của lễ chuộc tội cho cả cộng đồng.
LEV 4:22 Nếu có một quan trưởng nào vô tình làm điều Chúa cấm, thì người đó mắc tội.
LEV 4:23 Sau khi người ấy biết mình đã phạm tội thì người phải mang một con dê đực không tật nguyền để làm của lễ.
LEV 4:24 Quan trưởng đó sẽ đặt tay lên đầu con dê rồi giết nó nơi chỗ người ta giết con vật làm của lễ toàn thiêu trước mặt Chúa; đó là của lễ chuộc tội.
LEV 4:25 Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay trong huyết của lễ chuộc tội và bôi trên các góc bàn thờ của lễ thiêu. Người phải đổ huyết còn lại nơi chân bàn thờ của lễ thiêu.
LEV 4:26 Thầy tế lễ sẽ thiêu tất cả mỡ của con dê trên bàn thờ giống như thiêu mỡ lấy ở của lễ thân hữu. Đó là cách thầy tế lễ làm sạch tội cho quan trưởng, rồi tội người sẽ được tha.
LEV 4:27 Nếu có người nào trong cộng đồng vô tình phạm tội và làm điều Chúa cấm thì người đó mắc tội.
LEV 4:28 Sau khi nhận biết lỗi mình thì người phải mang đến một con dê cái không tật nguyền, để làm của lễ chuộc tội cho mình.
LEV 4:29 Người phải đặt tay trên đầu con vật rồi giết nó tại nơi dâng của lễ toàn thiêu.
LEV 4:30 Rồi thầy tế lễ phải nhúng ngón tay trong huyết con vật và bôi lên các góc của bàn thờ của lễ thiêu. Phần huyết còn lại thì đổ nơi chân bàn thờ.
LEV 4:31 Sau đó thầy tế lễ phải lấy hết mỡ của con dê theo như cách đã lấy mỡ trong của lễ thân hữu. Người phải thiêu mỡ đó trên bàn thờ để mùi thơm bốc lên, làm vừa lòng Chúa. Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội cho người ấy, rồi tội người sẽ được tha.
LEV 4:32 Nếu người mang chiên con đến để làm của lễ chuộc lỗi thì phải mang con cái, không tật nguyền.
LEV 4:33 Người phải đặt tay lên đầu con vật rồi giết nó làm của lễ chuộc tội tại nơi con vật dâng làm của lễ toàn thiêu bị giết.
LEV 4:34 Thầy tế lễ phải nhúng ngón tay trong huyết của lễ chuộc tội rồi bôi lên các góc bàn thờ của lễ thiêu. Phần huyết còn lại của con chiên thì đổ nơi chân bàn thờ.
LEV 4:35 Rồi thầy tế lễ phải lấy hết mỡ con chiên con theo cách lấy mỡ của con chiên dâng làm của lễ thân hữu. Thầy tế lễ phải thiêu nó cùng với các của lễ thiêu dâng lên cho Chúa. Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội người ấy, để tội người được tha.’”
LEV 5:1 “Khi ai được lệnh gọi ra khai trước tòa hay làm chứng về những điều mình nghe thấy mà không chịu khai thì người ấy mắc tội.
LEV 5:2 Hoặc nếu người nào đụng vào vật không sạch, chẳng hạn như xác chết của một con vật hoang không sạch, một gia súc không sạch hoặc một loài bò sát không sạch, dù không biết mình đã đụng vào nó hay chưa, người ấy vẫn bị xem như không sạch và kể như mắc lỗi.
LEV 5:3 Khi ai đụng đến thứ không sạch của con người—nghĩa là bất cứ vật gì làm cho con người trở nên dơ bẩn—mà không hay, thì người đó vẫn bị xem như mắc lỗi khi nhận ra việc mình đã làm.
LEV 5:4 Hoặc nếu ai đã trót khấn hứa cùng Chúa bằng những lời lẽ có thể liên quan đến điều ác hay thiện, mà có lúc quên lời mình khấn hứa, thì khi sực nhớ lại, người đó bị xem như mắc lỗi.
LEV 5:5 Khi ai mắc một trong các tội vừa kể thì phải thú nhận mắc tội như thế nào.
LEV 5:6 Người đó phải mang một của lễ đền bù đến cho Chúa để đền bù tội đã phạm. Của lễ đó phải là con chiên cái con hoặc dê cái con bắt từ trong bầy. Thầy tế lễ sẽ thi hành phương thức chuộc tội cho người ấy.
LEV 5:7 Nếu người không đủ tiền mua con chiên thì người phải mang đến Chúa hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con, để đền bù lỗi lầm. Một con để làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ toàn thiêu.
LEV 5:8 Người phải mang chúng đến cho thầy tế lễ để dâng con chim thứ nhất làm của lễ đền bù. Thầy tế lễ sẽ vặn cổ nó nhưng không rứt đầu ra.
LEV 5:9 Người sẽ rưới huyết của lễ chuộc tội bên cạnh bàn thờ rồi đổ phần huyết còn lại nơi chân bàn thờ. Đó là của lễ đền bù.
LEV 5:10 Rồi thầy tế lễ sẽ dâng con chim thứ hai làm của lễ toàn thiêu theo như luật định. Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội cho người ấy và Chúa sẽ tha tội cho người.
LEV 5:11 Nhưng nếu người không đủ tiền mua hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con thì người phải mang khoảng hai lít bột mịn để làm của lễ chuộc tội. Không được cho dầu hay trầm hương lên bột vì đó là của lễ đền bù.
LEV 5:12 Người phải mang bột đến thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ bốc một nắm làm của lễ kỷ niệm và đốt bột đó trên bàn thờ cùng với của lễ thiêu dâng cho Chúa; đó là của lễ đền bù.
LEV 5:13 Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội người, để người thuộc về Chúa, Ngài sẽ tha tội cho người. Phần của lễ chuộc tội còn lại sẽ thuộc về thầy tế lễ, giống như của lễ chay.”
LEV 5:14 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 5:15 “Nếu ai vô tình phạm tội sử dụng các vật thánh của Chúa, thì người đó phải mang một con chiên đực không tật nguyền bắt từ trong bầy ra để dùng làm của lễ chuộc lỗi. Giá trị bằng bạc của con chiên phải được xác định chính xác bằng cân của Nơi Thánh. Đó là của lễ chuộc lỗi.
LEV 5:16 Người phải chuộc lỗi lầm đã phạm vào vật thánh, cộng thêm một phần năm trị giá của vật. Rồi giao tất cả cho thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ dùng con chiên đực chuộc tội người, để người thuộc về Chúa. Chúa sẽ tha tội cho người.
LEV 5:17 Nếu ai phạm tội và làm điều Chúa cấm, dù cho không biết đi nữa, người ấy vẫn xem như phạm tội. Người phải chịu trách nhiệm về tội mình.
LEV 5:18 Người ấy phải mang đến cho thầy tế lễ một con chiên đực không tật nguyền bắt từ trong bầy theo đúng trị giá. Con vật sẽ được dùng làm của lễ chuộc lỗi. Dù vô tình phạm tội đi nữa, thì nhờ của lễ nầy thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người.
LEV 5:19 Người có lỗi vì đã làm quấy cho nên phải dâng của lễ chuộc lỗi cho Chúa.”
LEV 6:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 6:2 “Nếu ai phạm tội cùng Chúa, hoặc nói dối với người láng giềng rằng đồ vật được người khác giao cho mình giữ hộ đã bị lạc mất hay bị đánh cắp, hoặc người ấy không ngay thẳng về món đặt cọc, hoặc đã đánh cắp hay cưỡng đoạt vật ấy,
LEV 6:3 hoặc bắt được vật đã bị người khác đánh mất rồi chối, hoặc đã thề dối về điều ấy trước mặt Chúa, hay phạm một tội nào khác,
LEV 6:4 thì người phạm một trong những chuyện ấy bị xem như phạm tội. Người đó phải trả lại vật đã ăn cắp hoặc cưỡng đoạt mà lấy. Người phải trả lại vật người khác nhờ giữ hộ. Người đó phải trả lại đồ vật mình lượm được mà chối,
LEV 6:5 hay nếu đã thề dối để chiếm vật gì, thì người đó phải trả lại nguyên trị giá đồ vật cộng thêm một phần năm trị giá vật mình đã lấy. Người phải giao số tiền đó cho nguyên chủ trong ngày người mang của lễ chuộc tội đến.
LEV 6:6 Người phải mang của lễ chuộc tội đến cho thầy tế lễ gồm một con chiên đực không tật nguyền, bắt từ trong bầy đúng theo trị giá. Con vật ấy sẽ dùng làm của lễ đền bù dâng lên cho Chúa.
LEV 6:7 Rồi thầy tế lễ sẽ theo phương thức chuộc tội người ấy, và Chúa sẽ tha lỗi người đã phạm.”
LEV 6:8 Chúa lại phán cùng Mô-se,
LEV 6:9 “Hãy truyền lệnh nầy cho A-rôn và các thầy tế lễ: Đây là những chỉ thị về của lễ toàn thiêu: Của lễ thiêu phải đặt trên bàn thờ trọn đêm cho đến sáng, lửa trên bàn thờ phải cháy luôn suốt thời gian đó.
LEV 6:10 Thầy tế lễ phải mặc áo dài bằng vải gai và áo lót cũng bằng vải gai. Người sẽ hốt tro từ của lễ thiêu trên bàn thờ rồi đổ cạnh bàn thờ.
LEV 6:11 Sau đó người phải thay các áo đó, mặc áo khác vào để mang tro ra ngoài doanh trại đổ ở một nơi sạch sẽ.
LEV 6:12 Nhưng phải giữ cho lửa cháy luôn trên bàn thờ không được tắt. Mỗi sáng thầy tế lễ phải chụm thêm củi trên bàn thờ, để của lễ toàn thiêu lên trên rồi thiêu mỡ của của lễ thân hữu.
LEV 6:13 Phải giữ cho lửa cháy luôn, không được tắt.”
LEV 6:14 “Đây là những chỉ thị về của lễ chay: Thầy tế lễ phải mang của lễ nầy đến cho Chúa trên bàn thờ.
LEV 6:15 Người sẽ bốc một nắm bột mịn có tẩm dầu và trầm hương rồi xông của lễ chay trên bàn thờ như là một của lễ kỷ niệm cho Chúa. Mùi thơm của lễ sẽ làm vui lòng Ngài.
LEV 6:16 A-rôn và các thầy tế lễ có thể ăn phần còn lại, nhưng không được dùng với men và phải ăn ở một nơi thánh. Của lễ ấy phải được ăn ở sân Lều Họp.
LEV 6:17 Không được nấu với men. Ta đã cho họ của lễ ấy, tức là phần của lễ thiêu cấp cho họ; của lễ đó rất thánh giống như của lễ chuộc lỗi và của lễ đền bù.
LEV 6:18 Từ nay về sau, bất cứ các con cháu trai nào của A-rôn đều có thể ăn phần của lễ thiêu đã dâng cho Chúa. Tất cả những thứ gì đụng đến các của lễ đó đều trở nên thánh cả.”
LEV 6:19 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 6:20 “Sau đây là loại của lễ mà A-rôn và các thầy tế lễ phải mang đến cho Chúa trong ngày A-rôn được bổ nhiệm làm thầy tế lễ tối cao: Hai lít bột mịn để làm của lễ chay thường, một nửa dùng buổi sáng, nửa kia dùng vào buổi chiều.
LEV 6:21 Bột mịn phải được trộn dầu và chiên trên chảo. Mang bột đó đến sau khi đã trộn nhuyễn. Của lễ chay phải được bẻ ra từng miếng dâng lên, để có mùi thơm làm vừa lòng Chúa.
LEV 6:22 Một trong các thầy tế lễ, được chỉ định kế vị A-rôn làm thầy tế lễ tối cao, sẽ dâng của lễ chay. Qui tắc vĩnh viễn là của lễ chay phải được thiêu đốt hoàn toàn cho Chúa.
LEV 6:23 Tất cả của lễ chay do thầy tế lễ dâng lên phải được thiêu đốt hoàn toàn, không được dùng để ăn.”
LEV 6:24 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 6:25 “Hãy dặn A-rôn và các thầy tế lễ như sau: Đây là những chỉ thị về của lễ chuộc tội: Con vật dùng trong của lễ chuộc tội phải được giết trước mặt Chúa tại nơi mà con vật toàn thiêu bị giết; của lễ đó rất thánh.
LEV 6:26 Thầy tế lễ dâng của lễ chuộc tội phải ăn nó ở một nơi thánh, như trong sân của Lều Họp chẳng hạn.
LEV 6:27 Bất cứ những gì chạm đến thịt của lễ chuộc tội phải được xem như hóa thánh, và nếu huyết của lễ đó vấy trên quần áo nào thì phải đem giặt ở một nơi thánh.
LEV 6:28 Nồi đất dùng nấu thịt đó phải đập bể, còn nếu nấu nồi đồng thì phải chùi rửa thật sạch bằng nước.
LEV 6:29 Bất cứ người nam nào thuộc gia đình thầy tế lễ đều có thể ăn của lễ nầy; đó là của lễ chí thánh.
LEV 6:30 Nhưng nếu huyết của lễ chuộc tội được mang vào bên trong Lều Họp và dùng để chuộc tội Nơi Chí Thánh, thì của lễ chuộc tội ấy phải được thiêu bằng lửa. Không được dùng để ăn.”
LEV 7:1 “Đây là những huấn thị về của lễ đền bù, một loại của lễ rất thánh:
LEV 7:2 Con vật dùng trong của lễ đền bù phải được giết nơi con vật của lễ toàn thiêu bị giết. Thầy tế lễ sẽ rưới huyết của lễ đó xung quanh bàn thờ.
LEV 7:3 Người phải dâng tất cả mỡ trong của lễ đền bù, cái đuôi nguyên, mỡ bao bộ lòng,
LEV 7:4 hai trái cật cùng với mỡ trên trái cật gần bắp thịt dưới lưng, phần tốt nhất của lá gan được lấy ra cùng với trái cật.
LEV 7:5 Thầy tế lễ phải thiêu các món đó trên bàn thờ, để làm của lễ thiêu dâng lên cho Chúa. Đó là của lễ đền bù.
LEV 7:6 Bất cứ người nam nào thuộc gia đình thầy tế lễ đều có thể ăn của lễ đó. Vì là của lễ rất thánh nên phải ăn ở một nơi thánh.
LEV 7:7 Của lễ đền bù tương tự như của lễ làm sạch tội, cho nên huấn thị cho cả hai loại của lễ đều giống nhau. Thầy tế lễ, đứng dâng của lễ để chuộc tội, có thể ăn thịt thuộc về các của lễ đó.
LEV 7:8 Thầy tế lễ, đứng dâng của lễ thiêu, cũng có thể lấy da từ của lễ đó.
LEV 7:9 Tất cả của lễ chay, được nướng trong lò, chiên trên chảo hay nướng trong dĩa, đều thuộc về thầy tế lễ đứng dâng của lễ.
LEV 7:10 Mọi của lễ chay, dù dâng khô hay trộn dầu, đều thuộc về thầy tế lễ và các thầy tế lễ sẽ chia nhau đồng đều.”
LEV 7:11 “Sau đây là huấn thị về của lễ thân hữu mà người ta có thể dâng lên cho Chúa:
LEV 7:12 Nếu người nào mang của lễ thân hữu đến để tỏ lòng cảm tạ thì phải mang các ổ bánh không pha men có tẩm dầu, bánh kẹp không men đổ dầu lên và các ổ bánh làm bằng bột mịn trộn dầu.
LEV 7:13 Người đó cũng phải dâng các ổ bánh có pha men, cùng với của lễ thân hữu mà người dâng lên, để tỏ lòng cảm tạ.
LEV 7:14 Mỗi loại của lễ sẽ thuộc về Chúa, sau đó được cấp cho thầy tế lễ nào rưới huyết của con vật dùng trong của lễ thân hữu.
LEV 7:15 Khi của lễ thân hữu dâng lên để cảm tạ Chúa, thì thịt con vật đem dâng phải được ăn trong ngày đem dâng, không được để qua sáng hôm sau.
LEV 7:16 Khi dâng của lễ thân hữu cho Thượng Đế, nếu người dâng chỉ do tự nguyện hay do một sự khấn hứa đặc biệt nào đó với Ngài, thì của lễ ấy nên ăn nội trong ngày. Phần còn dư có thể ăn ngày hôm sau.
LEV 7:17 Nếu thịt con vật lễ ấy còn dư lại đến ngày thứ ba, thì phải thiêu đốt hết.
LEV 7:18 Ai ăn thịt của lễ thân hữu, còn lại đến ngày thứ ba, thì người đó không được kể là đã dâng, và của lễ của họ sẽ không được nhậm. Vì của lễ ấy không còn tinh sạch nữa, ai ăn thịt ấy xem như mắc tội.
LEV 7:19 Không ai được ăn thịt đã đụng vào những gì không sạch; phải thiêu thịt đó trong lửa. Ai tinh sạch có thể ăn các thứ thịt khác.
LEV 7:20 Nếu ai không tinh sạch mà ăn thịt của lễ thân hữu đã dâng cho Chúa sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 7:21 Nếu ai đụng đến vật không sạch, tức những gì dơ bẩn từ người, thú vật hay các vật ghê tởm khác, thì người đó bị ô dơ. Nếu người đó lại ăn thịt của lễ thân hữu đã dâng cho Chúa, sẽ bị loại khỏi dân chúng.”
LEV 7:22 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 7:23 “Hãy dặn dân Ít-ra-en như sau: Các ngươi không được ăn mỡ của gia súc, chiên hay dê.
LEV 7:24 Nếu con vật bị chết hay bị thú dữ xé thì có thể dùng mỡ nó cho các việc khác nhưng các ngươi không được ăn mỡ đó.
LEV 7:25 Ai ăn mỡ của con vật, đã được dâng làm của lễ thiêu cho Chúa, sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 7:26 Dù bất cứ ở đâu, các ngươi cũng không được ăn huyết của chim chóc hay thú vật.
LEV 7:27 Ai ăn huyết sẽ bị loại khỏi dân chúng.”
LEV 7:28 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 7:29 “Hãy dặn dân Ít-ra-en như sau: Nếu ai mang của lễ thân hữu đến cho Chúa thì phải dành một phần đó dâng làm lễ vật.
LEV 7:30 Người đó phải đích thân cầm phần lễ vật trong tay để làm của lễ thiêu cho Chúa. Mỡ và ức của con vật thì mang đến cho thầy tế lễ để dâng lên cho Chúa.
LEV 7:31 Rồi thầy tế lễ sẽ thiêu mỡ trên bàn thờ, nhưng ức của con vật thì thuộc về A-rôn và các thầy tế lễ.
LEV 7:32 Người cũng phải lấy cái đùi phải, từ trong của lễ thân hữu để biếu thầy tế lễ;
LEV 7:33 phần ấy sẽ thuộc về thầy tế lễ nào đứng dâng huyết và mỡ trong của lễ thân hữu.
LEV 7:34 Ta đã lấy cái ức và cái đùi từ trong của lễ thân hữu nơi dân Ít-ra-en để cấp cho A-rôn và các thầy tế lễ. Đó là phần của họ mãi mãi nhận từ dân Ít-ra-en.
LEV 7:35 Sau đây là phần thuộc về A-rôn và các con trai người, lấy từ các của lễ thiêu dâng lên cho Chúa. Họ nhận được phần ấy vào ngày các của lễ nầy được dâng lên cho Chúa trong khi hành chức tế lễ.
LEV 7:36 Vào ngày Chúa bổ nhiệm các thầy tế lễ, Ngài truyền cho dân Ít-ra-en cấp phần nầy cho họ, là phần họ sẽ nhận lãnh từ nay về sau.
LEV 7:37 Đó là những huấn thị về của lễ toàn thiêu, của lễ chay, của lễ làm sạch tội, của lễ đền bù, của lễ bổ nhiệm chức tế lễ và của lễ thân hữu.
LEV 7:38 Chúa ban những huấn thị đó cho Mô-se trên núi Si-nai, trong ngày Chúa truyền cho dân Ít-ra-en mang của lễ đến cho Ngài trong sa mạc Si-nai.”
LEV 8:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 8:2 “Hãy mang A-rôn, các con trai người, dầu ô-liu đặc biệt dùng trong việc bổ nhiệm người và đồ vật cho Chúa, con bò đực dùng trong của lễ chuộc tội, hai con chiên đực, một giỏ bánh mì không men.
LEV 8:3 Rồi tập họp dân chúng lại nơi cửa Lều Họp.”
LEV 8:4 Mô-se làm đúng theo như lời Chúa căn dặn và tập họp dân chúng tại cửa Lều Họp.
LEV 8:5 Sau đó Mô-se nói với dân chúng như sau: Đây là điều Chúa phán dặn phải làm.
LEV 8:6 Mô-se đưa A-rôn và các con trai người ra rồi lấy nước tắm họ.
LEV 8:7 Ông mặc áo dài trong vào cho A-rôn rồi cột đai lưng bằng vải kết tinh xảo. Rồi Mô-se mặc áo dài bên ngoài cho người và tròng áo ngắn thánh vào. Ông cẩn thận buộc đai dệt hông để áo ngắn thánh ôm sát vào người A-rôn.
LEV 8:8 Xong Mô-se buộc bảng che ngực lên A-rôn và đặt U-rim và Thu-mim lên bảng che ngực.
LEV 8:9 Ông cũng đội khăn lên đầu A-rôn. Ông gắn dải băng bằng vàng, tức mão triều thánh, lên phía trước khăn vành y như Chúa căn dặn mình.
LEV 8:10 Sau đó Mô-se xức dầu đặc biệt lên Trại Thánh cùng các vật trong đó để biệt riêng mọi thứ ra thánh cho Chúa.
LEV 8:11 Ông cũng rưới dầu lên bàn thờ bảy lần, rưới bàn thờ cùng các dụng cụ dùng cho bàn thờ, chậu rửa lớn cùng đế của chậu. Đó là cách ông thánh hoá mọi thứ cho Chúa.
LEV 8:12 Ông cũng đổ dầu đặc biệt lên đầu A-rôn để thánh hoá người cho Chúa.
LEV 8:13 Rồi Mô-se đưa các con trai A-rôn ra. Ông mặc áo dài trong cho họ, cột đai lưng vải, băng quấn đầu theo như Chúa đã dặn bảo.
LEV 8:14 Sau đó Mô-se mang con bò đực làm của lễ chuộc tội ra. A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó.
LEV 8:15 Mô-se giết con bò, lấy huyết và nhúng ngón tay trong huyết và bôi trên các góc của bàn thờ để biến bàn thờ ra tinh sạch. Sau đó ông đổ phần huyết còn lại nơi chân bàn thờ. Đó là cách ông thánh hóa bàn thờ để dâng sinh tế và khiến bàn thờ tinh sạch.
LEV 8:16 Mô-se lấy tất cả các mỡ chài của con bò, phần tốt nhất của lá gan, hai trái cật và mỡ trên trái cật đem thiêu trên bàn thờ.
LEV 8:17 Còn da, thịt và ruột nó thì ông đem thiêu ở một nơi ngoài doanh trại y theo như lời Chúa căn dặn.
LEV 8:18 Kế đó Mô-se mang con chiên đực làm của lễ thiêu ra, rồi A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó.
LEV 8:19 Mô-se giết và rảy huyết nó xung quanh bàn thờ.
LEV 8:20 Ông sả thịt con chiên đực ra từng miếng; xong, thiêu cái đầu, các miếng thịt và mỡ.
LEV 8:21 Ông rửa bộ lòng và giò trong nước rồi thiêu toàn thể con chiên trên bàn thờ để làm của lễ thiêu lên cho Chúa; mùi thơm của lễ làm vừa lòng Ngài. Mô-se làm mọi điều y theo lời Chúa dặn bảo.
LEV 8:22 Sau đó Mô-se mang con chiên đực thứ nhì ra, tức con vật dùng trong việc bổ nhiệm chức tế lễ cho A-rôn và các con trai người. A-rôn cùng các con trai người đặt tay trên đầu nó.
LEV 8:23 Rồi Mô-se giết con chiên và lấy huyết nó bôi lên vành tai phải của A-rôn, trên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của A-rôn.
LEV 8:24 Xong Mô-se dẫn các con trai A-rôn đến gần bàn thờ. Ông lấy huyết xức lên cuối vành tai phải, lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của họ. Sau đó ông tạt huyết xung quanh bàn thờ.
LEV 8:25 Ông lấy mỡ, cái đuôi nguyên, tất cả mỡ chài của bộ lòng, phần tốt nhất của lá gan, hai trái cật cùng với mỡ của trái cật và cái đùi phải.
LEV 8:26 Mô-se lấy một ổ bánh không men, một ổ bánh không men có tẩm dầu, và một cái bánh kẹp không men từ giỏ bánh không men để trước mặt Chúa mỗi ngày. Ông đặt các bánh đó lên trên lớp mỡ và cái đùi phải của con chiên đực.
LEV 8:27 Ông đặt tất cả các thứ đó trong tay A-rôn và các con trai người, để họ dâng lên làm của lễ đưa lên đưa xuống trước mặt Chúa.
LEV 8:28 Rồi Mô-se lấy các thứ đó khỏi tay họ, đem xông trên bàn thờ bên trên của lễ thiêu. Đó là của lễ bổ nhiệm chức tế lễ cho A-rôn và các con trai người, tức của lễ thiêu dâng lên cho Chúa, có mùi thơm làm hài lòng Ngài.
LEV 8:29 Mô-se cũng lấy cái ức con chiên dâng lên làm của lễ đưa lên đưa xuống trước mặt Chúa. Đó là phần của Mô-se trong con chiên đực, dùng trong dịp bổ nhiệm các thầy tế lễ y theo như Chúa dặn bảo.
LEV 8:30 Sau đó Mô-se lấy dầu đặc biệt và huyết trên bàn thờ rưới trên A-rôn, áo quần ông, rưới trên các con trai A-rôn và quần áo họ để biệt họ cùng quần áo họ ra thánh cho Chúa.
LEV 8:31 Rồi Mô-se bảo A-rôn cùng các con trai người rằng, “Ta ban cho các ngươi mệnh lệnh nầy: A-rôn và các con trai người được phép ăn những thứ nầy. Vậy hãy lấy thịt và giỏ bánh từ của lễ bổ nhiệm chức tế lễ. Luộc thịt nơi cửa Lều Họp và ăn tại đó cùng với bánh.
LEV 8:32 Thịt và bánh còn dư lại thì đốt bỏ.
LEV 8:33 Lễ bổ nhiệm kéo dài bảy ngày; trong suốt thời gian đó các ngươi không được đi ra khỏi cửa Lều Họp. Cứ ở trong Lều Họp cho đến khi lễ bổ nhiệm kết thúc.
LEV 8:34 Chúa đã truyền những điều chúng ta làm hôm nay để chuộc tội các ngươi.
LEV 8:35 Trong vòng bảy ngày bảy đêm các ngươi phải túc trực nơi cửa Lều Họp. Nếu vi phạm mệnh lệnh Chúa, các ngươi sẽ chết. Chính Chúa đã truyền cho ta các mệnh lệnh nầy.”
LEV 8:36 Vậy A-rôn và các con trai người làm y theo mọi điều Chúa truyền dặn Mô-se.
LEV 9:1 Tám ngày sau khi bổ nhiệm, Mô-se gọi A-rôn và các con trai ông cùng các trưởng lão của dân Ít-ra-en lại.
LEV 9:2 Ông bảo A-rôn, “Hãy bắt một con bò đực tơ và một con chiên đực không tật nguyền dâng lên cho Chúa. Con bò tơ thì làm của lễ chuộc tội, còn con chiên đực thì làm của lễ thiêu.
LEV 9:3 Hãy bảo dân Ít-ra-en, ‘Hãy bắt một con dê đực làm của lễ chuộc tội và một con chiên đực một tuổi không tật nguyền làm của lễ thiêu.
LEV 9:4 Cũng hãy bắt một con bò đực và một con chiên đực làm của lễ thân hữu, cùng với của lễ chay có trộn dầu. Dâng tất cả lên cho Chúa, vì hôm nay Ngài sẽ hiện ra cùng các ngươi.’”
LEV 9:5 Vậy toàn thể dân chúng tập họp trước cửa Lều Họp, mang theo tất cả các thứ như Mô-se dặn biểu. Họ đứng trước mặt Chúa.
LEV 9:6 Mô-se nói cùng họ, “Các ngươi phải làm theo điều Chúa phán dặn để các ngươi thấy vinh quang Ngài.”
LEV 9:7 Rồi Mô-se bảo A-rôn, “Anh hãy bước đến bàn thờ, đặng dâng của lễ chuộc tội cùng của lễ toàn thiêu, để chuộc tội cho anh và tội của cả dân chúng. Hãy dâng của lễ cho dân chúng và thi hành các nghi thức chuộc tội cho họ như Ngài đã dặn.”
LEV 9:8 Vậy A-rôn tiến đến trước bàn thờ. Ông giết con bò đực tơ làm của lễ chuộc tội cho mình.
LEV 9:9 Rồi các con trai ông mang huyết đến. Ông nhúng ngón tay trong huyết và bôi lên góc bàn thờ. Phần huyết còn lại, ông đổ nơi chân bàn thờ.
LEV 9:10 A-rôn lấy mỡ, hai trái cật, phần tốt nhất của lá gan lấy từ của lễ chuộc tội, đem thiêu trên bàn thờ theo như cách thức Chúa dặn bảo Mô-se.
LEV 9:11 Còn thịt và da thì ông đốt bên ngoài doanh trại.
LEV 9:12 Rồi A-rôn giết con vật dùng làm của lễ toàn thiêu. Các con trai người mang huyết đến, rồi A-rôn tạt huyết xung quanh bàn thờ.
LEV 9:13 Họ trao cho ông các miếng thịt và đầu để làm của lễ thiêu. A-rôn đốt các thứ đó trên bàn thờ.
LEV 9:14 Ông cũng rửa bộ lòng và chân giò trong của lễ thiêu, rồi đem đốt chúng trên của lễ thiêu nơi bàn thờ.
LEV 9:15 Xong, A-rôn mang của lễ chuộc tội cho dân đến. Ông bắt con dê làm của lễ chuộc tội cho dân, giết nó và dâng lên làm của lễ chuộc tội giống như đã làm trong của lễ chuộc tội đầu tiên.
LEV 9:16 Sau đó A-rôn mang của lễ toàn thiêu và dâng lên theo như cách thức Chúa dặn biểu.
LEV 9:17 Ông cũng mang của lễ chay đến bàn thờ. Ông bốc một nắm bột đem đốt trên bàn thờ, phụ thêm vào của lễ thiêu buổi sáng.
LEV 9:18 A-rôn giết con bò đực và con chiên đực làm của lễ thân hữu cho dân chúng. Các con trai ông mang huyết lại để ông tạt xung quanh bàn thờ.
LEV 9:19 Các con trai A-rôn cũng mang mỡ của con bò đực và con chiên đực cùng với mỡ chài bao bộ lòng, các trái cật, phần tốt nhất của lá gan đến cho A-rôn.
LEV 9:20 Họ đặt các thứ lên ức của con bò đực và con chiên. Xong, A-rôn thiêu các phần có mỡ trên bàn thờ.
LEV 9:21 Ông dâng lên cái ức và đùi bên phải của con vật trước mặt Chúa, tức là phần của lễ thuộc về các thầy tế lễ theo như Mô-se dặn biểu.
LEV 9:22 Sau đó A-rôn giơ tay lên hướng về dân chúng và chúc phước cho họ. Sau khi đã dâng xong của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, của lễ thân hữu, ông bước xuống khỏi bàn thờ.
LEV 9:23 Mô-se và A-rôn đi vào Lều Họp; rồi bước ra chúc phước cho dân chúng. Sự vinh quang của Chúa bao phủ dân chúng.
LEV 9:24 Lửa từ Chúa loè ra thiêu đốt của lễ thiêu và mỡ đặt trên bàn thờ. Thấy vậy, dân chúng mừng rỡ la lên và sấp mặt xuống đất bái lạy.
LEV 10:1 Na-đáp và A-bi-hu, hai con trai A-rôn, lấy lư hương, bỏ lửa vào, thêm trầm hương vô lư hương, nhưng hai người không dùng loại lửa đặc biệt mà Mô-se đã dặn phải dùng trước mặt Chúa.
LEV 10:2 Một ngọn lửa từ Chúa loè ra đốt tiêu Na-đáp và A-bi-hu. Cả hai chết tức khắc trước mặt Chúa.
LEV 10:3 Mô-se bảo A-rôn rằng, “Đây là điều Chúa phán khi Ngài dặn, ‘Ta phải được tôn thánh qua mọi người đến gần ta; trước mặt dân chúng mọi người phải kính trọng ta.’” A-rôn hoàn toàn im lặng về cái chết của hai con trai mình.
LEV 10:4 Chú của A-rôn là U-xi-ên có hai con trai tên Mi-sa-ên và Ên-xa-phan. Mô-se bảo hai người đó, “Hãy đến đây khiêng xác hai người bà con các anh. Mang xác họ ra ngoài doanh trại, xa khỏi Nơi Thánh.”
LEV 10:5 Mi-sa-ên và Ên-xa-phan vâng lệnh Mô-se khiêng xác của Na-đáp và A-bi-hu, vẫn đang mặc đồng phục đặc biệt của thầy tế lễ, ra ngoài doanh trại.
LEV 10:6 Rồi Mô-se bảo A-rôn và hai con trai còn lại của ông là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma rằng, “Chớ có bày tỏ sự buồn rầu bằng cách xé quần áo hay để đầu tóc bù xù. Nếu không anh và hai cháu sẽ chết và Chúa sẽ nổi giận cùng dân chúng. Nhưng toàn dân Ít-ra-en, và thân nhân gia đình anh nên kêu khóc về việc Chúa thiêu đốt Na-đáp và A-bi-hu.
LEV 10:7 Anh và hai cháu cũng không được rời Lều Họp. Nếu ra khỏi cửa Lều Họp thì sẽ chết vì Chúa đã bổ nhiệm anh và hai cháu vào chức vụ phục vụ Ngài.” Vậy A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma liền vâng theo lời Mô-se căn dặn.
LEV 10:8 Sau đó Chúa phán cùng A-rôn,
LEV 10:9 “Ngươi và các con trai ngươi không được uống rượu hay bia khi đi vào Lều Họp. Nếu không các ngươi sẽ chết. Luật nầy sẽ áp dụng vĩnh viễn từ nay về sau.
LEV 10:10 Các ngươi phải phân biệt các vật thánh với các vật không thánh; vật sạch và vật chẳng sạch.
LEV 10:11 Ngươi phải dạy dân chúng biết tất cả các luật lệ mà Chúa đã ban qua Mô-se.”
LEV 10:12 Mô-se bảo A-rôn và hai con trai còn lại của người là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma rằng, “Hãy ăn của lễ chay còn lại từ các của lễ dâng lên cho Chúa, nhưng đừng cho men vào. Phải ăn gần bàn thờ vì đó là thức ăn rất thánh.
LEV 10:13 Phải ăn ở một nơi thánh, vì phần nầy, lấy trong các của lễ thiêu dâng lên cho Chúa, là thuộc về anh và các cháu. Chúa đã truyền cho tôi như vậy.
LEV 10:14 Ngoài ra, anh và các cháu, cả trai và gái, cũng có thể ăn cái ức và cái đùi, lấy trong của lễ thân hữu dâng lên cho Chúa. Phải ăn ở một nơi tinh sạch. Đó là phần của anh và các cháu, lấy từ của lễ thân hữu do dân Ít-ra-en dâng hiến.
LEV 10:15 Dân chúng phải mang mỡ của các con vật dùng trong của lễ thiêu, cùng với cái đùi và ức dùng trong của lễ thân hữu, dâng cho Chúa. Đó là các phần thường xuyên thuộc về anh và các cháu theo như Chúa đã truyền.”
LEV 10:16 Mô-se tìm con dê đực dùng làm của lễ chuộc tội, nhưng nó đã bị thiêu rồi, nên ông nổi giận với Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai còn lại của A-rôn. Ông hỏi,
LEV 10:17 “Tại sao các cháu không ăn con dê đó trong nơi thánh? Vì đó là món rất thánh, Chúa đã ban nó cho các cháu để gánh lấy lỗi lầm và chuộc tội dân chúng.
LEV 10:18 Các cháu cũng không mang huyết dê vào trong Nơi Thánh. Đáng lẽ các cháu phải ăn con dê đó trong Nơi Thánh như ta đã dặn!”
LEV 10:19 Nhưng A-rôn trả lời, “Hôm nay họ mang của lễ chuộc tội và của lễ thiêu dâng lên cho Chúa, nhưng tôi vẫn gặp những chuyện khổ tâm nầy! Nếu hôm nay tôi ăn của lễ chuộc tội thì liệu em nghĩ Chúa có vui lòng hơn không?”
LEV 10:20 Khi Mô-se nghe thế thì cho là có lý.
LEV 11:1 Chúa phán cùng Mô-se và A-rôn rằng,
LEV 11:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Các loài vật sống trên đất mà các ngươi được phép ăn như sau:
LEV 11:3 Các ngươi được ăn những loài vật nào có móng chẻ ra và nhai lại.
LEV 11:4 Một số con vật chỉ nhai lại hoặc chỉ có móng chẻ mà thôi, thì các ngươi không được ăn. Con lạc đà tuy nhai lại nhưng không có móng chẻ thì xem như không sạch cho các ngươi.
LEV 11:5 Con rái đồng nhai lại, nhưng không có móng chẻ, xem như không sạch.
LEV 11:6 Con thỏ nhai lại, nhưng không có móng chẻ, xem như không sạch.
LEV 11:7 Con heo tuy có móng chẻ, nhưng không nhai lại, xem như không sạch.
LEV 11:8 Các ngươi không nên ăn thịt các con vật đó, cũng không được đụng đến xác chết của chúng, vì đó là các loài vật không sạch.
LEV 11:9 Trong các loài sống dưới biển hay sông ngòi, con nào có vây và có vảy thì các ngươi được phép ăn.
LEV 11:10 Nhưng loài nào sống trong biển hay sông ngòi mà không có vây, không có vảy, kể cả những loài sinh sôi nẩy nở trong nước hay các sinh vật sống trong đó, thì các ngươi phải ghê tởm.
LEV 11:11 Các ngươi không nên ăn thịt các loại vừa kể cũng không được đụng đến xác chết của chúng vì đó là các loài vật ghê tởm.
LEV 11:12 Các ngươi phải ghê tởm những loài sống trong nước mà không có vây hay vảy.
LEV 11:13 Ngoài ra, sau đây là những loài chim các ngươi phải ghê tởm. Vì là loài ghê tởm nên các ngươi không được phép ăn. Các ngươi không được ăn con chim ưng, chim kên kên, chim kên kên đen,
LEV 11:14 con diều và các loại ó,
LEV 11:15 các loại quạ,
LEV 11:16 chim cú có sừng, cú ré, chim hải âu, các loại diều hâu,
LEV 11:17 chim cú con, vịt bắt cá, chim cú lớn,
LEV 11:18 gà nước, chim chàng bè, chim kên kên ăn xác thú chết
LEV 11:19 con cò, các loại hạc, chim rẽ quạt và con dơi.
LEV 11:20 Các ngươi không được ăn các loài côn trùng có cánh bò bốn chân; đó là các loài ghê tởm.
LEV 11:21 Nhưng các ngươi có thể ăn một số côn trùng có cánh và bò bốn chân. Các ngươi cũng có thể ăn các loài có giò nối khớp phía trên chân để nhảy.
LEV 11:22 Sau đây là những thứ côn trùng, các ngươi có thể ăn: các loại châu chấu, châu chấu có cánh, dế và cào cào.
LEV 11:23 Nhưng các loài côn trùng khác có cánh và bò bốn chân thì các ngươi phải ghê tởm.
LEV 11:24 Những loại côn trùng đó sẽ khiến các ngươi bị ô dơ. Ai đụng đến xác chết của một trong các loại côn trùng ấy sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 11:25 Ai lượm xác của một trong các loại côn trùng vừa nói, phải giặt quần áo mình và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 11:26 Một vài loài thú có móng chẻ, nhưng không chẻ ra hoàn toàn; các loài khác không nhai lại thức ăn. Những loài đó xem như không sạch, ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô dơ.
LEV 11:27 Trong tất cả các loài thú đi bốn chân, con nào đi trên bàn chân thì xem như không sạch cho các ngươi. Ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 11:28 Ai lượm xác các con vật đó, phải giặt quần áo mình và bị ô dơ cho đến chiều tối; những loài vật đó xem như không sạch.
LEV 11:29 Các động vật bò trên đất sau đây xem như không sạch: chuột chù, chuột cống, tất cả các loài kỳ nhông lớn,
LEV 11:30 thằn lằn, cá sấu, các loài bò sát sống trên cát và con kỳ đà đổi màu.
LEV 11:31 Các động vật bò sát trên đây xem như không sạch; ai đụng đến xác chết chúng phải bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 11:32 Nếu một động vật không sạch chết và rơi trên đồ vật nào thì món đó xem như ô dơ, kể cả các đồ bằng gỗ, vải, da, vải sô, bất kỳ dùng vào việc gì. Hễ vật gì bị động vật đó rơi nhằm, phải được giặt rửa cho sạch và bị ô dơ cho đến chiều tối; sau đó thì xem như tinh sạch trở lại.
LEV 11:33 Nếu động vật không sạch bị chết và rơi vào chén bát bằng đất, thì những gì trong chén đó sẽ bị xem như ô dơ, các ngươi phải đập bể chén bát đó.
LEV 11:34 Nếu nước trong chén bị ô dơ ấy đụng đến thức ăn nào thì món đó xem như bị ô dơ. Nước đựng trong dĩa đó sẽ bị ô dơ.
LEV 11:35 Nếu động vật không sạch bị chết và rơi trên vật gì, thì vật đó xem như bị ô dơ. Nếu vật đó là lò đất hay chảo nướng bằng đất thì phải đập bể. Tất cả những thứ đó xem như ô dơ; các ngươi phải xem chúng như không sạch.
LEV 11:36 Suối hay nước giếng đọng sẽ vẫn xem như sạch, nhưng ai đụng đến xác chết con vật không sạch sẽ bị ô dơ.
LEV 11:37 Nếu xác chết con vật không sạch rơi trên hột giống sắp gieo, thì hột giống đó vẫn xem như sạch.
LEV 11:38 Nhưng nếu các ngươi ngâm hột giống trong nước mà bị một động vật không sạch chết rơi vào, thì hột giống đó bị ô dơ.
LEV 11:39 Ngoài ra, nếu một động vật, mà các ngươi dùng làm thức ăn bị chết, thì ai đụng đến xác nó sẽ bị ô dơ đến chiều tối.
LEV 11:40 Ai ăn thịt của con vật chết nầy, phải giặt áo quần và bị ô dơ cho đến chiều tối. Ai lượm xác con vật chết đó, phải giặt áo quần và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 11:41 Bất cứ loài động vật nào bò trên đất, đều bị xem như ghê tởm, không nên ăn.
LEV 11:42 Các ngươi không nên ăn các động vật bò trên mặt đất, tức những loài bò bằng bụng, loài đi bốn chân, hay loài có nhiều chân. Đó là những loài đáng ghê tởm.
LEV 11:43 Các ngươi không nên làm cho mình bị ô dơ vì những loài đó.
LEV 11:44 Ta là Chúa và Thượng Đế của các ngươi. Các ngươi phải giữ mình cho thánh vì ta là thánh. Đừng làm cho mình bị ô dơ vì những loài bò sát trên đất ấy.
LEV 11:45 Ta là Chúa đã đem các ngươi ra khỏi Ai-cập để làm Thượng Đế các ngươi; các ngươi phải thánh vì ta là thánh.
LEV 11:46 Trên đây là những huấn thị về các loài gia súc, loài chim và các động vật khác trên đất, những động vật dưới biển cùng các loài bò trên mặt đất.
LEV 11:47 Những huấn thị nầy giúp con người phân biệt loài vật sạch và loài không sạch để biết loài nào ăn được và loài không ăn được.”
LEV 12:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 12:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en như sau: Khi người đàn bà sinh con trai thì sẽ bị ô dơ trong bảy ngày giống như thời gian ô dơ trong khi có kinh nguyệt.
LEV 12:3 Đến ngày thứ tám phải làm phép cắt dương bì cho đứa bé.
LEV 12:4 Sau ba mươi ba ngày thì người mẹ mới được xem như sạch huyết. Người không được đụng đến vật gì thánh, hay vào Trại Thánh cho đến khi thời gian tẩy sạch đã kết thúc.
LEV 12:5 Nếu sinh con gái thì sẽ bị ô dơ trong hai tuần như trong thời kỳ kinh nguyệt. Thời gian sạch huyết là sáu mươi sáu ngày.
LEV 12:6 Sau khi sinh con trai hay con gái và thời kỳ tẩy sạch đã xong, sản phụ phải mang các của lễ đến Lều Họp. Người phải trao cho thầy tế lễ ở cửa Lều Họp một con chiên con một tuổi để làm của lễ thiêu và một con cu đất hay con bồ câu con để làm của lễ tẩy sạch.
LEV 12:7 Thầy tế lễ sẽ dâng các con vật đó trước mặt Chúa để làm cho người ấy tinh sạch; như thế người sẽ được xem như sạch. Trên đây là những huấn thị về việc sản phụ sinh con trai hay con gái.
LEV 12:8 Nếu người không mua nổi con chiên con thì phải mang hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con, một con làm của lễ thiêu, con kia làm của lễ tẩy sạch. Đó là cách thầy tế lễ làm để tẩy sạch cho người và người sẽ được sạch.”
LEV 13:1 Chúa phán cùng Mô-se và A-rôn rằng,
LEV 13:2 “Khi ai bị da sưng phồng lên, bị ghẻ hay có vết trắng, nếu vết lở giống như bệnh ngoài da nguy hại thì phải mang người đó đến A-rôn là thầy tế lễ, hay đến một trong các con trai A-rôn đang giữ chức tế lễ.
LEV 13:3 Thầy tế lễ phải khám vết lở trên da người đó. Nếu lông chỗ vết lở đã hoá trắng và vết lở lõm sâu hơn mặt da thì đó là bệnh ngoài da nguy hại. Sau khi khám xong, thầy tế lễ phải tuyên bố rằng người đó bị ô dơ.
LEV 13:4 Nếu vết trắng trên da không lõm sâu hơn mặt da và nếu lông trên vết không hóa trắng thì thầy tế lễ phải giữ riêng người ấy trong bảy ngày.
LEV 13:5 Đến ngày thứ bảy thầy tế lễ sẽ khám lần nữa. Nếu thấy vết lở không thay đổi hoặc không lan ra trên da thì thầy tế lễ phải giữ riêng người thêm bảy ngày nữa.
LEV 13:6 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám trở lại. Nếu vết lở đã phai màu hoặc không lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người đó tinh sạch; vết lở chỉ là vết ghẻ ngứa thường. Người phải giặt áo quần mình rồi sẽ được tinh sạch trở lại.
LEV 13:7 Nhưng nếu vết ghẻ ngứa lại lan ra sau khi thầy tế lễ tuyên bố người tinh sạch, thì người phải trở lại với thầy tế lễ lần nữa.
LEV 13:8 Thầy tế lễ phải khám lại. Nếu vết ghẻ đã lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người đó bị ô dơ; đó là bệnh ngoài da nguy hại.
LEV 13:9 Nếu ai mắc bệnh ngoài da nguy hại thì phải đem người đó đến thầy tế lễ,
LEV 13:10 thầy tế lễ sẽ khám. Nếu thấy có vết sưng trên da và nếu lông đã hóa trắng và da bị lòi thịt nơi chỗ sưng,
LEV 13:11 thì đó là bệnh ngoài da nguy hại. Người đã mắc bệnh nầy lâu rồi. Thầy tế lễ phải tuyên bố người bị ô dơ. Không cần giữ riêng người đó làm gì vì ai cũng biết người không tinh sạch.
LEV 13:12 Nhưng nếu bệnh ngoài da đã lan khắp thân thể người và phủ từ đỉnh đầu tới bàn chân theo chỗ thầy tế lễ thấy được, thì thầy tế lễ phải khám toàn thân thể người đó.
LEV 13:13 Nếu thầy tế lễ nhận thấy bệnh đã phủ kín khiến da người trở nên trắng hết thì thầy tế lễ phải tuyên bố người là tinh sạch.
LEV 13:14 Tuy nhiên nếu người có vết lở loét thì người xem như ô dơ.
LEV 13:15 Khi thầy tế lễ thấy vết lở loét thì phải tuyên bố người đó ô dơ. Vết lở loét không tinh sạch; đó là bệnh ngoài da nguy hại.
LEV 13:16 Nếu vết lở loét trở thành trắng lại thì người phải đến gặp thầy tế lễ.
LEV 13:17 Thầy tế lễ phải khám người đó, nếu thấy vết lở loét đã hoá trắng thì thầy tế lễ phải tuyên bố người có vết lở là tinh sạch. Người được xem như sạch.
LEV 13:18 Nếu ai có mụn nhọt trên da đã được lành
LEV 13:19 mà chỗ nhọt có vết sưng trắng hay vết đỏ hồng thì phải để thầy tế lễ khám nghiệm chỗ vết đó.
LEV 13:20 Thầy tế lễ sẽ khám nghiệm. Nếu vết lõm sâu hơn da và lông chỗ đó đã hoá trắng, thì thầy tế lễ phải tuyên bố người đó ô dơ. Vết đó là bệnh ngoài da nguy hại đã bộc phát ra từ chỗ mụn nhọt.
LEV 13:21 Nhưng nếu khi khám thầy tế lễ không thấy lông trắng nơi vết đó, và vết cũng không lõm sâu hơn mặt da mà đã phai màu, thì thầy tế lễ phải giữ người ấy riêng ra trong bảy ngày.
LEV 13:22 Nếu vết đã lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người bị ô dơ; đó là bệnh sẽ ăn lan.
LEV 13:23 Nhưng nếu vết trắng không lan ra hay đổi màu thì đó chỉ là vết sẹo của mụn nhọt cũ. Thầy tế lễ phải tuyên bố người đó tinh sạch.
LEV 13:24 Khi ai bị vết bỏng trên da mà vết bỏng lở ra hoá trắng hay đỏ,
LEV 13:25 thì thầy tế lễ phải khám nghiệm. Nếu vết lõm sâu hơn da và nếu lông trên vết đó đã hoá trắng thì đó là bệnh ngoài da nguy hại. Bệnh đó đã bộc phát từ vết bỏng. Thầy tế lễ phải tuyên bố người đó ô dơ. Đó là bệnh ngoài da nguy hại.
LEV 13:26 Nhưng nếu khi khám nghiệm thầy tế lễ không thấy lông trắng nơi vết bỏng, và vết cũng không lõm sâu hơn da hay đã phai màu thì thầy tế lễ phải giữ riêng người đó trong bảy ngày.
LEV 13:27 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám nghiệm trở lại. Nếu vết đã lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người đó ô dơ. Đó là bệnh ngoài da nguy hại.
LEV 13:28 Nếu vết sáng không lan ra, nhưng đã phai màu thì đó chỉ là chỗ sưng của vết bỏng. Thầy tế lễ phải tuyên bố người tinh sạch, vì chỉ là sẹo của vết bỏng.
LEV 13:29 Khi người nào, nam hay nữ, có vết lở trên da đầu hay trên cằm,
LEV 13:30 thì thầy tế lễ phải khám nghiệm vết lở đó. Nếu vết lở lõm sâu hơn da và nếu tóc hay lông quanh vết đó thưa và ngả màu vàng, thì thầy tế lễ phải tuyên bố người đó ô dơ. Đó là ghẻ ngứa, một bệnh ngoài da nguy hại của da đầu hay cằm.
LEV 13:31 Nhưng nếu khi khám nghiệm, thấy vết lở không lõm sâu hơn da và không có lông hay tóc đen trên đó, thì thầy tế lễ phải giữ riêng người trong bảy ngày.
LEV 13:32 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ phải khám nghiệm vết lở trở lại. Nếu vết không lan ra và không có lông hay tóc vàng mọc trên đó, và vết lở cũng không lõm sâu hơn da,
LEV 13:33 thì người phải cạo tóc hay lông, nhưng chừa lại chỗ vết lở. Thầy tế lễ phải giữ riêng người đó trong bảy ngày nữa.
LEV 13:34 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ phải khám lại vết lở. Nếu nó không lan ra trên da hay lõm sâu hơn da, thì thầy tế lễ phải tuyên bố người tinh sạch. Người sẽ giặt quần áo mình rồi trở nên sạch.
LEV 13:35 Nhưng nếu vết lở lan ra trên da sau khi người đã được tinh sạch,
LEV 13:36 thì thầy tế lễ phải khám nghiệm lại. Nếu vết lở đã lan ra trên da thì thầy tế lễ khỏi cần tìm lông hay râu vàng, người xem như ô dơ rồi.
LEV 13:37 Nhưng nếu thầy tế lễ nghĩ rằng vết lở chỉ tập trung ở một chỗ, không lan ra và tóc hay lông đen đã mọc lại trên vết đó, thì nghĩa là vết lở đã lành. Người ấy xem như tinh sạch. Thầy tế lễ phải tuyên bố người đó tinh sạch.
LEV 13:38 Khi người nam hay nữ có vết trắng trên da
LEV 13:39 thì thầy tế lễ phải khám nghiệm. Nếu là vết trắng đục, thì chỉ là ghẻ ngứa vô hại thông thường. Người xem như tinh sạch.
LEV 13:40 Ai bị rụng tóc trở thành sói thì vẫn xem như tinh sạch.
LEV 13:41 Nếu tóc rụng phía trước và trán bị sói thì vẫn xem như tinh sạch.
LEV 13:42 Nhưng nếu có vết trắng đỏ trên chỗ trán sói hay trên trán, thì có nghĩa bệnh ngoài da đã bộc phát chỗ đó.
LEV 13:43 Thầy tế lễ phải khám nghiệm người. Nếu chỗ sưng của vết lở nơi trán sói hay nơi trán có màu trắng hồng như thể bệnh ngoài da ăn lan,
LEV 13:44 thì người xem như mắc bệnh ngoài da. Người bị ô dơ. Thầy tế lễ phải tuyên bố người đó ô dơ vì vết lở trên đầu.
LEV 13:45 Nếu ai mắc bệnh ngoài da ăn lan thì người đó phải kêu lên cho người khác biết, ‘Ô dơ, ô dơ!’ Phải xé áo quần của mình nơi đường may, để đầu tóc bù xù và phải che miệng mình.
LEV 13:46 Trong suốt thời gian mắc bệnh người sẽ bị ô dơ. Vì ô dơ nên người phải sống một mình bên ngoài doanh trại.
LEV 13:47 Áo quần có thể bị mốc meo chẳng hạn các loại áo quần làm bằng vải hay len
LEV 13:48 dệt hay đan, loại làm bằng da thuộc, hay từ da thuộc chế biến ra.
LEV 13:49 Nếu có vết mốc trên áo quần, da thuộc, loại dệt hay đan mà ngả màu xanh lá cây hay đỏ, thì đó là vết mốc ăn lan. Phải mang đến cho thầy tế lễ khám nghiệm.
LEV 13:50 Thầy tế lễ phải khám vết mốc đó và sẽ giữ riêng món đồ đó trong vòng bảy ngày.
LEV 13:51 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám trở lại. Nếu vết mốc đã lan ra trên miếng vải dệt hay đan, miếng da, dù là da dùng cho bất cứ công dụng gì, thì đó là loại mốc phá hoại, phải kể là ô dơ.
LEV 13:52 Thầy tế lễ phải thiêu hủy món đó. Không cần biết là đồ dệt hay đan, len hay vải, làm bằng da hay không, vết mốc đã lan ra, nên phải thiêu hủy món đồ đó.
LEV 13:53 Nếu nhận thấy vết mốc không ăn lan trên vải dệt hay đan hay trên da,
LEV 13:54 thì thầy tế lễ phải cho giặt rửa đồ vải hay da đó rồi giữ riêng món đồ trong bảy ngày nữa.
LEV 13:55 Sau khi vật bị mốc đã được giặt rửa xong, thầy tế lễ phải khám trở lại. Nếu vết mốc vẫn y như cũ, dù chưa lan ra, thì phải xem món đồ như ô dơ. Phải thiêu hủy trong lửa; dù cho vết mốc nằm bề mặt hay bề trái món đồ.
LEV 13:56 Nếu sau khi thầy tế lễ khám xét miếng vải hay da mà thấy vết mốc đã phai màu sau khi món đồ được giặt rửa, thì thầy tế lễ phải xé chỗ mốc ra khỏi miếng da hay vải.
LEV 13:57 Nếu vết mốc đã tái hiện trên miếng da hay vải đó, thì có nghĩa vết mốc đã ăn lan. Bất cứ chỗ nào có vết mốc cũng phải thiêu hủy.
LEV 13:58 Khi miếng vải hay miếng da được giặt rửa xong, không còn vết mốc, thì miếng vải đó vẫn phải được giặt lại một lần nữa, mới được xem như tinh sạch.
LEV 13:59 Trên đây là những huấn thị về vết mốc trên vải, trên da để qui định món nào sạch, món nào ô dơ.”
LEV 14:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 14:2 “Sau đây là những huấn thị áp dụng khi người mắc bệnh ngoài da nguy hại được tẩy sạch. Người đó phải được mang đến trình diện thầy tế lễ,
LEV 14:3 rồi thầy tế lễ phải đích thân đi ra ngoài doanh trại khám nghiệm người có bệnh ngoài da. Nếu bệnh đã lành,
LEV 14:4 thì thầy tế lễ phải bảo mang hai con chim sống và sạch đến, một miếng gỗ hương nam, một sợi chỉ đỏ, và một nhánh cây kinh giới để làm lễ tẩy sạch người mắc bệnh ngoài da.
LEV 14:5 Thầy tế lễ sẽ cho cắt cổ một con chim trong chậu đất đựng nước lạnh.
LEV 14:6 Rồi bắt con chim sống, miếng gỗ hương nam, sợi chỉ đỏ, và nhành kinh giới nhúng trong huyết của con chim vừa mới bị cắt cổ trong nước lạnh.
LEV 14:7 Thầy tế lễ sẽ rưới huyết bảy lần trên người được lành bệnh ngoài da. Sau khi tuyên bố người tinh sạch, thầy tế lễ sẽ đi ra đồng trống thả con chim sống bay đi.
LEV 14:8 Người được tinh sạch sẽ giặt quần áo mình, cạo hết lông và tóc, rồi tắm trong nước. Sau đó người được xem như tinh sạch và có thể trở vào doanh trại, tuy nhiên vẫn phải ở ngoài lều mình trong vòng bảy ngày đầu.
LEV 14:9 Đến ngày thứ bảy, người sẽ cạo hết tóc và râu, tóc trên đầu, râu, lông mày và hết lông trong người. Người phải giặt quần áo mình, tắm trong nước sau đó sẽ được xem như tinh sạch.
LEV 14:10 Đến ngày thứ tám người mắc bệnh ngoài da phải mang đến hai con chiên con không vết tích và một con chiên cái con một tuổi không tì vết. Người cũng phải mang sáu lít bột mịn trộn dầu để làm của lễ chay và một phần tư lít dầu ô-liu.
LEV 14:11 Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người tinh sạch và mang người và của lễ của người ấy đến trước mặt Chúa nơi cửa Lều Họp.
LEV 14:12 Thầy tế lễ sẽ bắt một con chiên con dâng cùng với dầu ô-liu để làm của lễ chuộc lỗi; người sẽ dâng tất cả những thứ đó trước mặt Chúa, để làm của lễ đưa lên đưa xuống.
LEV 14:13 Rồi người sẽ giết con chiên đực ở nơi thánh, tức nơi con vật dùng trong của lễ chuộc tội và của lễ toàn thiêu bị giết. Của lễ chuộc lỗi cũng giống như của lễ chuộc tội. Của lễ ấy thuộc về thầy tế lễ và rất thánh.
LEV 14:14 Thầy tế lễ sẽ lấy một ít huyết trong của lễ chuộc lỗi xức nơi vành tai phải của người được trở nên tinh sạch. Người cũng xức huyết lên ngón cái tay mặt và ngón cái chân mặt của người đó.
LEV 14:15 Rồi thầy tế lễ sẽ đổ dầu lên tay trái của mình.
LEV 14:16 Người sẽ lấy ngón tay phải nhúng vào dầu bên tay trái xong rảy dầu bảy lần trước mặt Chúa.
LEV 14:17 Sau đó thầy tế lễ sẽ xức dầu trên cuối vành tai phải của người được trở nên tinh sạch, xức lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người đó. Dầu phải xức chồng lên trên huyết đã dùng trong của lễ chuộc lỗi.
LEV 14:18 Chỗ dầu còn lại trong tay trái thì thầy tế lễ sẽ xức lên đầu người được hóa sạch. Đó là phương thức mà thầy tế lễ thi hành để chuộc tội cho người trở nên tinh sạch.
LEV 14:19 Thầy tế lễ sẽ dâng của lễ chuộc tội để khiến người đó trở nên sạch. Sau đó thầy tế lễ sẽ giết con vật dùng trong của lễ toàn thiêu,
LEV 14:20 rồi dâng của lễ thiêu và của lễ chay trên bàn thờ. Đó là cách thầy tế lễ chuộc lỗi cho người.
LEV 14:21 Tuy nhiên nếu quá nghèo không mua nổi các của lễ đó, thì người ấy phải mang một con chiên đực làm của lễ chuộc lỗi. Người sẽ dâng con chiên đực cho Chúa để chuộc lỗi cho mình. Người cũng phải mang đến hai lít bột mịn trộn dầu để làm của lễ chay, đồng thời mang thêm một phần tư lít dầu ô-liu,
LEV 14:22 hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con mà người đủ sức mua. Một con dùng làm của lễ chuộc lỗi, con kia làm của lễ toàn thiêu.
LEV 14:23 Đến ngày thứ tám, người phải mang mọi thứ dùng trong lễ hóa sạch đến cho thầy tế lễ nơi cửa Lều Họp, trước mặt Chúa.
LEV 14:24 Thầy tế lễ sẽ dùng con chiên làm của lễ đền bù cùng với dầu để dâng lên làm của lễ đưa lên đưa xuống trước mặt Chúa.
LEV 14:25 Rồi thầy tế lễ sẽ giết con chiên làm của lễ chuộc lỗi, lấy huyết của nó xức lên vành tai phải của người được hóa sạch. Thầy tế lễ cũng lấy huyết xức lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người đó.
LEV 14:26 Thầy tế lễ sẽ đổ dầu vào bàn tay trái của mình,
LEV 14:27 và lấy ngón tay phải nhúng vào dầu trong bàn tay trái và rảy bảy lần trước mặt Chúa.
LEV 14:28 Thầy tế lễ lấy dầu nơi tay xức lên vành tai phải của người được hoá sạch. Sau đó xức dầu lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người. Dầu phải xức chồng lên trên huyết dùng trong của lễ chuộc lỗi.
LEV 14:29 Chỗ dầu còn lại trong tay thì thầy tế lễ xức lên đầu người được hoá sạch để chuộc tội cho người.
LEV 14:30 Rồi thầy tế lễ sẽ dâng một trong hai con cu đất hay con bồ câu con mà người đó có thể mua nổi.
LEV 14:31 Dâng một con làm của lễ chuộc lỗi, con kia dâng làm của lễ toàn thiêu, cùng với của lễ chay. Đó là cách thầy tế lễ làm lễ chuộc lỗi cho người. Sau đó người sẽ được tinh sạch.”
LEV 14:32 Trên đây là những huấn thị về việc hoá sạch cho một người sau khi họ mắc bệnh ngoài da trong trường hợp người không đủ tiền mua các của lễ thường lệ trong việc tẩy sạch.
LEV 14:33 Chúa phán cùng Mô-se và A-rôn rằng,
LEV 14:34 “Ta sẽ ban xứ Ca-na-an cho các ngươi. Sau khi vào đất đó, nếu ta khiến mốc meo mọc lên trong nhà nào trên đất ấy
LEV 14:35 thì người chủ nhà phải báo cáo với thầy tế lễ. Người phải nói như sau, ‘Tôi thấy có cái gì giống như mốc trong nhà tôi.’
LEV 14:36 Trước khi vào khám xét vết mốc, thầy tế lễ sẽ ra lệnh dọn đồ trong nhà ra hết. Phải làm như thế để người khỏi tuyên bố là tất cả đồ đạc trong nhà đều ô dơ. Rồi thầy tế lễ sẽ vào khám vết mốc.
LEV 14:37 Người sẽ khám xét vết mốc và nếu thấy vết mốc trên tường nhà ngả màu xanh hay đỏ hồng và ăn sâu xuống vách,
LEV 14:38 thì người phải đi ra và niêm phong nhà lại trong bảy ngày.
LEV 14:39 Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ trở lại khám nhà một lần nữa. Nếu vết mốc đã lan ra trên vách,
LEV 14:40 thì thầy tế lễ phải ra lệnh cho người ta gỡ bỏ các viên gạch có mốc quăng đi một nơi không sạch ở ngoài thành phố.
LEV 14:41 Rồi thầy tế lễ sẽ cho cạo hết bên trong nhà. Phải ném bỏ tất cả các vôi cạo khỏi tường ở một nơi ô dơ ngoài thành phố.
LEV 14:42 Sau đó chủ nhà sẽ lắp gạch mới vào tường rồi trét vôi mới trên tường.
LEV 14:43 Nếu sau khi đã gỡ gạch cũ, thay gạch mới và trét vôi mới lại mà mốc vẫn xuất hiện trong nhà,
LEV 14:44 thì thầy tế lễ phải trở lại khám xét nhà một lần nữa. Nếu vết mốc đã lan ra trong nhà, thì đó là loại mốc phá hoại; nhà đó xem như không sạch.
LEV 14:45 Chủ nhà phải phá sập nhà, tháo gỡ hết gạch, vôi, gỗ rồi mang bỏ ở một nơi không sạch ngoài thành phố.
LEV 14:46 Ai đi vào nhà đó, trong khi nhà bị niêm phong, sẽ bị xem như ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 14:47 Ai ăn ngủ trong nhà đó phải giặt quần áo mình.
LEV 14:48 Nếu sau khi đã thay gạch mới, trét vôi mới và sau khi khám nghiệm không thấy vết mốc lan ra thì thầy tế lễ phải tuyên bố căn nhà đó tinh sạch vì hết mốc rồi.
LEV 14:49 Rồi muốn làm cho nhà tinh sạch trở lại thì thầy tế lễ phải bắt hai con chim, một miếng gỗ hương nam, một sợi chỉ đỏ và một nhành cây kinh giới.
LEV 14:50 Người sẽ cắt cổ một trong hai con chim trong chậu đất chứa nước lạnh.
LEV 14:51 Rồi người bắt con chim còn sống, lấy miếng gỗ hương nam, nhành kinh giới và sợi chỉ đỏ nhúng tất cả trong huyết con chim bị giết trên nước chảy. Người sẽ rảy huyết trên nhà bảy lần.
LEV 14:52 Thầy tế lễ sẽ dùng huyết con chim, nước chảy, con chim sống, miếng gỗ hương nam, nhành kinh giới và sợi chỉ đỏ để làm cho nhà được tinh sạch.
LEV 14:53 Rồi người sẽ ra đồng trống thả con chim sống bay đi. Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội cho căn nhà để căn nhà hóa sạch.
LEV 14:54 Trên đây là những huấn thị về các bệnh ngoài da,
LEV 14:55 mốc meo trên quần áo hay trong nhà,
LEV 14:56 các vết sưng, ghẻ ngứa hay các đốm sáng trên da,
LEV 14:57 để giúp dân chúng xác định khi nào vật được xem như không tinh sạch hay tinh sạch. Đồng thời là những huấn thị về các loại bệnh ngoài da.”
LEV 15:1 Chúa phán cùng Mô-se và A-rôn,
LEV 15:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en như sau: Khi tinh dịch từ thân người xuất ra, làm cho người bị ô dơ,
LEV 15:3 thì không cần biết là chất đó xuất ra bình thường hay bị tắc; tinh dịch đủ khiến người không sạch. Đây là lý do tại sao tinh dịch khiến người không sạch:
LEV 15:4 Khi người bị di tinh nằm trên giường thì giường đó trở nên ô dơ, bất cứ chỗ nào người đó ngồi lên đều bị ô dơ.
LEV 15:5 Ai đụng đến giường người đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:6 Ai ngồi trên vật gì, mà người bị di tinh đã ngồi, thì phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:7 Ai đụng đến người bị di tinh, thì phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:8 Nếu người bị di tinh nhổ vào người tinh sạch, thì người ấy phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:9 Mọi vật mà người không tinh sạch ngồi lên, khi đi xe, đều sẽ bị ô dơ.
LEV 15:10 Ai đụng đến những gì mà người đó ngồi lên, sẽ bị ô dơ đến chiều tối. Ai mang các vật đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:11 Nếu người bị di tinh, chưa rửa tay trong nước mà đụng đến ai, thì người đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:12 Khi người bị di tinh đụng vào chén đất, thì phải đập bể chén đó. Nếu người đụng đến chén gỗ thì phải rửa chén gỗ trong nước.
LEV 15:13 Khi di tinh ngưng thì sau bảy ngày tính từ lúc ấy, người mới hoàn toàn được tinh sạch. Người phải giặt quần áo mình, tắm trong nước chảy rồi sẽ được tinh sạch lại.
LEV 15:14 Đến ngày thứ tám người phải mang hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con đến trước mặt Chúa nơi cửa Lều Họp. Người sẽ trao hai con chim đó cho thầy tế lễ.
LEV 15:15 Thầy tế lễ sẽ dâng hai con chim, một con làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ thiêu. Làm như vậy, thầy tế lễ đã chuộc tội cho người ấy.
LEV 15:16 Nếu ai bị xuất tinh thì phải tắm trong nước và bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:17 Nếu tinh dịch dính vào áo quần hay đồ bằng da thì phải giặt rửa bằng nước, món đồ đó sẽ bị ô dơ đến chiều tối.
LEV 15:18 Khi một người đàn ông giao hợp với một người đàn bà mà tinh dịch xuất ra thì cả hai phải tắm trong nước; cả hai sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:19 Khi người đàn bà có kinh nguyệt thì sẽ bị ô dơ trong bảy ngày; ai đụng đến người ấy sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:20 Bất cứ vật gì người ấy nằm lên sẽ bị ô dơ và vật gì người ấy ngồi lên cũng bị ô dơ trong thời gian đó.
LEV 15:21 Ai đụng đến giường người ấy phải giặt quần áo và tắm trong nước; và sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:22 Ai đụng đến vật gì người ấy đã ngồi lên phải giặt quần áo và tắm trong nước; người đó sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:23 Ai đụng bất kỳ đến giường người ấy hay vật gì người ấy ngồi lên, thì người đó sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:24 Khi một người đàn ông giao hợp với một người đàn bà mà bị dính huyết kinh nguyệt vào thì người đó sẽ bị ô dơ trong vòng bảy ngày; bất cứ giường nào người nằm đều sẽ bị ô dơ.
LEV 15:25 Khi một người đàn bà bị xuất huyết trong nhiều ngày mà không nhằm kỳ kinh nguyệt thường lệ, hoặc nếu tiếp tục xuất huyết sau kỳ kinh nguyệt thường lệ thì người ấy sẽ bị ô dơ như trong kỳ kinh nguyệt. Người ấy bị xuất huyết bao lâu thì sẽ bị ô dơ bấy lâu.
LEV 15:26 Bất cứ giường nào người ấy nằm lên trong thời gian xuất huyết sẽ bị xem như giường của người nằm trong thời gian có kinh. Mọi vật người ấy ngồi lên sẽ bị ô dơ như trong thời kỳ có kinh thường lệ.
LEV 15:27 Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô dơ. Người đó phải giặt quần áo mình và tắm trong nước và sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
LEV 15:28 Khi người đàn bà đã sạch huyết thì phải chờ bảy ngày, sau đó sẽ được tinh sạch lại.
LEV 15:29 Đến ngày thứ tám người ấy phải mang hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con đến thầy tế lễ nơi cửa Lều Họp.
LEV 15:30 Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ thiêu. Đó là cách thầy tế lễ chuộc tội cho người.
LEV 15:31 Vậy ngươi phải căn dặn dân Ít-ra-en phải tránh xa những vật làm cho mình không sạch. Nếu ngươi không căn dặn, họ sẽ làm cho Lều Họp ta trở nên ô dơ là họ sẽ chết đó!”
LEV 15:32 Trên đây là những huấn thị về người bị di tinh và về người bị ô dơ vì xuất tinh.
LEV 15:33 Đồng thời cũng là những huấn thị về người đàn bà bị ô dơ trong thời gian có kinh, về người đàn ông di tinh hay đàn bà các ngươi bị xuất huyết, về người đàn ông giao hợp với người đàn bà đang bị ô dơ.
LEV 16:1 Hai con trai A-rôn đã chết trong khi dâng hương cho Chúa, sau đó Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 16:2 như sau, “Hãy bảo anh ngươi là A-rôn rằng không bao giờ được phép đi ra sau bức màn để vào Nơi Chí Thánh, tức nơi để Rương Giao Ước. Nếu người đi vào đó trong khi ta hiện ra trong đám mây phủ trên nắp Rương, người sẽ chết.
LEV 16:3 Phương thức mà A-rôn có thể vào Nơi Chí Thánh như sau: Trước khi vào, người phải dâng một con bò đực làm của lễ chuộc tội và một con chiên đực làm của lễ toàn thiêu.
LEV 16:4 Người phải mặc áo dài thánh bằng vải gai bên trong, rồi mặc áo lót thánh bằng vải gai. Người phải thắt lưng bằng vải và vấn khăn vành bằng vải gai. Đó là những áo quần thánh, nên trước khi mặc các loại áo quần nầy, người phải tắm sạch sẽ trong nước.
LEV 16:5 A-rôn phải nhận từ dân Ít-ra-en hai con dê đực để làm của lễ chuộc tội và một con chiên đực làm của lễ thiêu.
LEV 16:6 Rồi người sẽ dâng con bò đực làm của lễ chuộc tội cho chính mình và cho gia đình mình.
LEV 16:7 Sau đó A-rôn sẽ bắt hai con dê đực mang đến trước mặt Chúa nơi cửa Lều Họp.
LEV 16:8 Người sẽ bắt thăm cho hai con dê, một thăm cho Chúa và một thăm cho A-xa-xên.
LEV 16:9 Rồi A-rôn sẽ bắt con dê trúng thăm, dâng lên cho Chúa làm của lễ chuộc tội.
LEV 16:10 Còn con dê trúng thăm cho A-xa-xên, phải mang sống đến trước mặt Chúa. Thầy tế lễ sẽ dùng nó để thi hành những nghi thức chuộc tội dân Ít-ra-en. Rồi người ta sẽ thả nó vào sa mạc, để làm con dê của A-xa-xên.
LEV 16:11 Sau đó A-rôn sẽ dâng con bò đực làm của lễ chuộc tội cho mình và cho gia đình mình; người sẽ giết con bò đực làm của lễ chuộc tội cho chính mình.
LEV 16:12 Rồi người sẽ lấy một lư đựng đầy than hồng từ bàn thờ trước mặt Chúa và hai nắm trầm hương bột. Người phải mang các thứ vào trong phòng sau bức màn.
LEV 16:13 Người sẽ xông hương trên lửa trước mặt Chúa, sao cho khói hương phủ nắp Rương Giao Ước. Như thế để khi đi vào, A-rôn sẽ không chết.
LEV 16:14 Ngoài ra, người cũng phải dùng ngón tay rảy huyết con bò đực trước nắp Rương Giao Ước; người sẽ rảy huyết bảy lần trước nắp Rương.
LEV 16:15 A-rôn sẽ giết con dê để làm của lễ chuộc tội cho dân chúng, rồi mang huyết nó vào phòng phía sau bức màn. Người sẽ dùng huyết con dê, làm giống như đã làm với huyết con bò đực, tức là rưới nó trên nắp và trước nắp Rương.
LEV 16:16 Vì dân Ít-ra-en đã bị ô dơ, nên A-rôn phải thi hành các nghi thức như thế để làm sạch Nơi Thánh, do các tội lỗi và gian ác của dân Ít-ra-en. Người cũng phải làm như thế cho Lều Họp, vì lều đó nằm giữa một dân ô dơ.
LEV 16:17 Trong khi A-rôn đang chuộc tội Nơi Thánh, không ai được phép vào trong Lều Họp cho đến khi ông đi ra. Như thế A-rôn sẽ chuộc tội cho mình, gia đình mình và cho toàn dân Ít-ra-en.
LEV 16:18 Sau đó, người sẽ bước ra đến bàn thờ trước mặt Chúa để chuộc tội cho bàn thờ. A-rôn sẽ lấy huyết con bò đực và huyết con dê đực xức chung quanh các góc bàn thờ.
LEV 16:19 Rồi người sẽ dùng ngón tay rưới huyết trên bàn thờ bảy lần, để khiến bàn thờ tinh sạch cho Chúa và tinh sạch khỏi mọi tội lỗi của dân Ít-ra-en.
LEV 16:20 Sau khi đã chuộc tội cho Nơi Thánh, Lều Họp và bàn thờ xong xuôi thì A-rôn sẽ dâng con dê sống.
LEV 16:21 Người sẽ đặt hai tay mình lên đầu con dê sống và xưng tất cả các tội lỗi và gian ác của dân Ít-ra-en. Đó là cách A-rôn đặt lên đầu con dê tất cả tội của dân Ít-ra-en. Rồi A-rôn sẽ đuổi con dê vào trong sa mạc, do một người được chỉ định trước dắt nó đi.
LEV 16:22 Vậy con dê sẽ mang trên mình tội của cả dân Ít-ra-en vào một nơi vắng vẻ trong sa mạc. Người dắt nó đi sẽ thả nó vào đó.
LEV 16:23 Rồi A-rôn sẽ vào Lều Họp cởi các áo vải gai mà người đã mặc trước khi vào Nơi Chí Thánh rồi bỏ lại các áo nầy nơi đó.
LEV 16:24 Người sẽ tắm trong nước ở một nơi thánh; xong, mặc áo quần bình thường trở lại. Rồi người sẽ đi ra dâng của lễ toàn thiêu cho chính mình và cho cả dân chúng để chuộc tội cho mình và cho dân chúng.
LEV 16:25 Sau đó người sẽ thiêu mỡ của lễ chuộc tội trên bàn thờ.
LEV 16:26 Người dắt con chiên thuộc A-xa-xên vào sa mạc phải giặt quần áo mình và tắm trong nước. Rồi người mới được phép trở vào doanh trại.
LEV 16:27 Còn con bò đực, con dê đực làm của lễ chuộc tội, mà huyết chúng đã được mang vào Nơi Thánh để chuộc tội cho nơi ấy, thì phải mang ra ngoài doanh trại; da, xác và ruột của các con vật đó phải thiêu trong lửa.
LEV 16:28 Ai lo việc thiêu các thứ đó phải giặt quần áo mình, tắm trong nước. Sau đó người được phép trở vào doanh trại.
LEV 16:29 Luật lệ sau đây sẽ áp dụng cho các ngươi: Vào ngày mười tháng bảy, các ngươi phải cữ ăn và không được làm công việc gì hết. Các công dân hay ngoại kiều sống giữa các ngươi cũng không được phép làm việc gì.
LEV 16:30 Vì đó là ngày các thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho các ngươi, để các ngươi được tinh sạch. Các ngươi sẽ được sạch mọi tội lỗi trước mặt Chúa.
LEV 16:31 Đó là ngày Sa-bát cho tất cả các ngươi, nên các ngươi phải cữ ăn. Luật lệ nầy sẽ áp dụng vĩnh viễn.
LEV 16:32 Thầy tế lễ nào được bổ nhiệm thay cha mình và được xức dầu sẽ thi hành các nghi thức chuộc tội. Người phải mặc các trang phục thánh bằng vải gai,
LEV 16:33 và chuộc tội Nơi Thánh, Lều Họp và bàn thờ. Người cũng phải chuộc tội các thầy tế lễ và toàn dân Ít-ra-en.
LEV 16:34 Luật lệ chuộc tội dân Ít-ra-en để họ thuộc về Chúa sẽ áp dụng vĩnh viễn. Một năm phải cử hành lễ ấy một lần.” Vậy họ làm mọi điều theo như Chúa đã truyền dặn Mô-se.
LEV 17:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 17:2 “Hãy bảo A-rôn, các con trai người và toàn dân Ít-ra-en như sau: Đây là lời Chúa truyền.
LEV 17:3 Nếu người Ít-ra-en nào giết con bò, con chiên hay một con dê bên trong hay bên ngoài doanh trại,
LEV 17:4 trong khi đáng lẽ người phải mang nó đến cửa Lều Họp Thánh để dâng trước mặt Chúa, thì người đó mắc tội sát sinh trái phép. Vì mắc tội sát sinh nên người sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 17:5 Luật nầy áp dụng để ai dâng của lễ nơi đồng trống phải mang đến cho Chúa. Họ phải mang các con vật đó đến cho Chúa nơi cửa Lều Họp; họ phải mang đến cho thầy tế lễ, để dâng lên làm của lễ thân hữu.
LEV 17:6 Rồi thầy tế lễ sẽ rưới huyết các con vật đó lên bàn thờ gần cửa Lều Họp. Người sẽ thiêu mỡ của các con vật trên bàn thờ, để có mùi thơm làm vừa lòng Chúa.
LEV 17:7 Họ không được dâng của lễ nào khác nữa cho các ‘thần Dê,’ mà họ đã theo đuổi như gái mãi dâm theo đuổi khách. Những luật lệ nầy sẽ áp dụng cho toàn thể dân chúng từ nay về sau.
LEV 17:8 Hãy bảo toàn dân như sau: Nếu công dân Ít-ra-en hay ngoại kiều nào sống giữa các ngươi mà dâng của lễ thiêu hay sinh tế,
LEV 17:9 thì người đó phải mang của lễ đến cửa Lều Họp để dâng cho Chúa. Nếu không, sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 17:10 Ta sẽ nghịch lại công dân Ít-ra-en hay ngoại kiều nào sống giữa các ngươi mà ăn huyết. Ta sẽ loại người đó ra khỏi dân chúng.
LEV 17:11 Vì sự sống của thân thể nằm trong huyết. Ta đã ban cho các ngươi các luật lệ về việc đổ huyết trên bàn thờ. Chính nhờ huyết mà chuộc tội cho các ngươi, vì huyết là sự sống.
LEV 17:12 Cho nên ta căn dặn dân Ít-ra-en rằng: Không ai trong các ngươi được phép ăn huyết, cả ngoại kiều sống giữa các ngươi cũng vậy.
LEV 17:13 Nếu công dân Ít-ra-en hay ngoại kiều nào sống giữa các ngươi bắt được một con vật hoang hay một con chim được phép ăn, thì phải đổ huyết ra trên mặt đất rồi lấp đất lại.
LEV 17:14 Nếu huyết vẫn còn trong thịt, thì sự sống của con vật vẫn còn trong đó. Vậy nên ta truyền lệnh nầy cho dân Ít-ra-en: Không được phép ăn thịt mà còn dính huyết vì sự sống của con vật nằm trong huyết. Ai ăn huyết sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 17:15 Bất luận là công dân Ít-ra-en hay ngoại kiều, nếu ai ăn thịt con vật chết tự nhiên hay bị thú khác xé, thì người đó phải giặt quần áo và tắm trong nước. Người sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối, rồi mới được tinh sạch lại.
LEV 17:16 Nếu người không giặt quần áo và tắm trong nước thì sẽ mắc tội.”
LEV 18:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 18:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Ta là Thượng Đế, Chúa các ngươi,
LEV 18:3 Trước đây các ngươi sống ở Ai-cập nhưng các ngươi không được phép làm như dân cư ở đó. Các ngươi cũng sẽ không được phép làm những điều giống như dân cư xứ Ca-na-an mà ta sẽ dẫn ngươi đến. Chớ nên theo các luật lệ của họ.
LEV 18:4 Các ngươi phải vâng theo các luật lệ của ta, vì ta là Chúa và Thượng Đế của các ngươi.
LEV 18:5 Hãy vâng theo các luật lệ ta; ai vâng theo các luật lệ đó thì sẽ sống. Ta là Chúa của các ngươi.
LEV 18:6 Các ngươi không được giao hợp với các thân nhân gần. Ta là Chúa các ngươi.
LEV 18:7 Các ngươi không được làm nhục cha mình bằng cách giao hợp với mẹ mình. Vì người đó là mẹ ngươi, nên các ngươi không được giao hợp với mẹ.
LEV 18:8 Các ngươi không được giao hợp với vợ nào của cha mình vì người ấy thuộc về một mình cha ngươi mà thôi.
LEV 18:9 Không được giao hợp với chị em gái mình, hoặc là em gái cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha với ngươi. Dù người chị em gái đó sinh trong nhà ngươi hay nơi nào khác cũng vậy.
LEV 18:10 Ngươi không được giao hợp với con gái của con trai ngươi hay của con gái ngươi vì chúng nó là ruột thịt với ngươi.
LEV 18:11 Nếu cha hay vợ của cha ngươi có con gái thì người con gái đó là chị em của ngươi. Ngươi không được giao hợp với nó.
LEV 18:12 Ngươi không được giao hợp với cô ngươi, vì là thân nhân gần với cha ngươi.
LEV 18:13 Ngươi không được giao hợp với dì ngươi, vì là thân nhân gần với mẹ ngươi.
LEV 18:14 Ngươi không được giao hợp với bác hay thím ngươi, vì sẽ làm nhục bác hay chú mình. Hai người đó như cô dì của ngươi.
LEV 18:15 Ngươi không được giao hợp với con dâu ngươi, vì nàng là vợ của con trai ngươi. Không được phép giao hợp với nàng.
LEV 18:16 Ngươi không được giao hợp với chị dâu hay em dâu ngươi, vì họ thuộc riêng về anh em ngươi.
LEV 18:17 Ngươi không được giao hợp với mẹ lẫn con gái. Ngươi cũng không được giao hợp với cháu gái của người đàn bà ấy, hoặc con gái của con trai bà hay con gái bà ấy, vì là thân nhân gần của bà ta. Làm như thế là điều gớm ghiếc.
LEV 18:18 Trong khi vợ ngươi còn sống, ngươi không được lấy chị hay em của vợ làm vợ lẽ. Không được phép giao hợp với họ.
LEV 18:19 Trong khi đàn bà đang có kinh nguyệt ngươi không được đến gần đặng giao hợp, vì nàng đang bị ô dơ.
LEV 18:20 Ngươi không được giao hợp với vợ của người láng giềng ngươi, khiến mình bị ô dơ với nàng.
LEV 18:21 Ngươi không được dâng con cái ngươi cho thần Mô-léc, vì chứng tỏ ngươi không kính sợ Thượng Đế ngươi. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 18:22 Ngươi không được giao hợp với đàn ông như giao hợp với đàn bà. Đó là tội lỗi gớm ghiếc.
LEV 18:23 Ngươi không được giao hợp với thú vật mà tự làm mình ô dơ với nó. Đàn bà cũng không được giao hợp với thú vật; làm như thế là nghịch bản tính thiên nhiên.
LEV 18:24 Không nên tự làm mình ô dơ bởi những chuyện bậy bạ trên đây. Sở dĩ ta đuổi các dân tộc ra khỏi xứ sở của chúng chỉ vì chúng phạm những tội lỗi xấu xa trên đây. Ta đã giao xứ chúng nó cho các ngươi.
LEV 18:25 Đất đã bị ô dơ, và vì tội nó mà ta phạt, khiến đất mửa chúng nó ra.
LEV 18:26 Các ngươi phải vâng giữ các luật lệ và qui tắc của ta, chớ phạm những tội lỗi gớm ghiếc đó. Những luật lệ nầy áp dụng cho công dân Ít-ra-en và cho cả những ai cư ngụ chung với các ngươi.
LEV 18:27 Trước các ngươi, dân sống trong xứ nầy đã phạm những tội lỗi ghê tởm đó, nên khiến đất trở nên ô dơ.
LEV 18:28 Nếu làm như thế các ngươi cũng sẽ khiến đất bị ô dơ. Đất sẽ mửa các ngươi ra như đã mửa các dân khác trước các ngươi.
LEV 18:29 Ai phạm những tội lỗi ghê tởm đó sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 18:30 Hãy giữ các mệnh lệnh ta, chớ phạm những tội ghê tởm đó, như trước các ngươi, các dân tộc khác sống trong xứ này đã phạm. Đừng tự làm mình ra ô dơ mà phạm những tội lỗi đó. Ta là Chúa, Thượng Đế các ngươi.”
LEV 19:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 19:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Ta là Chúa và là Thượng Đế các ngươi. Các ngươi phải thánh, vì ta là thánh.
LEV 19:3 Ngươi phải kính trọng cha mẹ ngươi và phải giữ ngày Sa-bát. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.
LEV 19:4 Đừng thờ lạy thần tượng hay tạc các tượng chạm hay thần cho mình. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.
LEV 19:5 Khi ngươi dâng của lễ thân hữu cho Chúa, phải dâng thế nào để được nhậm.
LEV 19:6 Ngươi phải ăn của lễ ấy nội trong ngày, hay qua ngày sau. Những gì còn lại đến ngày thứ ba phải thiêu đốt hết.
LEV 19:7 Nếu ăn đồ còn lại đến ngày thứ ba thì xem như ô dơ rồi, sẽ không được nhậm.
LEV 19:8 Ai ăn thức ăn đó sẽ mắc tội, vì không kính trọng những vật thánh thuộc về Chúa. Người đó sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 19:9 Khi ngươi gặt hái mùa màng trên đất mình, thì không nên gặt sát các góc ruộng. Nếu có gié lúa rơi trên đất thì đừng lượm lên.
LEV 19:10 Đừng mót hết tất cả trái nho trong vườn cũng đừng lượm những trái nho rơi xuống đất. Ngươi phải chừa những gié lúa và trái đó cho những người nghèo khổ và những ngoại kiều cư ngụ trong xứ các ngươi. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.
LEV 19:11 Ngươi không được ăn cắp. Ngươi không được lường gạt người khác và cũng không được nói dối lẫn nhau.
LEV 19:12 Ngươi không được nhân danh ta mà hứa dối, vì như thế chứng tỏ ngươi không kính trọng Thượng Đế ngươi. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 19:13 Ngươi không được lường gạt người láng giềng hay sang đoạt của người. Ngươi không được giữ tiền công của người làm qua đêm.
LEV 19:14 Ngươi không được chửi rủa người điếc, hay đặt chướng ngại vật trước mặt người mù để họ vấp té. Ngươi phải kính trọng Thượng Đế. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 19:15 Phải dùng lẽ công bằng khi phân xử. Ngươi không nên thiên vị người nghèo hay người giàu, nhưng phải công bằng khi phân xử người láng giềng mình.
LEV 19:16 Ngươi không được phao tin thất thiệt về người khác, cũng không được im lặng làm ngơ, khi mạng sống của người làng giềng ngươi đang lâm nguy. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 19:17 Ngươi không nên để tâm căm thù đồng bào mình. Nếu người láng giềng ngươi làm điều gì sai quấy, thì hãy nói thẳng cho người đó biết, nếu không ngươi cũng gánh một phần lỗi.
LEV 19:18 Hãy bỏ qua những điều quấy người khác làm cho mình, đừng tìm cách trả miếng. Hãy yêu người láng giềng như yêu mình vậy. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 19:19 Hãy vâng giữ luật lệ ta. Ngươi không được cho hai gia súc khác loại giao hợp nhau hoặc gieo hai loại hột giống khác nhau trong cùng một thửa ruộng. Ngươi không nên mặc áo quần may bằng hai loại vải khác nhau.
LEV 19:20 Ai giao hợp với nữ nô lệ đã được hứa hôn với một người khác, mà người nô lệ đó chưa được chuộc lại hay phóng thích, thì cả hai phải bị phạt. Nhưng cả hai sẽ không phải chết, vì người nô lệ ấy chưa được trả tự do.
LEV 19:21 Người đàn ông phải mang một con chiên đực đến làm của lễ chuộc tội cho Chúa nơi cửa Lều Họp.
LEV 19:22 Thầy tế lễ sẽ dâng con chiên làm của lễ chuộc tội trước mặt Chúa để chuộc lỗi cho người đàn ông. Sau đó người sẽ được tha tội mình.
LEV 19:23 Trong tương lai khi ngươi vào nhận xứ của mình, thì ngươi sẽ trồng nhiều loại cây ăn trái. Sau khi trồng cây, phải đợi ba năm trước khi hái trái.
LEV 19:24 Đến năm thứ tư trái của cây sẽ thuộc về Chúa, tức là một của lễ thánh dâng lên để ca ngợi Ngài.
LEV 19:25 Đến năm thứ năm ngươi có thể ăn trái của cây đó. Cây sẽ sai trái cho ngươi. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 19:26 Ngươi không được phép ăn thứ gì có huyết trong đó. Ngươi không được bói tử vi hay dùng bùa chú.
LEV 19:27 Ngươi không được cắt tóc hai bên trán hay cắt khoé râu.
LEV 19:28 Ngươi không được cắt da thịt mình để tỏ dấu than khóc người chết hay xăm vẽ trên mình. Ta là Chúa ngươi.
LEV 19:29 Ngươi không được làm nhục con gái mình, bằng cách bắt nó làm gái mãi dâm. Nếu ngươi làm như thế cả xứ sẽ tràn đầy tội lỗi.
LEV 19:30 Hãy vâng giữ luật lệ ngày Sa-bát và tôn trọng Nơi Chí Thánh của ta. Ta là Chúa ngươi.
LEV 19:31 Đừng đi đến các đồng bóng hay thầy bói mà hỏi ý kiến, vì các ngươi sẽ trở nên ô dơ. Ta là Chúa ngươi.
LEV 19:32 Hãy kính trọng người già cả; hãy đứng dậy trước mặt họ. Cũng hãy tôn trọng Thượng Đế ngươi. Ta là Chúa ngươi.
LEV 19:33 Chớ nên ngược đãi các ngoại kiều sống trong xứ ngươi,
LEV 19:34 nhưng hãy đối xử với họ như với đồng bào mình. Hãy yêu ngoại kiều như yêu chính mình, vì chính ngươi cũng đã từng là ngoại kiều trong xứ Ai-cập. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.
LEV 19:35 Chớ gian lận khi đo, cân hay thối lại tiền.
LEV 19:36 Trái cân và cái cân của ngươi phải chính xác, giỏ cân phải đúng trọng lượng, chai lọ phải chứa đúng dung tích chất lỏng. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi. Chính ta đã mang các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập.
LEV 19:37 Hãy ghi nhớ và vâng giữ các luật lệ và qui tắc của ta. Ta là Chúa ngươi.”
LEV 20:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 20:2 “Ngươi hãy dặn dân Ít-ra-en như sau: Ai trong xứ ngươi dâng con mình cho Mô-léc, người đó sẽ bị xử tử. Không cần biết người là công dân hay ngoại kiều sinh sống trong xứ Ít-ra-en; ngươi phải ném đá cho nó chết.
LEV 20:3 Ta sẽ nghịch lại nó và loại nó ra khỏi dân chúng, vì đã dâng con mình cho Mô-léc. Nó đã chứng tỏ không tôn kính danh ta và khiến cho Nơi Thánh ta bị ô dơ.
LEV 20:4 Dân chúng trong tập thể rất có thể làm ngơ không giết kẻ dâng con cho Mô-léc.
LEV 20:5 Nhưng ta sẽ nghịch lại kẻ đó và loại nó ra khỏi dân chúng. Ta sẽ đối như thế đối với bất cứ kẻ nào theo gương nó, bằng cách bất trung đối với ta mà thờ phụng Mô-léc.
LEV 20:6 Ta sẽ nghịch lại kẻ nào đi cầu đồng bóng hay thầy bói, vì kẻ đó bất trung với ta. Ta sẽ loại nó khỏi dân chúng.
LEV 20:7 Hãy làm dân thánh cho ta. Hãy trở nên thánh vì ta là Chúa và là Thượng Đế ngươi.
LEV 20:8 Hãy ghi nhớ và vâng giữ luật lệ ta. Ta là Chúa, Đấng đã khiến ngươi nên thánh.
LEV 20:9 Kẻ nào chửi cha mắng mẹ phải bị xử tử. Nó đã chửi mắng cha mẹ cho nên phải rước lấy cái chết cho mình.
LEV 20:10 Người nào giao hợp với vợ của người láng giềng mình, cả hai đều phạm tội ngoại tình cho nên phải bị xử tử.
LEV 20:11 Người nào giao hợp với vợ của cha mình tức là phạm tội cùng người đàn bà vốn thuộc riêng về cha mình. Nó và vợ của cha nó phải bị xử tử. Chính họ đã rước lấy hình phạt đó.
LEV 20:12 Người nào giao hợp với con dâu mình thì cả hai phải bị xử tử. Hành động của họ nghịch với tánh tự nhiên và chính họ đã rước lấy cái chết cho chính mình.
LEV 20:13 Người đàn ông nào giao hợp với đàn ông khác như với một người đàn bà tức đã phạm một tội ghê tởm. Cả hai phải bị xử tử. Họ đã rước lấy hình phạt đó cho chính mình.
LEV 20:14 Người nào giao hợp với một người đàn bà và luôn cả con gái của bà ấy là một hành động cực ác. Dân chúng phải hỏa thiêu người đàn ông và cả hai người đàn bà để dân chúng không lây tội ác.
LEV 20:15 Người đàn ông nào giao hợp với thú vật phải bị xử tử. Ngươi cũng phải giết luôn con vật.
LEV 20:16 Người đàn bà nào đến gần một con vật đặng giao hợp với nó thì ngươi phải giết cả người đàn bà lẫn con vật. Chúng nó đã rước lấy cái chết cho mình.
LEV 20:17 Anh lấy chị hay em gái là điều hổ nhục, kể cả lấy chị em gái cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ mình đặng giao hợp. Cả hai phải bị loại khỏi dân chúng trước mặt mọi người. Người đã vi phạm trách nhiệm gia đình cho nên mang tội.
LEV 20:18 Người đàn ông nào giao hợp trong khi người đàn bà có kinh nguyệt, cả hai phải bị loại khỏi dân chúng. Họ đã phạm tội vì họ đã phơi bày gốc tích máu huyết của người đàn bà.
LEV 20:19 Không được giao hợp với dì ngươi hay cô ngươi vì như thế là phạm tội loạn luân cùng thân nhân gần của ngươi. Cả hai sẽ mang tội.
LEV 20:20 Người nào giao hợp với bác gái, thím hay mợ mình tức đã phạm tội cùng người vốn thuộc riêng về bác, chú hay cậu mình. Người đó và bác gái, thím hay mợ mình sẽ phải chết tuyệt tự vì đã phạm tội.
LEV 20:21 Người nào lấy chị dâu hay em dâu mình là điều ô dơ. Người đã phạm tội cùng người vốn thuộc riêng về anh hoặc em mình, họ sẽ bị tuyệt tự.
LEV 20:22 Hãy ghi nhớ và vâng giữ các luật lệ và qui tắc ta. Ta đang dẫn ngươi đến xứ của ngươi. Nếu ngươi vâng giữ các luật lệ và qui tắc ta, đất sẽ không mửa các ngươi ra.
LEV 20:23 Ta đang đánh đuổi trước các ngươi các dân tộc đang sống ở đó. Vì chúng nó phạm những tội ác ấy nên ta không chịu nổi. Đừng bắt chước lối sống của chúng nó.
LEV 20:24 Ta đã bảo các ngươi rằng các ngươi sẽ chiếm lấy đất chúng nó do chính ta ban cho; đó là vùng đất phì nhiêu. Ta là Chúa và là Thượng Đế ngươi đã biệt riêng ngươi ra khỏi các dân tộc khác để các ngươi thuộc về ta.
LEV 20:25 Cho nên các ngươi phải phân biệt các loài thú và chim sạch với loài thú và chim không sạch. Đừng tự làm mình ô dơ vì những loài thú, loài chim hay loài bò sát trên đất mà ta đã xếp vào loại không sạch.
LEV 20:26 Các ngươi phải thánh cho ta vì ta, Chúa ngươi là Đấng thánh. Ta đã biệt riêng ngươi ra khỏi các dân để ngươi làm dân ta.
LEV 20:27 Bất cứ người đàn ông hay đàn bà nào làm đồng bóng hay bói toán sẽ bị xử tử. Ngươi phải ném đá giết chúng; chính chúng đã tự rước cái chết cho mình.”
LEV 21:1 Chúa phán cùng Mô-se, “Hãy bảo các con trai A-rôn là thầy tế lễ như sau: Thầy tế lễ không nên tự làm cho mình ô dơ bằng cách đụng đến xác chết.
LEV 21:2 Nhưng nếu người chết là một trong những thân nhân cật ruột thì người có thể đụng đến xác đó. Thầy tế lễ có thể tự làm mình ô dơ, nếu người chết là mẹ hay cha, con trai hay con gái,
LEV 21:3 hoặc một chị em gần với mình nhưng chưa có chồng. Thầy tế lễ có thể tự làm mình ô dơ vì người đó, nếu họ qua đời.
LEV 21:4 Tuy nhiên thầy tế lễ không thể tự làm cho mình ô dơ, nếu người chết chỉ có liên hệ thông gia với mình.
LEV 21:5 Thầy tế lễ không nên cạo đầu hay cắt khoé râu hay cắt vào thịt mình.
LEV 21:6 Họ phải thánh cho Thượng Đế và tôn kính danh Ngài. Vì họ dâng của lễ thiêu cho Chúa, tức là thực phẩm của Thượng Đế, nên họ phải thánh.
LEV 21:7 Vì họ phải thánh cho Thượng Đế, thầy tế lễ không được lấy một người đàn bà không sạch bởi đã là gái điếm, hay lấy đàn bà đã bị ly dị làm vợ.
LEV 21:8 Các ngươi phải đối xử với thầy tế lễ như thánh, vì người dâng thực phẩm cho Thượng Đế. Phải biệt riêng người ra thánh. Ta là Chúa, Đấng khiến ngươi ra thánh, vì chính ta là thánh.
LEV 21:9 Nếu con gái thầy tế lễ tự làm mình ra ô dơ bằng hành nghề mãi dâm, thì nó đã làm nhục chức vụ thánh của cha mình. Phải thiêu nó trong lửa.
LEV 21:10 Thầy tế lễ tối cao được chọn giữa anh em mình, được xức dầu ô-liu trên đầu mình. Người cũng được chỉ định mặc các đồng phục của thầy tế lễ. Cho nên người không được bày tỏ sự buồn rầu của mình bằng cách để tóc bù xù hay xé quần áo mình.
LEV 21:11 Người không được đi vào nhà có người chết. Người không được làm mình ra ô dơ, vì cha hay mẹ mình đi nữa.
LEV 21:12 Thầy tế lễ tối cao không được đi ra khỏi Nơi Thánh, nếu không sẽ bị ô dơ và sẽ khiến Nơi Thánh của Thượng Đế ra ô dơ; vì dầu đã đổ trên đầu người, trong lễ bổ nhiệm chức tế lễ cho người. Ta là Chúa các ngươi.
LEV 21:13 Thầy tế lễ tối cao phải lấy gái còn trinh làm vợ.
LEV 21:14 Người không được lấy góa phụ, người đàn bà ly dị hay gái mãi dâm làm vợ. Người phải lấy gái trinh giữa vòng dân chúng mình,
LEV 21:15 để dân chúng không khinh dể dòng dõi người là bất thánh. Ta là Chúa ngươi. Ta đã biệt riêng thầy tế lễ ra để đảm nhiệm chức vụ đặc biệt của người.”
LEV 21:16 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 21:17 “Hãy bảo A-rôn: Ai trong dòng dõi ngươi mà thân thể bị tật, thì không được dâng thực phẩm đặc biệt cho Thượng Đế.
LEV 21:18 Những người có các tật nguyền sau đây không được đến gần dâng của lễ: mù, què, mặt mũi méo mó, tứ chi không đều,
LEV 21:19 người bị thương chân hay tay,
LEV 21:20 người gù lưng, lùn, mắt vảy cá, người bị ghẻ ngứa hay bị bệnh ngoài da, hay người bị dập hòn nang.
LEV 21:21 Trong dòng dõi A-rôn, người nào có tật nguyền thì không được đến gần dâng của lễ thiêu cho Chúa. Người đó có tật nguyền nên không thể dâng thực phẩm cho Chúa.
LEV 21:22 Người có thể ăn các thức ăn chí thánh và thức ăn thánh.
LEV 21:23 Nhưng người không được phép ra sau bức màn để vào Nơi Chí Thánh, cũng không được phép đến gần bàn thờ vì người có tật nguyền. Người không được làm ô dơ Nơi Thánh. Ta là Chúa đã biến các nơi đó ra thánh.”
LEV 21:24 Vậy Mô-se nói lại cho A-rôn, các con trai người và toàn thể dân chúng Ít-ra-en biết những điều ấy.
LEV 22:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 22:2 “Hãy bảo A-rôn và các con trai người như sau: Dân Ít-ra-en sẽ dâng của lễ cho ta. Những của lễ ấy rất thánh và thuộc về ta, nên các ngươi phải tôn trọng chúng và không được làm nhục danh ta là danh mà các ngươi tôn thánh. Ta là Chúa.
LEV 22:3 Hãy bảo họ: Từ nay về sau, nếu ai trong gia đình ngươi không tinh sạch mà đến gần các của lễ mà dân Ít-ra-en đã khiến hóa thánh cho ta, người đó sẽ bị loại trước mắt ta. Ta là Chúa.
LEV 22:4 Người nào trong con cháu A-rôn mắc bệnh ngoài da trầm trọng hoặc bị di tinh, thì không được phép ăn của lễ thánh. Người cũng có thể bị ô dơ vì đụng đến xác chết, đụng đến tinh dịch của mình,
LEV 22:5 đụng vào con vật bò sát ô dơ hay đụng người bị ô dơ khác (bất kỳ bị ô dơ vì lý do gì).
LEV 22:6 Người nào đụng các vật đó sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối. Người không được phép ăn các của lễ thánh nếu không tắm trước.
LEV 22:7 Người chỉ trở nên tinh sạch sau khi mặt trời lặn mà thôi. Sau đó người được phép ăn của lễ thánh; các của lễ đó thuộc về người.
LEV 22:8 Nếu thầy tế lễ gặp một con vật chết tự nhiên hay bị thú khác xé thì không được phép ăn thịt nó. Nếu ăn người sẽ bị ô dơ. Ta là Chúa ngươi.
LEV 22:9 Nếu các thầy tế lễ tuân giữ các luật lệ ta truyền thì không mắc tội; nếu họ thận trọng thì không chết. Ta là Chúa đã khiến họ nên thánh.
LEV 22:10 Chỉ có những người trong gia đình thầy tế lễ mới được phép ăn của lễ thánh mà thôi. Khách đến thăm thầy tế lễ, hay người làm công, không được phép ăn các thức ấy.
LEV 22:11 Nhưng nếu thầy tế lễ bỏ tiền ra mua người nô lệ thì người nô lệ đó được phép ăn các của lễ thánh; các nô lệ sinh ra trong nhà thầy tế lễ cũng được phép ăn thức ăn đó.
LEV 22:12 Nếu con gái thầy tế lễ kết hôn với một người không phải thầy tế lễ thì nàng không được phép ăn các của lễ thánh.
LEV 22:13 Nhưng nếu nàng góa chồng hay ly dị, không có con cháu giúp đỡ và nếu nàng trở về sống chung với cha mình như lúc còn thơ ấu thì nàng có thể ăn các thức ăn của cha mình. Chỉ có người nhà của thầy tế lễ mới được phép ăn thức ăn nầy mà thôi.
LEV 22:14 Nếu ai vô tình ăn của lễ thánh thì người đó phải đền bù lại cho thầy tế lễ phần thức ăn thánh đó, cộng thêm một phần năm trị giá chỗ thức ăn đã dùng.
LEV 22:15 Khi dân Ít-ra-en dâng của lễ thánh cho Chúa thì thầy tế lễ không nên xem những món đó là bất thánh.
LEV 22:16 Thầy tế lễ không được cho người không giữ chức tế lễ ăn các của lễ thánh. Nếu không, thầy tế lễ sẽ gây cho kẻ ăn mắc tội và họ phải đền bù thức ăn đó. Ta là Chúa đã khiến các thức ăn đó nên thánh.”
LEV 22:17 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 22:18 “Hãy bảo A-rôn, các con trai người và toàn dân Ít-ra-en như sau: Công dân Ít-ra-en hay ngoại kiều sống giữa dân Ít-ra-en có thể xin dâng của lễ toàn thiêu để làm của lễ hứa nguyện hay của lễ tự nguyện cho Chúa.
LEV 22:19 Người phải mang một con vật đực không tật nguyền: một con bò đực, chiên đực hay dê đực, để được nhậm.
LEV 22:20 Người không được mang con vật bị tật nguyền vì sẽ không được nhận.
LEV 22:21 Nếu ai mang của lễ thân hữu đến cho Chúa để trả lời khấn hứa, hay của lễ tự nguyện cho Chúa, thì phải bắt con vật trong bầy. Con vật phải khoẻ mạnh và nguyên vẹn, không tật nguyền, mới được nhậm.
LEV 22:22 Ngươi không được dâng cho Chúa con vật mù mắt, gãy chân, què quặt, ghẻ chốc hay các bệnh ngoài da khác. Ngươi không được dâng các con vật như thế trên bàn thờ làm của lễ thiêu cho Chúa.
LEV 22:23 Ngươi có thể dâng con bò hay con chiên nhỏ hơn bình thường, hoặc một chân quá ngắn hay quá dài để làm của lễ tự nguyện cho Chúa; con vật đó sẽ được nhận, nhưng không được dâng nó làm của lễ trả lời khấn hứa vì sẽ không được nhận.
LEV 22:24 Ngươi không được dâng cho Chúa con vật nào mà hòn nang bị xây xát, dập, thiếu hoặc bị thiến. Ngươi không được làm như thế trong đất mình,
LEV 22:25 cũng không được nhận từ tay ngoại kiều những con vật như thế để làm của lễ cho Chúa. Vì con vật đã bị thương tích hay tật nguyền, nên sẽ không được nhậm.”
LEV 22:26 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 22:27 “Những con mới sinh của bò, chiên, dê phải ở với mẹ nó ít nhất bảy ngày. Đến ngày thứ tám các ngươi có thể dùng nó làm của lễ thiêu cho Chúa.
LEV 22:28 Ngươi không được giết một con vật và cả mẹ nó trong cùng một ngày, dù là bò hay chiên.
LEV 22:29 Nếu ngươi muốn dâng một của lễ đặc biệt cảm tạ Chúa, thì phải dâng thế nào để Ngài vừa lòng.
LEV 22:30 Ngươi phải ăn hết con vật nội trong ngày, đừng chừa lại gì đến sáng hôm sau. Ta là Chúa.
LEV 22:31 Hãy ghi nhớ và tuân giữ các mệnh lệnh ta. Ta là Chúa.
LEV 22:32 Ngươi phải tôn kính danh ta. Mọi người Ít-ra-en phải nhớ rằng ta là thánh; Ta là Chúa, Đấng đã khiến ngươi nên thánh.
LEV 22:33 Ta đã mang ngươi ra khỏi Ai-cập để làm Thượng Đế ngươi. Ta là Chúa.”
LEV 23:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 23:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Ngươi phải loan báo những ngày lễ mà Chúa đã chỉ định để làm những ngày họp thánh. Sau đây là những ngày đó.
LEV 23:3 Có sáu ngày cho ngươi làm việc, nhưng thứ bảy là một ngày đặc biệt để nghỉ ngơi. Ngày đó dùng làm ngày hội họp thánh; ngươi không được phép làm gì cả. Đó là ngày Sa-bát cho Chúa, áp dụng trong tất cả nơi nào các ngươi cư ngụ.
LEV 23:4 Sau đây là những ngày lễ lớn cùng những ngày họp thánh do Chúa chỉ định. Ngươi phải loan báo cho dân chúng ngày tháng và thì giờ ấn định cho từng lễ.
LEV 23:5 Ngày lễ Vượt Qua của Chúa là ngày mười bốn tháng giêng, bắt đầu vào chập tối.
LEV 23:6 Lễ Bánh Không Men bắt đầu vào ngày mười lăm cùng tháng. Ngươi phải ăn bánh mì không men trong bảy ngày.
LEV 23:7 Vào ngày đầu tiên của lễ nầy các ngươi sẽ có một buổi họp thánh. Các ngươi không được phép làm bất cứ công việc gì.
LEV 23:8 Trong bảy ngày, các ngươi sẽ mang của lễ thiêu đến cho Chúa. Vào ngày thứ bảy sẽ có một buổi họp thánh. Vào ngày đó các ngươi không được làm công việc thường nhật nào.”
LEV 23:9 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 23:10 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Các ngươi sẽ vào xứ mà ta ban cho các ngươi và sẽ gặt hái mùa màng của xứ. Khi đó các ngươi phải mang bó lúa đầu tiên đến cho thầy tế lễ.
LEV 23:11 Thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa trước mặt Chúa và Ngài sẽ nhận lễ vật đó. Người sẽ dâng bó lúa vào hôm sau ngày Sa-bát.
LEV 23:12 Vào ngày dâng bó lúa, các ngươi cũng hãy dâng một con chiên con đực một tuổi, không tật nguyền, để làm của lễ thiêu cho Chúa.
LEV 23:13 Ngươi cũng phải dâng của lễ chay gồm bốn lít bột mịn trộn dầu ô-liu, để làm của lễ thiêu cho Chúa, có mùi thơm làm vừa lòng Ngài. Ngươi cũng phải dâng một lít rượu làm của lễ uống.
LEV 23:14 Cho đến ngày các ngươi mang của lễ đến cho Chúa, các ngươi không được ăn gạo mới, gạo rang hay bánh mì làm bằng gạo mới. Luật lệ nầy sẽ áp dụng cho toàn thể dân chúng từ nay về sau, bất kỳ ngươi sống nơi nào.
LEV 23:15 Hãy tính bảy tuần lễ trọn kể từ buổi sáng sau ngày Sa-bát, tức ngày Sa-bát mà các ngươi đem bó lúa đến dâng làm của lễ.
LEV 23:16 Vào ngày thứ năm mươi tức ngày đầu tiên sau tuần thứ bảy, ngươi sẽ mang một của lễ chay làm bằng gạo mới đến cho Chúa.
LEV 23:17 Trong ngày ấy hãy mang hai ổ bánh làm ở nhà đến làm của lễ. Dùng men và bốn lít bột mịn để làm các ổ bánh đó; các ổ bánh sẽ là của lễ đầu mùa gặt, mà các ngươi dâng lên cho Chúa.
LEV 23:18 Cùng với các ổ bánh, ngươi phải mang một con bò tơ đực, hai con chiên đực, bảy con chiên con đực một tuổi, không tật nguyền. Dâng các con vật đó cùng với của lễ chay và của lễ uống, để làm của lễ thiêu cho Chúa. Các của lễ sẽ được thiêu bằng lửa dâng lên cho Chúa, có mùi thơm làm vừa lòng Ngài.
LEV 23:19 Ngươi cũng phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội và hai con chiên con đực một tuổi làm của lễ thân hữu.
LEV 23:20 Thầy tế lễ sẽ dâng hai con chiên con làm của lễ làm sạch tội trước mặt Chúa, cùng với bánh mì dùng bột lúa mì đầu mùa. Các món đó biệt ra thánh cho Chúa và thuộc về thầy tế lễ.
LEV 23:21 Cũng trong ngày đó, các ngươi sẽ có buổi họp thánh; ngày đó các ngươi không được làm việc gì hết. Luật lệ nầy sẽ áp dụng cho các ngươi, bất kỳ sống ở đâu.
LEV 23:22 Khi thu hoạch mùa trên đất ngươi, đừng gặt sát các góc ruộng. Nếu lúa rơi trên đất, đừng cúi xuống lượm lên. Hãy để dành cho những người nghèo khổ và các ngoại kiều trong xứ ngươi. Ta là Chúa, Thượng Đế ngươi.”
LEV 23:23 Chúa lại phán cùng Mô-se,
LEV 23:24 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Ngày đầu của tháng bảy, các ngươi phải dùng làm một ngày nghỉ đặc biệt, có một buổi họp thánh. Ngươi hãy thổi kèn để làm dịp tưởng nhớ đặc biệt.
LEV 23:25 Đừng làm công việc gì hết và hãy mang đến một của lễ cho Chúa.”
LEV 23:26 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 23:27 “Ngày Tẩy Sạch sẽ là ngày mười tháng bảy. Sẽ có một buổi họp thánh, các ngươi sẽ cữ ăn và mang đến một của lễ thiêu cho Chúa.
LEV 23:28 Đừng làm việc gì hết trong ngày đó, vì là Ngày Tẩy Sạch. Trong ngày đó các thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho các ngươi trước mặt Chúa là Thượng Đế.
LEV 23:29 Ai không cữ ăn hôm đó sẽ bị loại khỏi dân chúng.
LEV 23:30 Ai làm việc trong ngày đó, ta sẽ diệt nó khỏi dân chúng.
LEV 23:31 Các ngươi không được phép làm việc gì hết; luật lệ nầy sẽ áp dụng cho các ngươi từ nay về sau, bất cứ sống nơi nào.
LEV 23:32 Ngày nầy là một ngày nghỉ đặc biệt cho các ngươi, nên phải cữ ăn. Ngày nầy sẽ bắt đầu vào chiều tối của ngày chín trong tháng và kéo dài từ chiều tối đó đến chiều tối hôm sau.”
LEV 23:33 Chúa lại phán cùng Mô-se,
LEV 23:34 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Ngày mười lăm tháng bảy là ngày Lễ Lều Tạm. Lễ nầy sẽ kéo dài bảy ngày cho Chúa.
LEV 23:35 Ngày đầu tiên sẽ có một buổi họp thánh; đừng làm việc gì hết.
LEV 23:36 Trong vòng bảy ngày, mỗi ngày các ngươi phải mang của lễ thiêu đến cho Chúa. Ngày thứ tám các ngươi sẽ có một buổi họp thánh nữa; các ngươi sẽ mang một của lễ thiêu cho Chúa. Ngày nầy là ngày họp thánh; đừng làm việc gì hết.
LEV 23:37 Đó là những kỳ lễ đặc biệt cho Chúa khi có các buổi họp thánh và khi các ngươi mang những của lễ thiêu đến cho Chúa. Ngươi sẽ mang các của lễ toàn thiêu, của lễ chay, các của lễ hi sinh, của lễ uống mỗi loại của lễ phải mang theo đúng thời gian ấn định.
LEV 23:38 Các của lễ nầy là ngoài các của lễ dâng trong ngày Sa-bát, không kể các của lễ mà các ngươi dâng để trả sự khấn hứa riêng hay các của lễ tự nguyện muốn dâng cho Chúa.
LEV 23:39 Vậy vào ngày mười lăm tháng bảy, sau khi các ngươi đã thu góp mùa màng của đất, hãy cử hành đại lễ của Chúa trong bảy ngày. Ngươi phải lấy ngày đầu tiên và ngày thứ tám làm ngày nghỉ ngơi hoàn toàn.
LEV 23:40 Vào ngày đầu tiên, các ngươi sẽ lấy những trái tốt nhất từ các cây ăn trái, các nhánh chà là, cây bạch dương và các cây có lá khác. Các ngươi sẽ cử hành lễ trước mặt Chúa trong vòng bảy ngày.
LEV 23:41 Mỗi năm các ngươi sẽ cử hành lễ nầy trong bảy ngày cho Chúa. Luật lệ nầy sẽ áp dụng cho các ngươi từ rày về sau; ngươi phải cử hành lễ nầy vào tháng thứ bảy.
LEV 23:42 Các ngươi phải ở trong lều suốt bảy ngày. Tất cả mọi người sinh trưởng trong dân Ít-ra-en phải ở trong lều,
LEV 23:43 để tất cả con cháu các ngươi biết rằng ta đã bảo dân Ít-ra-en sống trong lều suốt thời gian ta mang họ ra khỏi Ai-cập. Ta là Chúa và là Thượng Đế ngươi.”
LEV 23:44 Vậy Mô-se thông báo lại cho dân Ít-ra-en mọi ngày lễ mà Chúa đã chỉ định.
LEV 24:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 24:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en mang dầu ô-liu tinh khiết mới ép đến. Dầu đó sẽ dùng thắp các đèn để đèn luôn luôn sáng không bao giờ tắt.
LEV 24:3 A-rôn sẽ giữ đèn cháy sáng luôn trong Lều Họp từ chiều tối đến sáng hôm sau, trước mặt Chúa; đèn đó ở trước màn của Rương Giao Ước. Luật lệ nầy sẽ bắt đầu từ nay về sau.
LEV 24:4 A-rôn phải giữ cho đèn cháy luôn trên chân đèn bằng vàng ròng trước mặt Chúa.
LEV 24:5 Hãy lấy bột mịn làm mười hai ổ bánh mì, mỗi ổ dùng bốn lít bột.
LEV 24:6 Xếp các ổ bánh thành hai dãy trên bàn cẩn vàng trước mặt Chúa, mỗi hàng sáu ổ.
LEV 24:7 Kế bên mỗi hàng, xếp hai dãy trầm hương nguyên chất để làm phần kỷ niệm, tượng trưng cho các ổ bánh. Đây là của lễ dâng lên cho Chúa.
LEV 24:8 Mỗi ngày Sa-bát, A-rôn sẽ thay mặt dân Ít-ra-en, bày bánh ra theo thứ tự như thế trước mặt Chúa, dùng làm giao ước đời đời.
LEV 24:9 Các bánh đó sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người. Họ sẽ ăn bánh trong nơi thánh vì đó là phần rất thánh trong của lễ dâng lên cho Chúa. Bánh đó là phần vĩnh viễn thuộc về họ.”
LEV 24:10 Có một cậu trai, mà mẹ là người Ít-ra-en cha là người Ai-cập, cùng đi chung với dân Ít-ra-en. Người đó đánh nhau với một người Ít-ra-en khác trong doanh trại.
LEV 24:11 Cậu nầy bắt đầu chửi rủa và nói phạm đến Chúa, nên dân chúng bắt giải nó đến trước Mô-se. Mẹ nó tên Sê-lô-mít, con gái Đép-ri thuộc gia tộc Đan.
LEV 24:12 Dân chúng bắt giữ nó trong khi chờ đợi lệnh của Chúa tỏ ra cho họ.
LEV 24:13 Chúa phán cùng Mô-se rằng,
LEV 24:14 “Hãy bắt người đã nguyền rủa ta, mang ra ngoài doanh trại. Sau đó ai trong dân chúng đã nghe nó nguyền rủa sẽ đặt tay trên đầu nó, rồi toàn dân sẽ ném đá cho nó chết.
LEV 24:15 Hãy dặn dân Ít-ra-en như sau: Nếu ai nguyền rủa Chúa sẽ mắc tội.
LEV 24:16 Ai nói phạm đến Chúa sẽ bị xử tử; dân chúng phải ném đá cho nó chết. Các ngoại kiều cũng phải bị trừng phạt giống như những người sinh trưởng trong dân Ít-ra-en; nếu nói phạm đến Chúa phải bị xử tử.
LEV 24:17 Ai giết người sẽ bị xử tử.
LEV 24:18 Ai giết một con vật thuộc về người khác phải đền con vật lại cho người ấy.
LEV 24:19 Ai gây thương tích cho người láng giềng phải bị thương tích trở lại:
LEV 24:20 Xương gãy đền xương gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Ai làm người khác bị thương tích phải bị gây thương tích giống như vậy để đền bù.
LEV 24:21 Ai giết súc vật của người khác phải đền con vật cho người đó. Nhưng ai giết người phải bị xử tử.
LEV 24:22 Luật lệ nầy áp dụng cho ngoại kiều cũng như cho các công dân của xứ các ngươi. Ta là Chúa và là Thượng Đế ngươi.”
LEV 24:23 Sau khi Mô-se căn dặn dân chúng như thế thì họ bắt người đã nguyền rủa Chúa ra ngoài doanh trại ném đá giết chết. Vậy dân Ít-ra-en làm y theo lời Chúa căn dặn Mô-se.
LEV 25:1 Chúa phán cùng Mô-se trên núi Si-nai,
LEV 25:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en như sau: Khi các ngươi vào nhận đất mà ta ban cho, thì mỗi bảy năm hãy để đất nghỉ ngơi làm năm Sa-bát cho Chúa.
LEV 25:3 Các ngươi có thể gieo giống và trồng trọt trong sáu năm, tỉa vườn nho trong sáu năm và hưởng hoa lợi.
LEV 25:4 Nhưng đến năm thứ bảy, ngươi phải để đất nghỉ. Đó là thời kỳ đặc biệt các ngươi tôn kính Chúa. Ngươi không được gieo giống trong ruộng hay tỉa sửa vườn nho ngươi.
LEV 25:5 Ngươi không được gặt hái hoa lợi sinh ra tự nhiên sau mùa gặt hoặc hái nho trên cây chưa tỉa. Đất phải được nghỉ trong một năm.
LEV 25:6 Ngươi có thể ăn những gì đất sinh sản tự nhiên trong năm đất nghỉ. Hoa lợi sẽ làm thức ăn cho tôi trai tớ gái ngươi, cho những người làm công của ngươi và cho những ngoại kiều sống trong xứ ngươi.
LEV 25:7 Hoa lợi đó cũng sẽ dùng làm thức ăn cho gia súc và các muông thú trong xứ ngươi. Bất cứ thứ gì đất sinh sản ra các ngươi có thể ăn.
LEV 25:8 Tính bảy lần bảy năm tức bốn mươi chín năm. Sau đó đất sẽ nghỉ trong năm kế tiếp.
LEV 25:9 Trong ngày Thanh Tẩy, ngươi phải thổi kèn làm bằng sừng chiên đực; đó là ngày mười tháng bảy. Ngươi phải thổi kèn khắp xứ.
LEV 25:10 Năm thứ năm mươi sẽ là một năm đặc biệt. Hãy loan báo trả tự do cho tất cả mọi người sống trong xứ ngươi. Năm đó gọi là năm Hoan hỉ. Mỗi người trong các ngươi sẽ trở về với sản nghiệp mình, với gia đình hay họ hàng mình.
LEV 25:11 Năm thứ năm mươi sẽ làm một năm kỷ niệm đặc biệt cho các ngươi. Đừng gieo giống hay gặt hái mùa màng sinh sản tự nhiên hay hái trái nho mọc tư nhiên trên các dây nho chưa tỉa.
LEV 25:12 Đó là năm Hoan hỉ; thời kỳ thánh cho các ngươi. Ngươi chỉ được phép ăn thổ sản mọc tự nhiên trong đồng ruộng.
LEV 25:13 Vào năm Hoan hỉ mỗi người trong các ngươi sẽ trở về với sản nghiệp mình.
LEV 25:14 Khi ngươi bán đất cho người láng giềng hoặc mua đất của láng giềng thì đừng lường gạt nhau.
LEV 25:15 Nếu ngươi mua đất của láng giềng thì phải tính số năm kể từ năm Hoan hỉ chót và dùng số đó để định giá cho đúng. Nếu láng giềng bán đất cho ngươi thì cũng phải tính số năm còn lại có thể gặt hái rồi dùng số đó để định giá cho đúng.
LEV 25:16 Nếu số năm còn lại nhiều thì giá sẽ cao. Nhưng nếu chỉ còn một vài năm giá sẽ hạ vì láng giềng chỉ bán cho ngươi có một vài vụ gặt thôi.
LEV 25:17 Các ngươi không nên lường gạt lẫn nhau nhưng phải tôn kính Thượng Đế. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.
LEV 25:18 Hãy ghi nhớ và tuân giữ mọi luật lệ và qui tắc của ta để các ngươi sống bình yên trong xứ.
LEV 25:19 Đất sẽ sinh sản hoa lợi tốt cho ngươi, ngươi sẽ ăn uống no nê và sống bình an trong xứ.
LEV 25:20 Nhưng các ngươi có thể hỏi, ‘Nếu chúng tôi không gieo giống hay gặt hái thì lấy gì mà ăn trong năm thứ bảy?’
LEV 25:21 Ta sẽ ban phước lớn trong năm thứ sáu, đất sẽ sinh sản đủ hoa lợi bằng ba năm.
LEV 25:22 Nên khi ngươi trồng trọt trong năm thứ tám, ngươi sẽ vẫn còn ăn thổ sản của các năm trước; ngươi sẽ vẫn ăn thổ sản cũ cho đến mùa gặt của năm thứ chín.
LEV 25:23 Thật ra, đất thuộc về ta, cho nên các ngươi không thể bán đất vĩnh viễn được. Ngươi chỉ là ngoại kiều và lữ khách tạm cư trên đất của ta thôi.
LEV 25:24 Dân chúng có thể bán đất, nhưng phải làm sao cho gia đình người bán có thể chuộc lại được.
LEV 25:25 Nếu một công dân trong xứ ngươi quá nghèo khổ buộc phải bán đất, thì một thân nhân gần có thể chuộc lại.
LEV 25:26 Nếu không có thân nhân gần chuộc lại đất hoặc nếu người bán có đủ tiền để chuộc lại,
LEV 25:27 thì phải tính số năm kể từ ngày bán. Số năm đó sẽ được dùng để tính cho nguyên chủ phải trả bao nhiêu cho người mua. Sau đó đất sẽ trở về nguyên chủ.
LEV 25:28 Nhưng nếu không có đủ tiền để chuộc lại thì người mua sẽ giữ đất đó cho đến năm Hoan hỉ. Trong khi kỷ niệm năm ấy, đất sẽ trở về với gia đình nguyên chủ.
LEV 25:29 Nếu ai bán nhà trong một thành phố có thành bao quanh, thì người bán có trọn một năm để chuộc lại.
LEV 25:30 Nhưng nếu cả năm mà người bán không chuộc lại căn nhà thì tài sản đó sẽ thuộc về người mua và các con trai nối dòng của người. Căn nhà đó sẽ không trở về nguyên chủ dù cho đến năm Hoan hỉ cũng vậy.
LEV 25:31 Nhưng nhà cửa trong các thị trấn nhỏ không có thành bao quanh thì cũng giống như đồng ruộng, các tài sản đó có thể chuộc lại và phải trở về nguyên chủ trong năm Hoan hỉ.
LEV 25:32 Người Lê-vi bao giờ cũng có thể chuộc lại các nhà cửa trong những thành thuộc về họ.
LEV 25:33 Nếu ai mua nhà của người Lê-vi, thì nhà nào nằm trong thành thuộc về người Lê-vi sẽ trở về với họ trong năm Hoan hỉ. Vì những nhà trong thành của người Lê-vi thì thuộc về người Lê-vi. Dân Ít-ra-en đã cấp các thành đó cho họ.
LEV 25:34 Ngoài ra các đồng ruộng và đồng cỏ quanh các thành của người Lê-vi không được phép bán, vì các ruộng nương đó thuộc về người Lê-vi đời đời.
LEV 25:35 Nếu ai trong các ngươi quá nghèo khổ không đủ sống, thì hãy giúp đỡ người để sống giữa các ngươi như giúp người khách lạ hay ngoại kiều.
LEV 25:36 Đừng tính tiền lời khi cho người vay, nhưng hãy tôn kính Chúa; hãy để các người nghèo khổ sống giữa các ngươi.
LEV 25:37 Đừng cho người vay để lấy tiền lời cũng đừng kiếm lời khi bán thức ăn cho người đó.
LEV 25:38 Ta là Chúa và Thượng Đế của ngươi, Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ai-cập để ban xứ Ca-na-an cho ngươi và để làm Thượng Đế ngươi.
LEV 25:39 Nếu ai trong xứ quá nghèo khổ phải bán thân làm nô lệ cho ngươi thì chớ bắt người làm việc như nô lệ.
LEV 25:40 Người phải được đối xử như người làm thuê và là khách ở trong nhà ngươi cho đến năm Hoan hỉ.
LEV 25:41 Sau đó người sẽ ra khỏi nhà ngươi, mang theo con cái để trở về với gia tộc và đất ruộng của tổ tiên mình.
LEV 25:42 Luật nầy qui định như thế, vì toàn dân Ít-ra-en là tôi tớ của ta. Chính ta đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ trong xứ Ai-cập, nên họ không thể lại làm nô lệ lần nữa.
LEV 25:43 Ngươi không nên ngược đãi người, nhưng phải kính trọng Thượng Đế ngươi.
LEV 25:44 Ngươi phải tìm nô lệ nam hay nữ từ ở các dân tộc xung quanh ngươi. Hãy mua nô lệ từ các dân đó.
LEV 25:45 Ngoài ra các ngươi cũng có thể mua các trẻ con của các gia đình ngoại kiều, sống giữa các ngươi, để làm nô lệ. Các trẻ con nô lệ nầy sẽ thuộc về các ngươi.
LEV 25:46 Các ngươi cũng có thể giao chúng cho con cái mình sau khi các ngươi qua đời; các ngươi có thể bắt chúng làm nô lê đời đời. Nhưng các ngươi không được ngược đãi đồng bào mình là dân Ít-ra-en.
LEV 25:47 Giả sử có một ngoại kiều hay khách sống giữa các ngươi trở nên giàu có. Nếu một đồng bào ngươi nghèo khổ đến nỗi phải bán mình làm nô lệ cho ngoại kiều sống giữa các ngươi, hay cho một thân nhân nào trong gia đình ngoại kiều,
LEV 25:48 thì người nghèo khổ đó có quyền được chuộc lại và được tự do. Một trong các thân nhân sau đây có thể chuộc người lại:
LEV 25:49 chú, cậu, con của chú hay cậu hoặc bất cứ thân nhân nào gần đều có thể chuộc người lại. Hoặc nếu người có đủ tiền thì chính người có thể tự chuộc mình.
LEV 25:50 Người và thân nhân chuộc người phải tính thời gian từ lúc bán mình cho đến năm Hoan hỉ kế tiếp. Giá để phóng thích người phải dựa trên giá trả cho một người làm thuê trong cùng thời gian ấy.
LEV 25:51 Nếu số năm còn lại tính đến năm Hoan hỉ khá nhiều thì người phải trả lại một giá khá cao.
LEV 25:52 Nhưng nếu chỉ còn vài năm là đến năm Hoan hỉ thì chỉ phải trả giá hạ.
LEV 25:53 Tuy nhiên nếu người ở như kẻ làm thuê cho ngoại kiều từng năm một, thì đừng để ngoại kiều ngược đãi người.
LEV 25:54 Dù không có ai chuộc người lại, nhưng đến năm Hoan hỉ, người và con cái người phải được trả tự do.
LEV 25:55 Luật ta định như thế, vì tất cả dân Ít-ra-en đều là tôi tớ ta, là những người ta đã mua chuộc ra khỏi Ai-cập. Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi.”
LEV 26:1 “Đừng làm tượng chạm cho mình hoặc xây tượng hay các đài tưởng niệm. Đừng dựng các tượng bằng đá trong xứ ngươi để mà thờ lạy chúng vì ta là Chúa và là Thượng Đế ngươi.
LEV 26:2 Hãy nhớ ngày Sa-bát ta và tôn kính Nơi Thánh ta. Ta là Chúa của ngươi.
LEV 26:3 Nếu ngươi ghi nhớ và vâng giữ các luật lệ và mệnh lệnh ta,
LEV 26:4 thì ta sẽ sai mưa thuận mùa, đất sẽ sinh sản hoa lợi và cây cối trong đồng ruộng sẽ sai trái.
LEV 26:5 Mùa đập lúa sẽ lần đến mùa hái nho, và mùa hái nho sẽ lần đến mùa gieo mạ. Ngươi sẽ ăn uống dư dả và sống bình yên trong xứ.
LEV 26:6 Ta sẽ ban hòa bình cho xứ ngươi; ngươi sẽ nằm ngủ bình yên, không ai khiến ngươi sợ hãi. Ta sẽ không cho các thú dữ xâm nhập vào xứ ngươi và sẽ không có đạo binh nào xua quân qua đó.
LEV 26:7 Ngươi sẽ rượt đuổi kẻ thù và đánh bại chúng, sát hại chúng bằng gươm.
LEV 26:8 Năm người của các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm; một trăm người các ngươi sẽ rượt đuổi một vạn. Ngươi sẽ đánh bại quân thù và sát hại chúng bằng gươm.
LEV 26:9 Ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng ngươi, cho ngươi đông con. Ta sẽ giữ giao ước ta với ngươi.
LEV 26:10 Ngươi sẽ có đủ thổ sản để ăn hơn một năm. Khi ngươi gặt mùa màng mới, ngươi sẽ phải ném bỏ hoa lợi cũ để lấy chỗ cho mùa màng mới.
LEV 26:11 Ngoài ra ta sẽ đặt Lều Thánh ta ở giữa ngươi. Ta sẽ không khinh rẻ ngươi.
LEV 26:12 Ta sẽ cùng đi với ngươi, làm Thượng Đế ngươi, còn ngươi sẽ làm dân ta.
LEV 26:13 Ta là Chúa và Thượng Đế ngươi, Đấng đã mang ngươi ra khỏi Ai-cập, nơi ngươi làm nô lệ. Ta đã bẻ gãy ách nặng trĩu đè trên vai ngươi và khiến ngươi bước đi hiên ngang trở lại.
LEV 26:14 Nhưng nếu ngươi không vâng lời ta và giữ các mệnh lệnh ta,
LEV 26:15 hoặc nếu ngươi xây khỏi các qui tắc và ghét bỏ các luật lệ ta, không chịu vâng theo mệnh lệnh ta, thì ngươi đã phá giao ước chúng ta.
LEV 26:16 Do đó ta sẽ làm những điều sau: Ta sẽ giáng những tai ương khủng khiếp xuống cho ngươi. Ta sẽ giáng bệnh tật và dịch hạch khiến ngươi bị mù lòa và tiêu diệt ngươi lần lần. Khi ngươi trồng trọt, đất sẽ chẳng sinh sản, kẻ thù sẽ cướp hoa lợi của ngươi.
LEV 26:17 Ta sẽ nghịch lại ngươi và kẻ thù sẽ đánh thắng ngươi. Những kẻ ghét ngươi sẽ thống trị ngươi. Ngươi sẽ chạy trốn dù không ai đuổi theo.
LEV 26:18 Nếu sau những việc đó mà ngươi vẫn cứ ương ngạnh không vâng lời ta, thì ta sẽ giáng trừng phạt tội ngươi gấp bảy lần.
LEV 26:19 Ta sẽ bẻ gãy niềm kiêu hãnh ngươi, ta sẽ khiến trời trở thành như sắt, đất trở nên như đồng.
LEV 26:20 Ngươi sẽ vất vả làm lụng mà chẳng thấy kết quả gì. Đất sẽ chẳng sinh hoa màu, cây không sinh trái.
LEV 26:21 Nếu ngươi vẫn còn chống nghịch ta, không vâng lời ta, thì ta sẽ trừng phạt ngươi nặng gấp bảy lần nữa. Ngươi càng phạm tội bao nhiêu thì trừng phạt càng nặng nề bấy nhiêu.
LEV 26:22 Ta sẽ sai thú dữ tấn công ngươi, chúng sẽ tha con cái các ngươi đi và sẽ cắn xé các gia súc ngươi. Dân số ngươi sẽ còn ít đến nỗi đường sá ngươi sẽ vắng tanh.
LEV 26:23 Nếu sau những tai hoạ đó mà ngươi vẫn chưa học được mà vẫn còn chống nghịch ta,
LEV 26:24 thì ta sẽ nghịch lại ngươi. Ta sẽ gia tăng trừng phạt ngươi gấp bảy lần nữa.
LEV 26:25 Vì ngươi đã hủy giao ước ta, nên ta sẽ trừng phạt ngươi. Ta sẽ đưa các đạo quân chống lại ngươi. Nếu ngươi đi vào các thành để ẩn núp, ta sẽ giáng bệnh tật đến trên ngươi, đến nỗi kẻ thù sẽ đánh bại ngươi.
LEV 26:26 Sẽ không có đủ thức ăn; mười người đàn bà sẽ chung nhau nướng bánh cùng một lò. Họ sẽ cân mỗi cái bánh, ngươi sẽ ăn mà vẫn đói.
LEV 26:27 Nếu ngươi vẫn không chịu nghe ta và vẫn chống nghịch ta,
LEV 26:28 thì ta sẽ nổi thịnh nộ; ta sẽ trừng phạt ngươi gấp bảy lần nữa.
LEV 26:29 Các ngươi sẽ phải ăn thịt con trai con gái mình.
LEV 26:30 Ta sẽ tàn phá các chỗ ngươi thờ thần tượng và đánh đổ các bàn thờ xông hương của ngươi. Ta sẽ chất thây chết của ngươi lên trên các thần tượng vô tri của ngươi. Ta sẽ ghét bỏ ngươi.
LEV 26:31 Ta sẽ hủy phá các thành phố ngươi và khiến các nơi thánh ngươi thành hoang địa. Ta sẽ không thèm nhậm mùi thơm từ của lễ ngươi nữa.
LEV 26:32 Ta sẽ khiến đất đai trở nên hoang tàn đến nỗi các kẻ thù đến sống trong đó cũng sẽ sửng sốt.
LEV 26:33 Ta sẽ phân tán ngươi trong các nước. Ta sẽ rút gươm ta ra giết hại các ngươi. Xứ xở ngươi sẽ trở nên hoang tàn, các thành phố ngươi hóa tiêu điều.
LEV 26:34 Khi ngươi bị bắt mang đến xứ của quân thù thì đất ngươi sẽ được nghỉ ngơi. Trong thời gian bị hoang vu là thời gian đất tha hồ được nghỉ ngơi.
LEV 26:35 Trong thời gian bị hoang vu, đất được nghỉ ngơi mà đáng lẽ ngươi phải cho nó nghỉ trong khi ngươi còn sống trong đất đó.
LEV 26:36 Những ai còn sống sót trong các ngươi sẽ mất tinh thần trong xứ của kẻ thù ngươi. Thậm chí đến chiếc lá bị gió thổi rơi cũng làm họ kinh hoàng. Họ bỏ chạy như thể bị ai lấy gươm rượt đuổi. Họ sẽ ngã té mặc dù không ai rượt đuổi.
LEV 26:37 Họ sẽ ngã chồng lên nhau như thể bị ai lấy gươm rượt đuổi mặc dù chẳng ai rượt cả. Ngươi sẽ không chống nổi kẻ thù.
LEV 26:38 Ngươi sẽ chết trong các nước ngoại quốc và bị tiêu diệt trong các nước thù nghịch.
LEV 26:39 Những kẻ sống sót sẽ mục nát trong các nước thù nghịch, vì tội mình. Họ cũng sẽ bị mục nát, vì tội lỗi của tổ tiên mình.
LEV 26:40 Có thể dân chúng sẽ xưng tội của mình và tội của tổ tiên; có thể họ sẽ nhìn nhận đã chống nghịch ta và phạm tội cùng ta,
LEV 26:41 nên ta đã nghịch lại họ, đày họ qua xứ quân thù. Nếu những dân bất vâng phục nầy ăn năn hối hận những điều mình làm và chấp nhận hình phạt của mình,
LEV 26:42 thì ta sẽ nhớ lại giao ước ta với Gia-cốp, với Y-sác, với Áp-ra-ham và ta sẽ nhớ lại xứ các ngươi.
LEV 26:43 Đất sẽ bị hoang vu vì tội của dân chúng và sẽ được nghỉ ngơi khi nằm trơ trọi không người. Sau đó những kẻ còn sống sót sẽ nhận hình phạt vì tội mình. Họ sẽ biết rằng họ bị phạt vì đã ghét luật lệ ta và không vâng giữ các qui tắc ta.
LEV 26:44 Nhưng dù quả thật như thế, ta sẽ không quay mặt khỏi họ khi họ đang sống trong đất nước của quân thù. Ta sẽ không ghét họ đến nỗi ta hoàn toàn tiêu diệt họ và hủy giao ước ta với họ, vì ta là Chúa và là Thượng Đế họ.
LEV 26:45 Vì lợi ích của họ ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với tổ tiên họ, những người mà ta từng mang ra khỏi Ai-cập để ta trở thành Thượng Đế của họ; các dân tộc khác cũng nhận thấy những điều đó. Ta là Chúa.”
LEV 26:46 Đó là những luật lệ, qui tắc và những huấn thị Chúa lập ra giữa Ngài và dân Ít-ra-en qua Mô-se trên núi Si-nai.
LEV 27:1 Chúa phán cùng Mô-se,
LEV 27:2 “Hãy nói cùng dân Ít-ra-en như sau: Khi ai hứa dâng người nào làm tôi tớ cho Chúa bằng cách trả giá tương đương với trị giá của người đó,
LEV 27:3 thì giá của một người đàn ông từ hai mươi đến sáu mươi tuổi là mười lăm lượng bạc. Ngươi phải dùng đơn vị trọng lượng của Nơi Thánh mà định.
LEV 27:4 Giá của một người đàn bà từ hai mươi đến sáu mươi tuổi là chín lượng bạc.
LEV 27:5 Giá của một người nam từ năm đến hai mươi tuổi là sáu lượng; người nữ là ba lượng bạc.
LEV 27:6 Giá của một em bé trai từ một tháng đến năm tuổi là mười lăm chỉ; của một bé gái là chín chỉ.
LEV 27:7 Giá của một người đàn ông sáu mươi tuổi trở lên là bốn mươi lăm chỉ bạc; giá của người đàn bà ba lượng.
LEV 27:8 Nếu ai nghèo quá không trả nổi giá đó thì mang người ấy đến để thầy tế lễ định giá. Thầy tế lễ sẽ ấn định giá mà người khấn hứa có thể trả nổi.
LEV 27:9 Vài loại súc vật có thể dâng làm của lễ hi sinh cho Chúa. Nếu ai hứa nguyện mang một trong các con vật đó đến cho Chúa thì con vật sẽ trở nên thánh.
LEV 27:10 Người đó không được phép đánh đổi nó cho con vật khác, đổi con tốt cho con xấu hay con xấu cho con tốt. Nếu làm như thế thì cả hai con vật đều trở nên thánh hết.
LEV 27:11 Nếu ai dâng con vật không tinh sạch làm của lễ thì phải mang nó đến cho thầy tế lễ.
LEV 27:12 Thầy tế lễ sẽ định giá con vật, tùy tình trạng xấu hay tốt; thầy tế lễ định giá bao nhiêu, thì đó là giá trị của con vật.
LEV 27:13 Nếu người nào muốn chuộc con vật thì phải trả thêm một phần năm trị giá con vật.
LEV 27:14 Nếu ai muốn dâng biệt riêng ra thánh một căn nhà cho Chúa thì thầy tế lễ sẽ định giá trị căn nhà đó tùy tình trạng xấu tốt; thầy tế lễ định bao nhiêu thì đó sẽ là trị giá căn nhà.
LEV 27:15 Nếu người dâng nhà muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm trị giá. Sau đó căn nhà sẽ lại thuộc về người ấy.
LEV 27:16 Nếu ai dâng tài sản gia đình cho Chúa thì giá trị của miếng ruộng sẽ tùy thuộc vào số lượng hột giống cần có để gieo trên miếng đất đó. Sáu hộc hột giống lúa mạch trị giá một cân một phần tư bạc.
LEV 27:17 Nếu người dâng đám ruộng vào năm Hoan hỉ thì giá trị thửa ruộng đó sẽ theo giá mà thầy tế lễ ấn định.
LEV 27:18 Nhưng nếu người dâng ruộng sau năm Hoan hỉ thì thầy tế lễ phải ấn định giá chính xác tính từ năm đó cho đến năm Hoan hỉ kế tiếp. Rồi người sẽ khấu trừ số năm đó vào trị giá miếng đất.
LEV 27:19 Nếu người nào muốn chuộc lại thửa ruộng thì phải trả thêm một phần năm trị giá. Rồi thửa ruộng sẽ trở về nguyên chủ.
LEV 27:20 Nếu người không muốn chuộc lại thửa ruộng hay nếu thửa ruộng đã được bán cho người khác thì chủ cũ không thể chuộc lại được.
LEV 27:21 Khi thửa ruộng được giải tỏa trong năm Hoan hỉ thì nó sẽ trở nên thánh cho Chúa, giống như đất đã được dâng hiến đặc biệt cho Ngài. Nó sẽ trở thành tài sản của thầy tế lễ.
LEV 27:22 Nếu ai dâng cho Chúa ruộng mà mình đã mua, nghĩa là ruộng không thuộc về tài sản gia đình mình,
LEV 27:23 thì thầy tế lễ phải tính số năm cho đến năm Hoan hỉ kế tiếp. Người sẽ ấn định trị giá cho thửa ruộng, và giá đó phải được thanh toán trong ngày. Miếng ruộng sẽ trở nên thánh cho Chúa.
LEV 27:24 Đến năm Hoan hỉ ruộng đó sẽ trở về nguyên chủ tức trở về với gia đình đã bán ruộng.
LEV 27:25 Ngươi phải dùng trái cân Nơi Thánh để ấn định các giá phải trả; mỗi trái cân nặng hai phần năm lượng.
LEV 27:26 Con vật đầu lòng thì xem như thuộc về Chúa rồi, cho nên không ai có thể dâng nó lần nữa. Nếu là bò cái hay chiên thì chúng nó thuộc về Chúa.
LEV 27:27 Nếu con vật không tinh sạch thì người đó phải chuộc lại con vật theo trị giá do thầy tế lễ ấn định cộng thêm một phần năm. Nếu không ai chuộc con vật thì thầy tế lễ sẽ bán nó theo trị giá người đã ấn định.
LEV 27:28 Có những của lễ đặc biệt mà người ta dành riêng cho Chúa chẳng hạn như người, gia súc, hay đám ruộng thuộc về tài sản gia đình. Loại của lễ đó không thể chuộc hay bán lại. Bất cứ của lễ dâng hiến đặc biệt nào đều cũng trở thành rất thánh cho Chúa.
LEV 27:29 Nếu ai bị kết án tử hình thì không thể chuộc lại, người ấy phải chết.
LEV 27:30 Một phần mười mùa màng thuộc về Chúa kể cả các hoa lợi trong đồng ruộng hay các trái cây. Phần mười đó là thánh cho Chúa.
LEV 27:31 Nếu người nào muốn chuộc lại khoản phần mười đó thì phải cộng thêm một phần năm vào trị giá.
LEV 27:32 Thầy tế lễ sẽ chọn mỗi con súc vật thứ mười trong bầy, và biệt chúng riêng ra thánh cho Chúa.
LEV 27:33 Chủ nhân không thể lựa con tốt từ những con xấu để đánh đổi. Nếu làm như thế thì cả hai con vật đều trở nên thánh; các con vật đó không thể chuộc lại được.”
LEV 27:34 Trên đây là những mệnh lệnh mà Chúa truyền cho Mô-se trên núi Si-nai để thông báo lại cho dân Ít-ra-en.
NUM 1:1 CHÚA nói với Mô-se trong Lều Họp ở sa mạc Si-nai. Đó là ngày đầu tiên của tháng thứ nhì năm thứ hai sau khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Ngài bảo Mô-se:
NUM 1:2 “Con và A-rôn phải kiểm kê và lập danh sách tất cả các trưởng tộc và trưởng gia đình trong dân Ít-ra-en.
NUM 1:3 Con và A-rôn phải kiểm kê và lập danh sách, thành từng đơn vị, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, là những người sẽ phục vụ trong quân ngũ Ít-ra-en.
NUM 1:4 Các trưởng chi tộc, trưởng gia đình sẽ giúp đỡ con.
NUM 1:5 Sau đây là tên những người sẽ giúp con: chi tộc Ru-bên: Ê-li-sua, con Sê-đơ;
NUM 1:6 chi tộc Xi-mê-ôn: Sê-lu-miên, con Xu-ri-xa-đai;
NUM 1:7 chi tộc Giu-đa: Na-sôn, con Am-mi Na-đáp;
NUM 1:8 chi tộc Y-xa-ca: Nê-tha-nên, con Xu-a;
NUM 1:9 chi tộc Xê-bu-lôn: Ê-li-áp, con Hê-lôn;
NUM 1:10 chi tộc Ép-ra-im, con Giô-xép: Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút; chi tộc Ma-na-xe, con Giô-xép: Ga-ma-li-ên, con Bê-đa-xua;
NUM 1:11 chi tộc Bên-gia-min: A-bi-đan, con Ghi-đê-ôn-ni;
NUM 1:12 chi tộc Đan: A-hi-ê-xe, con Am-mi-sa-đai;
NUM 1:13 chi tộc A-se: Ba-ghi-ên, con Óc-ran;
NUM 1:14 chi tộc Gát: Ê-li-a-sáp, con Đêu-ên;
NUM 1:15 chi tộc Nép-ta-li: A-hi-ra, con Ê-nan.”
NUM 1:16 Đó là những người được chọn từ trong dân chúng để lãnh đạo chi tộc mình, và các trưởng dòng họ Ít-ra-en.
NUM 1:17 Mô-se và A-rôn dùng những người đã được chọn,
NUM 1:18 triệu tập toàn dân Ít-ra-en vào ngày đầu tháng hai. Mọi người được kiểm kê theo gia đình và dòng họ, còn các đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên được kiểm kê theo tên.
NUM 1:19 Mô-se làm y theo điều CHÚA căn dặn và kiểm kê mọi người đang khi họ ở trong sa mạc Si-nai.
NUM 1:20 Chi tộc Ru-bên, con trưởng nam của Ít-ra-en, được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:21 Chi tộc Ru-bên tổng cộng 46.500 đàn ông.
NUM 1:22 Chi tộc Xi-mê-ôn được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:23 Chi tộc Xi-mê-ôn tổng cộng 59.300 đàn ông.
NUM 1:24 Chi tộc Gát được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:25 Chi tộc Gát tổng cộng 45.650 đàn ông.
NUM 1:26 Chi tộc Giu-đa được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:27 Chi tộc Giu-đa tổng cộng 74.600 đàn ông.
NUM 1:28 Chi tộc Y-xa-ca được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:29 Chi tộc Y-xa-ca tổng cộng 54.400 đàn ông.
NUM 1:30 Chi tộc Xê-bu-lôn được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:31 Chi tộc Xê-bu-lôn tổng cộng 57.400 đàn ông.
NUM 1:32 Chi tộc Ép-ra-im, con Giô-xép, được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên có thể phục vụ trong quân ngũ được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:33 Chi tộc Ép-ra-im tổng cộng 40.500 đàn ông.
NUM 1:34 Chi tộc Ma-na-xe, cũng là con Giô-xép, được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:35 Chi tộc Ma-na-xe tổng cộng 32.200 đàn ông.
NUM 1:36 Chi tộc Bên-gia-min được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:37 Chi tộc Bên-gia-min tổng cộng 35.400 đàn ông.
NUM 1:38 Chi tộc Đan được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:39 Chi tộc Đan tổng cộng 62.700 đàn ông.
NUM 1:40 Chi tộc A-se được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:41 Chi tộc A-se tổng cộng 41.500 đàn ông.
NUM 1:42 Chi tộc Nép-ta-li được kiểm kê; tất cả những đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo tên cùng với gia đình và dòng họ từng người.
NUM 1:43 Chi tộc Nép-ta-li tổng cộng 53.400 đàn ông.
NUM 1:44 Mô-se, A-rôn và mười hai lãnh tụ Ít-ra-en, mỗi chi tộc một người, kiểm kê họ.
NUM 1:45 Mỗi người đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, có thể phục vụ trong quân ngũ, được kiểm kê theo gia đình.
NUM 1:46 Tổng số đàn ông là 603.550 người.
NUM 1:47 Các gia đình thuộc chi tộc Lê-vi không được liệt kê với các gia đình khác vì
NUM 1:48 CHÚA đã dặn Mô-se:
NUM 1:49 “Đừng kiểm kê chi tộc Lê-vi hay tính chung họ với các người Ít-ra-en khác.
NUM 1:50 Nhưng hãy giao cho người Lê-vi nhiệm vụ chăm sóc Lều Thánh của Giao Ước và tất cả đồ phụ tùng. Họ phải mang Lều Thánh và mọi đồ phụ tùng, phải chăm sóc Lều và dựng trại quanh Lều Thánh.
NUM 1:51 Mỗi khi Lều Thánh di chuyển thì người Lê-vi phải tháo gỡ ra, và khi dựng Lều Thánh lên thì người Lê-vi phải lo việc đó. Ngoài họ ra, ai đến gần Lều Thánh sẽ bị xử tử.
NUM 1:52 Dân Ít-ra-en phải dựng trại theo từng đơn vị, mỗi gia đình dựng trại gần đơn vị ấy.
NUM 1:53 Nhưng người Lê-vi phải dựng trại quanh Lều Thánh của Giao Ước để ta không nổi giận cùng dân Ít-ra-en. Người Lê-vi phải chăm sóc Lều Thánh của Giao Ước.”
NUM 1:54 Vậy dân Ít-ra-en làm mọi điều y theo CHÚA truyền dặn Mô-se.
NUM 2:1 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn:
NUM 2:2 “Dân Ít-ra-en phải dựng trại quanh Lều Thánh, nhưng phải chừa một khoảng cách. Họ phải dựng trại theo đơn vị và dưới cờ hiệu của chi tộc họ.”
NUM 2:3 Doanh trại của Giu-đa sẽ nằm về hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, họ phải dựng trại theo từng đơn vị, dưới cờ hiệu của mình. Lãnh tụ của dân Giu-đa là Na-sôn, con Am-mi Na-đáp.
NUM 2:4 Quân số của ông tổng cộng 74.600 người.
NUM 2:5 Kế họ là doanh trại của Y-xa-ca. Lãnh tụ của người Y-xa-ca là Nê-tha-nên, con Xu-a.
NUM 2:6 Quân số của ông tổng cộng 54.400 người.
NUM 2:7 Kế họ là doanh trại Xê-bu-lôn. Lãnh tụ của Xê-bu-lôn là Ê-li-áp, con Hê-lôn.
NUM 2:8 Quân số của ông tổng cộng 57.400 người.
NUM 2:9 Có tổng cộng 186.400 người trong doanh trại Giu-đa và các doanh trại lân cận, tính tất cả các đơn vị. Họ sẽ là toán đầu tiên xuất hành ra khỏi doanh trại.
NUM 2:10 Các đơn vị của doanh trại Ru-bên nằm về phía nam, dựng trại ngay dưới cờ hiệu của chi tộc mình. Lãnh tụ của người Ru-bên là Ê-li-xua, con Sê-đơ.
NUM 2:11 Quân số của ông có tất cả 46.500 người.
NUM 2:12 Kế họ là doanh trại của chi tộc Xi-mê-ôn. Lãnh tụ của người Xi-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên, con Xu-ri-sa-đai.
NUM 2:13 Có tất cả 59.300 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:14 Kế họ là chi tộc Gát. Lãnh tụ của người Gát là Ê-li-a-sáp con Đêu-ên.
NUM 2:15 Có tất cả 45.650 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:16 Tổng cộng có tất cả 151.450 trong doanh trại Ru-bên và các doanh trại kế cận, gồm chung các sư đoàn. Họ sẽ là toán thứ hai sẵn sàng xuất hành khỏi doanh trại.
NUM 2:17 Khi người Lê-vi khởi hành ra đi cùng với Lều Thánh, họ sẽ đi giữa các doanh trại khác. Các chi tộc sẽ khởi hành theo thứ tự dựng trại, mỗi chi tộc đi theo vị trí dưới cờ hiệu của mình.
NUM 2:18 Các sư đoàn của doanh trại Ép-ra-im sẽ nằm về phía tây, đóng trại dưới lá cờ của mình. Lãnh tụ của người Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút.
NUM 2:19 Có tất cả 40.500 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:20 Kế họ là doanh trại của Ma-na-xe. Lãnh tụ người Ma-na-xe là Ga-ma-li-ên, con Bê-đa-xua.
NUM 2:21 Có tất cả 32.200 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:22 Kế họ là chi tộc Bên-gia-min. Lãnh tụ người Bên-gia-min là A-bi-đan, con Ghi-đê-ô-ni.
NUM 2:23 Có tất cả 35.400 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:24 Tổng cộng có tất cả 108.100 người trong doanh trại Ép-ra-im và các trại kế cận, gồm chung tất cả các đơn vị. Họ sẽ là toán thứ ba khởi hành ra khỏi doanh trại.
NUM 2:25 Các đơn vị của chi tộc Đan sẽ nằm về phía bắc, nơi họ đóng trại dưới cờ hiệu mình. Lãnh tụ của người Đan là A-hi-ê-xe, con Am-mi-sa-đai.
NUM 2:26 Có tất cả 62.700 người đàn ông thuộc sư đoàn của ông.
NUM 2:27 Kế họ là doanh trại của chi tộc A-se. Lãnh tụ của người A-se là Ba-ghi-ên, con Óc-ran.
NUM 2:28 Có tất cả 41.500 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:29 Kế đó là chi tộc Nép-ta-li. Lãnh tụ của người Nép-ta-li là A-hi-ra, con Ê-nan.
NUM 2:30 Có tất cả 53.400 người thuộc quân số của ông.
NUM 2:31 Có tất cả 157.600 người trong trại quân Đan và các trại quân tiếp cận. Họ sẽ là toán cuối cùng khởi hành ra khỏi doanh trại, và đi dưới cờ hiệu của mình.
NUM 2:32 Đó là những người Ít-ra-en được kiểm kê theo gia đình. Tổng số người Ít-ra-en trong các doanh trại, tính theo các đơn vị, là 603.550 người.
NUM 2:33 Mô-se vâng lời CHÚA nên không kiểm kê người Lê-vi vào số những người Ít-ra-en khác.
NUM 2:34 Vậy người Ít-ra-en vâng theo những gì CHÚA truyền dặn Mô-se. Họ dựng trại dưới cờ hiệu của mình và đi ra theo gia đình và chi tộc.
NUM 3:1 Sau đây là gia phổ của A-rôn và Mô-se lúc CHÚA nói chuyện với Mô-se trên núi Si-nai.
NUM 3:2 Các con trai của A-rôn là: Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
NUM 3:3 Đó là tên các con trai A-rôn được bổ nhiệm làm thầy tế lễ.
NUM 3:4 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết trước mặt CHÚA, vì dâng một thứ lửa không đúng trước mặt CHÚA trong sa mạc Si-nai. Hai người đó không có con trai nên Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm thầy tế lễ trong suốt thời gian A-rôn, cha mình, còn sống.
NUM 3:5 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 3:6 “Hãy đưa chi tộc Lê-vi đến trình diện A-rôn, thầy tế lễ, để giúp người.
NUM 3:7 Họ sẽ giúp người và phục vụ tất cả dân Ít-ra-en ở Lều Họp, làm công tác trong Lều Thánh.
NUM 3:8 Người Lê-vi phải chăm sóc mọi việc trong Lều Họp và phục vụ dân Ít-ra-en trong mọi công tác nơi Lều Thánh.
NUM 3:9 Hãy giao người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người. Trong vòng dân Ít-ra-en thì người Lê-vi được giao phó hoàn toàn cho A-rôn.
NUM 3:10 Hãy tấn phong cho A-rôn và các con trai người làm thầy tế lễ; kẻ khác đến gần những vật thánh sẽ bị xử tử.”
NUM 3:11 CHÚA cũng bảo Mô-se,
NUM 3:12 “Ta chọn người Lê-vi từ trong dân Ít-ra-en để thay cho các con đầu lòng của Ít-ra-en. Người Lê-vi sẽ thuộc về ta,
NUM 3:13 vì các con đầu lòng là của ta. Khi các ngươi còn ở Ai-cập, ta giết tất cả các con đầu lòng của người Ai-cập và chọn các con đầu lòng của dân Ít-ra-en làm của riêng ta, từ súc vật cho đến người. Chúng nó thuộc về ta. Ta là CHÚA.”
NUM 3:14 CHÚA lại bảo Mô-se trong sa mạc Si-nai,
NUM 3:15 “Hãy kiểm kê người Lê-vi theo gia đình và tiểu tộc. Kiểm kê mọi người nam tuổi từ một tháng trở lên.”
NUM 3:16 Nên Mô-se vâng lời CHÚA và kiểm kê tất cả.
NUM 3:17 Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Cô-hát và Mê-ra-ri.
NUM 3:18 Các con trai Ghẹt-sôn là Líp-ni và Si-mê-i.
NUM 3:19 Các con trai Cô-hát là Am-ram, Y-xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
NUM 3:20 Các con trai Mê-ra-ri là Ma-li và Mu-si. Sau đây là các con trai thuộc chi tộc Lê-vi, liệt kê theo gia tộc.
NUM 3:21 Con cháu của Líp-ni và Si-mê-i là thuộc về Ghẹt-sôn; tức thuộc dòng họ Ghẹt-sôn.
NUM 3:22 Tổng số người nam tuổi từ một tháng trở lên kiểm kê được là 7.500 người.
NUM 3:23 Dòng họ Ghẹt-sôn dựng trại về phía tây, ngay phía sau Lều Thánh.
NUM 3:24 Trưởng tộc của dòng họ Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con La-ên.
NUM 3:25 Trong Lều Họp, người Ghẹt-sôn chịu trách nhiệm về Lều Thánh, tấm phủ lều, màn nơi cửa vào Lều Họp,
NUM 3:26 các bức màn nơi sân họp, màn nơi cửa vào sân họp quanh Lều Thánh và bàn thờ, các dây thừng, và mọi công tác liên quan đến những vật ấy.
NUM 3:27 Các con cháu Am-ram, Y-xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên là thuộc về Cô-hát; họ là dòng họ Cô-hát.
NUM 3:28 Dòng này có 8.600 người nam tuổi từ một tháng trở lên. Họ chịu trách nhiệm Nơi Thánh.
NUM 3:29 Các con cháu Cô-hát dựng trại về phía nam của Lều Thánh.
NUM 3:30 Tộc trưởng của các con cháu Cô-hát là Ê-li-xa-phan, con U-xi-ên.
NUM 3:31 Họ chịu trách nhiệm về Rương, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, các dụng cụ trong Nơi Thánh, bức màn, và mọi công tác liên quan đến các vật dụng đó.
NUM 3:32 Tộc trưởng chính của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con A-rôn, thầy tế lễ. Ông là người chịu trách nhiệm về Nơi Thánh.
NUM 3:33 Các con cháu của Ma-li và Mu-si đều thuộc về Mê-ra-ri; đây là dòng họ Mê-ra-ri.
NUM 3:34 Mọi người nam, tuổi từ một tháng trở lên, được kiểm kê là 6.200 người.
NUM 3:35 Tộc trưởng của các dòng họ Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con A-bi-hai. Họ dựng trại về phía bắc của Lều Thánh.
NUM 3:36 Người Mê-ra-ri chịu trách nhiệm về các khung của Lều Thánh, các dây chằng, các cột, đế, và mọi công tác liên quan đến những vật dụng ấy.
NUM 3:37 Họ cũng chịu trách nhiệm về các cột trong sân họp quanh Lều Thánh và các đế, các cọc lều và dây thừng.
NUM 3:38 Mô-se, A-rôn và các con trai ông dựng trại về phía đông của Lều Thánh, hướng mặt trời mọc, ngay trước Lều Họp. Họ chịu trách nhiệm về Nơi Thánh cho cả dân Ít-ra-en. Mọi kẻ khác lảng vảng gần Nơi Thánh sẽ bị xử tử.
NUM 3:39 Mô-se và A-rôn kiểm kê người Lê-vi theo từng dòng họ, như CHÚA đã truyền dặn. Có tất cả 22.000 người nam tuổi từ một tháng trở lên.
NUM 3:40 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy kiểm kê các con trai đầu lòng trong Ít-ra-en từ một tháng trở lên, lập thành danh sách.
NUM 3:41 Hãy chọn cho ta người Lê-vi để thay thế các con trai đầu lòng của Ít-ra-en; chọn các súc vật của người Lê-vi thay thế các súc vật đầu lòng của dân Ít-ra-en. Ta là CHÚA.”
NUM 3:42 Vậy Mô-se làm theo điều CHÚA truyền dặn và kiểm kê tất cả con trai đầu lòng của dân Ít-ra-en.
NUM 3:43 Khi ông tổng kết tất cả các con trai đầu lòng tuổi từ một tháng trở lên thì được 22.273 người.
NUM 3:44 CHÚA cũng bảo Mô-se,
NUM 3:45 “Hãy chọn cho ta người Lê-vi để thay thế các con trai đầu lòng của Ít-ra-en; chọn các súc vật của người Lê-vi để thay thế các súc vật đầu lòng của dân Ít-ra-en. Người Lê-vi thuộc về ta. Ta là CHÚA.
NUM 3:46 Vì số các con trai đầu lòng của dân Ít-ra-en nhiều hơn số người Lê-vi là 273,
NUM 3:47 nên hãy thu hai lượng bạc từ mỗi người trong số 273 con trai đầu lòng đó. Dùng đơn vị trọng lượng Nơi Thánh tức khoảng hai phần năm lượng để cân.
NUM 3:48 Giao bạc đó cho A-rôn và các con trai người, xem như tiền để chuộc 273 người Ít-ra-en.”
NUM 3:49 Vậy Mô-se thu tiền chuộc của số người mà người Lê-vi không đủ để thay thế.
NUM 3:50 Từ các con đầu lòng của Ít-ra-en ông thâu được ba mươi lăm cân bạc, dùng cân Nơi Thánh.
NUM 3:51 Mô-se vâng lệnh CHÚA giao số bạc đó cho A-rôn và các con trai người.
NUM 4:1 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
NUM 4:2 “Hãy kiểm kê con cháu Cô-hát trong vòng người Lê-vi, theo dòng họ và gia đình.
NUM 4:3 Kiểm kê các đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi có thể phục vụ trong Lều Họp.
NUM 4:4 Con cháu Cô-hát chịu trách nhiệm về những vật chí thánh trong Lều Họp.
NUM 4:5 Khi dân Ít-ra-en sắp di chuyển thì A-rôn và các con trai người phải đi vào Lều Thánh, tháo gỡ bức màn rồi dùng màn đó bọc Rương Giao Ước.
NUM 4:6 Lấy một miếng phủ làm bằng da tốt bọc lại, trải tấm vải xanh lên, rồi xỏ các đòn khiêng vào.
NUM 4:7 Họ cũng phải phủ tấm vải xanh trên bàn để bánh thánh. Họ phải để các mâm, nồi, chén, và chai đựng của lễ uống trên bàn; họ phải thường xuyên để Bánh Thánh nguyên như thế ở trên bàn.
NUM 4:8 Sau đó họ phải phủ một tấm vải đỏ lên các vật đó, trùm tất cả bằng một tấm da tốt, rồi xỏ các đòn khiêng vào.
NUM 4:9 Họ phải dùng một tấm vải xanh phủ chân đèn, các đèn, dụng cụ hớt tim đèn, các khay, và các bình đựng dầu thắp đèn.
NUM 4:10 Sau đó phải dùng tấm da tốt gói các thứ đó lại, đặt trên khung để khiêng.
NUM 4:11 Họ phải trải một tấm vải xanh lên bàn thờ bằng vàng, phủ lên trên bằng một tấm da tốt, rồi xỏ đòn khiêng vào.
NUM 4:12 Họ phải gom tất cả những đồ dùng trong Nơi Thánh, gói trong một tấm vải xanh, rồi bọc lại bằng một tấm da tốt, xong đặt lên khung để khiêng.
NUM 4:13 Họ phải rửa bàn thờ đồng cho thật sạch tro, xong trùm một tấm vải tím lên.
NUM 4:14 Họ phải gom tất cả các đồ dùng cho bàn thờ, chảo đựng than, nĩa để xiên thịt, xẻng, và chậu. Đặt tất cả những thứ đó lên bàn thờ đồng. Xong, lấy tấm da tốt trùm lên, rồi xỏ đòn khiêng vào.
NUM 4:15 Khi dân Ít-ra-en sẵn sàng lên đường và sau khi A-rôn cùng các con trai người đã đậy khu vực thánh và các vật thánh rồi, thì con cháu Cô-hát vào khiêng đi. Như thế họ sẽ không đụng đến các vật thánh và khỏi chết. Nhiệm vụ của con cháu Cô-hát là khiêng các vật dụng trong Lều Họp.
NUM 4:16 Ê-lê-a-sa, con A-rôn, thầy tế lễ, sẽ chịu trách nhiệm về Lều Thánh và các vật dụng trong đó cùng những đồ dùng thánh như: dầu thắp đèn, trầm hương, của lễ chay thường xuyên, dầu dùng tấn phong các thầy tế lễ và đồ dùng cho công việc CHÚA.”
NUM 4:17 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
NUM 4:18 “Đừng để con cháu Cô-hát bị cắt đứt khỏi người Lê-vi.
NUM 4:19 Hãy làm như sau cho người Cô-hát để họ có thể đến gần Nơi Chí Thánh và khỏi chết khi họ đụng đến các vật thánh: A-rôn và các con trai người phải đích thân vào, chỉ cho mỗi người Cô-hát những gì phải làm và những gì phải mang đi.
NUM 4:20 Người Cô-hát không được phép vào nhìn các vật thánh dù chỉ trong chớp mắt, nếu không họ sẽ chết.”
NUM 4:21 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 4:22 “Hãy kiểm kê con cháu Ghẹt-sôn theo các gia tộc và dòng họ.
NUM 4:23 Kiểm kê các đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi có nhiệm vụ trong Lều Họp.
NUM 4:24 Sau đây là những gì dòng họ Ghẹt-sôn phải làm và những gì phải khuân vác.
NUM 4:25 Họ phải khiêng các bức màn của Lều Thánh, Lều Họp, tấm vải che, tấm da bọc ngoài. Họ cũng phải khiêng các bức màn của cửa vào Lều Họp,
NUM 4:26 các bức màn của sân họp quanh Lều Thánh và bàn thờ, bức màn nơi cửa vào sân họp, các dây thừng và mọi dụng cụ dùng cho màn. Họ phải làm mọi việc liên quan đến những vật đó.
NUM 4:27 A-rôn và các con trai ông sẽ chỉ bảo và chịu trách nhiệm về những gì người Ghẹt-sôn làm và khiêng đi.
NUM 4:28 Đó là nhiệm vụ của gia đình Ghẹt-sôn nơi Lều Họp. Y-tha-ma, con A-rôn, thầy tế lễ, sẽ giám sát công việc của họ.
NUM 4:29 Hãy kiểm kê các gia đình và dòng họ Mê-ra-ri.
NUM 4:30 Kiểm kê các đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi có nhiệm vụ trong Lều Họp.
NUM 4:31 Họ có nhiệm vụ khuân vác những vật dụng sau đây khi phục vụ trong Lều Họp: các khung của Lều Thánh, các đòn ngang, cột, đế,
NUM 4:32 ngoài các cột quanh sân họp, đế, cọc lều, dây thừng, và mọi vật phụ tùng đi với các cột quanh sân họp. Hãy chỉ cho mỗi người biết đích xác những gì họ phải khiêng.
NUM 4:33 Đó là công việc của dòng họ Mê-ra-ri trong Lều Họp. Y-tha-ma, con A-rôn, thầy tế lễ, sẽ giám sát nhiệm vụ của họ.”
NUM 4:34 Mô-se, A-rôn, và các lãnh tụ của Ít-ra-en kiểm kê con cháu Cô-hát theo gia đình và dòng họ,
NUM 4:35 cùng những đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi đủ sức phục vụ trong Lều Họp.
NUM 4:36 Có 2.750 đàn ông trong các dòng họ.
NUM 4:37 Đó là tổng số người thuộc dòng họ Cô-hát phục vụ trong Lều Họp mà Mô-se và A-rôn đã kiểm kê theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 4:38 Ngoài ra các con cháu Ghẹt-sôn cũng được kiểm kê theo gia đình và dòng họ,
NUM 4:39 tất cả những đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi được giao nhiệm vụ trong Lều Họp.
NUM 4:40 Có 2.630 người đàn ông trong các gia đình và dòng họ.
NUM 4:41 Đó là tổng số người trong dòng họ Ghẹt-sôn phục vụ trong Lều Họp mà Mô-se và A-rôn đã kiểm kê theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 4:42 Ngoài ra các đàn ông trong các gia đình và dòng họ Mê-ra-ri được kiểm kê,
NUM 4:43 những đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi phục vụ trong Lều Họp.
NUM 4:44 Các dòng họ có 3.200 đàn ông.
NUM 4:45 Đó là tổng số người trong dòng họ Mê-ra-ri mà Mô-se và A-rôn đã kiểm kê theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 4:46 Vậy Mô-se, A-rôn và các lãnh tụ Ít-ra-en kiểm kê tất cả người Lê-vi theo gia đình và dòng họ.
NUM 4:47 Họ kiểm kê các đàn ông từ ba mươi đến năm mươi tuổi được giao công tác trong Lều Họp và có nhiệm vụ khuân vác lều.
NUM 4:48 Tổng số đàn ông là 8.580 người.
NUM 4:49 Mỗi người được kiểm kê theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se; mỗi người được giao nhiệm vụ và được chỉ dẫn những vật dụng phải khuân vác theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 5:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 5:2 “Hãy ra lệnh cho dân Ít-ra-en đuổi khỏi doanh trại những ai mắc bệnh ngoài da có hại. Hãy đuổi những ai bị ra máu mủ hay bị ô dơ vì đụng vào xác chết.
NUM 5:3 Đuổi đàn ông lẫn đàn bà ô dơ ra khỏi doanh trại, vì đó là nơi ta ở với các ngươi.”
NUM 5:4 Vậy dân Ít-ra-en vâng lời CHÚA, đuổi những người đó ra khỏi doanh trại. Họ làm theo như CHÚA dặn Mô-se.
NUM 5:5 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 5:6 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Khi ai phạm lỗi cùng người khác, tức là phạm tội cùng CHÚA. Đó là người có tội.
NUM 5:7 Người ấy phải xưng nhận lỗi lầm đã làm. Người đó phải đền bù đầy đủ lầm lỗi mình, cộng thêm một phần năm và trao vật đền bù đó cho bên bị thiệt hại.
NUM 5:8 Nhưng nếu bên kia qua đời mà không có thân nhân gần để nhận vật bồi thường, thì người phạm lỗi xem như mắc nợ CHÚA và phải trả cho thầy tế lễ. Ngoài ra, thầy tế lễ phải dâng một con chiên đực, dùng để chuộc lỗi cho người ấy.
NUM 5:9 Khi một người Ít-ra-en mang lễ vật thánh đến cho thầy tế lễ, thì món ấy sẽ thuộc về thầy tế lễ.
NUM 5:10 Không ai buộc phải mang đến lễ vật thánh, nhưng nếu ai mang đến thì món ấy thuộc về thầy tế lễ.”
NUM 5:11 Sau đó CHÚA bảo Mô-se,
NUM 5:12 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Khi một người vợ làm chuyện bất chính,
NUM 5:13 ngoại tình với người đàn ông khác, mà giấu kín được chuyện bậy bạ đó, và người chồng không hay biết, thì nàng có thể không bị bắt vì không ai thấy.
NUM 5:14 Nhưng nếu người chồng tỏ dấu ghen tương và nghi vợ mình ngoại tình, thì dù đúng hay sai đi nữa,
NUM 5:15 người chồng phải đưa nàng đến thầy tế lễ. Anh ta phải mang theo hai lít bột lúa mạch để làm của lễ cho nàng. Không được đổ dầu hay trầm hương lên bột vì đó là của lễ chay vì ghen tương, một của lễ tưởng nhớ dùng để xem nàng có tội hay không.
NUM 5:16 Thầy tế lễ sẽ đưa nàng vào bắt đứng trước mặt CHÚA.
NUM 5:17 Thầy tế lễ sẽ lấy một ít nước thánh trong lu đất rồi lấy ít đất của nền Lều Thánh bỏ vào nước.
NUM 5:18 Thầy tế lễ sẽ bảo nàng đứng trước mặt CHÚA rồi xõa tóc nàng ra. Ông sẽ trao cho nàng của lễ tưởng nhớ tức của lễ chay vì ghen tương; ông sẽ cầm nước đắng mang nguyền rủa.
NUM 5:19 Thầy tế lễ sẽ bảo nàng thề và hỏi rằng, ‘Có người đàn ông nào ngoại tình với chị không? Chị có làm chuyện bất chính đối với chồng chị không? Nếu không thì nước đắng mang nguyền rủa nầy sẽ không làm hại chị.
NUM 5:20 Nhưng nếu chị đã làm chuyện bất chính đối với chồng, đã dan díu với một người đàn ông khác ngoài chồng mình,
NUM 5:21 thì sự nguyền rủa mà lời thề mang lại sẽ đặt trên thân thể chị. CHÚA sẽ khiến dân chúng nguyền rủa và từ bỏ chị. Ngài sẽ làm cho bụng chị phình ra và Ngài sẽ khiến chị không sinh sản được.
NUM 5:22 Nước đắng mang nguyền rủa nầy sẽ vào bụng chị khiến thân thể chị không sinh sản được nữa.’ Người đàn bà phải nói, ‘Tôi đồng ý.’
NUM 5:23 Thầy tế lễ sẽ viết những lời nguyền rủa nầy trên một cuộn giấy, rửa các lời đó trong nước đắng,
NUM 5:24 rồi bảo người đàn bà uống nước đắng mang nguyền rủa đó để khiến nàng mắc bệnh.
NUM 5:25 Rồi thầy tế lễ sẽ lấy của lễ chay vì ghen tương khỏi tay nàng. Ông sẽ dâng của lễ đó trước mặt CHÚA và mang nó đến bàn thờ.
NUM 5:26 Sau đó ông sẽ lấy một nắm lúa tức là của lễ tưởng nhớ, thiêu trên bàn thờ. Sau đó ông sẽ bảo người đàn bà uống nước đắng
NUM 5:27 để xem thử nàng có vô tội hay đã phạm tội với chồng mình. Sau khi nước đắng vào thân thể nàng, nếu bụng nàng phình lên và không thể sinh sản được thì dân chúng sẽ từ bỏ nàng.
NUM 5:28 Nhưng nếu nàng không phạm tội, nàng sẽ trong sạch. Nàng không có lỗi gì và sẽ có thể sinh con được.
NUM 5:29 Trên đây là những huấn lệnh về sự ghen tương. Phải làm cách đó để xem người đàn bà có làm bậy và bất chính trong khi còn kết hôn với chồng mình không.
NUM 5:30 Hãy dùng cách đó khi người đàn ông ghen tương và ngờ vực vợ mình. Thầy tế lễ sẽ bảo nàng đứng trước mặt CHÚA và làm tất cả mọi điều theo như huấn lệnh.
NUM 5:31 Làm như thế để xem người chồng đúng hay sai và để cho người vợ lãnh hậu quả nếu nàng thực có làm bậy.”
NUM 6:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 6:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Nếu ai muốn hứa nguyện thuộc về CHÚA theo một cách riêng, thì những người đó được gọi là người Na-xi-rê.
NUM 6:3 Trong thời gian đó, họ không được uống rượu hay đồ uống say, hoặc giấm làm từ rượu hay đồ uống làm cho say. Họ cũng không được uống nước nho, không được ăn nho tươi hay khô nữa.
NUM 6:4 Trong khi làm người Na-xi-rê, họ không được ăn món gì làm từ nho, dù là hột hay vỏ.
NUM 6:5 Trong thời gian họ hứa nguyện thuộc về CHÚA, họ không được cắt tóc. Họ phải giữ mình cho thánh cho đến khi thời gian đặc biệt đã qua. Họ phải để tóc mọc dài.
NUM 6:6 Trong thời gian đặc biệt thuộc về CHÚA, người Na-xi-rê không được đến gần xác chết.
NUM 6:7 Dù cho cha mẹ, anh chị em ruột chết đi nữa, họ cũng không được đụng đến những người đó nếu không họ sẽ trở thành ô dơ. Vì họ là người Na-xi-rê cho Chúa.
NUM 6:8 Trong khi làm người Na-xi-rê, họ thuộc về Thượng Đế theo một cách đặc biệt.
NUM 6:9 Nếu họ ở ngay cạnh một người chết bất thình lình thì tóc họ, vốn thuộc về một phần của lời hứa nguyện, đã bị ô dơ. Cho nên bảy ngày sau họ phải cạo đầu để được tinh sạch.
NUM 6:10 Đến ngày thứ tám, họ phải mang hai con cu đất hoặc hai con bồ câu con đến cho thầy tế lễ nơi cửa Lều Họp.
NUM 6:11 Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ thiêu để chuộc tội cho họ. Họ đã phạm lỗi vì ở gần một xác chết. Cùng ngày đó họ sẽ lại hứa nguyện để tóc ra dài
NUM 6:12 và hiến mình cho CHÚA một thời gian đặc biệt nữa. Họ phải mang một con chiên con đực một tuổi làm của lễ chuộc lỗi. Những ngày đặc biệt đã qua không tính, vì họ đã trở nên ô dơ trong thời gian đặc biệt đầu tiên.
NUM 6:13 Đó là huấn thị về người Na-xi-rê. Khi thời gian hứa nguyện đã mãn, thì họ phải đến Lều Họp
NUM 6:14 dâng của lễ cho CHÚA. Họ phải dâng một chiên con đực một tuổi không tật nguyền làm của lễ thiêu, một con chiên con cái một tuổi không tật nguyền làm của lễ chuộc tội, và một con chiên đực không tật nguyền làm của lễ thân hữu.
NUM 6:15 Họ cũng phải mang của lễ chay và của lễ uống theo. Họ phải mang theo một giỏ bánh mì không men làm bằng bột mịn trộn dầu, các bánh kẹp không men tẩm dầu.
NUM 6:16 Thầy tế lễ sẽ dâng các của lễ nầy lên cho CHÚA để làm của lễ chuộc tội và của lễ thiêu.
NUM 6:17 Rồi ông sẽ giết con chiên đực làm của lễ thân hữu cho CHÚA; và đồng thời dâng giỏ bánh mì không men, của lễ chay, và của lễ uống.
NUM 6:18 Người Na-xi-rê phải đi đến cửa Lều Họp và cạo hết tóc mà họ đã để mọc trong thời gian hứa nguyện. Tóc đó sẽ được đốt trong lửa cùng với của lễ thân hữu.
NUM 6:19 Sau khi người Na-xi-rê cạo đầu, thầy tế lễ sẽ cho họ một cái vai chiên đực đã luộc. Ông cũng sẽ lấy từ giỏ bánh một ổ bánh và một bánh kẹp, cả hai đều không có men.
NUM 6:20 Rồi thầy tế lễ sẽ dâng các thứ đó lên cho CHÚA. Những món thánh đó sẽ thuộc về thầy tế lễ. Ngoài ra ông cũng sẽ dâng cái ức và cái đùi chiên đực. Sau đó người Na-xi-rê có thể uống rượu.
NUM 6:21 Trên đây là huấn thị về việc người Na-xi-rê hứa nguyện. Ai muốn dâng lời hứa nguyện làm người Na-xi-rê phải dâng các của lễ như trên cho CHÚA. Nếu họ muốn hứa thêm thì họ phải giữ lời hứa nguyện theo huấn thị dành cho người Na-xi-rê.”
NUM 6:22 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 6:23 “Hãy bảo A-rôn và các con trai người, Sau đây là cách các ngươi chúc phước dân Ít-ra-en. Hãy nói cùng họ:
NUM 6:24 Cầu xin CHÚA ban phước và gìn giữ ngươi.
NUM 6:25 Cầu xin CHÚA tỏ lòng nhân từ và bác ái đối với ngươi.
NUM 6:26 Cầu xin CHÚA chăm nom và ban bình an cho ngươi.
NUM 6:27 A-rôn và các con trai người sẽ nhân danh ta chúc phước như thế cho dân Ít-ra-en, rồi ta sẽ ban phúc lành cho họ.”
NUM 7:1 Khi Mô-se dựng xong Lều Thánh thì ông dâng trại đó cho CHÚA bằng cách xức dầu cho lều và mọi đồ dùng trong đó. Ông cũng xức dầu bàn thờ và mọi đồ dùng để chuẩn bị phục vụ CHÚA.
NUM 7:2 Rồi các trưởng tộc Ít-ra-en dâng của lễ. Đó là các trưởng gia đình, các trưởng chi tộc đã tham gia việc kiểm kê dân số.
NUM 7:3 Họ mang đến cho CHÚA sáu xe chở có mui và mười hai con bò đực để kéo xe, mỗi trưởng tộc dâng một con, và mỗi hai trưởng tộc dâng một xe chở. Họ mang tất cả đến Lều Thánh.
NUM 7:4 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 7:5 “Hãy nhận những lễ vật từ các trưởng tộc để dùng vào công tác trong Lều Họp. Hãy giao những lễ vật ấy cho người Lê-vi để họ tùy nghi sử dụng.”
NUM 7:6 Vậy Mô-se nhận những xe đẩy, các con bò đực rồi giao tất cả cho người Lê-vi.
NUM 7:7 Ông cũng giao hai xe đẩy và bốn con bò đực cho gia đình Ghẹt-sôn để họ dùng trong công tác.
NUM 7:8 Sau đó Mô-se giao bốn xe đẩy và tám con bò đực cho gia đình Mê-ra-ri để dùng trong công tác. Y-tha-ma, con trai A-rôn, thầy tế lễ, giám sát công tác chung của tất cả mọi người.
NUM 7:9 Mô-se không giao bò đực hay xe đẩy cho gia đình Cô-hát vì nhiệm vụ của họ là khuân vác những vật thánh.
NUM 7:10 Khi dầu được xức trên bàn thờ thì các lãnh tụ mang các của lễ đến để dâng vào công việc CHÚA; họ dâng các của lễ đó trước bàn thờ.
NUM 7:11 CHÚA bảo Mô-se, “Mỗi ngày, một trưởng tộc phải mang lễ vật đến để chuẩn bị bàn thờ phục vụ ta.”
NUM 7:12 Ngày đầu tiên, Na-son, con Am-mi Na-đáp mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Giu-đa.
NUM 7:13 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, và một chén bạc nặng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa bằng bạc đựng đầy một bịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:14 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:15 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi để làm của lễ thiêu;
NUM 7:16 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:17 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật Na-son, con Am-mi Na-đáp mang đến.
NUM 7:18 Ngày thứ hai, Nê-tha-nên, con Xu-a mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Y-xa-ca.
NUM 7:19 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:20 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:21 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:22 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:23 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Nê-tha-nên, con Xu-a mang đến.
NUM 7:24 Ngày thứ ba Ê-li-áp, con Hê-lôn mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Xê-bu-lôn.
NUM 7:25 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:26 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:27 Ngoài ra ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:28 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:29 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ê-li-áp, con Hê-lôn mang đến.
NUM 7:30 Ngày thứ tư Ê-li-xua, con Sê-đơ mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Ru-bên.
NUM 7:31 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu đề làm của lễ chay.
NUM 7:32 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:33 Ngoài ra ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:34 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:35 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ê-li-xua, con Sê-đơ.
NUM 7:36 Ngày thứ năm Sê-lu-mi-ên, con Xu-ri-sa đai mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Xi-mê-ôn.
NUM 7:37 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:38 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:39 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu;
NUM 7:40 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:41 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Sê-mu-li-ên, con Xu-ri-sa-đai.
NUM 7:42 Ngày thứ sáu Ê-li-a-sáp con Đêu-ên mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Gát.
NUM 7:43 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:44 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:45 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:46 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:47 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ê-li-a-sáp, con Đêu-ên.
NUM 7:48 Ngày thứ bảy Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Ép-ra-im.
NUM 7:49 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:50 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:51 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:52 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:53 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút.
NUM 7:54 Ngày thứ tám Ga-ma-li-ên, con Bê-đa-xua mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Ma-na-xe.
NUM 7:55 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:56 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:57 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:58 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:59 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ga-ma-li-ên, con Bê-đa-xua.
NUM 7:60 Ngày thứ chín A-bi-đan con Ghi-đê-ô-ni mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Bên-gia-min.
NUM 7:61 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:62 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:63 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:64 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:65 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của A-bi-đan, con Ghi-đê-ôn-ni.
NUM 7:66 Ngày thứ mười A-hi-ê-xe, con Am-mi-sa-đai mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Đan.
NUM 7:67 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:68 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:69 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:70 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:71 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của A-hi-ê-xe, con Am-mi-sa-đai.
NUM 7:72 Ngày thứ mười một Ba-ghi-ên, con của Óc-ran mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc A-se.
NUM 7:73 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:74 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:75 Ngoài ra, ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:76 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:77 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của Ba-ghi-ên, con Óc-ran.
NUM 7:78 Ngày thứ mười hai A-hi-ra con Ê-nan mang lễ vật đến. Ông là trưởng tộc của chi tộc Nép-ta-li.
NUM 7:79 Lễ vật của ông gồm một dĩa bạc nặng ba cân một phần tư, một chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư, theo cân Nơi Thánh. Chén và dĩa đựng đầy bột mịn tẩm dầu để làm của lễ chay.
NUM 7:80 Ông cũng mang đến một dĩa lớn bằng vàng, nặng khoảng bốn lượng đựng đầy trầm hương.
NUM 7:81 Ngoài ra ông cũng mang đến một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thiêu,
NUM 7:82 một con dê đực làm của lễ chuộc tội;
NUM 7:83 hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm con chiên con đực một tuổi để làm của lễ thân hữu. Đó là các lễ vật của A-hi-ra, con Ê-nan.
NUM 7:84 Còn đây là những lễ vật các trưởng tộc Ít-ra-en mang đến khi xức dầu cho bàn thờ để cung hiến vào công việc CHÚA: mười dĩa bạc, mười hai chén bạc, và mười hai dĩa vàng.
NUM 7:85 Mỗi dĩa bạc nặng khoảng ba cân một phần tư và mỗi chén bạc nặng khoảng một cân ba phần tư. Tất cả các dĩa bạc và chén bạc nặng tổng cộng khoảng sáu mươi cân theo cân Nơi Thánh.
NUM 7:86 Mười hai dĩa vàng mỗi dĩa nặng bốn lượng theo cân Nơi thánh và đựng đầy trầm hương. Tổng cộng các dĩa vàng nặng khoảng ba cân.
NUM 7:87 Tổng số súc vật dâng làm của lễ thiêu là mười hai con bò đực, mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con đực một tuổi. Ngoài ra còn có của lễ chay và mười hai con dê đực làm của lễ chuộc tội.
NUM 7:88 Tổng số các súc vật dâng làm của lễ thân hữu là hai mươi bốn con bò đực, sáu mươi chiên đực, sáu mươi dê đực, và sáu mươi chiên con đực một tuổi. Tất cả các của lễ đó dùng cho việc cung hiến bàn thờ để phục vụ CHÚA sau khi bàn thờ đã được xức dầu.
NUM 7:89 Khi Mô-se đi vào Lều Họp để nói chuyện cùng CHÚA thì ông nghe tiếng Ngài nói với mình. Tiếng đó phát ra giữa hai sinh vật có cánh bằng vàng, gắn trên nắp Rương Giao Ước. Đó là cách CHÚA nói chuyện với ông.
NUM 8:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 8:2 “Nói với A-rôn rằng: Hãy đặt bảy ngọn đèn để soi sáng phía trước chân đèn.”
NUM 8:3 A-rôn làm theo, đặt bảy ngọn đèn để soi sáng vùng phía trước chân đèn; ông vâng theo lời CHÚA truyền dặn Mô-se.
NUM 8:4 Chân đèn làm bằng vàng giát mỏng, từ đế cho đến hoa. Chân đèn được chế tạo đúng theo cách CHÚA đã chỉ Mô-se.
NUM 8:5 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 8:6 “Hãy mang người Lê-vi riêng ra khỏi những người Ít-ra-en khác, và làm sạch họ.
NUM 8:7 Phương thức làm sạch họ như sau: Rưới nước tẩy trên người họ và bảo họ cạo lông toàn thân thể, rồi giặt quần áo họ thì họ sẽ được sạch.
NUM 8:8 Họ phải mang một con bò đực tơ và của lễ chay gồm bột mịn tẩm dầu. Rồi lấy một con bò tơ đực thứ nhì làm của lễ chuộc tội.
NUM 8:9 Mang người Lê-vi đến trước Lều Họp và tập họp tất cả dân Ít-ra-en lại quanh họ.
NUM 8:10 Khi con mang người Lê-vi ra trước mặt CHÚA thì dân Ít-ra-en sẽ đặt tay trên họ.
NUM 8:11 A-rôn sẽ trình diện dân Ít-ra-en trước mặt CHÚA như một của lễ do người Ít-ra-en dâng lên. Sau đó người Lê-vi sẽ sẵn sàng lo công việc CHÚA.
NUM 8:12 Người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu hai con bò đực, một con sẽ làm của lễ chuộc tội dâng lên cho CHÚA, con kia làm của lễ thiêu, dùng gỡ tội của người Lê-vi để họ thuộc về CHÚA.
NUM 8:13 Đặt người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai người rồi dâng họ lên như một của lễ cho CHÚA.
NUM 8:14 Làm như thế để các con biệt riêng người Lê-vi ra khỏi những người Ít-ra-en khác; người Lê-vi sẽ thuộc về ta.
NUM 8:15 Hãy làm cho người Lê-vi tinh sạch và dâng họ như một của lễ, để họ đến phục vụ tại Lều Họp.
NUM 8:16 Họ sẽ được dâng hoàn toàn cho ta, biệt riêng hẳn khỏi những người Ít-ra-en khác; ta đã chọn họ cho ta, thay cho các con đầu lòng của các phụ nữ Ít-ra-en.
NUM 8:17 Tất cả các con đầu lòng trong Ít-ra-en từ người cho đến súc vật đều thuộc về ta. Khi ta giết mọi con đầu lòng trong xứ Ai-cập, ta chọn các con đầu lòng của Ít-ra-en cho ta.
NUM 8:18 Nhưng ta đã chọn người Lê-vi thay cho các con đầu lòng trong Ít-ra-en.
NUM 8:19 Từ trong cả dân Ít-ra-en, ta đã giao người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người, để họ phục vụ toàn dân Ít-ra-en trong Lều Họp. Họ sẽ giúp đỡ trong việc chuộc tội dân Ít-ra-en và cũng để cho không có thảm họa nào xảy ra cho người Ít-ra-en, khi họ đụng vào những vật thánh.”
NUM 8:20 Vậy Mô-se, A-rôn, và toàn dân Ít-ra-en vâng lời và làm cho người Lê-vi y theo mọi điều CHÚA truyền dặn Mô-se.
NUM 8:21 Người Lê-vi dọn sạch mình và giặt quần áo. Rồi A-rôn dâng họ lên như một của lễ cho CHÚA. Ông cũng dâng của lễ chuộc tội, để họ được thanh sạch.
NUM 8:22 Sau đó người Lê-vi đến Lều Họp để làm việc. A-rôn và các con trai ông chỉ bảo họ những gì phải làm. Dân chúng làm cho người Lê-vi y theo điều CHÚA truyền dặn Mô-se.
NUM 8:23 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 8:24 “Lệnh nầy dành cho người Lê-vi. Tất cả người Lê-vi từ hai mươi lăm tuổi trở lên phải đến Lều Họp vì có việc cho họ làm tại đó.
NUM 8:25 Đến năm mươi tuổi họ phải về hưu, không còn làm việc nữa.
NUM 8:26 Sau khi về hưu họ có thể giúp đỡ các người Lê-vi khác trong công tác nơi Lều Họp, nhưng không được đích thân làm công tác. Đó là cách con giao việc cho người Lê-vi.”
NUM 9:1 CHÚA phán cùng Mô-se trong sa mạc Si-nai vào tháng giêng năm thứ hai, sau khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Ngài phán,
NUM 9:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en cử hành Lễ Vượt Qua đúng thời gian ấn định.
NUM 9:3 Thời gian ấn định đó là ngày mười bốn tháng nầy vào lúc chạng vạng; họ phải giữ các luật lệ về lễ đó.”
NUM 9:4 Vậy Mô-se bảo dân Ít-ra-en cử hành Lễ Vượt Qua,
NUM 9:5 và họ làm theo; họ cử hành trong sa mạc vào ngày mười bốn tháng giêng lúc chạng vạng. Dân Ít-ra-en làm y theo mọi diều CHÚA truyền dặn Mô-se.
NUM 9:6 Nhưng hôm đó có một vài người không thể dự Lễ Vượt Qua được; họ đã bị ô dơ vì đụng đến xác chết. Nên ngay hôm ấy, họ đi gặp Mô-se và A-rôn
NUM 9:7 mà thưa, “Chúng tôi bị ô dơ vì đụng đến xác chết. Nhưng tại sao chúng tôi không được phép dâng của lễ cho CHÚA vào thời hạn ấn định nầy? Tại sao chúng tôi không thể dự chung với các người Ít-ra-en khác?”
NUM 9:8 Mô-se bảo họ, “Khoan. Hãy đợi ta đi hỏi ý CHÚA về việc các ngươi.”
NUM 9:9 CHÚA phán cùng Mô-se,
NUM 9:10 “Hãy bảo dân Ít-ra-en như sau: Nếu các ngươi hay con cháu các ngươi bị ô dơ vì đụng đến xác chết, hoặc các ngươi đang đi xa trong thời gian Lễ Vượt Qua, thì vẫn phải giữ Lễ Vượt Qua của CHÚA.
NUM 9:11 Nhưng hãy giữ lễ đó vào lúc chạng vạng vào ngày mười bốn tháng hai. Ăn thịt chiên con với rau đắng và bánh mì không men.
NUM 9:12 Đừng chừa gì cho đến sáng hôm sau, cũng không được làm gãy cái xương nào. Khi giữ Lễ Vượt Qua, các ngươi phải giữ tất cả các luật lệ.
NUM 9:13 Ai tinh sạch và không bận đi xa mà không dự Lễ Vượt Qua phải bị loại khỏi dân chúng. Người đó không dâng của lễ cho CHÚA vào đúng thời gian ấn định cho nên phải bị trừng phạt vì tội mình.
NUM 9:14 Những người ngoại quốc trong vòng các ngươi có thể dự Lễ Vượt Qua nhưng họ phải theo đúng các qui tắc. Qui tắc cho các ngươi ra sao thì cũng áp dụng cho người ngoại quốc như vậy.”
NUM 9:15 Trong ngày dựng Lều Thánh, Lều Giao Ước, thì mây phủ lên đó. Từ hoàng hôn cho đến sáng sớm, đám mây phủ trên lều trông giống như lửa.
NUM 9:16 Đám mây bao giờ cũng phủ trên lều, còn ban đêm mây đó trông giống như lửa.
NUM 9:17 Khi đám mây trên Lều di chuyển, dân Ít-ra-en ra đi, còn khi đám mây dừng lại thì dân Ít-ra-en dựng trại.
NUM 9:18 Vậy dân Ít-ra-en di chuyển theo lệnh của CHÚA, họ dừng lại dựng trại cũng theo lệnh CHÚA. Bao lâu mà đám mây còn phủ trên Lều thì họ vẫn tiếp tục cắm trại.
NUM 9:19 Có khi đám mây phủ trên Lều khá lâu, nhưng dân Ít-ra-en vâng lời CHÚA, không di chuyển.
NUM 9:20 Đôi khi đám mây phủ vài ba ngày. Theo lệnh CHÚA họ dựng trại, cũng theo lệnh CHÚA, họ ra đi.
NUM 9:21 Có khi đám mây chỉ dừng từ chiều tối đến sáng; sáng hôm sau khi đám mây cất lên thì dân chúng ra đi. Bất cứ ngày hay đêm, lúc nào đám mây cất lên thì dân chúng ra đi.
NUM 9:22 Đám mây có thể phủ trên Lều hai ngày, một tháng hoặc một năm. Bao lâu mà đám mây đứng yên, dân chúng cắm trại, nhưng khi đám mây cất lên thì họ ra đi.
NUM 9:23 Theo lệnh CHÚA, dân chúng dựng trại, và theo lệnh CHÚA, họ ra đi. Họ vâng theo lệnh CHÚA truyền dặn qua Mô-se.
NUM 10:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 10:2 “Hãy làm hai cây kèn bằng bạc giát mỏng dùng để gọi dân chúng tập họp hay ra đi.
NUM 10:3 Khi cả hai cây kèn được thổi lên thì toàn thể dân chúng phải tập họp trước mặt con nơi cửa Lều Họp.
NUM 10:4 Nhưng nếu chỉ thổi một cây kèn thì các trưởng tộc, các trưởng dòng họ trong Ít-ra-en sẽ tập họp trước mặt con tại đó.
NUM 10:5 Khi con thổi các kèn thật to thì các chi tộc đóng trại về phía đông sẽ di chuyển.
NUM 10:6 Khi con thổi thật to lần thứ nhì thì các chi tộc đóng trại về phía nam sẽ di chuyển; tiếng kèn lớn báo cho họ biết lúc nào lên đường.
NUM 10:7 Khi con muốn tập họp dân chúng thì thổi hai kèn nhưng đừng thổi to lắm.
NUM 10:8 Các con trai A-rôn, các thầy tế lễ phải thổi kèn. Đây là luật định đời đời cho các ngươi và con cháu từ nay về sau.
NUM 10:9 Khi con đang chiến đấu chống lại kẻ thù tấn công các con trong xứ mình thì phải thổi kèn báo động thật to. CHÚA là Thượng Đế sẽ nghe và giải cứu các con khỏi kẻ thù.
NUM 10:10 Ngoài ra cũng phải thổi kèn trong những dịp vui mừng, các kỳ lễ và các ngày Lễ Trăng Mới. Hãy thổi kèn khi dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu vì chúng sẽ giúp Thượng Đế nhớ lại các con. Ta là CHÚA, Thượng Đế của các con.”
NUM 10:11 Đám mây cất lên khỏi Lều Giao Ước vào ngày hai mươi tháng hai năm thứ hai.
NUM 10:12 Vậy dân Ít-ra-en di chuyển từ sa mạc Si-nai và tiếp tục đi cho đến khi đám mây dừng lại ở sa mạc Pha-ran.
NUM 10:13 Đây là lần đầu tiên họ di chuyển và làm theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 10:14 Các đoàn quân của doanh trại Giu-đa khởi hành đầu tiên dưới lá cờ mình. Na-son, con Am-mi Na-đáp là trưởng tộc của chi tộc Giu-đa.
NUM 10:15 Nê-tha-nên, con Xu-a lãnh đạo đoàn quân chi tộc Y-xa-ca.
NUM 10:16 Ê-li-áp, con Hê-lôn chỉ huy đoàn quân của chi tộc Xê-bu-lôn.
NUM 10:17 Khi Lều Thánh được tháo gỡ do con cháu Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri mang đi, đó là toán di chuyển kế tiếp.
NUM 10:18 Rồi đến các đoàn quân của trại Ru-bên theo lá cờ mình, có Ê-li-xua, con Sê-đơ lãnh đạo.
NUM 10:19 Sê-lu-mi-ên, con Xu-ri sa đai lãnh đạo đoàn quân chi tộc Xi-mê-ôn.
NUM 10:20 Ê-li-a-sáp, con Đêu-ên lãnh đạo đoàn quân chi tộc Gát.
NUM 10:21 Sau đó đến người Cô-hát khiêng các vật thánh; Lều Thánh được dựng lên trước khi họ tới.
NUM 10:22 Kế đến là các đoàn quân thuộc trại Ép-ra-im đi theo lá cờ mình. Ê-li-sa-ma con Am-mi-hút là trưởng tộc.
NUM 10:23 Ga-ma-li-ên, con Bê-đa-xua lãnh đạo đoàn quân chi tộc Ma-na-xe,
NUM 10:24 còn A-bi-đan, con Ghi-đê-ô-ni lãnh đạo đoàn quân chi tộc Bên-gia-min.
NUM 10:25 Các đơn vị cuối cùng là toán hậu vệ cho tất cả các chi tộc. Đó là các đơn vị thuộc trại quân Đan đi dưới lá cờ mình. Trưởng tộc của họ là A-hi-ê-xe, con Am-mi-sa-đai.
NUM 10:26 Ba-ghi-ên, con Óc-ran lãnh đạo đoàn quân chi tộc A-se.
NUM 10:27 A-hi-ra, con Ê-nan lãnh đạo đoàn quân chi tộc Nép-ta-li.
NUM 10:28 Đó là thứ tự ra đi của các đoàn quân Ít-ra-en khi họ di chuyển.
NUM 10:29 Hô-báp là con của Rêu-ên, người Mi-đi-an, Rêu-ên là cha vợ Mô-se. Mô-se nói với Hô-báp, “Chúng ta sẽ đi đến xứ CHÚA đã hứa ban cho chúng ta. Anh hãy đi chung với chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu đãi anh vì CHÚA đã hứa ban phước cho dân Ít-ra-en.”
NUM 10:30 Nhưng Hô-báp trả lời, “Không. Tôi không muốn đi. Tôi sẽ trở về xứ tôi sinh trưởng.”
NUM 10:31 Nhưng Mô-se năn nỉ, “Xin anh đừng bỏ chúng tôi. Anh biết chỗ nào có thể dựng trại trong sa mạc. Anh có thể hướng dẫn chúng tôi.
NUM 10:32 Hãy đi với chúng tôi. Chúng tôi sẽ san sẻ với anh những vật tốt CHÚA ban cho chúng tôi.”
NUM 10:33 Vậy họ rời núi của CHÚA và đi ròng rã ba ngày. Rương Giao Ước của CHÚA đi trước dân chúng trong suốt ba ngày đó trong khi họ tìm chỗ dựng trại.
NUM 10:34 Lúc họ rời trại thì đám mây của CHÚA ngự trên họ vào ban ngày.
NUM 10:35 Khi Rương rời trại thì Mô-se kêu lên, “CHÚA ơi, xin vùng dậy! Hãy phân tán các kẻ thù Ngài. Xin khiến các kẻ ghét Ngài bỏ chạy trước mặt Ngài.”
NUM 10:36 Và khi Rương được đặt xuống thì Mô-se kêu, “Lạy CHÚA, xin trở lại với hàng ngàn người Ít-ra-en.”
NUM 11:1 Lúc bấy giờ dân chúng phàn nàn với CHÚA về những nỗi khổ cực của mình. Khi nghe được, CHÚA liền nổi giận. Lửa từ CHÚA giáng xuống cháy giữa dân chúng ở ven doanh trại.
NUM 11:2 Dân chúng kêu la cùng Mô-se, ông liền cầu xin cùng CHÚA, nên lửa ngưng cháy.
NUM 11:3 Vì thế chỗ đó được gọi là Ta-bê-ra, vì lửa từ CHÚA cháy giữa vòng họ.
NUM 11:4 Có mấy người trong vòng họ kêu ca đòi thức ăn ngon hơn. Chẳng bao lâu sau, cả dân Ít-ra-en bắt đầu phàn nàn. Họ đòi, “Chúng tôi muốn ăn thịt!
NUM 11:5 Chúng tôi nhớ lại hồi còn ở Ai-cập tha hồ ăn cá. Lúc đó cũng có dưa leo, dưa hấu, hẹ, hành và tỏi.
NUM 11:6 Nhưng bây giờ chúng tôi chẳng có gì ăn cả; ngày nào cũng chỉ thấy ma-na!”
NUM 11:7 Ma-na giống như hột ngò, màu trắng ngà.
NUM 11:8 Dân chúng đi ra lượm rồi xay hay giã. Sau đó họ nấu trong nồi hoặc làm bánh. Ăn giống như bánh mì nướng tẩm dầu.
NUM 11:9 Ban đêm khi sương rơi xuống trên doanh trại thì ma-na cũng xuống.
NUM 11:10 Mô-se nghe mọi gia đình đứng nơi cửa lều họ than van. CHÚA nổi giận còn Mô-se rất bực tức.
NUM 11:11 Ông cầu hỏi CHÚA, “Sao Ngài mang chuyện rắc rối nầy đến cho con, kẻ tôi tớ Ngài? Con có làm gì quấy đâu mà Ngài bắt con chịu trách nhiệm về dân nầy?
NUM 11:12 Con không phải cha của họ vì con đâu có sinh họ ra. Tại sao Ngài bảo con mang họ vào xứ Ngài hứa ban cho tổ tiên chúng con? Con phải bồng ẵm họ trong tay như con nít sao?
NUM 11:13 Con kiếm thịt ở đâu ra cho họ đây? Họ cứ kêu nài với con: Chúng tôi muốn ăn thịt!
NUM 11:14 Con không thể nào một mình lo nổi cho dân nầy được nữa. Quá sức chịu đựng của con rồi.
NUM 11:15 Nếu Ngài còn bắt con chịu như thế nầy nữa, thì chẳng thà Ngài giết con bây giờ đi. Nếu con được ơn trước mặt Ngài thì xin giết con đi để con khỏi phải gặp cảnh khổ thế nầy nữa.”
NUM 11:16 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy mang đến cho ta bảy mươi bô lão Ít-ra-en, những người mà con biết có khả năng lãnh đạo dân chúng. Mang họ đến Lều Họp rồi bảo họ đứng đó với con.
NUM 11:17 Ta sẽ ngự xuống nói chuyện cùng con tại đó. Ta sẽ lấy một phần Thần linh có trong con để ban cho họ. Họ sẽ giúp con lo cho dân chúng để con khỏi phải gánh vác một mình.
NUM 11:18 Hãy bảo dân chúng như sau: Hãy dọn mình cho thánh sạch vì ngày mai các ngươi sẽ được ăn thịt. Các ngươi kêu xin cùng CHÚA, ‘Chúng tôi muốn ăn thịt! Hồi ở Ai-cập chúng tôi sướng hơn!’ Cho nên bây giờ CHÚA sẽ cho các ngươi ăn thịt.
NUM 11:19 Các ngươi sẽ có thịt ăn không những một, hai, năm, mười hay hai mươi ngày,
NUM 11:20 nhưng các ngươi sẽ ăn thịt nguyên cả tháng. Các ngươi sẽ ăn thịt nhiều đến nỗi tràn ra lỗ mũi và các ngươi sẽ ngán nó. Vì các ngươi đã từ bỏ CHÚA là Đấng ở với các ngươi. Các ngươi cũng đã kêu khóc cùng Ngài rằng: Tại sao chúng ta rời Ai-cập làm gì?”
NUM 11:21 Mô-se thưa, “Lạy CHÚA, ở đây có sáu trăm ngàn người đứng quanh con mà Ngài nói, ‘Ta sẽ cho họ đủ thịt ăn trong một tháng!’
NUM 11:22 Dù cho chúng ta giết hết tất cả các bầy gia súc cũng không đủ thịt nữa. Hay nếu chúng ta bắt hết cá dưới biển cũng không đủ nữa.”
NUM 11:23 Nhưng CHÚA bảo Mô-se, “Con tưởng ta yếu ớt lắm sao? Bây giờ con sẽ thấy ta thực hiện lời ta nói.”
NUM 11:24 Vậy Mô-se đi ra thuật lại cho dân chúng điều CHÚA nói. Ông tập họp bảy mươi bô lão lại, bảo họ đứng quanh Lều.
NUM 11:25 Rồi CHÚA ngự xuống trong đám mây và nói chuyện với Mô-se. CHÚA lấy một phần Thần linh trong Mô-se ban cho bảy mươi bô lão. Nhờ Thần linh trong họ, họ nói tiên tri, nhưng chỉ có một lần đó thôi.
NUM 11:26 Có hai người tên Ên-đát và Mê-đát cũng được liệt vào hàng bô lão nhưng họ không đi đến Lều. Họ ở trong trại nhưng cũng được ban cho Thần linh, nên họ nói tiên tri trong doanh trại.
NUM 11:27 Có một thanh niên chạy đến mách với Mô-se, “Ên-đát và Mê-đát đang nói tiên tri trong doanh trại.”
NUM 11:28 Giô-suê, con của Nun nói, “Mô-se, thầy con ơi, xin ngăn cấm họ!” Từ khi còn trẻ Giô-suê đã làm phụ tá cho Mô-se.
NUM 11:29 Nhưng Mô-se đáp, “Con ganh tức giùm ta sao? Ta mong tất cả các con dân CHÚA đều nói tiên tri. Ta mong CHÚA ban Thần linh cho tất cả mọi người!”
NUM 11:30 Rồi Mô-se và các lãnh đạo trở về doanh trại.
NUM 11:31 CHÚA sai một ngọn gió mạnh từ biển thổi chim cút vào khu vực quanh doanh trại. Chim cút nhiều khoảng một thước chiều cao trên mặt đất và rộng khoảng một ngày đường dù bất cứ đi hướng nào.
NUM 11:32 Ngày đó, đêm đó và cả hôm sau, dân chúng đi ra lượm chim cút. Mỗi người lượm được ít nhất sáu mươi thùng nên họ trải ra phơi quanh doanh trại.
NUM 11:33 Nhưng CHÚA nổi giận, Ngài khiến họ bị bệnh khủng khiếp trong khi thịt còn trong miệng.
NUM 11:34 Cho nên dân chúng gọi chỗ đó là Ki-bơ-rốt Hát-ta-va, vì là chỗ họ chôn cất những ngươi đòi ăn thịt.
NUM 11:35 Từ Ki-bơ-rốt Hát-ta-va, dân chúng đi đến ở lại Ha-xê-rốt.
NUM 12:1 Mi-ri-am và A-rôn bắt đầu chỉ trích về người vợ gốc xứ Cút của Mô-se vì ông đã lấy một người ở xứ Cút làm vợ.
NUM 12:2 Họ nói, “Chẳng lẽ CHÚA chỉ phán qua có một mình Mô-se sao? Ngài không phán qua chúng ta được hay sao?” CHÚA nghe lời bình phẩm đó.
NUM 12:3 Mô-se là một người rất nhún nhường. Ông khiêm tốn hơn tất cả mọi người trên đất.
NUM 12:4 Bỗng nhiên CHÚA nói với Mô-se, A-rôn, và Mi-ri-am. Ngài bảo, “Cả ba các con hãy đi đến Lều Họp.” Vậy họ đi.
NUM 12:5 CHÚA ngự xuống trong đám mây và đứng nơi cửa Lều. Ngài gọi A-rôn và Mi-ri-am, thì cả hai lại gần.
NUM 12:6 CHÚA bảo, “Hãy nghe đây: Nếu giữa vòng các ngươi có một nhà tiên tri thì Ta, CHÚA, sẽ tỏ mình ta ra bằng một sự hiện thấy; ta sẽ nói chuyện với người đó qua chiêm bao.
NUM 12:7 Nhưng trường hợp Mô-se, tôi tớ ta, thì không phải như vậy. Ta giao cho người dẫn dắt toàn dân ta.
NUM 12:8 Ta nói chuyện với người mặt đối mặt rõ ràng, không có gì kín giấu. Thậm chí người cũng đã thấy hình dạng của CHÚA. Các ngươi không nên nói xấu Mô-se, tôi tớ ta.”
NUM 12:9 CHÚA rất bất bình với họ, rồi Ngài ngự đi.
NUM 12:10 Khi đám mây cất lên khỏi Lều và khi A-rôn quay về phía Mi-ri-am thì bà đã bị bệnh ngoài da trắng như tuyết.
NUM 12:11 A-rôn kêu cùng Mô-se, “Thầy ơi, làm ơn. Xin tha lỗi dại dột nầy của chúng tôi.
NUM 12:12 Đừng để chị ấy giống như em bé sinh non bị chết yểu vì da thịt bị ăn khuyết.”
NUM 12:13 Nên Mô-se kêu xin cùng CHÚA, “Chúa ôi, xin chữa lành cho chị con!”
NUM 12:14 CHÚA trả lời Mô-se, “Nếu cha nàng phỉ nhổ trên mặt nàng, nàng phải bị sỉ nhục trong bảy ngày. Vậy hãy cho nàng ra ở ngoài doanh trại trong bảy ngày. Sau đó nàng có thể trở lại trại.”
NUM 12:15 Vậy Mi-ri-am bị cho ra ở ngoài doanh trại trong bảy ngày, còn dân chúng chờ nàng về rồi mới ra đi.
NUM 12:16 Sau đó, dân chúng rời Ha-xê-rốt và đóng trại trong sa mạc Pha-ran.
NUM 13:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 13:2 “Hãy sai người đi thám thính đất Ca-na-an mà ta sẽ ban cho dân Ít-ra-en. Mỗi chi tộc cử ra một người.”
NUM 13:3 Mô-se liền vâng lệnh CHÚA phái các lãnh tụ Ít-ra-en từ sa mạc Pha-ran.
NUM 13:4 Sau đây là tên những người đó: chi tộc Ru-bên cử Sam-mua, con Xa-cua;
NUM 13:5 chi tộc Xi-mê-ôn cử Sa-phát, con Hô-ri;
NUM 13:6 chi tộc Giu-đa cử Ca-lép, con Giê-phu-nê;
NUM 13:7 chi tộc Y-xa-ca cử Y-ganh, con Giô-xép;
NUM 13:8 chi tộc Ép-ra-im cử Hô-sê, con Nun;
NUM 13:9 chi tộc Bên-gia-min cử Banh-thi, con Ra-phu;
NUM 13:10 chi tộc Xê-bu-lôn cử Gát-đi-ên, con Xô-đi;
NUM 13:11 chi tộc Ma-na-xe (một chi tộc của Giô-xép) cử Gát-đi, con Xu-xi;
NUM 13:12 chi tộc Đan cử Am-mi-ên, con Ghê-ma-li;
NUM 13:13 chi tộc A-xe cử Xê-thua, con Mi-ca-ên;
NUM 13:14 chi tộc Nép-ta-li cử Na-bi, con Vốp-xi;
NUM 13:15 chi tộc Gát cử Ghêu-ên, con Ma-ki.
NUM 13:16 Đó là tên của những người Mô-se phái đi thăm dò xứ. Mô-se đặt tên cho Hô-sê, con của Nun, là Giô-suê.
NUM 13:17 Mô-se sai họ đi thám thính xứ và dặn, “Hãy đi qua suốt miền nam Ca-na-an rồi thăm miền núi.
NUM 13:18 Xem xứ đó ra sao, dân ở đó mạnh yếu thế nào, nhiều hay ít,
NUM 13:19 Xứ họ sống ra sao, tốt hay xấu. Còn thành thị họ ở như thế nào, thành bỏ ngỏ như doanh trại hay có vách bao.
NUM 13:20 Đất đai như thế nào, phì nhiêu hay cằn cỗi? Có cây cối gì không. Hãy cố mang về một ít hoa quả của xứ đó.” Lúc ấy là mùa nho sớm.
NUM 13:21 Vậy họ đi lên thám thính xứ, từ sa mạc Xin suốt tới Rê-hốp gần Lê-bô Ha-mát.
NUM 13:22 Rồi họ đi qua vùng phía nam đến Hếp-rôn nơi A-hi-man, Sê-sai, Thanh-mai, tức nơi con cháu A-nác sống. Thành Hếp-rôn được xây bảy năm trước thành Xoan bên Ai-cập.
NUM 13:23 Đến thung lũng Ếch-côn họ cắt một nhánh nho có một chùm nho, rồi cho hai người khiêng bằng cái sào. Họ cũng hái một số trái lựu và trái vả.
NUM 13:24 Chỗ đó gọi là thung lũng Ếch-côn vì người Ít-ra-en cắt nhánh nho tại đó.
NUM 13:25 Sau bốn mươi ngày thám thính xứ, những người đó trở về doanh trại.
NUM 13:26 Họ trở về gặp Mô-se, A-rôn và toàn dân Ít-ra-en tại Ca-đe trong sa mạc Pha-ran. Họ báo cáo và trình cho mọi người thấy hoa quả của xứ.
NUM 13:27 Họ bảo Mô-se, “Chúng tôi đi đến xứ ông sai đi, quả là một xứ phì nhiêu! Đây là một ít hoa quả của xứ đó.
NUM 13:28 Tuy nhiên dân cư ở đó rất mạnh. Thành của họ có vách bao quanh và rất lớn. Chúng tôi cũng thấy con cháu A-nác ở đó nữa.
NUM 13:29 Dân A-ma-léc sống ở miền nam; còn dân Hê-tít, Giê-bu-sít, và A-mô-rít sống trong núi; dân Ca-na-an thì sống gần biển và dọc theo sông Giô-đanh.”
NUM 13:30 Sau đó Ca-lép bảo những người xung quanh Mô-se im lặng. Ông nói, “Chúng ta hãy lên chiếm xứ ấy. Chúng ta chắc chắn làm được.”
NUM 13:31 Nhưng những người cùng đi với ông bảo, “Chúng ta đánh dân nó không nổi đâu; họ mạnh hơn chúng ta nhiều lắm.”
NUM 13:32 Những người đó báo cáo bất lợi về xứ ấy cho dân Ít-ra-en biết. Họ bảo, “Xứ mà chúng tôi thám thính rất khó sống, chúng ta chiếm không nổi đâu. Dân mà chúng tôi thấy đều cao lớn.
NUM 13:33 Chúng tôi thấy người Nê-phi-lim ở đó. (Dân A-nác xuất thân từ dân Nê-phi-lim.) Chúng tôi thấy mình như cào cào, còn họ thấy chúng tôi cũng vậy.”
NUM 14:1 Đêm đó cả dân chúng kêu khóc bù lu bù loa.
NUM 14:2 Tất cả dân Ít-ra-en phàn nàn về Mô-se và A-rôn. Mọi người bảo họ, “Ước gì chúng tôi chết trong xứ Ai-cập hay trong sa mạc nầy cho khoẻ.
NUM 14:3 Tại sao CHÚA mang chúng tôi vào xứ nầy để bị gươm giết? Vợ và con chúng tôi sẽ bị bắt đi. Chẳng thà chúng tôi đi trở về Ai-cập còn hơn.”
NUM 14:4 Họ rủ nhau, “Thôi chúng ta hãy chọn một lãnh tụ dẫn chúng ta về lại Ai-cập đi.”
NUM 14:5 Mô-se và A-rôn liền sấp mặt xuống đất trước toàn thể dân Ít-ra-en đang tập họp tại đó.
NUM 14:6 Giô-suê, con trai Nun và Ca-lép con trai Giê-phu-nê, là hai trong số những người đã thám thính xứ, liền xé quần áo mình.
NUM 14:7 Họ nói với toàn dân Ít-ra-en, “Xứ chúng tôi đi thám thính rất tốt.
NUM 14:8 Nếu CHÚA hài lòng về chúng ta, Ngài sẽ dẫn chúng ta vào và ban cho chúng ta xứ phì nhiêu đó.
NUM 14:9 Đừng chống nghịch CHÚA! Đừng sợ dân xứ đó! Chúng ta sẽ tiêu diệt họ. Họ không có ai bảo vệ nhưng chúng ta có CHÚA. Cho nên đừng sợ họ.”
NUM 14:10 Bấy giờ dân chúng bàn định ném đá hai người. Nhưng vinh quang của CHÚA hiện ra nơi Lều Họp trước mặt cả dân Ít-ra-en.
NUM 14:11 CHÚA bảo Mô-se, “Dân nầy xem thường ta cho đến chừng nào? Chúng không tin ta đến bao giờ dù ta đã làm bao nhiêu phép lạ giữa vòng chúng?
NUM 14:12 Ta sẽ giáng một chứng bệnh kinh khiếp để tiêu diệt chúng. Nhưng ta sẽ làm cho các ngươi thành một dân mạnh hơn chúng nó.”
NUM 14:13 Mô-se thưa cùng CHÚA, “Người Ai-cập sẽ nghe chuyện nầy! Ngài đã mang dân nầy ra khỏi đó bằng quyền năng lớn lao của Ngài,
NUM 14:14 rồi dân Ai-cập sẽ kể lại cho dân sống trong xứ nầy. Lạy CHÚA, họ đã nghe về Ngài. Họ biết rằng Ngài đã ở với dân Ngài và đã thấy Ngài mặt đối mặt. Họ biết rằng đám mây của Ngài ngự trên dân Ngài và ban ngày Ngài dùng đám mây, ban đêm bằng đám lửa để dẫn dân Ngài.
NUM 14:15 Nếu Ngài giết sạch họ cùng một lúc thì các dân, đã từng nghe về quyền năng Ngài, sẽ nói,
NUM 14:16 ‘CHÚA không thể đem họ vào xứ Ngài đã hứa cùng họ. Cho nên Ngài giết họ trong sa mạc.’
NUM 14:17 Vậy bây giờ, lạy CHÚA, xin tỏ quyền năng lớn lao của Ngài. Xin làm như Ngài đã phán:
NUM 14:18 ‘CHÚA chậm giận và có lòng nhân từ lớn. Ngài tha thứ tội lỗi và những vi phạm. Nhưng Ngài không bao giờ quên trừng phạt kẻ có tội. Khi cha mẹ phạm tội, Ngài trừng phạt luôn con cháu, chắt, chít.’
NUM 14:19 Vì tình yêu lớn lao của Ngài, xin tha thứ tội lỗi của họ như Ngài đã tha thứ cho họ từ khi ra khỏi Ai-cập cho đến bây giờ.”
NUM 14:20 CHÚA đáp, “Ta đã tha thứ họ theo như điều con xin.
NUM 14:21 Nhưng thật như ta hằng sống và như vinh hiển ta tràn ngập đất, ta cam kết điều nầy:
NUM 14:22 Tất cả những người đã thấy vinh hiển và các phép lạ ta làm trong xứ Ai-cập và trong sa mạc, nhưng không chịu vâng phục mà còn thách thức ta mười lần,
NUM 14:23 thì trong vòng họ, sẽ không một người nào được thấy đất mà ta đã hứa ban cho tổ tiên họ. Không một ai từ bỏ ta mà sẽ được thấy đất đó.
NUM 14:24 Tuy nhiên Ca-lép, kẻ tôi tớ ta suy nghĩ khác và theo ta hoàn toàn. Ta sẽ đem người vào xứ mà người đã thấy. Con cháu người sẽ hưởng đất ấy.
NUM 14:25 Vì dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang sống trong thung lũng, nên ngày mai hãy quay lại theo con đường sa mạc về hướng Biển Sậy.”
NUM 14:26 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
NUM 14:27 “Đám dân hung ác nầy sẽ ta thán về ta cho đến bao giờ? Ta đã nghe tiếng kêu rêu ta thán của dân Ít-ra-en.
NUM 14:28 Cho nên hãy bảo họ, ‘CHÚA phán như sau. Ta đã nghe điều các ngươi nói, và thật như ta hằng sống, ta sẽ làm những điều nầy cho các ngươi:
NUM 14:29 Các ngươi sẽ chết trong sa mạc nầy. Mỗi người trong các ngươi từ hai mươi tuổi trở lên đã được kiểm tra với toàn dân, tức tất cả những ai đã phàn nàn ta thán về ta đều sẽ chết.
NUM 14:30 Không một ai trong các ngươi sẽ được vào đất ta hứa cho các ngươi sinh sống, ngoại trừ Ca-lép, con của Giê-phu-nê, và Giô-suê, con của Nun là được vào thôi.
NUM 14:31 Các ngươi bảo rằng con cái các ngươi sẽ bị bắt đi, nhưng ta sẽ đưa chúng nó vào hưởng xứ mà các ngươi không chịu vào.
NUM 14:32 Còn các ngươi đều sẽ chết trong sa mạc nầy.
NUM 14:33 Con cái các ngươi sẽ chăn chiên ở đây trong bốn mươi năm. Vì các ngươi không trung thành cho nên chúng nó sẽ phải chịu khổ cho đến khi các ngươi ngã chết trong sa mạc.
NUM 14:34 Các ngươi sẽ phải chịu hình phạt vì tội mình trong bốn mươi năm, mỗi năm thay cho một ngày tức bốn mươi ngày mà các ngươi đã thám thính xứ. Các ngươi sẽ biết ta đã trở thành kẻ thù của các ngươi.’
NUM 14:35 Ta, CHÚA, đã phán. Ta chắc chắn sẽ thi hành những điều nầy cho tất cả mọi người hung ác đã họp nhau chống nghịch ta. Chúng sẽ chết hết trong sa mạc nầy.”
NUM 14:36 Những người Mô-se sai đi thám thính xứ trở về gieo lời ta thán giữa vòng dân chúng. Họ tung những tin xấu về xứ đó.
NUM 14:37 Những kẻ tung tin xấu đều chết. CHÚA giết họ bằng một bệnh tật khủng khiếp.
NUM 14:38 Chỉ có hai người thám thính xứ không bị chết đó là Giô-suê, con của Nun và Ca-lép con của Giê-phu-nê.
NUM 14:39 Khi Mô-se thuật lại điều nầy cho dân Ít-ra-en thì họ rất buồn rầu.
NUM 14:40 Sáng sớm hôm sau họ định đi lên đỉnh núi. Họ bảo, “Chúng tôi đã phạm tội. Chúng tôi sẽ đi đến nơi CHÚA bảo chúng tôi.”
NUM 14:41 Nhưng Mô-se bảo, “Tại sao các ngươi không tuân lệnh CHÚA? Các ngươi không thắng nổi đâu!
NUM 14:42 Đừng đi, vì CHÚA không còn ở với các ngươi nữa. Kẻ thù sẽ đánh bại các ngươi đó.
NUM 14:43 Các ngươi sẽ đụng độ với người A-ma-léc và người Ca-na-an. Chúng sẽ dùng gươm giết các ngươi. Các ngươi đã quay khỏi CHÚA nên Ngài không còn ở với các ngươi nữa.”
NUM 14:44 Nhưng dân chúng tự phụ. Họ cứ tiến lên đỉnh núi còn Mô-se và Rương Giao Ước của CHÚA vẫn ở trong doanh trại.
NUM 14:45 Người A-ma-léc và Ca-na-an sống trong vùng núi đó đổ xuống đánh người Ít-ra-en, đuổi họ chạy dài cho đến Họt-ma.
NUM 15:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 15:2 “Hãy nói với dân Ít-ra-en như sau: Khi các ngươi vào xứ mà ta cấp cho để cư ngụ,
NUM 15:3 thì hãy dâng của lễ bằng lửa cho CHÚA. Các của lễ đó có thể lấy từ bầy gia súc của các ngươi và có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA. Cũng có thể là của lễ thiêu hay của lễ hi sinh để trả những sự hứa nguyện đặc biệt, hay là lễ vật cho Ngài hoặc của dâng vào các dịp lễ.
NUM 15:4 Người mang của lễ đến phải dâng của lễ chay. Của lễ đó gồm hai lít bột mịn trộn với một lít dầu ô-liu.
NUM 15:5 Mỗi khi các ngươi dâng chiên con làm của lễ thiêu hay hi sinh thì cũng phải chuẩn bị một lít rượu nho để làm của lễ uống.
NUM 15:6 Nếu các ngươi dâng một con chiên đực thì cũng phải dâng của lễ chay bằng bốn lít bột mịn trộn với một lít mốt dầu ô-liu.
NUM 15:7 Ngoài ra hãy chuẩn bị một lít mốt rượu để làm của lễ uống. Mùi thơm của lễ sẽ làm vừa lòng CHÚA.
NUM 15:8 Nếu các ngươi chuẩn bị một con bò đực tơ làm của lễ thiêu hay của lễ hi sinh để trả những lời hứa nguyện đặc biệt hay dùng làm của lễ thân hữu cho CHÚA,
NUM 15:9 hãy mang của lễ chay chung với con bò tơ đực. Của lễ đó gồm sáu lít bột mịn trộn với hai lít dầu ô-liu.
NUM 15:10 Cũng hãy mang hai lít rượu làm của lễ uống. Của lễ nầy phải dâng bằng lửa có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA.
NUM 15:11 Mỗi con bò đực tơ, chiên đực, chiên con, hay dê con đều phải chuẩn bị theo cách đó.
NUM 15:12 Hãy làm như thế cho mỗi con vật các ngươi mang đến.
NUM 15:13 Tất cả mọi công dân đều phải làm như thế. Mùi thơm của các của lễ dâng bằng lửa sẽ làm vừa lòng CHÚA.
NUM 15:14 Từ nay về sau nếu người ngoại quốc sống giữa vòng các ngươi muốn dâng của lễ bằng lửa để có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA thì họ cũng phải dâng giống như các ngươi.
NUM 15:15 Từ nay về sau, luật lệ áp dụng cho các ngươi và người ngoại quốc đều giống nhau; trước mặt CHÚA các ngươi và người ngoại quốc đều như nhau.
NUM 15:16 Những điều giáo huấn và qui tắc cho các ngươi và người ngoại quốc đều như nhau.”
NUM 15:17 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 15:18 “Hãy bảo dân Ít-ra-en: Các ngươi đang đi đến một xứ mà ta dẫn các ngươi.
NUM 15:19 Khi các ngươi ăn thực phẩm xứ đó thì phải dâng một phần cho CHÚA.
NUM 15:20 Hãy dâng bánh mì làm từ ngũ cốc đầu mùa, tức của lễ dâng từ sân đập lúa.
NUM 15:21 Từ nay về sau hãy dâng ngũ cốc đầu mùa cho CHÚA.
NUM 15:22 Nếu ngươi quên vâng theo một vài mệnh lệnh CHÚA truyền cho Mô-se thì sao?
NUM 15:23 Đây là những mệnh lệnh CHÚA ban cho các ngươi qua Mô-se, bắt đầu từ ngày CHÚA ban cho các ngươi và tiếp tục từ nay về sau.
NUM 15:24 Nếu dân chúng quên một trong những mệnh lệnh nầy thì họ phải dâng một con bò đực tơ làm của lễ thiêu để có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA. Theo luật, ngươi phải dâng của lễ chay và của lễ uống cùng với con bò, và ngươi phải mang một con dê đực làm của lễ chuộc tội.
NUM 15:25 Thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho dân chúng để toàn thể dân Ít-ra-en lại thuộc về CHÚA. Họ được tha thứ vì họ không biết mình phạm lỗi. Vì có lỗi cho nên họ đã mang của lễ đến cho CHÚA, một của lễ bằng lửa và một của lễ chuộc tội.
NUM 15:26 Như thế toàn dân Ít-ra-en và mọi người ngoại quốc sống giữa các ngươi sẽ được tha thứ. Không ai cố tình phạm tội.
NUM 15:27 Nếu ai vô tình phạm tội thì phải mang một con dê cái một tuổi để làm của lễ chuộc tội.
NUM 15:28 Thầy tế lễ sẽ chuộc tội người đã vô tình phạm lỗi. Người sẽ chuộc tội đó trước mặt CHÚA, rồi người sẽ được tha thứ.
NUM 15:29 Điều giáo huấn nầy áp dụng cho những ai vô tình phạm tội cho dân Ít-ra-en hay cho người ngoại quốc sống giữa các ngươi.
NUM 15:30 Nhưng nếu ai cố tình phạm tội tức nghịch lại CHÚA, người đó phải bị loại khỏi dân chúng, dù là dân sinh trưởng trong vòng các ngươi hay người ngoại quốc.
NUM 15:31 Người đó đã chống nghịch lại lời CHÚA, không vâng mệnh lệnh Ngài Cho nên phải bị loại khỏi những người khác. Người đó có tội.”
NUM 15:32 Trong khi dân Ít-ra-en đang còn ở trong sa mạc thì họ thấy một người lượm củi trong ngày Sa-bát.
NUM 15:33 Những kẻ thấy người lượm củi giải người đến Mô-se, A-rôn và toàn thể dân chúng.
NUM 15:34 Họ canh giữ người vì không biết phải xử lý với người đó ra sao.
NUM 15:35 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Người đó phải chết. Toàn thể dân chúng phải ném đá người bên ngoài doanh trại.”
NUM 15:36 Cho nên toàn thể dân chúng mang người ra ngoài doanh trại ném đá chết theo như lệnh CHÚA truyền cho Mô-se.
NUM 15:37 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 15:38 “Hãy nói với dân Ít-ra-en như sau: Hãy đánh chỉ lại với nhau làm tua cột nơi viền áo các ngươi. Trong mỗi tua áo phải cột một sợi chỉ xanh. Phải mang tua đó luôn luôn từ nay về sau.
NUM 15:39 Các tua áo dùng để cho các ngươi nhớ lại các mệnh lệnh của CHÚA. Như thế các ngươi sẽ vâng theo các mệnh lệnh đó và không bất trung bằng cách chiều theo sở thích của xác thịt hay mắt mình.
NUM 15:40 Do đó các ngươi sẽ nhớ vâng theo các mệnh lệnh ta để làm dân thánh cho Thượng Đế.
NUM 15:41 Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi, Đấng đã đem ngươi ra khỏi Ai-cập để làm Thượng Đế ngươi. Ta là CHÚA, Thượng Đế của ngươi.”
NUM 16:1 Cô-ra, Đa-than, A-bi-ram, và Ôn phản nghịch Mô-se. Cô-ra là con trai của Y-xa, cháu Cô-hát, chít Lê-vi; Đa-than và A-bi-ram là anh em, con trai của Ê-li-áp; còn Ôn là con trai của Bê-lết; Đa-than, A-bi-ram, và Ôn thuộc chi tộc Ru-bên.
NUM 16:2 Họ chiêu tập hai trăm năm mươi người Ít-ra-en khác gồm những trưởng lão có uy tín trong cộng đồng và thách thức Mô-se.
NUM 16:3 Cả nhóm đi đến nói chuyện với Mô-se và A-rôn rằng, “Các ông làm quá lắm. Tất cả dân chúng đều thánh, người nào cũng thánh, và CHÚA thì đang ngự giữa dân chúng. Sao các ông còn tự đặt mình lên trên cả dân CHÚA?”
NUM 16:4 Nghe vậy, Mô-se liền sấp mặt xuống đất.
NUM 16:5 Rồi ông nói với Cô-ra và những kẻ theo anh nầy rằng: “Sáng mai CHÚA sẽ cho biết ai thuộc về Ngài. Ngài sẽ mang người thánh lại gần; và sẽ chỉ ra người Ngài chọn.
NUM 16:6 Cho nên, Cô-ra! Anh và những người theo anh phải làm thế nầy: Hãy lấy một vài lư hương.
NUM 16:7 Ngày mai, đem bỏ lửa và trầm hương trong các lư đó rồi mang đến trước mặt CHÚA. Ngài sẽ chọn người nào là thánh. Các anh là người Lê-vi cũng quá bậy!”
NUM 16:8 Mô-se cũng bảo Cô-ra, “Các anh em người Lê-vi hãy nghe đây!
NUM 16:9 Thượng Đế của Ít-ra-en đã biệt riêng anh em ra từ giữa những người Ít-ra-en khác. Ngài đã mang anh em lại gần Ngài để phục vụ trong Lều Thánh của CHÚA và đứng trước mặt tất cả dân Ít-ra-en đặng phục vụ họ. Như thế chưa đủ sao?
NUM 16:10 Ngài đã đưa anh em và những người Lê-vi khác đến gần Ngài. Nhưng nay anh em lại muốn làm thầy tế lễ!
NUM 16:11 Anh và những người theo anh đã họp nhau chống lại CHÚA. A-rôn là ai mà các anh phàn nàn?”
NUM 16:12 Rồi Mô-se gọi Đa-than và A-bi-ram, các con trai của Ê-li-áp đến, nhưng họ bảo: “Chúng tôi không đến!
NUM 16:13 Các ông đã mang chúng tôi ra khỏi một xứ phì nhiêu, vào trong sa mạc khô cằn nầy để giết chúng tôi mà bây giờ còn muốn sai khiến chúng tôi nữa sao?
NUM 16:14 Các ông không đưa chúng tôi vào xứ phì nhiêu; các ông chưa cho chúng tôi đất có đồng ruộng và vườn nho nào. Các ông còn định móc mắt những người nầy nữa sao? Không! Chúng tôi không đến đâu!”
NUM 16:15 Mô-se rất tức giận liền thưa với CHÚA, “Xin Ngài đừng nhận lễ vật của họ. Con chưa hề lấy vật gì từ họ, thậm chí đến một con lừa, và con cũng chưa làm hại người nào trong vòng họ.”
NUM 16:16 Mô-se bảo Cô-ra, “Anh và những người theo anh phải ra mắt CHÚA ngày mai. A-rôn sẽ đứng đây với anh và họ.
NUM 16:17 Mỗi người trong các anh phải cầm lư bỏ hương vào; dâng hai trăm năm mươi lư hương trước mặt CHÚA. Anh và A-rôn cũng dâng lư hương mình.”
NUM 16:18 Vậy mỗi người cầm lư bỏ trầm hương nghi ngút trong đó và đứng với Mô-se và A-rôn nơi cửa vào Lều Họp.
NUM 16:19 Cô-ra tập họp những kẻ theo mình chống lại Mô-se và A-rôn. Tất cả đều đứng nơi cửa Lều Họp. Vinh quang của Thượng Đế hiện ra cho tất cả mọi người.
NUM 16:20 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
NUM 16:21 “Hai con hãy dang xa bọn nầy để ta diệt ngay chúng nó.”
NUM 16:22 Nhưng Mô-se và A-rôn sấp mình xuống đất kêu xin, “Thượng Đế ôi, Ngài là Thượng Đế cai trị thần linh của tất cả mọi người. Xin đừng nổi giận với tất cả nhóm nầy. Chỉ có một người phạm tội thôi.”
NUM 16:23 CHÚA liền bảo Mô-se,
NUM 16:24 “Hãy bảo mọi người dang xa ra khỏi lều của Cô-ra, Đa-than, A-bi-ram.”
NUM 16:25 Mô-se đang đứng đó rồi đi lại cùng Đa-than và A-bi-ram; các bô lão Ít-ra-en đi theo ông.
NUM 16:26 Mô-se bảo dân chúng, “Hãy tránh xa khỏi lều của những người gian ác nầy! Đừng đụng đến vật gì của họ, nếu không các ngươi cũng sẽ bị diệt vì tội lỗi của họ.”
NUM 16:27 Vậy dân chúng dang xa ra khỏi lều của Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram đang đứng ngoài lều với vợ, con và con nhỏ của mình.
NUM 16:28 Rồi Mô-se tuyên bố, “Bây giờ các anh sẽ biết CHÚA sai tôi làm những việc nầy, chứ không phải tự ý tôi.
NUM 16:29 Nếu những người nầy chết tự nhiên, tức qua đời theo lối bình thường như mọi người, thì có nghĩa CHÚA không sai tôi.
NUM 16:30 Nhưng nếu CHÚA làm một điều mới, thì các anh sẽ biết họ đã nhục mạ CHÚA. Đất sẽ hả miệng nuốt họ. Họ sẽ bị chôn sống và đi xuống âm phủ, mọi vật thuộc về họ cũng sẽ đi xuống đất với họ.”
NUM 16:31 Khi Mô-se vừa nói xong thì đất dưới chân họ nứt ra.
NUM 16:32 Đất hả miệng nuốt họ và gia đình. Tất cả những người theo phe Cô-ra và mọi tài sản chúng đều bị chôn vùi hết.
NUM 16:33 Họ bị chôn sống, đi xuống âm phủ, mọi vật thuộc về họ cũng vậy. Rồi đất khép lại. Họ qua đời và bị diệt khỏi cộng đồng.
NUM 16:34 Những người Ít-ra-en xung quanh nghe họ la liền bỏ chạy, kêu lên, “Đất cũng có thể nuốt chúng ta lắm!”
NUM 16:35 Rồi lửa từ CHÚA loè ra đốt cháy hai trăm năm mươi người đã dâng hương.
NUM 16:36 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 16:37 “Hãy bảo Ê-lê-a-sa, con A-rôn, thầy tế lễ, lấy tất cả các lư hương ra khỏi đám lửa. Bảo người đổ than thật xa. Lư hương vẫn còn thánh.
NUM 16:38 Lấy các lư hương của những người đã phạm tội và thiệt mạng, đập ra thành miếng mỏng để dùng bọc bàn thờ. Đó là những vật thánh vì đã được dâng cho CHÚA và sẽ làm dấu ghi nhớ cho dân Ít-ra-en.”
NUM 16:39 Vậy Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, gom tất cả các lư hương bằng đồng do những người bị chết thiêu mang lại. Ông cho đập các lư hương thành các miếng mỏng lót lên bàn thờ,
NUM 16:40 Các miếng đó sẽ nhắc nhở dân Ít-ra-en rằng chỉ có các con cháu của A-rôn mới được đốt hương trước mặt CHÚA mà thôi. Ai khác làm việc đó sẽ bị chết như Cô-ra và đồng bọn, như CHÚA truyền dặn qua Mô-se.
NUM 16:41 Ngày hôm sau toàn dân Ít-ra-en than phiền về Mô-se và A-rôn rằng, “Các ông giết dân CHÚA.”
NUM 16:42 Khi dân chúng họp lại để ta thán về Mô-se và A-rôn thì họ quay về hướng Lều Họp và thấy đám mây che phủ Lều. Vinh quang của CHÚA hiện ra.
NUM 16:43 Sau đó Mô-se và A-rôn đi đến trước cửa Lều.
NUM 16:44 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 16:45 “Hãy đi ra xa khỏi đám dân nầy để ta diệt chúng trong phút chốc.” Mô-se và A-rôn liền sấp mặt xuống đất.
NUM 16:46 Mô-se bảo A-rôn, “Xin anh mau cầm lấy lư hương, bỏ lửa trên bàn thờ và trầm hương vào, rồi chạy mau đến dân chúng và chuộc tội họ. CHÚA đang nổi giận cùng họ; bệnh dịch đã phát hiện.”
NUM 16:47 Vậy A-rôn làm theo điều Mô-se bảo. Ông chạy đến giữa dân chúng, nơi bệnh dịch bắt đầu phát ra. A-rôn dâng hương lên để chuộc tội họ.
NUM 16:48 Ông đứng giữa những người chết và người sống, bệnh dịch liền ngưng tại đó.
NUM 16:49 Tuy nhiên có 14.700 người đã chết vì bệnh dịch, chưa kể những người đã chết vì vụ Cô-ra.
NUM 16:50 Rồi A-rôn trở về cùng Mô-se nơi cửa Lều Họp. Bệnh dịch ghê gớm đã ngưng.
NUM 17:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 17:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en mang mười hai cây gậy mỗi trưởng chi tộc mang một cây. Khắc tên của từng người trên mỗi cây gậy,
NUM 17:3 còn trên cây gậy của Lê-vi, khắc tên A-rôn. Mỗi trưởng chi tộc phải mang đến một cây gậy.
NUM 17:4 Để các cây gậy đó trong Lều Họp trước Rương Giao Ước, nơi ta gặp con.
NUM 17:5 Cây gậy của ai trổ lá tức là người đó được ta chọn. Như thế ta sẽ làm dân Ít-ra-en im miệng, để không còn phàn nàn mãi về các con.”
NUM 17:6 Vậy Mô-se nói với dân Ít-ra-en. Mỗi người trong mười hai trưởng tộc trao cho ông một cây gậy mỗi chi tộc một cái gậy. A-rôn cũng có một cây trong đống gậy đó.
NUM 17:7 Mô-se để các cây gậy trước mặt CHÚA trong Lều Giao Ước.
NUM 17:8 Sáng hôm sau khi Mô-se bước vào Lều thì ông thấy cây gậy của A-rôn, đại diện cho gia đình Lê-vi đã trổ lá. Cây gậy đó cũng ra nụ, hoa nở và ra trái hạnh nhân.
NUM 17:9 Vậy Mô-se lấy các cây gậy trước mặt CHÚA mang ra cho dân Ít-ra-en xem. Họ nhìn và ai nấy lấy cây gậy mình lại.
NUM 17:10 Rồi CHÚA phán cùng Mô-se, “Hãy đặt cây gậy của A-rôn lại trước Rương Giao Ước. Nó sẽ dùng để nhắc nhở rằng dân nầy là dân luôn luôn phản nghịch ta, rồi chúng không còn kêu ca nữa để khỏi bị chết.”
NUM 17:11 Vậy Mô-se vâng lời CHÚA truyền dặn mình.
NUM 17:12 Dân Ít-ra-en bảo Mô-se, “Chúng tôi sẽ chết! Chúng tôi sẽ bị tiêu diệt, bị tiêu diệt hết!
NUM 17:13 Ai đến gần Lều Thánh của CHÚA sẽ chết. Vậy liệu chúng tôi có chết hết không?”
NUM 18:1 CHÚA bảo A-rôn, “Con, con trai con, và gia đình con bây giờ chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến Nơi Thánh; con và các con trai con cũng chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến các thầy tế lễ.
NUM 18:2 Hãy mang đến cùng con những người Lê-vi khác, thuộc chi tộc con, để giúp con và các con trai con phục vụ trước Lều Giao Ước.
NUM 18:3 Họ ở dưới quyền con để làm tất cả các công tác cần làm trong Lều. Nhưng họ không được đến gần những vật trong Nơi Thánh hay gần bàn thờ. Nếu không cả con lẫn họ đều sẽ chết.
NUM 18:4 Họ sẽ hợp sức với con lo cho Lều Họp. Họ phải làm công tác của Lều, không ai khác được đến gần con.
NUM 18:5 Con phải lo cho Nơi Thánh và bàn thờ để ta không nổi giận cùng dân Ít-ra-en nữa.
NUM 18:6 Chính ta dã lựa chọn những anh em Lê-vi của các con từ giữa dân Ít-ra-en làm lễ vật mà các con dâng lên cho CHÚA để phục vụ trong Lều Họp.
NUM 18:7 Nhưng chỉ có con và các con trai con được giữ chức tế lễ. Chỉ có một mình con có thể phục vụ nơi bàn thờ hay đến phía sau bức màn. Ta ban cho con đặc ân nầy để thi hành chức tế lễ. Ai khác đến gần Nơi Thánh sẽ bị xử tử.”
NUM 18:8 Rồi CHÚA bảo A-rôn, “Chính ta trao trách nhiệm cho con về các của lễ dâng lên cho ta. Tất cả các của lễ thánh mà người Ít-ra-en dâng lên cho ta, ta ban cho con và các con trai con, xem như là phần của con vĩnh viễn từ nay về sau.
NUM 18:9 Phần của các con trong các của lễ thánh là phần không thiêu. Khi dân chúng mang lễ vật đến cho ta để làm của lễ chí thánh, bất kỳ là của lễ chay, của lễ chuộc tội hay của lễ đền bù, phần của con sẽ được để riêng ra cho con và các con trai con.
NUM 18:10 Các con phải ăn lễ vật ở một nơi thật thánh. Bất cứ đàn ông nào cũng được phép ăn nhưng các con phải xem những lễ vật đó như đồ thánh.
NUM 18:11 Ta cũng cho con các của lễ người Ít-ra-en dâng cho ta. Ta cho con, cho con trai con gái con các của lễ đó để làm phần vĩnh viễn của con. Ai trong gia đình con không bị ô dơ đều được phép ăn phần đó.
NUM 18:12 Ngoài ra ta cũng ban cho con dầu ô-liu tốt nhất cùng rượu nho mới thượng hạng và ngũ cốc. Đó là phần dân Ít-ra-en dâng cho ta, CHÚA, từ quả trái đầu tiên trong những hoa màu họ.
NUM 18:13 Khi họ mang đến cho CHÚA các hoa quả đầu mùa, thì những món đó thuộc về con. Ai trong gia đình con không bị ô dơ đều được phép ăn các món ấy.
NUM 18:14 Những gì người Ít-ra-en dâng cho CHÚA là của con.
NUM 18:15 Những con đầu lòng sinh ra, dù là người hay súc vật phải được dâng lên cho CHÚA. Các con đó sẽ thuộc về con. Nhưng con phải chuộc mọi con đầu lòng của người và các súc vật không sạch.
NUM 18:16 Khi các con đầu lòng được một tháng, con phải chuộc chúng bằng hai lượng bạc, tính theo cân Nơi Thánh.
NUM 18:17 Nhưng con không được chuộc con đầu lòng của bò, chiên, hay dê. Các con vật đó được coi là vật thánh. Hãy rưới huyết chúng trên bàn thờ và thiêu mỡ chúng dùng làm của lễ bằng lửa. Mùi thơm từ của lễ sẽ làm vừa lòng CHÚA.
NUM 18:18 Còn thịt của các con vật đó sẽ thuộc về con cũng như cái ức và cái đùi phải, đã được dâng lên, đều là của con.
NUM 18:19 Những gì người Ít-ra-en dâng lên như của lễ thánh thì ta, CHÚA, ban cho con, con trai, con gái con làm phần của các con vĩnh viễn. Đây là giao ước đời đời bằng muối lập trước mặt CHÚA cho con và con cái con.”
NUM 18:20 CHÚA cũng phán cùng A-rôn, “Con sẽ không thừa hưởng đất đai nào, cũng không làm chủ đất nào giữa vòng các người khác. Ta là tài sản của con trong vòng dân Ít-ra-en.
NUM 18:21 Khi dân Ít-ra-en dâng cho ta một phần mười về những gì họ làm ra, thì ta sẽ ban cho người Lê-vi phần mười đó xem như tiền công của họ trong việc phục vụ Lều Họp.
NUM 18:22 Nhưng các người Ít-ra-en khác không được đến gần Lều Họp, nếu không họ sẽ chết vì tội mình.
NUM 18:23 Chỉ có những người Lê-vi được phục vụ công tác trong Lều Họp và chịu trách nhiệm về những tội phạm liên quan đến Lều. Người Lê-vi sẽ không được hưởng đất đai nào trong vòng những người Ít-ra-en khác.
NUM 18:24 Nhưng khi người Ít-ra-en lấy một phần mười những gì họ làm ra mà dâng cho ta thì người Lê-vi được hưởng phần ấy. Vì thế mà ta nói về người Lê-vi như sau: ‘Họ sẽ không được hưởng đất đai nào giữa vòng người Ít-ra-en.’”
NUM 18:25 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 18:26 “Hãy nói cùng người Lê-vi như sau: Các con sẽ nhận được một phần mười về tất cả những gì dân Ít-ra-en làm ra, ta sẽ ban cho các con. Nhưng các con phải dâng lại một phần mười từ các của đó cho CHÚA.
NUM 18:27 Ta sẽ nhận lễ vật các con như ta nhận lễ vật từ những người khác là những người dâng ngũ cốc mới hay rượu mới.
NUM 18:28 Như thế các con cũng sẽ dâng của lễ cho CHÚA như những người Ít-ra-en khác. Khi các con nhận một phần mười từ dân Ít-ra-en thì các con dâng lại một phần mười những lễ vật đó cho A-rôn, thầy tế lễ, để làm phần của CHÚA.
NUM 18:29 Hãy chọn phần tốt nhất và thánh nhất từ những lễ vật để làm phần dâng cho CHÚA.”
NUM 18:30 Hãy nói với người Lê-vi: “Khi các con dâng lễ vật tốt nhất thì sẽ được nhận cũng như ta nhận ngũ cốc và rượu từ những người khác.
NUM 18:31 Các con và gia đình có thể ăn những đồ còn lại ở bất cứ đâu, vì đó là công của các con phục vụ trong Lều Họp.
NUM 18:32 Khi các con dâng lễ vật tốt nhất cho CHÚA, các con sẽ không mắc tội. Nhưng nếu các con xem các lễ vật thánh của người Ít-ra-en như những vật tầm thường khác, các con sẽ chết.”
NUM 19:1 CHÚA bảo Mô-se và A-rôn rằng,
NUM 19:2 “Đây là những lời giáo huấn của CHÚA truyền. Hãy bảo dân Ít-ra-en bắt một con bò cái tơ màu đỏ không tật nguyền và chưa mang ách.
NUM 19:3 Giao con bò đó cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa. Người sẽ mang nó ra ngoài doanh trại rồi giết nó.
NUM 19:4 Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa phải lấy ngón tay nhúng trong huyết nó và rảy bảy lần về phía trước của Lều Họp.
NUM 19:5 Rồi người sẽ chứng kiến người ta thiêu con bò; tất cả da, thịt, huyết và phân đều phải thiêu hết.
NUM 19:6 Sau đó thầy tế lễ sẽ lấy một que hương nam, một nhánh cây kinh giới, và một sợi dây đỏ liệng vào chỗ con bò đang bị thiêu.
NUM 19:7 Sau khi thầy tế lễ đã tắm và giặt quần áo mình, thì người có thể trở vào doanh trại, nhưng sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
NUM 19:8 Ai thiêu con bò phải tắm và giặt quần áo mình trong nước; người đó sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
NUM 19:9 Rồi một người tinh sạch sẽ hốt tro của con bò đem để một nơi tinh sạch bên ngoài doanh trại. Dân Ít-ra-en sẽ giữ tro đó để dùng trong nước tẩy uế, trong dịp lễ tẩy sạch.
NUM 19:10 Người hốt tro con bò phải giặt quần áo mình và bị ô dơ cho đến chiều tối. Đây là một qui tắc vĩnh viễn cho dân Ít-ra-en và các người ngoại quốc sống chung với các con.
NUM 19:11 Ai đụng đến xác người chết sẽ bị ô dơ trong bảy ngày.
NUM 19:12 Người đó phải tắm bằng nước tẩy uế sau ngày thứ ba và thứ bảy; rồi sẽ được tinh sạch lại. Nhưng nếu người đó không tắm vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy thì sẽ không được tinh sạch.
NUM 19:13 Nếu ai đụng đến xác người chết, bị ô dơ mà đi vào Lều Thánh của CHÚA thì làm cho Lều bị ô dơ; người đó phải bị loại khỏi dân Ít-ra-en. Nếu nước tẩy uế không rưới trên người đó, thì người vẫn bị ô dơ và sẽ mãi mãi bị ô dơ.
NUM 19:14 Sau đây là huấn thị về việc người chết trong lều: Ai ở trong lều ấy, hoặc ai đi vào lều ấy, sẽ bi ô dơ trong bảy ngày.
NUM 19:15 Những chai, lọ hay nồi niêu không đậy nắp sẽ bị ô dơ.
NUM 19:16 Nếu ai đụng đến người bị chết vì gươm hay chết tự nhiên ở ngoài lều, hay đụng đến xương người hoặc mồ mả, thì người đó sẽ bị ô dơ trong bảy ngày.
NUM 19:17 Nên ngươi phải dùng tro nơi của lễ thiêu để làm cho người đó tinh sạch lại. Hãy đổ nước tro vào trong bình.
NUM 19:18 Rồi một người tinh sạch sẽ lấy một nhánh cây kinh giới nhúng trong nước đó và rảy lên Lều cùng mọi vật dụng trong đó. Người cũng phải rảy lên tất cả những người có mặt ở đó cũng như trên người nào đã đụng vào xương, vào xác người bị giết, xác chết, hay mồ mả.
NUM 19:19 Người tinh sạch ấy phải rưới nước nầy lên người ô dơ vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy. Đến ngày thứ bảy thì người sẽ được tinh sạch. Người phải giặt quần áo, tắm trong nước và đến chiều tối người sẽ được tinh sạch.
NUM 19:20 Người nào bị ô dơ mà không làm cho mình tinh sạch sẽ bị loại khỏi cộng đồng. Vì họ không được rưới bằng nước tẩy uế nên vẫn bị ô dơ, người có thể làm cho Lều Thánh của CHÚA bị ô dơ.
NUM 19:21 Đây là qui tắc vĩnh viễn. Người rưới nước tẩy uế cũng phải giặt quần áo mình, và ai đụng đến nước đó cũng sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.
NUM 19:22 Vật gì người bị ô dơ đụng đến sẽ bị ô dơ, và ai đụng đến vật đó cũng sẽ bị ô dơ cho đến chiều tối.”
NUM 20:1 Vào tháng đầu tiên, toàn dân Ít-ra-en đến sa mạc Xin, và họ đóng trại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn cất tại đó.
NUM 20:2 Vì không có nước cho dân chúng, nên họ nổi loạn chống Mô-se và A-rôn.
NUM 20:3 Họ cãi nhau với Mô-se rằng, “Chẳng thà chúng tôi chết trước mặt CHÚA như anh em chúng tôi cho rồi.
NUM 20:4 Sao các ông mang dân sự của CHÚA vào sa mạc nầy? Để chúng tôi và gia súc chúng tôi bị chết à?
NUM 20:5 Sao các ông lại mang chúng tôi ra khỏi Ai-cập để đến chỗ khốn khổ nầy? Chẳng có thóc lúa, cây vả, cây nho, cây lựu mà cũng chẳng có nước để uống nữa!”
NUM 20:6 Mô-se và A-rôn liền bỏ dân chúng đi vào cửa Lều Họp. Hai người sấp mặt xuống đất tại đó rồi vinh hiển CHÚA hiện ra cùng họ.
NUM 20:7 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 20:8 “Hãy lấy cây gậy con, con và A-rôn, anh con phải tập họp dân chúng lại. Hãy nói với tảng đá trước mặt họ thì nước sẽ phun ra. Khi con làm cho nước phun ra từ tảng đá thì cho dân chúng và súc vật uống.”
NUM 20:9 Vậy Mô-se lấy cây gậy trước mặt CHÚA như Ngài dặn bảo.
NUM 20:10 Ông và A-rôn tập họp dân chúng trước tảng đá rồi Mô-se nói, “Bây giờ hãy nghe đây, các ngươi là kẻ phản nghịch lại Thượng Đế! Các ngươi có muốn tôi khiến tảng đá nầy phun nước ra cho các ngươi không?”
NUM 20:11 Mô-se liền giơ cây gậy đập tảng đá hai lần. Nước bắt đầu phun ra và dân chúng cùng súc vật đều uống.
NUM 20:12 Nhưng CHÚA bảo Mô-se và A-rôn, “Vì con không tin ta và không tôn ta là thánh trước mặt dân chúng, nên con không được dẫn họ vào xứ ta đã hứa cho họ.”
NUM 20:13 Các suối nước ở Mê-ri-ba là nơi dân Ít-ra-en tranh luận với CHÚA, và là nơi Ngài chứng tỏ mình là thánh.
NUM 20:14 Từ Ca-đe, Mô-se sai sứ giả đến vua Ê-đôm bảo rằng, “Em của vua là Ít-ra-en đây, xin thưa với vua rằng: Vua biết tất cả những nỗi khốn khổ chúng tôi đã trải qua,
NUM 20:15 các tổ tiên chúng tôi đi xuống Ai-cập và chúng tôi sống ở đó bao nhiêu năm ra sao. Người Ai-cập rất tàn ác đối với chúng tôi và tổ tiên chúng tôi,
NUM 20:16 nhưng khi chúng tôi kêu xin cùng CHÚA, thì Ngài nghe và sai một thiên sứ mang chúng tôi ra khỏi xứ Ai-cập. Bây giờ chúng tôi hiện ở Ca-đe đây, một thành nằm nơi biên giới xứ vua.
NUM 20:17 Xin vua cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ vua. Chúng tôi sẽ không đụng chạm đến ruộng nương hay vườn nho nào, cũng không uống nước giếng. Chúng tôi chỉ sẽ đi trên đường cái, không quay bên phải hay bên trái cho đến khi đã băng qua xứ vua.”
NUM 20:18 Nhưng vua Ê-đôm trả lời: “Các ngươi không được phép băng qua đây. Nếu các ngươi băng qua, ta sẽ mang gươm giáo ra chào đón các ngươi đó!”
NUM 20:19 Dân Ít-ra-en đáp: “Chúng tôi chỉ sẽ đi theo con đường cái, còn nếu chúng tôi hay súc vật uống nước của vua, thì chúng tôi sẽ trả tiền. Chúng tôi chỉ xin đi ngang qua, có thế thôi.”
NUM 20:20 Nhưng vua trả lời: “Các ngươi không được phép băng ngang qua đây.” Rồi người Ê-đôm kéo đại binh hùng mạnh ra đón dân Ít-ra-en.
NUM 20:21 Người Ê-đôm không chịu cho người Ít-ra-en băng ngang qua xứ mình, nên họ quay trở lại.
NUM 20:22 Toàn dân Ít-ra-en đi từ Ca-đe đến núi Hô-rơ,
NUM 20:23 gần ranh giới Ê-đôm. Nơi đó CHÚA bảo Mô-se và A-rôn,
NUM 20:24 “A-rôn sẽ qua đời. Người sẽ không vào xứ ta ban cho dân Ít-ra-en, vì cả hai con đã hành động nghịch lại mệnh lệnh ta nơi các suối Mê-ri-ba.
NUM 20:25 Hãy dẫn A-rôn và Ê-lê-a-sa, con trai người lên núi Hô-rơ,
NUM 20:26 cởi y phục đặc biệt của A-rôn mặc vào cho Ê-lê-a-sa, con trai người. A-rôn sẽ qua đời tại đó.”
NUM 20:27 Mô-se vâng lệnh CHÚA. Họ leo lên núi Hô-rơ. Toàn thể dân chúng thấy họ ra đi.
NUM 20:28 Mô-se cởi y phục của A-rôn và mặc vào cho Ê-lê-a-sa, con trai ông. Rồi A-rôn qua đời tại đó trên đỉnh núi. Mô-se và Ê-lê-a-sa đi xuống núi.
NUM 20:29 Sau khi hay tin A-rôn đã chết, dân Ít-ra-en than khóc ông trong ba mươi ngày.
NUM 21:1 Khi vua của A-rát, người Ca-na-an sống ở vùng miền nam, nghe rằng dân Ít-ra-en đang trên đường đến A-tha-rim thì tấn công dân Ít-ra-en và bắt được một vài người.
NUM 21:2 Dân Ít-ra-en liền khấn hứa cùng CHÚA như sau: “Nếu Ngài giúp chúng con đánh thắng dân nầy, chúng con sẽ hoàn toàn tiêu diệt các thành của chúng.”
NUM 21:3 CHÚA nhận lời cầu xin của dân Ít-ra-en và cho họ đánh bại dân Ca-na-an. Dân Ít-ra-en tận diệt người Ca-na-an và các thành của họ, nên chỗ đó gọi là Họt-ma.
NUM 21:4 Dân Ít-ra-en rời núi Hô-rơ đi trên đường về hướng Biển Sậy để đi vòng quanh xứ Ê-đôm. Nhưng dọc đường dân chúng bất bình
NUM 21:5 và ta thán cùng Thượng Đế và Mô-se. Họ kêu ca, “Tại sao ông mang chúng tôi ra khỏi Ai-cập để chết trong sa mạc nầy? Không có bánh mì và nước. Chúng tôi đã ngấy món ăn nầy rồi!”
NUM 21:6 CHÚA liền sai các rắn độc đến cắn dân chúng, khiến cho nhiều người Ít-ra-en bị chết.
NUM 21:7 Dân chúng đến nói với Mô-se, “Chúng tôi đã phạm tội khi ta thán về ông và CHÚA. Xin ông hãy cầu nguyện để CHÚA khiến các con rắn lìa xa chúng tôi.”
NUM 21:8 CHÚA bảo Mô-se, “Hãy làm một con rắn bằng đồng treo lên một cây sào. Ai bị rắn cắn mà nhìn nó thì sẽ sống.”
NUM 21:9 Vậy Mô-se làm một con rắn đồng treo lên một cây sào. Ai bị rắn cắn mà nhìn con rắn đồng nầy thì được sống.
NUM 21:10 Dân Ít-ra-en ra đi và cắm trại tại Ô-bốt.
NUM 21:11 Họ đi từ Ô-bốt tới Y-giê A-ba-rim trong sa mạc gần xứ Mô-áp.
NUM 21:12 Từ đó họ đi nữa và cắm trại trong thung lũng Xê-rết.
NUM 21:13 Từ đó họ đi và cắm trại ngang sông Ạc-nôn, trong sa mạc bắt đầu từ lãnh thổ A-mô-rít. Suối Ạc-nôn là ranh giới giữa dân Mô-áp và dân A-mô-rít.
NUM 21:14 Vì thế mà trong sách Chiến Tranh của CHÚA có viết: “… và Qua-hếp trong Xu-pha, các trũng sâu, sông Ạc-nôn,
NUM 21:15 cùng các phụ lưu dẫn đến vùng có dân cư A-rơ. Đó là những nơi nằm trên biên giới Mô-áp.”
NUM 21:16 Dân Ít-ra-en đi từ đó đến Bê-e; ở đó có một cái giếng nơi CHÚA bảo Mô-se, “Hãy tập họp dân chúng lại ta sẽ cho họ nước uống.”
NUM 21:17 Rồi dân Ít-ra-en ca bài nầy: “Giếng ơi, hãy phun nước lên! Hãy ca hát lên cho nước.
NUM 21:18 Các quan trưởng đã đào giếng nầy. Các nhà quyền quí đã xây nó. Bằng các cây phủ việt và cây sào mình. Đó là món quà trong sa mạc.”
NUM 21:19 Từ Mát-ta-na họ đi đến Na-ha-liên và tiếp tục đi đến Ba-mốt.
NUM 21:20 Từ Ba-mốt họ đi đến thung lũng Mô-áp mà từ đỉnh núi Phích-ga có thể nhìn thấy cả vùng sa mạc.
NUM 21:21 Dân Ít-ra-en sai sứ đến Xi-hôn, vua A-mô-rít nói rằng,
NUM 21:22 “Xin vua cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ vua. Chúng tôi sẽ không đi qua ruộng nương, vườn nho, hay uống nước giếng. Chúng tôi chỉ đi trên đường cái của vua cho đến chừng băng qua khỏi xứ vua.”
NUM 21:23 Nhưng vua Xi-hôn không cho phép dân Ít-ra-en băng qua xứ mình. Ông tập họp toàn thể binh đội lại và dàn trận đối đầu với dân Ít-ra-en trong sa mạc. Họ đánh nhau với dân Ít-ra-en tại Gia-hát.
NUM 21:24 Dân Ít-ra-en giết vua, chiếm xứ người từ sông Ạc-nôn cho đến sông Gia-bốc. Họ chiếm toàn xứ cho đến ranh giới dân Am-môn là xứ được bảo vệ rất vững chắc.
NUM 21:25 Dân Ít-ra-en cũng chiếm các thành dân A-mô-rít, lấy Hết-bôn và các thị trấn quanh đó.
NUM 21:26 Hết-bôn là thành nơi Xi-hôn, vua dân A-mô-rít, đóng đô. Trước kia vua đã từng giao chiến với vua Mô-áp và chiếm toàn xứ đến sông Ạc-nôn.
NUM 21:27 Vì thế mà các thi sĩ đã viết: “Hãy đến xây lại thành Hết-bôn; hãy tái thiết thành Xi-hôn.
NUM 21:28 Một ngọn lửa bắt cháy từ Hết-bôn; các ngọn lửa bùng phát ra từ thành Xi-hôn. Cơn hỏa hoạn đó tiêu hủy A-rơ của xứ Mô-áp và đốt tiêu vùng cao nguyên Ạc-nôn.
NUM 21:29 Khốn cho ngươi, Mô-áp ơi! Dân cư Kê-mốt bị tàn lụi rồi. Các con trai nó bỏ chạy, còn các con gái nó bị Xi-hôn, vua A-mô-rít bắt đi.
NUM 21:30 Nhưng chúng ta đã đánh bại các dân A-mô-rít đó. Chúng ta tiêu diệt thành trì chúng từ Hết-bôn cho đến Đi-bôn, Chúng ta tận diệt chúng cho đến Nô-pha, gần Mê-đê-ba.”
NUM 21:31 Vậy dân Ít-ra-en vào định cư trong xứ dân A-mô-rít.
NUM 21:32 Sau khi Mô-se sai các tay do thám đến thành Gia-xe, họ chiếm các thị trấn xung quanh và đánh đuổi dân A-mô-rít ở đó đi.
NUM 21:33 Rồi dân Ít-ra-en đi lên đường về phía Ba-san. Óc, vua của Ba-san kéo đại binh ra đón dân Ít-ra-en và hai bên chạm trán nhau tại Ết-rê-i.
NUM 21:34 CHÚA bảo Mô-se, “Đừng sợ vua đó. Ta sẽ trao nó, toàn đạo binh, và xứ nó vào tay các con. Hãy xử nó như các con đã xử Xi-hôn, vua A-mô-rít ở Hết-bôn.”
NUM 21:35 Vậy dân Ít-ra-en giết Óc, các con trai vua và toàn đạo binh vua; không chừa một ai, rồi chiếm xứ đó.
NUM 22:1 Rồi dân Ít-ra-en đi đến đồng bằng Mô-áp và đóng trại gần sông Giô-đanh đối ngang Giê-ri-cô.
NUM 22:2 Ba-lác con trai Xíp-bô thấy rõ mọi điều dân Ít-ra-en đã làm cho dân A-mô-rít.
NUM 22:3 Dân Mô-áp quá sợ vì thấy dân Ít-ra-en đông đến thế; thật tình Mô-áp rất khiếp sợ dân Ít-ra-en.
NUM 22:4 Người Mô-áp bảo các bô lão Mi-đi-an, “Dân nầy sẽ chiếm tất cả những gì quanh chúng ta như bò ăn cỏ.” Lúc ấy, Ba-lác, con Xíp-bô, làm vua Mô-áp.
NUM 22:5 Ông sai người đến gặp Ba-lam, con Bê-ô, ở Bê-tho, gần sông Ơ-phơ-rát là quê hương mình. Ba-lác nói, “Có một dân tộc vừa đi ra khỏi Ai-cập và tràn ngập khắp đất. Chúng đang đóng trại gần tôi,
NUM 22:6 và quá mạnh so với tôi. Cho nên ông hãy đến nguyền rủa chúng nó. Rất có thể tôi sẽ chiến thắng và đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Tôi biết nếu ông chúc phước ai thì phước đến, nếu ông nguyền rủa ai thì họa đến cho người đó.”
NUM 22:7 Các bô lão Mô-áp và Mi-đi-an ra đi mang lễ vật và tiền công theo để trả cho Ba-lam. Khi gặp Ba-lam, họ chuyển lại lời Ba-lác nói.
NUM 22:8 Ba-lam bảo họ, “Các anh cứ ở đây qua đêm, rồi tôi sẽ cho các anh biết điều CHÚA bảo tôi làm.” Vậy các bô lão Mô-áp ở lại.
NUM 22:9 Thượng Đế đến cùng Ba-lam và hỏi, “Mấy người đang ở với ngươi là ai vậy?”
NUM 22:10 Ba-lam thưa cùng Thượng Đế, “Ba-lác, con Xíp-bô, vua Mô-áp, sai họ đến với con và nói rằng:
NUM 22:11 Có một dân tộc mới ra khỏi Ai-cập đang tràn ngập đất. Cho nên ông hãy đến nguyền rủa chúng để may ra tôi có thể đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi xứ tôi.”
NUM 22:12 Nhưng Thượng Đế bảo Ba-lam, “Đừng đi với họ. Đừng nguyền rủa dân đó vì ta đã ban phước cho họ.”
NUM 22:13 Sáng hôm sau Ba-lam thức dậy bảo các bô lão của Ba-lác rằng, “Các anh hãy trở về xứ đi; CHÚA không cho phép tôi đi với các anh.”
NUM 22:14 Vậy các lãnh tụ Mô-áp trở về gặp Ba-lác trình rằng, “Ba-lam không chịu đi với chúng tôi.”
NUM 22:15 Nhưng Ba-lác sai nhóm lãnh đạo khác, lần nầy đông hơn và gồm nhiều người tai mắt hơn trước.
NUM 22:16 Họ đi đến Ba-lam nói rằng, “Ba-lác, con Xíp-bô nhắn như sau: Xin đừng để điều gì ngăn không cho ông đến với tôi.
NUM 22:17 Tôi sẽ trả công ông rất hậu và sẽ làm bất cứ điều gì ông bảo. Chỉ cần ông đến nguyền rủa dân đó cho tôi là đủ.”
NUM 22:18 Nhưng Ba-lam trả lời với các tôi tớ Ba-lác, “Dù Ba-lác cho tôi cả nhà bạc hay vàng đi nữa, tôi không thể bất tuân lệnh CHÚA, là Thượng Đế tôi, trong bất cứ việc gì dù lớn hay nhỏ.
NUM 22:19 Các anh hãy ở đây với tôi đêm nay như mấy người trước, rồi tôi sẽ biết CHÚA bảo tôi làm gì.”
NUM 22:20 Đêm đó Thượng Đế đến cùng Ba-lam bảo, “Những người đến cùng ngươi yêu cầu ngươi đi với họ. Ngươi cứ đi nhưng phải làm theo điều ta bảo ngươi.”
NUM 22:21 Sáng hôm sau, Ba-lam thức dậy chuẩn bị yên cương cho lừa, rồi lên đường cùng các lãnh đạo Mô-áp.
NUM 22:22 Nhưng Thượng Đế nổi giận vì Ba-lam ra đi, nên thiên sứ của CHÚA đứng trên đường để cản Ba-lam. Ba-lam đang cỡi lừa, có hai đầy tớ đi theo.
NUM 22:23 Khi con lừa thấy thiên sứ của CHÚA cầm gươm đứng trên đường thì nó rẽ khỏi đường và đi xuống ruộng. Ba-lam đập con lừa bắt nó đi lên đường trở lại.
NUM 22:24 Sau đó thiên sứ của CHÚA đứng trên một lối đi hẹp giữa hai vườn nho, hai bên có vách.
NUM 22:25 Con lừa thấy thiên sứ lần nữa, nó liền lách qua một bên vách ép chân Ba-lam vào đó. Ba-lam đập nó lần nữa.
NUM 22:26 Thiên sứ của CHÚA đi trước đến một chỗ rất hẹp, không thể nào quay bên trái hay phải được.
NUM 22:27 Khi con lừa thấy thiên sứ của CHÚA liền quị dưới chân Ba-lam. Ông tức mình lấy gậy đập nó.
NUM 22:28 Lúc đó CHÚA mở miệng con lừa cho nó nói được. Nó nói với Ba-lam rằng, “Tôi có làm gì ông đâu mà ông đập tôi ba lần?”
NUM 22:29 Ba-lam bảo nó, “Mầy làm như tao ngu lắm! Nếu có gươm trong tay thì tao đã giết mầy ngay bây giờ rồi!”
NUM 22:30 Nhưng con lừa hỏi Ba-lam, “Tôi là con lừa của ông. Ông đã cỡi tôi bao nhiêu năm nay. Đã bao giờ tôi hành động như thế nầy đối với ông chưa?” Ba-lam đáp, “Chưa.”
NUM 22:31 Lúc đó CHÚA mở mắt cho Ba-lam thấy thiên sứ của CHÚA đứng trên đường, cầm gươm trần trong tay. Ba-lam liền cúi sấp mình xuống đất trước mặt thiên sứ.
NUM 22:32 Thiên sứ CHÚA hỏi Ba-lam, “Sao ngươi đập con lừa ngươi ba lần? Ta đứng đây đặng cản ngươi vì ngươi đang làm bậy.
NUM 22:33 Con lừa thấy ta và ba lần tránh né ta. Nếu nó không tránh đi, ta đã giết ngươi rồi mà để cho nó sống.”
NUM 22:34 Ba-lam thưa cùng thiên sứ của CHÚA, “Tôi đã phạm tội; tôi không biết Ngài đứng trên đường để cản tôi. Nếu Ngài không bằng lòng, tôi xin quay trở về.”
NUM 22:35 Thiên sứ của CHÚA bảo Ba-lam, “Cứ đi với những người nầy nhưng chỉ được nói những điều ta bảo ngươi.” Vậy Ba-lam đi với nhóm lãnh đạo thuộc Ba-lác.
NUM 22:36 Nghe tin Ba-lam đang đi đến, Ba-lác liền ra đón ông tại A-rê trong xứ Mô-áp, bên cạnh suối Ạc-nôn, nơi biên giới xứ mình.
NUM 22:37 Ba-lác bảo Ba-lam, “Trước đây tôi đã đề nghị ông đến mau, tôi sẽ trả công cho ông rất hậu. Sao ông không đến?”
NUM 22:38 Ba-lam trả lời, “Bây giờ tôi đến với ông đây, nhưng không phải tôi muốn nói gì cũng được đâu. Tôi chỉ có thể nói những gì Thượng Đế bảo tôi mà thôi.”
NUM 22:39 Rồi Ba-lam đi với Ba-lác đến Ki-ri-át Hu-xốt.
NUM 22:40 Ba-lác dâng gia súc và chiên làm của lễ và dâng thịt cho Ba-lam cùng nhóm lãnh đạo đi với ông.
NUM 22:41 Sáng hôm sau Ba-lác mang Ba-lam đến Ba-mốt Ba-anh; từ đó họ có thể thấy vùng bên ngoài của doanh trại Ít-ra-en.
NUM 23:1 Ba-lam bảo Ba-lác, “Ông hãy xây bảy bàn thờ tại đây, chuẩn bị bảy con bò đực và bảy con chiên đực cho tôi.”
NUM 23:2 Ba-lác làm theo điều Ba-lam yêu cầu. Họ dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
NUM 23:3 Rồi Ba-lam bảo Ba-lác, “Ông hãy ở đây, bên cạnh của lễ thiêu, còn tôi sẽ đi. Nếu CHÚA đến với tôi, tôi sẽ cho ông biết điều Ngài chỉ bảo tôi.” Rồi Ba-lam đi đến một nơi cao hơn.
NUM 23:4 Thượng Đế hiện đến cùng ông tại đó. Ba-lam thưa cùng Ngài rằng, “Con đã chuẩn bị bảy bàn thờ và cũng đã dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.”
NUM 23:5 CHÚA liền phán cho Ba-lam những gì phải nói. Rồi Ngài bảo, “Hãy trở lại nói những điều đó với Ba-lác.”
NUM 23:6 Vậy Ba-lam đi trở lại với Ba-lác. Ba-lác và tất cả các bô lão Mô-áp vẫn còn đứng bên cạnh của lễ thiêu,
NUM 23:7 khi Ba-lam bảo họ như sau: “Ba-lác mời tôi đến đây từ xứ A-ram; vua Mô-áp cho tìm tôi từ các núi non miền Đông. Ba-lác bảo, ‘Hãy đến nguyền rủa dân tộc của Gia-cốp cho ta. Hãy đến phỉ báng dân Ít-ra-en.’
NUM 23:8 Nhưng Thượng Đế không nguyền rủa họ, làm sao tôi nguyền rủa họ được? CHÚA không phỉ báng họ, thì tôi không thể phỉ báng họ.
NUM 23:9 Tôi có thể nhìn thấy họ từ đỉnh núi; Tôi thấy họ từ các đồi. Tôi nhìn thấy một dân sống đơn độc, Tự cho mình khác những dân tộc khác.
NUM 23:10 Không ai có thể đếm được dân số của Gia-cốp, cũng không ai đếm được một phần tư của dân Ít-ra-en. Xin cho tôi qua đời như người nhân nghĩa, Cho tôi đồng chung số phận như họ!”
NUM 23:11 Ba-lác bảo Ba-lam, “Ông làm gì vậy? Tôi mời ông đến đây để nguyền rủa kẻ thù tôi mà rốt cuộc ông chỉ chúc phước cho chúng!”
NUM 23:12 Nhưng Ba-lam đáp, “Tôi phải nói những điều CHÚA bảo tôi nói.”
NUM 23:13 Sau đó Ba-lác nói với Ba-lam, “Hãy đi với tôi đến nơi khác để ông có thể thấy họ. Nhưng ông chỉ thấy một phần của họ thôi chớ không thấy hết được. Ở đó ông hãy nguyền rủa họ cho tôi.”
NUM 23:14 Vậy Ba-lác mang Ba-lam đến đồng ruộng Xô-phim trên đỉnh núi Phích-ga. Ở đó Ba-lác xây bảy bàn thờ và dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
NUM 23:15 Ba-lam bảo Ba-lác, “Ông hãy ở đây gần các của lễ thiêu còn tôi sẽ đi gặp Thượng Đế đằng kia.”
NUM 23:16 CHÚA hiện đến cùng Ba-lam dặn ông những điều phải nói. Rồi Ngài bảo ông, “Hãy trở lại với Ba-lác, nói đúng như thế!”
NUM 23:17 Vậy Ba-lam đi đến nơi mà Ba-lác và các bô lão Mô-áp đang đứng, cạnh các của lễ thiêu. Ba-lác hỏi Ba-lam, “CHÚA nói sao?”
NUM 23:18 Ba-lam liền bảo, “Nầy Ba-lác, hãy đứng lên nghe. Hãy nghe ta, hỡi con trai Xíp-bô.
NUM 23:19 Thượng Đế không phải là loài người nên không nói dối. Ngài không phải là con người nên không đổi ý. Điều gì Ngài phán thì Ngài làm. Điều gì Ngài hứa thì Ngài làm cho thành tựu.
NUM 23:20 Ngài bảo tôi chúc phước cho họ, nên tôi không thể thay đổi phước hạnh.
NUM 23:21 Ngài không thấy dân cư Gia-cốp có lỗi gì; Ngài không thấy có gì sai quấy trong Ít-ra-en. CHÚA là Thượng Đế của họ ở cùng họ, Vua lớn ở giữa họ.
NUM 23:22 Thượng Đế mang họ ra khỏi Ai-cập; Ngài mạnh như trâu rừng.
NUM 23:23 Không bùa chú nào ở giữa dân chúng Gia-cốp, cũng không có ma thuật nào trong Ít-ra-en. Nay người ta nói về họ thế nầy, ‘Hãy xem điều Thượng Đế làm cho Ít-ra-en!’
NUM 23:24 Họ nổi lên như sư tử cái; đứng dậy như sư tử đực. Loài sư tử không hề nghỉ ngơi cho đến khi no bụng, đến khi đã uống máu con mồi.”
NUM 23:25 Bấy giờ Ba-lác bảo Ba-lam, “Ông không nguyền rủa dân nầy thì thôi, ít ra cũng đừng chúc phước cho chúng!”
NUM 23:26 Ba-lam trả lời Ba-lác, “Tôi đã bảo ông là tôi chỉ có thể làm những gì CHÚA bảo tôi mà thôi.”
NUM 23:27 Rồi Ba-lác bảo Ba-lam, “Thôi để tôi mang ông đến một nơi khác. Không chừng Thượng Đế sẽ chịu để ông nguyền rủa họ nơi đó.”
NUM 23:28 Vậy Ba-lác đưa Ba-lam lên đỉnh núi Phê-ô nhìn xuống sa mạc.
NUM 23:29 Ba-lam bảo Ba-lác, “Hãy xây bảy bàn thờ tại đây và chuẩn bị cho tôi bảy con bò đực và bảy con chiên đực.”
NUM 23:30 Ba-lác làm theo điều Ba-lam yêu cầu, rồi ông dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
NUM 24:1 Ba-lam thấy rằng CHÚA muốn chúc phước cho Ít-ra-en nên ông không tìm các điềm lạ mà nhìn về hướng sa mạc.
NUM 24:2 Khi Ba-lam thấy dân Ít-ra-en đóng trại theo chi tộc thì Thần Linh của Thượng Đế nhập vào ông,
NUM 24:3 rồi ông diễn thuyết như sau: “Đây là lời diễn thuyết của Ba-lam, con trai Bê-ô, bài diễn thuyết của người nhìn thấy rõ;
NUM 24:4 bài diễn thuyết của người nghe được lời Thượng Đế. Ta thấy một viễn tượng từ Đấng Toàn Năng, Mắt ta vẫn mở khi ta sấp mình trước mặt Ngài.
NUM 24:5 Dân chúng Gia-cốp ơi, lều các ngươi rất đẹp! Còn nhà cửa các ngươi cũng vậy, hỡi người Ít-ra-en!
NUM 24:6 Lều các ngươi trải ra như thung lũng, như những mảnh vườn bên cạnh dòng sông. Giống như các cây ngũ vị hương do CHÚA trồng, như cây hương nam mọc cạnh suối nước.
NUM 24:7 Các lu nước Ít-ra-en bao giờ cũng đầy, và mùa màng họ luôn tràn ngập nước. Vua họ cao sang hơn A-gác; Nước họ sẽ cường thịnh.
NUM 24:8 Thượng Đế mang họ ra khỏi Ai-cập; họ mạnh như trâu rừng. Họ sẽ đánh bại quân thù mình và bẻ gãy xương kẻ thù; Họ sẽ dùng tên bắn quân thù.
NUM 24:9 Như sư tử, họ chuẩn bị vồ mồi; như sư tử cái không ai dám đánh thức. Ai chúc phước họ sẽ được phước, Ai nguyền rủa họ sẽ bị nguyền rủa.”
NUM 24:10 Lúc đó Ba-lác vô cùng tức giận với Ba-lam. Ông đập tay xuống giận dữ bảo Ba-lam, “Tôi kêu ông đến đây để nguyền rủa kẻ thù tôi nhưng ông lại chúc phước cho chúng ba lần.
NUM 24:11 Bây giờ hãy về đi! Tôi hứa sẽ trả tiền công hậu cho ông, nhưng CHÚA làm cho ông mất phần đó rồi.”
NUM 24:12 Ba-lam nói với Ba-lác, “Khi ông sai sứ đến với tôi, tôi đã bảo họ rằng:
NUM 24:13 ‘Dù Ba-lác cho tôi cả lâu đài đầy bạc và vàng, tôi cũng không thể làm nghịch lại mệnh lệnh CHÚA. Tự tôi không thể làm điều gì, dù tốt hay xấu, nhưng tôi phải làm điều CHÚA dạy.’
NUM 24:14 Bây giờ tôi đi trở về cùng dân cư của tôi, nhưng tôi sẽ cho ông biết những gì dân nầy sẽ làm cho dân ông trong tương lai.”
NUM 24:15 Rồi Ba-lam diễn thuyết như sau: “Đây là lời diễn thuyết của Ba-lam, con trai Bê-ô, bài diễn thuyết của người nhìn thấy rõ;
NUM 24:16 Đây là lời diễn thuyết của người nghe được lời phán của Thượng Đế. Ta biết rõ Đấng Chí Cao. Ta thấy một dị tượng của Đấng Toàn Năng, Mắt ta vẫn mở khi ta sấp mình trước mặt Ngài.
NUM 24:17 Ta thấy đấng sẽ đến trong tương lai, Đấng sẽ đến, nhưng không đến ngay. Một ngôi sao sẽ ra từ dòng dõi Gia-cốp; Một Đấng cầm quyền sẽ xuất thân từ Ít-ra-en. Người sẽ chà đạp các đầu của Mô-áp và đập nát sọ của các con trai Sết.
NUM 24:18 Ê-đôm sẽ bị thất thế; Xứ Ê-đôm, kẻ thù của họ, sẽ bị chiếm. Nhưng Ít-ra-en sẽ trở nên phú cường.
NUM 24:19 Một lãnh tụ sẽ ra từ con cháu Gia-cốp. Người sẽ tiêu diệt những kẻ sót lại trong thành.”
NUM 24:20 Rồi Ba-lam nhìn thấy A-ma-léc và nói: “A-ma-léc là dân tộc quan trọng nhất, nhưng cuối cùng A-ma-léc sẽ bị tiêu diệt.”
NUM 24:21 Rồi Ba-lam nhìn thấy người Kê-nít và nói: “Nhà cửa ngươi an toàn như tổ chim trên ghềnh đá.
NUM 24:22 Nhưng các ngươi là người Kê-nít sẽ bị đốt tiêu; A-xy-ri sẽ bắt các ngươi đi.”
NUM 24:23 Rồi Ba-lam diễn giảng tiếp: “Khi Thượng Đế làm điều đó thì không còn ai sống nổi.
NUM 24:24 Tàu bè sẽ giương buồm từ các bờ biển đảo Chíp Chúng sẽ đánh bại A-xy-ri cùng Ê-be, nhưng chính chúng cũng sẽ bị tiêu diệt.”
NUM 24:25 Sau đó Ba-lam lên đường trở về nhà mình, còn Ba-lác cũng lên đường.
NUM 25:1 Trong khi dân Ít-ra-en đang tạm dừng ở Si-tim thì một số đàn ông bắt đầu ăn nằm với các phụ nữ Mô-áp.
NUM 25:2 Đàn bà Mô-áp mời họ dâng của lễ cho các thần mình, rồi người Ít-ra-en ăn các đồ cúng các thần ấy.
NUM 25:3 Vậy dân Ít-ra-en bắt đầu cúng thờ thần Ba-anh ở Phê-ô nên CHÚA vô cùng giận dữ.
NUM 25:4 Ngài bảo Mô-se, “Giữa ban ngày và trước mặt CHÚA, hãy mang xử tử tất cả những người lãnh đạo dân chúng! Rồi CHÚA sẽ nguôi giận đối với dân Ít-ra-en.”
NUM 25:5 Mô-se liền bảo các quan án Ít-ra-en, “Mỗi người trong các ông phải giết bất cứ ai đã thờ cúng Ba-anh Phê-ô.”
NUM 25:6 Mô-se cùng toàn dân Ít-ra-en nhóm lại nơi cửa Lều Họp và khóc lóc. Có một người Ít-ra-en mang một phụ nữ Mi-đi-an đến cho anh em mình trước mắt Mô-se và toàn thể dân chúng.
NUM 25:7 Thấy vậy, Phi-nê-ha, con trai Ê-lê-a-sa, tức cháu thầy tế lễ A-rôn, rời chỗ họp đi lấy cây giáo.
NUM 25:8 Ông đi theo người Ít-ra-en vào lều, rồi đâm chết người đó cùng người đàn bà, thì bệnh dịch khủng khiếp giữa vòng dân Ít-ra-en liền dừng lại.
NUM 25:9 Bệnh dịch đó giết hai mươi bốn ngàn người.
NUM 25:10 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 25:11 “Phi-nê-ha, con Ê-lê-a-sa, cháu thầy tế lễ A-rôn, đã cứu dân Ít-ra-en khỏi cơn thịnh nộ ta. Người gớm ghét tội lỗi như ta vậy. Vì người đã phục hồi danh dự ta giữa vòng họ, nên ta không giết họ.
NUM 25:12 Vậy hãy bảo Phi-nê-ha rằng, ta lập ước với người.
NUM 25:13 Người và dòng dõi người sẽ luôn luôn làm thầy tế lễ vì người rất quan tâm đến danh dự của Thượng Đế mình. Người đã tẩy sạch doanh trại cho dân Ít-ra-en.”
NUM 25:14 Xim-ri, con Xa-lu, là tên của người Ít-ra-en bị giết cùng với người đàn bà Mi-đi-an. Người là trưởng một gia đình thuộc chi tộc Xi-mê-ôn.
NUM 25:15 Còn Cô-bi là tên của người đàn bà Mi-đi-an bị giết. Cô ta là con gái Xu-rơ, trưởng tộc của một dòng họ Mi-đi-an.
NUM 25:16 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 25:17 “Người Mi-đi-an là kẻ thù các ngươi, phải giết chúng.
NUM 25:18 Họ đã xem các ngươi như kẻ thù khi phỉnh gạt các ngươi tại Phê-ô, và cũng vì các ngươi đã giết Cô-bi, chị của họ, tức con gái của một trưởng tộc Mi-đi-an. Đó là người đàn bà bị giết khi bệnh dịch bộc phát lúc dân chúng phạm tội tại Phê-ô.”
NUM 26:1 Sau trận dịch lớn đó CHÚA bảo Mô-se và Ê-lê-a-sa, con A-rôn là thầy tế lễ rằng,
NUM 26:2 “Hãy kiểm kê dân số Ít-ra-en theo gia đình. Kiểm kê tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên có thể phục vụ trong quân ngũ Ít-ra-en.”
NUM 26:3 Mô-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ nói với dân chúng trong đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô rằng,
NUM 26:4 “Hãy đếm tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, theo như CHÚA truyền dặn Mô-se.” Sau đây là những người Ít-ra-en đã ra khỏi Ai-cập:
NUM 26:5 Chi tộc Ru-bên, con trưởng nam của Ít-ra-en, được kiểm kê. Ha-nóc sinh ra dòng họ Ha-nóc; Ba-lu sinh ra dòng họ Ba-lu;
NUM 26:6 Hết-rôn sinh ra dòng họ Hết-rôn; Cát-mi sinh ra dòng họ Cát-mi.
NUM 26:7 Đó là tất cả các dòng họ của Ru-bên, tổng cộng 43.730 đàn ông.
NUM 26:8 Con trai của Ba-lu là Ê-li-áp,
NUM 26:9 các con trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Đa-than, và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram cầm đầu những người nổi loạn chống Mô-se và A-rôn, đi theo Cô-ra phản nghịch lại CHÚA.
NUM 26:10 Đất hả miệng nuốt họ và Cô-ra; họ chết một lượt với 250 người bị lửa thiêu. Đó là dấu hiệu cảnh cáo,
NUM 26:11 nhưng các con Cô-ra không chết.
NUM 26:12 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Xi-mê-ôn: Nê-mu-ên sinh ra dòng họ Nê-mu-ên; Gia-min sinh ra dòng họ Gia-min; Gia-kin sinh ra dòng họ Gia-kin;
NUM 26:13 Xê-ra sinh ra dòng họ Xê-ra; Sa-un sinh ra dòng họ Sa-un.
NUM 26:14 Đó là tất cả các dòng họ Xi-mê-ôn; tổng cộng là 22.200 đàn ông.
NUM 26:15 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Gát: Xê-phôn sinh ra dòng họ Xê-phôn; Ha-ghi sinh ra dòng họ Ha-ghi; Su-ni sinh ra dòng họ Su-ni;
NUM 26:16 Ốt-ni sinh ra dòng họ Ốt-ni; Ê-ri sinh ra dòng họ Ê-ri;
NUM 26:17 từ A-rô-đi có dòng họ A-rô-đi; từ A-rê-li có dòng họ A-rê-li.
NUM 26:18 Đó là tất cả những dòng họ đàn ông.
NUM 26:19 Hai con trai của Giu-đa là Ê-rơ và Ô-nan đã chết trong xứ Ca-na-an.
NUM 26:20 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Giu-đa: Sê-la sinh ra dòng họ Sê-la; Phê-rê sinh ra dòng họ Phê-rê; Xê-ra sinh ra dòng họ Xê-ra.
NUM 26:21 Sau đây là những dòng họ Phê-rê: Hết-rôn sinh ra dòng họ Hết-rôn; Ha-mun sinh ra dòng họ Ha-mun.
NUM 26:22 Đó là tất cả các dòng họ thuộc Giu-đa, tổng cộng là 76.500 đàn ông.
NUM 26:23 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Y-xa-ca: Thô-la sinh ra dòng họ Thô-la; Bu-a sinh ra dòng họ Bu-a;
NUM 26:24 Gia-súp sinh ra dòng họ Gia-súp; Sim-rôn sinh ra dòng họ Sim-rôn.
NUM 26:25 Đó là tất cả các dòng họ thuộc Y-xa-ca tổng cộng 64.300 đàn ông.
NUM 26:26 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Xê-bu-lôn: Xê-rết sinh ra dòng họ Xê-rết; Ê-lôn sinh ra dòng họ Ê-lôn; Gia-lê-ên sinh ra dòng họ Gia-lê-ên.
NUM 26:27 Đó là tất cả các dòng họ thuộc Xê-bu-lôn, tổng cộng 60.500 đàn ông.
NUM 26:28 Sau đây là các dòng họ thuộc Giô-xép qua Ma-na-xe và Ép-ra-im.
NUM 26:29 Các dòng họ sau đây thuộc Ma-na-xe: Ma-kia sinh ra dòng họ Ma-kia (Ma-kia là cha của Ghi-lê-át); Ghi-lê-át sinh ra dòng họ Ghi-lê-át.
NUM 26:30 Sau đây là các dòng họ xuất thân từ Ghi-lê-át: Y-ê-xe sinh ra dòng họ Y-ê-xe; Hê-léc sinh ra dòng họ Hê-léc;
NUM 26:31 Át-ri-ên sinh ra dòng họ Át-ri-ên; Sê-chem sinh ra dòng họ Sê-chem;
NUM 26:32 Sê-mi-đa có dòng họ Sê-mi-đa; Hê-phe sinh dòng họ Hê-phe.
NUM 26:33 Xê-lô-phê-hát, con trai Hê-phe không có con trai; chỉ có con gái tên là Ma-la, Nô-ê, Hóc-la, Minh-ca và Thiệt-xa.
NUM 26:34 Đó là tất cả các dòng họ Ma-na-xe, tổng cộng 52.700 đàn ông.
NUM 26:35 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Ép-ra-im: Su-thê-la sinh dòng họ Su-thê-la; Bê-ke sinh dòng họ Bê-ke; Ta-han sinh dòng họ Ta-han.
NUM 26:36 Sau đây là dòng họ Su-thê-la: Ê-ran sinh dòng họ Ê-ran.
NUM 26:37 Đó là tất cả các dòng họ Ép-ra-im, tổng cộng 32.500 đàn ông. Đó là các dòng họ xuất xứ từ Giô-xép.
NUM 26:38 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Bên-gia-min: Bê-la sinh dòng họ Bê-la; Ách-bên sinh dòng họ Ách-Bên; A-hi-ram sinh dòng họ A-hi-ram;
NUM 26:39 Su-pham sinh dòng họ Su-pham; Hu-pham sinh dòng họ Hu-pham.
NUM 26:40 Sau đây là các dòng họ Bê-la: Át-đơ và Na-a-man. Át-đơ sinh dòng họ Át-đơ; Na-a-man sinh dòng họ Na-a-man.
NUM 26:41 Đó là tất cả các dòng họ thuộc Bên-gia-min, tổng cộng 45.600 đàn ông.
NUM 26:42 Sau đây là dòng họ thuộc chi tộc Đan: Su-ham sinh dòng họ Su-ham. Đó là gia đình của Đan,
NUM 26:43 và tổng số người đàn ông trong dòng họ Su-ham thuộc Đan là 64.400 người.
NUM 26:44 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc A-se: Im-na sinh dòng họ Im-na; Ích-vi sinh dòng họ Ích-vi; Bê-ri-a sinh dòng họ Bê-ri-a.
NUM 26:45 Sau đây là các dòng họ xuất xứ từ Bê-ri-a: Hê-be sinh dòng họ Hê-be; Manh-kiên sinh dòng họ Manh-kiên.
NUM 26:46 (A-se cũng có một người con gái tên Xê-ra.)
NUM 26:47 Đó là tất cả các dòng họ thuộc A-se, tổng cộng là 53.400 đàn ông.
NUM 26:48 Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Nép-ta-li: Gia-xên sinh dòng họ Gia-xên; Gu-ni sinh dòng họ Gu-ni;
NUM 26:49 Giê-xe sinh dòng họ Giê-xe; Si-lem sinh dòng họ Si-lem.
NUM 26:50 Đó là tất cả các dòng họ thuộc chi tộc Nép-ta-li tổng cộng 45.400 đàn ông.
NUM 26:51 Như thế tổng số đàn ông trong Ít-ra-en là 601.730 người.
NUM 26:52 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 26:53 “Hãy chia đất cho các người ấy theo số tên.
NUM 26:54 Chi tộc lớn sẽ nhận được nhiều đất hơn chi tộc nhỏ; diện tích đất mỗi chi tộc nhận được tùy vào số người của chi tộc đó.
NUM 26:55 Hãy chia bằng cách bắt thăm, và đất mà chi tộc nào nhận được sẽ mang tên chi tộc đó.
NUM 26:56 Chia đất giữa nhóm lớn và nhóm nhỏ bằng cách bắt thăm.”
NUM 26:57 Chi tộc Lê-vi cũng được kiểm kê. Sau đây là các dòng họ thuộc chi tộc Lê-vi: Ghẹt-sôn sinh dòng họ Ghẹt-sôn; Cô-hát sinh dòng họ Cô-hát; Mê-ra-rin sinh dòng họ Mê-ra-ri.
NUM 26:58 Sau đây cũng là dòng họ thuộc chi tộc Lê-vi: dòng họ Líp-ni, dòng họ Hếp-rôn, dòng họ Ma-li, dòng họ Mu-si, và dòng họ Cô-ra. (Cô-hát là ông tổ của Am-ram,
NUM 26:59 vợ Am-ram là Giô-kê-bết. Nàng thuộc chi tộc Lê-vi và sinh trưởng ở Ai-cập. Nàng và Am-ram có hai con trai: A-rôn, Mô-se, và một con gái là Mi-ri-am.
NUM 26:60 A-rôn là cha của Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
NUM 26:61 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết vì dâng loại lửa trái phép trước mặt CHÚA.)
NUM 26:62 Tổng số người nam thuộc chi tộc Lê-vi tuổi từ một tháng trở lên là 23.000 người nhưng họ không được tính chung vào các người Ít-ra-en khác vì họ không được cấp đất nào giữa vòng các người Ít-ra-en khác cả.
NUM 26:63 Mô-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa kiểm kê tất cả những người đó. Họ kiểm kê dân Ít-ra-en trong đồng bằng Mô-áp đối diện sông Giô-đanh nhìn qua Giê-ri-cô.
NUM 26:64 Mô-se và thầy tế lễ A-rôn đã kiểm kê dân Ít-ra-en trong sa mạc Si-nai nhưng không có ai được kiểm kê lần nầy trong đồng bằng Mô-áp nằm trong kỳ kiểm kê trước.
NUM 26:65 CHÚA đã bảo dân Ít-ra-en là tất cả đều sẽ chết trong sa mạc, chỉ có hai người còn sống sót là Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê và Giô-suê con trai của Nun mà thôi.
NUM 27:1 Lúc đó các con gái của Xê-lô-phê-hát đến. Xê-lô-phê-hát là con trai của Hê-phe, cháu Ghi-lê-át, chắt Ma-kia, chít Ma-na-xe. Các con gái Xê-lô-phê-hát thuộc họ Ma-na-xe, con trai Giô-xép. Tên các cô gái đó là Ma-la, Nô-ê, Hóc-la, Minh-ca và Thiệt-xa.
NUM 27:2 Các cô đến cửa Lều Họp đứng trước Mô-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, các lãnh tụ, và toàn thể dân chúng. Các cô thưa,
NUM 27:3 “Cha chúng tôi đã chết trong sa mạc. Ông ấy không phải là một trong những kẻ theo phe Cô-ra phản nghịch lại CHÚA, nhưng ông chết vì tội mình, và không có con trai.
NUM 27:4 Vì không có con trai cho nên tên của cha chúng tôi sẽ tiêu mất. Xin cấp cho chúng tôi tài sản giữa vòng thân nhân của cha chúng tôi.”
NUM 27:5 Mô-se trình trường hợp các cô lên CHÚA,
NUM 27:6 CHÚA bảo ông rằng,
NUM 27:7 “Các con gái Xê-lô-phê-hát có lý; chúng phải nhận được phần tài sản của cha chúng. Hãy cấp cho chúng tài sản giữa vòng thân nhân của cha chúng.
NUM 27:8 Hãy bảo người Ít-ra-en: Nếu người nào chết không có con trai thì tất cả tài sản người sẽ về con gái người ấy.
NUM 27:9 Nếu người không có con gái thì tất cả tài sản người sẽ về anh em người.
NUM 27:10 Nếu người không có anh em thì tất cả tài sản người sẽ về chú bác người.
NUM 27:11 Và nếu cha người không có anh em thì tất cả tài sản người sẽ về thân nhân gần nhất trong dòng họ. Đây là qui tắc cho dân Ít-ra-en, theo như mệnh lệnh CHÚA truyền dặn Mô-se.”
NUM 27:12 Sau đó CHÚA bảo Mô-se, “Hãy leo lên núi A-ba-rim nầy và nhìn khắp xứ mà ta đã cho dân Ít-ra-en.
NUM 27:13 Sau khi nhìn thấy xứ đó, con sẽ qua đời về với tổ tiên như A-rôn anh con,
NUM 27:14 vì hai con hành động nghịch lại mệnh lệnh ta trong sa mạc Xin. Con không tôn ta là thánh trước mặt dân chúng nơi các suối Mê-ri-ba.” (Tức là các suối Mê-ri-ba ở Ca-đe trong sa mạc Xin.)
NUM 27:15 Mô-se thưa cùng CHÚA,
NUM 27:16 “CHÚA là Thượng Đế của tất cả thần linh trong mọi người. Xin Ngài chọn một lãnh tụ để hướng dẫn dân nầy,
NUM 27:17 Người sẽ đi vào ra trước mặt họ. Người sẽ dẫn họ ra như đàn chiên và mang họ vào; dân chúng của CHÚA chẳng nên như chiên không có người chăn.”
NUM 27:18 Vì vậy CHÚA bảo Mô-se, “Hãy chọn Giô-suê, con trai của Nun, vì Thần linh ta ở trong người. Hãy đặt tay con trên người,
NUM 27:19 bảo người đứng trước mặt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và cả dân chúng. Rồi ra lệnh cho người trước sự chứng kiến của họ.
NUM 27:20 Hãy san sẻ quyền lực của con cho người, để dân Ít-ra-en vâng lời người.
NUM 27:21 Người phải đứng trước mặt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, rồi Ê-lê-a-sa sẽ dùng U-rim tìm biết ý CHÚA. Dân Ít-ra-en sẽ đi ra theo lệnh người, và sẽ đi vào cũng theo lệnh người.”
NUM 27:22 Mô-se làm theo mọi điều CHÚA bảo mình. Ông mang Giô-suê ra đứng trước mặt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và cả dân chúng,
NUM 27:23 rồi đặt tay trên người và truyền lệnh, như CHÚA đã dặn ông.
NUM 28:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 28:2 “Hãy truyền lệnh nầy cho dân Ít-ra-en. Bảo họ: Hãy mang đến cho ta của lễ bằng thức ăn nướng trong lửa để có mùi thơm làm vừa lòng ta, và phải đem đúng giờ đã định.
NUM 28:3 Hãy bảo họ: Sau đây là những của lễ mà các ngươi phải đem đến cho CHÚA: Hai con chiên con một tuổi làm của lễ thiêu mỗi ngày. Các con chiên đó không được có tật nguyền.
NUM 28:4 Buổi sáng dâng một con, chạng vạng dâng một con.
NUM 28:5 Ngoài ra cũng phải mang của lễ chay gồm hai lít bột mịn trộn với ba phần tư lít dầu ô-liu ép.
NUM 28:6 Đó là của lễ thiêu dâng hằng ngày, bắt đầu tại núi Si-nai; mùi thơm từ của lễ thiêu sẽ làm vừa lòng CHÚA.
NUM 28:7 Hãy dâng ba phần tư lít rượu cùng với mỗi con chiên để làm của lễ uống; đổ rượu đó ra cho CHÚA tại Nơi Thánh.
NUM 28:8 Hãy dâng con chiên thứ nhì vào lúc chạng vạng. Cũng phải làm giống như buổi sáng, tức là dâng của lễ chay và của lễ uống. Của lễ đó phải dâng bằng lửa, có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA.
NUM 28:9 Vào ngày Sa-bát, các ngươi phải dâng hai con chiên con một tuổi không tật nguyền. Ngoài ra cũng phải dâng của lễ uống và của lễ chay; của lễ chay gồm bốn lít rưỡi bột mịn trộn với dầu ô-liu.
NUM 28:10 Đó là của lễ thiêu cho mỗi ngày Sa-bát, ngoài của lễ thiêu và của lễ uống hằng ngày.
NUM 28:11 Vào ngày đầu mỗi tháng hãy mang của lễ thiêu đến cho CHÚA. Của lễ đó gồm hai con bò đực tơ, một con chiên đực, bảy con chiên con một tuổi, tất cả không được có tật nguyền.
NUM 28:12 Dâng của lễ chay với mỗi con bò đực tơ chung với sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu ô-liu. Ngoài ra cũng phải dâng của lễ chay chung với con chiên đực. Của lễ đó gồm bốn lít rưỡi bột mịn trộn dầu ô-liu.
NUM 28:13 Cũng phải dâng của lễ chay với mỗi con chiên con, của lễ gồm có hai lít bột mịn trộn dầu ô-liu. Đó là của lễ thiêu, có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA.
NUM 28:14 Của lễ uống dâng với mỗi con bò tơ đực gồm hai lít rưỡi rượu, còn với mỗi con chiên đực thì một lít, và với mỗi con chiên con thì ba phần tư lít rượu. Đó là các của lễ phải dâng hằng tháng trong năm.
NUM 28:15 Ngoài của lễ thiêu và của lễ uống dâng hằng ngày, hãy mang một con dê làm của lễ chuộc tội đến cho CHÚA.
NUM 28:16 Lễ Vượt Qua của CHÚA sẽ là ngày mười bốn tháng thứ nhất.
NUM 28:17 Lễ Bánh Không Men bắt đầu ngày mười lăm tháng đó. Trong bảy ngày các ngươi chỉ được phép ăn bánh mì không men.
NUM 28:18 Vào ngày đầu tiên của kỳ lễ phải có một buổi họp thánh. Đừng làm việc gì trong ngày ấy.
NUM 28:19 Hãy mang đến cho CHÚA một của lễ dâng bằng lửa, một của lễ thiêu gồm hai con bò tơ đực, một con chiên đực, và bảy con chiên con đực. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 28:20 Cùng với mỗi con bò tơ đực phải mang một của lễ chay gồm sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu ô-liu. Còn mỗi con chiên đực thì mang bốn lít rưỡi bột mịn trộn dầu.
NUM 28:21 Còn mỗi con chiên con phải mang hai lít bột mịn trộn dầu.
NUM 28:22 Hãy mang một con dê làm của lễ chuộc tội để làm sạch nơi thánh cho các ngươi.
NUM 28:23 Hãy mang các của lễ nầy ngoài các của lễ thiêu các ngươi dâng mỗi sáng.
NUM 28:24 Vậy mỗi ngày trong tuần phải mang thực phẩm để làm của lễ bằng lửa có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA. Đó là ngoài của lễ thiêu và của lễ uống hằng ngày.
NUM 28:25 Ngày thứ bảy các ngươi phải có một buổi họp thánh. Hãy nghỉ ngơi, đừng làm việc gì trong ngày ấy.
NUM 28:26 Vào ngày sản vật đầu tiên khi các ngươi mang ngũ cốc mới đến cho CHÚA trong kỳ Lễ Các Tuần thì phải có một buổi họp thánh. Đừng làm việc gì trong ngày ấy.
NUM 28:27 Hãy mang của lễ thiêu sau đây đến cho CHÚA: hai con bò tơ đực, một con chiên đực, bảy con chiên con một tuổi. Mùi thơm của lễ sẽ làm vừa lòng CHÚA.
NUM 28:28 Ngoài ra cùng với mỗi con bò đực mang một của lễ chay gồm sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu. Cùng với mỗi con chiên đực mang bốn lít rưỡi bột mịn,
NUM 28:29 còn mỗi con chiên con thì mang hai lít bột mịn.
NUM 28:30 Dâng một con dê đực để làm sạch nơi thánh cho các ngươi.
NUM 28:31 Hãy mang các của lễ nầy và các của lễ uống ngoài của lễ thiêu và của lễ chay hằng ngày. Các thú vật đem dâng không được có tật nguyền.”
NUM 29:1 “Vào ngày đầu tiên tháng bảy phải có một buổi họp thánh. Đừng làm việc gì hết trong ngày đó. Đó là ngày các ngươi phải thổi kèn.
NUM 29:2 Hãy mang các của lễ thiêu sau đây để có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA: một con bò tơ đực, một con chiên đực, và bảy con chiên con một tuổi. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:3 Cùng với con bò đực hãy dâng một của lễ chay gồm sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu. Với mỗi con chiên đực thì dâng bốn lít rưỡi,
NUM 29:4 còn mỗi con chiên con dâng hai lít dầu.
NUM 29:5 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội để làm sạch nơi thánh cho các ngươi.
NUM 29:6 Các của lễ nầy là ngoài các của lễ thiêu hằng tháng và hằng ngày. Các của lễ chay và của lễ uống phải làm theo như ta đã dặn biểu các ngươi. Các của lễ nầy phải dâng bằng lửa cho CHÚA có mùi thơm làm vừa lòng Ngài.
NUM 29:7 Hãy tổ chức một buổi họp thánh vào ngày mười tháng bảy. Trong ngày đó hãy cữ ăn và đừng làm việc gì cả.
NUM 29:8 Hãy mang các của lễ thiêu sau đây có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA: một con bò tơ đực, một con chiên đực, và bảy con chiên con một tuổi. Các con thú không được có tật nguyền.
NUM 29:9 Mang theo mỗi con bò đực một của lễ chay gồm sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu. Mỗi con chiên đực thì mang bốn lít rưỡi bột mịn,
NUM 29:10 và mỗi con chiên con thì mang hai lít.
NUM 29:11 Dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội. Đây là của lễ ngoài các của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, của lễ chay, và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:12 Hãy tổ chức một buổi họp thánh vào ngày mười lăm tháng bảy. Đừng làm việc gì trong ngày đó. Hãy giữ lễ nầy cho CHÚA trong bảy ngày.
NUM 29:13 Hãy mang các của lễ thiêu sau đây dâng bằng lửa có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA: mười ba con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn con chiên con một tuổi. Các thú vật phải không có tật nguyền.
NUM 29:14 Mang theo sáu lít rưỡi bột mịn trộn dầu cho mỗi con bò đực. Mỗi con chiên đực thì đem bốn lít rưỡi,
NUM 29:15 và mỗi một con trong mười bốn con chiên con thì mang hai lít.
NUM 29:16 Dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:17 Vào ngày thứ hai của kỳ lễ nầy dâng mười hai con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên con một tuổi. Các thú vật không được có tật nguyền.
NUM 29:18 Mang của lễ chay và của lễ uống cùng với các con bò tơ đực, chiên, và chiên con theo số đã định.
NUM 29:19 Dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:20 Vào ngày thứ ba dâng mười một con bò đực, hai con chiên đực và mười bốn con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:21 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:22 Dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:23 Vào ngày thứ tư dâng mười con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:24 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:25 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:26 Vào ngày thứ năm dâng chín con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:27 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:28 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:29 Vào ngày thứ sáu dâng tám con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:30 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:31 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:32 Vào ngày thứ bảy dâng bảy con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:33 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:34 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:35 Vào ngày thứ tám phải có một buổi lễ kết thúc. Đừng làm việc gì hết trong ngày ấy.
NUM 29:36 Hãy mang một của lễ dâng bằng lửa, một của lễ thiêu có mùi thơm làm vừa lòng CHÚA. Dâng một con bò đực, một con chiên đực, và bảy con chiên con. Tất cả không được có tật nguyền.
NUM 29:37 Hãy mang của lễ chay, của lễ uống cùng với các con bò đực, chiên và chiên con theo số đã định.
NUM 29:38 Hãy dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội ngoài của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ uống hằng ngày.
NUM 29:39 Trong kỳ lễ các ngươi phải mang các của lễ sau đây đến cho CHÚA: của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ uống, và của lễ thân hữu. Đó là những của lễ ngoài các của lễ hứa nguyện và lễ vật đặc biệt các ngươi muốn dâng cho CHÚA.”
NUM 29:40 Mô-se thuật lại cho dân chúng mọi điều CHÚA truyền dặn mình.
NUM 30:1 Mô-se nói với các trưởng tộc trong Ít-ra-en. Ông cho họ biết những mệnh lệnh sau đây từ CHÚA.
NUM 30:2 “Nếu ai hứa với CHÚA sẽ làm điều gì thì phải giữ lời hứa đó. Hứa gì thì làm nấy.
NUM 30:3 Nếu một người đàn bà còn đang ở với cha mẹ mà hứa với CHÚA hay cam kết điều gì đặc biệt,
NUM 30:4 và nếu cha nàng nghe biết lời hứa hay lời cam kết đó mà không nói gì cả thì nàng phải giữ lời hứa đó. Nàng phải tôn trọng lời cam kết.
NUM 30:5 Nhưng nếu cha nàng nghe biết lời hứa hay lời cam kết này và cấm đoán, thì nàng không buộc phải giữ lời hứa hay cam kết đó. Vì cha nàng cấm đoán cho nên CHÚA không buộc nàng giữ lời hứa.
NUM 30:6 Nếu một cô gái cam kết hay vô tình hứa một điều gì đó, nhưng sau đó lập gia đình,
NUM 30:7 và nếu chồng nàng nghe biết việc ấy mà không nói gì cả thì nàng phải tôn trọng lời hứa hay lời cam kết.
NUM 30:8 Nhưng nếu chồng nàng hay biết việc đó và cản trở, thì chồng nàng đã hủy bỏ lời hứa hay lời cam kết vô tình đó. CHÚA sẽ không buộc nàng giữ lời hứa đó.
NUM 30:9 Nếu một người đàn bà góa hay đã ly dị mà cam kết điều gì, thì phải giữ lời cam kết đó.
NUM 30:10 Nếu một phụ nữ đã có chồng mà hứa nguyện hay cam kết điều gì,
NUM 30:11 và nếu chồng nàng biết chuyện, nhưng không nói gì cũng không cản trở nàng, thì nàng phải tôn trọng lời hứa hay lời cam kết.
NUM 30:12 Nhưng nếu chồng nàng nghe biết việc đó và hủy bỏ lời hứa đó thì nàng không phải giữ lời. Chồng nàng đã hủy bỏ lời hứa đó cho nên CHÚA sẽ không buộc nàng giữ lời.
NUM 30:13 Chồng có quyền bảo vợ tôn trọng hay hủy lời hứa hoặc lời cam kết của vợ.
NUM 30:14 Nếu trong nhiều ngày, chồng nàng không nói gì với nàng cả về chuyện đó thì nàng buộc phải giữ lời. Nếu chồng nàng nghe biết các chuyện đó mà không nói gì cả thì nàng buộc phải giữ lời.
NUM 30:15 Nhưng nếu chồng nàng đã nghe biết mà ít lâu sau mới hủy bỏ các việc ấy thì chồng nàng phải chịu trách nhiệm nếu nàng không giữ lời hứa.”
NUM 30:16 Đó là những mệnh lệnh CHÚA ban cho Mô-se liên quan đến vợ, chồng, cha mẹ và con gái còn ở nhà.
NUM 31:1 CHÚA bảo Mô-se như sau,
NUM 31:2 “Hãy trả thù dân Mi-đi-an về những gì chúng làm cho dân Ít-ra-en; sau đó ngươi sẽ qua đời.”
NUM 31:3 Vậy Mô-se bảo dân chúng, “Hãy chuẩn bị một đội quân để xung trận. CHÚA sẽ dùng họ trả thù dân Mi-đi-an.
NUM 31:4 Mỗi một chi tộc trong Ít-ra-en phải gởi một ngàn chiến sĩ ra trận.”
NUM 31:5 Vậy là mười hai ngàn binh sĩ sẵn sàng ra trận, mỗi chi tộc một ngàn người.
NUM 31:6 Mô-se đưa những người đó ra trận; có Phi-nê-ha, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng đi. Họ mang theo các vật thánh và kèn để báo động.
NUM 31:7 Họ đánh nhau với dân Mi-đi-an, như CHÚA đã truyền dạy Mô-se, và giết tất cả đàn ông Mi-đi-an.
NUM 31:8 Trong số những người bị giết có Ê-vi, Rê-kem, Xua, Hu-rơ, và Rê-ba là năm vua của Mi-đi-an. Họ cũng dùng gươm giết Ba-lam, con trai Bê-ô.
NUM 31:9 Dân Ít-ra-en bắt đàn bà trẻ con Mi-đi-an, cướp lấy gia súc và của cải chúng.
NUM 31:10 Họ đốt tất cả các thị trấn dân Mi-đi-an đã định cư cùng các doanh trại của chúng,
NUM 31:11 nhưng chiếm đoạt người, súc vật và tài sản.
NUM 31:12 Rồi họ mang các tù binh, súc vật, và tài sản về cho Mô-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng toàn dân Ít-ra-en. Họ đóng trại trên đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
NUM 31:13 Mô-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và tất cả các lãnh đạo dân chúng đi ra đón họ bên ngoài doanh trại.
NUM 31:14 Mô-se rất bất bình với các sĩ quan chỉ huy, các viên chỉ huy hàng ngàn, và hàng trăm quân từ mặt trận trở về.
NUM 31:15 Ông hỏi họ, “Tại sao các anh để cho đàn bà sống?
NUM 31:16 Họ chính là những kẻ nghe lời khuyến dụ của Ba-lam xúi giục dân Ít-ra-en quay bỏ CHÚA tại Phê-ô. Vì thế mà có cơn dịch khủng khiếp giết hại dân CHÚA.
NUM 31:17 Hãy giết tất cả các con trai Mi-đi-an, và tất cả phụ nữ Mi-đi-an đã ăn nằm với đàn ông.
NUM 31:18 Nhưng dành cho các anh những cô gái còn trinh.
NUM 31:19 Tất cả những ai đã giết người, hay đụng đến xác chết, phải ở ngoài doanh trại trong bảy ngày. Vào ngày thứ ba và thứ bảy các anh và các tù binh của các anh phải dọn mình cho sạch.
NUM 31:20 Các anh phải làm sạch tất cả áo quần và những đồ làm bằng da thuộc, lông dê, hay gỗ.”
NUM 31:21 Sau đó thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nói với các chiến sĩ đã ra trận, “Sau đây là những huấn thị CHÚA ban cho Mô-se:
NUM 31:22 Hãy đốt vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, hay chì
NUM 31:23 tức những thứ gì không cháy để làm cho chúng tinh sạch. Nhưng cũng phải dùng nước tẩy sạch các món đó thì chúng sẽ được sạch. Nếu vật gì không chịu được lửa thì rửa bằng nước.
NUM 31:24 Vào ngày thứ bảy hãy giặt quần áo thì các anh sẽ được sạch. Sau đó các anh có thể trở vào doanh trại.”
NUM 31:25 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 31:26 “Con, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và các trưởng tộc phải kiểm kê các tài sản, người, và thú vật chiếm được,
NUM 31:27 rồi chia các của đó cho các chiến sĩ đã ra trận và dân chúng ở nhà.
NUM 31:28 Thu thuế cho CHÚA từ những chiến sĩ đã ra trận cứ mỗi năm trăm món thì thu một món. Thuế đó bao gồm người, gia súc, lừa, hay chiên.
NUM 31:29 Lấy phần nửa số thu được từ các chiến sĩ trao cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, xem như là phần của CHÚA.
NUM 31:30 Và lấy phần nửa từ dân chúng, cứ mỗi năm mươi món thì lấy một món. Thuế nầy bao gồm người, gia súc, lừa, chiên hay các súc vật khác. Giao các món đó cho người Lê-vi là những kẻ chăm sóc Lều Thánh của CHÚA.”
NUM 31:31 Vậy Mô-se và Ê-lê-a-sa làm theo như CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 31:32 Số còn lại trong những vật các chiến sĩ đã lấy là 675.000 chiên,
NUM 31:33 72.000 gia súc
NUM 31:34 61.000 lừa,
NUM 31:35 và 32.000 trinh nữ.
NUM 31:36 Phần của các chiến sĩ ra trận là 337.500 chiên,
NUM 31:37 họ dâng 675 con chiên cho CHÚA.
NUM 31:38 Họ lấy 36.000 gia súc, và dâng 72 con cho CHÚA.
NUM 31:39 Họ lấy 30.500 con lừa và dâng 61 con cho CHÚA.
NUM 31:40 Họ lấy 16.000 người và dâng 32 người cho CHÚA.
NUM 31:41 Mô-se cấp phần của CHÚA cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, theo như CHÚA đã truyền dặn mình.
NUM 31:42 Mô-se đếm phân nửa số chiến lợi phẩm mà các chiến sĩ mang về trao cho dân chúng.
NUM 31:43 Họ nhận 337.500 con chiên,
NUM 31:44 36.000 gia súc,
NUM 31:45 30.500 con lừa
NUM 31:46 và 16.000 người.
NUM 31:47 Từ phần nửa của dân chúng Mô-se lấy ra một món trong mỗi năm mươi món cho CHÚA. Số đó gồm cả người và súc vật. Rồi ông giao các món đó cho người Lê-vi, là những người chăm sóc Lều Thánh. Đó là điều CHÚA đã truyền dặn Mô-se.
NUM 31:48 Sau đó các chỉ huy quân đội, sĩ quan chỉ huy hàng ngàn và chỉ huy hàng trăm quân đến cùng Mô-se.
NUM 31:49 Họ trình với ông, “Chúng tôi, các tôi tớ ông đã điểm binh dưới quyền thì thấy không thiếu ai.
NUM 31:50 Nên chúng tôi đem dâng cho CHÚA lễ vật bằng vàng mà chúng tôi đã lấy: Các vòng đeo tay, xuyến, nhẫn, bông tai và vòng trang sức nơi cổ. Những món nầy dùng để làm sạch nơi thánh cho chúng tôi.”
NUM 31:51 Vậy Mô-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nhận vàng từ họ. Vàng đó đã được biến chế thành đủ loại trang sức.
NUM 31:52 Các viên chỉ huy hàng ngàn và chỉ huy hàng trăm quân dâng vàng cho CHÚA, tổng cộng nặng đến 420 cân;
NUM 31:53 mỗi binh sĩ cũng lấy ít nhiều đồ cho mình.
NUM 31:54 Mô-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nhận vàng từ các viên chỉ huy hằng ngàn và chỉ huy hằng trăm quân. Họ để số vàng đó trong Lều Họp để làm vật tưởng nhớ trước mặt CHÚA cho dân Ít-ra-en.
NUM 32:1 Các người Ru-bên và Gát có rất nhiều bầy gia súc. Khi thấy đất Gia-xe và Ghi-lê-át tốt cho súc vật,
NUM 32:2 thì họ đến gặp Mô-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và các nhà lãnh đạo dân chúng.
NUM 32:3 Họ nói, “Chúng tôi, các tôi tớ ông, có nhiều bầy gia súc. CHÚA đã chiếm cho dân Ít-ra-en một xứ rất tốt cho gia súc. Đó là vùng đất quanh A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-le, Xê-bam, Nê-bô, và Bê-ôn.
NUM 32:5 Nếu ông cho phép, chúng tôi muốn được cấp đất nầy. Xin đừng bắt chúng tôi băng qua sông Giô-đanh.”
NUM 32:6 Mô-se nói với người Gát và người Ru-bên, “Có lý nào các anh em của các ngươi ra trận mà các ngươi vẫn ở lại hậu phương?
NUM 32:7 Các ngươi sẽ làm nản chí dân Ít-ra-en, khiến họ không muốn đi qua xứ mà CHÚA đã hứa cho họ nữa.
NUM 32:8 Cha ông các ngươi cũng làm như thế. Tôi đã từng phái họ đi từ Ca-đe Ba-nê-a để xem xét xứ.
NUM 32:9 Họ đi đến tận thung lũng Ếch-côn, và sau khi nhìn thấy xứ thì họ làm cho dân Ít-ra-en nản chí không muốn đi vào xứ CHÚA đã ban cho họ nữa.
NUM 32:10 Hôm ấy CHÚA vô cùng tức giận, nên Ngài thề như sau:
NUM 32:11 Trong số những người ra khỏi Ai-cập, không ai từ hai mươi tuổi trở lên, sẽ được thấy xứ mà ta đã hứa cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Những người đó không hết lòng theo ta.
NUM 32:12 Chỉ có Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, và Giô-suê, con trai của Nun theo CHÚA hết lòng.
NUM 32:13 CHÚA nổi giận với dân Ít-ra-en, cho nên Ngài bắt họ đi lang thang trong sa mạc bốn mươi năm. Cuối cùng những người đã phạm tội cùng CHÚA đều chết.
NUM 32:14 Thế mà bây giờ các ngươi lại cũng hành động giống y như các cha ông mình! Các ngươi phạm tội sẽ khiến CHÚA còn nổi giận hơn nữa với dân Ít-ra-en.
NUM 32:15 Nếu các ngươi không theo CHÚA thì toàn dân còn phải ở lâu thêm nữa trong sa mạc, và các ngươi sẽ làm cho tất cả dân nầy bị tiêu diệt.”
NUM 32:16 Sau đó người Ru-bên và ngươi Gát đến nói với Mô-se, “Chúng tôi sẽ làm chuồng cho các gia súc, và làng mạc cho con cái chúng tôi ở đây.
NUM 32:17 Rồi sau khi con cái chúng tôi ở trong các thành có vách kiên cố, an toàn đối với dân bản xứ, thì chúng tôi sẽ chuẩn bị ra trận. Chúng tôi sẽ đưa dẫn các anh em Ít-ra-en vào xứ và đất của họ.
NUM 32:18 Chúng tôi sẽ không trở về nhà cho đến khi toàn dân Ít-ra-en đã nhận lãnh phần đất của họ.
NUM 32:19 Chúng tôi sẽ không nhận phần đất nào bên Miền Tây sông Giô-đanh; phần đất của chúng tôi là Miền Đông sông Giô-đanh.”
NUM 32:20 Vậy Mô-se bảo họ, “Các ngươi phải làm mọi việc đó. Các ngươi phải đi trước mặt CHÚA để ra trận,
NUM 32:21 và cầm vũ khí băng qua sông Giô-đanh cho đến chừng CHÚA đuổi kẻ thù.
NUM 32:22 Sau khi CHÚA giúp chúng ta chiếm đất rồi, thì các ngươi sẽ trở về nhà. Lúc đó xem như các ngươi làm xong phận sự đối với CHÚA và dân Ít-ra-en, và các ngươi sẽ nhận lãnh đất nầy.
NUM 32:23 Nhưng nếu không làm những điều ấy, thì các ngươi sẽ phạm tội cùng CHÚA. Và phải biết rằng các ngươi sẽ chịu hình phạt vì tội mình.
NUM 32:24 Hãy xây các thành cho con cái các ngươi và chuồng cho súc vật, nhưng phải làm y như điều các ngươi cam kết.”
NUM 32:25 Người Gát và người Ru-bên thưa với Mô-se, “Chúng tôi là tôi tớ ông, chúng tôi sẽ làm theo điều ông, chủ chúng tôi, dặn bảo.
NUM 32:26 Vợ con và tất cả gia súc chúng tôi sẽ ở trong các thành miền Ghi-lê-át,
NUM 32:27 nhưng chúng tôi, kẻ tôi tớ ông, sẽ chuẩn bị ra trận. Chúng tôi sẽ đi sang và chiến đấu cho CHÚA theo như ông, chủ chúng tôi, đã nói.”
NUM 32:28 Vậy Mô-se truyền lệnh về họ cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê con trai của Nun và cho các trưởng chi tộc Ít-ra-en.
NUM 32:29 Mô-se bảo họ, “Nếu người Gát và người Ru-bên chuẩn bị ra trận và băng qua sông Giô-đanh với các ngươi, nếu họ đi trước mặt CHÚA và giúp các ngươi chiếm xứ, thì hãy cấp cho họ đất Ghi-lê-át làm sản nghiệp.
NUM 32:30 Nhưng nếu họ không mang vũ khí băng qua đó thì sẽ không được nhận đất; phần đất của họ sẽ là xứ Ca-na-an với các ngươi.”
NUM 32:31 Người Gát và người Ru-bên trả lời, “Chúng tôi là tôi tớ ông, chúng tôi sẽ làm theo như điều CHÚA bảo.
NUM 32:32 Chúng tôi sẽ qua xứ Ca-na-an, đi trước mặt CHÚA, sẵn sàng ra trận. Nhưng phần đất của chúng tôi sẽ là Miền Đông sông Giô-đanh.”
NUM 32:33 Nên Mô-se cấp vùng đất đó cho các chi tộc Gát, Ru-bên, và phần nửa chi tộc Ma-na-xe. (Ma-na-xe là con trai của Giô-xép.) Đất đó trước kia thuộc về nước của Xi-hôn, vua A-mô-rít, và nước Óc, vua của Ba-san, cùng các thành phố và đất xung quanh.
NUM 32:34 Người Gát xây lại các thành Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
NUM 32:35 A-trốt Sô-phan, Gia-xe, Giốc-bê-ha,
NUM 32:36 Bết-Nim-ra, và Bết-Ha-ran. Đó là các thành có vách kiên cố. Họ cũng xây các chuồng chiên.
NUM 32:37 Người Ru-bên xây lại Hết-bôn, Ê-lê-a-le, Ki-ri-a-tha-im,
NUM 32:38 Nê-bô, Ba-anh Mê-ôn, và Xíp-ma. Họ đổi tên Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn khi họ xây lại các thành đó.
NUM 32:39 Các con cháu Ma-kia, con trai Ma-na-xe lên đánh chiếm Ghi-lê-át và đuổi dân A-mô-rít ở đó.
NUM 32:40 Vậy Mô-se cấp Ghi-lê-át cho gia đình Ma-kia, con trai Ma-na-xe, rồi họ định cư tại đó.
NUM 32:41 Gia-ia con trai Ma-na-xe đi lên đánh chiếm các thị trấn nhỏ ở đó và đặt tên là thành Ha-vốt Gia-ia.
NUM 32:42 Nô-ba đi lên đánh chiếm Kê-na và các thị trấn nhỏ xung quanh đó rồi đổi tên là Nô-ba theo tên mình.
NUM 33:1 Sau đây là những nơi dân Ít-ra-en đã đi qua khi Mô-se và A-rôn dẫn họ theo từng sư đoàn ra khỏi Ai-cập.
NUM 33:2 Theo mệnh lệnh CHÚA truyền, Mô-se ghi lại những chỗ họ đi qua và sau đây là các nơi đó.
NUM 33:3 Vào ngày mười lăm tháng giêng, tức hôm sau Lễ Vượt Qua, dân Ít-ra-en rời Ram-se ra đi hiên ngang trước mặt cả dân chúng Ai-cập.
NUM 33:4 Lúc đó người Ai-cập đang chôn cất các con trai đầu lòng mà CHÚA đã giết; Ngài trừng phạt các thần của Ai-cập.
NUM 33:5 Người Ít-ra-en rời Ram-se và đóng trại tại Xu-cốt.
NUM 33:6 Họ rời Xu-cốt và đóng trại tại Ê-tham, ven sa mạc.
NUM 33:7 Rồi họ rời Ê-tham quay trở lại Bi Ha-hi-rốt, gần Ba-anh Xê-phôn và đóng trại gần Mít-đôn.
NUM 33:8 Họ rời Bi Ha-hi-rốt và băng qua biển đi vào sa mạc. Sau khi đi ba ngày trong sa mạc Ê-tham, họ đóng trại tại Ma-ra.
NUM 33:9 Họ rời Ma-ra và đi đến Ê-lim; nơi họ đóng trại có mười hai giếng nước và bảy mươi cây chà là.
NUM 33:10 Họ rời Ê-lim và đóng trại gần Hồng hải.
NUM 33:11 Họ rời Hồng hải và đóng trại trong sa mạc Xin.
NUM 33:12 Họ rời sa mạc Xin và đóng trại tại Đốp-ca.
NUM 33:13 Họ rời Đốp-ca và đóng trại tại A-lút.
NUM 33:14 Họ rời A-lút và đóng trại tại Rê-phi-đim, nơi dân chúng không có nước uống.
NUM 33:15 Họ rời Rê-phi-đim và đóng trại trong sa mạc Si-nai.
NUM 33:16 Họ rời sa mạc Si-nai và đóng trại tại Kíp-rốt Hát-ta-va.
NUM 33:17 Họ rời Kíp-rốt Hát-ta-va và đóng trại tại Ha-xê-rốt.
NUM 33:18 Họ rời Ha-xê-rốt và đóng trại tại Rít-ma.
NUM 33:19 Họ rời Rít-ma và đóng trại tại Rim-môn Bê-re.
NUM 33:20 Họ rời Rim-môn Bê-re và đóng trại tại Líp-na.
NUM 33:21 Họ rời Líp-na và đóng trại tại Rít-xa.
NUM 33:22 Họ rời Rít-xa và đóng trại tại Kê-hê-la-tha.
NUM 33:23 Họ rời Kê-hê-la-tha và đóng trại tại núi Sê-phe.
NUM 33:24 Họ rời núi Sê-phe và đóng trại tại Ha-ra-đa.
NUM 33:25 Họ rời Ha-ra-đa và đóng trại tại Ma-kê-lốt.
NUM 33:26 Họ rời Ma-kê-lốt và đóng trại tại Ta-hát.
NUM 33:27 Họ rời Ta-hát và đóng trại tại Thê-ra.
NUM 33:28 Họ rời Thê-ra và đóng trại tại Mít-ca.
NUM 33:29 Họ rời Mít-ca và đóng trại tại Hát-mô-na.
NUM 33:30 Họ rời Hát-mô-na và đóng trại tại Mô-xê-rốt.
NUM 33:31 Họ rời Mô-xê-rốt và đóng trại tại Bê-ne Gia-a-an.
NUM 33:32 Họ rời Bê-ne Gia-a-can và đóng trại tại Hô-Ha-ghi-gát.
NUM 33:33 Họ rời Hô-Ha-ghi-gát và đóng trại tại Giốt-ba-tha.
NUM 33:34 Họ rời Giốt-ba-tha và đóng trại tại Áp-rô-na.
NUM 33:35 Họ rời Áp-rô-na và đóng trại tại Ê-xi-ôn Ghê-be.
NUM 33:36 Họ rời Ê-xi-ôn Ghê-be và đóng trại tại Ca-đe trong sa mạc Xin.
NUM 33:37 Họ rời Ca-đe và đóng trại tại núi Hô-rơ, trên biên giới Ê-đôm.
NUM 33:38 Thầy tế lễ A-rôn vâng lời CHÚA đi lên núi Hô-rơ. Ông qua đời tại đó vào ngày đầu tiên của tháng năm năm thứ bốn mươi sau khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
NUM 33:39 A-rôn hưởng thọ 123 tuổi khi ông qua đời trên núi Hô-rơ.
NUM 33:40 Người Ca-na-an, vua của A-rát, sống ở miền nam Ca-na-an, nghe dân Ít-ra-en đang đến.
NUM 33:41 Dân chúng rời núi Hô-rơ và đóng trại tại Xanh-mô-na.
NUM 33:42 Họ rời Xanh-mô-na và đóng trại tại Phu-nôn.
NUM 33:43 Họ rời Phu-nôn và đóng trại tại Ô-bốt.
NUM 33:44 Họ rời Ô-bốt và đóng trại tại Ai-A-ba-rim, trên biên giới Mô-áp.
NUM 33:45 Họ rời Ai-A-ba-rim và đóng trại tại Đi-bôn-Gát.
NUM 33:46 Họ rời Đi-bôn-Gát và đóng trại tại Anh-môn Đíp-la-tha-im.
NUM 33:47 Họ rời Anh môn Đíp-la-tha-im và đóng trại tại vùng núi A-ba-rim, gần Nê-bô.
NUM 33:48 Họ rời vùng núi A-ba-rim và đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
NUM 33:49 Họ đóng trại dọc theo sông Giô-đanh trên đồng bằng Mô-áp, doanh trại của họ chạy từ Bết Giê-si-mốt đến A-bên A-ca-xia.
NUM 33:50 Trên đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô CHÚA nói chuyện cùng Mô-se. Ngài bảo,
NUM 33:51 “Hãy nói cùng dân Ít-ra-en và bảo họ: Khi các ngươi băng qua sông Giô-đanh vào xứ Ca-na-an,
NUM 33:52 thì hãy đánh đuổi tất cả dân ở đó. Thiêu hủy tất cả tượng chạm và các tượng bằng kim loại của chúng. Phá sập tất cả các nơi thờ phụng của chúng.
NUM 33:53 Hãy chiếm xứ và định cư tại đó vì ta đã cấp cho các ngươi xứ nầy làm sản nghiệp.
NUM 33:54 Hãy bắt thăm chia xứ theo dòng họ, dòng họ lớn thì cấp nhiều đất hơn dòng họ nhỏ. Tùy thăm mà cấp đất; mỗi chi tộc sẽ nhận phần đất cấp cho mình.
NUM 33:55 Nhưng nếu các ngươi không đánh đuổi chúng ra khỏi xứ thì chúng sẽ gây rối cho các ngươi. Chúng sẽ như gai trong mắt và chông nơi hông các ngươi. Chúng sẽ tạo rắc rối cho xứ các ngươi ở.
NUM 33:56 Rồi ta sẽ phạt các ngươi như ta đã định phạt chúng.”
NUM 34:1 CHÚA bảo Mô-se,
NUM 34:2 “Hãy truyền lệnh nầy cho dân Ít-ra-en: Khi các ngươi vào nhận xứ Ca-na-an làm sản nghiệp thì ranh giới của các ngươi sẽ như sau:
NUM 34:3 Về phía Nam các ngươi sẽ nhận một phần của sa mạc Xin gần ranh giới Ê-đôm. Về phía Đông, ranh giới miền Nam của các ngươi sẽ bắt đầu từ cuối phía nam của Biển Chết,
NUM 34:4 băng qua phía Nam của Đèo Bọ Cạp, qua sa mạc Xin và phía Nam của Ca-đe Ba-nê-a. Rồi chạy đến Ha-xa A-đa và qua phía Át-môn.
NUM 34:5 Từ A-môn nó chạy đến suối Ai-cập, và chấm dứt ở Địa-trung-hải.
NUM 34:6 Ranh giới phía Tây sẽ là Địa-trung-hải.
NUM 34:7 Ranh giới phía Bắc của các ngươi sẽ bắt đầu từ Địa-trung-hải chạy đến núi Hô-rơ.
NUM 34:8 Từ núi Hô-rơ nó chạy đến Lê-bô Ha-mát, và đến Xê-đát.
NUM 34:9 Rồi ranh giới đó đi đến Xíp-rôn và chấm dứt ở Ha-xa Ê-nan. Đó là ranh giới phía Bắc của các ngươi.
NUM 34:10 Ranh giới phía Đông của các ngươi sẽ bắt đầu từ Ha-xa Ê-nan và chạy đến Sê-pham.
NUM 34:11 Từ Sê-pham ranh giới chạy qua phía Đông của A-in tới Ríp-la và dọc theo các đồi phía Đông hồ Ga-li-lê.
NUM 34:12 Rồi ranh giới đó sẽ chạy xuống dọc theo sông Giô-đanh và chấm dứt ở Biển Chết. Đó là ranh giới bao quanh xứ các ngươi.”
NUM 34:13 Vậy Mô-se truyền lệnh nầy cho dân Ít-ra-en: “Đây là đất mà các ngươi sẽ nhận. Hãy bắt thăm chia đất ra cho chín chi tộc rưỡi, vì CHÚA đã ra lệnh là các phần đất đó sẽ thuộc về họ.
NUM 34:14 Các chi tộc Ru-bên, Gát, và Ma-na-xe miền Đông đã nhận phần đất của họ rồi.
NUM 34:15 Hai chi tộc rưỡi nầy đã nhận đất phía Đông sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.”
NUM 34:16 Sau đó CHÚA bảo Mô-se,
NUM 34:17 “Sau đây là những người có nhiệm vụ phân chia đất: thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và Giô-suê, con trai của Nun.
NUM 34:18 Ngoài ra hãy chọn một người lãnh đạo từ mỗi chi tộc để phụ giúp việc phân chia đất.
NUM 34:19 Sau đây là tên của những người lãnh đạo đó: chi tộc Giu-đa: Ca-lép, con trai Giê-phu-nê;
NUM 34:20 chi tộc Xi-mê-ôn: Sê-mu-ên, con trai Am-mi-hút;
NUM 34:21 chi tộc Bên-gia-min: Ê-li-đát, con trai Kít-lôn;
NUM 34:22 chi tộc Đan: Bu-ki, con trai Giốc-li;
NUM 34:23 chi tộc Ma-na-xe, con Giô-xép: Ha-ni-ên, con trai Ê-phót;
NUM 34:24 chi tộc Ép-ra-im, con Giô-xép: Kê-mu-ên, con trai Síp-tan;
NUM 34:25 chi tộc Xê-bu-lôn: Ê-li-xa-phan, con trai Ba-nát;
NUM 34:26 chi tộc Y-xa-ca: Ban-ti-ên, con trai Át-xan;
NUM 34:27 chi tộc A-xe: A-hi-hút, con trai Sê-lô-mi;
NUM 34:28 chi tộc Nép-ta-li: Bê-đa-hên, con trai Am-mi-hút.”
NUM 34:29 CHÚA truyền cho các người đó chia đất Ca-na-an cho dân Ít-ra-en.
NUM 35:1 CHÚA nói với Mô-se trong đồng bằng Mô-áp đối ngang Giê-ri-cô, gần sông Giô-đanh. Ngài bảo,
NUM 35:2 “Hãy truyền cho người Ít-ra-en cấp cho người Lê-vi các thành để ở lấy từ đất mà dân Ít-ra-en sẽ nhận. Ngoài ra cũng phải cấp cho người Lê-vi các đồng cỏ quanh các thành ấy.
NUM 35:3 Như thế người Lê-vi sẽ có thành để ở, cùng đồng cỏ để nuôi trâu bò, bầy súc vật và các thú vật khác.
NUM 35:4 Đồng cỏ các ngươi cấp cho người Lê-vi sẽ kéo dài năm trăm thước tính từ vách thành.
NUM 35:5 Ngoài ra phải đo một ngàn thước theo bốn phía quanh vách thành một ngàn thước phía Đông, một ngàn thước phía Nam, một ngàn thước phía Tây, và một ngàn thước phía Bắc của thành, còn thành thì nằm ở giữa. Đó sẽ là vùng đồng cỏ dành cho các thành của người Lê-vi.
NUM 35:6 Sáu trong số các thành các ngươi cấp cho người Lê-vi sẽ làm thành trú ẩn. Ai vô tình giết người nào sẽ có thể chạy đến một trong các thành đó để ẩn náu an toàn. Các ngươi cũng phải cấp bốn mươi hai thành khác cho người Lê-vi;
NUM 35:7 nghĩa là cấp cho người Lê-vi bốn mươi tám thành và đồng cỏ.
NUM 35:8 Chi tộc nào lớn thì cấp nhiều thành hơn chi tộc nhỏ. Mỗi chi tộc phải cấp một số thành cho người Lê-vi nhưng con số thành họ cấp tùy vào diện tích đất của chi tộc đó.”
NUM 35:9 Rồi CHÚA bảo Mô-se,
NUM 35:10 “Hãy dặn dân Ít-ra-en như sau: Khi các ngươi băng qua sông Giô-đanh vào xứ Ca-na-an,
NUM 35:11 thì các ngươi phải chọn một số thành làm thành trú ẩn để ai vô ý giết người có thể chạy đến đó trú ẩn an toàn.
NUM 35:12 Ở đó kẻ giết người vì vô ý sẽ được an toàn khỏi thân nhân của người bị giết, là người có nhiệm vụ trừng phạt kẻ sát nhân. Người đó sẽ không phải chết cho đến khi được xét xử công bằng trước tòa.
NUM 35:13 Sáu thành các ngươi cấp sẽ dùng làm thành trú ẩn.
NUM 35:14 Cấp ba thành phía Đông sông Giô-đanh, và ba thành trong xứ Ca-na-an làm thành trú ẩn.
NUM 35:15 Sáu thành đó là nơi trú ẩn an toàn cho các công dân Ít-ra-en cũng như cho người ngoại quốc sống giữa các ngươi. Ai trong những người đó vô ý giết người khác có thể chạy đến một trong các thành đó.
NUM 35:16 Ai dùng vũ khí bằng sắt để giết người khác là kẻ sát nhân. Nó phải bị xử tử.
NUM 35:17 Ai dùng một viên đá để giết người khác là kẻ sát nhân. Nó phải bị xử tử.
NUM 35:18 Ai lượm một khúc cây để giết người là kẻ sát nhân. Nó phải bị xử tử.
NUM 35:19 Thân nhân người chết phải giết kẻ sát nhân; khi hai bên gặp nhau thì thân nhân phải giết nó.
NUM 35:20 Ai vì ganh ghét, xô hay ném vật gì trúng người nào và làm cho người ấy chết;
NUM 35:21 ai lấy tay đánh chết người; nếu hành động đó do tư thù, thì người đó là kẻ sát nhân và phải bị xử tử. Khi thân nhân người chết gặp nó phải giết nó đi.
NUM 35:22 Nếu ai xô đẩy người khác vì vô ý, không phải do tư thù, hoặc vô tình ném vật gì trúng người nào,
NUM 35:23 hay ai vô ý làm rớt tảng đá trên người nào vì không thấy và làm người đó chết, không có dự mưu hại cũng chẳng do tư thù gì trước với người bị chết,
NUM 35:24 nếu quả như thế thì cộng đồng phải phân xử giữa thân nhân người bị chết và kẻ gây chết người, dựa theo các qui tắc trên đây.
NUM 35:25 Họ phải bảo vệ kẻ sát nhân khỏi tay thân nhân người chết, đưa kẻ gây chết người về thành trú ẩn và ở đó cho tới khi thầy tế lễ tối cao qua đời (thầy tế lễ tối cao là người được xức dầu thánh).
NUM 35:26 Người đó không được đi ra ngoài giới hạn của thành trú ẩn.
NUM 35:27 Nếu gặp nó ở bên ngoài thành thì thân nhân của người chết gặp kẻ sát nhân không chủ mưu có thể giết nó mà không bị mang tội giết người.
NUM 35:28 Kẻ gây chết người phải ở trong thành trú ẩn cho đến khi thầy tế lễ tối cao qua đời rồi mới được về nhà.
NUM 35:29 Đây là luật lệ cho các ngươi từ nay về sau áp dụng bất cứ nơi nào các ngươi sống.
NUM 35:30 Nếu ai giết người thì kẻ sát nhân chỉ có thể bị xử tử nếu có hai nhân chứng. Còn nếu chỉ có một nhân chứng, thì không đủ để xử tử.
NUM 35:31 Không được nhận tiền để tha chết cho một kẻ sát nhân đáng bị xử tử. Tên sát nhân phải bị xử tử.
NUM 35:32 Nếu ai chạy đến thành trú ẩn thì không được nhận tiền để nó trở về nhà trước khi thầy tế lễ tối cao qua đời.
NUM 35:33 Đừng để vụ sát nhân làm dơ bẩn xứ ngươi. Cách duy nhất để làm sạch tội giết người vô tội là phải xử tử kẻ giết người.
NUM 35:34 Ta là CHÚA, Đấng sống giữa dân Ít-ra-en. Ta sống trong xứ đó với các ngươi cho nên đừng làm dơ bẩn xứ.”
NUM 36:1 Các lãnh tụ dòng họ Ghi-lê-át đến gặp Mô-se và các lãnh tụ gia tộc khác của Ít-ra-en. Ghi-lê-át là con trai Ma-kia, cháu Ma-na-xe, con Giô-xép.
NUM 36:2 Họ nói, “CHÚA đã truyền cho ông, chủ chúng tôi, cấp đất cho dân Ít-ra-en bằng cách bắt thăm, và CHÚA cũng truyền cho ông cấp đất của Xê-lô-phê-hát, anh em chúng tôi, cho các con gái người.
NUM 36:3 Nhưng nếu các con gái người kết hôn với người thuộc các chi tộc khác trong Ít-ra-en thì đất đó sẽ rời khỏi gia đình chúng tôi vì người thuộc chi tộc khác sẽ nhận đất đó. Như thế chúng tôi sẽ mất một số đất.
NUM 36:4 Khi năm Hoan hỉ đến cho dân Ít-ra-en, thì đất đó sẽ thuộc về chi tộc nào mà các cô gái đó kết hôn; đất sẽ bị lấy khỏi tay chúng tôi, tức đất mà chúng tôi nhận được từ tổ tiên chúng tôi.”
NUM 36:5 Vậy Mô-se truyền lệnh nầy từ CHÚA cho dân Ít-ra-en: “Các người thuộc chi tộc Giô-xép nói đúng.
NUM 36:6 Sau đây là mệnh lệnh CHÚA truyền cho các con gái Xê-lô-phê-hát: Các ngươi lấy ai cũng được miễn là người thuộc chi tộc các ngươi.
NUM 36:7 Như thế đất trong Ít-ra-en sẽ không chuyền từ chi tộc nầy sang chi tộc khác, mỗi người Ít-ra-en sẽ giữ đất trong chi tộc thuộc về tổ tiên mình.
NUM 36:8 Người đàn bà thừa hưởng đất của cha mình có thể lấy chồng nhưng phải lấy người thuộc chi tộc mình. Như thế mỗi người Ít-ra-en sẽ giữ được đất thuộc về tổ tiên mình.
NUM 36:9 Đất không được chuyền từ chi tộc nầy sang chi tộc khác, mỗi người Ít-ra-en sẽ giữ đất nhận từ tổ tiên mình.”
NUM 36:10 Các con gái Xê-lô-phê-hát vâng theo mệnh lệnh CHÚA truyền cho Mô-se.
NUM 36:11 Vậy các con gái Xê-lô-phê-hát: Ma-la, Thiệt-xa, Hóc-la, Minh-ca và Nô-ê kết hôn với bà con mình, tức thân nhân của cha mình.
NUM 36:12 Chồng của các cô đó thuộc chi tộc Ma-na-xe, con trai Giô-xép cho nên đất vẫn thuộc về gia đình của cha và của chi tộc các cô.
NUM 36:13 Đó là các luật lệ và mệnh lệnh CHÚA truyền cho Ít-ra-en qua Mô-se trong đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh đối ngang Giê-ri-cô.
DEU 1:1 Đây là cuộc nói chuyện của Mô-se với toàn dân Ít-ra-en trong sa mạc phía Đông sông Giô-đanh. Họ đang ở trong sa mạc gần Su-phơ, nằm giữa Pha-ran và các thị trấn Tô-phên, La-ban, Ha-sê-rốt và Đi-gia-háp.
DEU 1:2 Cuộc hành trình từ núi Si-nai đến Ca-đe Ba-nê-a trên đường núi Sê-ia mất mười một ngày.
DEU 1:3 Bốn mươi năm sau khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập, ngày đầu vào ngày mồng một tháng mười một, Mô-se thuật lại cho dân Ít-ra-en mọi điều CHÚA đã truyền dặn ông.
DEU 1:4 Đó là sau khi CHÚA đã đánh bại Si-hôn và Óc. Si-hôn là vua dân A-mô-rít, sống ở Hết-bôn. Óc là vua Ba-san sống ở Át-tê-rốt và Ết-rê-i.
DEU 1:5 Lúc đó dân Ít-ra-en đang ở phía Đông sông Giô-đanh thuộc xứ Mô-áp. Mô-se bắt đầu giải thích những gì Thượng Đế truyền dặn. Ông nói:
DEU 1:6 “CHÚA là Thượng Đế nói cùng chúng ta trên núi Si-nai rằng, Các ngươi đã ở núi nầy khá lâu rồi.
DEU 1:7 Bây giờ hãy sẵn sàng đi vào xứ miền núi của dân A-mô-rít và các vùng quanh đây tức thung lũng sông Giô-đanh, vùng núi, vùng đồi phía tây, vùng miền nam, vùng duyên hải, vùng đất Ca-na-an và Li-băng. Hãy đi đến tận sông lớn, tức sông Ơ-phơ-rát.
DEU 1:8 Ta đã cấp đất nầy cho các ngươi, nên hãy đi vào mà chiếm lấy. CHÚA đã hứa cùng tổ tiên các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và con cháu họ.”
DEU 1:9 Lúc đó ta nói, “Một mình ta không thể nào lo cho các ngươi nổi.
DEU 1:10 CHÚA là Thượng Đế đã khiến các ngươi gia tăng thêm nhiều như sao trên trời.
DEU 1:11 Ta cầu xin CHÚA là Thượng Đế của tổ phụ các ngươi gia tăng dân số các ngươi gấp ngàn lần và thực hiện những điều kỳ diệu Ngài đã hứa.
DEU 1:12 Nhưng một mình ta không thể giải quyết hết các vấn đề, những khó khăn và những cuộc tranh chấp của các ngươi.
DEU 1:13 Cho nên hãy chọn một số người đại diện trong mỗi chi tộc, những người khôn ngoan và hiểu biết để ta lập làm lãnh tụ các ngươi.”
DEU 1:14 Các ngươi bảo, “Ý đó rất hay.”
DEU 1:15 Cho nên ta chọn những lãnh tụ khôn ngoan và giàu kinh nghiệm trong chi tộc các ngươi. Ta đề cử các quan chỉ huy hàng ngàn, hàng trăm, hàng năm chục và hàng chục người để lãnh đạo các chi tộc của các ngươi.
DEU 1:16 Rồi ta bảo họ, “Hãy nghe những cuộc tranh chấp giữa anh em các ngươi. Phải phân xử cho thật công bình giữa hai người Ít-ra-en hoặc giữa người Ít-ra-en và người ngoại quốc.
DEU 1:17 Khi phân xử phải tỏ ra công bằng với mọi người; đừng thiên vị bên nào, cũng đừng sợ ai, vì quyết định của các ngươi do Thượng Đế mà đến. Những trường hợp khó khăn thì trình lên cho ta phân xử.”
DEU 1:18 Lúc đó ta bảo các ngươi phải làm gì.
DEU 1:19 Rồi theo lệnh CHÚA là Thượng Đế chúng ta rời núi Si-nai đi về xứ miền núi thuộc dân A-mô-rít. Chúng ta đi qua vùng sa mạc bao la ghê gớm như các ngươi thấy, rồi chúng ta đến Ca-đe Ba-nê-a.
DEU 1:20 Ta bảo các ngươi, “Bây giờ các ngươi đã đến xứ miền núi của dân A-mô-rít, tức xứ mà Chúa là Thượng Đế sẽ ban cho các ngươi.
DEU 1:21 Kìa, đất đó đây rồi! Hãy lên chiếm lấy. Chúa là Thượng Đế của tổ tiên các ngươi, bảo ngươi đánh chiếm cho nên đừng sợ hãi hay lo lắng gì.”
DEU 1:22 Rồi các ngươi đến nói với ta, “Chúng ta nên phái các người vào thám thính xứ trước. Họ sẽ trở về báo cáo cho chúng ta biết đi lối nào hay tìm thấy thành nào.”
DEU 1:23 Ta cho ý kiến đó rất hay nên chọn mười hai người trong các ngươi, mỗi chi tộc một người.
DEU 1:24 Họ đi lên vùng núi và khi đến thung lũng Ếch-côn, họ thám thính vùng ấy.
DEU 1:25 Họ mang về một số trái cây xứ đó cho chúng ta xem. Họ báo cáo rằng “Xứ mà CHÚA sắp ban cho chúng ta thật tốt.”
DEU 1:26 Nhưng các ngươi không chịu vào. Các ngươi không muốn vâng mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế các ngươi
DEU 1:27 lại còn oán trách trong lều mình rằng, “CHÚA ghét chúng ta. Ngài mang chúng ta ra khỏi Ai-cập để trao chúng ta vào tay dân A-mô-rít để họ tiêu diệt chúng ta.
DEU 1:28 Bây giờ chúng ta đi đâu? Các người do thám được sai đi đã làm chúng ta quá sợ hãi vì họ bảo, ‘Dân xứ đó cao lớn và mạnh hơn chúng ta nhiều. Thành trì của họ rất lớn, vách cao đến tận trời. Chúng tôi cũng thấy người khổng lồ ở đó nữa!’”
DEU 1:29 Nhưng ta trấn an các ngươi, “Đừng kinh hoàng. Đừng sợ dân xứ đó.
DEU 1:30 CHÚA là Thượng Đế sẽ đi trước và chiến đấu cho các ngươi như Ngài đã làm tại Ai-cập mà chính mắt các ngươi đã thấy.
DEU 1:31 Còn trong sa mạc các ngươi đã thấy CHÚA là Thượng Đế bồng ẵm các ngươi như cha bế con. Ngài đã mang các ngươi an toàn đến đây.”
DEU 1:32 Nhưng các ngươi nhất định không tin CHÚA là Thượng Đế các ngươi
DEU 1:33 mặc dù Ngài đã luôn luôn đi trước tìm chỗ cho các ngươi dựng trại. Ban đêm Ngài ngự trong đám lửa, ban ngày trong đám mây để chỉ đường cho các ngươi đi.
DEU 1:34 Cho nên khi CHÚA nghe các ngươi oán trách Ngài nổi giận và thề rằng,
DEU 1:35 “Ta đã hứa ban xứ tốt đẹp cho tổ tiên các ngươi nhưng sẽ không có một người nào thuộc thế hệ nầy được thấy xứ ấy,
DEU 1:36 ngoại trừ Ca-lép con trai Giê-phu-nê. Ta sẽ ban cho người và con cháu người xứ mà người đang đặt chân lên vì người đã hết lòng theo CHÚA.”
DEU 1:37 Tại các ngươi mà CHÚA cũng nổi giận cùng ta và bảo rằng, “Ngươi cũng sẽ không thấy xứ đó nữa,
DEU 1:38 nhưng người phụ tá ngươi là Giô-suê, con trai của Nun, sẽ vào xứ đó. Hãy khuyến khích người để người hướng dẫn dân Ít-ra-en vào chiếm lấy xứ.
DEU 1:39 Con cháu các ngươi hiện tại chưa biết phân biệt phải trái mà các ngươi nghĩ rằng sẽ bị bắt, chúng nó sẽ vào xứ đó. Ta sẽ ban xứ đó cho chúng nó. Chúng nó sẽ nhận đất đó làm tài sản mình.
DEU 1:40 Nhưng các ngươi phải quay trở lại đi theo đường sa mạc về phía Hồng hải.”
DEU 1:41 Sau đó các ngươi đến nói với ta, “Chúng tôi đã phạm tội cùng CHÚA. Bây giờ chúng tôi sẽ tiến lên chiến đấu như CHÚA là Thượng Đế đã truyền dặn.” Tất cả các ngươi đều mang vũ khí vào và tưởng rằng đi vào vùng núi rất dễ.
DEU 1:42 Nhưng CHÚA phán cùng ta, “Hãy bảo dân chúng: ‘Các ngươi chớ nên lên đó mà chiến đấu. Ta sẽ không ở cùng các ngươi đâu. Các kẻ thù sẽ đánh bại các ngươi đó.’”
DEU 1:43 Ta bảo mà các ngươi không nghe. Các ngươi không chịu tuân theo mệnh lệnh của CHÚA. Các ngươi quá tự phụ nên cứ tiến lên núi,
DEU 1:44 thì người A-mô-rít đang ở trong các núi đó liền đổ ra đánh các ngươi. Họ đuổi các ngươi chạy như ong, đánh các ngươi đại bại từ Ê-đôm cho đến Họt-ma.
DEU 1:45 Vì thế các ngươi trở về khóc lóc trước mặt CHÚA nhưng Ngài không thèm nghe các ngươi nữa.
DEU 1:46 Vì thế mà các ngươi phải ở lâu tại Ca-đe.
DEU 2:1 Rồi chúng ta quay lại, đi theo đường vào sa mạc, về hướng Hồng hải như CHÚA dặn ta. Chúng ta băng qua vùng núi Ê-đôm trong nhiều ngày.
DEU 2:2 Sau đó CHÚA bảo ta,
DEU 2:3 “Các ngươi đã đi qua vùng núi nầy khá lâu rồi. Thôi bây giờ hãy quay sang hướng Bắc,
DEU 2:4 và ra chỉ thị nầy cho dân chúng: ‘Nay mai đây các ngươi sẽ đi qua xứ của thân nhân các ngươi, tức con cháu Ê-sau đang sống ở Ê-đôm. Họ sẽ sợ các ngươi nhưng các ngươi phải thận trọng.
DEU 2:5 Chớ nên gây chiến với họ. Ta sẽ không cho các ngươi miếng đất nào của họ dù miếng đất lớn bằng bàn chân đi nữa, vì ta đã cấp núi Ê-đôm cho Ê-sau làm sản nghiệp.
DEU 2:6 Khi các ngươi dùng thức ăn hay nước uống của họ, nhớ phải trả tiền.’”
DEU 2:7 CHÚA đã ban phước cho các ngươi rất nhiều. Ngài đã gìn giữ các ngươi trong khi đi qua sa mạc bao la nầy. CHÚA là Thượng Đế đã ở với các ngươi trong bốn mươi năm qua, cấp cho các ngươi mọi thứ cần dùng.
DEU 2:8 Cho nên chúng ta đi qua xứ của thân nhân chúng ta tức con cháu Ê-sau đang sinh sống ở Ê-đôm. Chúng ta rẽ qua con đường thung lũng sông Giô-đanh chạy từ các thị trấn Ê-lát và Ê-xi-ôn Ghê-be rồi đi dọc theo đường đến Mô-áp.
DEU 2:9 Sau đó CHÚA bảo ta, “Đừng đụng chạm đến dân Mô-áp. Đừng gây chiến với họ vì ta sẽ không cho các ngươi mảnh đất nào của họ. Ta đã cấp vùng đất A-rơ cho con cháu Lót làm tài sản.”
DEU 2:10 Người Ê-mít trước kia sống ở A-rơ là những người hùng mạnh và rất đông đảo. Họ cao lớn như dân A-nác.
DEU 2:11 Dân Ê-mít có lẽ thuộc gốc dân Rê-pha-ít, giống như người A-nác nhưng dân Mô-áp gọi họ là dân Ê-mít.
DEU 2:12 Người Hô-rít trước kia cũng sống ở Ê-đôm nhưng con cháu Ê-sau đánh đuổi họ đi và tiêu diệt họ, lấy đất họ như dân Ít-ra-en đã chiếm đất mà CHÚA cấp cho họ.
DEU 2:13 Rồi CHÚA bảo ta, “Bây giờ hãy lên đường băng qua thung lũng Xê-rết.” Nên chúng ta băng qua thung lũng đó.
DEU 2:14 Từ khi chúng ta rời Ca-đe Ba-nê-a cho đến khi băng qua thung lũng Giê-rết là ba mươi tám năm. Đến lúc đó thì các chiến sĩ trong các ngươi đều đã qua đời theo như CHÚA báo trước.
DEU 2:15 CHÚA tiếp tục tiêu diệt họ khỏi doanh trại cho đến khi tất cả đều chết hết.
DEU 2:16 Khi người chiến sĩ cuối cùng trong đám họ đã chết,
DEU 2:17 thì CHÚA bảo ta,
DEU 2:18 “Hôm nay các ngươi sẽ đi băng qua biên giới Mô-áp ở A-rơ.
DEU 2:19 Khi các ngươi đến gần dân A-môn đừng khiêu khích hay gây chiến với họ vì ta sẽ không cấp mảnh đất nào của họ cho các ngươi đâu. Ta đã cấp đất ấy cho con cháu Lót làm tài sản.”
DEU 2:20 Đất đó trước kia người ta đoán là của dân Rê-pha-ít vì dân nầy trước đây sống ở đó nhưng dân Am-môn gọi họ là dân Giam-gium.
DEU 2:21 Họ rất mạnh bạo và đông đảo. Người nào cũng cao lớn như dân A-nác. CHÚA tiêu diệt dân Giam-gium, rồi dân Am-môn đánh đuổi họ ra để chiếm lấy đất.
DEU 2:22 CHÚA cũng làm như thế cho dòng dõi Ê-sau sống ở Ê-đôm, khi Ngài tiêu diệt dân Hô-rít. Người Ê-đôm đánh đuổi và chiếm lấy đất của họ và sinh sống ở đó cho đến ngày nay.
DEU 2:23 Người Cơ-rết đến từ đảo Cơ-rết, tiêu diệt dân A-vít vốn sống ở những thị trấn chạy dài đến tận Ga-xa; người Cơ-rết tiêu diệt họ và chiếm lấy đất của họ.
DEU 2:24 CHÚA bảo, “Hãy ngồi dậy băng qua hố Ạc-nôn. Nầy, ta ban cho các ngươi sức mạnh để đánh bại Si-hôn, người A-mô-rít, vua Hết-bôn, và ta ban cho các ngươi đất ấy. Vậy hãy đánh chiếm đất của người.
DEU 2:25 Hôm nay, ta sẽ làm cho mọi dân trên đất đều sợ các ngươi. Khi nghe nói về các ngươi, họ sẽ run rẩy và kinh hoàng.”
DEU 2:26 Ta đã sai sứ giả từ sa mạc Kê-đê-mốt tới Si-hôn vua Hết-bôn để nghị hòa rằng:
DEU 2:27 “Nếu vua cho chúng tôi đi ngang qua xứ, chúng tôi chỉ đi trên đường chính, không quẹo phải hay trái.
DEU 2:28 Khi dùng thức ăn hay nước uống chúng tôi sẽ trả tiền. Chúng tôi chỉ muốn đi ngang qua xứ vua mà thôi.
DEU 2:29 Con cháu Ê-sau ở Ê-đôm và người Mô-áp ở A-rơ đã cho chúng tôi đi ngang qua xứ họ. Chúng tôi chỉ muốn băng qua sông Giô-đanh để vào xứ mà CHÚA là Thượng Đế đã ban cho chúng tôi mà thôi.”
DEU 2:30 Nhưng vua Si-hôn không chịu, vì CHÚA là Thượng Đế đã làm vua ngoan cố. CHÚA muốn các ngươi đánh bại Si-hôn, và việc đó đã xảy ra.
DEU 2:31 CHÚA bảo ta rằng, “Nầy, ta đã bắt đầu trao Si-hôn và xứ người cho các ngươi. Hãy chiếm lấy đất cho mình.”
DEU 2:32 Si-hôn kéo toàn quân ra đánh chúng ta tại Gia-hát,
DEU 2:33 nhưng CHÚA là Thượng Đế trao họ vào tay chúng ta. Chúng ta đánh bại vua, các con trai cùng cả đoàn quân của vua.
DEU 2:34 Chúng ta chiếm lấy, tận diệt các thành và giết hết mọi người, kể cả đàn ông, đàn bà và con nít, không chừa một ai.
DEU 2:35 Nhưng chúng ta giữ lại các gia súc và những vật quí giá cho mình.
DEU 2:36 Chúng ta đánh bại thành A-rô-e gần ven hố Ạc-nôn, và chúng ta đánh bại thị trấn trong hố, cho đến tận Ghi-lê-át. Không thị trấn nào quá mạnh đối với chúng ta, vì CHÚA trao cho chúng ta tất cả các thành đó.
DEU 2:37 Nhưng các ngươi không đến gần vùng đất dân Am-môn, dọc bờ sông Gia-bốc, hay các thành trên núi, theo như CHÚA là Thượng Đế truyền dặn.
DEU 3:1 Khi chúng ta rẽ sang và lên đường tiến về Ba-san, thì vua Ba-san là Óc kéo toàn quân ra nghênh chiến tại Ết-rê-i.
DEU 3:2 CHÚA bảo ta, “Đừng sợ vua Óc, vì ta sẽ giao người, toàn quân cùng cả xứ vào tay ngươi. Hãy làm cho hắn như các ngươi đã làm cho Si-hôn, vua dân A-mô-rít cai trị tại Hết-bôn.”
DEU 3:3 CHÚA là Thượng Đế trao Óc, vua của Ba-san, cùng toàn quân cho chúng ta. Chúng ta tiêu diệt tất cả không chừa một ai sống sót.
DEU 3:4 Rồi chúng ta chiếm của vua Óc tất cả sáu mươi thành, cả vùng Ạc-gốp thuộc xứ Ba-san.
DEU 3:5 Những thành nầy rất kiên cố, có tường cao và cổng gài then, cùng nhiều thôn làng nhỏ khác không có tường bao bọc.
DEU 3:6 Chúng ta tận diệt họ như chúng ta đã làm cho các thành của Si-hôn, vua Hết-bôn. Chúng ta giết hết đàn ông, đàn bà và con trẻ,
DEU 3:7 nhưng giữ lại gia súc và các vật quý giá cho mình.
DEU 3:8 Lúc ấy, chúng ta đã chiếm phần đất của hai vua A-mô-rít, phía Đông sông Giô-đanh, từ hố Ạc-nôn đến núi Hẹt-môn.
DEU 3:9 Người Xi-đôn gọi núi Hẹt-môn là Si-ri-ôn, nhưng người A-mô-rít gọi là Xê-nia.
DEU 3:10 Chúng ta chiếm các thành trên miền cao nguyên, toàn vùng Ghi-lê-át, cả xứ Ba-san cho đến Xa-lê-ca và Ết-rê-i, các thị trấn trong nước của vua Óc xứ Ba-san.
DEU 3:11 Chỉ có một vài người Rê-pha-im là còn sót lại cho vua Óc xứ Ba-san. Giường của vua làm bằng sắt dài hơn mười ba bộ, rộng sáu bộ, hiện nay vẫn còn tại Ráp-ba, thành của dân Am-môn.
DEU 3:12 Lúc ấy chúng ta chiếm xứ đó làm sản nghiệp. Ta cấp cho chi tộc Ru-bên và Gát vùng đất từ A-rô-e bên bờ hố Ạc-nôn và phân nửa vùng núi Ghi-lê-át cùng những thành phố trong đó.
DEU 3:13 Ta chia cho phân nửa chi tộc Ma-na-xe phần đất còn lại của Ghi-lê-át và cả vùng Ba-san, vương quốc vua Óc. Miền Ạc-gốp trong Ba-san, được gọi là đất của người Rê-pha-im.
DEU 3:14 Giai-rơ, con cháu Ma-na-xe, chiếm cả vùng Ạc-gốp cho đến biên giới của dân Ghê-su-rít và Ma-ca-thít. Vì thế, đất nầy được đặt tên là Giai-rơ và cho đến ngày nay vùng Ba-san vẫn được gọi là thị trấn Giai-rơ.
DEU 3:15 Ta cấp xứ Ga-la-át cho Ma-kia.
DEU 3:16 Hai chi tộc Ru-bên và Gát được phần đất chạy từ Ghi-lê-át cho đến hố Ạc-nôn. Ranh giới là lằn giữa hố Ạc-nôn cho đến sông Gia-bốc, cũng là ranh giới của người Am-môn.
DEU 3:17 Ranh giới phía Tây là sông Giô-đanh, chạy từ hồ Ga-li-lê đến Biển Chết, phía tây núi Phích-ga.
DEU 3:18 Lúc đó ta truyền lệnh sau đây cho các ngươi: “CHÚA là Thượng Đế đã ban cho các ngươi xứ nầy làm sản nghiệp. Bây giờ, các chiến sĩ trong các ngươi phải cầm vũ khí và hướng dẫn dân Ít-ra-en băng qua sông.
DEU 3:19 Vợ, con cái cùng bầy gia súc các ngươi sẽ ở lại. Ta biết các ngươi có nhiều gia súc, hãy để hết lại trong các thành phố mà ta đã cấp cho các ngươi,
DEU 3:20 cho đến chừng nào CHÚA cũng ban cho các anh em Ít-ra-en sự an nghỉ sau khi họ nhận được phần đất mà CHÚA là Thượng Đế đã ban cho họ bên kia sông Giô-đanh. Sau đó, các ngươi có thể trở về đất đai ta đã cấp cho các ngươi.
DEU 3:21 Rồi ta truyền cho Giô-suê rằng: Ngươi đã nhìn thấy mọi điều CHÚA là Thượng Đế ngươi đã làm cho hai vua nầy. CHÚA sẽ làm y như vậy cho các nước mà ngươi sẽ đi qua.
DEU 3:22 Đừng sợ chúng vì CHÚA là Thượng Đế sẽ chiến đấu cho ngươi.”
DEU 3:23 Rồi ta van xin CHÚA:
DEU 3:24 “Lạy CHÚA, Ngài đã tỏ cho con, kẻ tôi tớ CHÚA, thấy rằng Ngài vô cùng cao cả. Ngài có sức mạnh lớn lao, không thần nào ở trên trời cao hay dưới đất thấp có quyền năng làm được những việc Ngài đã làm. Cũng chẳng có thần nào giống như Ngài.
DEU 3:25 Xin cho phép con băng qua sông Giô-đanh để con có thể thấy được vùng đất tốt đẹp ven sông. Con muốn được nhìn ngắm vẻ đẹp của các núi đồi và xứ Li-băng.”
DEU 3:26 Nhưng CHÚA nổi giận cùng ta do lỗi các ngươi, Ngài chẳng chịu nghe lời van xin của ta. CHÚA bảo ta, “Thôi, đủ rồi. Đừng nói chuyện nầy với ta nữa.
DEU 3:27 Hãy leo lên đỉnh núi Phích-ga, nhìn Đông Tây Nam Bắc. Ngươi có thể nhìn thấy vùng đất hứa nhưng ngươi sẽ không được phép băng qua sông Giô-đanh.
DEU 3:28 Hãy bổ nhiệm Giô-suê và giúp cho người can đảm và mạnh mẽ. Người sẽ hướng dẫn dân chúng băng qua sông và cấp đất cho họ làm sản nghiệp, còn ngươi chỉ được nhìn thấy đất hứa mà thôi.”
DEU 3:29 Vậy chúng ta ở lại thung lũng đối diện Bết-phê-ô.
DEU 4:1 Bây giơ, hỡi Ít-ra-en, hãy lắng nghe luật lệ và mệnh lệnh ta sẽ dạy bảo các ngươi. Hãy vâng theo để các ngươi được sống và chiếm xứ mà CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên các ngươi sẽ ban cho các ngươi.
DEU 4:2 Đừng thêm bớt gì vào các mệnh lệnh nầy nhưng hãy tuân theo mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế mà ta truyền cho các ngươi.
DEU 4:3 Các ngươi đã thấy rõ những gì CHÚA đã làm cho Ba-anh-phê-ô, CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã tiêu diệt từng người trong các ngươi đã theo Ba-anh-phê-ô ra sao.
DEU 4:4 Tất cả các ngươi là kẻ tiếp tục theo CHÚA là Thượng Đế vẫn được sống còn cho đến hôm nay.
DEU 4:5 Nầy, ta đã dạy các ngươi luật lệ và qui tắc mà CHÚA là Thượng Đế đã truyền cho ta. Các ngươi phải vâng theo luật của xứ mà các ngươi sắp vào để chiếm lấy.
DEU 4:6 Hãy cẩn thận làm theo những luật lệ nầy để chứng tỏ cho các dân tộc khác rằng các ngươi thật khôn ngoan và hiểu biết. Khi họ nghe về những luật lệ nầy, họ sẽ bảo, “Dân tộc Ít-ra-en vĩ đại thật khôn ngoan và hiểu biết.”
DEU 4:7 Không có một dân tộc nào có những vị thần gần gũi họ như CHÚA chúng ta là Thượng Đế, Đấng đến cùng chúng ta khi chúng ta cầu khẩn Ngài.
DEU 4:8 Không dân tộc nào có những điều giáo huấn và mệnh lệnh tốt lành như mệnh lệnh ta truyền cho các ngươi hôm nay.
DEU 4:9 Hãy cẩn thận, coi chừng và đừng quên những điều các ngươi đã thấy. Suốt đời đừng quên, và hãy dạy những điều đó cho con cháu các ngươi.
DEU 4:10 Hãy nhớ lại ngày các ngươi đứng trước mặt CHÚA là Thượng Đế các ngươi tại núi Si-nai. Ngài bảo ta, “Hãy tập họp toàn thể dân chúng lại để nghe ta truyền dạy. Họ sẽ kính sợ ta trọn đời họ trong xứ, và họ sẽ dạy con cháu họ như vậy.”
DEU 4:11 Khi các ngươi đến và đứng tại chân núi, có lửa cháy dữ dội đến tận trời, mây đen vần vũ khiến trời đất tối tăm.
DEU 4:12 CHÚA phán cùng các ngươi từ đám lửa. Các ngươi nghe tiếng Ngài nhưng Ngài không có hình dạng nào để các ngươi thấy.
DEU 4:13 CHÚA truyền cho các ngươi giao ước của Ngài tức là mười điều luật và dặn các ngươi phải vâng giữ. Ngài viết các điều đó trên hai bảng đá.
DEU 4:14 CHÚA truyền cho ta phải dạy dỗ các ngươi luật lệ và qui tắc mà các ngươi phải tuân theo trên xứ ngươi sắp chiếm sau khi băng qua sông Giô-đanh.
DEU 4:15 Từ khi CHÚA phán cùng các ngươi trong đám lửa tại núi Si-nai, các ngươi không nhìn thấy Ngài. Vậy hãy thận trọng!
DEU 4:16 Đừng làm bất cứ tượng chạm nào mà mắc tội, đừng làm tượng đàn ông hay đàn bà
DEU 4:17 tượng các loại thú dưới đất hay các loài chim trên trời,
DEU 4:18 các loại côn trùng bò trên đất hay cá dưới nước.
DEU 4:19 Khi các ngươi nhìn lên trời, thấy mặt trời, mặt trăng, ngôi sao và mọi thứ trên trời, đừng cúi xuống và thờ lạy chúng vì CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã tạo dựng mọi thứ đó cho mọi người ở khắp nơi.
DEU 4:20 CHÚA đã đem các ngươi ra khỏi Ai-cập, Ngài đã tôi luyện các ngươi từ lò luyện sắt, và Ngài khiến các ngươi trở thành dân thuộc riêng về Ngài như hiện nay.
DEU 4:21 CHÚA nổi giận cùng ta vì các ngươi, thề không cho ta băng qua sông Giô-đanh để vào đất mà CHÚA là Thượng Đế sẽ ban cho các ngươi làm sản nghiệp.
DEU 4:22 Ta sẽ chết tại đất nầy và sẽ không băng qua sông Giô-đanh, nhưng các ngươi sẽ đi qua và nhận lấy xứ tốt lành ấy.
DEU 4:23 Hãy cẩn thận. Đừng quên giao ước của CHÚA là Thượng Đế đã lập cùng các ngươi, đừng làm tượng chạm nào cả vì CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã cấm.
DEU 4:24 CHÚA là Thượng Đế các ngươi là Thượng Đế ganh tị, như đám lửa thiêu đốt.
DEU 4:25 Dù khi các ngươi đã sống trên đất hứa, đã có nhiều con cháu, cũng đừng làm điều ác. Không được làm bất cứ tượng chạm nào, đừng làm bất cứ điều gì CHÚA là Thượng Đế các ngươi cho là ác, khiến Ngài nổi giận.
DEU 4:26 Nếu không, ta xin trời đất làm chứng nghịch cùng các ngươi hôm nay rằng các ngươi sẽ bị đuổi ra khỏi đất mà các ngươi chiếm lấy sau khi băng qua sông Giô-đanh. Các ngươi sẽ không được ở đó lâu vì sẽ bị hủy diệt hoàn toàn.
DEU 4:27 CHÚA sẽ làm cho các ngươi tản lạc khắp các nước. Chỉ còn một số ít các ngươi sống sót giữa các dân tộc mà Ngài đày các ngươi đến.
DEU 4:28 Ở đó các ngươi sẽ thờ lạy các thần giả do người ta làm ra, là những thần bằng gỗ và đá, chẳng thấy, nghe, ăn hay ngửi gì được.
DEU 4:29 Nhưng tại đó nếu các ngươi tìm kiếm CHÚA là Thượng Đế, thì các ngươi sẽ gặp được nếu các ngươi tìm kiếm Ngài hết lòng.
DEU 4:30 Đành rằng các ngươi sẽ gặp khốn khổ khi những việc nầy xảy đến. Nhưng nếu các ngươi trở lại cùng CHÚA là Thượng Đế các ngươi và vâng lời Ngài,
DEU 4:31 vì CHÚA là Thượng Đế các ngươi là CHÚA giàu lòng từ bi, Ngài sẽ chẳng lìa bỏ hay hủy diệt các ngươi. Ngài sẽ không quên giao ước Ngài đã lập cùng tổ phụ các ngươi bằng lời thề.
DEU 4:32 Chưa bao giờ có điều nào xảy ra giống như thế nầy! Hãy nhìn về quá khứ, trước khi các ngươi sinh ra. Hãy trở về thời xa xưa khi CHÚA tạo dựng loài người trên đất, và hãy nhìn từ góc trời nầy đến góc trời kia, chưa bao giờ có ai nghe việc như thế nầy cả.
DEU 4:33 Không có ai nghe tiếng Thượng Đế phán từ đám lửa mà vẫn sống, trừ các ngươi.
DEU 4:34 Có thần nào chọn cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác không? Nhưng CHÚA là Thượng Đế đã làm điều đó cho các ngươi tại Ai-cập, ngay trước mắt các ngươi. Ngài đã làm những cuộc thử nghiệm, dấu kỳ, phép lạ, chiến tranh và những việc cao siêu bằng quyền uy và sức mạnh lớn lao của Ngài.
DEU 4:35 Ngài bày tỏ cho các ngươi những điều đó để các ngươi biết Ngài chính là Thượng Đế và không có CHÚA nào khác ngoài Ngài.
DEU 4:36 Ngài phán từ trời để dạy dỗ các ngươi. Ngài cho các ngươi thấy trụ lửa lớn trên đất và các ngươi nghe tiếng Ngài từ trong đám lửa.
DEU 4:37 Vì CHÚA yêu tổ tiên các ngươi nên đã chọn các ngươi, là dòng dõi họ và dùng quyền năng vĩ đại của Ngài đem các ngươi ra khỏi Ai-cập.
DEU 4:38 Ngài đánh đuổi các dân tộc lớn và mạnh hơn các ngươi ra khỏi đất của họ trước các ngươi. Ngài làm như thế để đem các ngươi vào xứ của họ và cho các ngươi lấy đất đó làm sản nghiệp như đã có hôm nay.
DEU 4:39 Ngày nay, hãy nhận biết và tin rằng CHÚA là Thượng Đế. Ngài là Thượng Đế trên trời cao và dưới đất thấp nầy. Không có CHÚA nào khác!
DEU 4:40 Hãy vâng theo mọi luật lệ và mệnh lệnh Ngài mà ta ban cho các ngươi hôm nay để các ngươi cùng con cháu được thịnh vượng. Rồi các ngươi sẽ được sống lâu trên đất mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi mãi mãi.
DEU 4:41 Mô-se chọn ba thành phố phía Đông sông Giô-đanh,
DEU 4:42 để cho kẻ vô ý giết người có thể tạm trú. Nếu kẻ bị giết không phải do thù oán trước thì kẻ sát nhân có thể đến các thành đó trú ẩn.
DEU 4:43 Đó là các thành: Be-xe ở cao nguyên trong sa mạc cho chi tộc Ru-bên; Ra-mốt ở Ghi-lê-át cho chi tộc Gát và Gô-lan ở Ba-san cho chi tộc Ma-na-xe.
DEU 4:44 Đây là những lời giáo huấn Mô-se ban hành cho dân Ít-ra-en,
DEU 4:45 gồm các qui tắc, mệnh lệnh, và luật lệ Mô-se ban hành khi họ ra khỏi Ai-cập.
DEU 4:46 Họ ở thung lũng gần Bết-phê-ô, phía Đông sông Giô-đanh trong vùng đất của Si-hôn. Si-hôn, vua dân Am-môn cai trị ở Hết-bôn đã bị Mô-se cùng dân Ít-ra-en đánh bại khi họ vừa ra khỏi Ai-cập.
DEU 4:47 Dân Ít-ra-en chiếm đất của người và đất của Óc, vua của Ba-san, hai vua Am-môn ở phía đông sông Giô-đanh.
DEU 4:48 Vùng đất ấy chạy từ A-rô-e gần ven hố Ạc-nôn đến núi Hẹt-môn.
DEU 4:49 Đất đó gồm cả thung lũng phía Đông sông Giô-đanh chạy dài đến Biển Chết bên dưới núi Phích-ga.
DEU 5:1 Mô-se kêu gọi tất cả dân Ít-ra-en lại và bảo: “Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những luật lệ ta ban hành cho các ngươi hôm nay. Hãy học tập và cẩn thận vâng theo.
DEU 5:2 CHÚA là Thượng Đế đã lập giao ước với chúng ta tại núi Si-nai.
DEU 5:3 Ngài chẳng lập giao ước nầy với tổ tiên chúng ta, nhưng lập với chúng ta là những kẻ đang sống hôm nay.
DEU 5:4 CHÚA đã phán cùng các ngươi mặt đối mặt từ trong đám lửa trên núi.
DEU 5:5 Lúc ấy ta đứng giữa CHÚA và các ngươi để bảo các ngươi những lời CHÚA truyền dạy vì các ngươi sợ đám lửa nên không dám lên núi. CHÚA phán rằng:
DEU 5:6 Ta là CHÚA, Thượng Đế các ngươi; ta đã mang các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập là nơi ngươi làm nô lệ.
DEU 5:7 Ngoài ta, ngươi không được thờ thần nào khác.
DEU 5:8 Ngươi không được làm hình tượng cho mình hay bất cứ tượng thờ nào giống các vật trên trời cao kia hay dưới đất thấp hoặc dưới nước.
DEU 5:9 Ngươi không được thờ lạy hay phục vụ bất cứ thần tượng nào, vì ta là CHÚA, Thượng Đế các ngươi là Thượng Đế ganh tị. Nếu kẻ nào phạm tội và ghét ta, ta sẽ trừng phạt con cái luôn đến cả cháu chít.
DEU 5:10 Nhưng ta sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những ai yêu ta và vâng giữ mệnh lệnh ta.
DEU 5:11 Các ngươi không được lạm dụng danh CHÚA, vì CHÚA sẽ phạt bất cứ ai dùng danh Ngài một cách bừa bãi.
DEU 5:12 Hãy giữ ngày Sa-bát làm ngày thánh, như CHÚA là Thượng Đế đã truyền dặn ngươi.
DEU 5:13 Các ngươi có thể làm mọi việc sáu ngày trong tuần,
DEU 5:14 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Trong ngày đó, ngươi cùng con trai, con gái, tôi trai tớ gái, bò, lừa hay bất cứ thú vật nào hoặc những người ngoại quốc sống trong thành phố các ngươi, không ai được làm việc gì. Như vậy, ngươi sẽ cho các đầy tớ được nghỉ ngơi như mình.
DEU 5:15 Hãy nhớ các ngươi cũng đã từng là nô lệ tại Ai-cập và CHÚA là Thượng Đế đã đem các ngươi ra khỏi đó bằng quyền năng lớn lao của Ngài. Vì thế CHÚA là Thượng Đế đã truyền cho các ngươi phải nghỉ ngơi vào ngày Sa-bát.
DEU 5:16 Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, như CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã phán dạy, để ngươi được sống lâu trên đất, và được thịnh vượng trong xứ CHÚA là Thượng Đế sẽ ban cho các ngươi.
DEU 5:17 Ngươi không được giết người.
DEU 5:18 Ngươi không được ngoại tình.
DEU 5:19 Ngươi không được trộm cắp.
DEU 5:20 Ngươi không được làm chứng gian để hại người láng giềng.
DEU 5:21 Ngươi không được ham muốn vợ người khác. Ngươi không được ham muốn nhà cửa, đất đai, tôi trai tớ gái, bò lừa hay bất cứ vật gì thuộc về người láng giềng mình.”
DEU 5:22 CHÚA đã lớn tiếng truyền các điều răn nầy cho tất cả các ngươi trên núi qua đám lửa, đám mây, và trong bóng tối; Ngài chẳng truyền dạy điều gì khác. Rồi Ngài viết các điều nầy vào hai bảng đá và đưa cho ta.
DEU 5:23 Khi các ngươi nghe tiếng vang từ bóng tối lúc núi đang rực cháy, tất cả các bô lão và các lãnh tụ chi tộc đến cùng ta
DEU 5:24 nói rằng, “CHÚA là Thượng Đế chúng ta đã bày tỏ sự vinh hiển cùng sự oai nghi của Ngài, chúng tôi đã nghe tiếng Ngài qua đám lửa. Ngày nay, chúng tôi thấy rằng có người nghe tiếng Thượng Đế mà còn sống.
DEU 5:25 Nhưng giờ đây, chúng tôi sẽ chết! Đám lửa lớn nầy sẽ thiêu hủy chúng tôi, chúng tôi sẽ chết nếu tiếp tục nghe tiếng CHÚA là Thượng Đế.
DEU 5:26 Không người trần nào còn sống được nếu nghe tiếng Ngài từ đám lửa, ngoại trừ chúng ta.
DEU 5:27 Mô-se, ông hãy đến gần và nghe mọi điều CHÚA là Thượng Đế phán bảo rồi nói lại cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ nghe và làm theo.”
DEU 5:28 Nghe những lời các ngươi nói, CHÚA bảo ta, “Ta đã nghe những gì họ nói cùng ngươi rồi. Họ nói phải đó.
DEU 5:29 Ta ước gì lòng họ cứ luôn luôn kính sợ và vâng theo mọi mệnh lệnh ta để họ cùng con cháu được thịnh vượng mãi mãi!
DEU 5:30 Hãy đi và bảo dân chúng trở về lều mình,
DEU 5:31 nhưng ngươi hãy ở lại đây với ta để ta ban cho ngươi mọi mệnh lệnh, qui tắc và luật lệ, và ngươi phải dạy họ tuân giữ trong xứ mà ta sẽ ban cho họ.”
DEU 5:32 Vậy hãy cẩn thận làm theo những gì CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã truyền dạy, và phải tuyệt đối tuân hành, đừng quay bên phải hay bên trái.
DEU 5:33 Hãy sống theo đường lối CHÚA là Thượng Đế đã truyền dạy để các ngươi được sống lâu và thịnh vượng trong xứ các ngươi sắp chiếm lấy.
DEU 6:1 CHÚA là Thượng Đế đã bảo ta dạy các ngươi mọi mệnh lệnh, qui tắc, và luật lệ mà các ngươi phải tuân hành trên đất mà các ngươi sắp chiếm lấy sau khi băng qua sông Giô-đanh.
DEU 6:2 Các ngươi cùng con cháu phải kính sợ CHÚA suốt đời mình. Hãy vâng theo tất cả những qui tắc và luật lệ của Ngài mà ta đã dạy để các ngươi được sống lâu.
DEU 6:3 Toàn dân Ít-ra-en, hãy nghe và cẩn thận làm theo các luật lệ nầy để các ngươi được thịnh vượng và trở thành một dân tộc lớn trên vùng đất màu mỡ như lời Chúa là Thượng Đế của tổ tiên các ngươi đã hứa.
DEU 6:4 Toàn dân Ít-ra-en, hãy lắng nghe! CHÚA, Thượng Đế các ngươi là CHÚA duy nhất.
DEU 6:5 Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết sức mà kính yêu CHÚA là Thượng Đế các ngươi.
DEU 6:6 Hãy luôn ghi nhớ mọi mệnh lệnh ta truyền dạy các ngươi hôm nay.
DEU 6:7 Hãy dạy các mệnh lệnh đó cho con cháu các ngươi, nói với chúng khi ngươi ngồi trong nhà hay đi dọc đường, khi ngươi nằm ngủ hay thức dậy.
DEU 6:8 Hãy ghi lại và đeo nó trên tay như một dấu hiệu, buộc nó trên trán để nhắc nhở ngươi,
DEU 6:9 và ghi những lời đó trên cửa và ngoài cổng.
DEU 6:10 CHÚA là Thượng Đế sẽ đem các ngươi vào đất Ngài hứa cùng tổ tiên các ngươi, cùng Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và Ngài sẽ ban đất đó cho các ngươi. Xứ ấy rộng lớn, có những thành phố mở mang không do các ngươi xây,
DEU 6:11 cùng những nhà cửa đầy đủ tiện nghi không do các ngươi mua, những giếng nước không do các ngươi đào, những vườn nho và cây ô liu không do các ngươi trồng. Các ngươi sẽ ăn no nê.
DEU 6:12 Nhưng hãy cẩn thận! Đừng quên CHÚA, là Đấng đem các ngươi ra khỏi Ai-cập nơi các ngươi đã làm nô lệ.
DEU 6:13 Hãy kính sợ CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Hãy thờ phụng Ngài và chỉ hứa nguyện trong danh Ngài mà thôi.
DEU 6:14 Đừng thờ lạy thần của các dân sống quanh các ngươi,
DEU 6:15 vì Chúa là Thượng Đế các ngươi là CHÚA ganh tị. Ngài hiện diện giữa các ngươi, nếu các ngươi thờ các thần khác, Ngài sẽ nổi giận và hủy diệt các ngươi khỏi mặt đất.
DEU 6:16 Đừng thách thức CHÚA là Thượng Đế các ngươi như đã làm tại Ma-sa.
DEU 6:17 Nhớ giữ lấy mọi mệnh lệnh cùng những luật lệ mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã ban cho các ngươi.
DEU 6:18 Hãy làm những điều Chúa bảo là tốt và phải để các ngươi được thịnh vượng. Rồi các ngươi sẽ đi vào và chiếm lấy xứ mà CHÚA là Thượng Đế đã hứa cùng tổ tiên các ngươi.
DEU 6:19 Ngài sẽ đánh đuổi mọi kẻ thù khi các ngươi vào xứ như lời Ngài đã nói.
DEU 6:20 Trong tương lai khi con cháu các ngươi hỏi, “Các luật pháp, mệnh lệnh, luật lệ của CHÚA là Thượng Đế ban cho chúng ta có nghĩa gì?”
DEU 6:21 thì hãy nói với chúng rằng, “Chúng ta đã làm nô lệ trong nước Ai-cập, nhưng CHÚA đã đem chúng ta ra bằng quyền năng lớn lao của Ngài.
DEU 6:22 CHÚA đã cho chúng ta thấy những dấu lạ lớn mà Ngài làm cho Ai-cập, vua cùng gia đình vua.
DEU 6:23 CHÚA đã đem chúng ta ra khỏi Ai-cập và dẫn chúng ta đến đây, ban cho chúng ta đất Ngài đã hứa cùng tổ tiên chúng ta.
DEU 6:24 Ngài truyền cho chúng ta phải vâng theo mọi mệnh lệnh và kính sợ CHÚA là Thượng Đế để chúng ta được thịnh vượng và sống lâu như hiện nay.
DEU 6:25 Điều chúng ta phải làm là: Vâng giữ tất cả các qui tắc của CHÚA là Thượng Đế, như Ngài đã truyền.”
DEU 7:1 CHÚA là Thượng Đế sẽ đem các ngươi vào xứ mà các ngươi nhận lấy làm sản nghiệp. Khi các ngươi vào, Ngài sẽ đánh đuổi các dân sau đây: Hê-tít, Ghi-ga-sít, A-mô-rít, Ca-na-an, Phê-ri-sít, Hê-vít, và Giê-bu-sít, là bảy dân tộc mạnh hơn các ngươi.
DEU 7:2 CHÚA là Thượng Đế sẽ trao các dân đó vào tay các ngươi, và sau khi chiến thắng, các ngươi phải tiêu diệt chúng hoàn toàn. Đừng lập hòa ước hay tỏ lòng thương xót chúng.
DEU 7:3 Đừng cưới hỏi hay gả con gái các ngươi cho con trai chúng, cũng đừng để con trai các ngươi lấy con gái chúng.
DEU 7:4 Nếu các ngươi làm như thế, các dân ấy sẽ làm cho con cái các ngươi bỏ ta, đi thờ cúng các thần khác. Rồi CHÚA sẽ nổi giận và tiêu diệt các ngươi ngay.
DEU 7:5 Đây là những điều các ngươi phải làm cho các dân đó: phá sập các bàn thờ, nghiền nát trụ thờ, chặt các tượng A-sê-ra, và đốt hết các tượng chạm của chúng trong lửa.
DEU 7:6 Các ngươi là dân thánh thuộc về CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Ngài đã chọn các ngươi từ mọi dân trên đất để làm dân thuộc riêng cho Ngài.
DEU 7:7 Không phải CHÚA yêu thương và chọn lựa các ngươi vì các ngươi đông hơn các dân khác đâu. Thật ra các ngươi là dân tộc nhỏ bé nhất.
DEU 7:8 Nhưng Ngài chọn các ngươi vì Ngài yêu các ngươi và giữ lời Ngài hứa cùng tổ tiên các ngươi. Vì thế Ngài đem các ngươi ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng lớn lao của Ngài và giải phóng các ngươi khỏi ách nô lệ, khỏi quyền lực của vua Ai-cập.
DEU 7:9 Vậy hãy biết rằng CHÚA, Thượng Đế các ngươi là Thượng Đế thành tín. Ngài sẽ giữ giao ước yêu thương của Ngài đến ngàn đời cho những ai yêu Ngài và vâng giữ các mệnh lệnh Ngài.
DEU 7:10 Nhưng sẽ báo trả những kẻ ghét Ngài. Ngài sẽ hủy diệt họ, cũng không chậm trễ trong việc báo trả những kẻ ghét Ngài.
DEU 7:11 Vậy hãy cẩn thận làm theo mọi mệnh lệnh, qui tắc cùng các luật lệ mà ta ban cho các ngươi hôm nay.
DEU 7:12 Nếu các ngươi chú ý, cẩn thận vâng giữ các luật lệ nầy, thì Thượng Đế sẽ giữ giao ước của Ngài và bày tỏ tình yêu Ngài đối với các ngươi, như Ngài đã hứa cùng tổ tiên các ngươi.
DEU 7:13 Ngài sẽ yêu thương và chúc phước cho các ngươi. Ngài sẽ tăng dân số, ban cho ngươi đông con. Ngài sẽ ban phước cho đồng ruộng các ngươi được trúng mùa, cùng rượu mới, và dầu. Ngài sẽ cho bầy gia súc sinh sản thêm nhiều bò và chiên con trong xứ mà Ngài đã hứa ban cho tổ tiên các ngươi.
DEU 7:14 Các ngươi sẽ được phước hơn các dân tộc khác. Mỗi vợ chồng đều có con cái, gia súc cũng sinh sản.
DEU 7:15 CHÚA sẽ cất khỏi các ngươi mọi bệnh tật; các ngươi sẽ không mắc các chứng bệnh hiểm nghèo như đã thấy ở Ai-cập, nhưng Ngài sẽ dành những bệnh ấy cho những kẻ thù ghét các ngươi.
DEU 7:16 Các ngươi phải tiêu diệt mọi dân mà CHÚA trao cho các ngươi. Đừng thương hại chúng, cũng đừng thờ lạy các thần của chúng vì chúng sẽ là cái bẫy cho các ngươi.
DEU 7:17 Các ngươi có thể tự hỏi, “Tại những dân tộc nầy mạnh hơn chúng tôi, nên chúng tôi không thể đánh đuổi họ được.”
DEU 7:18 Đừng sợ chúng. Hãy nhớ lại những điều CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã làm cho Ai-cập và vua nước ấy.
DEU 7:19 Các ngươi đã chứng kiến những đại nạn, dấu lạ lớn mà Ngài làm. Ngài đã đem các ngươi khỏi Ai-cập bằng quyền lực lớn lao của Ngài. CHÚA là Thượng Đế sẽ làm như thế với mọi dân tộc mà các ngươi đang sợ hãi.
DEU 7:20 CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ sai sự kinh hoàng đến giữa họ, ngay cả những kẻ đang sống và trốn tránh các ngươi cũng sẽ chết.
DEU 7:21 Đừng sợ họ, vì CHÚA là Thượng Đế ở cùng các ngươi. Ngài là Thượng Đế vĩ đại và mọi dân tộc sẽ sợ hãi Ngài.
DEU 7:22 Khi CHÚA là Thượng Đế các ngươi đánh đuổi các dân ra khỏi xứ, Ngài sẽ xua đuổi họ dần dần trước các ngươi. Các ngươi không thể tiêu diệt họ hết một lần, vì các thú hoang sẽ tăng trưởng nhanh chóng.
DEU 7:23 Nhưng CHÚA là Thượng Đế sẽ trao các dân đó vào tay các ngươi, khiến chúng hoang mang cho đến khi chúng bị tiêu diệt hoàn toàn.
DEU 7:24 Ngài sẽ giúp các ngươi đánh bại các vua và thế giới sẽ không còn nhớ đến họ nữa. Không ai có thể chống cự các ngươi được, các ngươi sẽ tiêu diệt họ hết tất cả.
DEU 7:25 Hãy đốt bỏ các tượng thần của họ. Đừng ham bạc vàng của họ, cũng đừng lấy làm của riêng, nếu không nó sẽ trở nên cái bẫy cho các ngươi. CHÚA là Thượng Đế ghét những tượng đó.
DEU 7:26 Đừng đem một trong những vật đáng ghét ấy vào nhà mình, nếu không các ngươi sẽ bị hủy diệt chung với nó. Phải gớm ghét và ném bỏ những hình tượng; phải tận diệt chúng.
DEU 8:1 Phải cẩn thận làm theo mọi mệnh lệnh ta truyền cho các ngươi hôm nay. Rồi các ngươi sẽ được sống và gia tăng dân số, các ngươi sẽ được vào đất CHÚA đã hứa cùng tổ tiên các ngươi.
DEU 8:2 Hãy nhớ rằng CHÚA là Thượng Đế đã dẫn các ngươi trong sa mạc suốt bốn mươi năm nay, cất khỏi các ngươi lòng kiêu căng và thử thách các ngươi, để dò lòng các ngươi, xem thử các ngươi có muốn làm theo mệnh lệnh Ngài hay không.
DEU 8:3 Ngài cất tánh tự phụ ra khỏi các ngươi khi để cho các ngươi đói, rồi nuôi các ngươi bằng ma-na, là thứ mà các ngươi và tổ tiên ngươi chưa hề thấy. Để dạy các ngươi rằng người ta sống không chỉ nhờ bánh mà thôi, mà còn bằng lời nói của CHÚA.
DEU 8:4 Trong bốn mươi năm nay, quần áo các ngươi không sờn rách, và chân các ngươi không sưng phồng.
DEU 8:5 Hãy nhớ trong lòng rằng CHÚA đã sửa dạy các ngươi như cha sửa dạy con mình.
DEU 8:6 Hãy vâng theo mọi mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế ngươi, sống theo cách Ngài truyền dặn và kính sợ Ngài.
DEU 8:7 CHÚA là Thượng Đế đang đem ngươi vào vùng đất tốt lành, xứ có nhiều sông, hồ đầy nước, với những dòng suối chảy vào thung lũng và các đồi,
DEU 8:8 xứ của lúa mì, lúa mạch, nho, vả, lựu, dầu ô liu, và mật ong.
DEU 8:9 Đất đó là nơi các ngươi sẽ có thức ăn dư dật, nơi ngươi có đủ mọi thứ cần dùng, nơi mà đá là sắt, và ngươi có thể đào mỏ đồng từ các đồi.
DEU 8:10 Các ngươi sẽ được ăn no nê, các ngươi sẽ ca ngợi CHÚA là Thượng Đế các ngươi vì Ngài đã ban cho ngươi xứ tốt lành.
DEU 8:11 Hãy cẩn thận, đừng quên CHÚA là Thượng Đế ngươi mà bất tuân mệnh lệnh, luật lệ và qui tắc của Ngài mà ta truyền cho các ngươi hôm nay.
DEU 8:12 Khi các ngươi ăn uống no nê, xây nhà đẹp để ở,
DEU 8:13 khi bầy gia súc tăng gia nhiều, và bạc vàng đầy nhà, khi các ngươi giàu có dư dật,
DEU 8:14 rồi lòng các ngươi đâm ra kiêu căng, các ngươi sẽ quên CHÚA là Thượng Đế các ngươi, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập, nơi các ngươi làm nô lệ.
DEU 8:15 Ngài đã dẫn các ngươi qua sa mạc mênh mông ghê rợn, khô khan không có nước, chỉ có rắn độc và bò cạp. Ngài đã ban cho các ngươi nước từ tảng đá,
DEU 8:16 và bánh ma-na để ăn trong sa mạc, là món mà tổ phụ các ngươi chưa hề thấy. Ngài làm như thế để cất lòng kiêu căng khỏi các ngươi và thử nghiệm các ngươi, để các ngươi được hưởng điều an lành về sau.
DEU 8:17 Các ngươi có thể tự nghĩ, “Ta giàu có do tài sức của ta,”
DEU 8:18 nhưng hãy nhớ CHÚA là Thượng Đế các ngươi! Ngài là Đấng ban cho các ngươi tài sức để trở nên phong lưu, Ngài đã giữ lời hứa cùng tổ phụ các ngươi, như các ngươi thấy hôm nay.
DEU 8:19 Nếu các ngươi quên CHÚA là Thượng Đế mình và đi theo và thờ cúng những thần khác, cúi lạy chúng thì ta cảnh cáo các ngươi rằng các ngươi sẽ bị tiêu diệt.
DEU 8:20 Như CHÚA đã hủy diệt các dân khác giùm các ngươi, Ngài cũng sẽ hủy diệt các ngươi nếu các ngươi không vâng theo lời Ngài.
DEU 9:1 Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe đây! Các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh và đánh đuổi các dân lớn mạnh hơn các ngươi. Họ có những thành phố lớn, vách cao đến tận trời.
DEU 9:2 Các dân đó là A-nác, giống dân mạnh và cao lớn. Các ngươi biết về họ, nghe người ta đồn rằng: “Không ai diệt nổi dân A-nác.”
DEU 9:3 Nhưng hôm nay hãy nhớ rằng CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ đi trước để tiêu diệt họ như lửa thiêu hủy mọi thứ. Ngài sẽ đánh bại họ trước các ngươi, rồi các ngươi sẽ đánh đuổi và tiêu diệt họ nhanh chóng, như lời Ngài đã hứa.
DEU 9:4 Sau khi CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã đánh đuổi những dân đó trước các ngươi, thì đừng tự nhủ, “CHÚA đem ta đến đây để chiếm xứ nầy vì ta là người tốt.” Không! Chính vì các dân tộc kia gian ác nên CHÚA đánh đuổi họ đi trước các ngươi.
DEU 9:5 Các ngươi được vào lấy xứ không phải vì các ngươi tốt lành hay chân thật, nhưng vì các dân ấy gian ác. Bởi thế cho nên CHÚA là Thượng Đế đánh đuổi họ để giữ lời hứa Ngài với tổ tiên các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
DEU 9:6 CHÚA sẽ ban xứ tốt lành nầy để các ngươi nhận làm sản nghiệp. Nhưng phải biết rằng: Chẳng phải vì các ngươi tốt lành đâu, các ngươi chỉ là dân ương ngạnh.
DEU 9:7 Hãy nhớ điều nầy và đừng bao giờ quên: Các ngươi đã chọc giận CHÚA trong sa mạc. Các ngươi chống nghịch Ngài từ ngày rời Ai-cập cho tới khi đến đây.
DEU 9:8 Ở núi Si-nai, các ngươi đã chọc giận CHÚA, đến nỗi Ngài muốn tiêu diệt các ngươi.
DEU 9:9 Khi ta leo lên núi để nhận hai bảng đá có ghi Giao ước của CHÚA lập cùng các ngươi, ta đã ở trên núi bốn mươi ngày đêm; chẳng ăn hay uống gì.
DEU 9:10 CHÚA trao cho ta hai bảng đá, do chính ngón tay của Thượng Đế viết. Trên đó có những mệnh lệnh Ngài truyền cho các ngươi trên ngọn núi từ trong đám lửa, trong ngày các ngươi tụ họp lại tại đó.
DEU 9:11 Sau bốn mươi ngày đêm ấy, CHÚA đưa cho ta hai bảng đá trên đó ghi Giao ước Ngài lập cùng các ngươi.
DEU 9:12 CHÚA bảo ta, “Hãy đứng dậy đi xuống núi cho nhanh, vì dân mà ngươi đã đem ra khỏi xứ Ai-cập đã bại hoại rồi. Họ đã vội quên những mệnh lệnh ta truyền và đã tự tạo thần tượng cho mình.”
DEU 9:13 CHÚA phán tiếp: “Ta đã thấy rõ dân nầy thật cứng đầu và ương ngạnh!
DEU 9:14 Ngươi hãy giang xa ra để ta hủy diệt họ và làm cho cả thế gian không nhớ chúng nữa. Rồi ta sẽ lập một dân khác từ ngươi, lớn mạnh hơn dân nầy.”
DEU 9:15 Ta vội xuống núi, lúc ấy núi đang cháy rực, mang theo hai bảng đá có ghi Giao ước trong tay ta.
DEU 9:16 Khi ta nhìn thì thấy các ngươi phạm tội nghịch cùng CHÚA là Thượng Đế và làm tượng con bò vàng để thờ. Các ngươi đã nhanh chóng từ bỏ những điều CHÚA đã truyền dạy.
DEU 9:17 Ta ném vỡ tan tành hai bảng đá trước mặt các ngươi.
DEU 9:18 Rồi một lần nữa, ta sấp mặt xuống đất trước CHÚA trong bốn mươi ngày đêm. Ta chẳng ăn bánh hay uống nước. Các ngươi đã phạm tội, làm điều ác trước mặt CHÚA, và chọc Ngài nổi giận.
DEU 9:19 Ta sợ cơn thịnh nộ của CHÚA phừng lên đến nỗi Ngài muốn tiêu diệt các ngươi, nhưng Ngài chịu nghe lời cầu xin của ta một lần nữa.
DEU 9:20 CHÚA đã nổi giận cùng A-rôn và định giết người đi, nhưng ta cũng cầu thay cho A-rôn.
DEU 9:21 Ta lấy tượng bò vàng tội lỗi các ngươi làm đem thiêu trong lửa. Ta nghiền nát thành bụi rồi ném vào khe nước chảy từ núi ra.
DEU 9:22 Các ngươi đã chọc CHÚA nổi giận tại Ta-bê-ra, Ma-sa, và Kíp-rốt Hát-ta-va.
DEU 9:23 Rồi CHÚA bảo các ngươi đi khỏi Ka-đe Ba-nê-a và dặn rằng, “Hãy đi lên và chiếm lấy xứ ta ban cho ngươi.” Nhưng các ngươi chống lại mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế. Các ngươi không tin cậy Ngài cũng chẳng chịu vâng lời Ngài.
DEU 9:24 Từ khi ta biết các ngươi, các ngươi thường chống nghịch CHÚA.
DEU 9:25 CHÚA phán rằng Ngài sẽ hủy diệt các ngươi, vì thế ta lại sấp mình xuống trước mặt Ngài trong bốn mươi ngày đêm.
DEU 9:26 Ta khẩn cầu cùng CHÚA rằng, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, xin đừng hủy diệt dân Ngài, là dân thuộc riêng Ngài, mà Ngài đã giải phóng và mang ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh lớn lao của Ngài.
DEU 9:27 Xin nhớ đến những tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Xin đừng nhìn đến sự ương ngạnh, bướng bỉnh của dân nầy, cũng đừng nhìn đến tội lỗi và gian ác của họ.
DEU 9:28 Nếu không, dân Ai-cập sẽ nói, ‘Vì CHÚA không có khả năng dẫn dân Ngài đến xứ Ngài hứa cho họ, và vì Ngài ghét họ nên Ngài đem họ vào sa mạc để giết họ.’
DEU 9:29 Nhưng họ vốn là dân Ngài, dân thuộc riêng cho Ngài, là dân Ngài giải phóng ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh vĩ đại của Ngài.”
DEU 10:1 Lúc ấy, CHÚA bảo ta, “Hãy đục hai bảng đá như lần trước rồi lên gặp ta trên núi. Cũng hãy làm một cái rương bằng gỗ.
DEU 10:2 Ta sẽ viết vào hai bảng đá mới nầy những gì đã viết trong hai bảng đá trước mà ngươi đã đập bể, rồi đặt hai bảng đá mới vào rương.”
DEU 10:3 Vậy ta đóng cái rương bằng gỗ cây keo, và đục hai bảng đá như lần trước. Rồi ta lên núi cầm hai bảng đá trên tay.
DEU 10:4 CHÚA ghi lại trên hai bảng đá y như lần trước, tức mười điều răn Ngài đã truyền cho các ngươi trên núi từ đám lửa, trong ngày các ngươi tụ họp tại đó. Rồi CHÚA đưa các bảng đó cho ta.
DEU 10:5 Ta trở xuống núi và đặt hai bảng đá vào rương ta đã đóng như lời CHÚA dặn bảo, nay vẫn còn đó.
DEU 10:6 Dân Ít-ra-en đi từ những giếng nước của người Gia-ca-nít tới Mô-sê-ra. A-rôn chết và được chôn tại đó, con trai người là Ê-lê-a-sa thay người làm thầy tế lễ.
DEU 10:7 Từ Mô-sê-ra, họ đến Gút-gô-đa; rồi từ Gút-gô-đa đi đến Giô-ba-tha, nơi có nhiều suối nước.
DEU 10:8 Lúc đó, CHÚA chọn chi tộc Lê-vi khiêng rương giao ước của Ngài. Họ có nhiệm vụ phục sự CHÚA và chúc phước cho dân chúng nhân danh Ngài, như họ vẫn làm cho đến nay.
DEU 10:9 Vì vậy, chi tộc Lê-vi không nhận phần đất nào làm sản nghiệp; nhưng họ nhận chính CHÚA là sản nghiệp mình, như CHÚA là Thượng Đế đã bảo họ.
DEU 10:10 Ta ở lại trên núi bốn mươi ngày đêm như lần trước. CHÚA cũng nghe lời cầu xin của ta lần nầy nên không hủy diệt các ngươi.
DEU 10:11 Ngài bảo ta, “Hãy đi dẫn dân chúng vào chiếm đất ta đã hứa cùng tổ tiên họ.”
DEU 10:12 Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, đây là điều CHÚA muốn các ngươi làm: Kính sợ CHÚA là Thượng Đế các ngươi, và làm theo những gì Ngài bảo các ngươi. Yêu mến CHÚA và hết lòng, hết linh hồn phục vụ Ngài,
DEU 10:13 vâng giữ mệnh lệnh cùng luật lệ ta truyền cho các ngươi hôm nay vì đó chính là lợi ích cho các ngươi.
DEU 10:14 Cả thế giới cùng mọi vật trong đó, luôn cả các từng trời cao vút đều thuộc về CHÚA.
DEU 10:15 Nhưng vì Ngài chăm sóc và yêu tổ tiên các ngươi, CHÚA đã chọn các ngươi, con cháu ngươi từ trong muôn dân, như các ngươi đã thấy ngày nay.
DEU 10:16 Hãy hết lòng phục vụ CHÚA; đừng ương ngạnh nữa.
DEU 10:17 CHÚA là Thượng Đế các ngươi là CHÚA của tất cả các thần và CHÚA các chúa. Ngài là Thượng Đế vĩ đại, quyền năng tuyệt vời. Ngài không thiên vị ai, cũng không bao giờ bị mua chuộc.
DEU 10:18 Ngài giúp đỡ kẻ mồ côi và người góa bụa; Ngài yêu thương các ngoại kiều, ban thức ăn và quần áo cho họ.
DEU 10:19 Các ngươi phải yêu các ngoại kiều vì chính các ngươi cũng từng làm ngoại kiều tại Ai-cập.
DEU 10:20 Hãy kính sợ CHÚA là Thượng Đế các ngươi và phục vụ Ngài. Hãy trung thành với Ngài và chỉ lấy danh Ngài mà thề nguyện.
DEU 10:21 Ngài là Đấng các ngươi ca ngợi; Ngài là Thượng Đế của các ngươi, Đấng đã làm những việc kỳ diệu cho các ngươi, những điều các ngươi đã chứng kiến tận mắt.
DEU 10:22 Khi tổ tiên các ngươi xuống Ai-cập, chỉ có bảy mươi người, mà giờ đây CHÚA là Thượng Đế đã làm cho các ngươi đông như sao trên trời.
DEU 11:1 Các ngươi phải kính yêu CHÚA là Thượng Đế mình và luôn luôn vâng giữ mệnh lệnh, qui tắc, luật lệ của Ngài.
DEU 11:2 Hãy nhớ rằng ngày nay không phải con cái các ngươi là người đã thấy sự sửa dạy của CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Chúng nó không thấy sự oai nghi, quyền năng, sức mạnh,
DEU 11:3 hay những dấu kỳ và phép lạ CHÚA làm tại Ai-cập cho vua và cả đất nước đó.
DEU 11:4 Chúng nó không thấy những gì Ngài làm cho quân đội, xe ngựa cùng quân xa Ai-cập khi Ngài ném họ vào lòng Hồng hải lúc họ đang rượt đuổi các ngươi. CHÚA đã hủy diệt họ hoàn toàn.
DEU 11:5 Chúng nó không thấy những gì Ngài làm cho các ngươi trong sa mạc cho tới khi các ngươi đến đây.
DEU 11:6 Chúng nó không thấy những gì Ngài làm cho Đa-than và A-bi-ram, các con trai của Ê-li-áp thuộc chi tộc Ru-bên, khi đất nứt ra và nuốt họ, gia đình, lều trại cùng tất cả mọi người đứng chung với họ trong Ít-ra-en.
DEU 11:7 Chính các ngươi đã nhìn thấy tất cả mọi điều phi thường nầy mà CHÚA đã làm.
DEU 11:8 Vậy hãy vâng theo mọi mệnh lệnh ta truyền cho các ngươi hôm nay, để các ngươi được mạnh mẽ và có thể tiến lên chiếm xứ làm sản nghiệp.
DEU 11:9 Sau đó các ngươi sẽ sống lâu trên vùng đất CHÚA đã hứa cùng tổ tiên các ngươi, vùng đất chảy sữa và mật.
DEU 11:10 Xứ mà các ngươi nhận lấy không giống như Ai-cập, nơi các ngươi đã sống, nơi các ngươi đã phải gieo trồng, phải đạp nước mà tưới, như chăm sóc vườn rau vậy.
DEU 11:11 Nhưng xứ mà các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh để chiếm lấy là xứ của đồi núi và thung lũng, xứ hứng nước mưa từ trời.
DEU 11:12 Đó là xứ được CHÚA là Thượng Đế các ngươi chăm sóc, được mắt Ngài trông nom quanh năm.
DEU 11:13 Nếu các ngươi thận trọng vâng theo các mệnh lệnh ta truyền cho các ngươi hôm nay, kính yêu CHÚA là Thượng Đế và hết lòng, hết linh hồn phục vụ Ngài,
DEU 11:14 thì Ngài sẽ cho mưa thu và xuân đến đúng thì, các ngươi sẽ thu góp ngũ cốc, rượu mới và dầu.
DEU 11:15 Ngài sẽ khiến đồng ruộng xanh cỏ cho súc vật ngươi, và ngươi sẽ có dư dật thức ăn.
DEU 11:16 Hãy cẩn thận, kẻo các ngươi bị gạt mà trở lòng phụng sự và bái lạy các thần khác.
DEU 11:17 Nếu các ngươi làm như vậy, CHÚA sẽ nổi giận cùng ngươi và sẽ đóng cửa các từng trời không cho mưa xuống. Rồi đất sẽ không sinh sản và các ngươi sẽ chết nhanh chóng trong xứ tốt lành mà CHÚA ban cho ngươi.
DEU 11:18 Hãy hết lòng ghi nhớ những lời ta dạy. Hãy viết chúng xuống và buộc vào tay như một dấu hiệu; mang vào trán để nhắc nhở các ngươi luôn.
DEU 11:19 Hãy dạy con cái ngươi, nói với chúng khi ngươi đang ngồi trong nhà hay đi trên đường, khi ngươi nằm hay lúc thức dậy.
DEU 11:20 Hãy viết trên cửa và cổng nhà
DEU 11:21 để cho ngươi cùng con cái ngươi sẽ được sống lâu trên đất mà CHÚA đã hứa cùng tổ tiên các ngươi, bao lâu mà trời còn cao hơn đất.
DEU 11:22 Nếu các ngươi cẩn thận làm theo từng mệnh lệnh ta truyền, kính yêu CHÚA là Thượng Đế các ngươi, và làm theo mọi điều Ngài dạy bảo, và trung thành với Ngài,
DEU 11:23 thì Ngài sẽ đánh đuổi tất cả mọi dân ra khỏi đất trước các ngươi, các ngươi sẽ vào chiếm lấy xứ của những dân lớn và mạnh hơn các ngươi.
DEU 11:24 Hễ nơi nào chân ngươi đạp đến sẽ thuộc về ngươi. Xứ của các ngươi sẽ chạy từ sa mạc đến Li-băng và từ sông Ơ-phơ-rát đến Địa-trung-hải.
DEU 11:25 Không ai có thể chống cự nổi các ngươi. CHÚA là Thượng Đế sẽ thực hiện những gì Ngài đã hứa, và sẽ làm cho các dân khiếp sợ ở bất cứ nơi nào các ngươi đi qua.
DEU 11:26 Ngày nay, ta cho các ngươi chọn giữa phúc lành và nguyền rủa.
DEU 11:27 Các ngươi sẽ được phước nếu các ngươi vâng theo mệnh lệnh của CHÚA mà ta truyền cho các ngươi hôm nay.
DEU 11:28 Nhưng các ngươi sẽ bị nguyền rủa nếu các ngươi không vâng theo mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế ngươi hay nghịch lại những mệnh lệnh ta truyền cho ngươi hôm nay và thờ lạy những thần các ngươi không biết.
DEU 11:29 Khi CHÚA là Thượng Đế đem các ngươi vào trong xứ các ngươi sẽ nhận lấy làm sản nghiệp, các ngươi phải loan báo lời chúc lành trên núi Ghê-ri-xim và lời nguyền rủa trên núi Ê-banh.
DEU 11:30 Hai núi nầy ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng Tây, phía mặt trời lặn. Các núi đó ở gần rặng cây sồi Mô-rê trong xứ người Ca-na-an là dân sống trong thung lũng sông Giô-đanh đối diện Ghinh-ganh.
DEU 11:31 Ít lâu nữa đây các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh để vào chiếm xứ mà CHÚA là Thượng Đế sẽ ban cho các ngươi. Sau khi vào nhận lấy và sống tại đó,
DEU 11:32 hãy cẩn thận vâng giữ mọi mệnh lệnh và luật lệ ta ban cho các ngươi hôm nay.
DEU 12:1 Đây là những mệnh lệnh, luật lệ mà các ngươi phải cẩn thận vâng theo trong xứ mà CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên các ngươi ban cho ngươi. Hãy vâng theo trọn đời các ngươi trong xứ.
DEU 12:2 Khi nhận lấy đất từ các dân, các ngươi phải hủy diệt hoàn toàn những nơi thờ cúng của họ trên những núi cao, đồi và dưới mỗi cây xanh.
DEU 12:3 Phải phá đổ các tượng thần và đập tan nát những trụ thờ và thiêu sạch tượng thần A-sê-ra trong lửa. Hạ bỏ tượng thần và hủy diệt tên các thần khỏi những nơi đó.
DEU 12:4 Đừng thờ phượng CHÚA là Thượng Đế các ngươi theo cách đó,
DEU 12:5 nhưng hãy tìm kiếm nơi mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ chọn giữa các chi tộc để thờ phượng Ngài. Hãy tới đó
DEU 12:6 và mang đến nơi thờ phượng những của lễ thiêu, những sinh tế, một phần mười hoa lợi và lễ vật đặc biệt, những gì các ngươi đã hứa dâng và những lễ vật các ngươi muốn dâng cho CHÚA; hãy mang những con đầu lòng trong bầy gia súc.
DEU 12:7 Tại đó, trước mặt CHÚA các ngươi cùng gia đình ngươi sẽ ăn chung và vui hưởng mọi điều ngươi làm ra vì Chúa là Thượng Đế đã ban phước cho các ngươi.
DEU 12:8 Đừng thờ phượng theo kiểu chúng ta đang làm hôm nay vì mỗi người đều làm điều mình cho là phải.
DEU 12:9 Các ngươi chưa đến nơi an nghỉ và thừa hưởng xứ mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ ban cho các ngươi.
DEU 12:10 Nhưng ít lâu nữa khi các ngươi băng qua sông Giô-đanh để vào cư ngụ trong xứ mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi ban cho các ngươi làm sản nghiệp, nơi Ngài sẽ cho các ngươi sự an nghỉ khỏi mọi kẻ thù và các ngươi sẽ sống yên lành.
DEU 12:11 Rồi CHÚA là Thượng Đế sẽ chọn một nơi để các ngươi thờ lạy Ngài. Khi đến đó các ngươi phải mang theo mọi thứ ta dặn bảo: của lễ thiêu, sinh tế, phần mười những gì ngươi làm ra, lễ vật và những gì tốt nhất mà ngươi đã hứa dâng cho CHÚA.
DEU 12:12 Tại đó các ngươi hãy vui mừng trước mặt CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Mọi người sẽ hớn hở: ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, và người Lê-vi trong thị trấn các ngươi là những người không nhận phần đất nào riêng cho họ.
DEU 12:13 Hãy cẩn thận, đừng dâng của lễ thiêu trong bất cứ nơi nào ngươi thích.
DEU 12:14 Chỉ được dâng trong nơi CHÚA chọn. Ngài sẽ chọn một nơi trong chi tộc ngươi, rồi ở đó, ngươi phải làm mọi điều ta dặn bảo các ngươi.
DEU 12:15 Ngươi có thể giết thú vật trong thị trấn nào cũng được và muốn ăn bao nhiêu tùy thích, như hươu nai hay hoàng dương, vì đó là phước lành CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi. Mọi người, tinh sạch hay không, đều được ăn thịt,
DEU 12:16 nhưng không được ăn huyết. Hãy đổ bỏ như đổ nước vậy.
DEU 12:17 Đừng ăn trong thị trấn các ngươi những gì thuộc về CHÚA: phần mười ngũ cốc, rượu mới hay dầu, những con thú đầu lòng trong bầy, những gì ngươi đã hứa nguyện dâng cùng những lễ vật các ngươi muốn dâng cho Ngài hay bất cứ lễ vật khác.
DEU 12:18 Hãy ăn mọi thứ đó khi các ngươi họp nhau trong nơi CHÚA chọn để thờ phụng Ngài. Mọi người phải làm thế nầy: ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, và người Lê-vi trong thị trấn ngươi, hãy vui mừng trong sự hiện diện của CHÚA về mọi điều tay ngươi làm ra.
DEU 12:19 Hãy cẩn thận, đừng quên người Lê-vi trong những ngày ngươi sống trong xứ.
DEU 12:20 Khi CHÚA là Thượng Đế mở mang bờ cõi các ngươi như Ngài đã hứa, rồi các ngươi muốn ăn thịt, nói rằng, “Tôi muốn ăn thịt,” thì ngươi có thể ăn tha hồ tùy thích.
DEU 12:21 Nhưng nếu nơi CHÚA chọn để thờ phụng quá xa nơi ngươi ở, ngươi có thể giết súc vật trong bầy mà CHÚA đã ban cho ngươi. Ta cho phép các ngươi làm như thế. Các ngươi có thể ăn bao nhiêu tùy thích trong thị trấn ngươi ở,
DEU 12:22 như thể ăn thịt hoàng dương hay hươu nai. Cả người tinh sạch lẫn không tinh sạch đều được phép ăn thịt đó,
DEU 12:23 nhưng không được ăn huyết, vì sự sống ở trong huyết. Đừng ăn sự sống cùng với thịt.
DEU 12:24 Đừng ăn huyết, hãy đổ bỏ như đổ nước vậy.
DEU 12:25 Nếu các ngươi không ăn huyết, các ngươi cùng con cháu các ngươi sẽ được thịnh vượng, vì các ngươi làm điều phải theo lời CHÚA dặn bảo.
DEU 12:26 Hãy đem những vật thánh cùng những vật các ngươi hứa nguyện dâng lên nơi CHÚA sẽ chọn.
DEU 12:27 Hãy dâng của lễ thiêu trên bàn thờ của CHÚA là Thượng Đế các ngươi, cả thịt lẫn huyết. Huyết của sinh tế các ngươi dâng phải đổ cạnh bàn thờ của CHÚA là Thượng Đế các ngươi, nhưng các ngươi có thể ăn thịt.
DEU 12:28 Hãy cẩn thận vâng giữ mọi luật lệ ta ban để các ngươi cùng con cháu các ngươi đều được thịnh vượng; và các ngươi sẽ làm những gì CHÚA phán bảo là tốt và phải.
DEU 12:29 Các ngươi sẽ vào chiếm lấy xứ của các dân mà CHÚA hủy diệt trước các ngươi. Khi các ngươi đánh đuổi họ ra và sống trong xứ họ
DEU 12:30 thì họ sẽ bị CHÚA tiêu diệt, nhưng nhớ cẩn thận đừng rơi vào bẫy của họ bằng cách cầu hỏi các thần của họ. Đừng bao giờ hỏi, “Các dân nầy thờ lạy như thế nào? Tôi sẽ làm giống như vậy.”
DEU 12:31 Đừng thờ lạy CHÚA là Thượng Đế các ngươi cách ấy, vì khi thờ lạy thần của họ các dân tộc ấy làm những điều CHÚA ghét. Họ còn thiêu cả con trai, con gái mình để tế cho thần.
DEU 12:32 Nhớ làm mọi điều ta đã truyền cho các ngươi. Đừng thêm bớt điều gì.
DEU 13:1 Những kẻ nói tiên tri hay những kẻ đoán tương lai qua mộng mị có thể đến cùng ngươi và bảo là họ sẽ cho ngươi thấy phép lạ hay điềm lạ.
DEU 13:2 Những phép lạ hay dấu lạ có thể xảy ra, rồi họ bảo rằng “Hãy phụng sự các thần khác” (là những thần các ngươi không biết) “và hãy thờ lạy các thần đó.”
DEU 13:3 Nhưng các ngươi đừng nghe theo những tiên tri hoặc kẻ đoán mộng đó. CHÚA là Thượng Đế đang thử các ngươi, để xem các ngươi có kính yêu Ngài hết lòng hay không.
DEU 13:4 Hãy phụng sự một mình Ngài là Thượng Đế các ngươi mà thôi. Hãy kính sợ, vâng giữ mọi mệnh lệnh và vâng lời Ngài. Hãy phụng sự và trung thành với Ngài.
DEU 13:5 Phải xử tử những tiên tri cùng kẻ đoán mộng đó, vì họ đã xúi giục các ngươi nghịch cùng CHÚA là Thượng Đế, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập, và giải cứu ngươi khỏi xứ nô lệ. Chúng đã cố gắng khuyến dụ để các ngươi không vâng giữ những gì CHÚA truyền dạy các ngươi. Các ngươi phải diệt bỏ những điều ác trong các ngươi.
DEU 13:6 Có thể có kẻ dụ dỗ các ngươi phụng sự những thần khác, dù kẻ đó là anh ngươi, con trai, hoặc con gái ngươi, vợ ngươi mà ngươi yêu thương hay là bạn thân. Người đó có thể nói rằng, “Hãy đi thờ thần khác” (Đó là những thần ngươi hay tổ phụ ngươi chưa hề biết,
DEU 13:7 thần của những dân sống quanh ngươi dù gần hay xa các ngươi, từ đầu trái đất đến cuối trái đất.)
DEU 13:8 thì đừng chiều theo họ. Đừng nghe hay tội nghiệp họ, và đừng tha họ hay bảo vệ họ.
DEU 13:9 Các ngươi phải giết họ. Các ngươi phải là người đầu tiên xử tử họ, rồi mọi người khác sẽ nhập chung với ngươi.
DEU 13:10 Các ngươi phải ném đá cho họ chết, vì họ đã tìm cách lôi kéo các ngươi xa khỏi CHÚA là Thượng Đế, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập, nơi các ngươi làm nô lệ.
DEU 13:11 Mọi người trong Ít-ra-en sẽ nghe chuyện đó và sợ, và không ai trong các ngươi còn dám làm điều gian ác như thế nữa.
DEU 13:12 Chúa là Thượng Đế sẽ cấp cho các ngươi những thành để sinh sống, và các ngươi có thể nghe tin đồn về một trong những thành ấy. Có thể ai đó nói rằng
DEU 13:13 những người độc ác đã từ ngươi đi ra. Họ có thể dụ dỗ dân trong thành từ bỏ CHÚA, nói rằng, “Hãy đi và thờ lạy các thần khác” (là những thần các ngươi chưa từng biết).
DEU 13:14 Khi nghe như thế các ngươi phải hỏi cho kỹ, xem xét sự việc rồi kiểm tra cẩn thận xem tin đồn đó đúng hay sai. Nếu thật quả có chuyện ghê tởm giữa các ngươi,
DEU 13:15 thì các ngươi phải lấy gươm giết tất cả mọi người trong thành đó. Phải hủy diệt thành hoàn toàn và dùng gươm giết sạch người cùng súc vật.
DEU 13:16 Gom mọi tài sản của những kẻ đó đặt ở giữa công viên thành phố, rồi thiêu hết những tài sản của họ làm của lễ thiêu dâng lên cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Những thành đó không bao giờ được xây lại, hãy để nó bị điêu tàn đời đời.
DEU 13:17 Đừng giữ cho mình bất cứ vật gì trong thành, để CHÚA nguôi giận. Ngài sẽ tỏ lòng từ bi đối với ngươi và khiến cho dân tộc ngươi tăng trưởng như lời Ngài đã hứa cùng tổ tiên các ngươi.
DEU 13:18 Phải vâng lời CHÚA là Thượng Đế bằng cách vâng giữ mọi mệnh lệnh của Ngài mà ta truyền cho các ngươi hôm nay, như thế các ngươi sẽ làm điều công chính trước mặt Ngài.
DEU 14:1 Các ngươi là con cái của CHÚA tức Thượng Đế các ngươi. Khi có ai qua đời, đừng cắt da thịt mình hay cạo đầu tỏ vẻ buồn thảm.
DEU 14:2 Các ngươi là dân thánh, thuộc riêng về CHÚA là Thượng Đế. Ngài đã chọn các ngươi từ muôn dân trên đất làm thuộc riêng về Ngài.
DEU 14:3 Đừng ăn bất cứ thú vật gì CHÚA ghét.
DEU 14:4 Đây là những thú vật các ngươi có thể ăn: bò, cừu, dê,
DEU 14:5 nai, hoàng dương, nai cái, dê rừng, sơn dương, và dê núi.
DEU 14:6 Các ngươi có thể ăn bất cứ thú vật nào có móng rẽ và nhai lại,
DEU 14:7 Nhưng đừng ăn thịt lạc đà, thỏ rừng, hay chồn núi. Những thú đó tuy có móng rẽ nhưng không nhai lại nên đừng ăn, vì chúng không tinh sạch đối với các ngươi.
DEU 14:8 Heo cũng không sạch vì tuy có móng rẽ nhưng không nhai lại. Chớ ăn thịt heo cũng đừng đụng đến xác chết của chúng.
DEU 14:9 Trong các sinh vật sống dưới nước, ngươi có thể ăn loài nào có vi, có vảy,
DEU 14:10 nhưng đừng ăn loài không vi, không vảy, chúng thuộc loại không tinh sạch cho các ngươi.
DEU 14:11 Ngươi có thể ăn các loài chim sạch,
DEU 14:12 nhưng đừng ăn các loại chim như phượng hoàng, kên kên, kên kên đen,
DEU 14:13 diều đỏ, ó, bất cứ loại chim ưng nào,
DEU 14:14 mọi loài quạ,
DEU 14:15 cú có sừng, cú ré, chim hải âu, các loại diều hâu
DEU 14:16 chim cú nhỏ, cú lớn, cú trắng,
DEU 14:17 cú sa mạc, còng cọc, vịt lặn đen
DEU 14:18 các loại cò, hạc, chim rẽ quạt, hay dơi.
DEU 14:19 Tất cả các loại côn trùng có cánh đều không sạch, đừng ăn.
DEU 14:20 Những loài có cánh khác thì sạch, các ngươi có thể ăn.
DEU 14:21 Đừng ăn thú đã chết từ trước. Ngươi có thể cho những người ngoại quốc trong thành mình, họ có thể ăn, hoặc bán cho họ. Nhưng các ngươi là dân thánh, dân thuộc riêng của về CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Đừng nấu dê con trong sữa mẹ nó.
DEU 14:22 Đừng quên để riêng phần mười sản vật hằng năm.
DEU 14:23 Mang sản vật đó đến nơi CHÚA chọn để thờ phụng Ngài. Tại đó, các ngươi sẽ hội họp nhau trước mặt CHÚA, ăn phần mười sản vật của ngươi, rượu mới, dầu, cùng những thú vật đầu lòng trong bầy gia súc mình. Làm như thế để các ngươi học kính sợ CHÚA là Thượng Đế các ngươi luôn luôn.
DEU 14:24 Nhưng nếu nơi CHÚA chọn để thờ phượng quá xa và CHÚA đã ban phước cho ngươi nhiều đến nỗi các ngươi không làm sao mang theo phần mười sản vật đi được,
DEU 14:25 thì hãy đổi phần mười đó ra bạc, gói kỹ lại rồi đem bạc đến nơi thờ kính mà CHÚA sẽ chọn.
DEU 14:26 Dùng bạc mua bất cứ thứ gì ngươi thích: bò, chiên, rượu nho, đồ uống say, hay bất cứ thứ gì ngươi thích để ăn mừng trước mặt CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 14:27 Đừng quên người Lê-vi trong thị trấn ngươi, vì tuy họ sống giữa các ngươi nhưng họ không có đất riêng.
DEU 14:28 Cuối mỗi ba năm, mọi người nên mang phần mười sản vật của năm đó và chứa chung lại trong thành mình.
DEU 14:29 Phần nầy dành cho người Lê-vi để họ được no đủ vì họ không có đất riêng như các ngươi. Phần nầy cũng dành cho người ngoại quốc, cô nhi quả phụ sống trong thành, để họ cũng có thức ăn và được no đủ. Rồi CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước cho ngươi và công việc ngươi làm.
DEU 15:1 Vào cuối mỗi bảy năm, ngươi phải bảo những người thiếu các ngươi bất cứ thứ gì rằng mọi nợ nần đều được xóa bỏ hết.
DEU 15:2 Các ngươi phải làm như sau: Bất cứ ai cho vay nợ đều phải hủy bỏ món tiền vay, không được bắt người hàng xóm hay thân nhân trả nợ. Đây là thời gian CHÚA dành để hủy bỏ mọi nợ nần cho người mắc nợ.
DEU 15:3 Các ngươi có thể buộc ngoại kiều trả lại những gì họ thiếu ngươi, nhưng nếu là đồng bào Ít-ra-en thì tha cho họ.
DEU 15:4 Sẽ không có người nghèo giữa các ngươi vì CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước dồi dào trên đất Ngài ban cho các ngươi làm sản nghiệp.
DEU 15:5 Ngài sẽ ban phước cho các ngươi nếu các ngươi hoàn toàn vâng theo lời Ngài. Hãy cẩn thận làm theo tất cả mọi mệnh lệnh ta truyền cho các ngươi hôm nay.
DEU 15:6 CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước cho các ngươi như lời Ngài hứa. Các ngươi sẽ cho các dân khác vay, chứ không vay mượn họ. Các ngươi sẽ cai trị nhiều dân tộc, chứ không có dân tộc nào cai trị các ngươi.
DEU 15:7 Nếu có người nghèo giữa các ngươi, nơi nào mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi thì đừng ích kỷ hay tham lam đối với họ.
DEU 15:8 Hãy cung cấp cho họ và cho mượn những gì họ cần.
DEU 15:9 Coi chừng những ý tưởng xấu. Đừng tự nghĩ, “Năm thứ bảy gần đến là năm phải hủy bỏ mọi nợ nần.” Các ngươi có thể xấu bụng không cho kẻ túng thiếu điều gì cả. Nếu họ than thở với CHÚA về ngươi, Ngài sẽ buộc tội ngươi.
DEU 15:10 Hãy bố thí cho người nghèo, đừng ước rằng mình không phải bố thí gì cả. Nhờ đó CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước cho công việc ngươi.
DEU 15:11 Thế nào cũng có những người nghèo trong xứ, nên ta truyền cho ngươi hãy chu cấp cho người láng giềng cùng những người nghèo khó trong xứ ngươi.
DEU 15:12 Nếu có ai trong đồng bảo ngươi bán mình làm nô lệ cho ngươi, dù là người Hê-bê-rơ nam hay nữ, thì người đó sẽ giúp việc ngươi trong sáu năm. Nhưng đến năm thứ bảy, ngươi phải trả tự do cho họ.
DEU 15:13 Khi phóng thích, đừng để họ đi ra tay không.
DEU 15:14 Hãy cấp cho họ vài con thú trong bầy, ngũ cốc, rượu, cho họ như CHÚA đã cho ngươi.
DEU 15:15 Hãy nhớ rằng ngươi cũng từng làm nô lệ tại Ai-cập và CHÚA là Thượng Đế đã giải phóng ngươi. Vì thế ta truyền lệnh đó cho ngươi hôm nay.
DEU 15:16 Nhưng nếu người nô lệ bảo, “Tôi không muốn xa ông” vì nó yêu ngươi và gia đình ngươi, đã sống thoải mái với ngươi,
DEU 15:17 thì hãy tì tai nó vào cột cửa mà xỏ, và nó sẽ trở thành nô lệ cho ngươi trọn đời. Cũng hãy làm như thế cho nữ nô lệ.
DEU 15:18 Đừng nghĩ rằng thật khó lòng mà phóng thích nô lệ. Dù sao, nó đã phục vụ ngươi trong sáu năm rồi mà chỉ lãnh phân nửa tiền công của một người làm thuê. CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước cho ngươi trong mọi việc ngươi làm.
DEU 15:19 Hãy để dành riêng những thú đực đầu lòng trong bầy cho CHÚA là Thượng Đế ngươi. Đừng bắt con bò đực đầu lòng cày ruộng, đừng hớt lông con chiên đực đầu lòng.
DEU 15:20 Mỗi năm ngươi và gia đình hãy ăn những con thú đầu lòng nầy trong sự hiện diện của CHÚA là Thượng Đế trong nơi Ngài chọn làm chỗ thờ phụng Ngài.
DEU 15:21 Nếu con vật nào bị què, mù, hoặc có tật nguyền gì khác thì đừng dâng nó lên làm sinh tế cho CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 15:22 Nhưng các ngươi có thể ăn thịt nó trong thành mình. Cả người sạch lẫn người không sạch đều được phép ăn thịt nó, như ăn hươu hay nai vậy.
DEU 15:23 Nhưng không được ăn huyết nó; hãy đổ bỏ như đổ nước.
DEU 16:1 Hãy kỷ niệm lễ Vượt Qua của CHÚA là Thượng Đế các ngươi trong tháng A-bíp vì đó là tháng Ngài giải phóng các ngươi ra khỏi Ai-cập lúc ban đêm.
DEU 16:2 Còn về sinh tế của Lễ Vượt Qua cho CHÚA là Thượng Đế, hãy dâng một con thú trong bầy cho CHÚA nơi Ngài chọn để thờ phụng Ngài.
DEU 16:3 Đừng ăn thịt nó với bánh có men. Trong bảy ngày hãy ăn bánh không men, bánh của sự đau khổ vì các ngươi đã hấp tấp ra khỏi Ai-cập, cho nên suốt đời ngươi hãy nhớ mãi lúc ngươi ra khỏi Ai-cập.
DEU 16:4 Trong khắp xứ ngươi, không được có men trong bảy ngày. Hãy dâng sinh tế vào chiều tối ngày thứ nhất, rồi ăn hết thịt trước sáng hôm sau, đừng để gì còn lại qua đêm.
DEU 16:5 Không được dâng sinh tế Vượt Qua trong bất cứ thành nào CHÚA ban cho ngươi,
DEU 16:6 chỉ được dâng tại nơi Ngài sẽ chọn làm chỗ thờ phụng Ngài. Hãy dâng vào lúc mặt trời lặn là giờ ngươi ra khỏi Ai-cập.
DEU 16:7 Hãy nướng thịt con sinh tế và ăn tại nơi CHÚA là Thượng Đế sẽ chọn. Sáng hôm sau hãy trở về lều ngươi.
DEU 16:8 Hãy ăn bánh không men trong sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, sẽ có buổi lễ long trọng cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi, đừng làm việc trong ngày đó.
DEU 16:9 Hãy tính bảy tuần kể từ lúc ngươi bắt đầu mùa gặt,
DEU 16:10 rồi ăn mừng lễ Các tuần cho CHÚA là Thượng Đế. Hãy mang theo lễ vật tự nguyện dâng lên CHÚA theo ơn phước Ngài đã cho ngươi.
DEU 16:11 Hãy vui mừng trước mặt CHÚA là Thượng Đế các ngươi trong nơi Ngài sẽ chọn làm chỗ thờ phụng Ngài. Tất cả mọi người hãy vui mừng: ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, những người Lê-vi trong thành ngươi, khách lạ, cô nhi quả phụ sống giữa vòng các ngươi.
DEU 16:12 Nhớ rằng các ngươi đã từng làm nô lệ tại Ai-cập, cho nên hãy cẩn thận tuân giữ tất cả những luật lệ nầy.
DEU 16:13 Sau khi thu hoạch mùa màng từ sân đập lúa và bàn ép rượu, hãy ăn mừng Lễ Chòi Lá trong bảy ngày.
DEU 16:14 Mọi người hãy vui mừng trong ngày hội đó: ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, người Lê-vi, khách lạ, cô nhi quả phụ sống trong thành ngươi.
DEU 16:15 Hãy ăn mừng lễ cho CHÚA là Thượng Đế trong bảy ngày tại nơi CHÚA sẽ chọn, vì CHÚA là Thượng Đế sẽ ban phước cho trong mùa màng và mọi công việc ngươi làm, rồi các ngươi sẽ vô cùng vui mừng.
DEU 16:16 Tất cả đàn ông phải ra mắt CHÚA ba lần một năm tại nơi CHÚA sẽ chọn. Họ phải đến trong những dịp sau đây: lễ Bánh Không Men, lễ Các Tuần, và lễ Lều Tạm. Không ai được đi tay không mà ra mắt CHÚA.
DEU 16:17 Mỗi người trong các ngươi sẽ đem theo lễ vật tùy theo phước CHÚA ban cho mình.
DEU 16:18 Hãy bổ nhiệm các quan án và viên chức cho chi tộc các ngươi trong mỗi thành mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ ban cho ngươi; họ phải phân xử thật công minh.
DEU 16:19 Không được xét xử bất công hay thiên vị. Không được nhận của hối lộ mà phán quyết sai lầm, vì của hối lộ làm người khôn hóa mù, và xuyên tạc lời của người ngay thẳng.
DEU 16:20 Hãy luôn luôn làm điều ngay thẳng để ngươi được sống lâu trên đất mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi.
DEU 16:21 Không được dựng tượng gỗ A-sê-ra nào bên cạnh bàn thờ các ngươi xây cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi,
DEU 16:22 và không được dựng trụ thờ nào tại đó. CHÚA là Thượng Đế các ngươi gớm ghét các vật ấy.
DEU 17:1 Không được dâng bò hay chiên có tật nguyền cho CHÚA là Thượng Đế. Vì CHÚA là Thượng Đế gớm ghét điều đó.
DEU 17:2 Nếu có ai, bất kỳ đàn ông hay đàn bà, trong thành CHÚA ban cho ngươi làm điều ác, phạm giao ước của CHÚA;
DEU 17:3 Nếu người ấy thờ các thần khác hay cúi lạy trước chúng, hoặc lạy mặt trời, mặt trăng, ngôi sao trên trời, là điều ta nghiêm cấm.
DEU 17:4 Nếu có ai báo cáo với các ngươi về việc nầy thì ngươi phải tra xét vấn đề cho kỹ càng. Nếu quả thật có chuyện gớm ghiếc như thế trong Ít-ra-en,
DEU 17:5 thì hãy mang người đàn ông hay đàn bà đã làm điều ác đó ra cổng thành, ném đá chết.
DEU 17:6 Phải có hai hoặc ba nhân chứng trước khi xử tử người đó; nếu chỉ có một nhân chứng thì không được xử tử.
DEU 17:7 Các nhân chứng phải là người đầu tiên ném đá vào phạm nhân, rồi những người khác sẽ ném theo. Các ngươi phải diệt kẻ ác trong các ngươi.
DEU 17:8 Khi có trường hợp khó xử trình lên cho các ngươi như giết người, gây gổ, hay bạo hành, thì hãy đem những trường hợp đó đến nơi CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ chọn.
DEU 17:9 Hãy đến cùng thầy tế lễ là người Lê-vi và cùng quan án đương chức lúc đó. Hỏi họ về trường hợp nầy, rồi họ sẽ quyết định.
DEU 17:10 Các ngươi phải tuân theo quyết định của họ tại nơi CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ chọn. Hãy cẩn thận làm theo mọi điều họ bảo ngươi.
DEU 17:11 Hãy tuân theo mọi lời dạy của họ và làm y theo những lời họ quyết định, đừng thay đổi gì cả.
DEU 17:12 Ai cố ý xem thường quan án hay thầy tế lễ là những người phục vụ CHÚA là Thượng Đế tại nơi ấy thì phải bị xử tử. Các ngươi phải diệt trừ điều ác ấy ra khỏi Ít-ra-en.
DEU 17:13 Ai nghe tin này cũng sẽ sợ hãi, không dám tỏ lòng bất kính nữa.
DEU 17:14 Khi các ngươi vào xứ mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi nhận lấy làm sản nghiệp và sinh sống trong xứ, các ngươi sẽ nói rằng, “Hãy chọn một vị vua cai trị trên chúng ta, như tất cả những dân khác xung quanh.”
DEU 17:15 Hãy nhớ lập người CHÚA chọn. Người nầy phải là một trong các ngươi. Không được chọn một người ngoại quốc làm vua trên các ngươi.
DEU 17:16 Vua không được có quá nhiều ngựa cho riêng mình, không được gởi người về Ai-cập để mua thêm ngựa, vì CHÚA đã bảo các ngươi, “Không được trở về đường đó nữa.”
DEU 17:17 Vua không được có nhiều vợ, kẻo lòng vua bị quyến dụ xa lìa CHÚA. Vua không được có nhiều vàng bạc.
DEU 17:18 Khi lên ngôi, vua phải sao chép cho mình lời giáo huấn nầy, là bản sao chép từ bản chính của các thầy tế lễ và Lê-vi.
DEU 17:19 Vua phải giữ nó bên mình luôn luôn và đọc nó mỗi ngày trong suốt cả đời mình, để vua học kính sợ CHÚA là Thượng Đế mình, và vâng theo mọi điều dạy dỗ và mệnh lệnh của Ngài.
DEU 17:20 Vua không nên nghĩ rằng mình giỏi hơn anh em Ít-ra-en của mình mà không tuân hành luật pháp của Thượng Đế. Như thế để cho vua cùng dòng dõi được trị vì vương quốc lâu dài.
DEU 18:1 Các thầy tế lễ thuộc chi tộc Lê-vi không nhận phần đất nào chung với dân Ít-ra-en nên họ sẽ ăn những của lễ dâng lên bằng lửa cho CHÚA. Đó là phần của họ.
DEU 18:2 Họ sẽ không nhận được sản nghiệp nào trong xứ như anh em mình nhưng sản nghiệp của họ là chính CHÚA, như Ngài đã hứa cùng họ.
DEU 18:3 Khi ngươi dâng bò đực hay chiên làm của lễ thì phải chia với thầy tế lễ, cấp cho họ cái vai, hai cái má và bộ lòng.
DEU 18:4 Cấp cho họ ngũ cốc đầu mùa của ngươi, rượu mới, dầu cùng len thuộc đợt hớt lông chiên đầu tiên của ngươi.
DEU 18:5 CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã chọn các thầy tế lễ và dòng dõi họ từ trong các chi tộc để đứng trước mặt và mãi mãi phục vụ CHÚA.
DEU 18:6 Nếu một người Lê-vi dời chỗ ở của họ từ thành ngươi trong bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Ít-ra-en đến nơi CHÚA chọn vì người muốn phục vụ CHÚA ở đó,
DEU 18:7 thì người có thể phục vụ CHÚA là Thượng Đế của mình. Người cũng giống như anh em Lê-vi khác của mình phục vụ trước mặt CHÚA ở đó.
DEU 18:8 Họ cũng sẽ nhận được phần chia đồng đều về thực phẩm. Phần ấy là ngoài phần người nhận do việc bán tài sản của gia đình mình.
DEU 18:9 Khi ngươi vào xứ mà CHÚA sẽ ban cho ngươi thì đừng tập theo những thói tục ghê tởm của các dân tộc khác.
DEU 18:10 Đừng để ai trong vòng các ngươi dâng con trai con gái mình làm của lễ thiêu. Đừng để ai dùng bùa chú hay ma thuật, hoặc tìm cách giải các điềm lạ.
DEU 18:11 Đừng để ai dùng bùa chú điều động người khác, đừng để các đồng bóng tìm cách liên lạc với người chết.
DEU 18:12 CHÚA ghê tởm những ai làm các điều đó. Vì các dân tộc khác đã làm những chuyện ghê tởm đó cho nên CHÚA là Thượng Đế các ngươi đuổi họ ra khỏi xứ trước các ngươi.
DEU 18:13 Các ngươi phải thánh sạch trước mặt CHÚA là Thượng Đế các ngươi.
DEU 18:14 Các dân tộc mà ngươi sẽ đuổi ra đã nghe theo những kẻ dùng ma thuật và phù thủy, nhưng CHÚA là Thượng Đế các ngươi không cho phép các ngươi làm những việc đó.
DEU 18:15 CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ ban cho các ngươi một nhà tiên tri như ta, từ trong vòng các ngươi. Hãy nghe lời người.
DEU 18:16 Đó là điều các ngươi xin CHÚA là Thượng Đế các ngươi khi các ngươi tập họp tại núi Si-nai. Các ngươi thưa, “Xin đừng để chúng tôi nghe tiếng của CHÚA là Thượng Đế chúng tôi nữa, đừng để chúng tôi nhìn ngọn lửa kinh khiếp nầy vì chúng tôi sẽ chết.”
DEU 18:17 Nên CHÚA bảo ta, “Điều họ nói rất phải.
DEU 18:18 Cho nên ta sẽ ban cho họ một nhà tiên tri giống như ngươi, xuất thân từ dân tộc họ. Ta sẽ bảo người những gì phải nói, người sẽ bảo họ làm mọi điều ta dạy bảo.
DEU 18:19 Nhà tiên tri đó sẽ nói thay cho ta; ai không nghe lời ngươi sẽ phải trả lời với ta.
DEU 18:20 Nhưng nếu nhà tiên tri đó nói những gì ta không dặn bảo mặc dù ngươi nói như thể thay mặt ta, hay nếu người nhân danh các thần khác mà nói thì nhà tiên tri đó phải bị giết.”
DEU 18:21 Các ngươi có thể tự hỏi, “Làm sao chúng tôi biết được sứ điệp nào từ CHÚA ban ra?”
DEU 18:22 Nếu lời nhà tiên tri đó nhân danh CHÚA mà nói mà sự việc không xảy ra thì sứ điệp đó không phải của CHÚA. Người đó nói theo ý riêng mình. Đừng sợ người.
DEU 19:1 Khi CHÚA ban cho các ngươi xứ vốn thuộc về các dân tộc khác, tức các dân mà Ngài sẽ tiêu diệt, các ngươi sẽ đánh đuổi chúng ra và vào sống trong các thành phố và nhà cửa chúng.
DEU 19:2 Lúc đó hãy chọn ba thành giữa đất mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi.
DEU 19:3 Hãy đắp đường đi đến các thành đó, và chia đất mà CHÚA sẽ ban cho các ngươi ra làm ba phần để ai vô ý giết người có thể chạy đến đó.
DEU 19:4 Đây là qui tắc để kẻ vô ý giết người chạy đến một trong các thành đó mà bảo toàn mạng sống. Nhưng người đó phải do vô tình giết người láng giềng mình, chứ không do thù oán.
DEU 19:5 Chẳng hạn, đi vào rừng đốn củi và vung rìu chặt cái cây. Nếu lưỡi rìu sút ra khỏi cán văng trúng và giết chết người láng giềng thì kẻ giết người có thể chạy đến một trong các thành nầy để bảo tồn sinh mạng.
DEU 19:6 Nếu không, thân nhân người chết có nhiệm vụ báo thù kẻ sát nhân có thể nổi giận rượt đuổi theo người đó. Nếu thành quá xa, thân nhân có thể đuổi kịp và giết người mặc dù người không đáng chết vì không có ác ý giết láng giềng mình.
DEU 19:7 Vì thế mà ta truyền cho các ngươi phải chọn ba thành đó.
DEU 19:8 Hãy cẩn thận vâng theo mọi luật lệ nầy mà ta ban cho các ngươi hôm nay. Hãy yêu mến Thượng Đế và làm theo ý muốn Ngài. Khi CHÚA là Thượng Đế các ngươi nới rộng bờ cõi các ngươi như Ngài đã hứa cùng tổ tiên các ngươi, ban cho các ngươi toàn thể đất đai Ngài hứa cùng họ, các ngươi hãy chọn thêm ba thành trú ẩn nữa
DEU 19:9 để những người vô tội không phải bị giết trong xứ các ngươi, xứ mà CHÚA là Thượng Đế đã ban cho các ngươi làm sản nghiệp. Làm như thế các ngươi sẽ không mắc tội để người vô tội chết oan.
DEU 19:11 Nhưng nếu kẻ đó vốn ghét người láng giềng mình và sau khi rình rập, tấn công và giết chết người rồi chạy đến một trong các thành trú ẩn đó,
DEU 19:12 thì các bô lão của thành quê nhà nó phải cho bắt kẻ sát nhân. Họ phải giải nó về từ thành trú ẩn và giao nó cho thân nhân là người có nhiệm vụ trừng phạt kẻ sát nhân.
DEU 19:13 Đừng thương xót gì cả. Các ngươi phải trừ khử khỏi Ít-ra-en tội giết người vô tội để mọi việc đều tốt đẹp cho các ngươi.
DEU 19:14 Đừng dời tảng đá dựng làm ranh giới của đất người láng giềng ngươi mà xưa kia đã định. Nó làm dấu chỗ đất mà CHÚA là Thượng Đế ban cho các ngươi làm sản nghiệp.
DEU 19:15 Một nhân chứng không đủ buộc tội một người. Trường hợp xét xử phải có hai hay ba nhân chứng.
DEU 19:16 Nếu nhân chứng khai dối và cố tình làm hại người nào,
DEU 19:17 thì hai bên đang tranh tụng phải đứng trước sự hiện diện của CHÚA, trước mặt các thầy tế lễ và quan án đương nhiệm.
DEU 19:18 Quan án phải điều tra vấn đề cho thật kỹ càng. Nhân chứng nào khai dối, bịa đặt điều gì về một đồng bào Ít-ra-en của mình
DEU 19:19 thì phải bị trừng phạt. Nó phải chịu cùng án phạt mà nó tìm cách làm cho người kia phải chịu. Ngươi phải trừ khử điều ác ra khỏi các ngươi.
DEU 19:20 Dân chúng sẽ nghe điều đó và phát sợ để không ai trong vòng các ngươi phạm điều ác như thế nữa.
DEU 19:21 Đừng thương xót ai cả. Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.
DEU 20:1 Khi các ngươi ra trận đánh kẻ thù mình và thấy ngựa xe cùng đạo binh đông hơn mình thì đừng sợ. CHÚA là Thượng Đế, Đấng mang các ngươi ra khỏi Ai-cập sẽ phù hộ ngươi.
DEU 20:2 Thầy tế lễ sẽ đến và nói chuyện với quân sĩ trước khi các ngươi ra trận.
DEU 20:3 Người sẽ nói như sau, “Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe đây! Hôm nay các ngươi ra trận đánh quân thù mình. Đừng sợ hãi hay kinh hoảng. Đừng thất vọng hay e ngại chúng,
DEU 20:4 vì CHÚA là Thượng Đế các ngươi đi với các ngươi, đánh kẻ thù cho các ngươi và ban cho ngươi chiến thắng.”
DEU 20:5 Các sĩ quan cũng sẽ nói cùng quân sĩ mình như sau, “Có ai mới cất nhà mà chưa dâng cho Thượng Đế không? Người đó được phép trở về vì lỡ người chết trong chiến trận rồi kẻ khác sẽ dâng hiến nhà ấy chăng.
DEU 20:6 Có ai trồng vườn nho mà chưa hưởng hoa lợi nó không? Người đó được phép trở về vì lỡ người chết trong chiến trận rồi kẻ khác sẽ hưởng vườn nho đó chăng.
DEU 20:7 Có ai hứa hôn với một thiếu nữ mà chưa cưới không? Người đó được phép trở về vì lỡ người chết trong chiến trận rồi kẻ khác sẽ lấy nàng chăng.”
DEU 20:8 Rồi các sĩ quan cũng sẽ nói, “Ở đây có ai sợ hãi không? Người đó được phép trở về kẻo người làm cho kẻ khác cũng mất can đảm chăng.”
DEU 20:9 Sau khi các sĩ quan nói cùng các quân sĩ xong thì họ phải đề cử các cấp chỉ huy để lãnh đạo họ.
DEU 20:10 Khi ngươi đi lên định đánh thành nào thì hãy đưa ra đề nghị hoà bình trước.
DEU 20:11 Nếu họ chấp nhận đề nghị và mở cổng thành cho các ngươi thì tất cả dân thành đó sẽ làm nô lệ phục vụ các ngươi.
DEU 20:12 Nhưng nếu họ bác bỏ đề nghị hoà bình và đánh các ngươi thì các ngươi hãy bao vây thành đó.
DEU 20:13 CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ trao thành đó cho các ngươi. Hãy dùng gươm giết tất cả đàn ông,
DEU 20:14 các ngươi có thể đoạt lấy mọi thứ khác trong thành cho mình. Hãy chiếm đoạt đàn bà, trẻ con, gia súc. Ngươi có thể dùng các thứ đó mà CHÚA là Thượng Đế giao cho ngươi từ tay kẻ thù.
DEU 20:15 Hãy làm như thế cho thành nào ở xa, không thuộc về các dân tộc gần đó.
DEU 20:16 Chớ chừa vật gì sống trong các thành thuộc vùng đất mà CHÚA là Thượng Đế sẽ ban cho các ngươi.
DEU 20:17 Hãy tận diệt các dân sau đây: Hê-tít, A-mô-rít, Ca-na-an, Phê-ri-xít, Hê-vít và Giê-bu-sít theo như Thượng Đế đã truyền dặn.
DEU 20:18 Nếu không chúng nó sẽ dạy ngươi thờ các thần chúng nó, và nếu ngươi làm theo các điều gớm ghiếc đó tức các ngươi phạm tội cùng CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 20:19 Khi ngươi bao vây và tấn công thành nào lâu ngày, tìm cách chiếm nó, thì đừng lấy rìu đốn hết các cây. Các ngươi có thể ăn trái cây nhưng không được đốn cây. Các cây đó không phải là kẻ thù của ngươi cho nên đừng gây chiến với chúng.
DEU 20:20 Tuy nhiên ngươi có thể đốn cây nào không thuộc loại cây ăn trái và dùng nó làm phương tiện tấn công vách thành cho đến khi thành bị chiếm đoạt.
DEU 21:1 Giả sử có xác chết được người nào đó tình cờ bắt gặp trong ruộng thuộc về đất mà CHÚA là Thượng Đế ban cho ngươi làm sản nghiệp mà không biết kẻ sát nhân là ai,
DEU 21:2 thì các bô lão và quan án phải đi đến chỗ xác chết và đo khoảng cách từ đó đến thành phố gần nhất.
DEU 21:3 Các bô lão của thành gần nhất phải mang một con bò cái tơ chưa hề làm việc hay mang ách,
DEU 21:4 dẫn nó xuống một thung lũng chưa ai cày bừa hay trồng trọt gì và có suối chảy qua. Họ sẽ vặn cổ con bò tơ.
DEU 21:5 Rồi các thầy tế lễ, con cháu Lê-vi, sẽ tiến đến, vì họ là những người được CHÚA là Thượng Đế các ngươi chọn để phục vụ Ngài và nhân danh CHÚA mà chúc phước. Họ là những người giải quyết các vụ phân tranh và hành hung.
DEU 21:6 Các bô lão của thành gần nhất nơi người bị giết sẽ rửa tay trên xác con bò tơ bị vặn cổ trong thung lũng.
DEU 21:7 Họ sẽ tuyên bố: “Chúng tôi không có giết người nầy, cũng không thấy ai làm việc đó.
DEU 21:8 Lạy CHÚA, xin tẩy sạch tội nầy ra khỏi dân Ít-ra-en của Ngài mà Ngài đã giải cứu. Xin đừng buộc tội dân Ít-ra-en của Ngài về việc giết người vô tội nầy.” Như thế tội sát nhân đó sẽ được miễn xá.
DEU 21:9 Và ngươi sẽ gỡ mình ra khỏi tội giết người vô tội, vì ngươi làm theo điều CHÚA cho là phải.
DEU 21:10 Khi ngươi đi ra trận đánh quân thù, CHÚA sẽ khiến ngươi đánh bại chúng và các ngươi sẽ bắt chúng làm tù binh.
DEU 21:11 Nếu ngươi thấy có một phụ nữ đẹp trong số tù binh và thích nàng, thì ngươi có thể lấy nàng làm vợ.
DEU 21:12 Hãy mang nàng về nhà, nàng phải cạo đầu, cắt móng tay móng chân,
DEU 21:13 và thay áo quần mà nàng mặc khi ngươi bắt nàng làm tù binh. Sau khi nàng đã ở trong nhà ngươi và than khóc cha mẹ mình trong một tháng thì ngươi có thể cưới nàng. Ngươi sẽ làm chồng nàng, còn nàng sẽ là vợ ngươi.
DEU 21:14 Nhưng nếu ngươi không thích nàng nữa thì hãy để nàng đi đâu tùy ý. Ngươi không được phép bán nàng lấy tiền hay bắt nàng làm nô lệ vì ngươi đã tước đoạt danh dự nàng.
DEU 21:15 Nếu ai có hai vợ, thương một người, ghét một người. Cả hai vợ đều có con trai với người. Nếu con trưởng nam thuộc về người vợ mình không thương
DEU 21:16 thì khi lập di chúc cho các con trai không được cho con trai người vợ mình thương phần của trưởng nam tức con của người vợ mình không thương.
DEU 21:17 Người phải cho đứa con trai trưởng gấp đôi phần của tất cả những gì mình có, dù rằng đứa con trưởng nam là con của người vợ mình không thương. Vì đứa con trai đó là bằng cớ đầu tiên cho thấy cha mình có thể có con, cho nên nó có quyền của con trưởng nam.
DEU 21:18 Nếu ai có con trai ương ngạnh, chống báng và ngỗ nghịch không vâng lời cha mẹ khi bị sửa dạy,
DEU 21:19 thì cha mẹ nó phải mang nó đến các bô lão nơi cửa thành.
DEU 21:20 Và trình với họ rằng, “Con chúng tôi ương ngạnh và ngỗ nghịch. Nó không chịu vâng lời chúng tôi. Nó ăn uống say sưa tối ngày.”
DEU 21:21 Sau đó các người trong thành phải ném đá cho nó chết. Hãy trừ khử điều ác trong các ngươi để cho toàn dân Ít-ra-en nghe và sợ.
DEU 21:22 Nếu ai có tội đáng chết thì phải xử tử nó treo thây lên cây.
DEU 21:23 Nhưng không được để thây treo qua đêm; phải chôn nội trong ngày đó, vì ai bị treo thây lên cây là bị Thượng Đế nguyền rủa. Ngươi không được làm ô nhiễm đất mà CHÚA là Thượng Đế các ngươi ban cho mình làm sản nghiệp.
DEU 22:1 Nếu ngươi thấy bò hay chiên của một đồng bào Ít-ra-en mình đi lạc thì đừng làm ngơ. Hãy dắt nó về cho chủ nó.
DEU 22:2 Nếu chủ nó sống xa ngươi hoặc nếu ngươi không biết chủ là ai thì hãy mang con thú về nhà. Giữ nó cho đến khi người chủ đi tìm nó, rồi trả lại cho chủ.
DEU 22:3 Nếu ngươi thấy lừa, áo quần, hay người đi lạc thì cũng làm như vậy. Đừng làm ngơ.
DEU 22:4 Nếu ngươi thấy con lừa hay bò của đồng bào Ít-ra-en mình ngã quỵ trên đường thì đừng làm ngơ. Hãy giúp chủ nó đỡ nó dậy.
DEU 22:5 Đàn bà không được mặc đồ đàn ông, còn đàn ông cũng không được mặc đồ đàn bà. CHÚA ghét những ai làm như vậy.
DEU 22:6 Nếu ngươi bắt gặp tổ chim bên đường, trên cây hay dưới đất và chim mẹ đương ấp chim con hay ấp trứng thì đừng bắt chim mẹ luôn với chim con.
DEU 22:7 Ngươi có thể bắt chim con nhưng phải thả chim mẹ bay đi. Như thế cuộc đời ngươi sẽ phước hạnh và sống lâu.
DEU 22:8 Khi ngươi cất nhà mới thì phải xây một bức tường thấp quanh mái để rủi có ai từ trên mái té xuống thì ngươi không phải mang tội.
DEU 22:9 Đừng trồng hai loại hột giống trong vườn nho ngươi. Nếu không cả hai thứ phải dâng cho đền thờ.
DEU 22:10 Đừng bắt bò và lừa mang cùng một ách để đi cày.
DEU 22:11 Đừng mặc áo bằng len và vải mịn dệt chung nhau.
DEU 22:12 Hãy kết các miếng vải với nhau làm các tua nơi bốn viền áo ngươi.
DEU 22:13 Nếu ai kết hôn với một cô gái, ăn nằm với nàng rồi sau không thích nàng nữa,
DEU 22:14 đi nói xấu về nàng. Chẳng hạn như, “Tôi lấy cô nầy nhưng khi ăn nằm với nàng tôi thấy nàng không còn trinh trắng.”
DEU 22:15 Thì cha mẹ cô gái phải trưng bằng cớ rằng con mình trinh trắng cho các bô lão tại cổng thành.
DEU 22:16 Cha mẹ cô gái sẽ trình với các lãnh tụ, “Tôi gả con gái cho anh nầy làm vợ nhưng anh ta không thích nó nữa.
DEU 22:17 Anh nầy đã tung tin láo khoét về con gái tôi. Anh bảo, ‘Con gái ông không còn trinh trắng,’ nhưng đây là bằng cớ chứng tỏ con gái tôi còn trinh.” Rồi cha mẹ nàng phải trưng miếng vải cho các lãnh tụ thành phố,
DEU 22:18 các lãnh tụ phải bắt người đó và trừng phạt nó.
DEU 22:19 Họ phải bắt nó trả hai cân rưỡi bạc cho cha cô gái vì nó đã bêu xấu một trinh nữ của Ít-ra-en. Cô gái đó sẽ vẫn là vợ của nó. Suốt đời nó không thể ly dị nàng.
DEU 22:20 Nhưng nếu điều người chồng nói về vợ mình là đúng, và rằng không có chứng cớ gì cho thấy nàng còn trinh trắng,
DEU 22:21 thì người ta phải mang nàng đến cửa nhà cha nàng. Rồi các người đàn ông trong thành sẽ ném đá nàng chết. Nàng đã phạm một điều sỉ nhục trong Ít-ra-en vì đã giao hợp trước khi kết hôn. Ngươi phải trừ khử điều gian ác ra khỏi các ngươi.
DEU 22:22 Nếu một người đàn ông bị bắt quả tang đang ăn nằm với vợ người khác thì cả người đàn bà và người đàn ông giao hợp với nàng đều phải bị xử tử. Hãy trừ khử điều gian ác ra khỏi các ngươi.
DEU 22:23 Nếu một người đàn ông gặp một thiếu nữ còn trinh trong thành phố và giao hợp với nàng trong khi nàng đã đính hôn với một người đàn ông khác,
DEU 22:24 thì ngươi phải mang hai người ra cửa thành và ném đá chết cả hai. Phải giết người con gái vì nàng đang ở trong thành mà không kêu cứu. Phải giết người đàn ông vì giao hợp với vợ của người khác. Hãy trừ khử điều gian ác ra khỏi các ngươi.
DEU 22:25 Nhưng nếu người đàn ông gặp người con gái đã hứa hôn nơi đồng trống và cưỡng hiếp nàng thì chỉ có người đàn ông đã giao hợp với nàng bị xử tử mà thôi.
DEU 22:26 Đừng đụng chạm gì đến người con gái vì nàng không làm điều gì đáng chết. Trường hợp đó giống như một người tấn công và giết láng giềng mình;
DEU 22:27 người đàn ông gặp người con gái hứa hôn trong đồng ruộng và dù nàng có kêu thì cũng chẳng ai đến cứu.
DEU 22:28 Nếu một người đàn ông gặp một thiếu nữ còn trinh chưa hứa hôn với ai rồi cưỡng hiếp nàng và sau nầy bị khám phá,
DEU 22:29 thì người đó phải trả cho cha cô gái bốn mươi lượng bạc. Người đó phải lấy cô gái vì đã làm nhục nàng, và suốt đời không được phép ly dị nàng.
DEU 22:30 Không ai được phép lấy vợ của cha mình; như vậy là làm nhục cha mình.
DEU 23:1 Người bị thiến không được tham dự vào hội đoàn của CHÚA.
DEU 23:2 Con cái của hai người bị cấm kết hôn với nhau không được tham dự vào hội đoàn của CHÚA. Dù con cháu mười đời sau cũng vậy.
DEU 23:3 Không một người Am-môn hay Mô-áp được tham dự vào hội đoàn của CHÚA. Dù cho con cháu đến mười đời sau cũng vậy.
DEU 23:4 Vì dân Am-môn và Mô-áp không mang bánh và nước tiếp đón khi các ngươi ra khỏi Ai-cập. Chúng còn thuê Ba-lam, con trai Bê-ô, từ Bê-tho, thuộc miền tây bắc Mê-sa-bô-ta-mi, đến để nguyền rủa các ngươi.
DEU 23:5 Nhưng CHÚA là Thượng Đế các ngươi không nghe Ba-lam. Ngài biến lời nguyền rủa ra phúc lành cho các ngươi vì CHÚA là Thượng Đế các ngươi yêu ngươi.
DEU 23:6 Suốt đời các ngươi đừng chúc hòa bình hay thành công cho chúng nó.
DEU 23:7 Đừng ghét người Ê-đôm vì họ là thân nhân gần của các ngươi. Đừng ghét người Ai-cập vì các ngươi là khách kiều ngụ trong xứ họ.
DEU 23:8 Con cháu của các dân đó đến đời thứ ba có thể tham dự vào hội đoàn của CHÚA.
DEU 23:9 Khi các ngươi đóng trại trong lúc chiến tranh phải giữ cho trại được tinh khiết.
DEU 23:10 Nếu ai bị ô dơ trong đêm, phải ra bên ngoài doanh trại, không được trở vào.
DEU 23:11 Đến chiều, người đó phải tắm, và đến khi mặt trời lặn thì được phép trở vào doanh trại.
DEU 23:12 Hãy dành một chỗ bên ngoài doanh trại để người ta đi tiêu.
DEU 23:13 Hãy mang một cọc lều theo ngươi để khi các ngươi đi tiêu thì đào cái lỗ và lấp đất che phân lại.
DEU 23:14 Thượng Đế CHÚA các ngươi đi quanh doanh trại để bảo vệ các ngươi và đánh bại các kẻ thù cho các ngươi cho nên doanh trại phải sạch sẽ. Ngài không muốn thấy điều gì nhơ nhớp giữa vòng các ngươi để Ngài không rời bỏ các ngươi.
DEU 23:15 Nếu một tên nô lệ bỏ trốn đến nhà ngươi thì đừng bắt giải về cho chủ nó.
DEU 23:16 Hãy để cho nó ở với ngươi nơi nào nó thích, trong thành nào nó chọn. Đừng ngược đãi nó.
DEU 23:17 Không có một người đàn ông hay đàn bà nào trong Ít-ra-en được hành nghề mãi dâm trong đền thờ.
DEU 23:18 Không được dùng tiền thù lao của đĩ trai hay gái trong đền thờ của CHÚA để thực hiện lời hứa ngươi với CHÚA vì Thượng Đế ngươi ghét nghề mãi dâm.
DEU 23:19 Nếu ngươi cho đồng bào Ít-ra-en mình vay mượn tiền hay thực phẩm thì đừng buộc họ trả lại nhiều hơn số họ mượn.
DEU 23:20 Ngươi có thể tính tiền lời cho người ngoại quốc nhưng không được tính lời cho đồng bào Ít-ra-en của mình. Như thế Thượng Đế là CHÚA ngươi sẽ ban phước cho mọi việc ngươi làm trong xứ mà ngươi sẽ vào nhận làm sản nghiệp.
DEU 23:21 Nếu ngươi hứa dâng điều gì cho Thượng Đế, CHÚA ngươi thì đừng chậm trễ trong việc thực hiện vì Thượng Đế, CHÚA đòi điều đó nơi ngươi. Chậm trễ là phạm tội.
DEU 23:22 Nhưng nếu ngươi không hứa gì thì không phạm tội.
DEU 23:23 Hễ hứa điều gì thì làm điều ấy vì chính ngươi đã tự hứa cùng Thượng Đế, CHÚA ngươi.
DEU 23:24 Khi vào vườn nho của láng giềng ngươi thì muốn ăn bao nhiêu tùy ý nhưng không được hái nho bỏ vào túi.
DEU 23:25 Khi đi vào ruộng lúa của láng giềng ngươi thì ngươi có thể lấy tay hái bông lúa nhưng không được dùng liềm để hái.
DEU 24:1 Khi người nào lấy vợ rồi về sau không thích nàng nữa vì khám phá điều gì không tốt ở nàng thì hãy viết giấy ly dị, trao cho nàng rồi đuổi ra khỏi nhà.
DEU 24:2 Sau khi nàng rời nhà người, nàng đi lấy người đàn ông khác,
DEU 24:3 rồi người chồng thứ hai cũng không thích nàng nên người viết giấy ly dị, trao cho nàng rồi đuổi ra khỏi nhà. Hoặc người chồng thứ hai qua đời.
DEU 24:4 Trong cả hai trường hợp thì người chồng thứ nhất đã ly dị nàng không được phép lấy nàng lần nữa vì nàng đã không còn tinh khiết nữa. CHÚA gớm ghét điều đó. Đừng mang tội lỗi nầy vào trong xứ mà CHÚA sẽ ban cho các ngươi làm sản nghiệp.
DEU 24:5 Ai mới cưới vợ thì không phải ra mặt trận hay trao cho nhiệm vụ gì. Người đó được phép ở nhà một năm để vui chơi với vợ mới cưới.
DEU 24:6 Nếu ai mắc nợ ngươi điều gì thì đừng tịch thu thớt cối xay để trừ nợ, vì đó là phương tiện sinh sống của người.
DEU 24:7 Nếu ai bắt cóc một đồng bào Ít-ra-en của mình để làm nô lệ hay đem bán thì kẻ đó phải bị xử tử. Hãy trừ khử điều ác ra khỏi các ngươi.
DEU 24:8 Phải cẩn thận khi ai mắc bệnh ngoài da. Hãy làm đúng theo như các thầy tế lễ, người Lê-vi dạy bảo các ngươi, cẩn thận làm theo điều ta đã truyền dặn họ.
DEU 24:9 Hãy nhớ điều Thượng Đế, CHÚA các ngươi làm cho Mi-ri-am trên đường các ngươi đi ra khỏi Ai-cập.
DEU 24:10 Khi ngươi cho láng giềng mình mượn vật gì thì đừng vào nhà họ để siết đồ.
DEU 24:11 Hãy đứng ngoài để họ vào nhà lấy vật họ hứa với ngươi.
DEU 24:12 Nếu có người nghèo nào dùng áo để thế món nợ họ mượn ngươi thì đừng giữ áo đó qua đêm.
DEU 24:13 Hãy trả áo lại cho họ lúc mặt trời lặn vì họ cần áo đó để ngủ, và sẽ rất biết ơn ngươi. Thượng Đế, CHÚA ngươi sẽ thấy rằng ngươi làm điều phải.
DEU 24:14 Đừng lường công của tôi tớ ngươi thuê làm việc vì họ nghèo khổ và túng thiếu dù người đó là đồng bào Ít-ra-en của ngươi hay người ngoại quốc sống trong thành các ngươi cũng vậy.
DEU 24:15 Hãy trả lương cho họ mỗi ngày trước khi mặt trời lặn vì họ nghèo khổ và cần tiền. Nếu không họ sẽ kêu ca cùng CHÚA về ngươi và ngươi sẽ mang tội.
DEU 24:16 Nếu con cái làm bậy thì không được xử tử cha mẹ, và nếu cha mẹ làm bậy cũng không được xử tử con cái. Mỗi người sẽ phải chết vì tội mình.
DEU 24:17 Đừng đối xử bất công đối với người ngoại quốc hay trẻ mồ côi. Đừng lấy áo của quả phụ để cầm thế nợ.
DEU 24:18 Nên nhớ các ngươi đã từng làm nô lệ trong xứ Ai-cập, và Thượng Đế, CHÚA ngươi giải cứu ngươi ra khỏi đó. Vì thế mà ta truyền cho ngươi phải làm điều nầy.
DEU 24:19 Khi ngươi gặt lúa trong đồng và bỏ sót một bó lúa thì đừng trở lại lấy. Hãy để lúa đó cho khách ngoại quốc, cô nhi quả phụ để Thượng Đế, CHÚA ngươi ban phước cho ngươi.
DEU 24:20 Khi ngươi đập cây ô liu để làm rụng trái thì đừng đập lần thứ nhì. Hãy để trái còn sót lại cho người ngoại quốc và cô nhi quả phụ.
DEU 24:21 Khi ngươi hái nho trong vườn nho mình thì đừng hái lần thứ nhì. Hãy để trái còn sót lại cho cô nhi quả phụ.
DEU 24:22 Nhớ rằng các ngươi đã từng làm nô lệ trong xứ Ai-cập, cho nên ta truyền cho các ngươi làm những điều nầy.
DEU 25:1 Khi hai người có chuyện tranh tụng và đưa nhau ra tòa thì các quan án sẽ phân xử. Họ sẽ xử một bên phải, bên kia quấy.
DEU 25:2 Nếu bên quấy bị phạt đòn thì quan án sẽ bắt người đó nằm xuống và chịu đòn trước mặt mình. Số roi quất phải tương xứng với tội phạm.
DEU 25:3 Nhưng không được quất quá bốn chục roi, vì như thế sẽ làm nhục người đó trước mặt các người khác.
DEU 25:4 Khi con bò đang đạp lúa thì đừng khớp mõm nó.
DEU 25:5 Nếu hai anh em sống chung nhau, một người qua đời không có con trai thì người vợ góa không được lấy ai ngoài gia đình chồng mình. Anh hay em trai của chồng phải lấy nàng, đó là nhiệm vụ của anh em chồng.
DEU 25:6 Đứa con trai đầu tiên nàng sinh ra sẽ xem như con của người anh hay người em quá cố để tên của người không bị mất trong dân Ít-ra-en.
DEU 25:7 Nhưng nếu anh hay em chồng không muốn lấy vợ góa của anh hay em mình thì nàng sẽ đi gặp các bô lão nơi cổng thành và trình, “Anh hoặc em chồng tôi không muốn lưu danh cho anh em mình trong Ít-ra-en. Anh ta không chịu làm bổn phận đối với tôi.”
DEU 25:8 Các bô lão trong thành phải cho gọi và nói chuyện với người đó. Nhưng nếu người ngoan cố và nhất quyết bảo, “Tôi không muốn lấy chị nầy,”
DEU 25:9 thì người đàn bà phải tiến đến trước mặt người và trước mặt các lãnh tụ. Nàng sẽ cởi một chiếc dép của người đó, nhổ vào mặt người và bảo, “Người không chịu tiếp nối dòng dõi anh em mình sẽ được đối xử như thế nầy!”
DEU 25:10 Từ đó về sau gia đình người sẽ mang danh là Gia đình Không Có Dép trong toàn cõi Ít-ra-en.
DEU 25:11 Nếu hai người đàn ông đang đánh nhau rồi vợ của một trong hai người đến can nhưng lại nắm người kia nơi chỗ kín,
DEU 25:12 thì ngươi phải chặt tay nàng. Ngươi không được thương xót.
DEU 25:13 Đừng mang theo hai trái cân với ngươi, một cái nặng, một cái nhẹ.
DEU 25:14 Đừng giữ hai loại đơn vị đo lường trong nhà ngươi, một cái lớn, một cái nhỏ.
DEU 25:15 Ngươi phải có trái cân và lường đúng và lương thiện để ngươi được sống lâu trên đất mà Thượng Đế, CHÚA ngươi ban cho ngươi.
DEU 25:16 CHÚA là Thượng Đế ngươi ghét những ai bất lương và dùng đơn vị cân lường giả.
DEU 25:17 Hãy nhớ lại điều dân A-ma-léc làm cho ngươi khi ngươi ra khỏi Ai-cập.
DEU 25:18 Khi các ngươi mệt mỏi và đuối sức, chúng đón các ngươi trên đường và tấn công những kẻ bị rớt lại phía sau. Chúng không kính sợ Thượng Đế.
DEU 25:19 Sau khi Thượng Đế, CHÚA ngươi ban cho ngươi bình yên khỏi các kẻ thù xung quanh trong xứ mà Ngài ban cho ngươi làm sản nghiệp thì các ngươi hãy tiêu diệt những kỷ niệm về dân A-ma-léc khỏi mặt đất. Đừng quên điều đó!
DEU 26:1 Khi ngươi đi vào xứ mà Thượng Đế, CHÚA ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, để chiếm và sống ở đó,
DEU 26:2 hãy lấy một số sản vật của mùa gặt đầu tiên từ các mùa màng mọc trong đất mà Thượng Đế, CHÚA ngươi ban cho ngươi. Để các món đó vào một cái giỏ và mang đến nơi Thượng Đế, CHÚA ngươi sẽ chọn để thờ phụng.
DEU 26:3 Hãy nói với thầy tế lễ đương nhiệm lúc đó như sau, “Hôm nay tôi tuyên bố trước mặt CHÚA là Thượng Đế ông rằng tôi đã vào xứ mà CHÚA đã hứa ban cho tổ tiên chúng tôi.”
DEU 26:4 Thầy tế lễ sẽ lấy cái giỏ của ngươi và đặt xuống trước mặt bàn thờ của CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 26:5 Rồi ngươi sẽ tuyên bố trước mặt CHÚA là Thượng Đế ngươi như sau: “Tổ tiên tôi là một người A-ram du mục. Ông đi xuống Ai-cập với một số ít người nhưng họ trở thành một dân lớn, hùng mạnh và đông đảo ở đó.
DEU 26:6 Người Ai-cập rất tàn ác với chúng tôi, hành hạ chúng tôi và bắt chúng tôi làm việc cực nhọc.
DEU 26:7 Cho nên chúng tôi kêu la cùng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên chúng tôi, Ngài liền nghe chúng tôi. Khi Ngài thấy nỗi khổ cực của chúng tôi,
DEU 26:8 CHÚA mang chúng tôi ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng lớn lao của Ngài và dùng những sự kinh hoàng, dấu kỳ và phép lạ,
DEU 26:9 rồi Ngài mang chúng tôi đến đây và cho chúng tôi đất phì nhiêu nầy.
DEU 26:10 Nay tôi dâng một phần của mùa gặt đầu tiên từ đất mà CHÚA đã ban cho tôi.” Hãy đặt cái giỏ trước mặt CHÚA, là Thượng Đế ngươi rồi bái lạy trước mặt Ngài.
DEU 26:11 Sau đó, ngươi, người Lê-vi, và những người ngoại quốc sống giữa ngươi sẽ chung vui vì CHÚA, là Thượng Đế ngươi đã ban những vật tốt cho ngươi và gia đình ngươi.
DEU 26:12 Hãy mang một phần mười của tất cả mùa màng trong năm thứ ba tức năm mà ngươi phải dâng một phần mười. Dâng phần đó cho người Lê-vi, người ngoại quốc, cô nhi quả phụ để họ ăn no đủ trong thành ngươi.
DEU 26:13 Sau đó ngươi sẽ thưa với CHÚA, là Thượng Đế ngươi rằng, “Tôi đã lấy từ trong nhà tôi phần của mùa màng thuộc về Thượng Đế, tôi đã giao phần đó cho người Lê-vi, người ngoại quốc, và cô nhi quả phụ. Tôi đã làm mọi diều theo như Ngài truyền dặn không bỏ sót điều gì.
DEU 26:14 Tôi không có ăn món gì trong phần thánh trong khi tôi đau buồn. Tôi không có lấy món gì trong khi tôi bị nhơ nhớp, và tôi cũng không có dâng phần đó cho người chết. Tôi đã vâng lời Ngài, CHÚA, là Thượng Đế tôi, và làm y theo mọi điều Ngài truyền dặn tôi.
DEU 26:15 Cho nên xin CHÚA từ nơi cao cả của Ngài nhìn xuống. Xin ban phước cho dân Ít-ra-en của Ngài và chúc phước cho đất mà Ngài đã ban cho chúng tôi, một mảnh đất phì nhiêu mà Ngài đã hứa ban cho tổ tiên chúng tôi.”
DEU 26:16 Hôm nay CHÚA, là Thượng Đế các ngươi truyền dặn các ngươi phải vâng theo tất cả các luật lệ và qui tắc nầy; hãy hết lòng và hết linh hồn vâng theo.
DEU 26:17 Hôm nay ngươi đã khẳng định rằng CHÚA là Thượng Đế ngươi và ngươi đã hứa làm theo ý muốn Ngài, tức vâng giữ các qui tắc, mệnh lệnh, luật lệ và vâng theo lời Ngài. Ngài đã tuyên bố rằng ngươi sẽ vâng lời Ngài.
DEU 26:18 Và hôm nay CHÚA đã tuyên bố rằng ngươi là dân của Ngài, như Ngài đã hứa cùng ngươi. Nhưng ngươi phải vâng theo mệnh lệnh Ngài.
DEU 26:19 Ngài sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn hơn tất cả các dân mà Ngài đã tạo dựng. Ngài sẽ ban cho ngươi lời ca ngợi, danh tiếng, vinh dự, và ngươi sẽ thành một dân thánh cho CHÚA, là Thượng Đế ngươi, theo như Ngài đã hứa.
DEU 27:1 Rồi Mô-se, cùng với các bô lão Ít-ra-en, truyền dặn dân chúng như sau, “Hãy giữ mọi mệnh lệnh ta ban cho ngươi hôm nay.
DEU 27:2 Ít lâu nữa các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh đi vào đất mà CHÚA, là Thượng Đế sẽ ban cho ngươi. Trong ngày đó, hãy dựng một vài tảng đá lớn và lấy vôi trét lên.
DEU 27:3 Sau khi ngươi băng qua thì ghi những lời giáo huấn sau đây lên đó. Rồi ngươi sẽ vào xứ mà CHÚA, là Thượng Đế ngươi ban cho ngươi, một xứ phì nhiêu, như CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên ngươi đã hứa.
DEU 27:4 Sau khi ngươi băng qua sông Giô-đanh, hãy dựng các tảng đá nầy trên núi Ê-banh, như ta truyền dặn ngươi hôm nay, và lấy vôi trét lên.
DEU 27:5 Dựng một bàn thờ bằng đá tại đó cho CHÚA là Thượng Đế ngươi, nhưng không được dùng dụng cụ bằng sắt để đẽo đá;
DEU 27:6 Hãy dựng bàn thờ cho CHÚA, là Thượng Đế, dùng các tảng đá nguyên. Hãy dâng các của lễ thiêu trên đó cho CHÚA, là Thượng Đế ngươi,
DEU 27:7 và dâng của lễ thân hữu, rồi ăn uống và vui chơi trước mặt CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 27:8 Rồi khắc rõ ràng những lời của các luật lệ sau đây trên các tảng đá ấy.”
DEU 27:9 Rồi Mô-se và người Lê-vi là các thầy tế lễ nói với toàn thể dân Ít-ra-en như sau, “Toàn dân Ít-ra-en, hãy im lặng nghe đây! Hôm nay các ngươi đã trở thành dân của CHÚA, là Thượng Đế ngươi.
DEU 27:10 Hãy vâng lời CHÚA, là Thượng Đế ngươi và giữ mọi mệnh lệnh cùng luật lệ ta ban cho ngươi hôm nay.”
DEU 27:11 Hôm đó Mô-se truyền cho dân chúng mệnh lệnh nầy:
DEU 27:12 Khi ngươi băng qua sông Giô-đanh, các chi tộc sau đây sẽ đứng trên núi Ghê-ri-xim để chúc phước cho dân chúng: Xi-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-xa-ca, Giô-xép, và Bên-gia-min.
DEU 27:13 Còn các chi tộc sau đây sẽ đứng trên núi Ê-banh để loan báo những lời nguyền rủa: Ru-bên, Gát, A-se, Xa-bu-ôn, Đan, và Nép-ta-li.
DEU 27:14 Người Lê-vi sẽ nói lớn cùng cả dân Ít-ra-en rằng:
DEU 27:15 “Ai làm hình tượng hay tượng chạm và lén lút dựng nó lên, người đó sẽ bị nguyền rủa vì CHÚA ghét các hình tượng do con người làm ra.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:16 “Ai không tôn kính cha mẹ mình sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:17 “Ai dời tảng đá dùng làm ranh giới đất của người láng giềng mình sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:18 “Ai dẫn người mù đi lầm đường sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:19 “Ai ngăn cản công lý thi hành cho người ngoại quốc hay cô nhi quả phụ sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:20 “Ai ăn nằm với vợ của cha mình sẽ bị nguyền rủa vì đó là điều sỉ nhục cho cha mình.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:21 “Ai ăn nằm với thú vật sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:22 “Ai ăn nằm với chị em mình, dù cho chị em đó là con gái của cha, hay con gái của mẹ mình sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:23 “Ai ăn nằm với mẹ vợ mình sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:24 “Ai lén lút giết người láng giềng mình sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:25 “Ai nhận tiền để giết người vô tội sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 27:26 “Ai không tôn trọng và làm theo các lời của luật lệ nầy sẽ bị nguyền rủa.” Toàn dân phải nói, “A-men!”
DEU 28:1 Ngươi phải hoàn toàn vâng lời CHÚA là Thượng Đế ngươi và cẩn thận tuân theo mọi mệnh lệnh mà ta ban cho ngươi hôm nay. Rồi CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ làm cho ngươi lớn hơn mọi dân trên đất.
DEU 28:2 Hãy vâng lời CHÚA là Thượng Đế ngươi để các phúc lành sau đây đến và bao phủ ngươi.
DEU 28:3 Ngươi sẽ được ban phước trong thành và trong xứ.
DEU 28:4 Ngươi sẽ hưởng phúc, được đông con và trúng mùa; bầy súc vật ngươi cũng sẽ được phước, đông đảo bò con, và đàn chiên ngươi cũng đông chiên con.
DEU 28:5 Giỏ thức ăn và nhà bếp ngươi cũng sẽ được phước.
DEU 28:6 Ngươi sẽ được phước khi ngươi đi vào và khi đi ra.
DEU 28:7 CHÚA sẽ giúp ngươi đánh bại kẻ thù đến tấn công ngươi. Chúng đến tấn công ngươi một phía nhưng sẽ chạy trốn khỏi ngươi tứ phía.
DEU 28:8 CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ ban phước cho ngươi lương thực đầy kho và ban phước cho những gì ngươi làm. Ngài sẽ ban phước cho đất mà Ngài cấp cho ngươi.
DEU 28:9 CHÚA sẽ làm cho ngươi thành dân thánh cho Ngài như Ngài đã hứa. Nhưng ngươi phải vâng theo mệnh lệnh Ngài và làm theo ý muốn Ngài.
DEU 28:10 Rồi mọi người trên đất sẽ thấy rằng ngươi là dân của CHÚA, và họ sẽ sợ ngươi.
DEU 28:11 CHÚA sẽ làm cho ngươi giàu có: Ngươi sẽ có đông con cái, gia súc ngươi sẽ sinh nhiều con, và đất ngươi sẽ sản xuất ra mùa màng tốt đẹp. Đó là đất mà CHÚA đã hứa cùng tổ tiên là sẽ ban cho ngươi.
DEU 28:12 CHÚA sẽ mở cửa các kho trên trời để mưa thuận gió hòa trên đất ngươi, và Ngài sẽ ban phước cho mọi điều ngươi làm. Ngươi sẽ khiến các nước khác vay mượn nhưng ngươi sẽ không vay mượn ai.
DEU 28:13 CHÚA sẽ khiến cho ngươi làm đầu chớ không phải đuôi; ngươi sẽ ở trên cùng chứ không ở dưới chót. Nhưng ngươi phải vâng theo mệnh lệnh CHÚA là Thượng Đế ngươi là mệnh lệnh ta ban cho ngươi hôm nay. Phải cẩn thận vâng theo.
DEU 28:14 Đừng trái mệnh lệnh gì mà ta truyền dặn ngươi hôm nay. Hãy làm đúng theo mệnh lệnh ta truyền hôm nay. Đừng đi theo và phục vụ các thần khác.
DEU 28:15 Nhưng nếu ngươi không vâng theo CHÚA là Thượng Đế ngươi và không cẩn thận làm theo các mệnh lệnh và luật lệ ta ban cho ngươi hôm nay thì những điều nguyền rủa sau đây sẽ đến và đeo đẳng theo ngươi:
DEU 28:16 Ngươi sẽ bị nguyền rủa trong thành và bị nguyền rủa trong đồng ruộng.
DEU 28:17 Giỏ thực phẩm và nhà bếp ngươi sẽ bị nguyền rủa.
DEU 28:18 Ngươi sẽ bị nguyền rủa vì sẽ ít con, bị mất mùa; các bầy bò con và đàn chiên con của ngươi cũng sẽ bị nguyền rủa.
DEU 28:19 Ngươi sẽ bị nguyền rủa khi đi vào và đi ra.
DEU 28:20 CHÚA sẽ sai những điều rủa sả, hỗn loạn và trừng phạt đến trên bất cứ điều gì ngươi làm. Ngươi sẽ bị tiêu diệt và hủy hoại bất thần vì từ bỏ CHÚA là điều sái bậy.
DEU 28:21 CHÚA sẽ sai những bệnh tật khủng khiếp đến trên ngươi và tiêu diệt ngươi khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lãnh.
DEU 28:22 CHÚA sẽ dùng bệnh tật, sốt rét, sưng phù, hạn hán, bệnh cây cối, và mốc meo trừng phạt ngươi cho đến khi ngươi chết.
DEU 28:23 Bầu trời trên đầu ngươi sẽ cứng như đồng, đất bên dưới ngươi sẽ trơ như sắt.
DEU 28:24 CHÚA sẽ biến mưa thành bụi và cát rơi trên ngươi cho đến khi ngươi bị tiêu diệt.
DEU 28:25 CHÚA sẽ giúp kẻ thù đánh bại ngươi. Ngươi sẽ đánh chúng một phía mà sẽ bỏ chạy tứ phía. Ngươi sẽ trở thành một điều gớm ghiếc cho mọi nước trên đất.
DEU 28:26 Xác ngươi sẽ làm mồi cho chim trời và dã thú, không ai đuổi chúng nó đi.
DEU 28:27 CHÚA sẽ dùng ung nhọt trừng phạt ngươi như người Ai-cập đã bị. Ngươi sẽ bi sưng phù, lở loét, ngứa ngáy không thể chữa được.
DEU 28:28 CHÚA sẽ khiến ngươi bị điên khùng, mù lòa, và bấn loạn thần kinh.
DEU 28:29 Ngươi sẽ sờ soạng giữa ban ngày như người mù. Ngươi sẽ thất bại trong mọi việc. Người ta sẽ làm hại ngươi và đánh cắp đồ của ngươi mỗi ngày, không ai cứu ngươi cả.
DEU 28:30 Ngươi sẽ hứa hôn nhưng một người đàn ông khác sẽ cưỡng hiếp nàng. Ngươi sẽ cất nhà nhưng không được ở. Ngươi sẽ trồng vườn nho nhưng không được ăn trái.
DEU 28:31 Bò của ngươi sẽ bị giết trước mắt ngươi nhưng ngươi không ăn được miếng thịt nào của nó. Lừa của ngươi sẽ bị cướp khỏi tay ngươi, không trả lại. Chiên của ngươi sẽ được trao cho kẻ thù ngươi, không ai cứu ngươi cả.
DEU 28:32 Con trai và con gái ngươi sẽ bị bắt giải qua xứ khác, và ngươi sẽ mòn mỏi trông chờ chúng nó mỗi ngày, nhưng ngươi không làm gì được.
DEU 28:33 Những người ngươi không quen biết sẽ ăn mùa màng của đất ngươi và công khó ngươi làm ra. Ngươi sẽ bị ngược đãi và hành hạ suốt đời ngươi.
DEU 28:34 Những điều ngươi nhìn thấy sẽ khiến ngươi phát khùng.
DEU 28:35 CHÚA sẽ khiến đầu gối và chân ngươi bị ung nhọt đau nhức mà không chữa được. Ung nhọt sẽ lan từ bàn chân cho đến đỉnh đầu ngươi.
DEU 28:36 CHÚA sẽ đưa ngươi và vua ngươi đến một nước xa lạ mà cả ngươi lẫn tổ tiên chưa hề biết. Nơi đó ngươi sẽ phục vụ các thần khác làm bằng gỗ và bằng đá.
DEU 28:37 Các dân tộc mà CHÚA đưa ngươi đến sẽ sửng sốt khi nhìn thấy ngươi; chúng sẽ chê cười và chế nhạo ngươi.
DEU 28:38 Ngươi sẽ gieo nhiều mà chẳng gặt được bao nhiêu, vì cào cào sẽ ăn mùa màng ngươi.
DEU 28:39 Ngươi sẽ vất vả trồng vườn nho nhưng không được hái trái hay uống rượu nho vì sâu bọ sẽ ăn hết trái.
DEU 28:40 Ngươi sẽ có cây ô liu trong khắp xứ nhưng sẽ chẳng có dầu ô liu vì trái rụng sớm.
DEU 28:41 Ngươi sẽ có con trai và con gái nhưng không giữ chúng được với ngươi vì chúng sẽ bị bắt làm tù binh.
DEU 28:42 Cào cào sẽ hủy hoại tất cả cây cối và mùa màng ngươi.
DEU 28:43 Người ngoại quốc sống giữa ngươi sẽ càng ngày càng mạnh, còn ngươi sẽ càng ngày càng yếu.
DEU 28:44 Người ngoại quốc sẽ cho ngươi vay nhưng ngươi không thể cho họ vay. Họ sẽ như cái đầu, còn ngươi sẽ như cái đuôi.
DEU 28:45 Tất cả những điều nguyền rủa nầy sẽ xảy đến cho ngươi. Chúng sẽ đuổi theo, bắt kịp và tiêu diệt ngươi vì ngươi không vâng lời CHÚA là Thượng Đế ngươi và không giữ những mệnh lệnh và luật lệ Ngài ban cho ngươi.
DEU 28:46 Những điều nguyền rủa sẽ là dấu hiệu và điều quái dị cho ngươi và dòng dõi ngươi đời đời.
DEU 28:47 Ngươi đã có đủ thứ nhưng ngươi không vui lòng phục vụ CHÚA là Thượng Đế ngươi với tấm lòng trong sạch,
DEU 28:48 cho nên ngươi sẽ phải phục vụ các kẻ thù mà CHÚA sai đến nghịch cùng ngươi. Ngươi sẽ bị đói khát, trần truồng, nghèo khó. CHÚA sẽ đặt trên ngươi một ách nặng cho đến khi Ngài đã tiêu diệt ngươi.
DEU 28:49 CHÚA sẽ mang một quốc gia nghịch ngươi đến từ nơi rất xa, cuối quả đất. Chúng sẽ vồ ngươi như chim ưng vồ mồi. Ngươi sẽ không hiểu ngôn ngữ của chúng,
DEU 28:50 chúng trông rất hung tợn. Chúng sẽ không kiêng nể người già, cũng không thương xót người trẻ.
DEU 28:51 Chúng sẽ ăn bò con từ bầy ngươi, gặt lúa của ruộng ngươi, còn ngươi sẽ bị tiêu diệt. Chúng sẽ không chừa cho ngươi một hột thóc, rượu mới, dầu hay bò con trong bầy, hay chiên con nào trong đàn. Ngươi sẽ bị tàn hại.
DEU 28:52 Quốc gia đó sẽ bao vây và tấn công tất cả các thành phố ngươi. Ngươi ỷ lại vào các tường cao và vững chắc nhưng chúng sẽ đổ xuống. Quốc gia đó sẽ bao vây tất cả các thành phố ngươi trong bất cứ vùng đất nào mà CHÚA là Thượng Đế ngươi ban cho ngươi.
DEU 28:53 Kẻ thù ngươi sẽ bao vây ngươi. Chúng sẽ bỏ ngươi đói đến nỗi ngươi sẽ ăn thịt con mình, ăn xác con trai con gái mà CHÚA là Thượng Đế đã ban cho ngươi.
DEU 28:54 Dù người hiền hòa và nhân từ nhất trong vòng các ngươi cũng sẽ trở nên hung bạo đối với anh em, vợ mà mình yêu, cùng với con cái nào còn sống.
DEU 28:55 Người đó sẽ không san sẻ thịt của con cái mà mình đang ăn với ai cả vì người chỉ còn có món đó là đồ ăn thôi. Kẻ thù ngươi sẽ bao vây ngươi và khiến ngươi đói khổ trong tất cả các thành phố ngươi.
DEU 28:56 Người đàn bà hiền hòa và nhân từ nhất trong vòng các ngươi, hiền hòa và nhân từ đến nỗi không muốn dẫm chân lên đất cũng sẽ trở nên hung bạo đối với chồng con mà mình thương.
DEU 28:57 Người đó sẽ sinh con nhưng sẽ định bụng ăn thịt và ăn lá nhau nó. Người sẽ ăn lén trong khi kẻ thù bao vây thành. Các kẻ thù đó sẽ bỏ đói ngươi trong tất cả các thành phố ngươi.
DEU 28:58 Hãy cẩn thận vâng theo những lời giáo huấn viết trong sách nầy. Ngươi phải tôn trọng danh vinh hiển và đáng kính của CHÚA là Thượng Đế ngươi,
DEU 28:59 nếu không CHÚA sẽ mang các bệnh tật kinh khủng đến cho ngươi và dòng dõi ngươi. Ngươi sẽ bị bệnh tật lâu dài và trầm trọng, những chứng bệnh khốn khổ trường kỳ.
DEU 28:60 Ngài sẽ cho các ngươi những bệnh tật của Ai-cập mà ngươi sợ, và những bệnh đó sẽ đeo đẳng theo ngươi.
DEU 28:61 CHÚA cũng sẽ cho ngươi mọi thứ bệnh tật không ghi trong Sách Luật nầy, cho đến khi ngươi bị tiêu diệt.
DEU 28:62 Các ngươi có thể đông hơn sao trên trời nhưng sẽ còn sót lại rất ít vì ngươi không vâng theo CHÚA là Thượng Đế ngươi.
DEU 28:63 Trước kia CHÚA đã vui lòng về ngươi và ban cho ngươi các vật tốt, khiến ngươi gia tăng thêm nhiều ra sao, thì Ngài cũng sẽ vui mà tàn hại và tiêu diệt ngươi, và ngươi sẽ bị đem ra khỏi đất mà ngươi sắp vào để nhận làm sản nghiệp như thế.
DEU 28:64 Rồi CHÚA sẽ phân tán ngươi ra khắp các dân từ cuối đầu nầy cho đến cuối đầu kia của đất. Nơi đó ngươi sẽ phục vụ các thần khác bằng gỗ và bằng đá, các thần mà cả ngươi lẫn tổ tiên ngươi chưa hề biết.
DEU 28:65 Ngươi sẽ không được an nghỉ giữa các dân đó, vì không chỗ nào thuộc về ngươi cả. CHÚA sẽ khiến tâm thần ngươi lo lắng, mắt ngươi lòa, linh hồn ngươi sầu não.
DEU 28:66 Ngươi sẽ sống trong nguy hiểm và sợ sệt cả ngày lẫn đêm. Ngươi không biết chắc mình sẽ sống được bao lâu nữa.
DEU 28:67 Buổi sáng ngươi sẽ nói, “Ước gì là buổi chiều,” và đến chiều ngươi sẽ nói, “Ước gì là buổi sáng.” Sự kinh hoàng sẽ xâm nhập lòng ngươi, những điều ngươi mục kích sẽ làm ngươi hoảng sợ.
DEU 28:68 CHÚA sẽ đưa trả ngươi về Ai-cập bằng tàu bè, mặc dù ta, Mô-se, đã bảo rằng ngươi sẽ không bao giờ trở lại đó nữa. Ở đó ngươi sẽ tìm cách bán mình làm tôi mọi cho kẻ thù nhưng chẳng ai mua.
DEU 29:1 CHÚA truyền dặn Mô-se lập một giao ước với dân Ít-ra-en trong xứ Mô-áp ngoài giao ước Ngài đã lập với họ ở núi Si-nai. Sau đây là lời của giao ước đó.
DEU 29:2 Mô-se triệu tập tất cả dân Ít-ra-en lại và bảo họ rằng: Ngươi đã thấy mọi điều CHÚA làm trước mắt các ngươi cho vua Ai-cập và các quần thần người và toàn thể xứ đó.
DEU 29:3 Chính mắt ngươi trông thấy những tai họa lớn, những dấu kỳ và các phép lạ.
DEU 29:4 Nhưng cho đến hôm nay Ngài chưa ban cho ngươi trí tuệ; ngươi chưa thực sự hiểu điều mắt mình thấy và tai mình nghe.
DEU 29:5 Ta đã dẫn ngươi qua sa mạc trong bốn mươi năm, trong suốt thời gian đó áo ngươi không cũ, giày ngươi không mòn.
DEU 29:6 Ngươi không ăn bánh hay uống rượu hoặc thức gì say. Như thế để cho ngươi biết ta là CHÚA và là Thượng Đế ngươi.
DEU 29:7 Khi ngươi đi đến đây, Xi-hôn vua Hết-bôn và Óc, vua của Ba-san đi ra đánh chúng ta nhưng chúng ta đánh bại chúng.
DEU 29:8 Chúng ta chiếm xứ chúng và cấp đất đó cho các chi tộc Ru-bên, Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-xe miền đông làm sản nghiệp.
DEU 29:9 Ngươi phải cẩn thận vâng theo mọi điều trong giao ước nầy để ngươi thành công trong mọi việc mình làm.
DEU 29:10 Hôm nay tất cả các ngươi đứng đây trước mặt CHÚA là Thượng Đế ngươi, gồm các lãnh tụ và người có chức phận, các bô lão, các sĩ quan, cùng các người khác trong Ít-ra-en,
DEU 29:11 vợ con các ngươi cùng những người ngoại quốc sống giữa các ngươi để đốn củi và xách nước cho các ngươi.
DEU 29:12 Hôm nay ngươi có mặt ở đây để lập giao ước và cam kết với CHÚA là Thượng Đế ngươi, giao ước mà CHÚA là Thượng Đế lập với ngươi hôm nay.
DEU 29:13 Giao ước nầy sẽ khiến ngươi trở thành dân của CHÚA hôm nay. Ngài sẽ là Thượng Đế ngươi như Ngài đã bảo ngươi và như Ngài đã hứa cùng tổ tiên ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
DEU 29:14 Nhưng không phải ta chỉ lập giao ước và hứa những lời nầy với ngươi
DEU 29:15 là những người có mặt tại đây trước mặt CHÚA là Thượng Đế ngươi mà còn với những người không có mặt ở đây nữa.
DEU 29:16 Ngươi đã biết chúng ta sống như thế nào ở Ai-cập và chúng ta đi qua các xứ khác ra sao khi chúng ta đến đây.
DEU 29:17 Ngươi thấy những tượng chạm đáng gớm ghiếc của chúng làm bằng gỗ, đá, bạc và vàng.
DEU 29:18 Hãy làm sao để không có đàn ông, đàn bà, họ hàng, hay chi tộc nào trong vòng các ngươi rời bỏ CHÚA là Thượng Đế ngươi để đi thờ thần của các dân tộc khác. Chúng sẽ như cây ra trái đắng và độc hại cho ngươi.
DEU 29:19 Đó là những kẻ nghe lời nguyền rủa nầy mà tự trấn an, “Chúng ta sẽ bình yên dù cho chúng ta tiếp tục làm theo ý mình đi nữa.” Đó là những kẻ sẽ tiêu hủy hết đất đai của ngươi, cả đất ướt và khô.
DEU 29:20 CHÚA sẽ không tha thứ chúng. Cơn thịnh nộ của Ngài sẽ như lửa thiêu đốt chúng, và mọi điều nguyền rủa ghi trong sách nầy sẽ đến với chúng. CHÚA sẽ hủy diệt mọi kỷ niệm về chúng khỏi mặt đất.
DEU 29:21 Ngài sẽ tách chúng ra khỏi các chi tộc trong Ít-ra-en để trừng phạt chúng. Tất cả những điều nguyền rủa trong Giao Ước ghi trong Sách Luật nầy sẽ xảy đến với chúng.
DEU 29:22 Con cái các ngươi sinh ra sau ngươi, cũng như người ngoại quốc từ các xứ xa, sẽ thấy những đại họa đến cho xứ nầy và bệnh tật mà CHÚA mang đến. Chúng sẽ bảo,
DEU 29:23 “Đất nầy không còn gì ngoài than cháy đỏ và muối. Không trồng trọt gì được, không có gì mọc, không có gì ra bông. Giống như Xô-đôm và Gô-mô-rơ, như Ách-ma và Xê-bô-im mà CHÚA tiêu diệt trong cơn giận Ngài.”
DEU 29:24 Các dân tộc khác sẽ hỏi, “Tại sao CHÚA đã làm thế nầy cho xứ? Tại sao Ngài nổi giận như vậy?”
DEU 29:25 Người ta sẽ trả lời, “Tại vì dân chúng đã vi phạm giao ước của CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên họ mà Ngài đã lập cùng họ khi Ngài mang họ ra khỏi xứ Ai-cập.
DEU 29:26 Họ đi thờ các thần khác và cúi lạy các thần mà họ không hề biết. CHÚA không cho phép chuyện đó
DEU 29:27 cho nên Ngài nổi giận cùng xứ và mang đến những điều nguyền rủa cho đất là những lời đã được ghi trong sách nầy.
DEU 29:28 Vì CHÚA đã nổi thịnh nộ cùng họ cho nên Ngài ném họ ra khỏi quê hương và đày họ qua một xứ khác là nơi họ hiện sống.”
DEU 29:29 Có một số điều CHÚA là Thượng Đế chúng ta giữ kín, nhưng cũng có một số điều Ngài cho chúng ta biết. Những điều đó thuộc về chúng ta và con cái chúng ta mãi mãi để chúng ta làm theo mọi điều luật nầy.
DEU 30:1 Khi những phúc lành và nguyền rủa mà ta đã mô tả xảy ra cho ngươi, và sau khi CHÚA là Thượng Đế đã đày ngươi đến các nước khác, hãy suy nghĩ những điều nầy.
DEU 30:2 Rồi ngươi và con cái các ngươi sẽ trở lại cùng CHÚA là Thượng Đế ngươi, ngươi sẽ hết lòng vâng lời Ngài trong mọi điều ta truyền dặn ngươi hôm nay.
DEU 30:3 Lúc đó CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ ban lại cho ngươi sự tự do. Ngài sẽ thương xót ngươi và mang ngươi về từ các quốc gia mà Ngài đã phân tán các ngươi ra.
DEU 30:4 Dù Ngài phân tán các ngươi đến cuối trái đất nhưng Ngài sẽ thu gom và mang các ngươi về từ đó,
DEU 30:5 trở lại đất thuộc về tổ tiên các ngươi. Đất đó sẽ thuộc về các ngươi. Ngài sẽ ban cho các ngươi thành công, các ngươi sẽ đông đảo hơn tổ tiên mình.
DEU 30:6 CHÚA là Thượng Đế sẽ chuẩn bị ngươi và con cháu ngươi để các ngươi yêu mến Ngài hết lòng hầu ngươi được sống.
DEU 30:7 CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ trút mọi sự nguyền rủa nầy lên kẻ thù ngươi là những kẻ vốn ghét ngươi và độc ác với ngươi.
DEU 30:8 Ngươi sẽ lại vâng lời CHÚA, giữ các mệnh lệnh Ngài mà ta ban cho ngươi hôm nay.
DEU 30:9 CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ giúp ngươi thành công trong mọi điều ngươi làm. Ngươi sẽ có đông con, trâu bò ngươi sẽ sinh sản ra nhiều, đồng ruộng ngươi sẽ sản xuất mùa màng sung túc vì CHÚA sẽ lại hài lòng về ngươi, như Ngài đã hài lòng cùng tổ tiên ngươi.
DEU 30:10 Nhưng ngươi phải vâng lời CHÚA là Thượng Đế ngươi bằng cách giữ tất cả các mệnh lệnh và qui tắc Ngài được ghi trong Sách Giáo Huấn nầy. Ngươi phải trở về cùng CHÚA là Thượng Đế ngươi hết lòng.
DEU 30:11 Mệnh lệnh nầy mà ta ban hôm nay không phải quá khó đối với ngươi; không phải ngươi không làm theo nổi.
DEU 30:12 Không phải mệnh lệnh đó ở tuốt trên trời cao đến nỗi ngươi phải hỏi, “Ai sẽ lên trên trời mang xuống cho chúng ta để chúng ta vâng giữ mệnh lệnh đó?”
DEU 30:13 Mệnh lệnh đó cũng không phải ở tận bên kia biển để ngươi phải hỏi, “Ai đi qua bên kia biển để mang về? Ai sẽ truyền mệnh lệnh đó cho chúng ta để chúng ta vâng giữ?”
DEU 30:14 Không. Lời đó ở rất gần ngươi. Ở trong miệng và trong lòng ngươi để ngươi vâng giữ.
DEU 30:15 Xem đây, hôm nay ta cho ngươi chọn lựa giữa sự sống và sự chết, thành công và thảm hoạ.
DEU 30:16 Hôm nay ta truyền dặn ngươi phải yêu mến CHÚA là Thượng Đế ngươi, làm theo ý muốn Ngài, giữ các mệnh lệnh, qui tắc và luật lệ Ngài. Rồi ngươi sẽ sống lâu và đông đảo, CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ ban phước cho ngươi trong đất mà ngươi sẽ vào nhận làm sản nghiệp.
DEU 30:17 Nhưng nếu ngươi từ bỏ CHÚA, không vâng lời Ngài, nếu ngươi bị dẫn dụ cúi lạy và thờ các thần khác,
DEU 30:18 thì hôm nay ta cho ngươi biết rằng ngươi chắc chắn sẽ bị hủy diệt. Ngươi sẽ không sống lâu trong xứ mà ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh để chiếm làm sản nghiệp.
DEU 30:19 Hôm nay ta bắt trời và đất làm chứng. Ta đưa ra trước mặt ngươi sự sống và sự chết, phước lành và nguyền rủa. Vậy hãy chọn sự sống! Để ngươi và con cháu ngươi được sống.
DEU 30:20 Chọn sự sống tức là yêu mến CHÚA là Thượng Đế ngươi, vâng lời Ngài, và gần gũi với Ngài. Ngài là sự sống ngươi. Ngài sẽ để ngươi sống lâu năm trong xứ mà Ngài đã hứa ban cho tổ tiên các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
DEU 31:1 Rồi Mô-se đi đến nói như sau với toàn dân Ít-ra-en:
DEU 31:2 “Nay ta đã được một trăm hai mươi tuổi, ta không thể nào hướng dẫn các ngươi được nữa. CHÚA đã nói cùng ta rằng ta sẽ không được băng qua sông Giô-đanh,
DEU 31:3 chính CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ dẫn các ngươi. Ngài sẽ tiêu diệt các dân tộc đó cho các ngươi, và các ngươi sẽ chiếm xứ. Giô-suê sẽ dẫn các ngươi đi qua như Ngài đã phán.
DEU 31:4 CHÚA sẽ làm cho các dân tộc đó như Ngài đã làm cho Xi-hôn, và Óc, tức các vua A-mô-rít, khi Ngài tiêu diệt chúng và đất đai chúng.
DEU 31:5 CHÚA sẽ ban các quốc gia đó cho ngươi; hãy làm cho chúng y theo mọi điều ta đã dặn bảo ngươi.
DEU 31:6 Hãy mạnh dạn và can đảm. Đừng sợ cũng đừng kinh hãi chúng vì CHÚA là Thượng Đế ngươi sẽ đi với ngươi. Ngài sẽ không bỏ hay quên ngươi đâu.”
DEU 31:7 Rồi Mô-se gọi Giô-suê và nói cùng ông trước mặt toàn dân, “Hãy mạnh bạo và can đảm, vì ngươi sẽ dẫn dân nầy đi vào xứ mà CHÚA đã hứa ban cho tổ tiên họ, giúp họ chiếm lấy nó làm sản nghiệp.
DEU 31:8 Chính CHÚA sẽ đi trước các ngươi. Ngài sẽ ở cùng các ngươi; Ngài sẽ không bỏ hay quên ngươi. Đừng lo sợ.”
DEU 31:9 Vậy Mô-se viết các luật lệ nầy và trao cho các thầy tế lễ, và các bô lão của Ít-ra-en. Các thầy tế lễ là con trai của Lê-vi, là những người mang Rương Giao Ước của CHÚA.
DEU 31:10 Rồi Mô-se truyền dặn họ: “Hãy đọc những luật lệ nầy cho toàn thể Ít-ra-en nghe cuối mỗi bảy năm, tức năm ngươi tha nợ cho mọi người. Đọc nó trong Lễ Lều Tạm, khi toàn dân Ít-ra-en sẽ ra mắt CHÚA là Thượng Đế và đứng nơi Ngài sẽ chọn.
DEU 31:11 Hãy nhóm họp toàn dân lại: đàn ông, đàn bà, trẻ con, và người ngoại quốc sống trong các thị trấn ngươi để họ nghe và học kính sợ CHÚA là Thượng Đế ngươi và cẩn thận vâng theo mọi điều trong luật lệ nầy.
DEU 31:13 Vì con cháu các ngươi chưa hiểu biết luật lệ nầy, cho nên phải đọc cho chúng nghe. Chúng phải học cách kính sợ CHÚA là Thượng Đế ngươi bao lâu mà chúng còn sống trong xứ mà ngươi sẽ vào chiếm lấy làm sản nghiệp sau khi băng qua sông Giô-đanh.”
DEU 31:14 CHÚA bảo Mô-se, “Ngươi sắp phải qua đời. Hãy đi cùng Giô-suê và đến Lều Họp để ta truyền dặn người.” Vậy Mô-se và Giô-suê đi đến Lều Họp.
DEU 31:15 CHÚA hiện ra ở Lều Họp trong đám mây; đám mây tụ nơi cửa lều.
DEU 31:16 CHÚA bảo Mô-se, “Ngươi sắp phải qua đời. Lúc đó dân nầy sẽ không còn trung thành với ta nữa nhưng sẽ bái lạy các thần ngoại quốc của xứ mà chúng nó sẽ vào. Chúng nó sẽ lìa bỏ ta, phản bội Giao Ước ta lập cùng chúng.
DEU 31:17 Rồi ta sẽ nổi giận cùng chúng và bỏ chúng. Ta sẽ quay mặt khỏi chúng, rồi chúng sẽ bị tiêu diệt. Nhiều điều khủng khiếp sẽ xảy đến cho chúng. Lúc đó chúng sẽ nói: ‘Tại vì Thượng Đế không còn ở với chúng ta cho nên những điều khủng khiếp nầy xảy ra cho chúng ta.’
DEU 31:18 Chắc hẳn lúc đó ta sẽ ẩn mặt khỏi chúng, vì chúng đã phạm tội, đi theo các thần khác.
DEU 31:19 Bây giờ hãy viết bài ca nầy và dạy cho dân Ít-ra-en. Rồi hát bài đó lên vì nó sẽ là nhân chứng của ta nghịch lại chúng.
DEU 31:20 Khi ta mang chúng vào xứ mà ta đã hứa cùng tổ tiên chúng, một xứ phì nhiêu, chúng sẽ ăn uống và mập mạp rồi chúng sẽ quay theo các thần khác và phục vụ chúng nó. Chúng sẽ từ bỏ ta và phá Giao Ước ta.
DEU 31:21 Rồi những đại nạn và chuyện kinh khủng sẽ xảy đến cho chúng thì bài ca nầy sẽ làm chứng nghịch lại chúng vì con cháu chúng sẽ không quên bài ca nầy. Ta biết chúng nó sẽ dự định làm gì trước khi ta đưa chúng vào xứ mà ta hứa cùng chúng.”
DEU 31:22 Vậy hôm đó Mô-se viết bài ca sau đây và dạy cho dân Ít-ra-en.
DEU 31:23 Sau đó CHÚA truyền lệnh nầy cho Giô-suê con trai của Nun: “Hãy mạnh dạn và can đảm, vì ngươi sẽ dẫn dân Ít-ra-en vào xứ ta hứa cùng họ, ta sẽ ở cùng ngươi.”
DEU 31:24 Sau khi viết xong các luật lệ và sách,
DEU 31:25 thì Mô-se truyền cho người Lê-vi, là những kẻ khiêng Rương Giao Ước của CHÚA.
DEU 31:26 Ông bảo, “Hãy lấy Sách Luật Lệ nầy để bên cạnh Rương Giao Ước với CHÚA là Thượng Đế ngươi. Quyển sách phải nằm đó để làm chứng nghịch các ngươi.
DEU 31:27 Ta biết các ngươi ương ngạnh và bất vâng phục. Các ngươi đã không vâng lời CHÚA trong khi ta còn sống với các ngươi, thì khi ta chết đi các ngươi sẽ ương ngạnh đến mức nào!
DEU 31:28 Hãy nhóm họp các bô lão lãnh tụ của mọi chi tộc cùng các sĩ quan ngươi lại để ta nói cho họ nghe những lời nầy, để ta bắt trời và đất làm chứng nghịch họ.
DEU 31:29 Ta biết sau khi ta qua đời các ngươi sẽ trở nên gian ác. Các ngươi sẽ quay khỏi các mệnh lệnh ta ban cho các ngươi. Những việc kinh khủng sẽ xảy đến cho các ngươi trong tương lai khi các ngươi làm những điều CHÚA cho là ác. Các ngươi sẽ chọc giận Ngài bằng những tượng chạm các ngươi làm.”
DEU 31:30 Mô-se đọc hết bài ca nầy cho toàn dân Ít-ra-en nghe:
DEU 32:1 Hỡi trời, hãy nghe ta nói. Hỡi đất, hãy lắng tai nghe lời ta.
DEU 32:2 Lời giáo huấn của ta rơi xuống như mưa; lời ta rớt xuống như sương. Chúng giống như mưa rào trên cỏ; và đổ xuống như mưa trên cây non.
DEU 32:3 Ta sẽ loan báo danh của CHÚA. Hãy ca ngợi Thượng Đế vì Ngài cao cả!
DEU 32:4 Ngài như khối đá; mọi điều Ngài làm đều hoàn hảo, Ngài luôn luôn công bằng. Ngài là Thượng Đế thành tín, không bao giờ làm quấy, Ngài là Đấng chính trực công bình.
DEU 32:5 Chúng đã làm điều ác chống nghịch Ngài. Chúng không trung thành với Ngài; Chúng quanh quẹo và dối trá.
DEU 32:6 Các ngươi trả ơn CHÚA như thế sao, hỡi dân ngu dại và thiếu hiểu biết? Ngài là Cha và là Đấng Tạo Hoá ngươi, Đấng đã dựng nên và tạo thành ngươi.
DEU 32:7 Hãy nhớ lại ngày xưa. Hãy suy nghĩ lại những năm qua. Hãy bảo cha ngươi kể cho ngươi nghe; Hỏi các bô lão, họ sẽ thuật cho ngươi biết;
DEU 32:8 Đấng Chí Cao đã ban đất cho các dân tộc, phân chia các chủng tộc. Ngài định ranh giới cho các dân theo số của dân tộc Ít-ra-en.
DEU 32:9 CHÚA chọn dân Ngài làm phần mình, và chọn dân tộc Gia-cốp làm của riêng Ngài.
DEU 32:10 Ngài tìm thấy họ trong một sa mạc đầy giông gió và hoang vu. Ngài đùm bọc họ và nuôi dưỡng họ, Bảo vệ họ như người yêu dấu.
DEU 32:11 Ngài như chim ưng xây tổ và vỗ cánh trên các chim con. Nó giương cánh ra đỡ các chim con và mang chúng trên cánh mình.
DEU 32:12 Chỉ một mình CHÚA dẫn dắt họ, không có thần ngoại quốc nào giúp đỡ Ngài.
DEU 32:13 CHÚA mang họ lên các đỉnh cao của xứ và dùng trái cây trong đồng nuôi dưỡng họ. Ngài cho họ ăn mật ong nơi tảng đá, Lấy dầu ra từ tảng đá cứng.
DEU 32:14 Họ có sữa đông do bò cái sản xuất và sữa ra từ bầy gia súc; có chiên và dê mập béo. Có chiên và dê từ Ba-san cùng lúa mì tốt nhất. Các ngươi uống rượu nho.
DEU 32:15 Ít-ra-en trở nên mập béo và đạp đá lung tung; chúng mập mạp và rắn chắc. Chúng rời bỏ Thượng Đế là Đấng dựng nên mình và từ bỏ Tảng Đá đã cứu mình.
DEU 32:16 Chúng dùng các thần ngoại quốc để khiến Thượng Đế ghen tức và nổi giận với những tượng chạm đáng ghê tởm.
DEU 32:17 Chúng dâng sinh tế cho yêu quỉ, không phải cho Thượng Đế, cho những thần chúng không hề biết, những thần từ các xứ quanh đó, thần mà tổ tiên chúng nó không sợ.
DEU 32:18 Các ngươi đã bỏ Thượng Đế là Khối Đá, Cha các ngươi, và quên Thượng Đế Đấng đã sinh các ngươi ra.
DEU 32:19 CHÚA thấy điều nầy và từ bỏ chúng; các con trai con gái Ngài đã chọc giận Ngài.
DEU 32:20 Ngài bảo, “Ta sẽ quay mặt khỏi chúng nó để xem chúng nó ra sao. Chúng nó là dân gian ác, là con cái phản nghịch.
DEU 32:21 Chúng dùng những vật không phải là thần để làm ta ganh tức, dùng những tượng chạm không ra gì để chọc giận ta. Cho nên ta sẽ dùng những người không phải là dân ta để khiến chúng nó ganh tức; Ta sẽ dùng một dân không hiểu biết đế khiến chúng tức giận.
DEU 32:22 Cơn giận ta đã bốc lửa, cháy phừng xuống đến tận chỗ kẻ chết ở. Ta sẽ thiêu đốt đất đai và mùa màng, Ta sẽ đốt chân núi.
DEU 32:23 Ta sẽ chồng chất khốn khổ lên trên đầu chúng và bắn các mũi tên vào chúng.
DEU 32:24 Chúng sẽ chết đói và bệnh hoạn, bị các dịch lệ tiêu diệt. Ta sẽ sai ác thú đến với chúng và rắn độc cũng lướt tới.
DEU 32:25 Trong phố sẽ có gươm giáo; trong nhà chúng sẽ có sự kinh hoàng. Thanh niên, thiếu nữ sẽ chết, Hài nhi và người già cả cũng đồng chung số phận.
DEU 32:26 Ta sẽ phân tán chúng ra như ta nói, sẽ không còn ai nhớ tới chúng nữa.
DEU 32:27 Nhưng ta không muốn kẻ thù chúng huênh hoang; vì kẻ thù chúng sẽ lầm tưởng và khoe khoang rằng, ‘Chúng ta đã thắng rồi! CHÚA không có đóng vai trò gì trong việc nầy cả.’
DEU 32:28 Ít-ra-en không hiểu biết; chúng chẳng có trí hiểu gì.
DEU 32:29 Ta ước gì chúng khôn ngoan và hiểu điều nầy; Ước gì chúng có thể thấy số phận chúng ra sao.
DEU 32:30 Một người không đánh đuổi nổi một ngàn người, hai người không đánh đuổi nổi mười ngàn người vì Khối Đá của chúng bán đứng chúng, và vì CHÚA từ bỏ chúng.
DEU 32:31 Khối đá của các dân đó không phải như Khối Đá của chúng ta; các kẻ thù chúng ta cũng công nhận như thế.
DEU 32:32 Dây nho của chúng là từ Xô-đôm mà ra, và đồng ruộng chúng như Gô-mô-rơ. Trái nho chúng đầy nọc độc; Chùm nho chúng rất đắng.
DEU 32:33 Rượu chúng như nọc rắn, như nọc độc rắn hổ mang.
DEU 32:34 Ta đã để dành điều nầy, và khóa cất trong kho ta.
DEU 32:35 Ta sẽ trừng phạt những kẻ làm quấy, ta sẽ báo trả chúng. Trước sau bước chân chúng sẽ vấp ngã, vì ngày khốn đốn chúng đã gần kề, và sự hình phạt chúng sẽ đến rất nhanh.”
DEU 32:36 CHÚA sẽ bênh vực dân Ngài và tỏ lòng nhân ái đối với tôi tớ Ngài. Ngài sẽ khiến cho sức mạnh nó tiêu tan, không còn ai sống sót, từ tôi mọi đến người tự do.
DEU 32:37 Rồi Ngài sẽ hỏi, “Các thần chúng nó đâu? Tảng đá mà chúng ỷ lại đâu rồi?
DEU 32:38 Ai là kẻ ăn mỡ từ các của lễ chúng hoặc uống rượu từ của lễ uống của chúng? Các thần đó hãy đến giúp ngươi đi! Hãy nhờ chúng bảo vệ ngươi đi!
DEU 32:39 Bây giờ ngươi sẽ biết rằng ta là Thượng Đế duy nhất! Không có thần nào khác ngoài ta. Ta sai sự sống và sự chết đến; Ta làm cho bị thương, rồi ta chữa lành. Không ai thoát khỏi tay ta.
DEU 32:40 Ta giơ tay lên trời và thề quyết như sau: Vì rằng ta hằng sống,
DEU 32:41 Ta sẽ mài gươm sáng loáng của ta, ta sẽ cầm gươm trong tay mà phân xử. Ta sẽ trừng phạt kẻ thù ta và báo trả kẻ ghét ta.
DEU 32:42 Máu của chúng sẽ dính đầy các mũi tên ta; gươm ta sẽ ăn thịt chúng. Huyết sẽ chảy từ những kẻ bị giết và kẻ bị bắt làm tù. Các lãnh tụ của kẻ thù sẽ bị chém đầu.
DEU 32:43 Hãy vui lên, hỡi các dân, cùng với dân Ngài vì Ngài sẽ trả thù các ngươi về huyết của các tôi tớ Ngài. Ngài sẽ trừng phạt các kẻ thù mình, và Ngài sẽ cất tội lỗi của đất và của dân Ngài.”
DEU 32:44 Mô-se và Giô-suê con của Nun phổ biến mọi lời của bài ca nầy cho dân chúng nghe.
DEU 32:45 Sau khi Mô-se nói những lời đó cho toàn thể dân Ít-ra-en xong,
DEU 32:46 thì ông bảo họ: “Hãy ghi tạc mọi lời ta nói với các ngươi hôm nay, và dặn con cái các ngươi vâng giữ mọi luật lệ nầy.
DEU 32:47 Đây không phải là những lời tầm thường mà là những lời sống cho các ngươi! Nhờ những lời nầy các ngươi sẽ sống lâu trong xứ mà ngươi sẽ nhận làm sản nghiệp sau khi băng qua sông Giô-đanh.”
DEU 32:48 Cùng ngày đó CHÚA lại nói cùng Mô-se như sau,
DEU 32:49 “Hãy lên núi A-ba-rim, đến ngọn núi Nê-bô trong xứ Mô-áp, đối ngang Giê-ri-cô. Hãy nhìn toàn xứ Ca-na-an mà ta sẽ ban cho dân Ít-ra-en làm sản nghiệp.
DEU 32:50 Ngươi sẽ qua đời và về cùng tổ tiên trên ngọn núi mà ngươi sẽ leo lên như anh ngươi là A-rôn đã chết trên núi Hô-rơ và về cùng tổ tiên.
DEU 32:51 Cả hai ngươi đã phạm tội cùng ta trong các suối Mê-ri-ba Ca-đe trong sa mạc Xin, còn ngươi không tôn thánh ta trước mặt dân Ít-ra-en.
DEU 32:52 Bây giờ ngươi chỉ được nhìn xứ đó từ đàng xa mà thôi. Ngươi sẽ không được vào đất mà ta sẽ ban cho dân Ít-ra-en.”
DEU 33:1 Mô-se, người của Thượng Đế chúc phước như sau cho dân Ít-ra-en trước khi ông qua đời.
DEU 33:2 Ông nói: “CHÚA đến từ núi Si-nai và mọc lên như mặt trời từ Sê-ia; từ núi Pha-ran Ngài tỏ ra sự oai nghiêm Ngài. Ngài đến với hàng ngàn người thánh, từ các núi miền Nam.
DEU 33:3 Chắc hẳn CHÚA yêu thương dân Ngài và chăm sóc những ai thuộc về Ngài. Họ thờ lạy dưới chân Ngài, và được Ngài dạy dỗ.
DEU 33:4 Mô-se ban cho chúng tôi những luật lệ nầy là di sản cho dân chúng Gia-cốp.
DEU 33:5 CHÚA làm vua trên Ít-ra-en khi các lãnh tụ của dân chúng nhóm họp lại, khi các chi tộc Ít-ra-en tập họp.”
DEU 33:6 “Nguyện cho dân Ru-bên được sống, không bị chết, nhưng dân số ít ỏi thôi.”
DEU 33:7 Về dân chúng Giu-đa, Mô-se chúc như sau: “Lạy CHÚA, xin nghe lời khẩn nguyện của Giu-đa; mang họ trở về cùng dân mình. Họ dùng tay để tự vệ. Xin giúp họ đánh quân thù!”
DEU 33:8 Về dân Lê-vi, Mô-se chúc như sau: “Lạy CHÚA, Thu-mim và U-rim của Ngài thuộc về Lê-vi mà Ngài yêu. Lạy CHÚA, Ngài thử họ ở Ma-sa và tranh luận với họ nơi các suối Mê-ri-ba.
DEU 33:9 Họ nói như sau về cha và mẹ mình, ‘Tôi không biết họ.’ Họ không biệt đãi anh em mình hay thiên vị con cái mình, khi bảo vệ lời Ngài và canh giữ giao ước Ngài.
DEU 33:10 Họ dạy luật lệ cho dân Gia-cốp, và truyền lời giáo huấn Ngài cho dân Ít-ra-en. Họ thắp hương trước mặt Ngài, và dâng của lễ toàn thiêu trên bàn thờ Ngài.
DEU 33:11 Lạy CHÚA, xin giúp họ thêm mạnh; chúc phước công việc tay họ làm. Xin hãy đánh bại những kẻ tấn công họ, và đừng để kẻ thù ngóc đầu lên được.”
DEU 33:12 Còn về dân Bên-gia-min, Mô-se chúc như sau: “Những kẻ được CHÚA yêu sẽ sống trong cánh tay Ngài, vì CHÚA gìn giữ họ suốt ngày. Những kẻ Ngài yêu sẽ nghỉ ngơi với Ngài.”
DEU 33:13 Mô-se nói như sau về dân chúng Giô-xép: “Nguyện CHÚA ban phước cho đất họ bằng sương móc kỳ diệu từ trời, và bằng nước từ các suối dưới đất,
DEU 33:14 bằng những trái cây tốt nhất mà mặt trời mang lại, cùng những cây trái tốt nhất mà mặt trăng mang đến.
DEU 33:15 Nguyện các núi xưa sinh sản ra mùa màng tốt, và các núi đời đời sinh ra các trái cây ngon nhất.
DEU 33:16 Nguyện toàn trái đất sinh sản ra trái cây ngon ngọt, và nguyện CHÚA là Đấng sống giữa bụi cây cháy mãn nguyện. Nguyện những phúc lành nầy ban trên đầu của Giô-xép, trên trán của hoàng tử giữa vòng anh em mình.
DEU 33:17 Giô-xép có vẻ oai nghi của con bò đực đầu lòng; người mạnh như con bò rừng. Người sẽ húc các quốc gia khác, thậm chí đến các quốc gia ở xa. Đó là một vạn người Ép-ra-im, và hàng ngàn người Ma-na-xe.”
DEU 33:18 Về dân Xê-bu-lôn, Mô-se chúc như sau: “Hỡi Xê-bu-lôn, hãy vui mừng khi ngươi đi ra. Còn Y-xa-ca ơi, hãy vui mừng trong lều trại ngươi.
DEU 33:19 Chúng sẽ gọi các dân lên núi, nơi họ dâng của lễ công bình. Họ sẽ hưởng mọi vật trong biển, và hưởng những vật quí giấu kín trong cát nơi bờ biển.”
DEU 33:20 Mô-se nói như sau về dân Gát: “Hãy ca ngợi CHÚA đã ban thêm đất cho Gát! Gát như con sư tử, xâu xé tay chân và đầu.
DEU 33:21 Họ chọn đất tốt nhất cho mình. Họ nhận phần lớn, như phần cấp cho sĩ quan. Khi các lãnh tụ của dân chúng họp lại, thì dân Gát làm điều đẹp lòng CHÚA, và họ phân xử công minh cho dân Ít-ra-en.”
DEU 33:22 Về dân Đan, Mô-se chúc như sau: “Đan như sư tử con nhảy ra khỏi Ba-san.”
DEU 33:23 Về dân Nép-ta-li, Mô-se chúc như sau: “Nép-ta-li vui hưởng lòng nhân từ, và ơn phước CHÚA. Ngươi sẽ nhận phần đất phía tây và phía nam.”
DEU 33:24 Còn về dân A-se, Mô-se chúc: “A-se là con trai được phước nhất; nguyện ngươi được các anh em yêu thích. Nguyện ngươi ngâm chân trong dầu ô liu.
DEU 33:25 Các cổng của ngươi sẽ có các khóa sắt và đồng, ngươi sẽ mạnh mẽ suốt đời.”
DEU 33:26 “Không ai giống như Thượng Đế của Ít-ra-en, Ngài ngự qua các từng trời để giúp đỡ ngươi, Ngài cỡi trên các đám mây trong sự uy nghi Ngài.
DEU 33:27 Thượng Đế hằng sống là nơi trú ẩn an toàn của ngươi, và tay Ngài sẽ nâng đỡ ngươi mãi mãi. Ngài sẽ đánh đuổi kẻ thù ngươi trước mặt ngươi và bảo rằng, ‘Hãy tiêu diệt kẻ thù!’
DEU 33:28 Dân Ít-ra-en sẽ nằm xuống bình yên. Suối của Gia-cốp là của ngươi. Đất đai ngươi đầy ngũ cốc và rượu mới, nơi bầu trời nhễu sương xuống.
DEU 33:29 Hỡi Ít-ra-en, ngươi có phúc! Không ai giống như ngươi vì ngươi là dân được CHÚA cứu. Ngài là cái thuẫn và là Đấng hỗ trợ ngươi; Ngài là gươm vinh hiển ngươi. Các kẻ thù ngươi sẽ sợ sệt ngươi, còn ngươi sẽ dẫm lên các nơi thánh của chúng nó.”
DEU 34:1 Rồi Mô-se từ bình nguyên Mô-áp leo lên núi Nê-bô đến đỉnh núi Phích-ga đối ngang Giê-ri-cô. Từ đó CHÚA chỉ cho ông toàn xứ từ Ghi-lê-át cho đến Đan,
DEU 34:2 toàn miền Nép-ta-li và xứ Ép-ra-im vùng Ma-na-xe, toàn đất Giu-đa cho đến Địa-trung-hải,
DEU 34:3 và vùng sa mạc miền nam cùng toàn thung lũng Giê-ri-cô cho đến Xoa. (Giê-ri-cô trước kia gọi là thành cây chà là.)
DEU 34:4 Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Đây là xứ mà ta hứa cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp khi ta nói cùng họ, ‘Ta sẽ ban đất nầy cho dòng dõi các ngươi.’ Mô-se, ta đã để cho ngươi nhìn thấy xứ đó nhưng ngươi sẽ không được vào.”
DEU 34:5 Rồi Mô-se, tôi tớ CHÚA qua đời tại đó trong xứ Mô-áp, như CHÚA đã phán.
DEU 34:6 Ngài chôn ông trong xứ Mô-áp trong thung lũng đối ngang Bết-Phê-ô. Nhưng cho đến ngày nay không ai biết mộ ông ở đâu.
DEU 34:7 Khi qua đời Mô-se được một trăm hai mươi tuổi. Mắt ông không lòa, ông vẫn khỏe mạnh.
DEU 34:8 Dân Ít-ra-en than khóc Mô-se trong ba mươi ngày và lưu lại trong bình nguyên Mô-áp cho đến khi thời gian than khóc đã qua.
DEU 34:9 Lúc bấy giờ Giô-suê con trai của Nun được đầy dẫy sự khôn ngoan vì Mô-se đã đặt tay trên ông. Dân Ít-ra-en vâng lời Giô-suê và làm theo mọi điều CHÚA truyền dặn Mô-se.
DEU 34:10 Từ trước đến giờ chưa có một nhà tiên tri nào trong Ít-ra-en như Mô-se, người mà CHÚA biết mặt đối mặt
DEU 34:11 được Ngài sai làm các dấu kỳ, phép lạ trong xứ Ai-cập cho nhà vua, quần thần và toàn xứ.
DEU 34:12 Mô-se có quyền năng, làm nhiều phép lạ lớn lao cho toàn dân Ít-ra-en trông thấy.
JOS 1:1 Sau khi tôi tớ Mô-se của Chúa qua đời thì Ngài phán cùng Giô-suê, phụ tá của ông và là con trai của Nun rằng,
JOS 1:2 “Mô-se, tôi tớ ta đã chết. Vậy bây giờ con và toàn thể đoàn dân nầy hãy băng qua sông Giô-đanh, tiến vào đất mà ta sẽ ban cho dân Ít-ra-en.
JOS 1:3 Ta đã hứa với Mô-se là ta sẽ ban cho các con đất nầy. Vậy hễ nơi nào các con đi đến thì ta ban cho.
JOS 1:4 Tất cả vùng đất từ sa mạc phía nam cho đến Li-băng, về phía bắc, sẽ thuộc về các con. Vùng đất chạy từ sông Lớn tức sông Ơ-phơ-rát nằm về phía đông cho đến Địa-trung-hải về phía tây, cũng sẽ thuộc về các con, luôn cả đất của dân Hê-tít nữa.
JOS 1:5 Trọn đời con sẽ không ai có thể thắng con được. Ta đã ở với Mô-se ra sao thì ta cũng sẽ ở với con như vậy. Ta sẽ không bao giờ quên hay bỏ con đâu.
JOS 1:6 Giô-suê ơi, hãy mạnh dạn và can đảm lên! Con là người sẽ hướng dẫn dân nầy nhận lấy đất mà ta đã hứa với tổ tiên họ.
JOS 1:7 Hãy can đảm và mạnh dạn lên. Con phải vâng theo các lời Mô-se, tôi tớ ta, đã chỉ dạy cho con. Nếu theo đúng các lời chỉ dạy đó, con sẽ may mắn trong mọi việc.
JOS 1:8 Hãy luôn luôn ghi nhớ những lời trong Sách Giáo Huấn nầy. Hãy nghiên cứu sách đó đêm ngày đặng làm theo những lời đã được ghi chép. Làm như vậy con sẽ khôn ngoan và thành công trong mọi việc.
JOS 1:9 Nhớ rằng ta khuyên con hãy mạnh dạn và can đảm. Đừng sợ hãi gì, vì Chúa là Thượng Đế của con sẽ luôn ở cùng con bất cứ nơi nào con đi.”
JOS 1:10 Sau đó Giô-suê ra lệnh cho các cấp chỉ huy dân chúng như sau:
JOS 1:11 “Hãy đi khắp các doanh trại và bảo dân chúng rằng: Hãy chuẩn bị lương thực, vì ba ngày nữa các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh để chiếm xứ mà Chúa là Thượng Đế sẽ ban cho.”
JOS 1:12 Rồi Giô-suê bảo người Ru-bên, người Gát và chi tộc Ma-na-xe miền đông rằng,
JOS 1:13 “Các anh em hãy nhớ lại điều Mô-se, tôi tớ Chúa dặn bảo. Mô-se bảo rằng Chúa là Thượng Đế sẽ ban cho các anh em sự an nghỉ và miền đất nầy.
JOS 1:14 Chúa đã ban cho các anh em vùng đất phía đông sông Giô-đanh. Vợ con và bầy súc vật các anh em có thể ở lại đây, nhưng tất cả các chiến sĩ trong anh em phải sẵn sàng chiến đấu và băng qua sông Giô-đanh trước đồng bào mình và giúp đỡ họ.
JOS 1:15 Chúa đã ban cho các anh em một nơi an nghỉ và Ngài cũng sẽ ban cho thân thuộc các anh em nơi an nghỉ, nhưng các anh em phải giúp đỡ họ chiếm phần đất mà Chúa là Thượng Đế sẽ ban cho họ. Sau đó các anh em có thể trở về vùng đất của mình ở phía đông sông Giô-đanh, đất mà Mô-se, tôi tớ Chúa đã cấp cho các anh em.”
JOS 1:16 Dân chúng đáp với Giô-suê, “Những gì ông dặn bảo, chúng tôi sẽ tuân theo. Nơi nào ông sai đi, chúng tôi sẽ đi.
JOS 1:17 Trước kia chúng tôi vâng lời Mô-se ra sao, bây giờ chúng tôi cũng sẽ vâng lời ông như thế. Chúng tôi mong rằng Chúa là Thượng Đế sẽ ở cùng ông, như Ngài đã ở cùng Mô-se.
JOS 1:18 Ai không vâng lời ông hay chống nghịch lại ông sẽ bị xử tử. Ông hãy mạnh dạn và can đảm lên!”
JOS 2:1 Giô-suê, con trai của Nun, từ A-ca-xia bí mật phái hai người thám thính đi và dặn họ, “Các anh hãy đi thám thính xứ, nhất là thành Giê-ri-cô.” Vậy các người thám thính đến Giê-ri-cô và vào nhà của một gái điếm tên Ra-háp.
JOS 2:2 Có người trình lên vua xứ Giê-ri-cô rằng, “Có mấy người Ít-ra-en đã đến đây tối nay đặng do thám xứ.”
JOS 2:3 Vua Giê-ri-cô liền cho người bảo Ra-háp “Mang mấy người mới đến đang ở nhà ngươi, lại đây. Họ tới để do thám toàn thể bờ cõi chúng ta đó.”
JOS 2:4 Nhưng cô gái điếm đem giấu hai người ấy. Chị ta bảo, “Họ có đến đây, nhưng tôi chẳng biết họ từ đâu đến.
JOS 2:5 Hồi chiều khi sắp đóng cổng thành thì họ ra đi. Tôi không biết họ đi đâu nữa, nhưng nếu các ông nhanh chân thì rất có thể đuổi kịp họ được.”
JOS 2:6 Thật ra cô gái điếm đã mang hai người kia lên mái nhà và lấy rơm trải ra phủ kín họ lại.
JOS 2:7 Mấy người được vua sai đi tìm hai người thám thính đến con đường sắp băng qua sông Giô-đanh. Khi họ vừa ra đi thì người ta đóng cửa thành.
JOS 2:8 Buổi tối, trước khi hai người thám thính đi ngủ, Ra-háp rón rén lên mái nhà
JOS 2:9 bảo hai người ấy rằng, “Tôi biết Chúa đã ban đất nầy cho các ông. Các ông làm chúng tôi kinh hoàng. Ai sống trong vùng đất nầy cũng đều khiếp sợ các ông
JOS 2:10 vì chúng tôi đã nghe Chúa rẽ nước Hồng hải ra sao, khi các ông ra khỏi Ai-cập. Chúng tôi cũng nghe biết các ông đã tiêu diệt Xi-hon và Óc, hai vua dân A-mô-rít ở phía đông sông Giô-đanh.
JOS 2:11 Khi nghe những tin đó, chúng tôi đều kinh hãi. Các chiến sĩ của chúng tôi hết dám chiến đấu, vì Chúa, là Thượng Đế các ông, cầm quyền trên trời cao kia và dưới đất thấp nầy.
JOS 2:12 Vậy bây giờ trước mặt Chúa, xin hứa với tôi rằng các ông sẽ đối xử tử tế với gia đình tôi như tôi đã đối xử tử tế với các ông. Làm ơn cho tôi bằng chứng gì để biết các ông sẽ tôn trọng lời hứa.
JOS 2:13 Xin các ông làm ơn để cho cha mẹ, anh chị em tôi và tất cả gia đình họ được sống, không bị giết.”
JOS 2:14 Hai người đồng ý bảo, “Mạng chúng tôi sẽ thế cho mạng của chị, nếu chị không tiết lộ cho ai biết việc làm của chúng tôi. Sau khi Chúa ban cho chúng tôi đất nầy, chúng tôi sẽ đối xử tử tế với chị.”
JOS 2:15 Nhà của Ra-háp nằm ngay trên vách thành cho nên chị dùng dây thừng thả hai người xuống đất qua cửa sổ.
JOS 2:16 Chị bảo họ, “Các ông hãy đi mau vào vùng đồi núi để các người vua sai đi không bắt gặp các ông. Hãy trốn trong đó khoảng ba ngày. Sau khi họ trở về rồi, thì các ông hãy ra đi.”
JOS 2:17 Các thám thính dặn Ra-háp, “Chị phải làm theo như điều chúng tôi dặn. Nếu không chúng tôi sẽ khỏi mắc lời thề với chị hôm nay.
JOS 2:18 Khi chúng tôi trở lại đất nầy, chị phải cột sợi dây thừng đỏ nầy nơi cửa sổ mà chị đã thả chúng tôi xuống. Tập họp cha mẹ và tất cả các anh chị em và gia đình chị lại trong nhà chị.
JOS 2:19 Nếu ai ra khỏi nhà mà bị giết thì không phải lỗi tại chúng tôi. Nếu ai ở trong nhà chị mà bị việc gì thì chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm.
JOS 2:20 Còn nếu chị tiết lộ việc nầy ra thì chúng tôi sẽ không bị ràng buộc bởi lời thề hôm nay.”
JOS 2:21 Ra-háp bảo “Tôi đồng ý.” Rồi Ra-háp để họ lên đường. Xong, chị cột dây thừng đỏ nơi cửa sổ.
JOS 2:22 Hai người ra đi vào vùng đồi núi, trốn trong đó ba ngày. Các người được vua sai đi, tìm họ khắp các nẻo đường mà không thấy. Sau ba ngày họ trở về thành.
JOS 2:23 Rồi hai người thám thính trở về trại quân. Họ ra khỏi vùng đồi núi, băng qua sông, đến gặp Giô-suê con trai của Nun và báo cáo lại những sự việc xảy ra.
JOS 2:24 Họ bảo, “Chắc chắn Chúa đã ban cho chúng ta xứ nầy. Toàn thể dân cư trong xứ rất khiếp sợ chúng ta.”
JOS 3:1 Sáng sớm hôm sau, Giô-suê và toàn dân Ít-ra-en rời A-ca-xia. Họ đi đến sông Giô-đanh và đóng lều bên bờ trước khi băng qua sông.
JOS 3:2 Sau ba ngày các cấp chỉ huy đi khắp lều quân
JOS 3:3 thông báo lệnh nầy cho dân chúng: “Khi các ngươi thấy mấy thầy tế lễ và người Lê-vi khiêng Rương của Chúa, là Thượng Đế của đồng bào, thì hãy lên đường đi theo sau.
JOS 3:4 Như thế các ngươi sẽ biết đi lối nào, vì các ngươi chưa hề đến đó bao giờ. Nhưng đừng đi theo sát quá. Phải đi sau cách Rương ít nhất một ngàn thước.”
JOS 3:5 Rồi Giô-suê dặn dân chúng, “Hãy dọn mình ra thánh vì ngày mai Chúa sẽ làm những việc lạ lùng trước mặt các ngươi.”
JOS 3:6 Giô-suê bảo các thầy tế lễ, “Hãy khiêng Rương đi trước dân chúng.” Các thầy tế lễ liền nâng Rương mang đi trước dân chúng.
JOS 3:7 Rồi Chúa bảo Giô-suê, “Hôm nay ta sẽ khiến cho con được toàn dân Ít-ra-en kính trọng để họ biết rằng ta ở cùng con như ta đã ở cùng Mô-se.
JOS 3:8 Bảo các thầy tế lễ mang Rương bước đến mé sông Giô-đanh và đứng dưới nước.”
JOS 3:9 Giô-suê liền bảo dân Ít-ra-en, “Hãy lại đây nghe lời Chúa là Thượng Đế của đồng bào phán.
JOS 3:10 Đây là bằng chứng cho thấy Thượng Đế hằng sống ở giữa đồng bào. Ngài sẽ đánh đuổi hết các dân Ca-na-an, Hi-tít, Hê-vít, Phê-ri-sít, Ghi-ga-sít, A-mô-rít và Giê-bu-sít.
JOS 3:11 Rương của Chúa cả thế gian sẽ đi trước đồng bào xuống sông Giô-đanh.
JOS 3:12 Vậy bây giờ hãy chọn mười hai người trong các ngươi, mỗi chi tộc Ít-ra-en một người.
JOS 3:13 Các thầy tế lễ sẽ khiêng Rương của Chúa, là Chủ tể cả thế gian, đi xuống sông Giô-đanh trước đồng bào. Khi họ đặt chân xuống mé nước, sông sẽ ngưng chảy và dồn lại thành một khối.”
JOS 3:14 Vậy dân chúng nhổ lều và đi theo các thầy tế lễ đang mang Rương đi qua sông Giô-đanh.
JOS 3:15 Vào mùa gặt, nước sông Giô-đanh tràn lên bờ. Khi chân các thầy tế lễ mang Rương đến gần mé sông và vừa bước xuống nước,
JOS 3:16 thì nước trên nguồn liền ngưng chảy và dồn lại thành một khối, ngược đến tận A-đam, một thành nhỏ gần Xa-rê-than. Dòng nước từ đó chảy xuôi xuống biển A-ra-ba (tức Biển Chết) hoàn toàn bị cắt đứt. Thế là dân chúng băng qua sông gần Giê-ri-cô.
JOS 3:17 Các thầy tế lễ mang Rương của Chúa đi đến đứng giữa sông trên đất khô. Họ đứng đó chờ, cho đến khi toàn thể dân Ít-ra-en đi ngang qua sông Giô-đanh và bước lên đất liền.
JOS 4:1 Sau khi dân chúng đã băng qua sông Giô-đanh rồi, Chúa phán bảo Giô-suê,
JOS 4:2 “Hãy chọn mười hai người trong dân chúng, mỗi chi tộc một người.
JOS 4:3 Bảo họ lượm mười hai tảng đá lấy từ giữa sông, nơi các thầy tế lễ đang đứng. Mang các tảng đá đó theo, và đặt xuống nơi các ngươi nghỉ đêm nay.”
JOS 4:4 Cho nên Giô-suê chọn mỗi chi tộc một người. Rồi ông gọi mười hai người lại
JOS 4:5 dặn, “Các anh em hãy đi xuống sông, nơi Rương Giao Ước của Chúa, Thượng Đế anh em, đang dừng lại. Mỗi người lượm một tảng đá đại diện cho mười hai chi tộc Ít-ra-en rồi vác lên vai.
JOS 4:6 Các tảng đá nầy sẽ làm dấu hiệu giữa các anh em. Trong tương lai khi con cháu các anh em hỏi, ‘Các tảng đá nầy có nghĩa gì?’
JOS 4:7 thì hãy thuật cho chúng nó biết là nước sông Giô-đanh ngưng chảy khi Rương của Chúa băng qua sông. Các tảng đá nầy sẽ nhắc nhở dân chúng Ít-ra-en về chuyện ấy.”
JOS 4:8 Dân Ít-ra-en vâng lời Giô-suê và mang mười hai tảng đá lấy từ giữa sông Giô-đanh, mỗi tảng đại diện cho một chi tộc Ít-ra-en, như Chúa đã truyền cho Giô-suê. Họ mang các tảng đá đó theo mình và đặt xuống nơi dựng lều.
JOS 4:9 Giô-suê cũng dựng lên mười hai tảng đá ở giữa sông Giô-đanh, nơi các thầy tế lễ đã đứng đang khi khiêng Rương. Các tảng đá đó ngày nay vẫn còn.
JOS 4:10 Các thầy tế lễ vẫn cứ đứng giữa sông cho đến chừng mọi việc mà Chúa truyền cho Giô-suê bảo dân chúng, đã thực hiện xong, như Mô-se đã bảo Giô-suê. Trong khi ấy dân chúng vội vàng băng qua sông.
JOS 4:11 Sau khi họ qua sông rồi, các thầy tế lễ mang Rương qua bên kia bờ, trước sự chứng kiến của toàn thể dân chúng.
JOS 4:12 Các trai tráng thuộc chi tộc Ru-bên, Gát và miền đông Ma-na-xe làm theo điều Mô-se đã dặn bảo họ. Họ sẵn sàng chiến đấu.
JOS 4:13 Có khoảng bốn mươi ngàn chiến sĩ, sẵn sàng ra trận, đi ngang trước mặt Chúa khi họ băng qua sông hướng về phía đồng bằng Giê-ri-cô.
JOS 4:14 Ngày hôm đó, Chúa tôn Giô-suê lên trước mặt toàn dân Ít-ra-en. Suốt đời Giô-suê, họ kính trọng ông như đã kính trọng Mô-se.
JOS 4:15 Sau đó Chúa nói với Giô-suê,
JOS 4:16 “Bảo các thầy tế lễ khiêng Rương ra khỏi sông.”
JOS 4:17 Nên Giô-suê bảo các thầy tế lễ, “Hãy bước lên khỏi sông Giô-đanh.”
JOS 4:18 Các thầy tế lễ khiêng Rương của Chúa bước lên khỏi sông. Khi chân họ vừa chạm đất khô thì nước bắt đầu chảy trở lại. Nước sông tràn lên bờ y như trước khi họ băng qua.
JOS 4:19 Dân chúng băng qua sông Giô-đanh vào ngày mười tháng giêng và dựng trại tại Ghinh-ganh, phía đông Giê-ri-cô.
JOS 4:20 Họ mang theo mười hai tảng đá lấy từ sông Giô-đanh. Giô-suê chất các tảng đá đó ở Ghinh-ganh.
JOS 4:21 Rồi ông nói cùng dân Ít-ra-en: “Trong tương lai, khi con cháu các ngươi hỏi, ‘Các tảng đá nầy có ý nghĩa gì?’
JOS 4:22 thì hãy nói với chúng nó, ‘Dân Ít-ra-en đã băng qua sông Giô-đanh như đi trên đất khô.
JOS 4:23 Chúa là Thượng Đế khiến nước ngưng chảy cho đến chừng dân chúng qua sông hết, như Ngài đã làm ở Hồng hải. Ngài chận nước lại cho đến chừng chúng ta đã qua sông hết.’
JOS 4:24 Chúa làm điều nầy để dân chúng biết rằng Ngài có quyền năng lớn lao, và cũng để cho các ngươi luôn luôn kính sợ Chúa, là Thượng Đế của các ngươi.”
JOS 5:1 Tất cả các vua A-mô-rít ở phía tây sông Giô-đanh và các vua Ca-na-an ở gần Địa-trung-hải nghe Chúa đã làm cạn sông Giô-đanh cho đến khi toàn dân Ít-ra-en băng qua, thì vô cùng khiếp sợ, không dám đối đầu với dân Ít-ra-en.
JOS 5:2 Lúc đó Chúa bảo Giô-suê, “Chuẩn bị dao bằng đá lửa để cắt dương bì cho dân Ít-ra-en.”
JOS 5:3 Nên Giô-suê lấy đá lửa làm dao và cắt dương bì cho dân Ít-ra-en tại Ghi-bê-a Ha-ra-lốt.
JOS 5:4 Lý do Giô-suê cắt dương bì cho các người nam như sau: Sau khi dân Ít-ra-en rời Ai-cập, các trai tráng đủ tuổi để tham gia chiến trận đều đã chết hết trong sa mạc trên đường đi.
JOS 5:5 Những người nam ra khỏi Ai-cập đều đã được cắt dương bì nhưng không có người nào sinh ra trong sa mạc sau khi ra khỏi Ai-cập được cắt dương bì cả.
JOS 5:6 Dân Ít-ra-en đã lưu lạc trong sa mạc bốn mươi năm. Suốt thời gian ấy, tất cả các chiến sĩ ra khỏi Ai-Cập đều đã chết hết. Vì họ không vâng lời Chúa, nên Ngài thề là họ sẽ không được thấy đất mà Ngài hứa với tổ tiên sẽ ban cho họ, một vùng đất phì nhiêu.
JOS 5:7 Con cái họ thay thế họ. Nhưng không có đứa con nào sinh ra dọc đường từ Ai-cập được cắt dương bì cả, nên Giô-suê cắt dương bì cho chúng.
JOS 5:8 Sau khi dân Ít-ra-en đã được cắt dương bì, họ lưu lại trong lều cho đến khi lành.
JOS 5:9 Sau đó Chúa bảo Giô-suê, “Lúc làm nô lệ ở Ai-cập, các ngươi chịu hổ nhục, nhưng hôm nay ta đã lấy cái nhục đó ra khỏi các ngươi.” Cho nên Giô-suê đặt tên nơi đó là Ghinh-ganh, tên nầy vẫn còn cho đến nay.
JOS 5:10 Dân Ít-ra-en đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô. Họ cử hành Lễ Vượt Qua tại đó, vào buổi chiều tối ngày mười bốn của tháng.
JOS 5:11 Sau ngày Lễ Vượt Qua, dân chúng dùng thổ sản của xứ: bánh mì không men và gạo rang.
JOS 5:12 Vào ngày họ bắt đầu dùng thực phẩm của xứ thì ma-na hết, không xuống nữa. Dân Ít-ra-en không còn nhận được ma-na từ trời nữa. Dân chúng ăn thổ sản của xứ Ca-na-an trong năm đó.
JOS 5:13 Khi đang ở gần Giê-ri-cô, Giô-suê ngước lên thì thấy một người cầm gươm trong tay đứng trước mặt. Giô-suê tiến đến hỏi, “Anh là bạn hay thù?”
JOS 5:14 Người đó đáp, “Không phải bạn cũng chẳng phải thù. Ta đến để chỉ huy đạo quân của Chúa.” Nghe vậy, Giô-suê liền sấp mặt xuống đất nói, “Thưa tướng quân, Ngài truyền lệnh gì cho kẻ tôi tớ Ngài?”
JOS 5:15 Tướng chỉ huy đạo quân của Chúa bảo, “Hãy cởi giày ngươi ra vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.” Giô-suê liền làm theo.
JOS 6:1 Dân Giê-ri-cô rất lo sợ, vì dân Ít-ra-en đã đến gần. Họ đóng chặt các cổng thành và canh gác cẩn thận. Không ai được ra vào.
JOS 6:2 Chúa bảo Giô-suê, “Nầy, ta đã trao Giê-ri-cô, vua và quân sĩ, vào tay con.
JOS 6:3 Trong sáu ngày các con hãy đi vòng quanh thành mỗi ngày một lần.
JOS 6:4 Sắp xếp cho bảy thầy tế lễ, cầm kèn làm bằng sừng chiên đực, đi trước Rương. Sang ngày thứ bảy, các con hãy đi vòng quanh thành bảy lần, rồi bảo các thầy tế lễ vừa đi vừa thổi kèn.
JOS 6:5 Họ phải thổi một hồi kèn thật dài. Khi các con nghe tiếng kèn đó, thì mọi người phải la lớn lên. Lúc đó vách thành sẽ sập, mọi người phải xông thẳng vào thành.”
JOS 6:6 Giô-suê, con trai của Nun, liền gọi các thầy tế lễ lại bảo, “Các anh hãy khiêng Rương, và bảo bảy thầy tế lễ cầm kèn đi trước.”
JOS 6:7 Rồi Giô-suê hạ lệnh cho dân chúng, “Nào bây giờ hãy đi quanh thành. Các chiến sĩ có mang vũ khí sẽ đi trước Rương với Chúa.”
JOS 6:8 Sau khi Giô-suê vừa dứt lời thì bảy thầy tế lễ bắt đầu đi trước mặt Chúa. Họ cầm bảy cây kèn vừa đi vừa thổi. Còn các thầy tế lễ khiêng Rương với Chúa đi theo sau.
JOS 6:9 Các chiến sĩ, có mang vũ khí, đi trước các thầy tế lễ đang thổi kèn; và có một toán mang vũ khí đi sau Rương.
JOS 6:10 Nhưng Giô-suê đã dặn dân chúng không được hò hét. Ông bảo, “Đừng la. Không được nói tiếng nào cho đến ngày tôi bảo đồng bào. Lúc đó hãy la lên.”
JOS 6:11 Giô-suê cho khiêng Rương của Chúa đi quanh thành một vòng rồi trở về lều nghỉ đêm.
JOS 6:12 Sáng hôm sau Giô-suê dậy sớm bảo các thầy tế lễ khiêng Rương lần nữa.
JOS 6:13 Bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn đi trước Rương, vừa đi vừa thổi. Các chiến sĩ, có mang vũ khí, đi trước họ còn dân chúng thì đi sau Rương của Chúa. Trong lúc đó các thầy tế lễ thổi kèn.
JOS 6:14 Ngày thứ nhì họ đi vòng quanh thành một bận rồi trở về lều. Họ làm như vậy trong sáu ngày.
JOS 6:15 Đến ngày thứ bảy họ dậy thật sớm rồi đi quanh thành như những ngày trước. Nhưng riêng trong ngày đó họ đi vòng quanh thành bảy lần.
JOS 6:16 Đến lần thứ bảy thì các thầy tế lễ thổi kèn. Rồi Giô-suê ra lệnh, “Bây giờ hãy la hét lên! Chúa đã giao thành nầy vào tay đồng bào đó!
JOS 6:17 Phải tiêu diệt thành cùng mọi thứ trong đó để làm của lễ dâng lên cho Chúa. Chỉ một mình cô gái điếm Ra-háp và những người trong nhà cô ta là được để cho sống thôi. Không được giết họ vì Ra-háp đã giấu hai người thám thính của chúng ta phái đến.
JOS 6:18 Các ngươi phải thận trọng, không được lấy cho mình những gì đã được quy định phải tiêu diệt, để làm của lễ dâng cho Chúa. Nếu ai lấy những món ấy mang về lều, các ngươi sẽ bị diệt và các ngươi sẽ mang tai họa đến cho toàn dân Ít-ra-en.
JOS 6:19 Tất cả những vật bằng bạc và vàng cùng đồ làm bằng đồng hay sắt đều thuộc về Chúa. Phải mang vào kho Ngài.”
JOS 6:20 Khi các thầy tế lễ thổi kèn, dân chúng liền la hét lên. Vừa nghe tiếng kèn, dân chúng la hét vang lên, lúc ấy vách thành liền đổ sập, mỗi người vội chạy thẳng vào thành. Dân Ít-ra-en đánh chiếm thành này như thế đó.
JOS 6:21 Họ dùng gươm tiêu diệt mọi sinh vật trong thành, đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé, súc vật, chiên, lừa.
JOS 6:22 Giô-suê bảo hai người đã thám thính xứ, “Các anh hãy vào nhà cô gái điếm mang cô và tất cả mọi người trong nhà ra ngay để giữ lời cam kết của các anh với cô ta.”
JOS 6:23 Hai người liền vào nhà mang Ra-háp, cha mẹ cô, anh em và mọi người trong nhà ra. Họ để gia đình cô ở một nơi an toàn ngoài doanh trại của dân Ít-ra-en.
JOS 6:24 Rồi dân Ít-ra-en phóng hỏa thiêu đốt thành cùng mọi thứ trong đó, nhưng họ không thiêu những vật dụng bằng bạc, vàng, đồng hay sắt. Các món ấy được mang vào kho của Chúa.
JOS 6:25 Giô-suê giải cứu cô gái điếm Ra-háp, gia đình cô cùng mọi người trong nhà cô vì cô đã giúp đỡ hai người được phái đi do thám Giê-ri-cô. Ra-háp hiện nay vẫn còn sống giữa dân Ít-ra-en.
JOS 6:26 Sau đó Giô-suê tuyên bố lời thề sau, “Ai xây dựng lại thành Giê-ri-cô sẽ bị Chúa nguyền rủa. Dựng lại nền nó sẽ mất con trai đầu lòng, dựng cổng nó lại sẽ mất con trai út.”
JOS 6:27 Chúa ở cùng Giô-suê, nên danh tiếng ông vang dội khắp xứ.
JOS 7:1 Nhưng dân Ít-ra-en không vâng lời Chúa. Có một người tên A-can thuộc chi tộc Giu-đa. A-can là con của Cạt-mi, cháu Xáp-đi, con của Xê-ra. A-can giữ lại một vài thứ, đã được biệt riêng cho Chúa, nên Ngài nổi giận cùng dân Ít-ra-en.
JOS 7:2 Từ Giê-ri-cô, Giô-suê sai mấy người đến A-hi gần Bết A-ven, nằm về phía đông Bê-tên và dặn, “Các anh hãy đi do thám A-hi và toàn vùng.” Họ liền đi do thám A-hi.
JOS 7:3 Sau đó họ trở về tường trình cùng Giô-suê, “Dân A-hi ít lắm, không cần phải đưa toàn quân Ít-ra-en đánh làm gì. Chỉ cần hai ba ngàn quân là đủ, không cần toàn quân.”
JOS 7:4 Vì thế khoảng ba ngàn quân ra đi đánh A-hi nhưng họ bị dân A-hi đánh thảm bại.
JOS 7:5 Người A-hi giết độ ba mươi sáu người Ít-ra-en và rượt đuổi số quân còn lại chạy từ cổng thành suốt đến khu vực hầm đá và chém giết họ khi họ chạy xuống dốc. Thấy thảm trạng nầy toàn dân Ít-ra-en đâm ra mất tinh thần.
JOS 7:6 Giô-suê liền xé quần áo bày tỏ nỗi đau buồn. Ông quì sấp mặt xuống đất trước Rương của Chúa và ở đó suốt đêm. Các vị chỉ huy dân Ít-ra-en cũng làm như thế. Họ rắc bụi đất trên đầu để tỏ dấu hiệu bi thảm.
JOS 7:7 Giô-suê thưa, “Lạy Chúa, Ngài đã mang dân nầy qua sông Giô-đanh. Tại sao Ngài đưa chúng con đến đây để rồi dân A-mô-rít tiêu diệt chúng con? Chẳng thà chúng con cứ ở bên kia sông Giô-đanh còn hơn.
JOS 7:8 Lạy Chúa, con không biết nói gì nữa. Dân Ít-ra-en đã bị kẻ thù đánh bại.
JOS 7:9 Người Ca-na-an và các dân khác trong xứ sẽ nghe chuyện nầy, họ sẽ vây và tiêu diệt chúng con! Rồi Chúa sẽ làm sao để giữ uy danh Ngài?”
JOS 7:10 Chúa bảo Giô-suê, “Hãy đứng dậy! Tại sao con sấp mặt xuống đất?
JOS 7:11 Dân Ít-ra-en đã phạm tội; họ đã vi phạm giao ước mà ta đã dặn phải tôn trọng. Họ lấy một số đồ vật ta truyền phải tiêu diệt. Họ đã ăn cắp, nói dối và giữ các thứ đó riêng cho mình.
JOS 7:12 Vì lý do đó mà dân Ít-ra-en không thể đương đầu với kẻ thù. Họ phải quay lưng bỏ chạy vì ta truyền cho họ phải bị diệt. Ta không thể giúp các con được cho đến khi các con tiêu diệt những thứ ta dặn.
JOS 7:13 Bây giờ hãy ra tay! Chuẩn bị dân chúng cho thánh sạch. Bảo họ, ‘Ngày mai các ngươi hãy biệt mình riêng ra cho Chúa. Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en bảo rằng, một vài người trong các ngươi đã giữ riêng cho mình một số đồ vật Ngài dặn phải tiêu diệt. Các ngươi không thể thắng nổi kẻ thù cho đến khi các ngươi ném bỏ các thứ đó.
JOS 7:14 Sáng mai các ngươi phải ra trình diện theo chi tộc mình. Chúa sẽ chỉ ra một chi tộc để đứng trước mặt Ngài. Rồi Ngài sẽ chọn một họ hàng trong chi tộc đó đứng riêng ra. Sau đó Ngài lại sẽ chỉ ra một gia đình trong nhóm gia tộc ấy đứng trước mặt Ngài theo từng người một.
JOS 7:15 Người nào giữ lại đồ đã được dặn phải tiêu hủy sẽ bị hỏa thiêu. Mọi thứ thuộc về người cũng bị hoả thiêu luôn. Người đó đã vi phạm giao ước với Chúa và đã mang sỉ nhục đến cho dân Ít-ra-en!’”
JOS 7:16 Sáng sớm hôm sau Giô-suê đưa toàn dân Ít-ra-en ra trình diện theo từng chi tộc. Chúa chỉ ra chi tộc Giu-đa.
JOS 7:17 Các họ hàng Giu-đa ra trình diện, Chúa chỉ ra nhóm Xê-ra. Khi các gia đình thuộc họ Xê-ra trình diện thì gia đình Xáp-đi bị chỉ ra.
JOS 7:18 Giô-suê bảo từng người trong gia đình đó trình diện. Chúa chỉ ra A-can, con của Cạt-mi. Cạt-mi là con của Xáp-đi, Xáp-đi là con của Xê-ra.
JOS 7:19 Giô-suê liền hỏi A-can, “Con ơi, hãy khai thật đi. Hãy thú thật cùng Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en. Nói cho ta biết con đã làm gì, không được giấu diếm.”
JOS 7:20 A-can thưa, “Dạ đúng. Con đã phạm tội cùng Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en. Đây là điều con làm:
JOS 7:21 Trong số những của cướp được con thấy có một áo khoác Ba-by-lôn rất đẹp, khoảng năm cân bạc, một cân phần tư vàng. Con thèm muốn giữ những thứ nầy cho riêng mình cho nên con lấy cất. Những món đó hiện đang chôn dưới đất ở giữa lều con, bạc thì nằm bên dưới.”
JOS 7:22 Giô-suê cho người chạy đến lều, thì thấy các món đồ giấu ở đó, cùng với bạc.
JOS 7:23 Họ lấy các món ấy ra khỏi lều, mang đến cho Giô-suê và cả dân Ít-ra-en rồi bày ra dưới đất, trước mặt Chúa.
JOS 7:24 Sau đó Giô-suê và toàn dân Ít-ra-en dẫn A-can, con Xê-ra đến Thung lũng Quấy Rối. Họ cũng đem đến đó bạc, áo khoác, vàng, con trai, con gái ông, súc vật, lừa, chiên, lều và tất cả những thứ thuộc về ông.
JOS 7:25 Giô-suê bảo, “Ta không hiểu tại sao con gieo rắc rối cho chúng ta, giờ đây Chúa sẽ gieo rắc rối cho con.” Rồi dân chúng ném đá giết A-can và cả gia đình xong, hỏa thiêu họ.
JOS 7:26 Dân chúng chất một đống đá lên xác A-can. Đống đá ấy ngày nay vẫn còn. Vì thế người ta gọi chỗ đó là Thung Lũng A-cô. Rồi Chúa nguôi giận.
JOS 8:1 Sau đó Chúa bảo Giô-suê, “Đừng sợ cũng đừng nản lòng. Hãy dẫn tất cả các chiến sĩ con đi đánh A-hi. Ta sẽ giúp con thắng vua của A-hi, dân cư, thành trì và đất đai họ.
JOS 8:2 Con phải làm cho A-hi và vua nó như con đã làm cho Giê-ri-cô và vua thành ấy. Riêng lần nầy các con được phép lấy của cải họ và giữ riêng cho mình. Bây giờ hãy bảo một số quân lính phục kích phía sau thành.”
JOS 8:3 Giô-suê liền dẫn toàn đạo quân tiến về phía A-hi. Ông chọn ba mươi ngàn quân thiện chiến ra đánh ban đêm.
JOS 8:4 Giô-suê ra lệnh nầy cho họ, “Các anh em hãy nghe kỹ đây. Hãy đặt quân phục kích phía sau thành. Đừng phục kích quá xa nhưng phải canh phòng và chuẩn bị sẵn sàng.
JOS 8:5 Ta và đoàn quân theo sau sẽ tiến tới thành. Quân trong thành sẽ đổ ra đánh chúng ta như lần trước. Chúng ta sẽ giả bộ bỏ chạy.
JOS 8:6 Họ sẽ rượt đuổi chúng ta, chạy xa khỏi thành vì lầm tưởng chúng ta thua chạy như lần trước. Khi nào thấy chúng ta bỏ chạy,
JOS 8:7 thì các anh em phải ra khỏi chỗ phục kích và chiếm thành. Chúa, Thượng Đế chúng ta, sẽ ban cho các anh em năng lực chiếm thành.
JOS 8:8 Sau khi chiếm được thành, các anh em phải phóng hỏa đốt nó. Đó, lệnh ta như thế, phải thi hành cho đúng.”
JOS 8:9 Xong, Giô-suê sai quân phục kích giữa khoảng Bê-tên và A-hi, nằm về phía tây A-hi. Còn Giô-suê ngủ đêm với dân chúng.
JOS 8:10 Sáng sớm hôm sau Giô-suê tập họp quân sĩ lại. Ông và các vị chỉ huy lão thành hướng dẫn họ lên đánh A-hi.
JOS 8:11 Tất cả các quân sĩ cùng đi với Giô-suê tiến đến A-hi và dừng lại trước thành, đóng quân về phía bắc. Giữa thành và đội quân có một thung lũng ngăn cách.
JOS 8:12 Rồi Giô-suê chọn năm ngàn quân, cho phục kích về phía tây của thành, giữa khoảng Bê-tên và A-hi.
JOS 8:13 Họ nằm vào vị trí. Đạo quân chính đóng ở phía bắc thành phố, còn toán tập hậu nằm phía tây. Đêm đó Giô-suê đi xuống thung lũng.
JOS 8:14 Khi trông thấy đạo quân Ít-ra-en, vua A-hi liền cùng quân sĩ dậy sớm đổ ra đánh đuổi. Họ đến một nơi phía đông thành phố, nhưng vua A-hi không ngờ có toán quân phục kích phía sau thành.
JOS 8:15 Giô-suê và quân Ít-ra-en để cho quân A-hi đánh đuổi mình và bỏ chạy về phía sa mạc.
JOS 8:16 Các người dân thành A-hi được kêu ra rượt đuổi Giô-suê và quân sĩ ông, nên ai cũng bỏ thành đuổi theo họ.
JOS 8:17 Tất cả các trai tráng trong thành A-hi và Bê-tên rượt theo đạo quân Ít-ra-en. Thành phố hoàn toàn bị bỏ trống không ai bảo vệ.
JOS 8:18 Đoạn Chúa bảo Giô-suê, “Hãy giơ gươm con chỉ về phía A-hi vì ta đã trao thành đó vào tay con.” Giô-suê giơ gươm chỉ về phía A-hi.
JOS 8:19 Khi thấy vậy, toán quân Ít-ra-en đang phục kích liền ra khỏi vị trí, vội vàng xông vào thành. Họ chiếm và lập tức phóng hỏa đốt thành.
JOS 8:20 Người A-hi quay lại thì thấy khói bốc lên khỏi thành. Cùng lúc đó người Ít-ra-en thôi chạy và quay lại đánh người A-hi đang bị dồn vào thế kẹt, không lối thoát.
JOS 8:21 Khi thấy toán quân mình đã chiếm được thành và thấy khói bốc lên, Giô-suê và quân sĩ ông liền thôi chạy và quay lại đánh người A-hi.
JOS 8:22 Toán quân phục kích cũng ra khỏi thành tiếp tay chiến đấu. Thế là quân A-hi bị kẹp giữa hai toán quân Ít-ra-en. Không ai thoát được. Người Ít-ra-en đánh giết sạch người A-hi, không ai sống sót ngoại trừ
JOS 8:23 vua A-hi bị bắt sống và bị giải đến trước mặt Giô-suê.
JOS 8:24 Trong khi chiến đấu, đạo quân Ít-ra-en đánh đuổi người A-hi vào đồng ruộng và sa mạc rồi giết tất cả. Sau đó họ trở lại A-hi giết hết mọi người trong thành.
JOS 8:25 Toàn thể dân cư A-hi đều bị giết hôm đó gồm mười hai ngàn người vừa đàn ông, đàn bà.
JOS 8:26 Giô-suê giơ gươm chỉ về hướng A-hi để làm dấu hiệu tiêu diệt thành. Ông chỉ rút gươm lại sau khi toàn thể dân cư A-hi đã bị tiêu diệt.
JOS 8:27 Dân Ít-ra-en giữ cho mình gia súc và những của cải của người A-hi theo như Chúa dặn Giô-suê thi hành.
JOS 8:28 Rồi Giô-suê đốt thành A-hi và biến nó thành một đống gạch vụn. Ngày nay vẫn còn vết tích.
JOS 8:29 Giô-suê ra lệnh treo vua A-hi lên cây cho đến chiều tối. Khi mặt trời lặn Giô-suê cho hạ thây vua xuống, rồi ném ngay cửa thành. Rồi họ chất một đống đá lên, đến nay vẫn còn.
JOS 8:30 Giô-suê xây một bàn thờ cho Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en trên núi Ê-banh
JOS 8:31 như Mô-se, tôi tớ Chúa đã dặn. Giô-suê xây bàn thờ theo chỉ dẫn trong Sách Giáo Huấn của Mô-se. Bàn thờ làm bằng đá chưa đẽo; người ta không dùng dụng cụ nào để đẽo các tảng đá nầy cả. Trên bàn thờ nầy, người Ít-ra-en dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu cho Chúa.
JOS 8:32 Cũng tại đây Giô-suê ghi những lời giáo huấn của Mô-se lên bảng đá cho toàn dân Ít-ra-en thấy.
JOS 8:33 Các lãnh đạo lão thành, các sĩ quan, quan án và toàn thể dân Ít-ra-en đều có mặt tại đó; những người Ít-ra-en và không phải Ít-ra-en đều đứng quanh Rương của Chúa trước mặt các thầy tế lễ và người Lê-vi là những người khiêng Rương. Phần nửa dân chúng đứng trước núi Ê-banh, còn phần nửa kia đứng trước núi Ga-ri-xim. Đó là cách mà Mô-se, tôi tớ Chúa đã dặn để chúc phước cho dân chúng.
JOS 8:34 Rồi Giô-suê đọc những lời giáo huấn, lời chúc lành và lời nguyền rủa, đúng theo như Sách Giáo Huấn ghi chép.
JOS 8:35 Sau khi toàn thể dân Ít-ra-en tập họp lại, gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng với những người không phải Ít-ra-en đang cư ngụ chung với họ, thì Giô-suê đọc tất cả những huấn lệnh Mô-se đã truyền.
JOS 9:1 Các vua Hê-tít, A-mô-rít, Ca-na-an, Phê-ri-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít là những vua phía tây sông Giô-đanh, đã nghe biết về những sự việc đó. Họ sống trong các vùng núi non và các đồi phía tây dọc theo suốt bờ biển Địa-Trung-hải.
JOS 9:2 Cho nên các vua đó họp nhau lại để đánh Giô-suê và dân Ít-ra-en.
JOS 9:3 Khi người Ghi-bê-ôn nghe Giô-suê đã đánh bại Giê-ri-cô và A-hi,
JOS 9:4 thì họ liền tìm cách phỉnh gạt dân Ít-ra-en. Họ gom các bao cũ và các bầu da rượu cũ bị nứt và vá lại, xong, chất lên lưng lừa.
JOS 9:5 Họ mang giày cũ, mặc áo quần cũ, đồng thời mang theo bánh mì khô đã lên mốc.
JOS 9:6 Rồi họ đến gặp Giô-suê nơi lều quân gần Ghinh-ganh. Họ nói với Giô-suê và dân Ít-ra-en, “Chúng tôi từ xứ rất xa đến đây. Xin hãy lập hòa ước với chúng tôi.”
JOS 9:7 Người Ít-ra-en bảo những người Hê-vít nầy rằng, “Biết đâu các anh ở gần chúng tôi đây. Vậy làm sao chúng tôi lập hòa ước với các anh được?”
JOS 9:8 Người Hê-vít thưa với Giô-suê, “Chúng tôi đây là tôi tớ của các ông.” Nhưng Giô-suê hỏi, “Các anh là ai? Ở đâu đến?”
JOS 9:9 Họ đáp, “Kẻ tôi tớ các ông đến từ một xứ rất xa vì chúng tôi đã nghe uy danh Chúa là Thượng Đế các ông. Chúng tôi đã nghe những việc Ngài làm và nhất là tại Ai-cập.
JOS 9:10 Chúng tôi cũng nghe Ngài đã đánh bại hai vua A-mô-rít bên bờ phía đông sông Giô-đanh, tức Xi-hôn vua Hết-bôn và Óc, vua của Ba-san cai trị ở Ách-ta-rốt.
JOS 9:11 Cho nên các bô lão và dân cư chúng tôi bảo, ‘Hãy mang lương thực theo dọc đường và đến gặp dân Ít-ra-en. Nói với họ, Chúng tôi là tôi tớ các ông. Xin hãy lập hòa ước với chúng tôi.’
JOS 9:12 Các ông xem bánh mì chúng tôi mang theo đây. Ngày chúng tôi rời xứ ra đi bánh còn nóng dòn nhưng bây giờ đã khô và mốc meo hết.
JOS 9:13 Còn các bầu rượu bằng da của chúng tôi cũng vậy. Trước đây còn mới và đầy rượu mà bây giờ đã cũ và nứt nẻ. Quần áo và giày dép chúng tôi cũng cũ mòn vì đi đường xa.”
JOS 9:14 Người Ít-ra-en nhận một số lương thực của họ mà không cầu hỏi ý Chúa.
JOS 9:15 Vậy Giô-suê đồng ý lập hòa ước với người Ghi-bê-ôn và để họ sống. Các lãnh tụ Ít-ra-en tuyên thệ giữ giao ước.
JOS 9:16 Ba ngày sau khi lập hòa ước, dân Ít-ra-en mới khám phá ra rằng người Ghi-bê-ôn vốn ở gần đó thôi.
JOS 9:17 Sau ba ngày đường, dân Ít-ra-en đến nơi các thành của họ: Ghi-bê-ôn, Kép-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át Giê-a-rim.
JOS 9:18 Nhưng dân Ít-ra-en không tấn công các thành ấy vì đã lập ước với họ trước mặt Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en. Toàn dân Ít-ra-en trách móc các lãnh tụ.
JOS 9:19 Nhưng các lãnh tụ đáp, “Chúng ta đã cam kết trước mặt Chúa, là Thượng Đế của Ít-ra-en, nên bây giờ chúng ta không thể đánh họ được.
JOS 9:20 Bây giờ chúng ta phải làm thế nầy. Hãy để cho họ sống, nếu không cơn giận của Chúa sẽ đổ trên chúng ta vì bội lời thề ước.
JOS 9:21 Cho nên cứ để cho họ sống, nhưng bắt họ phải đốn củi, xách nước cho dân ta.” Vậy các lãnh tụ giữ lời giao ước với người Ghi-bê-ôn.
JOS 9:22 Giô-suê gọi người Ghi-bê-ôn lại hỏi, “Sao các anh gạt chúng tôi? Xứ các anh ở gần lều quân chúng tôi đây, nhưng các anh bảo là đến từ xứ rất xa.
JOS 9:23 Bây giờ các anh sẽ bị nguyền rủa và làm tôi mọi chúng tôi suốt đời. Các anh phải đốn củi và xách nước cho nhà của Thượng Đế chúng tôi.”
JOS 9:24 Người Ghi-bê-ôn giải thích với Giô-suê, “Chúng tôi nói dối với các ông là vì chúng tôi sợ các ông sẽ giết chúng tôi. Chúng tôi nghe rằng Chúa là Thượng Đế các ông truyền lệnh cho Mô-se, tôi tớ Ngài, ban cho các ông đất nầy và phải giết hết mọi dân cư sống trong đó.
JOS 9:25 Bây giờ các ông xử với chúng tôi ra sao cũng được tùy ý.”
JOS 9:26 Cho nên Giô-suê cứu mạng họ, không cho phép người Ít-ra-en giết họ
JOS 9:27 nhưng bắt người Ghi-bê-ôn làm tôi mọi để đốn củi và xách nước cho dân Ít-ra-en và cho bàn thờ của Thượng Đế, bất cứ nơi nào Ngài chọn. Hiện nay họ vẫn còn làm như vậy.
JOS 10:1 Lúc đó A-đô-ni-xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem nghe tin Giô-suê đã đánh bại A-hi và hủy diệt hoàn toàn thành đó giống như Giê-ri-cô và vua thành đó. Sau khi nghe thêm rằng, người Ghi-bê-ôn đã lập hòa ước với dân Ít-ra-en và sống gần họ,
JOS 10:2 thì A-đô-ni-xê-đéc và toàn dân vô cùng sợ hãi vì Ghi-bê-ôn không phải là thành nhỏ như A-hi mà là đế đô, còn các trai tráng đều là binh sĩ thiện chiến.
JOS 10:3 Nên A-đô-ni-xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem liền sai người đến Hô-ham, vua Hếp-rôn, Phi-ram, vua Giạt-mút, Gia-phia, vua La-kích, và Đê-bia, vua Éc-lôn, khẩn cầu rằng,
JOS 10:4 “Hãy đến giúp tôi đánh Ghi-bê-ôn vì họ đã lập hòa ước với Giô-suê và dân Ít-ra-en.”
JOS 10:5 Vậy năm vua A-mô-rít đó, tức vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-kích và vua Éc-lôn tập họp quân sĩ đến bao vây và tấn công Ghi-bê-ôn.
JOS 10:6 Người Ghi-bê-ôn sai sứ giả đến trại quân tại Ghinh-ganh báo với Giô-suê rằng, “Xin đừng bỏ rơi các tôi tớ ông. Hãy mau đến cứu giúp chúng tôi. Các vua A-mô-rít từ vùng núi đã liên kết lực lượng đánh chúng tôi.”
JOS 10:7 Giô-suê cùng toàn quân từ Ghinh-ganh ra đi, mang theo đoàn quân thiện chiến,
JOS 10:8 Chúa phán cùng Giô-suê, “Đừng sợ các đạo quân đó vì ta sẽ trao chúng vào tay con. Không đạo quân nào có thể thắng nổi con được.”
JOS 10:9 Giô-suê và quân sĩ vội vàng kéo đến giúp. Họ từ Ghinh-ganh ra đi suốt đêm.
JOS 10:10 Khi quân Ít-ra-en bắt đầu tấn công, thì Chúa làm rối loạn hàng ngũ đối phương cho nên dân Ít-ra-en thắng lớn ở Ghi-bê-ôn. Quân Ít-ra-en rượt đuổi chúng tới dốc Bết-hô-rôn và giết họ đến A-xê-ca và Ma-kê-đa.
JOS 10:11 Đang khi quân Ít-ra-en đuổi quân thù chạy xuống đèo Bết-hô-rôn đến A-xê-ka, Chúa khiến mưa đá lớn từ trời rơi xuống giết chúng. Số bị giết vì mưa đá còn nhiều hơn số chết vì gươm của quân Ít-ra-en.
JOS 10:12 Trong ngày mà Chúa trao quân A-mô-rít vào tay dân Ít-ra-en, Giô-suê đứng trước mặt toàn dân Ít-ra-en và xin Chúa rằng, “Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Ghi-bê-ôn. Hỡi mặt trăng, hãy dừng lại trên thung lũng A-gia-lôn.”
JOS 10:13 Mặt trời liền đứng yên, mặt trăng liền dừng lại cho đến chừng dân chúng đã hoàn toàn đánh bại quân thù. Những điều đó được ghi trong sách của Gia-xa. Mặt trời dừng ngay giữa trời và không lặn suốt một ngày.
JOS 10:14 Chuyện đó từ trước chưa bao giờ xảy ra và sau nầy cũng chẳng hề có nữa. Đó là ngày mà Chúa nhậm lời một con người. Quả vậy, Chúa đã chiến đấu cho dân Ít-ra-en!
JOS 10:15 Sau đó, Giô-suê và toàn quân trở về lều ở Ghinh-ganh.
JOS 10:16 Đang khi đánh nhau, năm vua chạy trốn trong một hang gần Ma-kê-đa
JOS 10:17 nhưng có người thấy các vua trốn trong đó nên mách với Giô-suê.
JOS 10:18 Giô-suê liền ra lệnh, “Lấy các tảng đá lớn lấp miệng hang lại, cắt người canh giữ.
JOS 10:19 Nhưng các anh em không được ở đó mà phải tiếp tục rượt đuổi quân thù, đánh tập hậu. Đừng để chúng chạy thoát vào thành vì Chúa, là Thượng Đế các anh em, sẽ trao chúng nó vào tay các anh em.”
JOS 10:20 Và sau khi Giô-suê cùng quân Ít-ra-en tàn sát quân thù, thì chỉ có một số ít chạy thoát vào được các thành có vách kiên cố,
JOS 10:21 còn các binh sĩ của Giô-suê trở về bình yên ở Ma-kê-đa. Không ai dám buông lời nào chống nghịch dân Ít-ra-en nữa.
JOS 10:22 Giô-suê bảo, “Đẩy các tảng đá lấp miệng hang ra và mang năm vua đó đến đây cho ta.”
JOS 10:23 Quân lính của Giô-suê liền mang năm vua ra khỏi hang, tức vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-kích và vua Éc-lôn.
JOS 10:24 Khi họ giải năm vua đến, Giô-suê cho gọi các quân sĩ lại. Ông bảo các viên chỉ huy của đoàn quân, “Lại đây đạp lên cổ các vua nầy.” Họ liền đến đạp lên cổ các vua ấy.
JOS 10:25 Rồi Giô-suê bảo, “Phải dũng cảm lên, đừng sợ, đây là điều Chúa sẽ làm cho những kẻ thù mà trong tương lai các anh em sẽ chiến đấu với.”
JOS 10:26 Rồi Giô-suê giết năm vua đó, treo xác lên năm cây cho đến chiều tối.
JOS 10:27 Khi mặt trời lặn Giô-suê bảo đem xác các vua xuống khỏi cây, ném thây họ vào hang mà họ đã trốn rồi lấy đá lớn lấp miệng hang lại, đến ngày nay vẫn còn.
JOS 10:28 Ngày đó Giô-suê đánh bại Ma-kê-đa. Ông giết vua thành đó và tàn sát mọi người trong thành, không một ai sống sót. Ông làm cho vua của Ma-kê-đa như đã làm cho vua của Giê-ri-cô.
JOS 10:29 Giô-suê và toàn quân Ít-ra-en từ Ma-kê-đa kéo đến tấn công thành Líp-na.
JOS 10:30 Chúa trao thành và vua đó vào tay họ. Họ giết hết mọi người trong thành, không chừa một ai. Họ làm cho vua thành đó như họ đã làm cho vua Giê-ri-cô.
JOS 10:31 Sau đó Giô-suê và quân Ít-ra-en rời Líp-na sang vây đánh La-kích.
JOS 10:32 Chúa trao thành La-kích vào tay họ vào ngày thứ nhì. Quân Ít-ra-en giết sạch mọi người trong thành như họ đã làm cho Líp-na.
JOS 10:33 Trong lúc đó Hô-ram, vua Ghê-xe-lên tiếp cứu La-kích nhưng Giô-suê đánh bại vua và toàn lực lượng, không ai sống sót.
JOS 10:34 Rồi Giô-suê và toàn quân Ít-ra-en từ La-kích lên đánh Éc-lôn. Họ bao vây và tấn công La-kích,
JOS 10:35 chiếm được thành nội ngày đó. Họ giết sạch dân cư trong thành, tuyệt diệt mọi thứ giống như họ đã làm cho La-kích.
JOS 10:36 Sau đó Giô-suê và quân Ít-ra-en từ Éc-lôn lên đánh Hếp-rôn,
JOS 10:37 chiếm được thành và các thị trấn phụ cận. Người Ít-ra-en giết sạch mọi người trong thành Hếp-rôn, không chừa một ai. Họ tận diệt thành ấy và toàn thể dân cư như họ đã làm cho Éc-lôn.
JOS 10:38 Tiếp đó Giô-suê và quân Ít-ra-en trở lại đánh Đê-bia.
JOS 10:39 Họ chiếm thành ấy, bắt vua và chiếm các thị trấn lân cận, tuyệt diệt mọi người trong thành Đê-bia; không chừa ai sống sót. Dân Ít-ra-en làm cho Đê-bia và vua nó như họ đã làm cho Líp-na, vua thành đó và cũng giống như họ làm cho Hếp-rôn.
JOS 10:40 Như thế Giô-suê chiến thắng vua của các thành thuộc những vùng sau đây: vùng núi non, vùng miền nam Ca-na-an, các đồi núi phía tây và các sườn dốc. Chúa, là Thượng Đế của Ít-ra-en, dặn bảo Giô-suê phải tận diệt toàn thể dân cư. Vì thế ông không chừa một ai sống sót trong những thành đó.
JOS 10:41 Giô-suê cũng chiếm các thành từ Ca-đe Ba-nê-a đến Ga-xa, và từ Gô-sen đến Ghi-bê-ôn.
JOS 10:42 Chỉ trong một cuộc hành quân, Giô-suê chiếm tất cả các thành đó và các vua; vì Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en, chiến đấu cho họ.
JOS 10:43 Sau đó Giô-suê và toàn quân Ít-ra-en trở về doanh trại ở Ghinh-ganh.
JOS 11:1 Khi Gia-bin, vua Hát-xo nghe biết những sự việc xảy ra, ông sai sứ giả đến Giô-áp, vua Ma-đôn, đến vua Sim-rôn và đến cùng vua của Ạc-sáp.
JOS 11:2 Ông cũng sai sứ đến các vua thuộc vùng núi phía bắc và các vua trong Thung Lũng sông Giô-đanh nằm phía nam hồ Ga-li-lê và vùng đồi thấp phía tây. Ông sai sứ đến vua Na-phốt Đô-rơ phía tây,
JOS 11:3 và các vua Ca-na-an về phía đông và phía tây. Ông cũng sai sứ đến dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-ri-xít và dân Giê-bu-xít trong vùng núi. Gia-bin sai một sứ giả đến dân Hê-vít sống dưới chân núi Hẹt-môn trong vùng Mích-ba.
JOS 11:4 Đạo quân của các vua nầy tập họp đông đảo cùng với ngựa và quân xa vô số. Quân lính họ đông như cát bãi biển.
JOS 11:5 Các vua ấy họp lại tại các suối Mê-rôm, kết hợp các lực lượng lại với nhau thành một đạo binh chung và bàn kế hoạch tấn công dân Ít-ra-en.
JOS 11:6 Bấy giờ Chúa bảo Giô-suê, “Đừng sợ chúng nó, vì ngày mai vào giờ nầy, ta sẽ trao chúng nó vào tay con. Con sẽ cắt nhượng ngựa và đốt các quân xa của chúng nó.”
JOS 11:7 Giô-suê và toàn đạo binh ông liền mở cuộc tấn công bất ngờ đối phương ở gần các suối Mê-rôm.
JOS 11:8 Chúa trao chúng vào tay quân Ít-ra-en. Họ rượt đuổi quân thù đến vùng ngoại ô Xi-đôn, đến Mít-xê-rốt Ma-im và đến Thung lũng Mích-ba về hướng đông. Quân Ít-ra-en đánh chúng tan tác đến khi không còn ai sống sót.
JOS 11:9 Giô-suê làm như Chúa dặn: ông cắt nhượng ngựa và đốt các xe cộ của chúng.
JOS 11:10 Rồi Giô-suê trở lại đánh chiếm Hát-xo, giết vua thành đó. (Hát-xo là nước đứng đầu các vương quốc chống lại dân Ít-ra-en.)
JOS 11:11 Quân Ít-ra-en tàn sát toàn thể dân cư Hát-xo, không chừa ai sống sót. Xong họ thiêu hủy thành Hát-xo.
JOS 11:12 Giô-suê đánh chiếm các thành đó, giết tất cả các vua và hoàn toàn tiêu diệt mọi thứ trong các thành chiếm được. Ông làm đúng như Mô-se, tôi tớ Chúa, căn dặn.
JOS 11:13 Nhưng dân Ít-ra-en không đốt các thành xây trên núi, ngoại trừ Hát-xo mà Giô-suê đã đốt.
JOS 11:14 Dân Ít-ra-en chiếm lấy cho mình những của cải các thành ấy luôn cả gia súc. Còn dân cư thì họ giết sạch, không chừa một ai.
JOS 11:15 Trước đó khá lâu, Chúa đã căn dặn tôi tớ Ngài, là Mô-se, phải làm như thế. Mô-se dặn lại Giô-suê. Nên Giô-suê làm y theo mọi điều Chúa dặn bảo Mô-se.
JOS 11:16 Giô-suê đánh bại các dân tộc trong xứ. Ông kiểm soát vùng núi và miền nam xứ Ca-na-an, tất cả vùng Gô-sen, các núi phía tây và Thung lũng Giô-đanh. Ông cũng kiểm soát vùng núi Ít-ra-en và các vùng đồi núi phụ cận.
JOS 11:17 Giô-suê kiểm soát toàn vùng đất từ núi Ha-lác gần Ê-đôm đến Ba-anh Gát trong thung lũng Li-băng, dưới chân núi Hẹt-môn. Giô-suê cũng bắt giết các vua trong vùng đó.
JOS 11:18 Ông tranh chiến cùng các vua nầy trong một thời gian khá lâu.
JOS 11:19 Chỉ có dân của một thành duy nhất trong vùng, là dân Hê-vít sống ở Ghi-bê-ôn, lập hòa ước với dân Ít-ra-en. Tất cả các thành khác đều bị đánh bại.
JOS 11:20 Chúa khiến các dân tộc đó ương ngạnh chống nghịch dân Ít-ra-en để Ngài có cớ tuyệt diệt họ không thương xót. Đó là điều Chúa dặn bảo Mô-se.
JOS 11:21 Trong lúc đó Giô-suê đánh dân A-nác sống trong vùng núi non Hếp-rôn, Đê-bia, A-náp, Giu-đa, và Ít-ra-en. Ông tuyệt diệt dân cư và tiêu hủy thành họ.
JOS 11:22 Không còn người A-nác nào sống trong đất Ít-ra-en nữa. Chỉ có một số nhỏ còn lại sống ở Ga-xa, Gát và Ách-đốt.
JOS 11:23 Giô-suê kiểm soát toàn lãnh thổ Ít-ra-en như Chúa dặn Mô-se trước đó khá lâu. Ngài ban đất cho dân Ít-ra-en như Ngài đã hứa với họ. Rồi Giô-suê chia đất đai cho các chi tộc Ít-ra-en. Và xứ được hưởng thái bình.
JOS 12:1 Dân Ít-ra-en kiểm soát vùng đất phía đông sông Giô-đanh từ suối Ạc-nôn cho đến núi Hẹt-môn và toàn vùng đất dọc theo phía đông sông Giô-đanh. Những vùng đất nầy thuộc về các vua mà dân Ít-ra-en đã đánh bại.
JOS 12:2 Xi-hôn, vua dân A-mô-rít cư ngụ trong thành Hết-bôn và cai trị dải đất từ A-rô-e nơi suối Ạc-nôn cho đến sông Gia-bốc. Đất của vua Xi-hôn bắt đầu từ giữa suối, tức ranh giới với dân Am-môn. Xi-hôn cai trị hơn phân nửa đất Ghi-lê-át
JOS 12:3 và lấn qua phía đông Thung lũng sông Giô-đanh từ hồ Ga-li-lê cho đến Biển Chết. Ông cai trị từ Bết Giê-si-mốt về phía nam cho đến các sườn đồi Phích-ga.
JOS 12:4 Óc, vua của Ba-san là một trong những vị vua cuối cùng của dân Rê-phai. Vua cai trị vùng đất từ Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.
JOS 12:5 Ông cũng cai trị vùng núi Hẹt-môn, Xa-lê-ca và toàn vùng Ba-san cho đến khu vực dân Ghê-su-rơ và Ma-a-ca sinh sống. Vua Óc cũng cai trị phần nửa đất Ghi-lê-át đến ranh giới của Xi-hôn, vua Hết-bôn.
JOS 12:6 Mô-se, tôi tớ của Chúa, cùng dân Ít-ra-en đánh bại các vua nầy, rồi Mô-se cấp phần đất đó cho các chi tộc Ru-bên, Gát và Ma-na-xe phía đông làm sản nghiệp.
JOS 12:7 Giô-suê và dân Ít-ra-en cũng đánh thắng các vua thuộc miền đất phía tây sông Giô-đanh. Ông cho dân chúng dải đất đó và phân chia lãnh thổ cho mười hai chi tộc làm sản nghiệp. Lãnh thổ đó nằm giữa Ba-anh Gát trong Thung Lũng Li-băng và núi Ha-lác gần Ê-đôm.
JOS 12:8 Xứ đó gồm các núi và đồi phía tây, Thung Lũng sông Giô-đanh, vùng sườn đồi, vùng sa mạc và vùng nam Ca-na-an. Đó cũng là vùng đất mà dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-ri-xít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-xít cư ngụ. Dân Ít-ra-en đánh bại vua của các thành sau đây:
JOS 12:9 Giê-ri-cô, A-hi (gần Bê-tên),
JOS 12:10 Giê-ru-sa-lem, Hếp-rôn,
JOS 12:11 Giạt-mút, La-kích,
JOS 12:12 Éc-lôn, Ghê-xe,
JOS 12:13 Đê-bia, Ghê-đe,
JOS 12:14 Họt-ma, A-rát,
JOS 12:15 Líp-na, A-đu-lam,
JOS 12:16 Ma-đê-ca, Bê-tên,
JOS 12:17 Táp-bu-a, Hê-phe,
JOS 12:18 A-phéc, La-sa-rôn,
JOS 12:19 Ma-đôn, Hát-xo,
JOS 12:20 Sim-rôn Mê-rôn, Ạc-sáp,
JOS 12:21 Ta A-nác, Mê-ghi-đô,
JOS 12:22 Kê-đe, Giốc-nam ở Cạt-mên,
JOS 12:23 Đô-rơ (ở Na-phốt Đô-rơ), Gô-dim ở Ghinh-ganh và
JOS 12:24 Tiếc-xa. Tổng số các vua bị thua trận là ba mươi mốt.
JOS 13:1 Lúc Giô-suê đã cao tuổi, Chúa bảo ông, “Giô-suê ơi, con nay đã già rồi nhưng đất đai phải chiếm vẫn còn nhiều lắm.
JOS 13:2 Đây là các vùng đất còn lại: miền Ghê-su-rơ và đất của dân Phi-li-tin;
JOS 13:3 khu vực từ sông Si-ho giáp ranh giới Ai-Cập đến Éc-rôn về phía bắc, vốn thuộc dân Ca-na-an; năm lãnh tụ Phi-li-tin ở Ga-xa, Ách-đốt, Ách-kê-lôn, Gát, Éc-rôn và người A-vít,
JOS 13:4 sống ở miền nam xứ Ca-na-an; và Mê-ra thuộc dân Xi-đôn đến A-phéc, tận ranh giới dân A-mô-rít
JOS 13:5 người Ghê-ba-lít và vùng Li-băng nằm về phía đông Ba-anh Gát dưới chân núi Hẹt-môn cho đến Lê-bô Ha-mát.
JOS 13:6 Người Xi-đôn sống ở miền núi từ Li-băng cho đến Mít-rê-phốt Ma-im, nhưng ta sẽ đánh đuổi chúng nó ra trước khi dân Ít-ra-en đến với điều kiện là các con phải nhớ đến đất nầy khi con chia cho dân Ít-ra-en, như ta đã dặn con.
JOS 13:7 Bây giờ hãy chia đất cho chín chi tộc và chi tộc Ma-na-xe phía tây.”
JOS 13:8 Chi tộc Ma-na-xe phía đông, chi tộc Ru-bên và Gát đã nhận phần đất của họ. Mô-se tôi tớ Chúa đã cấp cho họ vùng đất phía đông sông Giô-đanh.
JOS 13:9 Đất của họ chạy từ A-rô-e nơi hố Ạc-nôn đến thị trấn nằm giữa hố, bao gồm toàn miền bình nguyên từ Mê-đê-ba cho đến Đi-bôn.
JOS 13:10 Tất cả các thị trấn do vua Xi-hôn, người A-mô-rít cai trị từ thành Hết-bôn đều nằm trong lãnh thổ đó. Dải đất kéo dài đến vùng dân A-mô-rít sinh sống.
JOS 13:11 Ghi-lê-át cũng nằm trong vùng đó và đồng thời bao gồm vùng dân Ghê-su-rơ và Ma-a-ca sinh sống, toàn cả núi Hẹt-môn, Ba-san cho đến tận Xa-lê-ca.
JOS 13:12 Toàn thể vương quốc của Óc, vua của Ba-san cũng nằm trong lãnh thổ nầy. Óc là một trong những vua Rê-pha cuối cùng. Trước kia vua nầy đã cai trị vùng Ách-ra-rốt và Ết-rê-i. Mô-se đã đánh bại và chiếm lấy đất đai họ.
JOS 13:13 Người Ít-ra-en không đánh đuổi được dân ở Ghê-su-rơ và Ma-a-ca cho nên hiện nay các dân nầy vẫn ở chung với người Ít-ra-en.
JOS 13:14 Chi tộc Lê-vi là chi tộc duy nhất không nhận được phần đất nào. Thay vào đó, sản nghiệp họ là các của lễ thiêu dâng cho Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en, như Ngài đã hứa với họ.
JOS 13:15 Mô-se đã cấp cho mỗi họ thuộc chi tộc Ru-bên một số đất đai:
JOS 13:16 Đất của họ chạy từ A-rô-e gần hố Ạc-nôn cho đến thị trấn Mê-đê-ba, gồm toàn vùng bình nguyên và thị trấn nằm giữa hố;
JOS 13:17 Hết-bôn và tất cả các thị trấn nằm trong bình nguyên: Đi-bôn, Ba-mốt Ba-anh và Bết-Ba-anh Mê-ôn,
JOS 13:18 Gia-hát, Kê-đê-mốt, Mê-phát,
JOS 13:19 Ki-ri-át-ta-im, Xíp-ma, Xê-rết Sa-ha nằm trên đồi trong thung lũng,
JOS 13:20 Bết-phê-ô, các sườn đồi Phích-ga, và Bết Giê-si-mốt.
JOS 13:21 Đó là đất bao gồm các thị trấn nằm trong bình nguyên và toàn thể các vùng mà vua Xi-hôn, vua dân A-mô-rít đã cai trị từ Hết-bôn. Mô-se đã đánh bại vua đó cùng với các vua dân Mi-đi-an trong số có Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ và Rê-ba. Tất cả các vua nầy họp với vua Xi-hôn để chiến đấu. Họ sống trong miền đó.
JOS 13:22 Dân Ít-ra-en giết rất nhiều người trong cuộc chiến, trong số đó có Ba-la-am, con trai Bê-ô, người dùng tà thuật để bói toán.
JOS 13:23 Địa phận của chi tộc Ru-bên có bờ sông Giô-đanh làm ranh giới. Vì thế đất cấp cho các họ hàng Ru-bên gồm các thị trấn và làng mạc vừa kể.
JOS 13:24 Đây là đất Mô-se cấp cho chi tộc Gát, cho toàn thể các họ hàng:
JOS 13:25 Vùng đất Gia-xa và tất cả các thị trấn Ghi-lê-át; phần nửa đất đai của dân Am-môn chạy dài đến A-rô-e gần Ra-ba;
JOS 13:26 vùng từ Hết-bôn đến Ra-mát Mích-ba và Bê-tô-nim; vùng từ Ma-ha-na-im đến đất Đê-bia;
JOS 13:27 trong thung lũng, Bết-Ha-ram, Bết-nim-ra, Xu-cốt và Xa-phôn, miền đất còn lại mà Xi-hôn vua Hết-bôn cai trị nằm về phía đông sông Giô-đanh chạy dài đến cuối hồ Ga-li-lê.
JOS 13:28 Các vùng đất nầy được cấp cho các họ hàng thuộc chi tộc Gát, gồm cả các thị trấn và làng mạc.
JOS 13:29 Sau đây là đất Mô-se cấp cho chi tộc Ma-na-xe miền đông. Phân nửa các họ hàng thuộc chi tộc Ma-na-xe được cấp vùng đất nầy:
JOS 13:30 Đất chạy từ Ma-ha-na-im và gồm toàn vùng Ba-san, vùng đất do Óc, vua của Ba-san cai trị; tất cả các thị trấn ở Giai-rơ thuộc Ba-san gồm tất cả sáu mươi thành;
JOS 13:31 phân nửa vùng Ghi-lê-át, Ách-ta-rốt và Ết-rê-i là các thành mà Óc, vua của Ba-san đã cai trị. Tất cả vùng đất nầy được cấp cho các họ hàng Ma-kia, con của Ma-na-xe; và phần nửa số con trai ông.
JOS 13:32 Mô-se đã cấp đất nầy cho các chi tộc vừa nói thuộc vùng bình nguyên Mô-áp, đối ngang sông Giô-đanh về phía đông Giê-ri-cô.
JOS 13:33 Nhưng Mô-se không cấp cho chi tộc Lê-vi phần đất nào vì Chúa, là Thượng Đế của Ít-ra-en, hứa rằng chính Ngài sẽ là sản nghiệp của họ.
JOS 14:1 Ê-lê-a-xa, thầy tế lễ, Giô-suê, con trai của Nun và lãnh đạo các chi tộc Ít-ra-en định đoạt vấn đề phân chia đất đai Ca-na-an cho dân chúng.
JOS 14:2 Trước kia Chúa đã truyền dặn Mô-se thể thức Ngài định cho dân chúng chọn đất. Dân chúng thuộc chín chi tộc rưỡi bắt thăm để nhận phần đất thuộc về mình.
JOS 14:3 Vì Mô-se đã cấp phần đất phía đông sông Giô-đanh cho hai chi tộc rưỡi, nhưng chi tộc Lê-vi không được cấp phần đất nào như các chi tộc khác cả.
JOS 14:4 Con cháu Giô-xép phân chia ra hai chi tộc: Ma-na-xe và Ép-ra-im. Còn chi tộc Lê-vi không được cấp đất. Họ chỉ được cấp một số thành để sinh sống và một số đồng cỏ để nuôi súc vật.
JOS 14:5 Chúa đã chỉ cho Mô-se thể thức chia đất cho các chi tộc Ít-ra-en, nên họ phân chia đất ra.
JOS 14:6 Một hôm có các người thuộc chi tộc Giu-đa đến gặp Giô-suê ở Ghinh-ganh; trong số có Ca-lép, con trai Giê-phu-nê người Kê-nít. Ca-lép nói với Giô-suê, “Chắc anh còn nhớ ở Ca-đe Ba-nê-a, Chúa có nói chuyện với Mô-se, tôi tớ Chúa, về anh và tôi.
JOS 14:7 Mô-se, tôi tớ Chúa, sai tôi đi thám thính xứ chúng ta sẽ đi đến. Lúc đó tôi đã bốn mươi tuổi. Khi trở về, tôi thuật cho Mô-se nhận định của tôi về xứ đó.
JOS 14:8 Mấy người khác, cùng đi với tôi, làm cho dân chúng hoảng sợ, nhưng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng Chúa sẽ cho chúng ta chiếm xứ đó.
JOS 14:9 Vì thế hôm ấy Mô-se có hứa với tôi, ‘Đất mà ngươi đã đặt chân đến sẽ thuộc về ngươi. Con cháu ngươi sẽ nhận lấy đất ấy đời đời. Ta sẽ cấp nó cho ngươi, vì ngươi hoàn toàn tin cậy nơi Chúa, Thượng Đế của ta.’”
JOS 14:10 “Vậy bây giờ anh thấy rằng Chúa đã giữ lời hứa Ngài. Ngài đã cho tôi còn sống trong bốn mươi lăm năm qua, từ lúc Ngài hứa như thế với Mô-se, suốt thời gian chúng ta đang lưu lạc trong sa mạc. Nay tôi đã tám mươi lăm tuổi.
JOS 14:11 Tôi vẫn còn tráng kiện như ngày Mô-se phái tôi đi và vẫn còn đủ sức chiến đấu như xưa.
JOS 14:12 Cho nên xin cấp cho tôi miền núi mà Chúa đã hứa với tôi trước đây. Thuở đó, anh đã nghe rằng dân A-nác, cư ngụ trong vùng đó, có thành trì rất lớn và rất kiên cố. Nhưng nhờ Chúa phù hộ, tôi sẽ đánh đuổi chúng ra như Ngài đã hứa.”
JOS 14:13 Giô-suê chúc phước cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê và cấp cho ông thành Hếp-rôn làm sản nghiệp.
JOS 14:14 Hếp-rôn hiện vẫn thuộc về gia đình Ca-lép, con trai Giê-phu-nê người Kê-nít, vì ông vững tin và vâng lời Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en.
JOS 14:15 Trước kia chỗ đó gọi là Ki-ri-át Ạc-ba, đặt theo tên Ạc-ba, vĩ nhân số một của dân A-nác. Sau đó xứ được hoà bình.
JOS 15:1 Phần đất cấp cho chi tộc Giu-đa được phân chia ra cho các họ hàng. Đất nầy chạy đến sa mạc Xin về phía cực nam, nơi biên giới Ê-đôm.
JOS 15:2 Ranh giới phía nam của đất Giu-đa bắt đầu từ cuối phía nam Biển Chết,
JOS 15:3 chạy dài về phía nam của Đèo Bọ Cạp đến sa mạc Xin. Từ đó giới hạn nầy băng qua phía nam Ca-đe Ba-nê-a và chạy dài quá Hết-rôn đến A-đa. Từ A-đa, biên giới rẽ qua Cạc-ca.
JOS 15:4 Ranh giới tiếp tục chạy tới Át-môn rồi đổ ra biển ở Suối Ai-Cập. Đó là ranh giới phía nam.
JOS 15:5 Ranh giới phía đông là bờ Biển Chết, chạy dài tới cửa sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc bắt đầu từ vịnh của biển nơi cửa sông Giô-đanh.
JOS 15:6 Rồi chạy đến Bết Hốt-la và tiếp tục chạy dài đến phía bắc Bết-a-ra-ba tới hòn đá Bô-han theo tên của con trai Ru-bên.
JOS 15:7 Ranh giới phía bắc băng ngang Thung lũng A-cô tới Đê-bia, rồi rẽ về hướng Bắc chạy tới Ghinh-ganh. Ghinh-ganh nằm đối ngang con đường đi qua đèo A-đu-mim về phía nam của hố. Ranh giới nầy chạy dài tới các suối nước Ên-sê-mết và dừng lại ở Ên-rô-gen.
JOS 15:8 Ranh giới chạy qua Thung lũng Bên-Hi-nôm, sát sườn phía nam của thành Giê-bu-sít còn gọi là Giê-ru-sa-lem. Từ đó ranh giới nầy chạy lên đỉnh núi nằm về phía tây Thung lũng Hi-nôm ở đầu phía bắc của Thung lũng Rê-pha-im.
JOS 15:9 Từ đó ranh giới chạy đến suối Nép-tô-a, rồi đi qua các thành gần núi Ép-rôn. Đến đó, ranh giới rẽ qua phía Ba-a-la, cũng có tên là Ki-ri-át Giê-a-rim.
JOS 15:10 Từ Ba-a-la, ranh giới quay sang phía tây, rồi đổ về phía núi Sê-ia. Ranh giới tiếp tục chạy theo mạn bắc núi Giê-a-rim cũng gọi là Kê-sa-lôn, rồi đến Bết-sê-mết. Từ đó chạy qua Thim-na,
JOS 15:11 đến núi phía bắc Éc-rôn. Xong, rẽ về hướng Sít-kê-rôn và đi quá núi Ba-a-la, tiếp tục tới Giáp-nê-ên, rồi chấm dứt ở biển Địa-trung-hải.
JOS 15:12 Địa-trung-hải là ranh giới phía tây. Các họ hàng Giu-đa định cư trong các ranh giới vừa kể.
JOS 15:13 Chúa đã truyền cho Giô-suê cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê một phần đất Giu-đa, nên ông cấp cho Ca-lép thị trấn Ki-ri-át Ạc-ba, cũng gọi là Hếp-rôn. (Ạc-ba là cha của A-nác.)
JOS 15:14 Ca-lép đánh đuổi ba gia đình A-nác đang sống ở Hếp-rôn: Sê-sai, A-hi-man, và Thanh-mai, tức con cháu A-nác.
JOS 15:15 Sau đó ông sang đánh dân Đê-bia. Trước kia Đê-bia mang tên Ki-ri-át Xê-phe.
JOS 15:16 Ca-lép tuyên bố, “Ta sẽ gả con gái ta là Ạc-xa cho người nào đánh chiếm được Ki-ri-át Xê-phe.”
JOS 15:17 Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, anh Ca-lép, đánh chiếm được thành nên Ca-lép gả Ạc-xa, con gái mình cho Ốt-ni-ên làm vợ.
JOS 15:18 Khi Ạc-xa về với Ốt-ni-ên, Ốt-ni-ên xúi nàng xin cha nàng một thửa ruộng. Cho nên Ạc-xa đi gặp cha mình. Khi nàng vừa xuống khỏi lưng lừa, Ca-lép hỏi, “Con cần gì?”
JOS 15:19 Ạc-xa thưa, “Xin cha cho con một đặc ân. Vì cha đã cho con đất miền nam Ca-na-an, con xin cha cho con luôn các suối nước.” Cho nên Ca-lép cho nàng các suối nước phía trên và phía dưới.
JOS 15:20 Chi tộc Giu-đa nhận được phần đất Thượng Đế đã hứa với họ. Mỗi họ hàng nhận được một phần đất.
JOS 15:21 Chi tộc Giu-đa nhận được các thị trấn sau đây thuộc miền cực nam gần ranh giới Ê-đôm: Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua,
JOS 15:22 Ki-na, Đi-mô-na, A-đa-đa,
JOS 15:23 Kê-đe, Hát-xo, Ít-nan,
JOS 15:24 Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt,
JOS 15:25 Hát-xo Ha-đát-ta, Kê-ri-ốt Hết-rôn cũng gọi là Hát-xo.
JOS 15:26 A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa,
JOS 15:27 Ha-xa Gát-đa, Hết-môn, Bết-Phê-lết,
JOS 15:28 Ha-xa Su-an, Bê-e-sê-ba, Bi-xi-ô-thi-a,
JOS 15:29 Ba-a-la, Y-im, Ê-xem,
JOS 15:30 Ên-tô-lát, Kê-xin, Họt-ma,
JOS 15:31 Xiếc-lác, Mát-ma-na, Xan-xa-na,
JOS 15:32 Lê-bao-ốt, Si-lim, A-in và Rim-môn. Tất cả là hai mươi chín thị trấn và thôn ấp.
JOS 15:33 Chi tộc Giu-đa nhận các thành sau đây nằm trên các núi phía tây: Ếch-ta-ôn, Xô-ra, Ách-na,
JOS 15:34 Xa-nô-a, Ên-ga-nin, Táp-bu-a, Ê-nam,
JOS 15:35 Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cốt, A-xê-ca,
JOS 15:36 Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im và Ghê-đê-ra, còn gọi là Ghê-đê-rô-tha-im. Tổng cộng mười bốn thành và thôn ấp.
JOS 15:37 Chi tộc Giu-đa cũng được cấp cho các thành sau đây nằm trên các núi phía tây: Xê-na, Ha-đa-sát, Mích-đanh-Gát,
JOS 15:38 Đi-liên, Mích-ba, Giốt-thên,
JOS 15:39 La-kích, Bô-cát, Éc-lôn,
JOS 15:40 Cáp-bông, La-mát, Kít-lích,
JOS 15:41 Ghê-đê-rốt, Bết Đa-gôn, Na-a-ma và Ma-kê-đa. Tổng cộng mười sáu thành và thôn ấp.
JOS 15:42 Chi tộc Giu-đa cũng được cấp cho các thành sau đây nằm trên các núi phía tây: Líp-na, Ê-the, A-san,
JOS 15:43 Íp-tha, Át-na, Nê-xíp,
JOS 15:44 Kê-i-la, Ạc-xíp và Ma-rê-sa. Tổng cộng chín thành và thôn ấp.
JOS 15:45 Chi tộc Giu-đa cũng được cấp cho các thành sau đây: Éc-rôn và các thị trấn nhỏ và thôn ấp phụ cận;
JOS 15:46 vùng phía tây Éc-rôn và thôn ấp cùng thị trấn nhỏ gần Ách-đốt.
JOS 15:47 Ách-đốt và các thị trấn nhỏ và thôn ấp nằm quanh đó; các thôn ấp và thị trấn nhỏ quanh Ga-xa chạy dài tới suối Ai-cập và dọc theo bờ biển Địa-trung-Hải.
JOS 15:48 Chi tộc Giu-đa cũng được cấp cho các thành sau đây nằm trong vùng núi: Sa-mia, Giát-tia và Sô-cô,
JOS 15:49 Đa-na, Ki-ri-át Xa-na, cũng gọi là Đê-bia.
JOS 15:50 A-náp, Ết-tê-mốt, A-nim,
JOS 15:51 Gô-sen, Hô-lôn và Ghi-lô. Tổng cộng mười một thành và thôn ấp.
JOS 15:52 Họ cũng được cấp cho các thành sau đây trong vùng núi: A-ráp, Đu-ma, Ết-san,
JOS 15:53 Gia-nim, Bết-Táp-bu-a, A-phê-ca,
JOS 15:54 Hum-ta, Ki-ri-át Ạc-ba, còn gọi là Hếp-rôn, và Xi-o. Tổng cộng chín thành và thôn ấp.
JOS 15:55 Chi tộc Giu-đa cũng được cấp cho các thành sau đây trong vùng núi: Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giút-ta,
JOS 15:56 Giê-rê-ên, Giốc-đim, Xa-nô-a,
JOS 15:57 Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na. Tổng cộng mười thành và thôn ấp.
JOS 15:58 Họ cũng được cấp cho các thành sau đây trong vùng núi: Han-hun, Bết-sua, Ghê-đo,
JOS 15:59 Ma-a-rát, Bết-a-nốt và Ên-tê-con. Tổng cộng sáu thành và thôn ấp.
JOS 15:60 Dân chúng Giu-đa cũng được cấp cho hai thành là Ráp-ba và Ki-ri-át-Ba-anh, còn gọi là Ki-ri-át Giê-a-rim và các thôn ấp thuộc hai thành ấy.
JOS 15:61 Chi tộc Giu-đa được cấp các thành sau đây trong sa mạc: Bết A-ra-ba, Mít-đinh, Xê-ca-ca,
JOS 15:62 Níp-san, thành phố Muối, và Ên-ghê-đi. Tổng cộng sáu thành và thôn ấp.
JOS 15:63 Người Giu-đa không đánh đuổi nổi dân Giê-bu-sít ra khỏi Giê-ru-sa-lem, nên ngày nay người Giê-bu-sít vẫn còn sống giữa người Giu-đa.
JOS 16:1 Đây là phần đất mà chi tộc Giô-xép được cấp. Địa phận bắt đầu từ sông Giô-đanh gần Giê-ri-cô chạy dài đến các suối Giê-ri-cô, nằm về phía đông thành phố. Từ đó ranh giới chạy đến Núi Bê-tên.
JOS 16:2 Rồi từ Bê-tên, cũng gọi là Lút, đến ranh giới Ạc-kít ở A-ta-rốt.
JOS 16:3 Từ đó ranh giới nầy chạy về hướng tây đến ranh giới của dân Giáp-phê-lít và kéo dài tới vùng hạ Bết-hô-rôn, rẽ sang Ghê-xe, rồi chấm dứt ở biển.
JOS 16:4 Như thế hai chi tộc Ma-na-xe và Ép-ra-im, con trai Giô-xép, nhận được phần đất của mình.
JOS 16:5 Sau đây là phần đất cấp cho họ hàng Ép-ra-im: Ranh giới họ bắt đầu từ Át-ta-rốt A-đa về phía đông chạy lên vùng thượng Bết-hô-rôn,
JOS 16:6 rồi quay ra biển. Từ Mích-mê-thát về phía Bắc, ranh giới quay sang phía đông về hướng Ta-a-nác Si-lô và chạy dài về phía đông đến Gia-nô-a.
JOS 16:7 Rồi từ Gia-nô-a chạy xuống A-ta-rốt đến Na-a-ra. Từ đó ranh giới chạy tiếp tục đến khi đụng Giê-ri-cô và dừng ở sông Giô-đanh.
JOS 16:8 Ranh giới nầy đi từ Táp-bu-a về phía tây đến suối Ca-na và chấm dứt ở biển. Đó là tất cả vùng đất được cấp cho mỗi họ hàng thuộc chi tộc Ép-ra-im.
JOS 16:9 Thật ra có nhiều thị trấn nằm bên trong ranh giới của chi tộc Ma-na-xe, nhưng dân Ép-ra-im được cấp phát các thị trấn và thôn ấp đó.
JOS 16:10 Người Ép-ra-im không đánh đuổi được dân Ca-na-an ra khỏi vùng Ghê-xe, nên đến nay dân Ca-na-an vẫn sống chung với dân Ép-ra-im, nhưng phải làm tôi mọi cho họ.
JOS 17:1 Rồi người ta cấp đất cho chi tộc Ma-na-xe, con đầu lòng của Giô-xép. Con trưởng nam của Ma-na-xe là Ma-kia, cha của Ghi-lê-át. Ma-kia là chiến sĩ nổi danh, nên các vùng đất thuộc Ghi-lê-át và Ba-san được cấp cho gia đình ông.
JOS 17:2 Các họ hàng khác của Ma-na-xe cũng được cấp đất: A-bi-ê-xe, Hê-léc, Át-ri-ên, Sê-chem, Hê-phe, và Se-mi-đa. Đó là tên của các con trai còn lại của Ma-na-xe, con trai Giô-xép.
JOS 17:3 Xê-lô-phê-hát là con của Hê-phe, Hê-phe con của Ghi-lê-át, Ghi-lê-át con của Ma-kia, Ma-kia con của Ma-na-xe. Xê-lô-phê-hát không có con trai nhưng có năm con gái tên là Ma-la, Nô-a, Hóc-la, Minh-ca và Thiệt-xa.
JOS 17:4 Các cô nầy đi đến thầy tế lễ Ê-lê-a-xa, Giô-suê con trai của Nun, và các lãnh đạo Ít-ra-en và yêu cầu rằng, “Chúa dặn Mô-se phải cấp đất cho chúng tôi giống như mọi người khác.” Nên Ê-lê-a-sa vâng lệnh Chúa cấp đất cho các cô đó như các anh em khác trong gia tộc họ.
JOS 17:5 Như thế chi tộc Ma-na-xe nhận được mười khu đất phía tây sông Giô-đanh và hai vùng đất nữa là Ghi-lê-át và Ba-san, nằm về phía đông sông Giô-đanh.
JOS 17:6 Các con gái của Ma-na-xe cũng được cấp đất giữa vòng các con trai. Vùng Ghi-lê-át được cấp cho các họ hàng còn lại của Ma-na-xe.
JOS 17:7 Đất của Ma-na-xe nằm giữa vùng đất A-se và Mích-mê-thát, gần Sê-chem. Ranh giới chạy về phía nam đến địa phận Ên-táp-bu-a,
JOS 17:8 vốn thuộc về Ma-na-xe, ngoại trừ thị trấn Táp-bu-a. Thị trấn nầy nằm đọc theo ranh giới đất Ma-na-xe, nhưng thuộc về con cháu Ép-ra-im.
JOS 17:9 Ranh giới của Ma-na-xe tiếp tục chạy về phía nam đến suối Ca-na. Các thành Ma-na-xe trong vùng nầy thuộc về chi tộc Ép-ra-im. Ranh giới của Ma-na-xe nằm về phía bắc của suối và chạy ra tới biển.
JOS 17:10 Miền đất phía nam thuộc Ép-ra-im, còn vùng đất phía bắc thuộc Ma-na-xe. Địa-trung-hải được xem như ranh giới phía tây. Ranh giới đó đụng đất A-se về phía bắc và đất Y-xa-ca về phía đông.
JOS 17:11 Trong vùng đất Y-xa-ca và A-se, dân Ma-na-xe nhận được các thị trấn sau đây: Bết-san và các thị trấn nhỏ trong đó; Íp-lê-am và các thị trấn nhỏ; dân cư sống trong vùng Đô-rơ và các thị trấn nhỏ; dân cư vùng Na-phốt-Đô-rơ và các thị trấn nhỏ; dân cư vùng Ta-a-nác và các thị trấn nhỏ; dân cư Mê-ghi-đô và các thị trấn nhỏ.
JOS 17:12 Chi tộc Ma-na-xe không đánh chiếm nổi các thành nầy nên dân cư Ca-na-an vẫn tiếp tục cư ngụ trong đó.
JOS 17:13 Khi dân Ít-ra-en trở nên hùng mạnh thì bắt các dân ấy phục dịch mình, nhưng không buộc họ phải ra khỏi xứ.
JOS 17:14 Dân chúng thuộc các chi tộc của Giô-xép thưa với Giô-suê, “Ông chỉ cho chúng tôi có một mảnh đất mà dân chúng tôi lại đông. Tại sao ông chỉ cấp cho chúng tôi có một khoảnh trong toàn cả phần đất mà Chúa cấp cho dân Ngài?”
JOS 17:15 Giô-suê trả lời, “Nếu quá đông dân, thì các ngươi lên phá rừng dọn chỗ định cư giữa vùng đất dân Phê-ri-xít và dân Rê-pha-ít mà ở. Vùng núi Ép-ra-im không đủ rộng cho các ngươi đâu.”
JOS 17:16 Con cháu Giô-xép đáp, “Đúng vậy. Vùng núi Ép-ra-im đâu có đủ rộng cho chúng tôi, nhưng đất dân Ca-na-an đang ở rất nguy hiểm. Họ cũng là những tay thiện chiến. Họ còn có các vũ khí hùng mạnh ở Bết-san và các thị trấn nhỏ gần đó. Các dân tộc ở đầy Thung lũng Ghít-rê-ên cũng vậy.”
JOS 17:17 Sau đó Giô-suê bảo con cháu Giô-xép, tức người Ép-ra-im và Ma-na-xe rằng, “Các ngươi đông và hùng mạnh, nên phải được cấp nhiều đất hơn.
JOS 17:18 Các ngươi cũng sẽ nhận được vùng núi nữa. Đó là vùng rừng rú nhưng có thể đốn cây và định cư rất tốt. Các ngươi có thể chiếm cứ toàn vùng đó và có thể đánh đuổi người Ca-na-an đi, dù họ có vũ khí tối tân và hùng mạnh đi nữa.”
JOS 18:1 Toàn thể dân Ít-ra-en tập họp tại Si-lô nơi họ dựng Lều Họp. Toàn xứ bây giờ đã thuộc quyền kiểm soát của họ.
JOS 18:2 Nhưng vẫn còn bảy chi tộc chưa được cấp phát đất đai.
JOS 18:3 Nên Giô-suê bảo dân Ít-ra-en, “Các ngươi còn chần chờ gì nữa mà chưa đi chiếm xứ? Chúa, là Thượng Đế của tổ tiên, đã ban xứ nầy cho các ngươi rồi.
JOS 18:4 Vậy hãy chọn mỗi chi tộc ba người để tôi cử đi nghiên cứu xứ. Họ sẽ dùng giấy bút tường trình cho chi tộc mình về đất đai mà họ muốn chiếm, rồi sẽ trở về đây với tôi.
JOS 18:5 Anh em sẽ chia xứ ra làm bảy phần. Người Giu-đa sẽ giữ phần đất miền nam, còn con cháu Giô-xép sẽ giữ phần đất miền bắc.
JOS 18:6 Anh em hãy mô tả bảy phần đất bằng giấy mực hẳn hoi, rồi trình cho tôi xem. Xong tôi sẽ bắt thăm truớc mặt Chúa, là Thượng Đế chúng ta.”
JOS 18:7 Tuy nhiên người Lê-vi không nhận được phần đất nào trong đó, vì họ là các thầy tế lễ có nhiệm vụ phục vụ Chúa. Các chi tộc Gát, Ru-bên và Ma-na-xe phía đông đã nhận được phần đất hứa cho mình tức là vùng đông sông Giô-đanh. Mô-se, tôi tớ Chúa, đã cấp phần đất đó cho họ.
JOS 18:8 Sau đó, những người được chọn để nghiên cứu đất đai lên đường. Giô-suê dặn họ, “Các anh hãy đi nghiên cứu lãnh thổ và mô tả bằng giấy mực, rồi trở về trình cho tôi. Sau đó tôi sẽ bắt thăm trước mặt Chúa tại Si-lô đây.”
JOS 18:9 Họ khởi hành vào xứ. Họ mô tả tỉ mỉ từng thị trấn nằm trong bảy phần đất trên một cuộn giấy rồi trở về gặp Giô-suê, lúc đó vẫn còn ở trong lều quân tại Si-lô.
JOS 18:10 Tại đó, Giô-suê bắt thăm trước mặt Chúa để biết mỗi chi tộc sẽ nhận được phần đất nào.
JOS 18:11 Phần đất đầu tiên được cấp cho chi tộc Bên-gia-min. Mỗi họ hàng nhận được phần đất nằm giữa chi tộc Giu-đa và đất của Giô-xép. Sau đây là phần đất bắt thăm cho Bên-gia-min:
JOS 18:12 Ranh giới phía bắc bắt đầu từ sông Giô-đanh chạy dọc theo mạn bắc Giê-ri-cô rồi quay qua hướng tây chạy vào vùng núi. Ranh giới kéo dài cho đến phía đông Bết A-ven.
JOS 18:13 Từ đó ranh giới chạy về hướng nam đến Lu-xơ, cũng gọi là Bê-tên, rồi xuống đến A-ta-rốt-A-đa, nằm trên núi Giốt về phía nam của vùng hạ Bết-hô-rôn.
JOS 18:14 Từ đồi nầy về phía nam Bết-hô-rôn, ranh giới quay sang phía nam gần sườn đồi phía tây. Rồi nó chạy đến Ki-ri-át-Ba-anh, còn có tên là Ki-ri-át Giê-a-rim, thị trấn mà dân Giu-đa sinh sống. Đó là ranh giới phía tây.
JOS 18:15 Ranh giới phía nam bắt đầu từ Ki-ri-át Giê-a-rim chạy về hướng tây đến các suối Nếp-tô-a.
JOS 18:16 Từ đó nó rẽ xuống chân đồi, gần thung lũng Bên-Hi-nôm, nằm về phía bắc thung lũng Rê-pha-im, rồi chạy dài xuống thung lũng Hi-nôm, ngay phía nam của thành Giê-bu-sít đến Ên-rô-gen.
JOS 18:17 Từ đó nó quay qua hướng bắc suốt đến Ên-sê-mết. Nó tiếp tục chạy đến Ghê-li-ốt gần đèo A-đu-mim rồi rẽ xuống Hòn Đá Lớn tên là Bô-han, theo tên con của Ru-bên.
JOS 18:18 Ranh giới chạy đến phía Bắc của dốc Bết A-ra-ba rồi đổ xuống Thung lũng sông Giô-đanh.
JOS 18:19 Từ đó nó chạy lên khu vực miền bắc của dốc Bết Hốt-la và chấm dứt ở bờ phía bắc của Biển Chết, nơi sông Giô-đanh đổ vào Biển Chết. Đó là giới hạn phía Nam.
JOS 18:20 Sông Giô-đanh là ranh giới phía đông. Phần đất cấp cho họ hàng Bên-gia-min, có các ranh giới bao quanh bốn phía.
JOS 18:21 Họ hàng Bên-gia-min cũng nhận được các thành sau đây: Giê-ri-cô, Bết Hốt-la, Ê-méc-Kê-xi,
JOS 18:22 Bết A-ra-ba, Xê-ma-ra-im, Bê-tên,
JOS 18:23 A-vim, Pha-ra, Óp-ra,
JOS 18:24 Kê-pha-A-mô-ni, Óp-ni, và Ghê-ba. Tất cả mười hai thị trấn và thôn ấp.
JOS 18:25 Chi tộc Bên-gia-min cũng nhận được Ghi-bê-ôn, Ra-ma, Bê-ê-rốt,
JOS 18:26 Mích-ba, Kê-phi-ra, Mô-xa,
JOS 18:27 Rê-kem, Ích-bê-ên, Ta-ra-la,
JOS 18:28 Xê-la, Ha-ê-lép, thành của dân Giê-bu-sít tức Giê-ru-sa-lem, Ghi-bê-a, và Ki-ri-át. Tất cả là mười bốn thị trấn và thôn ấp. Đó là tất cả đất đai cấp cho họ hàng Bên-gia-min.
JOS 19:1 Phần đất thứ hai cấp cho chi tộc Xi-mê-ôn. Mỗi gia tộc nhận được một phần đất nằm bên trong địa phận Giu-đa.
JOS 19:2 Họ nhận được Bê-e-sê-ba, còn gọi là Sê-ba, Mô-la-đa,
JOS 19:3 Ha-xa-Su-anh, Ba-la, Ê-xem,
JOS 19:4 Ên-tô-lát, Bê-thun, Họt-ma,
JOS 19:5 Xiếc-lác, Bết-Mạc-ca-bốt, Ha-xa-Su-sa,
JOS 19:6 Bết-Lê-bao-ốt, và Sa-ru-hen. Tất cả mười ba thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:7 Họ nhận các thị trấn A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san, gồm bốn thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:8 Họ cũng nhận được tất cả các làng quanh các thị trấn ấy cho đến Ba-a-lát Bê-e. Vùng nầy cũng như Ra-ma thuộc miền nam Ca-na-an. Đó là các vùng đất cấp cho các họ hàng Xi-mê-ôn.
JOS 19:9 Đất cấp cho Xi-mê-ôn lấy một phần từ đất của Giu-đa. Vì Giu-đa có dư đất, nên người Xi-mê-ôn lấy một phần đất của họ.
JOS 19:10 Phần đất thứ ba được cấp cho chi tộc Xê-bu-lôn. Mỗi họ hàng Xê-bu-lôn nhận được một phần đất. Ranh giới Xê-bu-lôn chạy đến tận Sa-rít.
JOS 19:11 Nó đi về phía tây đến Ma-ra-la rồi đụng Đáp-bê-sết và kéo dài tới hố gần Giốc-nam
JOS 19:12 rồi rẽ về phía đông. Từ Sa-rít nó chạy tới vùng Kít-lốt-Ta-bo và chạy mãi đến Đa-bê-ra rồi tới Gia-phia.
JOS 19:13 Ranh giới tiếp tục chạy về hướng đông đến Gát-Hê-phe và Ết-Ka-xin, chấm dứt ở Rim-môn. Sau đó nó quay về phía Nê-a.
JOS 19:14 Về phía Bắc, ranh giới quay sang hướng Bắc đến Han-na-thôn rồi tiếp tục tới Thung lũng Íp-ta-ên.
JOS 19:15 Bên trong ranh giới nầy có các thành Kát-tát, Na-ha-lan, Sim-rôn, Y-đa-la và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:16 Đó là các thị trấn và thôn ấp cấp cho họ hàng Xê-bu-lôn.
JOS 19:17 Phần đất thứ tư được cấp cho chi tộc Y-xa-ca. Mỗi họ hàng của Y-xa-ca nhận được một phần đất.
JOS 19:18 Đất của họ gồm Ghít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem,
JOS 19:19 Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-ha-rát,
JOS 19:20 Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bét,
JOS 19:21 Rê-mết, Ên-Ga-nim, Ên-Ha-đa và Bết-Ba-giê.
JOS 19:22 Ranh giới của họ tiếp giáp một vùng gọi là Ta-bo, Sa-ha-giu-ma, và Bết-Sê-mết rồi dừng ở sông Giô-đanh. Tất cả có mười sáu thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:23 Các thành và thị trấn nầy là một phần lãnh thổ được cấp cho các họ hàng Y-xa-ca.
JOS 19:24 Phần đất thứ năm được cấp cho chi tộc A-se. Mỗi họ hàng của A-se nhận được một phần đất.
JOS 19:25 Đất của họ gồm Hên-cát, Ha-li, Bê-tên, Ạc-sáp,
JOS 19:26 A-la-mê-léc, A-mát, và Mi-sanh. Ranh giới phía tây tiếp giáp núi Cạt-mên và Si-ho Líp-nát.
JOS 19:27 Đoạn ranh giới quay sang phía đông chạy tới Bết Đa-gôn, tiếp giáp biên giới Xê-bu-lôn và Thung lũng Íp-ta-ên. Xong, quay sang hướng bắc của Bết-Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua phía bắc đến Ca-bun.
JOS 19:28 Từ đó nó chạy đến Áp-đôn, Rê-hốp, Ham-môn, và Ca-na; xong, tiếp tục chạy đến vùng Xi-đôn Lớn.
JOS 19:29 Sau đó ranh giới chạy trở về nam theo hướng Ra-ma và tiếp tục tới thành Tia, tức thành có vách kiên cố. Từ đó nó quay về phía Hô-sa, chấm dứt ở biển. Đó là vùng của Ạc-xíp,
JOS 19:30 U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả hai mươi hai thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:31 Những thành và thôn ấp nầy nằm trong phần đất cấp cho các họ hàng A-se.
JOS 19:32 Phần đất thứ sáu được cấp cho chi tộc Nép-ta-li. Mỗi họ hàng của Nép-ta-li nhận được một phần đất.
JOS 19:33 Ranh giới của họ bắt đầu từ Cây Lớn ở Gia-a-na-nin, gần Hê-lép. Rồi nó đi qua A-đa-mi Nê-kép và Giáp-ni-ên, chạy đến tận Lát-cum xong chấm dứt ở sông Giô-đanh.
JOS 19:34 Sau đó nó chạy về phía tây qua A-nốt Ta-bo rồi dừng ở Húc-cốc. Nó chạy đến vùng Xê-bu-lôn về phía nam, A-se về phía tây, và Giu-đa ở sông Giô-đanh, về phía đông.
JOS 19:35 Những thành có vách kiên cố nằm trong các ranh giới nầy là Xi-đim, Xe, Ham-mát, Ra-ca, Ki-nê-rết,
JOS 19:36 A-đa-ma, Ra-ma, Hát-xo,
JOS 19:37 Kê-đết, Ết-rê-i, Ên-ha-xon,
JOS 19:38 Ai-ôn, Mích-danh-ên, Hô-rem, Bết-A-nát, và Bết-sê-mết. Tất cả mười chín thị trấn và thôn ấp.
JOS 19:39 Đó là các thành và các thôn ấp chung quanh nằm trong vùng đất được cấp cho họ hàng Nép-ta-li.
JOS 19:40 Phần đất thứ bảy được cấp cho chi tộc Đan. Mỗi gia đình của chi tộc Đan được cấp một số đất.
JOS 19:41 Đất của họ gồm Xô-ra, Ết-ta-ôn, Ia-Sê-mết,
JOS 19:42 Sa-a-la-bin, Ai-gia-lôn, Ít-la,
JOS 19:43 Ê-lôn, Thim-na, Éc-rôn,
JOS 19:44 Ên-tê-ke, Ghi-bê-thôn, Ba-a-lát,
JOS 19:45 Giê-hút, Bên-Bê-rác, Gát-Rim-môn,
JOS 19:46 Mi-Giác-côn, Rác-côn và vùng gần Gióp-bê.
JOS 19:47 (Nhưng người Đan gặp trở ngại khi nhận đất. Họ phải đi đánh chiếm Lê-sem, giết hết dân cư trong thành rồi vào đó định cư, đổi tên thành ra Đan là tên tổ phụ của chi tộc họ.)
JOS 19:48 Tất cả các thị trấn và thôn ấp nầy được cấp cho các họ hàng thuộc chi tộc Đan.
JOS 19:49 Sau khi các lãnh đạo đã phân chia đất đai cho các chi tộc xong rồi, dân Ít-ra-en liền cấp đất cho Giô-suê, con trai của Nun.
JOS 19:50 Họ cấp cho Giô-suê thị trấn ông xin, tức Thim-nát Sê-ra trong vùng núi Ép-ra-im theo như Chúa truyền dặn. Ông xây sửa lại thị trấn này và định cư tại đó.
JOS 19:51 Tất cả đất đai vừa kể được phân chia cho các chi tộc Ít-ra-en theo lối bắt thăm do thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê con trai của Nun, và các lãnh đạo của mỗi chi tộc thực hiện tại Si-lô. Họ họp nhau trước mặt Chúa tại nơi cửa Lều Họp. Họ hoàn tất việc chia đất bằng phương thức ấy.
JOS 20:1 Sau đó Chúa phán với Giô-suê,
JOS 20:2 “Hãy bảo dân Ít-ra-en chọn các thành đặc biệt để làm thành ẩn náu, như ta đã dặn Mô-se truyền lại cho con.
JOS 20:3 Nếu một người vô ý làm thiệt mạng người khác mà không chủ mưu thì người đó có thể chạy đến thành ẩn náu để trú ẩn. Kẻ vô tình giết người ấy sẽ được che chở khỏi thân nhân nạn nhân muốn báo thù.
JOS 20:4 Khi kẻ giết người chạy đến một trong các thành nầy, thì phải dừng lại ở cửa thành và thuật lại sự việc cho các nhà lãnh đạo. Rồi người đó sẽ được phép vào thành và được cấp cho một chỗ trú thân.
JOS 20:5 Khi kẻ báo thù rượt đuổi đến thành đó, thì các nhà lãnh đạo trong thành không được giao người ấy cho họ, vì vụ giết người đó là vô ý, không có dự mưu. Từ trước hai bên vốn không có hiềm thù gì và người ấy cũng không cố tình giết nạn nhân.
JOS 20:6 Kẻ giết người phải ở trong thành đó cho đến khi tòa án phân xử, hoặc tới khi thầy tế lễ tối cao qua đời, thì kẻ giết người có thể trở về thành mình.”
JOS 20:7 Vì thế dân Ít-ra-en chọn các thành sau đây làm thành ẩn náu: Kê-đét ở Ga-li-lê trong vùng núi Nép-ta-li; Sê-chem ở trong vùng núi Ép-ra-im; Ki-ri-át Ạc-ba, cũng gọi là Hếp-rôn, trong vùng núi Giu-đa;
JOS 20:8 Bê-xe nằm về phía đông sông Giô-đanh gần Giê-ri-cô trong sa mạc thuộc đất Ru-bên; Ra-mốt trong Ghi-lê-át thuộc đất Gát; Gô-lan trong Ba-san thuộc đất Ma-na-xe.
JOS 20:9 Người Ít-ra-en hoặc bất cứ ai sống giữa vòng họ, nếu vô tình giết ai sẽ được phép chạy đến một trong các thành ẩn náu nầy. Ở đó kẻ sát nhân sẽ không bị giết bởi kẻ báo thù, cho đến khi được xét xử.
JOS 21:1 Các trưởng gia đình của người Lê-vi đến nói chuyện với thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun và các trưởng gia đình của các chi tộc Ít-ra-en.
JOS 21:2 Các trưởng gia đình người Lê-vi nói với họ tại Si-lô trong đất Ca-na-an rằng, “Chính Chúa đã truyền cho Mô-se dặn các ông phải cấp cho chúng tôi các thị trấn để sinh sống và các đồng cỏ cho bầy súc vật của chúng tôi.”
JOS 21:3 Vậy người Ít-ra-en vâng theo lệnh của Chúa cấp cho người Lê-vi các thị trấn và đồng cỏ sau đây:
JOS 21:4 Họ hàng Cô-hát là một phần của chi tộc Lê-vi. Một số người Lê-vi trong họ hàng Cô-hát thuộc gia đình A-rôn là thầy tế lễ. Họ hàng nầy được cấp mười ba thị trấn trong lãnh thổ Giu-đa, Xi-mê-ôn và Bên-gia-min.
JOS 21:5 Các họ hàng Cô-hát còn lại được cấp mười thị trấn trong lãnh thổ Ép-ra-im, Đan và phần nửa chi tộc Ma-na-xe về phía Tây.
JOS 21:6 Người thuộc họ hàng Ghẹt-sôn được cấp mười ba thành trong đất của Y-xa-ca, A-se, Nép-ta-li và phân nửa chi tộc Ma-na-xe về phía Đông trong vùng Ba-san.
JOS 21:7 Họ hàng Mê-ra-rin được cấp mười hai thị trấn trong đất của Ru-bên, Gát và Xê-bu-lôn.
JOS 21:8 Vậy dân Ít-ra-en cấp cho người Lê-vi các thị trấn vừa nói và các đồng cỏ chung quanh như Chúa đã truyền dặn Mô-se.
JOS 21:9 Sau đây là tên các thị trấn lấy từ lãnh thổ Giu-đa và Xi-mê-ôn.
JOS 21:10 Các thị trấn chọn lựa đầu tiên được cấp cho họ hàng Cô-hát của người Lê-vi.
JOS 21:11 Họ được cấp cho thị trấn Ki-ri-át Ạc-ba cũng còn gọi là Hếp-rôn và tất cả các đồng cỏ trong vùng núi Giu-đa. (Ạc-ba là cha của A-nác.)
JOS 21:12 Nhưng các cánh đồng và thôn ấp quanh Ki-ri-át Ạc-ba đã được cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê,
JOS 21:13 cho nên họ cấp thành Hếp-rôn và các đồng cỏ chung quanh cho con cháu A-rôn. (Hếp-rôn là một thành ẩn náu.) Họ cũng được cấp các thị trấn Líp-na và các đồng cỏ chung quanh,
JOS 21:14 Gia-tia và các đồng cỏ chung quanh, Ết-tê-mô-a và các đồng cỏ chung quanh,
JOS 21:15 Hô-lôn và các đồng cỏ chung quanh, Đê-bia và các đồng cỏ chung quanh,
JOS 21:16 A-in, Giút-ta và Bết-sê-mết cùng tất cả các đồng cỏ chung quanh. Người ta lấy chín thị trấn từ hai chi tộc để cấp cho họ.
JOS 21:17 Họ cũng cấp cho con cháu A-rôn các thành sau đây thuộc chi tộc Bên-gia-min: Ghi-bê-ôn, Ghê-ba,
JOS 21:18 A-na-thốt, và Anh-môn. Họ được cấp bốn thị trấn nầy và các đồng cỏ chung quanh.
JOS 21:19 Như thế có tất cả mười ba thị trấn và các đồng cỏ chung quanh được cấp cho các thầy tế lễ thuộc họ hàng A-rôn.
JOS 21:20 Các họ hàng khác của Cô-hát thuộc chi tộc Lê-vi được cấp phát các thị trấn sau đây lấy trong lãnh thổ Ép-ra-im:
JOS 21:21 Sê-chem trong vùng núi Ép-ra-im (Sê-chem là một thành ẩn náu), Ghê-xe,
JOS 21:22 Kíp-xa-im và Bết-hô-rôn. Tất cả bốn thị trấn và đồng cỏ.
JOS 21:23 Chi tộc Đan cấp cho họ các thị trấn Ên-tê-ke, Ghi-bê-thốt,
JOS 21:24 A-gia-lôn và Gát-Rim-môn. Tất cả bốn thị trấn và đồng cỏ.
JOS 21:25 Chi tộc Ma-na-xe phía tây cấp cho họ Ta-a-nác, Gát-Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh hai thị trấn đó.
JOS 21:26 Như thế người ta cấp cho các họ hàng còn lại của Cô-hát mười thị trấn vừa kể và các đồng cỏ chung quanh.
JOS 21:27 Các họ hàng Ghẹt-sôn thuộc chi tộc Lê-vi được cấp các thị trấn sau đây: Chi tộc Ma-na-xe phía đông nhường cho họ Gô-lan trong miền Ba-san, đó là một thành ẩn náu, và Bê-ết-ta-ra và các đồng cỏ chung quanh hai thị trấn đó.
JOS 21:28 Chi tộc Y-xa-ca cấp cho họ Ki-si-ôn, Đa-bê-rát,
JOS 21:29 Giạt-mút, và Ên-Ga-nin và các đồng cỏ quanh bốn thị trấn đó.
JOS 21:30 Chi tộc A-se cấp cho họ Mi-sanh, Áp-đôn,
JOS 21:31 Hên-cát và Rê-hốp và các đồng cỏ quanh bốn thị trấn đó.
JOS 21:32 Chi tộc Nép-ta-li cấp cho họ Kê-đét thuộc Ga-li-lê (Kê-đét là thành ẩn náu), Ham-mốt Đô-rơ, và Cạc-tan và các đồng cỏ chung quanh ba thị trấn đó.
JOS 21:33 Như thế các họ hàng Ghẹt-sôn được cấp mười ba thị trấn và các đồng cỏ chung quanh.
JOS 21:34 Họ hàng Mê-ra-rin, tức các họ hàng còn lại của chi tộc Lê-vi, được cấp các thị trấn sau đây: Chi tộc Xê-bu-lôn nhường cho họ Giốc-nê-am, Cạc-ta,
JOS 21:35 Đim-na và Na-ha-lan và các đồng cỏ chung quanh bốn thị trấn ấy.
JOS 21:36 Chi tộc Ru-bên nhường cho họ Bê-xe, Gia-hát,
JOS 21:37 Kê-đê-mốt, và Mê-pha-át cùng với các đồng cỏ quanh bốn thị trấn ấy.
JOS 21:38 Chi tộc Gát nhường cho họ Ra-mốt trong Ghi-lê-át (Ra-mốt là thành ẩn náu), Ma-ha-na-im,
JOS 21:39 Hết-bôn và Gia-se cùng các đồng cỏ chung quanh bốn thị trấn ấy.
JOS 21:40 Như vậy tổng cộng là mười hai thị trấn được cấp cho họ hàng Mê-ra-ri.
JOS 21:41 Tất cả là bốn mươi tám thị trấn và đồng cỏ trong Ít-ra-en được cấp cho người Lê-vi.
JOS 21:42 Mỗi thị trấn đều có đồng cỏ bao quanh.
JOS 21:43 Chúa ban cho dân chúng đất mà Ngài hứa cùng tổ tiên họ là như vậy. Dân chúng nhận lấy đất và định cư tại đó.
JOS 21:44 Ngài ban cho họ thái bình với các dân ở cả bốn phía như Ngài đã hứa cùng tổ tiên họ. Không có kẻ thù nào đánh thắng họ nổi; Chúa đã trao các kẻ thù vào tay họ.
JOS 21:45 Ngài giữ tất cả mọi lời hứa cùng dân Ít-ra-en; mọi lời hứa đều thành tựu.
JOS 22:1 Giô-suê gọi tất cả người Ru-bên, người Gát và người Ma-na-xe phía đông lại,
JOS 22:2 bảo họ rằng, “Các anh đã làm mọi điều Mô-se, tôi tớ Chúa dặn bảo. Các anh cũng đã làm theo mọi điều tôi căn dặn.
JOS 22:3 Lâu nay, các anh đã yểm trợ những người Ít-ra-en khác. Các anh cũng đã cẩn thận vâng theo mọi điều mà Chúa, là Thượng Đế của các anh, truyền bảo.
JOS 22:4 Chúa là Thượng Đế đã ban hòa bình cho các anh em khác như Ngài đã hứa, nên bây giờ các anh có thể trở về nhà mình, về với sản nghiệp mà Mô-se, tôi tớ Chúa, đã cấp cho các anh phía đông sông Giô-đanh.
JOS 22:5 Nhưng các anh phải thận trọng vâng theo những lời dạy bảo và luật lệ mà Mô-se, tôi tớ Chúa, đã truyền cho: Tức là phải yêu mến Chúa, Thượng Đế của các anh, vâng theo lời Ngài truyền dặn, luôn luôn đi theo Ngài và hết lòng phục vụ Ngài.”
JOS 22:6 Rồi Giô-suê chia tay tạm biệt, còn họ thì lên đường trở về quê quán.
JOS 22:7 Mô-se đã cấp đất vùng Ba-san cho chi tộc Ma-na-xe phía đông còn Giô-suê thì cấp đất phía tây sông Giô-đanh cho chi tộc Ma-na-xe phía tây. Ngoài ra khi Giô-suê cho họ trở về đất đai thì ông chúc phước cho họ.
JOS 22:8 Ông bảo, “Anh em hãy trở về với gia đình và sản nghiệp mình. Anh em có đông gia súc, nhiều đồ bạc, vàng, đồng, sắt và vô số áo quần đẹp. Ngoài ra anh em cũng đã chiếm được nhiều tài sản của kẻ thù, nên hãy nhớ san sẻ những của đó với nhau.”
JOS 22:9 Các người thuộc chi tộc Ru-bên, Gát và Ma-na-xe phía đông liền từ giã các người Ít-ra-en khác ở Si-lô thuộc Ca-na-an và trở về Ghi-lê-át. Đó là phần đất của họ do Mô-se cấp cho theo như Chúa đã truyền dặn.
JOS 22:10 Người Ru-bên, Gát và Ma-na-xe phía đông đi đến Ghê-li-lốt, gần sông Giô-đanh trong đất Ca-na-an và lập một bàn thờ thật đẹp tại đó.
JOS 22:11 Các chi tộc Ít-ra-en khác đang còn ở tại Si-lô nghe nói về đền thờ nầy, mà ba chi tộc đã lập tại ranh giới Ca-na-an ở Ghê-li-lô, gần sông Giô-đanh bên phía dân Ít-ra-en.
JOS 22:12 Toàn dân Ít-ra-en liền nổi giận. Họ họp nhau lại định đánh ba chi tộc ấy.
JOS 22:13 Người Ít-ra-en sai Phi-nê-ha, con của Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, đến Ghi-lê-át hỏi người Ru-bên, người Gát và Ma-na-xe phía đông.
JOS 22:14 Mười tộc trưởng, đại diện mười chi tộc đang ở Si-lô, cũng được phái đến đó. Mỗi người này là trưởng dòng họ của Ít-ra-en.
JOS 22:15 Các tộc trưởng đến Ghi-lê-át hỏi người Ru-bên, người Gát và Ma-na-xe phía đông như sau:
JOS 22:16 “Toàn dân Ít-ra-en hỏi họ: Tại sao các anh tự ý xây bàn thờ cho mình, phản nghịch lại Thượng Đế của Ít-ra-en? Các anh thừa biết rằng làm vậy là vi phạm luật của Ngài rồi.
JOS 22:17 Vụ Phê-ô đã không cảnh cáo các anh sao? Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn còn lãnh hậu quả của tội lỗi đó. Thượng Đế đã trừng phạt khiến nhiều người Ít-ra-en bị đau ốm.
JOS 22:18 Vậy mà bây giờ các anh còn dám phản nghịch Chúa, không chịu theo Ngài sao? Nếu các anh nghịch lại Chúa hôm nay, thì ngày mai chắc chắn Chúa sẽ nổi giận cùng cả Ít-ra-en đó.
JOS 22:19 Nếu đất của các anh không sạch thì dời qua ở trong đất của chúng tôi nơi có Lều của Chúa ngự. Chúng tôi bằng lòng chia đất với các anh, nhưng chớ có phản nghịch Chúa bằng cách dựng một đền thờ khác cho Chúa, Thượng Đế của chúng ta.
JOS 22:20 Vụ A-can, con trai Xê-ra, không vâng phục lệnh truyền về các vật phải tiêu diệt, các anh còn nhớ không? Chỉ một người phạm luật Chúa mà cả dân Ít-ra-en bị trừng phạt. A-can chết vì tội của hắn đã đành, mà nhiều người khác cũng bị chết lây nữa.”
JOS 22:21 Các người Ru-bên, Gát và Ma-na-xe phía đông phân trần rằng,
JOS 22:22 “Chúa là Thượng Đế của chúng ta! Chúa là Thượng Đế của chúng ta! Ngài biết và chúng tôi muốn các anh cũng biết nữa. Nếu chúng tôi làm bậy, các anh có thể giết chúng tôi.
JOS 22:23 Nếu chúng tôi xây bàn thờ nầy để quay mặt khỏi Thượng Đế, hay dâng của lễ thiêu trên đó, thì nguyện Chúa phạt chúng tôi!
JOS 22:24 Đó không phải là mục đích của chúng tôi khi xây bàn thờ nầy. Chúng tôi chỉ sợ rằng ngày nào đó trong tương lai, con cháu các anh không còn nhìn nhận rằng chúng tôi thuộc về quốc gia nầy nữa. Chúng rất có thể bảo con cháu chúng tôi, ‘Các anh không thể thờ phụng Chúa, Thượng Đế của Ít-ra-en.
JOS 22:25 Chúa đã dùng sông Giô-đanh làm ranh giới để phân cách chúng ta với những người Ru-bên và Gát. Vì thế các anh không thể thờ phụng Chúa!’ Cho nên chúng tôi sợ rằng con cháu các anh sẽ ngăn cản không cho con cháu chúng tôi thờ phụng Chúa.
JOS 22:26 Vì thế mà chúng tôi dựng bàn thờ nầy, không phải để dâng của lễ thiêu hay các của lễ hi sinh khác đâu.
JOS 22:27 Thật ra thì bàn thờ nầy chỉ để làm bằng chứng giữa các anh và chúng tôi cùng con cháu chúng tôi sẽ sinh ra sau nầy, để chúng tôi được phép thờ phụng Chúa bằng của lễ thiêu, của lễ ngũ cốc, và của lễ thân hữu. Và cũng để cho con cháu các anh không thể bảo con cháu chúng tôi rằng, ‘Các anh không có phần gì trong Chúa cả.’
JOS 22:28 Trong tương lai nếu con cháu quí vị nói như thế thì con cháu chúng tôi có thể nói rằng, ‘Hãy nhìn bàn thờ mà tổ tiên chúng tôi đã xây. Giống y như bàn thờ của Chúa, nhưng không phải dùng để dâng sinh tế mà chỉ để chứng minh rằng chúng tôi là một phần của Ít-ra-en.’
JOS 22:29 Thật tình, chúng tôi không có ý chống nghịch Chúa hay lìa bỏ Ngài bằng cách xây bàn thờ để dâng của lễ thiêu, của lễ ngũ cốc hay các của lễ hi sinh khác. Chúng tôi chỉ biết có một bàn thờ thật duy nhất cho Chúa, Thượng Đế của chúng tôi, ở trước cửa Lều Thánh mà thôi.”
JOS 22:30 Khi Phi-nê-ha, thầy tế lễ và mười người lãnh đạo kia nghe người Ru-bên, người Gát và chi tộc Ma-na-xe miền đông giải thích như thế thì họ nguôi giận.
JOS 22:31 Phi-nê-ha, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, bảo, “Bây giờ tôi biết rằng Chúa có ở với chúng tôi và rằng các anh đã tránh, không để Chúa trừng phạt dân Ít-ra-en.”
JOS 22:32 Rồi Phi-nê-ha và những người lãnh đạo từ giã người Ru-bên, người Gát ở Ghi-lê-át, trở về Ca-na-an thuật lại cho dân Ít-ra-en biết rõ câu chuyện.
JOS 22:33 Mọi người đều hài lòng và cảm tạ Thượng Đế. Họ liền bỏ ý định đánh người Ru-bên, người Gát hoặc tàn phá vùng đất đai đó.
JOS 22:34 Vì thế người Ru-bên và người Gát đặt tên bàn thờ là Bằng Chứng Chúng Ta Tin Chúa Là Thượng Đế.
JOS 23:1 Chúa ban cho dân Ít-ra-en hòa bình, khỏi bị kẻ thù từ cả bốn phía. Lúc Giô-suê đã già,
JOS 23:2 ông triệu tập các lãnh đạo lớn tuổi, các trưởng gia đình, các quan án và các quan chức trong Ít-ra-en, bảo rằng, “Tôi nay đã già rồi.
JOS 23:3 Các anh em đã thấy điều Chúa từng làm đối với kẻ thù, để giúp chúng ta. Chúa, Thượng Đế anh em, là Đấng đã chiến đấu cho anh em.
JOS 23:4 Nên nhớ rằng Chúa đã hứa cấp cho anh em dải đất nằm giữa sông Giô-đanh và Địa-trung-Hải về phía tây. Đó là đất của những dân tộc mà Ngài đã đuổi đi.
JOS 23:5 Chúa, Thượng Đế của anh em, sẽ đánh đuổi các dân tộc còn lại, đang sống ở trong vùng trước mặt anh em, rồi anh em sẽ thừa hưởng xứ ấy, như Ngài đã hứa.
JOS 23:6 Hãy mạnh bạo lên. Anh em phải cẩn thận vâng theo mọi điều trong Sách Giáo Huấn của Mô-se. Hãy làm đúng theo lời dạy trong đó.
JOS 23:7 Đừng kết thân với các dân không phải Ít-ra-en đang sống giữa anh em. Đừng nhắc đến tên các thần của họ và cũng chớ bắt ai thề nhân danh các thần đó nữa. Đừng phục vụ hay thờ phụng chúng.
JOS 23:8 Trái lại anh em phải theo Chúa, là Thượng Đế anh em, như đã làm từ trước đến nay.
JOS 23:9 Chúa đã đánh đuổi nhiều dân tộc lớn và hùng mạnh trước anh em, nên không có một dân tộc nào chống lại anh em được.
JOS 23:10 Nhờ Ngài hỗ trợ, một người Ít-ra-en đánh đuổi một ngàn người vì Chúa là Thượng Đế anh em, chiến đấu cho anh em như Ngài đã hứa.
JOS 23:11 Nên anh em phải cẩn thận yêu mến Chúa là Thượng Đế.
JOS 23:12 Nếu anh em quay khỏi con đường của Chúa mà kết thân với các dân nầy là dân không thuộc về Ít-ra-en và cưới gả với chúng,
JOS 23:13 thì anh em phải biết chắc rằng, Chúa là Thượng Đế anh em, sẽ không còn giúp anh em đánh thắng kẻ thù nữa. Chúng sẽ như cái bẫy, như roi quất vào lưng, như gai đâm vào mắt anh em, và rồi sẽ không có một ai trong anh em còn sống sót trong mảnh đất màu mỡ nầy mà Chúa là Thượng Đế đã ban cho anh em.
JOS 23:14 Giờ qua đời của tôi gần đến. Anh em biết và tin rõ ràng rằng Chúa đã làm những việc lớn cho anh em. Anh em cũng thấy rằng không có một lời nào Ngài hứa mà chẳng thực hiện.
JOS 23:15 Tất cả mọi lời mà Chúa là Thượng Đế đã hứa đều đã thành tựu, do đó các lời hứa khác của Ngài cũng sẽ thành tựu. Ngài nói trước rằng nếu anh em trở nên gian ác thì Ngài sẽ hủy diệt anh em khỏi miếng đất màu mỡ nầy mà Ngài đã ban cho anh em.
JOS 23:16 Những điều đó sẽ xảy đến, nếu anh em không giữ giao ước với Chúa là Thượng Đế của mình. Nếu anh em thờ phụng và phục vụ các thần khác thì Chúa sẽ nổi giận với anh em. Rồi sẽ không một ai trong anh em còn sống sót trên mảnh đất màu mỡ nầy mà Ngài đã ban cho.”
JOS 24:1 Giô-suê tập họp tất cả các chi tộc Ít-ra-en lại tại Sê-chem. Ông gọi các vị lãnh đạo lớn tuổi, các trưởng gia đình, các quan án, các chức viên Ít-ra-en đứng trước mặt Chúa.
JOS 24:2 Rồi Giô-suê nói với toàn thể dân chúng, “Hãy nghe điều Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en phán bảo: Trước đây tổ tiên các anh em sống bên kia bờ sông Ơ-phơ-rát. Thê-ra, cha của Áp-ra-ham và Na-ho, thờ các thần khác.
JOS 24:3 Nhưng ta, Thượng Đế, đưa dẫn tổ phụ các anh em là Áp-ra-ham từ bờ sông bên kia đến xứ Ca-na-an. Ta ban cho người vô số con cái trong đó có Y-sác.
JOS 24:4 Ta ban cho Y-sác hai con trai là Gia-cốp và Ê-sau. Ta ban cho Ê-sau vùng đất quanh các núi Ê-đôm, nhưng Gia-cốp và các con trai người đi xuống Ai-cập.
JOS 24:5 Ta sai Mô-se và A-rôn đến Ai-cập là nơi ta giáng các đại nạn trên người Ai-cập. Sau đó ta mang các anh em ra.
JOS 24:6 Khi ta mang tổ tiên các anh em ra khỏi Ai-cập, họ đi đến Hồng hải, nhưng người Ai-cập dùng lính cỡi ngựa và quân xa đuổi theo.
JOS 24:7 Tổ tiên các anh em kêu cầu cùng Chúa, nên Ngài giáng một màn đen kịt, ngăn cách các anh em và người Ai-cập rồi cho biển vùi lấp chúng. Chính mắt các anh em đã thấy điều ta làm cho đạo quân Ai-cập. Sau đó các anh em sống trong sa mạc một thời gian khá lâu.
JOS 24:8 Rồi ta đưa các anh em đến xứ dân A-mô-rít, phía đông sông Giô-đanh. Chúng tấn công các anh em, nhưng ta trao chúng vào tay các anh em. Ta diệt chúng trước mặt các anh em, rồi các anh em chiếm xứ đó.
JOS 24:9 Nhưng vua Mô-áp là Ba-lác, con Xíp-bô, chuẩn bị đánh người Ít-ra-en. Vua sai Ba-la-am, con trai Bê-ô đến nguyền rủa các anh em,
JOS 24:10 nhưng ta không nghe Ba-la-am. Vì vậy, thay cho nguyền rủa, người đã chúc lành cho các anh em. Ta giải cứu và mang các anh em ra khỏi mãnh lực của người.
JOS 24:11 Sau đó các anh em băng qua sông Giô-đanh đến Giê-ri-cô. Người Giê-ri-cô đánh các anh em. Ngoài ra các dân A-mô-rít, Phê-ri-xít, Ca-na-an, Hê-tít, Ghi-rê-ga-sít, Hê-vít và Giê-bu-xít cũng tấn công các anh em. Nhưng ta trao chúng vào tay các anh em.
JOS 24:12 Ta giáng sự kinh hoàng đi trước các anh em để đánh đuổi hai vua A-mô-rít. Các anh em chiếm được xứ mà không cần dùng đến cung tên hay gươm giáo.
JOS 24:13 Ta cấp cho các anh em đất mà các anh em không có bỏ sức khai khẩn. Ta ban cho các anh em thành trì mà các anh em không phải xây. Nay các anh em sống trong đất đai và các thành trì đó, hưởng hoa lợi từ các vườn nho và các cây ô-liu mà các anh em không phải trồng.”
JOS 24:14 Rồi Giô-suê dặn dân chúng, “Vậy bây giờ hãy kính sợ Chúa và hết lòng phục vụ Ngài. Hãy ném bỏ các thần mà tổ tiên các anh em đã thờ phụng bên kia sông Ơ-phơ-rát và tại Ai-cập. Chỉ nên phục vụ Chúa mà thôi.
JOS 24:15 Nhưng nếu các anh em không muốn phục vụ Chúa, thì hôm nay cứ chọn ai mà mình muốn phục vụ. Các anh em muốn thờ các thần mà tổ tiên mình thờ khi còn cư ngụ bên kia bờ sông Ơ-phơ-rát, hay các thần của dân A-mô-rít trong xứ nầy cũng được. Nhưng về phần tôi và gia đình tôi thì sẽ phục vụ Thượng Đế.”
JOS 24:16 Dân chúng đáp, “Chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ Chúa để đi thờ các thần khác!
JOS 24:17 Vì chính Chúa, Thượng Đế của chúng tôi, đã mang tổ tiên chúng tôi ra khỏi Ai-cập. Chúng tôi đã từng làm nô lệ trong xứ đó, nhưng Chúa đã làm các việc lớn lao cho chúng tôi tại xứ đó. Ngài mang chúng tôi và bảo vệ chúng tôi, đang khi chúng tôi băng qua các xứ khác.
JOS 24:18 Rồi Ngài đánh đuổi những dân tộc sống trong các xứ đó, luôn cả dân A-mô-rít. Do đó chúng tôi sẽ phục vụ Chúa vì Ngài là Thượng Đế của chúng tôi.”
JOS 24:19 Sau đó Giô-suê bảo, “Các anh em không phục vụ Chúa nổi đâu, vì Ngài là Đấng thánh và là Thượng Đế ganh tị. Nếu các anh em chống nghịch Ngài và phạm tội, Ngài sẽ không tha thứ cho các anh em.
JOS 24:20 Nếu các anh em lìa bỏ Chúa mà phục vụ các thần khác, thì Ngài sẽ giáng tai họa trên các anh em. Chúa vốn nhân từ với các anh em nhưng nếu các anh em chống nghịch Ngài, Ngài sẽ tiêu diệt các anh em đó.”
JOS 24:21 Nhưng dân chúng quả quyết với Giô-suê, “Không! Chúng tôi muốn phục vụ Chúa.”
JOS 24:22 Giô-suê tiếp, “Các anh em hãy tự chứng tỏ rằng các anh em đã chọn con đường phục vụ Thượng Đế.” Dân chúng đáp, “Vâng, chúng tôi bằng lòng chứng tỏ điều đó.”
JOS 24:23 Đoạn Giô-suê khuyên, “Vậy bây giờ hãy ném bỏ các thần mà các anh em đang giữ đi! Hãy hết lòng yêu mến Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en!”
JOS 24:24 Dân chúng thưa cùng Giô-suê, “Chúng tôi sẽ phục vụ Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en. Chúng tôi sẽ vâng lời một mình Ngài mà thôi.”
JOS 24:25 Ngày đó Giô-suê lập ước với dân chúng tại Sê-chem. Ông đặt ra các luật lệ và qui tắc cho họ theo.
JOS 24:26 Giô-suê ghi các điều đó vào Sách Luật của Thượng Đế. Rồi ông dựng một tảng đá lớn dưới cây sồi gần Lều Thánh của Chúa.
JOS 24:27 Giô-suê nói cùng toàn thể dân chúng, “Hãy xem tảng đá nầy! Nó sẽ nhắc nhở điều chúng ta làm hôm nay. Chính tại đây, ngày hôm nay Chúa phán với chúng ta. Tảng đá nầy sẽ nhắc nhở về những hậu quả xấu để các anh em đừng chống nghịch Thượng Đế của mình.”
JOS 24:28 Rồi Giô-suê cho dân chúng đi về miền đất của họ.
JOS 24:29 Sau đó Giô-suê qua đời, hưởng thọ một trăm mười tuổi.
JOS 24:30 Người ta chôn ông trong miếng đất ông ở Thim-nát Sê-ra thuộc miền núi Ép-ra-im, nằm về phía bắc núi Ga-át.
JOS 24:31 Dân Ít-ra-en phục vụ Chúa suốt đời Giô-suê và suốt đời các lãnh đạo lớn tuổi còn sống sau Giô-suê, là những người đã chứng kiến những điều Chúa làm cho Ít-ra-en.
JOS 24:32 Khi dân Ít-ra-en rời Ai-cập, họ mang theo hài cốt của Giô-xép. Họ chôn cất các hài cốt nầy ở Sê-chem trong đất mà Gia-cốp đã mua với giá một trăm miếng bạc từ con cháu Ha-mô. Ha-mô là cha Sê-chem. Đất nầy hiện nay thuộc về con cháu Giô-xép.
JOS 24:33 Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn cũng qua đời và được chôn cất ở Ghi-bê-a trong vùng núi Ép-ra-im, là miền được cấp cho Phi-nê-ha, con trai Ê-lê-a-sa.
JDG 1:1 Sau khi Giô-suê qua đời thì dân Ít-ra-en hỏi CHÚA, “Ai sẽ lên đánh dân Ca-na-an trước tiên cho chúng tôi?”
JDG 1:2 CHÚA đáp, “Chi tộc Giu-đa sẽ đi. Ta đã trao xứ vào tay họ.”
JDG 1:3 Những người Giu-đa rủ người Xi-mê-ôn là thân nhân mình rằng, “Hãy đến giúp chúng tôi đánh dân Ca-na-an để chiếm đất cho chúng tôi. Nếu anh em giúp chúng tôi thì chúng tôi cũng sẽ giúp anh em đánh chiếm đất cho anh em.” Vậy người Xi-mê-ôn đi với họ.
JDG 1:4 Khi người Giu-đa tấn công thì CHÚA trao dân Ca-na-an và dân Phê-ri-sít vào tay họ. Họ đánh bại mười ngàn người ở thành Bê-xiếc.
JDG 1:5 Họ gặp A-đô-ni Bê-xiếc, chỉ huy thành đó và tấn công người. Người Giu-đa cũng đánh bại dân Ca-na-an và dân Phê-ri-sít,
JDG 1:6 nhưng A-đô-ni Bê-xiếc chạy trốn. Người Giu-đa rượt theo, bắt được rồi chặt ngón cái của tay và chân hắn.
JDG 1:7 A-đô-ni Bê-xiếc bảo, “Có bảy mươi vua bị ta chặt ngón cái của tay và chân thường ăn những miếng vụn trên bàn ta rớt xuống. Nay Thượng Đế báo trả việc ta làm.” Người Giu-đa đưa A-đô-ni Bê-xiếc đến Giê-ru-sa-lem rồi ông qua đời ở đó.
JDG 1:8 Sau đó những người Giu-đa tấn công Giê-ru-sa-lem và chiếm thành ấy. Họ dùng gươm tấn công và đốt thành.
JDG 1:9 Rồi họ xuống đánh dân Ca-na-an sống trong vùng núi, vùng bình nguyên khô cằn về phía nam, và trong các đồi núi phía tây.
JDG 1:10 Người Giu-đa đi đánh dân Ca-na-an trong thành Hếp-rôn, trước kia có tên là Ki-ri-át Ạc-ba. Họ đánh chiếm Sê-sai, A-hi-man, và Thanh-mai.
JDG 1:11 Rồi họ rời nơi đó đi đánh dân sống ở Đê-bia. Trước kia Đê-bia có tên là Ki-ri-át Xê-phe.
JDG 1:12 Trước khi tấn công thành, Ca-lép tuyên bố, “Ta sẽ gả Ạc-xa, con gái ta cho ai đánh và chiếm được thành Ki-ri-át Xê-phe.”
JDG 1:13 Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, em trai Ca-lép, chiếm được thành cho nên Ca-lép gả Ạc-xa, con gái mình cho Ốt-ni-ên làm vợ.
JDG 1:14 Khi Ạc-xa đi đến cùng Ốt-ni-ên thì Ốt-ni-ên xúi cô xin cha cô một thửa ruộng. Khi cô leo xuống lừa thì Ca-lép hỏi, “Con muốn gì?”
JDG 1:15 Ạc-xa đáp, “Cha hãy cho con xin một đặc ân. Vì cha đã cho con đất miền nam Ca-na-an, xin cha cho con luôn các nguồn nước.” Vậy Ca-lép cho nàng các nguồn nước, cả nguồn trên lẫn nguồn dưới.
JDG 1:16 Người Kê-nít thuộc gia đình cha vợ của Mô-se rời Giê-ri-cô, thành phố cây chà là. Họ cùng đi với người Giu-đa đến sa mạc Giu-đa và sống chung với họ ở miền nam Giu-đa gần thành A-rát.
JDG 1:17 Người Giu-đa và người Xi-mê-ôn, bà con họ, đánh thắng dân Ca-na-an sống ở Xê-phát. Họ thiêu rụi thành, cho nên họ gọi chỗ đó là Họt-ma.
JDG 1:18 Người Giu-đa chiếm Ga-xa, Ách-kê-lôn, Éc-rôn, và đất xung quanh.
JDG 1:19 Thượng Đế phù hộ người Giu-đa. Họ chiếm đất miền núi, nhưng họ không đuổi được dân cư sống trong vùng đồng bằng vì dân đó có xe bọc sắt.
JDG 1:20 Như Mô-se đã hứa, Hếp-rôn được cấp cho Ca-lép, ông liền đánh đuổi ba con trai A-nác đi.
JDG 1:21 Nhưng người Bên-gia-min không đuổi được dân Giê-bu-sít ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Từ đó đến nay người Giê-bu-sít vẫn sống chung với người Bên-gia-min ở Giê-ru-sa-lem.
JDG 1:22 Con cháu Giô-xép đi đánh thành Bê-tên, họ được CHÚA phù hộ.
JDG 1:23 Họ phái một số tay do thám đến Bê-tên, trước kia gọi là Lu-xơ.
JDG 1:24 Các tay do thám thấy một người trong thành đi ra liền hỏi, “Anh làm ơn chỉ cho chúng tôi đường nào đi vào thành thì chúng tôi sẽ đối xử tử tế với anh.”
JDG 1:25 Người đó liền chỉ cho họ lối đi vào thành. Rồi những người của chi tộc Giô-xép dùng gươm tấn công dân Bê-tên, nhưng họ tha chết cho anh ta và gia đình.
JDG 1:26 Anh ta đi đến xứ dân Hê-tít cư ngụ và xây một cái thành. Anh ta cũng gọi thành đó là Lu-xơ, tên nầy hãy còn cho đến nay.
JDG 1:27 Người Ca-na-an sống trong các thành Bết-san, Ta-a-nác, Đô-rơ, Íp-lê-am, Mê-ghi-đô, và các thành phố nhỏ quanh đó. Dân Ma-na-xe không đuổi được các dân nầy ra khỏi các thành của họ vì người Ca-na-an nhất định ở đó.
JDG 1:28 Về sau dân Ít-ra-en trở nên hùng mạnh liền bắt dân Ca-na-an làm nô lệ nhưng không buộc dân Ca-na-an rời bỏ xứ của họ.
JDG 1:29 Dân Ép-ra-im không đuổi được tất cả người Ca-na-an sống ở Ghê-xe. Cho nên người Ca-na-an tiếp tục sống chung với người Ép-ra-im ở Ghê-xe.
JDG 1:30 Người Xê-bu-lôn không đuổi được dân Ca-na-an sống trong các thành Kít-rôn và Na-ha-lôn. Họ sống chung với người Xê-bu-lôn, nhưng người Xê-bu-lôn bắt họ làm việc như nô lệ.
JDG 1:31 Người A-se không đuổi được dân Ca-na-an sống trong các thành Ạc-cô, Xi-đôn, A-láp, Ạc-xíp, Hên-ba, A-phéc, và Rê-hốp.
JDG 1:32 Vì người A-se không đuổi họ được cho nên dân Ca-na-an tiếp tục sống chung với người A-se.
JDG 1:33 Người Nép-ta-li không đuổi được dân các thành Bết-sê-mết và Bết-A-nát. Cho nên họ tiếp tục sống chung với dân Ca-na-an trong các thành đó, nhưng người Ca-na-an phải làm việc như nô lệ.
JDG 1:34 Dân A-mô-rít dồn người Đan lên núi, không cho họ xuống sinh sống trong vùng đồng bằng.
JDG 1:35 Người A-mô-rít nhất quyết ở lại núi Hê-rết, Ai-gia-lôn và Sa-an-bim. Nhưng khi người Ít-ra-en trở nên hùng mạnh thì họ bắt dân A-mô-rít làm nô lệ.
JDG 1:36 Đất của dân A-mô-rít chạy từ đèo Bọ Cạp đến quá Sê-la.
JDG 2:1 Thiên sứ của CHÚA từ Ghinh-ganh lên Bô-kim bảo rằng, “Ta đã mang ngươi lên từ Ai-cập và dẫn ngươi vào xứ ta hứa ban cho các tổ tiên ngươi. Ta bảo, ‘Ta sẽ không bao giờ phá giao ước với ngươi.
JDG 2:2 Nhưng ngươi không được kết ước với dân trong xứ nầy. Ngươi phải phá hủy các bàn thờ chúng nó.’ Nhưng ngươi không vâng lời ta. Tại sao ngươi làm thế nầy?
JDG 2:3 Bây giờ ta cho ngươi biết, ‘Ta sẽ không đuổi dân của xứ nầy ra. Chúng nó sẽ làm kẻ thù của ngươi, và các thần chúng nó sẽ là cái bẫy cho ngươi.’”
JDG 2:4 Sau khi thiên sứ nói những lời đó của CHÚA cho Ít-ra-en xong thì mọi người òa lên khóc lóc thảm thiết.
JDG 2:5 Cho nên họ gọi chỗ đó là Bô-kim. Rồi họ dâng của lễ cho CHÚA tại đó.
JDG 2:6 Rồi Giô-suê cho dân chúng về với đất đai của họ.
JDG 2:7 Dân chúng phục vụ CHÚA trọn đời Giô-suê và trọn đời các bô lão sống sau Giô-suê là những người đã thấy những việc lớn CHÚA làm cho Ít-ra-en.
JDG 2:8 Giô-suê, con của Nun, tôi tớ của CHÚA, qua đời, hưởng thọ một trăm mười tuổi.
JDG 2:9 Người ta chôn ông trong đất của ông ở Thim-nát Sê-ra trong vùng núi Ép-ra-im, về phía bắc núi Ga-át.
JDG 2:10 Sau khi những người thời đó qua đời, con cháu họ lớn lên không biết CHÚA cũng chẳng biết những điều Ngài làm cho Ít-ra-en.
JDG 2:11 Cho nên chúng làm điều CHÚA cho là ác vì chúng thờ lạy thần Ba-anh.
JDG 2:12 Chúng không theo CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên chúng, Đấng đã mang chúng ra khỏi Ai-cập. Chúng bắt đầu thờ các thần của những dân sống quanh chúng và chọc giận CHÚA.
JDG 2:13 Dân Ít-ra-en không theo CHÚA mà đi thờ lạy thần Ba-anh và Át-tô-rết.
JDG 2:14 CHÚA nổi giận cùng dân Ít-ra-en nên Ngài trao họ vào tay các kẻ cướp giựt chiếm đoạt hết tài sản họ. Ngài để cho các kẻ thù sống quanh họ đánh bại họ; họ không còn tự vệ nổi nữa.
JDG 2:15 Lần nào ra trận, dân Ít-ra-en cũng thua vì Thượng Đế không còn phù hộ họ nữa. CHÚA đã thề rằng việc sẽ xảy ra như thế. Dân Ít-ra-en vô cùng khốn đốn.
JDG 2:16 Lúc đó CHÚA chọn các lãnh tụ gọi là các quan án để giải cứu dân Ít-ra-en khỏi bọn cướp bóc.
JDG 2:17 Nhưng dân Ít-ra-en không nghe các quan án. Họ không trung thành cùng Thượng Đế mà bái lạy các thần khác. Tổ tiên họ đã vâng lời răn dạy của CHÚA, nhưng con cháu họ nhanh chóng quay đi, không vâng lời Ngài nữa.
JDG 2:18 Khi kẻ thù làm hại họ thì dân Ít-ra-en kêu cứu nên CHÚA cảm thương họ liền sai các quan án đến giải thoát họ khỏi tay kẻ thù. CHÚA phù hộ các quan án trọn đời họ.
JDG 2:19 Nhưng khi các quan án qua đời thì dân Ít-ra-en lại phạm tội và đi thờ các thần khác. Họ tệ hại hơn tổ tiên mình. Dân Ít-ra-en rất ương ngạnh và không chịu thay đổi nếp sống độc ác mình.
JDG 2:20 Cho nên CHÚA nổi giận cùng họ. Ngài bảo, “Dân nầy đã phá giao ước mà ta lập với tổ tiên chúng. Chúng không chịu nghe ta.
JDG 2:21 Ta sẽ không đánh bại các dân còn sót lại sau khi Giô-suê qua đời.
JDG 2:22 Ta sẽ dùng các dân đó để thử Ít-ra-en, xem chúng có giữ mệnh lệnh của CHÚA như các tổ tiên chúng hay không.”
JDG 2:23 Trước kia CHÚA đã để cho các dân đó sống trong xứ. Ngài không vội đuổi chúng ra hay giúp Giô-suê đánh bại chúng.
JDG 3:1 Sau đây là các dân CHÚA không đuổi ra. Ngài muốn thử dân Ít-ra-en là những người chưa hề đánh giặc trong xứ Ca-na-an.
JDG 3:2 Lý do CHÚA còn để các dân trong xứ là để tập cho con cháu Ít-ra-en chưa từng tham gia trong các cuộc chiến trước kia biết đánh giặc.
JDG 3:3 Sau đây là các dân tộc đó: năm lãnh tụ dân Phi-li-tin, tất cả dân Ca-na-an, dân Xi-đôn, và dân Hê-vít sống trong vùng núi Li-băng từ núi Ba-anh Hẹt-môn cho đến Lê-bô Ha-mát.
JDG 3:4 Các dân đó còn sống trong xứ để thử dân Ít-ra-en xem họ có vâng theo mệnh lệnh mà Ngài đã ban cho các tổ tiên qua Mô-se hay không.
JDG 3:5 Dân Ít-ra-en sống chung với các dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-ri-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
JDG 3:6 Dân Ít-ra-en bắt đầu cưới con gái của các dân đó và gả con gái mình cho con trai các dân đó. Dân Ít-ra-en cũng phục vụ các thần của những dân nầy.
JDG 3:7 Dân Ít-ra-en làm điều CHÚA cho là quấy. Họ quên CHÚA là Thượng Đế và phục vụ các thần Ba-anh và A-sê-ra.
JDG 3:8 Vì thế CHÚA nổi giận cùng Ít-ra-en và cho phép Cu-san Ri-sa-tham, vua miền Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi thống trị Ít-ra-en trong tám năm.
JDG 3:9 Khi dân Ít-ra-en kêu cứu cùng CHÚA, Ngài liền sai người đến giải cứu họ. Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, em Ca-lép, giải cứu dân Ít-ra-en.
JDG 3:10 Thần linh của CHÚA nhập vào Ốt-ni-ên, ông trở thành quan án cho dân Ít-ra-en. Khi ra trận, CHÚA trao Cu-san Ri-sa-tham, vua miền Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi, vào tay Ốt-ni-ên.
JDG 3:11 Cho nên xứ được thái bình trong bốn mươi năm. Rồi Ốt-ni-ên, con Kê-na, qua đời.
JDG 3:12 Dân Ít-ra-en lại làm điều CHÚA cho là quấy. Ngài trao quyền cho Éc-lôn, vua Mô-áp, đánh bại dân Ít-ra-en vì điều ác họ làm.
JDG 3:13 Éc-lôn rủ dân Am-môn và dân A-ma-léc làm đồng minh. Chúng tấn công Ít-ra-en và chiếm Giê-ri-cô, thành phố cây chà là.
JDG 3:14 Dân Ít-ra-en bị Éc-lôn, vua Mô-áp thống trị trong mười tám năm.
JDG 3:15 Khi dân chúng kêu cứu cùng CHÚA, Ngài sai người đến giải cứu họ. Người đó là Ê-hút, con Ghê-ra, thuộc chi tộc Bên-gia-min, ông thuận tay trái. Dân Ít-ra-en sai Ê-hút mang đồ triều cống qua cho Éc-lôn, vua Mô-áp.
JDG 3:16 Ê-hút làm một cây gươm hai lưỡi, dài khoảng mười tám phân Anh. Ông đeo gươm đó bên hông phải dưới lớp áo quần.
JDG 3:17 Ê-hút trao cho Éc-lôn, vua Mô-áp, đồ triều cống vua đòi. Éc-lôn rất mập.
JDG 3:18 Sau khi trao đồ triều cống cho Éc-lôn, Ê-hút bảo những người mang đồ triều cống ra về.
JDG 3:19 Khi ông đi qua các bức tượng gần Ghinh-ganh, ông quay trở lại và bảo Éc-lôn, “Thưa vua Éc-lôn, tôi có chuyện bí mật muốn nói cùng vua.” Vua bảo, “Khoan nói đã!” Rồi vua bảo các tôi tớ ra khỏi phòng.
JDG 3:20 Ê-hút đi vào gặp vua Éc-lôn trong khi vua đang ngồi một mình phía trên cung điện nghỉ mát mùa hè. Ê-hút nói, “Tôi có lời nhắn của Thượng Đế cho vua.” Vừa khi vua đứng lên khỏi ghế,
JDG 3:21 thì Ê-hút dùng tay trái rút gươm đeo nơi hông phải ra đâm sâu vào bụng vua!
JDG 3:22 Cán lún vào và lưỡi gươm ló ra sau lưng vua. Mỡ của vua che lấp hết lưỡi gươm cho nên Ê-hút để nguyên lưỡi gươm trong bụng Éc-lôn.
JDG 3:23 Xong Ê-hút đi ra khỏi phòng khóa cửa lại.
JDG 3:24 Sau khi Ê-hút ra đi thì các tôi tớ trở lại thấy cửa khóa cho nên chúng tưởng nhà vua đi tiểu.
JDG 3:25 Chúng chờ thật lâu. Sau cùng chúng đâm lo vì vua không mở cửa cho nên chúng lấy chìa khóa và mở cửa thì thấy vua chúng nằm sóng soài trên sàn nhà!
JDG 3:26 Trong khi các tôi tớ đang hoang mang thì Ê-hút trốn thoát. Ông đi qua các pho tượng và đến Sê-ia.
JDG 3:27 Khi đến vùng núi Ép-ra-im ông liền thổi kèn. Dân Ít-ra-en nghe nên từ vùng núi đổ ra theo Ê-hút.
JDG 3:28 Ông bảo họ, “Hãy theo ta! CHÚA đã giúp các ngươi đánh bại Mô-áp, là kẻ thù các ngươi.” Vậy dân Ít-ra-en đi theo Ê-hút và chiếm chỗ băng ngang sông Giô-đanh. Họ không cho dân Mô-áp băng ngang sông Giô-đanh.
JDG 3:29 Dân Ít-ra-en giết khoảng mười ngàn dũng sĩ của Mô-áp; không một ai trốn thoát.
JDG 3:30 Cho nên trong ngày đó dân Mô-áp bị Ít-ra-en thống trị và xứ được thái bình trong tám mươi năm.
JDG 3:31 Sau Ê-hút thì Sam-ga, con A-nát, giải cứu dân Ít-ra-en. Sam-ga dùng gậy dẫn bò giết sáu trăm người Phi-li-tin.
JDG 4:1 Sau khi Ê-hút qua đời, dân Ít-ra-en lại làm điều CHÚA cho là quấy.
JDG 4:2 Cho nên Ngài để Gia-bin, vua Ca-na-an, người cai trị thành Hát-so, đánh bại dân Ít-ra-en. Xi-xê-ra ở Ha-sô-rết Ha-gô-im là tư lệnh quân đội của Gia-bin.
JDG 4:3 Vì người có chín trăm xe bọc sắt và rất tàn bạo đối với dân Ít-ra-en trong hai mươi năm cho nên dân Ít-ra-en kêu cứu cùng CHÚA.
JDG 4:4 Lúc đó có Đê-bô-ra, nữ tiên tri, vợ của Láp-bi-đốt, làm quan án cho dân Ít-ra-en.
JDG 4:5 Đê-bô-ra thường ngồi dưới gốc cây chà là Đê-bô-ra, nằm giữa hai thành phố Ra-ma và Bê-tên, trong vùng núi Ép-ra-im. Dân Ít-ra-en đến cùng bà để nhờ phân xử những tranh chấp.
JDG 4:6 Đê-bô-ra nhắn Ba-rác, con A-bi-nô-am. Ba-rác sống ở thành Kê-đết, một vùng thuộc Nép-ta-li. Đê-bô-ra bảo Ba-rác rằng, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en truyền cho ngươi như sau: Hãy đi triệu tập mười ngàn người Nép-ta-li và Xê-bu-lôn, hướng dẫn họ đến núi Ta-bô.
JDG 4:7 Ta sẽ khiến Xi-xê-ra, tư lệnh quân đội của Gia-bin, các xe bọc sắt của người, và toàn lực lượng người gặp ngươi ở sông Ki-sôn. Ta sẽ trao Xi-xê-ra vào tay ngươi.”
JDG 4:8 Nhưng Ba-rác bảo Đê-bô-ra, “Nếu bà đi với tôi thì tôi sẽ đi, còn không, tôi không đi.”
JDG 4:9 Đê-bô-ra đáp, “Dĩ nhiên tôi sẽ đi với ông, nhưng công trận của chiến thắng nầy sẽ không thuộc về ông. CHÚA sẽ dùng một người đàn bà đánh bại Xi-xê-ra.” Vậy Đê-bô-ra cùng đi với Ba-rác xuống Kê-đết.
JDG 4:10 Đến Kê-đết, Ba-rác triệu tập người Xê-bu-lôn và Nép-ta-li lại. Ông chọn ra mười ngàn người trong số họ đi theo mình, Đê-bô-ra cũng đi chung.
JDG 4:11 Lúc đó Hê-be, người Kê-nít đã chia tay với các người Kê-nít khác, tức con cháu Hê-báp, anh rể của Mô-se. Hê-be dựng lều mình gần cây cổ thụ Xa-a-nan-nim, gần Kê-đết.
JDG 4:12 Khi Xi-xê-ra hay tin Ba-rác, con A-bi-nô-am đã đi đến núi Ta-bô,
JDG 4:13 liền tập họp chín trăm xe bọc sắt và tất cả những người đi với mình, từ Ha-xô-rết Ha-gô-im cho đến sông Ki-sôn.
JDG 4:14 Đê-bô-ra bảo Ba-rác, “Hãy đứng lên! Hôm nay là ngày CHÚA sẽ trao Xi-xê-ra vào tay ông. CHÚA đã dọn đường cho ông.” Vậy Ba-rác hướng dẫn mười ngàn người đi xuống núi Ta-bô.
JDG 4:15 Khi Ba-rác gần đến, CHÚA làm rối loạn hàng ngũ Xi-xê-ra, đoàn quân và xe bọc sắt của người. CHÚA dùng gươm đánh bại chúng, Xi-xê-ra liền bỏ xe bọc sắt chạy bộ tẩu thoát.
JDG 4:16 Ba-rác và những người của ông rượt theo các xe bọc sắt và đoàn quân của Xi-xê-ra cho đến Ha-gô-im. Họ dùng gươm giết tất cả các quân lính của Xi-xê-ra, không một ai sống sót.
JDG 4:17 Còn Xi-xê-ra chạy trốn vào lều của Gia-ên. Cô là vợ Hê-be, một trong những gia đình họ Kê-nít. Gia đình Hê-be và Gia-bin, vua Hát-xo, sống hoà thuận nhau.
JDG 4:18 Gia-ên ra đón Xi-xê-ra và mời, “Ông chủ hãy vào trong lều tôi! Vào đây, đừng sợ gì.” Xi-xê-ra liền vào lều Gia-ên, rồi nàng lấy chiếu trùm người lại.
JDG 4:19 Xi-xê-ra bảo Gia-ên, “Tôi khát nước lắm. Làm ơn cho tôi chút nước uống.” Nàng liền mở bầu da đựng sữa cho người uống rồi trùm người lại.
JDG 4:20 Người bảo nàng, “Hãy ra đứng trước cửa lều. Nếu ai đến hỏi, ‘Có ai ở đây không?’ thì phải nói ‘Không có.’”
JDG 4:21 Nhưng Gia-ên vợ Hê-be lấy một cây cọc lều và một cái búa nhè nhẹ đến gần Xi-xê-ra. Vì quá mệt nên Xi-xê-ra ngủ thiếp đi. Nàng đóng cây cọc lều xuyên qua màng tang Xi-xê-ra và cắm đầu người dính xuống đất. Xi-xê-ra chết.
JDG 4:22 Lúc đó Ba-rác đi ngang lều Gia-ên vì đang rượt theo Xi-xê-ra. Gia-ên ra đón ông và bảo, “Hãy vào đây. Tôi sẽ chỉ cho ông người ông đang tìm.” Ba-rác vào trong lều thấy Xi-xê-ra nằm chết sóng soài, có cây cọc lều xuyên qua đầu.
JDG 4:23 Trong ngày đó Thượng Đế đánh bại Gia-bin, vua Ca-na-an trước mặt dân Ít-ra-en.
JDG 4:24 Dân Ít-ra-en càng ngày càng hùng mạnh hơn Gia-bin, vua Ca-na-an cho đến khi họ hoàn toàn tiêu diệt vua đó.
JDG 5:1 Trong ngày đó Đê-bô-ra và Ba-rác, con A-bi-nô-am, hát bài ca nầy:
JDG 5:2 “Các lãnh tụ hướng dẫn dân Ít-ra-en. Dân chúng tình nguyện ra trận. Đáng chúc tụng Thượng Đế!
JDG 5:3 Hỡi các vua, hãy lắng tai. Hỡi các quan quyền, hãy để ý! Chính tôi sẽ hát cho CHÚA. Tôi sẽ ca hát cho CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en.
JDG 5:4 Lạy CHÚA, khi Ngài từ Ê-đôm đến, khi Ngài bước ra từ đất Ê-đôm, đất liền rung chuyển, trời đổ mưa, các đám mây nhỏ giọt nước.
JDG 5:5 Các núi rung chuyển trước mặt CHÚA, là Thượng Đế của núi Si-nai, trước mặt CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en!
JDG 5:6 Trong thời kỳ Sam-ga, con A-nát, trong thời kỳ Gia-ên, các con đường chính vắng người. Khách lữ hành đi con đường phụ.
JDG 5:7 Không có dũng sĩ nào trong Ít-ra-en cả cho đến khi ta, Đê-bô-ra, chỗi dậy, cho đến khi ta nổi lên làm mẹ của Ít-ra-en.
JDG 5:8 Lúc đó họ đi theo các thần mới. Vì thế các kẻ thù đánh nhau với chúng ta tại cửa thành chúng ta. Không ai tìm được một cái thuẫn hay một cây giáo, dù có đến bốn mươi ngàn người Ít-ra-en.
JDG 5:9 Lòng ta thuận với các cấp chỉ huy dân Ít-ra-en. Họ vui lòng tình nguyện từ trong dân chúng. Đáng ngợi khen CHÚA!
JDG 5:10 Nầy các người cỡi lừa và ngồi trên yên bằng mền, các ngươi là những kẻ đang đi trên đường, hãy lắng nghe đây!
JDG 5:11 Hãy lắng nghe tiếng kẻ ca hát nơi giếng nước. Họ thuật lại những chiến thắng của CHÚA, Những chiến thắng của các chiến sĩ của CHÚA trong Ít-ra-en. Dân CHÚA đi xuống cổng thành.
JDG 5:12 Hỡi Đê-bô-ra, hãy thức dậy, thức dậy! Hãy thức dậy, thức dậy, hát một bài. Hỡi Ba-rác, hãy đứng lên! Hãy đi bắt quân thù ngươi, hỡi con của A-bi-nô-am!
JDG 5:13 Rồi những kẻ bị bỏ lại sẽ đi đến cùng các bậc lãnh tụ quan trọng. Các dân CHÚA sẽ đi đến cùng ta với các dũng sĩ.
JDG 5:14 Họ từ Ép-ra-im trong vùng núi của dân A-ma-léc đến. Bên-gia-min ở trong đám những kẻ đi theo ngươi. Các viên chỉ huy từ gia đình Ma-kia đến. Và những vị lãnh tụ từ Xê-bu-lôn mà ra.
JDG 5:15 Các quan trưởng Y-xa-ca đi cùng với Đê-bô-ra. Dân chúng Y-xa-ca trung thành với Ba-rác, và đi theo người cho đến thung lũng. Người Ru-bên suy nghĩ rất lâu về điều họ phải làm.
JDG 5:16 Tại sao các ngươi ở lại chuồng chiên? Có phải để nghe nhạc đánh cho chiên của các ngươi không? Người Ru-bên suy nghĩ rất lâu về điều họ phải làm.
JDG 5:17 Dân Ghi-lê-át ở về phía Đông sông Giô-đanh. Hỡi dân Đan, sao các ngươi ở gần tàu bè? Dân A-se ở gần bờ biển, nơi các hải cảng an toàn.
JDG 5:18 Nhưng dân Xê-bu-lôn liều mạng, cũng như dân Nép-ta-li trên chiến trường.
JDG 5:19 Các vua đến đánh nhau. Lúc đó các vua Ca-na-an đánh nhau ở Ta-nát, gần nước Mê-ghi-đô. Nhưng chúng không cướp được vàng hay tài sản của Ít-ra-en.
JDG 5:20 Các ngôi sao chiến đấu từ trên trời; từ các lối đi của chúng, chúng đánh Xi-xê-ra.
JDG 5:21 Sông Ki-sôn cuốn trôi những binh sĩ của Xi-xê-ra, sông xưa đó, tức sông Ki-sôn. Linh hồn ta ơi, hãy tiến lên lấy sức mạnh!
JDG 5:22 Lúc bấy giờ tiếng vó ngựa rầm rập trên đất. Những con ngựa oai hùng của Xi-xê-ra phi nhanh, phi nhanh.
JDG 5:23 Thiên sứ của CHÚA bảo, ‘Nguyền cho thành Mê-rốt bị nguyền rủa. Hãy nguyền rủa cay độc dân cư nó, vì chúng không đến giúp CHÚA. Chúng không đánh lại kẻ thù hùng mạnh.’
JDG 5:24 Nguyền Gia-ên, vợ Hê-be người Kê-nít, được phước hơn tất cả các đàn bà sống trong lều.
JDG 5:25 Xi-xê-ra xin nước, nhưng Gia-ên cho hắn uống sữa. Đựng trong chén cho xứng với quan quyền, nàng đem sữa cho hắn.
JDG 5:26 Gia-ên với tay lấy cây cọc lều. Tay phải nàng với lấy cái búa của người thợ. Nàng đập Xi-xê-ra! Nàng bửa đầu hắn ra! Nàng bửa và xoi lủng đầu hắn!
JDG 5:27 Hắn ngã quỵ nơi chân Gia-ên. Hắn ngã quỵ và nằm dài ra đó. Hắn quỵ ngã nơi chân nàng. Hắn té xuống. Nơi Xi-xê-ra quỵ ngã, hắn té xuống tắt hơi!
JDG 5:28 Mẹ Xi-xê-ra trông qua cửa sổ, nhìn qua bức màn và hỏi lớn, ‘Tại sao xe con đến chậm vậy? Tại sao tiếng ngựa kéo xe Xi-xê-ra bị chậm trễ?’
JDG 5:29 Đứa tớ gái khôn ngoan nhất của bà trả lời, và mẹ Xi-xê-ra nhủ thầm,
JDG 5:30 ‘Chắc hẳn họ đang cướp lột dân mà họ chiến thắng! Chắc hẳn họ đang chia nhau các của cướp! Mỗi binh sĩ được chia cho một hoặc hai thiếu nữ. Chắc Xi-xê-ra đang lấy các miếng vải nhuộm cho mình. Chắc họ đang lấy mấy miếng vải nhuộm, vải thêu choàng vào cổ các binh sĩ chiến thắng!’
JDG 5:31 Lạy CHÚA xin hãy khiến các kẻ thù Ngài chết kiểu đó! Nhưng xin cho những ai yêu mến Ngài mạnh mẽ như mặt trời mọc!” Rồi xứ được hưởng thái bình trong bốn mươi năm.
JDG 6:1 Dân Ít-ra-en lại làm điều CHÚA cho là quấy nên trong bảy năm CHÚA trao họ cho dân Mi-đi-an.
JDG 6:2 Vì người Mi-đi-an rất mạnh và hung bạo đối với dân Ít-ra-en cho nên người Ít-ra-en tìm các chỗ ở trong núi, trong các hang hốc và những nơi an toàn.
JDG 6:3 Hễ khi nào dân Ít-ra-en trồng trọt thì dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân khác từ miền đông đến tấn công họ.
JDG 6:4 Chúng dựng trại trong xứ và tiêu hủy hết mùa màng dân Ít-ra-en đã trồng cho đến Ga-xa. Chúng không chừa cho dân Ít-ra-en thứ gì cả, luôn cả chiên, gia súc, hay lừa.
JDG 6:5 Quân Mi-đi-an mang lều đến cùng với các súc vật đông như cào cào để phá hoại đất đai. Người và lạc đà của chúng đông không thể đếm được.
JDG 6:6 Dân Ít-ra-en trở nên nghèo đói vì dân Mi-đi-an cho nên họ kêu cứu cùng CHÚA.
JDG 6:7 Khi dân Ít-ra-en kêu xin CHÚA giải cứu khỏi tay dân Mi-đi-an,
JDG 6:8 thì Ngài sai một nhà tiên tri đến bảo họ, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta đã mang ngươi ra khỏi Ai-cập, đất nô lệ.
JDG 6:9 Ta đã cứu ngươi khỏi người Ai-cập và khỏi những kẻ chống nghịch ngươi. Ta đã đuổi dân Ca-na-an ra khỏi đất của chúng để ban đất đó cho ngươi.
JDG 6:10 Rồi ta bảo ngươi, ‘Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi. Hãy sống trong xứ dân A-mô-rít, nhưng đừng bái lạy thần của chúng nó.’ Nhưng ngươi không vâng lời ta.”
JDG 6:11 Thiên sứ của CHÚA đến và ngồi dưới cây sồi Óp-ra của Giô-ách, người A-bi-ê-rít. Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, đang đập lúa nơi bàn ép rượu để giấu lúa khỏi tay dân Mi-đi-an.
JDG 6:12 Thiên sứ CHÚA hiện ra cùng Ghi-đê-ôn bảo rằng, “Nầy dũng sĩ, CHÚA ở cùng ngươi!”
JDG 6:13 Ghi-đê-ôn hỏi, “Thưa ông, nếu CHÚA ở cùng chúng tôi tại sao chúng tôi phải lâm cảnh khốn khổ như thế nầy? Những phép lạ mà các tổ tiên chúng tôi thuật lại CHÚA đã làm khi Ngài mang họ ra khỏi Ai-cập đâu rồi? Sao bây giờ Ngài bỏ rơi chúng tôi, giao chúng tôi vào tay dân Mi-đi-an?”
JDG 6:14 CHÚA quay lại cùng Ghi-đê-ôn và bảo, “Hãy dùng năng lực của ngươi mà giải cứu dân Ít-ra-en ra khỏi tay dân Mi-đi-an. Ta là Đấng sai ngươi đi.”
JDG 6:15 Nhưng Ghi-đê-ôn thưa, “Thưa Chúa, làm sao mà tôi giải cứu dân Ít-ra-en được? Họ tôi kém nhất trong chi tộc Ma-na-xe, còn tôi là đứa bét nhất trong gia đình tôi.”
JDG 6:16 CHÚA đáp với ông, “Ta sẽ ở cùng ngươi. Ngươi sẽ thấy đám quân Mi-đi-an mà ngươi chiến đấu thực ra chỉ có một người mà thôi.”
JDG 6:17 Ghi-đê-ôn liền thưa cùng CHÚA, “Nếu Ngài bằng lòng tôi, xin cho tôi bằng chứng gì để tỏ ra Ngài đang nói chuyện với tôi.
JDG 6:18 Xin Ngài chờ đây cho đến khi tôi trở lại. Xin cho tôi dâng một của lễ bày ra trước mặt Ngài.” CHÚA bảo, “Ta sẽ chờ đây cho đến khi ngươi trở lại.”
JDG 6:19 Ghi-đê-ôn liền làm thịt một con dê con, lấy hai mươi hai lít bột và làm bánh không men. Rồi ông bỏ thịt vào trong rổ, và đổ nước cốt vào nồi. Ông mang tất cả đến dâng cho thiên sứ đang ngồi dưới cây sồi.
JDG 6:20 Thiên sứ của Thượng Đế bảo Ghi-đê-ôn, “Hãy đặt thịt và bánh không men trên tảng đá đằng kia. Rồi đổ nước cốt lên trên.” Ghi-đê-ôn làm theo.
JDG 6:21 Thiên sứ lấy đầu cây gậy đang cầm trong tay đụng vào thịt và bánh thì lửa liền bốc lên từ tảng đá thiêu đốt hết thịt và bánh! Xong thiên sứ cũng biến mất luôn!
JDG 6:22 Lúc đó Ghi-đê-ôn hiểu rằng mình đã nói chuyện với thiên sứ của CHÚA cho nên ông kêu lên, “Chúa là Thượng Đế ơi! Tôi đã đối diện với thiên sứ của CHÚA!”
JDG 6:23 Nhưng CHÚA trấn an Ghi-đê-ôn, “Bình tĩnh! Đừng sợ! Ngươi không chết đâu!”
JDG 6:24 Cho nên Ghi-đê-ôn xây một bàn thờ tại đó để thờ phụng CHÚA và gọi nơi đó là CHÚA là sự Hòa bình. Bàn thờ đó vẫn còn tại Óp-ra, nơi người A-bi-ê-rít sống.
JDG 6:25 Đêm đó CHÚA bảo Ghi-đê-ôn, “Hãy bắt con bò đực thứ nhì bảy tuổi. Hãy triệt hạ bàn thờ Ba-anh của cha ngươi, chặt tượng A-sê-ra kế bên.
JDG 6:26 Rồi xây một bàn thờ cho CHÚA là Thượng Đế ngươi bằng đá theo thứ tự ngay trên đồi nầy. Hãy giết và thiêu con bò đực thứ nhì trên bàn thờ, dùng gỗ của tượng A-sê-ra làm củi.”
JDG 6:27 Vậy Ghi-đê-ôn gọi mười tên đầy tớ và làm theo y như CHÚA dặn. Nhưng Ghi-đê-ôn sợ gia đình và các dân trong thành trông thấy cho nên ông làm các chuyện đó ban đêm, không dám làm ban ngày.
JDG 6:28 Sáng hôm sau khi dân trong thành thức dậy thì thấy bàn thờ Ba-anh đã tan tành còn tượng A-sê-ra bên cạnh bị chặt xuống! Họ cũng thấy bàn thờ Ghi-đê-ôn đã xây và con bò đực thứ nhì đã bị hoả thiêu trên đó.
JDG 6:29 Các người trong thành hỏi nhau, “Ai làm chuyện nầy vậy?” Sau khi dọ hỏi thì có người mách, “Ghi-đê-ôn, con Giô-ách làm đó.”
JDG 6:30 Họ liền bảo Giô-ách, “Mang con trai ông ra đây. Nó dám phá sập bàn thờ Ba-anh và đốn tượng A-sê-ra bên cạnh. Nó phải chết!”
JDG 6:31 Nhưng Giô-ách đáp cùng đám đông giận dữ đang vây quanh ông, “Mấy anh về phe với Ba-anh à? Mấy anh bênh hắn sao? Sáng nay ai theo phe Ba-anh sẽ bị xử tử! Nếu Ba-anh là thần thì nó phải chiến đấu tự vệ lấy vì nó để bàn thờ của nó bị phá sập mà.”
JDG 6:32 Cho nên từ hôm đó Ghi-đê-ôn có tên Giê-ru Ba-anh, nghĩa là “Hãy để Ba-anh tự chiến đấu lấy với nó,” vì Ghi-đê-ôn đã phá sập bàn thờ của Ba-anh.
JDG 6:33 Tất cả dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân khác từ phía đông họp nhau lại, băng qua sông Giô-đanh và đóng trại trong thung lũng Ghít-rê-ên.
JDG 6:34 Thần linh CHÚA nhập vào Ghi-đê-ôn, ông liền thổi kèn và kêu gọi người A-bi-ê-rít theo mình.
JDG 6:35 Ông phái sứ giả đi đến với tất cả người Ma-na-xe, kêu gọi họ theo mình. Ông cũng phái sứ giả đi đến với người A-se, Xê-bu-lôn, và Nép-ta-li. Vậy họ đi lên gặp Ghi-đê-ôn và những người theo ông.
JDG 6:36 Ghi-đê-ôn thưa cùng Thượng Đế, “Ngài hứa giúp tôi giải cứu Ít-ra-en.
JDG 6:37 Tôi sẽ để một miếng lông chiên trên sàn đạp lúa. Nếu sương chỉ làm ướt miếng lông mà đất thì khô thì tôi biết CHÚA dùng tôi để giải cứu Ít-ra-en như Ngài nói.”
JDG 6:38 Sự việc liền xảy ra như vậy. Sáng sớm hôm sau khi Ghi-đê-ôn thức dậy vắt miếng lông, ông hứng được một chén nước đầy.
JDG 6:39 Ghi-đê-ôn thưa cùng Thượng Đế, “Tôi chỉ xin một điều nữa thôi Ngài đừng giận. Hãy để tôi thử một lần nữa. Lần nầy miếng lông phải khô nhưng đất xung quanh phải ướt sương.”
JDG 6:40 Đêm đó Thượng Đế làm như vậy. Miếng lông thì khô mà đất xung quanh ướt đẫm sương.
JDG 7:1 Sáng sớm hôm sau Giê-ru Ba-anh (cũng gọi là Ghi-đê-ôn) và những người theo ông cắm trại nơi suối Ha-rốt. Người Mi-đi-an cắm trại về phía bắc của Ghi-đê-ôn trong thung lũng nơi chân đồi tên là Mô-rê.
JDG 7:2 Chúa bảo Ghi-đê-ôn, “Những người theo ngươi để đánh dân Mi-đi-an đông quá. Ta không muốn người Ít-ra-en khoe là họ tự giải cứu nhờ sức riêng của mình.
JDG 7:3 Cho nên bây giờ hãy bảo dân chúng, ‘Ai sợ thì cứ việc bỏ núi Ghi-lê-át đi về nhà.’” Hai mươi hai ngàn người trở về nhà, nhưng mười ngàn người ở lại.
JDG 7:4 Sau đó CHÚA bảo Ghi-đê-ôn, “Vẫn còn đông người quá. Hãy mang họ xuống suối để ta thử họ. Nếu ta bảo, ‘Người nầy sẽ đi với ngươi, thì người đó đi.’ Nhưng nếu ta bảo, ‘Người đó sẽ không đi với ngươi thì người đó không đi.’”
JDG 7:5 Ghi-đê-ôn liền dẫn họ xuống suối. CHÚA bảo ông, “Hãy phân chia những người uống nước liếm như chó và những người cúi xuống uống nước riêng ra.”
JDG 7:6 Có ba trăm người bụm nước trong tay đưa lên miệng, liếm nước như chó. Còn tất cả quì xuống uống nước.
JDG 7:7 Sau đó CHÚA bảo Ghi-đê-ôn, “Qua ba trăm người liếm nước đó ta sẽ giải cứu ngươi và trao Mi-đi-an vào tay ngươi. Hãy cho mấy người kia đi về.”
JDG 7:8 Ghi-đê-ôn liền cho số người còn lại ra về. Nhưng ông giữ lại ba trăm người và lấy bình cùng kèn của những người đã ra về. Lúc đó trại quân Mi-đi-an nằm trong thung lũng bên dưới Ghi-đê-ôn.
JDG 7:9 Đêm đó CHÚA bảo Ghi-đê-ôn, “Hãy thức dậy đi xuống tấn công trại quân Mi-đi-an vì ta sẽ trao chúng nó vào tay ngươi.
JDG 7:10 Nhưng nếu ngươi sợ không dám đi xuống thì mang Phu-ra, đầy tớ ngươi đi với ngươi.
JDG 7:11 Khi đi đến trại quân Mi-đi-an ngươi sẽ nghe điều họ nói. Lúc đó ngươi sẽ không còn sợ tấn công trại nữa.” Vậy Ghi-đê-ôn và người đầy tớ đi đến ven bìa của trại quân thù.
JDG 7:12 Người Mi-đi-an, người A-ma-léc, và tất cả các dân miền đông đều cắm trại trong thung lũng đó. Chúng đông đảo như cào cào. Lạc đà không đếm nổi vì nhiều như cát bờ biển vậy!
JDG 7:13 Khi Ghi-đê-ôn đến gần trại quân thù thì nghe một người thuật cho bạn mình nghe chiêm bao. Người đó kể, “Tôi chiêm bao thấy một ổ bánh lúa mạch lăn vào trại quân Mi-đi-an. Nó tông vào lều mạnh đến nỗi cái lều bật ngửa và nằm bẹp dí!”
JDG 7:14 Bạn người đó nói, “Giấc mộng của anh ám chỉ gươm của Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, người trong Ít-ra-en. Thượng Đế sẽ trao Mi-đi-an và toàn đạo quân vào tay người!”
JDG 7:15 Khi Ghi-đê-ôn nghe chuyện giấc mộng và ý nghĩa của nó thì ông bái lạy Thượng Đế. Rồi ông đi trở về trại quân Ít-ra-en kêu lớn, “Hãy thức dậy! CHÚA đã trao đạo quân Mi-đi-an vào tay các ngươi!”
JDG 7:16 Ghi-đê-ôn chia ba trăm người ra làm ba toán. Ông trao cho mỗi người một cây kèn và một bình không, bên trong có đuốc cháy.
JDG 7:17 Ghi-đê-ôn dặn họ, “Hãy nhìn ta và làm y theo ta. Khi đến ven bìa trại quân thì làm theo như ta làm.
JDG 7:18 Hãy bao vây trại quân. Khi ta và mọi người theo ta thổi kèn thì các ngươi cũng thổi kèn xong la lớn, ‘Vì CHÚA và vì Ghi-đê-ôn!’”
JDG 7:19 Ghi-đê-ôn và toán một trăm người theo mình đến ven rìa trại quân thù vừa ngay lúc chúng đổi phiên gác. Lúc đó là nửa phiên gác đêm. Ghi-đê-ôn và những người theo ông liền thổi kèn và đập bể bình.
JDG 7:20 Tất cả ba toán quân của Ghi-đê-ôn đồng thổi kèn và đập bể bình. Tay trái họ cầm đuốc, còn tay phải cầm kèn. Rồi tất cả hô lớn, “Gươm của CHÚA và của Ghi-đê-ôn!”
JDG 7:21 Mỗi người của Ghi-đê-ôn đều đứng yên tại vị trí mình quanh trại trong khi đó quân Mi-đi-an bắt đầu la ó và bỏ chạy.
JDG 7:22 Khi ba trăm quân của Ghi-đê-ôn thổi kèn thì CHÚA khiến quân Mi-đi-an lấy gươm chém giết nhau! Quân thù chạy trốn đến thành Bết-Si-ta về phía Xê-rê-ra. Chúng chạy đến biên giới A-bên Mê-hô-la, gần thành Ta-ba.
JDG 7:23 Những người Ít-ra-en từ Nép-ta-li, A-se và toàn thể dân Ma-na-xe cũng được kêu ra rượt đuổi quân Mi-đi-an.
JDG 7:24 Ghi-đê-ôn sai sứ giả đi khắp vùng núi Ép-ra-im bảo rằng, “Hãy đi xuống tấn công quân Mi-đi-an. Hãy chiếm sông Giô-đanh cho đến Bết-Ba-ra trước khi quân Mi-đi-an chạy tới đó.” Vậy họ gọi tất cả những đàn ông trong Ép-ra-im chiếm sông Giô-đanh cho đến Bết-Ba-ra.
JDG 7:25 Người Ép-ra-im bắt được hai hoàng tử người Mi-đi-an là Ô-rép và Xê-ép. Họ giết Ô-rép nơi tảng đá Ô-rép và Xê-ép nơi bàn ép nho của Xê-ép rồi tiếp tục rượt theo quân Mi-đi-an. Họ mang đầu Ô-rép và Xê-ép về cho Ghi-đê-ôn đang ở phía đông sông Giô-đanh.
JDG 8:1 Những người Ép-ra-im hỏi Ghi-đê-ôn, “Sao anh đối với chúng tôi như thế nầy? Tại sao anh không kêu chúng tôi khi anh đi đánh quân Mi-đi-an?” Họ giận dữ cãi vã với Ghi-đê-ôn.
JDG 8:2 Nhưng Ghi-đê-ôn đáp, “Tôi không giỏi như các anh! Chuyện nhỏ nhặt các anh làm còn hơn tất cả những gì dân A-bi-ê-xe của tôi làm.
JDG 8:3 Thượng Đế để các anh bắt được Ô-rép và Xê-ép, hai hoàng tử của Mi-đi-an. Làm sao tôi so sánh được với việc các anh làm?” Khi người Ép-ra-im nghe Ghi-đê-ôn giải thích như thế họ liền nguôi giận.
JDG 8:4 Khi Ghi-đê-ôn và ba trăm quân theo ông đến sông Giô-đanh thì họ mệt và đói, nhưng cũng cố rượt theo quân thù qua bên kia sông.
JDG 8:5 Ghi-đê-ôn xin dân Xu-cốt, “Làm ơn cho các binh sĩ của tôi ít bánh mì để ăn vì họ mệt lắm rồi. Tôi đang đuổi theo Xê-ba và Xanh-mu-na, hai vua Mi-đi-an.”
JDG 8:6 Nhưng các thủ lãnh Xu-cốt hỏi, “Tại sao chúng tôi phải cho lính của anh bánh mì? Mấy anh chưa bắt được Xê-ba và Xanh-mu-na mà.”
JDG 8:7 Ghi-đê-ôn đáp, “CHÚA sẽ trao Xê-ba và Xanh-mu-na vào tay ta. Lúc đó ta sẽ đánh các ngươi tróc da bằng gai gốc trong sa mạc.”
JDG 8:8 Ghi-đê-ôn rời Xu-cốt đến thành Phê-ni-ên xin họ thức ăn. Nhưng dân Phê-ni-ên trả lời giống y như dân Xu-cốt.
JDG 8:9 Ghi-đê-ôn liền bảo dân Phê-ni-ên, “Sau khi ta thắng trận, ta sẽ trở về phá sập cái tháp nầy.”
JDG 8:10 Xê-ba và Xanh-mu-na cùng đạo quân họ trốn trong thành Ca-co. Trong số các đạo quân phía đông chỉ còn khoảng mười lăm ngàn người sống sót. Một trăm hai mươi ngàn binh sĩ đã bị giết.
JDG 8:11 Ghi-đê-ôn đi lên theo con đường của những người ở lều về phía Đông Nô-ba và Giốc-bê-ha. Ông tấn công bất ngờ vào chúng.
JDG 8:12 Xê-ba và Xanh-mu-na, hai vua Mi-đi-an bỏ chạy, nhưng Ghi-đê-ôn rượt theo, bắt được và khiến cả đạo quân hoảng hốt chạy tán loạn.
JDG 8:13 Sau đó Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách từ chiến trường trở về qua Đèo Hê-rết.
JDG 8:14 Ghi-đê-ôn bắt một thanh niên từ Xu-cốt và hỏi thăm nó. Cậu thanh niên viết tên bảy mươi bảy sĩ quan và bô lão ở Xu-cốt cho Ghi-đê-ôn.
JDG 8:15 Khi Ghi-đê-ôn đến Xu-cốt, ông bảo dân thành đó, “Xê-ba và Xanh-mu-na đây. Các ngươi trước đây chế diễu ta bảo: Tại sao chúng tôi phải cấp bánh cho đạo quân mệt mỏi của anh? Anh chưa bắt được Xê-ba và Xanh-mu-na mà.”
JDG 8:16 Ghi-đê-ôn liền bắt các bô lão của thành đó và đánh phạt họ bằng chông gai trong sa mạc.
JDG 8:17 Ông cũng kéo sập tháp Phê-ni-ên và giết dân thành đó.
JDG 8:18 Ghi-đê-ôn hỏi Xê-ba và Xanh-mu-na, “Những người mà các anh giết trên núi Ta-bô ra sao?” Hai người ấy đáp, “Họ cũng như ông. Một trong những người đó trông giống như người trong hoàng tộc.”
JDG 8:19 Ghi-đê-ôn bảo, “Họ là anh em ta, con trai của mẹ ta. Ta chỉ CHÚA hằng sống mà thề, nếu mấy anh chưa giết họ thì ta sẽ tha chết cho mấy anh.”
JDG 8:20 Ghi-đê-ôn bảo Gie-thê, con trai trưởng của mình rằng, “Hãy giết mấy người nầy đi.” Nhưng vì còn nhỏ tuổi, Gie-thê sợ không dám rút gươm ra.
JDG 8:21 Xê-ba và Xanh-mu-na liền bảo Ghi-đê-ôn, “Thôi! Anh hãy tự tay giết chúng tôi đi. Như châm ngôn thường nói: Người lớn phải làm việc người lớn.” Ghi-đê-ôn liền đứng dậy giết Xê-ba và Xanh-mu-na rồi lấy các đồ trang sức trên cổ các lạc đà của họ.
JDG 8:22 Dân Ít-ra-en bảo Ghi-đê-ôn, “Ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay quân Mi-đi-an. Bây giờ chúng tôi muốn ông, con trai ông và cháu trai ông cai trị chúng tôi.”
JDG 8:23 Nhưng Ghi-đê-ôn đáp, “CHÚA sẽ cai trị các ngươi. Ta hay con trai ta sẽ không cai trị các ngươi.”
JDG 8:24 Ông nói, “Ta xin các ngươi làm một điều nầy cho ta. Ta yêu cầu mỗi người trong các ngươi cho ta một bông tai vàng mà các ngươi lấy được của giặc.” (Dân Ích-ma-ên đeo bông tai.)
JDG 8:25 Họ đáp, “Chúng tôi rất vui cho ông điều ông muốn.” Vậy họ trải một cái áo ra rồi ai nấy ném bông tai đã cướp được vào đó.
JDG 8:26 Tất cả các bông tai vàng nặng khoảng bốn mươi ba cân, không kể các đồ trang sức, vòng đeo cổ, áo tím của vua Mi-đi-an mặc, hay các dây chuyền quanh cổ lạc đà.
JDG 8:27 Ghi-đê-ôn dùng vàng đó làm một cái áo ngắn thánh đặt trong thành Óp-ra, tức thành ông ở. Nhưng toàn dân Ít-ra-en không trung tín với Thượng Đế nên họ thờ chiếc áo đó. Nó trở thành cái bẫy cho Ghi-đê-ôn và gia đình ông.
JDG 8:28 Vậy dân Mi-đi-an bị dân Ít-ra-en thống trị. Chúng không quấy rối nữa. Xứ hưởng thái bình trọn đời Ghi-đê-ôn, tức bốn mươi năm.
JDG 8:29 Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách đi về thành quê nhà mình để sống.
JDG 8:30 Ông có bảy mươi con trai ruột vì ông lấy rất nhiều vợ.
JDG 8:31 Ông lấy một người nữ nô lệ ở Sê-chem sinh được một con trai đặt tên A-bi-mê-léc.
JDG 8:32 Sau đó Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời lúc cao tuổi. Ông được chôn trong mộ của Giô-ách, cha mình, ở thành Óp-ra, nơi dân A-bi-ê-xe sinh sống.
JDG 8:33 Sau khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân Ít-ra-en lại bất trung với Thượng Đế và đi thờ thần Ba-anh. Họ tôn Ba-anh Bê-rít làm thần mình.
JDG 8:34 Họ không nhớ lại CHÚA là Thượng Đế của họ, Đấng đã giải cứu họ ra khỏi các kẻ thù sống quanh họ.
JDG 8:35 Họ cũng không biết ơn gia đình Gia-ru Ba-anh, cũng gọi là Ghi-đê-ôn, về những việc tốt ông làm cho Ít-ra-en.
JDG 9:1 A-bi-mê-léc, con trai Ghi-đê-ôn đi đến với các cậu mình ở Sê-chem. Người bảo các cậu mình và tất cả gia đình bên mẹ mình rằng,
JDG 9:2 “Hãy hỏi các lãnh tụ Sê-chem, ‘Để bảy mươi con trai Ghi-đê-ôn cai trị các ngươi hay chỉ một người cai trị, điều nào tốt hơn?’ Nên nhớ ta cũng là bà con với các ngươi.”
JDG 9:3 Các cậu của A-bi-mê-léc nói chuyện với các lãnh tụ Sê-chem về ý kiến nầy. Họ liền quyết định đi theo A-bi-mê-léc vì họ nói, “Anh ta thân thuộc với chúng ta.”
JDG 9:4 Vậy các lãnh tụ Sê-chem trao cho A-bi-mê-léc khoảng một trăm hai mươi lăm cân bạc lấy từ đền thờ thần Ba-anh Bê-rít. A-bi-mê-léc dùng bạc đó đi chiêu mộ những quân vô loại, những kẻ lưu manh đi theo mình.
JDG 9:5 Hắn đến Óp-ra, thành phố quê nhà của cha mình và tàn sát bảy mươi anh em mình, tức các con trai Ghi-đê-ôn. Hắn giết tất cả những người đó trên một tảng đá. Nhưng Giô-tham, con út Ghi-đê-ôn trốn khỏi tay A-bi-mê-léc và thoát được.
JDG 9:6 Sau đó các lãnh tụ Sê-chem và Bết Mi-lô tập họp tại cây cổ thụ lớn ở Sê-chem và tôn A-bi-mê-léc làm vua.
JDG 9:7 Giô-tham nghe tin đó liền lên đứng trên đỉnh núi Ghê-ri-xim, kêu lớn cùng dân chúng rằng: “Các lãnh tụ Sê-chem hãy lắng nghe ta để Thượng Đế sẽ nghe các ngươi!
JDG 9:8 Ngày nọ các cây cối muốn chọn một vua cai trị chúng. Chúng bảo cây ô-liu, ‘Anh hãy đến làm vua trên chúng tôi đi!’
JDG 9:9 Nhưng cây ô-liu từ chối, ‘Loài người và các thần được tôn trọng nhờ dầu của tôi. Chẳng lẽ tôi thôi sản xuất dầu và đi lay động các cây cối khác sao?’
JDG 9:10 Cây cối mới bảo cây vả, ‘Hãy đến làm vua trên chúng tôi đi!’
JDG 9:11 Nhưng cây vả đáp, ‘Chẳng lẽ tôi ngưng sản xuất các trái ngon ngọt của tôi mà đi lay động các cây cối khác sao?’
JDG 9:12 Cây cối liền bảo cây nho, ‘Hãy đến làm vua trên chúng tôi đi!’
JDG 9:13 Nhưng cây nho đáp, ‘Rượu mới của tôi khiến loài người và các thần vui mừng. Chẳng lẽ tôi ngưng sản xuất các trái ngon ngọt của tôi mà đi lay động các cây cối khác sao?’
JDG 9:14 Tất cả các cây cối liền nói với bụi gai, ‘Hãy đến làm vua trên chúng ta đi.’
JDG 9:15 Nhưng bụi gai nói, ‘Nếu các ngươi thực tâm muốn cử ta làm vua trên các ngươi thì hãy đến núp dưới bóng ta! Nếu không, nguyện lửa từ bụi gai thiêu rụi hết các cây thông Li-băng đi!’
JDG 9:16 Bây giờ các ngươi có thật tâm và chân thành muốn bầu A-bi-mê-léc làm vua không? Các ngươi có ăn ở phải chăng với gia đình Ghi-đê-ôn không? Các ngươi có đối xử đẹp với Ghi-đê-ôn không?
JDG 9:17 Nên nhớ rằng cha ta chiến đấu và liều mạng để giải phóng các ngươi khỏi quyền lực của dân Mi-đi-an.
JDG 9:18 Nhưng nay các ngươi đã phản bội gia đình cha ta mà giết bảy mươi con trai người trên một tảng đá. Các ngươi đã lập A-bi-mê-léc, con trai một người nữ nô lệ của cha ta làm vua trên các thủ lãnh của Sê-chem chỉ vì hắn là thân thuộc của các ngươi!
JDG 9:19 Cho nên nếu các ngươi thật tâm và chân thành cùng Ghi-đê-ôn và gia đình người hôm nay thì hãy vui sướng cùng A-bi-mê-léc, vua các ngươi. Và nguyện hắn cũng vui sướng cùng các ngươi!
JDG 9:20 Nếu không, cầu cho lửa từ A-bi-mê-léc bùng lên thiêu đốt các thủ lãnh Sê-chem và Bết Mi-lô! Ngoài ra, nguyện lửa ra từ các thủ lãnh Sê-chem và Bết Mi-lô thiêu đốt A-bi-mê-léc!”
JDG 9:21 Nói xong, Giô-tham chạy trốn đến thành Bê-e. Ông trú ẩn nơi đó vì sợ A-bi-mê-léc, anh mình.
JDG 9:22 A-bi-mê-léc cai trị Ít-ra-en được ba năm.
JDG 9:23 Sau đó Thượng Đế sai một ác thần đến gây rối giữa A-bi-mê-léc và các thủ lãnh Sê-chem đến nỗi họ đâm ra thù nghịch với hắn.
JDG 9:24 A-bi-mê-léc đã giết hại bảy mươi con trai của Ghi-đê-ôn, anh em mình và chính tay các thủ lãnh Sê-chem đã giúp hắn. Vì thế Thượng Đế sai ác thần đến trừng phạt họ.
JDG 9:25 Các thủ lãnh Sê-chem liền phản nghịch lại A-bi-mê-léc. Họ đặt quân phục kích trên các đỉnh đồi để cướp giựt những người qua lại. Người ta thuật cho A-bi-mê-léc chuyện đó.
JDG 9:26 Có một người tên Ga-anh, con của Ê-bết, và anh em người dọn đến ở Sê-chem. Các thủ lãnh Sê-chem tin tưởng người.
JDG 9:27 Họ đi ra vườn nho để hái trái và ép nho. Sau đó họ mở tiệc tùng trong đền thờ thần của mình, ăn uống rồi chửi rủa A-bi-mê-léc.
JDG 9:28 Ga-anh, con của Ê-bết bảo, “Chúng ta là dân Sê-chem. A-bi-mê-léc là ai mà mình phải phục vụ hắn? Có phải hắn là một trong các con của Ghi-đê-ôn, và có phải Xê-bun là sĩ quan của hắn không? Chúng ta chỉ nên phục vụ người của Ha-mô, cha Sê-chem mà thôi. Tại sao chúng ta phải phục vụ A-bi-mê-léc?
JDG 9:29 Nếu các ngươi cử ta chỉ huy dân nầy thì ta sẽ diệt A-bi-mê-léc cho xem. Ta sẽ bảo hắn, ‘Hãy chuẩn bị quân sĩ ngươi để đánh nhau.’”
JDG 9:30 Lúc đó, Xê-bun, thủ lãnh của Sê-chem, nghe Ga-anh, con Ê-bết nói, cho nên vô cùng tức giận.
JDG 9:31 Hắn sai người mật báo với A-bi-mê-léc rằng, “Ga-anh, con Ê-bết và các anh em hắn đã dọn đến Sê-chem và chúng đang xúi cả thành Sê-chem chống lại ông đó!
JDG 9:32 Ông và các binh sĩ ông phải dậy, ban đêm đi ra núp trong đồng ruộng bên ngoài thành.
JDG 9:33 Vừa khi mặt trời mọc lên thì tấn công vào thành. Khi Ga-anh và quân sĩ của nó ra nghênh chiến thì ông hãy tùy cơ mà xử trí với hắn.”
JDG 9:34 Vậy A-bi-mê-léc và các binh sĩ của mình ban đêm thức dậy, chia ra làm bốn toán mà mai phục gần thành Sê-chem.
JDG 9:35 Ga-anh, con Ê-bết đi ra đứng nơi cửa thành. Trong khi đang đứng đó thì A-bi-mê-léc và quân sĩ của hắn rời khỏi chỗ phục kích.
JDG 9:36 Khi Ga-anh thấy các binh sĩ liền bảo Xê-bun, “Kìa, có người từ trên núi xuống!” Nhưng Xê-bun bảo, “Anh thấy bóng núi đó thôi. Bóng đó giống như người ta vậy.”
JDG 9:37 Nhưng Ga-anh cả quyết, “Xem kìa, có người chạy ra từ giữa ruộng, lại có một nhóm nữa chạy ra từ cây của nhà ảo thuật!”
JDG 9:38 Xê-bun liền hỏi Ga-anh, “Bây giờ mầy còn khoác lác nữa thôi? Mầy bảo: A-bi-mê-léc là ai mà chúng ta phải phục vụ hắn? Mầy chế giễu họ. Bây giờ mầy hãy ra chiến đấu với họ đi.”
JDG 9:39 Ga-anh liền hướng dẫn dân Sê-chem ra đánh nhau với A-bi-mê-léc.
JDG 9:40 A-bi-mê-léc và các binh sĩ của hắn đuổi theo họ, nhiều người theo Ga-anh bị giết trước khi họ trở về được cửa thành.
JDG 9:41 Trong khi A-bi-mê-léc ở lại A-ru-ma, Xê-bun đuổi Ga-anh và anh em người ra khỏi Sê-chem.
JDG 9:42 Hôm sau dân Sê-chem đi ra đồng. Khi người ta cho A-bi-mê-léc hay
JDG 9:43 thì hắn chia lính của hắn ra làm ba toán phục kích trong đồng. Khi thấy dân chúng từ thành đi ra, hắn liền xông đến tấn công họ.
JDG 9:44 A-bi-mê-léc và toán theo mình chạy đến cửa thành. Hai toán kia chạy đuổi theo đám dân chúng trong đồng và đánh giết họ.
JDG 9:45 A-bi-mê-léc và quân lính của hắn đánh thành Sê-chem suốt ngày cho đến khi chiếm được thành và tàn sát dân cư trong đó. Sau đó A-bi-mê-léc san bằng thành và rắc muối lên đống gạch vụn.
JDG 9:46 Khi các thủ lãnh trong Tháp Sê-chem nghe sự việc xảy ra cho thành Sê-chem họ tiền tụ họp lại trong gian phòng an toàn nhất trong đền thờ Ên-Bê-rít.
JDG 9:47 A-bi-mê-léc hay tin các thủ lãnh trong tháp Sê-chem đã tụ tập tại đó
JDG 9:48 thì hắn và các thuộc hạ liền lên núi Xanh-môn, gần Sê-chem. A-bi-mê-léc lấy rìu chặt mấy nhánh cây rồi vác lên vai. Hắn bảo bọn thuộc hạ, “Nhanh lên! Làm y như ta làm!”
JDG 9:49 Vậy bọn thuộc hạ chặt các nhánh cây rồi đi theo A-bi-mê-léc và chất đống quanh gian phòng an toàn nhất của đền thờ. Xong chúng phóng hỏa thiêu đốt những người bên trong tháp. Tất cả những người trốn trong tháp Sê-chem đều chết cháy, khoảng một ngàn người vừa đàn ông và đàn bà.
JDG 9:50 Sau đó A-bi-mê-léc kéo sang thành Thê-be. Hắn bao vây, tấn công và chiếm thành đó.
JDG 9:51 Nhưng bên trong thành có một cái tháp kiên cố, cho nên đàn ông, đàn bà và các thủ lãnh thành đó đều chạy trốn lên tháp. Sau khi tất cả vào trong thì họ gài chốt cửa lại. Rồi mọi người leo lên nóc tháp.
JDG 9:52 A-bi-mê-léc tiến đến tháp để tấn công nó. Hắn bước đến gần cửa tháp để phóng hỏa nó,
JDG 9:53 nhưng đang khi đến gần thì một người đàn bà ném một cối đá lên đầu hắn, làm bể sọ.
JDG 9:54 Hắn vội vàng gọi một sĩ quan hầu cận vác khí giới mình bảo, “Hãy rút gươm ngươi ra giết ta. Ta không muốn thiên hạ nói, ‘Một người đàn bà đã giết A-bi-mê-léc.’” Cho nên viên sĩ quan đâm A-bi-mê-léc chết.
JDG 9:55 Khi dân Ít-ra-en thấy A-bi-mê-léc đã chết thì ai nấy trở về nhà.
JDG 9:56 Thượng Đế dùng cách đó để trừng phạt A-bi-mê-léc về tội ác hắn làm cho cha mình khi sát hại bảy mươi anh em mình.
JDG 9:57 Thượng Đế cũng trừng phạt dân chúng thành Sê-chem về điều ác họ làm. Thế là lời nguyền rủa của Giô-tham, con út Ghi-đê-ôn, thành sự thật.
JDG 10:1 Sau khi A-bi-mê-léc chết thì một quan án khác đến giải cứu dân Ít-ra-en. Đó là Thô-la, con Phu-a, cháu Đô-đô. Thô-la thuộc chi tộc Y-xa-ca và cư ngụ ở thành Sa-mia, trong vùng núi Ép-ra-im.
JDG 10:2 Thô-la làm quan án trong Ít-ra-en hai mươi ba năm. Ông qua đời và được chôn cất trong thành Sa-mia.
JDG 10:3 Sau khi Thô-la qua đời thì Giai-rơ người miền Ghi-lê-át lên làm quan án. Ông làm quan án trong Ít-ra-en hai mươi hai năm.
JDG 10:4 Giai-rơ có ba mươi con trai, cỡi ba mươi con lừa. Ba mươi người con đó cai quản ba mươi thành trong Ghi-lê-át, đến nay vẫn còn gọi là thành Giai-rơ.
JDG 10:5 Giai-rơ qua đời và được chôn trong thành Kha-môn.
JDG 10:6 Dân Ít-ra-en lại làm điều CHÚA cho là quấy. Họ thờ cúng Ba-anh và Át-tô-rết, các thần của A-ram, Xi-đôn, Mô-áp, và Am-môn, cùng các thần của dân Phi-li-tin. Dân Ít-ra-en từ bỏ CHÚA, không chịu hầu việc Ngài.
JDG 10:7 Nên CHÚA nổi giận cùng họ và trao họ vào tay dân Phi-li-tin và Am-môn.
JDG 10:8 Cũng trong năm đó các dân nầy tiêu diệt dân Ít-ra-en sống phía Đông sông Giô-đanh trong miền Ghi-lê-át, nơi dân A-mô-rít sinh sống. Dân Ít-ra-en lâm cảnh khốn khổ trong mười tám năm.
JDG 10:9 Lúc đó dân A-mô-rít băng qua sông Giô-đanh để đánh dân Giu-đa, Bên-gia-min và Ép-ra-im, gây cho dân Ít-ra-en vô cùng khốn khổ.
JDG 10:10 Nên dân Ít-ra-en kêu cứu cùng CHÚA, “Chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài. Chúng tôi đã bỏ Thượng Đế mà đi thờ lạy các thần Ba-anh.”
JDG 10:11 CHÚA trả lời dân Ít-ra-en rằng, “Khi người Ai-cập, A-mô-rít, Am-môn, Phi-li-tin,
JDG 10:12 Xi-đôn, A-ma-léc, và Ma-ôn hành hạ các ngươi, các ngươi kêu cứu ta, ta đã giải cứu các ngươi.
JDG 10:13 Nhưng nay các ngươi lại bỏ ta lần nữa mà đi thờ lạy các thần khác. Cho nên ta sẽ không giải cứu các ngươi nữa đâu.
JDG 10:14 Các ngươi đã chọn các thần khác nên hãy đi kêu cứu các thần đó đi. Hãy nhờ các thần đó giải cứu các ngươi khỏi khốn khổ.”
JDG 10:15 Nhưng dân Ít-ra-en thưa cùng CHÚA rằng, “Chúng tôi đã phạm tội. Ngài đối xử chúng tôi thế nào cũng được nhưng xin giải cứu chúng tôi hôm nay!”
JDG 10:16 Dân Ít-ra-en liền ném bỏ các thần ngoại quốc khỏi họ, và quay trở lại thờ phượng CHÚA. Nên CHÚA thương hại họ khi Ngài thấy tình cảnh khốn đốn của họ.
JDG 10:17 Dân Am-môn tập trung lại chuẩn bị tranh chiến và đóng trại tại Ghi-lê-át. Còn dân Ít-ra-en cũng tập trung và đóng trại tại Mích-ba.
JDG 10:18 Các lãnh tụ dân chúng vùng Ghi-lê-át bảo, “Ai lãnh đạo chúng ta đánh thắng người Am-môn sẽ làm đầu toàn dân cư sống trong Ghi-lê-át.”
JDG 11:1 Giép-thê là một chiến sĩ anh dũng xuất thân từ Ghi-lê-át. Cha ông tên Ghi-lê-át, còn mẹ là một gái điếm.
JDG 11:2 Vợ Ghi-lê-át có đông con trai. Khi chúng lớn lên liền đuổi Giép-thê ra khỏi nhà và bảo, “Mầy không có phần gì trong gia sản của cha chúng tao cả vì mầy là con của người đàn bà khác.”
JDG 11:3 Cho nên Giép-thê chạy trốn khỏi anh em mình và đến trú ở xứ Tóp. Có một số đứa du đãng đi theo ông tại đó.
JDG 11:4 Sau một thời gian dân Am-môn tranh chiến với dân Ít-ra-en.
JDG 11:5 Khi dân Am-môn gây chiến với dân Ít-ra-en thì các bô lão Ghi-lê-át đi đến xứ Tóp tìm mang Giép-thê về.
JDG 11:6 Họ bảo ông, “Hãy về lãnh đạo quân ngũ chúng ta để đánh dân Am-môn.”
JDG 11:7 Nhưng Giép-thê trả lời, “Không phải mấy ông vốn ghét tôi à? Mấy ông đuổi tôi ra khỏi nhà cha tôi. Vậy sao bây giờ mấy ông còn đến tìm tôi khi gặp nguy biến?”
JDG 11:8 Các bô lão Ghi-lê-át bảo Giép-thê, “Chính vì đang gặp khốn đốn mà bây giờ chúng ta đến với ngươi. Xin đến giúp chúng ta đánh dân Am-môn. Ngươi sẽ cai trị tất cả dân sống trong Ghi-lê-át.”
JDG 11:9 Giép-thê hỏi lại, “Nếu các ông mang tôi về Ghi-lê-át để đánh dân Am-môn, và nếu CHÚA giúp tôi đắc thắng thì tôi sẽ cai trị các ông phải không?”
JDG 11:10 Các bô lão của Ghi-lê-át bảo, “CHÚA nghe tất cả những gì chúng ta đang nói đây. Chúng ta hứa sẽ làm mọi điều ngươi bảo chúng ta làm.”
JDG 11:11 Vậy Giép-thê đi theo các bô lão trở về Ghi-lê-át, rồi dân chúng cử ông làm lãnh tụ họ và chỉ huy quân đội. Ở Mích-ba, Giép-thê lặp lại mọi lời ông nói trước mặt CHÚA.
JDG 11:12 Giép-thê sai các sứ giả đến vua hỏi, “Việc gì mà ngươi nghịch lại Ít-ra-en? Tại sao ngươi tấn công xứ chúng tôi?”
JDG 11:13 Vua Am-môn trả lời sứ giả của Giép-thê như sau, “Chúng ta đánh Ít-ra-en là vì các ngươi chiếm đất chúng tôi khi các ngươi ra khỏi Ai cập. Các ngươi chiếm đất chúng tôi từ sông Ạc-nôn cho đến sông Gia-bốc và sông Giô-đanh. Bây giờ hãy yên ổn trả đất lại cho chúng tôi.”
JDG 11:14 Các sứ giả của Giép-thê trở về thuật lại cho ông. Giép-thê lại sai các sứ giả đến vua Am-môn lần nữa.
JDG 11:15 Các sứ giả bảo, “Giép-thê nói thế nầy: Dân Ít-ra-en không có chiếm đất của dân Mô-áp hay Am-môn.
JDG 11:16 Khi Ít-ra-en đi ra khỏi Ai-cập, họ đi vào sa mạc đến Hồng hải rồi đến Ca-đe.
JDG 11:17 Ít-ra-en sai sứ giả đến vua Ê-đôm yêu cầu rằng: Xin cho phép dân Ít-ra-en băng ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không chịu. Chúng tôi cũng yêu cầu vua Mô-áp như vậy nhưng vua Mô-áp cũng không cho. Vì thế dân Ít-ra-en ở lại Ca-đe.
JDG 11:18 Rồi dân Ít-ra-en đi vào sa mạc vòng quanh biên giới xứ Ê-đôm và Mô-áp. Ít-ra-en đi về hướng Đông xứ Mô-áp và đóng trại bên kia bờ sông Ạc-nôn, nằm trên ranh giới Mô-áp. Họ không có băng qua sông đi vào xứ Mô-áp.
JDG 11:19 Sau đó dân Ít-ra-en sai sứ đến Si-hôn, vua A-mô-rít, vua của Hết-bôn và yêu cầu: Xin vua cho phép dân Ít-ra-en đi ngang qua xứ vua để vào xứ chúng tôi.
JDG 11:20 Nhưng vua Si-hôn không tin dân Ít-ra-en nên không cho băng qua xứ. Vua liền triệu tập tất cả dân chúng đến đóng quân tại Gia-hát và gây chiến với Ít-ra-en.
JDG 11:21 Nhưng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en trao Si-hôn và đạo quân của vua đó vào tay dân Ít-ra-en. Vậy là toàn thể đất đai của dân A-mô-rít trở thành tài sản của dân Ít-ra-en.
JDG 11:22 Cho nên dân Ít-ra-en chiếm toàn thể đất đai của dân A-mô-rít từ sông Ạc-nôn cho đến sông Gia-bốc, từ sa mạc cho đến sông Giô-đanh.
JDG 11:23 Chính CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en đánh đuổi dân A-mô-rít trước mặt dân Ít-ra-en. Cho nên vua tưởng chúng tôi đánh đuổi họ sao?
JDG 11:24 Hãy lấy đất mà Kê-mốt, thần của vua đã cho vua. Chúng tôi sẽ sống trong đất mà CHÚA là Thượng Đế chúng tôi đã cấp cho chúng tôi!
JDG 11:25 Vua có khá hơn Ba-lác, con Xíp-bô, vua Mô-áp không? Ông ta đã chẳng từng kiếm chuyện và tranh chiến với dân Ít-ra-en sao?
JDG 11:26 Trong ba trăm năm dân Ít-ra-en đã định cư tại Hết-bôn, A-rô-e và các thị trấn xung quanh và các thành dọc theo sông Ạc-nôn. Lúc đó sao vua không chiếm lại các thị trấn đó đi?
JDG 11:27 Chúng tôi không có lỗi với vua nhưng chính vua có lỗi bằng cách gây chiến với chúng tôi. Nguyền xin CHÚA là Quan Án phân xử giữa Ít-ra-en và Am-môn xem bên nào phải.”
JDG 11:28 Nhưng vua Am-môn không thèm đếm xỉa đến lời nhắn của Giép-thê.
JDG 11:29 Lúc đó Thần linh của Thượng Đế nhập vào Giép-thê. Ông đi qua miền Ghi-lê-át và Ma-na-xe, qua thành Mích-ba trong Ghi-lê-át rồi đến xứ dân Am-môn.
JDG 11:30 Giép-thê hứa nguyện với CHÚA rằng, “Nếu Ngài trao dân Am-môn vào tay tôi
JDG 11:31 thì bất cứ sinh vật gì từ trong nhà tôi ra đón tôi đầu tiên khi tôi chiến thắng trở về thì tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu cho Ngài. Vật đó sẽ là của Ngài.”
JDG 11:32 Rồi Giép-thê tiến đánh dân Am-môn. CHÚA trao chúng vào tay ông.
JDG 11:33 Trong một chiến thắng lớn, Giép-thê đánh bại họ từ thành A-rô-e cho đến vùng Min-nít, và hai mươi thị trấn cho đến thành A-bên Kê-ra-mim. Thế là dân Am-môn bị đại bại trước dân Ít-ra-en.
JDG 11:34 Khi Giép-thê trở về nhà tại Mích-ba thì con gái ông là người đầu tiên ra đón ông, đánh trống cơm và nhảy múa. Cô là con một của Giép-thê; ông không có con trai hay con gái nào khác.
JDG 11:35 Khi Giép-thê thấy con gái mình thì ông tức tối xé quần áo. Ông bảo, “Con ơi! Con làm cha rầu lắm vì cha đã hứa với CHÚA, không thể nuốt lời!”
JDG 11:36 Cô gái liền thưa, “Cha ơi, cha đã hứa với CHÚA thì cha cứ làm cho con theo như điều cha hứa vì Ngài đã giúp cha đánh thắng người Am-môn, kẻ thù của cha.”
JDG 11:37 Cô tiếp, “Nhưng con xin cha làm một điều thôi. Xin để cho con yên trong hai tháng. Vì con sẽ không bao giờ có chồng cho nên hãy để con và bạn hữu con lên núi than khóc cùng nhau.”
JDG 11:38 Giép-thê bảo, “Con cứ đi đi.” Thế là ông để cô gái đi trong hai tháng. Cô và bạn hữu ở trong núi và khóc than cho số phận mình vì cô sẽ không bao giờ lấy chồng.
JDG 11:39 Sau hai tháng cô trở về cùng cha mình và Giép-thê thực hiện lời ông hứa. Con gái Giép-thê không bao giờ có chồng. Từ đó trong Ít-ra-en có tục lệ là
JDG 11:40 mỗi năm các thiếu nữ trẻ trong Ít-ra-en đi ra ở riêng bốn ngày để tưởng nhớ con gái Giép-thê thuộc Ghi-lê-át.
JDG 12:1 Người Ép-ra-im triệu tập binh sĩ lại và băng qua sông đến thị trấn Xa-phong. Họ hỏi Giép-thê, “Sao ông không gọi chúng tôi khi ông đi đánh dân Am-môn? Chúng tôi sẽ đốt nhà rồi hỏa thiêu ông luôn trong đó.”
JDG 12:2 Giép-thê trả lời, “Người của tôi và tôi đánh trận lớn cùng dân Am-môn. Tôi đã gọi anh em nhưng anh em không chịu đến giúp.
JDG 12:3 Khi tôi thấy anh em không chịu giúp thì tôi liều mạng đi đánh dân Am-môn. CHÚA trao họ vào tay tôi. Sao hôm nay anh em lại đến đây muốn gây chiến với tôi?”
JDG 12:4 Giép-thê liền triệu tập người Ghi-lê-át đi đánh người Ép-ra-im. Người Ghi-lê-át đánh họ thua liểng xiểng vì người Ép-ra-im bảo, “Mấy anh người Ghi-lê-át chỉ là bọn đào ngũ từ Ép-ra-im sống giữa Ép-ra-im và Ma-na-xe.”
JDG 12:5 Người Ghi-lê-át chiếm được chỗ cạn băng qua sông Giô đanh để đi đến Ép-ra-im. Người Ép-ra-im nào thoát được mà yêu cầu, “Xin cho tôi băng qua sông.” Thì người Ghi-lê-át hỏi, “Anh có phải người Ép-ra-im không?” Nếu người đó đáp “Không,”
JDG 12:6 thì họ bảo, “Anh nói chữ ‘Si-bô-lết’ đi.” Người Ép-ra-im không thể nào phát âm đúng chữ đó được. Cho nên hễ người Ép-ra-im nào nói “Xi-bô-lết” thì người Ghi-lê-át giết họ ngay ở chỗ cạn băng qua sông. Lúc đó có khoảng bốn mươi hai ngàn người Ép-ra-im bị giết.
JDG 12:7 Giép-thê làm quan án trong Ít-ra-en sáu năm. Rồi Giép-thê, người Ghi-lê-át, qua đời và được chôn cất trong một thị trấn ở Ghi-lê-át.
JDG 12:8 Sau khi Giép-thê qua đời, Íp-san người Bết-lê-hem làm quan án trong Ít-ra-en.
JDG 12:9 Ông có ba mươi con trai và ba mươi con gái. Ông gả con gái mình cho những người không thuộc chi tộc mình, và cưới ba mươi thiếu nữ cũng không thuộc chi tộc mình cho các con trai. Íp-san làm quan án trong Ít-ra-en bảy năm.
JDG 12:10 Rồi ông qua đời, được chôn cất ở Bết-lê-hem.
JDG 12:11 Sau khi Íp-san chết, Ê-lôn thuộc chi tộc Xê-bu-lôn lên làm quan án trong Ít-ra-en. Ông xét xử dân Ít-ra-en mười năm.
JDG 12:12 Rồi Ê-lôn, người Xê-bu-lôn qua đời, được chôn cất trong thành A-gia-lôn trong xứ Xê-bu-lôn.
JDG 12:13 Sau khi Ê-lôn qua đời, Áp-đôn, con Hi-len người thành Bi-ra-thôn làm quan án trong Ít-ra-en.
JDG 12:14 Ông có bốn mươi con trai và ba mươi cháu trai, chúng cỡi bảy mươi con lừa. Ông xét xử dân Ít-ra-en tám năm.
JDG 12:15 Rồi Áp-đôn, con Hi-len qua đời, được chôn cất trong thành Bi-ra-thôn thuộc đất Ép-ra-im, trong vùng núi có dân A-ma-léc sinh sống.
JDG 13:1 Dân Ít-ra-en lại làm điều CHÚA cho là quấy. Cho nên Ngài trao họ vào tay dân Phi-li-tin trong bốn mươi năm.
JDG 13:2 Có một người tên Ma-nô-a thuộc chi tộc Đan, sống trong thành Xô-ra. Ông có vợ nhưng vợ ông không sinh sản được.
JDG 13:3 Thiên sứ của Thượng Đế hiện ra cùng vợ Ma-nô-a bảo rằng, “Ngươi xưa nay không sinh sản được nhưng ngươi sẽ thụ thai và sinh một con trai.
JDG 13:4 Hãy cẩn thận đừng uống rượu hay thứ gì say, hoặc ăn thức không tinh sạch,
JDG 13:5 vì ngươi sẽ mang thai và sinh một con trai. Ngươi đừng bao giờ hớt tóc nó vì nó sẽ làm người Na-xi-rê, tức được dâng cho Thượng Đế từ lúc mới sinh. Nó sẽ bắt đầu giải cứu dân Ít-ra-en ra khỏi bạo quyền của dân Phi-li-tin.”
JDG 13:6 Vợ Ma-nô-a liền đi thuật lại mọi việc cho chồng nghe. Nàng kể, “Một người của Thượng Đế đến gặp em. Người đó giống như thiên sứ của Thượng Đế; diện mạo người rất dễ sợ. Em không dám hỏi người từ đâu đến hay tên gì.
JDG 13:7 Nhưng người đó bảo em, ‘Ngươi sẽ mang thai và sinh một trai. Đừng uống rượu hay thứ gì say hoặc ăn đồ gì không tinh sạch vì đứa trẻ sẽ làm người Na-xi-rê cho Thượng Đế từ lúc sinh ra cho đến lúc qua đời.’”
JDG 13:8 Ma-nô-a liền cầu nguyện cùng Thượng Đế: “Lạy CHÚA, tôi xin Ngài phái người của Thượng Đế trở lại lần nữa. Để người dạy chúng tôi phải làm gì cho đứa nhỏ sẽ sinh ra cho chúng tôi.”
JDG 13:9 Thượng Đế nghe lời cầu nguyện của Ma-nô-a, thiên sứ của Ngài lại gặp vợ Ma-nô-a lần nữa trong khi nàng đang ngồi trong ruộng. Nhưng Ma-nô-a lúc đó không có mặt.
JDG 13:10 Nàng vội vàng chạy đi báo cho chồng, “Ông đó đây rồi! Người hôm trước hiện ra với em ở đây nầy!”
JDG 13:11 Ma-nô-a liền đứng dậy đi theo vợ. Khi ông gặp người đó ông hỏi, “Ông có phải là người hôm trước nói chuyện với vợ tôi không?” Người đó đáp, “Phải.”
JDG 13:12 Ma-nô-a liền hỏi tiếp, “Vậy khi nào thì điều ông nói sẽ xảy ra và cuộc sống đứa nhỏ sẽ ra sao? Nó phải làm gì?”
JDG 13:13 Thiên sứ của CHÚA đáp, “Vợ ông phải cẩn thận làm mọi điều ta căn dặn.
JDG 13:14 Chị ta không được ăn thứ gì mọc trên dây nho, hay uống rượu hoặc món gì say, hoặc ăn đồ không tinh sạch. Vợ ông phải làm đúng theo mọi điều tôi dặn.”
JDG 13:15 Ma-nô-a thưa cùng thiên sứ của CHÚA, “Xin mời ông nán lại đôi chút để chúng tôi nấu thịt dê con thết đãi ông.”
JDG 13:16 Thiên sứ của CHÚA đáp, “Dù ta có ở nán lại ta cũng sẽ không ăn đồ ngươi dọn. Nhưng nếu ngươi muốn sửa soạn món gì thì hãy dâng của lễ thiêu cho CHÚA.” Ma-nô-a không biết rằng người ấy quả thật là thiên sứ của CHÚA.
JDG 13:17 Ma-nô-a liền hỏi thiên sứ của CHÚA, “Tên ông là gì? Để chúng tôi sẽ tôn kính ông khi những điều ông nói thành sự thật.”
JDG 13:18 Thiên sứ của CHÚA đáp, “Sao ngươi hỏi tên ta làm gì? Tên ta vô cùng huyền diệu ngươi không hiểu nổi đâu.”
JDG 13:19 Ma-nô-a liền dâng một con dê con trên một tảng đá và dâng ngũ cốc làm của lễ cho CHÚA. Rồi một chuyện kỳ diệu xảy ra trước mắt vợ chồng Ma-nô-a.
JDG 13:20 Lửa từ bàn thờ bốc lên trời. Trong khi lửa cháy thì thiên sứ CHÚA cũng theo ngọn lửa lên trời luôn. Khi vợ chồng Ma-nô-a thấy vậy, cả hai liền sấp mình xuống đất bái lạy.
JDG 13:21 Thiên sứ của CHÚA không còn hiện ra với họ nữa. Nên Ma-nô-a hiểu rằng người đó quả thật là thiên sứ của CHÚA.
JDG 13:22 Ma-nô-a bảo, “Chúng ta đã thấy Thượng Đế cho nên chắc chúng ta sẽ chết.”
JDG 13:23 Nhưng vợ ông bảo, “Nếu CHÚA muốn giết chúng ta thì Ngài đã không nhận của lễ thiêu hay của lễ chay của chúng ta. Ngài hẳn đã không cho chúng ta thấy những điều nầy hay báo cho chúng ta biết những việc nầy.”
JDG 13:24 Sau đó người đàn bà sinh ra một con trai đặt tên là Sam-sôn. Cậu bé lớn lên được CHÚA ban phước.
JDG 13:25 Thần linh của Thượng Đế bắt đầu hành động trên Sam-sôn trong khi ông đang ở trong thành Ma-ha-ne Đan, giữa hai thành Xô-ra và Ếch-ta-ôn.
JDG 14:1 Sam-sôn đi xuống thành Thim-na thấy một thiếu nữ Phi-li-tin.
JDG 14:2 Khi trở về nhà ông thưa với cha mẹ, “Con thấy một thiếu nữ Phi-li-tin ở Thim-na. Con muốn cha mẹ đi hỏi nàng làm vợ cho con.”
JDG 14:3 Cha mẹ ông trả lời, “Trong Ít-ra-en cũng có thiếu nữ để con cưới được chớ. Tại sao con phải lấy một thiếu nữ Phi-li-tin là những người không chịu cắt dương bì?” Nhưng Sam-sôn nhất quyết, “Cha mẹ hãy hỏi cô ấy cho con! Con muốn lấy cô ta!”
JDG 14:4 Cha mẹ Sam-sôn không biết rằng CHÚA sắp xếp chuyện nầy để ông tìm cách thách thức dân Phi-li-tin đang thống trị Ít-ra-en lúc đó.
JDG 14:5 Sam-sôn theo cha mẹ đi xuống Thim-na đến vườn nho gần đó. Bỗng nhiên có một con sư tử tơ xuất hiện gầm thét lao tới Sam-sôn!
JDG 14:6 Thần của CHÚA nhập vào Sam-sôn mãnh liệt, ông dùng tay không xé con sư tử làm đôi dễ dàng như người ta xé con dê con vậy. Nhưng Sam-sôn không thuật cho cha mẹ nghe điều mình mới làm.
JDG 14:7 Rồi ông vào thành nói chuyện với thiếu nữ Phi-li-tin, ông đâm ra thích nàng.
JDG 14:8 Nhiều ngày sau đó ông trở lại để cưới nàng. Đang khi đi đường ông rẽ lối để xem xác con sư tử thì thấy có một bầy ong và mật trong đó.
JDG 14:9 Sam-sôn lấy tay bụm mật ong vừa đi vừa ăn. Khi đến với cha mẹ, ông cho cha mẹ ăn nữa. Hai người cũng ăn nhưng Sam-sôn không cho họ biết là ông lấy mật ong từ xác con sư tử.
JDG 14:10 Cha Sam-sôn xuống gặp thiếu nữ Phi-li-tin. Sam-sôn bày ra một bữa tiệc theo tục lệ của bên chú rể.
JDG 14:11 Khi người Phi-li-tin thấy mở tiệc liền cho ba mươi người kết bạn với ông.
JDG 14:12 Sam-sôn bảo họ “Tôi sẽ ra cho anh em một câu đố. Trong bảy ngày tiệc anh em hãy ráng tìm câu trả lời. Nếu tìm được, tôi sẽ cho anh em ba mươi áo vải gai, và ba mươi bộ áo để thay đổi.
JDG 14:13 Nhưng nếu anh em không trả lời được anh em phải trả cho tôi ba mươi áo vải gai và ba mươi bộ áo để thay đổi.” Họ bảo, “Hãy ra câu đố của anh cho chúng tôi nghe đi.”
JDG 14:14 Sam-sôn nói, “Thức ăn từ người ăn mà ra. Vật ngọt từ thứ mạnh mà ra.” Sau ba ngày họ chưa tìm ra được câu trả lời.
JDG 14:15 Đến ngày thứ tư họ bảo vợ Sam-sôn, “Chị mời chúng tôi đến đây để bóc lột chúng tôi à? Hãy dụ chồng chị nói cho chúng tôi biết câu trả lời của câu đố nầy đi. Nếu không chúng tôi sẽ đốt chị và mọi người trong nhà cha chị đó.”
JDG 14:16 Vợ Sam-sôn liền đi đến khóc lóc với chồng và bảo, “Anh ghét em! Anh không thực lòng yêu em! Anh ra câu đố cho dân của em mà không cho em biết câu trả lời.” Sam-sôn đáp, “Cha mẹ anh mà anh còn chưa nói cho biết chẳng lẽ anh nói với em sao?”
JDG 14:17 Mấy ngày còn lại của bữa tiệc vợ Sam-sôn kêu khóc mãi. Sau cùng quá bực mình vì nàng nên Sam-sôn cho nàng biết câu trả lời. Rồi nàng đi bảo cho dân nàng.
JDG 14:18 Vào ngày thứ bảy của bữa tiệc trước khi mặt trời lặn, người Phi-li-tin đã có câu trả lời. Họ đến cùng Sam-sôn bảo, “Có gì ngọt hơn mật? Có gì mạnh hơn sư tử?” Sam-sôn liền bảo họ, “Nếu mấy anh không dùng bò cái tơ ta mà cày ruộng, thì chắc chắn mấy anh không thể nào giải được câu đố ta đâu!”
JDG 14:19 Rồi Thần linh của Thượng Đế nhập vào Sam-sôn và ban cho ông sức mạnh phi thường. Sam-sôn đi xuống thành Ách-ca-lôn giết ba mươi người lấy áo quần họ trao cho những người đã giải đáp câu đố. Rồi ông trở về nhà cha mình và vô cùng tức tối.
JDG 14:20 Còn vợ Sam-sôn thì bị gả cho chàng phụ rể của ông.
JDG 15:1 Vào mùa gặt lúa mạch Sam-sôn xuống thăm vợ mang theo một con dê con. Sam-sôn nói, “Tôi muốn đi vào phòng của vợ tôi,” nhưng cha nàng không cho.
JDG 15:2 Ông bảo, “Tôi tưởng anh ghét nó nên đã gả nó cho người phụ rể của anh rồi. Em gái nó đẹp hơn, lấy nó đi.”
JDG 15:3 Nhưng Sam-sôn đáp, “Lần nầy nếu tôi làm hại người Phi-li-tin thì không ai có thể trách tôi được!”
JDG 15:4 Sam-sôn liền đi ra bắt ba trăm con chồn. Ông cột đuôi của mỗi hai con lại với nhau rồi cột một bó đuốc ở giữa hai đuôi.
JDG 15:5 Sau khi đốt đuốc, Sam-sôn thả các con chồn vào trong ruộng lúa của người Phi-li-tin đốt cháy tiêu lúa đang mọc, lúa đã gặt, vườn nho, và các cây ô liu.
JDG 15:6 Người Phi-li-tin hỏi, “Ai làm chuyện nầy vậy?” Có người mách, “Sam-sôn, con rể của ông ở Thim-na làm đó vì cha vợ hắn gả vợ hắn cho chàng phụ rể của hắn.” Người Phi-li-tin liền đốt chết vợ Sam-sôn và cha nàng.
JDG 15:7 Sam-sôn bảo người Phi-li-tin, “Vì mấy anh làm chuyện nầy, ta sẽ không ở yên cho tới khi báo thù mấy anh được mới thôi!”
JDG 15:8 Sam-sôn tấn công người Phi-li-tin và giết nhiều người trong đám họ. Rồi ông đến ở trong một hang đá tại Ê-tam.
JDG 15:9 Người Phi-li-tin đến đóng trại trong xứ Giu-đa, gần một nơi gọi là Lê-hi.
JDG 15:10 Những người Giu-đa hỏi họ, “Tại sao mấy anh lên đánh chúng tôi?” Họ đáp, “Chúng tôi lên bắt Sam-sôn để trả thù chuyện hắn làm cho dân chúng tôi.”
JDG 15:11 Ba ngàn người Giu-đa đi đến hang đá Ê-tam và hỏi Sam-sôn, “Anh đã làm gì cho chúng tôi vậy? Anh không biết người Phi-li-tin cai trị chúng ta sao?” Sam-sôn trả lời, “Tôi chỉ trả thù việc chúng nó làm cho tôi thôi.”
JDG 15:12 Họ tiếp, “Chúng tôi đi xuống đặng trói anh và giải giao cho dân Phi-li-tin.” Sam-sôn bảo, “Mấy anh phải hứa là sẽ không làm hại tôi.”
JDG 15:13 Người Giu-đa đáp, “Đồng ý. Chúng tôi chỉ muốn trói anh giải cho người Phi-li-tin thôi. Chúng tôi sẽ không giết anh.” Vậy họ trói Sam-sôn bằng hai sợi dây thừng mới và dắt ông ra khỏi hang đá.
JDG 15:14 Khi Sam-sôn đi đến nơi gọi là Lê-hi thì người Phi-li-tin reo hò hớn hở. Lúc đó Thần linh của Thượng Đế nhập vào Sam-sôn, ban cho ông sức mạnh phi thường. Các sợi dây thừng trói ông trở thành yếu ớt như sợi chỉ bị đốt và rớt khỏi tay ông!
JDG 15:15 Sam-sôn tìm được một cái hàm lừa của một con lừa chết, cầm lên và dùng nó đánh giết một ngàn người!
JDG 15:16 Rồi Sam-sôn ca, “Dùng một hàm lừa, ta biến chúng nó ra lũ lừa. Dùng một hàm lừa thôi, ta giết một ngàn người!”
JDG 15:17 Sau khi nói xong, ông ném cái hàm lừa đi. Vì thế chỗ đó gọi là Ra-mát Lê-hi.
JDG 15:18 Sam-sôn khát nước hết sức cho nên ông kêu xin CHÚA, “Ngài đã ban cho tôi, kẻ tôi tớ Ngài, chiến thắng lớn. Chẳng lẽ bây giờ tôi phải chết khát sao? Tại sao tôi phải rơi vào tay của những kẻ không chịu cắt dương bì?”
JDG 15:19 CHÚA liền khơi một lỗ dưới đất tại Lê-hi, nước phun ra. Sau khi Sam-sôn uống, cảm thấy thoải mái và phục hồi lại sức mạnh. Cho nên ông gọi suối đó là Suối Khẩn cầu, ngày nay vẫn còn ở Lê-hi.
JDG 15:20 Sam-sôn xét xử dân Ít-ra-en trong hai mươi năm vào thời dân Phi-li-tin thống trị.
JDG 16:1 Một hôm Sam-sôn xuống Ga-xa thấy một cô gái điếm. Ông vào ngủ với nàng.
JDG 16:2 Khi người Ga-xa nghe biết, “Sam-sôn có mặt ở đây!” họ liền bao vây nơi đó và rình ông gần cửa thành suốt đêm. Họ thì thầm bảo nhau, “Sáng mai chúng ta sẽ giết hắn!”
JDG 16:3 Nhưng Sam-sôn chỉ ngủ với cô gái điếm đến nửa đêm thôi. Rồi ông thức dậy và nắm các cánh cửa và hai cây cột cửa của thành nhổ lên cùng với thanh gài, xong vác chúng lên vai mang lên đỉnh đồi đối diện thành Hếp-rôn.
JDG 16:4 Sau đó Sam-sôn yêu một thiếu nữ tên Đa-li-la, trong thung lũng Sô-réc.
JDG 16:5 Các quan trưởng Phi-li-tin đến bảo Đa-li-la, “Hãy tìm xem tại sao Sam-sôn mạnh như thế. Dụ hắn để hắn cho chị biết làm sao chúng tôi có thể đè hắn xuống, bắt và trói hắn lại. Nếu chị làm được thì mỗi chúng tôi sẽ cho chị hai mươi tám cân bạc.”
JDG 16:6 Vì thế Đa-li-la liền hỏi Sam-sôn, “Anh hãy cho em biết tại sao anh mạnh như vậy. Làm sao người ta có thể trói bắt anh được?”
JDG 16:7 Sam-sôn đáp, “Nếu ai lấy bảy dây cung mới chưa dùng mà trói anh thì anh sẽ trở thành yếu ớt như mọi người.”
JDG 16:8 Các quan Phi-li-tin liền mang cho Đa-li-la bảy sợi dây cung mới tinh chưa dùng, rồi nàng dùng chúng trói Sam-sôn lại.
JDG 16:9 Lúc đó có mấy người đang núp trong một phòng khác. Đa-li-la liền kêu, “Sam-sôn ơi, người Phi-li-tin đến kìa!” Nhưng Sam-sôn bứt đứt các dây cung như dây bị lửa cháy. Người Phi-li-tin không tìm được bí quyết về sức mạnh phi thường của Sam-sôn.
JDG 16:10 Đa-li-la liền bảo Sam-sôn, “Anh gạt em. Anh nói dối với em. Thôi bây giờ anh hãy cho em biết làm sao người ta trói anh được.”
JDG 16:11 Sam-sôn trả lời, “Người ta phải dùng dây thừng mới chưa dùng trói anh mới được. Lúc đó anh sẽ trở nên yếu ớt như những người khác.”
JDG 16:12 Vậy Đa-li-la dùng các dây thừng mới trói Sam-sôn. Lúc đó có người núp trong một phòng kế cận. Nàng liền kêu, “Sam-sôn ơi, người Phi-li-tin đây rồi!” Nhưng Sam-sôn bứt đứt các dây thừng như những sợi chỉ vậy.
JDG 16:13 Đa-li-la liền nói với Sam-sôn, “Anh lại gạt em nữa. Anh nói dối với em. Bây giờ anh hãy cho em biết làm sao người ta trói anh được.” Ông bảo, “Hãy lấy khung cửi, dệt bảy lọn tóc của anh vào trong khung vải, rồi siết lại bằng một cái kẹp thì anh sẽ yếu ớt như những người khác.” Trong khi Sam-sôn đang ngủ, Đa-li-la dệt bảy lọn tóc của ông vào khung vải.
JDG 16:14 Rồi lấy cái kẹp giữ chặt lại. Xong nàng kêu Sam-sôn, “Sam-sôn ơi, người Phi-li-tin đây rồi!” Sam-sôn thức dậy giật cái kẹp, khung cửi và con thoi ra cùng với vải.
JDG 16:15 Đa-li-la bảo ông, “Làm sao anh nói, ‘Anh yêu em’ mà anh không tin em? Đây là lần thứ ba anh gạt em. Anh chưa cho em biết bí quyết sức mạnh phi thường của anh.”
JDG 16:16 Ngày nầy sang ngày khác nàng làm Sam-sôn bực mình về bí quyết sức mạnh của mình đến nỗi ông muốn chết phứt cho rồi!
JDG 16:17 Nên ông cho nàng biết hết sự thật. Ông bảo, “Anh chưa bao giờ hớt tóc vì anh đã được biệt riêng cho Thượng Đế làm người Na-xi-rê từ lúc mới sinh. Nếu ai cạo đầu anh, anh sẽ không còn sức mạnh và rồi sẽ yếu ớt như những ngươi khác.”
JDG 16:18 Khi Đa-li-la thấy Sam-sôn khai thật hết với mình thì nàng nhắn các quan Phi-li-tin. Nàng bảo, “Hãy xuống đây lần nữa vì hắn đã khai thật hết với tôi.” Vậy người Phi-li-tin đến cùng Đa-li-la mang bạc theo.
JDG 16:19 Đa-li-la dụ cho Sam-sôn ngủ tựa đầu trên lòng nàng. Rồi nàng bảo một người cắt hết bảy lọn tóc Sam-sôn. Vậy Sam-sôn trở thành yếu ớt, sức mạnh không còn.
JDG 16:20 Rồi nàng kêu, “Sam-sôn ơi, người Phi-li-tin đây rồi!” Sam-sôn thức giấc và tự nghĩ, “Ta sẽ ra đi như trước và giải thoát mình.” Nhưng ông không biết CHÚA đã lìa bỏ mình.
JDG 16:21 Người Phi-li-tin liền bắt Sam-sôn, móc hai con mắt ông, rồi mang ông xuống Ga-xa. Chúng lấy xiềng sắt trói ông lại và bắt ông xay cối trong ngục.
JDG 16:22 Nhưng tóc ông bắt đầu mọc lại.
JDG 16:23 Các lãnh tụ Phi-li-tin họp nhau lại ăn mừng và dâng một của lễ lớn cho Đa-gôn, thần của chúng. Chúng bảo, “Thần của chúng ta đã trao Sam-sôn kẻ thù chúng ta vào tay chúng ta.”
JDG 16:24 Khi dân chúng thấy Sam-sôn họ liền ca tụng thần mình và bảo, “Người nầy đã phá hoại xứ chúng ta! Hắn đã giết nhiều người của dân ta! Nhưng thần chúng ta đã trao kẻ thù chúng ta vào tay chúng ta.”
JDG 16:25 Trong khi đang reo hò kỷ niệm vui vẻ, thì dân chúng bảo, “Hãy mang Sam-sôn ra làm trò vui cho chúng ta.” Vậy họ mang Sam-sôn ra khỏi ngục rồi ông làm trò cho họ xem. Họ cho ông đứng giữa hai cây cột.
JDG 16:26 Sam-sôn bảo người đầy tớ nắm tay mình, “Hãy để cho tôi sờ các cây cột giữ đền thờ để tôi dựa vào.”
JDG 16:27 Đền thờ lúc đó đông nghẹt đàn ông, đàn bà. Tất cả các lãnh tụ Phi-li-tin có mặt đông đủ ở đó, và trên nóc đền thờ có khoảng ba ngàn người đàn ông đàn bà xem Sam-sôn diễn trò.
JDG 16:28 Sam-sôn liền cầu nguyện cùng CHÚA, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, xin nhớ đến tôi. Xin ban cho tôi sức mạnh lần nầy nữa thôi để tôi trả thù người Phi-li-tin về việc chúng móc hai con mắt tôi!”
JDG 16:29 Rồi Sam-sôn xoay về phía hai cây cột giữa đỡ nguyên cái đền. Ông gồng mình giữa hai cây cột, tay mặt chịu một cột, tay trái chịu cột kia.
JDG 16:30 Sam-sôn nói, “Nguyện tôi chết chung với bọn Phi-li-tin nầy!” Rồi ông ráng hết sức xô hai cây cột khiến cả đền thờ sập xuống đổ nhào trên các lãnh tụ và dân chúng trong đó. Như thế khi chết Sam-sôn giết nhiều người Phi-li-tin hơn khi còn sống.
JDG 16:31 Các anh em và cả gia đình Sam-sôn xuống lấy xác ông mang về chôn trong mộ của Ma-nô-a, cha ông, nằm giữa hai thành Xô-ra và Ếch-ta-ôn. Sam-sôn làm quan án trong Ít-ra-en hai mươi năm.
JDG 17:1 Có một người tên Mi-ca sống trong vùng núi Ép-ra-im.
JDG 17:2 Ông nói với mẹ, “Con nghe mẹ nguyền rủa về hai mươi tám cân bạc mẹ bị mất. Bạc đó con lấy, bây giờ có đây.” Mẹ ông bảo, “Con ơi, nguyện CHÚA ban phước cho con!”
JDG 17:3 Mi-ca trao trả lại hai mươi tám cân bạc cho mẹ. Bà nói, “Mẹ sẽ dâng số bạc nầy cho CHÚA. Mẹ sẽ trao số bạc nầy cho con để con làm một tượng chạm và tượng đúc tráng bạc. Bây giờ mẹ đưa bạc lại cho con.”
JDG 17:4 Nhưng Mi-ca trao trả bạc lại cho bà mẹ. Bà liền lấy năm cân trao cho thợ bạc. Thợ bạc dùng bạc đó làm một tượng chạm và tượng đúc để trong nhà Mi-ca.
JDG 17:5 Mi-ca lập một bàn thờ, may một cái áo ngắn thánh và làm một vài tượng chạm cho gia đình. Rồi ông chọn một trong các con trai mình làm thầy tế lễ.
JDG 17:6 Lúc đó Ít-ra-en chưa có vua nên ai cũng làm theo điều mình cho là phải.
JDG 17:7 Có một thanh niên người Lê-vi gốc thành Bết-lê-hem xứ Giu-đa, thuộc chi tộc Giu-đa.
JDG 17:8 Anh rời Bết-lê-hem đi kiếm nơi khác định cư. Đang khi đi đường, anh ghé nhà Mi-ca trong vùng núi Ép-ra-im.
JDG 17:9 Mi-ca hỏi, “Anh từ đâu đến?” Anh đáp, “Tôi là người Lê-vi từ Bết-lê-hem thuộc Giu-đa đến. Tôi đang đi tìm chỗ định cư.”
JDG 17:10 Mi-ca bảo anh, “Thôi anh hãy ở đây với tôi, làm cha và thầy tế lễ cho tôi. Mỗi năm tôi sẽ cấp cho anh bốn lượng bạc cùng quần áo và lương thực.” Vậy người Lê-vi dọn vào.
JDG 17:11 Anh bằng lòng ở với Mi-ca và trở thành như con ruột Mi-ca vậy.
JDG 17:12 Mi-ca lập anh làm thầy tế lễ, còn anh thì cư ngụ luôn trong nhà Mi-ca.
JDG 17:13 Sau đó Mi-ca bảo, “Bây giờ tôi biết CHÚA sẽ ban phước cho tôi vì tôi có một thầy tế lễ là người Lê-vi.”
JDG 18:1 Lúc đó Ít-ra-en chưa có vua và chi tộc Đan đang đi tìm đất định cư để lập nghiệp, vì chi tộc Đan chưa được cấp đất trong các chi tộc Ít-ra-en.
JDG 18:2 Vậy họ chọn năm binh sĩ trong các họ hàng từ các thành Xô-ra và Ếch-ta-ôn để đi thám thính và thăm dò xứ. Họ được chỉ thị, “Hãy đi thăm dò xứ.” Họ đến vùng núi Ép-ra-im, vào nhà Mi-ca nghỉ đêm.
JDG 18:3 Khi họ đến gần nhà Mi-ca thì họ nhận ra giọng nói của chàng thanh niên Lê-vi. Nên họ dừng lại nhà Mi-ca và hỏi anh, “Ai mang anh đến đây? Bây giờ anh làm gì ở đây?”
JDG 18:4 Anh kể lại cho họ nghe những gì Mi-ca đã làm cho mình. Anh bảo, “Ông ta mướn tôi. Tôi làm thầy tế lễ cho ông ấy.”
JDG 18:5 Họ bảo anh, “Làm ơn hỏi Thượng Đế xem chuyến đi nầy của chúng tôi có thành công hay không.”
JDG 18:6 Thầy tế lễ đáp, “Các anh em hãy đi bình yên. CHÚA bằng lòng chuyến đi của anh em.”
JDG 18:7 Vậy năm người đó lên đường. Khi họ đến thành La-ít thấy dân chúng ở đó sống yên lành giống như dân thành Xi-đôn. Họ nghĩ dân cư ở đó bình yên và có dư dật mọi thứ. Họ sống cách xa dân Xi-đôn và không giao dịch với ai.
JDG 18:8 Khi năm người trở về Xô-ra và Ếch-ta-ôn thì các thân nhân họ hỏi, “Mấy anh thấy đất đai ra sao?”
JDG 18:9 Họ đáp, “Chúng tôi thấy đất đó rất tốt. Chúng ta nên tấn công họ. Các anh em muốn ra tay không? Đừng chần chừ! Hãy đi chiếm đất đó!
JDG 18:10 Khi anh em đến nơi, anh em sẽ thấy đất đai rộng rãi, của cải dư dật! Dân chúng không ngờ bị tấn công đâu. CHÚA thật đã cấp đất đó cho chúng ta rồi!”
JDG 18:11 Vậy sáu trăm người Đan rời Xô-ra và Ếch-ta-ôn chuẩn bị ra trận.
JDG 18:12 Đang khi đi đường họ cắm trại gần thành Ki-ri-át Giê-a-rim thuộc Giu-đa. Vì thế mà địa điểm phía tây Ki-ri-át Giê-a-rim vẫn còn mang tên Ma-ha-nê Đan cho đến nay.
JDG 18:13 Từ đó họ đi lên vùng núi Ép-ra-im rồi vào nhà Mi-ca.
JDG 18:14 Năm người đã đi thăm dò đất quanh La-ít bảo các thân thuộc mình rằng, “Anh em có biết một trong những nhà nầy có một cái áo ngắn thánh, có các thần gia đình, một tượng chạm và một tượng đúc không? Anh em biết phải làm gì rồi chứ gì?”
JDG 18:15 Vậy họ dừng lại nhà người Lê-vi, cũng là nhà của Mi-ca, và chào người Lê-vi.
JDG 18:16 Sáu trăm người Đan đứng nơi cổng, mang vũ khí sẵn sàng ra trận.
JDG 18:17 Năm người do thám đi vào nhà cướp hình tượng, áo ngắn thánh, các tượng chạm dùng trong nhà, và tượng đúc. Còn thầy tế lễ và sáu trăm người sẵn sàng ra trận đứng ngay nơi cửa.
JDG 18:18 Khi các người do thám vào nhà Mi-ca cướp hình tượng, áo ngắn thánh, các tượng chạm dùng trong nhà, và tượng đúc thì thầy tế lễ hỏi họ, “Mấy anh làm gì vậy?”
JDG 18:19 Họ đáp, “Im! Đừng nói gì cả. Hãy đi với chúng tôi và làm cha và thầy tế lễ cho chúng tôi. Làm thầy tế lễ cho một nhà hay làm thầy tế lễ cho cả chi tộc họ hàng trong Ít-ra-en cái nào tốt hơn?”
JDG 18:20 Thầy tế lễ nghe vậy mừng thầm. Vậy anh lấy cái áo ngắn thánh, tượng chạm dùng trong nhà, và tượng đúc rồi đi theo người Đan.
JDG 18:21 Họ rời nhà Mi-ca. Họ cho con nít, gia súc, và tài sản đi trước.
JDG 18:22 Khi họ đi cách nhà Mi-ca một khoảng xa xa, thì những người láng giềng của Mi-ca được huy động đuổi theo họ.
JDG 18:23 Người nhà của Mi-ca kêu la cùng người Đan. Người Đan quay lại hỏi Mi-ca, “Anh có chuyện gì vậy? Tại sao anh kêu la như muốn khiêu khích?”
JDG 18:24 Mi-ca đáp, “Các anh cướp các thần tôi làm ra rồi cướp luôn thầy tế lễ của tôi nữa. Bây giờ tôi còn gì đâu? Vậy mà mấy anh còn hỏi, ‘Có việc gì vậy?’”
JDG 18:25 Người Đan bảo, “Anh chớ có kiếm chuyện với chúng tôi. Lỡ có ai trong chúng tôi nổi giận tấn công anh, họ dám giết anh và cả gia đình đó.”
JDG 18:26 Rồi người Đan tiếp tục cuộc hành trình. Còn Mi-ca thấy họ quá mạnh cho nên quay trở về nhà.
JDG 18:27 Những người Đan cướp những đồ vật mà Mi-ca đã làm cùng thầy tế lễ và kéo đến La-ít. Họ tấn công dân cư hiếu hoà ở đó, dùng gươm giết tất cả rồi đốt thành.
JDG 18:28 Không ai đến cứu La-ít cả. Vì họ sống quá xa Xi-đôn và không giao dịch với ai. La-ít nằm trong thung lũng gần Bết-Rê-hốp. Người Đan xây lại thành và định cư tại đó.
JDG 18:29 Họ đổi tên La-ít ra Đan, theo tên tổ tiên mình, tức một trong các con trai Ít-ra-en.
JDG 18:30 Người Đan lập các tượng chạm trong thành Đan. Giô-na-than, con của Ghẹt-sôn, cháu Mô-se, và các con trai ông làm thầy tế lễ cho chi tộc Đan cho đến khi đất bị chiếm đoạt.
JDG 18:31 Người Đan dựng các hình tượng Mi-ca đã làm trong suốt thời gian Lều Thánh của Thượng Đế đặt ở Si-lô.
JDG 19:1 Lúc đó dân Ít-ra-en không có vua. Có một người Lê-vi sống ở một nơi hẻo lánh trong vùng núi Ép-ra-im. Ông lấy một cô vợ lẽ gốc thành Bết-lê-hem thuộc xứ Giu-đa về sống chung với mình,
JDG 19:2 Nhưng cô không chung tình với ông. Cô bỏ ông đi về nhà cha mình ở Bết-lê-hem thuộc xứ Giu-đa và ở đó bốn tháng.
JDG 19:3 Chồng cô đi năn nỉ cô về với mình, mang theo đứa đầy tớ và hai con lừa. Khi người Lê-vi đến nhà cha cô thì cô mời ông vào nhà. Còn cha cô mừng được gặp ông.
JDG 19:4 Ông cha vợ, tức cha người đàn bà, yêu cầu ông ở lại. Vậy ông ở lại ba ngày, ăn uống, ngủ lại đó.
JDG 19:5 Đến ngày thứ tư họ dậy sớm. Người Lê-vi chuẩn bị lên đường nhưng cha người đàn bà bảo con rể, “Hãy ăn uống cho thêm sức rồi hãy lên đường.”
JDG 19:6 Vậy người Lê-vi và ông cha vợ ngồi lại ăn uống với nhau. Sau đó, người cha bảo người Lê-vi, “Con hãy ở lại đây thêm một đêm nữa. Thoải mái và thong thả đã.”
JDG 19:7 Khi người đó đứng dậy lên đường, người cha nài nỉ cho nên người đó ở lại thêm một đêm nữa.
JDG 19:8 Đến ngày thứ năm khi người đó sắp sửa lên đường, người cha vợ nài ép người ở lại. Cha người đàn bà bảo, “Hãy lấy lại sức đã. Chờ đến chiều nay rồi tính.” Vậy hai người ngồi lại ăn uống.
JDG 19:9 Khi người Lê-vi, cô vợ lẽ và người đầy tớ đứng dậy lên đường thì ông cha vợ, tức cha người đàn bà bảo, “Trời gần tối, xế bóng rồi. Hãy nghỉ lại thêm đêm nữa để vui thú đã. Sáng mai dậy sớm đi về cũng được.”
JDG 19:10 Nhưng người Lê-vi không muốn ở nán thêm đêm nữa cho nên ông mang hai con lừa chuẩn bị yên cương và cùng cô vợ lẽ đi về phía thành Giê-bu cũng gọi là Giê-ru-sa-lem.
JDG 19:11 Khi gần đến thành Giê-bu thì trời tối rồi nên người đầy tớ thưa với chủ, “Thôi chúng ta hãy vào thành nầy của dân Giê-bu-sít để ngủ đêm.”
JDG 19:12 Nhưng người chủ nói, “Không. Chúng ta sẽ không vào thành ngoại quốc. Họ không phải dân Ít-ra-en. Chúng ta sẽ ráng đi đến thành Ghi-bê-a.”
JDG 19:13 Ông bảo, “Thôi hãy ráng đi đến Ghi-bê-a hay Ra-ma ngủ đêm ở một trong hai thành đó.”
JDG 19:14 Vậy họ tiếp tục đi. Khi đến gần Ghi-bê-a thuộc chi tộc Bên-gia-min thì mặt trời đã lặn.
JDG 19:15 Họ dừng lại đó nghỉ đêm. Họ đến chỗ công viên trong thành phố ngồi nghỉ nhưng không ai mời vào nhà nghỉ đêm cả.
JDG 19:16 Sau cùng đến chiều tối có một ông già đi làm việc từ ngoài đồng về. Nhà ông trước ở vùng núi Ép-ra-im nhưng bây giờ ông cư ngụ tại Ghi-bê-a. Dân Ghi-bê-a thuộc chi tộc Bên-gia-min.
JDG 19:17 Khi ông thấy có lữ khách nơi công viên liền hỏi, “Các anh đi đâu đây? Các anh ở đâu đến vậy?”
JDG 19:18 Người Lê-vi đáp, “Chúng tôi đi từ Bết-lê-hem thuộc Giu-đa về nhà tôi ở trong vùng núi Ép-ra-im. Trước kia tôi ở Bết-lê-hem thuộc Giu-đa nhưng nay tôi đi đến Lều Thánh của CHÚA. Không ai mời chúng tôi vào nhà cả.
JDG 19:19 Chúng tôi có đủ rơm và thức ăn cho lừa của chúng tôi cùng bánh mì, rượu cho tôi, cô gái nầy và người đầy tớ. Chúng tôi không thiếu gì cả.”
JDG 19:20 Ông già nói, “Mời các ông bà vào nghỉ nhà tôi. Tôi sẽ cung cấp cho các ông bà đầy đủ mọi sự, đừng ngủ đêm nơi công viên.”
JDG 19:21 Vậy ông già đưa người Lê-vi vào nhà rồi cho lừa ăn. Họ rửa chân và ăn uống.
JDG 19:22 Trong khi họ đang ăn thì có mấy tên du đãng trong thành phố vây nhà và đập cửa. Họ kêu chủ nhà, “Mang anh chàng mới vào nhà ông ra đây. Chúng tôi muốn làm tình với nó.”
JDG 19:23 Ông chủ nhà đi ra bảo họ, “Các bạn ơi, đừng làm chuyện gian ác như thế. Người nầy là khách của tôi. Chớ phạm điều nhơ nhuốc nầy!
JDG 19:24 Đây, tôi có đứa con gái chưa hề giao hợp với ai và cô vợ lẽ của người nầy. Tôi sẽ mang họ ra cho các bạn rồi các bạn muốn làm gì mặc ý, nhưng đừng làm điều nhơ nhuốc đối với người nầy.”
JDG 19:25 Nhưng bọn đó không thèm nghe ông già. Nên người Lê-vi bắt cô vợ lẽ mang ra cho họ. Chúng hiếp dâm và hành hạ nàng trọn đêm. Đến sáng chúng thả nàng về nhà.
JDG 19:26 Nàng về đến nhà nơi chồng mình ở rồi té gục nằm trước cửa.
JDG 19:27 Đến sáng khi người Lê-vi thức dậy, mở cửa nhà đi ra ngoài chuẩn bị lên đường thì thấy cô vợ lẽ nằm sóng sượt nơi cửa, hai tay đặt trên ngạch cửa.
JDG 19:28 Người Lê-vi bảo nàng, “Đứng dậy! Chúng ta hãy đi.” Nhưng nàng chẳng trả lời. Vì thế người Lê-vi đặt nàng lên lưng lừa chở về nhà.
JDG 19:29 Khi về đến nhà, người Lê-vi lấy con dao chặt thây cô vợ lẽ ra làm mười hai khúc gởi đi khắp xứ Ít-ra-en.
JDG 19:30 Ai thấy chuyện nầy cũng bàn tán, “Từ khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai cập chưa bao giờ xảy ra chuyện như thế nầy cả. Hãy suy nghĩ đi rồi tìm cách hành động.”
JDG 20:1 Toàn dân Ít-ra-en từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, gồm luôn đất Ghi-lê-át, họp lại trước mặt CHÚA trong thành Mích-ba.
JDG 20:2 Các lãnh tụ của các chi tộc Ít-ra-en ngồi vào chỗ trong phiên họp của dân CHÚA. Có 400.000 ngàn binh sĩ cầm gươm.
JDG 20:3 (Người Bên-gia-min nghe rằng dân Ít-ra-en đã tập họp tại Mích-ba.) Dân Ít-ra-en hỏi người Lê-vi, “Anh hãy thuật lại cho chúng tôi nghe chuyện đại ác nầy xảy ra như thế nào.”
JDG 20:4 Chồng của người đàn bà bị giết đáp, “Vợ lẽ của tôi và tôi đến Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min để ngủ đêm.
JDG 20:5 Đang đêm những người đàn ông ở Ghi-bê-a muốn bắt tôi. Họ vây nhà và hăm giết tôi. Họ hiếp dâm vợ lẽ tôi đến nỗi nàng phải chết.
JDG 20:6 Tôi chặt nàng ra từng phần gởi đi khắp xứ Ít-ra-en vì người Bên-gia-min đã làm chuyện ác độc gớm ghiếc nầy trong Ít-ra-en.
JDG 20:7 Bây giờ, toàn dân Ít-ra-en hãy lên tiếng. Các bạn quyết định ra sao?”
JDG 20:8 Mọi người đồng đứng lên nói, “Không ai được phép về nhà. Không một người nào về nhà cả!
JDG 20:9 Bây giờ chúng ta sẽ xử Ghi-bê-a như sau. Chúng ta sẽ bắt thăm.
JDG 20:10 Rồi chúng ta sẽ chọn mười người trong số một trăm, trăm người trong số một ngàn, và một ngàn người trong số mười ngàn người. Những người đó sẽ đi lo tiếp liệu cho đạo quân. Rồi đạo quân sẽ đi đến thành Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min để trả thù họ về chuyện nhuốc nhơ họ làm trong Ít-ra-en.”
JDG 20:11 Thế là toàn dân Ít-ra-en nhất trí đoàn kết đánh thành đó.
JDG 20:12 Các chi tộc Ít-ra-en gởi các sứ giả đi đến toàn thể chi tộc Bên-gia-min hạch hỏi, “Việc ác độc mà một số người trong các anh làm nghĩa là gì?
JDG 20:13 Hãy giao mấy người gian ác ở Ghi-bê-a cho chúng ta xử tử. Chúng ta phải trừ khử chuyện xấu xa nầy ra khỏi Ít-ra-en.” Nhưng người Bên-gia-min không đếm xỉa đến lời yêu cầu của đồng bào mình.
JDG 20:14 Người Bên-gia-min ra khỏi các thành mình và tập họp ở Ghi-bê-a để đánh người Ít-ra-en.
JDG 20:15 Chỉ trong vòng một ngày người Bên-gia-min tập họp được 26.000 lính thiện chiến có tài sử dụng gươm giáo. Họ cũng có 700 người được tuyển chọn từ Ghi-bê-a.
JDG 20:16 Bảy trăm lính thiện chiến nầy thuận tay trái, mỗi người đều có thể bắn viên đá bằng ná trúng ngay một sợi tóc mà không sai lệch.
JDG 20:17 Phần người Ít-ra-en, ngoại trừ người Bên-gia-min ra, tập họp được 400.000 lính cầm gươm.
JDG 20:18 Người Ít-ra-en đi lên thành Bê-tên và cầu hỏi Thượng Đế, “Chi tộc nào phải lên đánh người Bên-gia-min trước?” CHÚA đáp, “Giu-đa sẽ đi đánh trước.”
JDG 20:19 Sáng hôm sau người Ít-ra-en thức dậy và đóng trại gần Ghi-bê-a.
JDG 20:20 Người Ít-ra-en đi ra đánh người Bên-gia-min và dàn trận ở Ghi-bê-a.
JDG 20:21 Người Bên-gia-min đổ ra khỏi Ghi-bê-a và giết 22.000 người Ít-ra-en trong trận đánh hôm đó.
JDG 20:22 Người Ít-ra-en ra trước mặt CHÚA và khóc lóc cho đến chiều tối. Họ hỏi CHÚA, “Chúng tôi có nên đi đánh anh em chúng tôi là người Bên-gia-min nữa không?” CHÚA đáp, “Hãy đi đánh chúng nó.” Người Ít-ra-en giục giã lẫn nhau. Họ giàn thế trận giống như ngày đầu.
JDG 20:24 Người Ít-ra-en ra đánh người Bên-gia-min ngày thứ nhì.
JDG 20:25 Người Bên-gia-min từ Ghi-bê-a đổ ra tấn công người Ít-ra-en. Lần nầy người Bên-gia-min giết 18.000 người Ít-ra-en, tất cả đều có tài cầm gươm.
JDG 20:26 Người Ít-ra-en liền đi lên Bê-tên. Họ ngồi xuống đó than khóc cùng CHÚA và cữ ăn suốt ngày cho đến chiều tối. Họ cũng mang theo của lễ thiêu và của lễ thân hữu cho CHÚA.
JDG 20:27 Người Ít-ra-en hỏi CHÚA một câu. Trong lúc đó Rương Giao Ước của Thượng Đế đặt tại Bê-tên.
JDG 20:28 Có một thầy tế lễ tên Phi-nê-ha, con trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, phục vụ trước Rương Giao Ước. Họ hỏi, “Chúng tôi có nên lên đánh anh em chúng tôi là người Bên-gia-min lần nữa hay thôi?” CHÚA đáp, “Hãy đi đánh vì ngày mai ta sẽ trao chúng nó vào tay các ngươi.”
JDG 20:29 Người Ít-ra-en liền đặt phục kích quanh Ghi-bê-a.
JDG 20:30 Vào ngày thứ ba họ lên đánh người Bên-gia-min ở Ghi-bô-a, giàn trận như mấy lần trước.
JDG 20:31 Khi người Bên-gia-min đổ ra đánh họ thì người Ít-ra-en rút lui và dụ người Bên-gia-min chạy ra khỏi thành. Người Bên-gia-min bắt đầu giết một số người Ít-ra-en như lần trước. Có khoảng ba mươi người Ít-ra-en bị giết, một số bị giết trong ruộng và một số bị giết trên các con đường dẫn tới Bê-tên và Ghi-bê-a.
JDG 20:32 Người Bên-gia-min bảo nhau, “Chúng ta chiến thắng như lần trước!” Nhưng người Ít-ra-en bảo, “Chúng ta hãy bỏ chạy. Hãy dụ chúng ra xa khỏi thành và chạy ra đường cái.”
JDG 20:33 Tất cả người Ít-ra-en ra khỏi vị trí và giàn trận tại một nơi gọi là Ba-anh Ta-ma. Rồi quân Ít-ra-en ra khỏi nơi phục kích ở phía tây Ghi-bê-a.
JDG 20:34 Mười ngàn quân thiện chiến nhất của toàn dân Ít-ra-en tấn công Ghi-bê-a. Trận chiến vô cùng khốc liệt. Người Bên-gia-min không biết thảm hoạ sắp xảy đến cho mình.
JDG 20:35 CHÚA dùng người Ít-ra-en đánh bại người Bên-gia-min. Trong ngày đó người Ít-ra-en giết 25.100 người Bên-gia-min, tất cả đều có tài cầm gươm.
JDG 20:36 Bấy giờ người Bên-gia-min mới thấy mình thua trận. Người Ít-ra-en quay trở lại vì họ tin tưởng vào cuộc tấn kích bất ngờ vì họ đã mai phục gần Ghi-bê-a.
JDG 20:37 Những quân phục kích xông vào Ghi-bê-a, phân tán ra và dùng gươm giết sạch mọi người trong thành.
JDG 20:38 Người Ít-ra-en đã ra một dấu hiệu với quân phục kích. Toán phục kích trong cuộc tấn công bất ngờ phải đốt cột khói bay lên khỏi thành.
JDG 20:39 Lúc đó quân Ít-ra-en đổi thế trận. Người Bên-gia-min đã giết khoảng ba mươi người Ít-ra-en. Họ bảo nhau, “Chúng ta thắng như lần trước!”
JDG 20:40 Nhưng lúc đó cột khói bốc lên khỏi thành. Người Bên-gia-min quay lại thì thấy cả thành đang bị bốc cháy.
JDG 20:41 Lúc đó người Ít-ra-en quay lại bắt đầu đánh. Người Bên-gia-min đâm ra hốt hoảng vì họ biết thảm họa đang xảy đến cho mình.
JDG 20:42 Vì thế người Bên-gia-min chạy trốn khỏi người Ít-ra-en về phía sa mạc nhưng không thoát khỏi được mặt trận. Người Ít-ra-en từ các thành đổ ra đánh giết họ.
JDG 20:43 Họ bao vây người Bên-gia-min, rượt theo và bắt được họ nơi vùng phía Đông Ghi-bê-a.
JDG 20:44 Như thế có 18.000 chiến sĩ anh dũng của người Bên-gia-min bị giết.
JDG 20:45 Người Bên-gia-min chạy về phía sa mạc đến tảng đá Rim-môn nhưng dọc đường người Ít-ra-en giết thêm 5.000 người Bên-gia-min nữa. Họ rượt người Bên-gia-min chạy cho đến Ghi-đôm, rồi giết thêm 2.000 người Bên-gia-min nữa tại đó.
JDG 20:46 Trong ngày đó 25.000 người Bên-gia-min bị giết, tất cả đều đã chiến đấu anh dũng bằng gươm giáo.
JDG 20:47 Nhưng 600 người Bên-gia-min chạy thoát đến tảng đá Rim-môn trong sa mạc và trốn ở đó bốn tháng.
JDG 20:48 Rồi người Ít-ra-en trở lại đất Bên-gia-min giết tất cả mọi người trong các thành cùng gia súc hay bất cứ thứ gì họ thấy. Họ cũng thiêu đốt tất cả thành phố nào họ gặp.
JDG 21:1 Tại Mích-ba toàn dân Ít-ra-en thề, “Không ai trong chúng ta được phép gả con gái mình cho một người đàn ông Bên-gia-min nào.”
JDG 21:2 Toàn thể dân chúng đi đến thành Bê-tên ngồi trước mặt Thượng Đế khóc lóc thảm thiết cho đến chiều tối.
JDG 21:3 Họ than, “Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en ôi, tại sao chuyện bi thảm nầy xảy ra đến nỗi bây giờ thiếu mất một chi tộc trong Ít-ra-en?”
JDG 21:4 Sáng sớm hôm sau dân chúng xây một bàn thờ rồi dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu cho Thượng Đế lên đó.
JDG 21:5 Rồi dân Ít-ra-en hỏi nhau, “Có chi tộc nào hôm nay không đến đây ra mắt CHÚA với chúng ta hay không?” Sở dĩ họ hỏi như vậy là vì họ đã thề rằng ai không đến họp mặt tại Mích-ba sẽ bị xử tử.
JDG 21:6 Dân Ít-ra-en cảm thấy đau lòng cho anh em mình là người Bên-gia-min. Họ than, “Hôm nay có một chi tộc đã bị cắt đứt khỏi Ít-ra-en.
JDG 21:7 Chúng ta đã thề trước mặt CHÚA là chúng ta sẽ không gả con gái chúng ta cho người Bên-gia-min. Làm sao chúng ta giúp kiếm vợ cho những người đàn ông Bên-gia-min còn lại.”
JDG 21:8 Sau đó họ hỏi nhau, “Có ai trong vòng các chi tộc Ít-ra-en không đến đây ở Mích-ba không?” Rồi họ nhận thấy không có ai từ thành Gia-be Ghi-lê-át đến cả.
JDG 21:9 Dân Ít-ra-en kiểm điểm mọi người thì không thấy có ai từ Gia-be Ghi-lê-át cả.
JDG 21:10 Cho nên tập thể dân Ít-ra-en phái mười hai ngàn binh sĩ đến Gia-be Ghi-lê-át. Họ bảo các binh sĩ “Hãy đi đến Gia-be Ghi-lê-át. Dùng gươm giết hết mọi dân cư ở đó kể cả đàn bà trẻ con.
JDG 21:11 Các ngươi phải làm như sau: Giết tất cả những đàn ông và đàn bà có chồng ở Gia-be Ghi-lê-át. Nhưng đừng giết các thiếu nữ chưa ăn nằm với đàn ông.” Cho nên họ làm đúng như thế.
JDG 21:12 Các binh sĩ tìm được bốn trăm thiếu nữ chưa có chồng ở Gia-be Ghi-lê-át mang về doanh trại tại Si-lô trong Ca-na-an.
JDG 21:13 Rồi toàn dân Ít-ra-en sai nhắn với những người đàn ông Bên-gia-min đang trốn ở tảng đá Rim-môn, tìm cách giải hoà với họ.
JDG 21:14 Các người Bên-gia-min liền trở về. Người Ít-ra-en cho họ những người đàn bà ở Gia-be Ghi-lê-át không bị giết, nhưng không đủ đàn bà cho mỗi người.
JDG 21:15 Người Ít-ra-en thương hại người Bên-gia-min vì CHÚA đã tách họ ra khỏi các chi tộc Ít-ra-en.
JDG 21:16 Các bô lão trong Ít-ra-en bảo, “Tất cả các người đàn bà Bên-gia-min đã bị giết. Bây giờ chúng ta kiếm đâu ra vợ cho những người đàn ông Bên-gia-min còn sống đây?
JDG 21:17 Những người nầy phải có con cái nối dõi để trong Ít-ra-en không mất một chi tộc.
JDG 21:18 Nhưng chúng ta không thể gả con gái chúng ta cho họ vì chúng ta đã thề, ‘Ai gả con gái cho người Bên-gia-min làm vợ sẽ bị nguyền rủa.’”
JDG 21:19 Vậy bây giờ có ý kiến nầy! Hằng năm có một đại lễ cho CHÚA tại Si-lô nằm về phía bắc thành Bê-tên, phía đông con đường đi từ Bê-tên đến Sê-chem, và phía nam thành Lê-bô-na.
JDG 21:20 Cho nên các bô lão bảo mấy người Bên-gia-min, “Hãy đi núp trong vườn nho.
JDG 21:21 Rình xem các cô gái trẻ đi ra nhảy múa. Rồi xông ra khỏi vườn nho bắt một trong các cô đó mang về xứ Bên-gia-min.
JDG 21:22 Nếu cha mẹ hoặc anh em họ đến khiếu nại chúng ta sẽ bảo, ‘Xin các ông hãy tử tế với người Bên-gia-min một tí. Chúng tôi không cướp vợ cho người Bên-gia-min trong chiến tranh, các ông cũng không có gả đàn bà cho các người Bên-gia-min. Cho nên các ông không có lỗi gì hết.’”
JDG 21:23 Vậy người Bên-gia-min làm theo cách ấy. Trong khi các cô gái đi ra nhảy múa thì mỗi người đàn ông bắt một cô mang về làm vợ. Rồi họ trở về đất mà Thượng Đế cấp cho họ, xây thành và định cư ở đó.
JDG 21:24 Các người Ít-ra-en trở về với chi tộc và họ hàng, với đất đai Thượng Đế cấp cho mình.
JDG 21:25 Trong thời đó Ít-ra-en không có vua. Ai nấy cứ tự do làm điều gì mà mình cho là đúng.
RUT 1:1 Xưa kia vào thời kỳ các quan án cai trị Ít-ra-en, trong xứ gặp nạn đói kém.
RUT 1:2 Có một người tên Ê-li-mê-léc ở Bết-lê-hem và vợ cùng hai con trai đi sang xứ Mô-áp sinh sống. Vợ ông tên Na-ô-mi, còn hai con trai tên Ma-lôn và Ki-li-ôn. Họ là dân Ép-ra-tha thuộc Bết-lê-hem, xứ Giu-đa. Họ xuống xứ Mô-áp định cư.
RUT 1:3 Ê-li-mê-léc, chồng của Na-ô-mi qua đời tại đó, để lại vợ và hai con trai.
RUT 1:4 Hai cậu con cưới vợ người Mô-áp. Một cô tên Ọt-ba, cô kia tên Ru-tơ. Sau khi Na-ô-mi và hai con trai cư ngụ ở xứ Mô-áp khoảng mười năm,
RUT 1:5 thì Ma-lôn và Ki-li-ôn cũng qua đời. Na-ô-mi rốt cuộc còn lại một mình, không chồng không con.
RUT 1:6 Đang khi ở Mô-áp thì Na-ô-mi nghe rằng CHÚA đã đến cứu giúp dân Ngài và ban thực phẩm cho họ trở lại nên bà cùng hai con dâu chuẩn bị lên đường về quê hương.
RUT 1:7 Na-ô-mi cùng hai con dâu rời nơi ở lên đường trở về xứ Giu-đa.
RUT 1:8 Nhưng Na-ô-mi bảo hai nàng dâu rằng, “Các con hãy trở về nhà mẹ mình đi. Nguyện CHÚA tỏ lòng nhân từ Ngài cho các con như các con đã tỏ lòng nhân từ cùng mẹ và các con trai đã qua đời của mẹ.
RUT 1:9 Nguyện CHÚA ban cho các con hạnh phúc nơi nhà chồng mới.” Khi Na-ô-mi hôn từ giã hai nàng thì cả ba đều oà lên khóc.
RUT 1:10 Hai nàng thưa với Na-ô-mi, “Không, chúng con muốn đi với mẹ đến cùng dân tộc mẹ.”
RUT 1:11 Nhưng Na-ô-mi bảo, “Các con gái ta ơi, hãy trở về nhà mình đi. Sao các con muốn theo mẹ làm gì? Mẹ đâu có còn sinh con trai nữa để làm chồng các con;
RUT 1:12 các con gái của mẹ ơi, hãy trở về nhà mình đi. Mẹ già rồi đâu còn lấy chồng được nữa. Dù mẹ tự nhủ, ‘Ta vẫn còn hi vọng,’ dù đêm nay mẹ lấy chồng, và dù mẹ sinh thêm con trai nữa,
RUT 1:13 chẳng lẽ các con sẽ chờ cho đến khi chúng nó khôn lớn sao? Các con chịu ở bao nhiêu năm như thế mà không lấy chồng khác sao? Không nên, các con gái của mẹ ơi. Các con không thể nào thông cảm nỗi sầu khổ của mẹ được vì CHÚA đã nghịch lại mẹ!”
RUT 1:14 Họ lại cùng oà khóc. Rồi Ọt-ba hôn và từ giã Na-ô-mi, mẹ chồng mình, nhưng Ru-tơ vẫn khăng khăng không chịu rời Na-ô-mi.
RUT 1:15 Na-ô-mi bảo Ru-tơ, “Kìa, chị em bạn dâu của con đã trở về với dân tộc và thần của nó. Con hãy theo nó đi.”
RUT 1:16 Nhưng Ru-tơ thưa, “Xin đừng ép con rời mẹ hay xa mẹ. Mẹ đi đâu, con sẽ theo đó. Mẹ sống nơi nào, con muốn sống nơi đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con, Thượng Đế mẹ sẽ là Thượng Đế của con.
RUT 1:17 Mẹ chết ở đâu, con cũng muốn chết và được chôn nơi đó. Nếu không phải vì cái chết phân rẽ mẹ và con thì cầu CHÚA phạt con thật nặng.”
RUT 1:18 Thấy Ru-tơ nhất quyết theo mình, Na-ô-mi không khuyên nữa.
RUT 1:19 Na-ô-mi và Ru-tơ tiếp tục đi cho đến khi tới thành Bết-lê-hem. Vào thành thì mọi người trong thành đều xúc động. Các người đàn bà hỏi, “Đây có phải thật là Na-ô-mi không?”
RUT 1:20 Na-ô-mi đáp, “Đừng gọi tôi là Na-ô-mi nữa mà gọi là Ma-ra vì Đấng Toàn Năng khiến đời tôi bi thảm lắm.
RUT 1:21 Khi ra đi tôi có đủ thứ, mà bây giờ CHÚA dẫn tôi về tay không. Vậy thì gọi tôi là Na-ô-mi làm gì khi CHÚA đã hại tôi và Đấng Toàn Năng đã gây cho tôi bao nhiêu khốn khổ?”
RUT 1:22 Na-ô-mi và Ru-tơ, người Mô-áp, con dâu mình, từ xứ Mô-áp trở về Bết-lê-hem nhằm lúc đầu mùa gặt lúa mạch.
RUT 2:1 Na-ô-mi có một người bà con gần và giàu có tên Bô-ô, thuộc dòng họ Ê-li-mê-léc.
RUT 2:2 Một hôm, Ru-tơ, người Mô-áp xin phép Na-ô-mi rằng, “Con sẽ đi ra đồng. Hi vọng có ai tử tế cho con mót lúa rơi vãi đằng sau các thợ gặt.” Na-ô-mi đáp, “Đi đi con.”
RUT 2:3 Vậy Ru-tơ đi vào ruộng và mót lúa mà con gặt làm rớt. Vô tình nàng lại gặp đúng thửa ruộng của Bô-ô, thuộc dòng họ Ê-li-mê-léc.
RUT 2:4 Tình cờ Bô-ô từ Bết-lê-hem đi lên chào hỏi các người làm công, “Cầu CHÚA ban phước cho các anh chị em!” Họ đồng trả lời, “Nguyện CHÚA cũng ban phước cho ông!”
RUT 2:5 Sau đó Bô-ô hỏi người đầy tớ coi các thợ gặt, “Cô ấy là con ai vậy?”
RUT 2:6 Kẻ tôi tớ đáp, “Cô ta là thiếu nữ Mô-áp từ xứ Mô-áp trở về cùng với Na-ô-mi.
RUT 2:7 Cô ta xin, ‘Làm ơn cho tôi đi theo các thợ gặt để mót lúa rơi rớt sau lưng họ.’ Cô đến đây làm từ sáng tới giờ và chỉ mới nghỉ ngơi chốc lát dưới chòi mà thôi.”
RUT 2:8 Bô-ô liền bảo Ru-tơ, “Nầy con gái ta, nghe đây. Đừng đi mót lúa nơi ruộng khác. Đừng ra khỏi ruộng nầy nhưng hãy cứ đi theo sát các chị thợ gặt.
RUT 2:9 Hãy xem họ gặt ở đâu thì đi theo. Tôi đã dặn các chàng thanh niên không được chọc ghẹo chị. Khi nào khát nước thì cứ việc đi đến uống nơi bình mà các thanh niên đã rót đầy.”
RUT 2:10 Ru-tơ liền cúi sấp mặt xuống đất thưa cùng Bô-ô rằng, “Tôi không phải là người Ít-ra-en. Tại sao ông tử tế với tôi như thế?”
RUT 2:11 Bô-ô trả lời, “Tôi có nghe thuật lại những điều chị làm cho mẹ chồng chị sau khi chồng chị qua đời. Chị rời cha mẹ quê hương đi đến một xứ mà chị không quen biết ai.
RUT 2:12 Cầu CHÚA ban thưởng cho chị về những điều chị làm. Nguyện CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, Đấng mà chị đến núp dưới cánh thưởng công cho chị.”
RUT 2:13 Ru-tơ tiếp, “Thưa ông, tôi mong tiếp tục làm ông hài lòng. Ông đã nói những lời lẽ nhân từ cùng tôi, kẻ tôi tớ ông, mặc dù tôi không phải là tôi tớ của ông.”
RUT 2:14 Đến bữa ăn, Bô-ô bảo Ru-tơ, “Chị hãy đến ngồi đây. Hãy dùng ít bánh mì của chúng tôi và nhúng vào trong nước chấm.” Bô-ô đưa cho cô gạo rang, cô ăn cho đến khi no mà vẫn còn thừa.
RUT 2:15 Khi Ru-tơ đứng dậy trở lại làm việc thì Bô-ô dặn các người làm công rằng, “Hãy để cho cô ta lượm giữa các bó lúa đã gặt. Đừng đuổi nàng đi.
RUT 2:16 Thỉnh thoảng hãy bỏ rơi một vài gié lúa trong tay các ngươi cho nàng lượm. Cứ bảo nàng tiếp tục lượm.”
RUT 2:17 Vì thế Ru-tơ mót lúa trong ruộng cho đến chiều. Rồi cô đập lúa ra thì được khoảng nửa thùng lúa mạch.
RUT 2:18 Ru-tơ mang lúa vào thành. Mẹ chồng cô thấy số lúa cô đã mót được. Ru-tơ cũng lấy ra thức ăn còn dư lại lúc trưa trao cho Na-ô-mi.
RUT 2:19 Na-ô-mi hỏi cô, “Hôm nay con mót được số lúa nầy ở đâu vậy? Con làm việc ở chỗ nào? Phúc cho ai đã lưu ý đến con!” Ru-tơ thuật lại cho mẹ chồng biết mình làm việc ở ruộng của ai. Cô nói, “Người mà con mót lúa tên Bô-ô.”
RUT 2:20 Na-ô-mi bảo, “Nguyện CHÚA ban phúc lành cho ông ta! Ngài vẫn tiếp tục tỏ lòng nhân từ đối cùng chúng ta, cả người sống lẫn người chết!” Rồi Na-ô-mi nói với Ru-tơ, “Bô-ô là một trong những bà con gần của chúng ta, người có thể lo cho chúng ta được.”
RUT 2:21 Rồi Ru-tơ, người Mô-áp kể tiếp, “Ông Bô-ô cũng dặn con, ‘Hãy đi theo sát các thợ gặt cho đến khi họ gặt xong mùa lúa của tôi.’”
RUT 2:22 Na-ô-mi bảo Ru-tơ, con dâu mình, “Con nên tiếp tục làm chung với các chị thợ gặt của ông ta. Nếu con làm ở ruộng khác con có thể gặp rắc rối đó.”
RUT 2:23 Vì thế Ru-tơ theo sát các thợ gặt của Bô-ô và mót lúa cho đến khi xong vụ gặt lúa mạch và lúa mì. Cô vẫn tiếp tục ở chung với Na-ô-mi, mẹ chồng mình.
RUT 3:1 Sau đó Na-ô-mi, mẹ chồng của Ru-tơ bảo, “Con ơi, mẹ phải tìm nơi cho con nương thân, người xứng đáng với con.
RUT 3:2 Bô-ô, người chủ những chị thợ gặt mà con làm việc chung là bà con gần của mình. Tối nay ông ta sẽ làm việc nơi sân đập lúa.
RUT 3:3 Con hãy tắm rửa sạch sẽ, xức dầu thơm, thay quần áo mới và đi xuống sân đập lúa. Nhưng đừng cho ông ta biết con có mặt ở đó cho đến khi ông ta ăn tối xong.
RUT 3:4 Hãy để ý xem ông nằm ngủ ở đâu rồi đi đến nhè nhẹ giở mền che chân ông và nằm xuống. Ông sẽ bảo con biết con phải làm gì.”
RUT 3:5 Ru-tơ đáp, “Con sẽ làm mọi điều mẹ dặn.”
RUT 3:6 Vậy Ru-tơ đi xuống sàn đập lúa và làm y như điều mẹ chồng mình dặn.
RUT 3:7 Sau bữa ăn chiều, Bô-ô cảm thấy khoan khoái trong lòng và đi nằm ngủ kế bên đống lúa. Ru-tơ lặng lẽ đến bên ông giở mền che chân ông và nằm xuống.
RUT 3:8 Khoảng nửa đêm Bô-ô giật mình thức giấc lăn qua một bên thì thấy có một người đàn bà nằm dưới chân mình!
RUT 3:9 Bô-ô hỏi, “Chị là ai vậy?” Ru-tơ đáp, “Tôi là Ru-tơ, kẻ tôi tớ gái của ông. Xin hãy bảo hộ cho tôi vì ông là bà con gần có thể lo cho tôi được.”
RUT 3:10 Rồi Bô-ô tiếp, “Con gái ơi, nguyện CHÚA ban phúc cho con. Hành vi nhân từ nầy của con còn lớn hơn hành vi nhân từ con làm cho Na-ô-mi lúc đầu nữa. Con không chạy theo các chàng trai trẻ để kết hôn, bất luận giàu nghèo.
RUT 3:11 Bây giờ, hỡi con gái tôi, đừng sợ. Tôi sẽ làm mọi điều con yêu cầu vì ai nấy trong thành đều biết con là người đàn bà hiền đức.
RUT 3:12 Đúng, tôi là bà con gần có thể lo cho con nhưng con có một người bà con khác gần hơn tôi nữa.
RUT 3:13 Hãy ở lại đây đêm nay, rồi đến sáng tôi sẽ xem người đó có lo cho con được không. Nếu được thì tốt. Còn nếu người không chịu làm chuyện đó thì tôi chỉ CHÚA hằng sống mà cam kết, tôi sẽ lo cho con. Hãy ở đây đến sáng mai.”
RUT 3:14 Vậy Ru-tơ nằm gần chân Bô-ô cho đến sáng sớm nhưng đến tờ mờ sáng lúc không ai nhận dạng ra ai thì cô dậy. Bô-ô thầm nghĩ, “Người trong thành không nên biết có một người đàn bà đã đến đây trong sân đập lúa.”
RUT 3:15 Vì thế Bô-ô bảo Ru-tơ, “Hãy mang khăn choàng của cô đến đây rồi trải ra.” Ru-tơ trải khăn choàng ra, Bô-ô đổ vào đó sáu phần lúa mạch. Rồi Bô-ô đặt số lúa đó trên đầu Ru-tơ rồi trở vào thành.
RUT 3:16 Khi Ru-tơ trở về cùng mẹ chồng thì Na-ô-mi hỏi, “Hôm nay công việc ra sao, con gái của mẹ?” Ru-tơ thuật lại cho Na-ô-mi mọi điều Bô-ô làm cho mình.
RUT 3:17 Cô kể, “Bô-ô cho con sáu phần lúa mạch nầy và bảo, ‘Chị không nên đi về với mẹ chồng mà không có quà cáp gì.’”
RUT 3:18 Na-ô-mi đáp, “Ru-tơ, con gái của mẹ ơi, con hãy chờ đây xem sự việc diễn tiến ra sao. Bô-ô sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi ông lo xong công việc hôm nay.”
RUT 4:1 Bô-ô đi đến cửa thành và ngồi đó. Tình cờ có một người bà con gần mà ông nói đến đi ngang qua. Bô-ô kêu ông ta, “Bạn ơi, hãy đến ngồi xuống đây.” Vậy người ấy đến ngồi xuống.
RUT 4:2 Bô-ô tập họp mười bô lão trong thành và bảo họ, “Các anh hãy ngồi xuống đây!” Vậy họ đều ngồi xuống.
RUT 4:3 Rồi Bô-ô nói với người bà con gần rằng, “Na-ô-mi mới về từ xứ Mô-áp muốn bán miếng đất trước kia thuộc về Ê-li-mê-léc, bà con chúng ta.
RUT 4:4 Nên tôi muốn anh biết việc đó: Nếu anh muốn chuộc miếng đất đó thì hãy làm đi trước mặt dân chúng đang ngồi đây và trước mặt các bô lão trong dân chúng. Còn nếu anh không muốn mua thì cho tôi biết, vì chỉ có một mình anh có quyền chuộc được thôi, rồi mới đến tôi.” Người bà con gần đáp, “Tôi sẽ mua miếng đất ấy.”
RUT 4:5 Bô-ô giải thích thêm, “Khi anh mua miếng đất đó của Na-ô-mi, anh cũng phải lấy luôn Ru-tơ, người Mô-áp, vợ của người chết. Như thế đất sẽ lưu truyền tên của người chết.”
RUT 4:6 Người bà con gần bảo, “Nếu vậy thì tôi không thể mua miếng đất đó được đâu; vì làm như thế là tôi có thể mất phần tài sản tôi truyền lại cho các con trai tôi. Tôi không thể mua miếng đất đó được cho nên anh mua đi.”
RUT 4:7 Xưa kia trong Ít-ra-en có tục lệ là khi ai mua bán vật gì thì người nầy cởi dép ra trao cho người kia để làm bằng chứng về chủ quyền trong Ít-ra-en.
RUT 4:8 Vì thế người bà con gần bảo Bô-ô, “Anh hãy mua miếng đất đó đi,” rồi người cởi dép ra và trao cho Bô-ô.
RUT 4:9 Bô-ô nói cùng các bô lão và toàn thể dân chúng rằng, “Xin các anh em làm chứng hôm nay. Tôi mua từ tay Na-ô-mi mọi thứ thuộc về Ê-li-mê-léc, Ki-li-ôn, và Ma-lôn.
RUT 4:10 Tôi cũng lấy Ru-tơ, người Mô-áp, trước là vợ của Ma-lôn, làm vợ tôi. Tôi làm thế nầy để tài sản của người chồng quá cố của cô ta sẽ mang tên tuổi người ấy và để cho tên người không bị xóa bỏ khỏi gia tộc và quê quán mình. Hôm nay xin các anh em hãy làm nhân chứng việc nầy.”
RUT 4:11 Toàn dân và các bô lão có mặt ở cửa thành nói, “Chúng tôi xin làm nhân chứng. Nguyện CHÚA khiến cho người đàn bà sẽ vào nhà ông được như Ra-chên và Lê-a, có đông con và gây dựng dân Ít-ra-en. Nguyện ông trở nên hùng mạnh trong hạt Ép-ra-tha và nổi danh trong Bết-lê-hem.
RUT 4:12 Như Ta-ma đã sinh Phê-rê, con trai của Giu-đa ra sao, thì nguyện CHÚA ban cho ông nhiều con qua Ru-tơ như thế. Nguyện gia đình ông đông đảo như gia đình Giu-đa vậy.”
RUT 4:13 Vậy Bô-ô lấy Ru-tơ làm vợ và ăn nằm cùng cô. CHÚA cho cô thụ thai và sinh một trai.
RUT 4:14 Các người đàn bà bảo Na-ô-mi, “Đáng chúc tụng CHÚA đã ban cho chị cháu trai nầy. Nguyện nó sẽ nổi danh trong Ít-ra-en.
RUT 4:15 Nó sẽ ban sức sống mới cho chị, lo cho chị trong tuổi già vì con dâu chị yêu mến chị. Con dâu chị còn hơn bảy đứa con trai vì đã sinh cho chị cháu trai nầy.”
RUT 4:16 Na-ô-mi bồng đứa bé trong tay và chăm sóc nó.
RUT 4:17 Các láng giềng đến thăm nói rằng, “Na-ô-mi bây giờ đã có con trai.” Họ đặt tên nó là Ô-bết. Ô-bết là cha Gie-xê, Gie-xê là cha Đa-vít.
RUT 4:18 Sau đây là gia phổ của Phê-rê, cha Hết-rôn.
RUT 4:19 Hết-rôn sinh Ram, Ram sinh Am-mi-na-đáp.
RUT 4:20 Am-mi-na-đáp sinh Na-sôn, Na-sôn sinh Xanh-môn.
RUT 4:21 Xanh-môn sinh Bô-ô, Bô-ô sinh Ô-bết.
RUT 4:22 Ô-bết sinh Gie-xê, và Gie-xê sinh Đa-vít.
1SA 1:1 Trong thành Ra-ma-tha-in thuộc vùng núi Ép-ra-im có một người tên Ên-ca-na, con Giê-hô-ram. Ên-ca-na thuộc gia đình Xu-phơ. Giê-hô-ram là con Ê-li-hu. Ê-li-hu, con Tô-hu, còn Tô-hu là con Xu-phơ thuộc họ Ép-ra-im.
1SA 1:2 Ên-ca-na có hai vợ, một người tên là An-na, người kia tên Phê-ni-na. Phê-ni-na có con còn An-na thì không.
1SA 1:3 Mỗi năm Ên-ca-na từ thị trấn Ra-ma đi lên Si-lô thờ lạy CHÚA Toàn Năng và dâng của lễ cho Ngài. Tại đó có Hóp-ni và Phi-nê-a, hai con trai Hê-li làm thầy tế lễ cho CHÚA.
1SA 1:4 Khi nào dâng của lễ thì Ên-ca-na luôn luôn chia phần thịt với Phê-ni-na, vợ mình cùng các con trai và con gái.
1SA 1:5 Nhưng Ên-ca-na bao giờ cũng cho An-na một phần đặc biệt hơn vì Ên-ca-na yêu An-na mặc dù CHÚA không cho nàng có con.
1SA 1:6 Phê-ni-na hay trêu chọc An-na khiến nàng bực tức vì CHÚA không cho nàng có con.
1SA 1:7 Việc đó diễn ra hằng năm khi họ lên nhà của CHÚA ở Si-lô. Phê-ni-na chọc An-na tức đến nỗi phát khóc và không chịu ăn.
1SA 1:8 Ên-ca-na, chồng nàng hỏi, “An-na, sao em khóc và không chịu ăn? Sao em buồn? Anh không đáng cho em hơn mười đứa con trai sao?”
1SA 1:9 Một lần nọ sau khi ăn uống xong, An-na đứng dậy. Lúc đó thầy tế lễ Hê-li đang ngồi trên ghế nơi cửa ra vào nhà của CHÚA.
1SA 1:10 An-na buồn bực đến phát khóc và nàng cầu nguyện cùng CHÚA.
1SA 1:11 Nàng hứa nguyện như sau, “Lạy CHÚA Toàn Năng, Ngài biết con rất buồn bực. Xin hãy nhớ đến con. Nếu Ngài cho con một con trai, con sẽ dâng nó lại cho Ngài trọn đời, nó sẽ không uống rượu hay đồ uống say, sẽ không có dao cạo nào cắt tóc nó.”
1SA 1:12 Trong khi An-na đang cầu nguyện thì Hê-li nhìn chăm miệng nàng.
1SA 1:13 Nàng thầm nguyện trong lòng, chỉ mấp máy đôi môi, không ai nghe tiếng cả. Hê-li tưởng nàng say rượu
1SA 1:14 nên bảo nàng, “Đừng say rượu nữa! Bỏ rượu đi!”
1SA 1:15 An-na đáp, “Dạ không phải vậy thưa thầy. Con đâu bao giờ uống rượu. Con buồn bực trong lòng cho nên con thưa chuyện cùng CHÚA.
1SA 1:16 Đừng nghĩ lầm con là người đàn bà hư hỏng. Con cầu nguyện vì con có nhiều điều buồn bực trong lòng.”
1SA 1:17 Hê-li bảo, “Thôi con đi đi. Ta chúc con vạn sự như ý. Cầu Thượng Đế của Ít-ra-en ban cho con điều con cầu xin Ngài.”
1SA 1:18 An-na thưa, “Dạ con mong được phước trước mặt thầy.” Rồi nàng ăn, vẻ mặt không còn buồn thảm nữa.
1SA 1:19 Sáng sớm hôm sau gia đình Ên-ca-na dậy và thờ lạy CHÚA rồi lên đường trở về nhà ở Ra-ma. Ên-ca-na ăn nằm với vợ mình là An-na; CHÚA đoái thương An-na.
1SA 1:20 Nàng thụ thai rồi đúng kỳ thì nàng sinh được một con trai. Nàng đặt tên nó là Sa-mu-ên vì nàng bảo rằng, “Tôi đặt tên nó là Sa-mu-ên vì tôi dã cầu xin CHÚA ban nó cho tôi.”
1SA 1:21 Mỗi năm cả gia đình Ên-ca-na lên Si-lô để dâng của lễ và giữ lời khấn hứa với Thượng Đế.
1SA 1:22 Nhưng lần đó An-na không đi. Nàng bảo chồng, “Khi nó đủ lớn có thể ăn thức ăn thường thì em sẽ mang nó lên Si-lô. Rồi em sẽ dâng nó cho CHÚA. Nó sẽ trở thành người Na-xi-rê và sẽ sống ở Si-lô suốt đời.”
1SA 1:23 Ên-ca-na, chồng nàng bảo, “Sao cũng được. Em cứ ở nhà cho đến khi đứa nhỏ đủ lớn biết ăn. Cầu CHÚA làm trọn điều em vừa nói.” Vậy An-na ở nhà nuôi con cho đến khi nó đủ lớn biết ăn.
1SA 1:24 Khi Sa-mu-ên đủ lớn biết ăn thì An-na mang cậu bé lên nhà CHÚA ở Si-lô. Nàng cũng mang theo một con bò đực một tuổi, hai mươi hai lít bột mì, và một bầu rượu.
1SA 1:25 Sau khi giết con bò làm của lễ như thường lệ, An-na mang Sa-mu-ên đến trình diện Hê-li.
1SA 1:26 Nàng bảo Hê-li, “Thưa ông, tôi là người đàn bà lúc trước đứng gần ông mà cầu nguyện.
1SA 1:27 Nó là đứa con mà tôi cầu khẩn, CHÚA nghe lời khẩn nguyện của tôi, ban nó cho tôi.
1SA 1:28 Bây giờ tôi dâng nó lại cho CHÚA. Nó sẽ thuộc về CHÚA trọn đời nó.” Rồi cả hai thờ lạy CHÚA và để đứa trẻ lại đó.
1SA 2:1 An-na cầu nguyện rằng: “CHÚA ban cho lòng tôi đầy niềm hân hoan; Tôi cảm thấy mạnh mẽ trong Ngài. Tôi dám cười kẻ thù tôi; Tôi hớn hở vì Ngài giúp tôi!
1SA 2:2 Không có ai thánh thiện như CHÚA, Không có thần nào ngoài Thượng Đế; Không có Khối Đá nào như Thượng Đế chúng ta.
1SA 2:3 Đừng mãi khoác lác, chớ nên nói những lời tự phụ. CHÚA là Thượng Đế, Đấng biết mọi điều, Ngài cân nhắc từng hành vi con người.
1SA 2:4 Cung của chiến sĩ có thể gãy, nhưng kẻ yếu lại trở nên mạnh.
1SA 2:5 Những kẻ trước kia no đủ nay phải làm lụng mới có ăn, nhưng người trước kia bị đói khổ nay lại được no đủ. Người đàn bà trước kia không con nay sinh bảy, Còn người đàn bà có đông con nay trở nên buồn thảm.
1SA 2:6 CHÚA sai sự chết, và mang sự sống đến. Ngài đưa người ta xuống huyệt, Rồi khiến họ sống dậy.
1SA 2:7 CHÚA làm cho một số người trở nên nghèo khó, và kẻ khác được giàu có. Ngài hạ một số người xuống và nâng kẻ khác lên.
1SA 2:8 CHÚA nhấc kẻ nghèo dậy khỏi bụi đất, và nâng người khốn cùng lên từ đống tro. Ngài để kẻ nghèo ngồi chung với quan trưởng và nhận ngôi vinh dự. Nền trái đất thuộc về CHÚA, Ngài đặt thế giới trên nền đó.
1SA 2:9 Ngài bảo vệ những kẻ trung tín với Ngài, nhưng kẻ ác phải nín lặng trong bóng tối. Quyền hành không phải là bí quyết của thành công.
1SA 2:10 CHÚA tiêu diệt kẻ thù mình; Từ trời Ngài làm sấm rền nghịch lại chúng. CHÚA sẽ phân xử cả đất. Ngài sẽ ban quyền lực cho vua Ngài và khiến vua mà Ngài bổ nhiệm được vững mạnh.”
1SA 2:11 Rồi Ên-ca-na trở về nhà ở Ra-ma còn cậu bé Sa-mu-ên ở lại phục vụ CHÚA dưới quyền của thầy tế lễ Hê-li.
1SA 2:12 Các con Hê-li rất gian ác; chúng nó chẳng hề biết CHÚA.
1SA 2:13 Chúng thường làm như sau: Mỗi khi có ai mang của lễ đến thì thịt thường được nấu trong nồi. Một đứa đầy tớ của thầy tế lễ đến cầm cái chĩa ba.
1SA 2:14 Nó thọc cái chĩa vào trong nồi. Hễ móc lên được miếng thịt nào thì thầy tế lễ lấy miếng đó. Họ đối xử với dân chúng đi đến Si-lô dâng của lễ như thế.
1SA 2:15 Có khi ngay cả trước khi thiêu mỡ, đầy tớ của thầy tế lễ đến bảo người dâng của lễ rằng, “Đưa cho thầy tế lễ một miếng thịt để nướng. Ông ta không chịu lấy thịt chín đâu, chỉ muốn thịt sống thôi.”
1SA 2:16 Nếu người dâng của lễ bảo, “Đợi thiêu mỡ trước rồi sau đó anh muốn lấy gì thì lấy,” thì đầy tớ bảo, “Không, đưa tôi thịt sống ngay bây giờ, bằng không tôi giật đó.”
1SA 2:17 CHÚA thấy tội lỗi của các tên đầy tớ thật quá lắm vì chúng không kính trọng của lễ dâng lên cho Ngài.
1SA 2:18 Nhưng Sa-mu-ên vâng lời CHÚA. Lúc còn nhỏ, Sa-mu-ên mặc một áo cánh bằng vải.
1SA 2:19 Mỗi năm mẹ Sa-mu-ên may cho cậu một cái áo choàng nhỏ lúc nàng đi lên Si-lô với chồng để dâng của lễ.
1SA 2:20 Khi Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ, ông nói, “Cầu CHÚA đền đáp lại cho ngươi, ban cho ngươi nhiều con qua An-na để thay thế cho đứa trẻ mà nàng đã cầu xin và dâng cho CHÚA.”
1SA 2:21 CHÚA tỏ lòng nhân từ với An-na, cho nên nàng sinh thêm ba con trai và hai con gái nữa, còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên phục vụ CHÚA.
1SA 2:22 Lúc đó Hê-li đã già lắm. Ông nghe biết hết những chuyện các con mình làm cho toàn dân Ít-ra-en cùng chuyện chúng nó ăn nằm với các phụ nữ phục vụ nơi cửa Lều Họp.
1SA 2:23 Hê-li hỏi các con, “Tại sao chúng bay làm chuyện bậy bạ mà người ta kể cho tao nghe vậy?
1SA 2:24 Không được đâu, các con! Dân sự CHÚA đã đồn tiếng xấu về các con.
1SA 2:25 Nếu các con phạm tội cùng người khác, CHÚA có thể tha thứ được. Còn nếu các con phạm tội cùng CHÚA, thì sẽ không ai tha thứ được đâu!” Nhưng các con Hê-li không thèm nghe cha mình vì CHÚA nhất định giết chúng nó.
1SA 2:26 Cậu bé Sa-mu-ên khôn lớn. Cậu làm vui lòng CHÚA và dân chúng.
1SA 2:27 Có một người của Thượng Đế đến bảo Hê-li, “CHÚA phán như sau: Ta hiện ra cùng gia đình của tổ tiên ngươi là A-rôn khi họ còn là nô lệ cho vua Ai-cập.
1SA 2:28 Ta đã chọn họ từ trong các chi tộc Ít-ra-en để làm thầy tế lễ cho ta. Ta muốn họ đi đến bàn thờ ta, dâng hương, và mặc áo ngắn thánh. Ta cũng để cho gia đình tổ tiên ngươi có phần trong các của lễ do dân Ít-ra-en cung hiến.
1SA 2:29 Sao ngươi khinh thường các của lễ dân chúng mang đến cho ta mà trọng các con mình hơn ta? Ngươi hành động như thế khi chiếm lấy cho mình những phần tốt nhất trong số thịt dân Ít-ra-en đem đến cho ta.
1SA 2:30 Cho nên CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Thật thế, ta đã hứa rằng gia đình ngươi và gia đình tổ tiên ngươi sẽ mãi mãi phục vụ ta.’ Nhưng bây giờ CHÚA phán: Chuyện đó sẽ không còn nữa! Ta tôn trọng kẻ nào tôn trọng ta và sỉ nhục kẻ nào sỉ nhục ta.
1SA 2:31 Ngươi phải biết rằng đã đến lúc ta tiêu diệt dòng dõi ngươi và dòng dõi tổ tiên ngươi. Trong gia đình ngươi sẽ không có ai sống lâu.
1SA 2:32 Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn đốn trong nhà mình. Dù có bao nhiêu chuyện tốt đẹp trong Ít-ra-en, gia đình ngươi sẽ không có ai sống lâu.
1SA 2:33 Ta sẽ không hoàn toàn cắt đứt gia đình ngươi khỏi bàn thờ ta nhưng mắt ngươi sẽ khóc và lòng ngươi sẽ buồn thảm vì tất cả dòng dõi ngươi sẽ chết.
1SA 2:34 Ta sẽ cho ngươi một dấu hiệu. Cả hai con trai ngươi, Hóp-ni và Phi-nê-a đều sẽ chết cùng một ngày.
1SA 2:35 Ta sẽ chọn cho ta một thầy tế lễ trung thành, nghe ta và làm theo ý ta. Ta sẽ khiến gia đình người còn mãi, và người sẽ phục vụ ta trước mặt vua ta bổ nhiệm.
1SA 2:36 Rồi ai còn sót lại trong gia đình ngươi sẽ đến quì lạy trước mặt người xin tiền và thức ăn rằng, ‘Làm ơn cho tôi được làm thầy tế lễ để nuôi thân.’”
1SA 3:1 Cậu Sa-mu-ên phục vụ CHÚA dưới quyền Hê-li. Vào thời đó CHÚA rất ít nói chuyện với dân chúng; cũng có rất ít dị tượng.
1SA 3:2 Mắt Hê-li lòa đến nỗi không còn thấy đường. Một đêm nọ ông đang nằm trên giường.
1SA 3:3 Sa-mu-ên cũng nằm trên giường trong nhà của CHÚA, nơi có Rương Giao Ước. Đèn của Thượng Đế vẫn còn cháy.
1SA 3:4 CHÚA gọi Sa-mu-ên, cậu trả lời, “Dạ có con đây!”
1SA 3:5 Rồi cậu chạy đến Hê-li thưa, “Dạ con đây vì ông kêu con.” Nhưng Hê-li đáp, “Ta không có kêu con. Đi ngủ lại đi.” Vậy Sa-mu-ên đi ngủ lại.
1SA 3:6 CHÚA gọi lần nữa, “Sa-mu-ên!” Sa-mu-ên lại chạy đến Hê-li thưa, “Dạ con đây, vì ông kêu con.” Một lần nữa Hê-li lại bảo, “Ta không có kêu con. Đi ngủ lại đi.”
1SA 3:7 Sa-mu-ên chưa biết CHÚA vì Ngài chưa nói chuyện trực tiếp với cậu.
1SA 3:8 CHÚA gọi Sa-mu-ên lần thứ ba. Sa-mu-ên ngồi dậy chạy đến Hê-li thưa, “Dạ con đây vì ông kêu con.” Hê-li liền biết rằng CHÚA gọi cậu bé.
1SA 3:9 Nên ông dặn, “Con đi ngủ lại đi. Nếu Ngài gọi nữa thì thưa, ‘Lạy CHÚA xin hãy phán vì tôi tớ Ngài đang nghe.’” Vậy Sa-mu-ên đi nằm ngủ lại.
1SA 3:10 CHÚA đến đứng đó gọi như lần trước, “Sa-mu-ên, Sa-mu-ên!” Sa-mu-ên thưa, “Lạy CHÚA, xin hãy phán vì tôi tớ Ngài đang nghe.”
1SA 3:11 CHÚA phán cùng Sa-mu-ên, “Coi chừng, ta sẽ làm trong Ít-ra-en một việc khiến ai nghe cũng sửng sốt.
1SA 3:12 Lúc đó ta sẽ làm cho Hê-li và gia đình người hết mọi việc ta đã hứa, từ đầu cho đến cuối.
1SA 3:13 Ta đã bảo Hê-li rằng ta sẽ trừng phạt nhà người vì người đã biết các con mình gian ác. Chúng nó hành động vô luân mà không ngăn cấm.
1SA 3:14 Cho nên ta thề cùng gia đình Hê-li rằng, ‘Tội lỗi người sẽ không bao giờ được tha thứ, dù bằng của lễ hay sinh tế.’”
1SA 3:15 Sa-mu-ên nằm ngủ cho đến sáng rồi mở cửa nhà của CHÚA. Cậu sợ không dám thuật cho Hê-li biết về dị tượng,
1SA 3:16 nhưng Hê-li kêu cậu, “Sa-mu-ên, con ơi!” Sa-mu-ên thưa, “Dạ, con đây.”
1SA 3:17 Hê-li hỏi, “CHÚA nói gì với con? Không được giấu ông. Nếu con giấu ông điều gì nguyện CHÚA phạt con nặng nề.”
1SA 3:18 Vậy Sa-mu-ên thuật lại hết cho Hê-li, không giấu điều gì. Sau đó Hê-li bảo, “Ngài là CHÚA cho nên Ngài làm điều gì Ngài cho là phải.”
1SA 3:19 CHÚA ở cùng Sa-mu-ên đang khi cậu lớn lên; Ngài không để lời nào của cậu không thành sự thực.
1SA 3:20 Tất cả dân Ít-ra-en, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba nhận biết rằng Sa-mu-ên là một nhà tiên tri thật của CHÚA.
1SA 3:21 Ngài tiếp tục hiện ra tại Si-lô, và Ngài tỏ mình ra với Sa-mu-ên qua lời phán Ngài.
1SA 4:1 Thế là tiếng đồn về Sa-mu-ên loan truyền khắp Ít-ra-en. Hê-li đã già lắm còn các con trai của ông vẫn tiếp tục làm những việc xấu xa trước mặt CHÚA. Lúc đó dân Ít-ra-en ra tiến đánh dân Phi-li-tin. Quân Ít-ra-en đóng trại ở Ê-bên-ê-xe, còn quân Phi-li-tin đóng quân ở A-phéc.
1SA 4:2 Quân Phi-li-tin kéo ra đánh nhau với quân Ít-ra-en. Khi cuộc chiến mở rộng, quân Phi-li-tin đánh bại quân Ít-ra-en, giết khoảng bốn ngàn chiến sĩ ngay mặt trận.
1SA 4:3 Khi một số quân Ít-ra-en trở về trại, các bô lão hỏi, “Tại sao CHÚA để bọn Phi-li-tin đánh thắng chúng ta? Hãy mang Rương Giao Ước từ Si-lô đến đây và mang Rương ra mặt trận với chúng ta. Thượng Đế sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù.”
1SA 4:4 Vậy họ sai người đến Si-lô mang Rương Giao Ước với CHÚA Toàn Năng ngự giữa hai con thú có cánh bằng vàng. Hóp-ni và Phi-nê-a, hai con trai Hê-li cũng có mặt ở đó với Rương.
1SA 4:5 Khi Rương Giao Ước của CHÚA vào trại quân, toàn dân Ít-ra-en la lớn vì vui mừng đến nỗi rung chuyển đất.
1SA 4:6 Khi quân Phi-li-tin nghe tiếng reo hò của người Ít-ra-en liền hỏi nhau, “Tiếng ồn ào huyên náo trong trại quân Hê-bơ-rơ là gì vậy?” Rồi họ khám phá ra rằng Rương Giao Ước của CHÚA đã vào trong trại quân Hê-bơ-rơ.
1SA 4:7 Họ vô cùng hoảng sợ bảo nhau, “Các thần đã đến trong trại quân Hê-bơ-rơ! Khốn cho chúng ta rồi! Trước đây chưa bao giờ có chuyện nầy.
1SA 4:8 Chúng ta nguy rồi! Ai có thể giải cứu chúng ta khỏi các thần hùng mạnh đó? Chính các thần này đã làm hại dân Ai-cập bằng đủ thứ thảm hoạ trong sa mạc.
1SA 4:9 Hỡi quân Phi-li-tin, hãy can đảm lên! Hãy anh dũng chiến đấu! Trước kia chúng là nô lệ cho các ngươi. Hãy anh dũng chiến đấu nếu không chúng ta sẽ làm nô lệ cho chúng nó.”
1SA 4:10 Vậy quân Phi-li-tin chiến đấu hăng say và đánh bại quân Ít-ra-en. Mỗi người Ít-ra-en đều chạy trốn về nhà mình. Đó là một thảm bại lớn cho Ít-ra-en vì ba mươi ngàn chiến sĩ Ít-ra-en bị giết.
1SA 4:11 Rương Giao Ước của Thượng Đế bị quân Phi-li-tin cướp. Hóp-ni và Phi-nê-a, hai con Hê-li, cũng bị giết.
1SA 4:12 Ngày hôm đó có một người từ chi tộc Bên-gia-min chạy từ mặt trận về. Người xé áo quần và phủ bụi trên đầu để tỏ nỗi buồn thảm.
1SA 4:13 Khi đến Si-lô thì anh ta rất ngạc nhiên khi thấy Hê-li đang ngồi bên đường. Ông đang ngồi trên ghế trông ngóng vì rất lo lắng cho Rương Giao Ước của Thượng Đế. Khi người Bên-gia-min vào Si-lô, anh ta liền báo tin chẳng lành. Rồi toàn dân trong thành òa khóc thảm thiết.
1SA 4:14 Hê-li nghe tiếng khóc liền hỏi, “Việc gì mà ồn ào thế?” Người Bên-gia-min chạy đến thuật lại cho Hê-li nghe mọi việc.
1SA 4:15 Lúc đó Hê-li đã chín mươi tám tuổi và mù loà.
1SA 4:16 Người Bên-gia-min thuật, “Tôi từ mặt trận về. Tôi chạy suốt ngày nay.” Hê-li hỏi, “Chuyện gì vậy con?”
1SA 4:17 Người Bên-gia-min đáp, “Dân Ít-ra-en chạy trốn trước mặt quân Phi-li-tin, và đạo quân Ít-ra-en bị mất nhiều chiến sĩ lắm. Hai con trai ông đều chết, còn quân Phi-li-tin đã cướp Rương Giao Ước của Thượng Đế.”
1SA 4:18 Khi anh ta nói đến Rương Giao Ước của Thượng Đế, thì Hê-li ngã ngửa ra trên ghế, té xuống gãy cổ chết vì ông vừa già vừa mập. Ông lãnh đạo dân Ít-ra-en trong bốn mươi năm.
1SA 4:19 Con dâu của Hê-li tức vợ của Phi-nê-a đang mang thai sắp sanh. Khi cô nghe Rương Giao Ước của Thượng Đế đã bị cướp mất và Hê-li, cha chồng, cùng Phi-nê-a chồng mình đã chết thì nàng khòm xuống và sinh con vì nàng đau bụng đẻ quá sức. Đứa bé rất khó sinh.
1SA 4:20 Khi nàng đang hấp hối thì các người đàn bà giúp nàng sinh trấn an, “Đừng lo, chị sinh con trai!” Nhưng nàng chẳng trả lời hay để ý.
1SA 4:21 Nàng đặt tên cho đứa bé là Y-ca-bốt vì nàng bảo, “Vinh hiển của Ít-ra-en đã mất rồi.” Nàng nói vậy vì Rương Giao Ước của Thượng Đế đã bị cướp mất và cha chồng cùng chồng nàng đã chết.
1SA 4:22 Nàng bảo, “Vinh quang của Ít-ra-en không còn vì Rương Giao Ước của Thượng Đế đã bị cướp mất rồi.”
1SA 5:1 Sau khi quân Phi-li-tin chiếm Rương Giao Ước của Thượng Đế thì họ mang Rương từ Ê-bên-ê-xe về Ách-đốt.
1SA 5:2 Chúng mang vào trong đền thờ Đa-gôn và đặt Rương kế bên Đa-gôn.
1SA 5:3 Sáng sớm hôm sau khi dân chúng Ách-đốt thức dậy thì sửng sốt vì thấy Đa-gôn ngã nằm sấp mặt xuống đất trước Rương Giao Ước của CHÚA. Chúng đặt Đa-gôn lại chỗ cũ.
1SA 5:4 Sáng hôm sau nữa, khi thức dậy, chúng lại sửng sốt khi thấy Đa-gôn té nằm úp mặt xuống đất trước Rương Giao Ước của CHÚA. Đầu và tay rơi ra nằm trên ngạch cửa. Chỉ còn thân là nguyên vẹn.
1SA 5:5 Cho nên đến ngày nay các thầy tế lễ Đa-gôn khi vào đền thờ ở Ách-đốt không khi nào bước qua ngạch cửa.
1SA 5:6 CHÚA ra tay hành hại dân Ách-đốt và các dân láng giềng. Ngài khiến họ mắc bệnh phù thủng trên da. Ngài cũng sai chuột đến với họ. Chuột chạy khắp trên thuyền bè và tràn trên đất họ. Dân cư trong thành vô cùng sợ hãi.
1SA 5:7 Khi dân Ách-đốt thấy vậy liền bảo, “Rương của Thượng Đế của Ít-ra-en không thể nào ở với chúng ta được. Thượng Đế đang trừng phạt chúng ta và Đa-gôn, thần của chúng ta.”
1SA 5:8 Dân Ách-đốt gọi tất cả năm vua Phi-li-tin lại hỏi, “Chúng ta phải làm sao về Rương của Thượng Đế Ít-ra-en?” Họ trả lời, “Hãy đưa Rương của Thượng Đế Ít-ra-en về Gát.” Vậy dân Phi-li-tin chuyển Rương đó đến Gát.
1SA 5:9 Nhưng khi chúng đưa Rương đến Gát thì dân ở đó hoảng sợ. CHÚA cũng hành hại dân cư thành Gát, già trẻ đều bị bệnh phù thủng trên da.
1SA 5:10 Thế là dân Phi-li-tin đưa Rương của Thượng Đế đến Éc-rôn. Nhưng khi đến Éc-rôn thì dân cư ở đó la lên, “Sao các anh mang Rương của Thượng Đế Ít-ra-en vào thành chúng tôi? Các anh muốn giết chúng tôi và dân cư chúng tôi hay sao?”
1SA 5:11 Cho nên họ gọi tất cả các vua Phi-li-tin lại bảo, “Hãy gởi trả ngay Rương của Thượng Đế Ít-ra-en về nơi cũ nếu không nó sẽ giết chúng ta và dân cư chúng ta!” Toàn thể dân thành đều bị hành hại vì Thượng Đế ra tay.
1SA 5:12 Những ai không bị chết thì bị phù thủng trên da, cho nên dân chúng Éc-rôn kêu la thấu đến trời.
1SA 6:1 Dân Phi-li-tin giữ Rương của Thượng Đế trong xứ mình bảy tháng.
1SA 6:2 Rồi chúng triệu tập các thầy tế lễ và thuật sĩ lại hỏi, “Chúng ta phải làm sao về Rương của Thượng Đế đây? Hãy cho chúng tôi biết phải gởi về cách nào?”
1SA 6:3 Các thầy tế lễ và thuật sĩ đáp, “Khi các anh gởi trả Rương Giao Ước của Thượng Đế Ít-ra-en về thì đừng trả không. Các anh phải kèm theo một của lễ chuộc lỗi. Nếu sau đó các anh được lành thì sẽ biết ngay rằng Rương đó đã gây khốn đốn cho các anh. Các anh phải làm như thế để Thượng Đế thôi trừng phạt các anh.”
1SA 6:4 Người Phi-li-tin hỏi, “Của lễ chuộc lỗi dâng cho Thượng Đế của Ít-ra-en như thế nào?” Họ đáp, “Hãy làm năm mẫu bằng vàng theo như hình phù thủng trên da các ngươi và năm con chuột cống bằng vàng. Các mẫu đó sẽ tiêu biểu cho năm vua Phi-li-tin vì các bệnh tật đó hành hại các ngươi và vua các ngươi.
1SA 6:5 Hãy làm các mẫu phù thủng và mẫu chuột cống đang phá hại xứ các ngươi và hãy tôn kính Thượng Đế của Ít-ra-en. May ra Ngài sẽ không hành hại các ngươi, thần các ngươi và xứ các ngươi.
1SA 6:6 Đừng ngoan cố như vua và dân chúng Ai-cập. Sau khi Thượng Đế sỉ nhục họ thì họ mới chịu để dân Ít-ra-en ra đi.
1SA 6:7 Vì thế các ngươi phải đóng một xe kéo mới, và dùng hai con bò cái mới sinh con. Hai con bò cái nầy phải chưa hề mang ách. Móc hai con bò vào xe, mang các con bò con về nhà, xa mẹ chúng, đừng để chúng đi theo mẹ chúng.
1SA 6:8 Rồi đặt Rương Giao Ước của CHÚA lên xe cùng với các mẫu vàng để làm của lễ chuộc lỗi trong một cái hộp cạnh Rương. Rồi thả cho xe đi.
1SA 6:9 Phải trông chừng cái xe. Nếu nó đi về hướng Bết-sê-mết trong đất Ít-ra-en thì đúng là CHÚA đã mang bệnh tật khủng khiếp nầy đến cho chúng ta. Nếu không phải thì chúng ta sẽ biết rằng Thượng Đế của Ít-ra-en không có phạt chúng ta. Bệnh tật nầy chỉ ngẫu nhiên xảy đến thôi.”
1SA 6:10 Người Phi-li-tin làm theo điều các thầy tế lễ và thuật sĩ dặn. Chúng bắt hai con bò cái vừa mới sinh con, mắc vào xe nhưng giữ lại hai con bò con.
1SA 6:11 Chúng đặt Rương của CHÚA và hộp đựng các con chuột cống và mẫu bệnh phù thũng bằng vàng lên xe.
1SA 6:12 Rồi hai con bò đi thẳng về hướng Bết-sê-mết. Chúng đi trên đường, vừa đi vừa rống, không quay bên phải hay bên trái. Các vua Phi-li-tin đi theo các con bò cho đến tận ranh giới Bết-sê-mết.
1SA 6:13 Lúc đó dân Bết-sê-mết đang gặt lúa mì trong thung lũng. Khi nhìn lên thấy Rương của CHÚA họ vô cùng mừng rỡ.
1SA 6:14 Chiếc xe bò đi đến ruộng của Giô-suê ở Bết-sê-mết và dừng gần một tảng đá lớn. Dân chúng Bết-sê-mết chặt gỗ của xe bò ra làm củi rồi dâng hai con bò cái làm của lễ thiêu cho CHÚA.
1SA 6:15 Người Lê-vi khiêng Rương của CHÚA và hộp đựng các mẫu bằng vàng rồi đặt cả hai lên tảng đá lớn. Trong ngày đó dân Bết-sê-mết dâng của lễ toàn thiêu và sinh tế cho CHÚA.
1SA 6:16 Sau khi năm vua Phi-li-tin nhìn thấy mọi việc thì họ trở về Éc-rôn nội ngày đó.
1SA 6:17 Người Phi-li-tin đã gởi các mẫu phù thủng vàng làm của lễ chuộc lỗi cho CHÚA. Mỗi mẫu vàng thay cho một trong các thị trấn sau đây: Ách-đốt, Ga-xa, Ách-kê-lôn, Gát, và Éc-rôn.
1SA 6:18 Người Phi-li-tin cũng gởi năm mẫu chuột cống vàng. Số chuột tương đương với số thị trấn nằm dưới quyền các vua Phi-li-tin, kể cả các thành kiên cố có vách và các làng mạc trong vùng quê. Tảng đá lớn mà họ đặt Rương của CHÚA ngày nay vẫn còn ở đó trong ruộng Giô-suê ở Bết-sê-mết.
1SA 6:19 Nhưng ở đó không có thầy tế lễ nào, và một số người dân ở Bết-sê-mết nhìn vào Rương của CHÚA cho nên Thượng Đế giết bảy mươi người trong vòng họ. Dân cư Bết-sê-mết kêu khóc vì CHÚA giết họ.
1SA 6:20 Họ bảo, “Ai đứng nổi trước mặt CHÚA là Thượng Đế thánh? Ai là người sẽ bị Ngài giết kế tiếp?”
1SA 6:21 Sau đó họ sai người đến dân Ki-ri-át Giê-a-rim bảo rằng, “Dân Phi-li-tin đã trả Rương của CHÚA. Hãy xuống mang về thành của các ngươi đi.”
1SA 7:1 Dân Ki-ri-át Giê-a-rim xuống mang Rương của CHÚA về nhà A-bi-na-đáp trên đồi. Họ làm thủ tục dọn ra thánh cho Ê-lê-a-sa con A-bi-na-đáp để ông có thể canh giữ Rương của CHÚA.
1SA 7:2 Rương của CHÚA ở Ki-ri-át Giê-a-rim trong suốt hai mươi năm. Và dân Ít-ra-en bắt đầu trở lại theo CHÚA.
1SA 7:3 Sa-mu-ên nói chuyện với toàn dân Ít-ra-en. Ông bảo, “Nếu các ngươi hết lòng trở lại cùng CHÚA, các ngươi phải dẹp bỏ các thần ngoại quốc và tượng chạm Át-tô-rết. Các ngươi phải hoàn toàn hiến mình cho CHÚA và chỉ phục vụ Ngài mà thôi. Như thế Ngài mới giải cứu các ngươi khỏi tay người Phi-li-tin.”
1SA 7:4 Vậy dân Ít-ra-en dẹp bỏ các tượng chạm Ba-anh và Át-tô-rết và chỉ phục vụ CHÚA mà thôi.
1SA 7:5 Sa-mu-ên bảo, “Tất cả dân Ít-ra-en phải họp mặt tại Mích-ba để ta cầu nguyện cho các ngươi.”
1SA 7:6 Vậy toàn dân Ít-ra-en họp lại tại Mích-ba. Họ lấy nước từ đất và đổ ra trước mặt CHÚA và cữ ăn trọn ngày đó. Họ xưng tội, “Chúng tôi đã phạm tội cùng CHÚA.” Rồi Sa-mu-ên làm quan án cho Ít-ra-en tại Mích-ba.
1SA 7:7 Nghe tin dân Ít-ra-en đã họp tại Mích-ba nên các vua Phi-li-tin kéo đến tấn công. Khi dân Ít-ra-en nghe tin dân Phi-li-tin kéo đến thì họ vô cùng hoảng sợ.
1SA 7:8 Họ năn nỉ Sa-mu-ên, “Xin đừng ngưng cầu nguyện với CHÚA là Thượng Đế cho chúng tôi! Xin Ngài giải cứu chúng tôi khỏi tay người Phi-li-tin!”
1SA 7:9 Sa-mu-ên liền bắt một con chiên con dâng nó lên làm của lễ toàn thiêu cho CHÚA. Ông kêu xin CHÚA cho dân Ít-ra-en, và CHÚA đáp lời cầu nguyện của ông.
1SA 7:10 Trong khi Sa-mu-ên đang dâng của lễ thiêu thì quân Phi-li-tin kéo đến tấn công dân Ít-ra-en. Nhưng CHÚA làm sấm rền nghịch lại chúng. Chúng hoảng sợ đến nỗi đâm ra hỗn loạn. Cho nên dân Ít-ra-en đánh bại dân Phi-li-tin trong trận đó.
1SA 7:11 Người Ít-ra-en đổ ra từ Mích-ba rượt đuổi theo dân Phi-li-tin đến tận Bết-ca, giết vô số quân Phi-li-tin dọc đường.
1SA 7:12 Sau việc đó Sa-mu-ên dựng một tảng đá giữa Mích-ba và Sên. Ông gọi tảng đá đó là Ê-bên-ê-xe vì ông bảo, “CHÚA đã giúp chúng ta đến chỗ nầy.”
1SA 7:13 Dân Phi-li-tin bị đánh bại và không còn dám xâm lấn đất Ít-ra-en nữa. CHÚA nghịch lại dân Phi-li-tin trọn đời Sa-mu-ên.
1SA 7:14 Trước kia dân Phi-li-tin chiếm các thị trấn của dân Ít-ra-en, nhưng dân Ít-ra-en lấy lại tất cả từ Éc-rôn cho đến Gát. Họ cũng lấy lại từ tay dân Phi-li-tin đất đai quanh các thị trấn đó. Giữa Ít-ra-en và dân A-mô-rít được hoà bình.
1SA 7:15 Suốt đời mình Sa-mu-ên làm quan án trên Ít-ra-en.
1SA 7:16 Mỗi năm ông đi đến Ghinh-ganh và Mích-ba để phân xử dân Ít-ra-en trong các thành đó.
1SA 7:17 Nhưng Sa-mu-ên bao giờ cũng trở về Ra-ma nơi nhà mình. Ở đó ông phân xử dân Ít-ra-en và xây một bàn thờ cho CHÚA.
1SA 8:1 Khi Sa-mu-ên về già, ông đề cử các con trai mình làm quan án trên Ít-ra-en.
1SA 8:2 Con trai trưởng tên Giô-ên, con thứ nhì tên A-bi-gia. Giô-ên và A-bi-gia làm quan án ở Bê-e-sê-ba.
1SA 8:3 Nhưng các con Sa-mu-ên không sống đạo đức như ông. Chúng kiếm tiền một cách bất lương và nhận hối lộ để phán quyết bậy bạ.
1SA 8:4 Cho nên các bô lão họp lại gặp Sa-mu-ên ở Ra-ma.
1SA 8:5 Họ bảo, “Ông đã già rồi mà các con ông lại không noi gương ông. Xin cho chúng tôi một vua để cai trị trên chúng tôi như các dân tộc khác.”
1SA 8:6 Khi nghe các bô lão nói vậy, Sa-mu-ên rất buồn lòng. Ông cầu nguyện cùng CHÚA,
1SA 8:7 Ngài trả lời, “Hãy chiều theo mọi điều dân chúng xin ngươi. Không phải họ từ bỏ ngươi mà là từ bỏ ta để ta không còn làm vua trên họ.
1SA 8:8 Từ trước đến nay họ vẫn hành động như thế. Khi ta mang họ ra khỏi Ai-cập, họ bỏ ta đi theo các thần khác. Ngày nay họ đối với ngươi cũng vậy.
1SA 8:9 Bây giờ hãy nghe theo họ, nhưng phải cảnh cáo họ trước những gì mà vua cai trị trên họ sẽ làm.”
1SA 8:10 Vậy Sa-mu-ên thuật lại cho những kẻ muốn xin có vua về những gì CHÚA nói.
1SA 8:11 Sa-mu-ên bảo, “Nếu các ngươi muốn có vua cai trị mình thì người sẽ làm như sau: Người sẽ bắt con trai các ngươi chăm sóc các quân xa và ngựa mình, chúng nó sẽ chạy trước các quân xa của vua.
1SA 8:12 Vua sẽ bắt các con trai các ngươi chỉ huy hàng ngàn hay hàng năm mươi người. Người sẽ bắt các con trai khác các ngươi cày ruộng và gặt hái trong đồng ruộng mình. Người sẽ bắt mấy đứa con khác làm vũ khí chiến tranh và trang cụ cho quân xa mình.
1SA 8:13 Người sẽ bắt con gái các ngươi làm thợ chế dầu thơm, nấu nướng cho người.
1SA 8:14 Người sẽ lấy ruộng, vườn nho và vườn ô liu tốt nhất của các ngươi để cho đầy tớ mình.
1SA 8:15 Người sẽ thu một phần mười ngũ cốc và nho các ngươi để cấp cho các sĩ quan và đầy tớ mình.
1SA 8:16 Người sẽ bắt tôi trai tớ gái các ngươi, các gia súc tốt nhất, và lừa các ngươi làm việc cho mình.
1SA 8:17 Người sẽ lấy một phần mười của chiên và dê ngươi và chính bản thân các ngươi sẽ làm nô lệ cho người.
1SA 8:18 Khi những chuyện đó xảy ra thì các ngươi sẽ than khóc về vua mà mình đã chọn. Lúc đó CHÚA sẽ không thèm nghe các ngươi đâu.”
1SA 8:19 Nhưng dân chúng nhất định không nghe Sa-mu-ên. Họ bảo, “Không! Chúng tôi muốn có vua cai trị trên chúng tôi.
1SA 8:20 Để chúng tôi cũng giống như các dân tộc khác. Vua của chúng tôi sẽ phân xứ cho chúng tôi và ra trận đánh giặc chung với chúng tôi.”
1SA 8:21 Sau khi Sa-mu-ên nghe mọi lời dân chúng nói thì ông thưa lại cùng CHÚA.
1SA 8:22 CHÚA đáp, “Ngươi hãy nghe theo họ. Hãy lập vua cho họ.” Rồi Sa-mu-ên bảo toàn thể dân chúng, “Các ngươi hãy trở về thành mình đi.”
1SA 9:1 Lúc ấy, có một người tên Kích, con của A-bi-ên từ chi tộc Bên-gia-min, rất có địa vị. A-bi-ên là con của Xê-rô, Xê-rô con Bê-cô-ra, Bê-cô-ra con A-phia thuộc chi tộc Bên-gia-min.
1SA 9:2 Kích có một con trai tên Sau-lơ rất tuấn tú. Trong Ít-ra-en không có ai đẹp trai bằng anh ta. Sau-lơ cao hơn tất cả mọi người từ vai trở lên.
1SA 9:3 Số là các con lừa của Kích, cha Sau-lơ, bị lạc nên Kích bảo Sau-lơ, con mình, “Hãy mang một trong các đầy tớ đi tìm lừa.”
1SA 9:4 Sau-lơ đi qua khắp vùng núi Ép-ra-im và xứ Sa-li-sa nhưng anh ta và đầy tớ không tìm được lừa. Họ đi đến đất Sa-a-lim cũng không thấy. Rồi họ đi qua đất Bên-gia-min nhưng cũng không tìm được.
1SA 9:5 Khi đi đến vùng Xu-phơ thì Sau-lơ bảo tên đầy tớ, “Thôi chúng ta hãy trở về kẻo cha ta không còn lo cho lừa nữa mà lại lo âu cho chúng ta.”
1SA 9:6 Nhưng đứa đầy tớ đáp, “Trong thành nầy có một người của Thượng Đế. Dân chúng rất kính nể người vì điều gì người nói cũng đúng cả. Có thể người sẽ bảo cho chúng ta biết nên đi tìm ở đâu.”
1SA 9:7 Sau-lơ hỏi tên đầy tớ, “Nếu chúng ta vào trong thành thì chúng ta phải biếu ông ấy quà gì? Thức ăn trong bao của chúng ta đã gần hết rồi. Chúng ta còn gì không?”
1SA 9:8 Đứa đầy tớ đáp, “Đây, tôi có một phần mười lượng bạc. Thôi lấy mà biếu người của Thượng Đế đi. Rồi người sẽ bảo chúng ta biết nên đi đường nào.”
1SA 9:9 Trước kia, khi ai muốn cầu hỏi Thượng Đế điều gì thì hay nói, “Hãy đi tìm vị tiên kiến.” Ngày nay chúng ta gọi họ là nhà tiên tri, nhưng trước kia người ta gọi là tiên kiến.
1SA 9:10 Sau-lơ bảo tên đầy tớ, “Tốt. Thôi chúng ta đi.” Vậy hai người đi đến thành của người của Thượng Đế.
1SA 9:11 Khi Sau-lơ và đứa đầy tớ đang đi lên đồi để vào thành thì gặp các thiếu nữ đi ra lấy nước. Sau-lơ và đầy tớ hỏi, “Có vị tiên kiến ở đây không?”
1SA 9:12 Các thiếu nữ đáp, “Có, ông ta có đây. Ông ta đang đi trước mặt mấy anh đó. Hãy nhanh lên. Hôm nay ông ấy đến thành chúng tôi vì dân chúng dâng của lễ nơi thờ phụng.
1SA 9:13 Vào thành rồi, các anh sẽ gặp ông ấy trước khi ông lên chỗ thờ phụng để ăn. Dân chúng thường chờ vị tiên kiến đến rồi mới ăn vì ông ta phải chúc phước cho của lễ. Sau đó các khách khứa sẽ ăn. Đi đi, các anh sẽ gặp ông ta đó.”
1SA 9:14 Sau-lơ và đứa đầy tớ lên thành. Vừa khi vào thành thì gặp Sa-mu-ên đang đi ngược lại để lên chỗ thờ phụng.
1SA 9:15 Đúng ngày Sau-lơ đến CHÚA đã bảo trước với Sa-mu-ên:
1SA 9:16 “Vào khoảng giờ nầy ngày mai ta sẽ sai một người đến từ đất Bên-gia-min. Hãy bổ nhiệm người làm lãnh tụ cho dân Ít-ra-en. Người sẽ cứu dân ta khỏi tay dân Phi-li-tin. Ta đã thấy sự khốn khổ của dân ta, ta đã nghe tiếng than khóc của họ.”
1SA 9:17 Khi Sa-mu-ên chợt thấy Sau-lơ thì CHÚA bảo ông, “Đó là người mà ta đã bảo ngươi. Người sẽ cai trị dân ta.”
1SA 9:18 Sau-lơ đến gần Sa-mu-ên nơi cổng thành hỏi, “Xin ông làm ơn chỉ cho tôi nhà của vị tiên kiến.”
1SA 9:19 Sa-mu-ên đáp, “Ta là vị tiên kiến đây. Hãy đi với ta đến chỗ thờ phụng. Hôm nay ngươi và đầy tớ ngươi sẽ ăn chung với ta. Sáng mai ta sẽ giải đáp những thắc mắc của ngươi và cho ngươi về nhà.
1SA 9:20 Đừng lo gì về những con lừa đi lạc cách đây ba ngày vì đã tìm được rồi. Ước vọng của Ít-ra-en là gì nếu không phải là ngươi và gia đình cha ngươi?”
1SA 9:21 Sau-lơ đáp, “Nhưng tôi thuộc chi tộc Bên-gia-min là chi tộc nhỏ nhất trong Ít-ra-en. Còn gia đình tôi cũng nhỏ nhất trong chi tộc Bên-gia-min. Tại sao ông nói gì kỳ lạ vậy?”
1SA 9:22 Rồi Sa-mu-ên mang Sau-lơ và đứa đầy tớ vào trong một phòng rộng và để ông ngồi chỗ tốt nhất nơi bàn. Tại đó có khoảng ba mươi khách.
1SA 9:23 Sa-mu-ên bảo người bếp, “Hãy mang thịt ta giao cho ngươi, phần mà ta dặn để dành đó.”
1SA 9:24 Vậy người bếp mang cái đùi và đặt trên bàn trước mặt Sau-lơ. Sa-mu-ên nói, “Đây là phần thịt dành cho ngươi. Hãy ăn đi vì thịt đã được để riêng cho ngươi vào dịp đặc biệt nầy. Như ta nói, ta có mời nhiều người khác.” Vậy Sau-lơ ăn chung với Sa-mu-ên hôm đó.
1SA 9:25 Sau khi ăn xong, họ rời nơi thờ phụng và đi vào thành. Rồi Sa-mu-ên dọn giường cho Sau-lơ trên mái nhà rồi Sau-lơ đi ngủ.
1SA 9:26 Đến sáng sớm Sa-mu-ên hướng lên mái nhà gọi Sau-lơ. Ông nói, “Hãy thức dậy đi, ta sẽ để ngươi ra về.” Vậy Sau-lơ thức dậy và đi ra khỏi nhà cùng với Sa-mu-ên.
1SA 9:27 Trong khi Sau-lơ, đứa đầy tớ, và Sa-mu-ên gần đến ven thành phố, Sa-mu-ên bảo Sau-lơ, “Hãy bảo đứa đầy tớ đi trước đi, còn ngươi ở lại một chút vì ta có lời nhắn của Thượng Đế cho ngươi.”
1SA 10:1 Sa-mu-ên lấy một ve nhỏ đựng dầu ô liu và đổ lên đầu Sau-lơ. Ông hôn Sau-lơ và bảo, “CHÚA đã chỉ định ngươi lãnh đạo dân Ngài. Ngươi sẽ điều khiển dân chúng và sẽ cứu họ ra khỏi tay các kẻ thù nghịch vây quanh. Ngài đã xức dầu cho ngươi làm lãnh tụ dân của Ngài. Đây là dấu hiệu về điều nầy:
1SA 10:2 Sau khi ngươi rời ta hôm nay, ngươi sẽ gặp hai người gần mộ Ra-chên trên ranh giới Bên-gia-min ở Xên-la. Họ sẽ bảo ngươi, ‘Các con lừa mà anh đi kiếm đã tìm được rồi. Nhưng cha anh không còn lo cho lừa nữa mà lo cho anh. Ông nói, Phải làm thế nào cho con trai ta đây?’”
1SA 10:3 Rồi ngươi sẽ đi cho tới cây sồi ở Ta-bo. Có ba người đang trên đường đi đến nơi thờ phụng Thượng Đế ở Bê-tên sẽ gặp ngươi ở đó. Một người mang theo ba con dê. Người kia mang ba ổ bánh. Người thứ ba mang bầu rượu bằng da.
1SA 10:4 Họ sẽ chào ngươi và biếu ngươi hai ổ bánh, ngươi hãy nhận.
1SA 10:5 Rồi ngươi sẽ đi đến Ghi-bê-a của Thượng Đế, nơi có doanh trại của dân Phi-li-tin. Khi ngươi sắp vào thành đó, một nhóm các nhà tiên tri sẽ từ nơi thờ phụng đi xuống. Họ sẽ gảy đờn cầm, chơi trống cơm, sáo, và đờn sắt, họ sẽ nói tiên tri.
1SA 10:6 Rồi Thần linh của CHÚA sẽ đổ quyền năng trên ngươi. Ngươi cũng sẽ nói tiên tri như họ, và ngươi sẽ hóa ra một người khác.
1SA 10:7 Sau các việc ấy thì ngươi phải tùy cơ hành động vì Thượng Đế sẽ giúp ngươi.
1SA 10:8 “Hãy đi trước ta đến Ghinh-ganh. Ta sẽ xuống dâng của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu. Nhưng ngươi phải đợi bảy ngày. Rồi ta sẽ đến bảo ngươi những gì phải làm.”
1SA 10:9 Khi Sau-lơ vừa quay lưng rời Sa-mu-ên thì Thượng Đế thay đổi lòng của ông. Tất cả các dấu hiệu đó xảy ra nội trong ngày.
1SA 10:10 Khi Sau-lơ và đứa đầy tớ đến Ghi-bê-a thì gặp một toán tiên tri. Thần linh của Thượng Đế nhập vào và ông nói tiên tri cùng với họ.
1SA 10:11 Những người trước kia biết Sau-lơ thấy ông nói tiên tri với các vị tiên tri thì họ ngạc nhiên hỏi nhau, “Con trai của Kích làm sao vậy? Sau-lơ mà cũng là nhà tiên tri à?”
1SA 10:12 Một người ở đó bảo, “Đúng thế. Và hình như ông ta hướng dẫn họ.” Cho nên từ đó có câu tục ngữ nổi tiếng: “Sau-lơ mà cùng thuộc vào hàng các nhà tiên tri à?”
1SA 10:13 Sau khi Sau-lơ nói tiên tri xong thì ông đi vào nơi thờ phụng.
1SA 10:14 Chú của Sau-lơ hỏi ông và tên đầy tớ, “Tụi bay đi đâu mấy hôm nay?” Sau-lơ đáp, “Chúng tôi đi tìm các con lừa. Khi tìm không ra thì chúng tôi liền đến nói chuyện với Sa-mu-ên.”
1SA 10:15 Chú Sau-lơ hỏi, “Kể cho chú biết Sa-mu-ên nói gì với cháu?”
1SA 10:16 Sau-lơ đáp, “Ông ấy nói rõ rằng các con lừa đã tìm được rồi.” Nhưng Sau-lơ không kể gì với chú mình về việc Sa-mu-ên nói mình sẽ làm vua cả.
1SA 10:17 Sa-mu-ên triệu tập tất cả dân Ít-ra-en lại gặp CHÚA tại Mích-ba.
1SA 10:18 Ông bảo, “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau: ‘Ta đã dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Ta đã giải thoát ngươi khỏi ách dân Ai-cập và các quốc gia khác đã làm khổ ngươi.’
1SA 10:19 Nhưng nay chính các ngươi đã từ bỏ Thượng Đế mình. Ngài đã giải cứu các ngươi khỏi mọi khốn khổ nhưng các ngươi nhất quyết bảo, ‘Không! Chúng tôi muốn có một vua cai trị trên chúng tôi.’ Bây giờ hãy đến đứng trước mặt CHÚA theo chi tộc và họ hàng.”
1SA 10:20 Sau khi Sa-mu-ên đã triệu tập tất cả các chi tộc Ít-ra-en lại thì chi tộc Bên-gia-min được chọn bằng cách bắt thăm.
1SA 10:21 Sa-mu-ên bảo từng gia tộc đi qua thì gia đình Mát-tri được chọn. Rồi ông bảo các người trong gia đình Mát-tri đi qua thì Sau-lơ, con trai của Kích được chọn. Nhưng khi tìm lại thì không thấy Sau-lơ đâu cả.
1SA 10:22 Họ hỏi CHÚA, “Sau-lơ đến đây chưa?” CHÚA đáp, “Có. Nó đang núp sau đống hành lý kia.”
1SA 10:23 Cho nên họ chạy đi tìm và đưa ông đến. Khi Sau-lơ đứng giữa dân chúng thì ông cao hơn họ một đầu người.
1SA 10:24 Sa-mu-ên liền bảo dân chúng, “Đó là người được CHÚA chọn. Trong cả dân không có ai giống như người.” Toàn thể dân chúng đồng reo lên, “Đức Vua vạn tuế!”
1SA 10:25 Sa-mu-ên giải thích những quyền lợi và trách nhiệm của vua rồi viết vào một quyển sách để trước mặt CHÚA. Sau đó ông cho mọi người về nhà.
1SA 10:26 Sau-lơ đi về nhà ở Ghi-bê-a. Thượng Đế cảm hóa một số người dũng cảm đi theo ông.
1SA 10:27 Nhưng có mấy đứa côn đồ bảo, “Tên đó mà làm sao giải cứu chúng ta?” Chúng không đồng ý cử Sau-lơ, không thèm mang lễ vật cho ông, nhưng Sau-lơ làm thinh, không nói gì cả. Na-hách, vua dân Am-môn từng làm tổn hại cho các chi tộc Gát và Ru-bên. Na-hách móc mắt phải của tất cả đàn ông và không cho ai can thiệp. Ông ta móc mắt phải của mỗi người đàn ông Ít-ra-en sống trong vùng phía Đông sông Giô-đanh. Nhưng có 7.000 người đàn ông Ít-ra-en chạy thoát khỏi tay người A-môn và đến trú tại Gia-be Ghi-lê-át.
1SA 11:1 Một tháng sau Na-hách người Am-môn và toàn quân đến vây đánh Gia-be ở Ghi-lê-át. Dân Gia-be nói với Na-hách, “Hãy lập hòa ước với chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ ông.”
1SA 11:2 Nhưng người trả lời, “Ta chỉ lập hòa ước với các ngươi nếu ta được móc mắt phải của mỗi người trong các ngươi. Rồi cả dân Ít-ra-en sẽ xấu hổ!”
1SA 11:3 Các bô lão của Gia-be nói với Na-hách, “Xin cho chúng tôi bảy ngày để sai sứ đi khắp Ít-ra-en. Nếu không ai đến giúp chúng tôi thì chúng tôi sẽ đầu hàng ông.”
1SA 11:4 Khi các sứ giả đến Ghi-bê-a là nơi Sau-lơ ở thuật lại mọi việc cho dân chúng ở đó nghe thì tất cả đều kêu khóc thảm thiết.
1SA 11:5 Sau-lơ vừa cày ruộng trở về cùng với mấy con bò thì ông nghe dân chúng khóc lóc. Ông hỏi, “Việc gì mà dân chúng khóc lóc vậy?” Họ liền thuật lại cho ông nghe điều các sứ giả từ Gia-be đến nói.
1SA 11:6 Khi Sau-lơ nghe vậy thì thần của Thượng Đế cảm động ông, ông vô cùng tức giận.
1SA 11:7 Ông bắt đôi bò chặt ra từng miếng rồi giao các miếng đó cho các sứ giả mang đi khắp xứ Ít-ra-en. Các sứ giả loan báo, “Những ai không theo Sau-lơ và Sa-mu-ên thì các con bò của họ sẽ bị chặt ra như thế nầy.” Cho nên dân chúng rất sợ CHÚA. Họ đều đến muôn người như một.
1SA 11:8 Sau-lơ tập họp mọi người tại Bê-xéc. Có tất cả ba trăm ngàn người đàn ông từ Ít-ra-en và ba mươi ngàn người từ Giu-đa.
1SA 11:9 Họ nói với các sứ giả ở đó, “Hãy bảo dân Gia-be ở Ghi-lê-át như sau: ‘Trước trưa mai, các ngươi sẽ được giải cứu.’” Vậy các sứ giả đi về báo tin đó cho dân Gia-be cho nên họ rất mừng rỡ.
1SA 11:10 Dân Gia-be nói với Na-hách người Am-môn, “Ngày mai chúng ta sẽ ra gặp ngươi. Rồi ngươi muốn đối xử với chúng ta thế nào cũng được.”
1SA 11:11 Sáng hôm sau Sau-lơ chia quân lính ra làm ba toán. Sáng sớm họ xông vào trại quân Am-môn đánh chúng đại bại trước buổi trưa. Quân Am-môn nào chạy thoát được thì bị tản lạc; không có ai chạy chung nhau.
1SA 11:12 Sau đó dân chúng hỏi Sa-mu-ên, “Ai không muốn Sau-lơ làm vua đâu? Đem chúng ra đây cho chúng tôi giết hết.”
1SA 11:13 Nhưng Sau-lơ bảo, “Không! Sẽ không có ai bị xử tử hôm nay. Hôm nay CHÚA đã giải cứu Ít-ra-en!”
1SA 11:14 Sa-mu-ên bảo dân chúng, “Chúng ta hãy đến Ghinh-ganh. Ở đó chúng ta sẽ thề trung thành với vua.”
1SA 11:15 Vậy toàn dân đi đến Ghinh-ganh, và trước mặt CHÚA, họ lập Sau-lơ làm vua. Họ dâng của lễ thân hữu cho CHÚA. Sau-lơ và toàn dân Ít-ra-en vô cùng hân hoan ăn mừng.
1SA 12:1 Sa-mu-ên bảo dân Ít-ra-en, “Ta đã chiều theo ý các ngươi và đã lập vua trên các ngươi.
1SA 12:2 Bây giờ các ngươi sẽ có vua lãnh đạo các ngươi. Nay ta đã già, tóc bạc, còn các con trai ta vẫn ở đây với các ngươi. Ta đã hướng dẫn các ngươi từ khi còn trẻ.
1SA 12:3 Bây giờ đây, nếu ta có làm thiệt hại gì cho ai thì các ngươi phải làm chứng trước mặt CHÚA và vua mà Ngài bổ nhiệm. Ta có ăn cắp bò hay lạc đà của ai không? Ta có làm hại hay lường gạt ai không? Ta có nhận của hối lộ để làm ngơ chuyện sai quấy không? Nếu ta có làm những điều ấy ta sẽ đền bù.”
1SA 12:4 Dân Ít-ra-en đáp, “Ông không có lường gạt, làm hại hay sang đoạt vật gì của ai cả.”
1SA 12:5 Sa-mu-ên tiếp, “CHÚA làm nhân chứng cho điều các ngươi vừa nói. Vua mà Ngài bổ nhiệm cũng làm chứng hôm nay rằng các ngươi thấy ta không có làm gì quấy.” Họ đáp, “Người sẽ làm chứng.”
1SA 12:6 Rồi Sa-mu-ên bảo dân chúng, “CHÚA đã chọn Mô-se và A-rôn mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập.
1SA 12:7 Bây giờ hãy đứng đó, ta sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại những điều tốt lành CHÚA làm cho các ngươi và tổ tiên các ngươi.
1SA 12:8 Sau khi Gia-cốp xuống Ai-cập, con cháu người kêu cứu cùng CHÚA. Ngài liền sai Mô-se và A-rôn mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập đến nơi nầy.
1SA 12:9 Nhưng chúng quên CHÚA là Thượng Đế mình. Cho nên Ngài giao chúng làm nô lệ cho Xi-xê-ra, tư lệnh của đạo quân Hát-xo và nô lệ, cho dân Phi-li-tin cùng dân Mô-áp. Tất cả đều tấn công các tổ tiên ta.
1SA 12:10 Rồi tổ tiên các ngươi kêu xin cùng CHÚA rằng, ‘Chúng tôi đã phạm tội. Chúng tôi đã từ bỏ CHÚA và đi phục vụ các thần Ba-anh và Át-tô-rết. Nhưng bây giờ xin giải cứu chúng tôi khỏi kẻ thù chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ Ngài.’
1SA 12:11 Vậy CHÚA sai Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Giép-thê, và Sa-mu-ên. Ngài giải cứu các ngươi khỏi các kẻ thù quanh các ngươi và các ngươi sống bình an.
1SA 12:12 Nhưng khi các ngươi thấy Na-hách, vua dân Am-môn đến tấn công các ngươi thì các ngươi bảo, ‘Không! Chúng tôi muốn có một vua cai trị trên chúng tôi!’ mặc dù CHÚA, là Thượng Đế làm vua trên các ngươi.
1SA 12:13 Bây giờ, đây là vua các ngươi chọn, là người các ngươi cầu xin. Ngài đã đặt người cầm quyền trên các ngươi.
1SA 12:14 Các ngươi phải tôn kính CHÚA và phục vụ người. Các ngươi phải vâng lời, không được trái mệnh lệnh người. Các ngươi và vua cai trị các ngươi phải vâng theo CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Nếu làm như thế thì Ngài sẽ giải cứu các ngươi.
1SA 12:15 Nhưng nếu các ngươi không vâng theo CHÚA mà chống nghịch mệnh lệnh Ngài thì Ngài sẽ nghịch lại các ngươi. Ngài sẽ làm cho các ngươi như Ngài đã làm cho tổ tiên các ngươi.
1SA 12:16 Bây giờ hãy đứng yên mà chứng kiến việc lớn lao CHÚA sẽ làm trước mắt các ngươi.
1SA 12:17 Bây giờ là mùa gặt lúa mì. Ta sẽ cầu nguyện xin CHÚA sai sấm và mưa xuống. Rồi các ngươi sẽ biết rằng đòi một vua cho mình là điều bậy.”
1SA 12:18 Đoạn Sa-mu-ên cầu nguyện cùng CHÚA, trong ngày đó CHÚA sai sấm và mưa lớn xuống cho nên dân chúng rất sợ CHÚA và Sa-mu-ên.
1SA 12:19 Họ van xin Sa-mu-ên, “Xin ông làm ơn cầu nguyện CHÚA là Thượng Đế giùm cho chúng tôi, kẻ tôi tớ ông, để chúng tôi khỏi chết! Chúng tôi đã gây thêm tội ác bằng cách đòi cho được một vua.”
1SA 12:20 Sa-mu-ên đáp, “Đừng sợ. Đành rằng các ngươi làm bậy nhưng đừng từ bỏ CHÚA. Hãy hết lòng phục vụ Ngài.
1SA 12:21 Các hình tượng không ích lợi gì cho nên đừng thờ lạy chúng. Chúng không thể nào giúp hay cứu các ngươi được. Chúng hoàn toàn vô dụng!
1SA 12:22 Vì danh Ngài, CHÚA sẽ không lìa bỏ dân sự Ngài. Ngài rất vui lòng chọn các ngươi làm dân của Ngài.
1SA 12:23 Phần ta, ta sẽ luôn luôn cầu nguyện cho các ngươi vì nếu không tức là ta phạm tội cùng CHÚA. Ta sẽ dạy các ngươi điều tốt và phải.
1SA 12:24 Còn các ngươi phải tôn kính CHÚA và chân thành phục vụ Ngài hết lòng. Hãy nhớ những điều tốt lành Ngài làm cho các ngươi.
1SA 12:25 Nhưng nếu các ngươi ngoan cố và làm ác, Ngài sẽ diệt các ngươi và vua các ngươi ngay.”
1SA 13:1 Sau-lơ được ba mươi tuổi khi lên làm vua và cai trị trên Ít-ra-en bốn mươi hai năm.
1SA 13:2 Sau-lơ chọn ba ngàn người theo mình trong khắp Ít-ra-en. Hai ngàn người ở với ông tại Mích-ma trong vùng núi Bê-tên, và một ngàn người ở với Giô-na-than tại Ghi-bê-a trong vùng đất Bên-gia-min. Còn những người khác trong quân ngũ thì Sau-lơ cho về nhà.
1SA 13:3 Giô-na-than tấn công trại quân của Phi-li-tin ở Ghê-ba; các người Phi-li-tin khác nghe tin ấy và bảo, “Người Hê-bơ-rơ đã nổi loạn.” Sau-lơ bảo, “Hãy báo cho người Hê-bơ-rơ nghe chuyện nầy.” Cho nên ông bảo người ta thổi kèn khắp xứ Ít-ra-en.
1SA 13:4 Tất cả dân Ít-ra-en đều nghe tin đó. Họ bảo, “Sau-lơ đã chiến thắng quân Phi-li-tin. Bây giờ quân Phi-li-tin sẽ ghét chúng ta!” Sau đó dân Ít-ra-en được ra lệnh tập họp tại Ghinh-ganh để nhập hàng ngũ của Sau-lơ.
1SA 13:5 Quân Phi-li-tin họp lại đánh dân Ít-ra-en, dùng ba ngàn quân xa và sáu ngàn người điều khiển quân xa. Binh sĩ họ đông như cát bờ biển. Quân Phi-li-tin đến đóng trại ở Mích-ma, phía Đông Bết A-ven.
1SA 13:6 Khi dân Ít-ra-en thấy mình lâm nguy liền chạy trốn trong các hang hốc, bụi rậm, giữa các tảng đá, trong các hố và giếng.
1SA 13:7 Một vài người Hê-bơ-rơ băng qua sông Giô-đanh vào xứ Gát và Ghi-lê-át. Nhưng Sau-lơ ở lại Ghinh-ganh, toàn binh sĩ trong đạo quân ông đều run sợ.
1SA 13:8 Sau-lơ đợi bảy ngày vì Sa-mu-ên bảo sẽ gặp ông sau thời gian đó. Nhưng Sa-mu-ên không đến Ghinh-ganh cho nên các binh sĩ bắt đầu bỏ hàng ngũ.
1SA 13:9 Sau-lơ liền bảo, “Hãy mang của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu đến cho ta.” Rồi Sau-lơ dâng của lễ toàn thiêu.
1SA 13:10 Khi vừa dâng xong thì Sa-mu-ên đến, Sau-lơ vô cùng ngạc nhiên và ra đón Sa-mu-ên.
1SA 13:11 Sa-mu-ên hỏi, “Ngươi làm gì vậy?” Sau-lơ đáp, “Tôi thấy các binh sĩ bỏ tôi còn ông thì không đến đúng hẹn; trong khi đó quân Phi-li-tin đang dồn quân ở Mích-ma.
1SA 13:12 Cho nên tôi nghĩ, ‘Quân Phi-li-tin sẽ đến đánh tôi ở Ghinh-ganh, nhưng tôi chưa cầu xin CHÚA cho phép.’ Cho nên tôi buộc phải dâng của lễ toàn thiêu.”
1SA 13:13 Sa-mu-ên bảo, “Ngươi hành động điên rồ lắm! Ngươi không vâng theo mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế ngươi. Nếu ngươi vâng lời Ngài thì CHÚA hẳn đã làm cho nước ngươi vững bền mãi trong Ít-ra-en,
1SA 13:14 nhưng nay nước ngươi sẽ không còn bền nữa. CHÚA đã tìm cho Ngài mẫu người Ngài muốn. Ngài đã chọn người cai trị dân Ngài vì ngươi đã không vâng theo mệnh lệnh Ngài.”
1SA 13:15 Rồi Sa-mu-ên rời Ghinh-ganh để đi đến Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min. Sau-lơ kiểm điểm số người còn lại với mình thì thấy có khoảng sáu trăm.
1SA 13:16 Sau-lơ, Giô-na-than, con trai ông, cùng các binh sĩ ông ở lại Ghi-bê-a trong đất Bên-gia-min. Người Phi-li-tin đóng quân ở Mích-ma.
1SA 13:17 Ba toán quân từ trại quân Phi-li-tin đi ra để quấy rối. Một toán đi trên đường Óp-ra trong đất Su-anh.
1SA 13:18 Toán thứ hai đi trên đường Bết Hô-rôn. Toán thứ ba đi trên đường ranh giới nhìn xuống Thung lũng Xê-bô-im về phía sa mạc.
1SA 13:19 Cả xứ Ít-ra-en không có thợ rèn vì dân Phi-li-tin cấm. Họ bảo, “Tụi Hê-bơ-rơ có thể rèn gươm và giáo.”
1SA 13:20 Cho nên cả dân Ít-ra-en phải đi đến nhờ người Phi-li-tin rèn lưỡi cày, cuốc, rìu hay lưỡi hái.
1SA 13:21 Các thợ rèn Phi-li-tin tính tiền công khoảng một phần tư lượng bạc khi họ mài lưỡi cày hay lưỡi cuốc. Họ tính một phần tám lượng bạc để mài lưỡi cuốc, rìu hay các que sắt nhọn để dẫn bò.
1SA 13:22 Cho nên khi chiến tranh xảy ra, các binh sĩ của Sau-lơ và Giô-na-than chẳng có gươm giáo gì cả. Chỉ có Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông là có thôi.
1SA 13:23 Một toán quân Phi-li-tin tiến đến đèo Mích-ma.
1SA 14:1 Một hôm Giô-na-than, con trai Sau-lơ bảo viên sĩ quan vác áo giáp mình rằng, “Nầy, chúng ta hãy đi qua trại quân Phi-li-tin bên kia đi.” Nhưng Giô-na-than không nói cho cha mình biết.
1SA 14:2 Sau-lơ đang ngồi dưới cây lựu nơi sân đập lúa gần Ghi-bê-a. Có sáu trăm người ở với ông.
1SA 14:3 Một trong mấy người đó là A-hi-gia đang mặc áo ngắn thánh. A-hi-gia là con của A-hi-túp, em Y-ca-bốt. Y-ca-bốt là con Phi-nê-a, Phi-nê-a là con Hê-li, thầy tế lễ ở Si-lô. Không ai biết Giô-na-than ra đi.
1SA 14:4 Hai bên đèo, nơi Giô-na-than định đi qua để đến trại quân Phi-li-tin đều có một dốc đứng. Dốc đứng bên nầy gọi là Bô-xê, và dốc bên kia gọi là Xê-nết.
1SA 14:5 Một dốc quay hướng bắc về phía Mích-ma. Dốc kia quay hướng nam về phía Ghê-ba.
1SA 14:6 Giô-na-than bảo viên sĩ quan vác áo giáp mình, “Nầy, chúng ta hãy đi đến trại của bọn không chịu cắt dương bì kia. Biết đâu CHÚA sẽ giúp mình. Dù có đông hay ít người CHÚA vẫn ban chiến thắng được.”
1SA 14:7 Viên sĩ quan vác áo giáp cho Giô-na-than đáp, “Ông thích gì cứ việc làm đi. Tôi một lòng với ông.”
1SA 14:8 Giô-na-than bảo, “Vậy thì đi. Chúng ta sẽ băng qua phía bọn Phi-li-tin và cho chúng nó thấy chúng ta.
1SA 14:9 Nếu chúng nó bảo chúng ta, ‘Đứng yên đó,’ chúng ta sẽ đứng yên. Chúng ta sẽ không đi lên gặp chúng nó.
1SA 14:10 Nhưng nếu chúng bảo, ‘Lên đây gặp chúng ta,’ chúng ta sẽ trèo lên vì CHÚA sẽ giúp chúng ta đánh thắng chúng nó. Đó là dấu hiệu cho chúng ta.”
1SA 14:11 Khi Giô-na-than và viên sĩ quan hầu cận để cho quân Phi-li-tin nhìn thấy mình thì quân Phi-li-tin liền bảo nhau, “Xem kìa! Bọn Hê-bơ-rơ đang bò ra từ các hốc mà chúng ẩn núp!”
1SA 14:12 Quân Phi-li-tin trong trại kêu lớn cùng Giô-na-than và viên sĩ quan hầu cận, “Lên đây. Chúng ta sẽ dạy các ngươi một bài học!” Giô-na-than bảo viên sĩ quan hầu cận, “Hãy trèo lên sau lưng ta vì CHÚA đã trao quân Phi-li-tin vào tay dân Ít-ra-en rồi!”
1SA 14:13 Vậy Giô-na-than dùng tay chân trèo lên, còn viên sĩ quan phụ tá cũng trèo theo sau lưng ông. Giô-na-than đánh gục quân Phi-li-tin trong khi tiến tới còn viên sĩ quan phụ tá cũng giết họ trong khi đi sau lưng Giô-na-than.
1SA 14:14 Trong cuộc chạm trán đầu tiên đó Giô-na-than giết độ hai mươi lính Phi-li-tin trong khoảng nửa sào đất.
1SA 14:15 Tất cả quân sĩ Phi-li-tin đều hoảng hốt kể cả những binh sĩ ở trong doanh trại và binh sĩ trong toán quấy rối. Mặt đất rung động! Vì Thượng Đế gây kinh hoàng cho họ.
1SA 14:16 Các binh sĩ cận vệ Sau-lơ đang ở Ghi-bê-a trong đất Bên-gia-min thì họ nhìn thấy quân Phi-li-tin chạy tán loạn.
1SA 14:17 Sau-lơ ra lệnh cho quân đội mình rằng, “Hãy kiểm điểm xem ai đã rời bỏ hàng ngũ chúng ta.” Khi họ kiểm điểm thì thấy thiếu Giô-na-than và viên sĩ quan hầu cận.
1SA 14:18 Nên Sau-lơ bảo thầy tế lễ A-hi-gia, “Hãy mang Rương Giao Ước của Thượng Đế lại đây.” Lúc ấy Rương Giao Ước còn ở giữa vòng dân Ít-ra-en.
1SA 14:19 Trong khi Sau-lơ đang nói chuyện với thầy tế lễ thì sự hỗn loạn trong trại quân Phi-li-tin càng gia tăng. Sau-lơ bảo A-hi-gia, “Thôi hãy bỏ tay ngươi xuống!”
1SA 14:20 Sau đó Sau-lơ tập họp quân lính và ra trận. Họ thấy người Phi-li-tin ở trong tình trạng cực kỳ hỗn loạn, chúng lấy gươm chém giết nhau!
1SA 14:21 Trước đó có một số người Hê-bơ-rơ phục tùng và ở trong trại quân Phi-li-tin nhưng bây giờ trở lại nhập với người Ít-ra-en, Sau-lơ và Giô-na-than.
1SA 14:22 Khi tất cả những người Ít-ra-en trốn trong núi Ép-ra-im nghe quân Phi-li-tin bỏ chạy, họ liền tham gia chiến trận và rượt đuổi theo người Phi-li-tin.
1SA 14:23 Vậy trong ngày đó CHÚA giải cứu dân Ít-ra-en, chiến trận lan đến tận Bết A-ven. Toàn thể đạo quân khoảng mười ngàn người có mặt với Sau-lơ. Chiến trận tràn đến các thành trong vùng núi non của Ép-ra-im.
1SA 14:24 Quân Ít-ra-en hôm đó đói lả vì Sau-lơ đã thề chung cho tất cả rằng, “Không ai được ăn uống gì cả cho tới chiều tối và cho đến khi ta đã tận diệt kẻ thù. Người nào phạm lời thề sẽ bị nguyền rủa!” Cho nên không có quân lính Ít-ra-en nào ăn uống gì cả.
1SA 14:25 Lúc đó đạo quân đi vào rừng có nhiều mật ong trên mặt đất.
1SA 14:26 Họ thấy mật ong nhưng không ai dám ăn vì sợ lời thề.
1SA 14:27 Giô-na-than không biết lời thề mà Sau-lơ gán trên quân sĩ cho nên ông lấy đầu gậy nhúng vào mật và ăn. Sau đó ông cảm thấy khoẻ khoắn lại.
1SA 14:28 Nhưng một trong các quân sĩ bảo Giô-na-than, “Cha ông đã bắt các quân sĩ thề rằng hôm nay mà ai ăn uống gì sẽ bị nguyền rủa! Vì thế mà họ mệt lả.”
1SA 14:29 Giô-na-than bảo, “Cha ta gây khó khăn cho xứ sở! Xem ta khoẻ lại biết bao nhiêu sau khi nếm một ít mật ong nầy!
1SA 14:30 Chẳng thà cho quân lính dùng thức ăn họ chiếm được từ kẻ thù hôm nay. Không chừng chúng ta còn có thể giết thêm người Phi-li-tin!”
1SA 14:31 Ngày đó dân Ít-ra-en đánh bại dân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn. Sau đó tất cả đều mệt nhoài.
1SA 14:32 Họ cướp được chiên, gia súc, và bò con từ dân Phi-li-tin. Vì quá đói cho nên họ giết các con thú ngay trên đất và ăn mà không xả hết máu trước đó.
1SA 14:33 Có người trình với Sau-lơ, “Kìa, dân chúng phạm tội cùng CHÚA. Họ ăn thịt mà không xả máu ra trước!” Sau-lơ bảo, “Các ngươi đã phạm tội! Hãy lăn một tảng đá lớn đến đây ngay!”
1SA 14:34 Rồi ông nói, “Hãy đi bảo tất cả mọi người mang bò hay chiên đến đây cho ta rồi giết và ăn tại đây. Không được phạm tội cùng CHÚA mà ăn thịt không xả sạch huyết ra trước.” Đêm đó ai nấy mang súc vật đến giết tại đó.
1SA 14:35 Rồi Sau-lơ xây một bàn thờ cho CHÚA. Đó là bàn thờ đầu tiên ông dựng cho CHÚA.
1SA 14:36 Sau-lơ ra lệnh, “Hãy đuổi theo quân Phi-li-tin đêm nay và cướp phá chúng. Chúng ta sẽ không để người nào trong chúng sống sót!” Quân sĩ đáp, “Hãy làm điều ông cho là phải nhất.” Nhưng thầy tế lễ gợi ý, “Hãy cầu hỏi Thượng Đế trước.”
1SA 14:37 Vậy Sau-lơ cầu hỏi Thượng Đế “Tôi có nên đuổi theo dân Phi-li-tin hay không? Ngài sẽ giúp chúng tôi đánh bại chúng không?” Nhưng lần nầy Thượng Đế chẳng trả lời.
1SA 14:38 Sau-lơ liền bảo các viên chỉ huy quân sĩ, “Lại đây. Chúng ta hãy tìm xem hôm nay chúng ta đã phạm tội gì.
1SA 14:39 Ta chỉ CHÚA là Đấng giải cứu Ít-ra-en mà thề rằng dù người phạm tội là Giô-na-than, con ta đi nữa, nó cũng phải chết.” Nhưng trong quân lính không ai nói tiếng nào.
1SA 14:40 Rồi Sau-lơ bảo dân Ít-ra-en, “Các ngươi đứng bên phía nầy. Ta và Giô-na-than, con trai ta sẽ đứng bên phía kia.” Dân chúng đáp, “Cứ làm điều ông cho là phải.”
1SA 14:41 Sau-lơ liền cầu nguyện cùng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, “Xin Ngài ban cho con câu trả lời đúng.” Rồi Sau-lơ và Giô-na-than bị chỉ ra; còn dân chúng thì vô tội.
1SA 14:42 Sau-lơ bảo, “Bây giờ hãy xem giữa ta và con ta ai phạm tội.” Rồi Giô-na-than bị chỉ ra.
1SA 14:43 Sau-lơ hỏi Giô-na-than, “Hãy cho cha biết con đã làm gì.” Giô-na-than đáp, “Con chỉ nếm một ít mật ong từ đầu cây gậy. Vậy bây giờ con xin chịu chết.”
1SA 14:44 Sau-lơ đáp, “Giô-na-than ơi, nếu con không chết thì nguyện CHÚA phạt cha thật nặng.”
1SA 14:45 Nhưng các quân sĩ bảo, “Ủa, Giô-na-than phải chết sao? Không được! Chính anh ta đã giải cứu dân Ít-ra-en hôm nay! Chúng tôi thề trong danh CHÚA hằng sống, một sợi tóc trên đầu anh ta cùng sẽ không rụng nữa! Nhờ Thượng Đế giúp đỡ mà Giô-na-than đã chiến thắng dân Phi-li-tin hôm nay!” Vậy là các quân sĩ cứu Giô-na-than, nên ông khỏi chết.
1SA 14:46 Sau đó Sau-lơ không đuổi theo dân Phi-li-tin nữa cho nên họ trở về xứ mình.
1SA 14:47 Khi Sau-lơ lên ngôi vua trên Ít-ra-en thì ông đánh các kẻ thù của Ít-ra-en khắp bốn bên. Ông đánh dân Mô-áp, Am-môn, vua của Xô-ba, và quân Phi-li-tin. Nơi nào ông đi, Sau-lơ đều đánh thắng kẻ thù của Ít-ra-en.
1SA 14:48 Ông anh dũng đánh bại quân A-ma-léc. Ông giải cứu Ít-ra-en khỏi tay kẻ thù đã bóc lột họ.
1SA 14:49 Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Ích-vi, và Manh-ki-sua. Con gái lớn là Mê-ráp, con gái nhỏ là Mi-canh.
1SA 14:50 Vợ của Sau-lơ là A-hi-nô-am, con gái A-hi-mát. Tư lệnh quân lực ông là Áp-ne, con Nê-rơ, chú của Sau-lơ.
1SA 14:51 Kích, cha Sau-lơ, và Nê-rơ, cha Áp-ne đều là con của A-bi-ên.
1SA 14:52 Suốt đời Sau-lơ đánh giặc hăng say cùng dân Phi-li-tin. Khi ông thấy ai mạnh dạn, can đảm thì kết nạp vào quân đội mình.
1SA 15:1 Sa-mu-ên bảo Sau-lơ, “Ta là người mà CHÚA sai đến để bổ nhiệm ngươi làm vua trên Ít-ra-en. Bây giờ hãy nghe lời Ngài phán.
1SA 15:2 Đây là lời CHÚA Toàn Năng phán: ‘Khi Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập, quân A-ma-léc tìm cách ngăn không cho họ vào Ca-na-an. Cho nên ta sẽ trừng phạt chúng.
1SA 15:3 Bây giờ hãy đi đánh dân A-ma-léc và tận diệt mọi thứ thuộc về chúng. Đừng để lại vật gì còn sống. Hãy diệt hết đàn ông, đàn bà, con trẻ, hài nhi, súc vật, chiên, lạc đà và lừa.’”
1SA 15:4 Vậy Sau-lơ tập họp quân lính tại Tê-la-im. Có hai trăm ngàn bộ binh và mười ngàn người từ Giu-đa.
1SA 15:5 Rồi Sau-lơ đi đến thành A-ma-léc và đặt toán phục kích trong hố.
1SA 15:6 Ông bảo người Kê-nít, “Hãy dang xa ra. Hãy tránh xa người A-ma-léc nếu không các ngươi sẽ bị ta giết chung với chúng vì các ngươi đã tỏ lòng tử tế với dân Ít-ra-en khi họ ra khỏi Ai-cập.” Vậy người Kê-nít tránh xa khỏi người A-ma-léc.
1SA 15:7 Sau đó Sau-lơ chiến thắng người A-ma-léc. Ông đánh chúng suốt từ Ha-vi-la cho đến Su-rơ, ngay biên giới Ai-cập.
1SA 15:8 Ông bắt sống A-gác, vua A-ma-léc, nhưng ông dùng gươm giết sạch đạo quân của A-gác.
1SA 15:9 Sau-lơ và quân đội ông để A-gác sống cùng với các con chiên tốt nhất, gia súc mập, và chiên con. Họ để những thú vật tốt sống, không muốn giết. Nhưng họ chỉ giết các con thú ốm yếu, bệnh tật, vô dụng.
1SA 15:10 CHÚA liền bảo Sa-mu-ên như sau:
1SA 15:11 “Ta rất tiếc đã lập Sau-lơ làm vua vì người không còn theo ta hay vâng mệnh lệnh ta.” Sa-mu-ên cũng rất buồn bực cho nên ông kêu la cùng CHÚA suốt đêm.
1SA 15:12 Sáng sớm hôm sau Sa-mu-ên dậy ra đón Sau-lơ. Nhưng dân chúng bảo ông, “Sau-lơ đã đi Cạt-mên vì ông ta định dựng một đài kỷ niệm cho mình ở đó. Rồi ông ta sẽ đi xuống Ghinh-ganh.” Vậy Sa-mu-ên đi xuống gặp Sau-lơ. Lúc ấy Sau-lơ vừa mới dâng phần đầu tiên của những vật ông ta cướp được từ dân A-ma-léc làm của lễ thiêu cho Chúa.
1SA 15:13 Khi Sa-mu-ên đến gặp Sau-lơ thì Sau-lơ trình, “Cầu CHÚA ban phước cho ông! Tôi đã làm theo mệnh lệnh CHÚA.”
1SA 15:14 Nhưng Sa-mu-ên hỏi, “Vậy chớ tiếng bò rống và chiên be he ta nghe là gì?”
1SA 15:15 Sau-lơ đáp, “Các binh sĩ bắt chúng từ dân A-ma-léc. Họ giữ lại những con chiên và bò tốt nhất để dâng lên làm sinh tế cho CHÚA là Thượng Đế của ông, nhưng chúng tôi giết hết những thú khác.”
1SA 15:16 Sa-mu-ên bảo Sau-lơ, “Thôi! Hãy nghe lời CHÚA phán cùng ta tối qua.” Sau-lơ thưa, “Xin ông cứ nói.”
1SA 15:17 Sa-mu-ên bảo, “Trước kia ngươi không là gì cả, nhưng bây giờ ngươi đã làm lãnh tụ của các chi tộc trong Ít-ra-en. CHÚA đã chỉ định ngươi làm vua trên Ít-ra-en.
1SA 15:18 Ngài sai ngươi thi hành một sứ mạng. Ngài bảo, ‘Hãy đi diệt hết dân gian ác đó, là dân A-ma-léc. Hãy gây chiến với chúng nó cho đến khi tuyệt diệt chúng nó.’
1SA 15:19 Vậy tại sao ngươi không vâng lời CHÚA? Tại sao ngươi giữ lại những thứ tốt nhất cho mình? Tại sao ngươi làm bậy như thế?”
1SA 15:20 Sau-lơ biện luận, “Nhưng tôi đã vâng lời CHÚA. Tôi đã làm theo điều Ngài dặn tôi. Tôi diệt hết dân A-ma-léc, rồi mang về A-gác là vua dân đó.
1SA 15:21 Các binh sĩ giữ lại các con chiên và gia súc tốt nhất để dâng lên cho CHÚA, là Thượng Đế ông ở Ghinh-ganh.”
1SA 15:22 Sa-mu-ên trả lời, “Điều nào làm Ngài hài lòng hơn: của lễ thiêu, các sinh tế hay là vâng theo tiếng Ngài? Sự vâng lời tốt hơn của lễ. Nghe lời Thượng Đế tốt hơn dâng mỡ chiên.
1SA 15:23 Vì sự bất tuân cũng đáng tội như tà thuật. Tánh kiêu căng cũng có tội như thờ lạy hình tượng. Ngươi đã gạt bỏ mệnh lệnh CHÚA cho nên bây giờ CHÚA cũng gạt bỏ ngươi, không cho ngươi làm vua nữa.”
1SA 15:24 Sau-lơ liền thưa cùng Sa-mu-ên, “Tôi đã phạm tội. Tôi đã bất tuân mệnh lệnh CHÚA và lời dặn của ông. Tôi sợ dân chúng nên làm theo điều họ muốn.
1SA 15:25 Bây giờ, tôi van ông, hãy tha tội cho tôi. Xin hãy trở lại với tôi để tôi có thể thờ lạy CHÚA.”
1SA 15:26 Nhưng Sa-mu-ên đáp cùng Sau-lơ, “Ta không trở lại với ngươi. Ngươi đã gạt bỏ mệnh lệnh CHÚA, cho nên bây giờ CHÚA đã gạt bỏ ngươi, không cho ngươi làm vua nữa.”
1SA 15:27 Vừa khi Sa-mu-ên quay lưng đi thì Sau-lơ níu vạt áo Sa-mu-ên, nên áo rách ra.
1SA 15:28 Sa-mu-ên bảo ông, “Hôm nay CHÚA đã xé nước Ít-ra-en ra khỏi ngươi như vậy và trao cho một người láng giềng ngươi tốt hơn ngươi.
1SA 15:29 CHÚA là Đấng Hằng hữu của Ít-ra-en. Ngài không nói dối cũng không đổi ý. Ngài không phải là loài người mà đổi ý.”
1SA 15:30 Sau-lơ đáp, “Tôi đã phạm tội. Nhưng xin ông hãy tôn trọng tôi trước mặt các bô lão của dân tôi và trước mặt cả dân Ít-ra-en. Hãy trở lại cùng tôi để tôi có thể thờ lạy CHÚA là Thượng Đế ông.”
1SA 15:31 Vậy Sa-mu-ên trở lại cùng Sau-lơ và Sau-lơ thờ lạy CHÚA.
1SA 15:32 Sa-mu-ên bảo, “Hãy mang vua A-gác vua dân A-ma-léc đến đây.” A-gác đến cùng Sa-mu-ên trong khi bị xiềng và mừng thầm, “Sự đe dọa tính mạng mình chắc qua rồi.”
1SA 15:33 Nhưng Sa-mu-ên bảo ông, “Gươm của ngươi đã làm các bà mẹ mất con mình. Bây giờ mẹ ngươi cũng không còn con nữa.” Sa-mu-ên phanh thây A-gác trước mặt CHÚA tại Ghinh-ganh.
1SA 15:34 Rồi Sa-mu-ên lên đường trở về Ra-ma, còn Sau-lơ trở về nhà mình ở Ghi-bê-a.
1SA 15:35 Sau đó cho đến mãn đời, Sa-mu-ên không còn gặp Sau-lơ nữa, nhưng ông rất buồn vì Sau-lơ. Còn CHÚA cũng ân hận đã lập Sau-lơ làm vua trên Ít-ra-en.
1SA 16:1 CHÚA bảo Sa-mu-ên, “Ngươi ân hận về Sau-lơ cho đến chừng nào? Ta đã gạt bỏ không cho nó làm vua trên Ít-ra-en nữa. Hãy đổ dầu đầy sừng của ngươi và ra đi. Ta sai ngươi đến Gie-xê ở Bết-lê-hem, vì ta đã chọn một trong các con trai người làm vua.”
1SA 16:2 Nhưng Sa-mu-ên thưa, “Nếu tôi đi mà Sau-lơ biết được, ông ta sẽ tìm cách giết tôi.” CHÚA bảo, “Hãy mang một con bò con theo ngươi và nói, ‘Ta đến dâng của lễ cho CHÚA.’
1SA 16:3 Hãy mời Gie-xê tham dự vào của lễ. Rồi ta sẽ bảo ngươi biết phải làm gì. Ngươi phải bổ nhiệm người mà ta sẽ chỉ định.”
1SA 16:4 Sa-mu-ên làm theo y như điều CHÚA dặn. Khi ông đến Bết-lê-hem thì các bô lão trong thành run sợ. Họ gặp và hỏi ông, “Mọi sự đều bình yên không ông?”
1SA 16:5 Sa-mu-ên đáp, “Mọi việc đều bình yên. Ta đến để dâng của lễ cho CHÚA. Hãy biệt riêng mình ra thánh cho CHÚA và đến dâng của lễ với ta.” Rồi ông biệt riêng các con trai Gie-xê ra cho CHÚA và mời họ đến dâng của lễ.
1SA 16:6 Khi họ đến, Sa-mu-ên thấy Ê-li-áp liền nghĩ thầm, “Chắc CHÚA chọn người nầy, kẻ đang đứng trước mặt Ngài.”
1SA 16:7 Nhưng CHÚA bảo Sa-mu-ên, “Đừng xem tướng tá đẹp trai của Ê-li-áp hay tầm vóc cao ráo của nó vì ta không chọn nó. Thượng Đế không nhìn như loài người nhìn. Loài người nhìn bên ngoài nhưng Thượng Đế nhìn trong lòng.”
1SA 16:8 Rồi Gie-xê gọi A-bi-na-đáp, bảo đi qua trước mặt Sa-mu-ên. Nhưng Sa-mu-ên nói, “CHÚA cũng không chọn anh nầy.”
1SA 16:9 Rồi Gie-xê bảo Sam-ma đi qua nhưng Sa-mu-ên nói, “Không, CHÚA không chọn anh nầy.”
1SA 16:10 Gie-xê bảo bảy con trai mình đi qua trước mặt Sa-mu-ên nhưng Sa-mu-ên nói, “CHÚA không chọn ai trong mấy người nầy.”
1SA 16:11 Rồi Sa-mu-ên hỏi Gie-xê, “Ông chỉ có bấy nhiêu con trai đây thôi sao?” Gie-xê đáp, “Tôi còn đứa út nữa nhưng nó đang chăn chiên.” Sa-mu-ên bảo, “Hãy cho gọi nó đến. Chúng ta sẽ không ăn cho đến khi nó đến.”
1SA 16:12 Vậy Gie-xê cho gọi con trai út vào. Anh ta tốt tướng, khỏe mạnh và đẹp trai. CHÚA bảo Sa-mu-ên, “Hãy bổ nhiệm nó vì nó là người ta chọn.”
1SA 16:13 Sa-mu-ên liền lấy chai đựng dầu ô liu và đổ trên đầu con trai út của Gie-xê trước mặt các người anh. Từ hôm đó trở đi Thần Linh của CHÚA hành động trên Đa-vít. Còn Sa-mu-ên lên đường trở về Ra-ma.
1SA 16:14 Nhưng Thần Linh CHÚA vừa rời khỏi Sau-lơ thì liền có một ác thần từ CHÚA quấy rối ông.
1SA 16:15 Các tôi tớ Sau-lơ bảo ông, “Nầy, một ác thần từ Thượng Đế đang quấy rối bệ hạ.
1SA 16:16 Cho phép chúng tôi đi tìm người biết chơi đờn cầm. Khi ác thần từ Thượng Đế quấy rối bệ hạ thì người đó sẽ gảy đờn, bệ hạ sẽ thấy dễ chịu hơn.”
1SA 16:17 Vậy Sau-lơ bảo các đầy tớ, “Hãy tìm người gảy đờn thật giỏi mang đến đây cho ta.”
1SA 16:18 Một trong các đầy tớ thưa, “Tôi thấy một con trai của Gie-xê ở Bết-lê-hem chơi đờn cầm rất hay. Anh ta cũng can đảm và bạo dạn nữa. Anh ăn nói giỏi, cao ráo. CHÚA ở cùng anh ta.”
1SA 16:19 Sau-lơ sai sứ giả đến bảo Gie-xê, “Cho Đa-vít con trai ngươi đang chăn chiên đến với ta.”
1SA 16:20 Vậy Gie-xê chất lên lưng lừa bánh mì, bầu da đựng đầy rượu, một con dê con gởi theo Đa-vít con mình để biếu Sau-lơ.
1SA 16:21 Khi Đa-vít đến cùng Sau-lơ thì bắt tay phục vụ người ngay. Sau-lơ thích Đa-vít lắm cho nên cắt anh làm người vác áo giáp mình.
1SA 16:22 Sau-lơ nhắn với Gie-xê rằng, “Hãy để cho Đa-vít ở đây phục vụ ta vì ta thích nó lắm.”
1SA 16:23 Khi ác thần từ Thượng Đế quấy nhiễu Sau-lơ thì Đa-vít liền lấy đàn ra gảy. Ác thần liền lìa khỏi Sau-lơ, ông cảm thấy dễ chịu hơn.
1SA 17:1 Người Phi-li-tin tập họp quân sĩ để gây chiến. Họ họp lại Xô-cô trong xứ Giu-đa và đóng quân ở Ê-phe Đa-mim, nằm giữa Xô-cô và A-xê-ca.
1SA 17:2 Sau-lơ và quân Ít-ra-en tập họp tại thung lũng Ê-la và đóng quân ở đó, giàn trận chiến đấu chống quân Phi-li-tin.
1SA 17:3 Quân Phi-li-tin kiểm soát một ngọn đồi còn quân Ít-ra-en kiểm soát ngọn đồi đối diện, ở giữa là thung lũng.
1SA 17:4 Quân Phi-li-tin có một dũng sĩ từ miền Gát tên Gô-li-át. Hắn ta cao chín bộ, một tấc. Hắn từ trại quân Phi-li-tin đi ra
1SA 17:5 đầu đội mũ đồng và mặc áo giáp đồng nặng một trăm hai mươi lăm cân.
1SA 17:6 Hắn cũng mang các miếng che bằng đồng quanh bắp chân và sau lưng mang một cây giáo bằng đồng.
1SA 17:7 Cán gỗ của cây giáo lớn của hắn to như cây đòn của thợ dệt, và lưỡi giáo cân nặng khoảng mười lăm cân. Hắn có viên sĩ quan mang khiên cho hắn đi trước.
1SA 17:8 Gô-li-át đứng kêu to lên cùng các binh sĩ Ít-ra-en rằng, “Sao các ngươi giàn trận ra làm gì? Ta là người Phi-li-tin, các ngươi là tôi tớ Sau-lơ! Hãy chọn một người trong các ngươi ra chiến đấu với ta.
1SA 17:9 Nếu hắn đánh và giết ta thì chúng ta sẽ làm tôi tớ các ngươi. Nhưng nếu ta giết hắn thì các ngươi sẽ làm tôi tớ chúng ta.”
1SA 17:10 Rồi hắn tiếp, “Hôm nay ta đứng thách thức đạo quân Ít-ra-en! Hãy đưa một người trong các ngươi ra đối địch với ta!”
1SA 17:11 Sau-lơ và quân Ít-ra-en nghe lời thách thức của người Phi-li-tin đều khiếp đảm.
1SA 17:12 Đa-vít là con Gie-xê, người Ép-ra-im, thuộc Bết-lê-hem xứ Giu-đa. Gie-xê có tám con trai. Trong thời Sau-lơ làm vua thì Gie-xê đã già rồi.
1SA 17:13 Ba con trai lớn của Gie-xê đã đi theo Sau-lơ ra mặt trận. Con trai cả là Ê-li-áp, con thứ nhì là A-bi-na-đáp, và con thứ ba là Sam-ma.
1SA 17:14 Đa-vít là con út. Ba con trai lớn của Gie-xê đi theo Sau-lơ,
1SA 17:15 nhưng Đa-vít đi tới lui từ Sau-lơ về Bết-lê-hem, nơi ông chăn chiên cho cha mình.
1SA 17:16 Suốt bốn mươi ngày cứ mỗi sáng mỗi chiều người Phi-li-tin đi ra đứng trước đạo quân Ít-ra-en.
1SA 17:17 Gie-xê bảo Đa-vít, “Con hãy mang nửa hộc gạo rang và mười ổ bánh mì đến cho các anh con trong trại quân.
1SA 17:18 Ngoài ra cũng mang theo mười miếng phó mát cho viên chỉ huy và cho các anh con. Xem thử các anh con ra sao rồi mang về cho cha bằng cớ gì để thấy chúng nó bình yên.
1SA 17:19 Sau-lơ, các anh con và quân ngũ Ít-ra-en ở trong thung lũng Ê-la, đang đánh nhau với quân Phi-li-tin.”
1SA 17:20 Sáng sớm hôm sau Đa-vít giao bầy chiên lại cho một người chăn khác rồi mang thức ăn và ra đi theo như Gie-xê dặn bảo. Khi Đa-vít đến trại thì đạo quân đang giàn thế trận, hò hét vang dậy.
1SA 17:21 Người Ít-ra-en và người Phi-li-tin giàn quân ra đối diện nhau sẵn sàng lâm chiến.
1SA 17:22 Đa-vít giao thức ăn cho một người giữ thực phẩm rồi chạy ra hàng quân để nói chuyện với các anh mình.
1SA 17:23 Trong khi đang nói chuyện với họ thì Gô-li-át, dũng sĩ người Phi-li-tin, gốc ở Gát, đi ra. Hắn la hét nghịch dân Ít-ra-en như thường lệ, Đa-vít nghe thấy.
1SA 17:24 Khi quân Ít-ra-en thấy Gô-li-át thì hoảng hốt bỏ chạy.
1SA 17:25 Họ bảo nhau, “Nhìn hắn kìa! Hắn cứ đi ra thách thức quân Ít-ra-en. Ai giết được hắn thì vua sẽ thưởng cho nhiều tiền lắm. Ai giết được hắn thì vua sẽ gả con gái và miễn thuế cho gia đình người trong cả Ít-ra-en.”
1SA 17:26 Đa-vít hỏi mấy người đứng gần đó, “Ai giết được người Phi-li-tin nầy và cất sự sỉ nhục ra khỏi Ít-ra-en thì được thưởng gì? Tên Phi-li-tin không chịu cắt dương bì nầy là ai mà phách tướng như vậy? Hắn tưởng hắn có thể bêu xấu đạo quân của Thượng Đế hằng sống à?”
1SA 17:27 Các người Ít-ra-en thuật lại cho Đa-vít phần thưởng của người giết được Gô-li-át.
1SA 17:28 Khi Ê-li-áp, anh cả Đa-vít nghe ông nói chuyện với các quân sĩ thì nổi giận với Đa-vít. Ông hỏi, “Mầy tới đây làm gì? Ai lo cho mấy con chiên của mầy trong sa mạc? Tao biết lòng mầy tự phụ và gian ác. Mầy chỉ muốn xuống đây để xem đánh nhau thôi.”
1SA 17:29 Đa-vít hỏi lại, “Tôi có làm gì đâu? Nói chuyện cũng không được sao?”
1SA 17:30 Rồi ông quay sang những người khác và lặp lại câu hỏi thì họ cũng trả lời y như trước.
1SA 17:31 Nhưng có người thuật lại cho Sau-lơ nghe lời Đa-vít nói cho nên Sau-lơ cho gọi Đa-vít đến.
1SA 17:32 Đa-vít trấn an Sau-lơ, “Xin đừng ai nản lòng. Tôi, kẻ tôi tớ vua, sẽ đi chiến đấu cùng tên Phi-li-tin nầy!”
1SA 17:33 Sau-lơ đáp, “Con không thể nào đi ra đánh tên Phi-li-tin được đâu. Con chỉ là đứa con nít còn Gô-li-át đã là chiến sĩ từ khi còn trẻ.”
1SA 17:34 Nhưng Đa-vít thưa cùng Sau-lơ, “Kẻ tôi tớ vua xưa nay chăn chiên cho cha tôi. Khi có sư tử hay gấu đến tha chiên đi khỏi bầy,
1SA 17:35 thì tôi liền rượt theo. Tôi đánh và giật con chiên ra khỏi miệng nó. Nếu nó nhào đến tấn công tôi thì tôi nắm bờm nó, đánh giết nó.
1SA 17:36 Tôi, kẻ tôi tớ vua đã giết sư tử lẫn gấu! Tên Phi-li-tin không chịu cắt dương bì nầy cũng như các con thú đó thôi, vì nó dám nhục mạ đạo quân của Thượng Đế hằng sống.
1SA 17:37 CHÚA đã cứu tôi khỏi sư tử và gấu thì Ngài là Đấng sẽ cứu tôi khỏi tên Phi-li-tin nầy.” Sau-lơ bảo Đa-vít, “Thôi con đi, cầu CHÚA ở cùng con.”
1SA 17:38 Sau-lơ lấy áo mình mặc cho Đa-vít. Vua cũng lấy mũ sắt đội lên đầu Đa-vít và cho Đa-vít mặc áo giáp.
1SA 17:39 Đa-vít đeo gươm của Sau-lơ và tập đi thử nhưng không quen các thứ áo giáp Sau-lơ mặc cho mình. Ông bảo Sau-lơ, “Tôi mặc thế nầy không được vì không quen.” Rồi Đa-vít cởi hết các thứ ấy ra.
1SA 17:40 Cậu chỉ cầm cây gậy trong tay và chọn năm viên sỏi láng nơi suối bỏ vào trong túi chăn chiên của mình và lấy cái ná xong đi ra đối đầu tên Phi-li-tin.
1SA 17:41 Ngay lúc đó tên Phi-li-tin cũng tiến tới giáp mặt Đa-vít. Tên lính vác khiên cho hắn đi trước hắn.
1SA 17:42 Khi Gô-li-át nhìn Đa-vít thấy ông chỉ là chú bé, khỏe mạnh và đẹp trai thì khinh thường.
1SA 17:43 Hắn hỏi, “Bộ mầy cho tao là chó hay sao mà cầm gậy đến với tao?” Rồi nó nhân danh các thần mình mà chửi rủa Đa-vít.
1SA 17:44 Hắn bảo Đa-vít, “Đến đây. Tao sẽ ban thây mầy cho chim trời và muông thú ăn!”
1SA 17:45 Nhưng Đa-vít bảo hắn, “Ngươi đến với ta cầm gươm và hai cây giáo. Nhưng ta đến với ngươi nhân danh CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của đạo quân Ít-ra-en! Ngươi đã dám nhục mạ Ngài.
1SA 17:46 Hôm nay CHÚA sẽ trao ngươi vào tay ta, ta sẽ giết và cắt đầu ngươi. Bữa nay ta sẽ ban thây quân Phi-li-tin cho chim trời và muông thú ăn. Rồi cả thế giới sẽ biết rằng trong Ít-ra-en có một Thượng Đế!
1SA 17:47 Mọi người có mặt đây sẽ biết rằng CHÚA không cần gươm hay giáo để giải cứu con người. Trận mạc thuộc về Ngài, và Ngài sẽ trao ngươi vào tay ta.”
1SA 17:48 Trong khi Gô-li-át đang tiến tới để tấn công Đa-vít thì Đa-vít chạy nhanh tới để nghênh chiến với hắn.
1SA 17:49 Anh ta thò tay trong túi lấy ra một viên sỏi bỏ vào ná bắn. Viên đá đập trúng ngay và lọt sâu vào trán tên Phi-li-tin. Gô-li-át té úp mặt xuống đất.
1SA 17:50 Thế là Đa-vít đánh thắng tên Phi-li-tin bằng cái ná và hòn sỏi. Ông đánh giết hắn mà không có gươm trong tay.
1SA 17:51 Rồi Đa-vít chạy đến đứng bên thây của hắn. Ông rút gươm của Gô-li-át ra khỏi vỏ và cắt đầu hắn. Khi quân Phi-li-tin thấy dũng sĩ mình đã chết liền quay lưng bỏ chạy tán loạn.
1SA 17:52 Các người Ít-ra-en và Giu-đa hò hét đuổi theo quân Phi-li-tin suốt cho đến cổng thành Gát và cổng Éc-rôn. Xác quân Phi-li-tin nằm la liệt trên đường Sa-a-ra-im cho đến Gát và Éc-rôn.
1SA 17:53 Sau khi rượt đuổi quân Phi-li-tin thì quân Ít-ra-en quay trở lại cướp phá trại quân của chúng.
1SA 17:54 Đa-vít mang đầu Gô-li-át về Giê-ru-sa-lem và cất vũ khí hắn trong lều mình.
1SA 17:55 Khi Sau-lơ thấy Đa-vít đi ra đối đầu với Gô-li-át liền hỏi Áp-ne, tư lệnh quân đội mình rằng, “Áp-ne, cha của cậu đó là ai vậy?” Áp-ne đáp, “Tâu vua, tôi không biết.”
1SA 17:56 Vua bảo, “Tìm xem thử cậu ta là con ai.”
1SA 17:57 Đa-vít trở về sau khi giết Gô-li-át thì Áp-ne đưa cậu ta đến Sau-lơ. Lúc đó Đa-vít vẫn đang xách đầu của Gô-li-át trong tay.
1SA 17:58 Sau-lơ hỏi cậu, “Nầy cậu, cậu là con ai?” Đa-vít thưa, “Tôi là con của Gie-xê kẻ tôi tớ vua ở Bết-lê-hem.”
1SA 18:1 Khi Đa-vít vừa nói xong với Sau-lơ thì Giô-na-than cảm thấy quyến luyến Đa-vít. Anh ta yêu Đa-vít như chính mình vậy.
1SA 18:2 Từ hôm đó trở đi Sau-lơ giữ Đa-vít với mình luôn không cho trở về nhà cha cậu nữa.
1SA 18:3 Giô-na-than kết ước với Đa-vít vì anh ta yêu Đa-vít như bản thân mình.
1SA 18:4 Anh lấy áo ngoài của mình mặc cho Đa-vít cùng với áo giáp, luôn cả gươm, cung và thắt lưng.
1SA 18:5 Sau-lơ sai Đa-vít đi đánh nhiều nơi, lúc nào Đa-vít cũng chiến thắng. Sau-lơ liền cử Đa-vít chỉ huy các binh sĩ của mình, một quyết định mà các sĩ quan của Sau-lơ và dân chúng đều hài lòng.
1SA 18:6 Sau khi Đa-vít đã chiến thắng tên Phi-li-tin, ông và các binh sĩ trở về. Các thiếu nữ từ khắp các thị trấn Ít-ra-en đi ra đón vua Sau-lơ. Họ reo vui ca hát, nhảy múa, đánh trống cơm và các nhạc cụ bằng dây.
1SA 18:7 Trong khi nhảy múa, họ hát rằng, “Sau-lơ giết hàng ngàn quân thù, còn Đa-vít giết hàng vạn.”
1SA 18:8 Bài ca ấy của các phụ nữ làm phật lòng Sau-lơ, ông rất tức giận. Ông nghĩ thầm, “Các phụ nữ nói Đa-vít giết hằng vạn nhưng ta chỉ giết hằng ngàn. Vậy chỉ còn thiếu cho nó ngôi nước thôi!”
1SA 18:9 Từ đó về sau Sau-lơ trông chừng Đa-vít vì trong lòng ông đâm ra ganh tức.
1SA 18:10 Hôm sau khi ác thần từ Thượng Đế nhập vào Sau-lơ trong lúc ông đang nói tiên tri trong nhà mình. Đa-vít ngồi gảy đờn cầm như thường lệ, còn Sau-lơ thì đang cầm cây giáo trong tay.
1SA 18:11 Sau-lơ phóng cây giáo và định bụng, “Ta sẽ ghim nó vào vách.” Nhưng Đa-vít né mũi giáo của Sau-lơ hai lần.
1SA 18:12 CHÚA ở cùng Đa-vít nhưng Ngài lìa khỏi Sau-lơ nên Sau-lơ rất sợ Đa-vít.
1SA 18:13 Ông phái Đa-vít đi và cử Đa-vít chỉ huy một ngàn binh sĩ. Cho nên Đa-vít chỉ huy họ ra trận.
1SA 18:14 Việc gì ông làm cũng thành công vì CHÚA ở cùng ông.
1SA 18:15 Khi Sau-lơ thấy Đa-vít quá thành công thì lại càng sợ Đa-vít hơn nữa.
1SA 18:16 Nhưng toàn dân Ít-ra-en và Giu-đa thích Đa-vít vì ông là người chỉ huy họ nơi mặt trận.
1SA 18:17 Sau-lơ bảo Đa-vít, “Đây là Mê-ráp con gái lớn của ta. Ta sẽ cho ngươi lấy nó. Ngươi sẽ làm con ta và là chiến sĩ giỏi cho ta. Ta chỉ đòi ngươi tiếp tục tỏ ra can đảm và đánh trận cho CHÚA.” Sau-lơ nghĩ thầm, “Ta khỏi cần giết Đa-vít. Để cho bọn Phi-li-tin làm chuyện đó.”
1SA 18:18 Nhưng Đa-vít trả lời với Sau-lơ rằng, “Tôi là ai? Gia đình tôi đâu có danh giá gì đâu mà tôi được làm rể vua.”
1SA 18:19 Cho nên đến kỳ Mê-ráp, con gái Sau-lơ phải gả cho Đa-vít thì Sau-lơ lại gả nàng cho A-ri-ên ở Mê-hô-la.
1SA 18:20 Trong khi đó Mi-canh, con gái khác của Sau-lơ lại yêu Đa-vít. Khi Sau-lơ hay được thì thích lắm.
1SA 18:21 Ông nghĩ thầm, “Ta sẽ cho nó lấy Đa-vít để cho hắn vào bẫy rồi bọn Phi-li-tin sẽ đánh bại hắn.” Vậy một lần nữa Sau-lơ bảo Đa-vít, “Ngươi sẽ làm con rể ta.”
1SA 18:22 Sau-lơ bảo các tôi tớ mình nói riêng với Đa-vít, “Nầy, vua thích anh lắm. Các tôi tớ vua cũng chịu anh nữa. Đó là những lý do anh nên làm con rể vua.”
1SA 18:23 Các tôi tớ Sau-lơ nói như thế với Đa-vít nhưng Đa-vít trả lời, “Bộ mấy anh tưởng dễ làm con rể vua lắm sao? Thân phận tôi nghèo hèn, đâu có ra gì.”
1SA 18:24 Khi các tôi tớ Sau-lơ thuật lại cho Sau-lơ lời Đa-vít nói,
1SA 18:25 thì Sau-lơ bảo, “Nói với nó, ‘Vua không đòi tiền bạc sính lễ gì cho cô dâu cả. Vua chỉ đòi một trăm dương bì của dân Phi-li-tin để báo thù thôi.’” Sau-lơ dự định để quân Phi-li-tin giết Đa-vít.
1SA 18:26 Khi các tôi tớ Sau-lơ thuật điều đó cho Đa-vít nghe thì ông bằng lòng làm rể vua.
1SA 18:27 Ông và thuộc hạ liền đi ra giết hai trăm người Phi-li-tin. Đa-vít mang tất cả các dương bì trình cho Sau-lơ để được làm rể vua. Sau-lơ liền gả Mi-canh, con gái mình cho Đa-vít làm vợ.
1SA 18:28 Sau-lơ thấy CHÚA ở cùng Đa-vít và Mi-canh con gái mình yêu Đa-vít
1SA 18:29 nên ông càng sợ Đa-vít thêm nữa và trở thành thù nghịch với Đa-vít suốt đời mình.
1SA 18:30 Các viên chỉ huy quân Phi-li-tin vẫn kéo binh ra đánh dân Ít-ra-en nhưng lần nào Đa-vít cũng tài giỏi hơn các sĩ quan của Sau-lơ cho nên Đa-vít càng nổi danh.
1SA 19:1 Sau-lơ bảo Giô-na-than và các tôi tớ mình tìm cách giết Đa-vít nhưng Giô-na-than rất thích Đa-vít.
1SA 19:2 Cho nên ông báo trước cho Đa-vít rằng, “Sau-lơ cha tôi đang tìm dịp giết anh đó. Cho nên buổi sáng phải cẩn thận. Hãy núp nơi nào cho kín đáo.
1SA 19:3 Tôi sẽ đi ra và đứng với cha tôi trong đám ruộng mà anh núp rồi tôi sẽ nói chuyện với cha tôi về anh. Tôi sẽ cho anh biết sự việc ra sao.”
1SA 19:4 Khi Giô-na-than nói chuyện với Sau-lơ, cha mình thì khen Đa-vít đủ điều. Giô-na-than bảo, “Vua không nên làm hại Đa-vít kẻ tôi tớ vua vì Đa-vít không làm gì tổn hại cho vua. Những gì anh ta làm đều ích lợi cho vua.
1SA 19:5 Đa-vít đã liều mạng khi giết Gô-li-át người Phi-li-tin, và CHÚA đã ban sự đắc thắng lớn lao cho Ít-ra-en. Cha nhìn thấy điều đó và hớn hở. Vậy tại sao cha lại muốn hại Đa-vít? Anh ta không làm gì nên tội. Không có lý do gì để giết anh ta cả!”
1SA 19:6 Sau-lơ nghe lời Giô-na-than liền hứa như sau: “Ta hứa có CHÚA hằng sống làm chứng, Đa-vít sẽ không bị giết.”
1SA 19:7 Vậy Giô-na-than gọi Đa-vít và thuật lại cho bạn mình nghe những lời bàn bạc. Ông đưa Đa-vít trình diện Sau-lơ, rồi Đa-vít phục vụ Sau-lơ như trước.
1SA 19:8 Khi chiến tranh bùng nổ trở lại thì Đa-vít ra trận đánh người Phi-li-tin. Ông đánh bại họ, tất cả đều chạy trốn khỏi Đa-vít.
1SA 19:9 Nhưng có lần ác thần từ CHÚA nhập vào Sau-lơ trong khi đang ngồi trong nhà, trong tay ông cầm cây giáo. Đa-vít thì đang gảy đờn cầm.
1SA 19:10 Sau-lơ tìm cách phóng cây giáo định ghim Đa-vít vào vách nhưng Đa-vít né khỏi. Cây giáo cắm vào vách, còn Đa-vít chạy trốn trong đêm đó.
1SA 19:11 Sau-lơ sai người đến nhà Đa-vít canh chừng đợi đến sáng sẽ giết ông. Nhưng Mi-canh, vợ Đa-vít bảo trước cho ông rằng, “Đêm nay anh phải trốn đi. Nếu không sáng mai là anh chết đó.”
1SA 19:12 Nàng thòng Đa-vít qua cửa sổ để ông chạy thoát.
1SA 19:13 Rồi Mi-canh lấy một bức tượng, đặt nằm trên giường, cho mặc áo quần đàng hoàng và phủ lông dê lên đầu tượng.
1SA 19:14 Sau-lơ sai người đến bắt Đa-vít nhưng Mi-canh nói, “Anh ấy bị đau.”
1SA 19:15 Sau-lơ lại cho người đi gặp Đa-vít lần nữa và bảo, “Đau cũng mang nó trên giường đến đây cho tao giết.”
1SA 19:16 Khi các người được sai đến vào nhà Đa-vít thì chỉ thấy cái tượng nằm trên giường, đầu phủ lông dê.
1SA 19:17 Sau-lơ hỏi Mi-canh, “Tại sao con gạt cha thế nầy? Con để cho kẻ thù cha trốn thoát rồi!” Mi-canh trả lời với Sau-lơ, “Đa-vít dọa con rằng nếu không giúp anh ấy trốn thoát, anh ấy sẽ giết con.”
1SA 19:18 Sau khi Đa-vít trốn thoát khỏi tay Sau-lơ thì ông đến gặp Sa-mu-ên ở Ra-ma và thuật lại những gì Sau-lơ đã làm cho mình. Rồi Đa-vít và Sa-mu-ên đi đến Na-giốt và ở đó.
1SA 19:19 Sau-lơ nghe tin Đa-vít đang ở Na-giốt tại Ra-ma.
1SA 19:20 Cho nên ông sai người đến bắt Đa-vít. Nhưng họ gặp một nhóm các nhà tiên tri đang nói tiên tri, có Sa-mu-ên đứng hướng dẫn họ. Thần của Thượng Đế nhập vào các người của Sau-lơ, họ cũng nói tiên tri.
1SA 19:21 Khi Sau-lơ nghe tin đó liền sai các người khác đến thì họ cũng nói tiên tri. Rồi ông sai toán thứ ba, toán nầy cũng nói tiên tri luôn.
1SA 19:22 Sau cùng Sau-lơ đích thân tới Ra-ma. Ông đến giếng lớn gần sân đập lúa ở Xê-cu. Ông hỏi, “Sa-mu-ên và Đa-vít đâu rồi?” Dân chúng trả lời, “Họ đang ở Na-giốt thuộc Ra-ma.”
1SA 19:23 Khi Sau-lơ đến Na-giốt thuộc Ra-ma, thần linh của Thượng Đế nhập vào ông. Trong khi đang đi, ông nói tiên tri cho đến khi tới Na-giốt thuộc Ra-ma.
1SA 19:24 Ông ta cũng cởi áo ra và nói tiên tri trước mặt Sa-mu-ên. Ông nằm như thế suốt ngày đêm. Vì thế mà dân chúng hỏi, “Sau-lơ mà cũng thuộc vào hàng các nhà tiên tri à?”
1SA 20:1 Rồi Đa-vít trốn khỏi Na-giốt thuộc Ra-ma. Ông đến gặp Giô-na-than và hỏi, “Tôi đã làm gì? Tôi đã phạm tội ác gì? Tôi có tội gì nghịch cha anh mà ông ta tìm cách giết tôi?”
1SA 20:2 Giô-na-than đáp, “Không sao cả! Anh sẽ không chết đâu! Anh thấy không, cha tôi không khi nào làm chuyện gì dù lớn hay nhỏ mà chẳng cho tôi biết. Chẳng lẽ cha tôi lại giấu chuyện nầy với tôi? Không đâu!”
1SA 20:3 Nhưng Đa-vít thề rằng, “Cha anh biết rõ anh thích tôi. Ông ta tự nhủ, ‘Không nên cho Giô-na-than biết chuyện nầy vì nó sẽ nói lại với Đa-vít.’ Tôi chỉ CHÚA hằng sống và mạng anh mà đoan chắc rằng tôi chỉ cách cái chết có một bước thôi!”
1SA 20:4 Giô-na-than bảo Đa-vít, “Tôi sẽ làm bất cứ điều gì anh muốn tôi làm.”
1SA 20:5 Đa-vít bảo, “Nầy, mai là ngày lễ Trăng Mới. Tôi đáng lẽ phải ăn với nhà vua, nhưng hãy để tôi trốn trong ruộng cho đến chiều ngày thứ ba.
1SA 20:6 Nếu cha anh thấy tôi vắng mặt thì hãy nói rằng, ‘Đa-vít nài nỉ con đi về quê ở Bết-lê-hem. Mỗi năm gia đình nó họp lại để dâng sinh tế.’
1SA 20:7 Nếu cha anh trả lời, ‘Tốt,’ thì tôi bình an. Nhưng nếu cha anh nổi giận thì anh biết ngay rằng ông ta muốn hại tôi.
1SA 20:8 Giô-na-than ơi, hãy hết lòng với tôi, kẻ tôi tớ anh. Anh đã lập giao ước với tôi trước mặt CHÚA. Nếu tôi có tội thì chẳng thà chính tay anh giết tôi còn hơn chớ đừng trao tôi vào tay cha anh.”
1SA 20:9 Giô-na-than đáp, “Không đời nào có chuyện đó! Nếu tôi biết cha tôi định tâm hại anh, tôi sẽ báo cho anh biết trước!”
1SA 20:10 Đa-vít hỏi, “Ai sẽ cho tôi biết là câu trả lời của cha anh lành hay dữ?”
1SA 20:11 Giô-na-than đáp, “Bây giờ chúng ta hãy ra ngoài ruộng đi.” Vậy hai người đi ra ruộng.
1SA 20:12 Giô-na-than bảo Đa-vít, “Tôi cam kết điều nầy trước mặt CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en: Vào giờ nầy ngày mai, tôi sẽ hỏi cha tôi. Nếu cha tôi cảm thấy hài lòng về anh, tôi sẽ nhắn tin cho anh hay.
1SA 20:13 Nhưng nếu cha tôi định tâm hại anh tôi cũng sẽ nhắn tin cho anh hay và để anh đi bình yên. Nếu tôi không làm điều đó nguyện CHÚA phạt tôi. Nguyện CHÚA ở cùng anh như đã ở cùng cha tôi.
1SA 20:14 Nhưng anh hãy tỏ lòng nhân từ của CHÚA đối với tôi suốt đời tôi để tôi khỏi chết.
1SA 20:15 Anh cũng không được ngưng bày tỏ lòng nhân từ đối với gia đình tôi dù cho sau khi CHÚA đã tiêu diệt mọi kẻ thù anh khỏi mặt đất đi nữa.”
1SA 20:16 Vậy Giô-na-than kết ước với Đa-vít. Ông bảo, “Nguyện CHÚA bắt kẻ thù của Đa-vít chịu trách nhiệm.”
1SA 20:17 Rồi Giô-na-than yêu cầu Đa-vít lặp lại lời hứa yêu thương mình cho anh ta nghe vì anh ta yêu Đa-vít như chính mình vậy.
1SA 20:18 Giô-na-than bảo Đa-vít, “Ngày mai là lễ Trăng Mới. Ghế của anh sẽ trống nên cha tôi sẽ nhận ra.
1SA 20:19 Vào ngày thứ ba anh hãy đi đến chỗ anh núp khi chuyện lôi thôi nầy bắt đầu. Hãy chờ cạnh tảng đá Ê-xên.
1SA 20:20 Đến ngày thứ ba tôi sẽ bắn ba mũi tên về phía tảng đá như thể tôi nhắm đích.
1SA 20:21 Rồi tôi sẽ sai một chú nhỏ đi tìm lại các mũi tên đó. Nếu tôi bảo nó, ‘Các mũi tên ở gần mầy đó, đi lấy mang lại đây,’ thì anh sẽ có thể từ chỗ núp đi ra. Mọi việc bình yên. Tôi lấy danh CHÚA hằng sống cam đoan, không có gì nguy hiểm.
1SA 20:22 Nhưng nếu tôi bảo nó, ‘Kìa, các mũi tên quá khỏi chỗ mầy,’ thì anh phải trốn đi vì CHÚA sai anh đi.
1SA 20:23 Hãy nhớ điều chúng mình bàn với nhau. CHÚA sẽ làm nhân chứng giữa anh và tôi mãi mãi.”
1SA 20:24 Vậy Đa-vít trốn trong ruộng. Khi Lễ Trăng Mới đến thì vua ngồi vào bàn ăn.
1SA 20:25 Ông vẫn ngồi chỗ cũ, gần vách. Giô-na-than ngồi đối diện ông, còn Áp-ne ngồi kế Sau-lơ, nhưng chỗ Đa-vít bỏ trống.
1SA 20:26 Hôm đó Sau-lơ chẳng nói chẳng rằng. Ông đoán, “Chắc có chuyện gì xảy ra cho nó rồi cho nên nó không tinh sạch.”
1SA 20:27 Nhưng đến hôm sau là ngày thứ hai mà chỗ Đa-vít vẫn bỏ trống cho nên Sau-lơ hỏi Giô-na-than, “Tại sao con trai Gie-xê không đến dự lễ hôm qua và hôm nay?”
1SA 20:28 Giô-na-than trả lời, “Đa-vít van xin con cho nó đi xuống Bết-lê-hem.
1SA 20:29 Nó năn nỉ, ‘Hãy để tôi đi vì gia đình tôi có dâng một sinh tế trong tỉnh, anh tôi dặn tôi phải có mặt ở đó. Nhưng nếu anh xem tôi là bạn thì anh làm ơn cho tôi đi thăm các anh tôi.’ Tại vậy mà nó không đến ăn cùng bàn với vua.”
1SA 20:30 Sau-lơ liền nổi giận đùng đùng cùng Giô-na-than. Ông mắng, “Đồ khốn nạn! Tao biết mầy theo phe thằng Đa-vít con Gie-xê! Mầy làm nhục bản thân và làm nhục mẹ đã đẻ ra mầy.
1SA 20:31 Tao nói cho mầy biết, hễ thằng con trai Gie-xê còn sống thì mầy đừng hòng được làm vua hay có ngôi nước gì. Hãy đi gọi và mang thằng Đa-vít đến đây cho tao. Nó phải chết!”
1SA 20:32 Giô-na-than hỏi lại cha mình, “Tại sao phải giết Đa-vít? Nó có làm điều gì quấy đâu?”
1SA 20:33 Sau-lơ liền phóng cây giáo vào Giô-na-than, định giết anh ta. Vì thế Giô-na-than biết chắc rằng cha mình muốn giết Đa-vít.
1SA 20:34 Giô-na-than rất tức giận liền đứng dậy bỏ bàn ăn, ngày thứ nhì trong ngày Trăng Mới mà anh không ăn. Anh bực tức vì cha mình đã sỉ nhục bạn mình.
1SA 20:35 Sáng hôm sau Giô-na-than đi ra ruộng để gặp Đa-vít như đã hẹn trước. Anh mang theo một chú nhỏ.
1SA 20:36 Giô-na-than bảo nó, “Hãy chạy tìm các mũi tên tao bắn đây.” Khi nó đang chạy thì Giô-na-than bắn mũi tên quá đầu đó.
1SA 20:37 Chú nhỏ chạy đến nơi mũi tên Giô-na-than rơi xuống nhưng Giô-na-than kêu, “Mũi tên bay quá phía bên kia mầy!”
1SA 20:38 Rồi anh quát thêm, “Nhanh lên! Chạy cho mau đi! Đừng dừng lại!” Chú nhỏ lượm mũi tên và mang về cho chủ.
1SA 20:39 Nó chẳng biết chuyện gì cả, chỉ có Giô-na-than và Đa-vít biết thôi.
1SA 20:40 Rồi Giô-na-than giao vũ khí cho chú nhỏ và dặn, “Đi về thành đi.”
1SA 20:41 Sau khi chú nhỏ đi rồi thì Đa-vít đi ra khỏi phía nam của tảng đá. Ông sấp mặt xuống trước mặt Giô-na-than ba lần. Rồi Đa-vít và Giô-na-than hôn nhau và òa lên khóc, nhưng Đa-vít khóc nhiều hơn.
1SA 20:42 Giô-na-than bảo Đa-vít, “Thôi anh đi bình yên. Chúng ta hứa trong danh CHÚA rằng chúng ta sẽ là bạn với nhau. Chúng ta nói, ‘CHÚA sẽ làm chứng giữa anh và tôi, và giữa các con cháu chúng ta mãi mãi.’” Rồi Đa-vít ra đi, còn Giô-na-than trở vào thành.
1SA 21:1 Đa-vít đến Nóp để thăm thầy tế lễ A-hi-mê-léc. Khi thấy Đa-vít thì A-hi-mê-léc run sợ chạy đến hỏi, “Sao anh đi có một mình? Sao không có ai đi với anh?”
1SA 21:2 Đa-vít đáp, “Vua sai tôi đi thi hành một nhiệm vụ đặc biệt. Vua bảo tôi, ‘Không được cho ai biết điều ta sai ngươi làm hay điều ta dặn ngươi làm.’ Tôi bảo các người theo tôi phải gặp tôi chỗ nào rồi.
1SA 21:3 Bây giờ, thầy có thức ăn gì không? Cho tôi năm ổ bánh hay bất cứ món gì thầy có sẵn.”
1SA 21:4 Thầy tế lễ đáp cùng Đa-vít, “Tôi không có bánh thường ở đây, nhưng tôi có mấy ổ bánh thánh. Các anh có thể ăn được nếu các anh chưa gần đàn bà.”
1SA 21:5 Đa-vít bảo, “Đã bao nhiêu ngày nay không có đàn bà nào gần chúng tôi cả. Mấy người theo tôi lúc nào cũng giữ mình thánh, dù cho chúng tôi làm những việc tầm thường đi nữa. Và nếu việc thánh thì chúng tôi lại càng giữ mình cho thánh nữa.”
1SA 21:6 Vậy thầy tế lễ lấy bánh thánh trước mặt Thượng Đế đưa cho Đa-vít vì không có bánh nào khác. Mỗi ngày có bánh mới nóng thay bánh thánh.
1SA 21:7 Một trong các tôi tớ Sau-lơ tình cờ có mặt ở đó hôm ấy. Nó bị giữ lại trước mặt CHÚA. Đó là Đô-E người Ê-đôm, làm trưởng toán chăn chiên cho Sau-lơ.
1SA 21:8 Đa-vít hỏi A-hi-mê-léc, “Ở đây thầy có cây giáo hay gươm nào không? Việc vua giao quan trọng lắm cho nên tôi vội đi mà không mang gươm hay vũ khí gì theo cả.”
1SA 21:9 Thầy tế lễ đáp, “Ở đây có cây giáo của Gô-li-át người Phi-li-tin mà anh giết trong thung lũng Ê-la. Nó quấn trong bao vải để đằng sau cái áo ngắn thánh. Nếu anh cần thì lấy đi. Ở đây không có cây gươm nào ngoài cái đó.” Đa-vít bảo, “Không có cái giáo nào hơn cái đó nên thầy cho tôi lấy cái giáo đó đi.”
1SA 21:10 Ngày đó Đa-vít chạy trốn khỏi Sau-lơ đến A-kích, vua của Gát.
1SA 21:11 Nhưng các tôi tớ A-kích bảo vua rằng, “Đây là Đa-vít, vua Ít-ra-en. Ông ta là người mà dân chúng nhảy múa và hát, ‘Sau-lơ giết hằng ngàn quân thù, còn Đa-vít giết hàng vạn.’”
1SA 21:12 Đa-vít để ý nghe những lời đó và rất sợ A-kích, vua của Gát.
1SA 21:13 Nên ông giả vờ khùng điên trước mặt A-kích và các tôi tớ vua. Trong khi ở với A-kích, Đa-vít làm bộ điên, ông cào các cửa thành và để nước miếng nhễu xuống râu.
1SA 21:14 A-kích bảo các tôi tớ, “Xem anh chàng nầy kìa! Nó điên! Sao bay mang nó đến cho tao làm gì?
1SA 21:15 Tao có đủ thằng điên rồi. Tao đâu cần bay đem một thằng điên nữa làm trò trước mắt tao! Không được cho nó vào nhà tao!”
1SA 22:1 Đa-vít rời Gát và trốn đến hang A-đu-lam. Khi các anh và thân nhân nghe ông ở đó thì đi xuống thăm.
1SA 22:2 Những ai gặp lôi thôi, nợ nần, hay bất mãn đều tụ tập quanh Đa-vít. Ông trở thành lãnh tụ của họ. Có khoảng bốn trăm người theo ông.
1SA 22:3 Từ đó Đa-vít đi đến Mích-ba trong đất Mô-áp và nói chuyện với vua Mô-áp. Ông nói, “Xin cho cha và mẹ tôi đến ở với vua cho tới khi tôi biết Thượng Đế định thế nào cho tôi.”
1SA 22:4 Vậy ông để cha mẹ mình ở đó với vua Mô-áp trong suốt thời gian ông lẩn trốn trong mật khu.
1SA 22:5 Nhưng nhà tiên tri Gát bảo Đa-vít, “Đừng trốn trong mật khu. Hãy đi đến đất Giu-đa.” Vậy Đa-vít rời đó đi đến rừng Hê-rết.
1SA 22:6 Sau-lơ nghe có người thấy Đa-vít và những kẻ theo ông. Sau-lơ đang ngồi dưới gốc me trên đồi Ghi-bê-a. Các sĩ quan đứng quanh ông. Sau-lơ đang cầm một cây giáo trong tay.
1SA 22:7 Sau-lơ bảo họ, “Mấy anh Bên-gia-min nghe đây! Mấy anh có tin rằng con trai Gie-xê sẽ cho mấy anh đồng ruộng và vườn nho không? Liệu Đa-vít có cử mấy anh chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm không?
1SA 22:8 Mấy anh lập mưu phản ta! Không ai mách với ta khi con trai ta kết ước với con trai Gie-xê cả! Không ai đếm xỉa gì đến ta! Không ai báo cho ta biết rằng con ta đã khuyến khích tôi tớ ta đang phục kích ta bây giờ đây!”
1SA 22:9 Đô-E người Ê-đôm đang đứng đó với các sĩ quan của Sau-lơ. Hắn nói, “Tôi trông thấy con trai Gie-xê đi đến thăm A-hi-mê-léc, con của A-hi-túp ở Nóp.
1SA 22:10 A-hi-mê-léc cầu nguyện CHÚA cho Đa-vít, cung cấp thức ăn cho ông ta và cho luôn cây gươm của Gô-li-át người Phi-li-tin.”
1SA 22:11 Vua liền cho triệu thầy tế lễ A-hi-mê-léc con của A-hi-túp và tất cả các thân nhân của A-hi-mê-léc đang làm thầy tế lễ ở Nóp. Tất cả đều đến trình diện vua.
1SA 22:12 Sau-lơ bảo A-hi-mê-léc, “Con trai A-hi-túp nghe đây.” A-hi-mê-léc thưa, “Dạ thưa Ngài.”
1SA 22:13 Sau-lơ nói, “Tại sao ngươi và con trai Gie-xê toa rập chống lại ta? Ngươi cấp cho nó bánh mình và cây gươm! Ngươi lại còn cầu hỏi Thượng Đế cho nó để nó phản nghịch ta. Bây giờ nó đang chờ cơ hội tấn công ta!”
1SA 22:14 A-hi-mê-léc đáp, “Vua không có tôi tớ nào trung kiên bằng Đa-vít, con rể vua và chỉ huy toán cận vệ vua. Ai trong nhà của vua cũng kính nể người.
1SA 22:15 Đâu có phải đó là lần đầu tiên tôi cầu nguyện Thượng Đế cho Đa-vít. Xin đừng đổ lỗi cho tôi hay thân nhân tôi. Vì tôi, kẻ tôi tớ vua, hoàn toàn không biết chuyện gì cả.”
1SA 22:16 Nhưng vua bảo, “A-hi-mê-léc, ngươi và tất cả thân nhân ngươi phải chết!”
1SA 22:17 Rồi ông ra lệnh cho các lính cận vệ đang đứng bên mình. “Hãy giết các thầy tế lễ của CHÚA đi vì chúng theo phe Đa-vít. Chúng biết nó đang chạy trốn mà không báo cáo với ta.” Nhưng các sĩ quan của vua không dám giết các thầy tế lễ của CHÚA.
1SA 22:18 Vua liền ra lệnh cho Đô-E, “Đến giết các thầy tế lễ đi.” Đô-E liền giết các thầy tế lễ. Ngày đó nó giết tám mươi lăm người mặc áo ngắn thánh bằng vải gai.
1SA 22:19 Sau-lơ cũng giết dân thành Nóp tức thành của các thầy tế lễ. Vua dùng gươm giết đàn ông, đàn bà, con trẻ, hài nhi, súc vật, lừa, và chiên.
1SA 22:20 Nhưng A-bia-tha, một con trai của A-hi-mê-léc, cháu A-hi-túp, trốn thoát và nhập bọn với Đa-vít.
1SA 22:21 Ông thuật cho Đa-vít hay rằng Sau-lơ đã giết các thầy tế lễ của CHÚA.
1SA 22:22 Đa-vít nói với ông, “Đô-E, người Ê-đôm có mặt ở Nóp hôm đó. Ta biết thế nào nó cũng mách lại với Sau-lơ cho nên ta chịu trách nhiệm về cái chết của toàn thể gia đình cha ngươi.
1SA 22:23 Hãy ở đây với ta, đừng sợ. Kẻ muốn giết ngươi cũng muốn giết ta nữa. Ở với ta sẽ bình yên vô sự.”
1SA 23:1 Có người báo cáo với Đa-vít, “Kìa, người Phi-li-tin đang đánh Kê-i-la và cướp thóc gạo nơi sân đập lúa.”
1SA 23:2 Đa-vít cầu hỏi CHÚA, “Tôi có nên đi đánh các người Phi-li-tin nầy không?” CHÚA trả lời, “Hãy đi, tấn công chúng nó và giải cứu Kê-i-la.”
1SA 23:3 Nhưng các người đi theo Đa-vít e dè, “Chúng ta đang ở tại Giu-đa đây mà còn lo sợ huống gì đi xuống Kê-i-la để đánh quân Phi-li-tin.”
1SA 23:4 Đa-vít lại cầu hỏi CHÚA lần nữa và CHÚA trả lời, “Hãy đi xuống Kê-i-la. Ta sẽ giúp ngươi đánh bại quân Phi-li-tin.”
1SA 23:5 Vậy Đa-vít và những người đi theo xuống Kê-I-la đánh người Phi-li-tin, cướp gia súc chúng nó. Đa-vít giết rất nhiều người Phi-li-tin và giải cứu dân Kê-i-la.
1SA 23:6 Lúc đó A-bia-tha, con trai A-hi-mê-léc có mang áo thánh ngắn theo khi ông đến gặp Đa-vít ở Kê-i-la.
1SA 23:7 Có người mách với Sau-lơ là Đa-vít đang ở Kê-i-la. Sau-lơ bảo, “Thượng Đế đã trao nó vào tay ta rồi! Nó đã tự rơi vào bẫy vì nó đã vào trong thành có cổng cài then.”
1SA 23:8 Sau-lơ tập họp quân sĩ lại chuẩn bị ra trận, sẵn sàng đi xuống Kê-i-la tấn công Đa-vít và những người đi theo.
1SA 23:9 Đa-vít hay tin Sau-lơ lập mưu chống mình nên ông bảo thầy tế lễ A-bia-tha, “Hãy mang cái áo ngắn thánh lại đây.”
1SA 23:10 Đa-vít cầu nguyện, “Lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, con nghe rằng tại con mà Sau-lơ dự định xuống Kê-i-la để tiêu diệt thành đó.
1SA 23:11 Các lãnh tụ Kê-i-la có trao con cho Sau-lơ không? Sau-lơ có xuống Kê-i-la theo như điều con nghe không? Lạy CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, xin cho con, kẻ tôi tớ Ngài biết!” CHÚA trả lời, “Sau-lơ sẽ xuống.”
1SA 23:12 Đa-vít lại hỏi lần nữa, “Các lãnh tụ Kê-i-la có trao con và các người đi theo vào tay Sau-lơ không?” CHÚA trả lời, “Họ sẽ trao.”
1SA 23:13 Vậy Đa-vít và sáu trăm quân đi theo rời Kê-i-la và di động từ chỗ nầy sang chỗ kia. Khi Sau-lơ nghe tin Đa-vít đã trốn khỏi Kê-i-la thì không xuống đó nữa.
1SA 23:14 Đa-vít ở trong các mật khu nơi sa mạc và trong các đồi núi của sa mạc Xíp. Ngày nào Sau-lơ cũng lùng kiếm Đa-vít nhưng CHÚA không trao Đa-vít vào tay người.
1SA 23:15 Trong khi Đa-vít đang ở Hô-rết trong sa mạc Xíp thì nghe Sau-lơ đang tìm đến giết mình.
1SA 23:16 Nhưng Giô-na-than, con Sau-lơ đi đến Hô-rết gặp Đa-vít để củng cố đức tin của Đa-vít nơi Thượng Đế.
1SA 23:17 Giô-na-than bảo Đa-vít, “Đừng sợ vì cha tôi sẽ không đụng đến anh được. Anh sẽ làm vua Ít-ra-en, còn tôi sẽ phụ tá cho anh. Sau-lơ, cha tôi cũng biết điều nầy.”
1SA 23:18 Hai người lập ước với nhau trước mặt CHÚA. Rồi Giô-na-than trở về nhà, còn Đa-vít ở lại Hô-rết.
1SA 23:19 Dân chúng Xíp đến Ghi-bê-a báo cáo với Sau-lơ, “Đa-vít đang trú ẩn trong xứ chúng tôi. Hắn đang ở trong mật khu tại Hô-rết, trên đồi Ha-ki-la, phía nam Giê-si-môn.
1SA 23:20 Bây giờ, thưa vua, vua muốn xuống lúc nào cũng được. Chúng tôi có nhiệm vụ giải Đa-vít cho vua.”
1SA 23:21 Sau-lơ đáp, “Cầu CHÚA ban phước cho các ngươi vì đã giúp đỡ ta.
1SA 23:22 Hãy đi tìm thêm tung tích của hắn. Tìm xem hắn đang ở đâu, có ai thấy hắn ở đó không. Ta nghe hắn rất quỉ quyệt.
1SA 23:23 Tìm xem mật khu hắn trú ẩn rồi về báo cho ta biết. Ta sẽ đi xuống với các ngươi. Nếu Đa-vít ở trong vùng đó ta sẽ lùng hắn giữa các gia đình trong miền Giu-đa.”
1SA 23:24 Vậy họ trở về Xíp trước Sau-lơ. Lúc đó Đa-vít và các thuộc hạ đang ở trong sa mạc Ma-ôn thuộc vùng sa mạc phía nam Giê-si-môn.
1SA 23:25 Sau-lơ và các người đi theo ông tìm Đa-vít nhưng Đa-vít nghe được liền đi đến một tảng đá và ở trong sa mạc Ma-ôn. Khi Sau-lơ nghe vậy liền theo chân Đa-vít vào sa mạc Ma-ôn.
1SA 23:26 Sau-lơ đang đi bên sườn núi nầy, còn Đa-vít và những kẻ theo ông đi bên sườn núi kia. Họ vội vàng chạy trốn khỏi Sau-lơ vì Sau-lơ và những thuộc hạ đang đuổi sát theo họ.
1SA 23:27 Nhưng một sứ giả đến báo với Sau-lơ rằng, “Hãy về ngay vì quân Phi-li-tin đang tấn công xứ ta!”
1SA 23:28 Vậy Sau-lơ không đuổi theo Đa-vít nữa và trở về đối đầu với quân Phi-li-tin. Vì thế mà người ta gọi chỗ đó là Tảng Đá Trơn Trợt.
1SA 23:29 Đa-vít cũng rời sa mạc Ma-ôn về ở trong mật khu Ên-ghê-đi.
1SA 24:1 Sau khi Sau-lơ đuổi theo dân Phi-li-tin và trở về thì có người báo, “Đa-vít đang ở trong sa mạc Ên-ghê-đi.”
1SA 24:2 Nên Sau-lơ mang theo ba ngàn quân chọn lọc từ trong cả Ít-ra-en và bắt đầu truy lùng Đa-vít và những kẻ thuộc hạ gần các tảng đá của Dê Rừng.
1SA 24:3 Sau-lơ đến chỗ các chuồng chiên bên vệ đường. Ở đó có một cái hang nên Sau-lơ vào đó đi tiêu. Lúc đó Đa-vít và những người theo ông núp ở tận cùng hang.
1SA 24:4 Những người theo Đa-vít bảo, “Đây là ngày CHÚA phán, ‘Ta sẽ trao kẻ thù vào tay ngươi. Cho nên ông muốn ra tay như thế nào với ông ta cũng được.’” Đa-vít bò đến gần Sau-lơ và lặng lẽ cắt một vạt áo của Sau-lơ.
1SA 24:5 Sau đó Đa-vít hối hận vì đã cắt vạt áo Sau-lơ.
1SA 24:6 Ông bảo những người theo mình, “Nguyện CHÚA giữ ta không làm chuyện như thế cho chủ ta! Sau-lơ là vua được CHÚA bổ nhiệm. Ta không nên làm gì hại người, vì người là vua do CHÚA bổ nhiệm!”
1SA 24:7 Đa-vít quở mắng họ, không cho họ tấn công Sau-lơ. Sau đó Sau-lơ ra khỏi hang và tiếp tục đi.
1SA 24:8 Rồi Đa-vít ra khỏi hang, kêu lớn cùng Sau-lơ, “Chủ tôi và vua tôi ơi!” Sau-lơ quay lại thì Đa-vít cúi sấp mặt xuống đất.
1SA 24:9 Ông thưa với Sau-lơ, “Sao vua nghe người ta bảo, ‘Đa-vít muốn hại vua’?
1SA 24:10 Hôm nay vua đã thấy tận mắt. CHÚA đặt vua vào tay tôi khi vua đang ở trong hang. Có người xúi tôi giết vua nhưng tôi không làm. Tôi bảo, ‘Ta không thể làm hại chủ ta là vua được CHÚA bổ nhiệm.’
1SA 24:11 Cha ơi, xin hãy nhìn vạt áo nầy trong tay con! Con cắt một miếng trong vạt áo của cha nhưng con không giết cha. Bây giờ xin cha hiểu cho rằng con không có âm mưu xấu nào hại cha. Con không có làm gì quấy đối với cha nhưng cha lại đi lùng con để giết.
1SA 24:12 Nguyện CHÚA phân xử giữa chúng ta, và nguyền Ngài phạt cha về điều quấy cha làm cho con! Nhưng con đã không làm gì quấy đối với cha.
1SA 24:13 Có câu tục ngữ nói, ‘Người ác mới làm ác.’ Nhưng con đâu có hại cha.
1SA 24:14 Vua dân Ít-ra-en nghịch lại ai? Vua đuổi theo ai? Vua rượt theo con chó chết, một con bọ chét.
1SA 24:15 Nguyện CHÚA phân xử giữa cha và con. Nguyện Ngài bênh vực con và chứng tỏ là con phải. Nguyện Ngài giải cứu con khỏi tay cha!”
1SA 24:16 Khi Đa-vít nói như thế xong thì Sau-lơ hỏi, “Đó có phải tiếng Đa-vít không con?” Rồi ông òa khóc.
1SA 24:17 Ông nói, “Con tốt hơn cha. Con đã tỏ lòng nhân từ đối với cha, nhưng cha tìm cách hại con.
1SA 24:18 Con cho cha biết những điều tốt con làm. CHÚA đã trao cha vào tay con nhưng con không giết cha.
1SA 24:19 Nếu ai gặp kẻ thù mình mà lại để nó đi bình yên sao? Nguyện CHÚA ban thưởng về điều tốt con làm cho cha hôm nay.
1SA 24:20 Vì thế cha biết chắc con sẽ lên ngôi vua, và cai trị trên Ít-ra-en.
1SA 24:21 Bây giờ xin con hãy thề trong danh CHÚA rằng con sẽ không diệt con cháu cha và sẽ không xóa danh cha ra khỏi gia đình cha.”
1SA 24:22 Vậy Đa-vít cam kết cùng Sau-lơ. Sau-lơ đi trở về nhà, còn Đa-vít và thuộc hạ đi trở về mật khu.
1SA 25:1 Lúc đó Sa-mu-ên qua đời, toàn dân Ít-ra-en họp lại than khóc ông rồi chôn cất ông nơi quê quán ở Ra-ma. Đa-vít di chuyển tới sa mạc Ma-ôn.
1SA 25:2 Có một người rất giàu ở Ma-ôn nhưng có đất đai ở Cạt-mên. Người có ba ngàn chiên và một ngàn dê. Người đang hớt lông chiên ở Cạt-mên.
1SA 25:3 Người tên là Na-banh thuộc dòng dõi Ca-lép. Vợ tên là A-bi-ga-in. Nàng rất xinh đẹp và khôn ngoan, nhưng Na-banh thì hung ác.
1SA 25:4 Trong khi Đa-vít đang ở trong sa mạc thì nghe Na-banh đang hớt lông chiên.
1SA 25:5 Nên ông sai năm thanh niên bảo, “Hãy đi xuống gặp Na-banh ở Cạt-mên, nhân danh ta chào thăm người,
1SA 25:6 và nói, ‘Chúc ông và gia đình cùng những ai thuộc về ông được mạnh khoẻ.
1SA 25:7 Tôi nghe ông đang hớt lông chiên. Khi các kẻ chăn chiên của ông ở với chúng tôi, chúng tôi không làm gì hại họ cả. Trong suốt thời gian các kẻ chăn chiên ông ở Cạt-mên, họ không bị mất vật gì.
1SA 25:8 Ông hãy hỏi họ, họ sẽ cho ông biết. Chúng tôi đến với ông khi họ đang vui vẻ cho nên xin ông hãy nhân từ đối với các bạn trẻ của tôi. Xin ông cấp cho họ và cho bạn ông là Đa-vít những gì ông có sẵn.’”
1SA 25:9 Các người của Đa-vít đến chuyển lời của Đa-vít cho Na-banh nhưng Na-banh sỉ nhục họ.
1SA 25:10 Anh ta đáp, “Đa-vít là ai? Thằng con trai của Gie-xê là người nào? Ôi chào, bọn nô lệ trốn khỏi chủ đông như thế à?
1SA 25:11 Ta có bánh và nước, ta có thịt thú mà ta giết để cho các tôi tớ hớt lông chiên ta ăn. Nhưng đừng mong ta cấp thức ăn cho lũ mà ta không hề quen biết.”
1SA 25:12 Những người của Đa-vít đi về thuật lại cho ông nghe lời Na-banh nói.
1SA 25:13 Đa-vít liền ra lệnh, “Các ngươi hãy đeo gươm vào!” Vậy họ đeo gươm vào, Đa-vít cũng làm như vậy. Khoảng bốn trăm người đi với Đa-vít, nhưng hai trăm người ở lại coi kho lương thực.
1SA 25:14 Một trong các tôi tớ Na-banh chạy đến thuật cho A-bi-ga-in hay, “Đa-vít sai người từ sa mạc đến chào ông chủ nhưng Na-banh sỉ nhục họ.
1SA 25:15 Mấy người đó rất tốt với chúng tôi. Họ không hề làm gì hại chúng tôi cả. Trong suốt thời gian ở ngoài đồng với họ, chúng tôi không bị mất cắp vật gì.
1SA 25:16 Ngày và đêm họ bảo vệ chúng tôi. Họ như bức tường bao quanh chúng tôi trong khi chúng tôi ở cùng họ và chăm sóc bầy chiên.
1SA 25:17 Vậy bà suy tính đi rồi tùy cách mà hành động. Nếu không ông chủ và gia đình sẽ gặp tai biến đó. Na-banh là người quá độc ác, không ai nói chuyện được.”
1SA 25:18 A-bi-ga-in liền vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu da rượu đầy, năm con chiên đã nấu chín, một thùng lúa rang, một trăm bánh trái nho, và hai trăm bánh trái vả chất lên lưng lừa.
1SA 25:19 Rồi bà bảo các tôi tớ, “Các ngươi đi trước đi, ta theo sau.” Nhưng bà không nói gì với chồng cả.
1SA 25:20 A-bi-ga-in cỡi lừa đi xuống mật khu trong núi. Tình cờ bà gặp Đa-vít và những người theo ông ra đón.
1SA 25:21 Đa-vít mới vừa nói, “Thật vô ích! Ta đã trông chừng tài sản của Na-banh trong sa mạc để không con chiên nào bị lạc. Ta đối tốt với hắn mà bây giờ hắn lấy oán trả ơn.
1SA 25:22 Nguyện Thượng Đế phạt kẻ thù ta nặng hơn nữa nếu sáng mai mà ta còn để một người đàn ông nào trong nhà Na-banh sống sót.”
1SA 25:23 Khi A-bi-ga-in thấy Đa-vít, bà vội vàng leo xuống lừa, cúi mặt xuống đất trước mặt ông.
1SA 25:24 Bà quì nơi chân Đa-vít van xin, “Thưa ông, tôi xin nhận trách nhiệm việc nầy! Xin để tôi giải thích cho ông. Xin ông nghe tôi.
1SA 25:25 Thưa ông, xin đừng để tâm đến người không ra gì là Na-banh đó. Tính tình hắn giống tên của hắn. Tên hắn là ‘điên,’ và đúng hắn là thằng điên. Nhưng tôi, kẻ tôi tớ ông không thấy những người ông sai đến.
1SA 25:26 CHÚA đã cản không cho ông giết hay trừng phạt ai. Cho nên tôi chỉ trong danh CHÚA và danh ông mà đoan chắc rằng những kẻ thù của ông và những kẻ muốn làm hại ông đều sẽ giống như Na-banh!
1SA 25:27 Tôi có mang theo quà biếu ông và những người theo ông.
1SA 25:28 Xin tha lỗi cho tôi. CHÚA chắc chắn sẽ khiến cho gia đình ông có nhiều vua, vì ông đã đánh trận cho Ngài và trong ông không có điều ác nào.
1SA 25:29 Dù có người rượt đuổi theo ông nhưng CHÚA là Thượng Đế của ông sẽ bảo vệ ông. Ngài sẽ ném mạng sống kẻ thù ông như người ta bắn viên đá từ cái ná.
1SA 25:30 CHÚA sẽ giữ mọi lời hứa về những điều tốt đẹp cho ông. Ngài sẽ đặt ông làm lãnh tụ trên Ít-ra-en.
1SA 25:31 Rồi ông sẽ không cảm thấy áy náy hay băn khoăn vì chính tay mình đã giết người vô tội và trừng phạt họ. Xin ông nhớ đến tôi khi CHÚA ban thành công cho ông.”
1SA 25:32 Đa-vít bảo A-bi-ga-in, “Chúc tụng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, đã đưa chị đến gặp tôi hôm nay.
1SA 25:33 Nguyện chị được phước nhờ sự khôn ngoan của chị. Hôm nay, chị đã cản không cho tôi giết người vô tội để trả thù.
1SA 25:34 Thật như CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en hằng sống, Ngài đã cản không cho tôi làm hại chị. Nếu mà chị không vội đến gặp tôi thì chắc chắn không ai trong nhà Na-banh còn sống đến sáng hôm sau.”
1SA 25:35 Rồi Đa-vít nhận lễ vật của A-bi-ga-in. Ông bảo bà, “Thôi chị về bình yên. Tôi đã nghe lời của chị và sẽ làm theo điều chị yêu cầu.”
1SA 25:36 Khi A-bi-ga-in trở về gặp Na-banh thì hắn đang ở trong nhà, ăn uống như ông hoàng. Hắn đang say mèm. Cho nên A-bi-ga-in không nói gì với hắn cả cho đến sáng hôm sau.
1SA 25:37 Sáng hôm sau khi tỉnh rượu rồi, vợ hắn mới thuật lại hết mọi sự. Hắn đứng tim, người hóa trơ như đá.
1SA 25:38 Khoảng mười ngày sau CHÚA đánh Na-banh và hắn chết.
1SA 25:39 Khi Đa-vít nghe tin Na-banh chết, ông nói, “Đáng chúc tụng CHÚA! Na-banh sỉ nhục ta, nhưng CHÚA nâng đỡ ta! Ngài cản không cho ta làm quấy. CHÚA đã phạt Na-banh về điều quấy hắn làm.” Rồi Đa-vít cho người nhắn hỏi A-bi-ga-in làm vợ mình.
1SA 25:40 Các tôi tớ ông đến Cạt-mên nói với A-bi-ga-in, “Đa-vít sai chúng tôi đến ngỏ ý muốn bà về làm vợ ông ta.”
1SA 25:41 A-bi-ga-in sấp mặt xuống đất nói, “Tôi là kẻ tôi tớ các anh. Tôi sẵn sàng phục vụ các anh và rửa chân cho các tôi tớ của chủ tôi.”
1SA 25:42 A-bi-ga-in vội vàng leo lên lưng lừa đi theo các người mà Đa-vít sai đến, có năm đứa tớ gái đi theo. Rồi bà làm vợ Đa-vít.
1SA 25:43 Đa-vít cũng lấy A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên. Cả hai người đều làm vợ Đa-vít.
1SA 25:44 Mi-canh, con gái Sau-lơ cũng là vợ Đa-vít nhưng Sau-lơ đã gả nàng cho Ba-tiên, con trai La-ít, người gốc Ga-lim.
1SA 26:1 Dân chúng Xíp đến mách với Sau-lơ ở Ghi-bê-a rằng, “Đa-vít đang trốn trong đồi Ha-ki-la, đối ngang Giê-si-môn.”
1SA 26:2 Sau-lơ liền kéo ba ngàn quân tinh nhuệ của Ít-ra-en đi xuống sa mạc Xíp để lùng kiếm Đa-vít.
1SA 26:3 Sau-lơ cắm trại bên cạnh con đường trên đồi Ha-ki-la, đối ngang Giê-si-môn, nhưng Đa-vít ở trong sa mạc. Khi nghe tin Sau-lơ truy lùng mình,
1SA 26:4 thì ông sai mấy người do thám để dò xem cho chắc rằng Sau-lơ đến Ha-ki-la chưa.
1SA 26:5 Rồi Đa-vít đi đến nơi Sau-lơ đóng quân. Ông thấy Sau-lơ và Áp-ne, con trai Nê-rơ, tư lệnh quân đội của Sau-lơ đang ngủ. Sau-lơ ngủ giữa doanh trại, chung quanh có quân sĩ.
1SA 26:6 Đa-vít hỏi A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con trai Xê-ru-gia, anh Giô-áp rằng, “Ai sẽ đi với tôi xuống doanh trại Sau-lơ?” A-bi-sai đáp, “Tôi sẽ đi với ông.”
1SA 26:7 Đêm đó Đa-vít và A-bi-sai đi vào doanh trại Sau-lơ. Sau-lơ đang ngủ mê giữa trại, còn cây giáo thì cắm xuống đất gần đầu ông. Áp-ne và quân lính ngủ quanh Sau-lơ.
1SA 26:8 A-bi-sai bảo Đa-vít, “Hôm nay Thượng Đế đã trao kẻ thù vào tay ông. Hãy để tôi lấy cây giáo tôi đâm Sau-lơ xuống đất. Chỉ cần đâm một cái thôi, không cần phải đâm lại.”
1SA 26:9 Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai, “Đừng giết Sau-lơ! Không ai có thể làm hại vua được CHÚA bổ nhiệm mà không bị phạt!
1SA 26:10 Tôi chỉ CHÚA hằng sống mà dám chắc rằng, chính CHÚA sẽ phạt ông ta. Có thể Sau-lơ sẽ chết tự nhiên, cũng có thể ra trận rồi bỏ xác.
1SA 26:11 Nhưng nguyện CHÚA cản tôi đừng để tôi làm hại vua được Ngài chọn! Thôi chúng ta hãy lấy cây giáo và cái bình nước gần đầu Sau-lơ rồi đi.”
1SA 26:12 Vậy Đa-vít lấy cây giáo và cái bình nước gần đầu Sau-lơ rồi hai người đi. Không ai thấy, hay biết hoặc thức giấc vì CHÚA đã khiến họ ngủ mê.
1SA 26:13 Đa-vít băng qua bên kia đồi đứng trên đỉnh núi xa doanh trại Sau-lơ. Hai bên cách nhau khá xa.
1SA 26:14 Đa-vít gọi to cho quân sĩ và cho Áp-ne, con trai Nê-rơ, “Áp-ne ơi, anh không trả lời tôi sao?” Áp-ne đáp, “Ai gọi vua đó? Anh là ai?”
1SA 26:15 Đa-vít đáp, “Anh là vĩ nhân trong Ít-ra-en phải không? Sao anh không bảo vệ chủ anh là vua? Có kẻ lẻn vào doanh trại định giết chủ anh, là nhà vua đó!
1SA 26:16 Anh kém lắm. Nhân danh CHÚA thì anh và những người theo anh đều đáng chết. Anh không canh giữ được chủ anh, là vua do CHÚA bổ nhiệm. Nầy, hãy tìm xem cái giáo và bình nước cạnh đầu vua đâu rồi?”
1SA 26:17 Sau-lơ nhận ra tiếng Đa-vít. Ông hỏi, “Có phải tiếng Đa-vít đó không con?” Đa-vít đáp, “Dạ, đó là tiếng của con, thưa chủ và vua của con.”
1SA 26:18 Đa-vít nói tiếp, “Sao chủ đuổi theo con chi vậy? Con có làm gì quấy đâu? Con có tội tình gì đâu? Con có làm điều ác nào đâu?
1SA 26:19 Thưa chủ và vua của con ơi, xin nghe con đây. Nếu CHÚA khiến vua nổi giận cùng con thì xin Ngài nhận của lễ. Nhưng nếu điều đó do dân chúng làm thì nguyện CHÚA nguyền rủa họ! Họ đã khiến con rời bỏ miếng đất mà CHÚA đã ban cho con. Họ bảo con, ‘Hãy đi phục vụ các thần khác đi.’
1SA 26:20 Bây giờ xin đừng để con chết cách xa CHÚA. Vua Ít-ra-en kéo ra đi tìm một con bọ chét, như người ta đi săn chim đa đa trong núi!”
1SA 26:21 Sau-lơ liền lên tiếng, “Nầy, cha thật dại dột và đã phạm lỗi nặng. Đa-vít, con ơi, hãy trở về. Hôm nay con đã tôn trọng mạng sống cha, cho nên cha sẽ không làm hại con. Cha quả thật ngu ngốc.”
1SA 26:22 Đa-vít đáp, “Cái giáo của cha đây. Cha sai một cậu trẻ nào sang bên nầy lấy lại đi.
1SA 26:23 Chính CHÚA sẽ thưởng chúng ta theo điều phải chúng ta làm và lòng trung thành chúng ta đối với Ngài. CHÚA đã trao cha vào tay con hôm nay nhưng con không muốn làm hại vua mà CHÚA đã bổ nhiệm.
1SA 26:24 Như con đã tôn trọng mạng sống cha hôm nay thế nào, nguyện CHÚA cũng sẽ tôn trọng mạng sống con và giải cứu con khỏi mọi nguy nan như thế.”
1SA 26:25 Rồi Sau-lơ bảo Đa-vít, “Đa-vít, con ta ơi, con đáng được phước. Con sẽ làm những việc lớn và thành công.” Rồi Đa-vít đi đường mình, còn Sau-lơ trở về nhà.
1SA 27:1 Đa-vít nghĩ thầm, “Có ngày Sau-lơ sẽ bắt được ta. Cho nên tốt hơn ta nên thoát sang xứ Phi-li-tin. Như thế Sau-lơ sẽ không còn lùng kiếm ta trong Ít-ra-en nữa, nên ta có thể thoát khỏi tay người.”
1SA 27:2 Vậy Đa-vít cùng sáu trăm người theo mình rời Ít-ra-en đi xuống A-kích, con Ma-ốc, vua Gát.
1SA 27:3 Đa-vít, những người theo cùng gia đình họ cư ngụ ở Gát với A-kích. Đa-vít mang theo hai vợ mình là A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên, và A-bi-ga-in ở Cạt-mên, vợ góa của Na-banh, ở Cạt-mên.
1SA 27:4 Khi Sau-lơ nghe tin Đa-vít đã bỏ chạy xuống Gát thì thôi không lùng kiếm ông nữa.
1SA 27:5 Đa-vít bảo A-kích, “Nếu vua bằng lòng về tôi thì xin vua cấp cho tôi một nơi trong các thị trấn thôn quê để tôi sinh sống. Tôi đâu có cần ở trong đế đô với vua.”
1SA 27:6 Ngày đó A-kích cấp cho Đa-vít thị trấn Xiếc-lác, cho nên từ đó về sau Xiếc-lác thuộc về các vua Giu-đa.
1SA 27:7 Đa-vít sống trong xứ Phi-li-tin một năm bốn tháng.
1SA 27:8 Đa-vít và những người đi theo cướp phá dân Ghê-su-rơ, Ghiếc-xi, và A-ma-léc. Những dân nầy đã sống lâu đời trong vùng đất chạy dài đến Su-rơ và Ai-cập.
1SA 27:9 Khi Đa-vít đánh chúng thì ông giết tất cả đàn ông, đàn bà, lấy chiên, bò, lừa, lạc đà, và quần áo. Rồi ông trở về cùng A-kích.
1SA 27:10 A-kích hỏi ông, “Hôm nay ngươi đi cướp phá nơi nào?” Rồi Đa-vít kể lại là ông đi đến miền nam Giu-đa, hay Giê-ra-miên, hoặc đất người Kê-nít.
1SA 27:11 Đa-vít không hề mang về Gát một người đàn ông hay đàn bà còn sống vì ông nghĩ, “Nếu ta mang người sống về, chúng nó sẽ bảo, ‘Đa-vít làm như thế nầy đây.’” Trong suốt thời gian sống ở xứ Phi-li-tin, Đa-vít thường làm như thế.
1SA 27:12 Cho nên A-kích tin Đa-vít và nghĩ bụng, “Chính nó tự làm cho mình trở thành ghê tởm đối với dân Ít-ra-en của nó, cho nên nó sẽ làm đầy tớ ta mãi mãi.”
1SA 28:1 Về sau quân Phi-li-tin tập họp binh sĩ lại để đánh dân Ít-ra-en. A-kích bảo Đa-vít, “Anh nên biết rằng anh và những người đi theo phải gia nhập hàng ngũ ta.”
1SA 28:2 Đa-vít trả lời, “Bây giờ vua sẽ thấy tận mắt những gì tôi, kẻ tôi tớ vua, có thể làm!” A-kích bảo, “Tốt, vậy ta cử ngươi làm cận vệ vĩnh viễn cho ta.”
1SA 28:3 Lúc ấy Sa-mu-ên đã qua đời, nên toàn dân Ít-ra-en than khóc ông. Họ chôn cất ông trong thị trấn quê nhà ông ở Ra-ma. Sau-lơ đã trừ khử tất cả những đồng cốt và thầy bói ra khỏi xứ.
1SA 28:4 Quân Phi-li-tin tập họp lại và đóng quân ở Su-nem. Sau-lơ cũng tập họp tất cả người Ít-ra-en lại và đóng quân ở Ghinh-bô-a.
1SA 28:5 Khi Sau-lơ nhìn thấy đạo quân Phi-li-tin thì đâm ra sợ hãi, tim đập thình thịch.
1SA 28:6 Ông cầu nguyện cùng CHÚA nhưng Ngài không trả lời dù qua chiêm bao, U-rim, hay qua các nhà tiên tri.
1SA 28:7 Sau-lơ liền bảo các đầy tớ, “Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng để ta hỏi thăm về chuyện nầy.” Các đầy tớ thưa, “Có một bà bóng ở Ên-đô-rơ.”
1SA 28:8 Sau-lơ liền ăn mặc giả dạng, cùng hai cận vệ đi đến bà bóng lúc ban đêm. Sau-lơ bảo bà, “Hãy cầu một vong linh cho tôi. Triệu lên cho tôi người tôi sẽ nói tên.”
1SA 28:9 Nhưng bà ấy đáp, “Chắc ông biết điều Sau-lơ đã làm. Ông ta đã trừ khử tất cả đồng bóng và thầy bói ra khỏi xứ rồi. Bộ ông gài bẫy để giết tôi hay sao?”
1SA 28:10 Sau-lơ nhân danh CHÚA cam kết với người đàn bà, “Tôi hứa trong danh CHÚA là chị sẽ không gặp lôi thôi gì đâu.”
1SA 28:11 Người đàn bà hỏi, “Vậy ông muốn tôi triệu ai lên?” Sau-lơ đáp, “Triệu Sa-mu-ên lên cho tôi.”
1SA 28:12 Khi nhìn thấy Sa-mu-ên thì người đàn bà rú lên. Bà ta bảo, “Sao ông gạt tôi? Ông là Sau-lơ!”
1SA 28:13 Vua trấn an người đàn bà, “Đừng sợ! Chị thấy gì?” Người đàn bà đáp, “Tôi thấy một thần linh từ dưới đất lên.”
1SA 28:14 Sau-lơ hỏi, “Ông ta hình dáng ra sao?” Người đàn bà trả lời, “Ông ta là một cụ già mặc áo dài đang hiện lên.” Lúc đó Sau-lơ biết đúng là Sa-mu-ên liền cúi mọp xuống đất.
1SA 28:15 Sa-mu-ên hỏi Sau-lơ, “Sao ngươi quấy rầy ta, triệu ta lên làm gì?” Sau-lơ đáp, “Tôi đang gặp khốn đốn. Quân Phi-li-tin đang tấn công tôi, Thượng Đế đã rời khỏi tôi. Ngài không trả lời tôi nữa dù qua các nhà tiên tri hay qua chiêm bao. Vì thế mà tôi cầu đến ông. Bây giờ xin ông cho tôi biết phải làm sao.”
1SA 28:16 Sa-mu-ên bảo, “CHÚA đã từ bỏ ngươi và trở nên kẻ thù ngươi. Vậy ngươi cầu hỏi ta làm gì?
1SA 28:17 Ngài thường cho ta biết trước điều Ngài sẽ làm; và hiện nay Ngài đang làm điều đó. Ngài lấy nước ra khỏi tay ngươi và giao cho một trong những láng giềng ngươi là Đa-vít.
1SA 28:18 Ngươi đã không vâng lời CHÚA; ngươi đã không thi hành cơn thịnh nộ của Ngài đối với dân A-ma-léc. Vì thế mà hôm nay Ngài khiến ngươi lâm hoàn cảnh nầy.
1SA 28:19 CHÚA sẽ trao cả Ít-ra-en lẫn ngươi vào tay dân Phi-li-tin. Ngày mai ngươi và các con trai ngươi sẽ ở cùng một chỗ với ta. CHÚA sẽ trao toàn thể đạo quân Ít-ra-en vào tay quân Phi-li-tin.”
1SA 28:20 Sau khi nghe những lời Sa-mu-ên nói thì Sau-lơ hoảng sợ té nằm dài trên đất. Vua đuối sức vì cả ngày và đêm đó chưa ăn uống gì.
1SA 28:21 Khi người đàn bà đến gần Sau-lơ thì thấy ông đang kinh hoàng. Bà bảo, “Nầy, tôi, kẻ tôi tớ ông đã vâng lời ông. Tôi đã liều mạng làm điều ông bảo tôi.
1SA 28:22 Bây giờ xin nghe tôi. Mời ông ăn món gì để ông lại sức mà lên đường.”
1SA 28:23 Nhưng Sau-lơ từ chối bảo rằng, “Tôi không ăn đâu.” Tuy nhiên các đầy tớ và người đàn bà ép nài cho nên ông chịu ăn. Ông đứng lên khỏi đất và ngồi trên giường.
1SA 28:24 Người đàn bà có một con bò con mập liền giết nó rồi lấy bột nhồi làm bánh không men.
1SA 28:25 Bà bày thức ăn trước mặt họ, và tất cả đều ăn. Đêm đó họ đứng dậy ra đi.
1SA 29:1 Dân Phi-li-tin tập họp các quân sĩ tại A-phéc còn dân Ít-ra-en đóng quân gần suối Ghít-rê-ên.
1SA 29:2 Các lãnh tụ Phi-li-tin đi ra theo từng toán một trăm và một ngàn người. Đa-vít và những người theo ông đi sau lưng A-kích.
1SA 29:3 Các viên chỉ huy của Phi-li-tin hỏi, “Bọn Hê-bơ-rơ nầy làm gì đây?” A-kích giải thích, “Đây là Đa-vít, người đã phục vụ Sau-lơ, vua Ít-ra-en, nhưng nó đã ở với ta hơn một năm nay. Ta không thấy nó có điều gì xấu kể từ ngày nó bỏ Sau-lơ.”
1SA 29:4 Nhưng các vị chỉ huy Phi-li-tin nổi giận cùng A-kích và bảo, “Hãy đuổi nó về thành mà vua cấp cho nó. Nó không thể nào ra trận với chúng ta được đâu, nếu không chúng ta sẽ có một kẻ thù ngay trong doanh trại mình đó. Nó dám lập công với vua nó bằng cách giết quân ta lắm.
1SA 29:5 Chính Đa-vít nầy là người mà dân Ít-ra-en nhảy múa ca hát: ‘Sau-lơ giết hàng ngàn quân thù, còn Đa-vít giết hàng vạn.’”
1SA 29:6 Vậy A-kích gọi Đa-vít lại bảo, “Ta lấy danh CHÚA hằng sống mà cam đoan rằng anh rất trung thành. Ta rất muốn anh phục vụ trong quân ngũ ta. Từ ngày anh đến với ta, ta không thấy anh có lỗi gì. Nhưng các lãnh tụ kia không tin tưởng anh.
1SA 29:7 Thôi anh đi về đi. Đừng làm điều gì phật ý các vua Phi-li-tin.”
1SA 29:8 Đa-vít hỏi, “Tôi đã làm điều gì sai quấy? Từ ngày tôi đến với vua tới nay vua có thấy tôi làm điều gian ác nào không? Sao tôi không thể đi đánh quân thù của vua và chúa tôi?”
1SA 29:9 A-kích đáp, “Ta biết anh là người tốt như thiên sứ từ Thượng Đế vậy. Tuy nhiên các vị chỉ huy Phi-li-tin bàn nhau, ‘Đừng cho Đa-vít ra trận.’
1SA 29:10 Thôi sáng sớm mai anh và các đầy tớ của chủ anh hãy ra đi. Vừa rạng đông thì thức dậy lên đường.”
1SA 29:11 Vậy sáng sớm hôm sau Đa-vít và những người theo ông thức dậy và trở về xứ Phi-li-tin. Còn quân Phi-li-tin tiến lên Ghít-rê-ên.
1SA 30:1 Đến ngày thứ ba khi Đa-vít và những người đi theo về đến Xiếc-lác thì thấy quân A-ma-léc đã cướp phá vùng miền nam Giu-đa và Xiếc-lác, tấn công Xiếc-lác và đốt phá thành đó.
1SA 30:2 Chúng bắt đàn bà và tất cả dân cư, già trẻ, nhưng chưa giết ai cả. Chúng chỉ bắt họ mang đi thôi.
1SA 30:3 Khi Đa-vít và những người đi theo về đến Xiếc-lác thì thấy thành đã bị đốt, còn vợ, con trai con gái đều bị bắt làm tù binh.
1SA 30:4 Đa-vít cùng toàn quân khóc lóc thảm thiết cho đến khi không còn sức khóc nữa.
1SA 30:5 Hai vợ của Đa-vít cũng bị bắt đi là A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên và A-bi-ga-in, vợ góa của Na-banh, ở Cạt-mên.
1SA 30:6 Những người trong quân ngũ Đa-vít đòi ném đá giết ông khiến ông càng thêm lo buồn. Ai cũng đau buồn và tức giận vì con cái mình đã bị bắt nhưng Đa-vít tìm được sức mạnh trong CHÚA là Thượng Đế mình.
1SA 30:7 Đa-vít bảo thầy tế lễ A-bia-tha, “Hãy mang cái áo ngắn thánh lại đây.”
1SA 30:8 Đa-vít cầu hỏi CHÚA, “Tôi có nên đuổi theo những người đã cướp vợ con chúng tôi không? Tôi có đuổi kịp họ không?” CHÚA trả lời, “Hãy đuổi theo. Ngươi chắc chắn sẽ đuổi kịp chúng và sẽ giải thoát gia đình các ngươi.”
1SA 30:9 Đa-vít và sáu trăm người đi với mình đến hố Bê-xo thì có một số người ở lại.
1SA 30:10 Đa-vít và bốn trăm người còn lại tiếp tục rượt đuổi. Hai trăm người kia ở lại vì họ quá mệt không băng qua hố nổi.
1SA 30:11 Họ bắt gặp một người Ai-cập trong ruộng mang về cho Đa-vít. Họ cho người Ai-cập đó thức ăn và nước uống.
1SA 30:12 Họ cho anh ta một miếng bánh trái vả và hai chùm nho khô. Anh thấy khỏe lại vì đã ba ngày đêm rồi anh chưa ăn uống gì cả.
1SA 30:13 Đa-vít hỏi anh, “Chủ anh là ai? Anh ở đâu đến?” Anh đáp, “Tôi là người Ai-cập, làm nô lệ cho một người A-ma-léc. Cách đây ba ngày chủ tôi bỏ tôi vì tôi bị đau.
1SA 30:14 Chúng tôi cướp phá vùng miền nam Kê-rê-thít, đất Giu-đa, và vùng miền nam của Ca-lép. Chúng tôi cũng thiêu hủy Xiếc-lác.”
1SA 30:15 Đa-vít hỏi anh ta, “Anh có thể dẫn tôi đến những người đã bắt gia đình chúng tôi không?” Anh ta đáp, “Được, nếu các ông hứa trước mặt Thượng Đế rằng sẽ không giết tôi hay trả tôi về cho chủ tôi. Như thế tôi sẽ dẫn các ông đến với họ.”
1SA 30:16 Vậy người Ai-cập dẫn Đa-vít đến với người A-ma-léc. Chúng đang nằm la liệt trên đất, ăn uống say sưa và reo mừng bằng những của cướp được trong đất Phi-li-tin và đất Giu-đa.
1SA 30:17 Đa-vít đánh chúng từ lúc mặt trời lặn cho đến chiều tối hôm sau. Không ai thoát được, ngoại trừ bốn trăm thanh niên cỡi lạc đà chạy trốn.
1SA 30:18 Đa-vít lấy lại được hai vợ của mình và tất cả những gì dân A-ma-léc đã lấy.
1SA 30:19 Không mất mát món gì. Đa-vít mang về đủ cả, trẻ già, con trai, con gái. Ông cũng thu về những của báu và mọi thứ mà quân A-ma-léc cướp đoạt.
1SA 30:20 Đa-vít cũng lấy lại tất cả chiên, bò. Những người theo Đa-vít cho các con thú đó đi trước và bảo, “Đây là chiến lợi phẩm của Đa-vít.”
1SA 30:21 Rồi Đa-vít đến chỗ hai trăm người quá mệt mỏi không theo ông được nên ở lại hố Bê-xo. Họ ra đón Đa-vít và những người theo ông. Khi họ đến gần thì Đa-vít chào hỏi họ là những người ở lại hố.
1SA 30:22 Nhưng những người xấu tính và hay gây chuyện trong số những người đi theo Đa-vít bảo, “Vì hai trăm người nầy không đi với chúng ta, cho nên đừng cho họ món gì chúng ta cướp được. Chỉ cho họ mỗi người nhận lại vợ con mình rồi đi.”
1SA 30:23 Nhưng Đa-vít bảo, “Không được, anh em! Đừng làm như thế qua những điều CHÚA đã ban cho chúng ta. Ngài đã gìn giữ chúng ta và trao vào tay chúng ta các kẻ thù đã tấn công chúng ta.
1SA 30:24 Ai mà nghe anh em được? Phần người ở lại giữ kho cũng phải bằng phần kẻ ra trận. Tất cả chia đồng đều hết.”
1SA 30:25 Đa-vít ra lệnh và lập điều đó thành qui tắc trong Ít-ra-en, tục lệ nầy vẫn còn áp dụng cho đến ngày nay.
1SA 30:26 Sau khi Đa-vít đến Xiếc-lác, ông gởi mấy món trong số những món đồ ông cướp được từ dân A-ma-léc cho các bạn hữu là các lãnh tụ Giu-đa. Ông bảo, “Đây là quà cho các anh lấy trong của cải chúng tôi cướp được từ kẻ thù của CHÚA.”
1SA 30:27 Đa-vít cũng gởi quà biếu các lãnh tụ ở Bê-tên, Ra-mốt trong vùng miền nam Giu-đa, Giát-tia,
1SA 30:28 A-rô-e, Xíp-mốt, Ết-tê-moa,
1SA 30:29 Ra-canh, các thành của dân Giê-ra-mên và dân Kê-nít.
1SA 30:30 Họt-ma, Bô-A-san, A-thách,
1SA 30:31 Hếp-rôn, và cho dân chúng ở những nơi ông và các người đi theo đã trú ngụ.
1SA 31:1 Quân Phi-li-tin lại đánh dân Ít-ra-en. Người Ít-ra-en chạy trốn trước mặt họ. Nhiều người Ít-ra-en bị giết trên núi Ghinh-bô-a.
1SA 31:2 Quân Phi-li-tin tấn công Sau-lơ và các con ông dữ dội. Họ giết các con ông là Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua.
1SA 31:3 Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt quanh Sau-lơ. Các lính cầm cung bắn trúng ông khiến ông bị thương nặng.
1SA 31:4 Ông bảo viên sĩ quan mang áo giáp mình rằng, “Hãy rút gươm ngươi và giết ta đi. Ta không muốn bọn không chịu cắt dương bì chế diễu và giết ta.” Nhưng viên sĩ quan đó sợ không dám làm. Cho nên Sau-lơ rút gươm ra và đè người trên mũi gươm rồi chết.
1SA 31:5 Khi viên sĩ quan thấy Sau-lơ chết thì cũng lấy gươm và đè người trên mũi gươm chết theo Sau-lơ.
1SA 31:6 Vậy Sau-lơ, ba con trai, và viên sĩ quan vác áo giáp của ông cùng chết trong ngày đó.
1SA 31:7 Khi dân Ít-ra-en ở đối ngang thung lũng Ghít-rê-ên và những người ở đối ngang sông Giô-đanh thấy đạo quân Ít-ra-en đã bỏ chạy, còn Sau-lơ và các con ông đã chết thì họ cũng bỏ thành chạy trốn. Rồi người Phi-li-tin vào ở trong các thành đó.
1SA 31:8 Hôm sau quân Phi-li-tin trở lại lượm các vật quí giá từ các xác chết thì chúng thấy Sau-lơ và ba con trai ông chết trên núi Ghinh-bô-a.
1SA 31:9 Chúng cắt đầu Sau-lơ và tháo áo giáp ông ra. Rồi chúng sai sứ giả đi khắp xứ Phi-li-tin loan tin trong đền thờ các thần của chúng và cho dân chúng hay.
1SA 31:10 Chúng để áo giáp Sau-lơ trong đền thờ thần Át-tô-rết và treo xác ông trên tường thành Bết-San.
1SA 31:11 Khi dân Gia-be Ghi-lê-át nghe việc người Phi-li-tin làm cho Sau-lơ,
1SA 31:12 thì các dũng sĩ Gia-be đi trọn đêm đến Bết-San. Họ gỡ xác Sau-lơ và các con trai ông khỏi tường thành Bết-San và mang về Gia-be rồi hỏa thiêu các xác đó.
1SA 31:13 Họ lấy xương các người đó đem chôn dưới gốc cây me ở Gia-be. Sau đó dân Gia-be cữ ăn bảy ngày.
2SA 1:1 Thế là Sau-lơ chết. Sau khi đánh bại dân A-ma-léc, Đa-vít trở về Xiếc-lác và ở lại đó hai ngày.
2SA 1:2 Đến ngày thứ ba có một thanh niên từ trại quân Sau-lơ chạy đến Xiếc-lác. Quần áo tả tơi, đầu dính bụi đất, anh sấp mặt xuống đất lạy Đa-vít.
2SA 1:3 Đa-vít hỏi, “Anh ở đâu đến?” Anh trả lời, “Tôi vừa thoát khỏi trại quân Ít-ra-en.”
2SA 1:4 Đa-vít hỏi tiếp, “Có chuyện gì vậy? Nói cho ta biết!” Anh đáp, “Dân chúng bỏ chạy khỏi mặt trận, nhiều người trong số họ ngã chết. Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông ta cũng chết nữa.”
2SA 1:5 Đa-vít hỏi anh, “Sao anh biết Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông ta chết?”
2SA 1:6 Thanh niên đó đáp, “Tôi tình cờ đi ngang qua núi Ghinh-bô-a. Tôi thấy Sau-lơ đang đè người trên cây giáo mình. Các quân xa và những người cỡi quân xa của Phi-li-tin đang tiến gần đến Sau-lơ.
2SA 1:7 Khi ông quay nhìn lại thấy tôi thì kêu tôi. Tôi đáp, ‘Dạ có tôi đây!’
2SA 1:8 Sau-lơ hỏi tôi, ‘Ngươi là ai?’ Tôi đáp, ‘Tôi là người A-ma-léc.’
2SA 1:9 Sau-lơ liền bảo tôi, ‘Hãy đến đây giết ta đi. Ta bị thương nặng lắm; ta gần chết rồi.’
2SA 1:10 Cho nên tôi bước lại giết ông ta. Ông ta bị thương nặng lắm và tôi biết không thể nào sống nổi. Cho nên tôi lấy cái mão triều trên đầu ông ta và cái vòng đeo tay mang đến đây dâng cho ngài, chủ tôi.”
2SA 1:11 Đa-vít nghe vậy liền xé quần áo bày tỏ lòng đau buồn. Những người theo ông cũng làm như thế.
2SA 1:12 Họ vô cùng buồn bã, than khóc và không ăn uống gì cho đến chiều tối. Họ than khóc cho Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông và cho đạo quân Ít-ra-en vì họ đã chết trong chiến trận.
2SA 1:13 Đa-vít hỏi chàng thanh niên mang tin đó, “Anh ở đâu tới?” Chàng thanh niên đáp, “Tôi là con của một người ngoại quốc, người A-ma-léc.”
2SA 1:14 Đa-vít hỏi hắn, “Sao anh dám cả gan giết vua mà CHÚA đã bổ nhiệm?”
2SA 1:15 Rồi Đa-vít bảo một trong những người của ông, “Hãy giết tên A-ma-léc nầy đi!” Vì thế một người của Đa-vít liền giết hắn.
2SA 1:16 Đa-vít đã bảo người A-ma-léc, “Anh phải chịu trách nhiệm về cái chết của mình. Chính anh đã khai ra rằng, ‘Tôi đã giết vua được CHÚA bổ nhiệm.’”
2SA 1:17 Đa-vít hát một bài ai ca cho Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông,
2SA 1:18 và ra lệnh dạy cho tất cả dân Giu-đa bài hát nầy. Bài đó được gọi là “Cái cung,” và được chép trong sách Gia-xa:
2SA 1:19 “Hỡi Ít-ra-en, các lãnh tụ ngươi đã bị giết trên đồi. Các dũng sĩ đã ngã chết trong chiến trận!
2SA 1:20 Chớ loan tin nầy trong Gát. Đừng báo tin đó trong các đường phố Ách-kê-lôn. Nếu không, các đàn bà Phi-li-tin sẽ vui mừng. Các con gái của bọn không chịu cắt dương bì sẽ hớn hở.
2SA 1:21 Nguyền cho sương và mưa mới đừng rơi trên núi Ghinh-bô-a, và đồng ruộng nó đừng mọc thóc lúa, vì đó là nơi khiên của dũng sĩ bị dơ bẩn. Cái khiên của Sau-lơ không còn được đánh dầu bóng nữa.
2SA 1:22 Cung của Giô-na-than giết nhiều chiến sĩ, Gươm của Sau-lơ cũng là nhiều dũng sĩ bị thương tích.
2SA 1:23 Chúng ta yêu Sau-lơ và Giô-na-than và ưa thích họ khi họ còn sống. Họ chết chung với nhau. Họ nhanh hơn chim ưng. Mạnh hơn sư tử.
2SA 1:24 Các con gái Ít-ra-en ơi, hãy than khóc cho Sau-lơ. Sau-lơ đã khoác áo đỏ cho các ngươi, và trang sức các ngươi bằng vàng.
2SA 1:25 Các dũng sĩ đã ngã chết trong chiến trận! Giô-na-than đã chết trên đồi Ghinh-bô-a!
2SA 1:26 Anh Giô-na-than ơi! Tôi than khóc cho anh. Tôi yêu thích anh lắm. Tình yêu của anh dành cho tôi thật tuyệt diệu, hơn cả tình yêu người nữ.
2SA 1:27 Các dũng sĩ đã ngã chết rồi! Vũ khí chiến tranh không còn nữa.”
2SA 2:1 Sau đó Đa-vít cầu khẩn CHÚA như sau, “Tôi có nên đi chiếm thành nào trong Giu-đa hay không?” CHÚA đáp, “Hãy đi.” Đa-vít hỏi, “Thành nào?” CHÚA đáp, “Thành Hếp-rôn.”
2SA 2:2 Vậy Đa-vít cùng hai vợ: A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên, và A-bi-ga-in, vợ góa của Na-banh ở Cạt-mên, đi lên Hếp-rôn.
2SA 2:3 Đa-vít cũng mang các thuộc hạ cùng gia đình họ lên định cư ở các thị trấn quanh Hếp-rôn.
2SA 2:4 Sau đó các người Giu-đa đến Hếp-rôn cử Đa-vít làm vua trên Giu-đa. Họ cũng cho Đa-vít hay là những người ở Gia-be Ghi-lê-át đã chôn cất Sau-lơ.
2SA 2:5 Vậy Đa-vít cử đại diện đến dân Gia-be Ghi-lê-át nói rằng, “Nguyện CHÚA ban phước cho các ngươi. Các ngươi đã tỏ lòng trung kiên đối với chủ ta là Sau-lơ bằng cách chôn cất người.
2SA 2:6 Nguyện CHÚA cũng trung kiên và chân thật đối cùng các ngươi. Ta cũng sẽ hậu đãi các ngươi vì các ngươi đã làm điều đó.
2SA 2:7 Bây giờ hãy mạnh dạn và can đảm. Sau-lơ chủ các ngươi đã chết, còn dân chúng trong Giu-đa đã cử ta làm vua trên họ.”
2SA 2:8 Áp-ne, con trai Nê-rơ làm tư lệnh quân đội của Sau-lơ. Áp-ne mang Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ đến Ma-ha-na-im
2SA 2:9 và đặt ông lên ngôi vua của Ghi-lê-át, A-su-ri, Ghít-rê-ên, Ép-ra-im, Bên-gia-min, và toàn thể Ít-ra-en.
2SA 2:10 Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ được bốn mươi tuổi khi lên làm vua Ít-ra-en. Ông cai trị hai năm. Nhưng dân Giu-đa thì đi theo Đa-vít.
2SA 2:11 Đa-vít làm vua trên dân Giu-đa ở Hếp-rôn bảy năm sáu tháng.
2SA 2:12 Áp-ne, con trai Nê-rơ và các tôi tớ của Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, rời Ma-na-ha-im đi đến Ghi-bê-ôn.
2SA 2:13 Giô-áp con trai Xê-ru-gia, và những người của Đa-vít cũng đi đến đó và gặp Áp-ne cùng những người của Ích-bô-sết ở hồ Ghi-bê-ôn. Nhóm của Áp-ne ngồi bên nầy hồ; nhóm của Giô-áp ngồi bên kia hồ.
2SA 2:14 Áp-ne nói với Giô-áp, “Hãy mở cuộc tranh tài giữa các bạn trẻ ở đây đi.” Giô-áp, “Ừ, phải đó. Hãy mở cuộc tranh tài đi.”
2SA 2:15 Rồi các bạn trẻ đứng dậy, về phía Bên-gia-min thuộc bên Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, đếm được mười hai người, về phía Đa-vít cũng có mười hai người.
2SA 2:16 Mỗi người nắm đầu đối thủ và lấy dao đâm vào hông lẫn nhau. Vậy các người trẻ đều chết chung với nhau. Vì thế mà nơi đó trong Ghi-bê-ôn gọi là Ruộng Dao.
2SA 2:17 Ngày đó có cuộc ác chiến dữ dội, các người theo Đa-vít đánh bại Áp-ne và người Ít-ra-en.
2SA 2:18 Ba con trai của Xê-ru-gia, Giô-áp, A-bi-sai, và A-sa-ên có mặt tại đó. A-sa-ên chạy rất nhanh như nai trong đồng vậy.
2SA 2:19 A-sa-ên đuổi theo Áp-ne, chạy thẳng tới người.
2SA 2:20 Áp-ne quay lại hỏi, “Có phải A-sa-ên đó không?” A-sa-ên đáp, “Phải.”
2SA 2:21 Áp-ne bảo A-sa-ên, “Hãy quay qua bên phải hay bên trái ngươi và bắt lấy một trong những thanh niên rồi lấy đồ đạc của nó làm chiến lợi phẩm.” Nhưng A-sa-ên nhất quyết đuổi theo Áp-ne.
2SA 2:22 Một lần nữa Áp-ne bảo A-sa-ên, “Đừng đuổi theo ta nữa! Nếu không ta phải giết ngươi đó! Nếu thế thì ta không mặt mũi nào nhìn anh ngươi là Giô-áp được!”
2SA 2:23 Nhưng A-sa-ên không ngưng đuổi theo Áp-ne. Nên Áp-ne dùng cán gươm đâm vào bụng A-sa-ên, thấu ra sau lưng. A-sa-ên chết ngay tại đó, và mọi người chạy đến chỗ A-sa-ên chết đều dừng lại.
2SA 2:24 Tuy nhiên Giô-áp và A-bi-sai tiếp tục đuổi theo Áp-ne. Khi mặt trời vừa lặn thì họ đến đồi Am-ma, gần Ghi-a trên con đường đi đến sa mạc gần Ghi-bê-ôn.
2SA 2:25 Các người Bên-gia-min đến cùng Áp-ne và tất cả đều đứng trên đồi.
2SA 2:26 Áp-ne kêu lớn cùng Giô-áp, “Gươm của ngươi cứ giết hại mãi sao? Ngươi hẳn biết rằng chuyện nầy chỉ đưa đến thảm sầu thôi! Bảo dân chúng thôi đừng đuổi theo anh em mình nữa!”
2SA 2:27 Giô-áp bảo, “Có Thượng Đế hằng sống chứng giám, ta tuyên bố rằng, nếu ngươi không nói gì cả thì dân chúng cũng vẫn đuổi theo anh em mình đến sáng hôm sau.”
2SA 2:28 Thế là Giô-áp thổi kèn. Dân chúng liền thôi đuổi theo người Ít-ra-en. Họ cũng không đánh nhau với người Ít-ra-en nữa.
2SA 2:29 Áp-ne và các người của ông đi trọn đêm đến thung lũng sông Giô-đanh. Họ băng qua sông Giô-đanh, và sau khi đi suốt ngày thì đến Ma-ha-na-im.
2SA 2:30 Sau khi thôi đuổi theo Áp-ne thì Giô-áp trở về tập họp dân chúng lại thì thấy thiếu mất A-sa-ên và mười chín người của Đa-vít.
2SA 2:31 Nhưng những người của Đa-vít giết ba trăm sáu mươi người Bên-gia-min đã đi theo Áp-ne.
2SA 2:32 Những người của Đa-vít lấy xác A-sa-ên và chôn trong mộ của cha người ở Bết-lê-hem. Rồi Giô-áp và những người theo mình đi suốt đêm. Khi mặt trời mọc lên thì họ đến Hếp-rôn.
2SA 3:1 Chiến tranh tiếp diễn lâu ngày giữa những người thuộc nhà Sau-lơ và nhà Đa-vít. Nhà Đa-vít càng ngày càng mạnh, còn nhà Sau-lơ càng ngày càng yếu.
2SA 3:2 Các con trai của Đa-vít sinh ra ở Hếp-rôn. Con trưởng nam là Am-môn, mẹ là A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên.
2SA 3:3 Con thứ nhì là Ki-lê-áp, mẹ là A-bi-ga-in, vợ góa của Na-banh ở Cạt-mên. Con thứ ba là Áp-xa-lôm, mẹ là Ma-a-ca, con gái Thanh-mai, vua Ghê-sua.
2SA 3:4 Con thứ tư là A-đô-ni-gia, mẹ là Ha-ghít. Con thứ năm là Sê-pha-tia, mẹ là A-bi-tan.
2SA 3:5 Con thứ sáu là Ít-rê-am, mẹ là Éc-la, vợ Đa-vít. Đó là những con trai Đa-vít sinh ở Hếp-rôn.
2SA 3:6 Trong khi chiến tranh diễn ra giữa những người ủng hộ nhà Sau-lơ và những người ủng hộ nhà Đa-vít thì Áp-ne tìm cách lập mình làm lãnh tụ nhóm ủng hộ Sau-lơ.
2SA 3:7 Sau-lơ có một người vợ lẽ tên Rít-ba, con gái Ai-gia. Ích-bô-sết hỏi Áp-ne, “Sao anh ăn nằm với vợ lẽ của cha tôi?”
2SA 3:8 Áp-ne vô cùng tức giận về câu nói của Ích-bô-sết, nên ông đáp, “Tôi đã trung thành với Sau-lơ, gia đình ông ta cùng bạn hữu ông ta! Tôi đã không trao anh vào tay Đa-vít. Tôi đâu có phải là tên phản bội làm việc cho Giu-đa đâu? Bây giờ anh lại bảo tôi lăng nhăng với người đàn bà nầy!
2SA 3:9 Nếu tôi không làm điều CHÚA đã hứa với Đa-vít thành sự thật thì xin CHÚA phạt tôi!
2SA 3:10 Tôi sẽ lấy nước từ nhà Sau-lơ và khiến cho Đa-vít làm vua trên Ít-ra-en lẫn Giu-đa, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba!”
2SA 3:11 Ích-bô-sết không dám nói gì thêm với Áp-ne vì sợ ông ta.
2SA 3:12 Áp-ne sai sứ hỏi thăm Đa-vít như sau, “Ai sẽ cai trị đất nước? Hãy lập ước với tôi, tôi sẽ giúp ông thống nhất cả Ít-ra-en.”
2SA 3:13 Đa-vít trả lời, “Tốt! Ta sẽ lập ước với ngươi nhưng ta xin ngươi làm một điều. Ta chỉ có thể gặp ngươi nếu ngươi mang Mi-canh, con gái Sau-lơ đến cho ta.”
2SA 3:14 Rồi Đa-vít sai sứ đến Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ bảo rằng, “Hãy trả Mi-canh, vợ ta lại cho ta. Nàng đã được hứa gả cho ta, ta đã phải giết một trăm người Phi-li-tin, lấy dương bì của chúng mang về cho Sau-lơ để cưới nàng.”
2SA 3:15 Vậy Ích-bô-sết sai người đến bắt Mi-canh khỏi tay chồng nàng là Ba-tiên, con của La-ít.
2SA 3:16 Chồng Mi-canh vừa khóc vừa đi theo nàng đến Ba-hu-rim. Nhưng Áp-ne bảo, “Hãy đi về nhà đi.” Cho nên anh ta trở về nhà.
2SA 3:17 Áp-ne nhắn các lãnh tụ Ít-ra-en như sau: “Các ngươi xưa nay vẫn muốn tôn Đa-vít làm vua.
2SA 3:18 Bây giờ hãy thực hiện điều đó đi! CHÚA đã phán cùng Đa-vít, ‘Qua Đa-vít, ta sẽ giải cứu Ít-ra-en khỏi tay dân Phi-li-tin và mọi kẻ thù của họ.’”
2SA 3:19 Áp-ne cũng nhắn như thế cho dân Bên-gia-min. Rồi ông đi đến Hếp-rôn thuật cho Đa-vít biết những gì người Bên-gia-min và Ít-ra-en định làm.
2SA 3:20 Áp-ne và hai mươi người đến cùng Đa-vít tại Hếp-rôn. Đa-vít bày một bữa tiệc tiếp đón họ.
2SA 3:21 Áp-ne bảo Đa-vít, “Thưa chủ và vua tôi, tôi sẽ đi mang tất cả người Ít-ra-en về với vua. Rồi họ sẽ lập ước với vua để vua cai trị cả Ít-ra-en như vua muốn.” Vậy Đa-vít để Áp-ne ra đi, nên ông ra đi bình yên.
2SA 3:22 Lúc đó thì Giô-áp và các người của Đa-vít từ chiến trận trở về, mang theo nhiều chiến lợi phẩm lấy từ kẻ thù. Đa-vít đã để Áp-ne đi bình yên cho nên ông ta không có mặt với Đa-vít ở Hếp-rôn.
2SA 3:23 Khi Giô-áp và đạo quân đến Hếp-rôn thì các binh sĩ thuật với Giô-áp, “Áp-ne, con Nê-rơ, đến gặp vua Đa-vít, và Đa-vít để ông ta về bình yên.”
2SA 3:24 Giô-áp đến gặp vua và hỏi, “Vua làm gì kỳ vậy? Áp-ne đến với vua, tại sao vua để anh ta đi? Bây giờ anh ta đi mất rồi.
2SA 3:25 Vua biết Áp-ne, con Nê-rơ mà! Hắn chỉ đến để gạt vua thôi! Hắn đến để thăm dò những gì vua làm!”
2SA 3:26 Sau khi rời Đa-vít, Giô-áp liền sai sứ chạy theo Áp-ne, mang ông về từ giếng Xi-ra. Nhưng Đa-vít không hay biết chuyện đó.
2SA 3:27 Khi Áp-ne đến Hếp-rôn thì Giô-áp mang ông riêng ra ngoài cổng. Ông ta làm như muốn nói chuyện riêng với Áp-ne, rồi Giô-áp đâm Áp-ne vào bụng, Áp-ne chết. Vì Áp-ne đã giết A-sa-ên, em Giô-áp, nên Giô-áp giết Áp-ne để báo thù.
2SA 3:28 Về sau khi Đa-vít hay tin đó liền nói, “Nước ta và ta đời đời hoàn toàn vô tội về cái chết của Áp-ne, con Nê-rơ. CHÚA biết điều đó.
2SA 3:29 Giô-áp và nhà nó sẽ chịu trách nhiệm về việc nầy. Nguyện gia đình nó luôn luôn có người bị ghẻ chốc hay bệnh ngoài da. Nguyện chúng nó luôn luôn có người tàn tật. Nguyện có người trong gia đình nó bị chết vì giặc giã. Nguyện chúng nó luôn luôn có người bị đói.”
2SA 3:30 Giô-áp và A-bi-sai, em ông, giết Áp-ne, vì Áp-ne đã giết A-sa-ên, em họ, trong trận chiến ở Ghi-bê-ôn.
2SA 3:31 Sau đó Đa-vít bảo Giô-áp cùng tất cả những người theo Giô-áp rằng, “Hãy xé quần áo các ngươi ra và mặc vải sô để tỏ lòng buồn thảm. Hãy than khóc cho Áp-ne.” Chính vua Đa-vít cũng đi sau quan tài Áp-ne.
2SA 3:32 Họ chôn ông ở Hếp-rôn. Đa-vít cùng dân chúng than khóc bên mộ Áp-ne.
2SA 3:33 Vua Đa-vít hát bài ai ca nầy cho Áp-ne. “Áp-ne chết như người điên sao?
2SA 3:34 Hai tay người không bị trói. Chân người không bị xiềng. Người ngã chết trong tay kẻ độc ác.” Rồi toàn dân than khóc Áp-ne.
2SA 3:35 Dân chúng đến khuyên Đa-vít ăn trong khi trời còn sáng nhưng ông hứa rằng, “Nếu ta ăn bánh hay thứ gì khác trước khi mặt trời lặn, nguyện Thượng Đế trừng phạt ta nặng nề!”
2SA 3:36 Toàn dân thấy mọi việc xảy ra, họ đồng ý với những gì vua đang làm và đã làm.
2SA 3:37 Ngày đó tất cả dân Giu-đa và Ít-ra-en hiểu rằng không phải Đa-vít ra lệnh giết Áp-ne, con Nê-rơ.
2SA 3:38 Đa-vít bảo các sĩ quan, “Các ngươi nên nhớ rằng hôm nay một vĩ nhân đã chết trong Ít-ra-en.
2SA 3:39 Mặc dù ta được bổ nhiệm làm vua nhưng ta còn cô thế. Các con trai Xê-ru-gia quá mạnh đối với ta. Nguyện CHÚA trừng phạt chúng nó thật xứng đáng.”
2SA 4:1 Khi Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, nghe tin Áp-ne đã chết ở Hếp-rôn thì đâm ra hoảng sơ, cả dân Ít-ra-en cũng thế.
2SA 4:2 Con trai Sau-lơ có hai người làm chỉ huy trong quân đội của ông. Một người tên Ba-a-na, người kia tên Rê-cáp. Hai người là con của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, người Bên-gia-min. Thị trấn Bê-ê-rốt thuộc chi tộc Bên-gia-min.
2SA 4:3 Dân Bê-ê-rốt chạy trốn đến Ghít-ta-im, và ngày nay vẫn còn cư ngụ tại đó như ngoại kiều.
2SA 4:4 Giô-na-than, con Sau-lơ, có một con trai tên Mê-phi-bô-sết, bị què hai chân. Cậu được năm tuổi khi được tin từ Ghít-rê-ên là cả Sau-lơ và Giô-na-than đều đã chết. Người vú nuôi bồng Mê-phi-bô-sết chạy trốn nhưng đang khi hấp tấp chạy làm té cậu cho nên cậu bị què.
2SA 4:5 Rê-cáp và Ba-a-na, con trai Rim-môn, từ Bê-ê-rốt, đến nhà Ích-bô-sết vào buổi xế trưa khi ông đang ngủ.
2SA 4:6 Họ đi vào ngay giữa nhà giả bộ lấy lúa mì. Ích-bô-sết lúc đó đang nằm trên giường. Rê-cáp và Ba-a-na đâm vào bụng Ích-bô-sết, giết chết ông, cắt đầu mang đi. Rồi họ trốn và đi suốt đêm qua thung lũng sông Giô-đanh.
2SA 4:8 Khi đến Hếp-rôn họ dâng đầu cho Đa-vít và bảo vua, “Đây là đầu của Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, kẻ thù của vua. Hắn đã tìm cách giết vua! Ngày nay CHÚA đã báo ứng cho Sau-lơ và con cháu người về những gì người đã làm cho vua.”
2SA 4:9 Đa-vít trả lời với Rê-cáp và em là Ba-a-na, con trai Rim-môn ở Bê-ê-rốt, “Ta thề trong danh CHÚA hằng sống Đấng đã giải cứu ta khỏi mọi hoạn nạn!
2SA 4:10 Lần đó có người tưởng mang tin mừng đến cho ta khi bảo, ‘Sau-lơ chết rồi!’ Ta bắt và giết nó ở Xiếc-lác. Đó là phần thưởng ta dành cho kẻ mang tin như thế!
2SA 4:11 Cho nên ta phải xử tử các người gian ác như mấy anh vì đã giết một người vô tội đang khi người đó nằm trên giường trong nhà mình!”
2SA 4:12 Vậy Đa-vít ra lệnh cho thuộc hạ giết Rê-cáp và Ba-a-na. Họ chặt tay và chân Rê-cáp và Ba-a-na treo xác chúng trên hồ Hếp-rôn. Rồi họ lấy đầu Ích-bô-sết và chôn trong mộ của Áp-ne ở Hếp-rôn.
2SA 5:1 Rồi tất cả các chi tộc trong Ít-ra-en đến nói cùng Đa-vít tại Hếp-rôn rằng, “Nầy, chúng tôi cùng trong gia tộc với ông.
2SA 5:2 Khi Sau-lơ còn làm vua, ông đã là người hướng dẫn Ít-ra-en trong chiến trận. CHÚA phán cùng ông, ‘Ngươi sẽ làm người chăn dắt dân Ít-ra-en ta. Ngươi sẽ lãnh đạo họ.’”
2SA 5:3 Vậy tất cả các bô lão Ít-ra-en đến gặp vua Đa-vít tại Hếp-rôn và ông lập ước với họ tại đó truớc mặt CHÚA. Rồi họ đổ dầu trên Đa-vít để cử ông làm vua trên Ít-ra-en.
2SA 5:4 Đa-vít được ba mươi tuổi khi lên ngôi vua và trị vì bốn mươi năm.
2SA 5:5 Ông cai trị trên Giu-đa bảy năm sáu tháng ở Hếp-rôn, và làm vua trên cả Ít-ra-en lẫn Giu-đa ba mươi ba năm ở Giê-ru-sa-lem.
2SA 5:6 Khi vua Đa-vít và những người theo ông đi đến Giê-ru-sa-lem để đánh dân Giê-bu-sít ở đó thì người Giê-bu-sít bảo Đa-vít, “Ngươi không thể xâm nhập vào thành chúng ta được đâu vì bọn mù hay què cũng đủ ngăn chận ngươi rồi.” Chúng đoán rằng Đa-vít không thể xông vào thành chúng được.
2SA 5:7 Nhưng Đa-vít chiếm được thành kiên cố gọi là Xi-ôn, và biến nó ra thành Đa-vít.
2SA 5:8 Hôm ấy Đa-vít bảo những người đi theo, “Các ngươi phải đi qua đường hầm dẫn nước đến chỗ bọn kẻ thù ‘què’ và ‘mù’ Giê-bu-sít ấy. Các ngươi phải giết chúng vì Đa-vít ghét chúng. Vì thế mà người ta có câu, ‘Kẻ mù và què không được vào cung điện.’”
2SA 5:9 Vậy Đa-vít ở trong thành có vách vững bền, kiên cố và gọi nó là thành Đa-vít. Đa-vít xây thêm nhiều toà nhà quanh đó, bắt đầu từ chỗ Mi-lô và hướng vào trong. Ông cũng xây nhiều toà nhà nữa bên trong thành.
2SA 5:10 Ông trở nên càng ngày càng hùng mạnh vì CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng ở với ông.
2SA 5:11 Hi-ram, vua thành Tia sai sứ đến cùng Đa-vít và gởi theo các cây hương nam, thợ mộc, và thợ đẽo đá. Họ xây một cung điện cho Đa-vít.
2SA 5:12 Đa-vít liền hiểu ra rằng CHÚA đã thực sự đặt ông làm vua trên Ít-ra-en và rằng CHÚA đã làm cho vương quốc ông hùng mạnh vì CHÚA yêu dân Ít-ra-en của Ngài.
2SA 5:13 Sau khi từ Hếp-rôn đến, Đa-vít lấy thêm các vợ và thê thiếp ở Giê-ru-sa-lem. Đa-vít sinh thêm nhiều con trai và con gái.
2SA 5:14 Đây là tên của những con trai sinh cho Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem: Sam-mua, Sô-báp, Na-than, Sô-lô-môn,
2SA 5:15 Íp-ha, Ê-li-sua, Nê-phéc, Gia-phia,
2SA 5:16 Ê-li-sa-ma, Ê-li-a-đa, và Ê-li-phê-lết.
2SA 5:17 Khi quân Phi-li-tin nghe Đa-vít đã được bổ nhiệm làm vua trên Ít-ra-en thì tất cả quân Phi-li-tin đi lùng kiếm ông. Khi Đa-vít nghe tin ấy thì liền rút vào mật khu.
2SA 5:18 Quân Phi-li-tin đến đóng trại trong thung lũng Rê-phi-đim.
2SA 5:19 Đa-vít cầu hỏi CHÚA, “Tôi có nên tấn công quân Phi-li-tin không? Ngài có trao chúng vào tay tôi không?” CHÚA bảo Đa-vít, “Hãy đi tấn công chúng! Ta sẽ trao chúng vào tay ngươi.”
2SA 5:20 Vậy Đa-vít đi đến Ba-anh Phê-ra-xim và đánh bại quân Phi-li-tin ở đó. Đa-vít nói, “CHÚA đã phá vỡ hàng rào địch quân trước mặt tôi như thác lũ.” Đa-vít gọi chỗ đó là Ba-anh Phê-ra-xim.
2SA 5:21 Quân Phi-li-tin bỏ lại các thần tượng của chúng tại Ba-anh Phê-ra-xim, cho nên Đa-vít và những người theo ông lấy mang đi.
2SA 5:22 Một lần nữa người Phi-li-tin đến đóng quân tại thung lũng Rê-phi-đim.
2SA 5:23 Khi Đa-vít cầu hỏi CHÚA thì Ngài đáp, “Đừng tấn công chúng ngay trước mặt nhưng hãy đi vòng và tấn công chúng gần cây dương.
2SA 5:24 Khi ngươi nghe tiếng bước chân xào xạc trên cây dương thì hãy ra tay. Ta sẽ đi trước ngươi để đánh bại đạo quân Phi-li-tin.”
2SA 5:25 Đa-vít làm y như CHÚA truyền dặn. Ông đánh bại quân Phi-li-tin và rượt đuổi theo chúng từ Ghê-be cho đến Ghê-xe.
2SA 6:1 Đa-vít một lần nữa tập họp những binh sĩ chọn lọc trong Ít-ra-en khoảng ba mươi ngàn người.
2SA 6:2 Rồi ông và toàn thể dân chúng đi đến Ba-a-la trong Giu-đa rước Rương Giao Ước của Thượng Đế về. Rương được gọi theo tên đó, tức danh CHÚA Toàn Năng, ngôi Ngài ở bên trên hai sinh vật bằng vàng có cánh.
2SA 6:3 Họ đặt Rương trên một cái xe đẩy mới và mang ra khỏi nhà A-bi-na đáp trên đồi. U-xa và A-hi-ô, hai con trai A-bi-na-đáp hướng dẫn chiếc xe
2SA 6:4 trên đó có Rương của Thượng Đế. A-hi-ô đi trước rương.
2SA 6:5 Đa-vít và toàn dân Ít-ra-en reo mừng trước mặt CHÚA. Họ trỗi các loại đờn bằng gỗ: đờn tranh, đờn cầm, trống cơm, chập chỏa.
2SA 6:6 Khi những người của Đa-vít đến sân đập lúa của Na-côn thì các con bò bị vấp chân ngã. U-xa liền giơ tay ra đỡ Rương của Thượng Đế.
2SA 6:7 CHÚA nổi giận và giết U-xa ngay tại chỗ. U-xa chết bên cạnh Rương của Thượng Đế.
2SA 6:8 Đa-vít tức giận vì CHÚA giết U-xa. Ngày nay chỗ đó gọi là Phê-rê U-xa.
2SA 6:9 Hôm ấy Đa-vít sợ CHÚA nên ông bảo, “Làm sao Rương của CHÚA vào nơi ta được?”
2SA 6:10 Nên Đa-vít không rước Rương của CHÚA vào thành Đa-vít mà đưa Rương đến nhà Ô-bết Ê-đôm, người miền Gát.
2SA 6:11 Rương của CHÚA ở trong nhà Ô-bết Ê-đôm ba tháng. CHÚA ban phước cho Ô-bết Ê-đôm, người miền Gát và gia đình ông.
2SA 6:12 Dân chúng bảo Đa-vít, “CHÚA đã ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và những gì thuộc về người vì Rương Giao Ước của CHÚA ở đó.” Vậy Đa-vít xuống rước Rương từ nhà Ô-bết Ê-đôm lên thành Đa-vít trong niềm hân hoan.
2SA 6:13 Khi những người mang Rương của CHÚA đi được sáu bước thì Đa-vít dâng một con bò đực và một con bò con mập làm sinh tế.
2SA 6:14 Rồi Đa-vít ra sức nhảy múa trước mặt CHÚA. Ông mặc một cái áo thánh ngắn.
2SA 6:15 Đa-vít và toàn dân Ít-ra-en reo mừng vui vẻ và thổi kèn khi họ rước Rương của CHÚA vào trong thành.
2SA 6:16 Khi Rương của CHÚA vào trong thành Đa-vít thì Mi-canh, con gái Sau-lơ, nhìn qua cửa sổ. Khi nàng thấy Đa-vít nhảy múa trước mặt CHÚA thì trong lòng khinh dể ông.
2SA 6:17 Đa-vít dựng một cái lều cho Rương của CHÚA, và dân Ít-ra-en đặt Rương ấy vào trong lều. Đa-vít dâng của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu trước mặt CHÚA.
2SA 6:18 Sau khi Đa-vít đã dâng của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu thì ông chúc phước cho dân chúng nhân danh CHÚA Toàn Năng.
2SA 6:19 Đa-vít cấp cho mỗi người đàn ông và đàn bà Ít-ra-en một ổ bánh, một bánh trái chà là, một bánh nho khô. Rồi mỗi người đi về nhà mình.
2SA 6:20 Đa-vít cũng về chúc phước cho những người trong gia đình mình nhưng Mi-canh con gái Sau-lơ ra đón ông và bảo, “Vua Ít-ra-en hôm nay hành động đẹp mặt lắm! Anh cởi quần áo trước mặt các nàng hầu của các sĩ quan anh như người thoát y không biết xấu hổ!”
2SA 6:21 Đa-vít bảo Mi-canh, “Anh làm điều đó trước mặt CHÚA. CHÚA chọn anh, không chọn cha em hay người nào trong nhà Sau-lơ. CHÚA bổ nhiệm anh cai trị trên Ít-ra-en cho nên anh sẽ còn reo vui trước mặt CHÚA.
2SA 6:22 Mất thêm danh dự nữa cũng không sao. Có thể theo ý em, anh sẽ xấu hổ thêm nhưng những nàng hầu mà em nói sẽ tôn trọng anh!”
2SA 6:23 Từ đó, Mi-canh, con gái Sau-lơ không có con nữa cho đến khi nàng chết.
2SA 7:1 Vua Đa-vít ở trong cung điện còn CHÚA ban cho ông thái bình khắp nơi.
2SA 7:2 Đa-vít bảo nhà tiên tri Na-than, “Nầy, tôi đang ở trong một cung điện làm bằng cây hương nam mà Rương của Thượng Đế lại ở trong lều!”
2SA 7:3 Na-than bảo vua, “Vua cứ việc làm điều gì mình muốn vì CHÚA ở cùng vua.”
2SA 7:4 Nhưng đêm đó CHÚA phán cùng Na-than như sau,
2SA 7:5 “Đi bảo tôi tớ ta là Đa-vít rằng, ‘CHÚA phán như sau: Ngươi muốn xây một nhà cho ta ở phải không?
2SA 7:6 Từ khi ta mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập cho đến nay, ta không ở trong một nhà nào. Trong thời gian đó ta di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác trong lều.
2SA 7:7 Khi ta di chuyển cùng với dân Ít-ra-en, ta chưa hề bảo cùng các chi tộc mà ta truyền phải chăm lo cho dân Ít-ra-en ta rằng, Sao các ngươi không cất cho ta một ngôi đền bằng gỗ hương nam?’”
2SA 7:8 Ngươi phải bảo Đa-vít, kẻ tôi tớ ta như sau, “CHÚA Toàn Năng phán: Ta rút ngươi ra từ đồng cỏ, từ sau bầy chiên, đặt ngươi làm lãnh tụ dân Ít-ra-en ta.
2SA 7:9 Ta đã ở cùng ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi và đánh bại các kẻ thù cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi nổi danh như bất cứ vĩ nhân nào trên đất.
2SA 7:10 Ta cũng sẽ chọn một chỗ cho dân Ít-ra-en ta, và ta sẽ đặt chúng vào đó để chúng sẽ sống trong nhà mình. Sẽ không còn ai quấy nhiễu chúng. Những kẻ ác sẽ không còn khuấy rối chúng như trước kia
2SA 7:11 khi ta chọn những quan án cho dân Ít-ra-en ta. Nhưng ta sẽ ban cho ngươi bình yên bốn bên. Ta cũng bảo ngươi rằng ta sẽ khiến dòng dõi ngươi làm vua trên Ít-ra-en sau ngươi.
2SA 7:12 Sau khi ngươi qua đời về cùng tổ tiên rồi thì ta sẽ chọn một đứa con ngươi làm vua kế vị và sẽ lập nước nó vững bền.
2SA 7:13 Nó sẽ cất một nơi ở cho ta, và ta sẽ để cho nước nó trị vì mãi mãi.
2SA 7:14 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Khi nó phạm tội, ta sẽ dùng kẻ khác trừng phạt nó. Họ sẽ làm cái roi cho ta.
2SA 7:15 Ta đã cất lấy tình yêu ta ra khỏi Sau-lơ là người ta dẹp bỏ trước ngươi nhưng ta sẽ luôn luôn yêu thương con ngươi.
2SA 7:16 Nhà ngươi, nước ngươi và ngôi ngươi sẽ còn đời đời trước mặt ta.”
2SA 7:17 Na-than thuật lại cho Đa-vít mọi điều Thượng Đế nói trong sự hiện thấy.
2SA 7:18 Sau đó Đa-vít đến ngồi trước mặt CHÚA. Đa-vít hỏi, “CHÚA là Thượng Đế ơi, con là ai? Gia đình con là gì mà Ngài mang con đến đây?
2SA 7:19 Lạy CHÚA, như thế nầy chưa đủ mà Ngài còn hứa về tương lai của gia đình con. Lạy CHÚA, thế nầy thật là quá khác thường.
2SA 7:20 Lạy Chúa là Thượng Đế, con còn biết thưa gì với Ngài vì Ngài biết con, kẻ tôi tớ Ngài quá rõ!
2SA 7:21 Ngài đã làm điều to tát nầy vì Ngài muốn làm và Ngài đã cho con biết điều đó.
2SA 7:22 Lạy Chúa là Thượng Đế, vì thế Ngài là Đấng cao cả! Không có ai giống như Ngài. Không có Thượng Đế nào ngoài Ngài. Chính chúng con đã nghe mọi điều đó!
2SA 7:23 Không có dân tộc nào như dân Ít-ra-en của Ngài. Họ là dân duy nhất trên đất được Ngài chọn riêng cho mình. Ngài làm cho mọi người biết đến danh Ngài. Ngài làm những phép lạ lớn lao kỳ diệu cho họ. Ngài đi trước họ và đánh đuổi các dân tộc và các thần ra khỏi xứ. Ngài giải cứu dân Ngài ra khỏi ách nô lệ trong Ai-cập.
2SA 7:24 Ngài chọn dân Ít-ra-en thuộc riêng về Ngài đến đời đời và lạy CHÚA, Ngài là Thượng Đế họ.
2SA 7:25 Bây giờ, Lạy Chúa là Thượng Đế, xin giữ lời hứa đời đời mà Ngài đã hứa cùng gia đình con và con, kẻ tôi tớ CHÚA. Xin làm theo như điều Ngài phán.
2SA 7:26 Rồi Ngài sẽ được tôn trọng mãi mãi, và người ta sẽ bảo, ‘CHÚA Toàn Năng là Thượng Đế trên Ít-ra-en!’ Còn nhà Đa-vít, kẻ tôi tớ CHÚA sẽ vững bền mãi trước mặt Ngài.
2SA 7:27 Lạy CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en, Ngài đã phán cùng con, ‘Ta sẽ làm cho gia đình ngươi được cao trọng.’ Cho nên, con, kẻ tôi tớ Ngài dám cầu nguyện cùng Ngài.
2SA 7:28 Lạy CHÚA, Ngài là Thượng Đế, và lời phán của Ngài chân thật. Ngài đã hứa những điều tốt lành nầy cho con, kẻ tôi tớ Ngài.
2SA 7:29 Xin ban phước cho gia đình con. Xin cho nhà con còn mãi trước mặt Ngài. Lạy Chúa là Thượng Đế vì Ngài đã phán như vậy. Xin hãy chúc phước lành cho gia đình con.”
2SA 8:1 Sau đó Đa-vít đánh bại quân Phi-li-tin, chế ngự chúng, và chiếm thành Mê-thết Am-ma.
2SA 8:2 Ông cũng đánh thắng dân Mô-áp. Ông bắt chúng nằm dài xuống đất, rồi lấy dây đo. Ai nằm trong hai chiều dài của dây đều bị giết, còn ai nằm trong một chiều dài kế tiếp thì được sống. Dân Mô-áp thần phục Đa-vít và nộp triều cống theo như ông đòi.
2SA 8:3 Đa-vít đi đến vùng gần sông Ơ-phơ-rát để dựng đài kỷ niệm cho mình. Ông cũng đánh bại Ha-đa-đê-xe, con trai Rê-hốp, vua Xô-ba, khi người nầy đang đi chiếm lại vùng sông Ơ-phơ-rát.
2SA 8:4 Đa-vít bắt được một ngàn quân xa, bảy ngàn lính cỡi ngựa, hai mươi ngàn lính bộ. Ông cắt nhượng tất cả các con ngựa kéo quân xa, chỉ chừa lại một trăm con.
2SA 8:5 Quân A-ram từ Đa-mách kéo đến cứu giúp Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba, nhưng Đa-vít giết hai mươi hai ngàn người của chúng.
2SA 8:6 Rồi Đa-vít đặt các đồn lính đóng ở Đa-mách thuộc A-ram. Dân A-ram phải chịu thần phục Đa-vít và nộp triều cống theo như ông đòi. Nơi nào Đa-vít đi CHÚA đều cho ông đắc thắng.
2SA 8:7 Đa-vít lấy các khiên bằng vàng của các sĩ quan Ha-đa-đê-xe mang về Giê-ru-sa-lem.
2SA 8:8 Đa-vít cũng lấy các vật dụng bằng đồng từ Thê-ba và Bê-rô-thai, là hai thành nằm dưới quyền kiểm soát của Ha-đa-đê-xe.
2SA 8:9 Thôi, vua của Ha-mát nghe tin Đa-vít đã đánh bại đạo quân của Ha-đa-đê-xe
2SA 8:10 liền sai con trai mình là Giô-ram đến chào mừng và chúc tụng Đa-vít vì đã đánh thắng Ha-đa-đê-xe. Trước kia Ha-đa-đê-xe và Thôi hay tranh chiến với nhau. Giô-ram mang biếu các vật dụng bằng bạc, vàng và đồng.
2SA 8:11 Vua Đa-vít dâng các đồ đó cho CHÚA, cùng với các đồ bằng bạc và vàng mà ông đã lấy từ các quốc gia thua trận.
2SA 8:12 Các quốc gia đó là Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc. Đa-vít cũng dâng cho CHÚA những gì ông đã lấy từ Ha-đa-đê-xe, con trai Rê-hốp, vua Xô-ba.
2SA 8:13 Danh tiếng Đa-vít càng lẫy lừng sau khi đánh bại mười tám ngàn quân A-ram trong Thung lũng Muối.
2SA 8:14 Ông đặt các đồn lính khắp xứ Ê-đôm, và toàn dân Ê-đôm phải thần phục ông. Nơi nào ông đi CHÚA đều ban cho ông chiến thắng.
2SA 8:15 Đa-vít làm vua trên Ít-ra-en, ông làm điều công chính phải lẽ cho dân chúng.
2SA 8:16 Giô-áp, con Xê-ru-gia là tư lệnh quân đội. Giê-hô-sa-phát, con A-hi-lút làm viên ký lục.
2SA 8:17 Xa-đốc, con A-hi-túp và A-bia-tha, con A-hi-mê-léc làm thầy tế lễ. Sê-rai-gia làm bí thư của vua.
2SA 8:18 Bê-nai-gia, con Giê-hô-gia-đa chỉ huy những đoàn lính đánh thuê người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít của Đa-vít. Còn các con Đa-vít đều là thầy tế lễ.
2SA 9:1 Đa-vít hỏi, “Còn có ai sống sót trong gia đình Sau-lơ không? Ta muốn tỏ lòng nhân từ cho người ấy vì Giô-na-than!”
2SA 9:2 Lúc ấy có một tôi tớ tên Xi-ba thuộc gia đình Sau-lơ. Các đầy tớ Đa-vít gọi Xi-ba đến cùng vua. Vua Đa-vít hỏi, “Anh là Xi-ba phải không?” Anh đáp, “Dạ, tôi là kẻ tôi tớ vua.”
2SA 9:3 Vua hỏi tiếp, “Trong gia đình Sau-lơ còn ai sống sót không? Ta muốn tỏ lòng nhân từ của Thượng Đế cho người ấy.” Xi-ba đáp, “Giô-na-than có một người con trai còn sống nhưng bị què hai chân.”
2SA 9:4 Vua hỏi Xi-ba, “Vậy người con đó hiện ở đâu?” Xi-ba thưa, “Anh ta hiện ở nhà của Ma-kia, con trai Am-miên, ở Lô Đê-ba.”
2SA 9:5 Đa-vít liền sai đầy tớ rước con trai Giô-na-than từ nhà Ma-kia, con của Am-miên ở Lô Đê-ba đến.
2SA 9:6 Mê-phi-bô-sết, con Giô-na-than đến sấp mình xuống đất lạy Đa-vít. Đa-vít kêu, “Mê-phi-bô-sết ơi!” Mê-phi-bô-sết thưa, “Dạ, tôi tớ vua đây.”
2SA 9:7 Đa-vít bảo, “Đừng sợ. Ta sẽ đối nhân từ cùng ngươi vì cha ngươi là Giô-na-than. Ta sẽ trả hết đất đai của ông nội ngươi là Sau-lơ lại cho ngươi, còn ngươi sẽ ăn chung bàn với ta mãi mãi.”
2SA 9:8 Mê-phi-bô-sết cúi lạy Đa-vít lần nữa và thưa, “Vua rất tử tế với tôi, kẻ tôi tớ vua. Thân phận tôi thật chẳng khác nào con chó chết!”
2SA 9:9 Rồi Đa-vít gọi tôi tớ Sau-lơ là Xi-ba lại bảo, “Ta ban cho cháu của chủ ngươi mọi vật thuộc về Sau-lơ và gia đình người.
2SA 9:10 Ngươi, các con trai, và tôi tớ ngươi sẽ cày cấy đất đai và gặt hái mùa màng. Như thế gia đình ngươi sẽ có đủ thực phẩm để ăn. Còn phần Mê-phi-bô-sết, cháu của chủ ngươi sẽ luôn luôn ăn chung bàn với ta.” Xi-ba có mười lăm con trai và hai mươi tôi tớ.
2SA 9:11 Xi-ba thưa cùng Đa-vít, “Tôi, tôi tớ vua, sẽ làm theo mọi điều vua, chủ tôi, truyền dặn.” Mê-phi-bô-sết ăn chung bàn với Đa-vít như một trong các đứa con của vua vậy.
2SA 9:12 Mê-phi-bô-sết có một con trai tên Mi-ca. Tất cả mọi người trong gia đình Xi-ba đều là tôi tớ của Mê-phi-bô-sết.
2SA 9:13 Mê-phi-bô-sết sống ở Giê-ru-sa-lem và ông ăn chung bàn với vua. Ông bị què hai chân.
2SA 10:1 Khi Na-hách vua Am-môn qua đời thì Ha-nun, con trai ông lên nối ngôi.
2SA 10:2 Đa-vít bảo, “Na-hách trung thành với ta cho nên ta cũng sẽ trung thành với con trai người là Ha-nun.” Vì thế Đa-vít sai sứ đến an ủi Ha-nun về việc cha người qua đời. Các sứ giả Đa-vít đi đến xứ dân Am-môn.
2SA 10:3 Nhưng các quần thần bảo Ha-nun chủ họ, “Bộ vua tưởng Đa-vít muốn tôn trọng cha vua mà gởi người đến an ủi vua sao? Không phải đâu! Đa-vít sai người đến để do thám thành phố ta để chiếm đó!”
2SA 10:4 Ha-nun liền ra lệnh bắt giữ các sứ giả của Đa-vít. Để làm nhục họ, vua cho cạo nửa râu, cắt áo quần ngang hông rồi đuổi về.
2SA 10:5 Khi Đa-vít được báo cáo tin đó thì ông cử đại diện ra gặp các sứ giả vì họ cảm thấy xấu hổ lắm. Vua Đa-vít bảo, “Các ngươi hãy ở lại Giê-ri-cô cho đến khi râu các ngươi mọc lại rồi hãy về nhà.”
2SA 10:6 Người Am-môn biết rằng họ đã làm Đa-vít nổi giận cho nên chúng thuê hai mươi ngàn lính bộ người A-ram từ Bết-Rê-hốp và Xô-ba đến. Chúng cũng thuê vua Ma-a-ca cùng một ngàn người và mười hai ngàn người từ vùng Tóp.
2SA 10:7 Khi Đa-vít nghe vậy liền phái Giô-áp cùng toàn quân kéo ra.
2SA 10:8 Quân Am-môn kéo ra chuẩn bị nghênh chiến ở cửa thành. Quân A-ram từ Xô-ba và Rê-hốp, cùng những người ở Tóp và Ma-a-ca một mình kéo ra trận.
2SA 10:9 Giô-áp nhìn thấy địch quân ở phía trước và phía sau mình cho nên ông chọn những binh sĩ thiện chiến nhất trong Ít-ra-en đi đánh quân A-ram.
2SA 10:10 Nhóm quân sĩ còn lại ông cho em mình là A-bi-sai chỉ huy. Rồi ông cho họ ra đánh quân Am-môn.
2SA 10:11 Giô-áp bảo A-bi-sai, “Nếu người A-ram thắng thế đối với anh, em phải đến giúp anh. Còn nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ đến giúp em.
2SA 10:12 Hãy mạnh bạo lên. Chúng ta phải anh dũng chiến đấu cho dân tộc ta và cho các thành của Thượng Đế. CHÚA sẽ làm điều Ngài cho là phải.”
2SA 10:13 Rồi Giô-áp cùng quân sĩ mở cuộc tấn công quân A-ram. Quân A-ram bỏ chạy.
2SA 10:14 Khi quân Am-môn thấy quân A-ram bỏ chạy thì chúng cũng bỏ chạy trước A-bi-sai và trốn về thành mình. Giô-áp từ chiến trận với dân Am-môn trở về Giê-ru-sa-lem.
2SA 10:15 Khi quân A-ram thấy dân Ít-ra-en đánh bại mình liền tập họp một đội quân rất lớn.
2SA 10:16 Ha-đa-đê-xe sai sứ mang quân A-ram từ phía bên kia sông Ơ-phơ-rát đến Hê-lam. Lãnh tụ chúng là Sô-bách, tư lệnh đạo quân của Ha-đa-đê-xe.
2SA 10:17 Khi Đa-vít nghe tin liền tập họp toàn dân Ít-ra-en lại. Họ băng qua sông Giô-đanh kéo đến Hê-lam. Quân A-ram ở đó dàn trận sẵn sàng tấn công ông.
2SA 10:18 Nhưng quân A-ram bỏ chạy trước mặt quân Ít-ra-en. Đa-vít giết bảy trăm lính cỡi quân xa và bốn mươi ngàn lính cỡi ngựa của A-ram. Ông cũng giết Sô-bách, tư lệnh đạo quân A-ram.
2SA 10:19 Sau khi các vua trước kia vốn thần phục Ha-đa-đê-xe thấy dân Ít-ra-en đã đánh bại chúng, họ liền lập hòa ước và thần phục Ít-ra-en. Người A-ram không còn dám giúp người Am-môn nữa.
2SA 11:1 Vào mùa xuân khi các vua thường ra tranh chiến nhau, thì Đa-vít phái Giô-áp, các tôi tớ ông, và toàn quân Ít-ra-en ra trận. Họ tiêu diệt dân Am-môn và tấn công thành Ráp-ba. Còn Đa-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.
2SA 11:2 Một buổi chiều nọ vua ngồi dậy khỏi giường và đi dạo trên nóc đền vua. Trong khi đang dạo trên nóc thì vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng rất đẹp.
2SA 11:3 Nên Đa-vít sai đầy tớ hỏi xem nàng là ai. Một đầy tớ trả lời, “Người đàn bà đó là Bát-Sê-ba, con gái Ê-li-am. Nàng là vợ U-ri người Hê-tít.”
2SA 11:4 Đa-vít liền cho người mang Bát-Sê-ba vào gặp mình. Khi nàng đến cùng vua thì vua ăn nằm cùng nàng. Lúc đó Bát-Sê-ba đã tẩy sạch kinh nguyệt. Rồi nàng trở về nhà mình.
2SA 11:5 Nhưng Bát-Sê-ba có thai và sai nhắn với Đa-vít, “Tôi có thai.”
2SA 11:6 Vì thế Đa-vít ra lệnh cho Giô-áp: “Hãy gởi U-ri, người Hê-tít, về với ta.” Giô-áp liền gởi U-ri về với Đa-vít.
2SA 11:7 Khi U-ri vào gặp vua thì Đa-vít hỏi thăm về Giô-áp, các binh sĩ về tình hình chiến cuộc ra sao.
2SA 11:8 Rồi Đa-vít bảo U-ri, “Thôi anh về nhà nghỉ ngơi đi.” U-ri rời cung vua, và nhà vua gởi biếu ông một món quà.
2SA 11:9 Nhưng U-ri không về nhà. Ông ngủ ở ngoài cửa cung vua như tất cả các sĩ quan hoàng gia khác.
2SA 11:10 Các sĩ quan báo cáo với Đa-vít, “U-ri không có về nhà.” Đa-vít liền hỏi U-ri, “Anh từ xa đi về. Sao anh không đi về nhà?”
2SA 11:11 U-ri thưa, “Rương Giao Ước và các chiến sĩ Ít-ra-en và Giu-đa đang ở trong lều. Chủ tôi là Giô-áp cùng các sĩ quan đang trú ngoài mặt trận mà tôi đi về ăn uống, rồi ngủ với vợ thì không phải lẽ tí nào! Tôi xin thề với vua là tôi sẽ không đời nào làm như thế.”
2SA 11:12 Đa-vít bảo U-ri, “Anh ở đây hôm nay đi. Ngày mai ta sẽ gởi anh ra mặt trận.” Vậy U-ri ở lại Giê-ru-sa-lem hôm đó và hôm sau.
2SA 11:13 Rồi Đa-vít gọi U-ri vào gặp mình. U-ri vào và ăn uống với vua. Đa-vít phục rượu cho U-ri say nhưng U-ri cũng không chịu về nhà. Đêm hôm đó U-ri vẫn ngủ với các sĩ quan của vua.
2SA 11:14 Sáng hôm sau Đa-vít viết một bức thư cho Giô-áp nhờ U-ri mang đi.
2SA 11:15 Trong thư Đa-vít dặn, “Hãy đặt U-ri nơi tiền tuyến chỗ đánh nhau nguy hiểm nhất rồi rút binh ra, để hắn lại một mình. Để hắn bị bỏ xác nơi mặt trận.”
2SA 11:16 Giô-áp quan sát thành phố và xem chỗ nào địch quân mạnh nhất liền đặt U-ri ở đó.
2SA 11:17 Khi quân trong thành đổ ra đánh nhau với Giô-áp thì một số binh sĩ của Đa-vít bị giết. U-ri người Hê-tít cũng chết trong toán đó.
2SA 11:18 Rồi Giô-áp gởi bản báo cáo toàn bộ cuộc chiến về cho Đa-vít.
2SA 11:19 Giô-áp dặn sứ giả, “Hãy tường thuật chi tiết cuộc chiến cho vua Đa-vít nghe.
2SA 11:20 Khi tường thuật xong, nếu vua nổi giận và hỏi, ‘Sao các ngươi tiến gần quá thành để tấn công như thế? Các ngươi không biết là địch quân có thể bắn tên xuống từ vách thành sao?
2SA 11:21 Các ngươi có nhớ ai giết A-bi-mê-léc, con trai Giê-rúp Bê-sết không? Một người đàn bà trên vách thành. Người đó ném cái cối đá lên đầu A-bi-mê-léc, giết người chết ở Thê-be. Sao các ngươi tiến sát thành quá như thế?’ Nếu vua Đa-vít hỏi như vậy thì tiếp, ‘Kẻ tôi tớ vua, U-ri, người Hê-tít cũng bị giết nữa.’”
2SA 11:22 Sứ giả về gặp Đa-vít và thuật cho vua nghe những gì Giô-áp dặn mình.
2SA 11:23 Sứ giả kể với Đa-vít, “Quân Am-môn đang thắng thế. Chúng đổ ra tấn công chúng tôi trong ruộng nhưng chúng tôi đánh bạt chúng trở lại nơi cửa thành.
2SA 11:24 Các lính cầm cung bắn tên xuống các tôi tớ vua, một vài người bị chết. Tôi tớ vua là U-ri cũng chết nữa.”
2SA 11:25 Đa-vít bảo sứ giả, “Nói với Giô-áp như sau: ‘Đừng quá bực mình về chuyện nầy. Gươm giáo đâu có mắt. Hãy mở cuộc tấn công mãnh liệt hơn và chiếm thành đi.’ Hãy giục Giô-áp như thế.”
2SA 11:26 Khi vợ U-ri nghe tin chồng mình tử trận, liền than khóc.
2SA 11:27 Sau khi mãn tang chồng thì Đa-vít sai người mang nàng vào cung với mình. Nàng trở thành vợ Đa-vít và sinh cho vua một con trai, nhưng Thượng Đế không bằng lòng điều Đa-vít làm.
2SA 12:1 CHÚA sai Na-than đến gặp Đa-vít. Khi gặp Đa-vít ông bảo, “Có hai người cùng ở trong một thành phố nọ. Một người giàu, một người nghèo.
2SA 12:2 Người giàu có rất nhiều chiên và bò.
2SA 12:3 Còn người nghèo chẳng có gì cả ngoại trừ một con chiên con mình mua. Người nhà nghèo nuôi con chiên, nó lớn cùng với người và các con của người. Nó ăn đồ ăn và uống chung ly chén với người và ngủ trong lòng người. Con chiên được xem như con gái của người vậy.
2SA 12:4 Có một lữ khách ghé thăm người giàu. Người giàu muốn tiếp đãi lữ khách nhưng không muốn bắt chiên hay bò của mình nên bắt con chiên người nhà nghèo làm thịt đãi khách.”
2SA 12:5 Đa-vít nổi giận cùng người giàu. Ông bảo Na-than, “Tôi chỉ CHÚA hằng sống mà thề, tên nào làm chuyện đó phải chết!
2SA 12:6 Nó phải đền bốn lần giá con chiên vì làm chuyện bậy như thế. Nó chẳng có lòng nhân ái gì cả!”
2SA 12:7 Na-than liền bảo Đa-vít, “Vua là người đó chứ ai? Đây là điều CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Ta đã chọn ngươi làm vua Ít-ra-en và giải cứu ngươi khỏi Sau-lơ.
2SA 12:8 Ta đã trao nước và các vợ người vào tay ngươi. Ta đã đặt ngươi làm vua trên Ít-ra-en và Giu-đa. Nếu như thế chưa đủ, ta có thể cho ngươi thêm nữa.
2SA 12:9 Vậy tại sao ngươi coi thường mệnh lệnh của CHÚA? Tại sao ngươi làm điều bậy? Ngươi nhờ gươm của quân Am-môn giết U-ri người Hê-tít và lấy vợ nó làm vợ mình!
2SA 12:10 Bây giờ đây trong nhà ngươi sẽ có người chết vì gươm vì ngươi không tôn kính ta; ngươi đoạt vợ của U-ri người Hê-tít cho mình!’
2SA 12:11 CHÚA phán: Ta sẽ mang khốn khổ đến cho ngươi từ trong gia đình ngươi. Ta sẽ bắt các vợ ngươi mà trao cho người rất gần ngươi ngay trước mắt ngươi. Nó sẽ ăn nằm với các vợ ngươi và mọi người sẽ biết chuyện đó.
2SA 12:12 Ngươi thầm lén ăn nằm với Bát-Sê-ba nhưng ta sẽ làm điều nầy giữa thanh thiên bạch nhật để tất cả Ít-ra-en đều thấy.”
2SA 12:13 Đa-vít liền thú tội với Na-than, “Tôi đã phạm tội cùng CHÚA.” Na-than đáp, “CHÚA cũng đã tha tội vua. Vua sẽ không chết.
2SA 12:14 Nhưng điều vua làm khiến các kẻ thù của CHÚA không kính sợ Ngài nữa. Vì lý do đó đứa con trai sinh cho vua sẽ phải chết.”
2SA 12:15 Rồi Na-than đi về nhà. CHÚA khiến cho đứa con của Đa-vít và vợ của U-ri mắc bệnh nặng.
2SA 12:16 Đa-vít cầu khẩn Thượng Đế cho đứa bé. Ông không chịu ăn uống gì. Ông đi về nhà và ở đó, suốt đêm nằm dưới đất.
2SA 12:17 Các người lớn tuổi trong gia đình Đa-vít đến tìm cách đỡ vua dậy nhưng vua từ chối, và cũng không chịu ăn chung với họ.
2SA 12:18 Đến ngày thứ bảy thì đứa bé chết. Các đầy tớ Đa-vít sợ không dám báo tin đó cho Đa-vít. Họ bảo, “Lúc đứa bé còn sống chúng ta tìm cách khuyên nhủ vua nhưng vua không nghe. Bây giờ nó chết rồi, nếu chúng ta cho vua biết, vua còn làm chuyện tệ hơn nữa.”
2SA 12:19 Khi thấy các đầy tớ thì thầm với nhau thì Đa-vít biết đứa bé đã chết nên ông liền hỏi, “Đứa bé chết rồi phải không?” Họ đáp, “Dạ phải, nó chết rồi.”
2SA 12:20 Đa-vít liền đứng dậy khỏi đất, tắm rửa, xức dầu thơm, và thay quần áo. Rồi vua vào trong nhà CHÚA để thờ lạy. Sau đó vua về nhà kiếm món gì để ăn. Các đầy tớ vua mang thức ăn đến và vua ăn.
2SA 12:21 Các đầy tớ vua hỏi, “Tại sao vua làm gì kỳ vậy. Khi đứa bé còn sống, vua không chịu ăn và than khóc. Bây giờ nó chết rồi thì vua ngồi dậy ăn.”
2SA 12:22 Đa-vít trả lời, “Trong khi nó còn sống ta không chịu ăn và than khóc vì ta nghĩ, ‘Biết đâu CHÚA sẽ thương hại ta mà để cho nó sống.’
2SA 12:23 Nhưng bây giờ nó chết rồi thì ta cữ ăn làm gì? Ta đâu có thể làm cho nó sống lại được? Trong tương lai ta sẽ đi đến cùng nó, nhưng nó đâu có trở lại cùng ta.”
2SA 12:24 Đa-vít an ủi Bát-Sê-ba, vợ mình. Vua ăn nằm cùng nàng. Nàng thụ thai nữa và sanh một con trai khác, Đa-vít đặt tên là Sô-lô-môn. CHÚA yêu thương Sô-lô-môn.
2SA 12:25 CHÚA sai Na-than, nhà tiên tri, dặn phải đặt tên nó là Giê-đi-đia, vì CHÚA yêu thích nó.
2SA 12:26 Giô-áp đánh thành Ráp-ba, một kinh đô của Am-môn, và sắp sửa chiếm nó.
2SA 12:27 Giô-áp sai người đến báo với Đa-vít rằng, “Tôi đã đánh Ráp-ba và chiếm nguồn cung cấp nước của thành đó.
2SA 12:28 Vậy bây giờ xin mang hết binh sĩ còn lại xuống tấn công thành nầy. Hãy chiếm thành đó trước khi tôi chiếm để lập công cho tôi.”
2SA 12:29 Vậy Đa-vít triệu tập toàn lực lượng và đi xuống thành Ráp-ba, tấn công và chiếm lấy nó.
2SA 12:30 Đa-vít lấy mão triều của vua Ráp-ba đội trên đầu mình. Mão triều đó nặng khoảng bảy mươi lăm cân, có cẩn nhiều ngọc quý trên đó. Đa-vít cũng chiếm lấy nhiều món đồ quí giá của thành phố.
2SA 12:31 Vua cũng bắt dân cư trong thành đó làm công việc bằng cưa, cuốc, và rìu. Vua cũng bắt chúng xây nhà bằng gạch. Đa-vít làm như thế cho tất cả các thành Am-môn. Rồi Đa-vít và toàn quân trở về Giê-ru-sa-lem.
2SA 13:1 Đa-vít có một con trai tên Áp-xa-lôm và một con trai tên Am-nôn. Áp-xa-lôm có một em gái rất đẹp tên Ta-ma. Am-nôn yêu cô ta.
2SA 13:2 Ta-ma là trinh nữ. Am-nôn tương tư nàng mà không biết tìm dịp nào để gần nàng nên giả đau.
2SA 13:3 Am-nôn có một người bạn tên Giô-na-đáp, con Si-mê-a, anh Đa-vít. Giô-na-đáp rất khôn lanh.
2SA 13:4 Anh hỏi Am-nôn, “Nầy hoàng tử, sao hôm nay trông anh tiều tụy thế? Nói cho tôi biết được không?” Am-nôn thú thật, “Tôi yêu Ta-ma, em gái của Áp-xa-lôm, anh cùng cha khác mẹ với tôi.”
2SA 13:5 Giô-na-đáp liền bày kế cho Am-nôn, “Anh hãy lên giường giả vờ đau. Cha anh sẽ đến thăm anh. Lúc đó anh sẽ thưa với cha anh, ‘Xin cha cho em Ta-ma đến làm thức ăn cho con. Nó sẽ nấu thức ăn trước mặt con để con nhìn và đút con ăn.’”
2SA 13:6 Vậy Am-nôn lên giường giả vờ đau. Khi vua Đa-vít đến thăm thì Am-nôn thưa, “Xin cha cho Ta-ma em con đến thăm con. Để em con làm hai cái bánh trong khi con nhìn nó, rồi nó đút con ăn.”
2SA 13:7 Đa-vít cho gọi Ta-ma vào cung bảo, “Con hãy đi đến nhà Am-nôn, anh con, làm món gì cho nó ăn.”
2SA 13:8 Vậy Ta-ma đi đến nhà Am-nôn trong khi anh đang nằm trên giường. Ta-ma lấy bột nhồi bằng tay. Nàng làm mấy cái bánh đặc biệt trong khi Am-nôn nhìn nàng. Rồi nàng nướng bánh.
2SA 13:9 Sau đó nàng lấy cái chảo để mời anh ăn nhưng anh không chịu ăn. Anh bảo các người đầy tớ, “Tụi bây lui ra hết đi!” Vậy mọi người đi ra hết.
2SA 13:10 Am-nôn bảo Ta-ma, “Em hãy mang thức ăn vào phòng ngủ để em đút anh ăn.” Ta-ma lấy mấy cái bánh nàng đã làm mang cho anh mình là Am-nôn trong phòng ngủ.
2SA 13:11 Nàng đem đến đút cho anh ăn nhưng anh nắm lấy tay nàng. Anh bảo, “Em ơi, hãy lại làm tình với anh.”
2SA 13:12 Ta-ma phản đối, “Anh ơi, không được! Đừng cưỡng ép em! Không nên làm chuyện như thế nầy trong Ít-ra-en! Đừng làm chuyện sỉ nhục như thế!
2SA 13:13 Em sẽ không thể nào gỡ nhục được! Còn anh sẽ trở thành người ngu xuẩn nhục nhã trong Ít-ra-en! Anh hãy hỏi xin phụ vương, người sẽ cho anh cưới em.”
2SA 13:14 Nhưng Am-nôn không nghe. Anh ta mạnh hơn nàng cho nên cưỡng hiếp nàng.
2SA 13:15 Sau đó Am-nôn đâm ra ghét Ta-ma. Sự ghét bỏ còn lớn hơn tình yêu nàng lúc trước. Am-nôn bảo, “Đứng dậy đi ra khỏi đây ngay!”
2SA 13:16 Ta-ma bảo anh, “Không được! Anh đuổi em ra như thế nầy còn xấu hơn điều anh làm nữa!” Nhưng anh không thèm nghe.
2SA 13:17 Anh gọi tên đầy tớ trẻ vào bảo, “Hãy mang người đàn bà nầy ra khỏi đây khuất mắt ta ngay lập tức! Khóa cửa lại.”
2SA 13:18 Vậy tên đầy tớ dẫn nàng ra khỏi phòng rồi khóa cửa lại. Ta-ma đang mặc một cái áo tay dài có nhiều màu, vì các công chúa còn trinh của vua hay mặc loại áo ấy.
2SA 13:19 Để tỏ sự buồn bực, Ta-ma liền phủ tro trên đầu, xé áo mình và lấy tay ôm đầu. Rồi nàng vừa đi vừa khóc thảm thiết.
2SA 13:20 Áp-xa-lôm, anh nàng hỏi, “Có phải Am-nôn, anh em, đã cưỡng hiếp em không? Bây giờ, em hãy làm thinh đi. Nó là anh khác mẹ với em. Đừng quá bực mình vì chuyện nầy!” Vậy Ta-ma ở trong nhà Áp-xa-lôm, anh mình, và cảm thấy buồn tẻ cô đơn.
2SA 13:21 Khi vua Đa-vít nghe được chuyện ấy thì vô cùng tức giận nhưng ông không nói gì với Am-nôn cả vì ông yêu Am-nôn là con cả mình.
2SA 13:22 Còn Áp-xa-lôm thì không thèm nói với Am-nôn tiếng lành hay tiếng dữ nào, nhưng rất căm thù Am-nôn vì đã làm nhục Ta-ma, em gái mình.
2SA 13:23 Hai năm sau, Áp-xa-lôm thuê một số người đến Ba-anh Hát-xo, ở Ép-ra-im, để hớt lông chiên cho mình. Áp-xa-lôm cũng mời các hoàng tử đến nữa.
2SA 13:24 Áp-xa-lôm đến thưa với vua, “Con có mấy người đến hớt lông chiên. Xin cha cùng các quần thần đến chơi với con.”
2SA 13:25 Nhưng vua Đa-vít bảo Áp-xa-lôm, “Không được con. Chúng ta không đi được vì quá phiền cho con.” Mặc dù Áp-xa-lôm năn nỉ Đa-vít, vua vẫn không chịu đến, nhưng chúc phước cho Áp-xa-lôm.
2SA 13:26 Áp-xa-lôm thưa, “Nếu cha không muốn đến thì xin cha để em con là Am-nôn đến với chúng con.” Vua Đa-vít hỏi, “Tại sao nó phải đến với con?”
2SA 13:27 Áp-xa-lôm năn nỉ quá nên Đa-vít cho phép Am-nôn và các hoàng tử đi với Áp-xa-lôm.
2SA 13:28 Áp-xa-lôm dặn các tôi tớ mình, “Hãy quan sát Am-môn. Khi nào hắn say ta sẽ bảo các ngươi, ‘Hãy giết Am-nôn’ thì hãy giết hắn! Đừng sợ vì chính ta bảo các ngươi! Hãy mạnh dạn và can đảm!”
2SA 13:29 Vậy các thanh niên của Áp-xa-lôm giết Am-nôn theo lệnh Áp-xa-lôm, nhưng các hoàng tử khác của Đa-vít leo lên lưng lừa chạy thoát.
2SA 13:30 Trong khi các hoàng tử đang trốn chạy thì có người báo tin cho Đa-vít, “Áp-xa-lôm đã giết hết các hoàng tử, không ai sống sót!”
2SA 13:31 Vua Đa-vít liền xé quần áo mình và buồn rầu nằm dưới đất. Tất cả các tôi tớ vua đứng gần đó cũng xé quần áo mình.
2SA 13:32 Giô-na-đáp, con trai Si-mê-a, anh Đa-vít bảo vua, “Không phải tất cả các con trai vua đều bị giết đâu. Chỉ có một mình Am-nôn bị giết thôi! Áp-xa-lôm đã dự định chuyện nầy từ khi Am-nôn cưỡng hiếp Ta-ma.
2SA 13:33 Thưa chúa và vua tôi, không phải tất cả con trai vua đều bị giết, chỉ có một mình Am-nôn bị giết thôi!”
2SA 13:34 Trong khi đó, Áp-xa-lôm đã bỏ trốn. Một lính gác trên vách thành thấy nhiều người xuất hiện từ phía bên kia đồi.
2SA 13:35 Cho nên Giô-na-đáp bảo Đa-vít, “Đó, tôi nói đúng! Các con trai vua đang chạy đến kìa!”
2SA 13:36 Khi Giô-na-đáp vừa nói xong thì các hoàng tử chạy đến, khóc lóc thảm thiết. Đa-vít cùng các tôi tớ cũng khóc theo.
2SA 13:37 Đa-vít than khóc cho con mình mỗi ngày. Còn Áp-xa-lôm thì trốn đến Thanh-mai, con trai Am-mi-hút, vua Ghê-sua.
2SA 13:38 Sau khi Áp-xa-lôm chạy trốn đến Ghê-sua thì ở đó ba năm.
2SA 13:39 Đa-vít nguôi buồn về cái chết của Am-nôn nhưng vua thương nhớ Áp-xa-lôm.
2SA 14:1 Giô-áp, con trai Xê-ru-gia biết vua Đa-vít thương nhớ Áp-xa-lôm.
2SA 14:2 Nên Giô-áp sai người đi Tê-cô-a mang một người đàn bà khôn ngoan đến. Ông bảo người đàn bà, “Hãy làm bộ như ngươi thật buồn. Mặc quần áo tang và đừng xức dầu thơm. Hãy làm như ngươi đang than khóc một người chết trong nhiều ngày qua.
2SA 14:3 Rồi đi đến vua nói thế nầy.” Giô-áp dặn người đàn bà đó phải nói những lời gì.
2SA 14:4 Vậy người đàn bà từ Tê-cô-a nói với vua. Bà cúi mặt sát đất trước vua và thưa, “Tâu bệ hạ, xin giúp tôi!”
2SA 14:5 Vua Đa-vít hỏi bà, “Có chuyện gì vậy?” Ngươi đàn bà thưa, “Tôi là đàn bà góa; chồng tôi đã chết.
2SA 14:6 Tôi có hai con trai. Trong khi chúng nó đánh nhau ngoài đồng thì không có ai ở đó để can ngăn, cho nên đứa nầy giết đứa kia chết.
2SA 14:7 Bây giờ tất cả gia đình đều chống tôi. Họ bảo, ‘Hãy giao đứa con đã giết em để chúng ta giết nó về tội giết em. Làm như thế để chúng ta diệt đứa sẽ hưởng gia tài của cha nó.’ Con trai tôi như tia lửa cuối cùng của tôi. Tôi chỉ còn có một mình nó. Nếu họ giết nó thì tên và tài sản của chồng tôi sẽ bị tiêu diệt khỏi đất.”
2SA 14:8 Vua bảo người đàn bà, “Chị về nhà đi. Ta sẽ lo chuyện nầy cho.”
2SA 14:9 Người đàn bà Tê-cô-a thưa với vua, “Xin hãy đổ lỗi cho tôi và gia đình cha tôi. Thưa chủ và vua tôi, vua và ngôi vua hoàn toàn vô can.”
2SA 14:10 Vua Đa-vít bảo, “Ai mà nói xấu gì về ngươi thì mang người đó đến cho ta. Sẽ không có ai dám động đến ngươi nữa.”
2SA 14:11 Người đàn bà thưa, “Xin bệ hạ hãy nhân danh CHÚA là Thượng Đế của vua mà hứa với tôi rằng bệ hạ sẽ ngăn thân nhân tôi, những kẻ có nhiệm vụ trừng phạt kẻ sát nhân, sẽ không giết con trai tôi để chuyện này càng thêm đau khổ.” Đa-vít đáp, “Nhân danh CHÚA hằng sống, không ai dám hại con trai ngươi đâu. Sẽ không có một sợi tóc nào trên đầu của nó sẽ rơi xuống đất.”
2SA 14:12 Người đàn bà thưa, “Xin phép vua và chủ tôi cho tôi nói thêm.” Vua bảo, “Nói đi.”
2SA 14:13 Người đàn bà tiếp, “Tại sao bệ hạ xử như thế nầy cho dân của Thượng Đế? Cách phân xử này chứng tỏ bệ hạ có lỗi vì không mang về đứa con bị bắt buộc phải bỏ nhà ra đi.
2SA 14:14 Tất cả chúng ta một ngày nào đó đều sẽ chết. Chúng ta cũng như nước đổ xuống đất, không ai hốt lại được. Nhưng Thượng Đế không cất lấy mạng sống. Ngài lập ra phương cách để cho những ngươi bị đày đi xa sẽ không phải mãi mãi xa cách Ngài.
2SA 14:15 Thưa chủ và vua tôi, tôi đến thưa với bệ hạ chuyện nầy vì người ta làm tôi sợ! Vì thế tôi nghĩ, ‘Tôi phải thưa với vua. Có thể vua làm được điều tôi xin.
2SA 14:16 Có thể vua sẽ nghe tôi. Có thể vua sẽ giải cứu tôi khỏi những kẻ muốn ngăn không cho tôi và con tôi nhận lãnh điều Thượng Đế đã ban cho chúng tôi.’
2SA 14:17 Bây giờ tôi nói, ‘Nguyện cho lời của bệ hạ và chủ tôi khiến tôi an tâm. Bệ hạ giống như thiên sứ của Thượng Đế, biết điều gì tốt, điều gì xấu. Nguyện CHÚA là Thượng Đế ở cùng bệ hạ!’”
2SA 14:18 Vua Đa-vít liền hỏi, “Ngươi phải nói thật với ta không được giấu. Hãy trả lời cho ta.” Người đàn bà thưa, “Xin bệ hạ cứ hỏi.”
2SA 14:19 Vua hỏi, “Có phải Giô-áp dặn ngươi nói những lời nầy không?” Người đàn bà đáp, “Tâu bệ hạ, không ai giấu nổi bệ hạ điều gì. Vâng, tôi tớ bệ hạ là Giô-áp bảo tôi nói những điều nầy.
2SA 14:20 Giô-áp làm như thế để bệ hạ nhìn thấy vấn đề theo khía cạnh khác. Tâu bệ hạ, ngài quả thật khôn ngoan như thiên sứ của Thượng Đế, Đấng biết mọi việc xảy ra trên đất.”
2SA 14:21 Vua bảo Giô-áp, “Ta sẽ làm điều ta đã hứa. Hãy mang chàng trai trẻ Áp-xa-lôm về.”
2SA 14:22 Giô-áp cúi sấp mặt xuống đất và chúc phước cho vua. Rồi ông thưa, “Hôm nay tôi biết bệ hạ hài lòng về tôi, vì bệ hạ đã làm điều tôi yêu cầu.”
2SA 14:23 Giô-áp ngồi dậy và đi đến Ghê-sua mang Áp-xa-lôm về Giê-ru-sa-lem.
2SA 14:24 Nhưng vua Đa-vít dặn, “Áp-xa-lôm phải về nhà nó. Nó không được phép gặp mặt ta.” Vậy Áp-xa-lôm về nhà mình, không đi vào gặp mặt vua.
2SA 14:25 Áp-xa-lôm được mọi người khen vì tướng tá cao ráo bảnh trai của anh ta. Trong cả Ít-ra-en không có ai đẹp trai bằng anh. Từ đầu cho tới chân anh không có khuyết điểm gì.
2SA 14:26 Mỗi cuối năm, Áp-xa-lôm cắt tóc mình vì quá nặng. Tóc cắt xong cân nặng khoảng năm cân, theo cân nhà vua.
2SA 14:27 Áp-xa-lôm có ba con trai và một con gái. Con gái anh cũng tên Ta-ma và rất đẹp.
2SA 14:28 Áp-xa-lôm ở Giê-ru-sa-lem trong hai năm tròn mà không hề thấy mặt vua Đa-vít.
2SA 14:29 Sau đó Áp-xa-lôm cho gọi Giô-áp để ông đưa anh ta đến cùng vua nhưng Giô-áp không chịu đến. Áp-xa-lôm nhắn lần thứ hai, nhưng Giô-áp cũng từ chối không đến.
2SA 14:30 Nên Áp-xa-lôm bảo các đầy tớ, “Nầy, ruộng Giô-áp kế cận ruộng ta, ông ta trồng lúa mạch trên đó. Bay hãy ra đốt ruộng ông ta đi.” Vậy tôi tớ Áp-xa-lôm đi đốt ruộng Giô-áp.
2SA 14:31 Giô-áp liền đến nhà Áp-xa-lôm hạch hỏi, “Tại sao đầy tớ anh đốt ruộng tôi?”
2SA 14:32 Áp-xa-lôm bảo Giô-áp, “Tôi nhắn anh đến đây để nhờ anh đến gặp vua hỏi tại sao vua mang tôi từ Ghê-sua về. Chẳng thà tôi vẫn ở đó còn hơn! Bây giờ hãy để cho tôi gặp vua. Nếu tôi có tội thì vua cứ việc giết tôi đi!”
2SA 14:33 Giô-áp liền vào gặp vua và thuật lại lời của Áp-xa-lôm. Vua liền cho gọi Áp-xa-lôm đến. Áp-xa-lôm đến sấp mặt xuống đất trước mặt vua và vua hôn anh ta.
2SA 15:1 Sau đó, Áp-xa-lôm sắm một quân xa cùng ngựa kéo và năm mươi quân chạy trước mặt mình.
2SA 15:2 Sáng sớm Áp-xa-lôm thức dậy và ra đứng trước cổng thành. Ai có chuyện tranh chấp cần vua phân xử đều đến đó. Khi thấy có ai đến thì Áp-xa-lôm gọi lại hỏi, “Anh từ thành nào đến?” Người đó sẽ trả lời, “Tôi từ một trong những chi tộc của Ít-ra-en đến.”
2SA 15:3 Áp-xa-lôm liền bảo, “Điều đòi hỏi của anh rất chính đáng nhưng vua không có ai để nghe anh đâu.”
2SA 15:4 Áp-xa-lôm nói, “Ước gì có ai cử tôi làm quan án trong xứ nầy! Ai có chuyện gì sẽ đến với tôi, tôi sẽ giúp họ được công lý bảo vệ.”
2SA 15:5 Dân chúng đến gần Áp-xa-lôm đều cúi lạy anh ta. Khi họ làm như thế Áp-xa-lôm liền dang tay ra ôm hôn họ.
2SA 15:6 Áp-xa-lôm làm như thế với tất cả mọi người Ít-ra-en đến nhờ vua Đa-vít giải quyết. Vì thế Áp-xa-lôm chiếm được lòng của tất cả dân Ít-ra-en.
2SA 15:7 Sau bốn năm Áp-xa-lôm thưa với vua Đa-vít, “Xin cho con về Hếp-rôn. Con muốn thực hiện điều con hứa nguyện với CHÚA.
2SA 15:8 Trong khi con còn ở Ghê-sua trong xứ A-ram con thưa, ‘Nếu CHÚA mang tôi về Giê-ru-sa-lem con thề sẽ thờ lạy Ngài.’”
2SA 15:9 Vua bảo, “Thôi con hãy đi bình yên.” Vậy Áp-xa-lôm đi đến Hếp-rôn.
2SA 15:10 Nhưng anh ta bí mật sai sứ giả đi khắp các chi tộc Ít-ra-en. Họ bảo dân chúng, “Khi các ngươi nghe tiếng kèn thì hãy la lên: ‘Áp-xa-lôm đã lên làm vua ở Hếp-rôn!’”
2SA 15:11 Áp-xa-lôm đã mời hai trăm người cùng đi với mình. Vậy họ từ Giê-ru-sa-lem đi xuống với anh nhưng không biết âm mưu của anh.
2SA 15:12 Trong khi Áp-xa-lôm đang dâng của lễ thì anh cho mời A-hi-tô-phên, một trong những cố vấn của Đa-vít, từ Ghi-lô, quê của ông đến. Âm mưu của Áp-xa-lôm thành công. Càng ngày càng có đông người ủng hộ anh ta.
2SA 15:13 Một sứ giả đến báo cho Đa-vít hay, “Dân Ít-ra-en đang về hùa với Áp-xa-lôm.”
2SA 15:14 Đa-vít liền bảo các quần thần có mặt với vua ở Giê-ru-sa-lem, “Chúng ta phải rời đây ngay lập tức! Nếu không chúng ta sẽ không thoát khỏi tay Áp-xa-lôm. Chúng ta phải nhanh chân trước khi nó bắt kịp chúng ta, giết chúng ta cùng dân chúng Giê-ru-sa-lem.”
2SA 15:15 Các quần thần thưa, “Chúng tôi sẽ làm bất cứ điều gì bệ hạ muốn.”
2SA 15:16 Vua cùng tất cả mọi người trong nhà ra đi nhưng để lại mười hầu thiếp để chăm sóc cung vua.
2SA 15:17 Vua cùng các người đi theo lên đường và dừng lại ở một căn nhà khá xa.
2SA 15:18 Tất cả các tôi tớ vua đi qua trước mặt vua: người Kê-rê-thít, và Bê-lê-thít, tất cả những người ở Gát, và sáu trăm người đã theo vua.
2SA 15:19 Vua bảo Y-tai, người miền Gát rằng, “Sao ngươi đi theo chúng ta làm gì? Hãy trở về ở với vua Áp-xa-lôm của ngươi đi vì ngươi là ngoại kiều. Xứ nầy đâu phải quê hương ngươi đâu.
2SA 15:20 Ngươi mới theo ta đây thôi. Tại sao ta phải bắt ngươi đi lang thang với chúng ta trong khi chính ta cũng không biết mình đi đâu nữa? Hãy trở về, mang các anh em ngươi theo ngươi. Nguyền ngươi được người ta tỏ lòng nhân từ và trung thành.”
2SA 15:21 Nhưng Y-tai thưa với vua, “Tôi thề trong danh CHÚA hằng sống và mạng sống vua, tôi nhất định ở với vua dù sống dù chết.”
2SA 15:22 Đa-vít liền bảo Y-tai, “Vậy thì đi.” Vậy Y-tai người Gát và tất cả mọi người cùng gia đình họ tiếp tục đi.
2SA 15:23 Tất cả dân chúng khóc lớn khi mọi người đi qua. Vua Đa-vít băng qua thung lũng Kít-rôn, rồi họ tiếp tục đi đến sa mạc.
2SA 15:24 Xa-đốc cùng mọi người Lê-vi đi với ông khiêng Rương Giao Ước của Thượng Đế. Họ đặt Rương xuống, rồi A-bia-tha cầu nguyện cho đến khi mọi người đã ra khỏi thành.
2SA 15:25 Vua bảo Xa-đốc, “Hãy mang Rương Giao Ước của Thượng Đế trở vào thành. Nếu CHÚA ưa thích ta, Ngài sẽ mang ta về và cho ta nhìn thấy Rương cùng thành Giê-ru-sa-lem trở lại.
2SA 15:26 Nhưng nếu CHÚA bảo Ngài không thích ta nữa thì ta đã sẵn sàng. Ngài muốn xử ta thế nào cũng được.”
2SA 15:27 Vua nói tiếp với Xa-đốc là thầy tế lễ, “Ngươi có phải là người tiên kiến không? Hãy trở về thành bình yên và mang theo A-hi-mát, con ngươi và Giô-na-than, con A-bia-tha.
2SA 15:28 Ta sẽ chờ nơi chỗ băng qua sa mạc cho đến khi ta nghe tin tức ngươi báo.”
2SA 15:29 Vậy Xa-đốc và A-bia-tha mang Rương của Thượng Đế trở về Giê-ru-sa-lem và ở lại đó.
2SA 15:30 Đa-vít đi lên núi Ô-liu, vừa đi vừa khóc. Ông trùm đầu và đi chân đất. Đoàn người đi với ông cũng trùm đầu và vừa đi vừa khóc.
2SA 15:31 Có người báo cho Đa-vít, “A-hi-tô-phên là một trong những người mà Áp-xa-lôm tham khảo ý kiến để phản vua.” Đa-vít liền cầu khẩn, “CHÚA ơi, xin khiến mưu của A-hi-tô-phen ra ngu dại.”
2SA 15:32 Khi Đa-vít lên tới đỉnh núi nơi người ta thường thờ lạy Thượng Đế, thì Hu-sai, người Ác-kít, đi ra gặp vua. Áo quần Hu-sai rách tả tơi, đầu đính bụi đất chứng tỏ người đang thảm sầu.
2SA 15:33 Đa-vít bảo Hu-sai, “Nếu ngươi đi với ta, ta sẽ có thêm một người nữa phải lo.
2SA 15:34 Nhưng nếu ngươi trở vào thành thì ngươi có thể biến mưu của A-hi-tô-phên ra vô dụng. Hãy bảo Áp-xa-lôm rằng, ‘Tôi là tôi tớ vua. Trước kia tôi phục vụ cha của bệ hạ, nhưng nay tôi sẽ phục vụ bệ hạ.’
2SA 15:35 Các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha sẽ ở với ngươi. Hãy thuật cho họ biết những gì ngươi nghe thấy trong cung vua.
2SA 15:36 A-hi-mát, con Xa-đốc, và Giô-na-than, con A-bia-tha, ở với họ. Bảo họ báo cho ta biết mọi điều ngươi nghe.”
2SA 15:37 Vì thế Hu-sai, bạn Đa-vít, trở về Giê-ru-sa-lem khi Áp-xa-lôm vừa đến thành.
2SA 16:1 Sau khi Đa-vít đã đi quá một đoạn khỏi đỉnh núi Ô-liu thì Xi-ba, tôi tớ Mê-phi-bô-sết ra gặp ông. Xi-ba mang theo hai con lừa chở theo hai trăm ổ bánh mì, một trăm bánh trái nho, một trăm bánh trái vả, và một bầu da đựng rượu.
2SA 16:2 Vua hỏi Xi-ba, “Những thứ nầy để làm gì?” Xi-ba trả lời, “Lừa để cho gia đình vua cỡi. Bánh mì và các bánh trái để cho các tôi tớ vua ăn. Còn rượu thì cho những ai đuối sức trong sa mạc uống.”
2SA 16:3 Vua hỏi “Mê-phi-bô-sết đâu rồi?” Xi-ba thưa, “Mê-phi-bô-sết đang ở tại Giê-ru-sa-lem vì người nghĩ, ‘Hôm nay dân Ít-ra-en trả nước của cha ta lại cho ta!’”
2SA 16:4 Vua liền bảo Xi-ba, “Được rồi. Những gì trước kia của Mê-phi-bô-sết nay ta cho ngươi hết.” Xi-ba thưa, “Tôi lạy vua. Tôi mong rằng lúc nào vua cũng tỏ lòng nhân từ đối với tôi.”
2SA 16:5 Khi vua Đa-vít đi đến Ba-hu-rim thì có một người đi ra chửi rủa vua. Hắn thuộc nhà Sau-lơ, tên Si-mê-i, con Ghê-ra.
2SA 16:6 Hắn ném đá vào Đa-vít và các đầy tớ, nhưng dân chúng và quân lính bao quanh Đa-vít.
2SA 16:7 Si-mê-i mắng chửi Đa-vít rằng, “Ê! Tên sát nhân, hãy cút đi, bớ tên gây rối!
2SA 16:8 CHÚA đang trừng phạt ngươi về tội giết những người trong gia đình Sau-lơ! Ngươi chiếm ngôi Sau-lơ, bây giờ CHÚA lấy nước lại khỏi tay ngươi để trao cho con ngươi là Áp-xa-lôm! Nay ngươi đã gặp khốn khổ vì ngươi là tên sát nhân!”
2SA 16:9 A-bi-sai, con Xê-ru-gia thưa với vua, “Tại sao thằng chó chết nầy dám chửi rủa vua? Để tôi đi chém đầu nó!”
2SA 16:10 Nhưng vua cản, “Con Xê-ru-gia ơi, chuyện nầy không liên quan gì đến ngươi cả! Nếu nó chửi rủa ta vì CHÚA bảo nó làm thì ai hạch hỏi Ngài được?”
2SA 16:11 Vua bảo A-bi-sai và các sĩ quan cận vệ, “Ngay cả con trai ta còn muốn giết ta nữa huống hồ gì người Bên-gia-min nầy! Để mặc nó, cho nó chửi rủa vì CHÚA bảo nó làm.
2SA 16:12 Có thể CHÚA sẽ thấy sự khốn khổ ta và đền đáp ta bằng những điều tốt thay vì những lời nguyền rủa của Si-mê-i hôm nay!”
2SA 16:13 Vậy Đa-vít và những người đi theo xuống đường cái còn Si-mê-i đi men theo sườn đồi. Hắn tiếp tục vừa đi vừa chửi rủa Đa-vít, ném đá và tung bụi về phía Đa-vít.
2SA 16:14 Khi vua và những người đi theo đến sông Giô-đanh thì tất cả đều mệt nhoài nên dừng chân nghỉ lấy sức tại đó.
2SA 16:15 Trong khi đó Áp-xa-lôm, A-hi-tô-phên, và tất cả người Ít-ra-en đã vào Giê-ru-sa-lem.
2SA 16:16 Hu-sai, người Ạc-kít, bạn Đa-vít ra đón Áp-xa-lôm thưa rằng, “Đức vua vạn tuế! Đức vua vạn tuế!”
2SA 16:17 Áp-xa-lôm hỏi, “Sao ngươi không trung thành với bạn ngươi đi? Sao ngươi không trốn khỏi Giê-ru-sa-lem với bạn ngươi?”
2SA 16:18 Hu-sai đáp, “Tôi phục vụ cho người được CHÚA và tất cả dân Ít-ra-en chọn lựa. Tôi sẽ ở với bệ hạ.
2SA 16:19 Rốt cuộc tôi phải phục vụ ai đây? Phải phục vụ con Đa-vít! Tôi sẽ phục vụ bệ hạ như tôi đã phục vụ vua cha của bệ hạ.”
2SA 16:20 Áp-xa-lôm bảo A-hi-tô-phên, “Bây giờ chúng ta phải hành động ra sao đây?”
2SA 16:21 A-hi-tô-phên đáp, “Cha của bệ hạ để lại một số cung nữ để chăm sóc cung điện. Vua hãy đi ăn nằm cùng họ. Như thế vua sẽ làm ô danh vua cha và dân chúng sẽ càng chạy theo bệ hạ thêm.”
2SA 16:22 Vậy người ta dựng lều trên nóc cung vua nơi mọi người Ít-ra-en đều nhìn thấy. Rồi Áp-xa-lôm làm tình với các cung nữ của Đa-vít.
2SA 16:23 Lúc đó người ta xem ý kiến của A-hi-tô-phên như lời của Thượng Đế vậy. Cả Đa-vít và Áp-xa-lôm đều nghĩ ý kiến của ông ta đáng tin.
2SA 17:1 A-hi-tô-phên bảo Áp-xa-lôm, “Cho tôi chọn mười hai ngàn quân để đuổi theo Đa-vít đêm nay.
2SA 17:2 Tôi sẽ tấn công cha vua trong khi đang mỏi mệt. Tôi sẽ làm cho cha vua hoảng sợ để những người đi theo đều bỏ chạy rồi tôi sẽ giết một mình Đa-vít thôi.
2SA 17:3 Sau đó tôi sẽ mang mọi người về với vua. Nếu người mà vua đi lùng đã chết thì ai nấy sẽ trở về bình yên.”
2SA 17:4 Nghe mưu kế nầy Áp-xa-lôm và các lãnh tụ Ít-ra-en thấy có vẻ hay.
2SA 17:5 Nhưng Áp-xa-lôm bảo, “Hãy gọi Hu-sai, người Ạc-kít để xem ý kiến ông ta ra sao.”
2SA 17:6 Khi Hu-sai vào, Áp-xa-lôm hỏi, “Kế hoạch A-hi-tô-phên như thế nầy. Chúng ta có nên theo không? Theo ý anh thì sao?”
2SA 17:7 Hu-sai bảo Áp-xa-lôm, “Lần nầy ý kiến A-hi-tô-phên không được hay lắm.”
2SA 17:8 Hu-sai tiếp, “Bệ hạ biết rõ cha vua và những người đi theo đều là dũng sĩ. Họ hung hăng như gấu cái bị cướp con. Cha vua cũng là tay thiện chiến. Ông ấy không ngủ đêm cùng đạo quân đâu.
2SA 17:9 Rất có thể ông ta đang ẩn náu trong hang hốc hay nơi nào đó. Nếu chúng ta tấn công lần đầu tiên mà thất bại thì tin đó sẽ loan ra thì dân chúng sẽ bảo, ‘Những kẻ theo Áp-xa-lôm thua rồi!’
2SA 17:10 Như thế thì dù cho đến các chiến sĩ bạo gan như sư tử cũng khiếp sợ vì ai trong Ít-ra-en cũng biết cha vua là tay dũng sĩ. Họ cũng biết những người theo cha vua rất gan dạ!
2SA 17:11 Tôi đề nghị thế nầy: Hãy tập họp tất cả mọi người tại Ít-ra-en, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba. Số đó sẽ đông như cát bờ biển rồi chính vua sẽ ra trận.
2SA 17:12 Chúng ta sẽ lùng kiếm Đa-vít bất cứ nơi nào ông ta trốn. Chúng ta sẽ đổ ào trên ông ta như sương rơi trên đất. Chúng ta sẽ giết ông ta và những kẻ đi theo không chừa một ai.
2SA 17:13 Nếu Đa-vít trốn vào thành nào, dân Ít-ra-en sẽ buộc dây vào thành đó kéo nó nhào xuống thung lũng. Không chừa một hòn đá nào!”
2SA 17:14 Áp-xa-lôm và dân Ít-ra-en bảo, “Ý kiến của Hu-sai người Ác-kít hay hơn ý kiến của A-hi-tô-phên.” CHÚA đã trù liệu phá hỏng mưu của A-hi-tô-phên để Ngài mang thảm họa đến cho Áp-xa-lôm.
2SA 17:15 Hu-sai cho Xa-đốc và A-bia-tha, thầy tế lễ, biết mưu chước mà A-hi-tô-phên đã đề nghị với Áp-xa-lôm cùng các bô lão Ít-ra-en. Ông cũng cho họ biết kế mà ông đưa ra. Hu-sai bảo,
2SA 17:16 “Nhanh lên! Báo cho Đa-vít biết. Bảo ông không nên ngủ đêm nay ở thung lũng trong sa mạc mà phải qua sông Giô-đanh lập tức. Nếu ông băng qua sông thì ông và những người đi theo sẽ không bị hại.”
2SA 17:17 Giô-na-than và A-hi-mát đang chờ ở Ên-Rô-gen. Họ không muốn vào thành vì sợ người ta thấy cho nên cho một đứa tớ gái đi ra đưa tin. Rồi Giô-na-than và A-hi-mát đi về báo cho Đa-vít hay.
2SA 17:18 Nhưng có một chú bé thấy Giô-na-than và A-hi-mát liền mách với Áp-xa-lôm. Vì vậy hai người ra đi ngay và đến nhà của một người ở Ba-hu-rim. Giữa sân nhà có cái giếng nên hai người leo xuống đó.
2SA 17:19 Vợ người ấy lấy một tấm vải phủ miệng giếng rồi phơi lúa lên trên. Không ai biết có người trốn trong giếng.
2SA 17:20 Các đầy tớ Áp-xa-lôm đến nhà hỏi người đàn bà, “A-hi-mát và Giô-na-than đâu?” Nàng bảo, “Họ băng qua suối rồi.” Các đầy tớ Áp-xa-lôm liền đuổi theo Giô-na-than và A-hi-mát nhưng tìm không ra cho nên họ quay trở về Giê-ru-sa-lem.
2SA 17:21 Sau khi các đầy tớ Áp-xa-lôm đi rồi, Giô-na-than và A-hi-mát liền trèo ra khỏi giếng đi báo tin cho Đa-vít. Họ bảo, “Phải băng qua sông mau lên! A-hi-tô-phên đã đưa ra những kế hoạch hại vua!”
2SA 17:22 Vậy Đa-vít và những người đi theo băng qua sông Giô-đanh. Đến sáng thì tất cả mọi người đều đã băng qua sông.
2SA 17:23 Khi A-hi-tô-phên thấy người Ít-ra-en không nghe theo ý kiến mình liền thắng yên cương lừa đi trở về thị trấn quê nhà mình. Sau khi dặn dò gia đình và trối trăn xong ông liền treo cổ tự tử. Ông chết và được chôn trong mộ của cha mình.
2SA 17:24 Đa-vít đến Ma-ha-na-im. Còn Áp-xa-lôm và quân Ít-ra-en băng qua sông Giô-đanh.
2SA 17:25 Áp-xa-lôm cử A-ma-sa chỉ huy quân đội thay cho Giô-áp. A-ma-sa là con của Giê-the, người Ích-ma-ên. Mẹ của A-ma-sa là A-bi-ga-in, con gái Na-hách, và là chị của Xê-ru-gia, mẹ Giô-áp.
2SA 17:26 Áp-xa-lôm và người Ít-ra-en đóng quân trong xứ Ghi-lê-át.
2SA 17:27 Sô-bi, Ma-kia, và Bát-xi-lai đang ở tại Ma-ha-na-im khi Đa-vít đến nơi. Sô-bi là con của Na-hách, người Am-môn, quê ở thành Ráp-ba. Ma-kia, con của Am-miên, gốc thành Lô-Đê-ba, và Bát-xi-lai gốc Rô-ghê-lim thuộc Ghi-lê-át.
2SA 17:28 Họ mang giường, chén bát, nồi niêu, lúa mì, lúa mạch, bột mì, gạo rang, đậu trái, đậu hột,
2SA 17:29 mật ong, bơ, chiên cừu, phó mát dâng cho Đa-vít và những người đi theo ăn. Họ bảo, “Đi trong sa mạc chắc mọi người đói và khát lắm!”
2SA 18:1 Đa-vít kiểm điểm quân sĩ và đặt họ chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm người.
2SA 18:2 Ông chia quân sĩ ra làm ba đạo. Giô-áp chỉ huy một phần ba. A-bi-sai, em Giô-áp, con Xê-ru-gia, chỉ huy một phần ba. Và Y-tai, người miền Gát, chỉ huy một phần ba còn lại. Vua Đa-vít bảo họ, “Ta sẽ đi ra trận với các ngươi.”
2SA 18:3 Nhưng họ bảo, “Vua không nên đi ra trận với chúng tôi! Giả sử đang khi đánh nhau mà chúng tôi bỏ chạy thì Áp-xa-lôm cũng không màng. Dù cho phân nửa chúng tôi bị giết, các binh sĩ của Áp-xa-lôm cũng không lưu ý. Nhưng vua đáng giá mười ngàn chúng tôi! Tốt hơn vua nên ở lại trong thành.”
2SA 18:4 Vua bảo họ, “Ta sẽ làm điều các ngươi cho là phải.” Vậy vua đứng bên cạnh cổng thành trong khi các binh sĩ đi ngang qua từng toán hàng trăm và hàng ngàn.
2SA 18:5 Vua bảo Giô-áp, A-bi-sai, và Y-tai, “Hãy vì ta mà nhẹ tay với Áp-xa-lôm.” Mọi người đều nghe thấy mệnh lệnh vua cho các quan chỉ huy liên quan đến Áp-xa-lôm.
2SA 18:6 Quân Đa-vít đi ra trận đánh nhau với người Ít-ra-en thuộc phe Áp-xa-lôm. Hai bên xáp chiến ở trong rừng Ép-ra-im.
2SA 18:7 Quân Đa-vít đánh bại quân Ít-ra-en. Hôm đó số người tử trận là hai mươi ngàn người.
2SA 18:8 Trận chiến lan tràn khắp xứ. Hôm ấy, số người chết vì gặp nguy hiểm trong rừng đông hơn chết vì đánh nhau.
2SA 18:9 Áp-xa-lôm tình cờ gặp quân Đa-vít. Trong khi Áp-xa-lôm đang cỡi lừa chạy thì nó chui bên dưới các nhành rậm rạp của một cây sồi. Đầu của Áp-xa-lôm vướng vào nhành cây, còn con lừa chạy thoát. Thế là Áp-xa-lôm bị treo lơ lửng trên không.
2SA 18:10 Có một binh sĩ thấy vậy liền báo cho Giô-áp, “Tôi thấy Áp-xa-lôm treo lơ lửng trên một cây sồi!”
2SA 18:11 Giô-áp hỏi lại, “Ngươi thấy hắn à? Sao ngươi không giết hắn để cho hắn rơi xuống đất đi? Ta sẽ thưởng cho ngươi một cái đai và bốn lượng bạc!”
2SA 18:12 Người đó đáp, “Dù ông cho tôi hai mươi lăm cân bạc đi nữa tôi cũng không dám đụng đến con vua. Chúng ta đã nghe vua ra lệnh cho ông, A-bi-sai, và Y-tai rằng, ‘Đừng làm hại gì đến Áp-xa-lôm.’
2SA 18:13 Nếu tôi giết anh ta thì trước sau vua cũng biết, còn ông thì chắc sẽ không bảo vệ tôi được!”
2SA 18:14 Giô-áp bảo, “Ta không thể nào phí thì giờ ở đây mà nghe ngươi!” Áp-xa-lôm vẫn còn sống và treo lơ lửng trên cây sồi, cho nên Giô-áp lấy ba cây giáo đâm vào tim Áp-xa-lôm.
2SA 18:15 Mười binh sĩ trẻ vác áo giáp cho Giô-áp cũng vây quanh Áp-xa-lôm liền đánh và giết Áp-xa-lôm.
2SA 18:16 Rồi Giô-áp thổi kèn, quân sĩ liền thôi đuổi theo người Ít-ra-en vì Giô-áp cản họ.
2SA 18:17 Các binh sĩ của Giô-áp khiêng xác Áp-xa-lôm quăng trong một hố lớn giữa rừng rồi lấy đá lấp lên. Còn tất cả người Ít-ra-en đều chạy trốn về nhà mình.
2SA 18:18 Lúc Áp-xa-lôm còn sống, anh dựng một trụ kỷ niệm cho mình trong thung lũng Vua. Anh bảo, “Ta không có con trai nối dõi.” Cho nên anh lấy tên mình đặt cho trụ đó và ngày nay vẫn gọi là Đài Kỷ niệm Áp-xa-lôm.
2SA 18:19 A-hi-mát, con trai Xa-đốc bảo Giô-áp, “Để tôi chạy về báo tin cho vua Đa-vít hay. Tôi sẽ báo cho vua hay rằng CHÚA đã cứu vua khỏi các kẻ thù.”
2SA 18:20 Giô-áp đáp cùng A-hi-mát, “Không, hôm nay ngươi không phải là người mang tin đó. Lúc khác thì được nhưng không được làm hôm nay vì con vua đã chết rồi.”
2SA 18:21 Rồi Giô-áp bảo một người xứ Cút, “Đi báo cho vua điều ngươi chứng kiến.” Người Cút đó cúi chào Giô-áp rồi chạy đi báo tin cho Đa-vít.
2SA 18:22 Nhưng A-hi-mát, con Xa-đốc cứ năn nỉ Giô-áp, “Dù sao cũng mặc, cho tôi đi theo người Cút nầy!” Giô-áp bảo, “Con ơi, tại sao con muốn đi báo tin đó? Con sẽ không được thưởng gì đâu.”
2SA 18:23 A-hi-mát đáp, “Ra sao thì ra, tôi cũng vẫn chạy theo.” Giô-áp liền bảo, “Đi đi!” Vậy A-hi-mát chạy theo lối Thung lũng sông Giô-đanh và qua mặt người Cút.
2SA 18:24 Đa-vít đang ngồi ở giữa hai cổng trong và ngoài của thành. Người gác vọng canh leo lên nóc cổng bằng vách thành. Khi nhìn ra thì thấy một người đang chạy đến.
2SA 18:25 Anh ta kêu to để báo cho vua. Vua bảo, “Nếu nó chạy một mình chắc nó mang tin tốt!” Người đó chạy mỗi lúc một gần tới thành.
2SA 18:26 Rồi người gác vọng canh thấy một người nữa đang chạy. Anh ta kêu người gác cổng, “Kìa, lại có một người nữa chạy một mình!” Vua bảo, “Chắc nó cũng mang tin mừng!”
2SA 18:27 Người gác vọng canh bảo, “Tôi thấy người chạy đầu tiên giống như A-hi-mát, con Xa-đốc.” Vua bảo, “A-hi-mát là người tốt. Chắc nó mang tin vui!”
2SA 18:28 Rồi A-hi-mát kêu lên chào vua. Anh sấp mặt xuống đất trước vua và thưa, “Mọi việc đều tốt đẹp. Chúc tụng CHÚA là Thượng Đế của bệ hạ vì Ngài đã đánh bại những kẻ chống bệ hạ.”
2SA 18:29 Vua hỏi, “Chàng trai trẻ Áp-xa-lôm bình yên không?” A-hi-mát thưa, “Khi Giô-áp sai tôi đi, tôi nghe có tiếng huyên náo nhưng tôi không biết chuyện gì.”
2SA 18:30 Vua bảo, “Ngươi hãy bước qua đây và chờ đó.” Vậy A-hi-mát bước qua một bên và đứng chờ.
2SA 18:31 Rồi người Cút đến. Anh nói, “Thưa chủ và vua tôi, hãy nghe tin vui nầy! Hôm nay CHÚA đã trừng phạt những kẻ chống bệ hạ!”
2SA 18:32 Vua hỏi người Cút, “Chàng trai trẻ Áp-xa-lôm bình yên không?” Người Cút đáp, “Nguyện các kẻ thù của bệ hạ đều gặp số phận như anh chàng đó!”
2SA 18:33 Vua rất buồn bực cho nên đi lên phòng trên cổng thành và khóc. Vua vừa đi vừa khóc lớn, “Áp-xa-lôm, con ơi, Áp-xa-lôm, con ơi! Ước gì cha chết thế cho con. Áp-xa-lôm, con ơi là con!”
2SA 19:1 Dân chúng bảo Giô-áp, “Xem kìa! Vua buồn rầu và than khóc Áp-xa-lôm.”
2SA 19:2 Hôm đó quân Đa-vít thắng trận. Nhưng ngày vui lại hóa ra buồn thảm cho mọi người vì họ nghe vua rất buồn bực vì con mình chết.
2SA 19:3 Mọi người lặng lẽ đi vào thành hôm đó. Ai nấy đều giống như một đạo quân thua trận bỏ chạy.
2SA 19:4 Vua trùm mặt và khóc lớn, “Áp-xa-lôm, con ơi! Áp-xa-lôm, con ơi là con!”
2SA 19:5 Giô-áp đi vào cung và bảo, “Hôm nay bệ hạ đã sỉ nhục tất cả các người theo bệ hạ. Họ đã cứu mạng sống bệ hạ, mạng sống con trai, con gái, vợ và các hầu thiếp bệ hạ.
2SA 19:6 Nhưng bệ hạ đã làm nhục họ vì bệ hạ thương những người ghét bệ hạ và ghét những người thương bệ hạ. Hôm nay bệ hạ đã cho mọi người thấy rõ là các cấp chỉ huy của bệ hạ và các người theo bệ hạ chẳng có nghĩa gì đối với bệ hạ cả. Nếu Áp-xa-lôm còn sống còn tất cả chúng tôi đây đều chết chắc bệ hạ hài lòng lắm phải không?
2SA 19:7 Bây giờ xin bệ hạ đi ra ủy lạo các tôi tớ bệ hạ. Tôi chỉ danh CHÚA mà thề rằng nếu bệ hạ không bước ra thì đêm nay sẽ không còn người nào ở bên bệ hạ cả! Như thế còn tệ hại hơn những khốn đốn mà bệ hạ đã trải qua từ hồi trẻ cho đến hôm nay.”
2SA 19:8 Vì thế vua đi ra cửa thành. Khi được tin vua ra cửa thành thì mọi người đi ra chào hỏi vua. Tất cả những người Ít-ra-en đi theo Áp-xa-lôm đều đã chạy trốn về nhà mình.
2SA 19:9 Dân chúng trong các chi tộc Ít-ra-en bắt đầu cãi nhau rằng, “Vua đã giải cứu chúng ta khỏi người Phi-li-tin và các kẻ thù khác nhưng phải bỏ xứ ra đi vì Áp-xa-lôm.
2SA 19:10 Chúng ta cử Áp-xa-lôm cai trị chúng ta nhưng bây giờ ông đã chết trong chiến trận. Chúng ta nên cử Đa-vít làm vua trở lại.”
2SA 19:11 Vua Đa-vít nhắn Xa-đốc và A-bia-tha là các thầy tế lễ rằng, “Hãy bảo các bô lão Giu-đa như sau, ‘Ngồi trong nhà ta cũng nghe dân Ít-ra-en bàn tán. Như thế tại sao các ngươi lại là chi tộc cuối cùng đưa ta về cung?
2SA 19:12 Các ngươi là anh em, thân tộc ta. Tại sao các ngươi là chi tộc cuối cùng mang vua trở về?’
2SA 19:13 Hãy bảo A-ma-sa, ‘Ngươi là thân tộc ta. Nếu ta không cử ngươi làm chỉ huy quân đội thế cho Giô-áp, nguyện CHÚA phạt ta nặng nề!’”
2SA 19:14 Thế là Đa-vít được lòng toàn dân Giu-đa ngay. Họ sai người nhắn vua, “Xin bệ hạ hãy trở về cùng các người đi theo.”
2SA 19:15 Vậy Đa-vít trở về đến sông Giô-đanh. Người Giu-đa ra Ghinh-ganh đón vua đưa qua sông Giô-đanh.
2SA 19:16 Si-mê-i, con Ghê-ra, người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, vội vàng cùng những người Giu-đa ra đón vua Đa-vít.
2SA 19:17 Cùng đi với Si-mê-i, có một ngàn người Bên-gia-min. Xi-ba, tôi tớ của nhà Sau-lơ cũng ra đón mang theo mười lăm con trai và hai mươi tôi tớ. Họ vội vàng đi đến sông Giô-đanh để đón vua.
2SA 19:18 Dân chúng đi qua sông Giô-đanh để giúp đưa gia đình vua trở về Giu-đa và làm những gì Đa-vít cần. Khi vua đi ngang qua sông thì Si-mê-i, con Ghê-ra đến gặp vua và cúi sấp mặt xuống đất trước mặt vua.
2SA 19:19 Hắn thưa với vua, “Thưa chúa, xin đừng kết tội tôi. Xin đừng nhớ lầm lỗi tôi khi vua rời Giê-ru-sa-lem. Xin đừng để bụng giận tôi.
2SA 19:20 Tôi biết mình có lỗi. Vì thế mà tôi là người đầu tiên từ nhà Giô-xép xuống đón vua và chúa tôi hôm nay!”
2SA 19:21 Nhưng A-bi-sai, con Xê-ru-gia bảo, “Thằng Si-mê-i phải chết vì nó đã chửi rủa ngài, là vua được CHÚA bổ nhiệm!”
2SA 19:22 Đa-vít bảo, “Con Xê-ru-gia ơi, việc nầy không can hệ gì đến ngươi! Đừng làm trái ý ta. Sẽ không có ai trong Ít-ra-en bị xử tử ngày hôm nay. Hôm nay ta sẽ làm vua trên Ít-ra-en!”
2SA 19:23 Rồi vua hứa cùng Si-mê-i, “Ngươi sẽ không chết đâu.”
2SA 19:24 Mê-phi-bô-sết, cháu Sau-lơ, cùng đi xuống đón vua Đa-vít. Mê-phi-bô-sết không chăm sóc chân đau, không cạo râu và cũng không giặt áo quần từ ngày nhà vua rời Giê-ru-sa-lem cho đến khi vua trở về bình yên.
2SA 19:25 Khi Mê-phi-bô-sết từ Giê-ru-sa-lem ra đón vua thì vua hỏi, “Mê-phi-bô-sết, tại sao ngươi không đi với ta?”
2SA 19:26 Người đáp, “Thưa chúa, Xi-ba, kẻ tôi tớ tôi gạt tôi! Tôi bảo Xi-ba, ‘Tao bị liệt cho nên hãy chuẩn bị yên cương cho lừa để ta đi theo với vua.’
2SA 19:27 Nhưng nó dối tôi về bệ hạ. Ngài, chúa và vua tôi, như thiên sứ của Thượng Đế. Ngài hãy làm điều gì ngài cho là phải.
2SA 19:28 Bệ hạ có thể giết cả gia đình ông nội tôi. Nhưng bệ hạ lại cho tôi chung bàn với bệ hạ cho nên tôi đâu dám xin gì thêm nữa từ bệ hạ!”
2SA 19:29 Vua bảo ông, “Thôi đừng nói gì thêm nữa. Ta đã định rằng ngươi và Xi-ba sẽ chia nhau đất.”
2SA 19:30 Mê-phi-bô-sết thưa với vua, “Thôi hãy để cho Xi-ba lấy hết đất đi vì bây giờ vua đã trở về nhà bình yên rồi.”
2SA 19:31 Bát-xi-lai người miền Ghi-lê-át cũng từ Rô-ghê-lim cũng đến giúp vua băng qua sông Giô-đanh.
2SA 19:32 Bát-xi-lai đã tám mươi tuổi, già lắm rồi. Ông đã chăm lo cho vua từ khi Đa-vít còn ở Ma-ha-na-im, vì Bát-xi-lai rất giàu.
2SA 19:33 Đa-vít bảo Bát-xi-lai, “Hãy băng qua sông ở với ta tại Giê-ru-sa-lem, ta sẽ lo cho ngươi.”
2SA 19:34 Nhưng Bát-xi-lai thưa, “Bệ hạ có biết tôi bao nhiêu tuổi không? Bệ hạ có nghĩ rằng tôi có thể đi nổi với bệ hạ đến Giê-ru-sa-lem không?
2SA 19:35 Tôi đã tám mươi rồi! Ăn uống không còn biết mùi vị gì. Tôi già rồi đâu còn nghe tiếng hát của nam nữ ca sĩ được nữa. Sao bệ hạ bận tâm về tôi làm gì?
2SA 19:36 Tôi không đáng nhận phần thưởng gì từ bệ hạ nhưng tôi sẽ băng qua sông Giô-đanh với bệ hạ.
2SA 19:37 Xong rồi để tôi đi về chết trong thành tôi, gần mồ mả của cha mẹ tôi. Nhưng đây là Kim-ham, tôi tớ tôi. Để nó đi theo hầu vua chúa tôi. Bệ hạ cần dùng nó việc gì cũng được.”
2SA 19:38 Vua đáp, “Thôi được, Kim-ham sẽ đi với ta. Ta sẽ làm cho nó bất cứ điều gì ngươi muốn, và ta sẽ làm cho ngươi bất cứ điều gì ngươi ao ước.”
2SA 19:39 Tất cả quân sĩ băng qua sông Giô-đanh trước, vua còn ở lại. Rồi vua hôn Bát-xi-lai và chúc phước cho ông. Bát-xi-lai trở về nhà mình.
2SA 19:40 Khi vua qua đến Ghinh-ganh thì Kim-ham đi theo. Tất cả các quân sĩ của Giu-đa và phân nửa quân sĩ Ít-ra-en hộ tống vua qua sông Giô-đanh.
2SA 19:41 Người Ít-ra-en liền đến gặp vua hỏi, “Tại sao thân nhân chúng tôi là người Giu-đa, cướp vua đi? Tại sao họ mang bệ hạ và gia đình bệ hạ cùng những người theo bệ hạ băng qua sông Giô-đanh?”
2SA 19:42 Tất cả người Giu-đa trả lời người Ít-ra-en rằng, “Chúng tôi làm như thế nầy vì vua là thân nhân cật ruột của chúng tôi. Sao các ngươi tức giận làm gì? Chúng tôi không có ăn nhờ gì của vua hay lấy vật gì riêng cho chúng tôi cả!”
2SA 19:43 Người Ít-ra-en đáp với người Giu-đa, “Chúng tôi có mười chi tộc của Đa-vít, cho nên chúng tôi có nhiều quyền đối với Đa-vít hơn các ngươi! Nhưng các ngươi không thèm đếm xỉa gì đến chúng tôi cả! Chính chúng tôi là những người đầu tiên bàn định việc mang vua trở về!” Nhưng người Giu-đa ăn nói gay gắt hơn người Ít-ra-en.
2SA 20:1 Tình cờ có một kẻ gây rối tên Sê-ba, con trai Bích-ri từ chi tộc Bên-gia-min có mặt ở đó. Hắn thổi kèn và tuyên bố: “Chúng ta không có phần gì với Đa-vít! Chúng ta không liên quan gì đến con trai Gie-sê! Hỡi dân Ít-ra-en, hãy trở về nhà mình!”
2SA 20:2 Vậy toàn dân Ít-ra-en ly khai Đa-vít và đi theo Sê-ba, con trai Bích-ri. Nhưng người Giu-đa theo Đa-vít suốt từ sông Giô-đanh cho đến Giê-ru-sa-lem.
2SA 20:3 Đa-vít trở về cung vua ở Giê-ru-sa-lem. Ông đã để lại mười cung nữ để chăm sóc cung vua. Sau khi về, ông bắt tất cả phải ở trong cung cấm. Ông cho họ ăn uống nhưng không ăn nằm với họ nữa. Cho nên họ sống như góa phụ cho đến ngày qua đời.
2SA 20:4 Vua nói với A-ma-sa, “Hãy bảo người Giu-đa ba ngày nữa trình diện ta, ngươi cũng phải có mặt ở đây.”
2SA 20:5 Vậy A-ma-sa đi ra tập họp người Giu-đa nhưng làm chậm chạp hơn thời hạn vua dặn.
2SA 20:6 Đa-vít bảo A-bi-sai, “Sê-ba, con trai Bích-ri còn nguy hiểm cho chúng ta hơn cả Áp-xa-lôm nữa. Hãy mang quân lính ta đuổi theo nó trước khi nó tìm được các thành có vách kiên cố và trốn thoát khỏi tay chúng ta.”
2SA 20:7 Vậy những quân sĩ của Giô-áp, người Kê-rê-thít, và Phê-rê-thít, cùng tất cả binh sĩ đều đi theo A-bi-sai. Họ từ Giê-ru-sa-lem đổ ra rượt theo Sê-ba, con Bích-ri.
2SA 20:8 Khi Giô-áp và đạo quân đến tảng đá lớn ở Ghi-bê-ôn thì A-ma-sa đi ra gặp họ. Giô-áp đang mặc quân phục, bên hông mang cái đai xỏ cây gươm trong vỏ. Khi Giô-áp bước tới thì gươm tuột ra khỏi vỏ.
2SA 20:9 Giô-áp hỏi A-ma-sa, “Anh ơi, mọi việc đều tốt đẹp cả chứ?” Rồi ông giơ tay phải ra nắm râu A-ma-sa để hôn.
2SA 20:10 A-ma-sa không coi chừng cây giáo trong tay Giô-áp. Giô-áp liền đâm vào bụng A-ma-sa khiến ruột đổ ra trên đất. Giô-áp không phải đâm lại lần thứ nhì vì A-ma-sa chết rồi. Sau đó Giô-áp và em mình là A-bi-sai rượt theo Sê-ba, con Bích-ri.
2SA 20:11 Một trong các chàng thanh niên theo Giô-áp đứng bên cạnh xác A-ma-sa bảo, “Ai theo phe Giô-áp và Đa-vít hãy đi theo Giô-áp!”
2SA 20:12 A-ma-sa đang nằm chết trong vũng máu giữa đường. Khi chàng thanh niên thấy ai nấy cũng dừng lại nhìn xác thì lôi xác ra khỏi đường, để nằm trong một đám ruộng, rồi lấy một miếng vải phủ lên.
2SA 20:13 Sau khi xác A-ma-sa được kéo ra khỏi đường cái thì tất cả người đi theo Giô-áp rượt đuổi Sê-ba, con Bích-ri.
2SA 20:14 Sê-ba đi suốt hết các chi tộc Ít-ra-en cho đến A-bên Bết-Ma-a-ca. Tất cả dân Bê-ri đều họp lại đi theo hắn.
2SA 20:15 Giô-áp và quân lính đi theo đến bao vây A-bên Bết-Ma-a-ca. Họ đắp đất sát vách thành và bắt đầu chọc phá vách để cho nó đổ xuống.
2SA 20:16 Nhưng có một người đàn bà khôn khéo từ trong thành kêu lên, “Nghe đây, nghe đây! Làm ơn bảo Giô-áp đến đây. Tôi muốn nói chuyện với ông ta!”
2SA 20:17 Vậy Giô-áp đến gần bà. Bà hỏi, “Ông phải Giô-áp không?” Ông đáp, “Phải.” Bà tiếp, “Nghe tôi nói đây.” Giô-áp đáp, “Tôi nghe đây.”
2SA 20:18 Người đàn bà bảo, “Trước đây người ta hay nói, ‘Hãy đi hỏi ý kiến A-bên,’ thì vấn đề sẽ được giải quyết xong xuôi.
2SA 20:19 Tôi là một trong những người hiếu hòa, trung thành của Ít-ra-en. Ông đang tìm cách tiêu hủy một thành quan trọng của Ít-ra-en. Tại sao ông phải tiêu hủy tài sản của CHÚA?”
2SA 20:20 Giô-áp trả lời, “Ta đâu có muốn tiêu hủy hay phá hại vật gì đâu!
2SA 20:21 Đó không phải là ý định của ta. Nhưng ở đây có một người từ vùng núi Ép-ra-im tên Sê-ba, con Bích-ri. Hắn phản nghịch vua Đa-vít. Nếu các ngươi giải hắn đến cho ta, ta sẽ không đụng gì đến thành cả.” Người đàn bà bảo Giô-áp, “Người ta sẽ ném đầu hắn qua vách thành cho ông.”
2SA 20:22 Người đàn bà liền khôn khéo đi nói chuyện với dân trong thành. Họ cắt đầu Sê-ba, con Bích-ri và ném qua vách thành cho Giô-áp. Ông thổi kèn, quân lính liền rời bỏ thành. Ai nấy trở về nhà, còn Giô-áp đi trở về với vua ở Giê-ru-sa-lem.
2SA 20:23 Giô-áp làm tư lệnh toàn quân Ít-ra-en. Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa chỉ huy người Kê-rê-thít và Bê-lê-thít.
2SA 20:24 A-đô-ram coi sóc toán lao công. Giê-hô-sa-phát, con A-li-hút là lục sự.
2SA 20:25 Sê-ba là bí thư của vua. Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ,
2SA 20:26 còn Y-ra, người Giai-rít làm thầy tế lễ riêng cho Đa-vít.
2SA 21:1 Vào thời Đa-vít trị xảy ra nạn đói trong ba năm. Cho nên Đa-vít cầu nguyện cùng CHÚA. CHÚA đáp, “Sau-lơ và gia đình người có nợ máu. Đó là nguyên nhân của nạn đói nầy vì chúng nó giết hại người Ghi-bê-ôn.”
2SA 21:2 Người Ghi-bê-ôn không phải là người Ít-ra-en, họ chỉ là một nhóm người A-mô-rít được cho sống sót. Người Ít-ra-en đã hứa không làm hại người Ghi-bê-ôn nhưng Sau-lơ tìm cách giết họ vì ông ta muốn giúp người Ít-ra-en và Giu-đa. Vua Đa-vít gọi người Ghi-bê-ôn lại nói chuyện.
2SA 21:3 Ông hỏi, “Bây giờ các ngươi muốn ta làm gì đây? Làm sao ta có thể đền bù thiệt hại để các ngươi chúc phước cho dân CHÚA?”
2SA 21:4 Người Ghi-bê-ôn thưa với Đa-vít, “Chúng tôi không thể đòi bạc hay vàng từ Sau-lơ hay gia đình ông ta. Chúng tôi cũng không có quyền giết ai trong Ít-ra-en.” Đa-vít liền hỏi, “Vậy các ngươi muốn ta làm gì cho các ngươi đây?”
2SA 21:5 Người Ghi-bê-ôn đáp, “Sau-lơ lập mưu nghịch và tìm cách giết hại những người chúng tôi còn sống sót trong xứ Ít-ra-en.
2SA 21:6 Cho nên xin giao nộp bảy con trai Sau-lơ cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ giết chúng và treo trên các cây sào trước mặt CHÚA ở Ghi-bê-a, quê quán của Sau-lơ, vua được CHÚA chọn.” Vua đáp, “Ta sẽ trao chúng nó cho các ngươi.”
2SA 21:7 Nhưng vua che chở Mê-phi-bô-sết, con Giô-na-than, cháu Sau-lơ, vì lời vua đã hứa cùng Giô-na-than trong danh CHÚA.
2SA 21:8 Vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết, các con trai của Rít-ba và Sau-lơ. Rít-ba là con gái của Ai-gia. Vua cũng bắt năm con trai của Mê-ráp, con gái Sau-lơ. A-ri-ên, con của Bát-xi-lai người Mê-hô-la là cha của năm đứa con trai, con của Mê-ráp.
2SA 21:9 Đa-vít trao bảy người con đó cho dân Ghi-bê-ôn. Người Ghi-bê-ôn liền giết chúng treo thây trên các cây sào trên đồi trước mặt CHÚA. Bảy người đều cùng chết. Chúng bị xử tử vào những ngày đầu của mùa gặt lúa mạch.
2SA 21:10 Rít-ba, con gái Ai-gia lấy vải sô đã cũ làm khăn tang và trải trên một tảng đá. Nàng ở đó từ lúc bắt đầu mùa gặt cho đến khi mưa rơi xuống trên thây của các con trai mình. Ban ngày nàng đuổi không cho chim trời đến rỉa xác, và ban đêm không cho muông thú đến gần.
2SA 21:11 Dân chúng thuật lại cho Đa-vít hay việc Rít-ba, con gái Ai-gia, hầu thiếp của Sau-lơ làm.
2SA 21:12 Đa-vít liền thu nhặt hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than từ dân Gia-be ở Ghi-lê-át. Người Phi-li-tin đã treo xác Sau-lơ và Giô-na-than nơi phố chợ ở Bết-San sau khi họ giết Sau-lơ ở Ghinh-bô-a. Sau đó dân Gia-be ở Ghi-lê-át đến lấy trộm xác họ ở đó.
2SA 21:13 Đa-vít mang hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông từ Ghi-lê-át về. Rồi dân chúng gom các thây của bảy con trai Sau-lơ bị treo trên cây sào.
2SA 21:14 Họ chôn hài cốt Sau-lơ và con trai ông là Giô-na-than ở Xê-la thuộc đất Bên-gia-min, trong mộ của Kích, cha Sau-lơ. Dân chúng làm y theo điều vua truyền dặn. Sau đó Thượng Đế nghe lời cầu nguyện cho xứ.
2SA 21:15 Chiến tranh lại bùng nổ giữa dân Phi-li-tin và dân Ít-ra-en. Đa-vít và quân sĩ ông đi ra đánh dân Phi-li-tin, nhưng Đa-vít cảm thấy mệt mỏi lắm.
2SA 21:16 Ích-bi Bê-nốp, một trong các con cháu của Ra-pha có một cây giáo đồng mà lưỡi nó nặng bảy cân rưỡi và các vũ khí mới. Hắn dọa giết Đa-vít,
2SA 21:17 nhưng A-bi-sai, con Xê-ru-gia giết người Phi-li-tin ấy, cứu sống Đa-vít. Các quân sĩ của Đa-vít bảo ông rằng, “Xin bệ hạ đừng bao giờ ra trận với chúng tôi nữa vì nếu bệ hạ thiệt mạng, Ít-ra-en sẽ mất đi một lãnh tụ vĩ đại nhất.”
2SA 21:18 Sau đó có một trận đánh khác với dân Phi-li-tin ở Góp. Xíp-bê-cai người Hu-sa giết Xáp, một trong những con cháu khác của Ra-pha.
2SA 21:19 Sau đó lại có thêm một trận đánh nữa với dân Phi-li-tin ở Góp. Ên-ha-nan, con trai của Gia-rê Ô-rê-ghim ở Bết-lê-hem, giết La-mi, anh của Gô-li-át, người Gát. Cái giáo hắn lớn như trục thợ dệt.
2SA 21:20 Ngoài ra cũng xảy ra một trận đánh nữa ở Gát. Ở đó có một người khổng lồ. Hắn có sáu ngón trên bàn tay và sáu ngón trên bàn chân, tức hai mươi bốn ngón tất cả. Hắn cũng là một trong những con cháu của Ra-pha.
2SA 21:21 Khi hắn sỉ nhục Ít-ra-en thì Giô-na-than, con Si-mê-a, anh Đa-vít, giết hắn.
2SA 21:22 Như thế bốn con cháu của Ra-pha miền Gát đều bị Đa-vít và binh sĩ ông giết chết.
2SA 22:1 Đa-vít ca bày nầy cho CHÚA sau khi Ngài đã giải cứu ông khỏi Sau-lơ và các thù nghịch khác.
2SA 22:2 Ông nói: “CHÚA là tảng đá, nguồn che chở tôi, Đấng Cứu Rỗi tôi.
2SA 22:3 CHÚA là khối đá, nơi tôi chạy đến ẩn núp. Ngài là cái thuẫn và là sức mạnh cứu tôi, Đấng bênh vực và là nơi trú ẩn tôi. CHÚA cứu tôi khỏi mọi kẻ muốn làm hại tôi.
2SA 22:4 Tôi kêu cầu cùng CHÚA, Ngài là Đấng đáng được ca ngợi. Tôi sẽ được giải thoát khỏi tay kẻ thù.
2SA 22:5 Các làn sóng chết vây quanh tôi; sông sự chết bao phủ tôi.
2SA 22:6 Các dây sự chết quấn chặt tôi. Bẫy sự chết ở trước tôi.
2SA 22:7 Trong cảnh khốn cùng, tôi kêu xin cùng CHÚA. Tôi van xin Ngài giúp đỡ. Từ đền thờ Ngài, CHÚA nghe tiếng tôi; Lời kêu cứu tôi thấu đến tai CHÚA.
2SA 22:8 Đất rung chuyển mạnh. Các nền trời bị lay động. Chúng rung chuyển vì CHÚA nổi giận.
2SA 22:9 Khói xịt ra từ lỗ mũi Ngài, miệng Ngài phát ra ngọn lửa hừng, than cháy đỏ đi trước mặt Ngài.
2SA 22:10 CHÚA xé toạc các từng trời và ngự xuống, trong đám mây đen kịt dưới chân.
2SA 22:11 Ngài cỡi thú có cánh và bay. Ngài lượn trên cánh gió.
2SA 22:12 CHÚA dùng bóng tối che phủ mình, nơi ở Ngài có mây mù vây kín.
2SA 22:13 Từ sự hiện diện rực rỡ của Ngài phát ra sấm sét.
2SA 22:14 CHÚA làm sấm rền từ trời; Đấng Tối Cao gầm lên,
2SA 22:15 Ngài bắn tên làm quân thù chạy tán loạn. Sấm chớp khiến chúng lúng túng và kinh hãi.
2SA 22:16 CHÚA nạt một tiếng. Gió thổi ra từ lỗ mũi Ngài. Các đáy biển sâu lộ ra, và các nền lục địa phơi bày.
2SA 22:17 Từ trên cao CHÚA với tay đỡ tôi; Ngài kéo tôi lên khỏi đáy nước sâu.
2SA 22:18 Ngài cứu tôi khỏi tay kẻ thù mạnh hơn tôi, khỏi tay kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
2SA 22:19 Trong cơn khốn khó chúng tấn công tôi, nhưng CHÚA nâng đỡ tôi.
2SA 22:20 Ngài đưa tôi đến chỗ an toàn. Vì ưa thích tôi nên Ngài cứu tôi.
2SA 22:21 Ngài để tôi sống vì tôi làm điều ngay thẳng. Ngài ban thưởng tôi vì tôi không làm điều gian ác.
2SA 22:22 Tôi đã đi theo đường lối CHÚA dạy; Tôi không làm điều ác bằng cách quay khỏi CHÚA.
2SA 22:23 Tôi không quên luật lệ CHÚA, không vi phạm qui tắc của Ngài.
2SA 22:24 Tôi trong sạch trước mặt CHÚA; tôi tránh không làm điều ác.
2SA 22:25 CHÚA thưởng tôi vì tôi làm điều ngay thẳng, vì tôi làm điều đẹp ý CHÚA.
2SA 22:26 Lạy CHÚA, người nào trung kiên, thì Ngài cũng trung kiên lại, người nào chính trực thì Ngài cũng tỏ lòng chính trực lại.
2SA 22:27 CHÚA thánh sạch đối với kẻ thánh sạch, nhưng Ngài nghịch lại kẻ gian ác.
2SA 22:28 Ngài cứu người khiêm nhường, nhưng hạ kẻ tự phụ xuống.
2SA 22:29 Lạy CHÚA, Ngài ban ánh sáng cho ngọn đèn của tôi. Thượng Đế chiếu sáng chỗ tối quanh tôi.
2SA 22:30 Nhờ Ngài giúp đỡ, tôi có thể tấn công cả đạo binh. Nhờ Ngài yễm trợ, tôi có thể nhảy qua tường thành.
2SA 22:31 Đường lối Thượng Đế vô cùng hoàn hảo. Lời CHÚA rất tinh sạch. Ngài là thuẫn đỡ cho kẻ nào tin cậy nơi Ngài.
2SA 22:32 Ai là Thượng Đế? Chỉ một mình CHÚA thôi. Ai là Khối Đá? Chỉ một mình Thượng Đế của chúng ta thôi.
2SA 22:33 Thượng Đế là nơi bảo vệ tôi. Ngài khiến các lối đi của tôi không vấp ngã.
2SA 22:34 Ngài khiến tôi chạy nhanh như nai mà không vấp ngã; Ngài giúp tôi đứng trên các núi cao.
2SA 22:35 Ngài luyện tay tôi chiến đấu cho nên cánh tay tôi có thể giương nổi cung đồng.
2SA 22:36 Ngài che chở tôi bằng cái thuẫn cứu rỗi của Ngài. Ngài cúi xuống để đỡ tôi lên, khiến tôi trở nên mạnh mẽ.
2SA 22:37 Ngài mở rộng đường tôi đi, để tôi không bước lảo đảo.
2SA 22:38 Tôi rượt đuổi theo kẻ thù và tiêu diệt chúng. Tôi không ngưng tay cho đến khi chúng nó hoàn toàn bị tiêu diệt.
2SA 22:39 Tôi chà đạp chúng đến nỗi chúng không ngóc đầu dậy được. Chúng nằm mọp dưới chân tôi.
2SA 22:40 Ngài thêm sức cho tôi trong chiến trận. Ngài khiến kẻ thù phải quì lạy trước mặt tôi.
2SA 22:41 Ngài khiến kẻ thù lui bước, tôi tiêu diệt những kẻ ghét tôi.
2SA 22:42 Chúng kêu cứu nhưng không ai đến giúp. Chúng kêu cầu CHÚA nhưng Ngài chẳng thèm trả lời.
2SA 22:43 Tôi đánh tan nát các kẻ thù tôi, giống như bụi bị gió thổi. Tôi trút chúng ra và dẫm lên chúng như bùn trên đường.
2SA 22:44 Khi người ta tấn công tôi thì Ngài đến cứu tôi. Ngài lập tôi làm lãnh tụ các quốc gia. Những dân tôi chưa hề biết sẽ thần phục tôi.
2SA 22:45 Các người ngoại quốc cũng sẽ vâng theo tôi. Khi nghe đến tôi, họ tuân phục tôi.
2SA 22:46 Chúng vô cùng sợ hãi và run rẩy trong nơi trú ẩn của mình.
2SA 22:47 CHÚA muôn năm! Khối Đá tôi đáng được ca ngợi. Đáng ca ngợi Thượng Đế là Đấng cứu tôi!
2SA 22:48 Thượng Đế giúp tôi đắc thắng kẻ thù tôi, Ngài đặt mọi dân dưới quyền tôi.
2SA 22:49 Ngài cứu tôi khỏi tay kẻ thù. Ngài đặt tôi lên trên kẻ ghét tôi. Ngài cứu tôi khỏi kẻ hung ác.
2SA 22:50 Cho nên, CHÚA ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân. Tôi sẽ hát khen danh Ngài.
2SA 22:51 CHÚA ban chiến thắng cho vua của Ngài. Ngài thành tín đối với vua mà Ngài đã lập, với Đa-vít và dòng dõi người cho đến mãi mãi.”
2SA 23:1 Sau đây là những lời từ giã của Đa-vít. Đây là tuyên ngôn của Đa-vít, con trai Gie-xê. Người được Đấng Tối Cao nâng lên bậc vĩ đại lên tiếng. Người là vua được Thượng Đế của Gia-cốp chỉ định; người là ca sĩ dịu dàng trong Ít-ra-en:
2SA 23:2 “Thần linh CHÚA phán qua ta, đặt lời Ngài trên lưỡi ta.
2SA 23:3 Thượng Đế của Ít-ra-en phán; Khối Đá của Ít-ra-en bảo ta: Ai cai trị công minh trên dân ta, ai cai trị trong sự kính sợ Thượng Đế,
2SA 23:4 giống như ánh sáng bình minh, như buổi sáng trời trong, quang đãng. Người như tia sáng mặt trời sau cơn mưa, khiến cỏ non mọc lên từ đất.
2SA 23:5 Thượng Đế chăm nom gia đình ta như thế nầy. Ngài lập giao ước đời đời với ta, giao ước phải lẽ và vững chắc mọi mặt. Ngài sẽ hoàn tất sự cứu rỗi cho ta, thỏa mãn mọi ước vọng ta.
2SA 23:6 Nhưng những kẻ ác sẽ bị ném đi như gai gốc không ai dám nắm trong tay.
2SA 23:7 Không ai đám đụng đến nếu không dùng kềm sắt hay kẹp gỗ. Chúng sẽ bị ném vào lửa và cháy phừng trong đó.”
2SA 23:8 Sau đây là tên của những chiến sĩ của Đa-vít: Giô-sép Bát-sê-bết, người Ta-kê-mô-nít là trưởng toán đặc biệt của vua. Trong một cuộc chạm trán anh ta giết tám trăm người.
2SA 23:9 Kế đến là Ê-lê-a-xa, con Đô-đai, người A-hô-hít. Ê-lê-a-xa là một trong ba chiến sĩ đi với Đa-vít khi ông thách thức người Phi-li-tin. Người Phi-li-tin dàn trận ra còn quân Ít-ra-en rút lui.
2SA 23:10 Nhưng Ê-lê-a-xa ở lại chiến đấu chống dân Phi-li-tin cho đến khi tay rã rời dính chặt vào gươm. Trong ngày đó CHÚA ban chiến thắng lớn cho dân Ít-ra-en. Quân sĩ quay lại sau khi Ê-lê-a-xa đã thắng để cướp lấy vũ khí và áo giáp quân thù.
2SA 23:11 Kế đến là Sam-ma, con A-ghi, người Ha-ra-rít. Quân Phi-li-tin đến đánh nhau trong vườn rau. Quân Ít-ra-en chạy trốn khỏi người Phi-li-tin,
2SA 23:12 Nhưng Sam-ma đứng giữa ruộng đánh nhau dành miếng ruộng đó và giết người Phi-li-tin. CHÚA ban đắc thắng lớn.
2SA 23:13 Có lần, ba trong số ba mươi chiến sĩ cận vệ Đa-vít đi xuống gặp ông ở hang A-đu-lam nhằm lúc mùa gặt. Người Phi-li-tin đóng quân trong thung lũng Rê-pha-im.
2SA 23:14 Lúc đó Đa-vít đang ở trong mật khu, và một số người Phi-li-tin đang ở Bết-lê-hem.
2SA 23:15 Đa-vít rất muốn uống nước. Ông nói, “Ôi, ước gì có ai lấy nước cho ta nơi giếng gần cổng thành Bết-lê-hem!”
2SA 23:16 Vậy ba chiến sĩ đó xông qua hàng rào quân Phi-li-tin và lấy nước nơi giếng gần cổng thành Bết-lê-hem. Khi họ mang nước về cho Đa-vít thì ông không chịu uống. Ông đổ nước ra trước mặt CHÚA
2SA 23:17 và nói rằng, “Nguyện CHÚA chớ để tôi uống nước nầy! Như thế chẳng khác nào uống máu của những người vì đi lấy nước mà liều chết!” Đa-vít không chịu uống nước đó. Đó là những hành vi dũng cảm mà ba chiến sĩ đó làm.
2SA 23:18 A-bi-sai, em Giô-áp, con Xê-ru-gia chỉ huy đám cận vệ. A-bi-sai dùng giáo đánh giết ba trăm lính. Ông nổi danh như ba người kia
2SA 23:19 nhưng được tôn trọng hơn họ. Ông làm chỉ huy họ nhưng không thuộc trong đám họ.
2SA 23:20 Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa từ Cáp-xi-ên là một chiến sĩ gan dạ đã thực hiện nhiều kỳ công. Ông giết hai trong số những lính thiện chiến nhất của Mô-áp. Ông cũng đi xuống hố và giết một con sư tử trong lúc tuyết đang rơi.
2SA 23:21 Bê-na-gia cũng giết một người Ai-cập đang cầm cây giáo trong tay. Bê-na-gia chỉ có một cây dùi cui nhưng ông giựt cây giáo khỏi tay người Ai-cập và giết hắn bằng chính cây giáo của hắn.
2SA 23:22 Đó là những điều Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa làm. Ông cũng nổi danh như ba người kia.
2SA 23:23 Ông nhận nhiều vinh dự hơn ba mươi người kia nhưng ông không thuộc vào nhóm Ba Người thân cận. Đa-vít cử ông làm chỉ huy toán hộ vệ mình.
2SA 23:24 Các người sau đây thuộc vào nhóm Ba Mươi người: A-sa-ên, em Giô-áp; Ên-ha-nan, con Đô-đô ở Bết-lê-hem;
2SA 23:25 Sam-ma người Ha-rô-đít; Ê-li-ca người Ha-rô-đít;
2SA 23:26 Hê-lê người Ban-thít; Y-ra, con Ích-kê miền Tê-cô-a;
2SA 23:27 A-bi-ê-xe người A-na-thốt; Mê-bun-nai người Hu-sa-thít;
2SA 23:28 Xanh-môn, người A-lô-hít; Ma-ha-rai người Nê-tô-pha-thít;
2SA 23:29 Hê-lết con Ba-a-na, người Nê-tô-pha-thít; Y-tai con Ri-bai miền Ghi-bê-a thuộc xứ Bên-gia-min;
2SA 23:30 Bê-na-gia người Bi-ra-thô-nít; Hích-đai từ vùng hố của Ga-ách;
2SA 23:31 A-bi Anh-bôn người Ác-ba-thít; Ách-ma-vết người Ba-hu-mít;
2SA 23:32 Ê-li-a-ba người Sanh-bô-nít; các con trai của Gia-sen; Giô-na-than
2SA 23:33 con trai của Sam-ma người Ha-ra-rít; A-hi-am con Sa-ra người Ha-ra-rít;
2SA 23:34 Ê-li-phê-lết con A-hát-bai, người Ma-a-ca-thít; Ê-li-am con A-hi-tô-phên, người Ghi-lôn;
2SA 23:35 Hết-rô người Cạt-mên; Ba-a-rai người Ạc-bít;
2SA 23:36 Y-ganh con Na-than ở Xô-ba; con của Hát-ri;
2SA 23:37 Xê-léc người Am-môn; Na-ha-rai người Bê-e-rô-thít, vác áo giáp cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia;
2SA 23:38 Y-ra người Ít-rít; Ga-rép người Ít-rít,
2SA 23:39 và U-ri người Hê-tít. Tất cả là ba mươi bảy người.
2SA 24:1 CHÚA lại nổi giận cùng dân Ít-ra-en. Ngài giục Đa-vít nghịch dân Ít-ra-en. Ngài bảo, “Hãy đi kiểm tra dân Ít-ra-en và Giu-đa.”
2SA 24:2 Nên Đa-vít bảo Giô-áp, tư lệnh quân đội, “Hãy đi khắp các chi tộc Ít-ra-en, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, kiểm tra dân chúng để ta biết số dân là bao nhiêu.”
2SA 24:3 Giô-áp thưa với vua, “Nguyện CHÚA là Thượng Đế của bệ hạ ban cho dân của bệ hạ đông gấp trăm lần, và nguyện bệ hạ được sống để nhìn thấy điều đó. Nhưng tại sao bệ hạ lại muốn làm việc nầy?”
2SA 24:4 Tuy nhiên vua ra lệnh cho Giô-áp và các cấp chỉ huy quân đội nên họ ra đi kiểm tra dân Ít-ra-en.
2SA 24:5 Sau khi băng qua sông Giô-đanh, họ đóng trại gần A-rô-e về phía nam của thành nằm trong hố. Họ đi qua Gát rồi đến Gia-xe.
2SA 24:6 Sau đó họ đi đến Ghi-lê-át và đất Ta-tim Hốt-si và đến Đan-Gia-an và vùng quanh Xi-đôn.
2SA 24:7 Họ đi đến thành có vách kiên cố là Tia và tất cả các thành của người Hê-vít và người Ca-na-an. Sau cùng họ vào vùng nam Giu-đa, đến Bê-e-sê-ba.
2SA 24:8 Sau chín tháng hai mươi ngày, họ đã đi qua khắp xứ rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
2SA 24:9 Giô-áp trao cho vua danh sách dân chúng. Có tám trăm ngàn người nam trong Ít-ra-en có thể cầm gươm và năm trăm ngàn người nam trong Giu-đa.
2SA 24:10 Đa-vít cảm thấy hổ thẹn sau khi kiểm tra dân số. Ông thưa cùng CHÚA, “Con đã phạm tội rất lớn về điều con làm. Lạy CHÚA xin tha thứ cho con, kẻ tôi tớ Ngài vì con đã hành động điên rồ.”
2SA 24:11 Sáng sớm khi Đa-vít thức dậy thì CHÚA phán như sau với Gát, nhà tiên tri và tiên kiến của Đa-vít.
2SA 24:12 CHÚA bảo Gát, “Hãy đi nói với Đa-vít, ‘CHÚA phán như sau: Ta cho ngươi ba lựa chọn. Hãy chọn một để ta phạt ngươi.’”
2SA 24:13 Vậy Gát đi bảo Đa-vít, “Bệ hạ có muốn ba năm đói kém xảy đến cho bệ hạ và xứ của bệ hạ không? Hay bệ hạ phải trốn chạy trước kẻ thù trong ba tháng? Hoặc ba ngày dịch hạch trong xứ? Hãy suy nghĩ cho kỹ đi rồi cho tôi biết vua chọn điều nào để tôi thưa lại cùng CHÚA là Đấng đã sai tôi.”
2SA 24:14 Đa-vít thưa cùng Gát, “Ta bị khốn đốn lớn. Thôi chẳng thà để CHÚA phạt chúng ta vì Ngài đầy lòng từ bi. Đừng để loài người phạt ta!”
2SA 24:15 Vì thế CHÚA sai một nạn dịch kinh khiếp đến trên Ít-ra-en. Nó bắt đầu từ sáng và kéo dài tới thời gian đã định. Từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba có bảy mươi ngàn người chết.
2SA 24:16 Khi thiên sứ giơ tay ra trên Giê-ru-sa-lem để hủy diệt thành thì CHÚA ân hận về những sự thiệt hại Ngài gây ra. Ngài phán cùng thiên sứ đang tiêu diệt dân chúng rằng, “Thôi đủ rồi! Hãy bỏ tay ngươi xuống!” Thiên sứ của CHÚA đang đứng bên sân đập lúa của A-rau-na người Giê-bu-sít.
2SA 24:17 Khi Đa-vít nhìn thấy thiên sứ đã giết hại dân chúng thì ông thưa với CHÚA, “Con mới là người phạm tội và có lỗi chớ còn những người nầy chỉ là chiên đi theo con thôi. Họ đâu có lỗi gì? Xin CHÚA trừng phạt con và gia đình con.”
2SA 24:18 Ngày đó Gát đến cùng Đa-vít và nói, “Hãy đi xây một bàn thờ cho CHÚA trên sân đập lúa của A-rau-na người Giê-bu-sít.”
2SA 24:19 Vậy Đa-vít làm điều Gát dặn theo mệnh lệnh của CHÚA.
2SA 24:20 A-rau-na ngước lên thấy vua và các tôi tớ đi đến. Ông liền bước ra sấp mặt xuống đất chào vua.
2SA 24:21 Ông hỏi, “Tại sao vua chúa tôi đến cùng tôi?” Đa-vít đáp, “Để mua sân đập lúa của ngươi đặng ta xây một bàn thờ cho CHÚA. Rồi nạn dịch sẽ chấm dứt.”
2SA 24:22 A-rau-na thưa cùng Đa-vít, “Vua chúa tôi ơi, bệ hạ cứ việc lấy gì cũng được để làm của lễ hi sinh. Đây có mấy con bò để làm của lễ thiêu, mấy tấm ván của sàn đạp lúa và ách để làm củi.
2SA 24:23 Tâu bệ hạ, tôi xin dâng cho ngài tất cả mọi thứ.” A-rau-na thưa tiếp với vua, “Nguyện CHÚA là Thượng Đế hài lòng về bệ hạ.”
2SA 24:24 Nhưng vua bảo A-rau-na, “Không, ta sẽ trả tiền miếng đất đó. Ta không muốn dâng của lễ cho CHÚA mà không tốn kém gì.” Vậy Đa-vít mua sân đập lúa và các con bò với giá một cân một phần tư bạc.
2SA 24:25 Ông xây bàn thờ cho CHÚA ở đó và dâng của lễ toàn thiêu cùng của lễ thân hữu. Rồi CHÚA nghe lời cầu nguyện cho xứ, cơn dịch hạch trong Ít-ra-en liền chấm dứt.
1KI 1:1 Lúc đó vua Đa-vít đã già lắm và mặc dù các tôi tớ lấy nhiều mền đắp cho ông nhưng ông vẫn không thấy ấm.
1KI 1:2 Họ thưa với vua, “Chúng tôi sẽ tìm một thiếu nữ trẻ để chăm sóc bệ hạ. Nàng sẽ nằm trong lòng bệ hạ thì bệ hạ sẽ ấm.”
1KI 1:3 Sau khi đi khắp nơi trong Ít-ra-en để kiếm một thiếu nữ trẻ đẹp thì họ tìm được một cô gái tên A-bi-sác miền Su-nam và đưa nàng vào gặp vua.
1KI 1:4 Cô gái đó rất đẹp, nàng chăm sóc phục vụ vua. Nhưng vua không làm tình cùng nàng.
1KI 1:5 A-đô-ni-gia là con của vua Đa-vít và Ha-ghít. Anh ta rất hợm hĩnh. Anh bảo, “Ta sẽ lên làm vua.” Cho nên anh sắm quân xa và ngựa cùng năm mươi người làm hộ vệ cho mình.
1KI 1:6 Đa-vít chẳng bao giờ sửa dạy hay hạch hỏi anh ta điều gì. Anh sinh kế Áp-xa-lôm và khá đẹp trai.
1KI 1:7 A-đô-ni-gia nói chuyện với Giô-áp, con Xê-ru-gia và A-bia-tha, thầy tế lễ thì hai người bằng lòng giúp anh.
1KI 1:8 Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa, tiên tri Na-than, Si-mê-i, Rê-i, và người cận vệ đặc biệt của Đa-vít không nhập bọn với A-đô-ni-gia.
1KI 1:9 Sau đó A-đô-ni-gia giết chiên, bò, và bê mập làm của lễ ở Tảng Đá Xô-hê-lết gần suối Ên-Rô-gen. Anh mời tất các anh em mình, tức các con trai khác của Đa-vít đến dự cùng với tất cả các người Giu-đa.
1KI 1:10 Nhưng A-đô-ni-gia không mời tiên tri Na-than, Bê-na-gia, người cận vệ đặc biệt của cha mình, hay em mình là Sô-lô-môn.
1KI 1:11 Khi Na-than nghe vậy liền đi gặp Bát-sê-ba, mẹ của Sô-lô-môn. Na-than hỏi, “Bà có nghe tin A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự phong mình làm vua chưa? Chủ chúng ta là Đa-vít không hay biết gì về chuyện ấy cả.
1KI 1:12 Tôi xin góp ý để bà tìm cách cứu mạng bà và Sô-lô-môn, con trai bà.
1KI 1:13 Hãy đi vào gặp vua Đa-vít nói, ‘Thưa vua chúa tôi, bệ hạ đã hứa là Sô-lô-môn con trai tôi sẽ làm vua và lên ngôi kế vị bệ hạ. Vậy tại sao A-đô-ni-gia đã làm vua rồi?’
1KI 1:14 Khi bà đang nói với vua thì tôi sẽ vào và quả quyết với vua là những điều bà nói về A-đô-ni-gia là thật.”
1KI 1:15 Vậy Bát-sê-ba đi vào thăm vị vua già cả trong phòng ngủ vua, nơi A-bi-sác người miền Su-nam đang chăm sóc cho vua.
1KI 1:16 Bát-sê-ba cúi chào và quì trước mặt vua. Vua hỏi, “Em cần gì?”
1KI 1:17 Bà đáp, “Thưa chúa, ngài đã hứa với tôi trong danh CHÚA là Thượng Đế Ngài. Ngài bảo, ‘Sô-lô-môn, con trai ngươi sẽ lên làm vua kế vị ta, nó sẽ trị vì trên ngôi ta.’
1KI 1:18 Nhưng nay chắc bệ hạ không hay biết là A-đô-ni-gia đã lên làm vua.
1KI 1:19 Nó đã giết nhiều bò, bê mập, và chiên để làm của lễ thiêu. Nó cũng đã mời các con trai vua, A-bia-tha, thầy tế lễ, và Giô-áp, tư lệnh quân đội đến dự nhưng nó không mời con trai trung kiên của bệ hạ là Sô-lô-môn.
1KI 1:20 Thưa vua chúa tôi, tất cả dân Ít-ra-en đang quan sát bệ hạ, chờ bệ hạ quyết định xem ai sẽ lên kế vị bệ hạ.
1KI 1:21 Bệ hạ mà chết đi thì Sô-lô-môn và tôi sẽ bị xem như những kẻ tội phạm.”
1KI 1:22 Đang khi Bát-sê-ba nói với vua thì tiên tri Na-than bước vào.
1KI 1:23 Các tôi tớ vua thưa, “Nhà tiên tri Na-than có mặt đây.” Vậy Na-than bước vào cúi mặt sát đất trước vua.
1KI 1:24 Na-than thưa, “Thưa vua chúa tôi, có phải bệ hạ nói rằng A-đô-ni-gia sẽ làm vua và sẽ trị vì trên ngôi bệ hạ không?
1KI 1:25 Hôm nay anh ta đã giết nhiều bò, bê mập, chiên và mời các người con khác của vua, các cấp chỉ huy quân đội cùng thầy tế lễ A-bia-tha. Hiện giờ họ đang ăn uống với anh ta. Họ kêu lên, ‘Vua A-đô-ni-gia vạn tuế!’
1KI 1:26 Nhưng anh ta không mời tôi, kẻ tôi tớ vua, hay thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa, hay Sô-lô-môn, con trai vua.
1KI 1:27 Có phải bệ hạ làm chuyện nầy không? Vì chúng tôi là tôi tớ bệ hạ, tại sao bệ hạ không cho chúng tôi biết ai sẽ lên ngôi kế vị bệ hạ?”
1KI 1:28 Vua liền bảo, “Hãy gọi Bát-sê-ba vào đây!” Vậy bà vào đứng trước mặt vua.
1KI 1:29 Vua hứa như sau, “CHÚA đã giải cứu ta khỏi mọi khốn đốn. Nhân danh Đấng hằng sống,
1KI 1:30 hôm nay ta sẽ làm điều ta đã hứa với em trong danh CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Ta hứa rằng Sô-lô-môn con em sẽ làm vua kế vị ta và trị vì trên ngôi thay ta.”
1KI 1:31 Bát-sê-ba liền sấp mặt xuống đất, quì trước mặt vua và nói, “Vua Đa-vít vạn tuế!”
1KI 1:32 Rồi vua Đa-vít bảo, “Gọi thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa vào đây.” Khi họ vào đứng trước mặt vua,
1KI 1:33 thì vua bảo, “Hãy mang các tôi tớ ta đi với các ngươi và đỡ Sô-lô-môn, con trai ta lên lưng lừa. Hãy đưa nó xuống suối Ghi-hôn.
1KI 1:34 Thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than sẽ đổ dầu trên nó tại đó và cử nó làm vua trên Ít-ra-en. Hãy thổi kèn và hô to, ‘Vua Sô-lô-môn vạn tuế!’
1KI 1:35 Rồi các ngươi hãy trở về đây với nó. Nó sẽ ngồi trên ngôi ta và cai trị thay ta, vì nó là người mà ta chọn cai trị trên Ít-ra-en và Giu-đa.”
1KI 1:36 Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa thưa với vua, “A-men! Cầu CHÚA, là Thượng Đế của chủ tôi đồng ý!
1KI 1:37 CHÚA luôn luôn giúp đỡ bệ hạ, vua chúng tôi. Cầu CHÚA cũng sẽ giúp Sô-lô-môn và khiến cho ngôi người cao trọng hơn cả ngôi bệ hạ nữa.”
1KI 1:38 Vậy thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa ra đi cùng với người Kê-rê-thít và Bê-lê-thít. Họ nâng Sô-lô-môn lên lưng lừa và mang ông xuống suối Ghi-hôn.
1KI 1:39 Thầy tế lễ Xa-đốc lấy một chai đựng dầu ô-liu từ Lều Thánh và đổ trên đầu Sô-lô-môn để cử ông làm vua. Rồi họ thổi kèn và toàn dân hô lên, “Vua Sô-lô-môn vạn tuế!”
1KI 1:40 Mọi người đi theo Sô-lô-môn vào thành. Họ thổi sáo và hò reo vui vẻ ồn ào đến nỗi rung chuyển cả đất.
1KI 1:41 Lúc đó A-đô-ni-gia và các thực khách vừa ăn tiệc xong. Khi nghe tiếng kèn thì Giô-áp hỏi, “Tiếng ồn ào huyên náo trong thành là gì vậy?”
1KI 1:42 Trong khi Giô-áp đang nói thì Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha vào. A-đô-ni-gia nói, “Vào đây! Anh là người đáng trọng, chắc anh mang tin vui.”
1KI 1:43 Nhưng Giô-na-than bảo, “Không! Vua chúa chúng ta là Đa-vít đã cử Sô-lô-môn làm tân vương.
1KI 1:44 Vua Đa-vít sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa và tất cả những quân sĩ cận vệ vua cùng đi với người và họ đã nâng Sô-lô-môn lên lưng lừa của vua.
1KI 1:45 Rồi thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than đổ dầu trên Sô-lô-môn ở Ghi-hôn cử người làm vua. Sau đó họ đi vào thành, reo hò vui vẻ. Bây giờ cả thành đều hân hoan, và đó là tiếng mà ông nghe.
1KI 1:46 Bây giờ Sô-lô-môn đã lên làm vua.
1KI 1:47 Các quần thần Đa-vít đến khen ông đã làm điều phải. Họ bảo, ‘Nguyện Thượng Đế khiến Sô-lô-môn nổi danh và vĩ đại hơn cả vua nữa.’” Giô-na-than tiếp, “Vua Đa-vít đã sấp mình trên giường để thờ lạy Thượng Đế,
1KI 1:48 rằng, ‘Đáng chúc tụng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Hôm nay Ngài đã lập một trong các con ta làm vua và cho ta nhìn thấy việc đó.’”
1KI 1:49 Nghe vậy tất cả thực khách của A-đô-ni-gia đều hoảng sợ vội vàng bỏ chạy tứ tán.
1KI 1:50 A-đô-ni-gia cũng sợ Sô-lô-môn, cho nên anh đi đến nắm các góc bàn thờ.
1KI 1:51 Sau đó có người mách với Sô-lô-môn, “A-đô-ni-gia sợ vua cho nên đang nắm các góc bàn thờ. Ông bảo, ‘Xin yêu cầu Sô-lô-môn hứa rằng sẽ không giết ta hôm nay.’”
1KI 1:52 Sô-lô-môn đáp, “A-đô-ni-gia phải chứng tỏ là người có danh dự. Nếu nó làm điều đó thì ta hứa nó sẽ không mất một sợi tóc nào trên đầu. Nhưng nếu nó làm bậy thì nó sẽ chết.”
1KI 1:53 Rồi vua Sô-lô-môn sai người đi bắt A-đô-ni-gia. Khi người ta mang anh khỏi bàn thờ thì anh đến trước vua Sô-lô-môn và cúi lạy. Sô-lô-môn bảo, “Về nhà đi.”
1KI 2:1 Lúc Đa-vít gần qua đời thì ông trối với Sô-lô-môn con trai mình.
1KI 2:2 Đa-vít bảo, “Giờ qua đời của cha đã gần kề. Hãy lãnh đạo cho tốt và mạnh mẽ.
1KI 2:3 Hãy vâng lời CHÚA là Thượng Đế con. Hãy vâng theo các điều đòi hỏi, mệnh lệnh, luật lệ, và qui tắc của Ngài đã ghi trong các lời giáo huấn của Mô-se. Nếu con làm những như thế thì bất cứ việc gì con làm hay con đi đâu thì con cũng sẽ thành công.
1KI 2:4 Và nếu con vâng lời CHÚA, Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài lập cùng ta. Ngài hứa: Nếu dòng dõi ngươi sống theo như ta dặn và hoàn toàn tin cậy ta, thì trong gia đình ngươi lúc nào cũng có người làm vua trên Ít-ra-en.
1KI 2:5 Ngoài ra, con đừng quên điều Giô-áp, con Xê-ru-gia làm cho cha. Nó giết hai vị chỉ huy của quân đội Ít-ra-en: Áp-ne, con Nê-rơ, và A-ma-sa, con Gie-thê. Nó hành động như thể nó và những người ấy đang chiến đấu với nhau nhưng thật ra là đang hòa bình. Nó là tên khát máu, vấy máu đầy mình.
1KI 2:6 Hãy trừng phạt nó theo cách mà con cho là khôn ngoan nhất, đừng để nó chết già bình yên.
1KI 2:7 Hãy tỏ lòng trung kiên đối với con cháu Bát-xi-lai ở Ghi-lê-át, cho chúng nó ăn chung bàn với con. Họ đã tiếp đón ta khi ta chạy trốn khỏi Áp-xa-lôm, anh con.
1KI 2:8 Và hãy nhớ rằng Si-mê-i, con Ghê-ra, người Bên-gia-min, từ Ba-hu-rim đang ở đây với con. Nó chửi rủa ta trong ngày ta chạy đến Ma-ha-na-im. Nhưng khi nó đến đón ta ở sông Giô-đanh, ta đã hứa với nó trước mặt CHÚA rằng, ‘Si-mê-i, ta sẽ không giết ngươi.’
1KI 2:9 Nhưng con chớ nên để nó thoát khỏi trừng phạt. Con là người khôn ngoan, biết đối xử với nó ra sao, nhưng con phải xử tử nó.”
1KI 2:10 Rồi Đa-vít qua đời và được chôn chung với tổ tiên mình trong thành Đa-vít.
1KI 2:11 Ông cai trị trên Giê-ru-sa-lem bốn mươi năm: bảy năm ở Hếp-rôn, và ba mươi ba năm ở Giê-ru-sa-lem.
1KI 2:12 Sô-lô-môn lên ngôi vua kế vị Đa-vít, cha mình và củng cố quyền hành mình trong nước.
1KI 2:13 Lúc đó A-đô-ni-gia, con Ha-ghít tìm đến Bát-sê-ba, mẹ Sô-lô-môn. Bát-sê-ba hỏi, “Ngươi đến trong thiện chí phải không?” A-đô-ni-gia đáp, “Phải. Đây là cuộc viếng thăm thiện chí,”
1KI 2:14 “Tôi có một điều muốn nói cùng bà.” Bà đáp, “Nói đi.”
1KI 2:15 A-đô-ni-gia nói “Bà nhớ trước đây nước thuộc về tôi. Tất cả dân Ít-ra-en nhìn nhận tôi làm vua họ nhưng tình thế thay đổi. Bây giờ em tôi lên ngôi vua vì CHÚA chọn lựa nó.
1KI 2:16 Nay tôi có một điều muốn xin bà; xin bà đừng từ chối.” Bát-sê-ba hỏi, “Ngươi muốn điều gì?”
1KI 2:17 A-đô-ni-gia tiếp “Tôi biết vua Sô-lô-môn sẽ làm bất cứ điều gì bà yêu cầu. Vậy xin bà xin nhà vua cho phép tôi cưới A-bi-sác người Su-nam làm vợ.”
1KI 2:18 Bà đáp, “Được. Ta sẽ nói với vua giùm cho ngươi.”
1KI 2:19 Vậy Bát-sê-ba vào nói chuyện với Sô-lô-môn giùm cho A-đô-ni-gia. Khi Sô-lô-môn thấy bà liền đứng lên khỏi ngai, cúi chào rồi ngồi xuống. Ông bảo đầy tớ mang một cái ngai khác cho bà ngồi. Rồi bà ngồi kế bên phải vua.
1KI 2:20 Bát-sê-ba nói, “Mẹ có một điều nhỏ muốn xin con, xin con đừng từ chối.” Vua đáp, “Mẹ cứ nói. Con không từ chối đâu.”
1KI 2:21 Bà liền nói, “Con hãy cho A-bi-sác, người Su-nam làm vợ A-đô-ni-gia, anh con.”
1KI 2:22 Vua Sô-lô-môn trả lời, “Tại sao mẹ xin A-bi-sác cho anh ấy? Sao mẹ không xin cho anh ấy làm vua luôn vì là anh con? A-bia-tha thầy tế lễ và Giô-áp, con Xê-ru-gia chắc sẽ ủng hộ chuyện đó lắm!”
1KI 2:23 Vua Sô-lô-môn liền thề trong danh CHÚA rằng, “Nguyện Thượng Đế phạt con nặng nề nếu hắn không chết vì chuyện nầy!
1KI 2:24 Nhân danh CHÚA là Đấng đã ban cho con ngôi Đa-vít, cha con, và Đấng đã giữ lời hứa Ngài ban nước cho con và dòng dõi con, nội ngày nay A-đô-ni-gia sẽ chết!”
1KI 2:25 Rồi vua Sô-lô-môn truyền lệnh cho Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa. Người liền đi giết A-đô-ni-gia.
1KI 2:26 Vua Sô-lô-môn bảo thầy tế lễ A-bia-tha, “Ta đáng lẽ cũng giết ngươi luôn nhưng ta cho phép ngươi trở về ruộng nương của mình ở A-na-thốt. Ta chưa giết ngươi lúc nầy vì ngươi đã giúp mang Rương của CHÚA là Thượng Đế trong khi đi với Đa-vít cha ta. Và ta biết ngươi đã chia sẻ sướng khổ với cha ta.”
1KI 2:27 Sô-lô-môn liền cách chức tế lễ của CHÚA khỏi A-bia-tha. Điều nầy xảy ra như lời CHÚA đã phán, khi Ngài bảo trước tại Si-lô về thầy tế lễ Hê-li và dòng dõi ông.
1KI 2:28 Khi Giô-áp nghe những chuyện xảy ra thì đâm ra lo sợ. Ông đã ủng hộ A-đô-ni-gia, nhưng không ủng hộ Áp-xa-lôm. Cho nên Giô-áp chạy đến Lều của CHÚA và nắm các góc bàn thờ.
1KI 2:29 Có người mách với vua Sô-lô-môn là Giô-áp đã chạy đến Lều của CHÚA và đứng cạnh bàn thờ. Sô-lô-môn liền ra lệnh cho Bê-na-gia đi giết ông ta.
1KI 2:30 Bê-na-gia đi vào Lều của CHÚA và bảo Giô-áp, “Vua nói, ‘Hãy đi ra!’” Nhưng Giô-áp trả lời, “Không. Ta muốn chết ở đây.” Cho nên Bê-na-gia về trình với vua điều Giô-áp nói.
1KI 2:31 Vua liền ra lệnh cho Bê-na-gia, “Thì cứ làm như hắn nói! Giết hắn ở đó và chôn hắn đi. Như thế, ta và gia đình ta sẽ sạch tội lỗi của Giô-áp, người đã giết những kẻ vô tội.
1KI 2:32 Hắn đã giết hai người tốt hơn hắn: Áp-ne, con Nê-rơ, chỉ huy quân đội Ít-ra-en, và A-ma-sa, con Gie-thê, chỉ huy quân đội Giu-đa mà cha ta không hay biết gì. Cho nên CHÚA sẽ báo trả nó về những cái chết đó.
1KI 2:33 Giô-áp và gia đình nó sẽ mãi mãi mang tội về những cái chết đó, nhưng Đa-vít, dòng dõi người, và ngôi người sẽ được CHÚA giữ an nhiên đời đời.”
1KI 2:34 Vậy Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa giết Giô-áp, người ta chôn ông gần nhà ông trong sa mạc.
1KI 2:35 Vua cử Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa làm chỉ huy quân đội thay Giô-áp. Vua cũng cử Xa-đốc làm thầy tế lễ thượng phẩm thế thay A-bia-tha.
1KI 2:36 Sau đó vua cho gọi Si-mê-i. Sô-lô-môn bảo hắn, “Hãy cất nhà tại Giê-ru-sa-lem và ở đó, không được ra khỏi thành.
1KI 2:37 Ngày nào ngươi rời thành và băng qua thung lũng Kít-rôn thì sẽ có người giết ngươi, đó là lỗi của ngươi.”
1KI 2:38 Si-mê-i thưa với vua, “Tôi đồng ý với điều bệ hạ dặn. Tôi sẽ làm điều gì vua chúa tôi biểu.” Vậy Si-mê-i ở Giê-ru-sa-lem trong thời gian khá lâu.
1KI 2:39 Nhưng ba năm sau có hai đứa nô lệ của Si-mê-i chạy trốn đến A-kích, vua của Gát, con Ma-a-ca. Si-mê-i nghe tin mấy đứa nô lệ mình ở Gát,
1KI 2:40 nên thắng yên cương lừa và đi đến A-kích ở Gát để tìm chúng nó rồi mang chúng về từ Gát.
1KI 2:41 Có người thuật cho Sô-lô-môn hay rằng Si-mê-i đã ra khỏi Giê-ru-sa-lem đi đến Gát và trở về.
1KI 2:42 Sô-lô-môn liền cho gọi Si-mê-i lại hỏi, “Ta đã bắt ngươi hứa trong danh CHÚA là không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem. Ta đã cảnh cáo ngươi rằng hễ ngươi đi nơi nào khác ngươi sẽ chết và ngươi đã đồng ý điều ta dặn.
1KI 2:43 Tại sao ngươi vi phạm lời hứa với CHÚA và bất tuân mệnh lệnh ta?”
1KI 2:44 Vua tiếp, “Ngươi biết những điều quấy ngươi làm cho Đa-vít, cha ta, cho nên bây giờ CHÚA sẽ phạt ngươi vì những lỗi lầm đó.
1KI 2:45 Nhưng CHÚA sẽ ban phúc cho ta và ngôi của Đa-vít sẽ an toàn đời đời trước mặt Ngài.”
1KI 2:46 Vua liền ra lệnh cho Bê-na-gia giết Si-mê-i. Ông liền thi hành. Thế là Sô-lô-môn hoàn toàn nắm quyền trong nước.
1KI 3:1 Sô-lô-môn kết ước với vua Ai-cập bằng cách cưới con gái vua ấy và mang nàng về Giê-ru-sa-lem. Lúc đó Sô-lô-môn đang xây cung điện và đền thờ của CHÚA, cũng như vách bao quanh thành Đa-vít.
1KI 3:2 Đền thờ để thờ kính CHÚA chưa cất xong, cho nên dân chúng vẫn còn dâng tế lễ ở những nơi thờ phụng.
1KI 3:3 Sô-lô-môn chứng tỏ ông yêu mến CHÚA bằng cách vâng theo những mệnh lệnh mà cha mình là Đa-vít đã truyền lại, ngoại trừ những nơi thờ phụng mà dân chúng vẫn dùng để dâng của lễ và đốt hương.
1KI 3:4 Vua Sô-lô-môn đi đến Ghi-bê-ôn để dâng của lễ, vì đó là nơi thờ phụng quan trọng nhất. Ông dâng một ngàn của lễ trên bàn thờ đó.
1KI 3:5 Trong khi đang ở Ghi-bê-ôn CHÚA hiện ra cùng ông trong một giấc mộng và hỏi, “Hãy xin bất cứ điều gì ngươi muốn ta ban cho.”
1KI 3:6 Sô-lô-môn thưa, “CHÚA đã rất nhân từ cùng Đa-vít, cha của con, kẻ tôi tớ Ngài. Cha của con đã vâng lời Ngài, làm điều ngay thẳng và sống phải lẽ. Ngài cũng đã tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với người khi CHÚA cho con người lên ngôi kế vị người.
1KI 3:7 Lạy CHÚA là Thượng Đế của con, bây giờ Ngài đã lập con, kẻ tôi tớ Ngài, làm vua thế cho cha của con. Nhưng con chỉ là một đứa con nít, không biết phải hành động ra sao.
1KI 3:8 Con, kẻ tôi tớ CHÚA ở giữa dân chúng được chọn lựa của Ngài, là một dân đông vô số.
1KI 3:9 Con cầu xin Ngài ban cho con một tấm lòng vâng phục để con có thể cai trị dân Ngài theo đường lối ngay thẳng và biết phân biệt phải trái. Nếu không làm sao con có thể cai trị đám dân đông đảo nầy của CHÚA?”
1KI 3:10 Lời yêu cầu của Sô-lô-môn làm hài lòng CHÚA.
1KI 3:11 Nên Thượng Đế bảo ông, “Ngươi không xin sống lâu, giàu có, hay mạng sống các kẻ thù ngươi. Vì ngươi xin cho được khôn ngoan để biết quyết định cho đúng,
1KI 3:12 nên ta sẽ ban cho ngươi điều ngươi xin. Ta sẽ cho ngươi sự khôn ngoan và hiểu biết hơn cả những người sống trước kia hay về sau nầy.
1KI 3:13 Ta cũng sẽ ban cho ngươi điều ngươi không xin: là sự giàu có và vinh dự. Trong đời ngươi sẽ không có vua nào cao sang bằng ngươi cả.
1KI 3:14 Nếu ngươi vâng lời ta, luật lệ và mệnh lệnh ta như Đa-vít, cha ngươi, đã làm thì ta cũng sẽ ban cho ngươi sống lâu.”
1KI 3:15 Sau khi Sô-lô-môn thức giấc thì đi đến Giê-ru-sa-lem. Ông đứng trước Rương Giao Ước của CHÚA, dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu. Sau đó ông mở tiệc thết đãi quần thần.
1KI 3:16 Một ngày kia có hai cô gái điếm đến gặp Sô-lô-môn. Đứng trước vua,
1KI 3:17 một trong hai cô tâu, “Thưa chúa, chị nầy và tôi ở chung nhà. Trong khi đang ở chung thì tôi sinh con.
1KI 3:18 Ba ngày sau chị nầy cũng sinh con. Không có ai khác ở chung với chúng tôi, chỉ có hai đứa chúng tôi thôi.
1KI 3:19 Một đêm chị nầy lăn đè chết con.
1KI 3:20 Đang đêm trong khi tôi ngủ thì chị liền mang con tôi từ giường tôi sang giường chị. Rồi chị đặt đứa con chết vào giường tôi.
1KI 3:21 Sáng hôm sau khi tôi thức dậy để cho con tôi bú thì thấy nó chết rồi! Khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy không phải con tôi.”
1KI 3:22 Chị kia kêu lên, “Không! Đứa sống là con tao, đứa chết là con mầy!” Nhưng chị thứ nhất cãi, “Không! Đứa chết là con mầy, đứa sống là con tao!” Hai bên cãi nhau trước mặt vua.
1KI 3:23 Sô-lô-môn liền bảo, “Người thì nói, ‘Đứa sống là con tao, đứa chết là con mầy.’ Người kia nói, ‘Không! Đứa chết là con mầy, đứa sống là con tao.’”
1KI 3:24 Vua bảo đầy tớ mang đến một cây gươm. Khi họ mang gươm đến,
1KI 3:25 vua bảo, “Chặt đứa con sống ra làm đôi, cho mỗi người một nửa.”
1KI 3:26 Người mẹ thật của đứa con sống đầy lòng thương con cho nên thưa với vua, “Thưa chúa, xin đừng giết nó! Giao nó cho chị kia đi!” Nhưng chị nọ bảo, “Nó không thuộc về tao hay mầy. Chặt nó ra làm hai đi!”
1KI 3:27 Vua Sô-lô-môn liền nói, “Đừng giết nó. Trả nó cho chị đầu tiên, vì chị đó mới là mẹ thật của nó.”
1KI 3:28 Khi dân Ít-ra-en nghe sự phân xử của vua Sô-lô-môn, thì họ hết sức kính nể. Dân chúng nhận thấy vua có sự khôn ngoan của Thượng Đế để đưa ra những quyết định đúng đắn.
1KI 4:1 Vua Sô-lô-môn trị vì trên cả Ít-ra-en.
1KI 4:2 Sau đây là tên của những viên chức quan trọng trong triều đình: A-xa-ria, con trai Xa-đốc là thầy tế lễ.
1KI 4:3 Ê-li-hô-rếp và A-hi-gia, các con của Si-sa, làm lục sự tòa án; Giê-hô-sa-phát con A-hi-lút là sử gia của dân chúng;
1KI 4:4 Bê-na-gia con Giê-hô-gia-đa làm tư lệnh quân đội; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ;
1KI 4:5 A-xa-ria, con Na-than quản đốc các tổng trấn vùng; Xa-bút, con Na-than làm thầy tế lễ và cố vấn cho vua;
1KI 4:6 A-hi-sa làm quản lý cung vua; A-đô-ni-ram, con Áp-đa làm quản lý nhân viên.
1KI 4:7 Sô-lô-môn đặt mười hai tổng trấn cai quản mười hai vùng của Ít-ra-en. Họ có nhiệm vụ thu thực phẩm trong vùng mình cho vua và hoàng gia. Mỗi tổng trấn có nhiệm vụ mang thực phẩm đến cho vua một tháng mỗi năm.
1KI 4:8 Sau đây là tên của mười hai quan tổng trấn đó: Bên-Hu-rơ là tổng trấn vùng núi Ép-ra-im.
1KI 4:9 Bên-Đê-ke là tổng trấn Ma-cát, Sa-a-lim, Bết-Sê-mết, và Ê-lôn Bết-ha-nan.
1KI 4:10 Bên-Hê-sết là tổng trấn A-ru-bốt, Sô-cô, và toàn vùng đất Hê-phe.
1KI 4:11 Bên A-bi-na-đáp là tổng trấn Na-phốt Đô-rơ. Ông lấy Ta-phát, con gái Sô-lô-môn.
1KI 4:12 Ba-a-na con A-hi-lút là tổng trấn Ta-a-nách, Mê-ghi-đô, và toàn vùng Bết-san kế cận Xa-rê-than. Vùng nầy nằm dưới Ghít-rê-ên từ Bết-San cho đến A-bên Mê-hô-la đối ngang Giốc-mê-am.
1KI 4:13 Bên-Ghê-be làm tổng trấn Ra-mốt trong Ghi-lê-át. Ông làm tổng trấn tất cả các thị trấn Giai-rơ trong Ghi-lê-át. Giai-rơ là con Ma-na-xe. Bên-Ghê-be cũng cai quản vùng Ạc-gốp trong Ba-san, tức vùng có sáu mươi thành có vách kiên cố, và cổng cài then đồng.
1KI 4:14 A-hi-na-đáp con Y-đô là tổng trấn Ma-ha-na-im.
1KI 4:15 A-hi-mát làm tổng trấn Nép-ta-li. Ông lấy Ba-sê-mát, con gái Sô-lô-môn.
1KI 4:16 Ba-a-na con Hu-sai làm tổng trấn A-se và A-lốt.
1KI 4:17 Giê-hô-sa-phát con Ba-rua làm tổng trấn Y-xa-ca.
1KI 4:18 Si-mê-i con Ê-la làm tổng trấn Bên-gia-min.
1KI 4:19 Ghê-be con U-ri làm tổng trấn Ghi-lê-át. Ghi-lê-át trước kia thuộc xứ của Si-hôn, vua A-mô-rít, và Óc, vua của Ba-san. Nhưng Ghê-be là tổng trấn duy nhất cai trị vùng nầy.
1KI 4:20 Dân Giu-đa và Ít-ra-en đông như cát bờ biển. Mọi người ăn, uống, vui vẻ.
1KI 4:21 Sô-lô-môn cai trị tất cả các vương quốc từ sông Ơ-phơ-rát cho đến đất Phi-li-tin, tới tận biên giới Ai-cập. Các vương quốc đó nộp triều cống theo như Sô-lô-môn đòi và đều nằm dưới quyền của vua trọn đời mình.
1KI 4:22 Mỗi ngày Sô-lô-môn cần rất nhiều thực phẩm: một trăm năm mươi thùng bột mì mịn, ba trăm thùng gạo,
1KI 4:23 mười con bò cái được nuôi bằng lúa tốt, hai mươi con bò cái nuôi trong đồng, một trăm con chiên, ba loại nai, và các loài gà vịt béo tốt.
1KI 4:24 Sô-lô-môn kiểm soát tất cả các xứ nằm về phía Tây sông Ơ-phơ-rát: vùng đất từ Típ-sa cho đến Ga-xa. Tất cả các vương quốc của vua đều có hoà bình bốn bên.
1KI 4:25 Trong đời Sô-lô-môn, xứ Giu-đa và Ít-ra-en, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, đều có hòa bình; ai nấy đều được an vui dưới cây vả và cây nho mình.
1KI 4:26 Sô-lô-môn có bốn ngàn con ngựa để kéo quân xa, và mười hai ngàn ngựa.
1KI 4:27 Mỗi tháng thì mỗi một tổng trấn cung cấp thực phẩm cho vua Sô-lô-môn đủ cho mọi người ăn chung bàn với vua. Các quan tổng trấn phải làm sao để vua có đầy đủ mọi thứ cần dùng.
1KI 4:28 Họ cũng mang đủ lúa mạch và rơm cho các con ngựa kéo quân xa và ngựa làm việc của Sô-lô-môn; mỗi người phải đem ngũ cốc đến đúng nơi.
1KI 4:29 Thượng Đế cho Sô-lô-môn sự khôn ngoan khiến ông thông hiểu nhiều điều. Sự khôn ngoan của vua rất bao la, khó lường được.
1KI 4:30 Sự khôn ngoan của vua trổi hơn bất cứ nhà thông thái nào khác ở Đông Phương hay ở Ai-cập.
1KI 4:31 Vua khôn ngoan hơn bất cứ ai trên đất. Vua cũng khôn hơn Ê-than, người Ết-ra-hít, Hê-man, Canh-côn, và Đạc-đa, ba con trai của Ma-hôn. Vua Sô-lô-môn nổi danh trong tất cả các quốc gia lân cận.
1KI 4:32 Trong đời mình, Sô-lô-môn nói ba ngàn câu châm ngôn và soạn một ngàn lẻ năm bài ca.
1KI 4:33 Vua giảng dạy về nhiều loại thảo mộc, từ cây hương nam của Li-băng cho đến rong rêu mọc trên vách. Vua cũng dạy về các loại thú vật, chim chóc, loài bò sát, và loài cá.
1KI 4:34 Dân chúng từ các quốc gia đến để nghe sự khôn ngoan của Sô-lô-môn. Vua các nước phái dân mình đến vì họ nghe tiếng khôn ngoan của Sô-lô-môn.
1KI 5:1 Hi-ram, vua Tia, xưa nay vốn là bạn của Đa-vít. Khi Hi-ram nghe tin Sô-lô-môn đã lên ngôi vua thế Đa-vít thì phái các sứ giả đến chúc mừng Sô-lô-môn.
1KI 5:2 Vua Sô-lô-môn nhắn về cho vua Hi-ram như sau:
1KI 5:3 “Chắc ngài còn nhớ Đa-vít, cha tôi vì phải đánh nhau nhiều với các nước chung quanh cho nên không thể xây một đền thờ để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế của người được. Đa-vít chờ cho đến khi CHÚA cho phép người đánh bại hết mọi kẻ thù.
1KI 5:4 Nhưng nay CHÚA là Thượng Đế tôi đã ban cho tôi hoà bình bốn bên trong nước. Tôi không còn thù nghịch nữa; không còn mối nguy nào đe dọa dân tôi.
1KI 5:5 CHÚA đã hứa với Đa-vít cha tôi rằng, ‘Ta sẽ lập con ngươi lên nối ngôi sau ngươi, và nó sẽ xây một đền thờ để thờ phụng ta.’ Bây giờ tôi dự định xây đền thờ đó để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế tôi.
1KI 5:6 Vậy xin phái người đến đốn cây hương nam ở Li-băng cho tôi. Các tôi tớ tôi sẽ làm việc chung với tôi tớ ngài, tôi sẽ trả công theo như ngài muốn. Chúng tôi không có ai có tài làm nghề mộc giỏi như người Xi-đôn.”
1KI 5:7 Khi Hi-ram nghe điều Sô-lô-môn yêu cầu vua bảo, “Chúc tụng Thượng Đế hôm nay! Ngài đã ban cho Đa-vít một con trai khôn ngoan để cai trị quốc gia to lớn nầy!”
1KI 5:8 Hi-ram liền nhắn lại với Sô-lô-môn như sau: “Tôi có nghe biết điều Ngài muốn, tôi sẽ cung cấp cho ngài đủ số cây hương nam và cây thông ngài cần.
1KI 5:9 Các tôi tớ tôi sẽ đưa gỗ từ Li-băng ra biển rồi đóng bè cho trôi dọc theo bờ biển đến nơi ngài chọn. Đến nơi tôi sẽ rã bè ra rồi ngài mang đi. Tôi chỉ cần ngài cung cấp thực phẩm cho người của tôi.”
1KI 5:10 Vậy Hi-ram cung cấp gỗ hương nam và gỗ thông cho vua Sô-lô-môn theo nhu cầu của vua.
1KI 5:11 Sô-lô-môn trả cho Hi-ram khoảng một trăm hai mươi ngàn thùng lúa mì mỗi năm để nuôi những người của vua. Sô-lô-môn cũng trả cho vua khoảng bốn trăm bốn mươi ngàn lít dầu ô-liu nguyên chất mỗi năm.
1KI 5:12 CHÚA ban cho Sô-lô-môn sự khôn ngoan như Ngài đã hứa. Giữa Hi-ram và Sô-lô-môn rất thân thiện; hai vua kết ước với nhau.
1KI 5:13 Vua Sô-lô-môn bắt ba mươi ngàn người Ít-ra-en làm xâu.
1KI 5:14 Mỗi tháng vua gởi một toán mười ngàn người đến Li-băng. Mỗi toán làm việc một tháng ở Li-băng rồi được về nhà hai tháng. Có A-đô-ni-ram cai quản họ.
1KI 5:15 Sô-lô-môn cũng bắt tám mươi ngàn người làm xâu trong vùng núi để đục đá và bảy mươi ngàn người khuân vác.
1KI 5:16 Ngoài ra có ba ngàn ba trăm đốc công để giám sát thợ.
1KI 5:17 Vua Sô-lô-môn truyền cho họ phải đục những tảng đá lớn thuộc loại tốt dùng xây nền đền thờ.
1KI 5:18 Các thợ xây cất của Sô-lô-môn và Hi-ram cùng những người từ Bi-bi-lốt đục đá, chuẩn bị đá và gỗ để xây đền thờ.
1KI 6:1 Sô-lô-môn chuẩn bị xây đền thờ vào năm bốn trăm tám mươi sau khi Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Đó là năm thứ tư triều đại Sô-lô-môn trị vì trên Ít-ra-en, tháng thứ nhì, tức tháng Xíp.
1KI 6:2 Đền thờ ba mươi thước, ngang mười thước, cao mười lăm thước.
1KI 6:3 Vòm cửa phía trước gian phòng chính của đền thờ sâu năm thước, và rộng mười thước. Phòng nầy chạy dọc theo mặt trước của đền thờ. Chiều rộng của nó bằng với chiều rộng đền thờ.
1KI 6:4 Đền thờ cũng có cửa sổ nhỏ. Những cửa nầy nhỏ về phía trong vách và lớn về phía ngoài.
1KI 6:5 Sô-lô-môn cũng xây một số phòng bên hông nằm sát vách của phòng chính và phòng trong của đền thờ. Xung quanh đền thờ ông xây rất nhiều phòng.
1KI 6:6 Các phòng nơi tầng trệt rộng hai thước rưỡi. Các phòng nơi tầng giữa rộng ba thước, và các phòng tầng trên rộng ba thước. Vách đền thờ dùng làm vách hông cho mỗi phòng được xây mỏng hơn vách của phòng bên dưới. Các phòng nầy xây tựa vào vách đền thờ, nhưng không có cây đà ngang dựa vào vách ấy.
1KI 6:7 Đá được chuẩn bị sẵn tại nơi được đục ra từ đất. Vì chỉ có những tảng đá đó là được dùng xây đền thờ cho nên không có tiếng búa, rìu, hay các vật dụng bằng sắt ồn ào nào khi xây đền thờ.
1KI 6:8 Cửa vào phòng dưới bên cạnh đền thờ hướng về phía nam. Từ đó có bậc thang đi lên các phòng tầng nhì. Rồi từ đó có bậc thang đi lên các phòng tầng ba.
1KI 6:9 Sô-lô-môn dựng một mái từ các cây đà và miếng ván hương nam trên đền thờ. Vậy vua hoàn tất việc xây cất đền thờ
1KI 6:10 cũng như tầng trệt bên cạnh đền thờ. Tầng trệt nầy cao hai thước rưỡi và nối vào đền thờ bằng các cây đà.
1KI 6:11 CHÚA bảo Sô-lô-môn:
1KI 6:12 “Nếu ngươi vâng giữ luật lệ và mệnh lệnh ta thì ta sẽ làm cho ngươi điều ta đã hứa cùng Đa-vít, cha ngươi.
1KI 6:13 Ta sẽ ngự giữa dân Ít-ra-en trong đền thờ nầy và sẽ chẳng bao giờ lìa bỏ dân Ít-ra-en.”
1KI 6:14 Như thế Sô-lô-môn xây cất xong đền thờ.
1KI 6:15 Các vách bên trong được lót bằng ván hương nam từ sàn đến trần. Sàn nhà làm bằng gỗ thông.
1KI 6:16 Một phòng dài ba mươi bộ được xây phía sau đền thờ. Phòng nầy gọi là Nơi Chí Thánh, được ngăn cách khỏi đền thờ bằng một vách gỗ hương nam từ sàn cho đến trần.
1KI 6:17 Phòng chính, tức phòng phía trước Nơi Chí Thánh, dài hai mươi thước.
1KI 6:18 Tất cả các phần bên trong đền thờ đều bọc gỗ hương nam, khảm hình bông hoa và cây cối. Không ai thấy đá trong vách, chỉ thấy gỗ hương nam thôi.
1KI 6:19 Sô-lô-môn chuẩn bị phòng trong phía sau đền thờ để đặt Rương Giao Ước của CHÚA.
1KI 6:20 Phòng trong nầy, dài mười thước, rộng mười thước, và cao mười thước. Phòng được bọc vàng ròng, vua cũng bọc vàng bàn thờ gỗ hương nam.
1KI 6:21 Vua bọc vàng ròng bên trong đền thờ, máng các dây xích vàng ngang phía trước của phòng trong, phòng nầy cũng được bọc bằng vàng.
1KI 6:22 Như thế tất cả phía trong đền thờ, cũng như bàn thờ của Nơi Chí Thánh, đều bọc vàng.
1KI 6:23 Sô-lô-môn làm hai con thú có cánh bằng gỗ ô-liu đặt trong Nơi Chí Thánh. Mỗi con thú cao năm thước,
1KI 6:24 có hai cánh. Mỗi cánh hai thước rưỡi, nghĩa là từ đầu cánh nầy tới đầu cánh kia là năm thước.
1KI 6:25 Hai con thú đều đồng cỡ và giống y nhau;
1KI 6:26 mỗi con cao năm thước.
1KI 6:27 Hai con thú được đặt cạnh nhau ở Nơi Chí Thánh, giương cánh ra. Một cánh của mỗi con thú chạm vào vách nầy, cánh con thú kia chạm vào vách kia, còn cánh thứ hai thì chạm nhau ở giữa phòng.
1KI 6:28 Cả hai con thú đều bọc vàng.
1KI 6:29 Tất cả các vách trong đền thờ đều được chạm hình các con thú có cánh, cùng hình cây chà là và bông hoa. Phòng chính và phòng trong cũng vậy.
1KI 6:30 Các sàn của cả hai phòng đều bọc vàng.
1KI 6:31 Các cửa làm bằng gỗ ô liu và được đặt nơi lối vào của Nơi Chí Thánh. Các cửa có khung năm cạnh.
1KI 6:32 Các con thú có cánh cũng như các cây chà là và bông hoa được chạm trổ trên hai cánh cửa bằng gỗ ô liu và bọc vàng. Các con thú và các cây chà là chạm trên cửa cũng được bọc vàng.
1KI 6:33 Ở cửa vào phòng chính có một khung cửa hình vuông làm bằng gỗ ô liu.
1KI 6:34 Hai cánh cửa làm bằng gỗ thông. Mỗi cửa có hai miếng cho nên xếp vào được.
1KI 6:35 Các cửa có khắc hình các con thú có cánh, hình cây chà là và bông hoa. Tất cả các hình chạm trổ đều bọc vàng trải đều ra.
1KI 6:36 Sân giữa có vách bao quanh làm bằng ba dãy đá đẽo và một dãy ván hương nam.
1KI 6:37 Công tác xây cất đền thờ bắt đầu vào tháng Xíp, tức tháng thứ hai, năm thứ tư triều đại Sô-lô-môn trị vì trên Ít-ra-en.
1KI 6:38 Đền thờ hoàn tất vào năm thứ mười một triều vua, tháng thứ tám tức tháng Bun. Đền thờ được xây cất đúng y như dự định. Sô-lô-môn xây đền thờ mất bảy năm.
1KI 7:1 Vua Sô-lô-môn cũng xây một cung điện cho mình; mất mười ba năm mới xong.
1KI 7:2 Cung điện được xây bằng gỗ hương nam, gọi là Rừng Li-băng, cung điện dài năm mươi thước, rộng hai mươi lăm thước, và cao mười lăm thước. Có bốn hàng cột đỡ các cây đà bằng gỗ hương nam.
1KI 7:3 Có bốn mươi lăm cây đà đỡ mái nhà, mỗi hàng có mười lăm cây đà, và trần phía trên các cây đà được bọc bằng gỗ hương nam.
1KI 7:4 Các cửa sổ được đặt theo ba hàng đối diện nhau.
1KI 7:5 Các cửa đều hình vuông, và có ba cửa ở mỗi đầu đối diện nhau.
1KI 7:6 Sô-lô-môn cũng xây mái vòm có cột chống. Vòm nầy dài hai mươi lăm thước, rộng mười lăm thước. Dọc theo vòm là một mái có các trụ đỡ.
1KI 7:7 Sô-lô-môn cũng xây một phòng để ngai vàng, nơi ông ngồi xét xử dân chúng gọi là Điện Công Lý. Phòng nầy bọc bằng gỗ hương nam từ sàn cho tới trần.
1KI 7:8 Cung điện nơi Sô-lô-môn ở được xây như Điện Công Lý, và nằm ngay sau điện ấy. Sô-lô-môn cũng xây một cung điện như thế cho vợ mình, tức công chúa, con vua Ai-cập.
1KI 7:9 Các dinh thự nầy làm bằng các khối đá đẽo tốt. Trước hết các tảng đá được đục cẩn thận rồi mặt trước và mặt sau được xén gọn bằng cưa. Các tảng đá tốt nầy chạy từ nền dinh thự cho đến đỉnh của các vách. Sân cung điện cũng làm bằng các khối đá.
1KI 7:10 Các nền được làm bằng các khối đá đẽo tốt, có khối dài đến mười lăm bộ. Các khối đá khác dài mười hai bộ.
1KI 7:11 Bên trên các khối đá làm nền là các khối đá tốt khác và các cây đà hương nam.
1KI 7:12 Sân cung vua, sân bên trong đền thờ, và vòm của đền thờ đều có vách bao quanh. Tất cả các vách nầy có ba hàng đá khối, và một hàng cây đà bằng gỗ hương nam.
1KI 7:13 Vua Sô-lô-môn sai người đến thành Tia mang Hu-ram về.
1KI 7:14 Mẹ của Hu-ram thuộc chi tộc Nép-ta-li, góa chồng. Cha Hu-ram là người gốc thành Tia và rất giỏi về nghề làm đồ đồng. Hu-ram cũng rất giỏi và giàu kinh nghiệm làm đồ đồng. Nên ông đến làm đồ đồng cho vua Sô-lô-môn.
1KI 7:15 Ông làm hai cây cột đồng, mỗi cột cao chín thước, chu vi sáu thước. Các cột đều rỗng ruột, chiều dầy của vách cột khoảng bảy phân tây.
1KI 7:16 Ông cũng làm hai đầu cột cao hai thước rưỡi và đặt lên trên đỉnh các cột.
1KI 7:17 Rồi ông cũng làm một cái lưới gồm bảy dây xích cho mỗi đầu cột, lưới đó bao quanh đỉnh của các đầu cột.
1KI 7:18 Ông làm hai hàng trái lựu bằng đồng gắn vào lưới. Các trái lựu đó bao quanh đầu cột.
1KI 7:19 Các phần đầu cột nơi vòm cửa được làm theo hình hoa huệ, cao hai thước.
1KI 7:20 Các đầu cột nằm trên chóp hai cột, phía trên phần hình chậu kế cận các lưới. Có hai trăm trái lựu kết theo hàng quanh đầu cột.
1KI 7:21 Hu-ram đặt hai cột đồng nầy nơi vòm cửa của đền thờ. Ông gọi cột phía nam là Đấng Thiết Lập và cột phía bắc là Sức Mạnh ở trong Ngài.
1KI 7:22 Trên mỗi đầu cột đều đúc theo hình hoa huệ. Như thế công tác xây cột hoàn tất.
1KI 7:23 Rồi Hu-ram làm một cái chậu lớn hình tròn bằng đồng, gọi là cái Biển. Chu vi biển là mười lăm thước, ngang năm thước, sâu hai thước rưỡi.
1KI 7:24 Quanh mép ngoài cái chậu là cái viền. Dưới cái viền nầy là hai hàng cây bằng đồng tạc quanh chậu. Mỗi nửa thước có mười cây, các cây được đúc thành một khối liền với chậu.
1KI 7:25 Cái chậu được đặt trên lưng mười hai con bò đực bằng đồng, mặt xoay ra ngoài. Ba con quay mặt về phía bắc, ba con quay mặt về phía tây, ba con quay mặt về phía nam, và ba con quay mặt về phía đông.
1KI 7:26 Bề dầy của chậu khoảng một tấc, chứa được khoảng hai ngàn bát nước. Viền của chậu giống như viền của ly hay đóa hoa sen.
1KI 7:27 Sau đó Hu-ram làm mười cái giá bằng đồng, mỗi cái dài sáu bộ, rộng sáu bộ, và cao bốn bộ rưỡi.
1KI 7:28 Các giá có hình vuông, đặt trên khung.
1KI 7:29 Trên mỗi cạnh có tạc hình sư tử, bò đực và thú có cánh. Trên các khung, phía trên và phía dưới các con sư tử và con bò là các hình bông hoa giát vào đồng.
1KI 7:30 Mỗi giá có bốn bánh xe bằng đồng và trục ngang cũng bằng đồng. Ở các góc có các cây chống bằng đồng để đỡ cái chậu lớn, trên các cây chống cũng có chạm trổ hình bông hoa.
1KI 7:31 Trên các chậu có cái khung, cao hơn chậu nửa thước. Miệng chậu hình tròn, sâu bảy tấc rưỡi. Có các kiểu chạm hoa vào khung đồng quanh miệng hình vuông, không phải hình tròn.
1KI 7:32 Bốn bánh xe đặt dưới khung cao bảy tấc rưỡi. Các trục giữa các bánh xe cũng được làm thành một miếng cùng với cái giá.
1KI 7:33 Các bánh xe giống như các bánh quân xa. Vật gì cũng đặt trên bánh xe trục, niền, căm, và ổ trục và đều làm bằng đồng.
1KI 7:34 Bốn cây chống được đặt ở bốn góc xe đẩy. Chúng được chế thành một khối chung với xe đẩy.
1KI 7:35 Một đường viền đồng bọc quanh mỗi xe đẩy sâu hai tấc rưỡi. Nó cũng được chế thành một khối chung với xe đẩy.
1KI 7:36 Các cạnh của xe đẩy và khung đều có chạm hình các con thú có cánh, hình sư tử, cây chà là, và bông hoa.
1KI 7:37 Hu-ram làm mười xe đẩy giống nhau. Đồng để làm xe đẩy được nấu chảy và đổ vào một khuôn nên tất cả các xe đều cùng một cỡ và một dạng.
1KI 7:38 Hu-ram cũng chế mười chậu đồng, mỗi xe đẩy có một chậu. Mỗi chậu rộng hai thước và có thể chứa được khoảng tám mươi thùng.
1KI 7:39 Hu-ram đặt năm xe đẩy về phía nam của đền thờ và năm xe đẩy về phía bắc. Ông đặt cái biển lớn về góc Đông Nam của đền thờ.
1KI 7:40 Hu-ram cũng làm các chậu, giá múc, và chén bát. Vậy Hu-ram thực hiện xong công tác trong đền thờ của CHÚA cho vua Sô-lô-môn:
1KI 7:41 hai cây trụ mang hình cái chậu; hai mạng lưới để che phần trên đầu trụ;
1KI 7:42 bốn trăm trái lựu cho hai mạng lưới, mỗi mạng lưới trên chóp cột được phủ bằng hai hàng trái lựu;
1KI 7:43 mười giá, trên mỗi giá có một chậu;
1KI 7:44 một bể lớn đặt trên mười hai con bò;
1KI 7:45 các nồi, xẻng, chén bát, và tất cả vật dụng dùng cho đền thờ của CHÚA. Tất cả những gì vua Sô-lô-môn muốn, Hu-ram đều làm bằng đồng đánh bóng.
1KI 7:46 Vua cũng cho đúc khuôn tất cả các vật dụng đó ở thung lũng sông Giô-đanh giữa Xu-cốt và Xa-rê-than.
1KI 7:47 Sô-lô-môn không cân số lượng đồng dùng để làm các thứ đó, vì quá nhiều nên không ai biết tổng số lượng đồng là bao nhiêu.
1KI 7:48 Sô-lô-môn cũng làm tất cả các đồ dùng cho đền thờ của CHÚA: bàn thờ bằng vàng, cái bàn bọc vàng để chưng bày bánh hiện diện;
1KI 7:49 các chân đèn bằng vàng ròng đặt trong Nơi Chí Thánh, bên phải năm cái, bên trái năm cái; các bông hoa, đèn, các kẹp gắp bằng vàng;
1KI 7:50 các chậu bằng vàng ròng, kéo hớt tim đèn, chén bát, chậu đựng, và dĩa dùng đựng than; các bản lề vàng cho các cửa của Nơi Chí Thánh và phòng chính của đền thờ.
1KI 7:51 Sau cùng công tác vua Sô-lô-môn thực hiện cho đền thờ của CHÚA hoàn tất. Sô-lô-môn mang tất cả những thứ Đa-vít, cha mình đã biệt riêng ra cho đền thờ: bạc, vàng, và các món khác. Vua để mọi thứ vào trong kho ngân khố của đền thờ CHÚA.
1KI 8:1 Vua Sô-lô-môn triệu tập các bô lão trong Ít-ra-en, các tộc trưởng, và các trưởng gia đình đến trình diện mình tại Giê-ru-sa-lem. Ông muốn họ rước Rương Giao Ước của CHÚA từ thành Đa-vít, còn gọi là Xi-ôn.
1KI 8:2 Vậy toàn dân Ít-ra-en họp lại cùng vua Sô-lô-môn vào dịp lễ đặc biệt trong tháng lễ Ê-tha-nim, tức tháng thứ bảy.
1KI 8:3 Khi các bô lão Ít-ra-en đến thì các thầy tế lễ khiêng Rương lên.
1KI 8:4 Họ mang Rương của CHÚA, Lều Họp, và các vật dụng thánh; các thầy tế lễ và người Lê-vi mang các món đó đến.
1KI 8:5 Vua Sô-lô-môn và toàn dân Ít-ra-en tập họp trước Rương và dâng sinh tế bằng chiên và bò nhiều đến nỗi không thể đếm được.
1KI 8:6 Rồi các thầy tế lễ đặt Rương Giao Ước của CHÚA vào Nơi Chí Thánh trong đền thờ, dưới các cánh của hai con thú.
1KI 8:7 Các cánh của hai con thú giương ra trên nơi để Rương Giao Ước, che Rương và các đòn khiêng.
1KI 8:8 Các đòn khiêng dài đến nỗi ai đứng trong Nơi Thánh ngay trước Nơi Chí Thánh đều có thể nhìn thấy đuôi của các đòn, nhưng đứng bên ngoài Nơi thánh thì không thấy được. Ngày nay các đòn nầy vẫn còn đó.
1KI 8:9 Bên trong có hai bảng đá mà Mô-se đã đặt vào Rương trên núi Hô-rếp. Đó là nơi CHÚA lập giao ước với dân Ít-ra-en sau khi họ ra khỏi Ai-cập.
1KI 8:10 Khi các thầy tế lễ ra khỏi Nơi Thánh thì mây phủ đầy đền thờ của CHÚA.
1KI 8:11 Các thầy tế lễ không thể thi hành nhiệm vụ được vì đền thờ đầy dẫy vinh quang CHÚA.
1KI 8:12 Sau đó Sô-lô-môn nói, “CHÚA khiến mặt trời soi sáng bầu trời, nhưng Ngài lại chọn ở trong đám mây tối đen.
1KI 8:13 Lạy Chúa, tôi đã xây một đền thờ tuyệt đẹp cho Ngài, một nơi ở cho Ngài đời đời.”
1KI 8:14 Đang khi toàn dân Ít-ra-en đang đứng đó thì vua Sô-lô-môn quay mặt lại và chúc phước cho họ.
1KI 8:15 Rồi vua cầu nguyện như sau: “Đáng ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Ngài đã thực hiện điều Ngài đã hứa cùng Đa-vít, cha tôi. CHÚA phán,
1KI 8:16 ‘Từ khi ta mang dân Ít-ra-en ta ra khỏi Ai-cập, ta chưa chọn một thành nào trong chi tộc Ít-ra-en để xây đền thờ cho ta cả. Nhưng nay ta đã chọn Giê-ru-sa-lem làm thành phố, nơi danh ta được tôn kính. Ta đã chọn Đa-vít lãnh đạo dân Ít-ra-en ta.’”
1KI 8:17 Đa-vít, cha ta muốn xây một đền thờ cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
1KI 8:18 Nhưng CHÚA bảo Đa-vít, cha ta rằng, “Ngươi có ý tốt muốn xây một đền thờ cho ta.
1KI 8:19 Nhưng ngươi sẽ không phải là người làm chuyện đó. Con trai ngươi, do lòng ngươi sinh ra, sẽ là người xây đền thờ cho ta.”
1KI 8:20 “Nay CHÚA đã giữ lời hứa Ngài. Ta đang làm vua thế cho Đa-vít, cha ta. Ta hiện đang cai trị Ít-ra-en như CHÚA đã hứa, và ta đã xây đền thờ cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
1KI 8:21 Ta đã chuẩn bị một nơi cho Rương, trong đó có Giao ước CHÚA lập với tổ tiên chúng ta khi Ngài mang họ ra khỏi Ai-cập.”
1KI 8:22 Rồi Sô-lô-môn đứng quay mặt về phía bàn thờ CHÚA, còn tất cả dân chúng đứng phía sau vua. Ông giơ tay lên trời
1KI 8:23 và cầu nguyện: “Lạy CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, trên trời và dưới đất không có thần nào giống như Ngài. Ngài giữ giao ước yêu thương với tôi tớ Ngài là những người thật tâm theo Ngài.
1KI 8:24 Ngài đã giữ lời hứa cùng cha tôi là Đa-vít, kẻ tôi tớ Ngài. Miệng Ngài đã hứa và hôm nay tay Ngài đã thực hiện lời hứa đó.
1KI 8:25 Bây giờ, lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, xin hãy giữ lời hứa Ngài cùng Đa-vít, cha tôi là kẻ tôi tớ Ngài. Ngài phán, ‘Nếu con cái ngươi cẩn thận vâng lời ta như ngươi đã làm thì bao giờ trong gia đình ngươi cũng có người cai trị trên Ít-ra-en.’
1KI 8:26 Bây giờ lạy Thượng Đế của Ít-ra-en, xin hãy tiếp tục giữ lời hứa cùng cha tôi, Đa-vít, là kẻ tôi tớ Ngài.
1KI 8:27 Nhưng Thượng Đế ôi, Ngài có thực ở trên đất nầy không? Vì bầu trời và các từng trời cao còn không đủ chỗ CHÚA Ngài huống hồ tòa nhà nầy mà tôi đã xây.
1KI 8:28 Nhưng xin hãy nghe lời khẩn xin của tôi, vì tôi là kẻ tôi tớ CHÚA. Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, xin hãy nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài hôm nay.
1KI 8:29 Xin hãy canh giữ đền thờ nầy đêm ngày là nơi Ngài đã phán, ‘Người ta sẽ thờ phụng ta tại đó.’ Xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi hướng về đền thờ nầy.
1KI 8:30 Xin hãy nghe lời cầu nguyện của tôi cùng lời cầu nguyện của Ít-ra-en, dân Ngài khi chúng tôi hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện. Từ nơi ở của Ngài trên trời xin hãy nghe và tha thứ cho chúng tôi.
1KI 8:31 Nếu ai làm tổn hại người khác và bị mang đến bàn thờ của đền thờ nầy. Nếu người đó thề rằng mình hoàn toàn vô tội,
1KI 8:32 thì xin CHÚA từ trời hãy nghe. Xin phân xử vụ đó, trừng phạt kẻ có tội, nhưng tuyên bố kẻ vô tội được trắng án.
1KI 8:33 Khi Ít-ra-en, dân CHÚA, phạm tội cùng Ngài và bị kẻ thù đánh bại. Nếu họ trở lại cùng Ngài, ca ngợi và cầu nguyện cùng CHÚA trong đền thờ nầy,
1KI 8:34 thì xin Ngài từ trời hãy nghe. Hãy tha tội cho họ và mang họ trở về xứ mà Ngài ban cho tổ tiên họ.
1KI 8:35 Khi họ phạm tội cùng Ngài và Ngài không cho mưa xuống trên xứ, họ sẽ hướng về nơi nầy cầu nguyện và ca ngợi Ngài; họ sẽ không phạm tội nữa khi Ngài trừng phạt họ.
1KI 8:36 Nếu điều đó xảy ra, xin Ngài hãy nghe lời cầu nguyện của họ từ trời, tha tội cho dân Ít-ra-en, kẻ tôi tớ Ngài. Xin dạy họ làm điều phải và xin cho mưa xuống trên xứ nầy mà Ngài đã ban riêng cho họ.
1KI 8:37 Có khi đất bị hạn hán đến nỗi không trồng trọt gì được, hay dân chúng bị bệnh dịch hành hại. Có khi mùa màng bị hư hại vì thiên tai hay bị cào cào hoặc châu chấu tiêu hủy. Dân Ngài có thể bị kẻ thù tấn công trong các thành hay bị bệnh tật hành hạ.
1KI 8:38 Khi những điều đó xảy ra dân chúng sẽ thật sự ăn năn. Nếu dân Ngài giơ tay ra cầu nguyện hướng về đền thờ nầy,
1KI 8:39 thì xin CHÚA từ nơi ở trên trời hãy nghe. Xin hãy tha thứ và đối xử mỗi người cho xứng đáng vì Ngài biết rõ lòng của mỗi người. Chỉ có một mình CHÚA biết rõ lòng con người.
1KI 8:40 Rồi dân chúng sẽ kính sợ Ngài suốt đời khi sống trong đất nầy là miền đất mà Ngài đã ban cho tổ tiên chúng tôi.
1KI 8:41 Như thế những dân không phải Ít-ra-en, những người ngoại quốc từ các nước khác sẽ nghe về quyền năng cao cả Ngài. Họ sẽ đến từ nơi xa xăm để cầu nguyện tại đền thờ nầy
1KI 8:43 thì xin CHÚA từ nơi ở Ngài trên trời lắng nghe và làm theo điều họ cầu xin. Như thế dân cư khắp nơi sẽ biết và kính sợ Ngài cũng như dân Ít-ra-en của Ngài. Rồi mọi người sẽ biết rằng tôi xây đền thờ nầy dùng làm nơi thờ phụng CHÚA.
1KI 8:44 Khi CHÚA sai dân Ngài đi trên đường ra chiến đấu cùng kẻ thù mình, họ sẽ cầu nguyện cùng Ngài, hướng về thành nầy mà Ngài đã chọn và đền thờ mà tôi đã xây cho Ngài.
1KI 8:45 Thì xin Ngài từ trời hãy nghe lời cầu nguyện của họ và xử công bằng cho họ.
1KI 8:46 Vì ai cũng phạm tội, cho nên khi dân chúng phạm tội cùng Ngài, đến nỗi Ngài nổi giận và trao họ vào tay quân thù. Quân thù sẽ bắt và đày họ đi đến xứ thật xa.
1KI 8:47 Khi họ bị làm tù binh trong xứ khác, dân Ngài sẽ thực tâm ăn năn. Họ sẽ hối hận và cầu nguyện cùng Ngài trong xứ họ bị làm tù binh rằng, ‘Chúng tôi đã phạm tội. Chúng tôi đã làm quấy và hành động gian ác.’
1KI 8:48 Họ sẽ thực lòng trở về cùng Ngài trong xứ của kẻ thù. Họ sẽ cầu nguyện cùng Ngài, hướng về xứ nầy mà Ngài đã ban cho tổ tiên họ, thành nầy mà Ngài đã chọn, và đền thờ mà tôi đã xây cho Ngài.
1KI 8:49 Thì xin Ngài từ trời hãy nghe lời cầu nguyện của họ và làm điều phải.
1KI 8:50 Xin hãy tha tội cho dân Ngài vì đã chống nghịch Ngài. Xin hãy khiến các kẻ bắt họ làm tù binh tỏ lòng từ bi đối với họ.
1KI 8:51 Xin nhớ rằng họ là dân riêng của Ngài. Ngài mang họ ra khỏi Ai-cập giống như kéo họ ra khỏi lò lửa hực luyện sắt.
1KI 8:52 Xin hãy để ý đến lời cầu nguyện của tôi và của dân Ít-ra-en Ngài. Hễ khi nào họ xin Ngài cứu giúp, xin Ngài lắng nghe.
1KI 8:53 Lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài đã chọn họ từ các dân trên đất để làm dân riêng cho mình. Đó là điều Ngài hứa cùng Mô-se, kẻ tôi tớ Ngài khi Ngài mang tổ tiên chúng tôi ra khỏi Ai-cập,”
1KI 8:54 Sô-lô-môn cầu nguyện như thế cùng CHÚA, giơ tay lên trời và quì gối xuống trước bàn thờ. Sau khi cầu nguyện xong, ông đứng dậy,
1KI 8:55 và lớn tiếng chúc phước toàn dân Ít-ra-en rằng:
1KI 8:56 “Đáng chúc tụng CHÚA! Ngài hứa sẽ ban an nghỉ cho dân Ít-ra-en của Ngài, và nay Ngài đã làm điều đó. CHÚA đã giữ tất cả các lời hứa Ngài qua Mô-se, kẻ tôi tớ Ngài.
1KI 8:57 Nguyện CHÚA là Thượng Đế chúng tôi ở cùng chúng tôi như Ngài đã ở cùng tổ tiên chúng tôi. Nguyện xin Ngài không bao giờ lìa bỏ chúng tôi,
1KI 8:58 và xin Ngài mang chúng tôi về cùng Ngài để chúng tôi đi theo Ngài. Nguyện chúng tôi vâng theo các luật lệ và mệnh lệnh Ngài truyền cho tổ tiên chúng tôi.
1KI 8:59 Nguyện CHÚA là Thượng Đế đêm ngày ghi nhớ lời cầu nguyện nầy và hằng ngày làm điều phải cho tôi tớ cùng dân Ít-ra-en của Ngài.
1KI 8:60 Rồi mọi dân trên thế giới sẽ biết CHÚA là Thượng Đế duy nhất.
1KI 8:61 Các ngươi phải hết lòng vâng theo CHÚA là Thượng Đế chúng ta, vâng giữ các luật lệ và mệnh lệnh Ngài. Hãy làm như thế trong tương lai cũng như trong hiện tại.”
1KI 8:62 Rồi vua Sô-lô-môn và toàn dân Ít-ra-en dâng của lễ lên cho CHÚA.
1KI 8:63 Sô-lô-môn giết hai mươi hai ngàn con bò và một trăm hai mươi ngàn con chiên để làm của lễ. Vua và toàn dân cung hiến đền thờ cho CHÚA.
1KI 8:64 Trong ngày đó Sô-lô-môn biệt ra thánh phần giữa của sân trước mặt đền thờ của CHÚA, rồi vua dâng của lễ toàn thiêu, của lễ chay, và mỡ của của lễ thân hữu. Ông dâng các của lễ đó trong sân trước đền thờ vì bàn thờ đồng trước mặt CHÚA quá nhỏ không đủ chỗ chứa hết các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ của của lễ thân hữu.
1KI 8:65 Vậy Sô-lô-môn và toàn dân Ít-ra-en cử hành lễ trong thời gian đó. Nhiều người đến từ các nơi rất xa như Lê-bô-Ha-mát và suối Ai-cập. Vô số người dự lễ trước mặt CHÚA là Thượng Đế trong bảy ngày, rồi dự thêm bảy ngày nữa, tất cả là mười bốn ngày.
1KI 8:66 Hôm sau Sô-lô-môn cho dân chúng về. Họ ra về và chúc phước cho vua, vui mừng vì tất cả những điều tốt lành CHÚA đã làm cho tôi tớ Ngài là Đa-vít và cho toàn dân Ít-ra-en của Ngài.
1KI 9:1 Sô-lô-môn hoàn tất việc xây cất đền thờ của CHÚA và cung vua cùng mọi thứ vua muốn xây.
1KI 9:2 Rồi CHÚA lại hiện ra cho vua lần nữa giống như lần trước ở Ghi-bê-ôn.
1KI 9:3 CHÚA bảo vua, “Ta đã nghe lời cầu nguyện ngươi và điều ngươi cầu xin. Ngươi đã xây đền thờ nầy mà ta đã chọn làm nơi thánh. Người ta sẽ thờ phụng ta tại đó đời đời; ta sẽ trông nom và luôn luôn bảo vệ nó.
1KI 9:4 Nhưng ngươi phải phục vụ ta như Đa-vít cha ngươi. Ngươi phải hết lòng làm điều phải. Ngươi phải vâng giữ những gì ta truyền cùng những luật lệ và qui tắc của ta.
1KI 9:5 Nếu ngươi làm như thế, ta sẽ khiến ngôi nước ngươi vững chắc trên Ít-ra-en. Đây là lời ta hứa cùng Đa-vít cha ngươi rằng trong nhà người sẽ luôn luôn có người cai trị trên Ít-ra-en.
1KI 9:6 Nhưng ngươi và con cái ngươi phải đi theo ta, vâng giữ luật lệ và mệnh lệnh ta truyền cho. Các ngươi không được phục vụ hay thờ phụng thần nào khác.
1KI 9:7 Nếu không ta sẽ đuổi dân Ít-ra-en ra khỏi xứ ta ban cho họ, và ta sẽ rời bỏ đền thờ nầy mà ta đã biệt riêng ra thánh. Các dân tộc sẽ chế giễu dân Ít-ra-en và bêu xấu họ.
1KI 9:8 Nếu đền thờ bị tiêu hủy, ai đi qua lại cũng sẽ sửng sốt. Họ sẽ chế giễu các ngươi và hỏi, ‘Tại sao CHÚA làm điều ghê gớm nầy cho xứ và đền thờ?’
1KI 9:9 Người ta sẽ trả lời, ‘Vì họ đã bỏ CHÚA là Thượng Đế họ là Đấng mang tổ tiên họ ra khỏi Ai-cập. Họ đi theo các thần khác. Họ thờ phụng và phục vụ các thần đó cho nên CHÚA đưa thảm họa nầy đến trên họ.’”
1KI 9:10 Đến cuối năm thứ hai mươi, vua Sô-lô-môn đã xây hai tòa nhà: đền thờ của CHÚA và cung vua.
1KI 9:11 Lúc đó vua Sô-lô-môn cấp cho Hi-ram, vua Tia, hai mươi thị trấn trong vùng Ga-li-lê vì Hi-ram đã giúp vua xây cất các tòa nhà. Hi-ram đã cấp cho Sô-lô-môn tất cả gỗ hương nam, gỗ thông, và vàng mà vua cần.
1KI 9:12 Vậy Hi-ram từ Tia đi đến viếng các thị trấn mà Sô-lô-môn cấp cho mình nhưng khi viếng xong, Hi-ram không hài lòng.
1KI 9:13 Hi-ram hỏi, “Anh ơi, các thị trấn anh cho tôi đó có ra gì đâu?” Cho nên ông gọi chúng là Đất Ca-bun, ngày nay vẫn còn mang tên đó.
1KI 9:14 Hi-ram gởi cho Sô-lô-môn khoảng chín ngàn cân vàng.
1KI 9:15 Sau đây là cách Sô-lô-môn dùng lao công cưỡng bách để xây đền thờ và hoàng cung. Ông bắt họ xây Mi-lô ở Giê-ru-sa-lem. Ông cũng bảo họ xây lại các thành Hát-xo, Mê-ghi-đô, và Ghê-xe.
1KI 9:16 Trước kia vua Ai-cập tấn công và chiếm Ghê-xe. Sau khi tiêu hủy thành thì vua giết tất cả người Ca-na-an cư ngụ ở đó. Rồi vua tặng thành đó cho con gái mình là người kết hôn với Sô-lô-môn để làm của hồi môn.
1KI 9:17 Cho nên Sô-lô-môn xây lại thành ấy. Vua cũng xây các thành trong vùng hạ Bết-Hô-rôn
1KI 9:18 và Ba-a-lát, cùng Tát-mo trong sa mạc.
1KI 9:19 Vua Sô-lô-môn cũng xây các thành để trữ thóc lúa và đồ tiếp liệu và các thành cho quân xa và ngựa của vua. Ở Giê-ru-sa-lem, Li-băng hay bất cứ nơi nào vua cai trị vua muốn xây gì thì xây.
1KI 9:20 Trong xứ cũng có những dân không phải Ít-ra-en: A-mô-rít, Hê-tít, Phê-ri-xít, Hê-vít, và Giê-bu-xít.
1KI 9:21 Họ thuộc dòng dõi những dân mà người Ít-ra-en không tiêu diệt. Sô-lô-môn bắt họ làm nô lệ cho mình và cho đến nay vẫn như thế.
1KI 9:22 Nhưng Sô-lô-môn không bắt dân Ít-ra-en làm nô lệ. Họ làm lính, các quan chức, sĩ quan, các cấp chỉ huy, sĩ quan điều khiển quân xa, và tài xế quân xa.
1KI 9:23 Đó là những sĩ quan cao cấp nhất trông coi mọi việc. Có năm trăm năm mươi đốc công coi sóc các nhân công thực hiện những chương trình của Sô-lô-môn.
1KI 9:24 Con gái của vua Ai-cập dời từ thành Đa-vít đến cung điện Sô-lô-môn cất cho nàng. Rồi Sô-lô-môn xây Mi-lô.
1KI 9:25 Mỗi năm ba lần Sô-lô-môn dâng của lễ toàn thiêu và của lễ thân hữu trên bàn thờ vua đã xây cho CHÚA. Vua cũng đốt hương trước mặt CHÚA. Sô-lô-môn hoàn tất công tác cho đền thờ là như thế.
1KI 9:26 Vua Sô-lô-môn cũng đóng các tàu bè ở Ê-xi-ôn Ghê-be, một thị trấn gần Ê-lát trên bờ Biển Sậy, thuộc xứ Ê-đôm.
1KI 9:27 Hi-ram có các thủy thủ chuyên nghiệp nên vua phái họ phục vụ trên các thuyền bè nầy cùng với các thủy thủ của Sô-lô-môn.
1KI 9:28 Các thuyền đó đi Ô-phia và mang về khoảng mười lăm tấn vàng cho vua Sô-lô-môn.
1KI 10:1 Khi nữ hoàng nước Sê-ba nghe danh tiếng vua Sô-lô-môn thì bà đến thăm và thử vua nhiều câu đố.
1KI 10:2 Bà đi đến Giê-ru-sa-lem cùng với một đoàn tôi tớ và lạc đà rất đông mang theo hương liệu, ngọc ngà và rất nhiều vàng. Khi đến gặp vua Sô-lô-môn, bà nói với vua những gì bà suy nghĩ,
1KI 10:3 còn vua Sô-lô-môn trả lời mọi câu hỏi của bà. Không có vấn đề gì quá khó mà vua không giải nghĩa được.
1KI 10:4 Nữ hoàng Sê-ba nghe rằng vua Sô-lô-môn rất khôn ngoan. Bà nhìn thấy cung điện vua đã xây,
1KI 10:5 thức ăn trên bàn, các sĩ quan, các tôi tớ trong cung cùng y phục tốt đẹp của họ. Bà cũng thấy các đầy tớ phục vụ các đại tiệc và các của lễ toàn thiêu vua dâng trong đền thờ của CHÚA, tất cả khiến bà vô cùng kinh ngạc.
1KI 10:6 Bà bảo vua Sô-lô-môn, “Những điều tôi nghe trong xứ tôi về kỳ công và sự khôn ngoan của ngài thì đúng.
1KI 10:7 Lúc ấy tôi không tin nhưng giờ đây khi mắt tôi đã thấy thì những điều người ta nói về ngài chưa đến phân nửa! Sự khôn ngoan và giàu có của ngài lớn hơn điều tôi nghe rất nhiều.
1KI 10:8 Các người làm việc và các quần thần của ngài thật may mắn vì khi phục vụ ngài, họ còn có thể nghe được sự khôn ngoan của ngài.
1KI 10:9 Đáng chúc tụng CHÚA là Thượng Đế của ngài đã vui lòng đặt ngài cai trị nước Ít-ra-en. CHÚA luôn luôn yêu thương Ít-ra-en cho nên cử ngài làm hoàng đế để duy trì công lý và trị vì công bằng.”
1KI 10:10 Rồi bà biếu vua khoảng bốn tấn vàng, vô số hương liệu và ngọc ngà. Từ đó về sau không có ai mang đến nhiều hương liệu bằng số lượng nữ hoàng Sê-ba biếu Sô-lô-môn.
1KI 10:11 Các tàu bè của Hi-ram cũng mang vàng về từ Ô-phia cùng gỗ lim và ngọc ngà.
1KI 10:12 Vua Sô-lô-môn dùng gỗ lim xây các lan can cho đền thờ của CHÚA và cung điện, làm các đờn cầm, đờn tranh cho nhạc sĩ. Từ đó đến nay không thấy ai mang loại gỗ lim tốt như thế.
1KI 10:13 Vua Sô-lô-môn cấp cho nữ hoàng Sê-ba tất cả những gì bà thích và yêu cầu, ngoài những thứ vua tặng bà từ của cải giàu sang của mình. Rồi bà cùng các đầy tớ lên đường trở về xứ.
1KI 10:14 Mỗi năm vua Sô-lô-môn nhận được khoảng hai mươi ba tấn vàng.
1KI 10:15 Ngoài ra, vua cũng nhận vàng từ các lái buôn cùng các vua xứ Á-rập và các thống đốc của xứ.
1KI 10:16 Vua Sô-lô-môn làm hai trăm tấm khiên bằng vàng giát mỏng, mỗi tấm chứa khoảng bảy kí vàng.
1KI 10:17 Vua cũng làm ba trăm cái khiên nhỏ hơn bằng vàng giát mỏng, mỗi cái chứa khoảng bốn cân vàng. Vua đặt các khiên đó trong Cung điện Rừng Li-băng.
1KI 10:18 Vua cũng đóng một ngôi lớn bằng ngà voi bọc vàng.
1KI 10:19 Ngôi có sáu nấc thang đi lên và phần trên của lưng ngai thì tròn. Ngôi cũng có chỗ tựa tay hai bên, và mỗi chỗ tựa tay có khắc hình một con sư tử bên cạnh.
1KI 10:20 Có mười hai con sư tử trên sáu nấc thang, mỗi một đầu nấc có một con sư tử. Trước đây chưa hề có nước nào làm ngôi như vậy cả.
1KI 10:21 Tất cả các ly cốc dùng để uống của vua Sô-lô-môn cùng các dĩa dùng trong cung điện trong Rừng Li-băng đều làm bằng vàng ròng. Không có gì làm bằng bạc cả vì bạc không có giá trị gì dưới thời Sô-lô-môn.
1KI 10:22 Vua Sô-lô-môn cũng có nhiều tàu buôn đi biển cùng với các tàu của Hi-ram. Mỗi ba năm các tàu bè đó đi về mang vàng, bạc, ngà voi, con khỉ, và con công.
1KI 10:23 Vua Sô-lô-môn giàu có và khôn ngoan hơn tất cả các vua trên đất.
1KI 10:24 Dân chúng khắp nơi đều muốn đến gặp vua Sô-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Thượng Đế ban cho vua.
1KI 10:25 Mỗi năm những người đến thăm mang biếu bạc, vàng, áo quần, vũ khí, hương liệu, ngựa, và la.
1KI 10:26 Sô-lô-môn có một ngàn bốn trăm quân xa và mười hai ngàn ngựa. Ông giữ một số trong các thành đặc biệt dành cho các quân xa, còn số khác ông giữ tại Giê-ru-sa-lem.
1KI 10:27 Ở Giê-ru-sa-lem vua Sô-lô-môn làm cho bạc trở thành tầm thường như sỏi đá và cây hương nam cũng thường như cây sung mọc nơi đồng bằng.
1KI 10:28 Vua mua ngựa từ xứ Ai-cập và Kiêu. Các lái buôn của vua mang ngựa từ Kiêu về.
1KI 10:29 Mỗi quân xa mua từ Ai-cập giá khoảng mười lăm cân bạc, còn ngựa thì khoảng bốn cân bạc. Các con buôn của Sô-lô-môn cũng bán ngựa và quân xa cho các vua Hê-tít và A-ram.
1KI 11:1 Vua Sô-lô-môn yêu các phụ nữ không thuộc dân Ít-ra-en. Vua yêu con gái vua Ai-cập cùng các phụ nữ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Xi-đôn, và Hê-tít.
1KI 11:2 CHÚA đã bảo dân Ít-ra-en, “Các ngươi không được cưới gả với các dân tộc khác. Nếu làm như thế chúng sẽ quyến dụ các ngươi theo các thần của chúng nó.” Nhưng vua Sô-lô-môn yêu thích các phụ nữ ấy.
1KI 11:3 Vua có bảy trăm hoàng hậu và ba trăm cung phi. Các phụ nữ ấy quyến dụ ông lìa bỏ Thượng Đế.
1KI 11:4 Khi Sô-lô-môn về già, các vợ của ông dụ dỗ ông đi theo các thần khác. Ông không hết lòng đi theo CHÚA như Đa-vít, cha mình.
1KI 11:5 Vua Sô-lô-môn thờ thần Át-tô-rết, nữ thần của dân Xi-đôn, và Mô-léc, thần đáng ghê tởm của dân Am-môn.
1KI 11:6 Sô-lô-môn làm điều quấy trước mặt CHÚA và không hết lòng theo Ngài như cha mình là Đa-vít.
1KI 11:7 Vua xây hai nơi thờ phụng trên một ngọn đồi gần Giê-ru-sa-lem. Một cái để thờ thần Kê-mốt, tức thần đáng ghê tởm của Mô-áp, và cái kia dùng thờ thần Mô-léc, thần đáng ghê tởm của dân Am-môn.
1KI 11:8 Sô-lô-môn cũng làm y như thế cho các bà vợ ngoại quốc của mình để họ có thể đốt hương và dâng sinh tế cho các thần của họ.
1KI 11:9 CHÚA hiện ra cùng Sô-lô-môn hai lần nhưng vua lìa bỏ CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en. Ngài nổi giận cùng Sô-lô-môn,
1KI 11:10 vì Ngài đã cấm Sô-lô-môn đi theo các thần khác. Nhưng Sô-lô-môn không nghe theo mệnh lệnh của CHÚA.
1KI 11:11 Nên CHÚA phán cùng Sô-lô-môn, “Vì ngươi nhất quyết phá giao ước với ta, không theo mệnh lệnh ta, ta sẽ xé nước ngươi ra và ban cho một trong các quần thần của ngươi.
1KI 11:12 Nhưng ta sẽ không lấy nước khỏi ngươi đang khi ngươi còn sống vì tình yêu ta đối với cha ngươi là Đa-vít. Ta sẽ đoạt nước khỏi tay con trai ngươi khi nó lên ngôi vua.
1KI 11:13 Ta sẽ không đoạt lấy cả nước khỏi tay nó, ta sẽ để lại cho nó một chi tộc để cai trị. Ta làm như thế là vì Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, và vì Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn.”
1KI 11:14 CHÚA khiến Ha-đát, người Ê-đôm, một người trong hoàng gia Ê-đôm trở thành kẻ thù của Sô-lô-môn.
1KI 11:15 Trước kia Đa-vít đã đánh bại Ê-đôm. Khi Giô-áp, tư lệnh quân đội của Đa-vít đi xuống Ê-đôm để chôn những người chết thì ông giết tất cả các người đàn ông ở đó.
1KI 11:16 Giô-áp và toàn dân Ít-ra-en ở lại Ê-đôm trong sáu tháng và giết sạch các đàn ông của Ê-đôm.
1KI 11:17 Lúc đó Ha-đát còn nhỏ nên chạy thoát qua Ai-cập cùng với một vài sĩ quan của cha mình.
1KI 11:18 Họ rời Mi-đi-an và đến Pha-ran, ở đó có một số người nhập bọn với họ. Rồi tất cả đi xuống yết kiến vua Ai-cập. Vua cấp cho Ha-đát một căn nhà, thực phẩm và một số đất đai.
1KI 11:19 Vua rất thích Ha-đát cho nên gả em gái của hoàng hậu Ta-phê-ne, là vợ mình cho ông.
1KI 11:20 Hai người sinh được một con trai đặt tên là Ghê-nu-bát. Hoàng hậu Ta-phê-ne nuôi nó trong hoàng cung cùng với các con cái của vua.
1KI 11:21 Đang khi ở Ai-cập thì Ha-đát nghe tin Đa-vít đã qua đời và Giô-áp, tư lệnh quân đội cũng đã chết. Cho nên Ha-đát thưa với vua, “Xin cho phép tôi ra đi, trở về quê hương tôi.”
1KI 11:22 Vua hỏi, “Tại sao ngươi muốn trở về xứ ngươi? Ở đây ngươi có thiếu thốn gì không?” Ha-đát đáp, “Không thiếu gì cả nhưng xin cho tôi ra đi.”
1KI 11:23 Thượng Đế cũng xúi giục một người nữa nghịch lại Sô-lô-môn là Rê-xôn, con Ê-lia-đa. Rê-xôn cũng chạy trốn khỏi chủ mình là Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba.
1KI 11:24 Sau khi Đa-vít đánh bại đạo quân của Xô-ba thì Rê-xôn triệu tập một số người và trở thành lãnh tụ của một đám quân nhỏ. Chúng đi đến định cư ở Đa-mách rồi Rê-xôn làm vua Đa-mách.
1KI 11:25 Rê-xôn cai trị A-ram và rất ghét Ít-ra-en. Nên suốt đời Sô-lô-môn, hắn là kẻ thù của Ít-ra-en. Cả Rê-xôn và Ha-đát đều quấy nhiễu Ít-ra-en.
1KI 11:26 Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát là một trong những sĩ quan của Sô-lô-môn. Ông là người Ép-ra-im, xuất thân từ thị trấn Xê-rê-đa, con của một góa phụ tên Xê-ru-a. Giê-rô-bô-am phản nghịch nhà vua.
1KI 11:27 Chuyện Giê-rô-bô-am chống vua như sau. Vua Sô-lô-môn cho xây Mi-lô và sửa chữa vách thành Đa-vít, cha mình.
1KI 11:28 Giê-rô-bô-am là người có khả năng, và vì Sô-lô-môn thấy ông làm việc giỏi cho nên cắt ông coi sóc tất cả các nhân công thuộc chi tộc Ép-ra-im và Ma-na-xe.
1KI 11:29 Một hôm trong khi Giê-rô-bô-am đang rời Giê-ru-sa-lem thì A-hi-gia, một nhà tiên tri từ Si-lô đang mặc một cái áo mới gặp Giê-rô-bô-am trên đường. Lúc đó chỉ có hai người đang ở ngoài đồng.
1KI 11:30 A-hi-gia nắm cái áo mới của mình xé ra làm mười hai mảnh.
1KI 11:31 Rồi ông bảo Giê-rô-bô-am, “Hãy lấy mười mảnh nầy cho ngươi vì CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán, ‘Ta sẽ xé nước khỏi Sô-lô-môn và ban cho ngươi mười chi tộc.
1KI 11:32 Nhưng ta sẽ để cho người kiểm soát một chi tộc. Ta làm như thế vì tôi tớ ta là Đa-vít và vì Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn từ các chi tộc trong Ít-ra-en.
1KI 11:33 Sở dĩ ta làm như vậy là vì Sô-lô-môn không theo ta nữa mà đi thờ lạy nữ thần Át-tô-rết của người Xi-đôn, thần Kê-mốt của Mô-áp, và thần Mô-léc của dân Am-môn. Sô-lô-môn không vâng theo điều ta dặn bảo hay vâng theo luật lệ và mệnh lệnh ta như Đa-vít cha người đã làm.
1KI 11:34 Nhưng ta sẽ không đoạt tất cả nước khỏi tay Sô-lô-môn. Ta sẽ để người trị vì suốt đời vì cớ Đa-vít, kẻ ta chọn, là người đã vâng theo mọi mệnh lệnh và luật lệ ta.
1KI 11:35 Nhưng ta sẽ lấy nước khỏi tay con trai người, và ta sẽ cho ngươi trị vì mười chi tộc.
1KI 11:36 Ta sẽ cho con trai Sô-lô-môn trị vì một chi tộc để lúc nào cũng có một người thuộc dòng dõi Đa-vít, kẻ tôi tớ ta trị vì trên Giê-ru-sa-lem, là thành mà ta đã chọn để thờ lạy ta.
1KI 11:37 Nhưng ta sẽ cho ngươi cai trị trên mọi thứ ngươi muốn. Ngươi sẽ trị vì trên tất cả Ít-ra-en,
1KI 11:38 còn ta sẽ luôn luôn ở với ngươi nếu ngươi làm điều ta cho là phải. Ngươi phải vâng theo mệnh lệnh ta. Nếu ngươi vâng theo luật lệ và mệnh lệnh ta như Đa-vít thì ta sẽ ở cùng ngươi. Ta sẽ khiến cho gia đình ngươi là một gia đình gồm các vua lâu dài, như ta đã làm cho Đa-vít, và ta sẽ ban nước Ít-ra-en cho ngươi.
1KI 11:39 Ta sẽ trừng phạt con cháu của Đa-vít vì điều nầy nhưng ta sẽ không mãi mãi trừng phạt chúng nó.’”
1KI 11:40 Sô-lô-môn tìm cách giết Giê-rô-bô-am nhưng ông chạy trốn sang Ai-cập đến cùng vua Si-sắc và cư ngụ ở đó cho đến khi Sô-lô-môn qua đời.
1KI 11:41 Mọi việc khác Sô-lô-môn làm, những điều khôn ngoan vua làm được ghi chép trong sách sử ký của Sô-lô-môn.
1KI 11:42 Sô-lô-môn trị vì trên Giê-ru-sa-lem bốn mươi năm.
1KI 11:43 Rồi vua qua đời và được chôn ở Giê-ru-sa-lem, trong thành Đa-vít, cha mình. Rô-bô-am, con trai vua lên nối ngôi.
1KI 12:1 Rô-bô-am đi đến Sê-chem để toàn dân Ít-ra-en cử ông lên làm vua.
1KI 12:2 Khi Giê-rô-bô-am nghe tin Rô-bô-am được cử lên làm vua thì ông vẫn còn ở Ai-cập, nơi ông trốn thoát khỏi Sô-lô-môn. Sau khi nghe tin Sô-lô-môn chết thì ông trở về Xê-rê-đa, thành của mình trong vùng đồi núi Ép-ra-im.
1KI 12:3 Toàn dân Ít-ra-en đến nói với Rô-bô-am rằng,
1KI 12:4 “Cha vua bắt chúng tôi làm việc quá cực nhọc. Bây giờ xin hãy dễ dãi với chúng tôi, đừng như cha vua bắt chúng tôi làm cực thì chúng tôi sẽ phục vụ vua.”
1KI 12:5 Rô-bô-am đáp, “Các ngươi hãy về đi, sau ba ngày rồi trở lại gặp ta.” Vậy họ đi về.
1KI 12:6 Vua Rô-bô-am tham khảo ý kiến các bô lão là những người đã cố vấn cho vua Sô-lô-môn trong khi vua còn sống, “Các ông nghĩ tôi nên trả lời những người nầy ra sao?”
1KI 12:7 Họ khuyên, “Nếu vua trở nên như tôi tớ họ hôm nay thì họ sẽ hết lòng phục vụ vua. Nếu vua trả lời ôn hòa với họ thì họ sẽ phục vụ vua mãi mãi.”
1KI 12:8 Nhưng Rô-bô-am gạt bỏ lời khuyên ấy của họ. Vua lại đi hỏi ý kiến của những người trẻ cùng lớn lên với mình và làm cố vấn cho mình.
1KI 12:9 Rô-bô-am hỏi họ, “Mấy anh nghĩ sao? Ta phải trả lời với những người yêu cầu ta, ‘Xin đừng như cha vua bắt chúng tôi làm việc cực nhọc’ như thế nào?”
1KI 12:10 Những người trẻ đã lớn lên với vua khuyên, “Đối với những kẻ nói với bệ hạ, ‘Cha vua bắt chúng tôi làm việc cực nhọc. Xin hãy nới tay cho chúng tôi dễ thở đôi chút’ thì hãy trả lời với họ như sau, ‘Ngón tay út ta còn lớn hơn thắt lưng của cha ta.
1KI 12:11 Cha ta bắt các ngươi làm việc cực nhọc, ta còn bắt các ngươi làm việc cực hơn nữa. Cha ta đánh các ngươi bằng roi thường, nhưng ta sẽ đánh các ngươi bằng roi móc sắt.’”
1KI 12:12 Vì Rô-bô-am bảo họ, “Ba ngày nữa trở lại đây.” Cho nên sau ba ngày Giê-rô-bô-am và toàn dân trở lại gặp Rô-bô-am.
1KI 12:13 Vua Rô-bô-am ăn nói cộc cằn với họ vì vua đã gạt bỏ lời khuyên của các bô lão.
1KI 12:14 Vua nghe theo lời khuyên của bọn trẻ và trả lời với dân chúng, “Cha ta bắt các ngươi làm việc cực nhọc, ta còn bắt các ngươi làm cực hơn nữa. Cha ta quất các ngươi bằng roi thường còn ta sẽ quất các ngươi bằng roi móc sắt.”
1KI 12:15 Vậy vua không thèm nghe lời yêu cầu của dân chúng. CHÚA khiến việc nầy xảy ra để giữ lời hứa Ngài cùng Giê-rô-bô-am, con Nê-bát qua A-hi-gia, tiên tri ở Si-lô.
1KI 12:16 Khi toàn dân Ít-ra-en thấy vua mới lên ngôi không thèm đếm xỉa đến mình liền bảo vua, “Chúng ta không có phần gì với Đa-vít! Chúng ta chẳng có dính dáng gì với con trai Gie-xê cả! Hỡi dân Ít-ra-en, ai về nhà nấy đi! Hãy để cho thân nhân Đa-vít cai trị dân của người!” Thế là dân Ít-ra-en đi về nhà.
1KI 12:17 Nhưng Rô-bô-am vẫn cai trị trên dân Ít-ra-en sống trong các thị trấn xứ Giu-đa.
1KI 12:18 A-đô-ram coi sóc đám lao công cưỡng bách. Khi Rô-bô-am sai ông đến cùng dân Ít-ra-en thì dân chúng ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am liền lên quân xa chạy thoát về Giê-ru-sa-lem.
1KI 12:19 Từ đó trở đi, Ít-ra-en chống nghịch cùng nhà Đa-vít.
1KI 12:20 Khi dân Ít-ra-en nghe tin Giê-rô-bô-am đã trở về thì họ mời ông đến dự một buổi họp và cử ông làm vua trên Ít-ra-en. Chỉ có một mình chi tộc Giu-đa là còn theo nhà Đa-vít mà thôi.
1KI 12:21 Khi Rô-bô-am đến Giê-ru-sa-lem liền tập họp một trăm tám mươi ngàn lính thiện chiến từ các chi tộc Giu-đa và Bên-gia-min. Ông muốn đánh dân Ít-ra-en để lấy nước về lại cho mình.
1KI 12:22 Nhưng Thượng Đế phán cùng Sê-ma-gia, người của Thượng Đế rằng,
1KI 12:23 “Hãy đi bảo Rô-bô-am, con trai Sô-lô-môn, vua Giu-đa, cùng cả dân Giu-đa và Bên-gia-min và toàn dân rằng,
1KI 12:24 ‘CHÚA bảo các ngươi không nên đi đánh người Ít-ra-en là anh em mình. Mỗi người các ngươi hãy đi về nhà vì chuyện nầy do ta mà xảy ra.’” Vậy họ vâng mệnh lệnh CHÚA và đi về nhà theo như CHÚA truyền.
1KI 12:25 Giê-rô-bô-am biến Sê-chem trong vùng núi Ép-ra-im thành một thành kiên cố, và sống ở đó. Ông cũng đi đến tăng cường thành Phê-nu-ên.
1KI 12:26 Giê-rô-bô-am nghĩ thầm, “Nước rất có thể sẽ trở về tay nhà Đa-vít.
1KI 12:27 Nếu dân chúng tiếp tục đi đến Giê-ru-sa-lem để dâng sinh tế thì họ rất có thể muốn Rô-bô-am cai trị mình. Họ sẽ giết ta rồi theo Rô-bô-am, vua Giu-đa.”
1KI 12:28 Vua Giê-rô-bô-am tham khảo ý kiến rồi cho làm hai tượng bò con bằng vàng. Ông bảo dân chúng, “Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem để thờ phụng là quá xa. Hỡi Ít-ra-en, đây là các thần đã mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.”
1KI 12:29 Giê-rô-bô-am đặt một con bò vàng ở thành Bê-tên, và con kia ở thành Đan.
1KI 12:30 Điều nầy trở nên tội lỗi lớn vì dân chúng đi đến Đan và Bê-tên để thờ lạy con bò vàng.
1KI 12:31 Giê-rô-bô-am xây các đền thờ tại những nơi thờ lạy. Ông cũng chọn những thầy tế lễ từ trong dân chúng chớ không phải trong chi tộc Lê-vi mà thôi.
1KI 12:32 Rồi vua đặt ra một lễ mới vào ngày mười lăm tháng tám, giống như lễ của dân Giu-đa. Trong khi đó vua dâng sinh tế trên bàn thờ cùng với sinh tế dâng cho các bò con vàng ở Bê-tên mà vua đã dựng nên. Vua cũng chọn các thầy tế lễ ở Bê-tên để phục vụ các nơi thờ phụng mà vua đã lập.
1KI 12:33 Vậy Giê-rô-bô-am tự chọn thời gian tổ chức lễ cho dân Ít-ra-en ngày mười lăm tháng tám. Trong thời gian đó vua dâng sinh tế trên bàn thờ mình đã xây tại Bê-tên. Vua đặt ra lễ cho dân Ít-ra-en và dâng sinh tế trên bàn thờ.
1KI 13:1 CHÚA bảo một người của Thượng Đế từ Giu-đa đi đến Bê-tên. Khi người đến nơi thì Giê-rô-bô-am đang đứng cạnh bàn thờ dâng sinh tế.
1KI 13:2 CHÚA truyền cho người của Thượng Đế nói nghịch cùng bàn thờ. Người nói, “Hỡi bàn thờ, bàn thờ, CHÚA phán với ngươi như sau: ‘Nhà Đa-vít sẽ có một con trai tên Giô-xia. Các thầy tế lễ của những nơi thờ phụng hiện đang dâng sinh tế trên ngươi nhưng Giô-xia sẽ dâng các thầy tế lễ đó trên ngươi. Xương người sẽ được thiêu trên ngươi.’”
1KI 13:3 Cùng ngày đó người của Thượng Đế cho thấy những điều nầy sẽ xảy ra. Ông bảo, “Đây là dấu hiệu của CHÚA cho thấy việc nầy sẽ xảy ra. Bàn thờ sẽ nứt, tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống đất.”
1KI 13:4 Khi vua Giê-rô-bô-am nghe người của Thượng Đế nói về bàn thờ ở Bê-tên thì vua giơ tay từ bàn thờ chỉ về hướng người đó. Vua bảo, “Hãy bắt hắn!” Nhưng khi vua vừa nói như vậy thì tay vua bị tê liệt, không co lại được.
1KI 13:5 Bàn thờ bể ra từng mảnh, tro trên bàn thờ đổ xuống. Đúng như dấu hiệu mà CHÚA đã bảo người của Thượng Đế báo trước.
1KI 13:6 Vua liền xin người của Thượng Đế, “Xin hãy cầu nguyện CHÚA là Thượng Đế ngươi giùm ta để Ngài chữa lành tay ta.” Vậy người của Thượng Đế cầu nguyện cùng CHÚA, tay vua liền được lành, trở lại như trước.
1KI 13:7 Vua mời người của Thượng Đế, “Xin hãy về nhà dùng bữa với tôi để tôi biếu ông một món quà.”
1KI 13:8 Nhưng người của Thượng Đế đáp, “Dù vua cho tôi nửa nước vua, tôi cũng sẽ không đi với vua. Tôi sẽ không ăn hay uống gì ở nơi nầy cả.
1KI 13:9 CHÚA truyền cho tôi không được ăn uống hay trở về bằng con đường tôi đi đến đây.”
1KI 13:10 Vậy người đi về bằng con đường khác, không về bằng con đường người đã đi đến Bê-tên.
1KI 13:11 Lúc đó có một nhà tiên tri già đang sống ở Bê-tên. Các con trai ông thuật lại cho ông nghe những gì người của Thượng Đế đã làm ngày hôm đó. Chúng cũng thuật lại cho cha mình nghe điều người đó nói với vua Giê-rô-bô-am.
1KI 13:12 Ông cha hỏi, “Người đó đi đường nào trở về?” Các con trai ông chỉ cho ông con đường mà người của Thượng Đế từ Giu-đa đã đi.
1KI 13:13 Nhà tiên tri liền bảo các con thắng yên lừa. Chúng nó thắng yên cương cho lừa rồi ông ra đi.
1KI 13:14 Ông chạy theo người của Thượng Đế và gặp người đó đang ngồi dưới gốc một cây sồi. Nhà tiên tri hỏi, “Anh có phải người của Thượng Đế từ Giu-đa đến không?” Người đáp, “Phải.”
1KI 13:15 Nhà tiên tri bảo, “Xin mời ông về nhà dùng cơm với tôi.”
1KI 13:16 Người của Thượng Đế đáp, “Tôi không thể nào về nhà với ông. Tôi không thể nào ăn hay uống gì ở nơi nầy cả.
1KI 13:17 Vì CHÚA đã dặn tôi, ‘Không được ăn hay uống gì ở nơi đó hoặc trở về bằng con đường ngươi đi đến.’”
1KI 13:18 Vị tiên tri già liền bảo, “Nhưng tôi cũng là nhà tiên tri như anh.” Rồi ông ta bịa đặt. Ông bảo, “Một thiên sứ từ CHÚA hiện đến cùng tôi bảo tôi mời anh về nhà. Người bảo anh nên ăn và uống với tôi.”
1KI 13:19 Vậy người của Thượng Đế liền về nhà của vị tiên tri già rồi ăn uống ở đó.
1KI 13:20 Trong khi họ đang ngồi bàn ăn thì CHÚA phán với nhà tiên tri già.
1KI 13:21 Vị tiên tri già kêu lên cùng người của Thượng Đế từ Giu-đa đến, “CHÚA nói rằng anh không vâng lời Ngài! Ngài bảo anh không làm theo điều CHÚA là Thượng Đế truyền dặn.
1KI 13:22 CHÚA dặn anh không được ăn hay uống gì nơi nầy nhưng anh đã trở lại ăn và uống. Cho nên thây anh sẽ không được chôn trong mồ mả của gia đình mình.”
1KI 13:23 Sau khi người của Thượng Đế ăn uống xong thì vị tiên tri thắng yên cương của lừa mình cho ông rồi ông lên đường.
1KI 13:24 Đang khi đi về nhà thì có một con sư tử nhào tới cắn xé ông ta. Thây ông nằm trên đường, có con lừa và con sư tử đứng kế bên.
1KI 13:25 Có người đi qua đường ấy thấy xác ông và con sư tử đứng kế bên. Họ vào thành nơi vị nhà tiên tri già ở và thuật lại điều họ thấy.
1KI 13:26 Vị tiên tri già đã mang người của Thượng Đế về nghe đầu đuôi câu chuyện. Ông bảo, “Đó là người của Thượng Đế không vâng mệnh lệnh của CHÚA. Cho nên Ngài sai một con sư tử giết người đi theo lời Ngài phán.”
1KI 13:27 Rồi vị tiên tri bảo các con trai, “Hãy thắng yên cương lừa cho ta.” Chúng nó liền thắng yên cương.
1KI 13:28 Vị tiên tri già đi ra và thấy thây nằm trên đường, có con lừa và con sư tử vẫn còn đứng kế bên. Con sư tử không ăn xác ấy cũng không cắn xé con lừa.
1KI 13:29 Vị tiên tri đặt xác lên lừa và chở về thành mình để than khóc và mai táng ông.
1KI 13:30 Vị tiên tri chôn xác ông trong mộ gia đình mình và than khóc cho người của Thượng Đế rằng, “Ôi, anh ôi.”
1KI 13:31 Sau khi nhà tiên tri chôn xác xong thì dặn các con, “Khi cha chết hãy chôn ta cùng trong mộ nầy. Hãy đặt xương cốt ta kế bên xương cốt người,
1KI 13:32 vì qua lời người, CHÚA đã phán nghịch cùng bàn thờ ở Bê-tên và các nơi thờ phụng trong các thị trấn Xa-ma-ri. Điều CHÚA nói qua người sẽ thành sự thực.”
1KI 13:33 Sau chuyện đó vua Giê-rô-bô-am cũng vẫn tiếp tục làm ác. Vua vẫn tiếp tục chọn các thầy tế lễ cho các nơi thờ phụng từ trong dân chúng. Ai muốn làm thầy tế lễ cho các nơi thờ phụng cũng được.
1KI 13:34 Gia đình Giê-rô-bô-am phạm tội như thế, và tội đó mang đến sự sụp đổ và tiêu diệt gia đình họ khỏi mặt đất.
1KI 14:1 Lúc đó A-bi-gia, con trai Giê-rô-bô-am đau nặng.
1KI 14:2 Giê-rô-bô-am liền bảo vợ, “Em hãy đi đến Si-lô gặp nhà tiên tri A-hi-gia. Ông ta là người nói anh sẽ làm vua Ít-ra-en. Nhưng hãy ăn mặc giả dạng để người ta không biết em là vợ anh.
1KI 14:3 Hãy mang theo mười ổ bánh, vài cái bánh ngọt và một hũ mật ong biếu nhà tiên tri. Rồi hỏi ông xem con chúng ta sẽ ra sao, ông sẽ nói cho em biết.”
1KI 14:4 Vậy vợ vua làm theo như vua bảo và đi đến nhà của A-hi-gia ở Si-lô. Lúc đó A-hi-gia đã già và mù mắt.
1KI 14:5 CHÚA bảo ông, “Con trai Giê-rô-bô-am đang đau, và vợ của người đang đến để hỏi thăm ngươi về đứa nhỏ. Khi đến nàng sẽ giả dạng làm một người khác.” Rồi CHÚA bảo A-hi-gia phải nói những gì.
1KI 14:6 Khi A-hi-gia nghe nàng bước đến cửa liền bảo, “Vợ của Giê-rô-bô-am, mời chị vào đây. Sao chị giả dạng làm người khác? Tôi báo cho chị tin buồn.
1KI 14:7 Hãy đi về bảo Giê-rô-bô-am rằng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Hỡi Giê-rô-bô-am, ta đã chọn ngươi từ trong dân chúng và đặt ngươi làm lãnh tụ trên dân Ít-ra-en ta.
1KI 14:8 Ta đã đoạt nước từ nhà Đa-vít để ban cho ngươi. Nhưng ngươi không giống như Đa-vít kẻ tôi tớ ta là người luôn luôn vâng mệnh lệnh ta và hết lòng theo ta. Người chỉ làm điều ta cho là phải.
1KI 14:9 Nhưng ngươi làm điều ác hơn những người cai trị trước ngươi. Ngươi không theo ta và còn làm những thần khác và các tượng bằng sắt. Ta rất bất bình về điều ngươi làm,
1KI 14:10 cho nên ta sẽ mang thảm họa cho nhà ngươi. Ta sẽ giết những trai tráng trong gia đình ngươi, từ nô lệ cho đến tự do. Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt gia đình ngươi như lửa đốt phân.
1KI 14:11 Ai trong gia đình ngươi chết trong thành sẽ bị chó ăn, còn ai chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa thịt. CHÚA phán vậy.’”
1KI 14:12 Rồi A-hi-gia bảo vợ của Giê-rô-bô-am rằng, “Chị hãy về đi. Vừa khi chị bước vào thành thì con trai chị sẽ chết,
1KI 14:13 rồi cả Ít-ra-en sẽ than khóc và chôn nó. Nó là người duy nhất trong gia đình Giê-rô-bô-am được chôn cất hẳn hoi vì nó là người duy nhất trong gia đình nhà vua làm vừa lòng CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en.
1KI 14:14 CHÚA sẽ đặt một vua mới trên Ít-ra-en, người sẽ tiêu diệt nhà Giê-rô-bô-am, và chuyện nầy sắp xảy ra nay mai.
1KI 14:15 Rồi CHÚA sẽ trừng phạt Ít-ra-en. Họ sẽ run sợ như cỏ cao mọc trong nước. CHÚA sẽ nhổ Ít-ra-en ra khỏi xứ tốt tươi nầy là xứ mà Ngài ban cho tổ tiên họ. Ngài sẽ phân tán họ ra quá bên kia sông Ơ-phơ-rát, vì CHÚA nổi giận cùng dân Ngài. Họ chọc giận CHÚA khi họ dựng các cây sào thánh để thờ lạy Át-sê-ra.
1KI 14:16 Giê-rô-bô-am đã phạm tội và gây cho Ít-ra-en cùng phạm tội. Cho nên CHÚA sẽ để cho dân Ít-ra-en bị đánh bại.”
1KI 14:17 Vợ Giê-rô-bô-am ra về đến Thiệt-sa. Vừa khi bước vào nhà thì đứa nhỏ chết.
1KI 14:18 Sau khi mai táng nó thì dân Ít-ra-en than khóc nó như CHÚA đã phán qua tôi tớ Ngài, nhà tiên tri A-hi-gia.
1KI 14:19 Mọi việc khác Giê-rô-bô-am làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en. Ông đánh giặc và tiếp tục cai trị dân chúng,
1KI 14:20 và làm vua được hai mươi hai năm. Rồi ông qua đời. Na-đáp, con trai ông lên nối ngôi.
1KI 14:21 Rô-bô-am, con trai Sô-lô-môn được bốn mươi mốt tuổi khi lên làm vua Giu-đa. Mẹ ông là Na-a-ma người Am-môn. Rô-bô-am cai trị ở Giê-ru-sa-lem mười bảy năm. CHÚA đã chọn thành đó từ cả xứ Ít-ra-en để làm nơi thờ phụng Ngài.
1KI 14:22 Dân Giu-đa làm điều ác trước mặt CHÚA. Tội lỗi họ khiến CHÚA nổi giận. Ngài tức giận còn hơn giận các tổ tiên họ nữa.
1KI 14:23 Dân chúng xây các trụ bằng đá, những nơi thờ phụng các thần, những cây sào thánh và hình tượng A-sê-ra trên mỗi đồi cao và dưới các cây xanh.
1KI 14:24 Ngoài ra trong xứ cũng có các đàn ông làm điếm. Chúng làm giống như những dân tộc đã sống trong xứ trước dân Ít-ra-en mà Thượng Đế đã đuổi đi.
1KI 14:25 Trong năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ai-cập kéo quân lên đánh Giê-ru-sa-lem.
1KI 14:26 Người cướp những của báu từ đền thờ CHÚA và trong cung vua. Người mang đi mọi thứ, luôn cả các khiên vàng mà Sô-lô-môn đã làm.
1KI 14:27 Nên vua Rô-bô-am làm các khiên bằng đồng thế vào và giao cho các viên chỉ huy của toán phòng vệ cửa cung vua.
1KI 14:28 Hễ khi vua đi vào đền thờ CHÚA thì các lính phòng vệ mang khiên ra. Xong thì cất vào trong phòng của toán phòng vệ.
1KI 14:29 Mọi việc khác vua Rô-bô-am làm đều được ghi vào sách sử ký các vua Giu-đa.
1KI 14:30 Suốt thời gian đó lúc nào cũng có giao tranh giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am.
1KI 14:31 Rô-bô-am, con trai của bà Na-a-ma, người Am-môn, qua đời và được chôn với tổ tiên mình trong Giê-ru-sa-lem. A-bi-gia, con trai ông lên nối ngôi.
1KI 15:1 Trong năm thứ mười tám đời Giê-rô-bô-am con trai Nê-bát vua Ít-ra-en thì A-bi-gia lên ngôi vua Giu-đa.
1KI 15:2 A-bi-gia cai trị Giê-ru-sa-lem ba năm. Mẹ ông là Ma-a-ca, con gái A-bi-sa-lôm.
1KI 15:3 Ông phạm tội giống như cha mình đã làm. A-bi-gia không trung kiên với CHÚA là Thượng Đế mình như Đa-vít, ông nội mình.
1KI 15:4 Vì CHÚA yêu Đa-vít nên Ngài chừa cho ông một con trai nối ngôi ở Giê-ru-sa-lem. CHÚA cũng bảo vệ Giê-ru-sa-lem an toàn.
1KI 15:5 Đa-vít luôn luôn làm đẹp lòng CHÚA, vâng theo mệnh lệnh Ngài suốt đời mình, ngoại trừ một lần khi Đa-vít phạm tội cùng U-ri người Hê-tít.
1KI 15:6 Suốt đời A-bi-gia lúc nào cũng có chiến tranh giữa ông và Giê-rô-bô-am.
1KI 15:7 Mọi việc khác của A-bi-gia làm đều được ghi trong sử ký của các vua Giu-đa. Trong thời A-bi-gia trị vì có chiến tranh giữa vua và Giê-rô-bô-am.
1KI 15:8 A-bi-gia qua đời và được chôn ở Giê-ru-sa-lem. A-sa, con trai người, lên nối ngôi.
1KI 15:9 Trong năm thứ hai mươi đời Giê-rô-bô-am, vua Ít-ra-en, thì A-sa lên ngôi vua cai trị Giu-đa.
1KI 15:10 Bà nội người là Ma-a-ca, con cái A-bi-sa-lôm. A-sa trị vì trên Giê-ru-sa-lem bốn mươi mốt năm.
1KI 15:11 A-sa làm điều thiện trước mặt CHÚA như tổ tiên mình là Đa-vít.
1KI 15:12 Vua trục xuất các nam điếm ở các nơi thờ phụng ra khỏi xứ. Vua cũng dẹp các hình tượng mà tổ tiên mình đã dựng.
1KI 15:13 Ma-a-ca, bà nội vua làm một tượng A-sê-ra đáng gớm ghiếc, A-sa liền bãi chức thái hậu của bà. Vua chặt tượng đó ra rồi đốt trong thung lũng Kít-rôn.
1KI 15:14 Vua không dẹp những nơi thờ phụng các thần khác. Nhưng nói chung, vua A-sa trung kiên với CHÚA trọn đời mình.
1KI 15:15 A-sa mang vào đền thờ CHÚA các vật mà vua và cha mình đã dâng: các dụng cụ bằng vàng và bạc.
1KI 15:16 Trong thời kỳ hai người làm vua, A-sa và Ba-a-sa vua Ít-ra-en luôn tranh chiến nhau.
1KI 15:17 Ba-a-sa tấn công Giu-đa. Vua tăng cường thị trấn Ra-ma đến nỗi có thể ngăn không cho dân chúng ra vào xứ Giu-đa, tức lãnh thổ của A-sa.
1KI 15:18 Vua A-sa lấy tất cả những bạc và vàng từ ngân khố của đền thờ CHÚA và của cung vua rồi giao cho các sĩ quan mình. Sau đó vua gởi tất cả đến Bên-Ha-đát, con trai Ta-rim-môn, cháu Hê-xi-ôn. Bên-Ha-đát là vua của A-ram, cai trị ở thành Đa-mách. A-sa đề nghị,
1KI 15:19 “Chúng ta hãy lập hòa ước với nhau như hoà ước giữa cha tôi và cha vua. Tôi gởi biếu vua một món quà bằng bạc và vàng. Xin hãy hủy bỏ hiệp ước giữa vua với Ba-a-sa vua Ít-ra-en để người rời xứ tôi.”
1KI 15:20 Bên-Ha-đát đồng ý với vua A-sa nên sai các sĩ quan chỉ huy quân đội mình tấn công các thị trấn của Ít-ra-en. Họ đánh bại các thị trấn Y-giông, Đan, và A-bên Bết-Ma-a-ca, cùng toàn vùng Ga-li-lê và Nép-ta-li.
1KI 15:21 Khi Ba-a-sa nghe được những cuộc tấn công đó thì ngưng việc xây đắp thành Ra-ma mà trở về Thiệt-sa.
1KI 15:22 Rồi vua A-sa ra lệnh cho toàn dân Giu-đa ai cũng phải phụ một tay. Họ mang tất cả đá và gỗ mà Ba-a-sa đã dùng ở Ra-ma về xây thành Ghê-ba và Mích-ba trong xứ Bên-gia-min.
1KI 15:23 Mọi việc khác A-sa làm, những chiến công và các thành vua đã xây đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa. Khi về già thì vua bị đau chân.
1KI 15:24 Sau khi A-sa qua đời thì ông được chôn với tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem, thành của Đa-vít, tổ tiên mình. Rồi Giô-sa-phát, con A-sa lên nối ngôi.
1KI 15:25 Trong năm thứ hai đời vua A-sa, vua Giu-đa, thì Na-đáp, con trai Giê-rô-bô-am lên ngôi vua Ít-ra-en. Na-đáp làm vua Ít-ra-en trong hai năm.
1KI 15:26 Người làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội, Na-đáp cũng phạm tội giống như Giê-rô-bô-am, cha mình.
1KI 15:27 Ba-a-sa, con trai A-hi-gia thuộc chi tộc Y-xa-ca, lập mưu giết Na-đáp. Na-đáp và toàn dân Ít-ra-en đang vây đánh thành Ghi-bê-thôn của Phi-li-tin, nên Ba-a-sa giết Na-đáp tại đó.
1KI 15:28 Việc xảy ra trong năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa rồi Ba-a-sa lên ngôi vua Ít-ra-en.
1KI 15:29 Vừa khi lên ngôi vua, Ba-a-sa liền giết sạch gia đình Giê-rô-bô-am, không chừa một ai. Ông giết hết tất cả theo như lời A-hi-gia, tôi tớ Chúa từ Si-lô đã nói.
1KI 15:30 Vua Giê-rô-bô-am phạm tội rất nhiều mà còn dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội cho nên vua chọc giận CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en.
1KI 15:31 Mọi việc khác Na-đáp làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
1KI 15:32 Suốt triều đại của A-sa, vua Giu-đa, và Ba-a-sa, vua Ít-ra-en, luôn tranh chiến nhau.
1KI 15:33 Ba-a-sa, con A-hi-gia lên ngôi vua Ít-ra-en trong năm thứ ba đời vua A-sa, vua Giu-đa. Ba-a-sa cai trị Thiệt-sa trong hai mươi bốn năm.
1KI 15:34 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am quyến dụ dân Ít-ra-en phạm tội, còn Ba-a-sa cũng phạm tội giống như Giê-rô-bô-am.
1KI 16:1 Giê-hu, con trai Ha-na-ni tuyên bố lời của CHÚA nghịch cùng vua Ba-a-sa.
1KI 16:2 CHÚA phán, “Ngươi vốn là người vô danh thấp kém nhưng ta đã chọn và lập ngươi làm lãnh tụ trên dân Ít-ra-en ta. Nhưng ngươi lại đi theo con đường Giê-rô-bô-am, quyến dụ dân Ít-ra-en ta phạm tội. Tội lỗi họ khiến ta nổi giận.
1KI 16:3 Cho nên hỡi Ba-a-sa, ta sẽ tiêu diệt ngươi và gia đình ngươi trong nay mai. Ta sẽ làm cho ngươi như ta đã làm cho gia đình Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát.
1KI 16:4 Ai trong nhà ngươi chết trong thành phố sẽ bị chó xé ăn, còn ai trong nhà ngươi chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.”
1KI 16:5 Mọi điều khác Ba-a-sa làm cùng các chiến công của ông đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
1KI 16:6 Ba-a-sa qua đời và được chôn ở Thiệt-sa. Con trai vua là Ê-la lên nối ngôi.
1KI 16:7 CHÚA dùng tiên tri Giê-hu, con trai Ha-na-ni, tuyên bố nghịch cùng Ba-a-sa và gia đình vua. Ba-a-sa làm nhiều điều ác, chọc giận CHÚA. Vua làm giống y những điều gian ác mà gia đình Giê-rô-bô-am đã làm trước mình. CHÚA cũng nghịch lại Ba-a-sa vì vua giết sạch gia đình Giê-rô-bô-am.
1KI 16:8 Ê-la, con Ba-a-sa lên ngôi vua trong năm thứ hai mươi sáu đời A-sa, vua Giu-đa. Ê-la cai trị ở Thiệt-sa hai năm.
1KI 16:9 Xim-ri, một trong những sĩ quan của Ê-la, chỉ huy phân nửa đoàn quân xa của Ê-la. Xim-ri âm mưu phản nghịch Ê-la trong khi vua đang ở Thiệt-sa và say sưa trong nhà của Ạc-xa. Ạc-xa làm quản lý cung vua ở Thiệt-sa.
1KI 16:10 Xim-ri đi vào nhà Ạc-xa và giết Ê-la vào năm thứ hai mươi bảy đời A-sa, vua Giu-đa. Rồi Xim-ri lên ngôi vua Ít-ra-en thế cho Ê-la.
1KI 16:11 Vừa khi lên ngôi vua, Xim-ri liền giết sạch gia đình Ba-a-sa, không chừa một người trong gia đình hay thân hữu nào của Ba-a-sa sống sót.
1KI 16:12 Xim-ri giết tất cả gia đình Ba-a-sa theo như CHÚA đã phán qua nhà tiên tri Giê-hu.
1KI 16:13 Ba-a-sa và Ê-la, con trai mình phạm tội và quyến dụ dân Ít-ra-en phạm tội, chọc giận CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en vì họ thờ các thần vô ích.
1KI 16:14 Mọi việc khác Ê-la làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
1KI 16:15 Vậy trong năm thứ hai mươi bảy đời A-sa, vua Giu-đa, Xim-ri lên ngôi vua Ít-ra-en và cai trị ở Thiệt-sa chỉ được bảy ngày. Đạo quân của Ít-ra-en đóng gần Ghi-bê-thôn, một thị trấn thuộc xứ Phi-li-tin.
1KI 16:16 Nghe tin Xim-ri mưu phản Ê-la và đã giết vua, ngay trong ngày đó, nơi doanh trại, các binh sĩ lập Ôm-ri, tư lệnh quân đội, lên làm vua Ít-ra-en.
1KI 16:17 Ôm-ri cùng toàn lực lượng Ít-ra-en rời Ghi-bê-thôn kéo đến tấn công Thiệt-sa.
1KI 16:18 Khi Xim-ri thấy thành đã bị chiếm thì đi vào cung vua phóng hỏa đốt cung và chết cháy luôn.
1KI 16:19 Xim-ri chết vì ông đã phạm tội và làm điều ác. Giê-rô-bô-am đã khuyến dụ dân Ít-ra-en phạm tội, còn Xim-ri cũng phạm tội giống y như Giê-rô-bô-am.
1KI 16:20 Mọi việc khác Xim-ri làm và chuyện người phản nghịch vua Ê-la ra sao đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
1KI 16:21 Dân Ít-ra-en chia làm hai nhóm. Phân nửa muốn Típ-ni, con Ghi-nát, làm vua, còn phân nửa kia muốn Ôm-ri làm vua.
1KI 16:22 Nhóm ủng hộ Ôm-ri mạnh hơn nhóm người theo Típ-ni, con Ghi-nát, cho nên khi Típ-ni chết, Ôm-ri lên làm vua.
1KI 16:23 Ôm-ri lên ngôi vua vào năm thứ ba mươi mốt đời A-sa, vua Giu-đa. Ôm-ri cai trị Ít-ra-en mười hai năm, trong đó sáu năm cai trị ở thành Thiệt-sa.
1KI 16:24 Vua mua ngọn đồi Xa-ma-ri từ Sê-me với giá khoảng một trăm năm mươi cân bạc. Ôm-ri xây một thành trên đồi đó và gọi là thành Xa-ma-ri theo tên Sê-me, chủ nhân cũ của ngọn đồi.
1KI 16:25 Tuy nhiên Ôm-ri làm điều ác trước mặt CHÚA. Ông làm ác hơn tất cả các vua trước mình.
1KI 16:26 Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát đã quyến dụ dân Ít-ra-en phạm tội, còn Ôm-ri cũng phạm tội như Giê-rô-bô-am. Dân Ít-ra-en chọc giận CHÚA là Thượng Đế của họ vì họ thờ lạy các thần vô dụng.
1KI 16:27 Mọi việc khác Ôm-ri làm và những thành công của ông đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
1KI 16:28 Ôm-ri qua đời và được chôn ở Xa-ma-ri. A-háp, con trai ông lên kế vị.
1KI 16:29 A-háp, con trai Ôm-ri lên ngôi vua Ít-ra-en vào năm thứ ba mươi tám triều đại A-sa, vua Giu-đa. A-háp cai trị Ít-ra-en từ thành Xa-ma-ri hai mươi hai năm.
1KI 16:30 A-háp, con trai Ôm-ri còn làm ác hơn cả hơn các vua trước mình.
1KI 16:31 Ông phạm tội giống như Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát nhưng còn làm nhiều điều độc ác hơn nữa. Ông cưới Giê-xa-bên, con gái Ết-banh, vua Xi-đôn. Rồi A-háp bắt đầu phục vụ và thờ lạy thần Ba-anh.
1KI 16:32 Ông xây một đền thờ và lập một bàn thờ ở Xa-ma-ri để cúng thờ Ba-anh.
1KI 16:33 A-háp cũng làm một cây sào thánh để thờ A-sê-ra. Ông làm nhiều điều nữa để chọc giận CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, hơn tất cả các vua khác trước mình.
1KI 16:34 Trong thời A-háp, Hi-ên từ Bê-tên xây lại thành Giê-ri-cô. Khi bắt đầu xây thành thì mất A-bi-ram, con trưởng nam, và khi dựng cổng thành thì mất Sê-gúp, con út mình. Việc đó xảy ra đúng như CHÚA dùng Giô-suê, con của Nun, báo trước.
1KI 17:1 Ê-li người Ti-sê-be là một nhà tiên tri trong số những dân định cư tại Ghi-lê-át. Ê-li bảo với A-háp, “Tôi phục vụ CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Tôi nhân danh CHÚA hằng sống mà nói rằng nếu tôi không ra lệnh thì sẽ không có mưa hay sương xuống trong mấy năm sắp đến.”
1KI 17:2 Rồi CHÚA phán cùng Ê-li,
1KI 17:3 “Hãy bỏ chỗ nầy và đi về phía đông ẩn mình gần hố Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh.
1KI 17:4 Ngươi sẽ uống nước nơi suối. Ta đã truyền cho các con quạ mang thức ăn đến cho ngươi.”
1KI 17:5 Vậy Ê-li làm theo lời CHÚA bảo. Ông đi đến hố Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh và ở đó.
1KI 17:6 Các con quạ mang bánh và thịt cho Ê-li mỗi sáng và chiều, còn ông thì uống nước từ suối ấy.
1KI 17:7 Sau một thời gian thì suối khô cạn vì không có mưa.
1KI 17:8 Rồi CHÚA bảo Ê-li,
1KI 17:9 “Hãy đi đến cư ngụ tại Xa-rê-phát thuộc Xi-đôn. Ta đã truyền cho một góa phụ ở đó lo cho ngươi.”
1KI 17:10 Vậy Ê-li đi đến Xa-rê-phát. Khi đến cổng thành thì ông gặp một người đàn bà góa đang lượm củi. Ê-li xin bà, “Chị làm ơn mang cho tôi một ly nước.”
1KI 17:11 Trong khi bà đi lấy nước thì Ê-li dặn thêm, “Chị làm ơn cho tôi xin một miếng bánh nữa.”
1KI 17:12 Người đàn bà đáp, “Tôi thề trong danh CHÚA là Thượng Đế hằng sống của ông rằng tôi không có bánh. Tôi chỉ có một nhúm bột trong bình và một ít dầu ô liu trong vò. Tôi đến đây lượm củi để về nhà nấu bữa ăn chót. Con trai tôi và tôi ăn rồi sẽ cùng nhau chết đói.”
1KI 17:13 Ê-li bảo bà, “Chị đừng lo. Hãy về nhà nấu thức ăn theo như chị nói. Nhưng trước hết làm một ổ bánh nhỏ bằng bột mà chị có rồi mang đến đây cho tôi. Sau đó chị sẽ nấu cho chị và con chị.
1KI 17:14 Vì CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en bảo, ‘Hũ bột sẽ không cạn, và bình dầu sẽ chẳng vơi cho đến ngày CHÚA sai mưa xuống đất.’”
1KI 17:15 Vậy người đàn bà đi về nhà làm theo điều Ê-li dặn. Người đàn bà và đứa con trai cùng Ê-li đủ thức ăn mỗi ngày.
1KI 17:16 Hũ đựng bột và bình dầu không bao giờ cạn y như CHÚA đã hứa qua Ê-li.
1KI 17:17 Ít lâu sau con trai của người đàn bà nhà bị đau. Bệnh nó càng ngày càng nặng, cuối cùng nó qua đời.
1KI 17:18 Người đàn bà hỏi Ê-li, “Thưa người của Thượng Đế, sao ông đối với tôi như thế nầy? Có phải ông đến để nhắc lại tội lỗi của tôi và để giết con tôi không?”
1KI 17:19 Ê-li bảo bà, “Đưa con của chị cho tôi.” Ê-li đỡ đứa bé từ tay bà, mang lên gác và đặt nó nằm trên giường trong phòng mình.
1KI 17:20 Rồi ông cầu nguyện cùng CHÚA: “Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, góa phụ nầy đã cho tôi ngụ trong nhà. Tại sao Ngài làm điều tệ hại nầy cho chị khiến con chị chết?”
1KI 17:21 Rồi Ê-li nằm ấp trên người đứa bé ba lần. Ông cầu nguyện cùng CHÚA, “Lạy Chúa là Thượng Đế, xin khiến đứa bé nầy sống lại!”
1KI 17:22 CHÚA đáp lời cầu nguyện của Ê-li; đứa bé bắt đầu thở trở lại và sống.
1KI 17:23 Ê-li mang đứa bé xuống gác giao cho mẹ nó và bảo, “Nầy! Con của chị sống rồi!”
1KI 17:24 Người đàn bà bảo Ê-li, “Bây giờ tôi biết ông đúng là người của Thượng Đế. Tôi biết rằng CHÚA thật có đã phán qua ông!”
1KI 18:1 Trong năm thứ ba của nạn hạn hán, CHÚA phán cùng Ê-li rằng: “Hãy đi gặp vua A-háp vì ta sắp cho mưa xuống.”
1KI 18:2 Vậy Ê-li đi gặp A-háp. Đến lúc đó không có thực phẩm trong Xa-ma-ri.
1KI 18:3 Vua A-háp sai gọi Áp-đia, quản lý cung vua. Áp-đia là người theo CHÚA thật lòng.
1KI 18:4 Khi Giê-xa-bên giết các nhà tiên tri của CHÚA thì Áp-đia giấu một trăm tiên tri trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người. Ông mang thức ăn và nước uống cho họ.
1KI 18:5 A-háp bảo Áp-đia, “Hãy đi xem xét mọi suối và thung lũng trong xứ. Biết đâu chúng ta tìm được cỏ để nuôi sống ngựa và la để chúng ta khỏi phải giết chúng nó.”
1KI 18:6 Cho nên mỗi người chọn một vùng trong xứ để đi lùng; A-háp đi một phía, còn Áp-đia đi phía khác.
1KI 18:7 Trong khi Áp-đia đang đi đường thì Ê-li gặp ông. Áp-đia nhận ra Ê-li nên cúi rạp xuống đất và thưa, “Thầy có phải là Ê-li không?”
1KI 18:8 Ê-li trả lời, “Phải. Hãy đi bảo chủ ngươi rằng ta đang ở đây.”
1KI 18:9 Áp-đia thưa, “Tôi có làm gì quấy mà ông trao mạng tôi cho vua A-háp? Vua sẽ giết tôi.
1KI 18:10 Tôi thề trong danh CHÚA là Thượng Đế hằng sống của ông rằng vua đã sai người đi lùng kiếm ông khắp mọi dân, mọi nước. Nếu quan cai trị vùng nào nói ông không có ở đó thì A-háp buộc quan ấy phải thề rằng đúng ông không có trong xứ ấy.
1KI 18:11 Bây giờ ông muốn tôi đi nói với chủ tôi rằng, ‘Ê-li đang ở đây.’
1KI 18:12 Rồi lỡ Thần Linh của CHÚA mang ông đi nơi khác sau khi tôi rời ông thì sao? Nếu tôi đi bảo A-háp rằng ông ở đây mà vua đến không gặp ông thì mạng tôi sẽ không còn! Tôi đã theo CHÚA từ khi còn nhỏ.
1KI 18:13 Không có ai thuật cho ông nghe điều tôi đã làm sao? Khi Giê-xa-bên giết các tiên tri của CHÚA thì tôi mang họ đi giấu trong hai cái hang, mỗi hang năm mươi người. Tôi mang thức ăn và nước nuôi họ.
1KI 18:14 Bây giờ ông muốn tôi đi bảo chủ tôi rằng ông ở đây. Chắc chắn vua sẽ giết tôi!”
1KI 18:15 Ê-li đáp, “Ta chỉ CHÚA vạn quân, Đấng ta phục vụ rằng hôm nay ta sẽ ra mắt A-háp.”
1KI 18:16 Vậy Áp-đia đi gặp A-háp và cho biết chỗ Ê-li đang ở. A-háp liền đi gặp Ê-li.
1KI 18:17 Khi vua thấy Ê-li liền hỏi, “Có phải anh là tay quấy rối trong Ít-ra-en không?”
1KI 18:18 Ê-li đáp, “Tôi không gây rối trong Ít-ra-en. Chính bệ hạ và nhà cha bệ hạ mới gây rối vì không vâng theo mệnh lệnh CHÚA. Vua đã đi theo Ba-anh.
1KI 18:19 Bây giờ xin bảo tất cả dân Ít-ra-en gặp tôi trên núi Cạt-mên. Bệ hạ cũng hãy mang đến bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh và bốn trăm tiên tri của A-sê-ra là những người ăn chung bàn với Giê-xa-bên.”
1KI 18:20 Vậy A-háp triệu tập tất cả dân Ít-ra-en và các tiên tri đó đến núi Cạt-mên.
1KI 18:21 Ê-li đến gần dân chúng và bảo, “Các ngươi đi hàng hai cho đến bao giờ? Nếu CHÚA là Thượng Đế thật, hãy theo Ngài. Nhưng nếu Ba-anh là Thượng Đế thật thì hãy theo hắn đi!” Nhưng dân chúng làm thinh.
1KI 18:22 Ê-li nói, “Ta là nhà tiên tri duy nhất của CHÚA ở đây, còn số tiên tri của Ba-anh là bốn trăm năm mươi người.
1KI 18:23 Hãy mang hai con bò đực. Các tiên tri Ba-anh hãy chọn một con, giết nó và sả thịt ra. Họ phải chất thịt lên củi nhưng không được châm lửa. Ta sẽ làm con bò kia, chất thịt trên củi và cũng không châm lửa.
1KI 18:24 Tiên tri Ba-anh của các ngươi sẽ khẩn cầu cùng thần mình, còn ta sẽ khẩn cầu cùng CHÚA. Thần nào trả lời bằng cách làm cho củi cháy lên là Thượng Đế thật.” Tất cả dân chúng đồng ý.
1KI 18:25 Ê-li liền bảo các nhà tiên tri Ba-anh, “Mấy anh đông cho nên làm trước đi. Hãy chọn một con bò rồi làm thịt. Hãy cầu nguyện thần của mấy anh, nhưng không được châm lửa.”
1KI 18:26 Vậy chúng bắt con bò và làm thịt. Chúng cầu nguyện với Ba-anh từ sáng đến trưa, kêu la lên, “Ba-anh ơi, xin đáp lời chúng tôi!” Nhưng chẳng thấy động tĩnh gì cũng không thấy ai trả lời. Chúng nhảy múa quanh bàn thờ chúng đã dựng lên.
1KI 18:27 Đến trưa Ê-li chế giễu chúng rằng, “Hãy cầu nguyện lớn lên nữa đi. Nếu Ba-anh là thần chắc ông ta đang suy nghĩ, bận việc, hay đang đi ngao du! Có thể ông ta đang ngủ cũng chưa biết chừng cho nên mấy anh phải đánh thức ông ta dậy mới được!”
1KI 18:28 Các nhà tiên tri cầu nguyện lớn tiếng hơn nữa, chúng lấy gươm và giáo cắt thịt mình đến nỗi máu chảy ra, vì đó là lối chúng thờ phụng.
1KI 18:29 Đến quá xế trưa mà chúng vẫn làm như thế cho tới giờ dâng của lễ buổi chiều. Nhưng không nghe động tĩnh gì. Ba-anh không trả lời, chẳng ai ngó ngàng tới.
1KI 18:30 Sau đó Ê-li gọi toàn dân, “Bây giờ các ngươi hãy lại đây.” Vậy họ tụ tập quanh ông rồi Ê-li xây sửa lại bàn thờ của CHÚA đã bị phá sập.
1KI 18:31 Ông lấy mười hai tảng đá đại diện cho mười hai chi tộc, tức số con trai Gia-cốp. (CHÚA đã đổi tên Gia-cốp ra Ít-ra-en.)
1KI 18:32 Ê-li dùng các tảng đá đó xây lại bàn thờ để tôn kính CHÚA. Rồi ông đào một cái rãnh xung quanh bàn thờ lớn đủ chứa được khoảng mười bốn lít hột giống.
1KI 18:33 Ê-li chất củi lên bàn thờ, sả con bò ra từng miếng rồi đặt các miếng đó lên củi.
1KI 18:34 Rồi ông bảo, “Lấy bốn vò đựng đầy nước đổ lên thịt và củi.” Ông bảo tiếp, “Làm một lần nữa,” thì họ làm lần nữa. Ông bảo, “Làm lần thứ ba,” thì họ làm lần thứ ba.
1KI 18:35 Nước tràn xuống từ bàn thờ và chảy đầy rãnh.
1KI 18:36 Đến giờ dâng của lễ buổi chiều, tiên tri Ê-li đến gần bàn thờ. Ông cầu nguyện, “Lạy Chúa, Ngài là Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác, và Ít-ra-en. Xin chứng tỏ cho mọi người thấy Ngài là Thượng Đế của Ít-ra-en và tôi là tôi tớ Ngài. Xin hãy cho dân nầy thấy rằng chính Ngài đã truyền lệnh cho tôi làm những điều nầy.
1KI 18:37 Lạy CHÚA, xin đáp lời cầu nguyện của tôi để dân nầy biết rằng Ngài là CHÚA và là Thượng Đế để khiến họ đổi lòng.”
1KI 18:38 Lửa từ CHÚA loè xuống thiêu đốt sinh tế, củi, đá, và đất xung quanh bàn thờ đồng thời làm cạn khô hết nước trong rãnh.
1KI 18:39 Khi toàn thể dân chúng thấy vậy, họ đều sấp mặt xuống đất kêu lên, “CHÚA là Thượng Đế! CHÚA là Thượng Đế!”
1KI 18:40 Ê-li liền ra lệnh, “Hãy bắt hết các nhà tiên tri của Ba-anh! Đừng để ai trốn thoát!” Dân chúng bắt tất cả các nhà tiên tri. Rồi Ê-li dắt họ xuống thung lũng Ki-sôn và giết họ tại đó.
1KI 18:41 Sau đó Ê-li bảo A-háp, “Bây giờ vua hãy đi, ăn và uống vì mưa lớn sắp đổ xuống.”
1KI 18:42 Vậy vua A-háp đi ăn uống. Trong lúc ấy Ê-li lên đỉnh núi Cạt-mên cúi xuống đất gục đầu giữa hai đầu gối.
1KI 18:43 Ê-li bảo đầy tớ, “Hãy đi nhìn về phía biển.” Đứa đầy tớ đi nhìn rồi trình, “Tôi chẳng thấy gì cả.” Ê-li bảo nó đi nhìn lại lần nữa. Nó làm như thế bảy lần.
1KI 18:44 Đến lần thứ bảy, đầy tớ trình, “Tôi thấy có một đám mây nhỏ cỡ bằng nắm tay nhô lên từ dưới biển.” Ê-li bảo đầy tớ, “Hãy đi bảo A-háp chuẩn bị quân xa sẵn sàng để đi về nhà ngay bây giờ. Nếu không mưa sẽ giữ ông lại.”
1KI 18:45 Ít lâu sau trời phủ mây đen kịt. Gió bắt đầu thổi và trong chốc lát mưa lớn đổ xuống. A-háp liền leo lên quân xa đi về Ghít-rê-ên.
1KI 18:46 CHÚA ban sức mạnh cho Ê-li. Ông buộc áo quần ngang hông và chạy bộ trước A-háp cho đến Ghít-rê-ên.
1KI 19:1 Vua A-háp thuật cho Giê-xa-bên nghe mọi điều Ê-li đã làm và việc ông giết các nhà tiên tri bằng gươm.
1KI 19:2 Giê-xa-bên liền sai một sứ giả đến nhắn với Ê-li, “Nếu ngày mai vào giờ nầy mà ta không giết ngươi như ngươi đã giết các nhà tiên tri thì nguyện các thần phạt ta nặng nề.”
1KI 19:3 Nghe vậy Ê-li hoảng sợ liền chạy cứu mạng, mang theo tên đầy tớ. Khi đến Bê-e-sê-ba thuộc Giu-đa thì Ê-li để tên đầy tớ lại đó.
1KI 19:4 Rồi ông đi bộ suốt một ngày vào sa mạc. Ông ngồi dưới gốc một bụi cây và cầu xin được chết. Ông xin, “Thôi đủ rồi Chúa ôi. Xin cho tôi chết. Tôi có hơn gì tổ tiên tôi đâu.”
1KI 19:5 Rồi ông nằm dưới gốc cây và ngủ. Bỗng nhiên một thiên sứ đến đụng vào người ông. Thiên sứ bảo, “Hãy thức dậy ăn.”
1KI 19:6 Ê-li thấy gần đầu mình có một ổ bánh nướng trên than và một bình nước cho nên ông ăn uống rồi nằm ngủ lại.
1KI 19:7 Sau đó thiên sứ CHÚA đến đụng ông lần nữa và bảo, “Hãy dậy và ăn vì nếu không đường đi rất xa, ngươi khó mà chịu nổi.”
1KI 19:8 Vậy Ê-li ngồi dậy ăn và uống. Thức ăn giúp sức ông đi bộ bốn mươi ngày đêm cho đến núi Hô-rếp tức núi của Thượng Đế.
1KI 19:9 Đến đó Ê-li vào trong một hang đá để ngủ đêm. CHÚA hỏi Ê-li, “Ê-li, tại sao ngươi ở đây?”
1KI 19:10 Ông thưa, “Lạy CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng, tôi hết lòng phục vụ Ngài nhưng dân Ít-ra-en đã phá giao ước Ngài, tiêu hủy bàn thờ Ngài và dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài. Tôi là nhà tiên tri duy nhất còn sống sót, mà bây giờ họ cũng tìm cách giết tôi luôn.”
1KI 19:11 CHÚA bảo Ê-li, “Hãy đi ra đứng trước mặt ta trên núi. Ta sẽ đi ngang qua ngươi.” Rồi sẽ có cơn gió thổi qua, mạnh đến nỗi núi nứt ra và các tảng đá lớn vỡ vụn trước mặt CHÚA. Nhưng CHÚA không có trong luồng gió. Sau trận gió sẽ có cơn động đất, nhưng không có CHÚA trong cơn động đất.
1KI 19:12 Sau cơn động đất sẽ có đám lửa, nhưng không có CHÚA trong đám lửa. Sau đám lửa có một tiếng thì thầm nho nhỏ.
1KI 19:13 Khi Ê-li nghe tiếng đó liền lấy áo che mặt và đi ra ngoài đứng nơi miệng hang. Rồi có tiếng hỏi, “Ê-li, tại sao ngươi ở đây?”
1KI 19:14 Ông đáp, “Lạy CHÚA Toàn Năng, tôi hết lòng phục vụ Ngài. Nhưng dân Ít-ra-en đã phá giao ước với Ngài, tiêu hủy bàn thờ Ngài và dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài. Tôi là nhà tiên tri duy nhất còn lại mà họ cũng đang tìm cách giết tôi luôn.”
1KI 19:15 CHÚA phán cùng ông, “Hãy đi trở lại con đường dẫn đến sa mạc quanh thành Đa-mách. Đi vào thành và đổ dầu trên Ha-xa-ên cử người làm vua trên A-ram.
1KI 19:16 Rồi đổ dầu trên Giê-hu, con trai Nim-si cử người làm vua trên Ít-ra-en. Sau đó hãy đổ đầu trên Ê-li-sê, con trai Sa-phát thuộc vùng A-bên Mê-hô-la-lên làm nhà tiên tri kế nghiệp ngươi.
1KI 19:17 Ai thoát khỏi gươm Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết, còn ai thoát khỏi gươm Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.
1KI 19:18 Ta có bảy ngàn người trong Ít-ra-en chưa hề cúi lạy trước tượng Ba-anh và miệng họ chưa hôn nó.”
1KI 19:19 Vậy Ê-li rời nơi đó và gặp Ê-li-sê, con Sa-phát đang cày ruộng bằng một đội bò. Đội bò gồm mười hai đôi bò và chính ông đang cầm cày đôi thứ mười hai. Ê-li tiến đến gặp Ê-li-sê, cởi áo ngoài ra và choàng lên Ê-li-sê.
1KI 19:20 Ê-li-sê liền bỏ các đội bò mình và chạy theo Ê-li. Ê-li-sê bảo, “Để tôi về hôn từ biệt cha mẹ tôi đã rồi tôi sẽ theo ông.” Ê-li đáp, “Đi về đi. Tôi có cản anh đâu?”
1KI 19:21 Vậy Ê-li-sê đi về bắt một cặp bò làm thịt. Ông dùng ách bằng gỗ để làm củi rồi nướng thịt phát cho mọi người. Sau khi ăn xong Ê-li-sê ra đi theo và làm phụ tá cho Ê-li.
1KI 20:1 Bên-Ha-đát vua A-ram triệu tập quân lực. Có ba mươi hai vua ra đi với ông mang theo ngựa và quân xa. Họ vây Xa-ma-ri và tấn công thành ấy.
1KI 20:2 Vua sai sứ vào thành gặp A-háp vua Ít-ra-en.
1KI 20:3 Ông nhắn như sau, “Bên-Ha-đát bảo, ‘Vàng bạc của ngươi là của ta cũng như các vợ con xinh đẹp nhất của ngươi.’”
1KI 20:4 A-háp vua Ít-ra-en trả lời, “Thưa vua chúa, tôi đồng ý với điều Ngài nói. Tôi và những gì thuộc về tôi đều là của Ngài.”
1KI 20:5 Rồi sứ giả trở lại A-háp lần nữa và nói, “Bên-Ha-đát nói, ‘Trước đây ta bảo ngươi phải giao vàng bạc và vợ con cho ta.
1KI 20:6 Khoảng giờ nầy ngày mai ta sẽ sai người của ta đến lục soát khắp nơi trong cung điện của ngươi và nhà cửa của các quần thần ngươi. Những gì họ thích, họ đều sẽ lấy mang đi hết.’”
1KI 20:7 A-háp liền triệu tập các bô lão trong xứ. Ông nói, “Bên-Ha-đát đang kiếm chuyện lôi thôi với chúng ta. Trước tiên ông bắt ta giao vợ con, vàng bạc của ta và ta bằng lòng.”
1KI 20:8 Các bô lão cùng toàn dân bảo, “Đừng thèm nghe ông ta cũng đừng ưng thuận chuyện nầy.”
1KI 20:9 Vậy A-háp trả lời với các sứ giả của Bên-Ha-đát, “Xin nói với vua chúa tôi như sau: ‘Tôi sẽ làm điều vua chúa tôi nói lần đầu nhưng tôi không thể ưng thuận điều đòi hỏi thứ nhì.’” Các sứ giả liền mang lời nhắn về cho vua Bên-Ha-đát.
1KI 20:10 Bên-Ha-đát liền nhắn một lần nữa cho A-háp, “Nếu ta không hủy diệt Xa-ma-ri, nguyện các thần phạt ta thật nặng. Sẽ không còn đủ bụi cho quân ta hốt mỗi người một nắm tay.”
1KI 20:11 A-háp trả lời, “Xin bảo Bên-Ha-đát là ‘Người mặc áo giáp vào không nên khoe khoang như người sống lâu mà cởi áo giáp ra.’”
1KI 20:12 Khi sứ giả mang lời nhắn về thì Bên-Ha-đát đang ở trong lều uống rượu cùng với các vua khác. Bên-Ha-đát liền ra lệnh cho quân sĩ chuẩn bị tấn công thành. Thế là họ ngồi vào vị trí tác chiến.
1KI 20:13 Lúc đó có một nhà tiên tri đến gặp A-háp vua Ít-ra-en. Nhà tiên tri nói, “Hỡi A-háp, CHÚA bảo ngươi, ‘Ngươi có thấy quân đội đông đảo đó không? Hôm nay ta sẽ trao nó vào tay ngươi để ngươi biết rằng ta là CHÚA.’”
1KI 20:14 A-háp hỏi, “Phải dùng ai để đánh bại chúng?” Nhà nhà tiên tri đáp, “CHÚA phán, ‘Các sĩ quan trẻ thuộc các thống đốc vùng sẽ đánh bại chúng.’” Vua hỏi tiếp, “Vậy ai sẽ chỉ huy lực lượng chính?” Nhà tiên tri đáp, “Chính vua.”
1KI 20:15 Vậy A-háp tập họp các sĩ quan trẻ thuộc các thống đốc vùng gồm hai trăm ba mươi hai người. Rồi ông triệu tập quân Ít-ra-en, tất cả khoảng bảy ngàn người.
1KI 20:16 Họ tiến quân ra lúc giữa trưa trong khi Bên-Ha-đát và ba mươi hai vua trợ lực ông đang say sưa trong lều.
1KI 20:17 Các sĩ quan trẻ thuộc các thống đốc vùng tấn công trước. Bên-Ha-đát phái các toán tình báo về thuật rằng có quân lính từ Xa-ma-ri đến.
1KI 20:18 Bên-Ha-đát ra lệnh, “Dù chúng đến để tranh chiến hay để xin hòa thì cũng đều bắt sống hết.”
1KI 20:19 Các sĩ quan trẻ thuộc các thống đốc vùng hướng dẫn cuộc tấn công, sau đó là đạo quân Ít-ra-en.
1KI 20:20 Mỗi sĩ quan trong Ít-ra-en giết người nào đến tấn công mình. Quân A-ram bỏ chạy còn quân Ít-ra-en đuổi theo. Bên-Ha-đát, vua A-ram cỡi ngựa chạy thoát cùng một số lính kỵ mã.
1KI 20:21 A-háp, vua Ít-ra-en, hướng dẫn quân lính và tiêu diệt ngựa cùng quân xa của A-ram. Vua A-háp hoàn toàn đánh bại đạo quân A-ram.
1KI 20:22 Sau đó nhà tiên tri đến bảo A-háp, vua Ít-ra-en, rằng, “Vua A-ram sẽ trở lại tấn công vua lần nữa vào mùa xuân năm sau. Cho nên vua hãy trở về củng cố lại quân ngũ để đối phó.”
1KI 20:23 Trong khi đó các sĩ quan Bên-Ha-đát, vua A-ram bảo, “Thần của Ít-ra-en là thần núi. Vì chúng ta đánh trong vùng núi cho nên chúng ta thua quân Ít-ra-en. Hãy đánh chúng trong vùng đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng.
1KI 20:24 Vua phải làm thế nầy. Đừng để ba mươi hai vua chỉ huy quân lực nữa mà, hãy đặt các cấp chỉ huy khác.
1KI 20:25 Hãy triệu tập quân đội tương tự như toán quân đã bị tiêu diệt, cùng số ngựa và quân xa như trước. Chúng ta sẽ đánh dân Ít-ra-en trong đồng bằng, chúng ta sẽ thắng.” Bên-Ha-đát đồng ý với lời đề nghị đó và làm y như vậy.
1KI 20:26 Mùa xuân năm sau Bên-Ha-đát triệu tập quân đội A-ram và kéo lên A-phéc tấn công Ít-ra-en.
1KI 20:27 Quân Ít-ra-en cũng đã chuẩn bị sẵn sàng nghênh chiến. Họ kéo quân ra gặp quân A-ram và đóng quân đối diện chúng. Quân Ít-ra-en giống như hai bầy dê nhỏ còn quân A-ram thì lan tràn khắp vùng.
1KI 20:28 Một người của Thượng Đế đến bảo vua Ít-ra-en như sau: “CHÚA phán, ‘Quân A-ram bảo rằng ta là thần núi, không phải thần thung lũng nên ta sẽ cho ngươi đánh bại đạo quân khổng lồ nầy, rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA.’”
1KI 20:29 Hai lực lượng đóng quân đối diện nhau trong bảy ngày. Đến ngày thứ bảy trận chiến bắt đầu. Quân Ít-ra-en giết một ngàn quân A-ram trong một ngày.
1KI 20:30 Số còn lại chạy trốn đến thành A-phéc, bị vách thành ngã đè chết hai mươi bảy ngàn người. Bên-Ha-đát cũng chạy trốn vào thành và núp trong một phòng.
1KI 20:31 Các sĩ quan của ông bảo, “Chúng tôi nghe nói các vua Ít-ra-en rất nhân hậu. Chúng tôi sẽ ăn mặc vải sô, lấy dây quấn đầu rồi đi đến gặp vua Ít-ra-en, rất có thể ông ta sẽ để cho bệ hạ sống.”
1KI 20:32 Vậy họ mặc vải sô, quấn dây trên đầu đi đến gặp vua Ít-ra-en. Họ thưa, “Bên-Ha-đát, kẻ tôi tớ vua xin, ‘Hãy để cho tôi sống.’” A-háp hỏi, “Người vẫn còn sống sao? Người là anh em ta.”
1KI 20:33 Những người từ Bên-Ha-đát muốn có một dấu hiệu gì từ A-háp. Cho nên khi A-háp gọi Bên-Ha-đát là anh mình họ liền bảo, “Vâng! Bên-Ha-đát là anh em của vua.” A-háp bảo, “Hãy mang người đến cho ta.” Khi Bên-Ha-đát đến thì A-háp mời ông cùng đi chung quân xa mới mình.
1KI 20:34 Bên-Ha-đát bảo vua, “Thưa vua A-háp, tôi sẽ trả lại cho ngài những thành mà cha tôi đã chiếm lấy từ cha ngài. Ngài có thể đặt cơ sở buôn bán ở Đa-mách như cha tôi đã làm ở Xa-ma-ri.” A-háp đáp, “Nếu anh đồng ý như thế thì tôi sẽ trả anh về tự do.” Vậy hai vua liền lập giao ước với nhau. Rồi A-háp để cho Bên-Ha-đát về tự do.
1KI 20:35 Một nhà tiên tri trong nhóm những tiên tri bảo bạn mình, “Hãy đánh tôi đi!” Ông bảo vậy vì CHÚA đã truyền lệnh như thế, nhưng người bạn không chịu làm.
1KI 20:36 Nhà tiên tri nói, “Vì anh không vâng mệnh lệnh CHÚA cho nên sau khi rời khỏi tôi, anh sẽ bị một con sư tử giết.” Khi người đó ra thì gặp con sư tử và bị nó giết chết.
1KI 20:37 Nhà tiên tri bảo một người khác, “Hãy đánh tôi đi!” Người đó đánh ông bị thương tích.
1KI 20:38 Nhà tiên tri lấy khăn che mặt mình để không ai nhận ra. Rồi ông đi, chờ vua bên đường.
1KI 20:39 Khi A-háp, vua Ít-ra-en, đi ngang qua, nhà tiên tri kêu lên cùng vua, “Tôi đi ra đánh nhau trong chiến trận. Một trong những binh sĩ của chúng tôi mang một kẻ thù đến cho tôi. Anh dặn, ‘Hãy canh giữ tên nầy cho cẩn thận. Nếu nó trốn thoát thì anh phải lấy mạng mình mà đền. Nếu không anh phải trả bảy mươi lăm cân bạc.’
1KI 20:40 Nhưng trong khi tôi đang bận việc nầy việc nọ thì nó trốn thoát.” Vua Ít-ra-en đáp, “Ngươi vừa bảo phải bị trừng phạt như thế nào thì phải làm theo như người kia nói.”
1KI 20:41 Nhà tiên tri liền vén khăn che khỏi mặt. Khi vua Ít-ra-en thấy ông thì nhận ra ông là một trong những nhà tiên tri.
1KI 20:42 Nhà tiên tri nói cùng vua, “CHÚA phán như sau: ‘Ngươi thả một người mà ta định phải chết, cho nên ngươi phải lấy mạng mình mà thế vào đó. Mạng của dân ngươi sẽ phải đền cho mạng của người đó.’”
1KI 20:43 Vua Ít-ra-en đi về cung mình ở Xa-ma-ri, giận dữ và bực tức.
1KI 21:1 Sau các việc ấy thì xảy ra chuyện sau. Một người tên Na-bốt, quê ở Ghít-rê-ên có một vườn nho gần cung điện A-háp, vua Ít-ra-en.
1KI 21:2 Ngày nọ A-háp bảo Na-bốt, “Hãy cho ta vườn nho ngươi. Nó gần cung điện ta để ta làm vườn rau. Ta sẽ cấp cho ngươi một vườn nho tốt hơn, hay nếu ngươi thích, ta sẽ trả giá phải chăng cho ngươi.”
1KI 21:3 Na-bốt đáp, “Nguyện CHÚA chớ để tôi trao đất của tôi cho vua vì đất đó thuộc về gia đình tôi.”
1KI 21:4 A-háp rất bực tức vì vua không thích điều Na-bốt người Ghít-rê-ên vừa nói. Na-bốt đã nói “Tôi không thể nào trao đất đai của gia đình tôi cho vua.” A-háp nằm trên giường, xoay mặt vào vách và không chịu ăn.
1KI 21:5 Giê-sa-bên, vợ ông đi vào hỏi thăm, “Tại sao anh trông bực tức và không chịu ăn?”
1KI 21:6 A-háp đáp, “Anh bảo Na-bốt, người Ghít-rê-ên, ‘Hãy bán vườn nho ngươi cho ta, hay nếu ngươi thích thì ta ban cho ngươi một vườn nho khác’ nhưng Na-bốt không chịu.”
1KI 21:7 Giê-xa-bên đáp, “Anh làm vua mà cai trị dân Ít-ra-en như thế nầy à? Hãy ngồi dậy ăn và phấn khởi lên. Em sẽ lấy vườn nho của Na-bốt trao cho anh.”
1KI 21:8 Giê-xa-bên liền viết mấy bức thư, ký tên A-háp trên đó và dùng ấn vua đóng lên. Rồi bà gởi các thư ấy cho các bô lão và các chức sắc ở thị trấn Na-bốt cư ngụ.
1KI 21:9 Trong thư bà viết như sau: “Hãy truyền lệnh cho mọi người phải cữ ăn trong một ngày. Triệu tập dân chúng lại và đặt Na-bốt ngồi chỗ danh dự.
1KI 21:10 Cho hai tên vô loại ngồi đối diện người và bảo chúng khai rằng chúng có nghe Na-bốt nói phạm đến Thượng Đế và vua. Rồi mang Na-bốt ra ngoài thành ném đá chết.”
1KI 21:11 Các bô lão và chức sắc vùng Ghít-rê-ên làm theo mệnh lệnh Giê-xa-bên như trong thư bà viết.
1KI 21:12 Họ tuyên bố ngày mà mọi người phải cữ ăn rồi đặt Na-bốt ngồi chỗ danh dự trước mặt dân chúng.
1KI 21:13 Hai tên vô loại ngồi đối diện Na-bốt và khai trước mọi người rằng chúng đã nghe ông nói phạm đến Thượng Đế và vua. Cho nên dân chúng kéo ông ra ngoài thành ném đá chết.
1KI 21:14 Rồi các bô lão báo cáo với Giê-xa-bên rằng, “Na-bốt bị giết rồi.”
1KI 21:15 Khi Giê-xa-bên nghe Na-bốt đã bị giết liền bảo A-háp, “Na-bốt chết rồi. Bây giờ anh có thể đi nhận vườn nho mà nó không chịu bán cho anh.”
1KI 21:16 Khi A-háp nghe Na-bốt ở Ghít-rê-ên đã chết liền ngồi dậy và đi nhận vườn nho làm của riêng mình.
1KI 21:17 Lúc đó CHÚA phán với nhà tiên tri Ê-li người Thi-sê-be rằng,
1KI 21:18 “Hãy đi gặp A-háp, vua Ít-ra-en ở Xa-ma-ri. Người đang ở trong vườn nho của Na-bốt mà người chiếm làm của riêng.
1KI 21:19 Hãy bảo A-háp rằng ta, CHÚA nói với người, ‘Ngươi đã giết Na-bốt và chiếm đất của nó cho nên ta cho ngươi biết: Chính ngay chỗ mà chó liếm máu Na-bốt, chó cũng sẽ liếm máu ngươi!’”
1KI 21:20 Khi A-háp thấy Ê-li liền kêu lên, “Ê kẻ thù ta, ngươi đã gặp được ta à!” Ê-li đáp, “Phải, tôi đã gặp vua. Vua đã nhất định làm điều ác.
1KI 21:21 Cho nên CHÚA phán cùng vua, ‘Ta sẽ sớm tiêu diệt ngươi. Ta sẽ giết ngươi cùng tất cả mọi người nam trong gia đình ngươi, từ nô lệ đến tự do.
1KI 21:22 Gia đình ngươi sẽ giống như gia đình vua Giê-rô-bô-am, con Nê-bát, và cũng giống như gia đình vua Ba-a-sa, con A-hi-gia. Ta sẽ tiêu diệt ngươi vì ngươi đã chọc giận ta và dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội.’
1KI 21:23 CHÚA cũng nói thêm, ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-xa-bên trong thành Ghít-rê-ên.’
1KI 21:24 Ai trong nhà ngươi chết trong thành sẽ bị chó xé ăn, còn ai chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.”
1KI 21:25 Không ai giống như A-háp, muốn làm điều ác luôn luôn vì Giê-xa-bên, vợ người, xúi người làm ác.
1KI 21:26 A-háp làm việc đáng ghê tởm bằng cách thờ phụng các thần tượng giống như dân A-mô-rít đã làm. Cho nên CHÚA lấy đất của chúng trao cho dân Ít-ra-en.
1KI 21:27 Sau khi Ê-li nói xong, A-háp liền xé quần áo mình. Ông mặc vải sô, cữ ăn, và đồng thời ngủ trong vải sô chứng tỏ lòng buồn rầu hối hận.
1KI 21:28 CHÚA phán cùng Ê-li người Thi-sê-be rằng:
1KI 21:29 “Ngươi có thấy A-háp hạ mình trước mặt ta không? Vì người đã hạ mình trước mặt ta cho nên ta sẽ không sai tai họa đến trong đời người nhưng ta sẽ chờ cho con của người lên ngôi vua rồi ta sẽ sai khốn khổ đến cho gia đình A-háp.”
1KI 22:1 Trong suốt ba năm giữa Ít-ra-en và A-ram không có chiến tranh.
1KI 22:2 Trong năm thứ ba Giô-sa-phát vua Giu-đa đi thăm A-háp, vua Ít-ra-en.
1KI 22:3 Lúc ấy A-háp hỏi các sĩ quan mình, “Các ngươi có biết Ra-mốt Ghi-lê-át thuộc về chúng ta không? Nhưng chúng ta đã không làm gì để lấy lại từ tay vua A-ram. Thị trấn ấy là của chúng ta.”
1KI 22:4 Vua A-háp hỏi vua Giô-sa-phát, “Vua có chịu đi cùng tôi để đánh Ra-mốt Ghi-lê-át không?” Giô-sa-phát trả lời, “Tôi sẽ đi với vua. Binh sĩ tôi là binh sĩ của vua, ngựa tôi như ngựa vua.”
1KI 22:5 Giô-sa-phát đề nghị với A-háp, “Nhưng trước tiên chúng ta nên cầu hỏi ý CHÚA đã.”
1KI 22:6 A-háp liền gọi khoảng bốn trăm nhà tiên tri lại hỏi, “Ta có nên gây chiến để chiếm lại Ra-mốt trong Ghi-lê-át không?” Họ đáp, “Vua nên đi vì CHÚA sẽ trao họ vào tay vua.”
1KI 22:7 Nhưng Giô-sa-phát hỏi, “Ở đây có nhà tiên tri nào của CHÚA không? Hãy hỏi người xem chúng ta nên hành động ra sao.”
1KI 22:8 Vua A-háp bảo Giô-sa-phát, “Còn có một nhà tiên tri nữa. Chúng ta có thể nhờ người cầu hỏi CHÚA nhưng tôi ghét anh ta vì anh ta không bao giờ nói tiên tri tốt về tôi, chỉ nói điều xấu thôi. Ông ta tên Mi-cai-gia, con Im-la.” Giô-sa-phát nói, “Vua không nên nói như vậy!”
1KI 22:9 A-háp liền ra lệnh cho một trong các sĩ quan hầu cận mang Mi-cai-gia đến lập tức.
1KI 22:10 A-háp, vua Ít-ra-en, và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đang mặc triều phục và ngồi trên ngai ở trong sân đập lúa, gần cổng vào thành Xa-ma-ri. Tất cả các nhà tiên tri đều đứng trước mặt hai người và đang nói tiên tri.
1KI 22:11 Xê-đê-kia, con Kê-na-na, làm các sừng bằng sắt. Ông bảo A-háp, “CHÚA nói như sau, ‘Ngươi sẽ dùng các sừng nầy đánh dân A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng nó hoàn toàn.’”
1KI 22:12 Các nhà tiên tri khác cũng nói tương tự. “Hãy tấn công Ra-mốt Ghi-lê-át và chiến thắng vì CHÚA sẽ trao vùng ấy vào tay vua.”
1KI 22:13 Sứ giả được sai để mang Mi-cai-gia đến bảo với ông rằng, “Tất cả các nhà tiên tri đều nói vua A-háp sẽ thành công. Ông nên nói như họ và cho vua một lời đáp thuận lợi.”
1KI 22:14 Nhưng Mi-cai-gia đáp, “Ta chỉ CHÚA hằng sống mà thề, ta chỉ có thể nói với nhà vua những gì CHÚA bảo ta mà thôi.”
1KI 22:15 Khi Mi-cai-gia đến cùng A-háp, vua hỏi, “Nầy Mi-cai-gia, chúng ta có nên tấn công Ra-mốt trong Ghi-lê-át hay không?” Mi-cai-gia đáp, “Hãy tấn công đi, vua sẽ thắng! CHÚA sẽ trao nó vào tay vua.”
1KI 22:16 Nhưng A-háp bảo Mi-cai-gia, “Đã bao lần ta bảo ngươi chỉ nên nói thật cùng ta trong danh CHÚA mà thôi!”
1KI 22:17 Mi-cai-gia liền đáp, “Tôi thấy đạo quân Ít-ra-en bị tản lạc trên các đồi như chiên không có người chăn. CHÚA nói, ‘Họ không có người lãnh đạo. Ai nấy nên đi về nhà bình an.’”
1KI 22:18 A-háp, vua Ít-ra-en liền bảo Giô-sa-phát, “Thấy không? Tôi đã bảo vua là anh ta không bao giờ nói gì tốt về tôi, chỉ toàn là nói chuyện xấu thôi.”
1KI 22:19 Nhưng Mi-cai-gia nói, “Hãy nghe lời CHÚA phán: Tôi thấy CHÚA ngồi trên ngôi có đạo quân trên trời đứng hầu bên phải và bên trái Ngài.
1KI 22:20 CHÚA hỏi, ‘Ai sẽ đi gạt A-háp để người tấn công Ra-mốt trong Ghi-lê-át đặng bị giết tại đó?’” Người nói thế nầy, kẻ nói thế khác.
1KI 22:21 Rồi có một thần linh đến đứng trước mặt CHÚA và thưa, “Tôi sẽ đi gạt người.”
1KI 22:22 CHÚA hỏi, “Gạt cách nào?” Thần đó đáp, “Tôi sẽ đi khiến cho các nhà tiên tri A-háp nói dối.” CHÚA bảo, “Ngươi làm được đó. Hãy đi đi.”
1KI 22:23 Mi-cai-gia nói, “Thưa vua A-háp, CHÚA đã khiến các nhà tiên tri nói dối với vua vì CHÚA đã nhất quyết sai thảm họa đến trên vua.”
1KI 22:24 Xê-đê-kia, con Kên-a-na, tiến đến tát Mi-cai-gia mấy cái vào mặt và hỏi, “Bộ thần linh của CHÚA bỏ ta mà nói cùng ngươi sao?”
1KI 22:25 Mi-cai-gia đáp, “Ngươi sẽ biết chuyện đó vào ngày mà ngươi chạy trốn vào phòng trong cùng.”
1KI 22:26 A-háp, vua Ít-ra-en, liền ra lệnh, “Hãy bắt Mi-cai-gia giải sang cho A-môn, thống đốc thành, và cho Giô-ách, con trai vua.
1KI 22:27 Bảo họ rằng ta ra lệnh nhốt người nầy vào tù, chỉ nuôi bằng bánh và nước thôi cho đến khi ta từ chiến trận trở về an toàn.”
1KI 22:28 Mi-cai-gia, “Thưa vua A-háp, nếu vua từ chiến trận trở về an toàn thì CHÚA không phán qua tôi. Mọi người hãy ghi nhớ lời tôi!”
1KI 22:29 Vậy A-háp vua Ít-ra-en và Giô-sa-phát vua Giu-đa đi lên Ra-mốt trong Ghi-lê-át.
1KI 22:30 Vua A-háp bảo Giô-sa-phát, “Tôi sẽ ra trận nhưng tôi sẽ ăn mặc giả dạng để không ai nhận ra. Còn vua thì cứ mặc triều phục.” Vậy A-háp mặc giả dạng và ra trận.
1KI 22:31 Vua A-ram đã ra lệnh cho ba mươi hai viên chỉ huy quân xa rằng, “Đừng tấn công ai cả, dù cấp lớn hay cấp nhỏ, chỉ tấn công vua Ít-ra-en mà thôi.”
1KI 22:32 Khi các viên chỉ huy đó thấy Giô-sa-phát thì yên trí là vua Ít-ra-en nên họ liền quay sang tấn công vua. Nhưng Giô-sa-phát la lên.
1KI 22:33 Khi họ thấy không phải vua A-háp liền thôi không đuổi theo vua nữa.
1KI 22:34 Tình cờ có một binh sĩ bắn một mũi tên trúng nhằm A-háp ngay chỗ nối của áo giáp. Vua A-háp bảo tài xế quân xa, “Hãy quay lại chở ta ra khỏi mặt trận vì ta bị thương nặng!”
1KI 22:35 Trận ác chiến kéo dài suốt ngày. Người ta đỡ A-háp đứng trong quân xa để đối đầu với quân A-ram. Máu của vua chảy xuống gầm xe. Đến chiều thì vua chết.
1KI 22:36 Gần đến khi mặt trời lặn thì có tiếng kêu trong hàng ngũ quân Ít-ra-en: “Ai nấy hãy trở về thành và đất đai mình đi.”
1KI 22:37 Vậy vua A-háp qua đời như thế. Xác ông được chở đến Xa-ma-ri và chôn tại đó.
1KI 22:38 Người ta rửa quân xa của A-háp nơi hồ, chỗ các gái điếm tắm, có mấy con chó liếm máu ông từ quân xa. Những chuyện đó xảy ra y như lời CHÚA phán.
1KI 22:39 Mọi việc khác A-háp làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en. Sách đó ghi lại cung điện A-háp cất và trang hoàng bằng ngà voi cùng những thành phố ông đã xây.
1KI 22:40 Vậy A-háp qua đời, rồi A-cha-xia, con trai ông lên kế vị.
1KI 22:41 Giô-sa-phát, con A-sa lên ngôi vua Giu-đa trong năm thứ tư đời A-háp, vua Ít-ra-en.
1KI 22:42 Giô-sa-phát được ba mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và cai trị hai mươi lăm năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua là A-xu-ba, con gái Sin-li.
1KI 22:43 Giô-sa-phát là người tốt, giống như A-sa, cha mình. Ông làm điều thiện theo như CHÚA bảo. Nhưng vua không tiêu hủy các nơi thờ thần tượng, cho nên dân chúng tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương ở các nơi đó.
1KI 22:44 Giô-sa-phát và vua Ít-ra-en sống hòa thuận với nhau.
1KI 22:45 Giô-sa-phát đánh nhiều trận, những trận đánh và chiến công của ông đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
1KI 22:46 Trong đời A-sa, cha vua, vẫn có các đàn ông làm điếm ở những nơi thờ phụng cho nên Giô-sa-phát trục xuất chúng đi.
1KI 22:47 Trong lúc đó đất Ê-đôm không có vua, chỉ có tổng trấn cai trị mà thôi.
1KI 22:48 Vua Giô-sa-phát đóng các tàu buôn để đi Ô-phia chở vàng về. Nhưng các tàu ấy bị chìm ở Ê-xi-ôn Ghê-be cho nên không đi được.
1KI 22:49 A-cha-xia, con trai A-háp đến giúp Giô-sa-phát và đề nghị gởi một số người của mình đi chung thuyền với các thủy thủ của Giô-sa-phát nhưng Giô-sa-phát từ chối.
1KI 22:50 Giô-sa-phát qua đời và được chôn với tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem trong thành Đa-vít, ông tổ mình. Rồi Giê-hô-ram, con trai vua lên kế vị.
1KI 22:51 A-cha-xia, con A-háp lên ngôi vua Ít-ra-en ở Xa-ma-ri trong năm thứ mười bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa. A-cha-xia cai trị Ít-ra-en trong hai năm
1KI 22:52 và làm điều ác trước mặt CHÚA. Ông làm ác giống như A-háp, cha mình và Giê-xa-bên, mẹ mình, cùng Giê-rô-bô-am, con Nê-bát, đã làm. Tất cả những lãnh tụ đó quyến dụ dân Ít-ra-en đi sâu vào đường tội lỗi.
1KI 22:53 A-cha-xia thờ phụng và phục vụ thần Ba-anh, chọc giận CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en. Ông làm y như cha mình đã làm.
2KI 1:1 Sau khi vua A-háp qua đời thì Mô-áp tách ra khỏi quyền thống trị của Ít-ra-en.
2KI 1:2 A-cha-xia té qua các chấn song của phòng trên gác ở Xa-ma-ri nên bị thương nặng. Ông sai các sứ giả đi và dặn, “Hãy đi hỏi Ba-anh-Xê-bun, thần của Éc-rôn xem ta có lành các vết thương nầy không?”
2KI 1:3 Nhưng thiên sứ của CHÚA bảo Ê-li người Thi-sê-be, “Hãy đi ra gặp các sứ giả của vua Xa-ma-ri hỏi rằng, ‘Sao các ngươi đi hỏi Ba-anh-Xê-bun, thần của Éc-rôn? Trong Ít-ra-en không có Thượng Đế hay sao?’
2KI 1:4 Cho nên CHÚA phán như sau: ‘Ngươi sẽ không ngồi dậy khỏi giường mà ngươi đang nằm, nhưng chắc chắn sẽ chết.’” Rồi Ê-li bỏ đi.
2KI 1:5 Khi các sứ giả trở về với A-cha-xia, vua hỏi, “Tại sao mấy anh trở về?”
2KI 1:6 Họ thưa, “Có một người ra đón chúng tôi. Ông bảo, ‘Hãy trở về cùng vua đã sai các ngươi đi và bảo cho ông điều CHÚA phán: Sao ngươi sai sứ đi hỏi Ba-anh-Xê-bun, thần của Éc-rôn? Ngươi cho rằng trong Ít-ra-en không có Thượng Đế hay sao? Cho nên ngươi sẽ không ngồi dậy khỏi giường ngươi đang nằm nhưng chắc chắn sẽ chết.’”
2KI 1:7 A-cha-xia hỏi họ, “Người báo tin ấy cho mấy anh mặt mũi ra sao?”
2KI 1:8 Họ đáp, “Ông ta có nhiều lông và quấn đai da ngang hông.” A-cha-xia bảo, “Đó là Ê-li, người Thi-sê-be.”
2KI 1:9 Vua liền sai một sĩ quan cùng với năm mươi lính đi đến gặp Ê-li. Ông đang ngồi trên một đỉnh đồi. Viên sĩ quan đến bảo Ê-li, “Hỡi người của Thượng Đế, vua kêu, ‘Hãy đi xuống!’”
2KI 1:10 Ê-li đáp, “Nếu ta là người của Thượng Đế, nguyện lửa từ trời xuống thiêu ngươi và năm mươi lính của ngươi đi.” Lửa từ trời liền giáng xuống thiêu viên sĩ quan cùng năm mươi lính của ông.
2KI 1:11 A-cha-xia liền sai một sĩ quan và năm mươi lính khác đến cùng Ê-li. Viên sĩ quan bảo, “Người của Thượng Đế, vua nói như sau: Hãy xuống mau lên!”
2KI 1:12 Ê-li đáp, “Nếu ta là người của Thượng Đế nguyện lửa tư trời giáng xuống thiêu đốt ngươi và năm mươi lính của ngươi đi!” Lửa từ trời liền giáng xuống thiêu đốt viên sĩ quan cùng năm mươi lính của ông.
2KI 1:13 A-cha-xia liền sai một sĩ quan thứ ba cùng năm mươi lính. Ông nầy đến quì dưới chân Ê-li và năn nỉ, “Hỡi người của Thượng Đế, xin tôn trọng mạng sống tôi cùng mạng sống của năm mươi tôi tớ ông.
2KI 1:14 Vì lửa từ trời đã thiêu hai viên sĩ quan trước cùng năm mươi lính của họ. Nhưng bây giờ xin tôn trọng mạng sống tôi.”
2KI 1:15 Thiên sứ Chúa bảo Ê-li, “Hãy đi xuống với người, đừng sợ gì.” Vậy Ê-li đứng dậy đi xuống cùng ông để gặp vua.
2KI 1:16 Ê-li bảo A-cha-xia, “CHÚA phán như sau: ‘Ngươi sai sứ giả đi hỏi Ba-anh-Xê-bun, thần của Éc-rôn. Vậy ngươi cho rằng trong Ít-ra-en không có Thượng Đế để cầu hỏi hay sao? Vì thế cho nên ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà chắc chắn sẽ chết.’”
2KI 1:17 Vậy A-cha-xia qua đời y như lời CHÚA phán qua Ê-li. Giô-ram lên ngôi kế vị vua A-cha-xia vào năm thứ nhì đời Giê-hô-ram, con Giô-sa-phát, vua Giu-đa. Giô-ram lên kế vị vì A-cha-xia không có con trai.
2KI 1:18 Các việc khác A-cha-xia làm đều được ghi chép trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 2:1 Gần đến lúc CHÚA muốn mang Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc. Trong khi Ê-li và Ê-li-sê đang rời Ghinh-ganh
2KI 2:2 thì Ê-li bảo Ê-li-sê, “Anh hãy ở đây. CHÚA bảo tôi đi đến Bê-tên.” Nhưng Ê-li-sê nói, “Tôi chỉ CHÚA hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, tôi sẽ chẳng rời thầy.” Vậy hai người đi đến Bê-tên.
2KI 2:3 Có một nhóm các nhà tiên tri ở Bê-tên đến nói cùng Ê-li-sê rằng, “Anh có biết hôm nay CHÚA sẽ mang thầy của anh đi không?” Ê-li-sê đáp, “Tôi biết rồi. Thôi im đi.”
2KI 2:4 Ê-li bảo ông, “Ê-li-sê, anh hãy ở đây vì CHÚA bảo tôi đến Giê-ri-cô.” Nhưng Ê-li-sê nói, “Tôi chỉ CHÚA hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, tôi sẽ chẳng rời thầy.” Vậy hai người đi đến Giê-ri-cô.
2KI 2:5 Nhóm tiên tri ở Giê-ri-cô đến nói với Ê-li-sê rằng, “Anh có biết hôm nay CHÚA sẽ mang thầy của anh đi không?” Ê-li-sê đáp, “Tôi biết rồi. Thôi im đi.”
2KI 2:6 Ê-li bảo Ê-li-sê, “Anh hãy ở đây. CHÚA bảo tôi đi đến sông Giô-đanh.” Nhưng Ê-li-sê nói, “Tôi chỉ CHÚA hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, tôi sẽ chẳng rời thầy.” Vậy hai người tiếp tục đi.
2KI 2:7 Có năm mươi người trong nhóm các tiên tri đến đứng khá xa nơi chỗ Ê-li và Ê-li-sê đang đứng bên sông Giô-đanh.
2KI 2:8 Ê-li cởi áo ngoài, cuốn lại đập lên nước. Nước liền rẽ ra hai bên, rồi Ê-li và Ê-li-sê đi qua trên đất khô.
2KI 2:9 Sau khi đã qua sông rồi thì Ê-li hỏi Ê-li-sê, “Anh muốn tôi làm gì cho anh trước khi tôi được mang đi khỏi anh?” Ê-li-sê trả lời, “Xin để lại cho tôi gấp đôi lượng thần linh của thầy.”
2KI 2:10 Ê-li đáp, “Anh xin một việc khó. Nhưng nếu anh nhìn tôi trong khi tôi được mang đi khỏi anh thì anh sẽ nhận được điều đó. Nếu không thì không được.”
2KI 2:11 Trong khi hai người vừa đi vừa nói chuyện thì có một chiếc xe ngựa lửa hiện ra phân rẽ Ê-li và Ê-li-sê. Rồi Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc.
2KI 2:12 Ê-li-sê thấy vậy liền kêu lên, “Cha tôi ôi! Cha tôi ôi! Quân xa và ngựa của Ít-ra-en ôi!” Rồi Ê-li-sê không thấy Ê-li nữa. Quá buồn bã, Ê-li-sê liền nắm xé quần áo mình.
2KI 2:13 Ông lượm cái áo ngoài của Ê-li rớt lại rồi trở về đứng bên bờ sông Giô-đanh.
2KI 2:14 Ê-li-sê lấy áo ngoài của Ê-li đập lên nước và nói, “CHÚA là Thượng Đế của Ê-li ở đâu?” Khi Ê-li-sê đập nước xong, nước liền rẽ ra hai bên cho Ê-li-sê đi ngang qua.
2KI 2:15 Nhóm các tiên tri ở Giê-ri-cô chứng kiến việc ấy liền bảo, “Thần của Ê-li bây giờ ngự trên Ê-li-sê rồi.” Họ liền đến gặp và cúi xuống đất lạy ông.
2KI 2:16 Họ đề nghị với Ê-li-sê, “Có năm mươi người lực lưỡng ở với chúng tôi. Để họ đi tìm thầy của ông. Rất có thể Thần Linh của CHÚA mang Ê-li đặt xuống một hòn núi hay thung lũng nào đó chăng.” Nhưng Ê-li-sê bảo, “Không. Đừng sai họ đi.”
2KI 2:17 Nhưng các nhóm tiên tri năn nỉ Ê-li-sê quá mức đến nỗi ông không thể từ chối được nữa nên ông nói, “Ừ, thì sai họ đi đi.” Vậy họ sai năm mươi người đi tìm Ê-li trong ba ngày nhưng tìm không ra.
2KI 2:18 Khi họ trở về với Ê-li-sê ở Giê-ri-cô nơi ông đang ở thì ông bảo, “Tôi đã bảo đừng có đi tìm mà mấy anh không chịu nghe.”
2KI 2:19 Các người trong thành thưa với Ê-li-sê, “Thưa thầy, thành nầy rất tốt để ở như thầy thấy. Tuy nhiên nước không tốt cho nên chẳng trồng trọt gì được.”
2KI 2:20 Ê-li-sê bảo, “Mang cho ta một chén mới rồi bỏ muối vào.” Vậy họ mang chén muối đến cho ông.
2KI 2:21 Ông liền bước ra suối đổ muối lên. Ông bảo, “CHÚA phán như sau: ‘Ta đã chữa lành cho nước nầy. Từ nay về sau nó sẽ không gây chết chóc nữa và cũng không cản trở việc trồng hoa màu.’”
2KI 2:22 Vậy nước được chữa lành cho đến ngày nay theo như lời Ê-li-sê.
2KI 2:23 Từ đó Ê-li-sê đi lên Bê-tên. Trên đường có mấy cậu bé từ thành ra trêu chọc ông. Chúng nó bảo, “Ê ông già trọc đầu, đi lên đi! Đi lên đi, ông già trọc đầu!”
2KI 2:24 Ê-li-sê quay lại nhìn chúng nó và nhân danh CHÚA nguyền rủa chúng. Liền có hai con gấu mẹ trong rừng ra cấu xé bốn mươi hai cậu bé.
2KI 2:25 Ê-li-sê đi đến Cạt-mên và từ đó ông trở về Xa-ma-ri.
2KI 3:1 Giô-ram con A-háp lên ngôi vua Ít-ra-en ở và Xa-ma-ri vào năm thứ mười tám đời Giô-sa-phát vua Giu-đa. Giô-ram cai trị mười hai năm.
2KI 3:2 Ông làm điều CHÚA cho là ác nhưng không ác bằng cha và mẹ mình vì ông phá bỏ các trụ đá mà cha mình đã dựng nên để thờ thần Ba-anh.
2KI 3:3 Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục phạm tội như Giê-rô-bô-am, con Nê-bát là người dẫn dụ Ít-ra-en phạm tội. Giô-ram cũng phạm những tội như thế.
2KI 3:4 Mê-sa, vua Mô-áp nuôi chiên. Ông ta nộp cho vua Ít-ra-en một trăm ngàn con chiên và lông hớt từ một trăm ngàn con chiên.
2KI 3:5 Nhưng khi A-háp qua đời thì vua Mô-áp phản nghịch cùng vua Ít-ra-en.
2KI 3:6 Vì thế vua Giô-ram từ Xa-ma-ri kéo ra tập họp quân Ít-ra-en.
2KI 3:7 Vua cũng sai sứ đến Giô-sa-phát, vua Giu-đa, hỏi, “Vua Mô-áp đã phản nghịch tôi. Vua có muốn cùng tôi đánh Mô-áp không?” Giô-sa-phát trả lời, “Tôi sẽ đi với ngài. Lính tôi và ngựa tôi cũng như của ngài cả.”
2KI 3:8 Giô-sa-phát hỏi, “Chúng ta sẽ tấn công theo đường nào?” Giô-ram đáp, “Qua đường sa mạc Ê-đôm.”
2KI 3:9 Vậy vua Ít-ra-en đi cùng với vua Giu-đa và vua Ê-đôm. Sau khi đi ròng rã bảy ngày đường thì hết nước uống cho quân sĩ và súc vật.
2KI 3:10 Vua Ít-ra-en nói, “Chuyện nầy thật đáng sợ! CHÚA gọi ba vua chúng ta đến để trao chúng ta vào tay dân Mô-áp!”
2KI 3:11 Tuy nhiên Giô-sa-phát hỏi, “Ở đây có tiên tri nào của CHÚA không? Chúng ta có thể nhờ người cầu hỏi CHÚA.” Một viên chức của vua Ít-ra-en thưa, “Có Ê-li-sê, con Sa-phát ở đây. Ông ta là đầy tớ của Ê-li.”
2KI 3:12 Giô-sa-phát bảo, “Ông ta nói sự thật của CHÚA.” Vậy vua Ít-ra-en, Giô-sa-phát, và vua Ê-đôm đi xuống gặp Ê-li-sê.
2KI 3:13 Ê-li-sê nói với vua Ít-ra-en, “Tôi không có liên quan gì với vua. Hãy đi đến các tiên tri của cha và mẹ vua mà hỏi!” Vua Ít-ra-en đáp, “Không phải vậy, CHÚA đã gọi ba vua chúng tôi đến để trao chúng tôi cho người Mô-áp.”
2KI 3:14 Ê-li-sê bảo, “Tôi chỉ CHÚA Toàn Năng là Đấng tôi phục vụ mà thề, tôi sẽ cho vua biết sự thật. Đáng lẽ tôi không thèm nhìn hay để ý đến vua nếu không có Giô-sa-phát ở đây. Tôi kính nể ông ấy.
2KI 3:15 Bây giờ hãy mang đến cho tôi một người biết gảy đờn cầm.” Trong khi người đó đang gảy đờn cầm thì quyền năng CHÚA tác động trên Ê-li-sê.
2KI 3:16 Ê-li-sê nói, “CHÚA bảo hãy đào thật nhiều hố trong thung lũng.
2KI 3:17 Ngài phán rằng tuy các ngươi không thấy gió hay mưa nhưng thung lũng sẽ đầy nước, rồi ngươi, trâu bò cùng gia súc ngươi sẽ uống.
2KI 3:18 Việc đó quá dễ đối với CHÚA; Ngài cũng sẽ trao Mô-áp vào tay các ngươi.
2KI 3:19 Các ngươi phải tiêu hủy các thành có vách kiên cố và các thị trấn quan trọng. Các ngươi phải chặt tất cả các cây tốt và lấp hết mọi suối nước. Ngươi phải lấy đá hủy hoại các đồng ruộng.”
2KI 3:20 Sáng hôm sau khoảng giờ dâng của lễ thì nước chảy đến từ hướng Ê-đôm tràn đầy thung lũng.
2KI 3:21 Tất cả dân Mô-áp nghe các vua đã kéo đến để đánh mình nên huy động tất cả mọi người có thể mang áo giáp được và đứng chực sẵn nơi biên giới.
2KI 3:22 Khi dân Mô-áp dậy sớm thì ánh mặt trời phản chiếu trên nước. Nhìn thấy nước phản chiếu về phía chúng trông đỏ như máu.
2KI 3:23 Chúng bảo, “Đúng là máu! Các vua ấy chắc chém giết lẫn nhau rồi! Dân Mô-áp ơi, hãy mau xông ra cướp lấy của cải từ các xác chết!”
2KI 3:24 Khi quân Mô-áp kéo đến trại quân Ít-ra-en thì người Ít-ra-en bủa ra đánh cho đến khi chúng bỏ chạy hết. Dân Ít-ra-en liền tiến vào xứ đánh giết người Mô-áp.
2KI 3:25 Họ phá sập các thành trì và ném đá vào các ruộng tốt. Họ cũng chận các suối nước và chặt hết các cây tốt. Kiệt-Ha-rê-xết là thành duy nhất còn nguyên các vách đá nhưng các chiến sĩ cầm ná bao vây và chiếm nó luôn.
2KI 3:26 Khi vua Mô-áp thấy không thể cự địch nổi liền mang bảy trăm người cầm gươm tìm cách xông đến vua Ê-đôm nhưng không được.
2KI 3:27 Vua Mô-áp liền bắt con trưởng nam là người sẽ kế vị mình dâng làm của lễ thiêu trên vách thành. Thế là có cơn thịnh nộ trút lên người Ít-ra-en nên họ rút về xứ mình.
2KI 4:1 Vợ của một trong nhóm các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê, “Tôi tớ ông là chồng tôi đã chết. Ông biết nhà tôi kính sợ CHÚA. Nhưng bây giờ chủ nợ của nhà tôi sắp đến bắt hai con trai tôi làm nô lệ!”
2KI 4:2 Ê-li-sê hỏi, “Vậy tôi làm sao giúp chị? Trong nhà chị có gì?” Người đàn bà đáp, “Tôi chẳng có gì trong nhà cả ngoài một hũ dầu.”
2KI 4:3 Ê-li-sê-liền bảo, “Hãy đi mượn các hũ không từ những láng giềng của chị. Phải mượn cho thật nhiều.
2KI 4:4 Đi vào nhà rồi đóng cửa lại. Chỉ có chị và con ở trong nhà thôi. Đổ dầu vào trong các hũ, cái nào đầy thì để qua một bên.”
2KI 4:5 Vậy chị rời Ê-li-sê và đi về nhà đóng cửa lại. Khi chúng nó mang các hũ đến cho chị, chị đổ dầu ra.
2KI 4:6 Khi các hũ đã đầy chị bảo, “Mang cho má một hũ nữa.” Nhưng nó nói, “Hết hũ rồi.” Dầu liền ngưng chảy.
2KI 4:7 Chị đi thuật lại cho Ê-li-sê. Nhà tiên tri bảo, “Hãy đi bán dầu đó trả nợ chị thiếu. Dùng chỗ dầu còn lại để sinh sống.”
2KI 4:8 Một ngày nọ Ê-li-sê đi đến Su-nam, nơi đó có một người đàn bà có địa vị. Chị năn nỉ Ê-li-sê ở lại và dùng bữa. Cho nên mỗi khi Ê-li-sê đi ngang qua vùng đó đều ghé dùng bữa.
2KI 4:9 Người đàn bà bảo chồng, “Tôi biết người hay đi qua nhà chúng ta là người thánh của Thượng Đế.
2KI 4:10 Chúng ta hãy làm một phòng trên mái nhà và đặt một cái giường cho ông ta. Chúng ta cũng có thể đặt một cái bàn, một cái ghế, một cái đèn trong đó. Rồi mỗi khi ông ấy ghé qua thì sẽ ở đó.”
2KI 4:11 Một ngày nọ Ê-li-sê đến nhà người đàn bà. Khi ông đang đi lên phòng mình để nghỉ ngơi,
2KI 4:12 thì ông bảo Ghê-ha-xi, đầy tớ mình, “Hãy gọi người đàn bà Su-nam lên đây.” Khi đầy tớ gọi bà thì bà lên đứng trước mặt ông.
2KI 4:13 Ê-li-sê đã bảo đầy tớ, “Hãy nói với bà, ‘Chị đã lo lắng mọi sự cho chúng tôi. Bây giờ tôi có thể làm gì cho chị? Chị có muốn tôi nói giùm với vua hay tư lệnh quân đội giùm cho chị không?’” Chị đáp, “Tôi đang sống giữa dân tộc tôi.”
2KI 4:14 Ê-li-sê hỏi Ghê-ha-xi, “Bây chúng ta có thể làm gì cho chị?” Đứa đầy tớ đáp, “Chị nầy không có con trai mà chồng thì già rồi.”
2KI 4:15 Ê-li-sê-liền bảo Ghê-ha-xi, “Hãy gọi chị lên đây.” Khi đầy tớ gọi chị thì chị lên đứng nơi ngạch cửa.
2KI 4:16 Ê-li-sê bảo, “Khoảng thời gian nầy sang năm, chị sẽ có một đứa con trai bồng trong tay.” Người đàn bà đáp, “Thưa chúa, người của Thượng Đế ơi, xin đừng gạt tôi, kẻ tôi tớ ông!”
2KI 4:17 Tuy nhiên năm sau người đàn bà mang thai và sinh ra một con trai vào khoảng thời gian đó theo như lời Ê-li-sê đã bảo chị.
2KI 4:18 Đứa nhỏ lớn lên. Một hôm nó đi ra với cha nó đang ở với đám thợ gặt.
2KI 4:19 Đứa nhỏ kêu với cha, “Con đau đầu, con đau đầu lắm!” Người cha bảo tên đầy tớ, “Mang nó về cho mẹ nó!”
2KI 4:20 Đầy tớ mang nó về cho mẹ nó. Nó nằm trên lòng mẹ nó đến trưa rồi chết.
2KI 4:21 Mẹ nó mang nó lên đặt trên giường của Ê-li-sê. Rồi chị đóng cửa ra đi.
2KI 4:22 Chị gọi chồng bảo, “Cho em xin một đứa đầy tớ và một con lừa. Em sẽ đi đến người của Thượng Đế và trở về ngay.”
2KI 4:23 Chồng chị hỏi, “Sao em muốn đi đến ông ta hôm nay? Đâu có phải ngày Trăng Mới hay ngày Sa-bát?” Chị đáp, “Mọi việc đều bình yên.”
2KI 4:24 Rồi chị thắng yên cương cho lừa và bảo đầy tớ, “Đi trước đi. Khi nào ta bảo thì mới đi chậm lại thôi.”
2KI 4:25 Vậy chị đi đến Ê-li-sê, người của Thượng Đế ở núi Cạt-mên. Vừa thấy chị từ xa đi lại, ông liền bảo Ghê-ha-xi, người đầy tớ, “Kìa, người đàn bà Su-nam đang đi đến!
2KI 4:26 Hãy chạy ra hỏi chị, ‘Chị có bình yên không? Chồng chị mạnh khỏe không? Đứa nhỏ bình yên không?’” Chị đáp, “Mọi việc đều bình yên.”
2KI 4:27 Rồi chị đến gặp Ê-li-sê trên đồi và ôm chân ông. Ghê-ha-xi đến gần đặng kéo chị ra nhưng Ê-li-sê bảo, “Để chị yên. Chị đang buồn bực mà CHÚA chưa cho ta biết chuyện gì. Ngài giấu ta việc nầy.”
2KI 4:28 Chị nói, “Thưa chúa, có phải tôi xin chúa một con trai không? Có phải tôi nói rằng xin chúa đừng gạt tôi không?”
2KI 4:29 Ê-li-sê bảo Ghê-ha-xi, “Hãy chuẩn bị. Hãy cầm lấy cây gậy của ta mà ra đi ngay. Nếu gặp ai ngoài đường thì đừng chào hỏi họ. Nếu ai chào cũng đừng chào lại. Hãy đặt cây gậy ta trên mặt đứa bé.”
2KI 4:30 Mẹ của đứa bé nói, “Tôi chỉ CHÚA hằng sống và mạng sống ông mà thề, tôi sẽ không rời ông!” Vậy Ê-li-sê đứng dậy đi theo chị.
2KI 4:31 Ghê-ha-xi đi trước và đặt cây gậy lên mặt đứa bé nhưng không thấy động tĩnh gì. Ghê-ha-xi liền trở lại gặp Ê-li-sê trình, “Đứa bé không tỉnh dậy.”
2KI 4:32 Khi Ê-li-sê đi vào nhà thì đứa bé đang chết nằm trên giường ông.
2KI 4:33 Ê-li-sê vào phòng đóng cửa lại cho nên chỉ có ông và đứa bé trong phòng. Ông liền cầu nguyện cùng CHÚA.
2KI 4:34 Rồi ông lên giường nằm ấp trên đứa bé, đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Ông nằm duỗi dài trên đứa bé. Ít lâu sau da của đứa bé ấm lại.
2KI 4:35 Ê-li-sê leo xuống và đi qua lại trong phòng rồi leo lên giường nằm ấp trên mình đứa bé lần nữa. Đứa nhỏ nhảy mũi bảy lần rồi mở mắt ra.
2KI 4:36 Ê-li-sê gọi Ghê-ha-xi vào bảo, “Hãy gọi người đàn bà Su-nam!” Vậy nó đi gọi. Khi chị đến thì Ê-li-sê bảo, “Hãy bế con chị đi.”
2KI 4:37 Chị đến và quì nơi chân Ê-li-sê, cúi mặt xuống sàn. Rồi chị đến bế con mình đi ra.
2KI 4:38 Khi Ê-li-sê trở về Ghinh-ganh thì trong xứ có nạn đói kém. Trong khi các tiên tri đang ngồi trước mặt ông, Ê-li-sê bảo đầy tớ, “Hãy bắc một cái nồi lớn lên lò và nấu canh cho mấy người nầy ăn.”
2KI 4:39 Một người trong đám họ đi vào đồng hái rau. Thấy một dây dưa dại người đó liền hái trái trên dây bỏ đầy vạt áo. Rồi mang về nhà cắt ra bỏ vào nồi canh. Nhưng họ chẳng biết đó là loại trái gì.
2KI 4:40 Họ múc canh ra cho mọi người ăn, Khi họ nếm thử thì la lên, “Người của Thượng Đế ơi, ăn món nầy là chết đó!” Cho nên họ không thể ăn canh ấy được.
2KI 4:41 Ê-li-sê kêu họ mang bột lại. Ông đổ bột vào nồi và bảo, “Bây giờ hãy múc ra cho mọi người ăn đi.” Sau đó không có gì độc hại trong nồi canh nữa.
2KI 4:42 Có một người từ Ba-anh Sa-li-sa đến cùng Ê-li-sê mang biếu ông hai mươi ổ bánh lúa mạch từ mùa gặt đầu tiên. Ông ta cũng có mang gié lúa mới trong bao. Ê-li-sê bảo, “Phát bánh ấy cho mọi người ăn đi.”
2KI 4:43 Đầy tớ Ê-li-sê bảo, “Làm sao tôi phát đủ cho một trăm người ăn mà có chỉ chừng nầy bánh?” Ê-li-sê bảo, “Cứ phát cho họ đi vì CHÚA phán như sau: ‘Họ sẽ ăn và còn dư lại.’”
2KI 4:44 Sau khi đầy tớ phát bánh cho họ, mọi người ăn no nê và còn dư lại y như lời CHÚA đã phán.
2KI 5:1 Na-a-man là tư lệnh quân đội của vua A-ram. Ông được chủ rất tôn trọng và được mọi người kính nể vì CHÚA dùng ông mang chiến thắng đến cho A-ram. Ông là người dũng cảm nhưng mắc phải bệnh ngoài da.
2KI 5:2 Quân A-ram đi ra quấy rối dân Ít-ra-en và bắt về một đứa gái nhỏ làm tù binh. Nó hầu hạ vợ Na-a-man.
2KI 5:3 Một hôm nó thưa với bà chủ nó, “Tôi ước gì ông chủ được gặp nhà tiên tri ở Xa-ma-ri. Ông ấy có thể chữa cho ông chủ lành bệnh.”
2KI 5:4 Na-a-man đi thuật cho vua điều đứa gái nhỏ Ít-ra-en nói.
2KI 5:5 Vua A-ram bảo, “Anh cứ việc đi. Ta sẽ viết một lá thư cho vua Ít-ra-en.” Vậy Na-a-man ra đi mang theo khoảng bảy trăm năm mươi cân bạc, khoảng một trăm năm mươi cân vàng, và mười bộ quần áo.
2KI 5:6 Ông mang thư đến cho vua Ít-ra-en. Thư viết như sau, “Tôi sai đầy tớ tôi là Na-a-man đến cho ngài để nhờ ngài chữa lành bệnh ngoài da cho anh ta.”
2KI 5:7 Khi vua Ít-ra-en đọc thư xong liền xé quần áo mình và rất bực tức. Ông bảo, “Ta có phải là Trời đâu mà có quyền làm chết hay làm sống lại? Lý do gì mà ông nầy gởi người mắc bệnh ngoài da đến xin ta chữa? Các ngươi thấy đó, vua A-ram đang tìm dịp để gây chuyện với ta.”
2KI 5:8 Khi Ê-li-sê, người của Thượng Đế, nghe vua Ít-ra-en xé quần áo mình thì liền nhắn rằng: “Sao vua xé quần áo? Bảo Na-a-man đến tôi thì ông sẽ biết rằng trong Ít-ra-en có nhà tiên tri.”
2KI 5:9 Vậy Na-a-man cùng đoàn ngựa xe rầm rộ kéo đến nhà Ê-li-sê và đứng ngoài cửa.
2KI 5:10 Ê-li-sê sai sứ giả ra gặp Na-a-man và bảo, “Hãy đi tắm bảy lần dưới sông Giô-đanh thì da ngươi sẽ lành, ngươi sẽ được tinh sạch lại.”
2KI 5:11 Na-a-man tức giận bỏ đi. Ông bảo, “Ta tưởng Ê-li-sê phải ra đứng trước mặt ta kêu cầu danh CHÚA là Thượng Đế người. Ta nghĩ người sẽ giơ tay đưa qua đưa lại nơi chỗ có bệnh và chữa lành cho ta.
2KI 5:12 A-ba-na và Phạt-pha, hai con sông ở Đa-mách không tốt hơn các sông trong Ít-ra-en sao? Tại sao ta không thể tắm trong các sông đó để được sạch?” Na-a-man tức giận bỏ đi.
2KI 5:13 Các đầy tớ ông liền đến gần khuyên, “Cha ơi, nếu ông tiên tri bảo cha làm một điều gì thật khó, cha có chịu làm không? Chắc chắn là cha sẽ làm phải không? Đằng nầy ông ta chỉ bảo cha, ‘Hãy tắm thì ngươi sẽ được sạch.’”
2KI 5:14 Vậy Na-a-man đi xuống tắm trong sông Giô-đanh bảy lần theo lời Ê-li-sê. Da ông liền trở nên mướt như da một đứa con nít. Ông được lành bệnh.
2KI 5:15 Na-a-man cùng đoàn tùy tùng trở lại với Ê-li-sê. Ông đứng trước mặt Ê-li-sê và nói, “Nay tôi biết trên đất không nơi nào có Thượng Đế ngoại trừ trong Ít-ra-en. Bây giờ xin ông nhận một lễ vật của tôi.”
2KI 5:16 Nhưng Ê-li-sê trả lời, “Ta chỉ CHÚA hằng sống là Đấng mà ta phục vụ, ta sẽ không nhận gì hết.” Na-a-man cố nài nỉ nhưng ông khăng khăng từ chối.
2KI 5:17 Na-a-man liền nói, “Nếu ông không chịu nhận lễ vật thì xin ông cho tôi một ít đất đủ cho hai con la của tôi chở. Vì từ nay về sau tôi sẽ không dâng của lễ thiêu hay sinh tế cho thần nào khác ngoài CHÚA.
2KI 5:18 Nhưng xin CHÚA tha cho tôi điều nầy: Khi chủ tôi đi vào đền thờ Rim-môn để bái lạy thì ông tì trên cánh tay tôi cho nên tôi cũng phải bái lạy trong đền thờ đó. Xin CHÚA tha tội cho tôi khi tôi làm như thế.”
2KI 5:19 Ê-li-sê bảo ông, “Hãy ra về bình yên.” Na-a-man rời Ê-li-sê ra về và đi được một khoảng.
2KI 5:20 Ghê-ha-xi, đầy tớ của Ê-li-sê, người của Thượng Đế nghĩ thầm, “Chủ ta không chịu nhận lễ vật của Na-a-man người A-ram. Ta chỉ CHÚA hằng sống mà thề ta sẽ chạy theo ông ta và xin một món quà gì từ ông ấy mới được.”
2KI 5:21 Vì thế Ghê-ha-xi liền chạy theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy có người chạy theo mình liền xuống xe đón Ghê-ha-xi. Ông hỏi, “Mọi việc đều bình an không?”
2KI 5:22 Ghê-ha-xi đáp, “Bình an. Chủ tôi sai tôi đi bảo, ‘Hồi nãy có hai người thanh niên thuộc nhóm các nhà tiên tri từ vùng núi Ép-ra-im mới đến. Xin ông cho họ bảy mươi lăm cân bạc và hai bộ quần áo.’”
2KI 5:23 Na-a-man nài nỉ Ghê-ha-xi, “Vậy hãy lấy một trăm năm mươi cân bạc đi.” Ông buộc một trăm năm mươi cân bạc trong hai bao cùng với hai bộ quần áo rồi giao cho hai đứa đầy tớ mang giùm cho Ghê-ha-xi.
2KI 5:24 Khi họ đến đồi thì Ghê-ha-xi lấy các bao đó khỏi tay các đầy tớ Na-a-man và mang đem để trong nhà rồi cho chúng nó ra về.
2KI 5:25 Khi Ghê-ha-xi vào đứng trước mặt chủ mình thì Ê-li-sê hỏi, “Ghê-ha-xi, anh mới đi đâu về đó?” Nó đáp, “Dạ, con không có đi đâu cả.”
2KI 5:26 Nhưng Ê-li-sê bảo nó, “Thần linh ta ở với anh. Ta biết khi người ấy xuống xe gặp anh. Nay không phải lúc nhận tiền bạc, áo quần, trái ô-liu, trái nho, chiên, bò, tôi trai tớ gái.
2KI 5:27 Cho nên bệnh ngoài da của Na-a-man sẽ dính vào anh và con cái anh đời đời.” Khi Ghê-ha-xi bước ra khỏi Ê-li-sê thì mắc bệnh ngoài da trắng như tuyết.
2KI 6:1 Các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê, “Nơi chúng ta họp với ông ở đây quá chật hẹp.
2KI 6:2 Chúng ta hãy đi đến sông Giô-đanh. Ở đó mỗi người sẽ đốn một khúc gỗ rồi cất nhà ở.” Ê-li-sê nói, “Đi đi.”
2KI 6:3 Một người trong họ bảo, “Xin ông hãy đi với chúng tôi.” Ê-li-sê đáp, “Ta sẽ đi,”
2KI 6:4 rồi ông đi với họ. Khi đến sông Giô-đanh thì họ bắt đầu đốn cây.
2KI 6:5 Có một người đang chặt cây thì lưỡi rìu sút ra văng xuống nước. Anh kêu lên, “Chủ ơi! Lưỡi rìu đó tôi mượn của người ta!”
2KI 6:6 Ê-li-sê hỏi, “Nó rớt chỗ nào?” Người ấy chỉ cho ông chỗ nó rơi. Ê-li-sê liền chặt một que gỗ ném xuống nước thì lưỡi rìu sắt nổi lên.
2KI 6:7 Ê-li-sê bảo, “Hãy lượm lưỡi rìu lên đi.” Ngươi ấy giơ tay ra lượm nó.
2KI 6:8 Vua A-ram đánh nhau với Ít-ra-en. Ông họp các sĩ quan lại bảo rằng, “Ta sẽ đóng quân chỗ nầy.”
2KI 6:9 Ê-li-sê người của Thượng Đế cho người nhắn với vua Ít-ra-en rằng, “Hãy cẩn thận, đừng đi qua chỗ ấy vì quân A-ram sẽ kéo đến đó!”
2KI 6:10 Vua Ít-ra-en soát lại nơi Ê-li-sê đã báo. Ông báo trước cho vua nhiều lần nên vua tránh được những nơi đó, và cứu được nhiều sinh mạng.
2KI 6:11 Vua A-ram rất tức tối về chuyện ấy. Ông triệu tập các sĩ quan lại và hạch hỏi, “Hãy nói cho ta biết ai trong chúng ta làm nội tuyến cho vua Ít-ra-en.”
2KI 6:12 Một trong các sĩ quan thưa, “Tâu vua, không có ai trong chúng tôi làm nội tuyến đâu. Người đó là Ê-li-sê, nhà tiên tri của Ít-ra-en. Ông ta có thể nói cho vua Ít-ra-en biết những điều bí mật kể cả những gì bệ hạ nói trong phòng ngủ mình.”
2KI 6:13 Vua liền bảo, “Hãy đi truy lùng để ta sai người bắt hắn.” Các đầy tớ đi và trở về báo cáo, “Ông ta đang ở Đô-than.”
2KI 6:14 Vua liền cho ngựa, quân xa và vô số quân lính đến Đô-than. Chúng kéo đến lúc ban đêm và bao vây thành.
2KI 6:15 Đứa đầy tớ của Ê-li-sê dậy sớm đi ra thì thấy một đạo quân cùng ngựa và quân xa vây quanh thành. Nó hốt hoảng kêu lên, “Chủ ơi, chúng ta sẽ làm sao đây?”
2KI 6:16 Ê-li-sê đáp, “Đừng sợ. Phe chúng ta đông hơn phe của họ.”
2KI 6:17 Rồi Ê-li-sê cầu nguyện, “CHÚA ơi, xin mở mắt cho kẻ tôi tớ con để nó thấy.” CHÚA liền mở mắt cho chàng thanh niên thì nó thấy núi đầy ngựa và quân xa bằng lửa xung quanh Ê-li-sê.
2KI 6:18 Khi quân thù tiến về phía Ê-li-sê thì ông cầu nguyện cùng CHÚA, “Xin Ngài khiến chúng bị đui mù.” CHÚA liền khiến đạo quân A-ram bị mù theo như lời Ê-li-sê xin.
2KI 6:19 Ê-li-sê bảo chúng, “Đây không phải đường hay thành. Hãy theo ta, ta sẽ đưa các anh đến người mà các anh đang tìm.” Ê-li-sê-liền dẫn chúng đến Xa-ma-ri.
2KI 6:20 Sau khi chúng đã vào thành Xa-ma-ri, Ê-li-sê-liền cầu nguyện, “Lạy CHÚA, xin mở mắt chúng để chúng thấy được.” CHÚA liền mở mắt chúng. Đạo quân A-ram vô cùng sửng sốt khi thấy mình đang ở giữa thành Xa-ma-ri!
2KI 6:21 Khi vua Ít-ra-en thấy đạo quân A-ram, ông hỏi Ê-li-sê, “Cha ơi, tôi có nên giết chúng không? Có giết không?”
2KI 6:22 Ê-li-sê đáp, “Đừng giết họ. Vua không giết kẻ nào bị vua bắt được bằng gươm hay cung tên. Hãy đãi họ ăn uống rồi trả họ về cho chủ họ.”
2KI 6:23 Vậy vua làm một tiệc lớn đãi đạo quân A-ram. Sau khi chúng ăn uống xong thì vua cho chúng ra về cùng chủ mình. Từ đó quân lính A-ram không còn dám xâm phạm xứ Ít-ra-en nữa.
2KI 6:24 Về sau, Bên-ha-đát, vua A-ram kéo toàn quân đến vây thành Xa-ma-ri.
2KI 6:25 Xa-ma-ri lâm nạn đói trầm trọng. Nạn đói tệ hại đến nỗi một đầu lừa bán khoảng hai cân bạc, và một phần tư lít phân bồ câu bán khoảng hai lượng bạc.
2KI 6:26 Khi vua Ít-ra-en đi ngang qua trên vách thành thì một người đàn bà réo gọi vua, “Thưa vua chúa tôi, xin giúp tôi!”
2KI 6:27 Vua đáp, “Nếu CHÚA không giúp chị thì làm sao tôi giúp chị được? Bộ tôi có thể giúp chị được nhờ sân đập lúa hay máy ép rượu sao?”
2KI 6:28 Vua hỏi, “Chuyện gì vậy?” Chị thưa, “Bà nầy nói với tôi, ‘Hãy trao con chị để chúng ta ăn thịt nó bữa nay rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con tôi.’
2KI 6:29 Vậy chúng tôi nấu con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau tôi hỏi chị, ‘Đưa con chị đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng chị đem giấu nó.”
2KI 6:30 Vua vừa nghe lời người đàn bà thuật liền xé quần áo mình trong đau khổ. Khi vua đang đi dọc theo vách thành thì người ta nhìn thì thấy vua mặc quần áo vải sô bên dưới lớp quần áo thường để bày tỏ sự đau buồn.
2KI 6:31 Vua nói, “Nếu hôm nay đầu của Ê-li-sê, con trai Sa-phát chưa bị chém thì nguyện Thượng Đế phạt ta thật nặng!”
2KI 6:32 Vua sai sứ đến Ê-li-sê. Ông đang ngồi trong nhà với các bô lão. Trước khi sứ giả đến, Ê-li-sê bảo họ, “Xem kìa, tên sát nhân đang sai người đến chém đầu tôi. Khi sứ giả đến hãy đóng ập cửa lại đừng cho nó vào. Tiếng của chủ nó ngay sau lưng nó.”
2KI 6:33 Ê-li-sê đang nói với các lãnh tụ thì sứ giả đến. Vua hỏi, “Sự khốn khổ nầy do CHÚA mà đến. Vậy trông đợi Ngài mà làm gì nữa?”
2KI 7:1 Ê-li-sê bảo, “Hãy nghe lời CHÚA phán. CHÚA phán như sau: ‘Khoảng giờ nầy ngày mai bảy lít bột mịn sẽ bán hai phần năm lượng bạc, và mười ba lít lúa mạch sẽ bán hai phần năm lượng bạc. Việc đó sẽ xảy ra ngay tại cửa thành Xa-ma-ri.’”
2KI 7:2 Viên sĩ quan thân tín nhất của vua bảo Ê-li-sê, “Dù cho CHÚA mở các cửa sổ trên trời đi nữa, chuyện ấy làm sao mà xảy ra được!” Ê-li-sê đáp, “Chính mắt ngươi sẽ chứng kiến chuyện đó nhưng sẽ không được ăn.”
2KI 7:3 Lúc đó ở cửa thành có bốn người bị mắc bệnh cùi. Họ bảo nhau, “Chúng mình ngồi đây chờ chết mà làm gì?
2KI 7:4 Trong thành chẳng còn thức ăn. Nếu chúng ta đi vào thành sẽ chết, mà ngồi đây thì cũng chết. Chi bằng chúng ta đi đến doanh trại A-ram. May ra họ để chúng ta sống thì tốt còn nếu họ giết chúng ta thì đằng nào chúng ta cũng chết thôi.”
2KI 7:5 Vậy họ đứng dậy lúc chạng vạng và đi vào doanh trại A-ram. Nhưng khi vào thì không thấy ai cả.
2KI 7:6 Chúa đã khiến đạo quân A-ram nghe tiếng rầm rộ của quân xa, ngựa và đạo quân lớn nên chúng bảo nhau, “Vua Ít-ra-en đã thuê các vua Hê-tít và Ai-cập đến đánh chúng ta!”
2KI 7:7 Nên chúng đứng dậy chạy trốn lúc chạng vạng, bỏ lại lều, ngựa, và lừa. Chúng để mọi vật nguyên vẹn trong trại và chạy bán mạng.
2KI 7:8 Khi mấy người cùi đi đến ven trại thì họ vào trong một cái lều rồi ăn uống. Họ mang bạc, vàng, và áo quần ra khỏi trại đem đi giấu. Rồi họ trở lại đi vào một trại khác. Họ cũng lấy đồ trong trại đó mang đi giấu luôn.
2KI 7:9 Họ bảo nhau, “Chúng mình làm bậy lắm. Hôm nay có tin mừng mà chúng ta làm thinh. Nếu chờ đến lúc mặt trời mọc thế nào chúng ta cũng sẽ bị phạt. Thôi bây giờ chúng ta hãy đi báo cho các người trong cung vua.”
2KI 7:10 Vậy họ đi kêu những người gác cổng thành rằng, “Chúng tôi đi vào doanh trại A-ram nhưng không thấy ai ở đó hết. Ngựa và lừa còn cột nguyên tại chỗ, còn các lều thì vẫn y nguyên.”
2KI 7:11 Các người gác cổng liền báo cho những người trong cung vua.
2KI 7:12 Ban đêm nhà vua thức dậy bảo các sĩ quan, “Ta cho các ngươi biết điều bọn A-ram định làm cho chúng ta. Chúng biết chúng ta đang chết đói nên chúng đi ra khỏi trại để phục kích trong ruộng. Chúng bảo, ‘Khi bọn Ít-ra-en đi ra khỏi thành chúng ta sẽ bắt sống chúng nó rồi chúng ta sẽ xông vào thành.’”
2KI 7:13 Một trong các sĩ quan đáp, “Xin vua cho mấy người cỡi năm trong số các con ngựa còn sót lại trong thành. Những người nầy cũng như tất cả những người Ít-ra-en còn lại; trước sau cũng chết. Chúng ta hãy sai họ đi xem thử đầu đuôi ra sao.”
2KI 7:14 Vậy họ lấy hai cỗ xe cùng với ngựa. Vua sai họ đi đến đạo quân A-ram và dặn, “Hãy đi xem xét tình hình ra sao.”
2KI 7:15 Họ đi theo đạo quân A-ram cho đến sông Giô-đanh. Trên đường đầy áo quần và dụng cụ mà quân A-ram đã quăng đang khi lật đật bỏ chạy. Các sứ giả trở về báo cáo với vua.
2KI 7:16 Dân chúng liền đổ ra cướp lấy những của báu từ doanh trại A-ram. Cho nên bảy lít bột mịn bán hai phần năm lượng bạc, và mười ba lít lúa mạch bán hai phần năm lượng bạc như CHÚA đã phán.
2KI 7:17 Vua cắt viên sĩ quan thân tín nhất để canh cổng thành nhưng dân chúng đạp ông ta chết. Việc xảy ra đúng như lời Ê-li-sê bảo vua khi vua đến nhà ông.
2KI 7:18 Ê-li-sê bảo, “Ngày mai, vào giờ nầy, mười ba lít lúa mạch và bảy lít bột mịn mỗi thứ sẽ bán hai phần năm lượng bạc tại cổng thành Xa-ma-ri.”
2KI 7:19 Nhưng viên sĩ quan ấy bảo, “Dù cho CHÚA mở các cửa sổ trên trời thì chuyện đó cũng không thể nào xảy ra được.” Rồi Ê-li-sê trả lời, “Chính mắt ngươi sẽ thấy chuyện ấy nhưng ngươi sẽ không được ăn.”
2KI 7:20 Sự việc xảy ra y như vậy cho viên sĩ quan. Dân chúng đạp ông ta chết nơi cổng thành.
2KI 8:1 Ê-li-sê nói với người đàn bà có đứa con trai mà ông đã khiến sống lại, “Chị và gia đình chị hãy đi đến bất cứ nơi nào có thể ở được vì CHÚA đã định một thời kỳ đói kém kéo dài bảy năm.”
2KI 8:2 Vậy người đàn bà lên đường làm theo như người của Thượng Đế đã nói. Chị cùng gia đình rời nơi đó và đi đến sống trong xứ Phi-li-tin trong bảy năm.
2KI 8:3 Sau bảy năm chị từ xứ Phi-li-tin trở về và đến xin vua trả lại nhà và đất của chị.
2KI 8:4 Vua đang nói chuyện với Ghê-ha-xi, đầy tớ của người của Thượng Đế. Vua yêu cầu, “Hãy thuật cho ta nghe những việc lớn Ê-li-sê đã làm đi.”
2KI 8:5 Ghê-ha-xi đang thuật cho vua việc Ê-li-sê khiến đứa trẻ bị chết sống lại. Ngay lúc ấy người đàn bà có đứa con trai mà Ê-li-sê khiến sống lại đến nơi van xin vua trả lại nhà và đất mình. Ghê-ha-xi bảo, “Thưa vua chúa, đây chính là người đàn bà đó, và đây là đứa con trai mà Ê-li-sê đã khiến sống lại.”
2KI 8:6 Vua hỏi han người đàn bà và chị kể lại chuyện đó. Rồi vua chỉ định một sĩ quan để giúp đỡ chị. Vua bảo, “Hãy trả lại cho chị tất cả những gì thuộc về chị. Trả lại cho chị tất cả những huê lợi thu được từ đất đai của chị từ ngày chị ra đi cho đến bây giờ.”
2KI 8:7 Sau đó Ê-li-sê đi đến Đa-mách. Bên-ha-đát, vua A-ram bị đau nằm ở đó. Có người cho vua hay, “Người của Thượng Đế đã đến.”
2KI 8:8 Vua bảo Ha-xa-ên, “Hãy lấy một món quà cầm trong tay đi ra đón người. Hãy nhờ người hỏi CHÚA xem ta có lành bệnh nầy không.”
2KI 8:9 Vậy Ha-xa-ên đi ra gặp Ê-li-sê, mang theo một món quà gồm bốn mươi con lạc đà chở đầy những hàng hoá quí nhất của Đa-mách. Ông đến đứng trước mặt Ê-li-sê nói rằng, “Con trai ông là Bên-ha-đát, vua A-ram, sai tôi đến với ông. Người hỏi xem sẽ lành bệnh hay không?”
2KI 8:10 Ê-li-sê bảo Ha-xa-ên, “Hãy đi bảo Bên-ha-đát, ‘Vua chắc chắn sẽ lành bệnh,’ nhưng CHÚA cho ta biết người chắc chắn sẽ chết.”
2KI 8:11 Ê-li-sê nhìn chăm chăm vào Ha-xa-ên đến nỗi ông phát ngượng. Rồi Ê-li-sê bật khóc.
2KI 8:12 Ha-xa-ên hỏi, “Thầy ơi, tại sao thầy khóc?” Ê-li-sê đáp, “Vì ta biết ngươi sẽ làm hại dân Ít-ra-en. Ngươi sẽ đốt phá các thành kiên cố có vách và dùng gươm giết các thanh niên trai tráng. Ngươi sẽ ném các hài nhi xuống đất và mổ bụng đàn bà chửa.”
2KI 8:13 Ha-xa-ên hỏi, “Tôi đâu có phải là người có quyền hành gì?” Ê-li-sê đáp, “CHÚA đã tỏ cho ta biết ngươi sẽ làm vua A-ram.”
2KI 8:14 Rồi Ha-xa-ên chia tay Ê-li-sê trở về cùng chủ mình. Bên-ha-đát hỏi, “Ê-li-sê nói gì với ngươi?” Ha-xa-ên đáp, “Ông bảo rằng vua chắc chắn sẽ bình phục.”
2KI 8:15 Nhưng qua hôm sau Ha-xa-ên lấy một cái mền nhúng nước đắp lên mặt Bên-ha-đát thì vua chết. Rồi Ha-xa-ên lên ngôi vua kế vị cho Bên-ha-đát.
2KI 8:16 Giê-hô-ram, con Giô-sa-phát lên ngôi vua Giu-đa, vào năm thứ năm khi Giô-ram, con A-háp làm vua Ít-ra-en.
2KI 8:17 Giê-hô-ram được ba mươi hai tuổi khi bắt đầu trị vì, ông cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
2KI 8:18 Ông đi theo đường các vua Ít-ra-en, y như gia đình A-háp đã làm vì ông lấy con gái A-háp. Giê-hô-ram làm điều ác trước mặt CHÚA.
2KI 8:19 Nhưng CHÚA không tiêu diệt Giu-đa vì Đa-vít tôi tớ Ngài. CHÚA đã hứa rằng lúc nào cũng sẽ có một người trong gia đình Đa-vít trị vì.
2KI 8:20 Trong đời Giê-hô-ram thì Ê-đôm tách ra khỏi quyền cai trị của Giu-đa và tự chọn vua lấy cho mình.
2KI 8:21 Nên Giê-hô-ram và tất cả các quân xa đi đến Xai-rơ. Người Ê-đôm vây vua và các viên chỉ huy quân xa. Ban đêm Giê-hô-ram thức đậy tấn công người Ê-đôm nhưng quân lính của vua chạy trốn về lều mình.
2KI 8:22 Từ đó cho đến nay xứ Ê-đôm luôn luôn chống nghịch lại quyền thống trị của Giu-đa. Đồng thời Líp-na cùng tách ra khỏi quyền thống trị của Giu-đa.
2KI 8:23 Các công nghiệp khác của Giê-hô-ram và mọi việc vua làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 8:24 Giê-hô-ram qua đời và được chôn với các tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem. A-cha-xia, con trai Giê-hô-ram lên nối ngôi.
2KI 8:25 A-cha-xia, con Giê-hô-ram lên ngôi vua Giu-đa trong năm thứ mười hai khi Giô-ram, con trai A-háp, làm vua Ít-ra-en.
2KI 8:26 A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi lên ngôi vua và cai trị một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông là A-tha-lia, cháu gái Ôm-ri, vua Ít-ra-en.
2KI 8:27 A-cha-xia đi theo đường của gia đình A-háp. Ông làm điều ác trước mặt CHÚA như A-háp đã làm vì ông là con rể A-háp.
2KI 8:28 A-cha-xia cùng với Giô-ram, con A-háp đến Ra-mốt trong Ghi-lê-át, để đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. Quân A-ram gây thương tích cho Giô-ram.
2KI 8:29 Vì thế vua Giô-ram trở về Ghít-rê-ên để chữa các vết thương do người A-ram gây ra ở Ra-mốt khi ông đang đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. A-cha-xia, con Giê-hô-ram, vua Giu-đa, đi xuống thăm Giô-ram, con A-háp ở Ghít-rê-ên vì Giô-ram bị thương.
2KI 9:1 Cùng lúc đó, nhà tiên tri Ê-li-sê gọi một người trong nhóm các nhà tiên tri. Ê-li-sê bảo, “Hãy sẵn sàng, hãy cầm bình dầu ô liu nhỏ nầy trong tay. Đi đến Ra-mốt trong Ghi-lê-át.
2KI 9:2 Khi đến nơi hãy tìm Giê-hu, con trai Giô-sa-phát, cháu Nim-si. Hãy vào bảo Giê-hu đứng dậy giữa các anh em, đưa người vào phòng trong.
2KI 9:3 Rồi lấy bình đổ dầu trên đầu Giê-hu và nói, ‘CHÚA phán như sau: Ta đã bổ nhiệm ngươi làm vua trên Ít-ra-en.’ Sau đó mở cửa trốn đi. Đừng chần chờ!”
2KI 9:4 Vậy chàng thanh niên, tức nhà tiên tri, đi đến Ra-mốt trong Ghi-lê-át.
2KI 9:5 Khi đến nơi, anh thấy các sĩ quan trong quân đội đang ngồi họp. Anh nói, “Thưa quan tướng, tôi có chuyện muốn nói với ngài.” Giê-hu hỏi, “Anh muốn nói chuyện với ai trong chúng ta?” Chàng thanh niên đáp, “Nói với ông, thưa quan tướng.”
2KI 9:6 Giê-hu liền đứng dậy đi vào nhà. Rồi nhà tiên tri trẻ đổ dầu ô-liu lên đầu Giê-hu và nói, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau: ‘Ta đã bổ nhiệm ngươi làm vua trên dân Ít-ra-en của Chúa.
2KI 9:7 Ngươi phải tiêu diệt gia đình A-háp, chủ ngươi. Ta sẽ trừng phạt Giê-xa-bên về cái chết của các nhà tiên tri, tôi tớ ta và về những đầy tớ Chúa đã bị sát hại.
2KI 9:8 Tất cả mọi người trong gia đình A-háp phải chết. Ta sẽ không để cho một con trai nào trong gia đình A-háp sống trong Ít-ra-en, dù nô lệ hay tự do.
2KI 9:9 Ta sẽ làm cho gia đình A-háp giống như gia đình của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và như gia đình của Ba-a-sa, con trai A-hi-gia.
2KI 9:10 Chó sẽ ăn thịt Giê-xa-bên ở Ghít-rê-ên. Sẽ không có ai chôn cất nó.’” Rồi nhà tiên tri trẻ mở cửa trốn đi.
2KI 9:11 Khi Giê-hu trở lại cùng các sĩ quan của chủ mình thì một người trong đám họ hỏi ông, “Mọi việc đều bình yên chớ? Thằng khùng đó đến gặp anh để làm gì?” Giê-hu đáp, “Các anh biết nó và biết chuyện khùng điên nó nói rồi.”
2KI 9:12 Họ đáp, “Không phải vậy. Hãy nói cho chúng ta biết chuyện gì.” Giê-hu nói, “Nó bảo tôi, ‘CHÚA phán như sau: Ta đã bổ nhiệm ngươi làm vua trên Ít-ra-en.’”
2KI 9:13 Các sĩ quan liền vội vàng cởi áo mình trải trên các bậc thang cho Giê-hu. Họ thổi kèn và hô lớn, “Giê-hu làm vua!”
2KI 9:14 Vậy Giê-hu, con Giô-sa-phát, cháu Nim-si liền lập mưu chống Giô-ram. Lúc đó Giô-ram và toàn dân Ít-ra-en đang bảo vệ Ra-mốt trong Ghi-lê-át chống Ha-xa-ên, vua A-ram.
2KI 9:15 Nhưng vua Giô-ram phải trở về Ghít-rê-ên để điều trị các vết thương cho quân A-ram gây ra lúc đang đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. Giê-hu nói, “Nếu các ngươi đồng ý với kế hoạch nầy thì đừng để ai rời khỏi thành. Họ có thể sẽ báo tin trong Ghít-rê-ên.”
2KI 9:16 Rồi ông lên quân xa đi đến Ghít-rê-ên, nơi Giô-ram đang tịnh dưỡng. A-cha-xia, vua Giu-đa, cũng đi xuống thăm nhà vua.
2KI 9:17 Lính canh đang đứng trên tháp canh ở Ghít-rê-ên nhìn thấy quân lính của Giê-hu đi đến. Anh ta kêu lên, “Tôi thấy có mấy người lính!” Giô-ram bảo, “Hãy kêu một người lính cỡi ngựa đi ra gặp họ hỏi, ‘Mọi việc đều bình yên không?’”
2KI 9:18 Lính cỡi ngựa đi ra gặp Giê-hu hỏi, “Vua hỏi như sau: ‘Mọi việc đều bình yên cả chứ?’” Giê-hu đáp, “Ngươi bận tâm về chuyện bình yên làm gì? Hãy đi sau lưng ta.” Lính canh báo cáo, “Sứ giả đã đến gặp họ nhưng không trở về.”
2KI 9:19 Giô-ram sai một lính cỡi ngựa thứ hai. Anh đi đến gặp đoàn người của Giê-hu và nói, “Vua hỏi: ‘Mọi việc đều bình yên cả chứ?’” Giê-hu đáp, “Ngươi bận tâm về chuyện bình yên làm gì? Hãy đi sau lưng ta.”
2KI 9:20 Lính canh báo cáo, “Binh sĩ thứ hai đến gặp họ nhưng không thấy trở về. Người lái quân xa trông giống như Giê-hu, cháu Nim-si. Cách ông ta lái xe giống như người điên!”
2KI 9:21 Giô-ram ra lệnh, “Hãy chuẩn bị quân xa cho ta.” Đầy tớ liền chuẩn bị quân xa cho Giô-ram. Giô-ram, vua Ít-ra-en, và A-cha-xia, vua Giu-đa đi ra, mỗi người cỡi quân xa mình, đến đón Giê-hu nơi vườn của Na-bốt, người Ghít-rê-ên.
2KI 9:22 Khi Giô-ram gặp Giê-hu liền hỏi, “Mọi việc đều bình yên cả chứ, Giê-hu?” Giê-hu đáp, “Làm sao mà bình yên được trong khi Giê-xa-bên, mẹ vua vẫn còn thờ lạy thần tượng và dùng tà thuật?”
2KI 9:23 Giô-ram liền gò ngựa lại để chạy trốn và kêu lớn cùng A-cha-xia, “A-cha-xia ơi, phản loạn rồi!”
2KI 9:24 Giê-hu liền giương cung bắn Giô-ram trúng vào giữa hai vai. Mũi tên đâm xuyên qua tim Giô-ram, vua ngã nhào xuống trong xe.
2KI 9:25 Giê-hu liền ra lệnh cho Bích-ca, sĩ quan điều khiển quân xa, “Hãy mang xác Giô-ram ném vào ruộng của Na-bốt, người Ghít-rê-ên. Nên nhớ khi ngươi và ta cỡi xe chung nhau cùng với A-háp, cha Giô-ram. CHÚA đã đưa ra lời tiên tri nầy nghịch lại người:
2KI 9:26 CHÚA phán, ‘Hôm qua ta thấy máu Na-bốt và các con trai người, cho nên ta sẽ trừng phạt A-háp trong ruộng người.’ Hãy lấy xác Giô-ram ném vào trong ruộng y như lời CHÚA phán.”
2KI 9:27 Khi A-cha-xia, vua Giu-đa thấy vậy liền chạy trốn về phía Bết-Ha-ganh. Giê-hu đuổi theo bảo, “Hãy bắn luôn A-cha-xia nữa!” A-cha-xia bị thương trong xe trên đường đi lên Gu-rơ, gần Íp-lê-am. Vua chạy đến Mê-ghi-đô rồi qua đời ở đó.
2KI 9:28 Các tôi tớ của A-cha-xia chở xác vua trong xe về Giê-ru-sa-lem và chôn cất vua trong mộ chung với các tổ tiên vua ở Giê-ru-sa-lem.
2KI 9:29 A-cha-xia lên ngôi vua Giu-đa vào năm thứ mười một đời vua Giô-ram, con A-háp.
2KI 9:30 Khi Giê-hu đến Ghít-rê-ên thì Giê-xa-bên nghe tin. Bà liền trang điểm mắt và sửa sang tóc rồi nhìn ra cửa sổ.
2KI 9:31 Khi Giê-hu đi vào cổng thành thì Giê-xa-bên hỏi, “Nầy Xim-ri, kẻ giết chủ mình, ngươi đến với tinh thần hòa bình phải không?”
2KI 9:32 Giê-hu ngước nhìn lên cửa sổ và hỏi, “Ai về phe ta? Ai?” Hai hoặc ba kẻ tôi tớ nhìn qua cửa sổ về phía Giê-hu.
2KI 9:33 Ông bảo, “Ném bà ta xuống đất.” Họ liền ném Giê-xa-bên xuống rồi ngựa đạp lên xác bà. Máu của bà phun vọt lên tường và dính lên ngựa.
2KI 9:34 Giê-hu đi vào nhà ăn uống. Rồi ông bảo, “Bây giờ ra xem mụ đàn bà bị nguyền rủa nầy. Hãy chôn cất bà ta cho tươm tất vì bà là con gái vua.”
2KI 9:35 Họ đi ra định chôn cất Giê-xa-bên nhưng không tìm ra xác. Họ chỉ tìm được cái sọ, bàn chân, và bàn tay bà mà thôi.
2KI 9:36 Họ trở vào báo cáo với Giê-hu thì ông bảo, “CHÚA đã nói điều nầy qua Ê-li-sê, người Thi-sê-be, tôi tớ Ngài: Chó sẽ ăn thịt Giê-xa-bên ở Ghít-rê-ên.
2KI 9:37 Xác bà sẽ như phân bón ruộng trong xứ Ghít-rê-ên. Sẽ không ai nhận ra bà mà nói rằng ‘đây là Giê-xa-bên.’”
2KI 10:1 A-háp có bảy mươi con trai ở Xa-ma-ri. Giê-hu viết thư gởi đến Xa-ma-ri cho các lãnh tụ và các bô lão ở Ghít-rê-ên và cho các người bảo hộ các con trai A-háp. Giê-hu viết,
2KI 10:2 “Các ngươi đang có các con trai của chủ các ngươi ở với mình. Các ngươi cũng có quân xa, ngựa, thành kiên cố và vũ khí. Khi nhận được thư nầy,
2KI 10:3 hãy chọn người giỏi nhất và xứng đáng nhất trong số các con trai của chủ các ngươi lập nó lên làm vua. Rồi hãy chiến đấu cho gia đình chủ các ngươi.”
2KI 10:4 Nhưng các sĩ quan và lãnh tụ Ghít-rê-ên vô cùng sợ hãi. Họ bảo nhau, “Hai vua mà còn chưa địch nổi Giê-hu, huống hồ là chúng ta?”
2KI 10:5 Viên quản lý cung vua, viên tổng trấn thành phố, các lãnh tụ, và các người giám hộ nhắn với Giê-hu như sau, “Chúng tôi là tôi tớ ông. Chúng tôi sẽ làm mọi điều ông bảo chúng tôi. Chúng tôi sẽ không lập ai làm vua cả cho nên ông muốn sao cũng được.”
2KI 10:6 Sau đó Giê-hu viết một lá thư thứ hai nói rằng, “Nếu các ngươi về phe ta và vâng lời ta thì hãy cắt đầu các con của chủ các ngươi và ngày mai đến gặp ta ở Ghít-rê-ên khoảng giờ nầy.” Lúc đó bảy mươi con trai của gia đình vua đang ở với các lãnh tụ của thành phố tức giám hộ của chúng.
2KI 10:7 Khi các lãnh tụ nhận được thư liền bắt giết tất cả bảy mươi con trai vua. Họ để các đầu của chúng nó trong giỏ và gởi đến cho Giê-hu ở Ghít-rê-ên.
2KI 10:8 Sứ giả đến bảo Giê-hu, “Họ đã mang đầu của các con vua đến đây.” Giê-hu ra lệnh, “Hãy chất các đầu đó thành hai đống nơi cửa thành cho đến sáng mai.”
2KI 10:9 Đến sáng hôm sau, Giê-hu đi ra đứng trước dân chúng và nói cùng họ rằng, “Các ngươi vô tội. Các ngươi phải biết rằng chính ta đã âm mưu chống chủ ta và giết người chết. Nhưng ai đã giết những người nầy?
2KI 10:10 Các ngươi nên biết rằng tất cả những gì CHÚA nói về gia đình A-háp đều thành sự thật cả. CHÚA đã phán qua Ê-li-sê, tôi tớ Ngài và Ngài đã thực hiện điều Ngài phán.”
2KI 10:11 Vậy Giê-hu tàn sát toàn bộ những người còn sống sót trong gia đình A-háp ở Ghít-rê-ên. Ông cũng giết hết các người cầm đầu của A-háp, bạn hữu vua, và các thầy tế lễ. Không một ai đã từng giúp đỡ A-háp mà còn sống sót.
2KI 10:12 Rồi Giê-hu ra đi đến Xa-ma-ri theo con đường đến Bết-Ê-kết của các kẻ Chăn Chiên.
2KI 10:13 Ở đó ông gặp một số thân nhân của A-cha-xia, vua Giu-đa. Giê-hu hỏi họ, “Các ngươi là ai?” Họ đáp, “Chúng tôi là bà con của A-cha-xia. Chúng tôi xuống để trả thù cho gia đình của vua và của mẹ vua.”
2KI 10:14 Giê-hu liền ra lệnh, “Bắt sống chúng hết!” Vậy họ bắt sống hết các thân nhân của A-cha-xia và giết họ ở giếng gần Bết-Ê-kết. Có tất cả bốn mươi hai người. Giê-hu không chừa một ai sống sót.
2KI 10:15 Sau khi Giê-hu rời nơi đó, ông gặp Giê-hô-na-đáp, con trai Rê-cáp, người cũng đang trên đường đến gặp Giê-hu. Giê-hu chào ông và hỏi, “Anh là bạn tốt với tôi như tôi là bạn tốt với anh phải không?” Giê-hô-na-đáp trả lời, “Phải, tôi là bạn tốt của ông.” Giê-hu bảo, “Nếu vậy hãy trao tay anh cho tôi.” Vậy Giê-hô-na-đáp giơ tay ra. Giê-hu liền nắm tay kéo ông lên xe với mình.
2KI 10:16 Giê-hu nói, “Hãy đi với tôi. Anh sẽ thấy tôi sốt sắng với CHÚA như thế nào.” Vậy Giê-hu cho Giê-hô-na-đáp đi chung xe với mình.
2KI 10:17 Khi đến Xa-ma-ri, Giê-hu giết tất cả những người trong gia đình A-háp ở đó. Ông giết sạch những người còn sống sót như CHÚA đã bảo cho Ê-li-sê.
2KI 10:18 Rồi Giê-hu triệu tập hết dân chúng lại bảo rằng, “A-háp thờ phụng Ba-anh ít, Giê-hu sẽ thờ phụng Ba-anh nhiều hơn.
2KI 10:19 Bây giờ các ngươi hãy triệu tập tất cả các tiên tri, những thầy tế lễ, và tất cả những ai thờ lạy Ba-anh đến đây. Đừng để ai vắng mặt trong buổi họp nầy vì ta muốn dâng của lễ lớn cho Ba-anh. Ai vắng mặt trong bữa đó sẽ không toàn mạng.” Nhưng Giê-hu phỉnh họ để ông có thể tiêu trừ những kẻ thờ lạy Ba-anh.
2KI 10:20 Ông bảo, “Hãy chuẩn bị một buổi họp long trọng cho Ba-anh.” Vì thế họ thông báo cuộc họp.
2KI 10:21 Rồi Giê-hu loan báo khắp Ít-ra-en, nên tất cả những kẻ thờ lạy Ba-anh đều đến không sót ai. Chúng đi vào đền thờ Ba-anh nên đền thờ chật ních.
2KI 10:22 Giê-hu ra lệnh cho người giữ áo lễ, “Hãy mang các áo lễ ra cho các người thờ lạy Ba-anh.” Sau khi người đó mang áo lễ ra cho họ,
2KI 10:23 thì Giê-hu và Giê-hô-na-đáp, con Rê-cáp, đi vào đền thờ Ba-anh. Giê-hu nhìn quanh và bảo các người thờ thần Ba-anh rằng, “Hãy nhìn quanh để biết chắc rằng không có tôi tớ CHÚA nào ở lẫn lộn trong các ngươi. Ta chỉ muốn toàn những người thờ thần Ba-anh mà thôi.”
2KI 10:24 Rồi những kẻ thờ thần Ba-anh đi vào dâng sinh tế và của lễ thiêu. Giê-hu và tám mươi người mai phục bên ngoài. Giê-hu bảo họ, “Không được để ai trốn thoát. Nếu không các ngươi phải thế mạng đó.”
2KI 10:25 Khi Giê-hu vừa dâng của lễ xong thì ông ra lệnh cho các lính cận vệ và các sĩ quan chỉ huy, “Hãy xông vào giết tất cả những kẻ thờ thần Ba-anh. Đừng để ai thoát ra ngoài.” Vậy những binh sĩ cận vệ và các sĩ quan chỉ huy đi vào dùng gươm giết tất cả những kẻ thờ thần Ba-anh và ném xác chúng ra ngoài. Rồi họ đi vào các phòng trong của đền thờ
2KI 10:26 và mang ra các trụ trong đền thờ Ba-anh đem đốt.
2KI 10:27 Họ cũng phá các trụ đá thờ Ba-anh cũng như đền thờ Ba-anh. Họ biến nó thành một hố rác, hãy còn đến nay.
2KI 10:28 Vậy Giê-hu tiêu diệt việc thờ lạy thần Ba-anh trong Ít-ra-en
2KI 10:29 nhưng ông vẫn phạm những tội mà Giê-rô-bô-am, con Nê-bát, đã phạm. Giê-rô-bô-am đã dẫn Ít-ra-en phạm tội bằng cách thờ các bò con vàng ở Bê-tên và Đan.
2KI 10:30 CHÚA phán cùng Giê-hu, “Ngươi đã làm rất phải khi vâng lời ta bảo. Ngươi đã làm cho gia đình A-háp theo ý ta muốn. Vì thế cho nên cho đến chắt chít ngươi cũng sẽ có người làm vua trên Ít-ra-en.”
2KI 10:31 Nhưng Giê-hu không cẩn thận và hết lòng vâng theo lời dạy dỗ của CHÚA. Ông vẫn phạm tội như Giê-rô-bô-am đã phạm, đó là dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội.
2KI 10:32 Lúc đó CHÚA bắt đầu thu hẹp lãnh thổ Ít-ra-en. Ha-xa-ên đánh thắng Ít-ra-en trên toàn lãnh thổ của họ,
2KI 10:33 chiếm đất phía Đông sông Giô-đanh, gọi là xứ Ghi-lê-át. Đó là miền Gát, Ru-bên, và Ma-na-xe. Người chiếm đất từ A-rê-e bên hố Ạc-nôn qua suốt Ghi-lê-át cho đến Ba-san.
2KI 10:34 Những công việc khác của Giê-hu làm từ mọi công trạng cho đến các chiến thắng của ông đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 10:35 Giê-hu qua đời và được chôn ở Xa-ma-ri. Giô-a-cha, con trai ông lên nối ngôi.
2KI 10:36 Giê-hu làm vua trên Ít-ra-en ở Xa-ma-ri hai mươi tám năm.
2KI 11:1 Khi A-tha-lia, mẹ A-cha-xia, thấy con mình đã chết liền giết sạch mọi người trong hoàng gia.
2KI 11:2 Nhưng Giô-sê-ba, con gái vua Giô-ram và là chị của A-cha-xia, bắt Giô-ách, con trai A-cha-xia. Trong khi các con trai vua đang bị giết thì cô bồng trộm Giô-ách đem đi giấu. Cô mang Giô-ách và vú nuôi để trong một phòng ngủ giấu khỏi A-tha-lia nên cậu ta không bị giết.
2KI 11:3 Cậu trốn trong đền thờ của CHÚA trong sáu năm cùng với người vú nuôi. Trong khi đó A-tha-lia cai trị trên xứ.
2KI 11:4 Đến năm thứ bảy Giê-hô-gia-đa mời các cấp chỉ huy hàng trăm người Ca-rít và binh sĩ phòng vệ lại. Ông mang họ vào trong đền thờ của CHÚA và kết ước với họ. Ông bắt họ tuyên thệ trung thành trong đền thờ CHÚA rồi ông trình diện con trai vua cho họ.
2KI 11:5 Ông ra chỉ thị như sau, “Các ngươi phải làm thế nầy. Một phần ba các ngươi cứ lên phiên gác cung vua vào ngày Sa-bát.
2KI 11:6 Một phần ba các ngươi sẽ có mặt ở Cổng Su-rơ và một phần ba còn lại sẽ có mặt ở cổng phía sau toán canh gác. Như thế các ngươi sẽ canh phòng đền thờ.
2KI 11:7 Hai nhóm xuống phiên gác có nhiệm vụ bảo vệ đền thờ của CHÚA cho vua.
2KI 11:8 Tất cả các ngươi phải đứng vây quanh vua, mỗi người cầm vũ khí trong tay. Hễ ai đến gần vua thì các ngươi phải giết nó. Khi vua đi vào ra lúc nào các ngươi cũng phải đi sát bên vua.”
2KI 11:9 Các viên chỉ huy những toán một trăm người vâng theo mọi điều thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa căn dặn. Mỗi người đưa những binh sĩ dưới quyền lên phiên gác trong ngày Sa-bát và những binh sĩ xuống phiên trong ngày đó. Họ đến trình diện thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.
2KI 11:10 Ông trao cho các viên chỉ huy những giáo và khiên vốn thuộc về vua Đa-vít và xưa nay vẫn được cất giữ trong đền thờ CHÚA.
2KI 11:11 Rồi mỗi binh sĩ canh gác đứng vào vị trí, trong tay cầm vũ khí. Từ phía nam cho đến phía bắc của đền thờ đều có lính gác. Họ đứng quanh bàn thờ và đền thờ, để bảo vệ tứ phía cho vua.
2KI 11:12 Giê-hô-gia-đa mang con trai vua ra, đội mão triều lên đầu và trao cho cậu một bản giao ước. Họ cử cậu lên làm vua và đổ dầu ô liu trên cậu. Rồi tất cả vỗ tay tung hô, “Vua vạn tuế!”
2KI 11:13 Khi A-tha-lia nghe tiếng ồn ào của các lính canh và dân chúng thì bà đi đến tìm họ ở đền thờ của CHÚA.
2KI 11:14 Bà nhìn và vô cùng ngạc nhiên khi thấy vua đang đứng bên cây trụ theo thông lệ. Các sĩ quan và các người thổi kèn đứng bên cạnh vua, còn tất cả dân chúng trong xứ rất hân hoan và đang thổi kèn. A-tha-lia liền xé quần áo mình và la lên, “Phản loạn, phản loạn!”
2KI 11:15 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa ra lệnh cho các viên chỉ huy hàng trăm người là những người chỉ huy quân đội. Ông bảo, “Hãy lôi bà ra khỏi hàng quân và hễ ai đi theo bà thì giết chết.” Ông ra lệnh nầy vì ông đã bảo, “Không nên giết A-tha-lia trong đền thờ CHÚA.”
2KI 11:16 Vậy họ bắt bà và mang đến cổng ngựa gần cung vua, rồi giết bà tại đó.
2KI 11:17 Sau đó Giê-hô-gia-đa lập giao ước với CHÚA và vua cùng dân chúng để họ làm dân riêng cho Ngài. Ông cũng lập ước giữa vua với dân chúng.
2KI 11:18 Tất cả dân cư trong xứ kéo đến phá sập đền thờ Ba-anh, đập bể bàn thờ và các hình tượng nó. Họ cũng giết Mát-tanh, thầy tế lễ của Ba-anh ngay trước bàn thờ. Rồi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đặt lính gác đền thờ CHÚA.
2KI 11:19 Ông mang các viên chỉ huy các toán hàng trăm người cùng những người Ca-rít, và các lính canh cùng toàn thể dân cư trong xứ. Họ đồng mang vua ra khỏi đền thờ CHÚA và đưa vào cung vua qua cổng lính canh. Rồi vua lên ngồi trên ngai vua.
2KI 11:20 Tất cả dân chúng trong xứ rất vui mừng, Giê-ru-sa-lem được hoà bình vì A-tha-lia đã bị giết bằng gươm nơi cung vua.
2KI 11:21 Giô-ách được bảy tuổi khi lên làm vua.
2KI 12:1 Giô-ách lên ngôi vua Giu-đa trong năm thứ bảy đời vua Giê-hu của Ít-ra-en. Ông cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua là Xi-bia, người gốc Bê-e-sê-ba.
2KI 12:2 Giô-ách làm điều thiện trước mặt CHÚA theo như thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã dạy mình.
2KI 12:3 Nhưng vua không phá bỏ những nơi thờ thần; dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương tại các nơi ấy.
2KI 12:4 Giô-ách bảo các thầy tế lễ, “Hãy thu các món tiền người ta dâng cho đền thờ CHÚA. Các món tiền đó gồm thuế thân và tiền mọi người tự nguyện dâng cho CHÚA.
2KI 12:5 Mỗi thầy tế lễ phải thu số tiền của số người mình phục vụ. Rồi các thầy tế lễ phải sửa chữa những nơi hư hại mình thấy trong đền thờ.”
2KI 12:6 Nhưng cho đến năm thứ hai mươi ba đời vua Giô-ách mà các thầy tế lễ vẫn chưa sửa sang đền thờ.
2KI 12:7 Nên vua Giô-ách gọi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa và các thầy tế lễ khác đến hỏi, “Tại sao các anh vẫn chưa sửa sang những chỗ hư trong đền thờ? Thôi đừng thu tiền của dân chúng nữa mà hãy trao số tiền đã thu để sửa chữa đền thờ.”
2KI 12:8 Các thầy tế lễ đồng ý không thu tiền của dân chúng nữa và cũng không tự lo việc sửa chữa đền thờ.
2KI 12:9 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấy một cái hộp và đục một lỗ trên nắp. Rồi ông để hộp ấy bên phải bàn thờ nơi dân chúng đi vào đền thờ CHÚA. Các thầy tế lễ giữ cửa bỏ số tiền mà dân chúng mang vào đền thờ của CHÚA vào hộp.
2KI 12:10 Hễ khi nào thầy tế lễ thấy hộp đầy tiền thì chánh văn phòng của vua và thầy tế lễ thượng phẩm đến. Họ đếm số tiền đã được mang vào đền thờ CHÚA và bỏ vào trong các bao.
2KI 12:11 Sau đó họ cân tiền và trao cho những người chịu trách nhiệm về công tác trong đền thờ. Với số tiền ấy, họ thuê thợ mộc và nhân công xây cất làm việc trong đền thờ CHÚA,
2KI 12:12 cùng những thợ nề và thợ đẽo đá. Họ cũng dùng tiền ấy mua gỗ và đá đẽo để sửa chữa những chỗ hư hại trong đền thờ CHÚA. Số tiền ấy trang trải tất cả mọi phí tổn.
2KI 12:13 Số tiền do dân chúng dâng cho đền thờ CHÚA nhưng các thầy tế lễ không được dùng số tiền ấy để làm các chén bạc, kéo hớt tim đèn, các chậu, kèn, cùng các dụng cụ bằng vàng hay bạc.
2KI 12:14 Họ chỉ được dùng tiền đó để trả cho nhân công sửa chữa đền thờ CHÚA.
2KI 12:15 Họ không phải khai báo số tiền đó được chi dụng ra sao vì các nhân viên đều lương thiện và đáng tin cẩn.
2KI 12:16 Số tiền từ của lễ đền bù và của lễ chuộc tội không mang vào đền thờ CHÚA vì nó thuộc về các thầy tế lễ.
2KI 12:17 Lúc ấy Ha-xa-ên, vua A-ram tấn công vùng Gát và chiếm lấy vùng đó. Rồi người đi đến tấn công Giê-ru-sa-lem.
2KI 12:18 Giô-ách, vua Giu-đa lấy tất cả các vật thánh mà tổ tiên mình để lại, tức các vua Giu-đa: Giô-xa-phát, Giê-hô-ram, và A-cha-xia. Ông cũng lấy những món đồ thánh của mình cùng vàng nằm trong ngân khố của đền thờ CHÚA và vàng từ cung vua. Giô-ách gởi các món đó cho Ha-xa-ên, vua A-ram. Vua liền thôi không tấn công Giê-ru-sa-lem nữa.
2KI 12:19 Mọi việc khác Giô-ách làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 12:20 Các sĩ quan của ông âm mưu phản nghịch và giết ông ở Bết-Mi-lô trên con đường xuống Xi-la.
2KI 12:21 Các sĩ quan giết ông là Giô-sa-bát, con trai Si-mê-át, và Giê-hô-xa-bát, con trai Sô-me. Giô-ách được chôn cất cùng nơi với các tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem. A-ma-xia, con trai ông lên kế vị.
2KI 13:1 Giô-a-cha, con Giê-hu lên ngôi vua cai trị Ít-ra-en ở Xa-ma-ri vào năm thứ hai mươi ba đời Giô-ách, con A-cha-xia, đang làm vua Giu-đa. Giô-a-cha cai trị mười bảy năm.
2KI 13:2 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giô-a-cha phạm những tội giống như Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát đã phạm. Giê-rô-bô-am xúi giục dân Ít-ra-en phạm tội, Giô-a-cha cũng phạm tội y như thế.
2KI 13:3 Nên CHÚA nổi giận cùng Ít-ra-en và trao họ vào tay Ha-xa-ên, vua A-ram cùng con trai người là Bên-ha-đát trong một thời gian khá lâu.
2KI 13:4 Sau đó Giô-a-cha van xin CHÚA. Ngài nghe lời vua. CHÚA nhìn thấy sự khốn khổ của Ít-ra-en. Ngài thấy A-ram ngược đãi họ ra sao.
2KI 13:5 Ngài ban cho Ít-ra-en một người giải cứu nên họ thoát khỏi tay người A-ram. Dân Ít-ra-en lại được ở trong nhà cửa mình như trước,
2KI 13:6 nhưng họ không ngưng phạm những tội như gia đình Giê-rô-bô-am đã phạm. Người đã xúi dân Ít-ra-en phạm tội, và họ tiếp tục phạm những tội đó. Họ cũng để thần tượng A-sê-ra đứng y nguyên tại Xa-ma-ri.
2KI 13:7 Trong hàng ngũ quân đội Giô-a-cha không còn lại gì cả ngoại trừ năm mươi lính cỡi ngựa, mười quân xa và mười ngàn bộ binh. Vua A-ram đã tiêu diệt họ, biến họ ra như trấu.
2KI 13:8 Mọi việc khác Giô-a-cha làm, những chiến công của ông đều được ghi trong sách sử ký của các vua Ít-ra-en.
2KI 13:9 Giô-a-cha qua đời và được chôn ở Xa-ma-ri. Con trai vua là Giê-hô-ách lên kế vị.
2KI 13:10 Giê-hô-ách, con Giô-a-cha lên ngôi vua Ít-ra-en vào năm thứ ba mươi bảy đời Giô-ách, vua Giu-đa. Ông cai trị mười sáu năm.
2KI 13:11 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Ông phạm những tội mà Giê-rô-bô-am, con Nê-bát đã phạm. Giê-rô-bô-am hướng dẫn dân Ít-ra-en phạm tội, Giê-hô-ách cũng làm y như thế.
2KI 13:12 Mọi việc khác ông làm, những chiến công của ông như trận đánh giữa ông với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 13:13 Giê-hô-ách qua đời. Giê-rô-bô-am lên ngôi kế vị. Giê-hô-ách được chôn ở Xa-ma-ri cùng với các vua Ít-ra-en.
2KI 13:14 Lúc đó Ê-li-sê bị đau. Trước khi ông qua đời, Giê-hô-ách vua Ít-ra-en đến thăm và khóc than cho ông. Giê-hô-ách khóc, “Cha tôi ôi, cha tôi ôi! Có phải nay là thời kỳ của quân xa và lính cỡi ngựa của Ít-ra-en không?”
2KI 13:15 Ê-li-sê bảo Giê-hô-ách, “Hãy lấy cung tên.” Vậy ông lấy cung và tên.
2KI 13:16 Ê-li-sê bảo, “Hãy giương cung lên.” Giê-hô-ách liền giương cung. Rồi Ê-li-sê đặt tay ông trên tay vua.
2KI 13:17 Ê-li-sê bảo, “Hãy mở cửa sổ phía đông ra.” Giê-hô-ách liền mở cửa sổ. Ê-li-sê-liền bảo, “Hãy bắn đi.” Giê-hô-ách bắn. Ê-li-sê tiếp, “Đó là tên của CHÚA chiến thắng A-ram! Ngươi sẽ đánh bại quân A-ram ở A-phéc cho đến khi tận diệt chúng nó.”
2KI 13:18 Ê-li-sê bảo tiếp, “Hãy lấy tên.” Giê-hô-ách liền lấy tên. Ê-li-sê bảo, “Hãy đập xuống đất.” Giê-hô-ách liền đập xuống đất ba lần rồi ngừng.
2KI 13:19 Người của CHÚA nổi giận cùng vua. Ê-li-sê bảo, “Đáng lẽ ngươi phải đập năm sáu lần thì mới tận diệt quân A-ram được. Nhưng bây giờ ngươi chỉ thắng được chúng có ba lần thôi.”
2KI 13:20 Sau đó Ê-li-sê qua đời và được chôn cất. Trong lúc đó có những toán dân Mô-áp đi quấy phá đất đai vào mùa xuân.
2KI 13:21 Có lần một số người Ít-ra-en đang chôn cất một xác, bỗng nhiên họ thấy quân Mô-áp đến. Người Ít-ra-en liền quăng xác vào mộ Ê-li-sê. Khi xác ấy đụng đến xương cốt Ê-li-sê, thì xác chết sống lại, và đứng lên.
2KI 13:22 Trong suốt thời gian Giô-a-cha làm vua, Ha-xa-ên, vua A-ram, thường hay quấy nhiễu dân Ít-ra-en.
2KI 13:23 Nhưng CHÚA rất nhân từ cùng Ít-ra-en; Ngài thương xót họ và giúp đỡ họ vì giao ước của Ngài với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Cho đến nay Ngài không hề tiêu diệt họ hay gạt bỏ họ khỏi mặt Ngài.
2KI 13:24 Khi Ha-xa-ên, vua A-ram, qua đời thì Bên-ha-đát, con trai ông, lên nối ngôi.
2KI 13:25 Trong một trận đánh, Ha-xa-ên chiếm các thành từ Giô-a-cha, cha Giê-hô-ách. Nay Giê-hô-ách chiếm lại các thành đó từ Bên-ha-đát, con của Ha-xa-ên. Ông đánh bại Bên-ha-đát ba lần và lấy lại các thành của Ít-ra-en.
2KI 14:1 A-ma-xia, con Giô-ách lên làm vua Giu-đa vào năm thứ hai đời vua Giê-hô-ách, con Giô-a-cha làm vua Ít-ra-en.
2KI 14:2 A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông là Giê-hô-đinh, gốc ở Giê-ru-sa-lem.
2KI 14:3 A-ma-xia làm điều thiện trước mặt CHÚA. Ông làm mọi điều như Giô-ách, cha mình đã làm nhưng không được như Đa-vít, tổ tiên mình.
2KI 14:4 Vua không dẹp bỏ các nơi thờ cúng địa phương, cho nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương tại đó.
2KI 14:5 Khi A-ma-xia vừa kiểm soát được nước xong liền xử tử những sĩ quan đã giết cha mình.
2KI 14:6 Nhưng ông không giết con cái của đúng theo luật trong Sách Giáo Huấn của Mô-se. CHÚA đã truyền: “Cha mẹ sẽ không bị xử tử khi con cái làm quấy. Con cái cũng không bị xử tử khi cha mẹ làm quấy. Ai làm lỗi thì người ấy phải chịu hình phạt.”
2KI 14:7 Trong một cuộc chiến A-ma-xia giết mười ngàn người Ê-đôm trong Thung lũng Muối. Ông cũng chiếm thành Sê-la và gọi thành đó là Giốc-tên, ngày nay vẫn còn mang tên đó.
2KI 14:8 A-ma-xia sai sứ đến Giê-hô-ách, con Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Ít-ra-en. Các sứ giả bảo, “Hãy đến, chúng ta hãy gặp mặt nhau.”
2KI 14:9 Giê-hô-ách, vua Ít-ra-en, trả lời với A-ma-xia, vua Giu-đa rằng, “Bụi gai ở Li-băng sai nhắn với cây hương nam ở Li-băng. Nó bảo, ‘Hãy cho con gái anh lấy con trai tôi.’ Nhưng có một thú rừng từ Li-băng đi ngang qua dẫm nát bụi gai.
2KI 14:10 Vua đã đánh bại Ê-đôm rồi đâm ra tự phụ. Thôi hãy ở nhà mà huênh hoang đi. Đừng kiếm chuyện, nếu không cả vua lẫn Giu-đa đều sẽ bị đánh bại.”
2KI 14:11 Nhưng A-ma-xia không chịu nghe nên Giê-hô-ách, vua Ít-ra-en, kéo ra tấn công. Giê-hô-ách và A-ma-xia, vua Giu-đa, đối nghịch nhau trong trận đánh ở Bết-sê-mết ở Giu-đa.
2KI 14:12 Ít-ra-en đánh bại Giu-đa đến nỗi mọi người trong Giu-đa đều chạy trốn về nhà mình.
2KI 14:13 Giê-hô-ách, vua Ít-ra-en, bắt được A-ma-xia, vua Giu-đa, ở Bết Sê-mết. A-ma-xia là con Giô-ách, cháu A-cha-xia. Giê-hô-ách liền đi lên Giê-ru-sa-lem phá sập vách từ Cửa Ép-ra-im cho đến Cửa Góc, dài khoảng hai trăm thước.
2KI 14:14 Ông lấy tất cả vàng, bạc và mọi vật dụng trong đền thờ CHÚA, đồng thời lấy luôn các kho báu trong cung điện và một số con tin rồi trở về Xa-ma-ri.
2KI 14:15 Các việc khác của Giê-hô-ách, những chiến công của vua cùng các cuộc giao chiến với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 14:16 Giê-hô-ách qua đời và được chôn ở Xa-ma-ri cùng với các vua Ít-ra-en. Giê-rô-bô-am, con trai vua lên nối ngôi.
2KI 14:17 A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa, còn sống thêm mười lăm năm sau khi Giê-hô-ách, con Giô-a-cha, vua Ít-ra-en, qua đời.
2KI 14:18 Các việc khác của A-ma-xia làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 14:19 Dân chúng Giê-ru-sa-lem lập mưu phản vua nên ông chạy trốn đến thị trấn La-kích, nhưng họ rượt theo đến La-kích và giết ông tại đó.
2KI 14:20 Họ mang xác ông về trên lưng ngựa rồi chôn cất ông cùng nơi với các tổ tiên ở Giê-ru-sa-lem, trong thành Đa-vít.
2KI 14:21 Rồi toàn dân Giu-đa lập A-xa-ria làm vua thế cho A-ma-xia, cha mình. A-xa-ria được mười sáu tuổi khi lên ngôi.
2KI 14:22 Ông là người xây lại thị trấn Ê-lát và sáp nhập thị trấn ấy vào Giu-đa sau khi A-ma-xia qua đời.
2KI 14:23 Giê-rô-bô-am, con trai Giê-hô-ách lên ngôi vua Ít-ra-en và cai trị ở Xa-ma-ri vào năm thứ mười lăm đời vua A-ma-xia, vua Giu-đa. A-ma-xia là con Giô-ách. Giê-rô-bô-am trị vì bốn mươi mốt năm.
2KI 14:24 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội, Giê-rô-bô-am con Giô-ách cũng làm y như thế.
2KI 14:25 Giê-rô-bô-am là người chiếm lại biên giới Ít-ra-en từ Lê-bô-Ha-mát cho đến Biển Chết. Việc đó xảy ra đúng y như lời CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en đã phán qua tôi tớ Ngài là Giô-na, con trai A-mi-tai, nhà tiên tri từ Gát Hê-phe.
2KI 14:26 CHÚA đã nhìn thấy dân Ít-ra-en, cả nô lệ lẫn tự do, đang chịu khốn đốn quá mức. Không còn ai có thể cứu giúp Ít-ra-en được.
2KI 14:27 CHÚA không nói rằng Ngài sẽ hoàn toàn tiêu diệt tên Ít-ra-en khỏi mặt đất nên Ngài dùng Giê-rô-bô-am, con Giô-ách giải cứu Ít-ra-en.
2KI 14:28 Mọi việc khác Giê-rô-bô-am làm đều được ghi lại, cùng với các chiến công của ông và việc ông chiếm lại các thị trấn Đa-mách và Ha-mát cho Ít-ra-en đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 14:29 Giê-rô-bô-am qua đời và được chôn chung với các tổ tiên mình tức các vua Ít-ra-en. Xa-cha-ri, con trai Giê-rô-bô-am lên nối ngôi.
2KI 15:1 A-xa-ria, con trai A-ma-xia lên ngôi vua Giu-đa vào năm thứ hai mươi bảy triều đại Giê-rô-bô-am, vua Ít-ra-en.
2KI 15:2 A-xa-ria được mười sáu tuổi khi lên ngôi vua. Ông trị vì năm mươi hai năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông là Giê-cô-lia, người gốc Giê-ru-sa-lem.
2KI 15:3 Ông làm điều thiện trước mặt CHÚA y như A-ma-xia, cha mình đã làm.
2KI 15:4 Nhưng ông không tháo bỏ các nơi thờ cúng địa phương cho nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương ở các nơi đó.
2KI 15:5 CHÚA khiến A-xa-ria mắc bệnh ngoài da kéo dài cho đến khi vua mất. Vì thế A-xa-ria phải ở một nhà riêng. Giô-tham, con vua, quản lý cung vua và cai trị trên xứ.
2KI 15:6 Các việc khác vua A-xa-ria làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 15:7 A-xa-ria qua đời và được chôn gần mộ các tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem. Giô-tham, con trai vua lên kế vị.
2KI 15:8 Xa-cha-ri, con trai Giê-rô-bô-am, lên ngôi vua Ít-ra-en ở Xa-ma-ri. Ông cai trị sáu tháng vào năm thứ ba mươi tám triều vua U-xia, vua Giu-đa.
2KI 15:9 Xa-cha-ri làm điều ác trước mặt CHÚA y như các tổ tiên mình đã làm. Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đã dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội, Xa-cha-ri cũng làm y như thế.
2KI 15:10 Sa-lum, con Gia-bết, lập mưu phản Xa-cha-ri và giết vua ngay trước mặt dân chúng ở Íp-lê-am. Rồi Sa-lum lên ngôi vua thế cho ông.
2KI 15:11 Các việc khác Xa-cha-ri làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 15:12 CHÚA đã phán cùng Giê-hu: “Con cháu ngươi sẽ làm vua trên Ít-ra-en đến đời chít ngươi,” và điều đó đã thành sự thật.
2KI 15:13 Sa-lum, con Gia-bết lên ngôi vua vào năm thứ ba mươi chín đời U-xia, vua Giu-đa. Sa-lum cai trị một tháng tại Xa-ma-ri.
2KI 15:14 Lúc đó Mê-na-hem, con Ga-đi, từ Thiệt-xa kéo lên Xa-ma-ri tấn công Sa-lum, con Gia-bết. Mê-na-hem giết vua và lên ngôi thế cho Sa-lum.
2KI 15:15 Các việc khác Sa-lum làm cùng những kế hoạch kín của ông đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 15:16 Mê-na-hem từ Thiệt-xa kéo lên tấn công Típ-xa, tiêu diệt thành đó cùng vùng phụ cận vì dân cư thành đó không chịu mở cửa thành cho người. Ông đánh bại họ và mổ bụng các đàn bà chửa.
2KI 15:17 Mê-na-hem, con Ga-đi, lên ngôi vua Ít-ra-en vào năm thứ ba mươi chín đời U-xia, vua Giu-đa. Mê-na-hem cai trị mười năm tại Xa-ma-ri.
2KI 15:18 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, dẫn dụ Ít-ra-en phạm tội còn Mê-na-hem suốt đời cũng phạm tội y như thế.
2KI 15:19 Phu-lơ, vua A-xi-ri kéo lên đánh xứ. Mê-na-hem trao cho vua khoảng bảy mươi lăm ngàn cân bạc để Phu-lơ ủng hộ mình và củng cố địa vị trên nước mình.
2KI 15:20 Mê-na-hem đánh thuế người giàu và có thế lực, mỗi đầu người hai mươi lượng bạc và dùng tiền đó trả cho vua A-xy-ri. Cho nên vua A-xi-ri đi về, không ở lại trong xứ Ít-ra-en.
2KI 15:21 Mọi việc khác Mê-na-hem làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 15:22 Rồi Mê-na-hem qua đời, con trai ông là Bê-ca-nia, lên nối ngôi.
2KI 15:23 Bê-ca-nia, con trai Mê-na-hem, lên ngôi vua Ít-ra-en ở Xa-ma-ri vào năm thứ năm mươi đời vua U-xia, vua Giu-đa. Bê-ca-nia cai trị hai năm.
2KI 15:24 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am con trai Nê-bát dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội còn Bê-ca-nia cũng làm y như thế.
2KI 15:25 Bê-ca, con trai Rê-ma-lia, là một trong những sĩ quan của Bê-ca-nia. Bê-ca lập mưu phản Bê-ca-nia. Ông mang năm mươi người từ Ghi-lê-át đi với mình và giết Bê-ca-nia cùng với Ạc-gốp và A-ri-ê trong cung vua tại Xa-ma-ri. Rồi Bê-ca lên ngôi thế cho Bê-ca-nia.
2KI 15:26 Mọi việc khác Bê-ca-nia làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 15:27 Bê-ca, con Rê-ma-lia lên ngôi vua ở Xa-ma-ri vào năm thứ năm mươi hai đời U-xia, vua Giu-đa. Bê-ca cai trị hai mươi năm.
2KI 15:28 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát đã dẫn dụ dân Ít-ra-en phạm tội thì Bê-ca cũng phạm tội y như thế.
2KI 15:29 Tiếc-lác Phi-lê-xe làm vua A-xy-ri. Trong khi Bê-ca đang làm vua trên Ít-ra-en thì vua A-xy-ri kéo đến tấn công và chiếm được các thành Y-giông, A-bên Bết-Ma-a-ca, Gia-nô-ra, Kê-đết, và Hát-so. Ông cũng chiếm Ghi-lê-át và Ga-li-lê cùng vùng đất Nép-ta-li và đày dân chúng sang A-xi-ri.
2KI 15:30 Sau đó Hô-sê, con Ê-la, lập mưu nghịch Bê-ca, con trai Rê-ma-lia, đánh và giết vua. Rồi Hô-sê lên ngôi vua thế cho Bê-ca vào năm thứ hai mươi đời vua Giô-tham, con trai U-xia.
2KI 15:31 Mọi việc khác Bê-ca làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Ít-ra-en.
2KI 15:32 Giô-tham, con trai U-xia lên ngôi vua Giu-đa vào năm thứ hai đời Bê-ca, con trai Rê-ma-lia, vua Ít-ra-en.
2KI 15:33 Giô-tham được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và cai trị mười sáu năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Giê-ru-sa, con gái Xa-đốc.
2KI 15:34 Giô-tham làm điều thiện y như U-xia, cha mình đã làm.
2KI 15:35 Nhưng vua không tháo gỡ những nơi thờ cúng địa phương cho nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương tại đó. Giô-tham xây lại Cổng Trên của đền thờ CHÚA.
2KI 15:36 Các việc khác Giô-tham làm trong khi ngự trên ngôi vua đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 15:37 Lúc đó CHÚA bắt đầu sai Rê-xin, vua A-ram, và Bê-ca, con Rê-ma-lia, nghịch lại Giu-đa.
2KI 15:38 Giô-tham qua đời và được chôn với các tổ tiên mình ở Giê-ru-sa-lem, thành Đa-vít, tổ tiên mình. Rồi A-cha, con trai Giô-tham lên nối ngôi.
2KI 16:1 A-cha là con trai Giô-tham, vua Giu-đa. A-cha lên ngôi vua cai trị Giu-đa vào năm thứ mười bảy đời Bê-ca, con Rê-ma-lia, vua Ít-ra-en.
2KI 16:2 A-cha được hai mươi tuổi khi lên ngôi vua và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. A-cha chẳng làm điều thiện trước mặt CHÚA là Thượng Đế mình, không như Đa-vít, tổ tiên mình.
2KI 16:3 A-cha làm mọi điều như các vua Ít-ra-en đã làm. Thậm chí ông dùng con trai mình làm của lễ thiêu. Ông phạm những tội đáng ghê tởm như các dân mà CHÚA đã đuổi ra khỏi xứ trước khi dân Ít-ra-en đến.
2KI 16:4 A-cha dâng sinh tế và đốt hương ở những nơi thờ cúng địa phương, trên các đồi và dưới mỗi cây xanh.
2KI 16:5 Rê-xin, vua A-ram và Bê-ca, con Rê-ma-lia, vua Ít-ra-en, kéo lên tấn công Giê-ru-sa-lem. Họ vây A-cha nhưng không thắng nổi ông.
2KI 16:6 Trong lúc đó Rê-xin, vua A-ram lấy lại thành Ê-lát về cho A-ram. Ông trục xuất tất cả người Giu-đa ra khỏi đó rồi người Ê-đôm vào ở trong Ê-lát. Cho đến ngày nay họ vẫn còn ở đó.
2KI 16:7 A-cha sai sứ đến Tiếc-lác Phi-lê-xe, vua A-xy-ri, nói rằng, “Tôi là bạn và là tôi tớ vua. Xin hãy đến giúp tôi khỏi tay vua A-ram và vua Ít-ra-en đang tấn công tôi.”
2KI 16:8 A-cha lấy vàng và bạc trong đền thờ CHÚA và trong ngân khố cung vua đem dâng cho vua A-xy-ri.
2KI 16:9 Vậy vua A-xy-ri bằng lòng nghe lời A-cha. Ông tấn công Đa-mách và chiếm thành đó rồi đày tất cả dân chúng đi sang Kia. Vua cũng giết Rê-xin.
2KI 16:10 Sau đó vua A-cha đi đến Đa-mách để ra mắt Tiếc-lác Phi-lê-xe, vua A-xy-ri. Vua A-cha trông thấy một bàn thờ ở Đa-mách liền gởi mẫu và sơ đồ của bàn thờ về cho thầy tế lễ U-ri.
2KI 16:11 Vậy thầy tế lễ U-ri xây một bàn thờ giống như sơ đồ mà vua A-cha gởi đến cho mình từ Đa-mách. U-ri hoàn tất bàn thờ trước khi vua A-cha từ Đa-mách trở về.
2KI 16:12 Khi vua từ Đa-mách trở về trông thấy bàn thờ liền đi đến dâng sinh tế trên đó.
2KI 16:13 Vua dâng của lễ thiêu, của lễ chay và đổ của lễ uống ra. Vua cũng rảy huyết của của lễ thân hữu trên bàn thờ.
2KI 16:14 A-cha dời bàn thờ bằng đồng trước mặt CHÚA ở phía trước đền thờ. Nó vốn nằm giữa bàn thờ của vua A-cha và đền thờ của CHÚA, nhưng vua dời nó nằm về phía bắc của bàn thờ mình.
2KI 16:15 Vua A-cha truyền cho thầy tế lễ U-ri như sau, “Trên bàn thờ lớn hãy đốt các của lễ thiêu vào buổi sáng, của lễ chay vào buổi chiều, của lễ thiêu và của lễ chay của vua, của lễ toàn thiêu, của lễ chay, và của lễ uống cho toàn thể dân chúng trong xứ. Hãy rưới huyết của tất cả các của lễ thiêu và sinh tế trên bàn thờ. Nhưng ta sẽ dùng bàn thờ bằng đồng để cầu hỏi ý Thượng Đế.”
2KI 16:16 Vậy thầy tế lễ U-ri làm mọi điều y như vua A-cha đã dặn mình.
2KI 16:17 Rồi vua A-cha gỡ các tấm che quanh hông các đế và gỡ các chậu rửa trên đầu các đế. Vua cũng lấy cái chậu lớn gọi là Cái Biển, khỏi các con bò đực chống đỡ nó và đặt trên một cái đế bằng đá.
2KI 16:18 A-cha cũng cho gỡ bỏ cái bục có mái che dùng trong ngày Sa-bát đã được đóng nơi đền vua. Ông cũng gỡ cửa bên ngoài lối vào cho vua. Ông làm những điều ấy là vì sợ vua A-xy-ri.
2KI 16:19 Các việc khác A-cha làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 16:20 A-cha qua đời và được chôn với các tổ tiên ở Giê-ru-sa-lem. Ê-xê-chia, con A-cha lên nối ngôi.
2KI 17:1 Ô-sê, con trai Ê-la, lên ngôi vua Ít-ra-en vào năm thứ mười hai đời A-cha, vua Giu-đa. Ô-sê cai trị ở Xa-ma-ri chín năm.
2KI 17:2 Vua làm điều ác trước mặt CHÚA, nhưng không tệ hại bằng các vua Ít-ra-en trước mình.
2KI 17:3 Sanh-ma-na-xe, vua A-xy-ri, kéo lên tấn công Ô-sê. Ô-sê đã phải thần phục Sanh-ma-na-xe và nộp triều cống cho vua ấy.
2KI 17:4 Nhưng vua A-xy-ri khám phá ra Ô-sê âm mưu phản nghịch mình bằng cách phái sứ giả đến Sô, vua Ai-cập. Ô-sê cũng ngưng nộp triều cống cho Sanh-ma-na-xe như trước kia vua vẫn làm hằng năm. Vì thế vua A-xy-ri bắt nhốt Ô-sê.
2KI 17:5 Rồi vua A-xy-ri đến tấn công toàn xứ Ít-ra-en. Vua vây Xa-ma-ri và tấn công nó trong ba năm.
2KI 17:6 Đến năm thứ chín đời vua Ô-sê thì vua đánh thắng Xa-ma-ri và đày dân Ít-ra-en qua A-xy-ri. Ông cho họ định cư ở Ha-lát, miền Gô-san, trên sông Ha-bo, và trong các thành phố nước Mê-đi.
2KI 17:7 Tất cả những điều đó xảy ra vì dân Ít-ra-en đã phạm tội cùng CHÚA là Thượng Đế mình. Ngài đã mang họ ra khỏi Ai-cập và giải cứu họ khỏi quyền lực của vua Ai-cập nhưng dân Ít-ra-en lại kính thờ các thần khác.
2KI 17:8 Họ sống như các dân tộc mà CHÚA đã đuổi ra khỏi xứ trước khi họ đến. Họ sống theo như các vua làm ác của họ xúi giục,
2KI 17:9 lén lút phạm tội nghịch cùng CHÚA là Thượng Đế mình. Họ xây các nơi thờ cúng địa phương trong các thành phố mình, từ tháp canh cho đến thành có vách kiên cố.
2KI 17:10 Họ dựng các trụ đá cho các tà thần và tượng A-sê-ra trên mỗi đồi cao và dưới mỗi cây xanh.
2KI 17:11 Dân Ít-ra-en đốt hương tại nơi nào họ thờ cúng địa phương giống như các dân sống trước họ ở đó đã làm, các dân mà CHÚA đã đuổi ra khỏi xứ. Dân Ít-ra-en làm những điều ác chọc giận CHÚA.
2KI 17:12 Họ thờ các thần tượng mặc dù CHÚA đã cảnh cáo, “Các ngươi không được làm như thế.”
2KI 17:13 CHÚA dùng mọi nhà tiên tri và tiên kiến để cảnh cáo Ít-ra-en và Giu-đa. Ngài bảo, “Hãy từ bỏ đường lối gian ác của các ngươi và vâng theo mệnh lệnh cùng luật lệ ta. Hãy vâng theo những lời giáo huấn ta truyền cho tổ tiên các ngươi, những huấn lệnh mà ta ban cho các ngươi qua các tôi tớ ta là các nhà tiên tri.”
2KI 17:14 Nhưng dân chúng không chịu nghe. Họ ương ngạnh giống y như tổ tiên họ là những kẻ không chịu tin nơi CHÚA là Thượng Đế mình.
2KI 17:15 Họ gạt bỏ luật lệ CHÚA và giao ước mà Ngài đã lập với tổ tiên họ. Họ không chịu nghe lời cảnh cáo của Ngài. Họ thờ lạy các thần tượng vô dụng và chính mình cũng trở nên vô dụng. Họ làm giống như các dân tộc sống quanh họ, điều mà CHÚA cảnh cáo họ không được làm.
2KI 17:16 Dân chúng gạt bỏ mọi mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế mình. Họ đúc hai tượng bò con và làm một tượng A-sê-ra. Họ thờ lạy các ngôi sao trên trời và phục vụ Ba-anh.
2KI 17:17 Họ thiêu sống con trai con gái mình và tìm cách đoán tương lai bằng ma thuật và bùa ếm. Họ chọn làm điều ác trước mặt CHÚA, chọc giận Ngài.
2KI 17:18 Vì CHÚA nổi giận cùng dân Ít-ra-en nên Ngài dẹp bỏ họ khỏi trước mặt Ngài, chỉ còn chừa lại chi tộc Giu-đa mà thôi.
2KI 17:19 Thậm chí Giu-đa cũng không vâng theo mệnh lệnh CHÚA là Thượng Đế mình. Họ làm giống y như Ít-ra-en đã làm,
2KI 17:20 cho nên CHÚA gạt bỏ toàn dân Ít-ra-en. Ngài trừng phạt họ và để cho các dân khác tiêu diệt họ; Ngài ném họ ra khỏi trước mặt Ngài.
2KI 17:21 Khi CHÚA tách họ ra khỏi gia đình Đa-vít thì dân Ít-ra-en lập Giê-rô-bô-am, con Nê-bát làm vua. Giê-rô-bô-am dẫn dụ dân Ít-ra-en xa cách CHÚA và dẫn họ phạm tội tày đình.
2KI 17:22 Họ vẫn tiếp tục phạm các tội như Giê-rô-bô-am. Họ không ngưng phạm các tội đó
2KI 17:23 cho đến khi CHÚA dẹp bỏ dân Ít-ra-en ra khỏi trước mặt Ngài, như Ngài đã phán qua tất cả các tôi tớ Ngài là các nhà tiên tri. Vì thế dân Ít-ra-en bị đày đi khỏi xứ sang đất A-xy-ri, nơi họ vẫn ở cho đến ngày nay.
2KI 17:24 Vua A-xy-ri mang các dân từ Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt-va-im đến cho định cư trong các thành phố Xa-ma-ri thay thế cho dân Ít-ra-en. Các dân nầy chiếm Xa-ma-ri và ở trong các thành của họ.
2KI 17:25 Lúc đầu họ không thờ lạy CHÚA cho nên Ngài sai sư tử đến giết một số người trong vòng họ.
2KI 17:26 Vua A-xy-ri được báo cáo, “Vua cho một số người ngoại quốc vào ở trong các thành Xa-ma-ri. Họ không biết luật lệ của thần xứ đó cho nên Ngài sai sư tử đến. Sư tử giết họ vì họ không biết ý muốn của thần.”
2KI 17:27 Vua A-xy-ri liền truyền lệnh, “Hãy mang trả về một trong các thầy tế lễ mà các ngươi đã đày đi. Để người ở đó dạy dân chúng biết ý muốn của thần.”
2KI 17:28 Vậy một trong các thầy tế lễ đã bị đày từ Xa-ma-ri trở về sống ở Bê-tên. Ông dạy cho dân chúng biết cách thờ phụng CHÚA.
2KI 17:29 Nhưng mỗi một dân lập các thần lấy cho mình và đặt chúng trong các điện thờ nơi thành họ cư ngụ. Những điện thờ nầy trước kia do người Xa-ma-ri xây nên.
2KI 17:30 Dân Ba-by-lôn dựng thần Su-cốt-Bê-nốt. Dân Cu-tha thờ thần Nẹt-ganh. Dân Ha-mát thờ thần A-si-ma.
2KI 17:31 Người A-vít thờ thần Níp-ha và Tạc-tắc. Người Sê-phạt-va-im thiêu con mình trong lửa, dâng chúng nó cho Ách-ra-mê-léc và A-na-mê-léc, hai thần của Sê-phạt-va-im.
2KI 17:32 Họ cũng tôn thờ CHÚA nhưng tự chọn cho mình các thầy tế lễ cho nơi nào họ thờ tà thần. Họ tự chọn các thầy tế lễ trong số họ để dâng sinh tế cho dân chúng.
2KI 17:33 Dân chúng thờ phụng CHÚA nhưng cũng thờ phụng thần của mình như các dân tộc mà họ rời bỏ khi bị đày.
2KI 17:34 Cho đến ngày nay họ cũng làm y như thuở trước. Họ không thờ phụng CHÚA hay vâng theo qui tắc và mệnh lệnh Ngài. Họ không nghe theo lời giáo huấn hay mệnh lệnh của CHÚA mà Ngài đã truyền cho con cháu Gia-cốp, người mà Ngài đặt tên là Ít-ra-en.
2KI 17:35 CHÚA đã lập một giao ước với họ và truyền lệnh cho họ rằng, “Đừng tôn thờ các thần khác. Đừng quì lạy trước chúng nó, thờ phụng hay dâng sinh tế cho chúng.
2KI 17:36 Hãy thờ phụng CHÚA là Đấng mang ngươi ra khỏi xứ Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh Ngài. Hãy thờ lạy một mình Ngài và dâng sinh tế cho Ngài mà thôi.
2KI 17:37 Hãy luôn luôn vâng theo các qui tắc, mệnh lệnh, lời giáo huấn, và điều răn Ngài viết ra cho ngươi. Đừng tôn kính thần nào khác.
2KI 17:38 Đừng quên giao ước ta lập với ngươi, đừng tôn thờ thần nào khác.
2KI 17:39 Hãy thờ phụng CHÚA là Thượng Đế ngươi, Đấng giải cứu ngươi khỏi mọi kẻ thù.”
2KI 17:40 Nhưng dân Ít-ra-en không chịu nghe lời. Con cháu họ ngày nay vẫn tiếp tục làm giống như tổ tiên mình trước kia.
2KI 17:41 Cho nên các dân tộc đó tôn thờ CHÚA nhưng cũng thờ lạy các thần mình. Con cháu họ cũng làm y như tổ tiên mình cho đến ngày nay.
2KI 18:1 Ê-xê-chia, con trai A-cha, vua Giu-đa, lên ngôi vua vào năm thứ ba đời Ô-sê, con Ê-la, vua Ít-ra-en.
2KI 18:2 Ê-xê-chia được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên A-bi-gia, con gái Xa-cha-ri.
2KI 18:3 Ê-xê-chia làm điều thiện trước mặt CHÚA như tổ tiên mình là Đa-vít đã làm.
2KI 18:4 Ông giật sập các nơi thờ cúng địa phương. Ông đập bể các trụ đá và chặt tượng A-sê-ra. Dân Ít-ra-en trước kia cũng đốt hương cho Nê-hu-tan, con rắn bằng đồng mà Mô-se đã làm. Nhưng Ê-xê-chia bẻ nó ra từng khúc.
2KI 18:5 Ê-xê-chia tin cậy CHÚA, Thượng Đế duy nhất của Ít-ra-en. Trong tất cả các vua Giu-đa trước ông, không ai giống như ông, và sau ông cũng vậy.
2KI 18:6 Ê-xê-chia trung thành với CHÚA và luôn luôn đi theo Ngài; ông vâng theo các mệnh lệnh mà CHÚA đã truyền cho Mô-se.
2KI 18:7 Vì thế CHÚA ở cùng Ê-xê-chia, ông làm việc gì cũng thành công. Ông chống lại vua A-xy-ri, không chịu thần phục vua ấy nữa.
2KI 18:8 Ê-xê-chia đánh bại quân Phi-li-tin suốt đến Ga-xa và ranh giới chúng nó, luôn cả tháp canh và các thành có vách kiên cố.
2KI 18:9 Sanh-ma-na-xe, vua A-xy-ri bao vây Xa-ma-ri và tấn công thành ấy vào năm thứ tư đời vua Ê-xê-chia. Đó là vào năm thứ bảy đời Ô-sê, con Ê-la, vua Ít-ra-en.
2KI 18:10 Sau ba năm thì quân A-xy-ri chiếm được Xa-ma-ri, tức năm thứ sáu đời vua Ê-xê-chia, tức năm thứ chín đời Ô-sê, vua Ít-ra-en.
2KI 18:11 Vua A-xy-ri bắt dân Ít-ra-en đày qua A-xy-ri và định cư họ ở Ha-la, thuộc Gô-san trên bờ sông Ha-bo, và trong các thành của xứ Mê-đi.
2KI 18:12 Mọi việc nầy xảy ra vì họ không vâng lời CHÚA, Thượng Đế của họ. Họ đã phá giao ước và không vâng theo mọi điều mà Mô-se, tôi tớ CHÚA đã truyền. Họ không thèm nghe cũng không làm theo các mệnh lệnh đó.
2KI 18:13 Trong năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-xy-ri tấn công các thành có vách kiên cố của Giu-đa và chiếm lấy chúng.
2KI 18:14 Ê-xê-chia vua Giu-đa liền nhắn với vua A-xy-ri ở La-kích như sau, “Tôi đã làm quấy. Hãy buông tha tôi thì tôi sẽ làm bất cứ điều gì vua muốn.” Vì thế vua A-xy-ri bắt Ê-xê-chia trả khoảng hai mươi hai ngàn cân bạc và hai ngàn cân vàng.
2KI 18:15 Ê-xê-chia dâng cho vua tất cả bạc trong đền thờ CHÚA và trong ngân khố mình.
2KI 18:16 Lúc ấy vua Ê-xê-chia cũng gỡ tất cả vàng bọc các cửa, các cột cửa của đền thờ CHÚA. Chính vua Ê-xê-chia đã bọc vàng các cửa nầy nhưng ông trao tất cả số vàng ấy cho vua A-xy-ri.
2KI 18:17 Vua A-xy-ri phái viên tổng tư lệnh, viên tổng tham mưu, và viên chỉ huy mặt trận từ La-kích cùng với một đạo quân rất lớn kéo đến vua Ê-xê-chia ở Giê-ru-sa-lem. Khi chúng đến gần đường dẫn nước từ Hồ Phía Trên con đường dân chúng hay giặt đồ thì dừng lại.
2KI 18:18 Chúng đòi gặp vua cho nên vua sai Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-a đi gặp chúng. Ê-li-a-kim, con Hinh-kia là quản lý cung vua, Sếp-na là đổng lý văn phòng, còn Giô-a, con A-sáp, là viên ký lục.
2KI 18:19 Viên chỉ huy mặt trận bảo họ, “Hãy nói với Ê-xê-chia như sau: Đại vương A-xy-ri hỏi: Bây giờ ngươi tin vào cái gì?
2KI 18:20 Ngươi nói ngươi có kế hoạch tác chiến và quyền lực chiến đấu nhưng lời nói ngươi không có giá trị gì. Ngươi tin cậy vào ai để chống nghịch ta?
2KI 18:21 Ngươi trông cậy vào Ai-cập để giúp đỡ ngươi nhưng Ai-cập chẳng khác nào cây gậy bị dập. Ngươi mà tựa trên nó để được giúp đỡ thì nó sẽ đâm thủng tay và làm hại ngươi. Đó là điều vua Ai-cập sẽ làm cho những ai nhờ cậy người.
2KI 18:22 Ngươi có thể nói, ‘Chúng tôi trông cậy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi,’ nhưng ta biết Ê-xê-chia đã hủy phá các bàn thờ CHÚA và những nơi thờ phụng. Ông ta bảo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, ‘Các ngươi chỉ được thờ phụng tại bàn thờ duy nhất nầy ở Giê-ru-sa-lem mà thôi.’
2KI 18:23 Bây giờ hãy lập giao ước với chủ ta là vua A-xy-ri: Ta sẽ cho các ngươi hai ngàn con ngựa nếu các ngươi kiếm đủ người cỡi.
2KI 18:24 Ngươi không thắng nổi một trong những sĩ quan thấp nhất của chủ ta thì sao ngươi trông vào Ai-cập để cấp cho ngươi quân xa và lính cỡi ngựa?
2KI 18:25 Không phải ta đến để tấn công và tiêu diệt nơi nầy mà không do lệnh của CHÚA. Chính CHÚA đã bảo ta đến tiêu diệt xứ nầy.”
2KI 18:26 Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-ách nói cùng viên tư lệnh tác chiến rằng, “Xin nói với chúng tôi bằng tiếng A-ram vì chúng tôi hiểu thứ tiếng ấy. Đừng nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ vì dân trong thành có thể nghe được.”
2KI 18:27 Nhưng viên tư lệnh trả lời, “Không! Chủ ta sai ta đến nói những chuyện nầy đâu phải chỉ cho các ngươi và vua các ngươi mà thôi đâu. Ngài sai ta đến để nói với những người đang ngồi trên vách thành là những kẻ sẽ ăn phân và uống nước tiểu mình như các ngươi vậy.”
2KI 18:28 Nói xong viên tư lệnh đứng la lớn bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng, “Hãy nghe lời đại vương A-xy-ri nói,
2KI 18:29 Ngài bảo các ngươi đừng để Ê-xê-chia phỉnh gạt mình vì người không thể nào cứu các ngươi khỏi quyền lực ta được đâu.
2KI 18:30 Đừng để Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi tin tưởng vào CHÚA rằng, ‘CHÚA chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta. Thành nầy sẽ không bị trao vào tay vua A-xy-ri.’
2KI 18:31 Đừng thèm nghe Ê-xê-chia. Vua A-xy-ri khuyên, ‘Hãy cầu hòa với ta, hãy từ thành kéo nhau ra đầu hàng ta thì mỗi người các ngươi sẽ được tự do ăn trái nho, trái vả và uống nước của giếng mình.
2KI 18:32 Sau đó ta sẽ đến đưa các ngươi vào một xứ giống như xứ các ngươi, xứ đầy thóc gạo, rượu mới, bánh và vườn nho, ô-liu và mật ong. Hãy chọn cái sống đừng chọn cái chết!’ Đừng nghe lời Ê-xê-chia vì người gạt các ngươi bảo rằng, ‘CHÚA sẽ cứu chúng ta.’
2KI 18:33 Có thần nào của các dân khác cứu họ khỏi quyền lực của vua A-xy-ri chưa?
2KI 18:34 Các thần của Ha-mát và Ác-bát đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va đâu? Chúng nó có giải cứu Xa-ma-ri ra khỏi tay ta không?
2KI 18:35 Không có một thần nào của các xứ đó giải cứu dân họ khỏi tay ta cả. Vì thế CHÚA cũng sẽ không thể giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi quyền lực của ta.”
2KI 18:36 Dân chúng làm thinh. Họ không trả lời gì cả với viên tư lệnh vì vua Ê-xê-chia đã ra lệnh, “Đừng đối đáp gì hết với hắn.”
2KI 18:37 Sau đó Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-a xé quần áo mình để bày tỏ lòng đau buồn. Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia, là quản lý cung vua, Sếp-na làm đổng lý văn phòng, còn Giô-a, con A-sáp, làm ký lục. Ba người đi gặp vua Ê-xê-chia và thuật lại những gì viên tư lệnh tác chiến nói.
2KI 19:1 Khi vua Ê-xê-chia nghe các điều đó thì ông xé quần áo và mặc vải sô. Ông liền đi vào đền thờ của CHÚA.
2KI 19:2 Ê-xê-chia sai Ê-li-a-kim, quản lý cung vua, và Sếp-na, đổng lý văn phòng, cùng các thầy tế lễ lớn tuổi đến gặp Ê-sai. Tất cả đều mặc vải sô khi họ đến gặp nhà tiên tri Ê-sai, con A-mốt.
2KI 19:3 Họ nói với Ê-sai, “Vua Ê-xê-chia nói: Hôm nay là ngày buồn thảm, tai ương và hổ nhục, giống như đứa bé sắp sinh ra nhưng người mẹ quá yếu ớt, không sinh được.
2KI 19:4 Vua A-xy-ri đã sai viên chỉ huy mặt trận đến chế giễu Thượng Đế hằng sống. Có lẽ CHÚA là Thượng Đế đã nghe điều viên chỉ huy ấy nói và trừng phạt hắn. Xin ông hãy cầu nguyện cho số ít chúng tôi còn sống sót lại.”
2KI 19:5 Khi các sĩ quan của vua Ê-xê-chia đến cùng Ê-sai,
2KI 19:6 thì ông bảo họ rằng, “Hãy nói với chủ các ngươi như sau: CHÚA phán, ‘Đừng sợ điều các ngươi nghe. Đừng kinh hoảng vì lời của các đầy tớ vua A-xy-ri sỉ nhục ta.
2KI 19:7 Nghe đây! Ta sẽ đặt một thần linh trong vua A-xy-ri. Người sẽ nghe tiếng đồn khiến người sẽ trở về xứ mình rồi ta sẽ khiến cho người chết vì gươm tại đó.’”
2KI 19:8 Viên tư lệnh mặt trận nghe vua A-xy-ri đã rời La-ki. Khi trở về thì thấy vua đang vây đánh thành Líp-na.
2KI 19:9 Vua nghe báo cáo rằng Tiệt-ha-ca, vua Cu-si của Ai-cập, đang kéo đến đánh mình. Khi vua A-xy-ri nghe vậy liền sai sứ đến nói với vua Ê-xê-chia rằng,
2KI 19:10 “Hãy bảo Ê-xê-chia, vua Giu-đa như sau: Đừng để thần mà ngươi tin cậy phỉnh gạt. Đừng tin lời thần đó quả quyết rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không bị trao vào tay vua A-xy-ri.
2KI 19:11 Ngươi có nghe điều các vua A-xy-ri đã làm. Chúng ta đã chiến thắng tất cả các nước cho nên đừng tưởng rằng các ngươi sẽ thoát nạn đâu.
2KI 19:12 Các thần của những dân tộc đó có giải cứu họ không? Tổ tiên ta tiêu diệt chúng, đánh bại các thành Gô-xan, Ha-ran, và Rê-xếp, và dân Ê-đen ở Tên-Át-xa.
2KI 19:13 Các vua Ha-mát và Ác-bát đâu? Các vua của Xê-phạt-va-im, Hê-na và Y-va đâu rồi?”
2KI 19:14 Khi vua Ê-xê-chia nhận thư từ tay các sứ giả và đọc xong thì ông đi lên đền thờ của CHÚA. Ông mở thư ra trước mặt CHÚA
2KI 19:15 và cầu nguyện: “Ôi Lạy CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en, ngôi ngài ngự giữa các sinh vật bằng vàng có cánh, chỉ một mình Ngài là Thượng Đế của các nước trên đất. Ngài tạo nên trời và đất.
2KI 19:16 Lạy CHÚA, xin lắng tai nghe. Xin mở mắt ra nhìn. Xin hãy nghe mọi điều vua San-chê-ríp đã nói để sỉ nhục Thượng Đế hằng sống.
2KI 19:17 Lạy CHÚA, quả thật rằng các vua A-xy-ri đã tiêu diệt các xứ đó và đất đai chúng.
2KI 19:18 Họ đã ném những thần của các dân tộc đó vào lửa nhưng những thần đó chẳng qua chỉ là gỗ và đá do tay người làm ra vì thế các vua A-xy-ri đã tiêu diệt chúng.
2KI 19:19 Lạy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi xin hãy giải cứu chúng tôi khỏi quyền lực vua A-xy-ri để các nước trên đất biết rằng Ngài là Thượng Đế duy nhất.”
2KI 19:20 Sau đó Ê-sai, con trai A-mốt nhắn với Ê-xê-chia như sau, “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, phán: Ta đã nghe lời ngươi cầu nguyện cùng ta về San-chê-ríp, vua A-xy-ri.
2KI 19:21 Đây là điều CHÚA phán nghịch cùng San-chê-ríp: Trinh nữ Xi-ôn ghét ngươi và sỉ nhục ngươi; Nó cười nhạo ngươi khi ngươi bỏ chạy.
2KI 19:22 Ngươi chế giễu và nhục mạ ai? Ngươi đã lên tiếng nghịch cùng ai? Ngươi ngạo mạn xấc láo đối với ai? Ngươi nghịch ta, Đấng Thánh của Ít-ra-en!
2KI 19:23 Ngươi đã sai sứ đến sỉ nhục CHÚA. Ngươi nói, ‘Nhờ vào vô số quân xa ta kéo lên các đỉnh núi, lên các núi cao nhất của Li-băng. Ta đã đốn ngã các cây hương nam và các cây thông tốt nhất của nó. Ta đã lên đến các nơi xa nhất và vào các rừng tốt nhất của nó.
2KI 19:24 Ta đã đào các giếng trong các nước ngoại quốc và uống nước từ các giếng đó. Bàn chân ta đã làm cạn khô hết các sông Ai-cập.’
2KI 19:25 Hỡi vua A-xy-ri, hẳn ngươi đã nghe. Từ xưa ta, CHÚA, đã dự liệu việc nầy. Từ lâu ta đã trù liệu việc đó, bây giờ ta thực hiện chúng. Ta đã cho phép ngươi biến các thành kiên cố có vách thành đống gạch vụn.
2KI 19:26 Dân cư các thành đó rất yếu ớt; chúng nó hoảng sợ và bị sỉ nhục. Chúng như cỏ ngoài đồng, như cỏ non, yếu ớt, như cỏ trên nóc nhà bị gió thiêu đốt trước khi mọc lên.
2KI 19:27 Ta biết khi ngươi nằm nghỉ, cả lúc ngươi đi hay đến, và cách ngươi nổi giận nghịch ta.
2KI 19:28 Vì ngươi nổi giận nghịch ta, và vì ta đã nghe những lời xấc láo của ngươi, ta sẽ đặt móc vào mũi ngươi, và tra hàm thiếc vào miệng ngươi. Rồi ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi xứ ta y như cách ngươi đến.”
2KI 19:29 Rồi CHÚA phán, “Hỡi Ê-xê-chia, ta sẽ cho ngươi dấu hiệu nầy: Năm nay ngươi sẽ không thể trồng trọt gì, sang năm thứ hai ngươi sẽ ăn những gì mọc hoang từ năm trước. Nhưng đến năm thứ ba ngươi sẽ ăn từ thóc lúa ngươi trồng trọt và gặt hái. Ngươi sẽ trồng vườn nho và ăn hoa quả từ đó.
2KI 19:30 Những người còn lại trong Giu-đa mà thoát được sẽ đâm rễ, sẽ mọc mạnh và sinh nhiều con cháu.
2KI 19:31 Một số người sẽ sống sót và ra khỏi Giê-ru-sa-lem; một số ít từ núi Xi-ôn sẽ sống sót. Tình yêu nồng nhiệt của CHÚA Toàn Năng sẽ thực hiện điều ấy.”
2KI 19:32 Cho nên đây là điều CHÚA phán về vua A-xy-ri: “Nó sẽ không vào thành, thậm chí cũng sẽ không bắn một mũi tên nào vào đây. Nó cũng sẽ không dùng khiên, hay đắp lối đi lên để tấn công vách thành.
2KI 19:33 Nó đến đây bằng đường nào, thì cũng sẽ trở về xứ mình bằng đường ấy, nhưng nó sẽ không vào thành nầy, CHÚA phán vậy.
2KI 19:34 Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành nầy vì Đa-vít, kẻ tôi tớ ta.”
2KI 19:35 Đêm ấy, thiên sứ của CHÚA đi ra giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong doanh trại A-xy-ri. Sáng sớm hôm sau khi người ta dậy thì thấy toàn xác chết.
2KI 19:36 San-chê-ríp, vua A-xy-ri liền trở về lại Ni-ni-ve.
2KI 19:37 Một ngày kia San-chê-ríp đang thờ lạy trong đền thờ Nít-rốc, thần của mình, thì hai con trai vua là Ách-ra-mê-léc và Sa-rê-xe lấy gươm giết vua rồi trốn qua xứ A-ra-rát. Ê-xa-hát-đôn, con trai San-chê-ríp, lên ngôi vua A-xy-ri.
2KI 20:1 Lúc đó vua Ê-xê-chia lâm bệnh nặng gần chết. Nhà tiên tri Ê-sai, con A-mốt đến thăm và bảo, “CHÚA phán như sau: Hãy sắp xếp mọi việc vì ngươi sẽ không sống được đâu mà sẽ qua đời.”
2KI 20:2 Ê-xê-chia xoay mặt vào vách và cầu nguyện cùng CHÚA,
2KI 20:3 “CHÚA ôi, xin nhớ rằng tôi đã luôn luôn vâng lời Ngài. Tôi đã hoàn toàn hiến mình cho Ngài và làm điều phải trước mặt Ngài.” Rồi Ê-xê-chia khóc thảm thiết.
2KI 20:4 Khi Ê-sai vừa ra khỏi sân giữa của cung vua thì CHÚA bảo ông:
2KI 20:5 “Hãy đi trở lại nói với Ê-xê-chia, lãnh tụ dân ta rằng: ‘CHÚA là Thượng Đế của Đa-vít, tổ tiên ngươi phán như sau: Ta đã nghe lời cầu nguyện ngươi và đã thấy nước mắt ngươi, ta sẽ chữa lành ngươi. Ba ngày nữa ngươi sẽ đi lên đền thờ CHÚA.
2KI 20:6 Ta cũng sẽ cho ngươi sống thêm mười lăm năm nữa. Ta sẽ giải cứu ngươi và thành nầy khỏi tay vua A-xy-ri; ta sẽ bảo vệ thành nầy vì ta và vì Đa-vít, tôi tớ ta.’”
2KI 20:7 Rồi Ê-sai bảo, “Hãy làm chất dẻo bằng trái vả.” Vậy họ làm và đắp lên mụt nhọt của Ê-xê-chia thì vua lành.
2KI 20:8 Ê-xê-chia liền hỏi Ê-sai, “Sẽ có dấu hiệu gì cho thấy CHÚA sẽ chữa lành cho tôi và tôi sẽ đi lên đền thờ CHÚA vào ngày thứ ba không?”
2KI 20:9 Ê-sai nói “CHÚA sẽ thực hiện điều Ngài phán. Đây là dấu hiệu CHÚA tỏ cho vua: Vua muốn bóng mặt trời đi quá mười nấc hay lui lại mười nấc?”
2KI 20:10 Ê-xê-chia đáp, “Làm cho bóng mặt trời đi quá mười nấc thì không khó gì. Hãy làm cho nó lui lại mười nấc.”
2KI 20:11 Nhà tiên tri Ê-sai cầu nguyện cùng CHÚA thì Ngài khiến bóng lui lại mười nấc mà nó đã đi quá trên bậc thang mà A-cha đã xây.
2KI 20:12 Lúc đó Mê-rô-đác Ba-la-đan, con trai Ba-la-đan, làm vua Ba-by-lôn. Ông gởi thư thăm hỏi và quà biếu Ê-xê-chia vì nghe vua Ê-xê-chia bị bệnh rồi bình phục.
2KI 20:13 Ê-xê-chia rất vui nên khoe với các sứ giả những đồ vật trong kho mình: bạc, vàng, hương liệu, nước hoa đắt tiền, gươm và thuẫn, cùng mọi tài sản của mình. Ông khoe với họ mọi thứ trong cung vua và trong nước.
2KI 20:14 Nhà tiên tri Ê-sai liền đi đến gặp vua Ê-xê-chia hỏi, “Mấy người nầy nói gì vậy? Họ ở đâu đến?” Ê-xê-chia đáp, “Họ đến từ một xứ rất xa, từ Ba-by-lôn.”
2KI 20:15 Ê-sai hỏi tiếp, “Họ thấy gì trong cung vua?” Ê-xê-chia đáp, “Họ thấy tất cả mọi thứ trong cung của ta. Ta khoe với họ tất cả của cải ta có.”
2KI 20:16 Ê-sai liền nói với Ê-xê-chia rằng: “Hãy nghe lời CHÚA Toàn Năng phán:
2KI 20:17 ‘Trong tương lai những gì ngươi hiện có trong cung điện cùng những gì tổ tiên ngươi để dành lại cho đến hôm nay đều sẽ bị mang đi qua Ba-by-lôn. Không chừa lại món gì hết,’ CHÚA phán vậy.
2KI 20:18 ‘Một số con cái ngươi, tức các con sinh ra cho ngươi cũng sẽ bị đày đi làm tôi tớ trong cung vua Ba-by-lôn.’”
2KI 20:19 Ê-xê-chia nói với Ê-sai, “Những lời của CHÚA rất phải.” Vua nói vậy vì tự nghĩ, “Ít ra trong đời ta sẽ có hòa bình và an ninh.”
2KI 20:20 Tất cả những gì vua Ê-xê-chia làm, những chiến công, các công tác vua trong việc xây hồ nước, việc đào hầm dẫn nước vào thành đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 20:21 Khi vua Ê-xê-chia qua đời thì Ma-na-xe, con trai ông, lên nối ngôi.
2KI 21:1 Ma-na-xe được mười hai tuổi khi lên làm vua và trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên Hếp-xi-ba.
2KI 21:2 Vua làm điều ác trước mặt CHÚA. Ông làm những điều gớm ghiếc như các dân tộc khác đã làm, tức những dân mà CHÚA đã đánh đuổi ra khỏi xứ trước khi dân Ít-ra-en đến.
2KI 21:3 Ê-xê-chia, cha Ma-na-xe, đã phá sập những nơi thờ tà thần, nhưng Ma-na-xe cho xây lại những nơi đó. Ông xây bàn thờ cho Ba-anh và tạc tượng A-sê-ra y như A-háp, vua Ít-ra-en đã làm. Ma-na-xe cũng thờ lạy các ngôi sao trên trời và phục vụ chúng.
2KI 21:4 CHÚA đã nói về đền thờ Ngài, “Người ta sẽ thờ phụng ta tại Giê-ru-sa-lem,” nhưng Ma-na-xe xây các bàn thờ trong đền thờ CHÚA.
2KI 21:5 Ông cũng xây các bàn thờ để thờ lạy các tinh tú trong hai sân của đền thờ CHÚA.
2KI 21:6 Ông cũng đưa con trai mình qua lửa. Ông dùng những ma thuật và bói toán bằng cách giải thích các điềm và mộng mị, đồng thời hỏi ý các đồng bóng và thầy bói. Ông làm vô số điều ác và chọc giận CHÚA.
2KI 21:7 Ma-na-xe tạc tượng A-sê-ra và đặt nó trong đền thờ CHÚA. CHÚA đã phán cùng Đa-vít và Sô-lô-môn, con ông, về đền thờ Ngài như sau, “Người ta sẽ thờ phụng ta đời đời trong đền thờ nầy và ở Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn từ trong các chi tộc Ít-ra-en.
2KI 21:8 Ta sẽ không bao giờ bắt dân Ít-ra-en đi lang thang ra khỏi xứ mà ta đã cấp cho tổ tiên họ. Nhưng họ phải vâng theo mọi điều ta truyền dặn và mọi lời giáo huấn mà Mô-se, tôi tớ ta, đã ban cho họ.”
2KI 21:9 Nhưng dân chúng không chịu nghe. Ma-na-xe dẫn dụ họ làm ác hơn các dân tộc mà CHÚA đã tiêu diệt trước mặt dân Ít-ra-en.
2KI 21:10 CHÚA đã phán như sau qua các nhà tiên tri là tôi tớ Ngài,
2KI 21:11 “Ma-na-xe, vua Giu-đa đã làm những điều gớm ghiếc nầy. Người làm ác hơn cả dân A-mô-rít trước người. Người cũng dẫn dụ Giu-đa phạm tội với các thần tượng mình.
2KI 21:12 Nên CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Ta sẽ mang khốn đốn trên Giê-ru-sa-lem và Giu-đa đến nỗi ai nghe đều sửng sốt, giật mình.
2KI 21:13 Ta sẽ lấy dây đo Xa-ma-ri trên Giê-ru-sa-lem, và dùng dây thước thợ nghịch cùng gia đình A-háp để dùng cho Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ quét sạch Giê-ru-sa-lem như người ta lau sạch cái dĩa và úp nó xuống.
2KI 21:14 Ta sẽ ném bỏ dân còn sót lại. Ta sẽ trao chúng cho kẻ thù. Chúng sẽ bị các kẻ thù cướp bóc,
2KI 21:15 vì dân ta đã làm điều ác. Chúng chọc giận ta từ ngày tổ tiên chúng ra khỏi Ai-cập cho đến nay.’”
2KI 21:16 Ma-na-xe cũng tàn sát nhiều thường dân vô tội, làm cho máu họ tràn ngập Giê-ru-sa-lem từ đầu nầy đến đầu kia. Đó là chưa kể những tội lỗi ông xúi dân Giu-đa phạm; ông xúi giục Giu-đa làm điều ác.
2KI 21:17 Những việc khác Ma-na-xe làm khi trị vì, luôn cả những tội lỗi ông phạm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 21:18 Ma-na-xe qua đời và được chôn trong vườn của cung vua, tức vườn U-xa. A-môn, con trai ông, lên nối ngôi.
2KI 21:19 A-môn được hai mươi hai tuổi khi lên ngôi và làm vua được hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông là Mê-su-lê-mết, con gái Ha-ru, quê quán ở Giốt-ba.
2KI 21:20 A-môn làm điều ác trước mặt CHÚA y như cha ông đã làm.
2KI 21:21 Ông sống giống như cha mình: thờ lạy các thần tượng mà cha ông đã thờ và cúi lạy trước chúng nó.
2KI 21:22 A-môn gạt bỏ CHÚA tức Thượng Đế của tổ tiên mình, không đi theo đường lối CHÚA.
2KI 21:23 Các sĩ quan của A-môn lập mưu phản và giết ông trong cung vua.
2KI 21:24 Sau đó dân chúng trong xứ giết tất cả những kẻ đã lập mưu giết vua A-môn rồi cử Giô-xia, con trai ông, lên nối ngôi.
2KI 21:25 Mọi việc khác A-môn làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 21:26 Ông được chôn trong mộ mình trong vườn U-xa. Giô-xia, con trai ông lên nối ngôi.
2KI 22:1 Giô-xia được tám tuổi khi lên ngôi vua và trị vì ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Giê-đi-đa, con gái A-đai-gia, quê quán ở Bô-cách.
2KI 22:2 Giô-xia làm điều thiện trước mặt CHÚA. Ông sống y như Đa-vít tổ tiên mình và luôn luôn làm điều thiện.
2KI 22:3 Vào năm thứ mười tám triều vua Giô-xia, ông sai Sa-phan vào đền thờ CHÚA. Sa-phan, con A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, là bí thư của vua. Giô-xia bảo,
2KI 22:4 “Hãy đi đến Hinh-kia, thầy tế lễ thượng phẩm bảo ông dốc hết số tiền mà những người gác cửa đã thu của dân chúng. Đó là số tiền họ đã mang vào đền thờ CHÚA.
2KI 22:5 Bảo ông ta giao số tiền đó cho các giám thị lo công tác trong đền thờ CHÚA. Họ phải trả cho các nhân công lo việc sửa chữa đền thờ CHÚA
2KI 22:6 tức thợ mộc, thợ xây cất, và thợ nề. Ngoài ra hãy dùng tiền đó để mua gỗ và đá đẽo để sửa chữa đền thờ.
2KI 22:7 Họ không cần phải tường trình về số tiền giao cho họ vì họ thanh liêm.”
2KI 22:8 Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia bảo với Sa-phan, bí thư của vua, “Tôi đã tìm được Sách Giáo Huấn trong đền thờ CHÚA.” Ông giao sách đó cho Sa-phan rồi Sa-phan lấy đọc.
2KI 22:9 Sau đó bí thư Sa-phan đi vào trình với vua Giô-xia, “Các viên chức của vua đã chi số tiền trong đền thờ CHÚA. Họ đã trả công cho các nhân công và các giám thị trong đền thờ.”
2KI 22:10 Rồi bí thư Sa-phan nói với vua, “Thầy tế lễ Hinh-kia đã đưa cho tôi một quyển sách.” Sa-phan liền đọc sách đó cho vua nghe.
2KI 22:11 Khi vua vừa nghe những lời trong Sách Giáo Huấn liền xé quần áo mình để tỏ lòng đau buồn cùng cực.
2KI 22:12 Vua ra lệnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, con trai Sa-phan, Ác-bo, con trai Mi-cai-gia, bí thư Sa-phan và A-sai-gia, tôi tớ vua, như sau:
2KI 22:13 “Hãy đi cầu hỏi CHÚA về những lời trong sách vừa mới tìm được. Hãy hỏi giùm cho ta, cho toàn dân, và cho toàn thể Giu-đa. Cơn giận CHÚA đang cháy bừng cùng chúng ta vì tổ tiên chúng ta không vâng theo những lời trong sách nầy; họ không làm theo những điều đã ghi lại cho chúng ta.”
2KI 22:14 Vậy thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Ác-bo, Sa-phan và A-sai-gia đi đến nói chuyện với nữ tiên tri Hun-đa. Bà là vợ của Sa-lum, con Tích-va, cháu Hác-ha, người lo áo quần cho vua. Hun-đa ở Giê-ru-sa-lem, trong khu vực mới của thành phố.
2KI 22:15 Bà nói với họ, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy bảo người đã sai các ngươi đến với ta,
2KI 22:16 ‘CHÚA phán như sau: Ta sẽ mang khốn đốn đến nơi nầy và đến cho mọi người đang sống ở đây theo như lời đã ghi trong sách mà vua Giu-đa đã đọc.
2KI 22:17 Dân Giu-đa đã bỏ ta và đã đốt hương cho các thần khác. Họ chọc giận ta bằng mọi hành vi của họ. Cơn thịnh nộ ta cháy bừng cùng nơi nầy như lửa, không thể dập tắt được.’
2KI 22:18 Hãy bảo vua Giu-đa là người sai các ngươi đến để cầu hỏi ý CHÚA, ‘CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán về những lời ngươi đã nghe:
2KI 22:19 Khi ngươi nghe lời ta nghịch cùng nơi nầy và dân cư nó thì ngươi ăn năn về điều mình làm và hạ mình xuống trước mặt ta. Ta bảo chúng sẽ bị nguyền rủa và bị tiêu diệt. Ngươi đã xé quần áo bày tỏ sự đau buồn và khóc lóc trước mặt ta. Vì thế ta đã nghe ngươi, CHÚA phán vậy.
2KI 22:20 Cho nên ta sẽ để cho ngươi qua đời và được chôn cất bình yên. Ngươi sẽ không thấy những khốn đốn ta sẽ mang đến cho nơi nầy.’” Họ về thuật lại những lời đó cho vua.
2KI 23:1 Vua liền triệu tập các bô lão của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem lại.
2KI 23:2 Ông đi lên đền thờ CHÚA cùng với toàn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và toàn thể dân chúng, từ người thấp hèn cho đến người cao sang đều đi với vua. Vua đọc cho họ nghe mọi lời ghi trong Sách Giao Ước đã tìm được trong đền thờ CHÚA.
2KI 23:3 Vua đứng cạnh cây cột và lập giao ước trước sự hiện diện của CHÚA, hứa nguyện theo Ngài và hết lòng tuân phục mọi mệnh lệnh, qui tắc, luật lệ, cùng vâng theo những lời của giao ước đã ghi trong sách đó. Rồi toàn thể dân chúng hứa nguyện vâng giữ giao ước.
2KI 23:4 Vua ra lệnh cho thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia và các thầy tế lễ cấp dưới cùng những người giữ cửa mang ra khỏi đền thờ CHÚA tất cả những thứ đã được làm cho Ba-anh, A-sê-ra và các tinh tú trên trời. Rồi Giô-xia đốt tất cả bên ngoài Giê-ru-sa-lem trong đồng trống của thung lũng Kít-rôn và cho mang tro của chúng đến Bê-tên.
2KI 23:5 Các vua Giu-đa đã chọn các thầy tế lễ cho các thần nầy. Các thầy tế lễ đốt hương ở các nơi thờ cúng địa phương trong các thành của Giu-đa và các thị trấn quanh Giê-ru-sa-lem. Họ đốt hương cho Ba-anh, mặt trời, mặt trăng, các chòm sao, và các tinh tú trên trời. Nhưng Giô-xia dẹp các thầy tế lễ giả hiệu đó.
2KI 23:6 Ông cũng dẹp tượng A-sê-ra khỏi đền thờ CHÚA và mang nó ra ngoài Giê-ru-sa-lem đến thung lũng Kít-rôn đốt và nghiền nó ra bụi. Rồi ông rắc bụi đó lên các mồ mả của thường dân.
2KI 23:7 Ông cũng phá sập nhà cửa của các nam điếm trong đền thờ CHÚA nơi các người đàn bà dệt vải cho A-sê-ra.
2KI 23:8 Vua Giô-xia mang các tiên tri giả ra khỏi các thành Giu-đa. Ông phá những nơi thờ cúng địa phương, chỗ các thầy tế lễ đốt hương, từ Ghê-ba cho đến Bê-e-sê-ba. Ông phá sập những nơi thờ cúng địa phương ở cổng Giô-suê là tên của quan cai trị thành, bên phía trái cổng thành.
2KI 23:9 Các thầy tế lễ của những nơi thờ cúng địa phương không được phép phục vụ nơi bàn thờ CHÚA ở Giê-ru-sa-lem nhưng được ăn bánh mì không men với các anh em mình.
2KI 23:10 Giô-xia dẹp bỏ Tô-phết, trong thung lũng Bên-Hin-nôm để không ai được dâng con trai hay con gái mình cho Mô-léc nữa.
2KI 23:11 Các vua Giu-đa đã đặt những con ngựa ở nơi cửa trước của đền thờ CHÚA trong sân gần phòng của Na-than Mê-léc, một sĩ quan. Các con ngựa đó dùng để thờ mặt trời. Vua Giô-xia dẹp các ngựa ấy và đốt các quân xa dùng để thờ mặt trời luôn.
2KI 23:12 Các vua Giu-đa đã xây các bàn thờ trên mái phòng thượng của vua A-cha. Giô-xia phá những bàn thờ đó cùng các bàn thờ mà Ma-na-xe đã xây trong hai sân của đền thờ CHÚA. Giô-xia nghiền chúng ra bụi và ném trong thung lũng Kít-rôn.
2KI 23:13 Vua Giô-xia cũng phá hủy những nơi thờ cúng địa phương ở phía đông Giê-ru-sa-lem, về phía nam núi Ô-liu. Sô-lô-môn, vua Ít-ra-en, đã xây những nơi đó. Một nơi dành cho Át-tô-rết, nữ thần gớm ghiếc của người Xi-đôn, nơi kia dành cho Kê-mốt, thần đáng ghê tởm của Mô-áp. Một nơi nữa dành cho Mô-léc, thần đáng ghê tởm của người A-môn.
2KI 23:14 Giô-xia nghiền nát các cột đá mà họ thờ phụng và chặt tượng A-sê-ra. Rồi ông lấy xương người phủ lên những nơi ấy.
2KI 23:15 Giô-xia cũng phá sập bàn thờ ở Bê-tên tức nơi thờ phụng do Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, xây lên. Giê-rô-bô-am là người đã khuyến khích dân Ít-ra-en phạm tội. Giô-xia thiêu đốt những nơi ấy, nghiền các tảng đá xây bàn thờ ra bụi rồi đốt tiêu tượng A-sê-ra.
2KI 23:16 Khi vua quay lại thấy những mồ mả trên núi liền cho lấy xương cốt ra khỏi các mồ mả và thiêu chúng trên bàn thờ để làm ô dơ bàn thờ. Việc nầy xảy ra theo như lời CHÚA đã phán qua người của Thượng Đế. Người của Thượng Đế loan báo những điều ấy khi Giê-rô-bô-am đang đứng cạnh bàn thờ trong dịp lễ. Giô-xia nhìn quanh và thấy ngôi mộ của người của Thượng Đế.
2KI 23:17 Giô-xia hỏi, “Cái đài kỷ niệm mà ta thấy là gì?” Dân chúng thành đó thưa, “Đó là mộ người của Thượng Đế từ Giu-đa đến. Nhà tiên tri ấy đã loan báo những điều vua đã làm nghịch bàn thờ ở Bê-tên.”
2KI 23:18 Giô-xia ra lệnh, “Hãy để yên mồ mả đó. Không ai được phép dời xương cốt của người đi.” Vậy họ để yên xương cốt của người cùng xương cốt của nhà tiên tri từ Xa-ma-ri đến.
2KI 23:19 Các vua Ít-ra-en đã xây những nơi thờ cúng địa phương trong các thành ở Xa-ma-ri, chọc giận CHÚA. Giô-xia tháo gỡ các đền thờ ấy như ông đã làm ở Bê-tên.
2KI 23:20 Ông giết các thầy tế lễ của những nơi thờ phụng đó; ông giết họ trên bàn thờ và đốt xương họ trên đó. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem.
2KI 23:21 Vua ra lệnh cho toàn dân, “Hãy kỷ niệm Lễ Vượt Qua cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi theo như đã ghi trong Sách Giao Ước.”
2KI 23:22 Từ thời các Quan Án cai trị dân Ít-ra-en, lễ Vượt Qua chưa hề được kỷ niệm. Chưa hề có chuyện xảy ra như thế trong đời các vua Ít-ra-en và Giu-đa.
2KI 23:23 Lễ Vượt Qua được kỷ niệm cho CHÚA ở Giê-ru-sa-lem vào năm thứ mười tám đời vua Giô-xia.
2KI 23:24 Giô-xia cũng tiêu diệt các đồng bóng, thầy bói, nhà của tà thần, và các tượng chạm. Ông cũng tiêu diệt các tà thần các ghê tởm trong xứ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ông làm theo lời giáo huấn đã ghi trong sách mà thầy tế lễ Hinh-kia đã tìm được trong đền thờ CHÚA.
2KI 23:25 Trước và sau Giô-xia không có vua nào giống như ông. Vua hết lòng, hết linh hồn, hết sức vâng theo CHÚA và đi theo mọi lời giáo huấn của Mô-se.
2KI 23:26 Dù vậy cũng không ngăn được cơn thịnh nộ khủng khiếp của CHÚA. Cơn giận Ngài nổi phừng cùng Giu-đa vì những điều Ma-na-xe làm đã chọc giận Ngài.
2KI 23:27 CHÚA phán, “Ta sẽ đuổi Giu-đa ra khỏi trước mặt ta như ta đã đuổi Ít-ra-en đi. Ta sẽ gạt bỏ Giê-ru-sa-lem, nơi ta đã chọn. Ta cũng sẽ cất bỏ đền thờ nơi ta nói, ‘Người ta sẽ thờ phụng ta tại đó.’”
2KI 23:28 Những việc khác vua Giô-xia làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 23:29 Trong khi Giô-xia đang trị vì thì Nê-cô, vua Ai-cập lên đánh nhau với vua A-xy-ri ở sông Ơ-phơ-rát. Vua Giô-xia kéo ra đánh Nê-cô, nhưng Nê-cô gặp Giô-xia ở Mê-ghi-đô và giết vua đi.
2KI 23:30 Các đầy tớ Giô-xia chở xác ông trên xe từ Mê-ghi-đô về Giê-ru-sa-lem và chôn trong mộ ông. Rồi dân Giu-đa chọn Giô-a-cha, con trai Giô-xia, đổ đầu ô liu và lập ông lên nối ngôi thế cha mình.
2KI 23:31 Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi lên ngôi vua và trị vì tại Giê-ru-sa-lem được ba tháng. Mẹ ông tên Ha-mu-tanh, con gái Giê-rê-mi ở Líp-na.
2KI 23:32 Giô-a-cha làm điều ác trước mặt CHÚA như tổ tiên mình đã làm.
2KI 23:33 Vua Nê-cô bắt Giô-a-cha làm tù binh ở Ríp-la trong xứ Ha-mát, không cho Giô-a-cha cai trị ở Giê-ru-sa-lem nữa. Nê-cô bắt dân Giu-đa đóng khoảng bảy ngàn năm trăm cân bạc và khoảng bảy mươi lăm cân vàng.
2KI 23:34 Vua Nê-cô đặt Ê-li-a-kim, con trai Giô-xia, lên ngôi thế cha mình. Rồi Nê-cô đổi tên Ê-li-a-kim ra Giê-hô-gia-kim. Nhưng Nê-cô giải Giô-a-cha về Ai-cập rồi ông qua đời tại đó.
2KI 23:35 Giê-hô-gia-kim trao cho vua Nê-cô số bạc và vàng mà Nê-cô đòi. Giê-hô-gia-kim đánh thuế đất và thu vàng bạc từ dân chúng trong xứ để trao cho vua Nê-cô. Ai cũng phải đóng thuế.
2KI 23:36 Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Xê-bi-đa, con gái Bê-đai-gia, quê quán ở Ru-ma.
2KI 23:37 Vua Giê-hô-gia-kim làm điều ác trước mặt CHÚA y như tổ tiên mình đã làm.
2KI 24:1 Trong khi Giê-hô-gia-kim làm vua thì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn kéo lên tấn công xứ Giu-đa. Vua Giê-hô-gia-kim thần phục Nê-bu-cát-nết-xa trong ba năm rồi phản nghịch lại và tách ra khỏi quyền của Nê-bu-cát-nết-xa.
2KI 24:2 CHÚA sai những toán quấy rối từ Ba-by-lôn, A-ram, Mô-áp, và A-môn đến nghịch lại Giê-hô-gia-kim và tiêu diệt Giu-đa. Điều nầy xảy ra theo như CHÚA đã nói trước qua các tôi tớ Ngài là những nhà tiên tri.
2KI 24:3 Vì chắc chắn CHÚA đã khiến những việc nầy xảy ra cho dân Giu-đa để ném họ ra khỏi mặt Ngài vì tất cả những tội lỗi của Ma-na-xe.
2KI 24:4 Ông đã giết nhiều thường dân vô tội và làm cho Giê-ru-sa-lem ngập tràn máu của họ. CHÚA không thể nào tha thứ những tội ấy được.
2KI 24:5 Những việc khác mà vua Giê-hô-gia-kim làm đều được ghi trong sách sử ký các vua Giu-đa.
2KI 24:6 Giê-hô-gia-kim qua đời rồi Giê-hô-gia-kin, con trai ông lên nối ngôi.
2KI 24:7 Vua Ai-cập không ra khỏi xứ mình được nữa vì vua Ba-by-lôn đã chiếm hết vùng đất trước kia thuộc về Ai-cập, từ suối Ai-cập cho đến sông Ơ-phơ-rát.
2KI 24:8 Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi lên ngôi vua, và cai trị được ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Nê-hút-ta, con gái Ên-na-than ở Giê-ru-sa-lem.
2KI 24:9 Giê-hô-gia-kin làm điều ác trước mặt CHÚA y như cha mình đã làm.
2KI 24:10 Lúc đó các sĩ quan của Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, kéo đến Giê-ru-sa-lem rồi bao vây thành.
2KI 24:11 Nê-bu-cát-nết-xa đích thân đến thăm thành trong khi các sĩ quan vua đang tấn công nó.
2KI 24:12 Vua Giê-hô-gia-kin đầu hàng vua Ba-by-lôn cùng với mẹ mình, các tôi tớ, các bô lão cùng các sĩ quan. Vua Nê-bu-cát-nết-xa liền bắt Giê-hô-gia-kin làm tù binh vào năm thứ tám triều đại mình.
2KI 24:13 Nê-bu-cát-nết-xa lấy tất cả những châu báu trong đền thờ CHÚA và trong cung vua. Ông chặt những đồ bằng vàng mà Sô-lô-môn, vua Ít-ra-en đã làm cho đền thờ CHÚA. Điều nầy xảy ra y theo lời CHÚA phán.
2KI 24:14 Nê-bu-cát-nết-xa cũng lưu đày toàn dân Giê-ru-sa-lem, các lãnh tụ, các người giàu sang, các tay thợ khéo cùng các thợ đồng. Có tất cả mười ngàn tù binh bị bắt đi. Ông chỉ để lại những người nghèo khổ nhất trong xứ mà thôi.
2KI 24:15 Nê-bu-cát-nết-xa giải Giê-hô-gia-kin qua Ba-by-lôn cùng với mẹ và các vợ của vua, các sĩ quan và các người cầm đầu trong xứ. Họ bị bắt làm tù binh từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn.
2KI 24:16 Vua Ba-by-lôn cũng bắt bảy ngàn lính có khả năng thiện chiến, khoảng một ngàn thợ khéo và thợ đồng. Nê-bu-cát-nết-xa bắt họ làm tù binh giải qua Ba-by-lôn.
2KI 24:17 Rồi ông đặt Mát-ta-nia, chú Giê-hô-gia-kin, lên làm vua thế cho Giê-hô-gia-kin và đổi tên Mát-ta-nia ra Xê-đê-kia.
2KI 24:18 Xê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Ha-mu-tan, con gái của Giê-rê-mi ở Líp-na.
2KI 24:19 Xê-đê-kia làm điều ác trước mặt CHÚA như Giê-hô-gia-kim đã làm.
2KI 24:20 Mọi việc nầy xảy ra ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đa vì CHÚA nổi giận cùng họ. Cuối cùng Ngài ném bỏ họ.
2KI 25:1 Xê-đê-kia phản nghịch cùng vua Ba-by-lôn cho nên Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, kéo toàn quân lên đánh Giê-ru-sa-lem vào năm thứ chín đời vua Xê-đê-kia, vào ngày mười tháng mười. Vua đóng quân quanh thành và đắp đất vào tường thành để tấn công nó.
2KI 25:2 Thành bị tấn công cho đến năm thứ mười một đời vua Xê-đê-kia.
2KI 25:3 Vào ngày chín tháng tư, trong thành bị nạn đói khủng khiếp. Không còn thực phẩm cho dân chúng ăn nữa.
2KI 25:4 Khi thành bị chọc thủng thì toàn đạo quân bỏ trốn lúc ban đêm qua cửa nằm giữa hai vách gần vườn vua. Trong khi quân Ba-by-lôn đang vây thành thì Xê-đê-kia và quân sĩ chạy trốn về phía thung lũng Giô-đanh.
2KI 25:5 Nhưng quân Ba-by-lôn rượt theo vua Xê-đê-kia và bắt được vua trong bình nguyên Giê-ri-cô. Tất cả đạo quân của vua đều bỏ vua chạy tứ tán,
2KI 25:6 nên họ bắt được Xê-đê-kia và giải về cho vua Ba-by-lôn ở Ríp-la. Họ kết án Xê-đê-kia ở đó.
2KI 25:7 Họ giết các con trai Xê-đê-kia trước mắt vua rồi móc mắt vua và xiềng chân vua mang qua Ba-by-lôn.
2KI 25:8 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đến vây Giê-ru-sa-lem vào ngày bảy tháng năm, năm thứ mười chín triều đại mình. Nê-bu-xa-ra-đan là chỉ huy của đội cận vệ đặc biệt của vua.
2KI 25:9 Nê-bu-xa-ra-đan phóng hỏa đền thờ CHÚA, cung vua và tất cả nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem. Tất cả các toà nhà quan trọng đều bị thiêu hủy.
2KI 25:10 Toàn quân Ba-by-lôn dưới quyền chỉ huy của viên tư lệnh đội cận vệ đặc biệt của vua phá sập các vách thành quanh Giê-ru-sa-lem.
2KI 25:11 Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy của đội cận vệ, bắt dân chúng Giê-ru-sa-lem, những người đã đầu hàng vua Ba-by-lôn và toàn thể dân chúng còn lại.
2KI 25:12 Nhưng ông để lại những người nghèo khổ nhất trong xứ để chăm sóc vườn nho và đồng ruộng.
2KI 25:13 Người Ba-by-lôn đập bể những trụ đồng, các giá đồng, chậu đồng, cũng còn gọi là Cái Biển trong đền thờ CHÚA. Rồi họ mang số đồng đó sang Ba-by-lôn.
2KI 25:14 Họ cũng mang nồi niêu, xẻng xúc, dụng cụ hớt tim đèn, dĩa, và tất cả các vật dụng bằng đồng dùng trong đền thờ.
2KI 25:15 Viên chỉ huy của đội cận vệ đặc biệt cũng mang đi các chảo đựng than nóng, chậu, và tất cả mọi đồ làm bằng vàng ròng và bạc.
2KI 25:16 Có hai trụ và một cái chậu đồng lớn và một cái giá di động mà vua Sô-lô-môn đã làm cho đền thờ CHÚA. Số lượng đồng quá nhiều đến nỗi không thể nào cân hết được.
2KI 25:17 Mỗi cây trụ cao khoảng chín thước. Phần đầu phía trên trụ cao khoảng một thước rưỡi. Phần đó được làm theo kiểu mạng lưới có các trái lựu bao quanh. Trụ kia cũng có mạng lưới giống như trụ đầu tiên.
2KI 25:18 Viên chỉ huy của toán cận vệ bắt một số tù binh: Sê-rai-gia, thầy tế lễ cả, Xê-pha-nia, thầy tế lễ phó và ba người giữ cửa.
2KI 25:19 Trong số những người còn ở trong thành, ông bắt viên sĩ quan lực lượng chiến đấu cùng năm viên cố vấn cho vua. Ông bắt viên bí thư hoàng gia là người tuyển chọn binh sĩ cho quân đội cùng sáu mươi người nữa trong thành.
2KI 25:20 Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy bắt tất cả những người đó giải đến cho vua Ba-by-lôn ở Ríp-la.
2KI 25:21 Tại Ríp-la trong đất Ha-mát, vua ra lệnh giết họ. Rồi toàn thể dân Giu-đa đều bị đày ra khỏi xứ mình.
2KI 25:22 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn để lại một số người trong xứ Giu-đa. Vua chỉ định Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, làm tổng trấn.
2KI 25:23 Các viên chỉ huy quân đội và binh sĩ dưới quyền nghe vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia làm tổng trấn nên họ đến gặp ông ở Mích-ba. Đó là Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, Giô-ha-nan, con Ca-ria, Sê-rai-gia con Tan-hu-mết người Nê-tô-phát, Gia-a-xa-nia, con Ma-a-ca-thít và những thuộc hạ.
2KI 25:24 Ghê-đa-lia hứa cùng các viên sĩ quan chỉ huy cùng các binh sĩ dưới quyền như sau, “Đừng sợ các sĩ quan Ba-by-lôn. Hãy sống trong xứ và phục tùng vua Ba-by-lôn thì mọi việc sẽ êm đẹp cho các ngươi.”
2KI 25:25 Vào tháng bảy, Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc gia đình hoàng gia, cùng với mười người đến giết Ghê-đa-lia. Họ cũng giết những người Giu-đa và Ba-by-lôn có mặt với Ghê-đa-lia tại Mích-ba.
2KI 25:26 Rồi toàn thể dân chúng từ hạ lưu đến thượng lưu cùng với các sĩ quan trong quân đội trốn qua Ai-cập vì họ sợ người Ba-by-lôn.
2KI 25:27 Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa bị cầm tù ở Ba-by-lôn ba mươi bảy năm. Vào năm thứ ba mươi bảy Ê-vinh Mê-rô-đác lên ngôi vua Ba-by-lôn. Ông thả Giê-hô-gia-kin ra khỏi ngục vào ngày hai mươi bảy tháng mười hai.
2KI 25:28 Ê-vinh Mê-rô-đác lấy lời hoà nhã nói cùng Giê-hô-gia-kin và cho ông địa vị cao trọng hơn tất cả các vua khác có mặt với ông tại Ba-by-lôn.
2KI 25:29 Giê-hô-gia-kin lột bỏ quần áo tù. Suốt đời còn lại ông được ăn chung bàn vua.
2KI 25:30 Mỗi ngày trong khi Giê-hô-gia-kin còn sống, nhà vua ban cho ông một khoản trợ cấp.
1CH 1:1 A-đam sinh Sết. Sết sinh Ê-nốt. Ê-nốt sinh Kê-nan.
1CH 1:2 Kê-nan sinh Ma-ha-la-lên. Ma-ha-la-lên sinh Giê-rết. Giê-rết sinh Ê-nóc.
1CH 1:3 Ê-nóc sinh Mê-tu-sê-la. Mê-tu-sê-la sinh La-méc, La-méc sinh Nô-ê.
1CH 1:4 Các con trai của Nô-ê là Sem, Cham, và Gia-phết.
1CH 1:5 Các con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gót, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-séc, và Ti-ra.
1CH 1:6 Các con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ríp-hát, và Tô-ga-ma.
1CH 1:7 Các con trai của Gia-van là Ê-li-sa, Tạt-sít, Kít-tim, và Rô-đa-nim.
1CH 1:8 Các con trai của Cham là Cút, Mi-ra-im, Phút, và Ca-na-an.
1CH 1:9 Các con trai của Cút là Xê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-a-ma, và Sáp-tê-ca. Các con trai của Ra-a-ma là Sê-ba và Đê-đan.
1CH 1:10 Cút sinh Nim-rốt là tay dũng sĩ trên đất.
1CH 1:11 Mi-ra-im sinh dân Lu-đít, A-na-mít, Lê-ha-bít, và Nép-tu-hít,
1CH 1:12 Phát-ru-sít, Cát-su-hít và Cáp-tô-rít. Dân Phi-li-tin xuất thân từ dân Cát-xu-hít.
1CH 1:13 Con trai đầu của Ca-na-an là Xi-đôn. Ông cũng sinh ra người Hi-tít,
1CH 1:14 người Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-ga-sít,
1CH 1:15 Hi-vít, Ác-kít, Xi-nít,
1CH 1:16 Ác-va-đít, Xê-ma-rít, và Ha-ma-thít.
1CH 1:17 Các con trai của Sem là Ê-lam, A-sua, Á-phác-xác, Lút, và A-ram. Các con trai của A-ram là U-xơ, Hun, Ghê-the, và Mê-séc.
1CH 1:18 Ác-phác-xác sinh Sê-la, Sê-la sinh Ê-be.
1CH 1:19 Ê-be có hai con trai. Một người tên Phê-léc vì trong đời ông dân cư trên đất bị chia ra thành nhiều ngôn ngữ. Em của Phê-léc là Giốc-tan.
1CH 1:20 Giốc-tan sinh Anh-mô-đát, Sê-lép, Ha-xa-ma-vết, Giê-ra,
1CH 1:21 Ha-đô-ram, U-xanh, Điếc-la,
1CH 1:22 Ê-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
1CH 1:23 Ô-phia, Ha-vi-la, và Giô-báp. Tất cả những người đó là con của Giốc-tan.
1CH 1:24 Gia phổ gồm Sem, Ác-phác-xác, Sê-la,
1CH 1:25 Ê-be, Phê-léc, Rêu,
1CH 1:26 Xê-rúc, Na-ho, Thê-ra,
1CH 1:27 và Áp-ram gọi là Áp-ra-ham.
1CH 1:28 Các con trai của Áp-ra-ham là Y-sác và Ích-ma-ên.
1CH 1:29 Sau đây là các con trai của Y-sác và Ích-ma-ên. Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-bai-giốt. Các con trai khác là Kê-đa, Át-bê-ên, Míp-sam,
1CH 1:30 Mích-ma, Đu-ma, Ma-xa, Ha-đát, Thê-ma,
1CH 1:31 Giê-tu, Na-phích, và Kê-đê-ma. Đó là các con của Ích-ma-ên.
1CH 1:32 Kê-tu-ra, vợ sau của Áp-ra-ham, sinh Xim-ran, Giốc-san, Mê-đan, Mi-đi-an, Ích-bát, và Su-a. Các con trai của Giốc-san là Sê-ba và Đê-đan.
1CH 1:33 Các con trai của Mi-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa, và Ên-đa-a. Tất cả đều là dòng dõi của Kê-tu-ra.
1CH 1:34 Áp-ra-ham sinh Y-sác. Hai con trai của Y-sác là Ê-sau và Ít-ra-en.
1CH 1:35 Các con trai của Ê-sau là Ê-li-pha, Rêu-ên, Giê-úc, Gia-am, và Co-ra.
1CH 1:36 Các con trai của Ê-li-pha là Thê-man, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tam, Kê-nát, Tim-na, và A-ma-léc.
1CH 1:37 Các con trai của Rêu-ên là Na-hát, Xê-rơ, Sam-ma, và Mích-xa.
1CH 1:38 Các con trai của Sê-ia là Lô-tan, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na, Đi-sôn, Ê-xe, và Đi-san.
1CH 1:39 Các con trai của Lô-tan là Hô-ri và Hô-mam, và em gái ông là Tim-na.
1CH 1:40 Các con trai của Sô-banh là Anh-van, Ma-ha-hát, Ê-banh, Xê-phô, và Ô-nam. Các con trai của Xi-bê-ôn là Ai-gia và A-na.
1CH 1:41 Con trai của A-na là Đi-sôn. Các con trai của Đi-sôn là Hem-đan, Ếch-ban, Ít-ran, và Kê-ran.
1CH 1:42 Các con trai của Ê-xe là Binh-hanh, Xa-a-van, và A-can. Các con trai của Đi-san là U-xơ và A-ran.
1CH 1:43 Sau đây là tên các vua cai trị Ê-đôm trước khi dân Ít-ra-en có vua. Bê-la, con Bê-ô là vua Ê-đôm, và thành của ông gọi là Đinh-ha-ba.
1CH 1:44 Khi Bê-la qua đời, Giô-báp, con Xê-ra lên nối ngôi. Ông ta gốc ở Bốt-ra.
1CH 1:45 Khi Giô-báp qua đời thì Hu-sam lên làm vua. Ông gốc xứ của dân Thê-man.
1CH 1:46 Khi Hu-sam qua đời thì Ha-đát, con trai Bê-đát lên ngôi vua. Thành của ông gọi là A-vít. Ha-đát đánh bại dân Mi-đi-an trong xứ Mô-áp.
1CH 1:47 Khi Ha-đát qua đời thì Sam-la lên ngôi. Ông gốc ở Mát-rê-ca.
1CH 1:48 Khi Sam-la qua đời thì Sa-un lên ngôi vua. Ông gốc ở Rê-hô-bốt gần sông Ơ-phơ-rát.
1CH 1:49 Khi Sa-un qua đời thì Ba-anh Ha-nan, con Ác-bo, lên ngôi vua.
1CH 1:50 Khi Ba-anh Ha-nan qua đời thì Ha-đát lên ngôi vua, đóng đô tại Bao. Vợ Ha-đát tên Mê-hê-ta-bên, con gái Ma-trết, Ma-trết là con gái của Mê-xa-háp.
1CH 1:51 Rồi Ha-đát qua đời. Các trưởng gia tộc của Ê-đôm là Thim-na, Anh-va, Giê-thết,
1CH 1:52 Ô-hô-li-ba-ma, Ê-la, Phi-nôn,
1CH 1:53 Kê-nát, Thê-man, Míp-xa,
1CH 1:54 Mác-đi-ên, và Y-ram. Đó là các lãnh tụ của Ê-đôm.
1CH 2:1 Các con trai của Ít-ra-en là Ru-bên, Xi-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-xa-ca, Xê-bu-lôn,
1CH 2:2 Đan, Giô-xép, Bên-gia-min, Nép-ta-li, Gát, và A-xe.
1CH 2:3 Các con trai Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la. Mẹ của họ là một người đàn bà Ca-na-an, con của Bát-sua. Ê-rơ, con trưởng nam của Giu-đa làm điều ác cho nên bị CHÚA giết đi.
1CH 2:4 Ta-ma, dâu của Giu-đa sinh Phê-rê và Xê-ra. Giu-đa là cha hai người nầy cho nên Giu-đa có tất cả năm con trai.
1CH 2:5 Các con trai của Phê-rê là Hết-rôn và Ha-mun.
1CH 2:6 Xê-ra có năm con trai: Xim-ri, Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và Đạc-đa.
1CH 2:7 A-ca là con trai của Cát-mi. A-ca là người gây rối cho Ít-ra-en vì ông đã lấy những vật mà CHÚA dặn phải tiêu diệt.
1CH 2:8 Con trai Ê-than là A-xa-ria.
1CH 2:9 Các con trai của Hết-rôn là Giê-ra-mê-ên, Ram, và Ca-lép.
1CH 2:10 Ram là cha của Am-mi-na-đáp. Am-mi-na-đáp sinh Na-sôn. Na-sôn là lãnh tụ của dân Giu-đa.
1CH 2:11 Na-sôn sinh Sanh-môn, Sanh-môn sinh Bô-ô.
1CH 2:12 Bô-ô sinh Ô-bết, Ô-bết sinh Gie-xê.
1CH 2:13 Con trưởng nam của Gie-xê là Ê-li-áp. Con thứ hai là A-bi-na-đáp, con thứ ba là Si-mê-ra,
1CH 2:14 con thứ tư là Nê-tha-nên, con thứ năm là Rát-đai,
1CH 2:15 con thứ sáu là Ô-xem, và con thứ bảy là Đa-vít.
1CH 2:16 Chị em của họ là Xê-ru-gia và A-bi-ga-in. Các con trai của Xê-ru-gia là A-bi-sai, Giô-áp, và A-sa-ên.
1CH 2:17 A-bi-ga-in là mẹ của A-ma-sa, cha ông là Gie-thê, người Ích-ma-ên.
1CH 2:18 Ca-lép, con trai Hết-rôn sinh con qua vợ mình là A-xu-ba. A-xu-ba là con gái của Giê-ri-ốt. Các con trai của Ca-lép và A-xu-ba là Gie-sê, Sô-báp, và Ác-đôn.
1CH 2:19 Khi A-xu-ba qua đời, Ca-lép lấy Ép-rát. Hai người sinh ra một con trai đặt tên Hu-rơ,
1CH 2:20 Hu-rơ sinh U-ri, U-ri sinh Bê-xa-lên.
1CH 2:21 Về sau khi Hết-rôn đã được sáu mươi tuổi thì lấy con gái Ma-kia, tức là cha của Ghi-lê-át. Hết-rôn ăn nằm với con gái Ma-kia và sinh ra một con trai tên Sê-gúp.
1CH 2:22 Sê-gúp sinh Giai-rơ. Giai-rơ kiểm soát hai mươi ba thành phố trong miền Ghi-lê-át.
1CH 2:23 Nhưng Ghê-sua và A-ram chiếm được thành Giai-rơ, Kê-nát cùng các thị trấn quanh đó, tất cả là sáu mươi thị trấn. Tất cả những người đó là con cháu Ma-kia, cha Ghi-lê-át.
1CH 2:24 Sau khi Hết-rôn qua đời ở Ca-lép Ép-ra-tha thì A-bi-gia, vợ ông, sinh ra A-sua. A-sua sinh Tê-cô-a.
1CH 2:25 Con trưởng nam của Hết-rôn là Giê-ra-mê-ên. Các con trai của Giê-ra-mê-ên là Ram, Bu-na, Ô-rên, Ô-xem, và A-hi-gia. Ram là con trưởng nam của Giê-ra-mê-ên.
1CH 2:26 Giê-ra-mê-ên lấy một người vợ nữa tên A-ta-ra. Nàng sinh ra Ô-nam.
1CH 2:27 Ram, con trưởng nam của Giê-ra-mê-ên có con trai. Tên chúng nó là Ma-át, Gia-min, và Ê-ke.
1CH 2:28 Các con trai của Ô-nam là Sam-mai và Gia-đa. Các con trai của Sam-mai là Na-đáp và A-bi-sua.
1CH 2:29 Vợ của A-bi-sua tên A-bi-hai. Các con trai họ tên A-ban và Mô-lít.
1CH 2:30 Các con trai của Na-đáp là Sê-lết và Áp-ba-im. Sê-lết qua đời không con.
1CH 2:31 Các con trai của Áp-ba-im là Y-si, Y-si sinh Sê-san. Sê-san sinh A-lai.
1CH 2:32 Gia-đa là anh của Sam-mai. Các con trai của Gia-đa là Giê-the và Giô-na-than. Giê-the qua đời không con.
1CH 2:33 Các con trai của Giô-na-than là Phê-lết và Xa-xa. Đó là dòng dõi của Giê-ra-mê-ên.
1CH 2:34 Sê-san không có con trai, chỉ có con gái. Ông có một tên nô lệ người Ai-cập tên Gia-ha.
1CH 2:35 Sê-san gả con gái mình cho người nô lệ đó. Nàng sinh là một con trai tên Át-tai.
1CH 2:36 Át-tai sinh Na-than. Na-than sinh Xa-bát.
1CH 2:37 Xa-bát sinh Ép-lanh. Ép-lanh sinh Ô-bết.
1CH 2:38 Ô-bết sinh Giê-hu. Giê-hu sinh A-xa-ria.
1CH 2:39 A-xa-ria sinh Hê-le. Hê-le sinh Ê-lê-a-sa.
1CH 2:40 Ê-lê-a-sa sinh Xít-mai. Xít-mai sinh Sa-lum.
1CH 2:41 Sa-lum sinh Giê-ca-mia, và Giê-ca-mia sinh Ê-li-sa-ma.
1CH 2:42 Ca-lép là em Giê-ra-mê-ên. Con trưởng nam của Ca-lép là Mê-sa. Mê-sa sinh Xíp, và Ma-rê-sa con ông, sinh Hếp-rôn.
1CH 2:43 Các con trai của Hếp-rôn là Co-ra, Táp-bu-a, Rê-kem, và Sê-ma.
1CH 2:44 Sê-ma sinh Ra-ham. Ra-ham sinh Giọt-kê-am. Rê-cam sinh Sam-mai.
1CH 2:45 Sam-mai sinh Ma-ôn. Ma-ôn sinh Bết-Xu-rơ.
1CH 2:46 Ép-pha, vợ lẽ của Ca-lép sinh Ha-ran, Mô-xa, và Ga-xê. Ha-ran sinh Ga-xe.
1CH 2:47 Các con trai của Gia-đai là Rê-gem, Giô-tham, Ghê-san, Phê-lết, Ép-pha, và Sa-a-áp.
1CH 2:48 Ca-lép cũng có một vợ lẽ nữa tên Ma-a-ca. Ma-a-ca là mẹ của Sê-be, Tiệt-ha-na,
1CH 2:49 Sa-a-áp, và Sê-va. Sa-a-áp sinh Mách-man-na. Sê-va sinh Mạc-bê-na và Ghi-bê-a. Con gái của Ca-lép là Ạc-xa.
1CH 2:50 Sau đây là dòng dõi Ca-lép: Hu-rơ con Ca-lép là con trưởng nam của mẹ ông tên Ép-ra-tha. Các con trai của Hu-rơ là Sô-banh, Sanh-ma, và Ha-rếp. Sô-banh sinh Ki-ri-át Giê-a-rim. Sanh-ma sinh Bết-lê-hem. Ha-rếp sinh Bết-Ga-đe.
1CH 2:51 Sô-banh sinh Ki-ri-át Giê-a-rim. Dòng dõi của Sô-banh là Ha-rô-e, phân nửa dân Ma-ha-na-thít,
1CH 2:53 và họ hàng Ki-ri-át Giê-a-rim: dân Ít-rít, Phu-thít, Su-ma-thít, và Mít-ra ít. Dân Xô-ra-thít và dân Ết-tao-lít xuất thân từ dân Mít-ra-ít.
1CH 2:54 Dòng dõi của Sanh-ma là Bết-lê-hem, dân Nê-tô-pha-thít, A-trốt Bết Giô-áp, phân nửa dân Ma-ha-na-thít, và dân Xô-rít.
1CH 2:55 Dòng dõi ông gồm các họ hàng sống ở Gia-be là những người viết và sao lại các văn kiện quan trọng. Họ được gọi là dân Ti-ra-thít, Si-mê-a-thít, và Su-ca-thít và xuất thân từ họ hàng Kê-nít là những họ hàng đến từ Ha-mát. Ông cũng là tổ tiên của những dân sống ở Rê-cáp.
1CH 3:1 Đây là các con trai của Đa-vít sinh ra ở Hếp-rôn. Con trưởng nam là Am-nôn, mẹ là A-hi-nô-am ở Ghít-rê-ên. Con thứ hai là Đa-niên, mẹ là A-bi-ga-in ở Cạt-mên.
1CH 3:2 Con thứ ba là Áp-xa-lôm, mẹ là Ma-a-ca, con gái của Thanh-mai, vua Ghê-sua. Con thứ tư là A-đô-ni-gia, mẹ là Ha-ghít.
1CH 3:3 Con thứ năm là Sê-pha-tia, mẹ là A-bi-tan. Con thứ sáu là Ít-rê-am, mẹ là Éc-la.
1CH 3:4 Sáu người con trai nầy của Đa-vít sinh ở Hếp-rôn, nơi Đa-vít trị vì trong bảy năm rưỡi. Đa-vít trị vì ở Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.
1CH 3:5 Sau đây là những người con sinh ở Giê-ru-sa-lem: Sam-mua, Sô-báp, Na-than, và Sô-lô-môn, tức bốn người con của Đa-vít và Bát-sê-ba, con gái A-miên.
1CH 3:6 Chín người con trai khác của Đa-vít là Íp-ha, Ê-li-sua, Ê-li-phê-lết, Nô-ga, Nê-phéc, Gia-phia, Ê-li-sa-ma, Ê-li-a-đa, và Ê-li-phê-lết.
1CH 3:9 Đó là các con trai của Đa-vít, ngoại trừ các con do các vợ lẽ sinh ra. Đa-vít cũng có một con gái tên Ta-ma.
1CH 3:10 Con trai của Sô-lô-môn là Rô-bô-am. Con trai Rô-bô-am là A-bi-gia. Con trai A-bi-gia là A-sa. Con trai A-sa là Giô-sa-phát.
1CH 3:11 Con trai Giô-sa-phát là Giê-hô-ram. Con trai Giê-hô-ram là A-cha-xia. Con trai A-cha-xia là Giô-ách.
1CH 3:12 Con trai Giô-ách là A-ma-xia. Con trai A-ma-xia là A-xa-ria. Con trai A-xa-ria là Giô-tham.
1CH 3:13 Con trai Giô-tham là A-cha. Con trai A-cha là Ê-xê-chia. Con trai Ê-xê-chia là Ma-na-xe.
1CH 3:14 Con trai Ma-na-xe là A-môn, và con trai A-môn là Giô-xia.
1CH 3:15 Sau đây là các con trai Giô-xia: Con trưởng nam là Giô-ha-nan, con thứ nhì là Giê-hô-gia-kim, con thứ ba là Xê-đê-kia, con thứ tư là Sa-lum.
1CH 3:16 Con của Giê-hô-gia-kim là Giê-hô-gia-kin, và con của Giê-hô-gia-kin là Xê-đê-kia.
1CH 3:17 Giê-hô-gia-kin bị bắt làm tù binh. Các con trai ông là Sê-anh-tiên,
1CH 3:18 Manh-ki-ram, Bê-đai-gia, Sê-na-xa, Giê-ca-mia, Hô-sa-ma, và Nê-đa-bia.
1CH 3:19 Các con trai của Bê-đai-gia là Xê-ru-ba-bên và Si-mê-i. Các con trai Xê-ru-ba-bên là Mê-su-lam và Ha-na-nia cùng em gái họ là Sê-lô-mít.
1CH 3:20 Xê-ru-ba-bên cũng có năm con trai khác; Ha-su-ba, Ô-hên, Bê-rê-kia, Ha-xa-đia, và Giu-sáp Hê-sết.
1CH 3:21 Dòng dõi của Ha-na-nia là Bê-la-tia và Giê-sai-gia, và các con trai của Rê-phai-a, Ác-nan, Áp-đia, và Sê-ca-nia.
1CH 3:22 Các con trai của Sê-ca-nia là Sê-mai-gia. Các con trai của Sê-mai-gia là Hát-túc, Y-ganh, Ba-ria, Nê-a-nia, và Sa-phát. Tất cả là sáu người.
1CH 3:23 Nê-a-ria có ba con trai: Ê-li-ô-ê-nai, Hi-kia, và A-ri-cam.
1CH 3:24 Ê-li-ô-ê-nai có bảy con trai: Hô-đa-via, Ê-li-a-síp, Bê-lai-gia, Ác-cúp, Giô-ha-nan, Đê-lai-gia, và A-na-ni.
1CH 4:1 Các con cháu khác của Giu-đa là Phê-rê, Hết-rôn, Cạt-mi, Hu-rơ, và Sô-banh.
1CH 4:2 Rê-ai-gia là con Sô-banh. Rê-ai-gia sinh Gia-hát, Gia-hát sinh A-hu-mai và La-hát. Đó là họ hàng của dân Xô-ra-thít.
1CH 4:3 Hu-rơ là con trưởng nam của Ca-lép và vợ là Ép-ra-tha. Hu-rơ là người sáng lập thị trấn Bết-lê-hem. Ba con trai ông là Ê-tam, Phê-nu-ên, và Ê-xe. Các con trai của Ê-tam là Ghít-rê-ên, Ích-ma, và Ích-bát. Họ có một em gái tên Ha-xê-lên-bô-ni. Phê-nu-ên sinh Ghê-đo, còn Ê-xe sinh Hu-sa.
1CH 4:5 Thê-cô-a sinh A-sua. A-sua có hai vợ tên Hê-la và Na-a-ra.
1CH 4:6 Các con trai của A-sua và Na-a-ra là A-hu-xam, Hê-phe, Tê-me-ni, và Ha-a-hát-ta-ri. Đó là dòng dõi của Na-a-ra.
1CH 4:7 Các con trai của Hê-la là Xê-rết, Xô-ha, Ết-nan,
1CH 4:8 và Cốt. Cốt sinh A-núp, Ha-xô-bê-ba, và gia tộc A-ha-hên. A-ha-hên là con trai Ha-rum.
1CH 4:9 Có một người tên Gia-be được tôn trọng hơn các anh em khác. Mẹ ông đặt tên ông là Gia-be vì bà bảo, “Tôi bị đau đớn quá mức khi sinh ra nó.”
1CH 4:10 Gia-be cầu nguyện cùng Thượng Đế của Ít-ra-en, “Xin ban phước cho tôi, ban cho tôi thêm đất. Xin ở cùng tôi, đừng để ai hại tôi; như thế tôi mới không bị đau đớn nữa.” Thượng Đế nghe lời Gia-be cầu xin.
1CH 4:11 Kê-lúp, anh Su-la, sinh Mê-hia. Mê-hia sinh Ếch-tôn.
1CH 4:12 Ếch-tôn sinh Bết-Ra-pha, Ba-sê-a, và Tê-hin-na. Tê-hin-na là tổ phụ của thị trấn Na-hách. Các người đó gốc Rê-ca.
1CH 4:13 Các con trai của Kê-na là Ốt-ni-ên và Sê-rai-gia. Các con trai của Ốt-ni-ên là Ha-tha và Mê-ô-nô-thai.
1CH 4:14 Mê-ô-nô-thai sinh Óp-ra. Sê-rai-gia sinh Giô-áp. Giô-áp là tổ tiên của các dân sống trong Thung lũng Thợ Khéo, sở dĩ mang tên nầy vì những người sống ở đó đều là các thợ khéo.
1CH 4:15 Ca-lép là con trai của Giê-phu-nê. Các con trai của Ca-lép là Y-ru, Ê-la, và Na-am. Con trai Ê-la là Kê-nát.
1CH 4:16 Các con trai của Giê-ha-lê-lên là Xíp, Xíp-ha, Ti-ra, và A-xa-rên.
1CH 4:17 Các con trai của Ê-ra là Giê-the, Mê-rết, Ê-phe, và Gia-lôn. Mê-rết lấy Bi-thia, con gái của vua Ai-cập. Các con của Mê-rết và Bi-thia là Mi-ri-am, Sam-mai, và Ích-ba. Ích-ba sinh Ết-tê-moa. Mê-rết cũng có một người vợ gốc Giu-đa. Bà sinh ra Giê-rết, Hê-be, và Giê-cu-thiên. Giê-rết sinh Ghê-đo. Hê-be sinh Xô-cô. Còn Giê-cu-thiên sinh Xa-noa.
1CH 4:19 Vợ của Hô-đia là em gái Na-ham. Các con trai của vợ Hô-đia là Ết-tê-moa, và cha của Kê-i-la. Kê-i-la xuất thân từ dân Gạt-mít, còn Ết-tê-moa xuất thân từ dân Ma-a-ca-thít.
1CH 4:20 Các con trai của Si-môn là Am-nôn, Rin-na, Bên-Ha-nan, và Ti-lôn. Các con trai của Ích-si là Xô-hết và Bên-Xô-hết.
1CH 4:21 Sê-la là con Giu-đa. Các con trai Sê-la là Ê-rơ, La-a-đa, Giô-kim, những người từ Cô-xê-ba, Giô-ách, và Xa-ráp. Ê-rơ sinh Lê-ca. Lê-a-đa sinh Ma-rê-sa và họ hàng của những thợ dệt vải ở Bết-Ách-bia. Giô-ách và Xa-ráp cai trị Mô-áp và Gia-su-bi Lê-hem. Những bút tích của gia đình nầy rất xưa.
1CH 4:23 Các con trai của Sê-la làm thợ gốm. Họ sống ở Nê-ta-im và Ghê-đa-ra và làm việc cho vua.
1CH 4:24 Các con trai của Xi-mê-ôn là Nê-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, Xê-ra, và Sa-un.
1CH 4:25 Con trai của Sa-un là Sa-lum. Con trai của Sa-lum là Míp-xam. Con trai Míp-xam là Mích-ma.
1CH 4:26 Con trai của Mích-ma là Ham-mu-ên. Con trai của Ham-mu-ên là Xa-cua. Con trai Xa-cua là Si-mê-i.
1CH 4:27 Si-mê-i có mười sáu con trai và sáu con gái, nhưng anh em ông không có con cho nên gia tộc họ không đông bằng gia tộc Giu-đa.
1CH 4:28 Các con của Si-mê-i sống ở Bê-e-sê-ba, Mô-la-đa, Ha-xa-Su-anh,
1CH 4:29 Binh-ha, Ê-xem, Tô-lát,
1CH 4:30 Bê-tu-ên, Họt-ma, Xiếc-lác,
1CH 4:31 Bết-Mác-ca-bốt, Ha-xa Xu-xim, Bết-Bi-ri, và Sa-a-ra-im. Họ sống trong các thành đó cho đến khi Đa-vít lên ngôi vua.
1CH 4:32 Năm làng gần các thành nầy là Ê-tam, A-in, Rim-môn, Tô-ken, và A-san.
1CH 4:33 Ngoài ra cũng có các làng khác chạy dài đến Ba-a-lát. Đó là nơi họ ở. Họ cũng chép gia phổ của gia đình mình.
1CH 4:34 Những người trong danh sách sau đây là trưởng họ hàng: Mê-sô-báp, Giam-léc, Giô-sa con A-ma-xia, Giô-ên, Giê-hu con Giô-si-bia (Giô-si-bia là con của Sê-rai-gia, cháu A-xi-ên), Ê-li-ô-ê-nai, Gia-a-cô-ba, Giê-sô-hai-gia, A-sai-gia, A-đi-ên, Giê-xi-miên, Bê-nai-gia, và Xi-xa. Xi-xa là con Síp-hi, cháu A-lôn. A-lôn là con Giê-đai-gia, cháu Sim-ri. Sim-ri là con Sê-mai-gia. Các gia đình nầy rất đông con.
1CH 4:39 Họ đi ra ngoài thành Ghê-đo về phía đông thung lũng để tìm đồng cỏ cho gia súc mình.
1CH 4:40 Họ tìm được nhiều đồng cỏ tốt, đất rộng, khoảng khoát và yên tĩnh. Các con cháu của Cham trước kia sống ở đó.
1CH 4:41 Những người trong danh sách trên đây đến định cư ở Ghê-đo trong khi Ê-xê-chia làm vua Giu-đa. Họ đánh dân Ha-mít, phá lều trại của chúng, và đánh dân Mê-u-nít đang sống ở đó, hoàn toàn tiêu diệt dân đó. Cho nên ngày nay không còn dân Mê-u-nít nữa. Rồi họ vào chiếm nơi ấy vì có nhiều đồng cỏ cho bầy chiên.
1CH 4:42 Bê-la-tia, Nê-ra-ria, Rê-phai-gia, và U-xi-ên, các con trai của Y-si, hướng dẫn năm trăm người Xi-mê-ôn đánh các dân sống trong vùng núi Ê-đôm.
1CH 4:43 Họ giết những người A-ma-léc còn sống sót. Từ đó đến nay người Xi-mê-ôn vẫn sống ở Ê-đôm.
1CH 5:1 Ru-bên là con trưởng nam của Ít-ra-en. Đáng lẽ Ru-bên được hưởng một phần ưu tiên dành cho con trưởng nam nhưng ông ăn nằm với vợ lẽ của cha mình. Vì vậy phần ưu tiên đó chuyển sang cho các con trai của Giô-xép (Giô-xép là con trai của Ít-ra-en). Trong gia phổ, Ru-bên không được ghi là con trưởng nam.
1CH 5:2 Giu-đa hùng mạnh hơn các anh em mình cho nên từ gia đình đó xuất thân một lãnh tụ. Nhưng gia đình Giô-xép hưởng các đặc quyền dành cho con trưởng nam.
1CH 5:3 Ru-bên là con trưởng nam của Ít-ra-en. Các con trai Ru-bên là Ha-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
1CH 5:4 Sau đây là các con của Giô-ên: Sê-mai-gia là con trai Giô-ên. Gót là con trai Sê-mai-gia. Si-mê-i là con trai của Gót.
1CH 5:5 Mi-ca là con trai Si-mê-i. Rê-ai-gia là con trai Mi-ca. Ba-anh là con trai Rê-ai-gia.
1CH 5:6 Bê-ê-ra là con trai Ba-anh. Bê-ê-ra là một lãnh tụ của chi tộc Ru-bên. Tiếc-lác Phi-lê-xe, vua A-xy-ri bắt đày ông đi. Ông bị Tiếc-lác Phi-lê-xe, vua A-xy-ri, bắt đi đày.
1CH 5:7 Các anh em Giô-ên và họ hàng ông được liệt kê theo thứ tự ghi trong gia phổ: Giê-Y-ên là đầu rồi đến Xa-cha-ri
1CH 5:8 và Bê-la. Bê-la là con trai A-xa. A-xa là con trai Sê-ma, và Sê-ma là con trai Giô-ên. Họ sống trong vùng A-rô-e chạy dài cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn.
1CH 5:9 Dân Bê-la sống về phía đông chạy đến ven sa mạc bên cạnh sông Ơ-phơ-rát vì họ có quá nhiều gia súc nên đất Ghi-lê-át không đủ rộng.
1CH 5:10 Trong khi Sau-lơ làm vua, dân Bê-la đánh nhau với dân Hát-rít và thắng họ. Rồi dân Bê-la vào ở trong các lều của dân Hát-rít toàn vùng phía đông Ghi-lê-át.
1CH 5:11 Dân cư thuộc chi tộc Gát sống gần dân Ru-bên. Người Gát sống trong vùng Ba-san chạy dài đến Xa-lê-ca.
1CH 5:12 Giô-ên là lãnh tụ chính, Sa-pham là lãnh tụ thứ nhì, còn Gia-nai và Sa-phát là lãnh tụ vùng Ba-san.
1CH 5:13 Bảy thân nhân trong gia đình họ là Mi-chên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia, và Ê-be.
1CH 5:14 Họ là con cháu A-bi-hai. A-bi-hai là con trai Hu-ri. Hu-ri là con trai Gia-roa. Gia-roa là con trai Ghi-lê-át. Ghi-lê-át là con trai Mi-chên. Mi-chên là con trai Giê-si-sai. Giê-si-sai là con Gia-đô, và Gia-đô là con Bu-xơ.
1CH 5:15 A-hi là con Áp-đi-ên, Áp-đi-ên là con Gu-ni. A-hi là trưởng gia đình.
1CH 5:16 Người Gát sống ở Ghi-lê-át, Ba-san và các thị trấn xung quanh và ở trên các đồng cỏ trong bình nguyên Sa-rôn chạy dài đến biên giới.
1CH 5:17 Tất cả các tên tuổi trên đây đều được ghi vào gia phổ của Gát trong đời Giô-tham làm vua Giu-đa và Giê-rô-bô-am làm vua Ít-ra-en.
1CH 5:18 Trong các chi tộc Ru-bên, Gát và Ma-na-xe miền đông có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi binh sĩ mang thuẫn, gươm và cung tên. Họ có tài đánh giặc.
1CH 5:19 Họ gây chiến cùng dân Hát-rít và các dân Giê-tua, Na-phích, và Nô-đáp.
1CH 5:20 Những người thuộc chi tộc Ma-na-xe, Ru-bên, và Gát cầu xin Thượng Đế giúp mình trong khi đánh nhau nên Ngài giúp họ vì họ tin cậy nơi Ngài. Ngài trao dân Hát-rít cùng những kẻ ở với chúng vào tay họ.
1CH 5:21 Họ chiếm các gia súc của dân Hát-rít: năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, và hai ngàn lừa. Họ cũng bắt một trăm ngàn người.
1CH 5:22 Nhiều người Hát-rít bị giết vì Thượng Đế giúp người Ru-bên, Gát, và Ma-na-xe. Rồi họ sống ở đó cho đến khi người Ba-by-lôn bắt họ mang đi lưu đày.
1CH 5:23 Phân nửa chi tộc Ma-na-xe sống trong vùng Ba-san chạy dài đến Ba-anh Hẹt-môn, Xê-nia, và núi Hẹt-môn. Họ trở thành một đám dân đông đảo.
1CH 5:24 Sau đây là các trưởng gia đình: Ê-phe, Y-si, Ê-li-ên, Át-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và Gia-đi-ên. Họ đều là những lãnh tụ mạnh dạn, can đảm, và nổi danh trong gia đình họ.
1CH 5:25 Nhưng họ phạm tội cùng Thượng Đế mà tổ tiên họ đã thờ lạy. Họ bắt đầu bái lạy các thần của dân trong xứ đó tức dân mà Thượng Đế hủy diệt.
1CH 5:26 Nên Thượng Đế của Ít-ra-en khiến Phun, vua A-xy-ri gây chiến. Phun cũng còn có tên là Tiếc-lác Phi-lê-xe. Ông bắt người Ru-bên, Gát và Ma-na-xe miền Đông, đày họ sang Ha-la, Ha-bo, Ha-ra, và vùng gần sông Gô-xan. Từ lúc đó cho đến nay họ sống ở đó.
1CH 6:1 Các con trai Lê-vi là Ghẹt-sôn, Cô-hát, và Mê-ra-ri.
1CH 6:2 Các con trai Cô-hát là Am-ram, Y-xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
1CH 6:3 Các con Am-ram là A-rôn, Mô-se, và Mi-ri-am. Các con trai A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-xa, và Y-tha-ma.
1CH 6:4 Ê-lê-a-xa sinh Phi-nê-ha. Phi-nê-ha sinh A-bi-sua.
1CH 6:5 A-bi-sua sinh Bu-ki. Bu-ki sinh U-xi.
1CH 6:6 U-xi sinh Xê-ra-hia. Xê-ra-hia sinh Mê-rai-ốt.
1CH 6:7 Mê-rai-ốt sinh A-ma-ria. A-ma-ria sinh A-hi-túp.
1CH 6:8 A-hi-túp sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh A-hi-mát.
1CH 6:9 A-hi-mát sinh A-xa-ria. A-xa-ria sinh Giô-ha-nan.
1CH 6:10 Giô-ha-nan sinh A-xa-ria. A-xa-ria là thầy tế lễ trong đền thờ do Sô-lô-môn cất ở Giê-ru-sa-lem.
1CH 6:11 A-xa-ria sinh A-ma-ria. A-ma-ria sinh A-hi-túp.
1CH 6:12 A-hi-túp sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh Sa-lum.
1CH 6:13 Sa-lum sinh Hinh-kia. Hinh-kia sinh A-xa-ria.
1CH 6:14 A-xa-ria sinh Sê-rai-gia, Sê-rai-gia sinh Giê-hô-xa-đác.
1CH 6:15 Giê-hô-xa-đác buộc phải rời bỏ quê hương mình khi CHÚA bắt Giu-đa và Giê-ru-sa-lem lưu đày duới quyền thống trị của Nê-bu-cát-nết-xa.
1CH 6:16 Các con trai Lê-vi là Ghẹt-sôn, Cô-hát, và Mê-ra-ri.
1CH 6:17 Các con trai của Ghẹt-sôn là Líp-ni và Si-mê-i.
1CH 6:18 Các con trai Cô-hát là Am-ram, Y-xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
1CH 6:19 Các con trai Mê-ra-ri là Ma-li và Mu-si. Đây là danh sách các họ hàng Lê-vi, liệt kê theo tên cha của mỗi gia tộc.
1CH 6:20 Con trai của Ghẹt-sôn là Líp-ni. Con Líp-ni là Giê-hát. Con Giê-hát là Xim-ma.
1CH 6:21 Con Xim-ma là Giô-a. Con Giô-a là Y-đô. Con Y-đô là Xê-ra và con Xê-ra là Giê-a-thê-rai.
1CH 6:22 Con Cô-hát là Am-mi-na-đáp. Con Am-mi-na-đáp là Cô-ra. Con Cô-ra là A-xia.
1CH 6:23 Con A-xia là Ên-ca-na. Con Ên-ca-na là Ê-bi-a-xáp. Con Ê-bi-a-xáp là A-xia.
1CH 6:24 Con A-xia là Ta-hát. Con Ta-hát là U-ri-ên. Con U-ri-ên là U-xia và con U-xia là Sa-un.
1CH 6:25 Các con trai Ên-ca-na là A-ma-sai và A-hi-mốt.
1CH 6:26 Con A-hi-mốt là Ên-ca-na. Con Ên-ca-na là Xô-phai. Con Xô-phai là Na-hát.
1CH 6:27 Con Na-hát là Ê-li-áp. Con Ê-li-áp là Giê-hô-ram. Con Giê-hô-ram là Ên-ca-na và con Ên-ca-na là Sa-mu-ên.
1CH 6:28 Các con trai Sa-mu-ên là Giô-ên, con trưởng nam, và A-bi-gia, con thứ hai.
1CH 6:29 Con Mê-ra-ri là Ma-li. Con Ma-li là Líp-ni. Con Líp-ni là Si-mê-i. Con Si-mê-i là U-xa.
1CH 6:30 Con U-xa là Si-mê-a. Con Si-mê-a là Ha-gia, và con Ha-gia là A-sai-gia.
1CH 6:31 Đa-vít chọn những người lo âm nhạc cho nhà CHÚA. Họ bắt tay vào việc ngay sau khi Rương Giao Ước được đặt vào đền thờ.
1CH 6:32 Họ lo âm nhạc cho Lều Thánh, cũng còn gọi là Lều Họp, và phục vụ cho đến khi Sô-lô-môn xây đền thờ CHÚA tại Giê-ru-sa-lem. Họ tuân theo các qui tắc định cho công việc họ.
1CH 6:33 Sau đây là tên các nhạc công và con trai họ: Từ gia đình Cô-hát có Hê-man làm ca sĩ. Hê-man con Giô-ên. Giô-ên con Sa-mu-ên.
1CH 6:34 Sa-mu-ên con Ên-ca-na. Ên-ca-na con Giê-hô-ram. Giê-hô-ram con Ê-li-ên. Ê-li-ên con Tô-a.
1CH 6:35 Tô-a con của Xúp. Xúp con Ên-ca-na. Ên-ca-na con Ma-hát. Ma-hát con A-ma-sai.
1CH 6:36 A-ma-sai con Ên-ca-na. Ên-ca-na con Giô-ên. Giô-ên con A-xa-ria. A-xa-ria con Xô-phô-ni.
1CH 6:37 Xô-phô-ni con Ta-hát. Ta-hát con A-xia. A-xia con Ê-bi-a-xáp. Ê-bi-a-xáp con Cô-ra.
1CH 6:38 Cô-ra con Y-sa. Y-sa con Cô-hát. Cô-hát con Lê-vi. Lê-vi con Ít-ra-en.
1CH 6:39 A-sáp làm phụ tá cho Hê-man. Toán của A-sáp đứng bên phải Hê-man. A-sáp con Bê-rê-kia. Bê-rê-kia con Si-mê-a.
1CH 6:40 Si-mê-a con Mi-chên. Mi-chên con Ba-a-sê-gia. Ba-a-sê-gia con Manh-ki-gia.
1CH 6:41 Manh-ki-gia con Ết-ni. Ết-ni con Xê-ra. Xê-ra con A-đai-gia.
1CH 6:42 A-đai-gia con Ê-than. Ê-than con Xim-ma. Xim-ma con Si-mê-i.
1CH 6:43 Si-mê-i con Gia-hát. Gia-hát con Ghẹt-sôn, và Ghẹt-sôn là con Lê-vi.
1CH 6:44 Gia đình Mê-ra-ri làm phụ tá cho Hê-man và A-sáp. Họ đứng bên trái Hê-man. Trong nhóm nầy có Ê-than con Ki-si. Ki-si con Áp-đi. Áp-đi con Ma-lúc.
1CH 6:45 Ma-lúc con Ha-sa-bia. Ha-sa-bia con A-ma-xia. A-ma-xia con Hinh-kia.
1CH 6:46 Hinh-kia con Am-xi. Am-xi con Ba-ni. Ba-ni con Sê-me.
1CH 6:47 Sê-me con Ma-li. Ma-li con Mu-si. Mu-si con Mê-ra-ri, và Mê-ra-ri là con Lê-vi.
1CH 6:48 Những người Lê-vi khác phục vụ các công tác đặc biệt của họ trong Lều Thánh, tức nhà của Thượng Đế.
1CH 6:49 A-rôn và con cháu ông dâng sinh tế trên bàn thờ của lễ thiêu và đốt hương trên bàn thờ xông hương. Họ dâng sinh tế để chuộc tội dân Ít-ra-en. Họ làm công tác trong Nơi Chí Thánh và tuân theo tất cả các luật lệ mà Mô-se, tôi tớ Thượng Đế truyền dặn.
1CH 6:50 Sau đây là tên các con trai A-rôn: Ê-lê-a-xa con A-rôn. Phi-nê-ha con Ê-lê-a-xa. A-bi-sua con Phi-nê-ha.
1CH 6:51 Bu-ki con A-bi-sua. U-xi con Bu-ki. Xê-ra-hia con U-xi.
1CH 6:52 Mê-rai-ốt con Xê-ra-hia. A-ma-ria con Mê-rai-ốt. A-hi-túp con A-ma-ria.
1CH 6:53 Xa-đốc con A-hi-túp, và A-hi-mát con Xa-đốc.
1CH 6:54 Sau đây là nơi con cháu A-rôn cư ngụ. Con cháu thuộc họ hàng Cô-hát nhận phần đất đầu tiên.
1CH 6:55 Họ được cấp cho thành Hếp-rôn trong Giu-đa và các đồng cỏ quanh đó,
1CH 6:56 nhưng ruộng nương cách xa thành và các làng mạc gần Hếp-rôn thì đã được cấp cho Ca-lép con Giê-phu-nê.
1CH 6:57 Vì thế con cháu A-rôn được cấp Hếp-rôn, một trong các thành trú ẩn. Họ cũng nhận các thị trấn và đồng cỏ ở Líp-na và các đồng cỏ chung quanh, Gia-tia, Ếch-tê-moa và các đồng cỏ chung quanh,
1CH 6:58 Hi-len, Đê-bia,
1CH 6:59 A-san, Giút-ta, và Bết-Sê-mết.
1CH 6:60 Họ cũng nhận các thị trấn và đồng cỏ sau đây từ chi tộc Bên-gia-min: Ghi-bê-ôn, Ghê-ba, A-lê-mết, và A-na-thốt. Họ hàng Cô-hát nhận tất cả mười ba thị trấn.
1CH 6:61 Những gia đình còn lại của họ hàng Cô-hát được cấp mười thị trấn lấy từ các họ hàng của chi tộc Ma-na-xe Miền Tây. Các thành nầy được chọn theo lối bắt thăm.
1CH 6:62 Họ hàng Ghẹt-sôn nhận được mười ba thị trấn từ các chi tộc Y-xa-ca, A-xe, Nép-ta-li, và một phần của chi tộc Ma-na-xe sống ở Ba-san.
1CH 6:63 Họ hàng Mê-ra-ri nhận được mười hai thị trấn từ các chi tộc Ru-bên, Gát, và Xê-bu-lôn. Các thành đó được chọn theo lối bắt thăm.
1CH 6:64 Vậy dân Ít-ra-en cấp các thị trấn và đồng cỏ đó cho người Lê-vi.
1CH 6:65 Các thị trấn của chi tộc Giu-đa, Xi-mê-ôn, và Bên-gia-min có tên đều được chọn theo lối bắt thăm.
1CH 6:66 Một số gia đình thuộc họ hàng Cô-hát nhận được các thị trấn và đồng cỏ thuộc chi tộc Ép-ra-im.
1CH 6:67 Họ nhận được Sê-chem, một trong các thành trú ẩn cùng đồng cỏ trong vùng núi Ép-ra-im. Họ cũng nhận được các thị trấn và đồng cỏ ở Ghê-xe,
1CH 6:68 Giốc-mê-am, Bết-Hô-rôn,
1CH 6:69 A-gia-lôn, và Gát-Rim-môn.
1CH 6:70 Những người còn lại của họ hàng Cô-hát nhận các thị trấn A-ne và Bi-lê-am cùng các đồng cỏ từ chi tộc Ma-na-xe miền Tây.
1CH 6:71 Từ chi tộc Ma-na-xe miền Đông, gia đình Ghẹt-sôn nhận các thị trấn và đồng cỏ thuộc Gô-lan trong vùng Ba-san và Ách-ta-rốt.
1CH 6:72 Từ chi tộc Y-xa-ca, họ hàng Ghẹt-sôn nhận các thị trấn và đồng cỏ ở Kê-đe, Đa-bê-rát, Ra-mốt, và A-nem.
1CH 6:73 Từ chi tộc A-xe, họ hàng Ghẹt-sôn nhận các thị trấn và đồng cỏ ở Ma-sanh, Áp-đôn, Hu-cốc, và Rê-hốp.
1CH 6:75 Từ chi tộc Nép-ta-li, họ hàng Ghẹt-sôn nhận được các thị trấn và đồng cỏ ở Kê-đe trong miền Ga-li-lê, Ham-môn, và Ki-ri-a-tha-im.
1CH 6:77 Phần còn lại của chi tộc Lê-vi, những người thuộc họ hàng Mê-ra-ri, nhận được các thị trấn và đồng cỏ ở Giốc-nê-am, Các-ta, Rim-mô-nô, và Ta-bo từ chi tộc Xê-bu-lôn.
1CH 6:78 Từ chi tộc Ru-bên, họ hàng Mê-ra-ri nhận được các thị trấn và đồng cỏ ở Bê-xe trong sa mạc, Gia-xa, Kê-đê-mốt, và Mê-pha-át. (Chi tộc Ru-bên định cư ở phía đông sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.)
1CH 6:80 Từ chi tộc Gát, họ hàng Mê-ra-ri nhận được các thị trấn và đồng cỏ ở Ra-mốt trong miền Ghi-lê-át, Ma-ha-na-im, Hết-bôn, và Gia-xe.
1CH 7:1 Y-xa-ca có bốn con trai: Tô-la, Phu-a, Gia-xúp, và Sim-rôn.
1CH 7:2 Các con trai của Tô-la là U-xi, Rê-phai-gia, Giê-ri-ên, Gia-mai, Íp-xam, và Sa-mu-ên. Họ đều là chủ gia đình. Trong gia phổ về dòng dõi Tô-la có liệt kê hai mươi hai ngàn sáu trăm trai tráng làm chiến sĩ trong thời Đa-vít làm vua.
1CH 7:3 U-xi con Y-ra-hia. Các con trai của Y-ra-hia là Mi-chên, Áp-đia, Giô-ên, và Ích-xa. Tất cả năm người nầy đều là thủ lãnh.
1CH 7:4 Gia phổ của họ có ghi ba mươi sáu ngàn trai tráng sẵn sàng nhập quân ngũ vì họ có nhiều vợ và con.
1CH 7:5 Gia phổ của họ hàng Y-xa-ca cho thấy có tám mươi bảy ngàn chiến sĩ.
1CH 7:6 Bên-gia-min có ba con trai: Bê-la, Bê-ke, và Giê-đi-ên.
1CH 7:7 Bê-la có năm con trai: Ếch-bôn, U-xi, U-xi-ên, Giê-ri-mốt, và Y-ri. Tất cả đều là trưởng gia đình. Gia phổ cho thấy họ có hai mươi hai ngàn ba mươi bốn chiến sĩ.
1CH 7:8 Các con trai của Bê-ke là Xê-mi-ra, Giô-ách, Ê-li-ê-xe, Ê-li-ô-ê-nai, Ôm-ri, Giê-rê-mốt, A-bi-gia, A-na-thốt, và A-lê-mết. Tất cả đều là con của Bê-ke.
1CH 7:9 Gia phổ họ liệt kê các trưởng gia đình và hai mươi ngàn hai trăm chiến sĩ.
1CH 7:10 Con trai của Giê-đi-a-ên là Binh-hanh. Các con trai của Binh-hanh là Giê-úc, Bên-gia-min, Ê-hút, Kê-na-a-na, Xê-than, Ta-rê-si, và A-hi-sa-ha.
1CH 7:11 Tất cả các con trai nầy của Giê-đi-a-ên đều là trưởng gia đình. Họ có mười bảy ngàn hai trăm chiến sĩ sẵn sàng gia nhập quân ngũ.
1CH 7:12 Những người Súp-bít và Húp-bít là dòng dõi của Y-ra, và người Hu-sít là dòng dõi của A-he.
1CH 7:13 Các con trai của Nép-ta-li là Gia-xi-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Sa-lum. Họ là cháu của Bi-la.
1CH 7:14 Sau đây là dòng dõi Ma-na-xe. Ma-na-xe có một vợ lẽ người A-ram sinh ra Át-ri-ên và Ma-kia. Ma-kia sinh Ghi-lê-át.
1CH 7:15 Ma-kia lấy một người vợ thuộc dân Hu-bít và Su-bít. Chị ông tên Ma-a-ca. Con thứ hai của ông tên Xê-lô-phê-hát. Người nầy chỉ có con gái thôi.
1CH 7:16 Ma-a-ca vợ Ma-kia có một con trai đặt tên Phê-rết. Em trai Phê-rết là Sê-rết. Các con trai của Sê-rết là U-lam và Ra-kem.
1CH 7:17 Con trai U-lam là Bê-đan. Đó là các con trai của Ghi-lê-át, con Ma-kia. Ma-kia là con Ma-na-xe.
1CH 7:18 Ham-mô-lê-kết, chị Ma-kia sinh Ích-hốt, A-bi-ê-xe, và Ma-la.
1CH 7:19 Các con trai của Sê-mi-đa là A-hi-an, Sê-chem, Li-khi, và A-ni-am.
1CH 7:20 Sau đây là tên tuổi của con cháu Ép-ra-im. Con trai Ép-ra-im là Su-thê-la. Con Su-thê-la là Bê-rết. Con Bê-rết là Ta-hát. Con Ta-hát là Ê-lê-a-đa. Con Ê-lê-a-đa là Ta-hát.
1CH 7:21 Con Ta-hát là Xa-bách. Con Xa-bách là Su-thê-la. Ê-xe và Ê-li-át đến Gát để ăn cắp bò và chiên nên bị dân thành đó giết chết.
1CH 7:22 Cha họ là Ép-ra-im than khóc các con mình trong nhiều ngày. Gia đình ông đến an ủi ông.
1CH 7:23 Rồi ông ăn nằm với vợ mình, nàng thụ thai và sinh một con trai mà Ép-ra-im đặt tên là Bê-ria vì chuyện lôi thôi xảy ra cho gia đình ông.
1CH 7:24 Con gái Ép-ra-im là Sê-ê-ra. Nàng xây vùng Hạ-Bết Hô-rôn, vùng Thượng Bết-Hô-rôn, và U-xen Sê-ê-ra.
1CH 7:25 Rê-pha là con trai Ép-ra-im. Rê-sếp con Rê-pha. Tê-la con Rê-sếp. Ta-han con Tê-la.
1CH 7:26 La-đan con Ta-han. Am-mi-hút con La-đa. Ê-li-sa-ma con Am-mi-hút.
1CH 7:27 Nun con Ê-li-sa-ma, và Giô-suê con trai của Nun.
1CH 7:28 Dòng dõi Ép-ra-im cư ngụ trong các vùng đất và thị trấn sau đây: Bê-tên và các làng gần đó, Na-a-ran về phía đông, Ghê-xe và các làng về phía tây gần đó, Sê-chem và các làng gần đó. Các làng nầy chạy dài đến Ai-gia và các làng ở đó.
1CH 7:29 Dọc theo ranh giới đất Ma-na-xe có các thị trấn Bết-San, Ta-a-nách, Mê-ghi-đô, và Đô-rơ cùng các làng gần đó. Con cháu Giô-xép, con trai Ít-ra-en, cư ngụ trong các thị trấn nầy.
1CH 7:30 Các con trai A-xe là Im-na, Ích-va, Ích-vi, và Bê-ria. Chị của họ là Sê-ra.
1CH 7:31 Các con trai Bê-ria là Hê-be và Manh-kiên. Manh-kiên sinh Biết-xa-ít.
1CH 7:32 Hê-be sinh Giáp-lết, Sô-me, Hốt-tham, và chị của họ là Sua.
1CH 7:33 Các con trai Giáp-lết là Ba-sách, Bim-hanh, và Át-vát. Tất cả đều là con Giáp-lết.
1CH 7:34 Em của Giáp-lết là Sô-me. Các con trai Sô-me là Rô-ga, Húp-ba, và A-ram.
1CH 7:35 Em của Sô-me là Hô-tham. Các con trai Hô-tham là Xô-pha, Im-na, Sê-lết và A-manh.
1CH 7:36 Các con trai của Xô-pha là Su-a, Ha-nê-phe, Su-anh, Bê-ri, Im-ra,
1CH 7:37 Bê-xe, Hốt, Sam-ma, Sinh-sa, Ít-ran, và Bê-e-ra.
1CH 7:38 Các con trai Gie-thê là Giê-phu-nê, Bích-ba, và A-ra.
1CH 7:39 Các con trai Un-la là A-ra, Han-niên, và Ri-xia.
1CH 7:40 Tất cả những người đó là con cháu A-xe và là trưởng gia đình. Họ đều là những chiến sĩ anh dũng và lãnh tụ tài ba. Gia phổ họ ghi hai mươi sáu ngàn binh sĩ sẵn sàng gia nhập quân ngũ.
1CH 8:1 Bên-gia-min sinh Bê-la, con trưởng nam. Con kế là Át-bên, và con thứ ba là A-ha-ra.
1CH 8:2 Nô-ha là con thứ tư, và Ra-pha là con thứ năm.
1CH 8:3 Các con trai Bê-la là A-đa, Ghê-ra, A-bi-hút,
1CH 8:4 A-bi-sua, Na-a-man, A-hoa,
1CH 8:5 Ghê-ra, Sê-phu-phan, và Hu-ram.
1CH 8:6 Những người nầy là con cháu Ê-hút và là trưởng gia đình của họ ở Ghê-ba. Họ buộc phải dời đến Ma-na-hát.
1CH 8:7 Các con cháu của Ê-hút là Na-a-man, A-hi-gia, và Ghê-ra. Ghê-ra buộc họ phải dời đi. Ông là cha U-xa và A-hi-hút.
1CH 8:8 Sa-ha-ra-im và vợ là Hu-sim sinh các con trai tên A-bi-túp và Ên-ba-anh. Ở Mô-áp, Sa-ha-ra-im ly dị các vợ mình là Hu-sim và Ba-a-ra. Sa-ha-ra-im và vợ là Hô-đết sinh ra các con trai sau đây: Giô-áp, Xi-bia, Mê-sa, Manh-cam, Giê-u, Xa-kia, và Miệt-ma. Tất cả đều là trưởng gia đình.
1CH 8:12 Các con Ên-ba-anh là Ê-be, Mi-sam, Sê-mết, Bê-ria, và Sê-ma. Sê-mết xây các thị trấn Ô-nô và Lót cùng các làng mạc xung quanh. Bê-ria và Sê-ma là trưởng các gia đình cư ngụ tại Ai-gia-lôn. Họ đuổi dân sống ở Gát-đi.
1CH 8:14 Các con trai Bê-ria là A-hi-ô, Sa-sắc, Giê-rê-mốt,
1CH 8:15 Xê-ba-đia, A-rát, Ê-đe,
1CH 8:16 Mi-chên, Ích-ba, và Giô-ha.
1CH 8:17 Các con trai của Ên-ba-anh là Xê-ba-đia, Mê-su-lam, Hi-ki, Hê-be,
1CH 8:18 Ích-mê-rai, Y-lai, và Giô-báp.
1CH 8:19 Các con trai của Si-mê-i là Gia-kim, Xích-ri, Xáp-đi,
1CH 8:20 Ê-li-ê-nai, Xi-lê-thai, Ê-li-ên,
1CH 8:21 A-đai-gia, Bê-rai-gia, và Sim-rát.
1CH 8:22 Các con trai của Sa-sắc là Ích-ban, Ê-be, Ê-li-ên,
1CH 8:23 Áp-đôn, Xích-ri, Ha-nan,
1CH 8:24 Ha-na-nia, Ê-lam, An-thô-thi-gia,
1CH 8:25 Íp-đê-gia, và Phê-nu-ên.
1CH 8:26 Các con trai của Giê-hô-ram là Sam-sê-rai, Sê-rai-gia, A-tha-lia,
1CH 8:27 Gia-a-rê-sai, Ê-li, và Xích-ri.
1CH 8:28 Gia phổ cho thấy các người nầy đều là trưởng gia đình và cư ngụ ở Giê-ru-sa-lem.
1CH 8:29 Giê-i-ên cư ngụ ở thị trấn Ghi-bê-ôn, nơi ông làm thủ lãnh. Vợ ông tên Ma-a-ca.
1CH 8:30 Con trưởng nam của Giê-i-ên là Áp-đôn. Các con trai khác là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Nê-rơ, Na-đáp,
1CH 8:31 Ghê-đo, A-hi-ô, Xê-ke,
1CH 8:32 và Mích-lốt. Mích-lốt sinh Si-mê-a. Các con trai nầy sống gần thân nhân của họ ở Giê-ru-sa-lem.
1CH 8:33 Nê-rơ sinh Kích. Kích sinh Sau-lơ, Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ết-Ba-anh.
1CH 8:34 Con trai của Giô-na-than là Mê-ríp Ba-anh, Mê-ríp Ba-anh sinh Mi-ca.
1CH 8:35 Các con trai của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
1CH 8:36 A-cha sinh Giê-hô-a-đa. Giê-hô-a-đa sinh A-mê-lết, Ạc-ma-vết, và Xim-ri. Xim-ri sinh Mô-xa.
1CH 8:37 Mô-xa sinh Bi-nê-a. Ra-pha là con Bi-nê-a. Ê-lê-a-sa là con Ra-pha, và A-xên là con Ê-lê-a-sa.
1CH 8:38 A-xên có sáu con trai: A-ri-cam, Bô-kê-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ra-gia, Áp-đia, và Ha-nan. Tất cả những người đó là con trai A-xên.
1CH 8:39 Em của A-xên là Ê-séc. Con trưởng nam của Ê-séc là U-lam, con thứ nhì là Giê-úc, và Ê-li-phê-lết là con thứ ba.
1CH 8:40 Các con trai của U-lam đều là các chiến sĩ gan dạ và có tài bắn cung. Họ có rất đông con trai và cháu trai: tất cả một trăm năm mươi người. Những người trên đây là con cháu Bên-gia-min.
1CH 9:1 Tên tuổi của tất cả dân Ít-ra-en đều được ghi trong gia phổ của mỗi gia đình, và tất cả gia phổ đều được ghi trong lịch sử các vua Ít-ra-en. Dân Giu-đa bị bắt và đày sang Ba-by-lôn vì họ không trung thành cùng Thượng Đế.
1CH 9:2 Những người đầu tiên hồi hương và cư ngụ trong đất và thị trấn mình là một số người Ít-ra-en, các thầy tế lễ, người Lê-vi, và các đầy tớ phục vụ trong đền thờ.
1CH 9:3 Những người từ chi tộc Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im, và Ma-na-xe cư ngụ ở Giê-ru-sa-lem. Sau đây là danh sách những người ấy.
1CH 9:4 Có U-thai con Am-mi-hút. Am-mi-hút là con trai Ôm-ri. Ôm-ri con Im-ri. Im-ri con Ba-ni. Ba-ni là một trong các con cháu của Phê-rê. Phê-rê con Giu-đa.
1CH 9:5 Trong số những người Si-lô-nít có A-sai-gia và các con trai ông. A-sa-gia là con trưởng nam trong gia đình.
1CH 9:6 Trong dân Xê-ra-hít có Giê-u-ên và các thân nhân khác của Xê-ra. Tổng cộng sáu trăm chín mươi người tất cả.
1CH 9:7 Trong chi tộc Bên-gia-min có Xa-lu con Mê-su-lam. Mê-su-lam con Hô-đa-via, Hô-đa-via con Hát-sê-nua.
1CH 9:8 Cũng có Íp-nê-a, con Giê-hô-ram và Ê-la, con U-xi. U-xi là con Mích-ri. Có Mê-su-lam con Sê-pha-tia. Sê-pha-tia con Ru-ên, và Ru-ên là con Íp-ni-gia.
1CH 9:9 Gia phổ của Bên-gia-min ghi chín trăm năm mươi sáu người cư ngụ ở Giê-ru-sa-lem. Tất cả đều là trưởng gia đình.
1CH 9:10 Trong số các thầy tế lễ có Giê-đi-gia, Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin,
1CH 9:11 A-xa-ria con Hinh-kia. Hinh-kia con Mê-su-lam, Mê-su-lam con Xa-đốc, Xa-đốc con Mê-rai-ốt. Mê-rai-ốt con A-hi-túp. A-hi-túp là viên chức lo cho đền thờ của Thượng Đế.
1CH 9:12 Ngoài ra có A-đai-gia con Giê-hô-ram. Giê-hô-ram con Bách-sua, Bách-sua con Manh-ki-gia. Có Ma-a-sai con A-đi-ên. A-đi-ên con Gia-xê-ra. Gia-xê-ra con Mê-su-lam. Mê-su-lam con Mê-si-lê-mít, Mê-si-lê-mít con Im-mê.
1CH 9:13 Tính luôn các thân nhân có tất cả một ngàn bảy trăm sáu mươi thầy tế lễ. Họ là trưởng gia đình sẵn sàng làm công tác trong đền thờ Thượng Đế.
1CH 9:14 Trong số các người Lê-vi có Sê-mai-gia con Hát-súp. Hát-súp con A-ri-cam, A-ri-cam con Ha-sa-bai-gia. Ha-sa-bai-gia thuộc gia đình Mê-ra-ri.
1CH 9:15 Có Bác-ba-ka, Hê-rết, Ga-lanh, và Ma-ta-nia, con Mi-ca. Mi-ca là con Xích-ri, Xích-ri con A-sáp.
1CH 9:16 Cũng có Áp-đia con Sê-mai-gia. Sê-mai-gia con Ga-lanh, Ga-lanh con Giê-đu-thun. Ngoài ra có Bê-rê-kia con A-sa. A-sa con Ên-ca-na cư ngụ trong các làng của người Nê-tô-pha-thít.
1CH 9:17 Trong số các người giữ cửa có Sa-lum, Ác-cúp, Tanh-môn, A-hi-man và các thân nhân họ. Sa-lum là lãnh tụ của họ.
1CH 9:18 Cho đến thời ấy, những người giữ cửa từ chi tộc Lê-vi vẫn được đứng phía Đông cổng vào cung vua.
1CH 9:19 Sa-lum là con Cô-rê. Cô-rê con Ê-bi-a-sáp, Ê-bi-a-sáp con Cô-ra. Sa-lum và các thân nhân ông từ gia đình Cô-ra là những người giữ cửa và lo việc canh cửa đền thờ. Các tổ tiên của họ cũng từng lo việc canh giữ cửa vào đền thờ CHÚA.
1CH 9:20 Trước kia Phi-nê-ha, con trai Ê-lê-a-sa chịu trách nhiệm về các người giữ cửa đã từng được CHÚA giúp đỡ.
1CH 9:21 Xa-cha-ria con Mê-sê-lê-mia là người giữ cửa Lều Họp.
1CH 9:22 Tất cả có hai trăm mười hai người được chọn giữ cửa, tên tuổi của những người nầy được ghi trong gia phổ trong làng mạc họ. Đa-vít và Sa-mu-ên, đấng tiên kiến chọn họ là vì họ đáng tin cậy.
1CH 9:23 Những người giữ cửa và con cháu họ phải canh gác các cửa của đền thờ CHÚA. (Đền thờ thay thế cho Lều Thánh.)
1CH 9:24 Bốn phía của đền thờ: đông tây nam bắc đều có người giữ cửa.
1CH 9:25 Thân nhân của các người giữ cửa cư ngụ trong làng mạc thỉnh thoảng lên giúp đỡ họ. Mỗi khi lên thì giúp họ trong bảy ngày.
1CH 9:26 Vì họ đáng tin cậy cho nên có bốn người giữ cửa được cử làm trưởng của tất cả toán giữ cửa. Họ là người Lê-vi và chịu trách nhiệm về các phòng và kho báu trong đền thờ Thượng Đế.
1CH 9:27 Họ thức suốt đêm canh giữ đền thờ Thượng Đế, và mỗi sáng sớm thì mở các cửa ra.
1CH 9:28 Một số người giữ cửa chịu trách nhiệm về các vật dụng dùng trong việc thờ phụng trong đền thờ. Họ kiểm kê các vật dụng nầy khi có người lấy ra hay mang trả lại.
1CH 9:29 Các người giữ cửa khác được chọn để chăm sóc bàn ghế và các vật dụng Nơi Thánh. Họ cũng lo về bột, rượu, dầu, trầm hương, hương liệu,
1CH 9:30 nhưng một số thầy tế lễ lo việc hòa chế các hương liệu.
1CH 9:31 Có một người Lê-vi tên Mát-ti-thia rất đáng tin cậy và lo việc nướng bánh kẹp dùng trong của lễ. Ông ta là con trưởng nam của Sa-lum thuộc gia đình Cô-ra.
1CH 9:32 Một số người giữ cửa từ gia đình Cô-hát có nhiệm vụ chuẩn bị loại bánh đặc biệt để lên bàn mỗi ngày Sa-bát.
1CH 9:33 Một số người Lê-vi là nhạc sĩ trong đền thờ. Các trưởng gia đình nầy cư ngụ trong các phòng của đền thờ. Vì họ phải trực ngày và đêm cho nên họ không lo việc gì khác trong đền thờ.
1CH 9:34 Đó là các lãnh tụ của các gia đình Lê-vi. Tên tuổi họ được ghi trong gia phổ và họ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.
1CH 9:35 Giê-i-ên cư ngụ trong thị trấn Ghi-bê-ôn nơi ông làm lãnh tụ. Vợ ông tên Ma-a-ca.
1CH 9:36 Con trưởng nam của Giê-i-ên là Áp-đôn. Các con trai khác là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Nê-rơ, Na-đáp,
1CH 9:37 Ghê-đo, A-hi-ô, Xa-cha-ri, và Mích-lốt.
1CH 9:38 Mích-lốt sinh Si-mê-am. Gia đình Giê-i-ên sống gần các thân nhân họ ở Giê-ru-sa-lem.
1CH 9:39 Nê-rơ sinh Kích. Kích sinh Sau-lơ. Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ết-Ba-anh.
1CH 9:40 Con trai Giô-na-than là Mê-ríp Ba-anh. Mê-ríp Ba-anh sinh Mi-ca.
1CH 9:41 Các con trai Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê, và A-cha.
1CH 9:42 A-cha sinh Gia-đa. Gia-đa sinh A-lê-mết, Ạc-ma-vết, và Xim-ri. Xim-ri sinh Mô-xa.
1CH 9:43 Mô-xa sinh Bi-nê-a. Rê-phai-gia là con Bi-nê-a. Ê-lê-a-xa là con Rê-phai-gia, và A-xên là con Ê-lê-a-xa.
1CH 9:44 A-xên có sáu con trai: A-ri-cam, Bô-kê-ru, Ích-ma-ên, Sê-rai-gia, Áp-đia, và Ha-nan. Đó là các con trai A-xên.
1CH 10:1 Quân Phi-li-tin kéo ra đánh dân Ít-ra-en, dân Ít-ra-en bỏ chạy. Nhiều người Ít-ra-en bị giết trên núi Ghinh-bô-a.
1CH 10:2 Quân Phi-li-tin tấn công Sau-lơ và các con trai ông tới tấp, giết Giô-na-than, A-bi-na-đáp và Manh-ki-sua.
1CH 10:3 Trận đánh thật dữ dội quanh Sau-lơ, các lính cầm cung bắn trúng làm ông bị thương.
1CH 10:4 Sau-lơ liền bảo viên sĩ quan vác vũ khí mình rằng, “Hãy rút gươm ngươi ra đâm ta đi nếu không bọn Phi-li-tin không chịu cắt dương bì kia sẽ đến giết ta.” Nhưng viên sĩ quan không dám vì sợ. Nên Sau-lơ rút gươm mình và đè người lên nó.
1CH 10:5 Khi viên sĩ quan thấy Sau-lơ chết nên cũng đè người lên gươm mình và chết theo.
1CH 10:6 Như thế Sau-lơ và ba con trai ông đều chết; cả nhà đều cùng chết.
1CH 10:7 Khi người Ít-ra-en đang sống trong thung lũng thấy quân đội mình bỏ chạy, Sau-lơ và các con ông chết thì họ cũng bỏ thành chạy trốn. Người Phi-li-tin liền đến định cư trong các thành đó.
1CH 10:8 Hôm sau quân Phi-li-tin đến lột các xác chết thì thấy Sau-lơ và các con ông đã chết trên núi Ghinh-bô-a.
1CH 10:9 Quân Phi-li-tin lột binh phục khỏi xác Sau-lơ và cắt đầu ông mang đi cùng với áo giáp. Rồi chúng sai sứ đi khắp xứ thông báo tin tức cho thần tượng chúng và toàn dân.
1CH 10:10 Người Phi-li-tin để áo giáp của Sau-lơ trong đền thờ của thần chúng và treo đầu ông trong đền thờ thần Đa-gôn.
1CH 10:11 Cả dân Gia-be Ghi-lê-át nghe việc quân Phi-li-tin làm cho Sau-lơ.
1CH 10:12 Vì thế, những người gan dạ trong Gia-be liền xuống lấy xác Sau-lơ và các con trai ông mang về Gia-be. Họ chôn xương cốt những người đó dưới các cây rậm ở Gia-be. Sau đó dân Gia-be cữ ăn trong bảy ngày.
1CH 10:13 Sau-lơ chết vì không trung thành với CHÚA và không vâng lời Ngài. Thậm chí ông đi cầu hỏi đồng bóng
1CH 10:14 thay vì cầu hỏi CHÚA. Vì thế CHÚA giết Sau-lơ và trao nước cho Đa-vít, con trai Gie-xê.
1CH 11:1 Sau đó dân Ít-ra-en đến cùng Đa-vít ở Hếp-rôn và nói, “Nầy, chúng tôi là anh em ruột thịt với ông.
1CH 11:2 Trong thời gian Sau-lơ làm vua, ông là người hướng dẫn dân Ít-ra-en ra trận. CHÚA là Thượng Đế ông nói cùng ông, ‘Ngươi sẽ là người chăn dân Ít-ra-en ta. Ngươi sẽ lãnh đạo họ.’”
1CH 11:3 Vậy các bô lão Ít-ra-en đến cùng vua Đa-vít tại Hếp-rôn. Ông lập giao ước với họ ở Hếp-rôn trước mặt CHÚA. Rồi họ đổ dầu lên Đa-vít lập ông làm vua Ít-ra-en. CHÚA đã hứa qua Ít-ra-en là việc phải xảy ra như thế.
1CH 11:4 Đa-vít và toàn dân Ít-ra-en đi đến thành Giê-ru-sa-lem. Lúc đó Giê-ru-sa-lem gọi là Giê-bu, và dân sống ở đó gọi là dân Giê-bu-sít.
1CH 11:5 Chúng bảo Đa-vít, “Ngươi không thể nào vào thành chúng ta được đâu.” Nhưng Đa-vít chiếm thành Giê-ru-sa-lem có vách kiên cố, và nó trở nên thành Đa-vít.
1CH 11:6 Đa-vít nói, “Ai xung phong tấn công dân Giê-bu-sít sẽ được làm chỉ huy toàn quân đội ta.” Giô-áp con trai Xê-ru-gia hướng dẫn cuộc tấn công nên ông làm chỉ huy quân đội.
1CH 11:7 Sau đó Đa-vít vào cư trú trong thành có vách kiên cố ấy cho nên nó mang tên là thành Đa-vít.
1CH 11:8 Đa-vít xây lại thành, bắt đầu nơi người ta lấp đất cho đến vách bao quanh thành. Giô-áp sửa chữa các phần khác của thành phố.
1CH 11:9 Đa-vít càng ngày càng mạnh. CHÚA Toàn Năng ở cùng ông.
1CH 11:10 Sau đây là danh sách những người cầm đầu các chiến sĩ của Đa-vít, giúp ông thêm mạnh. Tất cả dân Ít-ra-en cũng ủng hộ nước của Đa-vít. Các anh hùng nầy và toàn dân Ít-ra-en lập Đa-vít làm vua, như CHÚA đã hứa.
1CH 11:11 Sau đây là danh sách các chiến sĩ của Đa-vít: Gia-sô-bê-am người Hạc-mô-nít. Ông lãnh đạo nhóm ba người, tức các chiến sĩ anh dũng nhất của Đa-vít. Ông dùng gươm giết sạch ba trăm người cùng một lúc.
1CH 11:12 Kế ông có Ê-lê-a-xa, một trong Ba Chiến sĩ. Ê-lê-a-xa là con trai Đô-đai gốc dân A-hô-hít.
1CH 11:13 Ê-lê-a-xa có mặt với Đa-vít tại Bát Đa-mim khi quân Phi-li-tin đến tấn công. Ở đó có một đồng lúa mạch. Dân Ít-ra-en trốn chạy khỏi người Phi-li-tin,
1CH 11:14 nhưng họ đứng lại giữa đồng lúa đó chiến đấu và giết người Phi-li-tin. CHÚA ban chiến thắng lớn cho họ.
1CH 11:15 Có lần, ba trong số Ba Mươi Chiến sĩ, tức các chiến sĩ nòng cốt của Đa-vít đến gặp ông ở tảng đá gần hang A-đu-lam. Lúc đó quân Phi-li-tin đang đóng trại trong thung lũng Rê-pha-im.
1CH 11:16 Lúc ấy Đa-vít đang ở trong mật khu, còn một số quân Phi-li-tin đang ở Bết-lê-hem.
1CH 11:17 Đa-vít quá khát nước nên ông nói, “Ôi, ước gì có ai đi lấy cho ta nước từ giếng gần cổng thành Bết-lê-hem!”
1CH 11:18 Cho nên Ba Người đó xông qua hàng rào quân Phi-li-tin và lấy nước từ giếng gần cổng thành Bết-lê-hem. Khi họ mang nước về cho Đa-vít thì ông không chịu uống. Ông đổ nước ra trước mặt CHÚA,
1CH 11:19 nói rằng, “Xin CHÚA đừng để tôi uống nước nầy! Vì chẳng khác nào uống huyết của những người đã liều mạng lấy nước về cho tôi!” Cho nên Đa-vít nhất định không chịu uống. Đó là những hành vi dũng cảm của ba chiến sĩ gan dạ ấy.
1CH 11:20 A-bi-sai, em Giô-áp chỉ huy Toán Ba Người. A-bi-sai dùng giáo đánh giết ba trăm binh sĩ. Ông nổi danh như Ba Người,
1CH 11:21 nhưng được tôn trọng hơn Ba Người ấy. Ông chỉ huy Toán Ba Người dù không thuộc về toán nầy.
1CH 11:22 Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa là một chiến sĩ gan dạ từ Cáp-xê-ên, thực hiện nhiều kỳ công. Ông giết hai trong số các chiến sĩ xuất sắc nhất của Mô-áp. Ông cũng xuống hầm đá giết một con sư tử vào một ngày tuyết rơi.
1CH 11:23 Bê-na-gia giết một người Ai-cập cao khoảng bảy bộ rưỡi và có cây giáo lớn như trục thợ dệt. Bê-na-gia chỉ có một dùi cui trong tay nhưng ông giựt cây giáo ra khỏi tay người Ai-cập và giết hắn bằng chính cây giáo của hắn.
1CH 11:24 Đó là những chiến công của Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa. Ông nổi tiếng như Toán Ba Người.
1CH 11:25 Ông được tôn trọng hơn Toán Ba Mươi nhưng không thuộc Toán Ba Người. Đa-vít cử ông chỉ huy toán hộ vệ cho mình.
1CH 11:26 Sau đây là danh sách các chiến sĩ anh dũng: A-xa-ên, em Giô-áp; Ên-ha-nan, con trai Đô-đô người Bết-lê-hem;
1CH 11:27 Sa-mốt người Ha-rô-rít; Hê-lê người Bê-lô-nít;
1CH 11:28 Y-ra, con Ích-kê, từ Thê-cô-a; A-bi-ê-xe người A-na-thốt;
1CH 11:29 Xi-bê-cai người Hu-sa-thít; Y-lai người A-hô-hít;
1CH 11:30 Ma-ha-rai người Nê-tô-pha-thít; Hê-lết, con Ba-a-na, người Nê-tô-pha-thít;
1CH 11:31 Y-thai, con Ri-bai, từ Ghi-bê-a thuộc xứ Bên-gia-min; Bê-na-gia người Phi-ra-thô-nít;
1CH 11:32 Ha-rai từ vùng hố của Ga-ách; A-bi-ên người Ác-ba-thít;
1CH 11:33 A-ma-vết, người Ba-ha-ru-mít; Ê-li-a-ba người Sa-anh-bô-nít;
1CH 11:34 các con trai của Ha-xem người Ghi-xôn; Giô-na-than con trai Sa-ghê, người Ha-ra-rít;
1CH 11:35 A-hi-am con trai Xa-ca người Ha-ra-rít; Ê-li-phanh, con U-rơ;
1CH 11:36 Hê-phe người Mê-kê-ra-thít; A-hi-gia người Bê-lô-nít;
1CH 11:37 Hết-rô người Cạt-mên; Na-a-rai, con Ết-bai;
1CH 11:38 Giô-ên em Na-than; Míp-ha con trai Hát-ri;
1CH 11:39 Xê-léc người Am-môn; Na-ha-rai người Bê-rô-thít, sĩ quan vác áo giáp cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia.
1CH 11:40 Y-ra người Ích-rít; Ga-rếp người Ích-rít;
1CH 11:41 U-ri người Hi-tít; Xa-bát con trai A-lai;
1CH 11:42 A-đi-na, con trai Si-xa người Ru-bên, đồng thời là lãnh tụ của người Ru-bên cùng ba mươi binh sĩ mình;
1CH 11:43 Ha-nan con trai Ma-a-ca; Giô-xa-phát người Mích-nít;
1CH 11:44 U-xia người Ách-tê-ra-thít; Sa-ma và Giê-i-ên con trai Hô-tham người A-rô-e-rít;
1CH 11:45 Giê-đi-a-ên con trai Xim-ri; Giô-ha, em Giê-đi-a-ên, người Thi-xít;
1CH 11:46 Ê-li-ên người Ma-ha-vít; Giê-ri-bai và Giô-sa-via, hai con trai của Ên-a-am; Ít-ma người Mô-áp;
1CH 11:47 Ê-li-ên, Ô-bết, và Gia-a-si-ên người Mê-xô-ba-ít.
1CH 12:1 Sau đây là những người đến gặp Đa-vít ở Xiếc-lác khi ông đang trốn tránh Sau-lơ, con của Kích. Họ là những chiến sĩ giúp Đa-vít trong chiến trận.
1CH 12:2 Họ đến mang theo cung tên làm vũ khí và có thể dùng tay phải lẫn tay trái để bắn cung hay ném đá. Những người nầy là thân nhân của Sau-lơ thuộc chi tộc Bên-gia-min.
1CH 12:3 Thủ lãnh của họ là A-hi-ê-xe, và Giô-ách. A-hi-ê-xe và Giô-ách là con của Sê-ma-a, thuộc thị trấn Ghi-bê-a. Sau đó có Giê-xi-ên và Bê-lết, con trai A-ma-vết. Có Bê-ra-ca và Giê-hu từ thị trấn A-na-thốt.
1CH 12:4 Ngoài ra có Ích-mai-gia từ thị trấn Ghi-bê-ôn; ông thuộc Toán Ba Mươi. Thật ra ông là thủ lãnh toán đó. Rồi đến Giê-rê-mi, Gia-ha-xi-ên, Giô-ha-nan, và Giô-xa-bát từ Ghê-đê-ra.
1CH 12:5 Có Ê-lu-xai, Giê-ri-mốt, Bê-a-lia, và Sê-ma-ria. Có Sê-pha-tia từ Ha-rúp.
1CH 12:6 Có Ên-ca-na, Ích-si-a, A-xa-rên, Giô-ê-xe, và Gia-sô-bim từ họ hàng Cô ra.
1CH 12:7 Có Giê-ô-la và Xê-ba-đia, hai con của Giê-hô-ram từ thị trấn Ghê-đo.
1CH 12:8 Một phần của dân Gát nhập hàng ngũ Đa-vít ở mật khu ông trong sa mạc. Họ đều là các chiến sĩ gan dạ được huấn luyện tác chiến, có tài dùng thuẫn và giáo. Họ hung hăng như sư tử và lanh lẹ như hoàng dương trên đồi.
1CH 12:9 Ê-xe đứng đầu chỉ huy quân đội Gát, thứ hai là Áp-đia. Ê-li-áp đứng thứ ba,
1CH 12:10 Mi-ma-na đứng thứ tư, Giê-rê-mi thứ năm,
1CH 12:11 Át-tai thứ sáu, Ê-li-ên thứ bảy,
1CH 12:12 Giô-ha-nan thứ tám, Ên-xa-bát thứ chín,
1CH 12:13 Giê-rê-mi thứ mười, và Mác-ban-nai thứ mười một trong hàng chỉ huy.
1CH 12:14 Đó là các viên chỉ huy trong quân đội Gát. Người cấp thấp nhất trong số đó chỉ huy một trăm chiến sĩ, còn cấp cao nhất chỉ huy một ngàn chiến sĩ.
1CH 12:15 Họ băng qua sông Giô-đanh, đánh đuổi dân ở trong thung lũng đi, khiến chúng chạy sang phía Đông và Tây. Việc đó xảy ra vào tháng giêng trong năm khi nước sông Giô-đanh ngập thung lũng.
1CH 12:16 Người từ chi tộc Bên-gia-min và Giu-đa cũng đến theo Đa-vít ở mật khu.
1CH 12:17 Đa-vít đi ra gặp họ và bảo, “Nếu anh em đến với tinh thần hòa bình để giúp tôi thì tôi hết sức hoan nghênh. Hãy gia nhập hàng ngũ tôi. Nhưng nếu anh em đến để trao tôi cho kẻ thù mặc dù tôi không làm gì quấy thì nguyện Thượng Đế của tổ tiên chúng ta sẽ thấy và trừng phạt anh em.”
1CH 12:18 Thần Linh CHÚA cảm động A-ma-sai, thủ lãnh của Toán Ba Mươi. Ông nói: “Hỡi Đa-vít, chúng tôi thuộc về ông. Hỡi con trai Gie-xê, chúng tôi đồng lòng với ông. Chúc ông thành công, thành công. Nguyện những ai giúp ông cũng thành công, vì Thượng Đế ông phù hộ ông.” Vì thế Đa-vít tiếp đón các người đó và lập họ làm chỉ huy quân lực mình.
1CH 12:19 Một số người Ma-na-xe cũng gia nhập hàng ngũ Đa-vít khi ông đi cùng với quân Phi-li-tin đánh Sau-lơ. Nhưng Đa-vít và những kẻ đi theo không thực tâm giúp quân Phi-li-tin. Sau khi thảo luận với nhau thì các thủ lãnh Phi-li-tin quyết định đuổi Đa-vít đi. Họ bảo, “Nếu hắn trở về cùng Sau-lơ chủ hắn thì chúng mình sẽ đều chết hết.”
1CH 12:20 Sau đây là những người Ma-na-xe đi theo Đa-vít khi ông xuống Xiếc-lác: Ách-na, Giô-xa-bát, Giê-đi-a-ên, Mi-chên, Giô-xa-bát, Ê-li-hu, và Xinh-lê-thai. Tất cả đều là tướng lãnh xuất thân từ chi tộc Ma-na-xe.
1CH 12:21 Tất cả những người Ma-na-xe nầy đều là các chiến sĩ gan dạ đã giúp Đa-vít tiêu trừ các toán quấy rối khi chúng cướp bóc dân chúng. Họ trở thành cấp chỉ huy trong quân lực Đa-vít.
1CH 12:22 Mỗi ngày càng có nhiều người theo Đa-vít. Quân lực ông càng ngày càng lớn như quân lực của Thượng Đế.
1CH 12:23 Sau đây là số binh sĩ sẵn sàng ra trận đã gia nhập hàng ngũ Đa-vít ở Hếp-rôn. Họ đến để giúp trao nước từ tay Sau-lơ qua Đa-vít y như CHÚA đã nói.
1CH 12:24 Từ chi tộc Giu-đa có sáu ngàn tám trăm người mang vũ khí. Họ mang khiên và giáo.
1CH 12:25 Từ chi tộc Xi-mê-ôn có bảy ngàn một trăm người. Tất cả đều là chiến sĩ sẵn sàng ra trận.
1CH 12:26 Từ chi tộc Lê-vi có bốn ngàn sáu trăm người.
1CH 12:27 Giê-hô-gia-đa, một lãnh tụ thuộc gia đình A-rôn cũng có trong nhóm đó. Cùng đi với ông có ba ngàn bảy trăm người.
1CH 12:28 Xa-đốc cũng có trong nhóm đó. Ông là một tay chiến sĩ gan dạ, cùng đi với ông có hai mươi hai trưởng gia đình.
1CH 12:29 Có ba ngàn người từ chi tộc Bên-gia-min là thân nhân của Sau-lơ. Hầu hết các người nầy đã trung thành với gia đình cho đến bấy giờ.
1CH 12:30 Từ chi tộc Ép-ra-im có hai mươi ngàn tám trăm người. Họ đều là các chiến sĩ gan dạ và nổi tiếng trong họ hàng mình.
1CH 12:31 Từ chi tộc Ma-na-xe miền Tây có mười tám ngàn người. Mỗi người được chọn lựa đặc biệt để cử Đa-vít làm vua.
1CH 12:32 Có hai trăm thủ lãnh từ chi tộc Y-xa-ca. Họ biết Ít-ra-en phải làm gì và cũng biết lúc nào phải làm nữa. Các thân nhân họ cùng đi với họ và nằm dưới quyền chỉ huy của họ.
1CH 12:33 Từ chi tộc Xê-bu-lôn có năm mươi ngàn người. Họ đều là chiến sĩ tinh nhuệ, có khả năng sử dụng đủ mọi khí giới chiến tranh. Họ hết lòng theo Đa-vít.
1CH 12:34 Có một ngàn sĩ quan từ chi tộc Nép-ta-li. Ba mươi bảy ngàn binh sĩ đi với họ mang theo thuẫn và giáo.
1CH 12:35 Từ chi tộc Đan có hai mươi tám ngàn sáu trăm người sẵn sàng ra trận.
1CH 12:36 Bốn mươi ngàn lính thiện chiến từ chi tộc A-se sẵn sàng ra trận.
1CH 12:37 Một trăm hai mươi ngàn binh sĩ từ miền Đông sông Giô-đanh đến từ các chi tộc Ru-bên, Gát và Ma-na-xe miền Đông. Họ biết dùng đủ loại khí giới.
1CH 12:38 Tất cả các chiến sĩ đó đều sẵn sàng ra trận. Họ cùng nhau đến Hếp-rôn để lập Đa-vít làm vua trên cả Ít-ra-en. Tất cả các người Ít-ra-en khác cũng đồng ý lập Đa-vít làm vua.
1CH 12:39 Họ ở với Đa-vít ba ngày, ăn uống vì thân nhân họ đã chuẩn bị thức ăn cho họ.
1CH 12:40 Ngoài ra các láng giềng của họ đến từ những nơi xa như Y-xa-ca, Xê-bu-lôn, và Nép-ta-li, mang thực phẩm trên lừa, lạc đà, la, và bò. Họ đem đến rất nhiều bột mì, bánh trái vả, nho khô, rượu, dầu, bò cái, chiên cừu, vì dân Ít-ra-en đang tưng bừng mở hội.
1CH 13:1 Đa-vít nói chuyện với các sĩ quan trong quân lực mình, các viên chỉ huy một trăm và một ngàn quân.
1CH 13:2 Rồi Đa-vít gọi cả dân Ít-ra-en lại bảo rằng, “Nếu các ngươi cho rằng đây là ý hay và rằng đây là điều CHÚA và Thượng Đế chúng ta muốn thì hãy thông báo. Hãy mời mọi người trong toàn cõi Ít-ra-en cùng các thầy tế lễ và người Lê-vi sống trong các thị trấn và đồng cỏ đến nhập với chúng ta.
1CH 13:3 Hãy mang Rương của Thượng Đế về với chúng ta. Khi Sau-lơ còn làm vua, chúng ta không dùng Rương để cầu hỏi Thượng Đế.”
1CH 13:4 Toàn thể dân chúng đều đồng ý với Đa-vít vì mọi người cho rằng đó là việc nên làm.
1CH 13:5 Vậy Đa-vít triệu tập toàn dân Ít-ra-en lại từ sông Si-ho ở Ai-cập cho đến Lê-bo Ha-mát để rước Rương của Thượng Đế về từ thị trấn Ki-ri-át Giê-a-rim.
1CH 13:6 Đa-vít cùng toàn dân Ít-ra-en đi đến Ba-a-la thuộc Giu-đa, gọi là Ki-ri-át Giê-a-rim để mang Rương Giao Ước của Thượng Đế về. Ngôi của Ngài nằm giữa hai con thú có cánh bằng vàng trên nắp Rương, và Rương được gọi bằng danh Ngài.
1CH 13:7 Dân chúng mang Rương của Thượng Đế từ nhà A-bi-na-đáp để trên một cái xe kéo mới có U-xa và A-hi-ô hướng dẫn.
1CH 13:8 Đa-vít cùng toàn dân Ít-ra-en hân hoan reo mừng trước mặt Thượng Đế. Họ hăng say ca hát, khảy đờn sắt, đờn cầm, đánh trống cơm, chập chỏa và thổi kèn.
1CH 13:9 Khi những người của Đa-vít đến sân đập lúa của Ki-đôn thì mấy con bò kéo xe bị vấp nên U-xa giơ tay ra đỡ Rương.
1CH 13:10 CHÚA nổi giận cùng U-xa và giết ông vì dám đụng đến Rương. U-xa chết tại chỗ trước mặt Thượng Đế.
1CH 13:11 Đa-vít bất bình vì CHÚA nổi giận trừng phạt U-xa. Hiện nay chỗ đó gọi là Phê-rê U-xa.
1CH 13:12 Ngày đó Đa-vít sợ Thượng Đế nên hỏi, “Làm sao tôi mang Rương của Thượng Đế về cùng tôi được?”
1CH 13:13 Nên Đa-vít không mang Rương về với mình ở Giê-ru-sa-lem, mà cho mang về nhà Ô-bết Ê-đôm, người miền Gát.
1CH 13:14 Rương của Thượng Đế ở nhà Ô-bết Ê-đôm trong ba tháng. CHÚA ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và mọi vật thuộc về ông.
1CH 14:1 Hi-ram vua thành Tia sai sứ giả đến Đa-vít. Ông cũng gởi gỗ, thợ nề và thợ mộc đến xây cung điện cho Đa-vít.
1CH 14:2 Do đó Đa-vít đích xác rằng CHÚA đã cử mình làm vua trên Ít-ra-en và Ngài đã khiến vương quốc ông hùng cường. CHÚA làm điều đó vì Ngài yêu mến dân Ít-ra-en của Ngài.
1CH 14:3 Đa-vít cưới thêm vợ ở Giê-ru-sa-lem, có thêm con trai và con gái.
1CH 14:4 Sau đây là tên của các con sinh cho Đa-vít ở Giê-ru-sa-lem: Sam-mua, Sô-báp, Na-than, Sô-lô-môn,
1CH 14:5 Íp-ha, Ê-li-sua, Ên-phê-lết,
1CH 14:6 Nô-gát, Nê-phéc, Gia-phia,
1CH 14:7 Ê-li-sa-ma, Bê-ê-lia-đa, và Ê-li-phê-lết.
1CH 14:8 Khi quân Phi-li-tin nghe Đa-vít đã được cử làm vua trên cả Ít-ra-en liền đi tìm ông. Nhưng Đa-vít nghe được liền kéo ra đánh họ.
1CH 14:9 Quân Phi-li-tin đã tấn công và cướp phá dân chúng trong thung lũng Rê-pha-im.
1CH 14:10 Đa-vít hỏi ý Thượng Đế, “Tôi có nên kéo lên đánh quân Phi-li-tin hay không? Ngài có trao họ vào tay tôi không?” CHÚA đáp, “Hãy đi đánh. Ta sẽ trao chúng vào tay ngươi.”
1CH 14:11 Vậy Đa-vít cùng quân theo mình kéo lên thị trấn Ba-anh Phê-ra-xim và đánh bại người Phi-li-tin. Đa-vít nói, “Thượng Đế đã dùng tôi phá đổ hàng rào đối phương như nước lụt.” Nên chỗ đó gọi là Ba-anh Phê-ra-xim.
1CH 14:12 Người Phi-li-tin chạy bỏ lại các thần tượng của chúng ở đó nên Đa-vít ra lệnh cho quân sĩ ông thiêu đốt hết.
1CH 14:13 Ít lâu sau quân Phi-li-tin lại tấn công dân chúng trong thung lũng lần nữa.
1CH 14:14 Đa-vít lại cầu hỏi Thượng Đế và Ngài đáp, “Đừng tấn công dân Phi-li-tin vào thẳng mặt trước của chúng mà hãy đi vòng đánh chúng trước mặt các cây kim hương.
1CH 14:15 Khi ngươi nghe tiếng bước chân trên ngọn cây kim hương thì hãy tiến đánh. Ta sẽ đi trước ngươi để đánh bại quân Phi-li-tin.”
1CH 14:16 Đa-vít làm theo điều Thượng Đế truyền dặn. Ông và quân sĩ đánh bại người Phi-li-tin suốt từ Ghi-bê-ôn đến Ghê-xe.
1CH 14:17 Vậy danh tiếng Đa-vít đồn ra khắp các nước. CHÚA khiến mọi dân tộc đều kính sợ ông.
1CH 15:1 Đa-vít cất nhiều nhà cho ông ở Giê-ru-sa-lem. Rồi ông chuẩn bị một nơi cho Rương của Thượng Đế, và dựng một lều cho Rương.
1CH 15:2 Đa-vít dặn, “Chỉ có người Lê-vi mới được phép khiêng Rương của Thượng Đế thôi. CHÚA đã chọn họ khiêng Rương Ngài và phục vụ Ngài đời đời.”
1CH 15:3 Đa-vít triệu tập toàn dân Ít-ra-en đến Giê-ru-sa-lem. Ông muốn mang Rương của CHÚA vào nơi ông đã chuẩn bị.
1CH 15:4 Đa-vít gọi tất cả con cháu A-rôn và người Lê-vi lại.
1CH 15:5 Trong họ hàng Cô-hát có một trăm hai mươi người, đứng đầu là U-ri-ên.
1CH 15:6 Có một trăm hai mươi người trong họ hàng Mê-ra-ri, đứng đầu là A-xai-gia.
1CH 15:7 Trong họ hàng Ghẹt-sôn có một trăm ba mươi người, đứng đầu là Giô-ên.
1CH 15:8 Có hai trăm người từ họ hàng Ê-li-xa-phan, đứng đầu là Sê-mai-gia.
1CH 15:9 Trong họ hàng Hếp-rôn có tám mươi người, đứng đầu là Ê-li-ên.
1CH 15:10 Và trong họ hàng U-xi-ên có một trăm mười hai người, đứng đầu là Am-mi-na-đáp.
1CH 15:11 Rồi Đa-vít mời các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha cùng những người Lê-vi sau đây đến: U-ri-ên, A-sai-gia, Giô-ên, Sê-mai-gia, Ê-li-ên, và Am-mi-na-đáp.
1CH 15:12 Đa-vít bảo họ, “Các anh em là gia trưởng của người Lê-vi. Các anh em và những người Lê-vi khác phải sẵn sàng phục vụ CHÚA. Hãy mang Rương của CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, đến nơi ta đã chuẩn bị sẵn.
1CH 15:13 Lần trước chúng ta không hỏi ý CHÚA xem phải khiêng Rương của Ngài ra sao. Các ngươi là người Lê-vi không khiêng Rương đó cho nên CHÚA là Thượng Đế đã trừng phạt chúng ta.”
1CH 15:14 Sau đó các thầy tế lễ và người Lê-vi dọn mình sẵn sàng phục vụ CHÚA để có thể khiêng Rương của CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
1CH 15:15 Người Lê-vi dùng các đòn đặc biệt để khiêng Rương của Thượng Đế lên vai theo như Mô-se truyền dặn, và theo như điều CHÚA dặn bảo.
1CH 15:16 Đa-vít bảo các lãnh tụ người Lê-vi chỉ định các anh em mình vào nhiệm vụ ca hát, chơi đờn sắt, đờn cầm, trống cơm và hát những bài ca vui.
1CH 15:17 Người Lê-vi liền chỉ định Hê-man và các thân quyến ông như A-sáp và Ê-than. Hê-man là con trai Giô-ên. A-sáp là con trai Bê-rê-kia. Còn Ê-than, thuộc họ Mê-ra-ri, là con của Cu-sai-gia.
1CH 15:18 Ngoài ra cũng có toán người Lê-vi thứ nhì gồm: Xa-cha-ri, Gia-a-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Bê-nai-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ti-thia, Ê-li-phê-lê-hu, Mích-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên. Những người nầy thuộc toán phòng vệ người Lê-vi.
1CH 15:19 Các ca sĩ Hê-man, A-sáp, và Ê-than chơi trống cơm bằng đồng.
1CH 15:20 Xa-cha-ri, Gia-a-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Ma-a-sê-gia, và Bê-nai-gia chơi đờn cầm loại lớn.
1CH 15:21 Mát-ti-thia, Ê-li-phê-lê-hu, Mích-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, Giê-i-ên, và A-xa-xia chơi đờn sắt loại nhỏ.
1CH 15:22 Kê-na-nia, lãnh tụ người Lê-vi chịu trách nhiệm về việc xướng hát vì ông có tài trong việc đó.
1CH 15:23 Bê-rê-kia và Ên-ca-na là hai người canh gác Rương Giao Ước.
1CH 15:24 Các thầy tế lễ Sê-ba-nia, Giô-xa-phát, Nê-tha-nên, A-ma-xai, Xa-cha-ri, Bê-nai-gia, và Ê-li-ê-xe có nhiệm vụ thổi kèn trước Rương của Thượng Đế. Ô-bết Ê-đôm và Giê-hi-a cũng lo nhiệm vụ canh gác Rương.
1CH 15:25 Đa-vít, các lãnh tụ của Ít-ra-en, và những viên chỉ huy hàng ngàn quân đi rước Rương Giao Ước của CHÚA. Họ hớn hở vô cùng khi đồng mang Rương từ nhà Ô-bết Ê-đôm về.
1CH 15:26 Vì Thượng Đế giúp đỡ những người Lê-vi khiêng Rương Giao Ước của CHÚA nên họ dâng bảy con bò đực và bảy con chiên đực.
1CH 15:27 Tất cả những người Lê-vi khiêng Rương, và Kê-na-nia, người lo việc xướng hát, và các ca sĩ đều mặc áo dài bằng vải gai mịn. Đa-vít cũng mặc một áo dài bằng vải gai mịn và một áo ngắn thánh cũng bằng vải gai mịn.
1CH 15:28 Vậy tất cả dân Ít-ra-en rước Rương Giao Ước của CHÚA. Họ reo hò, thổi tù và cùng với kèn, đánh trống cơm, đờn sắt, và đờn cầm.
1CH 15:29 Khi Rương Giao Ước của CHÚA đi vào Giê-ru-sa-lem thì Mi-canh, con gái Sau-lơ nhìn qua cửa sổ. Nàng thấy vua Đa-vít nhảy múa vui mừng thì đâm ra khinh dể ông.
1CH 16:1 Họ mang Rương của Thượng Đế và đặt bên trong lều mà Đa-vít đã dựng sẵn. Sau đó họ dâng của lễ thiêu, của lễ thân hữu cho Thượng Đế.
1CH 16:2 Sau khi Đa-vít đã dâng các của lễ thiêu và thân hữu xong thì ông nhân danh CHÚA chúc phước cho dân chúng.
1CH 16:3 Ông phát cho mỗi một người đàn ông, đàn bà Ít-ra-en một ổ bánh, trái chà là, và nho khô.
1CH 16:4 Rồi Đa-vít chỉ định một số người Lê-vi phục vụ trước Rương của CHÚA. Họ có nhiệm vụ hướng dẫn việc thờ phụng, cảm tạ, và ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
1CH 16:5 A-sáp, người chơi chập chỏa, hướng dẫn. Phụ tá ông có Xa-cha-ri. Các người Lê-vi khác là Gia-a-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Mát-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-nai-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên. Họ chơi đờn sắt và đờn cầm.
1CH 16:6 Bê-nai-gia và Gia-ha-xi-ên là các thầy tế lễ thổi kèn thường xuyên trước Rương Giao Ước với Thượng Đế.
1CH 16:7 Ngày đó là lần đầu tiên Đa-vít giao cho A-sáp và thân quyến ông nhiệm vụ hát xướng ca ngợi CHÚA.
1CH 16:8 Hãy cảm tạ CHÚA và cầu khẩn cùng Ngài. Hãy thuật cho các dân những việc Ngài làm.
1CH 16:9 Hãy hát xướng cho Ngài, chúc tụng danh Ngài. Hãy thuật lại những phép lạ Ngài.
1CH 16:10 Hãy hớn hở vì các ngươi thuộc về Ngài; những ai tìm kiếm CHÚA hãy vui mừng.
1CH 16:11 Hãy nhờ cậy CHÚA và năng lực Ngài; hãy luôn luôn xin CHÚA giúp đỡ.
1CH 16:12 Hãy nhớ lại những phép lạ Ngài đã làm, những việc diệu kỳ, và những quyết định của Ngài.
1CH 16:13 Hỡi Ít-ra-en, các ngươi là dòng dõi của tôi tớ Ngài; các ngươi là con cháu Gia-cốp, dân được chọn lựa của Ngài.
1CH 16:14 Ngài là CHÚA và là Thượng Đế chúng ta. Luật pháp Ngài dành cho cả thế gian.
1CH 16:15 Ngài sẽ giữ giao ước Ngài đời đời; Ngài sẽ luôn luôn giữ lời hứa mình.
1CH 16:16 Ngài sẽ giữ giao ước đã lập với Áp-ra-ham và lời hứa Ngài cùng Y-sác.
1CH 16:17 Ngài biến nó thành luật lệ cho dân cư Gia-cốp; Ngài biến nó thành giao ước với Ít-ra-en đời đời.
1CH 16:18 Ngài phán, “Ta sẽ ban đất Ca-na-an cho các ngươi, để làm tài sản ngươi.”
1CH 16:19 Lúc đó dân của Thượng Đế hãy còn ít ỏi, họ sống như người xa lạ trong xứ.
1CH 16:20 Họ lưu lạc từ dân nầy đến dân khác, từ nước nầy đến nước nọ.
1CH 16:21 Nhưng Ngài không cho ai làm hại họ; Ngài cảnh cáo các vua không được đụng đến họ.
1CH 16:22 Ngài dặn, “Không được đụng đến dân tuyển chọn của ta, không được làm hại các nhà tiên tri ta.”
1CH 16:23 Hỡi cả trái đất, hãy hát xướng cho CHÚA. Mỗi ngày hãy thuật lại ơn cứu của Ngài.
1CH 16:24 Hãy thuật cho các dân về vinh hiển Ngài; Hãy cho mọi người biết các phép lạ Ngài làm.
1CH 16:25 CHÚA rất cao cả, đáng được ca ngợi. Ngài đáng được tôn kính hơn tất cả các thần.
1CH 16:26 Tất cả thần của các dân chỉ là hình tượng, nhưng CHÚA tạo ra các bầu trời.
1CH 16:27 Ngài đầy vinh hiển và oai nghi; Ngài có uy quyền và niềm vui trong đền thờ Ngài.
1CH 16:28 Hỡi các dân trên đất hãy ca ngợi CHÚA. Hãy ca ngợi vinh hiển và quyền năng Ngài.
1CH 16:29 Hãy ca ngợi vinh hiển của danh Ngài. Hãy mang của lễ mà đến cùng Ngài. Hãy thờ kính CHÚA trong trang phục thánh.
1CH 16:30 Hỡi mọi người trên đất hãy run sợ trước mặt Ngài. Trái đất đã được đặt để, nó không thể dời đi nơi khác.
1CH 16:31 Trời hãy vui mừng, và đất hãy hớn hở. Dân chúng các nơi hãy nói, “CHÚA là vua!”
1CH 16:32 Biển và mọi loài trong đó hãy la lớn, đồng ruộng và mọi thứ trong đó hãy vui mừng.
1CH 16:33 Các cây cối trong rừng sẽ reo vui trước mặt CHÚA. Chúng sẽ hát mừng vì Ngài đến để phân xử thế gian.
1CH 16:34 Hãy cảm tạ CHÚA vì Ngài nhân từ. Tình yêu Ngài còn đến đời đời.
1CH 16:35 Hãy thưa cùng Ngài, “Lạy Thượng Đế là Đấng Cứu Chuộc chúng tôi, xin hãy giải cứu chúng tôi, mang chúng tôi trở về và cứu chúng tôi từ các nước khác. Thì chúng tôi sẽ cảm tạ Ngài và hết lòng ca ngợi Ngài.”
1CH 16:36 Hãy ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Ngài hằng hữu từ ngàn xưa cho đến mãi mãi. Toàn dân đều nói “A-men” và ca ngợi CHÚA.
1CH 16:37 Sau đó Đa-vít để A-sáp và các người Lê-vi khác đứng trước mặt Rương Giao Ước với CHÚA. Họ ở đó để phục vụ công tác mỗi ngày.
1CH 16:38 Đa-vít cũng để Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám người Lê-vi phục vụ chung với họ. Hô-sa và Ô-bết Ê-đôm, con Giê-đu-thun lo nhiệm vụ canh gác.
1CH 16:39 Đa-vít để thầy tế lễ Xa-đốc và các thầy tế lễ khác phục vụ cùng ông trước Lều của CHÚA ở nơi thờ phụng tại Ghi-bê-ôn.
1CH 16:40 Mỗi sáng và chiều họ dâng của lễ thiêu trên bàn thờ theo đúng các qui tắc trong Lời Giáo Huấn của CHÚA đã được ban cho dân Ít-ra-en.
1CH 16:41 Cùng với họ có Hê-man và Giê-đu-thun cùng các người Lê-vi khác. Họ được chọn đích danh để ca ngợi CHÚA chẳng hạn như hát khúc Ca tụng CHÚA vì tình yêu Ngài còn đời đời.
1CH 16:42 Hê-man và Giê-đu-thun cũng có nhiệm vụ thổi kèn, đánh chập chỏa và chơi các nhạc cụ khác khi người ta hát lên cho Thượng Đế. Các con trai Giê-đu-thun lo nhiệm vụ gác cửa.
1CH 16:43 Rồi tất cả dân chúng ra về. Mọi người đều trở về nhà. Đa-vít cũng về nhà chúc phước cho các người trong gia đình mình.
1CH 17:1 Sau khi Đa-vít dọn vào cung điện mình thì ông nói với Na-than, nhà tiên tri, “Nầy, tôi đang ở trong một cung điện làm bằng gỗ hương nam, nhưng Rương Giao Ước của CHÚA lại ở trong lều.”
1CH 17:2 Na-than bảo Đa-vít, “Vua muốn làm điều gì cũng được vì Thượng Đế ở cùng vua.”
1CH 17:3 Nhưng đêm đó Thượng Đế phán cùng Na-than như sau,
1CH 17:4 “Hãy đi bảo tôi tớ ta là Đa-vít rằng, ‘CHÚA phán: Ngươi sẽ không phải là người xây nhà cho ta ở.
1CH 17:5 Từ khi ta mang Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập cho đến nay ta không ở trong nhà nào. Ta dời từ lều nầy sang lều khác và từ nơi nầy đến nơi kia.
1CH 17:6 Trong khi ta đi cùng Ít-ra-en từ nơi nầy đến nơi kia, ta chưa hề bảo các lãnh tụ là những người ta truyền dặn lo cho dân chúng rằng: Sao các ngươi không xây nhà cho ta bằng gỗ hương nam?’
1CH 17:7 Bây giờ hãy bảo tôi tớ ta là Đa-vít: CHÚA Toàn Năng phán: Ta chọn ngươi từ nơi đồng cỏ khỏi nghề chăn chiên và lập ngươi làm vua trên dân Ít-ra-en ta.
1CH 17:8 Ta đã ở cùng ngươi mọi nơi ngươi đi. Ta đã đánh bại các kẻ thù ngươi giùm cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi nổi danh như các vĩ nhân trên đất.
1CH 17:9 Ta sẽ chọn một nơi cho dân Ít-ra-en ta, rồi ta sẽ đặt họ vào để họ sống trong nhà mình. Họ sẽ không còn bị ai quấy nhiễu nữa. Những kẻ ác sẽ không còn làm hại họ như trước kia
1CH 17:10 khi ta chọn các quan án cho dân Ít-ra-en ta. Ta sẽ đánh bại tất cả các kẻ thù ngươi. Ta hứa rằng ta sẽ lập con cháu ngươi nối ngôi vua trên Ít-ra-en sau ngươi.
1CH 17:11 Khi ngươi qua đời về cùng tổ tiên thì ta sẽ lập một trong các con trai ngươi làm vua mới, và sẽ thiết lập nước của nó.
1CH 17:12 Nó sẽ xây nhà cho ta, và ta sẽ cho nước nó cai trị đời đời.
1CH 17:13 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Ta đã lấy lại tình yêu ta đối cùng Sau-lơ là kẻ cai trị trước ngươi, nhưng ta sẽ luôn luôn yêu thương con trai ngươi.
1CH 17:14 Ta sẽ đặt nó quản trị nhà ta và nước ta đời đời. Gia đình nó sẽ trị vì mãi mãi.”
1CH 17:15 Na-than thuật lại cho Đa-vít mọi điều Thượng Đế phán trong sự hiện thấy.
1CH 17:16 Rồi vua Đa-vít đi vào ngồi trước mặt CHÚA và nói, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, tôi là gì? Gia đình tôi là ai mà Ngài mang tôi đến như hôm nay?
1CH 17:17 Lạy CHÚA, thế chưa đủ. Ngài còn hứa về tương lai của gia đình tôi nữa. Lạy CHÚA là Thượng Đế Ngài đã đối cùng tôi như một người có địa vị.
1CH 17:18 Tôi còn thưa gì hơn nữa với Ngài vì Ngài đã tôn trọng tôi, kẻ tôi tớ Ngài? Ngài biết tôi quá rõ.
1CH 17:19 Lạy CHÚA, Ngài đã làm điều diệu kỳ nầy vì tôi và vì Ngài muốn làm như thế. Ngài đã tỏ ra mọi điều lớn lao nầy.
1CH 17:20 Lạy Chúa, không có ai giống như Ngài. Không có Thượng Đế nào ngoài Ngài. Chính tai chúng tôi đã nghe tất cả những điều nầy về Ngài!
1CH 17:21 Không có dân nào giống như dân Ít-ra-en của Ngài. Họ là dân tộc duy nhất trên đất được Ngài chọn lựa cho mình. Ngài đã tỏ danh của Ngài ra bằng những việc lớn lao kỳ diệu Ngài làm cho họ. Ngài đi trước họ và đánh đuổi các dân khác ra khỏi xứ. Ngài giải thoát dân sự Ngài ra khỏi ách nô lệ ở Ai-cập.
1CH 17:22 Ngài lập dân Ít-ra-en làm dân sự của Ngài đời đời, và CHÚA ơi, Ngài là Thượng Đế của họ.
1CH 17:23 Lạy Chúa, xin hãy giữ lời hứa đời đời Ngài đã phán cùng gia đình tôi và tôi, kẻ tôi tớ Ngài. Xin hãy thực hiện điều Ngài đã hứa.
1CH 17:24 Rồi Ngài sẽ luôn luôn được tôn trọng, và người ta sẽ nói, ‘CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế trên Ít-ra-en, là Thượng Đế của Ít-ra-en!’ Gia đình của Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài sẽ còn tồn tại trước mặt Ngài.
1CH 17:25 Lạy Thượng Đế tôi, Ngài đã bảo tôi rằng Ngài sẽ làm cho gia đình tôi nổi danh. Cho nên tôi, kẻ tôi tớ Ngài, bạo dạn cầu xin cùng Ngài.
1CH 17:26 Lạy Chúa, Ngài là Thượng Đế, và Đấng đã hứa những điều tốt lành nầy cùng tôi, kẻ tôi tớ Ngài.
1CH 17:27 Ngài đã tự ý ban phước cho gia đình tôi. Xin Ngài hãy tiếp tục làm điều đó mãi mãi. Lạy Chúa, Ngài đã ban phước cho gia đình tôi, nên gia đình tôi sẽ luôn luôn được phước.”
1CH 18:1 Sau đó Đa-vít đánh bại dân Phi-li-tin, chiến thắng chúng và chiếm thành Gát cùng các thị trấn nhỏ quanh đó.
1CH 18:2 Ông cũng đánh thắng dân Mô-áp. Nên dân Mô-áp phục tùng Đa-vít và dâng triều cống theo như ông đòi.
1CH 18:3 Đa-vít cũng chiến thắng Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba, suốt đến thị trấn Ha-mát khi ông tìm cách dựng một đài kỷ niệm cho mình ở sông Ơ-phơ-rát.
1CH 18:4 Đa-vít bắt được một ngàn quân xa của vua đó, bảy ngàn lính cỡi quân xa, và hai mươi ngàn lính bộ. Ông cắt tất cả nhượng ngựa kéo xe chỉ chừa lại một trăm con.
1CH 18:5 Quân A-ram từ Đa-mách kéo đến giúp Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba, nhưng bị Đa-vít giết mất hai mươi hai ngàn người.
1CH 18:6 Rồi Đa-vít cho quân đến đóng ở Đa-mách, thuộc A-ram. Người A-ram thần phục Đa-vít và dâng triều cống theo như ông đòi. Bất cứ nơi nào ông đi CHÚA đều ban chiến thắng cho ông.
1CH 18:7 Đa-vít lấy các khiên bằng vàng từ các sĩ quan của Ha-đa-đê-xe mang về Giê-ru-sa-lem.
1CH 18:8 Đa-vít cũng lấy những đồ làm bằng đồng từ Tê-ba và Cun là hai thành phố trước kia nằm dưới quyền của Ha-đa-đê-xe. Về sau Sô-lô-môn dùng đồng đó để chế các vật dụng trong đền thờ: cái chậu đồng lớn còn gọi là cái Biển, các cột trụ, và các dụng cụ bằng đồng khác.
1CH 18:9 Thôi, vua Ha-mát, nghe rằng Đa-vít đã đánh bại toàn đạo quân của Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba,
1CH 18:10 liền sai con trai là Ha-đô-ram đến thăm hỏi và chúc mừng Đa-vít vì đã chiến thắng Ha-đa-đê-xe. Ha-đa-đê-xe trước đây hay gây chiến với Thôi. Ha-đô-ram mang biếu các đồ bằng vàng, bạc, và đồng.
1CH 18:11 Vua Đa-vít dâng tất cả các món đó cho CHÚA cùng với bạc và vàng mà ông đã lấy được từ các dân sau đây: Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc.
1CH 18:12 A-bi-sai con trai Xê-ru-gia giết mười tám ngàn người Ê-đôm trong thung lũng Muối.
1CH 18:13 Đa-vít cho quân đóng ở Ê-đôm. Toàn dân Ê-đôm phải thần phục Đa-vít. Nơi nào ông đi đều được CHÚA ban chiến thắng.
1CH 18:14 Đa-vít lên làm vua trên cả Ít-ra-en. Ông làm điều công bằng và hợp lý cho toàn dân của mình.
1CH 18:15 Giô-áp con trai Xê-ru-gia là tổng chỉ huy quân đội. Giô-sa-phát con trai A-hi-lút làm ký lục.
1CH 18:16 Xa-đốc con A-hi-túp và A-bia-tha con A-hi-mê-léc làm thầy tế lễ. Sáp-sa là đổng lý văn phòng của vua.
1CH 18:17 Bê-na-gia con Giê-hô-gia-đa coi sóc người Kê-rê-thít và Bê-lê-thít. Các con trai của Đa-vít đều làm sĩ quan cao cấp phục vụ cạnh ông.
1CH 19:1 Sau khi Na-hách, vua Am-môn qua đời thì con ông lên nối ngôi.
1CH 19:2 Đa-vít nói, “Na-hách rất trung thành với ta cho nên ta cũng sẽ trung thành với Ha-nun, con trai người.” Vậy Đa-vít sai sứ đến an ủi Ha-nun về cái chết của cha ông. Các sĩ quan của Đa-vít đi đến xứ dân Am-môn để an ủi Ha-nun.
1CH 19:3 Nhưng các lãnh tụ Am-môn bảo Ha-nun rằng, “Vua tưởng Đa-vít muốn tỏ lòng tôn kính cha vua bằng cách gởi người đến an ủi vua sao? Không phải đâu! Ông ta sai họ đi do thám đất đai chúng ta để chiếm lấy đó.”
1CH 19:4 Vì thế Ha-nun bắt các sứ giả của Đa-vít. Để làm nhục họ, ông cho cạo râu họ và cắt quần áo họ ngang đùi rồi đuổi về.
1CH 19:5 Khi dân chúng thuật cho Đa-vít nghe việc đó thì ông sai người ra đón họ vì họ cảm thấy nhục nhã lắm. Vua Đa-vít bảo, “Hãy ở lại Giê-ri-cô cho đến khi râu các ngươi mọc lại rồi về nhà.”
1CH 19:6 Người Am-môn biết rằng họ đã sỉ nhục Đa-vít nên Ha-nun và dân Am-môn gởi khoảng bảy mươi lăm ngàn cân bạc để thuê các quân xa và người điều khiển quân xa từ vùng Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi, A-ram Ma-a-ca, và Xô-ba.
1CH 19:7 Quân Am-môn thuê ba mươi hai ngàn quân xa, vua Ma-a-ca và đạo quân của vua. Họ đến đóng quân gần thị trấn Mê-đê-ba. Chính quân Am-môn cũng đi ra khỏi các thị trấn sẵn sàng tác chiến.
1CH 19:8 Khi Đa-vít nghe tin đó liền sai Giô-áp kéo toàn quân ra nghênh chiến.
1CH 19:9 Quân Am-môn kéo ra chuẩn bị đánh nhau ở cổng thành. Các vua đến trợ lực chúng cũng kéo nhau ra giữa đồng.
1CH 19:10 Giô-áp thấy đối phương ở phía trước lẫn phía sau mình cho nên ông chọn những quân sĩ thiện chiến nhất của Ít-ra-en ra đánh nhau với quân A-ram.
1CH 19:11 Phần còn lại của quân lực Giô-áp giao cho A-bi-sai, em mình, chỉ huy. Rồi họ kéo nhau ra đánh quân Am-môn.
1CH 19:12 Giô-áp bảo A-bi-sai, “Nếu người A-ram mạnh hơn anh, em phải đến giúp anh. Nhưng nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ đến giúp em.
1CH 19:13 Hãy mạnh dạn lên. Chúng ta phải anh dũng chiến đấu cho dân tộc ta và cho các thành của Thượng Đế chúng ta. CHÚA sẽ làm điều Ngài cho là phải.”
1CH 19:14 Rồi Giô-áp và toàn quân đi theo ông kéo ra tấn công quân A-ram. Quân A-ram bỏ chạy.
1CH 19:15 Khi quân Am-môn thấy quân A-ram bỏ chạy thì chúng cũng bỏ chạy khỏi A-bi-sai, em Giô-áp, và trốn về thành mình. Giô-áp liền trở về Giê-ru-sa-lem.
1CH 19:16 Khi quân A-ram thấy Ít-ra-en đã đánh bại mình liền sai sứ mang các quân A-ram khác từ phía Đông của sông Ơ-phơ-rát đến. Lãnh tụ của nhóm đó là Sóp-hách, tư lệnh quân đội của Ha-đa-đê-xe.
1CH 19:17 Đa-vít nghe vậy liền triệu tập toàn dân Ít-ra-en. Họ băng qua sông Giô-đanh. Ông chuẩn bị cho họ ra trận đối đầu với quân A-ram. Quân A-ram chiến đấu với Đa-vít,
1CH 19:18 nhưng chúng bỏ chạy trước mặt người Ít-ra-en. Đa-vít giết bảy ngàn lính cỡi quân xa, và bốn mươi ngàn lính bộ của A-ram. Ông cũng giết Sóp-hách, tư lệnh quân đội A-ram.
1CH 19:19 Khi những kẻ phục vụ Ha-đa-đê-xe thấy quân Ít-ra-en đã đánh bại mình liền cầu hòa với Đa-vít và phục tòng ông. Quân A-ram không còn dám giúp quân Am-môn nữa.
1CH 20:1 Vào mùa xuân tức thời kỳ trong năm khi các vua hay ra trận thì Giô-áp hướng dẫn đạo quân Ít-ra-en kéo ra. Nhưng Đa-vít ở lại Giê-ru-sa-lem. Quân Ít-ra-en tiêu diệt xứ dân Am-môn. Còn Giô-áp kéo quân đến thành Ráp-ba và tiêu diệt nó.
1CH 20:2 Đa-vít lấy mão triều khỏi đầu của vua đó đội trên đầu mình. Mão triều vàng đó nặng khoảng bảy mươi lăm cân và có cẩn nhiều ngọc quí. Đa-vít cũng lấy nhiều đồ vật quí giá trong thành đó.
1CH 20:3 Ông cũng đưa dân ra khỏi thành và bắt chúng làm việc bằng cưa, cuốc, và rìu. Đa-vít làm như thế cho tất cả các thành phố của dân Am-môn. Rồi Đa-vít và toàn quân trở về Giê-ru-sa-lem.
1CH 20:4 Về sau chiến tranh xảy ra với dân Phi-li-tin ở Ghê-xe. Xíp-bê-cai người Hu-sa-thít giết Xíp-bai là một trong những con cháu của dân Rê-pha-ít. Vậy những người Phi-li-tin bị đánh bại.
1CH 20:5 Sau đó có một trận chiến nữa với dân Phi-li-tin. Ên-ha-nan, con Giai-rơ giết La-mi, em Gô-li-át, người thuộc thị trấn Gát. Cái giáo của hắn lớn như trục thợ dệt.
1CH 20:6 Ở Gát cũng xảy ra một trận đánh nữa. Ở đó có một người khổng lồ; mỗi tay hắn có sáu ngón, và mỗi chân cũng có sáu ngón, tất cả là hai mươi bốn ngón. Hắn cũng là một trong các con trai của Ra-pha.
1CH 20:7 Khi hắn sỉ nhục Ít-ra-en thì Giô-na-than, con Si-mê-a, anh Đa-vít, giết hắn.
1CH 20:8 Đó là các con cháu của Ra-pha thuộc miền Gát là những người bị Đa-vít và các thuộc hạ của ông giết chết.
1CH 21:1 Sa-tăng nổi lên nghịch Ít-ra-en nên xúi giục Đa-vít kiểm kê dân Ít-ra-en.
1CH 21:2 Đa-vít bảo Giô-áp và các viên chỉ huy quân đội, “Hãy đi kiểm kê toàn dân Ít-ra-en từ Bê-e-sê-ba cho đến Đan rồi cho ta biết con số là bao nhiêu.”
1CH 21:3 Giô-áp thưa, “Nguyện CHÚA gia tăng dân số ta thêm hàng trăm lần. Thưa vua và chúa tôi, tất cả dân Ít-ra-en đều là tôi tớ ngài. Tại sao ngài muốn làm điều nầy, thưa chủ? Ngài sẽ khiến cho dân Ít-ra-en mắc tội.”
1CH 21:4 Nhưng vì là lệnh vua nên Giô-áp đi khắp Ít-ra-en rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
1CH 21:5 Giô-áp trao danh sách toàn dân cho Đa-vít. Có một triệu một trăm ngàn người đàn ông trong khắp Ít-ra-en là những người có thể dùng gươm, và trong Giu-đa có bốn trăm bảy mươi ngàn người đàn ông có thể dùng gươm.
1CH 21:6 Nhưng Giô-áp không kiểm kê các chi tộc Lê-vi và Bên-gia-min vì ông không thích lệnh của vua Đa-vít.
1CH 21:7 Đa-vít làm điều CHÚA cho là quấy nên Ngài trừng phạt Ít-ra-en.
1CH 21:8 Đa-vít liền thưa cùng Thượng Đế, “Tôi đã phạm tội rất lớn về điều tôi làm! Bây giờ xin hãy tha tội cho tôi, kẻ tôi tớ CHÚA, vì tôi đã hành động rất ngu xuẩn.”
1CH 21:9 CHÚA phán cùng Gát, người tiên kiến của Đa-vít,
1CH 21:10 “Hãy đi bảo Đa-vít, ‘CHÚA phán như sau: Ta cho ngươi ba sự chọn lựa. Chọn một trong ba rồi ta sẽ thực hiện.’”
1CH 21:11 Vì thế, Gát đi đến bảo Đa-vít, “CHÚA phán như sau: ‘Ngươi hãy chọn cho mình một trong các điều sau:
1CH 21:12 ba năm đói kém, ba tháng chạy trốn khỏi kẻ thù mình khi chúng dùng gươm rượt đuổi ngươi hoặc ba ngày bị CHÚA trừng phạt bằng một bệnh dịch khủng khiếp lan tràn khắp xứ. Thiên sứ của CHÚA sẽ đi qua khắp Ít-ra-en đặng tiêu diệt dân chúng.’ Bây giờ, vua Đa-vít, xin hãy quyết định một trong ba điều nầy để tôi phải thưa lại cùng CHÚA là Đấng đã sai tôi.”
1CH 21:13 Đa-vít nói với Gát, “Tôi bị rắc rối lớn. Xin CHÚA trừng phạt tôi vì CHÚA rất nhân từ. Đừng để tôi bị loài người trừng phạt.”
1CH 21:14 Vậy CHÚA sai một trận dịch khủng khiếp đến trên Ít-ra-en giết bảy mươi ngàn người.
1CH 21:15 Thượng Đế sai một thiên sứ đến tiêu diệt Giê-ru-sa-lem, nhưng khi thiên sứ bắt đầu ra tay thì CHÚA trông thấy và ân hận về những việc khủng khiếp đã xảy ra nên Ngài bảo thiên sứ đang hủy diệt rằng, “Thôi đủ rồi! Hãy bỏ tay ngươi xuống!” Thiên sứ của CHÚA đang đứng nơi sân đập lúa của A-rau-na người Giê-bu-sít.
1CH 21:16 Đa-vít ngước lên nhìn thấy thiên sứ của CHÚA đang đứng giữa trời, giơ gươm ra chỉ về hướng Giê-ru-sa-lem. Đa-vít và các bô lão liền cúi sấp mặt xuống đất. Họ đang mặc quần áo vải sô để tỏ sự buồn rầu.
1CH 21:17 Đa-vít thưa cùng Thượng Đế, “Tôi là người phạm tội và làm quấy vì ra lệnh kiểm kê. Những người nầy chỉ đi theo tôi như chiên. Họ không làm gì quấy. Thưa CHÚA là Thượng Đế tôi, xin hãy trừng phạt tôi và gia đình tôi, nhưng hãy ngưng bệnh dịch khủng khiếp đang giết hại dân sự Ngài.”
1CH 21:18 Thiên sứ của CHÚA nói với Gát bảo Đa-vít xây một bàn thờ cho CHÚA nơi sân đập lúa của A-rau-na người Giê-bu-sít.
1CH 21:19 Vậy Đa-vít làm theo điều Gát nhân danh CHÚA bảo ông làm.
1CH 21:20 A-rau-na đang đập lúa. Khi ông quay lại thì thấy thiên sứ. Bốn con trai đang ở với ông liền chạy trốn.
1CH 21:21 Đa-vít đến gặp A-rau-na. Khi A-rau-na thấy vua liền bước khỏi sân đập lúa và cúi sấp mặt xuống đất trước mặt Đa-vít.
1CH 21:22 Đa-vít bảo ông, “Hãy bán cho ta sân đập lúa ngươi để ta xây bàn thờ cho CHÚA ở đó rồi cơn dịch khủng khiếp sẽ ngưng lại. Hãy bán cho ta nguyên giá.”
1CH 21:23 A-rau-na thưa cùng Đa-vít, “Xin vua hãy lấy sân đập lúa đi. Thưa vua chúa tôi, xin ngài hãy làm điều gì ngài muốn. Nầy, tôi sẽ biếu vua các con bò để làm của lễ toàn thiêu, ván trên sàn đạp lúa để làm củi, và lúa mì để làm của lễ chay. Tôi xin dâng cho vua hết.”
1CH 21:24 Nhưng vua Đa-vít bảo A-rau-na, “Không, ta muốn trả nguyên giá đất cho ngươi. Ta không muốn lấy không vật gì của ngươi mà dâng cho CHÚA. Ta không muốn dâng của lễ thiêu mà chẳng tốn kém gì.”
1CH 21:25 Vậy Đa-vít trả cho A-rau-na khoảng mười lăm cân vàng cho sân đập lúa.
1CH 21:26 Đa-vít xây một bàn thờ cho CHÚA tại đó và dâng của lễ toàn thiêu cùng của lễ thân hữu. Đa-vít cầu nguyện cùng CHÚA thì Ngài trả lời ông bằng cách sai lửa từ trời xuống trên bàn thờ của lễ thiêu.
1CH 21:27 Sau đó CHÚA truyền cho thiên sứ bỏ gươm vào vỏ.
1CH 21:28 Khi Đa-vít thấy CHÚA đã trả lời cho mình nơi sân đập lúa của A-rau-na thì liền dâng sinh tế cho Ngài tại đó.
1CH 21:29 Lều Thánh mà Mô-se làm trong khi dân Ít-ra-en đang lưu lạc trong sa mạc và bàn thờ của lễ thiêu đang ở tại Ghi-bê-ôn là nơi thờ phụng.
1CH 21:30 Nhưng Đa-vít không thể đi đến Lều Thánh để thưa chuyện cùng Thượng Đế vì ông sợ thiên sứ và lưỡi gươm của thiên sứ CHÚA.
1CH 22:1 Đa-vít nói, “Đền Thờ của CHÚA là Thượng Đế và bàn thờ của dân Ít-ra-en để dâng của lễ thiêu sẽ được xây tại đây.”
1CH 22:2 Vậy Đa-vít ra lệnh cho các người ngoại quốc sống trong Ít-ra-en họp lại. Rồi trong số đó ông chọn ra những thợ đẽo đá để đục đá dùng trong việc xây đền thờ của Thượng Đế.
1CH 22:3 Đa-vít cung cấp một số lượng sắt rất lớn dùng làm đinh và bản lề cho các cửa. Ông cũng cung cấp đồng nhiều đến nỗi không thể cân,
1CH 22:4 và gỗ hương nam nhiều không thể đếm được. Hầu hết gỗ hương nam được dân Xi-đôn và Tia mang đến.
1CH 22:5 Đa-vít nói, “Chúng ta nên cất một đền thờ vĩ đại cho CHÚA để khắp nơi vang danh về sự vĩ đại và xinh đẹp của nó. Nhưng Sô-lô-môn con trai ta hãy còn nhỏ. Nó chưa học biết điều nó cần biết nên ta phải chuẩn bị đền thờ cho nó.” Vậy Đa-vít sắm sửa các vật liệu cần dùng trước khi ông qua đời.
1CH 22:6 Rồi Đa-vít gọi Sô-lô-môn con mình đến dặn xây cất đền thờ cho CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en.
1CH 22:7 Đa-vít bảo ông, “Con ơi, cha muốn xây một đền thờ để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế của cha.
1CH 22:8 Nhưng CHÚA phán cùng ta, ‘Đa-vít, ngươi đã giết nhiều người, đánh nhiều trận. Ngươi không thể nào xây đền thờ để thờ phụng ta vì ngươi đã giết nhiều người.
1CH 22:9 Nhưng ngươi sẽ có một con trai, một người hiếu hòa và an tịnh. Ta sẽ ban sự an tịnh để nó tránh khỏi các kẻ thù quanh nó. Tên nó sẽ là Sô-lô-môn, và ta sẽ ban cho Ít-ra-en hòa bình và an tịnh trong đời nó trị vì.
1CH 22:10 Sô-lô-môn sẽ xây một đền thờ để thờ phụng ta. Nó sẽ làm con ta, ta sẽ làm cha nó. Ta sẽ làm cho nước nó vững mạnh; lúc nào cũng sẽ có người trong gia đình nó trị vì trên Ít-ra-en đời đời.’”
1CH 22:11 Đa-vít bảo, “Bây giờ, con ơi, nguyện CHÚA ở cùng con. Nguyện con xây một đền thờ cho CHÚA là Thượng Đế con như Ngài đã phán.
1CH 22:12 Ngài sẽ lập con làm vua trên Ít-ra-en. Nguyện CHÚA ban cho con sự khôn ngoan và hiểu biết để con vâng theo mọi lời giáo huấn của CHÚA là Thượng Đế con.
1CH 22:13 Hãy cẩn thận vâng theo các qui tắc và luật lệ CHÚA ban cho Ít-ra-en qua Mô-se. Nếu con vâng giữ những điều đó con sẽ thành công. Hãy mạnh dạn và can đảm. Đừng hoảng sợ hay nản chí.
1CH 22:14 Sô-lô-môn ơi, cha đã hết sức thu góp các vật liệu để xây cất đền thờ cho CHÚA. Ta đã cung ứng khoảng ba ngàn bốn trăm năm mươi tấn vàng, khoảng ba mươi bốn tấn rưỡi bạc, còn đồng và sắt thì nhiều vô kể không thể cân được, gỗ và đá cũng vậy. Con có thể thêm vào số đó nữa.
1CH 22:15 Con có nhiều nhân công: thợ đẽo đá, thợ nề, thợ mộc, và những thợ khéo trong nhiều nghề.
1CH 22:16 Họ có tài làm đồ bằng vàng, bạc, đồng, và sắt. Con có vô số thợ khéo trong tay. Bây giờ hãy khởi công. Nguyện CHÚA ở cùng con.”
1CH 22:17 Rồi Đa-vít ra lệnh cho các lãnh tụ của Ít-ra-en giúp đỡ Sô-lô-môn, con mình.
1CH 22:18 Đa-vít bảo họ, “CHÚA là Thượng Đế các ngươi ở cùng các ngươi. Ngài đã ban cho các ngươi sự an tịnh khỏi các kẻ thù. CHÚA và dân Ngài cai trị xứ nầy.
1CH 22:19 Bây giờ hãy hết lòng vâng lời CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Hãy xây nơi thánh cho CHÚA; hãy xây đền để thờ phụng Ngài rồi mang Rương Giao Ước với CHÚA cùng các vật thánh thuộc về Thượng Đế vào trong đền thờ.”
1CH 23:1 Sau khi Đa-vít đã sống lâu năm và cao tuổi thì ông lập Sô-lô-môn con mình làm vua trên Ít-ra-en.
1CH 23:2 Đa-vít triệu tập tất cả các lãnh tụ của Ít-ra-en cùng với các thầy tế lễ và người Lê-vi lại.
1CH 23:3 Ông kiểm kê người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở lên. Tổng số là ba mươi tám ngàn.
1CH 23:4 Đa-vít nói, “Trong số đó, hai mươi bốn ngàn người Lê-vi sẽ chỉ huy công việc trong đền thờ CHÚA, sáu ngàn người làm sĩ quan và quan án,
1CH 23:5 bốn ngàn người phụ trách việc giữ cửa, và bốn ngàn người lo việc ca hát và dùng các nhạc cụ mà ta đã làm cho để lo việc ca ngợi.”
1CH 23:6 Đa-vít chia người Lê-vi ra làm ba nhóm đặt dưới quyền lãnh đạo của ba con trai Lê-vi: Ghẹt-sôn, Cô-hát, và Mê-ra-ri.
1CH 23:7 Trong nhóm Ghẹt-sôn có La-đan và Si-mê-i.
1CH 23:8 La-đan có ba con trai. Con trưởng nam là Giê-hi-ên, và hai con trai kia là Xê-tham và Giô-ên.
1CH 23:9 Các con trai của Si-mê-i là Sê-lô-mốt, Ha-xi-ên, và Ha-ran. Ba con trai đó là trưởng các gia đình La-đan.
1CH 23:10 Si-mê-i có bốn con trai: Gia-hát, Xi-xa, Giê-úc, và Bê-ri-a.
1CH 23:11 Gia hát là con trưởng nam, con thứ nhì là Xi-xa. Nhưng Giê-úc và Bê-ri-a không có đông con cho nên họ được tính chung một gia đình.
1CH 23:12 Cô-hát có bốn con trai: Am-ram, Y-xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
1CH 23:13 Các con trai của Am-ram là A-rôn và Mô-se. A-rôn và con cháu ông được chọn làm nhiệm vụ đặc biệt đời đời. Họ được chọn lựa để chuẩn bị những vật thánh cho CHÚA, để dâng sinh tế trước mặt CHÚA và để làm thầy tế lễ phục vụ Ngài. Họ cũng nhân danh Ngài mà chúc phước đời đời.
1CH 23:14 Mô-se là người của Thượng Đế, và các con trai ông được xem như một phần của chi tộc Lê-vi.
1CH 23:15 Các con trai của Mô-se là Ghẹt-sôn và Ê-li-ê-xe.
1CH 23:16 Con trưởng nam của Ghẹt-sôn là Su-ba-ên.
1CH 23:17 Con trưởng nam của Ê-li-ê-xa là Rê-ha-bia. Ê-li-ê-xe không có con trai nào khác nhưng Rê-ha-bia thì có nhiều con trai.
1CH 23:18 Con trưởng nam của Y-xa là Sê-lô-mít.
1CH 23:19 Con trưởng nam của Hếp-rôn là Giê-ri-a, con thứ nhì là A-ma-ria, con thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và con thứ tư là Ghê-ca-mê-am.
1CH 23:20 Con trưởng nam của U-xi-ên là Mi-ca, và con thứ nhì là Ích-sa.
1CH 23:21 Các con trai của Mê-ra-ri là Ma-li và Mu-si. Các con trai của Ma-li là Ê-lê-a-xa và Kích.
1CH 23:22 Ê-lê-a-xa qua đời không có con trai; chỉ có con gái. Các con gái Ê-li-a-xa lấy các anh em họ mình, tức các con trai của Kích.
1CH 23:23 Các con trai của Mu-si là Ma-li, Ê-đe, và Giê-ri-mốt.
1CH 23:24 Sau đây là dòng dõi Lê-vi liệt kê theo gia đình. Họ là chủ gia đình. Mỗi người từ hai mươi tuổi trở lên đều được liệt kê. Họ phục vụ trong đền thờ CHÚA.
1CH 23:25 Đa-vít đã nói, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en đã ban sự nghỉ ngơi cho dân Ngài. Ngài đã đến ngự trong Giê-ru-sa-lem đời đời.
1CH 23:26 Vậy người Lê-vi không phải khiêng Lều Thánh hoặc các vật dụng dùng trong Lều nữa.”
1CH 23:27 Chỉ thị cuối cùng của Đa-vít là kiểm kê người Lê-vi hai mươi tuổi trở lên.
1CH 23:28 Người Lê-vi có nhiệm vụ giúp đỡ các con cháu A-rôn trong việc phục vụ đền thờ CHÚA. Họ chăm sóc sân trước đền thờ và các phòng bên cạnh, và làm cho các vật thánh được tinh sạch. Nhiệm vụ của họ là phục vụ trong đền thờ Thượng Đế.
1CH 23:29 Họ có nhiệm vụ bày bánh thánh lên bàn, cung cấp bột dùng trong của lễ chay, bột làm bánh không men, lo việc nướng, trộn và đo lường.
1CH 23:30 Người Lê-vi cũng phải đứng mỗi sáng dâng lời cảm tạ và ca ngợi CHÚA. Mỗi sáng họ phải làm như thế và buổi chiều cũng vậy.
1CH 23:31 Người Lê-vi cũng phải thi hành nhiệm vụ khi đến lúc dâng các của lễ thiêu, vào những ngày nghỉ đặc biệt, những ngày lễ Trăng Mới, và các ngày lễ được chỉ định khác. Mỗi ngày họ phục vụ trước mặt CHÚA. Họ phải theo qui tắc chỉ định mỗi phiên bao nhiêu người Lê-vi phục vụ.
1CH 23:32 Vậy người Lê-vi lo cho Lều Họp và Nơi Thánh. Họ cũng giúp các thân nhân mình, tức con cháu A-rôn phục vụ trong đền thờ CHÚA.
1CH 24:1 Sau đây là nhóm các con trai A-rôn: Các con trai A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-xa, và Y-tha-ma.
1CH 24:2 Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết trước cha mình, họ không có con trai. Cho nên Ê-lê-a-xa và Y-tha-ma làm chức tế lễ.
1CH 24:3 Với sự trợ lực của Xa-đốc, một trong các con cháu Ê-lê-a-xa, và A-hi-mê-léc, một con cháu Y-tha-ma, Đa-vít phân gia tộc họ thành hai nhóm khác nhau. Mỗi nhóm có nhiệm vụ riêng.
1CH 24:4 Trong gia đình Ê-lê-a-xa có nhiều lãnh tụ hơn gia đình Y-tha-ma. Có mười sáu lãnh tụ từ gia đình Ê-lê-a-xa, và tám lãnh tụ từ gia đình Y-tha-ma.
1CH 24:5 Các người trong gia đình Ê-lê-a-xa và Y-tha-ma được chọn lựa theo lối bốc thăm. Một số người trong mỗi gia đình được chọn lựa để lo cho Nơi Thánh, một số được chọn để làm thầy tế lễ.
1CH 24:6 Sê-mai-gia, con trai Nê-tha-nên, từ chi tộc Lê-vi làm ký lục. Ông ghi chép tên tuổi của các con cháu đó trước mặt vua Đa-vít, các sĩ quan, thầy tế lễ Xa-đốc, A-hi-mê-léc, con trai A-bia-tha, các chủ gia đình của thầy tế lễ và người Lê-vi. Công tác được bắt thăm phân chia cho các gia đình của Ê-lê-a-xa và Y-tha-ma. Những người sau đây và nhóm của họ được lựa chọn.
1CH 24:7 Người thứ nhất được chọn là Giê-hô-gia-ríp. Người thứ nhì là Giê-đai-gia.
1CH 24:8 Người thứ ba là Ha-rim. Người thứ tư là Sê-ô-rim.
1CH 24:9 Người thứ năm là Manh-ki-gia. Người thứ sáu là Mi-gia-min.
1CH 24:10 Người thứ bảy là Hác-cốt. Người thứ tám là A-bi-gia.
1CH 24:11 Người thứ chín là Giê-sua. Người thứ mười là Sê-ca-nia.
1CH 24:12 Người thứ mười một là Ê-li-a-síp. Người thứ mười hai là Gia-kim.
1CH 24:13 Người thứ mười ba là Húp-ba. Người thứ mười bốn là Giê-sê-bê-áp.
1CH 24:14 Người thứ mười lăm là Binh-ga. Người thứ mười sáu là Im-mê.
1CH 24:15 Người thứ mười bảy là Hê-xia. Người thứ mười tám là Háp-bi-xê.
1CH 24:16 Người thứ mười chín là Bê-tha-nia. Người thứ hai mươi là Giê-hê-kên.
1CH 24:17 Người thứ hai mươi mốt là Gia-kin. Người thứ hai mươi hai là Ga-mun.
1CH 24:18 Người thứ hai mươi ba là Đê-lai-gia. Người thứ hai mươi bốn là Ma-a-xia.
1CH 24:19 Đó là những nhóm được chọn lựa để phục vụ trong đền thờ CHÚA. Họ vâng theo các qui tắc do A-rôn ban cho theo như CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en truyền dặn.
1CH 24:20 Sau đây là tên của những người còn lại thuộc dòng họ Lê-vi: Su-ba-bên là con cháu Am-ram, và Giê-đê-gia là con cháu Su-ba-ên.
1CH 24:21 Ích-sai-gia là con trưởng nam của Rê-ha-bia.
1CH 24:22 Từ họ hàng Y-xa có Sê-lô-mốt. Gia-hát là một trong những con cháu Sê-lô-mốt.
1CH 24:23 Con trưởng nam của Hếp-rôn là Giê-ri-a, con thứ hai là A-ma-ria, con thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và con thứ tư là Giê-ca-mê-am.
1CH 24:24 Con trai của U-xi-ên là Mi-ca. Con trai của Mi-ca là Sa-mia.
1CH 24:25 Em của Mi-ca là Ích-si-a. Con trai của Ích-si-a là Xa-cha-ri.
1CH 24:26 Các con cháu của Mê-ra-ri là Ma-la và Mu-si. Con trai Mê-ra-ri là Gia-a-xia.
1CH 24:27 Gia-a-xia, con của Mê-ra-ri có các con trai tên Sô-lam, Xa-cua và Íp-ri.
1CH 24:28 Con trai Ma-li là Ê-lê-a-xa, nhưng Ê-lê-a-xa không có con trai nào.
1CH 24:29 Con trai của Kích là Giê-ra-mê-ên.
1CH 24:30 Các con trai của Mu-si là Ma-li, Ê-đe, và Giê-ri-mốt. Đó là các người Lê-vi được liệt kê theo gia đình.
1CH 24:31 Họ được chọn theo nhiệm vụ đặc biệt bằng cách bốc thăm trước mặt vua Đa-vít, Xa-đốc, A-hi-mê-léc, các trưởng gia đình của các thầy tế lễ, và người Lê-vi. Họ thi hành các công tác đó y như các thân nhân mình tức các thầy tế lễ, con cháu A-rôn đã làm. Gia đình của con trai cả hay con trai út được đối xử như nhau.
1CH 25:1 Đa-vít và các viên chỉ huy quân lực chọn một số con trai của A-sáp, Hê-man, và Giê-đu-thun để nói tiên tri và chơi đờn cầm, đờn sắt, và chập chỏa. Sau đây là danh sách của những người phụ trách việc ấy:
1CH 25:2 Các con trai A-sáp lo việc nầy là Xa-cua, Giô-xép, Nê-tha-nia, và A-sa-rê-la. Theo vua chỉ định, A-sáp nói tiên tri, còn các con trai ông đứng kế ông.
1CH 25:3 Các con trai Giê-đu-thun lo việc nầy là Ghê-đa-lia, Xê-ri, Giê-sai-gia, Si-mê-i, Ha-sa-bia, và Mát-ti-thia. Có tất cả sáu người do Giê-đu-thun điều động. Ông chơi đờn sắt, và nói tiên tri để dâng lời cảm tạ cùng ca ngợi CHÚA.
1CH 25:4 Các con trai Hê-man phụ trách âm nhạc là Búc-kia, Mát-ta-thia, U-xi-ên, Su-ba-ên, Giê-ri-mốt, Ha-ha-nia, Ha-na-ni, Ê-li-a-tha, Ghi-đanh-ti, Rô-mam-ti Ê-xe, Giốt-bê-ca-sa, Manh-lô-thi, Hô-thia, và Ma-ha-giốt.
1CH 25:5 Tất cả những người ấy đều là các con trai Hê-man, người tiên kiến của Đa-vít. Thượng Đế hứa làm cho Hê-man hùng mạnh vì thế nên ông có nhiều con trai. Thượng Đế ban cho ông mười bốn con trai và ba con gái.
1CH 25:6 Hê-man điều động tất cả các con trai mình trong việc phụ trách âm nhạc cho đền thờ CHÚA và sử dụng chập chỏa, đờn cầm, đờn sắt; đó là cách họ phục vụ trong đền thờ Thượng Đế. Vua Đa-vít chịu trách nhiệm về A-sáp, Giê-đu-thun, và Hê-man.
1CH 25:7 Các người đó và thân nhân của họ được huấn luyện và có tài về âm nhạc ca ngợi CHÚA. Tổng số người lo việc nầy là hai trăm tám mươi tám người.
1CH 25:8 Mỗi người bắt thăm để chọn thời gian gia đình mình phục vụ nơi đền thờ. Người già, người trẻ, thầy hay trò đều phải bắt thăm.
1CH 25:9 Đầu tiên thăm rơi nhằm Giô-xép thuộc gia đình A-sáp. Thăm thứ hai chọn mười hai người từ Ghê-đa-lia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:10 Thăm thứ ba chọn mười hai người từ Xa-cua, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:11 Thăm thứ tư chọn mười hai người từ Ích-ri, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:12 Thăm thứ năm chọn mười hai người từ Nê-tha-nia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:13 Thăm thứ sáu chọn mười hai người từ Búc-kia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:14 Thăm thứ bảy chọn mười hai người từ Giê-xa-rê-la, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:15 Thăm thứ tám chọn mười hai người từ Giê-sai-gia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:16 Thăm thứ chín chọn mười hai người từ Mát-tha-thia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:17 Thăm thứ mười chọn mười hai người từ Si-mê-i, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:18 Thăm thứ mười một chọn mười hai người từ A-xa-rên, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:19 Thăm thứ mười hai chọn mười hai người từ Ha-sa-bia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:20 Thăm thứ mười ba chọn mười hai người từ Su-ba-ên, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:21 Thăm thứ mười bốn chọn mười hai người từ Mát-ti-thia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:22 Thăm thứ mười lăm chọn mười hai người từ Giê-ri-mốt, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:23 Thăm thứ mười sáu chọn mười hai người từ Ha-na-nia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:24 Thăm thứ mười bảy chọn mười hai người từ Giốt-bê-ca-sa, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:25 Thăm thứ mười tám chọn mười hai người từ Ha-na-ni, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:26 Thăm thứ mười chín chọn mười hai người từ Manh-lô-thi, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:27 Thăm thứ hai mươi chọn mười hai người từ Ê-li-a-thia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:28 Thăm thứ hai mươi mốt chọn mười hai người từ Hô-thia, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:29 Thăm thứ hai mươi hai chọn mười hai người từ Ghít-đanh-thi, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:30 Thăm thứ hai mươi ba chọn mười hai người từ Ma-ha-xi-ốt, các con trai và thân quyến ông.
1CH 25:31 Thăm thứ hai mươi bốn chọn mười hai người từ Rô-mam-ti Ê-xe, các con trai và thân quyến ông.
1CH 26:1 Sau đây là nhóm người giữ cửa. Từ gia đình Cô-ra có Mê-sê-lê-mia, con trai Cô-rê, thuộc gia đình A-sáp.
1CH 26:2 Mê-sê-lê-mia có con trai. Con trưởng nam là Xa-cha-ri, con thứ nhì là Giê-đia-ên, con thứ ba là Xê-ba-đia, Giát-ni-ên là con thứ tư,
1CH 26:3 Ê-lam là con thứ năm, Giê-hô-ha-nan là con thứ sáu, và Ê-li-ê-hô-ê-nai là con thứ bảy.
1CH 26:4 Ô-bết Ê-đôm cũng có con trai. Con trưởng nam là Sê-mai-gia, con thứ nhì là Giê-hô-xa-bát, con thứ ba là Giô-a, con thứ tư là Xa-ca, con thứ năm là Nê-tha-nên,
1CH 26:5 Am-mi-ên là con thứ sáu, Y-xa-ca là con thứ bảy, và Bêu-lê-thai là con thứ tám. Thượng Đế ban cho Ô-bết Ê-đôm có nhiều con.
1CH 26:6 Sê-mai-gia, con trai Ô-bết Ê-đôm cũng có con trai. Họ đều là trưởng gia đình trong nhà cha mình vì họ đều có khả năng.
1CH 26:7 Các con Sê-mai-gia là Ốt-ni, Rê-pha-ên, Ô-bết, Ên-xa-bát, Ê-li-hu, và Sê-ma-kia. Ê-li-hu và Sê-ma-kia là các chiến sĩ.
1CH 26:8 Tất cả các người đó đều là con cháu của Ô-bết Ê-đôm. Họ cùng các con trai và thân thuộc là những người có khả năng và làm việc giỏi. Ô-bết Ê-đôm có tất cả sáu mươi hai con cháu.
1CH 26:9 Mê-sê-lê-mia có con trai và thân thuộc là những tay thợ khéo. Tổng cộng tất cả mười tám người.
1CH 26:10 Từ gia đình Mê-ra-ri, Hô-sa có con trai. Sim-ri được cử chịu trách nhiệm dù rằng ông không phải là trưởng nam nhưng cha ông cử ông đảm trách.
1CH 26:11 Con thứ nhì của ông là Hinh-kia, con thứ ba là Ta-ba-lia, con thứ tư là Xa-cha-ri. Tổng cộng Hô-sa có mười ba con trai và thân thuộc.
1CH 26:12 Đó là những trưởng toán giữ cửa. Họ phục vụ trong đền thờ Thượng Đế. Các thân nhân họ cũng phục vụ trong đền thờ.
1CH 26:13 Mỗi gia đình bắt thăm để chọn cửa nào phải giữ. Già trẻ đều phải bắt thăm.
1CH 26:14 Mê-sê-lê-mia bắt thăm trúng Cửa Đông. Rồi bắt thăm cho Xa-cha-ri, con Mê-sê-lê-mia. Ông là một cố vấn có tài và được chọn Cửa Bắc.
1CH 26:15 Ô-bết Ê-đôm được bắt thăm trúng Cửa Nam, và các con trai ông được bắt thăm để giữ kho.
1CH 26:16 Súp-bim và Hô-sa được bắt thăm trúng Cửa Tây và Cửa Sa-lê-kết trên con đường phía trên. Các người giữ cửa đứng cạnh nhau.
1CH 26:17 Mỗi ngày có sáu người Lê-vi đứng canh Cửa Đông; bốn người giữ Cửa Bắc; bốn người giữ Cửa Nam; và lúc nào cũng có hai người giữ kho.
1CH 26:18 Có hai người gác sân Tây, và bốn người gác con đường đến sân.
1CH 26:19 Đó là những nhóm giữ cửa từ các gia đình Cô-ra và Mê-ra-ri.
1CH 26:20 Còn người Lê-vi khác thì chịu trách nhiệm giữ kho ngân khố của đền thờ Thượng Đế và những kho chứa các vật dụng thánh.
1CH 26:21 La-đan là con trai Ghẹt-sôn và tổ tiên của nhiều họ hàng. Giê-hi-ên làm trưởng của một trong các họ hàng.
1CH 26:22 Các con trai của ông là Xê-tham và Giô-ên, em ông. Họ chịu trách nhiệm về kho ngân khố trong đền thờ CHÚA.
1CH 26:23 Các lãnh tụ khác được chọn từ trong các họ hàng của Am-ram, Y-Xa, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
1CH 26:24 Su-ba-ên, con cháu Ghẹt-sôn, con trai Mô-se là người chịu trách nhiệm kho ngân khố.
1CH 26:25 Sau đây là các thân nhân của Su-ba-ên từ Ê-li-ê-xe: Rê-ha-bia con trai Ê-li-ê-xe, Giê-sai-gia con trai Rê-ha-bia, Giô-ram con trai Giê-sai-gia, Xích-ri con trai Giô-ram, và Sê-lô-mít con trai Xích-ri.
1CH 26:26 Sê-lô-mít và thân thuộc ông chịu trách nhiệm về mọi thứ đã được vua Đa-vít gom góp cho đền thờ, theo trưởng gia đình, những người chỉ huy hàng ngàn, hàng trăm người và theo các sĩ quan chỉ huy quân lực khác.
1CH 26:27 Họ cũng dâng một số những chiến lợi phẩm lấy được để dùng sửa chữa đền thờ CHÚA.
1CH 26:28 Sê-lô-mít và các thân nhân ông chịu trách nhiệm về những vật thánh. Một số được Sa-mu-ên, đấng tiên kiến, Sau-lơ, con của Kích, Áp-ne con trai Nê-rơ và Giô-áp con trai Xê-ru-gia tặng,
1CH 26:29 Kê-na-nia xuất thân từ gia đình Y-xa. Ông và các con trai ông phục vụ bên ngoài đền thờ với tư cách sĩ quan và quan án lưu động nhiều nơi trong Ít-ra-en.
1CH 26:30 Ha-sa-bia người thuộc gia đình Hếp-rôn. Ông và các thân thuộc chịu trách nhiệm cho công việc CHÚA và công tác của vua trong Ít-ra-en về phía Tây sông Giô-đanh. Trong nhóm Ha-sa-bia có một ngàn bảy trăm thợ khéo.
1CH 26:31 Gia phổ của gia đình Hếp-rôn cho thấy Giê-ri-a là lãnh tụ. Trong năm thứ bốn mươi triều đại Đa-vít, người ta sưu tầm sổ sách thì thấy một số người có khả năng trong gia đình Hếp-rôn sống ở Gia-xe thuộc vùng Ghi-lê-át.
1CH 26:32 Giê-ri-a có hai ngàn bảy trăm thân nhân là các tay thợ khéo và là chủ gia đình. Vua Đa-vít giao cho họ trách nhiệm hướng dẫn các chi tộc Ru-bên, Gát, và Ma-na-xe miền Đông trong khi làm công việc Thượng Đế và công tác của vua.
1CH 27:1 Đây là danh sách những người Ít-ra-en phục vụ trong quân đội nhà vua. Mỗi sư đoàn trực một tháng trong năm. Có các gia trưởng, sĩ quan chỉ huy một trăm, hay một ngàn người và các sĩ quan khác. Mỗi sư đoàn có hai mươi bốn ngàn người.
1CH 27:2 Gia-sô-bê-am, con trai Xáp-đi-ên phụ trách sư đoàn thứ nhất trực tháng giêng. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn ông.
1CH 27:3 Gia-sô-bê-am, một trong những con cháu của Phê-rê, chỉ huy toàn thể sĩ quan cho tháng giêng.
1CH 27:4 Đô-đai, người A-hô-hít, phụ trách sư đoàn trực tháng thứ hai. Mích-lốt là một viên chỉ huy của sư đoàn. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của Đô-đai.
1CH 27:5 Viên chỉ huy thứ ba, trực tháng ba là Bê-nai-gia, con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:6 Ông là Bê-nai-gia thuộc nhóm Ba Mươi Chiến Sĩ Cận vệ. Bê-nai-gia là một chiến sĩ gan dạ chỉ huy những người đó. Am-mi-xa-bát, con Bê-nai-gia, chỉ huy sư đoàn của Bê-nai-gia.
1CH 27:7 Viên chỉ huy thứ tư cho tháng tư là A-xa-ên, em Giô-áp. Sau đó Xê-bê-đia, con A-xa-ên thay thế ông làm chỉ huy. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:8 Viên chỉ huy thứ năm cho tháng năm là Sam-hút, thuộc gia đình Y-ra. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:9 Viên chỉ huy thứ sáu cho tháng sáu là Y-ra, con trai Ích-kê từ thị trấn Thê-cô-a. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:10 Viên chỉ huy thứ bảy cho tháng bảy là Hê-lê gốc người Bê-lô-nít và là con cháu của Ép-ra-im. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:11 Viên chỉ huy thứ tám cho tháng tám là Síp-bê-cai. Ông ta gốc thành Hu-sa và thuộc gia đình Xê-ra. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:12 Viên chỉ huy thứ chín cho tháng chín là A-bi-ê-xe. Ông gốc A-na thốt thuộc Bên-gia-min. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:13 Viên chỉ huy thứ mười cho tháng mười là Ma-ha-ri. Ông gốc ở Nê-tô-pha, thuộc gia đình Xê-ra. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:14 Viên chỉ huy thứ mười một cho tháng mười một là Bê-nai-gia. Ông gốc ở Phi-ra-thôn thuộc Ép-ra-im. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:15 Viên chỉ huy thứ mười hai cho tháng mười hai là Hên-đai. Ông gốc ở Nê-tô-pha thuộc gia đình Ốt-ni-ên. Có hai mươi bốn ngàn người trong sư đoàn của ông.
1CH 27:16 Sau đây là lãnh tụ các chi tộc trong Ít-ra-en. Ê-li-ê-xe, con trai Xích-ri lãnh đạo chi tộc Ru-bên. Sê-pha-tia, con Ma-a-ca lãnh đạo chi tộc Xi-mê-ôn.
1CH 27:17 Ha-sa-bia, con Kê-mu-ên lãnh đạo chi tộc Lê-vi. Xa-đốc lãnh đạo những người thuộc gia đình A-rôn.
1CH 27:18 Ê-li-hu, một trong các anh của Đa-vít, lãnh đạo chi tộc Giu-đa. Ôm-ri, con Mi-chên lãnh đạo chi tộc Y-xa-ca.
1CH 27:19 Ích-mai-gia, con trai Áp-đia lãnh đạo chi tộc Xê-bu-lôn. Giê-ri-mốt, con A-ri-ên lãnh đạo chi tộc Nép-ta-li.
1CH 27:20 Hô-sê, con A-xa-xia lãnh đạo chi tộc Ép-ra-im. Giô-ên, con Bê-đai-gia lãnh đạo chi tộc Ma-na-xe miền Tây.
1CH 27:21 Y-đô, con trai Xa-cha-ri lãnh đạo nửa chi tộc Ma-na-xe miền Đông ở Ghi-lê-át. Gia-a-xi-ên, con trai Áp-ne lãnh đạo chi tộc Bên-gia-min.
1CH 27:22 A-xa-rên, con trai Giê-hô-ram lãnh đạo chi tộc Đan. Đó là những lãnh tụ của các chi tộc Ít-ra-en.
1CH 27:23 CHÚA đã hứa làm cho dân Ít-ra-en đông như sao trên trời. Nên Đa-vít chỉ kiểm kê những người từ hai mươi tuổi trở lên mà thôi.
1CH 27:24 Giô-áp, con trai Xê-ru-gia bắt đầu kiểm kê dân chúng nhưng chưa xong. Thượng Đế nổi giận cùng Ít-ra-en vì việc kiểm kê cho nên con số dân chúng không được ghi vào sách sử ký trong đời vua Đa-vít.
1CH 27:25 A-ma-vết, con trai A-đi-ên phụ trách các kho của vua. Giô-na-than con trai U-xia phụ trách các kho trong nước, thị trấn, làng mạc và các tháp canh.
1CH 27:26 Ết-ri con Kê-lúp phụ trách về các nông phu cày cấy ruộng nương.
1CH 27:27 Si-mê-i người thành Ra-ma phụ trách vườn nho. Xáp-đi, người gốc Sa-pham phụ trách việc trữ rượu sản xuất từ các vườn nho.
1CH 27:28 Ba-anh Ha-nan, người gốc Ghê-đe phụ trách các cây ô liu và cây sung trên những đồi phía tây. Giô-ách phụ trách việc trữ dầu ô liu.
1CH 27:29 Si-trai, người gốc Sa-rôn, phụ trách các bầy súc vật ăn cỏ trong Bình Nguyên Sa-rôn. Sa-phát con Ách-lai phụ trách các bầy súc vật trong thung lũng.
1CH 27:30 Ô-bin, người Ích-ma-ên phụ trách lạc đà. Giê-đê-gia người Mê-rô-nốt phụ trách lừa.
1CH 27:31 Gia-xi, người gốc Ha-rít, phụ trách các bầy súc vật. Tất cả các người đó đều là những viên chức phụ trách tài sản của vua Đa-vít.
1CH 27:32 Giô-na-than, chú Đa-vít, làm cố vấn cho ông. Giô-na-than là người rất khôn ngoan và là chuyên gia luật. Giê-hi-ên con trai Hạc-mô-ni chăm sóc các con trai vua.
1CH 27:33 A-hi-tô-phên cố vấn cho vua. Hu-sai người Ác-kít là bạn vua.
1CH 27:34 Giê-hô-gia-đa và A-bia-tha về sau thay thế A-hi-tô-phên làm cố vấn cho vua. Giê-hô-gia-đa là con trai Bê-na-gia. Giô-áp là tư lệnh quân lực hoàng gia.
1CH 28:1 Đa-vít truyền cho các lãnh tụ Ít-ra-en tập họp ở Giê-ru-sa-lem. Đông đủ lãnh tụ các chi tộc, các vị chỉ huy những sư đoàn của vua, chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm người, các người phụ trách chăm sóc tài sản và gia súc của vua và các con trai vua, những người quản lý cung vua, các người có thế lực, và các chiến sĩ gan dạ đều tề tựu.
1CH 28:2 Vua Đa-vít đứng dậy nói, “Hỡi các thân thuộc và đồng bào, xin hãy lắng nghe ta nói. Ta muốn xây một nơi để đặt Rương Giao Ước của CHÚA. Ta muốn dùng nơi đó làm bệ chân CHÚA. Cho nên ta đã có đồ án để xây đền thờ.
1CH 28:3 Nhưng Thượng Đế phán cùng ta, ‘Ngươi không được xây đền thờ để thờ phụng ta vì ngươi là chiến sĩ đã giết nhiều người.’
1CH 28:4 Nhưng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en đã chọn ta từ trong cả gia đình ta để làm vua trên Ít-ra-en đời đời. Ngài chọn chi tộc Giu-đa để lãnh đạo, và từ trong dân Giu-đa Ngài đã chọn gia đình ta. Từ gia đình đó Ngài đã vui lòng chọn ta làm vua trên Ít-ra-en.
1CH 28:5 CHÚA đã ban cho ta nhiều con trai và trong số đó Ngài đã chọn Sô-lô-môn là vua mới trên Ít-ra-en. Ít-ra-en là nước Ngài.
1CH 28:6 CHÚA phán cùng ta, ‘Sô-lô-môn con trai ngươi sẽ xây đền thờ cho ta và các sân quanh đền thờ. Ta đã chọn Sô-lô-môn làm con trai ta, ta sẽ làm cha nó.
1CH 28:7 Nó sẽ vâng theo các luật lệ và mệnh lệnh ta. Nếu nó tiếp tục vâng giữ các điều đó, ta sẽ khiến nước nó vững bền đời đời.’”
1CH 28:8 Đa-vít tiếp, “Bây giờ trước mặt cả Ít-ra-en, hội đoàn của CHÚA, và trong tầm tai nghe của Thượng Đế, ta bảo cho các ngươi điều nầy: Hãy cẩn thận vâng theo các mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế các ngươi thì các ngươi sẽ giữ được đất màu mỡ nầy và truyền lại cho con cháu các ngươi đời đời.
1CH 28:9 Còn ngươi, Sô-lô-môn con ta, hãy chấp nhận Thượng Đế của cha con. Hãy vui vẻ phục vụ Ngài hết lòng vì CHÚA biết rõ lòng dạ của từng người. Ngài biết tư tưởng con. Nếu con đến xin Ngài giúp đỡ Ngài sẽ đáp lời con. Nhưng nếu con rời khỏi Ngài thì Ngài sẽ từ bỏ con đời đời.
1CH 28:10 Hỡi Sô-lô-môn, con phải hiểu điều nầy. CHÚA đã chọn con xây đền thờ làm nơi thánh cho Ngài. Hãy bạo dạn hoàn tất công tác.”
1CH 28:11 Rồi Đa-vít trao cho Sô-lô-môn đồ án xây cất đền thờ và các sân quanh đền thờ. Các đồ án đó gồm các tòa nhà chính, các kho chứa, các phòng thượng, các phòng trong, và nơi xóa tội cho dân chúng.
1CH 28:12 Đa-vít trao cho Sô-lô-môn các đồ án của tất cả những gì ông dự định trong trí: sân quanh đền thờ CHÚA và các phòng quanh đó, các kho ngân khố, cùng các phòng chứa các vật thánh dùng trong đền thờ.
1CH 28:13 Đa-vít trao cho Sô-lô-môn chỉ thị về cách hướng dẫn các nhóm thầy tế lễ và người Lê-vi. Đa-vít cho ông biết tất cả các công tác phục vụ trong đền thờ CHÚA và về các vật dụng dùng trong đền thờ
1CH 28:14 tức là những đồ dùng bằng vàng hay bạc. Đa-vít chỉ cho Sô-lô-môn biết mỗi món phải dùng bao nhiêu vàng hay bạc.
1CH 28:15 Đa-vít cho ông biết mỗi chân đèn vàng và đèn phải dùng bao nhiêu vàng, và các chân đèn bạc và chân đèn thường phải dùng bao nhiêu bạc. Các chân đèn khác nhau phải dùng đúng nơi đúng chỗ.
1CH 28:16 Đa-vít dặn mỗi cái bàn để bánh thánh phải dùng bao nhiêu vàng, và cần bao nhiêu bạc để dùng cho các bàn bằng bạc.
1CH 28:17 Ông dặn phải dùng bao nhiêu vàng ròng để làm nĩa, chén, bình đựng, và mỗi dĩa vàng phải dùng bao nhiêu vàng. Ông dặn mỗi dĩa bạc phải dùng bao nhiêu bạc
1CH 28:18 và phải dùng bao nhiêu vàng ròng để dùng cho bàn thờ xông hương. Ông trao cho Sô-lô-môn đồ án để làm xe bọc sắt trên đó có các con thú bằng vàng xòe cánh trên Rương Giao Ước với CHÚA.
1CH 28:19 Đa-vít nói, “CHÚA hướng dẫn ta soạn các đồ án nầy. Ngài giúp ta hiểu biết mọi việc trong đồ án.”
1CH 28:20 Đa-vít bảo con mình là Sô-lô-môn, “Hãy mạnh dạn và can đảm thực hiện công tác. Đừng lo sợ hay nản chí vì CHÚA là Thượng Đế ta ở cùng con. Ngài sẽ không thất hứa hay từ bỏ con cho đến khi con hoàn tất công tác xây đền thờ cho CHÚA.
1CH 28:21 Các nhóm thầy tế lễ và người Lê-vi sẵn sàng bắt tay vào việc thực hiện công tác xây đền thờ của Thượng Đế. Mỗi tay thợ khéo sẵn sàng giúp con thực hiện tất cả các công tác. Các lãnh tụ và toàn dân sẽ vâng theo các mệnh lệnh con ban ra.”
1CH 29:1 Vua Đa-vít bảo toàn thể dân chúng đang tập họp lại rằng, “Thượng Đế đã chọn Sô-lô-môn con trai ta. Nó hãy còn non nớt và chưa biết hết những gì cần phải biết, nhưng công tác nầy rất quan trọng. Đền nầy không phải cho người mà cho CHÚA là Thượng Đế.
1CH 29:2 Ta đã cố gắng hết sức để chuẩn bị xây đền thờ cho Thượng Đế. Ta đã cung cấp vàng để dùng vào các vật dụng bằng vàng và bạc cho những vật dụng bằng bạc. Ta đã cung cấp đồng cho các vật dụng bằng đồng, và sắt cho những vật dụng bằng sắt. Ta cũng đã cung cấp gỗ cho những vật dụng bằng gỗ và ngọc bích cho những đồ khảm. Ta đã cung cấp ngọc quí đủ màu, đá quí và cẩm thạch trắng. Ta cung cấp số lượng rất lớn những thứ nầy.
1CH 29:3 Ta đã cung cấp những thứ đó cho đền thờ, nay ta cũng dâng kho báu của ta gồm vàng và bạc, vì ta thực tâm muốn đền thờ của Thượng Đế được xây lên.
1CH 29:4 Ta đã dâng khoảng hai trăm hai mươi ngàn cân vàng ròng Ô-phia, và khoảng năm trăm hai mươi ngàn cân bạc nguyên chất. Vàng và bạc đó sẽ được dùng để bọc vách của các toà nhà
1CH 29:5 và để dùng cho các vật dụng bằng vàng và bạc. Các thợ khéo sẽ dùng vàng và bạc để làm các vật dụng cho đền thờ. Bây giờ hôm nay ai là người sẵn lòng dâng mình cho công việc CHÚA?”
1CH 29:6 Các trưởng gia đình, lãnh tụ của các chi tộc trong Ít-ra-en, các viên chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm người cùng các quản đốc công tác nhà vua dâng hiến những vật quí giá.
1CH 29:7 Họ dâng khoảng ba trăm tám mươi ngàn cân vàng, khoảng bảy trăm năm mươi ngàn cân bạc, khoảng một triệu ba trăm năm mươi ngàn cân đồng, và khoảng bảy triệu năm trăm ngàn cân sắt cho đền thờ Thượng Đế.
1CH 29:8 Dân chúng mang các ngọc quí dâng vào ngân khố của đền thờ CHÚA, và Giê-hi-ên thuộc gia đình Ghẹt-sôn, thu giữ các thứ đá quí đó.
1CH 29:9 Các lãnh tụ vui lòng dâng hiến hoàn toàn cho CHÚA. Dân chúng vui mừng thấy các lãnh tụ vui lòng dâng hiến. Vua Đa-vít cũng rất hớn hở.
1CH 29:10 Đa-vít ca ngợi CHÚA trước mặt toàn dân đang tập họp. Ông nói: “Lạy CHÚA, chúng tôi ca ngợi Ngài, là Thượng Đế của Ít-ra-en, tổ tiên chúng tôi. Chúng tôi ca ngợi Ngài đời đời không thôi.
1CH 29:11 Lạy Chúa, Ngài là Đấng cao cả quyền năng. Ngài đầy vinh hiển, đắc thắng và vinh dự. Mọi vật trên đất đều thuộc về Ngài. Lạy Chúa, vương quốc cũng thuộc về Ngài; Ngài cai trị mọi loài.
1CH 29:12 Sự giàu có và sang trọng từ Ngài mà đến. Ngài cai trị mọi loài. Ngài có quyền năng và sức mạnh để khiến cho bất cứ ai trở nên uy danh và cường thịnh.
1CH 29:13 Bây giờ, Thượng Đế ôi, chúng tôi tạ ơn Ngài và ca ngợi danh vinh hiển Ngài.
1CH 29:14 Những điều nầy thực ra không phải do tôi hay dân sự tôi mà có. Mọi vật đều do Ngài mà ra; Chúng tôi dâng lại cho CHÚA điều CHÚA ban cho chúng tôi.
1CH 29:15 Chúng tôi như kiều dân và khách lạ, y như tổ tiên chúng tôi. Đời chúng trên đất như bóng câu. Chẳng có hi vọng gì.
1CH 29:16 Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi, chúng tôi đã tụ họp tại đây để xây đền phụng thờ Ngài. Nhưng mọi điều chúng tôi có là do Ngài ban cho; mọi vật đều là của Ngài.
1CH 29:17 Lạy Thượng Đế tôi, tôi biết Ngài thử lòng loài người. Ngài vui lòng khi người ta làm điều chính trực. Tôi vui mừng dâng hiến những điều nầy cho Ngài, tôi dâng hiến trong tấm lòng chân thật. Dân sự Ngài họp lại đây vui mừng dâng hiến cho Ngài, và tôi cũng vui mừng thấy họ dâng hiến.
1CH 29:18 Lạy Chúa, Ngài là Thượng Đế của tổ tiên chúng tôi, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Xin hãy làm cho họ luôn luôn vui thích phục vụ Ngài, và khiến họ muốn vâng lời Ngài.
1CH 29:19 Xin ban cho Sô-lô-môn ý muốn phục vụ Ngài. Giúp nó luôn luôn vâng theo các mệnh lệnh, luật lệ, và qui tắc Ngài. Xin giúp nó xây đền thờ mà tôi đã chuẩn bị.”
1CH 29:20 Rồi Đa-vít nói cùng toàn dân đang tập họp, “Hãy chúc tụng CHÚA là Thượng Đế các ngươi.” Vậy mọi người đồng ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình. Họ sấp mặt xuống đất để tỏ lòng tôn kính CHÚA và vua.
1CH 29:21 Hôm sau dân chúng dâng sinh tế cho CHÚA. Họ dâng của lễ thiêu cho Ngài gồm một ngàn con bò đực, một ngàn con chiên đực và một ngàn chiên con đực. Họ cũng mang của lễ uống đến. Vô số sinh tế được dâng lên cho toàn dân Ít-ra-en.
1CH 29:22 Hôm đó dân chúng vui mừng ăn uống. CHÚA ở cùng họ. Rồi họ phong Sô-lô-môn, con trai Đa-vít lên ngôi vua một lần nữa. Họ đổ dầu trên Sô-lô-môn để bổ nhiệm ông làm vua trước mặt CHÚA. Họ cũng đổ dầu trên Xa-đốc để bổ nhiệm ông làm thầy tế lễ.
1CH 29:23 Rồi Sô-lô-môn ngồi trên ngôi của Chúa làm vua thay cho cha mình là Đa-vít. Sô-lô-môn rất thành công, toàn dân Ít-ra-en đều vâng phục ông.
1CH 29:24 Tất cả các lãnh tụ, quân sĩ cùng các hoàng tử của vua Đa-vít đều chấp nhận Sô-lô-môn làm vua, cam kết vâng lời ông.
1CH 29:25 CHÚA làm cho Sô-lô-môn uy nghi trước mặt cả dân Ít-ra-en và ban sự tôn trọng cho ông. Trước đời vua Sô-lô-môn không có vua nào trong Ít-ra-en được tôn trọng như thế.
1CH 29:26 Đa-vít, con trai Gie-xê làm vua trên cả Ít-ra-en.
1CH 29:27 Ông trị vì trên Ít-ra-en bốn mươi năm: bảy năm ở Hếp-rôn và ba mươi ba năm ở Giê-ru-sa-lem.
1CH 29:28 Khi về già thì Đa-vít qua đời. Ông sống một đời hạnh phúc lâu dài, nhận được nhiều điều sang trọng. Sô-lô-môn, con trai ông lên nối ngôi.
1CH 29:29 Mọi việc Đa-vít làm trong khi trị vì từ đầu đến cuối đều được ghi chép trong sách ký lục của Sa-mu-ên, đấng tiên kiến, sách ký lục của Na-than, nhà tiên tri, và trong sách ký lục của Gát, đấng tiên kiến.
1CH 29:30 Những bút tích đó ghi lại những điều Đa-vít thực hiện khi làm vua trên Ít-ra-en. Các điều ghi chép ấy cho thấy uy quyền của ông và những diễn tiến xảy ra cho ông, cho Ít-ra-en và các nước láng giềng.
2CH 1:1 Sô-lô-môn, con trai Đa-vít, trở thành một vị vua hùng cường vì CHÚA là Thượng Đế ở cùng ông và khiến ông được uy nghi.
2CH 1:2 Sô-lô-môn nói cùng toàn dân Ít-ra-en, tức các vị chỉ huy hàng trăm và hàng ngàn người, các quan án, các vị lãnh tụ trong cả Ít-ra-en, và các trưởng gia đình.
2CH 1:3 Rồi Sô-lô-môn cùng toàn dân đi lên nơi thờ phụng tại thị trấn Ghi-bê-ôn. Lều Họp của Thượng Đế mà Mô-se, tôi tớ CHÚA đã làm trong sa mạc, lúc ấy đang ở tại đó.
2CH 1:4 Đa-vít đã rước Rương của Thượng Đế từ Ki-ri-át Giê-a-rim về Giê-ru-sa-lem nơi ông đã chuẩn bị sẵn và dựng lều cho Rương đó.
2CH 1:5 Cái bàn thờ đồng mà Bê-xa-lên, con U-ri, cháu Hu-rơ đã làm hiện ở Ghi-bê-ôn trước Lều Thánh của Chúa. Vì thế Sô-lô-môn cùng dân chúng thờ phụng tại đó.
2CH 1:6 Sô-lô-môn đi lên bàn thờ bằng đồng trước mặt CHÚA nơi Lều Họp và dâng một ngàn của lễ thiêu trên đó.
2CH 1:7 Đêm đó Thượng Đế hiện ra cùng Sô-lô-môn và nói cùng ông rằng, “Hãy xin bất cứ điều gì ngươi muốn ta ban cho ngươi.”
2CH 1:8 Sô-lô-môn thưa, “Ngài đã rất nhân từ cùng Đa-vít, cha tôi và đã lập tôi làm vua thế cho người.
2CH 1:9 Bây giờ, lạy CHÚA là Thượng Đế, xin hãy thực hiện lời hứa Ngài cùng Đa-vít. Ngài đã lập tôi làm vua của một dân đông như bụi trên đất.
2CH 1:10 Bây giờ xin hãy ban cho tôi khôn ngoan và hiểu biết để tôi hướng dẫn dân nầy theo đường chánh vì không ai có thể cai trị họ nếu không có Ngài giúp đỡ.”
2CH 1:11 Thượng Đế phán cùng Sô-lô-môn, “Ngươi không xin giàu có, sang trọng, vinh dự, mạng sống kẻ thù ngươi hay được sống lâu. Nhưng vì ngươi xin sự khôn ngoan và hiểu biết để dắt dẫn dân ta là dân mà ta đã lập ngươi làm vua,
2CH 1:12 Ta sẽ ban cho ngươi sự khôn ngoan và hiểu biết. Ta cũng sẽ ban cho ngươi giàu có, vinh dự hơn tất cả các vua trước ngươi và sau ngươi.”
2CH 1:13 Rồi Sô-lô-môn rời nơi thờ phụng tức Lều Họp ở Ghi-bê-ôn và trở về Giê-ru-sa-lem. Tại đó ông trị vì trên dân Ít-ra-en.
2CH 1:14 Sô-lô-môn có một ngàn bốn trăm quân xa và mười hai ngàn ngựa. Ông giữ một số ngựa trong các thành phố đặc biệt để kéo quân xa, số còn lại ông giữ ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 1:15 Ở Giê-ru-sa-lem Sô-lô-môn khiến cho bạc và vàng nhiều như sỏi đá và cây hương nam nhiều như cây vả mọc trong đồng bằng vậy.
2CH 1:16 Ông nhập cảng ngựa từ Ai-cập và Kiêu; các lái buôn của ông mang chúng về từ Kiêu.
2CH 1:17 Họ nhập cảng các quân xa từ Ai-cập với giá mười lăm cân bạc một chiếc, còn ngựa thì khoảng bốn cân bạc một con. Rồi họ bán ngựa và quân xa cho tất cả các vua Hi-tít và A-ram.
2CH 2:1 Sô-lô-môn quyết định cất đền thờ để dùng làm nơi thờ phụng CHÚA và cũng cất một cung điện cho mình.
2CH 2:2 Ông chọn bảy mươi ngàn người khuân vác, tám mươi ngàn người đục đá trong núi, và ba ngàn sáu trăm đốc công.
2CH 2:3 Sô-lô-môn gởi thơ cho Hi-ram vua thành Tia như sau: “Xin vua hãy giúp tôi như đã giúp cha tôi là Đa-vít bằng cách gởi gỗ hương nam cho cha tôi cất cung điện người.
2CH 2:4 Tôi sẽ xây một ngôi đền để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế tôi, và tôi sẽ dâng đền thờ đó cho Ngài. Rồi chúng tôi sẽ đốt hương trước mặt Ngài. Chúng tôi sẽ luôn luôn bày bánh thánh trước sự hiện diện của Thượng Đế. Chúng tôi sẽ dâng của lễ thiêu mỗi sáng mỗi chiều, vào những ngày Sa bát, ngày Trăng Mới, và những lễ đặc biệt khác mà CHÚA là Thượng Đế chúng tôi truyền dặn. Đó là luật lệ đời đời cho toàn dân Ít-ra-en vâng theo.
2CH 2:5 Đền thờ tôi xây sẽ rất lớn vì Thượng Đế chúng tôi lớn hơn tất cả các thần.
2CH 2:6 Nhưng thật ra không ai có thể xây nhà cho Thượng Đế chúng tôi. Dù cho các từng trời cao vút cũng không chứa nổi Ngài. Làm sao tôi có thể xây đền thờ cho Ngài? Nơi đó chỉ có thể dùng làm chỗ dâng của lễ thiêu cho Ngài mà thôi.
2CH 2:7 Bây giờ xin vua hãy gởi cho tôi một thợ khéo làm vàng, bạc, đồng, và sắt cùng với chỉ tím, đỏ, và xanh. Người đó cũng phải biết chạm trổ nữa. Anh ta sẽ làm việc chung với các thợ khéo của tôi ở Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, những người mà Đa-vít cha tôi đã chọn.
2CH 2:8 Ngoài ra xin vua gởi cho tôi gỗ hương nam, gỗ thông, và gỗ bạch đàn từ Li-băng. Tôi biết các tôi tớ vua có kinh nghiệm đốn gỗ ở Li-băng, nên các tôi tớ tôi sẽ giúp họ.
2CH 2:9 Xin hãy gởi cho tôi thật nhiều gỗ vì đền thờ mà tôi sắp xây sẽ lớn rộng và nguy nga.
2CH 2:10 Tôi sẽ cung cấp cho các tôi tớ vua, những người đốn gỗ, 125.000 hộc lúa mì, 125.000 hộc lúa mạch, 440.000 lít rượu, và 440.000 lít dầu.”
2CH 2:11 Hi-ram, vua Tia, viết thư trả lời Sô-lô-môn như sau: “Kính vua Sô-lô-môn, vì CHÚA yêu dân Ngài nên Ngài đã chọn vua làm vua trên họ.”
2CH 2:12 Hi-ram cũng viết thêm: “Đáng ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, Đấng tạo nên trời và đất! Ngài ban cho vua Đa-vít một con trai khôn ngoan, một người đầy thông minh và hiểu biết, là người sẽ xây đền thờ cho CHÚA và cung điện cho mình.
2CH 2:13 Tôi sẽ gởi đến cho vua một tay thợ khéo và khôn ngoan tên Hu-ram A-bi.
2CH 2:14 Mẹ anh gốc dân Đan, cha anh gốc thành Tia. Hu-ram A-bi có tài làm các đồ vàng, bạc, đồng, sắt, đá, và gỗ, cùng với chỉ tím, xanh, đỏ cùng vải đắt tiền. Anh có tài chạm trổ và có thể khắc những kiểu nào vua chỉ. Anh sẽ giúp các thợ khéo của vua cùng thợ của Đa-vít, cha vua.
2CH 2:15 Bây giờ xin vua hãy gởi cho các tôi tớ tôi lúa mì, lúa mạch, dầu và rượu như vua hứa.
2CH 2:16 Chúng tôi sẽ đốn gỗ thật nhiều từ Li-băng dọc theo biển theo như vua cần rồi thả bè trôi xuống Giốp-ba. Sau đó vua sẽ mang về Giê-ru-sa-lem.”
2CH 2:17 Sô-lô-môn kiểm kê tất cả các ngoại kiều đang sống trong xứ Ít-ra-en. Đó là sau khi Đa-vít, cha vua đã kiểm kê toàn thể dân chúng. Trong toàn xứ có tất cả 153.600 ngoại kiều.
2CH 2:18 Sô-lô-môn chọn bảy mươi ngàn người trong vòng họ để khuân vác, tám mươi ngàn người để đục đá trong núi, và ba ngàn sáu trăm người làm đốc công.
2CH 3:1 Rồi Sô-lô-môn bắt đầu xây đền thờ cho CHÚA ở Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-a. Đó là nơi CHÚA hiện ra cùng Đa-vít, cha vua. Sô-lô-môn xây đền thờ ngay trên nơi Đa-vít đã chuẩn bị trên sàn đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.
2CH 3:2 Sô-lô-môn khởi công vào tháng hai năm thứ tư triều đại mình.
2CH 3:3 Sô-lô-môn dùng các kích thước sau đây để xây Đền thờ của Thượng Đế. Dài ba mươi thước, rộng mười thước, đó là thước đo cũ.
2CH 3:4 Vòm cửa trước của phòng chính trong đền thờ dài mười thước, cao mười thước. Ông bọc vàng ròng bên trong vòm cửa.
2CH 3:5 Ông đặt các bảng gỗ thông trên vách của phòng chính và bọc vàng ròng các bảng gỗ đó. Rồi ông đặt các kiểu vẽ cây chà là và các xích vàng lên đó.
2CH 3:6 Ông trang hoàng đền thờ bằng ngọc và vàng lấy từ Ba-va-im.
2CH 3:7 Ông khảm vàng trên các đà, và trần đền thờ, các cột cửa, vách, cửa và đồng thời khắc các con thú có cánh trên vách.
2CH 3:8 Rồi ông xây Nơi Chí Thánh. Nơi đó dài mười thước, rộng mười thước, tức bằng chiều rộng của đền thờ. Ông dùng khoảng 21 tấn vàng để bọc các vách nơi đó.
2CH 3:9 Các đinh vàng cân nặng hơn một cân. Ông cũng bọc vàng các phòng thượng.
2CH 3:10 Ông làm hai con thú có cánh bọc vàng cho Nơi Chí Thánh.
2CH 3:11 Các con thú có cánh ngang ba thước. Một cánh của con thú ngang hai thước và chạm một vách đền thờ. Cánh kia của con thú cũng dài hai thước và chạm cánh với con thú thứ nhì.
2CH 3:12 Một cánh của con thú thứ nhì chạm vách kia của phòng và cũng dài hai thước. Cánh kia của con thú thứ nhì chạm cánh với cánh của con thú thứ nhất, và cũng dài hai thước.
2CH 3:13 Cộng chung lại hai cánh của các con thú ngang chín thước. Các con thú đứng trên chân mình đối diện Nơi Thánh.
2CH 3:14 Ông làm màn bằng chỉ xanh, tím, và đỏ, vải đắt tiền và vẽ kiểu các con thú có cánh trên đó.
2CH 3:15 Ông làm hai cây trụ đứng phía trước đền thờ cao khoảng mười tám thước và mỗi đầu trụ cao hơn hai thước.
2CH 3:16 Ông cũng làm một mạng lưới và đặt nó trên đầu trụ. Ông làm 100 trái lựu và treo chúng trên các dây xích.
2CH 3:17 Rồi ông dựng hai cây trụ trước đền thờ. Một trụ nằm về phía Nam, trụ kia về phía Bắc. Ông đặt tên trụ phía Nam là Gia-kin và trụ phía Bắc tên là Bô-ô.
2CH 4:1 Ông xây một bàn thờ bằng đồng dài mười thước, rộng mười thước, và cao năm thước.
2CH 4:2 Rồi ông đúc một cái chậu bằng đồng lớn hình tròn gọi là Cái Biển. Chu vi chậu đó là mười lăm thước đường kính, cao ba thước và sâu hai thước.
2CH 4:3 Quanh viền của chậu có chạm hình các con bò đực, mỗi năm tấc có 10 con bò. Các con bò làm thành hai dãy và gắn liền thành một khối với cái chậu.
2CH 4:4 Cái chậu đặt trên lưng 12 con bò bằng đồng hướng mặt ra ngoài từ trung tâm chậu. Ba con hướng về phía Bắc, ba con hướng phía Tây, ba con hướng phía Nam, và ba con hướng phía Đông.
2CH 4:5 Vách của chậu dầy một gang tay và chứa khoảng 66.000 lít. Viền của chậu giống như viền của chén hay giống như nụ hoa sen.
2CH 4:6 Ông làm 10 chậu nhỏ hơn và đặt năm chậu về phía Nam, năm chậu về phía Bắc. Các chậu đó để rửa các con thú dùng trong của lễ thiêu, nhưng chậu lớn dùng cho các thầy tế lễ tắm rửa.
2CH 4:7 Vua làm 10 chân đèn bằng vàng theo đồ án. Ông đặt các chân đèn đó trong đền thờ, năm cái về phía Nam, và năm cái về phía Bắc.
2CH 4:8 Ông cũng đóng 10 cái bàn đặt trong đền thờ, năm cái về phía Nam, và năm cái về phía Bắc. Vua dùng vàng để làm một trăm cái chậu khác.
2CH 4:9 Vua cũng làm sân cho thầy tế lễ và sân lớn. Ông làm các cửa mở ra sân và bọc đồng các cửa đó.
2CH 4:10 Rồi vua đặt cái chậu lớn nơi góc Đông Nam của đền thờ.
2CH 4:11 Hu-ram cũng làm các chén bát, xẻng xúc, và các chén nhỏ. Ông hoàn tất công tác cho vua Sô-lô-môn về đền thờ của Thượng Đế như sau:
2CH 4:12 hai cây trụ; hai chậu lớn để trên đầu trụ; hai mạng lưới để che hai chậu lớn trên phần đầu của trụ;
2CH 4:13 bốn trăm trái lựu để treo vào hai mạng lưới. Có hai hàng trái lựu gắn vào mỗi mạng lưới để che các chậu đặt trên đầu trụ;
2CH 4:14 các đế và chậu trên mỗi đế;
2CH 4:15 cái chậu lớn có 12 con bò đực đỡ bên dưới;
2CH 4:16 các nồi, xẻng xúc, nĩa, và tất cả những vật dùng cho các món ấy. Tất cả các món đồ Hu-ram A-bi làm cho vua Sô-lô-môn dùng trong đền thờ CHÚA đều làm bằng đồng đánh bóng.
2CH 4:17 Vua cho đúc các món đồ đó vào khuôn đất sét tại bình nguyên sông Giô-đanh nằm giữa Su-cốt và Xa-rê-than.
2CH 4:18 Sô-lô-môn cho làm nhiều dụng cụ đến nỗi không ai biết được tổng số lượng đồng là bao nhiêu nữa.
2CH 4:19 Sô-lô-môn cũng làm những món sau đây cho đền thờ Thượng Đế: bàn thờ vàng, các bàn để bánh chứng tỏ dân chúng đứng trước mặt Thượng Đế;
2CH 4:20 các chân đèn, và đèn làm bằng vàng ròng để thắp sáng trước Nơi Chí Thánh theo như đã định;
2CH 4:21 các hoa, đèn và que gắp bằng vàng ròng;
2CH 4:22 các đồ hớt tim đèn bằng vàng ròng, các chén nhỏ, chảo, và mâm dùng đựng than, các cửa bằng vàng cho đền thờ, và các cửa bên trong của Nơi Chí Thánh và phòng chính.
2CH 5:1 Sau cùng các công trình vua Sô-lô-môn thực hiện cho đền thờ CHÚA hoàn tất. Ông mang tất cả những gì mà Đa-vít, cha mình đã biệt riêng cho đền thờ, tất cả những đồ bằng bạc và vàng cùng các thứ khác. Vua để mọi thứ vào trong kho ngân khố của đền thờ Thượng Đế.
2CH 5:2 Sô-lô-môn triệu tập các bô lão của Ít-ra-en, các trưởng chi tộc, các trưởng gia đình đến cùng mình tại Giê-ru-sa-lem. Ông muốn rước Rương Giao Ước với CHÚA từ khu cũ của thành phố.
2CH 5:3 Vậy toàn dân Ít-ra-en nhóm lại cùng vua trong dịp liên hoan vào tháng bảy.
2CH 5:4 Khi các bô lão của Ít-ra-en đến thì các người Lê-vi khiêng Rương lên.
2CH 5:5 Họ khiêng Rương Giao Ước, Lều Họp, và các đồ dùng thánh trong lều; các thầy tế lễ và người Lê-vi khiêng tất cả các món đó lên.
2CH 5:6 Vua Sô-lô-môn cùng toàn dân Ít-ra-en họp lại trước Rương Giao Ước và dâng chiên và bò nhiều đến nỗi không thể đếm được.
2CH 5:7 Rồi các thầy tế lễ đặt Rương Giao Ước của CHÚA vào bên trong Nơi Chí Thánh bên trong đền thờ, dưới các cánh của hai con thú bằng vàng.
2CH 5:8 Cánh của hai con thú đó giương ra phủ trên Rương và các đòn khiêng.
2CH 5:9 Các đòn khiêng dài đến nỗi ai đứng trong Nơi Thánh trước mặt Nơi Chí Thánh cũng có thể thấy được cán đuôi của các đòn đó. Nhưng ở ngoài Nơi Thánh thì không thấy được. Các đòn nầy hiện vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.
2CH 5:10 Bên trong Rương chỉ có hai bảng đá mà Mô-se đã đặt vào Rương trên núi Hô-rếp. Đó là nơi CHÚA lập giao ước với dân Ít-ra-en sau khi họ ra khỏi Ai-cập.
2CH 5:11 Sau đó các thầy tế lễ ra khỏi Nơi Thánh. Tất cả các thầy tế lễ thuộc mỗi nhóm đều đã dọn mình sẵn sàng phục vụ CHÚA.
2CH 5:12 Tất cả các nhạc sĩ người Lê-vi: A-sáp, Hê-man, Giê-đu-thun, và con trai cùng thân quyến đều đứng về phía Đông của bàn thờ. Họ mặc vải gai trắng và chơi chập chỏa, đờn cầm, và đờn sắt. Cùng với họ có một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn.
2CH 5:13 Những người thổi kèn và những người hát đều nghe rập y giọng một người khi họ ca ngợi và cảm tạ CHÚA. Họ đồng ca trong khi những người khác thổi kèn, đánh chập chỏa, và các nhạc khí khác. Họ ca ngợi CHÚA bằng bài sau đây: “Ngài rất nhân từ; tình yêu Ngài còn đến đời đời.” Rồi đền thờ CHÚA đầy mây phủ.
2CH 5:14 Các thầy tế lễ không thể thi hành nhiệm vụ được vì đám mây quá dầy, và vì vinh hiển CHÚA đầy dẫy đền thờ Thượng Đế.
2CH 6:1 Sau đó Sô-lô-môn nói, “CHÚA phán Ngài sẽ ở trong đám mây đen kịt.
2CH 6:2 Lạy Chúa, tôi đã xây một đền thờ nguy nga cho Ngài, một nơi để Ngài ngự đời đời.”
2CH 6:3 Trong khi toàn dân Ít-ra-en đang đứng đó thì vua Sô-lô-môn quay về phía họ, chúc phước cho họ.
2CH 6:4 Ông nói, “Đáng ca ngợi CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en. Ngài đã thực hiện điều Ngài hứa cùng cha tôi là Đa-vít. CHÚA phán,
2CH 6:5 ‘Từ khi ta mang dân ta ra khỏi Ai-cập, ta chưa hề chọn một thành nào trong các chi tộc Ít-ra-en để xây đền thờ cho ta. Ta cũng không chọn ai hướng dẫn dân Ít-ra-en ta cả.
2CH 6:6 Nhưng nay ta đã chọn Ít-ra-en làm nơi thờ phụng ta, và chọn Đa-vít để hướng dẫn dân ta.’
2CH 6:7 Cha ta là Đa-vít muốn xây một đền thờ cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 6:8 Nhưng CHÚA phán cùng Đa-vít cha ta rằng, ‘Ý ngươi muốn xây đền thờ cho ta rất tốt.
2CH 6:9 Nhưng ngươi sẽ không phải là người xây đền đó. Con trai ngươi, tức con sinh ra từ lòng ngươi, là kẻ sẽ xây đền thờ cho ta.’
2CH 6:10 Nay CHÚA đã giữ lời hứa của Ngài. Ta hiện làm vua thay Đa-vít, cha ta. Ta đang trị vì trên Ít-ra-en theo như CHÚA hứa, và ta đã xây một đền thờ cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 6:11 Nơi đó ta đặt Rương, trong đó có Giao Ước CHÚA lập với dân Ít-ra-en.”
2CH 6:12 Rồi Sô-lô-môn đứng đối diện bàn thờ CHÚA, toàn dân Ít-ra-en đứng phía sau ông. Ông giơ tay ra.
2CH 6:13 Ông đã làm một cái bục bằng đồng dài ba thước, rộng ba thước, cao một thước rưỡi, đặt giữa sân ngoài của đền thờ. Sô-lô-môn đứng trên bục. Rồi ông quì xuống trước mặt cả dân Ít-ra-en đang tụ họp tại đó, giơ tay lên hướng lên trời.
2CH 6:14 Ông thưa, “Lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, trên trời dưới đất không có thần nào giống như Ngài. Ngài giữ giao ước về tình yêu với tôi tớ nào của Ngài thực tâm theo Ngài.
2CH 6:15 Ngài đã giữ lời hứa đã lập cùng Đa-vít, cha tôi, kẻ tôi tớ Ngài. Chính miệng Ngài đã phán và hôm nay tay Ngài đã thực hiện điều ấy.
2CH 6:16 Bây giờ, lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, xin hãy giữ lời hứa Ngài cùng Đa-vít, cha tôi, kẻ tôi tớ Ngài. Ngài phán, ‘Nếu con cháu ngươi cẩn thận vâng giữ các lời giáo huấn của ta đã làm thì trong dòng họ ngươi sẽ luôn luôn có người trị vì trên Ít-ra-en.’
2CH 6:17 Bây giờ, lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, xin hãy giữ lời hứa ấy mà Ngài lập cùng tôi tớ Ngài.
2CH 6:18 Nhưng Thượng Đế ôi, có quả thật Ngài cư ngụ trên đất với loài người không? Bầu trời và nơi cao nhất trên thiên đàng còn không chứa nổi Ngài nữa huống chi là tòa nhà nầy mà tôi xây cho Ngài.
2CH 6:19 Nhưng xin hãy lắng nghe lời khẩn cầu của tôi vì tôi là kẻ tôi tớ CHÚA. Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, xin hãy lắng nghe lời khẩn xin nầy của kẻ tôi tớ Ngài.
2CH 6:20 Ngày và đêm xin hãy trông chừng đền thờ nầy là nơi Ngài phán Ngài sẽ được sùng bái. Xin hãy nghe lời cầu nguyện của tôi hướng về đền thờ nầy.
2CH 6:21 Xin hãy nghe lời khẩn cầu của tôi và của dân Ít-ra-en Ngài khi chúng tôi hướng về nơi nầy mà cầu xin. Từ nơi ở Ngài trên trời xin hãy lắng nghe, và khi nghe xin Ngài tha tội cho chúng tôi.
2CH 6:22 Nếu có ai làm thiệt hại người khác, nó sẽ được mang đến đền thờ nầy. Nếu nó thề rằng nó không gây ra chuyện đó,
2CH 6:23 thì xin Ngài từ trời hãy nghe. Hãy phân xử trường hợp đó, phạt kẻ có tội, nhưng giải oan cho người vô tội.
2CH 6:24 Khi dân Ít-ra-en của Ngài phạm tội cùng Ngài và bị kẻ thù đánh bại. Nếu họ trở lại cùng Ngài, ca ngợi và khẩn cầu Ngài trong đền thờ nầy,
2CH 6:25 thì xin Ngài từ trời hãy nghe. Xin tha tội cho dân Ít-ra-en của Ngài và mang họ về xứ mà Ngài đã ban cho họ và tổ tiên họ.
2CH 6:26 Khi họ phạm tội cùng Ngài, và Ngài ngăn không cho mưa xuống đất. Họ sẽ khẩn cầu, hướng về nơi nầy và ca ngợi Ngài; và khi Ngài trừng phạt họ thì họ sẽ không phạm tội nữa.
2CH 6:27 Nếu vậy thì xin Ngài từ trời hãy nghe, tha thứ tội lỗi cho tôi tớ Ngài là dân Ít-ra-en. Xin hãy dạy họ làm điều phải và xin ban mưa xuống đất nầy là đất Ngài đã cho riêng họ.
2CH 6:28 Nếu khi đất gặp hạn hán không trồng trọt được, hay nếu có bệnh dịch hành hại dân chúng, nếu mùa màng bị cào cào hay châu chấu tiêu hủy, hoặc nếu dân sự Ngài bị kẻ thù tấn công trong các thành, hay nếu họ bị bệnh,
2CH 6:29 nếu có những chuyện đó thì dân chúng sẽ thực lòng ăn năn. Nếu dân Ngài giơ tay ra hướng về đền thờ nầy mà khẩn cầu,
2CH 6:30 thì xin CHÚA từ nơi ở Ngài trên trời lắng nghe. Xin tha tội và xử mỗi người thật phải lẽ vì Ngài biết rõ lòng dạ con người. Chỉ một mình Ngài thấu rõ tâm tư con người.
2CH 6:31 Bao lâu họ còn sống trên đất nầy mà Ngài đã ban cho tổ tiên chúng tôi thì dân chúng sẽ tôn kính Ngài bấy lâu.
2CH 6:32 Những người không phải Ít-ra-en, tức những kiều dân từ các xứ khác, sẽ nghe về sự uy nghi và quyền năng Ngài. Họ sẽ đến từ những nơi rất xa để cầu nguyện trong đền thờ nầy.
2CH 6:33 Xin Ngài từ trời hãy ban cho họ điều họ nài xin. Lúc đó dân chúng khắp nơi sẽ biết và tôn kính Ngài như dân Ít-ra-en Ngài đã làm vậy. Rồi mọi người sẽ biết rằng tôi đã xây đền thờ nầy dùng làm nơi thờ phụng Ngài.
2CH 6:34 Khi dân Ngài đi ra chiến đấu cùng kẻ thù dọc theo đường Ngài đưa họ đi, họ sẽ khẩn nguyện cùng Ngài, hướng về thành nầy là nơi Ngài đã chọn và nơi có đền thờ mà tôi đã xây cho Ngài.
2CH 6:35 Xin Ngài hãy từ trời nghe lời khẩn cầu của họ và đối xử công bằng cho họ.
2CH 6:36 Ai cũng phạm tội, cho nên dân Ngài cũng có thể phạm tội cùng Ngài. Ngài sẽ nổi giận cùng họ, trao họ vào tay quân thù. Kẻ thù sẽ bắt họ đày đi sang xứ xa hay gần.
2CH 6:37 Dân sự Ngài sẽ ăn năn tội khi họ bị làm tù binh nơi xứ khác. Họ sẽ hối hận và khẩn cầu cùng Ngài trong xứ họ bị làm tù binh. Họ sẽ thưa rằng, ‘Chúng tôi đã phạm tội. Chúng tôi quả làm quấy và hành động gian ác.’
2CH 6:38 Họ sẽ thực tâm quay về cùng Ngài trong xứ họ bị làm tù binh. Họ sẽ khẩn cầu, hướng về xứ nầy là xứ Ngài ban cho tổ tiên họ, thành nầy mà Ngài đã chọn, và đền thờ nầy mà tôi đã xây cho Ngài.
2CH 6:39 Xin hãy nghe lời cầu khẩn của họ từ nơi ở của Ngài trên trời và hãy làm điều gì Ngài cho là phải. Xin tha tội cho dân Ngài là dân đã phạm tội cùng Ngài.
2CH 6:40 Bây giờ, lạy Thượng Đế, xin hãy nhìn đến chúng tôi. Xin hãy lắng nghe lời cầu nguyện của chúng tôi tại nơi nầy.
2CH 6:41 Lạy CHÚA là Thượng Đế xin hãy đứng dậy đến nơi nghỉ ngơi của Ngài. Xin hãy đến cùng Rương Giao Ước để tỏ ra quyền năng Ngài. Lạy CHÚA là Thượng Đế, nguyện các thầy tế lễ Ngài nhận sự cứu rỗi của Ngài, và nguyện dân thánh của Ngài vui mừng vì lòng nhân từ Ngài.
2CH 6:42 Lạy CHÚA là Thượng Đế, xin đừng từ bỏ kẻ được Ngài chỉ định. Xin nhớ lại tình yêu Ngài đối cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ngài.”
2CH 7:1 Khi Sô-lô-môn cầu nguyện xong thì lửa từ trời loè xuống thiêu đốt các của lễ thiêu và các sinh tế. Sự vinh hiển của Thượng Đế đầy dẫy đền thờ.
2CH 7:2 Các thầy tế lễ không thể vào đền thờ CHÚA được vì vinh hiển CHÚA đầy dẫy trong đó.
2CH 7:3 Khi toàn dân Ít-ra-en thấy lửa loè ra từ trời cùng vinh hiển CHÚA ngự trên đền thờ thì họ liền sấp mặt xuống đất bái lạy Thượng Đế và thưa rằng, “Ngài thật nhân từ; tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
2CH 7:4 Rồi vua Sô-lô-môn cùng toàn dân dâng sinh tế cho CHÚA.
2CH 7:5 Vua Sô-lô-môn dâng 22.000 con bò và 120.000 con chiên. Vậy vua và toàn dân cung hiến đền thờ cho Thượng Đế.
2CH 7:6 Các thầy tế lễ sẵn sàng thi hành nhiệm vụ. Các người Lê-vi cũng đứng bên các nhạc cụ mà vua Đa-vít đã làm cùng với nhạc để ca ngợi CHÚA. Các thầy tế lễ và người Lê-vi đồng nói rằng, “Hãy ca tụng CHÚA vì tình yêu Ngài còn đời đời.” Các thầy tế lễ đứng đối diện người Lê-vi, thổi kèn, còn toàn dân Ít-ra-en thì đứng.
2CH 7:7 Sô-lô-môn biệt riêng ra thánh phần giữa của sân trước đền thờ CHÚA. Tại đó ông dâng của lễ thiêu và mỡ của lễ thân hữu. Ông dâng các của lễ đó trong sân trước vì bàn thờ bằng đồng mà ông đã làm không đủ chỗ chứa các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ.
2CH 7:8 Sô-lô-môn cùng toàn dân kỷ niệm lễ trong bảy ngày. Có rất đông người đến từ nơi rất xa như Lê-bô Ha-mát và suối Ai-cập.
2CH 7:9 Trong bảy ngày họ kỷ niệm lễ cung hiến bàn thờ để thờ phụng Thượng Đế. Rồi họ kỷ niệm lễ trong bảy ngày. Đến ngày thứ tám họ có buổi họp chung.
2CH 7:10 Vào ngày thứ hai mươi ba tháng bảy thì Sô-lô-môn cho dân chúng về, mọi người đều hớn hở. Họ vui mừng vì CHÚA đã tỏ lòng nhân từ cùng Đa-vít, Sô-lô-môn, và dân Ít-ra-en của Ngài.
2CH 7:11 Sô-lô-môn hoàn tất đền thờ của CHÚA và cung điện của ông. Ông thành công trong mọi việc đã hoạch định cho đền thờ CHÚA và cung điện mình.
2CH 7:12 Sau đó CHÚA hiện ra cùng Sô-lô-môn trong ban đêm và bảo ông rằng, “Ta đã nghe lời cầu nguyện ngươi và ta đã chọn nơi nầy riêng cho ta để làm đền thờ dâng sinh tế.
2CH 7:13 Ta có thể ngăn trời mưa xuống hay sai cào cào tàn phá xứ. Ta cũng có thể sai bệnh tật đến trên dân ta.
2CH 7:14 Nhưng nếu dân ta là dân được gọi bằng danh ta ăn năn việc làm của họ, nếu họ khẩn nguyện và vâng lời ta, ngưng các hành vi gian ác của họ thì ta sẽ từ trời nghe họ. Ta sẽ tha tội cho họ và chữa lành cho xứ.
2CH 7:15 Mắt ta sẽ nhìn, tai ta sẽ mở để nghe lời cầu nguyện nơi nầy.
2CH 7:16 Ta đã chọn đền thờ nầy và thánh hoá nó. Đó là nơi ta sẽ được sùng bái đời đời. Thật vậy, ta sẽ luôn luôn trông chừng nó và yêu thích nó.
2CH 7:17 Nhưng ngươi phải phục vụ ta như Đa-vít, cha ngươi. Ngươi phải vâng theo mọi mệnh lệnh ta, giữ luật lệ và qui tắc của ta.
2CH 7:18 Nếu ngươi làm như thế, ta sẽ củng cố nước ngươi. Đây là giao ước ta đã lập với Đa-vít, cha ngươi, ‘Trong gia đình ngươi sẽ luôn luôn có người trị vì trên Ít-ra-en.’
2CH 7:19 Nhưng ngươi phải theo ta, vâng giữ các luật lệ và mệnh lệnh ta truyền cho ngươi. Ngươi không được phục vụ và thờ phụng các thần khác.
2CH 7:20 Nếu không ta sẽ kéo Ít-ra-en ra khỏi xứ ta, xứ mà ta ban cho họ, ta sẽ rời bỏ đền thờ nầy là thành ta đã biệt ra thánh. Các dân sẽ chế diễu và bêu xấu nó.
2CH 7:21 Đền thờ nầy hiện được tôn kính nhưng lúc đó người qua kẻ lại sẽ sửng sốt. Họ sẽ hỏi, ‘Tại sao CHÚA làm chuyện kinh khủng cho đất và đền thờ nầy?’
2CH 7:22 Người ta sẽ trả lời, ‘Đó tại vì họ lìa bỏ CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình, Đấng đã mang họ ra khỏi Ai-cập. Họ đi theo các thần khác và phục vụ các thần đó, bởi vậy cho nên Ngài giáng thảm hoạ nầy trên họ.’”
2CH 8:1 Đến cuối năm thứ hai mươi, Sô-lô-môn đã xây xong đền thờ cho CHÚA và cung điện mình.
2CH 8:2 Sô-lô-môn cho xây sửa lại các thị trấn mà vua Hi-ram đã cho mình rồi đưa dân Ít-ra-en đến định cư trong các thị trấn ấy.
2CH 8:3 Rồi ông kéo đến chiếm Ha-mát Xô-ba.
2CH 8:4 Sô-lô-môn cũng xây thị trấn Thát-mo trong sa mạc và xây tất cả các thị trấn trong Ha-mát cùng làm nơi chứa ngũ cốc và vật liệu.
2CH 8:5 Ông xây sửa lại các thị trấn Bết-Hô-rôn trên, và Bết-Hô-rôn dưới, xây tường, cổng, và các thanh cài cổng để phòng vệ các nơi đó.
2CH 8:6 Ông cũng cho xây lại thị trấn Ba-a-lát. Ông cũng xây các thị trấn khác để làm kho chứa, và các thành khác chứa quân xa và ngựa. Những gì ông muốn thì ông xây ở Giê-ru-sa-lem, Li-băng, và bất cứ nơi nào ông trị vì.
2CH 8:7 Có những dân khác trong xứ không phải dân Ít-ra-en: như dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-ri-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
2CH 8:8 Họ là dòng dõi của những dân tộc mà người Ít-ra-en chưa tiêu diệt. Sô-lô-môn buộc họ làm tôi mọi, và ngày nay cũng vẫn như thế.
2CH 8:9 Nhưng Sô-lô-môn không bắt dân Ít-ra-en làm tôi mọi. Ông cho họ làm lính, các sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chỉ huy quân xa, và những người tài xế quân xa.
2CH 8:10 Đó là những sĩ quan cao cấp nhất của ông. Có hai trăm năm mươi người thuộc cấp đó để điều động dân chúng.
2CH 8:11 Sô-lô-môn rước con gái của vua Ai-cập từ khu cũ của thành Giê-ru-sa-lem vào cung điện vua xây cho nàng. Sô-lô-môn nói, “Vợ ta không nên ở trong cung vua Đa-vít vì nơi nào Rương Giao Ước của CHÚA đã được đặt để đều là thánh.”
2CH 8:12 Rồi Sô-lô-môn dâng của lễ thiêu cho CHÚA trên bàn thờ ông đã xây trước mặt vòm cửa đền thờ.
2CH 8:13 Ông dâng sinh tế mỗi ngày theo như Mô-se truyền dặn. Các của lễ được dâng vào ngày Sa bát, ngày Trăng Mới, và ba ngày lễ hằng năm tức Lễ Bánh Không Men, Lễ Các Tuần, và Lễ Lều Tạm.
2CH 8:14 Sô-lô-môn theo đúng những lời dặn dò của Đa-vít và chọn các nhóm thầy tế lễ để phục vụ và các người Lê-vi để hướng dẫn ca hát đồng thời giúp các thầy tế lễ trong công việc hằng ngày. Ông chọn các người giữ cửa theo nhóm để canh gác ở mỗi cổng theo như Đa-vít, người của Thượng Đế đã truyền dặn.
2CH 8:15 Họ vâng theo các mệnh lệnh của Sô-lô-môn truyền cho các thầy tế lễ và người Lê-vi cùng những mệnh lệnh liên quan đến kho ngân khố.
2CH 8:16 Tất cả các công tác của Sô-lô-môn đều hoàn tất y như lời ông đã nói từ ngày khởi công đặt nền cho đền thờ cho đến khi hoàn thành. Vậy đền thờ được xây cất xong.
2CH 8:17 Rồi Sô-lô-môn đi đến các thị trấn Ê-xi-ôn Ghê-be và Ê-lát gần Hồng hải trong xứ Ê-đôm.
2CH 8:18 Hi-ram phái các thuyền bè do người của mình là những thủy thủ chuyên nghiệp điều khiển đến Sô-lô-môn. Những người của Hi-ram đi cùng với người của Sô-lô-môn đến Ô-phia mang về khoảng mười sáu tấn vàng cho vua Sô-lô-môn.
2CH 9:1 Khi nữ hoàng nước Sê-ba nghe danh tiếng vua Sô-lô-môn thì bà đi đến Giê-ru-sa-lem để thử vua bằng nhiều câu đố. Bà có một đoàn tùy tùng rất đông mang theo lạc đà chở thuốc thơm, ngọc quí và rất nhiều vàng. Khi đến gặp Sô-lô-môn thì bà nói cho vua biết những điều bà nghĩ trong trí.
2CH 9:2 Vua Sô-lô-môn trả lời mọi câu hỏi của bà. Không có câu nào quá khó mà vua không trả lời được.
2CH 9:3 Nữ hoàng Sê-ba thấy vua Sô-lô-môn vô cùng khôn ngoan. Bà thấy cung điện mà vua đã xây,
2CH 9:4 thức ăn trên bàn, các viên chức, tôi tớ trong cung điện và quần áo tốt đẹp họ mặc, các đầy tớ hầu rượu cho vua cùng y phục đẹp đẽ mà họ mặc. Bà cũng thấy của lễ toàn thiêu dâng trong đền thờ CHÚA. Tất cả đều khiến bà vô cùng sửng sốt.
2CH 9:5 Bà bảo vua Sô-lô-môn, “Những điều trước đây tôi nghe trong xứ tôi về những kỳ công và sự thông thái của vua đều đúng.
2CH 9:6 Lúc ấy tôi chưa tin nhưng nay tôi đã đến và thấy tận mắt mọi điều thì hóa ra người ta chưa thuật tới phân nửa sự khôn ngoan của vua! Vua thật còn oai nghi hơn điều tôi nghe.
2CH 9:7 Các người hầu việc và các viên chức vua thật may mắn vì họ được nghe lời thông thái của vua.
2CH 9:8 Đáng chúc tụng CHÚA là Thượng Đế vua đã vui thích lập vua làm vua. Ngài đặt vua trên ngôi Ngài để trị vì thay cho CHÚA là Thượng Đế vua vì Ngài yêu mến dân Ít-ra-en và giúp đỡ họ đời đời. Ngài đã lập vua làm vua trên họ để duy trì công lý và cai trị công minh.”
2CH 9:9 Rồi bà biếu vua hơn bốn tấn vàng và vô số hương liệu cùng ngọc quí. Chưa hề có ai biếu hương liệu thuộc loại mà nữ hoàng Sê-ba biếu vua Sô-lô-môn.
2CH 9:10 Những người của Hi-ram và của Sô-lô-môn mang vàng từ Ô-phia, gỗ bá hương và ngọc quí.
2CH 9:11 Vua Sô-lô-môn dùng gỗ bá hương xây các bậc thang cho đền thờ CHÚA cùng cung điện mình. Ông cũng dùng gỗ đó đóng các đờn sắt và đờn cầm cho các nhạc sĩ. Từ xưa đến nay trong Giu-đa chưa ai thấy những đồ tuyệt đẹp như vậy.
2CH 9:12 Vua Sô-lô-môn biếu nữ hoàng Sê-ba những gì bà muốn và xin, nhiều hơn số quà bà biếu vua nữa. Rồi bà và các đầy tớ trở về xứ.
2CH 9:13 Mỗi năm vua Sô-lô-môn nhận khoảng hai mươi ba tấn vàng.
2CH 9:14 Ngoài ra, vua cũng nhận vàng từ các lái buôn và thương gia. Tất cả các vua Á-rập và các tổng trấn của xứ cũng mang vàng bạc đến.
2CH 9:15 Vua Sô-lô-môn làm 200 cái thuẫn lớn bằng vàng giát, mỗi cái chứa khoảng 15 cân vàng giát.
2CH 9:16 Vua cũng làm 300 cái thuẫn nhỏ hơn bằng vàng giát, mỗi cái chứa khoảng bảy cân rưỡi vàng. Vua đặt các khiên ấy nơi Cung trong Rừng Li-băng.
2CH 9:17 Vua làm một cái ngai lớn bằng ngà và bọc vàng.
2CH 9:18 Ngai có sáu nấc thang đi lên và một bệ chân vàng. Hai bên ngai có chỗ dựa tay, và mỗi cái tựa tay có một con sư tử bên cạnh.
2CH 9:19 Mười hai con sư tử đứng trên mười sáu bậc thang, đầu mỗi bậc thang có một con sư tử. Chưa hề có ngai nào làm giống như vậy cho bất cứ vương quốc nào.
2CH 9:20 Tất cả chén bát vua Sô-lô-môn dùng cũng như các dĩa dùng ở Cung trong Rừng Li-băng đều làm bằng vàng. Trong thời Sô-lô-môn người ta xem thường bạc.
2CH 9:21 Vua Sô-lô-môn có nhiều tàu bè được phái đi kinh doanh cùng với thủy thủ của vua Hi-ram. Mỗi ba năm các tàu đó trở về mang theo vàng, bạc, ngà voi, khỉ và con công.
2CH 9:22 Vua Sô-lô-môn giàu có và khôn ngoan hơn tất cả các vua khác trên đất.
2CH 9:23 Tất cả các vua trên đất đều mong gặp Sô-lô-môn và nghe những lời khôn ngoan mà Thượng Đế ban cho ông.
2CH 9:24 Năm nầy sang năm khác ai đến đều mang các quà bằng bạc và vàng, quần áo, vũ khí, hương liệu, ngựa và la.
2CH 9:25 Sô-lô-môn có bốn ngàn chuồng giữ ngựa và quân xa, ông có mười hai ngàn ngựa. Ông giữ một số trong các thành phố dành riêng cho quân xa còn số ngựa khác ông giữ với mình ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 9:26 Sô-lô-môn trị vì trên tất cả các nước từ sông Ơ-phơ-rát cho đến xứ Phi-li-tin, chạy dài đến tận biên giới Ai-cập.
2CH 9:27 Ở Giê-ru-sa-lem vua khiến bạc trở thành tầm thường như sỏi đá, và cây hương nam nhiều như cây vả mọc nơi đồng bằng vậy.
2CH 9:28 Sô-lô-môn nhập cảng ngựa từ Ai-cập và tất cả các quốc gia khác.
2CH 9:29 Mọi việc khác Sô-lô-môn làm, từ đầu đến cuối đều được ghi chép trong sử ký của Na-than, nhà tiên tri, và trong sách tiên tri của A-hi-gia người Si-lôn, và trong sách viễn tượng của Y-đô, người tiên kiến. Y-đô cũng ghi chép về Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát.
2CH 9:30 Sô-lô-môn trị vì Ít-ra-en ở Giê-ru-sa-lem bốn mươi năm.
2CH 9:31 Rồi Sô-lô-môn qua đời và được chôn ở Giê-ru-sa-lem, thành của Đa-vít, cha mình. Rô-bô-am, con trai ông lên nối ngôi.
2CH 10:1 Rô-bô-am đi xuống Sê-chem nơi toàn dân Ít-ra-en đến để cử ông làm vua.
2CH 10:2 Lúc đó Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát đang ở Ai-cập, nơi ông cư ngụ để trốn tránh vua Sô-lô-môn. Khi nghe Rô-bô-am được cử làm vua thì Giê-rô-bô-am từ Ai-cập trở về.
2CH 10:3 Sau khi dân chúng mời ông về thì ông và dân chúng đến gặp Rô-bô-am thưa rằng,
2CH 10:4 “Cha vua bắt chúng tôi làm việc nhọc nhằn lắm. Bây giờ xin vua hãy nhẹ tay cho chúng tôi, đừng bắt chúng tôi làm việc cực nhọc như cha vua thì chúng tôi sẽ phục vụ vua.”
2CH 10:5 Rô-bô-am đáp, “Ba ngày nữa các ngươi hãy trở lại đây.” Cho nên dân chúng ra về.
2CH 10:6 Vua Rô-bô-am hỏi ý các bô lão đã cố vấn cho Sô-lô-môn trong khi vua còn sống rằng, “Tôi phải trả lời cho dân nầy ra sao?”
2CH 10:7 Các bô lão đáp, “Hãy tỏ ra nhân từ cùng dân nầy. Nếu vua làm họ vui thích và lấy lời ôn hòa nói cùng họ thì họ sẽ phục vụ vua mãn đời.”
2CH 10:8 Nhưng Rô-bô-am gạt bỏ ý kiến ấy. Ông đi hỏi ý kiến những bọn trai trẻ cùng lớn lên với mình và làm cố vấn cho mình.
2CH 10:9 Rô-bô-am hỏi họ, “Ý kiến mấy anh ra sao? Tôi phải trả lời thế nào cho điều thỉnh cầu của dân, ‘Đừng bắt chúng tôi làm việc cực nhọc như cha vua’?”
2CH 10:10 Các người trẻ cùng lớn lên với vua đáp, “Kẻ nào nói với vua, ‘Cha vua bắt chúng tôi làm việc cực nhọc. Bây giờ xin hãy nhẹ tay cho chúng tôi’ thì Vua hãy bảo họ, ‘Ngón tay út của ta còn lớn hơn thắt lưng của cha ta nữa.
2CH 10:11 Cha ta bắt các ngươi làm việc cực nhọc, ta sẽ bắt các ngươi làm cực nhọc hơn nữa. Cha ta quất các ngươi bằng roi, ta sẽ quất các ngươi bằng roi bò cạp.’”
2CH 10:12 Rô-bô-am đã bảo dân chúng, “Ba ngày nữa hãy trở lại đây.” Vậy sau ba ngày Giê-rô-bô-am và toàn dân trở lại cùng Rô-bô-am.
2CH 10:13 Vua Rô-bô-am dùng lời lẽ cộc cằn nói chuyện với họ vì vua gạt bỏ lời khuyên của các bô lão.
2CH 10:14 Ông nghe theo lời khuyên của bọn trẻ nói rằng, “Cha ta bắt các ngươi làm cực, ta sẽ bắt các ngươi làm cực hơn nữa. Cha ta quất các ngươi bằng roi, ta sẽ quất các ngươi bằng roi bọ cạp.”
2CH 10:15 Thế là vua không nghe dân chúng. Thượng Đế khiến việc nầy xảy ra để giữ lời hứa cùng Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, qua A-hi-gia, một tiên tri từ Si-lô.
2CH 10:16 Khi toàn dân Ít-ra-en thấy vua không nghe mình thì họ bảo vua, “Chúng tôi không có phần gì với Đa-vít! Chúng tôi không can dự gì đến con trai Gie-xê! Hỡi dân Ít-ra-en, hãy về nhà mình đi! Hãy để con trai Đa-vít cai trị gia đình nó đi.” Vì thế mọi người Ít-ra-en đều trở về nhà.
2CH 10:17 Nhưng Rô-bô-am vẫn cai trị trên dân Ít-ra-en sống trong các thị trấn miền Giu-đa.
2CH 10:18 A-đô-ni-ram là người quản đốc toán làm xâu. Khi vua sai ông đến cùng dân chúng thì họ ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am liền lên quân xa chạy thoát đến Giê-ru-sa-lem.
2CH 10:19 Từ đó về sau, Ít-ra-en vẫn phản nghịch cùng gia đình Đa-vít.
2CH 11:1 Khi Rô-bô-am đến Giê-ru-sa-lem ông liền tập họp một trăm tám mươi ngàn binh sĩ thiện chiến nhất của Giu-đa và Bên-gia-min. Ông định đánh Ít-ra-en để giành lại nước cho mình.
2CH 11:2 Nhưng CHÚA phán cùng Sê-mai-gia, người của Thượng Đế rằng,
2CH 11:3 “Hãy nói cùng Rô-bô-am, con trai Sô-lô-môn, vua Giu-đa, và cùng toàn dân Ít-ra-en đang sống trong Giu-đa và Bên-gia-min rằng,
2CH 11:4 ‘CHÚA phán, các ngươi không nên đánh giặc cùng anh em mình. Ai nấy hãy về nhà đi vì chính ta gây ra chuyện nầy.’” Vậy họ vâng theo lời CHÚA và quay về, không đánh Giê-rô-bô-am nữa.
2CH 11:5 Rô-bô-am đóng đô ở Giê-ru-sa-lem và xây các thành kiên cố trong Giu-đa để bảo vệ vùng ấy.
2CH 11:6 Ông củng cố các thành Bết-lê-hem, Ê-tam, Tê-cô-a,
2CH 11:7 Bết-sua, Xô-cô, A-đu-lam,
2CH 11:8 Gát, Ma-rê-sa, Xíp,
2CH 11:9 A-đô-ra-im, La-kích, A-xê-ka,
2CH 11:10 Xô-ra, Ai-gia-lôn, và Hếp-rôn. Đó là các thành có vách kiên cố ở Giu-đa và Bên-gia-min.
2CH 11:11 Sau khi vua đã củng cố các thành đó rồi thì ông đặt các viên chỉ huy và các kho tiếp liệu thực phẩm, dầu, và rượu trong các thành đó.
2CH 11:12 Ngoài ra Rô-bô-am cũng đặt các khiên và giáo trong tất cả các thành phố để bảo vệ chúng. Rô-bô-am kiểm soát dân cư Giu-đa và Bên-gia-min.
2CH 11:13 Các thầy tế lễ và người Lê-vi từ khắp Ít-ra-en đều theo Rô-bô-am.
2CH 11:14 Thậm chí những người Lê-vi cũng phải bỏ đồng ruộng và tài sản mình và đến Giu-đa cùng Giê-ru-sa-lem vì Giê-rô-bô-am và các con trai ông không cho họ hành chức tế lễ cho CHÚA.
2CH 11:15 Giê-rô-bô-am tự chọn các thầy tế lễ cho những nơi thờ phụng và cho các hình tượng dê và bò con mà ông đã làm.
2CH 11:16 Có những người từ khắp Ít-ra-en muốn vâng lời CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Vì thế họ cùng những người Lê-vi đến Giê-ru-sa-lem để dâng sinh tế cho CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 11:17 Họ củng cố đất nước cho Giu-đa và họ ủng hộ Rô-bô-am, con trai Sô-lô-môn trong ba năm. Trong thời gian đó họ sống y như Đa-vít và Sô-lô-môn đã sống.
2CH 11:18 Rô-bô-am lấy Ma-ha-lát, con gái Giê-ri-mốt và A-bi-hai. Giê-ri-mốt là con trai Đa-vít, và A-bi-hai là con gái Ê-li-áp, con trai Gie-xê.
2CH 11:19 Ma-ha-lát sinh cho Rô-bô-am các con trai sau đây: Giê-út, Sê-ma-ria, và Xa-ham.
2CH 11:20 Sau đó Rô-bô-am lấy Ma-a-ca, cháu gái của Áp-xa-lôm. Nàng sinh cho Rô-bô-am các con sau đây: A-bi-gia, Át-tai, Xi-xa, và Sê-lô-mít.
2CH 11:21 Rô-bô-am yêu Ma-a-ca hơn các người vợ và hầu thiếp khác. Rô-bô-am có mười tám người vợ và sáu mươi hầu thiếp. Ông sinh hai mươi tám con trai và sáu mươi con gái.
2CH 11:22 Rô-bô-am chọn A-bi-gia, con trai Ma-a-ca, làm lãnh đạo các anh em mình vì ông định cho A-bi-gia kế vị mình.
2CH 11:23 Rô-bô-am hành động rất khôn ngoan. Ông phân tán các con mình ra khắp các nơi trong Giu-đa và Bên-gia-min, đặt chúng ở các thành có vách kiên cố. Ông cung cấp cho chúng nó đầy đủ và kiếm vợ cho chúng nó.
2CH 12:1 Sau khi nước của Rô-bô-am được thiết lập và vững chãi thì ông và dân Giu-đa không vâng theo lời dạy của CHÚA nữa.
2CH 12:2 Vào năm thứ năm triều vua Rô-bô-am thì Si-sắc, vua Ai-cập kéo lên tấn công Giê-ru-sa-lem vì Rô-bô-am không trung thành cùng CHÚA.
2CH 12:3 Si-sắc có một ngàn hai trăm quân xa và sáu mươi ngàn lính cỡi ngựa. Ông cũng kéo các binh lính từ Ly-bi, Su-kít, và Cu-si lên từ Ai-cập với mình, đông đến nỗi không thể đếm được.
2CH 12:4 Si-sắc chiếm các thành có vách kiên cố của Giu-đa và kéo đến sát Giê-ru-sa-lem.
2CH 12:5 Sau đó Sê-mai-gia, nhà tiên tri, đến gặp Rô-bô-am và các lãnh tụ của Giu-đa đã tập họp tại Giê-ru-sa-lem vì họ sợ Si-sắc. Sê-mai-gia bảo họ, “CHÚA phán như sau: ‘Các ngươi đã lìa bỏ ta cho nên ta cũng bỏ mặc để các ngươi đối đầu với Si-sắc một mình.’”
2CH 12:6 Sau đó các lãnh tụ Giu-đa và Rô-bô-am hối hận về những điều mình đã làm và bảo, “CHÚA hành động rất phải.”
2CH 12:7 Khi CHÚA thấy họ hối hận về hành động mình thì Ngài phán cùng Sê-mai-gia, “Vua và các lãnh tụ đã hối hận cho nên ta sẽ không tiêu diệt họ mà sẽ sớm giải cứu. Ta sẽ không dùng Si-sắc để trừng phạt Giê-ru-sa-lem trong cơn giận ta nữa.
2CH 12:8 Nhưng dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ làm tôi mọi cho Si-sắc để họ biết rằng phục vụ ta khác hơn phục vụ vua các dân tộc khác.”
2CH 12:9 Si-sắc, vua Ai-cập, tấn công Giê-ru-sa-lem và lấy tất cả những vật quí giá trong đền thờ CHÚA và cung điện vua. Ông lấy mọi thứ, luôn cả các khiên vàng mà Sô-lô-môn đã làm.
2CH 12:10 Vì vậy Rô-bô-am cho làm các khiên bằng đồng thế vào và giao cho các viên chỉ huy của toán phòng vệ cửa cung điện vua canh giữ.
2CH 12:11 Hễ khi nào vua đi vào đền thờ CHÚA thì các lính phòng vệ đi theo vua mang khiên theo với mình. Sau đó họ mang khiên đi cất.
2CH 12:12 Khi thấy Rô-bô-am hối hận về hành vi của mình thì CHÚA nén giận và không hoàn toàn tiêu diệt ông. Trong Giu-đa vẫn còn điều tốt.
2CH 12:13 Vua Rô-bô-am củng cố địa vị mình ở Giê-ru-sa-lem. Khi lên ngôi vua ông được bốn mươi mốt tuổi và trị vì ở Giê-ru-sa-lem mười bảy năm. Giê-ru-sa-lem là thành mà CHÚA chọn từ trong các chi tộc Ít-ra-en để làm nơi thờ phụng Ngài. Mẹ của Rô-bô-am là Na-a-ma, gốc người Am-môn.
2CH 12:14 Rô-bô-am làm điều ác, không hết lòng tìm kiếm CHÚA.
2CH 12:15 Những điều Rô-bô-am làm trong khi trị vì từ đầu đến cuối đều được ghi vào sử ký của Sê-mai-gia, nhà tiên tri, và của Y-đô, người tiên kiến, nơi mục gia phổ. Trong đời hai vua trị vì, giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am đánh giặc với nhau luôn luôn.
2CH 12:16 Rô-bô-am qua đời và được chôn ở Giê-ru-sa-lem. A-bi-gia, con trai ông lên nối ngôi.
2CH 13:1 A-bi-gia lên ngôi vua Giu-đa vào năm thứ mười tám đời Giê-rô-bô-am, vua Ít-ra-en.
2CH 13:2 A-bi-gia trị vì ở Giê-ru-sa-lem ba năm. Mẹ ông là Ma-a-ca, con gái U-ri-ên, nguyên quán thành Ghi-bê-a. Chiến tranh xảy ra giữa A-bi-gia và Giê-rô-bô-am.
2CH 13:3 A-bi-gia hướng dẫn một đoàn quân thiện chiến gồm bốn trăm ngàn người ra trận. Giê-rô-bô-am chuẩn bị nghênh chiến với tám trăm ngàn quân thiện chiến.
2CH 13:4 A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong vùng núi Ép-ra-im kêu lên rằng, “Hỡi Giê-rô-bô-am và toàn dân Ít-ra-en hãy nghe đây!
2CH 13:5 Các ngươi biết rằng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en ban cho Đa-vít và các con trai người quyền trị vì trên Ít-ra-en đời đời qua giao ước bằng muối.
2CH 13:6 Nhưng Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, một trong các sĩ quan của Sô-lô-môn, con trai Đa-vít, phản nghịch chủ mình.
2CH 13:7 Rồi những kẻ vô loại, những bọn gian ác theo Giê-rô-bô-am để nghịch lại Rô-bô-am, con trai Sô-lô-môn. Lúc đó người hãy còn nhỏ chưa biết phải hành động ra sao nên không ngăn chặn Giê-rô-bô-am được.
2CH 13:8 Nay các ngươi âm mưu nghịch lại nước CHÚA, là nước thuộc về các con trai Đa-vít. Các ngươi rất đông, các ngươi thờ bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã tạc nên cho các ngươi.
2CH 13:9 Các ngươi đã gạt bỏ những người Lê-vi và các thầy tế lễ của CHÚA, tức các con cháu A-rôn. Các ngươi tự chọn lấy các thầy tế lễ cho mình như các dân tộc khác đã làm. Ai đến mang theo một con bò tơ đực và bảy con chiên đực thì được làm thầy tế lễ cho các tượng chạm mà không phải là thần.
2CH 13:10 Nhưng về chúng ta, CHÚA là Thượng Đế của chúng ta, vì chúng ta không lìa bỏ Ngài. Các thầy tế lễ phục vụ CHÚA đều là con cháu A-rôn, có các người Lê-vi giúp đỡ họ.
2CH 13:11 Họ dâng của lễ thiêu và đốt hương cho CHÚA mỗi sáng mỗi chiều. Họ đặt bánh trên bàn đặc biệt trong đền thờ. Họ cũng thắp đèn để trên chân đèn bằng vàng mỗi chiều. Chúng ta vâng theo mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế chúng ta nhưng các ngươi đã lìa bỏ Ngài.
2CH 13:12 Chính Thượng Đế ở với chúng ta và là quan trưởng của chúng ta. Các thầy tế lễ của Ngài thổi kèn triệu tập chúng ta ra trận chiến đấu chống các ngươi. Hỡi người Ít-ra-en, không nên chống nghịch lại CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các ngươi vì các ngươi không thắng nổi đâu.”
2CH 13:13 Nhưng Giê-rô-bô-am đã phái một số quân phục kích phía sau đạo quân Giu-đa. Nên trong khi Giê-rô-bô-am đang đối diện với đạo quân Giu-đa thì các binh sĩ của ông đã ở phía sau họ.
2CH 13:14 Khi các binh sĩ Giu-đa quay lại thì thấy đạo quân Giê-rô-bô-am tấn công mình cả phía trước lẫn phía sau nên họ kêu la cùng CHÚA, còn các thầy tế lễ thì thổi kèn.
2CH 13:15 Rồi quân Giu-đa hô xung trận. Khi họ la lên thì Thượng Đế khiến Giê-rô-bô-am và đạo quân Ít-ra-en bỏ chạy khỏi A-bi-gia và đạo quân Giu-đa.
2CH 13:16 Sau khi đạo quân Ít-ra-en bỏ chạy khỏi các binh sĩ Giu-đa thì Thượng Đế trao họ vào tay quân Giu-đa.
2CH 13:17 A-bi-gia và các quân sĩ của ông đánh giết 500.000 binh sĩ thiện chiến nhất của Ít-ra-en.
2CH 13:18 Lúc đó dân Ít-ra-en bị thua trận. Dân Giu-đa đắc thắng vì họ nhờ cậy CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 13:19 Đạo quân của A-bi-gia đuổi theo đạo quân Giê-rô-bô-am và chiếm các thị trấn Bê-tên, Giê-sa-na, và Ép-rôn, cùng các làng mạc quanh đó.
2CH 13:20 Giê-rô-bô-am không còn vươn lên được nữa trong suốt đời A-bi-gia. CHÚA đánh Giê-rô-bô-am nên ông chết.
2CH 13:21 Nhưng A-bi-gia càng ngày càng mạnh. Ông lấy mười bốn người vợ sinh hai mươi hai con trai, mười sáu con gái.
2CH 13:22 Mọi việc khác ông làm và những điều ông nói đều được ghi chép trong văn thư của nhà tiên tri Y-đô.
2CH 14:1 A-bi-gia qua đời và được chôn trong thành Đa-vít. A-sa con trai ông lên nối ngôi. Xứ được hoà bình suốt mười năm trong thời gian A-sa trị vì.
2CH 14:2 A-sa làm điều phải trước mặt CHÚA là Thượng Đế.
2CH 14:3 Ông tháo bỏ các bàn thờ ngoại lai và những nơi thờ cúng địa phương. Ông đập phá các trụ đá thờ thần và phá sập các trụ thờ thần A-sê-ra.
2CH 14:4 A-sa truyền cho dân chúng Giu-đa phải theo CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình, và vâng theo những lời giáo huấn cùng mệnh lệnh Ngài.
2CH 14:5 Ông cũng tháo bỏ những nơi thờ phụng và bàn thờ đốt hương cho các tà thần trong tất cả các thị trấn Giu-đa. Vì thế xứ được hoà bình trong đời vua A-sa.
2CH 14:6 A-sa xây cất các thành có vách kiên cố ở Giu-đa lúc còn thái bình. Trong những năm đó không có giặc giã vì CHÚA ban cho ông an hưởng hòa bình.
2CH 14:7 A-sa bảo dân chúng Giu-đa rằng, “Chúng ta hãy xây cất các thị trấn nầy và dựng vách xung quanh. Hãy cất các tháp, cổng cùng các thanh gài. Xứ nầy là của chúng ta vì chúng ta đã vâng theo CHÚA, là Thượng Đế chúng ta. Chúng ta đi theo Ngài cho nên Ngài đã ban cho chúng ta thái bình bốn bên.” Vì thế họ xây cất và thành công.
2CH 14:8 A-sa có một đạo quân ba trăm ngàn người Giu-đa và hai trăm tám mươi ngàn người Bên-gia-min. Các người Giu-đa mang các khiên và giáo to. Còn người Bên-gia-min mang các khiên nhỏ hơn cùng cung tên. Tất cả đều là các chiến sĩ gan dạ.
2CH 14:9 Xê-ra từ xứ Cút mang một đạo quân đông vô số và ba trăm quân xa kéo đến. Chúng đến sát thị trấn Ma-rê-sa.
2CH 14:10 A-sa kéo quân ra đánh nhau với Xê-ra và chuẩn bị giao chiến ở thung lũng Xê-pha-thát ở Ma-rê-sa.
2CH 14:11 A-sa kêu xin cùng CHÚA là Thượng Đế mình rằng, “Lạy CHÚA, chỉ có một mình Ngài giúp kẻ yếu thắng kẻ mạnh. Lạy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi, xin giúp đỡ chúng tôi vì chúng tôi nhờ cậy Ngài. Chúng tôi nhân danh Ngài đánh nhau với đạo quân khổng lồ nầy. Lạy CHÚA, Ngài là Thượng Đế chúng tôi. Xin đừng để ai thắng hơn Ngài.”
2CH 14:12 Vì thế khi đạo quân của A-sa từ Giu-đa tấn công thì CHÚA giúp họ đánh bại người Cút, người Cút bỏ chạy tán loạn.
2CH 14:13 Đạo quân của A-sa đuổi theo họ cho đến vùng Ghê-ra. Số người Cút bị giết quá nhiều nên họ không còn sức đánh nhau nữa. Họ bị CHÚA và đạo quân Ngài đánh bại. A-sa cùng đạo quân mình cướp lấy nhiều vật quí từ quân thù.
2CH 14:14 Họ phá hủy tất cả các thị trấn gần Ghê-ra vì CHÚA giáng sự kinh hoàng xuống trên dân cư sống trong các thị trấn ấy. Các thị trấn đó có nhiều đồ quí giá cho nên đạo quân A-sa cũng lấy luôn.
2CH 14:15 Đạo quân A-sa cũng tấn công các trại của các người chăn chiên, cướp đoạt vô số chiên cùng lạc đà. Sau đó họ trở về Giê-ru-sa-lem.
2CH 15:1 Thần linh của Thượng Đế nhập vào A-xa-ria, con trai Ô-đết.
2CH 15:2 A-xa-ria đi gặp A-sa và nói rằng, “Hỡi A-sa cùng toàn dân Giu-đa và Bên-gia-min, hãy nghe ta đây. CHÚA ở cùng các ngươi khi các ngươi ở cùng Ngài. Nếu các ngươi vâng theo Ngài, các ngươi sẽ tìm được Ngài, nhưng nếu các ngươi lìa bỏ Ngài thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.
2CH 15:3 Đã khá lâu Ít-ra-en không có Thượng Đế thật, không có thầy tế lễ để dạy dỗ họ và cũng không có lời giáo huấn nào.
2CH 15:4 Nhưng khi gặp khốn khó thì họ quay về cùng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Họ tìm kiếm Ngài và gặp được Ngài.
2CH 15:5 Trong lúc đó không có ai đi đường bình yên cả. Khắp xứ gặp lộn xộn.
2CH 15:6 Dân nầy diệt dân khác, thành nầy tiêu hủy thành kia, vì CHÚA giáng trên họ mọi thứ khốn khó.
2CH 15:7 Nhưng các ngươi hãy mạnh dạn. Đừng bỏ cuộc vì các ngươi sẽ nhận được phần thưởng cho công khó mình.”
2CH 15:8 A-sa cảm thấy phấn chí khi nghe A-xa-ria, con trai Ô-đết, nhà tiên tri nói những lời khuyên đó. Cho nên ông phá dỡ các thần tượng ghê tởm trong khắp xứ Giu-đa và Bên-gia-min ra khỏi các thị trấn mà ông đã chiếm trong vùng núi Ép-ra-im. Ông sửa sang lại đền thờ CHÚA ở phía trước vòm cửa đền thờ của Ngài.
2CH 15:9 Rồi A-sa triệu tập tất cả các người Giu-đa và Bên-gia-min cùng các chi tộc Ép-ra-im, Ma-na-xe, và Xi-mê-ôn sống trong xứ Giu-đa. Thậm chí có nhiều người từ Ít-ra-en cũng đến với A-sa vì họ thấy CHÚA, Thượng Đế của A-sa ở cùng ông.
2CH 15:10 A-sa cùng họ họp lại ở Giê-ru-sa-lem vào tháng ba năm thứ mười lăm triều đại vua.
2CH 15:11 Trong lúc đó họ dâng cho CHÚA bảy trăm con bò đực và bảy ngàn con chiên và dê cùng những của báu mà đạo quân A-sa đã cướp được của quân thù.
2CH 15:12 Rồi họ lập giao ước hết lòng vâng theo CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 15:13 Ai không vâng theo CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, sẽ bị xử tử bất kể già trẻ, nam hay nữ.
2CH 15:14 Sau đó A-sa và dân chúng cam kết trước mặt CHÚA, mọi người la lớn tiếng và thổi kèn cùng tù và.
2CH 15:15 Tất cả dân chúng Giu-đa đều rất vui mừng về lời hứa đó vì họ đã hết lòng cam kết. Họ tìm kiếm Thượng Đế và gặp được Ngài. Vì thế CHÚA ban cho họ thái bình khắp xứ.
2CH 15:16 Vua A-sa cũng cất chức thái hậu của Ma-a-ca, bà nội mình vì bà đã tạc một tượng A-sê-ra đáng gớm ghiếc. A-sa chặt tượng đó, nghiền nát và thiêu trong thung lũng Kít-rôn.
2CH 15:17 Nhưng ông không dẹp bỏ các nơi thờ tà thần trong Ít-ra-en. Tuy vậy, A-sa trung tín với CHÚA trọn đời mình.
2CH 15:18 A-sa mang vào đền thờ Thượng Đế các tặng vật mà cha mình đã dâng: bạc, vàng, và các đồ dùng.
2CH 15:19 Trong xứ không còn giặc giã nữa cho đến năm thứ ba mươi lăm triều đại A-sa.
2CH 16:1 Đến năm thứ ba mươi sáu đời vua A-sa thì Ba-a-sa, vua Ít-ra-en tấn công Giu-đa. Ông củng cố thị trấn Ra-ma để ngăn không cho dân chúng ra vào Giu-đa, xứ vua A-sa.
2CH 16:2 A-sa lấy bạc và vàng từ các kho ngân khố trong đền thờ CHÚA và từ cung điện mình. Ông gởi các món đó cùng với các sứ giả đến Bên-Ha-đát, vua A-ram, đang ở tại Đa-mách. A-sa nói với vua,
2CH 16:3 “Vua và tôi hãy lập giao ước như cha tôi và cha vua đã làm. Tôi gởi biếu vua bạc và vàng. Xin vua hãy hủy bỏ giao ước với Ba-a-sa, vua Ít-ra-en để người rời khỏi bờ cõi tôi.”
2CH 16:4 Bên-Ha-đát đồng ý với vua A-sa nên sai các viên chỉ huy đạo quân mình đến tấn công các thị trấn Ít-ra-en. Họ chiếm được các thị trấn như Y-giông, Đan, và A-bên-ma-im cùng tất cả các thị trấn trong Nép-ta-li nơi có các kho tiếp liệu.
2CH 16:5 Khi Ba-a-sa nghe thế liền thôi không xây đắp Ra-ma nữa và bỏ dở công việc.
2CH 16:6 Sau đó vua A-sa cho toàn dân Giu-đa đến Ra-ma và mang đi những tảng đá và gỗ mà Ba-a-sa đã dùng. Rồi họ dùng các vật liệu đó để xây đắp Ghê-ba và Mích-ba.
2CH 16:7 Lúc đó Ha-na-ni, người tiên kiến, đến gặp và bảo A-sa, vua Giu-đa rằng, “Bệ hạ nhờ cậy vua A-ram giúp đỡ mà không nhờ cậy CHÚA là Thượng Đế mình. Cho nên vua của đạo quân A-ram đã thoát khỏi tay bệ hạ.
2CH 16:8 Người Cút và Ly-bi có một đạo quân rất lớn, hùng mạnh cùng vô số quân xa và lính cỡi ngựa. Bệ hạ nhờ cậy CHÚA giúp mình nên Ngài trao chúng vào tay bệ hạ.
2CH 16:9 CHÚA tìm khắp đất để kiếm người hết lòng với Ngài. Ngài muốn khiến họ vững mạnh. Hỡi A-sa, bệ hạ đã hành động ngu xuẩn, cho nên từ nay về sau bệ hạ sẽ gặp giặc giã.”
2CH 16:10 Vua A-sa nổi giận cùng Ha-na-ni, người tiên kiến, về những điều ông nói đến nỗi vua bắt Ha-na-ni bỏ tù. Lúc đó vua A-sa cũng hành động độc ác với một số người.
2CH 16:11 Mọi việc khác vua A-sa làm từ đầu đến cuối đều được ghi chép trong sách các vua Giu-đa và Ít-ra-en.
2CH 16:12 Vào năm thứ ba mươi chín triều đại mình thì vua A-sa bị đau chân. Dù chứng bệnh chân rất trầm trọng nhưng vua không cầu xin CHÚA chữa lành mà nhờ cậy vào các thầy thuốc.
2CH 16:13 Rồi A-sa qua đời vào năm thứ bốn mươi mốt triều đại mình.
2CH 16:14 Người ta chôn A-sa trong mộ vua đã xây cho mình trong thành Đa-vít. Họ đặt vua trên một cái giường có tẩm đủ thứ hương liệu rồi đốt một đám lửa lớn để tưởng niệm vua.
2CH 17:1 Giô-sa-phát, con trai A-sa, lên nối ngôi vua Giu-đa thế cho cha mình. Giô-sa-phát củng cố Giu-đa để đánh nhau với Ít-ra-en.
2CH 17:2 Ông đặt các binh sĩ trong các thành có vách kiên cố của Giu-đa, trong xứ Giu-đa, và trong các thị trấn Ép-ra-im mà A-sa, cha mình, đã chiếm được.
2CH 17:3 CHÚA ở cùng Giô-sa-phát vì vua sống y như Đa-vít, tổ tiên mình đã sống khi mới lên ngôi vua. Giô-sa-phát không nhờ cậy các tượng thần Ba-anh,
2CH 17:4 nhưng nhờ cậy Thượng Đế của tổ tiên mình. Vua vâng theo các mệnh lệnh của Ngài và không sống như dân Ít-ra-en.
2CH 17:5 CHÚA làm cho Giô-sa-phát vững mạnh trên Giu-đa. Tất cả dân chúng Giu-đa mang tặng vật biếu Giô-sa-phát nên vua rất giàu có và danh tiếng.
2CH 17:6 Vua muốn vâng theo CHÚA. Vua cũng tháo gỡ các nơi thờ phụng tà thần và các hình tượng A-sê-ra khỏi xứ Giu-đa.
2CH 17:7 Vào năm thứ ba triều đại mình thì vua Giô-sa-phát phái các viên chức đến dạy dỗ trong các thị trấn Giu-đa. Các viên chức ấy là Bên-Ha-in, Áp-đia, Xa-cha-ri, Nê-tha-nên, và Mi-cai-gia.
2CH 17:8 Giô-sa-phát cũng phái các người Lê-vi sau đây đi với họ: Sê-mai-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia, A-sa-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hô-na-than, A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia, và Tốp-A-đô-ni-gia. Vua cũng sai các thầy tế lễ Ê-li-sa-ma và Giê-hô-ram cùng đi.
2CH 17:9 Các lãnh tụ ấy, các người Lê-vi cùng các thầy tế lễ dạy dỗ dân chúng trong Giu-đa. Họ lấy quyển Sách Giáo Huấn của CHÚA và đi khắp các thị trấn trong Giu-đa dạy dỗ dân chúng.
2CH 17:10 Các dân tộc sống quanh xứ Giu-đa sợ hãi CHÚA cho nên không dám gây chiến cùng Giô-sa-phát.
2CH 17:11 Một số người Phi-li-tin mang triều cống và bạc đến cho Giô-sa-phát theo như vua đòi. Người Á-rập mang đến cho vua gia súc: bảy ngàn bảy trăm con chiên, và bảy ngàn bảy trăm con dê.
2CH 17:12 Giô-sa-phát càng ngày càng hùng mạnh. Vua xây các thành có vách kiên cố và thị trấn để trữ vật liệu trong Giu-đa.
2CH 17:13 Vua giữ một số vật liệu trong các thị trấn Giu-đa, còn các binh sĩ thiện chiến thì vua giữ tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 17:14 Các binh sĩ sau đây được liệt kê theo gia đình. Từ các gia đình Giu-đa, sau đây là những viên chỉ huy hàng ngàn người: Ách-na chỉ huy ba trăm ngàn quân sĩ.
2CH 17:15 Giê-hô-ha-nan chỉ huy hai trăm tám mươi ngàn quân sĩ;
2CH 17:16 A-ma-xia, con trai Xích-ri, chỉ huy hai trăm ngàn quân sĩ. Ông tình nguyện phục vụ CHÚA.
2CH 17:17 Sau đây là các viên chỉ huy từ các họ hàng trong Bên-gia-min: Ê-li-a-đa, một chiến sĩ gan dạ, chỉ huy hai trăm ngàn binh sĩ sử dụng cung tên và thuẫn.
2CH 17:18 Giê-hô-xa-bát chỉ huy một trăm tám mươi ngàn quân sĩ sẵn sàng ra trận.
2CH 17:19 Tất cả các binh sĩ ấy đều phục vụ vua Giô-sa-phát. Vua cũng đặt các binh sĩ khác trong các thành có vách kiên cố ở khắp xứ Giu-đa.
2CH 18:1 Vua Giô-sa-phát giàu có và danh vọng. Vua kết ước với vua A-háp qua hôn nhân.
2CH 18:2 Ít năm sau Giô-sa-phát đến Xa-ma-ri thăm vua A-háp. A-háp giết nhiều chiên bò làm tiệc lớn thết đãi Giô-sa-phát và đoàn tùy tùng. Vua xúi Giô-sa-phát tấn công Ra-mốt trong Ghi-lê-át.
2CH 18:3 A-háp vua Ít-ra-en hỏi Giô-sa-phát, vua Giu-đa rằng, “Vua có muốn cùng tôi xuống đánh Ra-mốt trong Ghi-lê-át không?” Giô-sa-phát đáp, “Tôi sẽ đi với vua, binh sĩ tôi cũng như binh sĩ vua. Chúng tôi sẽ cùng vua ra trận.”
2CH 18:4 Giô-sa-phát nói tiếp cùng vua Ít-ra-en, “Nhưng trước hết chúng ta nên cầu hỏi xem đây có phải là ý CHÚA không.”
2CH 18:5 Vậy vua A-háp triệu tập bốn trăm nhà tiên tri lại hỏi rằng, “Chúng ta có nên xuống đánh Ra-mốt trong Ghi-lê-át không?” Họ đồng trả lời, “Vua nên đi vì Thượng Đế sẽ trao thành ấy vào tay vua.”
2CH 18:6 Nhưng Giô-sa-phát hỏi, “Ở đây còn có nhà tiên tri nào khác nữa của CHÚA không? Hãy hỏi người để biết chúng ta phải làm gì.”
2CH 18:7 Vua Ít-ra-en trả lời cùng Giô-sa-phát, “Còn có một nhà tiên tri nữa. Chúng ta có thể nhờ người cầu hỏi CHÚA nhưng tôi ghét người vì người không khi nào nói tiên tri tốt về tôi mà chỉ nói chuyện xấu thôi. Người là Mi-cai-gia, con trai Im-la.” Giô-sa-phát nói, “Vua không nên nói như vậy!”
2CH 18:8 Vì thế vua Ít-ra-en sai một sĩ quan mang Mi-cai-gia trình diện mình ngay lập tức.
2CH 18:9 A-háp, vua Ít-ra-en và Giô-sa-phát, vua Giu-đa đang mặt triều phục và ngồi trên ngôi trong sân đập lúa, gần nơi cổng vào Xa-ma-ri. Tất cả các nhà tiên tri đều đứng trước hai vua và đang nói tiên tri.
2CH 18:10 Xê-đê-kia, con trai Kê-na-a-na làm mấy cái sừng bằng sắt. Ông nói với A-háp, “CHÚA phán như sau: ‘Ngươi sẽ dùng các sừng nầy đánh dân A-ram cho đến khi tận diệt chúng.’”
2CH 18:11 Tất cả các nhà tiên tri đều nói giống nhau như sau, “Hãy đánh Ra-mốt trong Ghi-lê-át, vua sẽ thắng vì CHÚA sẽ trao quân A-ram vào tay vua.”
2CH 18:12 Sứ giả được phái đi mang Mi-cai-gia đến nói với ông, “Tất cả các nhà tiên tri đều nói rằng vua A-háp sẽ thắng. Ông cũng nên nói theo họ và cho vua một câu trả lời nghe thuận tai.”
2CH 18:13 Nhưng Mi-cai-gia đáp, “Thật như CHÚA hằng sống, ta chỉ có thể nói ra điều gì Thượng Đế của ta phán mà thôi.”
2CH 18:14 Khi Mi-cai-gia đến cùng A-háp thì vua hỏi ông, “Mi-cai-gia, chúng ta có nên đánh Ra-mốt trong Ghi-lê-át hay không?” Mi-cai-gia đáp, “Vua hãy đi đánh vì sẽ thắng! CHÚA sẽ trao chúng vào tay vua.”
2CH 18:15 Nhưng A-háp bảo Mi-cai-gia, “Chẳng phải đã bao nhiêu lần ta bảo ngươi chỉ được nhân danh CHÚA nói sự thật cho ta mà thôi sao?”
2CH 18:16 Mi-cai-gia đáp, “Tôi thấy đạo quân Ít-ra-en tản lạc trên núi như chiên không có người chăn. CHÚA phán, ‘Họ không có người lãnh đạo. Hãy để họ về nhà bình yên.’”
2CH 18:17 A-háp, vua Ít-ra-en liền bảo Giô-sa-phát, “Thấy không, tôi đã nói rồi mà! Hắn không bao giờ nói tiên tri tốt về tôi, chỉ toàn xấu thôi.”
2CH 18:18 Nhưng Mi-cai-gia đáp, “Hãy nghe lời CHÚA phán: Tôi thấy CHÚA ngồi trên ngôi, còn đạo quân trên trời đứng chầu bên phải và bên trái Ngài.
2CH 18:19 CHÚA hỏi, ‘Ai sẽ đi dụ A-háp, vua Ít-ra-en tấn công Ra-mốt trong Ghi-lê-át để người bị giết tại đó?’ Người nói thế nầy, kẻ đề nghị thế khác.
2CH 18:20 Rồi có một thần linh đi ra đứng trước mặt CHÚA thưa rằng, ‘Tôi sẽ đi dụ người.’ CHÚA hỏi, ‘Dụ cách nào?’
2CH 18:21 Thần linh ấy đáp, ‘Tôi sẽ đi đến với các nhà tiên tri A-háp và xúi họ nói dối.’ CHÚA phán, ‘Ngươi làm được đó. Đi đi.’”
2CH 18:22 Mi-cai-gia bảo, “Thưa vua A-háp, CHÚA đã khiến các nhà tiên tri gạt vua, vì CHÚA đã nhất định giáng thảm họa cho vua.”
2CH 18:23 Xê-đê-kia, con trai của Kê-na-na liền bước đến tát vào má Mi-cai-gia. Xê-đê-kia hỏi, “Thần linh của CHÚA đã bỏ ta mà đi ngả nào để phán với ngươi?”
2CH 18:24 Mi-cai-gia trả lời, “Ngày mà ngươi chạy trốn vào phòng trong thì sẽ hiểu chuyện đó.”
2CH 18:25 A-háp, vua Ít-ra-en liền ra lệnh, “Hãy bắt Mi-cai-gia giao cho A-môn, viên cai ngục, và cho Giô-ách, con trai vua.
2CH 18:26 Bảo họ nhốt người nầy trong ngục, chỉ cho ăn bánh, uống nước mà thôi cho đến khi ta từ chiến trận bình an trở về.”
2CH 18:27 Mi-cai-gia nói, “Thưa vua A-háp, nếu vua bình an trở về từ chiến trận thì CHÚA đã không phán qua tôi.” Rồi ông nói thêm, “Toàn dân hãy nghe cho kỹ!”
2CH 18:28 Vậy A-háp, vua Ít-ra-en và Giô-sa-phát, vua Giu-đa kéo ra Ra-mốt trong Ghi-lê-át.
2CH 18:29 Vua A-háp bảo Giô-sa-phát, “Tôi sẽ ra trận nhưng sẽ hóa trang để không ai nhận ra tôi. Còn vua thì vẫn cứ mặc triều phục.” Vì thế A-háp giả trang ra trận.
2CH 18:30 Vua của A-ram ra lệnh cho các chỉ huy quân xa rằng, “Đừng tấn công ai hết, dù lớn hay nhỏ, chỉ đánh vua Ít-ra-en mà thôi.”
2CH 18:31 Khi các viên chỉ huy thấy Giô-sa-phát thì tưởng là vua Ít-ra-en nên áp lại tấn công. Nhưng Giô-sa-phát la lên, CHÚA liền giúp đỡ vua. Thượng Đế khiến các viên chỉ huy quân xa rời khỏi Giô-sa-phát.
2CH 18:32 Khi họ thấy không phải vua A-háp liền thôi không đuổi theo vua nữa.
2CH 18:33 Tình cờ có một quân sĩ bắn một mũi tên trúng nhằm A-háp, vua Ít-ra-en, ngay chỗ nối của áo giáp. Vua A-háp bảo tài xế quân xa mình rằng, “Hãy quay xe lại, mang ta ra khỏi mặt trận ngay vì ta bị thương rồi!”
2CH 18:34 Trận chiến kéo dài khốc liệt suốt ngày. Vua A-háp đứng trong xe đối đầu với quân A-ram cho đến chiều. Khi mặt trời lặn thì vua chết.
2CH 19:1 Giô-sa-phát, vua Giu-đa an toàn trở về cung điện mình ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 19:2 Giê-hu, con trai Ha-na-ni, người tiên kiến, đi ra đón và hỏi vua rằng, “Tại sao vua giúp đỡ kẻ ác? Sao vua lại yêu mến kẻ ghét CHÚA? Vì thế, CHÚA rất bất bình với vua.
2CH 19:3 Nhưng trong vua còn có điều thiện. Vua đã dẹp bỏ tượng A-sê-ra khỏi xứ, và vua cố gắng vâng theo Thượng Đế.”
2CH 19:4 Giô-sa-phát đóng đô ở Giê-ru-sa-lem. Vua đi ra thăm dân từ Bê-e-sê-ba cho đến các núi Ép-ra-im, đưa họ về cùng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 19:5 Giô-sa-phát bổ nhiệm các quan án trong khắp xứ, trong mỗi thành có vách kiên cố ở Giu-đa.
2CH 19:6 Giô-sa-phát nhắn nhủ họ, “Hãy cẩn thận về việc mình làm vì không phải các ngươi phân xử cho người mà cho CHÚA. Ngài sẽ ở cùng khi các ngươi quyết định.
2CH 19:7 Mỗi người trong các ngươi hãy kính sợ CHÚA. Hãy cân nhắc hành động mình vì CHÚA là Thượng Đế chúng ta muốn dân Ngài được bình đẳng. Ngài muốn mọi người được đối xử như nhau và Ngài không muốn thấy tiền bạc làm lệch lạc các quyết định của các ngươi.”
2CH 19:8 Và ở Giê-ru-sa-lem, Giô-sa-phát cũng bổ nhiệm một số người Lê-vi, thầy tế lễ, và các trưởng gia đình trong Ít-ra-en làm quan án. Họ phải quyết định về những vụ liên quan đến luật pháp CHÚA và giải quyết những tranh chấp giữa dân cư Giê-ru-sa-lem với nhau.
2CH 19:9 Giô-sa-phát dặn họ rằng, “Các ngươi phải luôn luôn hết lòng phục vụ CHÚA, và phải kính sợ Ngài.
2CH 19:10 Dân chúng sống trong các thành phố sẽ mang những vụ án có liên quan đến giết người hoặc vi phạm các điều giáo huấn, mệnh lệnh, qui tắc, và các luật lệ khác đến nhờ các ngươi phân xử. Trong các vụ đó các ngươi phải cảnh cáo mọi người không được phạm tội cùng CHÚA. Nếu không CHÚA sẽ nổi giận cùng các ngươi và dân chúng. Còn nếu các ngươi đã cảnh cáo họ thì các ngươi sẽ không mắc tội.
2CH 19:11 A-ma-ria, thầy tế lễ trưởng sẽ coi sóc các ngươi về mọi vụ liên quan đến CHÚA. Xê-ba-đia, con trai Ích-ma-ên, một lãnh tụ trong chi tộc Giu-đa, sẽ hướng dẫn các ngươi về những vụ liên quan đến vua. Ngoài ra các người Lê-vi sẽ làm các viên chức giúp các ngươi. Hãy can đảm. Cầu CHÚA ở cùng những kẻ làm điều ngay thẳng.”
2CH 20:1 Sau đó dân Mô-áp, Am-môn, và một số người Mê-u-nít kéo đến gây chiến với Giô-sa-phát.
2CH 20:2 Các sứ giả đến báo cáo cùng Giô-sa-phát, “Một đạo quân rất lớn từ Ê-đôm, từ phía bên kia Biển Chết, kéo đến đánh vua. Họ đã vào Ha-xa-xôn Ta-ma!” Ha-xa-xôn Ta-ma cũng có tên là Ên-ghê-đi.
2CH 20:3 Giô-sa-phát lo sợ nên vua cầu xin CHÚA chỉ dẫn. Vua ra lệnh rằng không ai trong Giu-đa được ăn uống gì trong thời gian đặc biệt nầy để cầu nguyện cùng Thượng Đế.
2CH 20:4 Dân Giu-đa cũng đến cầu xin CHÚA cứu giúp; họ đến từ khắp các thị trấn trong Giu-đa.
2CH 20:5 Dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem họp nhau trước sân mới của đền thờ CHÚA. Rồi Giô-sa-phát đứng lên
2CH 20:6 cầu nguyện rằng, “Lạy CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên chúng tôi, Ngài là Thượng Đế ngự trên trời. Ngài cai trị tất cả các nước các dân. Ngài có quyền năng, không ai có thể chống nghịch nổi Ngài.
2CH 20:7 Lạy Thượng Đế của chúng tôi, Ngài đã đuổi các dân sống trong xứ nầy trước mặt dân Ít-ra-en của Ngài. Và Ngài ban xứ nầy đời đời cho dòng dõi của bạn hữu Ngài là Áp-ra-ham.
2CH 20:8 Họ sống trong xứ nầy và xây một đền thờ cho Ngài. Họ cầu xin,
2CH 20:9 ‘Nếu chúng tôi gặp hoạn nạn, giặc giã, bị hình phạt, bệnh tật, hay đói kém, chúng tôi sẽ đứng trước Ngài và trước đền thờ nầy mà Ngài đã chọn để thờ phụng Ngài. Chúng tôi sẽ kêu cứu cùng Ngài khi chúng tôi gặp khốn đốn. Xin Ngài nghe và cứu chúng tôi.’
2CH 20:10 Bây giờ những người Am-môn, Mô-áp, và Ê-đôm đang kéo đến. Ngài không cho phép dân Ít-ra-en vào đất họ khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Cho nên dân Ít-ra-en rẽ sang đường khác và không tiêu diệt họ.
2CH 20:11 Nhưng Ngài xem họ đền ơn chúng tôi về việc chúng tôi không tiêu diệt họ như thế này đây! Họ kéo đến để đánh đuổi chúng tôi ra khỏi xứ của Ngài mà Ngài đã ban cho chúng tôi làm sản nghiệp.
2CH 20:12 Lạy Thượng Đế chúng tôi, xin hãy trừng phạt họ. Chúng tôi không đủ sức đánh lại đạo quân rất lớn nầy đang tấn công chúng tôi. Chúng tôi không biết phải làm gì nên chúng tôi đến cầu xin Ngài cứu giúp.”
2CH 20:13 Tất cả các người Giu-đa đều đứng trước mặt CHÚA cùng với vợ, con, và trẻ sơ sinh của mình.
2CH 20:14 Thần linh của CHÚA nhập vào Gia-ha-xi-ên. Gia-ha-xi-ên là con trai Xa-cha-ri. Xa-cha-ri là con Bê-nai-gia. Bê-nai-gia là con Giê-i-ên. Giê-i-ên là con Mát-ta-nia. Gia-ha-xi-ên, một người Lê-vi và là con cháu A-sáp đứng lên trong buổi họp
2CH 20:15 nói rằng, “Tâu vua Giô-sa-phát và toàn dân sống trong Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, xin hãy nghe tôi. CHÚA phán với các ngươi như sau: ‘Đừng sợ cũng đừng nản chí vì đạo quân đông đảo nầy. Cuộc chiến nầy không phải của các ngươi mà là của Thượng Đế.
2CH 20:16 Ngày mai hãy kéo quân xuống gặp chúng nó. Chúng sẽ kéo lên qua đèo Xít. Các ngươi sẽ gặp chúng ở cuối hố dẫn tới sa mạc Giê-ru-ên.
2CH 20:17 Các ngươi không cần phải đánh trong trận nầy. Chỉ hãy đứng vững chỗ mình rồi sẽ thấy CHÚA giải cứu các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, đừng sợ cũng đừng nản chí vì CHÚA ở với các ngươi. Vậy ngày mai hãy ra gặp chúng.’”
2CH 20:18 Vua Giô-sa-phát cúi sấp mặt xuống đất. Tất cả dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem cùng cúi mặt xuống đất trước mặt CHÚA và bái lạy Ngài.
2CH 20:19 Rồi một số người Lê-vi từ họ hàng Cô-hát và Cô-ra đứng lên lớn tiếng ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 20:20 Đạo quân Giô-sa-phát kéo ra đến sa mạc Tê-cô-a vào sáng sớm hôm sau. Khi họ sắp lên đường thì Giô-sa-phát đứng lên nhắn nhủ, “Hỡi dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, hãy nghe ta đây. Hãy đặt niềm tin nơi CHÚA là Thượng Đế các ngươi thì các ngươi sẽ vững vàng. Hãy tin tưởng nơi các nhà tiên tri Ngài thì các ngươi sẽ thành công.”
2CH 20:21 Giô-sa-phát nghe ý kiến của dân chúng. Sau đó ông chọn các nam ca sĩ cho CHÚA để ca ngợi Ngài vì Ngài là Đấng thánh khiết và uy nghiêm. Khi họ đi diễn hành trước quân đội thì họ kêu lên, “Cảm tạ CHÚA, vì tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
2CH 20:22 Khi họ bắt đầu hát ca ngợi Thượng Đế thì CHÚA đặt quân phục kích dân Am-môn, Mô-áp, và Ê-đôm là những quân đến tấn công Giu-đa. Tất cả bị thảm bại.
2CH 20:23 Người Am-môn và Mô-áp tấn công người Ê-đôm, hoàn toàn tiêu diệt họ. Sau khi đã tiêu diệt người Ê-đôm thì họ quay lại chém giết lẫn nhau.
2CH 20:24 Khi những người từ Giu-đa đến nơi có thể thấy sa mạc, thì họ nhìn thấy đạo binh đông đảo của quân thù. Nhưng họ chỉ toàn thấy xác chết nằm la liệt trên đất; không ai sống sót.
2CH 20:25 Khi Giô-sa-phát và đạo quân của ông đến lột những món có giá trị của họ thì thấy vô số vật liệu, áo quần, và những vật quí báu khác. Nhiều quá họ không mang đi nổi cho nên phải mất ba ngày mới gom hết được.
2CH 20:26 Đến ngày thứ tư Giô-sa-phát và đạo quân của ông gặp nhau ở thung lũng Bê-ra-ca để ca ngợi CHÚA. Vì thế mà nơi đó được gọi là thung lũng Bê-ra-ca cho đến ngày nay.
2CH 20:27 Sau đó Giô-sa-phát hướng dẫn tất cả dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem trở về Giê-ru-sa-lem. CHÚA khiến họ mừng rỡ vì kẻ thù họ đã bị đại bại.
2CH 20:28 Họ tiến vào Giê-ru-sa-lem giữa tiếng đờn cầm, đờn sắt, kèn và cùng nhau đến đền thờ CHÚA.
2CH 20:29 Khi các nước thuộc những xứ xung quanh nghe CHÚA đã đánh bại kẻ thù của Ít-ra-en thì đâm ra kính sợ Thượng Đế.
2CH 20:30 Nước vua Giô-sa-phát không còn giặc giã nữa. Thượng Đế ban cho vua thái bình khắp mọi nơi.
2CH 20:31 Giô-sa-phát cai trị trên xứ Giu-đa. Ông được ba mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì ở Giê-ru-sa-lem hai mươi lăm năm. Mẹ ông tên A-xu-ba, con gái của Sin-li.
2CH 20:32 Giô-sa-phát là người nhân đức như A-sa, cha mình. Vua làm điều phải trước mặt CHÚA.
2CH 20:33 Nhưng vua không tháo bỏ những nơi thờ tà thần, còn dân chúng cũng không thực lòng theo Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 20:34 Các việc khác vua Giô-sa-phát làm khi đang trị vì, từ đầu đến cuối, đều được ghi chép trong sử ký của Giê-hu, con Ha-na-ni, thuộc bộ sử ký các vua Ít-ra-en.
2CH 20:35 Về sau, Giô-sa-phát, vua Giu-đa kết ước với A-cha-xia, vua Ít-ra-en, là điều không nên làm.
2CH 20:36 Giô-sa-phát đồng lòng với vua A-cha-xia để đóng các tàu buôn. Các tàu đó được đóng ở thị trấn Ê-xi-ôn Ghê-be.
2CH 20:37 Sau đó Ê-li-ê-xe, con Đô-đa-va-hu từ thị trấn Ma-rê-sa lên tiếng phản đối Giô-sa-phát. Ông nói, “Nầy vua Giô-sa-phát, vì vua đã hợp tác với A-cha-xia, CHÚA sẽ tiêu hủy những gì vua đã đóng.” Các tàu đều bị bể tan cho nên không đi buôn bán được.
2CH 21:1 Giô-sa-phát qua đời và được chôn cùng với tổ tiên mình trong thành Đa-vít. Rồi Giô-ram, con trai vua lên nối ngôi.
2CH 21:2 Các anh em của Giô-ram là A-xa-ria, Giê-hi-ên, Xa-cha-ri, A-xa-ria-hu, Mi-ca-ên, và Sê-pha-tia. Đó là các con trai của Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
2CH 21:3 Giô-sa-phát cấp cho các con mình nhiều của cải bằng bạc, vàng, các vật quí cùng cho chúng nó các thành có vách kiên cố trong xứ Giu-đa. Nhưng Giô-sa-phát giao nước cho Giô-ram vì là con trưởng nam.
2CH 21:4 Vừa khi lên nắm quyền trên nước của cha mình thì Giô-ram dùng gươm giết tất cả các anh em mình và một số lãnh tụ trong Ít-ra-en.
2CH 21:5 Ông được ba mươi hai tuổi khi lên trị vì, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 21:6 Ông đi theo đường của các vua Ít-ra-en y như gia đình A-háp đã làm vì ông lấy con gái A-háp. Giô-ram làm điều ác trước mặt CHÚA.
2CH 21:7 Nhưng CHÚA không tiêu diệt nhà Đa-vít vì giao ước Ngài đã lập cùng Đa-vít. Ngài đã hứa rằng một người trong dòng họ Đa-vít sẽ luôn luôn trị vì.
2CH 21:8 Trong thời Giô-ram, Ê-đôm tách ra khỏi quyền thống trị của Giu-đa và tự chọn vua cho mình.
2CH 21:9 Vì thế Giô-ram kéo các quan chỉ huy và quân xa mình đến đánh Ê-đôm. Người Ê-đôm vây vua và các sĩ quan chỉ huy quân xa, nhưng Giô-ram thức dậy ban đêm tấn công người Ê-đôm.
2CH 21:10 Từ đó đến nay xứ Ê-đôm luôn luôn chống nghịch lại quyền cai trị của Giu-đa. Đồng thời Líp-na cũng nổi lên tách ra khỏi quyền Giô-ram vì vua đã lìa bỏ CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 21:11 Giô-ram cũng xây những nơi thờ thần ngoại quốc trên các đồi núi Giu-đa. Ông dẫn dụ dân Giu-đa phạm tội, và khiến dân Giu-đa rời xa CHÚA.
2CH 21:12 Sau đó vua Giô-ram nhận được bức thư sau đây của Ê-li, nhà tiên tri: “CHÚA là Thượng Đế của Đa-vít, tổ tiên ngươi, phán: Hỡi Giô-ram, ngươi đã không sống như Giô-sa-phát, cha ngươi và như A-sa, vua Giu-đa.
2CH 21:13 Nhưng ngươi sống như các vua Ít-ra-en, ngươi đã khuyến dụ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem phạm tội cùng Thượng Đế như A-háp và gia đình vua đó đã làm. Ngươi đã giết các anh em mình trong gia đình cha ngươi là những người tốt hơn ngươi.
2CH 21:14 Cho nên bây giờ CHÚA sẽ trừng phạt dân chúng ngươi, con cái, vợ, và tài sản ngươi.
2CH 21:15 Ngươi sẽ bị một chứng đau ruột càng ngày càng trầm trọng. Cuối cùng bệnh đó sẽ khiến cho ruột ngươi đổ ra.”
2CH 21:16 CHÚA khiến dân Phi-li-tin và Á-rập sống gần dân Cút nổi giận cùng vua Giô-ram.
2CH 21:17 Vì thế người Phi-li-tin và Á-rập tấn công dân Giu-đa và cướp đi hết của cải trong cung điện Giô-ram cùng tất cả các vợ và con vua. Chỉ chừa lại A-cha-xia, con út Giô-ram mà thôi.
2CH 21:18 Sau việc ấy, CHÚA giáng bệnh đau ruột không phương chữa trị trên Giô-ram.
2CH 21:19 Sau khi bị đau hai năm thì ruột vua đổ ra, vua qua đời trong cơn đau đớn. Dân chúng không đốt lửa để tưởng niệm Giô-ram như họ đã làm cho các tổ tiên vua.
2CH 21:20 Lúc lên ngôi thì Giô-ram được ba mươi hai tuổi và trị vì tám năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua chết không có ai thương tiếc. Vua được chôn trong thành Đa-vít, nhưng không được nằm trong mộ dành cho các vua.
2CH 22:1 Dân chúng Giê-ru-sa-lem chọn A-cha-xia, con trai út của Giô-ram làm vua thế ông. Các quân cướp bóc đi theo quân Á-rập đến tấn công trại quân Giô-ram đã giết tất cả các anh của A-cha-xia. Vậy A-cha-xia bắt đầu trị vì Giu-đa.
2CH 22:2 A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi lên ngôi và trị vì một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên A-tha-lia, cháu gái Ôm-ri.
2CH 22:3 A-cha-xia đi theo con đường của gia đình A-háp, vì mẹ vua xúi giục làm ác.
2CH 22:4 A-cha-xia làm điều ác trước mặt CHÚA y như gia đình A-háp. Gia đình ấy cố vấn cho A-cha-xia sau khi cha vua qua đời, và những lời khuyên bậy bạ của họ khiến vua chết.
2CH 22:5 Vì nghe theo lời khuyên của họ nên A-cha-xia cùng với Giô-ram con trai A-háp, vua Ít-ra-en, kéo quân đến đánh Ha-xa-ên, vua A-ram ở Ra-mốt trong Ghi-lê-át. Quân A-ram gây cho Giô-ram bị thương.
2CH 22:6 Vì vậy Giô-ram trở về Ghít-rê-ên để chữa lành các vết thương ông bị ở Ra-mốt trong Ghi-lê-át khi đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. A-cha-xia, con Giô-ram, vua Giu-đa đến thăm Giô-ram, con trai A-háp, ở Ghít-rê-ên vì Giô-ram bị thương.
2CH 22:7 Thượng-Đế khiến A-cha-xia chết đang khi viếng thăm Giô-ram. A-cha-xia đến nơi và cùng với Giô-ram đi ra gặp Giê-hu, con trai Nim-si, người mà CHÚA đã chỉ định để tiêu diệt gia đình A-háp.
2CH 22:8 Trong khi Giê-hu đang trừng phạt gia đình A-háp thì ông gặp các lãnh tụ Giu-đa và các con trai của những thân nhân vua A-cha-xia là những người phục vụ A-cha-xia, Giê-hu liền giết sạch.
2CH 22:9 Rồi Giê-hu đi tìm A-cha-xia. Những người của Giê-hu tìm được vua đang trốn trong Xa-ma-ri nên họ giải vua về cho Giê-hu. Rồi họ giết và chôn vua. Họ nói, “A-cha-xia là một trong các con cháu của Giô-sa-phát, Giô-sa-phát hết lòng vâng theo CHÚA.” Không ai trong gia đình A-cha-xia còn đủ sức cầm quyền trên nước Giu-đa nữa.
2CH 22:10 Khi A-tha-lia, mẹ A-cha-xia, thấy con mình đã chết liền giết sạch gia đình nhà vua.
2CH 22:11 Nhưng Giê-hô-sê-ba, con gái vua Giô-ram, lén bồng Giô-ách, con trai A-cha-xia khỏi các con trai khác của vua sắp bị giết, đem giấu cậu bé và vú nuôi trong một phòng ngủ. Vậy Giê-hô-sê-ba, con gái vua Giô-ram, và chị của A-cha-xia, vợ của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giấu Giô-ách nên A-tha-lia không giết cậu được.
2CH 22:12 Cậu trốn giữa đám họ ở trong đền thờ của Thượng Đế suốt sáu năm. Trong khi đó A-tha-lia cai trị trên xứ.
2CH 23:1 Vào năm thứ bảy Giê-hô-gia-đa quyết định hành động. Ông thoả thuận với các viên chỉ huy hàng trăm quân: A-xa-ria, con Giô-ram, Ích-ma-ên, con Giê-hô-ha-nan, A-xa-ria, con Ô-bết, Ma-a-sê-gia con A-đai-gia, và Ê-li-sa-phát, con Xích-ri.
2CH 23:2 Họ đi khắp Giu-đa tập họp các người Lê-vi từ các thị trấn, và triệu tập các trưởng gia đình trong Ít-ra-en rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
2CH 23:3 Toàn thể dân chúng lập giao ước với vua trong đền thờ của Thượng Đế. Giê-hô-gia-đa bảo họ, “Con trai vua sẽ trị vì, theo như CHÚA hứa cùng các con cháu Đa-vít.
2CH 23:4 Bây giờ các ngươi phải làm như sau: Các thầy tế lễ và người Lê-vi lên phiên vào ngày Sa-bát. Một phần ba trong các ngươi sẽ lo việc giữ cửa.
2CH 23:5 Một phần ba sẽ có mặt trong cung vua, và một phần ba còn lại sẽ có mặt tại Cửa Nền. Còn các người khác sẽ ở trong sân trước của đền thờ CHÚA.
2CH 23:6 Đừng cho ai vào trong đền thờ CHÚA ngoại trừ các thầy tế lễ và người Lê-vi có phận sự. Họ có thể vào vì họ đã dọn mình để phục vụ CHÚA, nhưng các người khác phải lo phần vụ CHÚA giao cho.
2CH 23:7 Các người Lê-vi phải ở gần vua, mỗi người tay cầm khí giới sẵn sàng. Nếu ai tìm cách vào đền thờ thì giết ngay. Hãy ở sát cạnh vua khi vua đi ra và đi vào.”
2CH 23:8 Các người Lê-vi và toàn thể dân Giu-đa vâng theo mọi điều thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa căn dặn. Ông không cho ai trong nhóm các thầy tế lễ được miễn việc. Cho nên mỗi viên chỉ huy mang thuộc hạ của mình lên phiên vào ngày Sa-bát cùng những người xuống phiên trong ngày đó.
2CH 23:9 Giê-hô-gia-đa cấp cho các viên chỉ huy hàng trăm người gươm giáo cùng với các thuẫn lớn và nhỏ của vua Đa-vít đã được cất trong đền thờ Thượng Đế.
2CH 23:10 Rồi Giê-hô-gia-đa dặn mỗi người phải đứng chỗ nào, ai nấy đều phải cầm vũ khí trong tay. Từ phía Nam cho đến phía Bắc đền thờ đều có lính canh giữ. Họ đứng cạnh bàn thờ, trong đền thờ và xung quanh vua.
2CH 23:11 Giê-hô-gia-đa và các con trai ông mang con trai vua ra rồi đội mão triều lên đầu, đồng thời trao cho cậu một bản giao ước. Họ cử cậu làm vua, đổ dầu ô liu trên đầu vua và hô lên, “Vua vạn tuế!”
2CH 23:12 Khi A-tha-lia nghe tiếng ồn ào của dân chúng chạy đến và chúc tụng vua thì bà đi đến đền thờ của CHÚA để xem.
2CH 23:13 Bà nhìn thì thấy vua đang đứng bên cột ngay cửa ra vào. Các sĩ quan và các người thổi kèn đứng bên cạnh vua, và toàn thể dân chúng trong xứ rất hân hoan và thổi kèn ầm ĩ. Các nhạc sĩ chơi nhạc khí và hướng dẫn ca hát. A-tha-lia liền xé quần áo mình và la lên, “Phản loạn! Phản loạn!”
2CH 23:14 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa sai các viên chỉ huy hàng trăm người tức những người chỉ huy quân đội. Ông bảo, “Hãy cho binh sĩ vây quanh bà và mang bà ra khỏi khu vực đền thờ. Ai đi theo bà thì hãy dùng gươm mà giết.” Ông đã dặn, “Không nên giết bà trong đền thờ CHÚA.”
2CH 23:15 Vậy họ bắt bà khi bà đi vào cửa nơi Cổng Ngựa gần cung điện. Rồi họ giết bà tại đó.
2CH 23:16 Sau đó thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lập ước với dân chúng và vua rằng họ sẽ làm dân đặc biệt của Chúa.
2CH 23:17 Tất cả dân chúng đi đến đền thờ Ba-anh và phá sập nó, đập bể các bàn thờ và hình tượng. Họ giết Mát-tan, thầy tế lễ của Ba-anh, trước mặt bàn thờ.
2CH 23:18 Rồi Giê-hô-gia-đa chọn các thầy tế lễ là những người Lê-vi để lo cho đền thờ CHÚA. Đa-vít đã giao cho họ nhiệm vụ trong đền thờ CHÚA. Họ phải dâng của lễ thiêu cho CHÚA theo như Lời Giáo Huấn của Mô-se, và họ phải dâng các của lễ đó trong niềm hân hoan và ca hát theo như Đa-vít đã truyền.
2CH 23:19 Giê-hô-gia-đa đặt các lính gác ở các cổng đền thờ CHÚA để ai không tinh sạch thì không được vào.
2CH 23:20 Giê-hô-gia-đa cùng với các viên chỉ huy hàng trăm người, các người quí tộc, các quan cai trị dân chúng, và toàn thể dân chúng trong xứ đưa vua ra khỏi đền thờ CHÚA. Họ đi qua Cổng Trên để đi vào cung, rồi đặt vua ngồi lên ngôi.
2CH 23:21 Tất cả dân chúng rất vui mừng, Giê-ru-sa-lem hưởng thái bình vì A-tha-lia đã bị chết chém.
2CH 24:1 Giô-ách được bảy tuổi khi lên ngôi vua và trị vì bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Xi-bia, gốc ở Bê-e-sê-ba.
2CH 24:2 Giô-ách làm điều thiện theo mắt CHÚA trong suốt thời gian thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống.
2CH 24:3 Giê-hô-gia-đa chọn hai vợ cho Giô-ách. Giô-ách sinh con trai và con gái.
2CH 24:4 Sau đó, Giô-ách quyết định sửa sang đền thờ CHÚA.
2CH 24:5 Ông gọi các thầy tế lễ và người Lê-vi lại bảo, “Hãy đi đến các thị trấn Giu-đa và thu góp tiền thuế mọi người Ít-ra-en phải đóng hằng năm. Dùng tiền đó sửa chữa đền thờ của Thượng Đế các ngươi. Hãy làm ngay.” Nhưng người Lê-vi không thi hành liền.
2CH 24:6 Vì thế vua Giô-ách gọi thầy tế lễ cả Giê-hô-gia-đa lại hỏi, “Sao ông không bảo người Lê-vi mang thuế từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem vào theo như Mô-se, tôi tớ CHÚA, và dân Ít-ra-en đã ấn định để dùng cho Lều Thánh?”
2CH 24:7 Trước kia các con trai của bà A-tha-lia gian ác đã lẻn vào đền thờ Thượng Đế lấy các vật thánh trong đó để thờ phụng các thần tượng Ba-anh.
2CH 24:8 Vua Giô-ách ra lệnh làm một cái hộp dâng hiến. Họ đặt hộp đó bên ngoài nơi cửa vào đền thờ CHÚA.
2CH 24:9 Rồi người Lê-vi loan báo trong Giu-đa và Giê-ru-sa-lem cho dân chúng mang đến cho CHÚA số tiền thuế mà Mô-se, tôi tớ của Thượng Đế đã qui định cho tất cả người Ít-ra-en trong khi họ đang lưu lạc trong sa mạc.
2CH 24:10 Tất cả các viên chức và dân chúng rất hân hoan mang tiền bỏ vào trong hộp cho đến khi hộp đầy ắp.
2CH 24:11 Khi người Lê-vi mang hộp vào trình với các viên chức của vua thì họ thấy hộp đầy tiền. Rồi viên đổng lý văn phòng vua và viên phụ tá thầy tế lễ cả đến lấy tiền ra và đặt hộp vào chỗ cũ. Họ thường xuyên làm như vậy cho nên thu được rất nhiều tiền.
2CH 24:12 Vua Giô-ách và thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa giao số tiền đó cho những người làm việc trong đền thờ CHÚA. Họ thuê các thợ đẽo đá, thợ mộc để sửa chữa đền thờ. Họ cũng thuê thợ làm đồ sắt và đồng để tu bổ đền thờ.
2CH 24:13 Họ ra sức làm việc cho nên công tác sửa chữa tiến hành tốt đẹp. Họ sửa chữa đền thờ Thượng Đế giống như trước kia, và còn vững chắc hơn nữa.
2CH 24:14 Sau khi nhân công đã làm xong công tác, họ mang tiền còn lại vào trình cho vua Giô-ách và thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Họ dùng tiền đó để làm các dụng cụ trong đền thờ CHÚA, các dụng cụ dùng trong các nghi lễ nơi đền thờ và của lễ thiêu, các chậu, và các dụng cụ bằng vàng và bạc khác. Các của lễ thiêu được dâng mỗi ngày trong đền thờ CHÚA trong khi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống.
2CH 24:15 Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa về già và sống lâu năm. Khi qua đời ông được một trăm ba mươi tuổi.
2CH 24:16 Ông được chôn cất trong thành Đa-vít cùng với các vua vì ông có công với Ít-ra-en, giúp ích cho Thượng Đế và đền thờ Ngài.
2CH 24:17 Sau khi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa qua đời thì các viên chức trong Giu-đa đến bái lạy vua Giô-ách nên vua nghe theo họ.
2CH 24:18 Vua và các lãnh tụ đó không thờ phụng trong đền thờ CHÚA nữa, tức Thượng Đế của tổ tiên họ. Nhưng họ bắt đầu thờ thần A-sê-ra và các tượng chạm khác. Vì họ làm quấy cho nên CHÚA nổi giận cùng dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2CH 24:19 Mặc dù CHÚA đã sai nhiều nhà tiên tri đến để dẫn họ quay lại cùng Ngài và dù các nhà tiên tri đã cảnh cáo họ nhưng họ nhất định không nghe.
2CH 24:20 Rồi thần linh của Thượng Đế nhập vào Xa-cha-ri, con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Xa-cha-ri đứng trước dân chúng và tuyên bố rằng, “Thượng Đế phán như sau: ‘Tại sao các ngươi không vâng theo mệnh lệnh CHÚA? Các ngươi sẽ không may mắn đâu. Vì các ngươi đã bỏ CHÚA, nên Ngài cũng đã bỏ các ngươi.’”
2CH 24:21 Nhưng vua và các viên chức âm mưu giết hại Xa-cha-ri. Vua ra lệnh ném đá ông ngay trong sân đền thờ của CHÚA cho đến khi ông chết.
2CH 24:22 Vua Giô-ách không nhớ lại lòng nhân từ của Giê-hô-gia-đa đối cùng mình mà nhẫn tâm giết Xa-cha-ri, con của Giê-hô-gia-đa. Trước khi chết Xa-cha-ri nói, “Nguyện CHÚA thấy điều vua làm và trừng phạt vua.”
2CH 24:23 Đến cuối năm, đạo quân A-ram kéo đến đánh Giô-ách. Chúng tấn công Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết hết các lãnh tụ của dân chúng và mang tất cả các vật quí sang cho vua mình ở Đa-mách.
2CH 24:24 Quân A-ram chỉ phái đến có một toán quân rất nhỏ nhưng CHÚA trao vào tay họ một đạo quân rất đông của Giu-đa vì dân Giu-đa đã lìa bỏ CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình, nên Giô-ách bị trừng phạt.
2CH 24:25 Sau khi quân A-ram rút lui thì Giô-ách bị thương nặng. Các sĩ quan của vua âm mưu ám hại vua vì vua đã giết Xa-cha-ri, con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Vậy họ giết Giô-ách ngay trên giường vua. Ông chết và được chôn trong thành Đa-vít nhưng không được nằm trong mộ dành cho các vua.
2CH 24:26 Các sĩ quan âm mưu chống vua Giô-ách là Giô-xa-bát và Giê-hô-xa-bát. Giô-xa-bát là con Si-mê-át, người Am-môn. Còn Giê-hô-xa-bát là con của Sim-rít, người Mô-áp.
2CH 24:27 Lịch sử của các con trai Giô-ách, những lời tiên tri quan trọng nghịch lại ông, việc ông sửa chữa đền thờ Thượng Đế ra sao đều được ghi vào sử ký các vua. Rồi A-ma-xia, con trai Giô-ách lên nối ngôi.
2CH 25:1 A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên Giê-hô-a-đinh, quê quán ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 25:2 A-ma-xia làm điều phải trước mặt CHÚA nhưng không hết lòng theo Ngài.
2CH 25:3 Vừa khi củng cố được quyền cai trị trên nước thì A-ma-xia liền xử tử tất cả những sĩ quan đã giết cha mình.
2CH 25:4 Nhưng A-ma-xia không giết con cái họ. Ông làm đúng theo Sách của Mô-se trong đó CHÚA truyền rằng, “Cha mẹ không thể bị xử tử vì tội của con cái và con cái cũng không thể bị xử tử vì tội của cha mẹ. Ai làm tội thì người đó phải chết.”
2CH 25:5 A-ma-xia triệu tập dân Giu-đa lại. Vua chia dân Giu-đa và Bên-gia-min theo gia đình, rồi đặt các viên chỉ huy hàng ngàn và hàng trăm trên họ. Vua kiểm điểm những trai tráng từ hai mươi tuổi trở lên. Có tất cả ba trăm ngàn chiến sĩ sẵn sàng tác chiến bằng gươm và thuẫn.
2CH 25:6 A-ma-xia cũng thuê một trăm ngàn chiến sĩ từ Ít-ra-en với giá ba ngàn bốn trăm năm mươi kí bạc.
2CH 25:7 Nhưng có một người của Thượng Đế sai đến nói với A-ma-xia rằng, “Thưa vua, không nên để quân Ít-ra-en đi ra trận với vua. CHÚA không có ở cùng Ít-ra-en hay dân cư thuộc chi tộc Ép-ra-im.
2CH 25:8 Vua có thể củng cố sức mạnh để ra trận nhưng Thượng Đế sẽ đánh bại vua. Ngài có quyền giúp vua và có quyền đánh bại vua.”
2CH 25:9 A-ma-xia hỏi người của Thượng Đế, “Chớ còn bảy ngàn năm trăm cân bạc mà ta trả cho đạo quân Ít-ra-en thì sao?” Người của Thượng Đế đáp, “CHÚA có thể ban lại cho vua nhiều hơn số ấy nữa.”
2CH 25:10 Vì thế A-ma-xia cho quân Ít-ra-en trở về Ép-ra-im. Họ rất tức giận với dân Giu-đa. Họ đi về mà trong lòng căm phẫn.
2CH 25:11 A-ma-xia trở nên can đảm và hướng dẫn quân lực mình đến Thung lũng Muối trong xứ Ê-đôm. Ở đó quân lực của A-ma-xia giết mười ngàn người Ê-đôm.
2CH 25:12 Đạo quân của Giu-đa cũng bắt được mười ngàn người rồi mang họ lên đỉnh ghềnh đá cao và xô họ xuống chết tan xác.
2CH 25:13 Trong khi đó toán quân Ít-ra-en mà vua A-ma-xia không cho ra trận với mình đi cướp phá các thị trấn ở Giu-đa. Từ Xa-ma-ri cho đến Bết-Hô-rôn họ giết ba ngàn người và đoạt nhiều của cải.
2CH 25:14 A-ma-xia trở về sau khi đã đánh thắng quân Ê-đôm, vua mang về nhiều thần tượng mà họ thờ rồi chính vua cũng bắt đầu bái lạy các thần đó. Vua cúi lạy trước các tượng và dâng của lễ cho chúng.
2CH 25:15 CHÚA nổi giận cùng A-ma-xia cho nên Ngài sai một nhà tiên tri đến nói với vua rằng, “Tại sao vua nhờ các thần khác giúp mình? Chúng nó còn không đủ sức cứu dân chúng nó khỏi tay vua nữa là!”
2CH 25:16 Đang khi nhà tiên tri đang nói thì A-ma-xia bảo, “Ai giao cho anh nhiệm vụ cố vấn cho vua? Câm miệng đi nếu không là mất mạng đó.” Nhà tiên tri liền im tiếng nhưng nói thêm, “Tôi biết Thượng Đế nhất định tiêu diệt vua vì vua đã làm điều nầy. Vua không thèm nghe lời khuyên của tôi.”
2CH 25:17 A-ma-xia, vua Giu-đa tham khảo ý kiến các cố vấn rồi gởi thư cho Giô-ách con trai Giô-A-cha, cháu Giê-hu, vua Ít-ra-en. A-ma-xia nói với Giô-ách, “Mời vua đến. Chúng ta hãy đối đầu nhau.”
2CH 25:18 Giô-ách, vua Ít-ra-en, trả lời cho A-ma-xia, vua Giu-đa, rằng, “Bụi gai ở Li-băng nhắn với cây hương nam ở Li-băng như sau ‘Hãy cho con gái anh lấy con trai tôi.’ Nhưng một con thú rừng của Li-băng đi ngang liền chà đạp lên bụi gai.
2CH 25:19 Vua nghĩ mình đã đánh thắng Ê-đôm, bây giờ đâm ra tự phụ và huênh hoang. Nhưng hãy ở yên nơi nhà mình đi! Đừng kiếm chuyện lôi thôi, nếu không, vua và cả Giu-đa sẽ bị thảm bại đó.”
2CH 25:20 Nhưng A-ma-xia không thèm nghe. Thượng Đế đã tạo ra chuyện nầy để Giô-ách đánh bại Giu-đa vì Giu-đa đã cầu xin các thần của Ê-đôm giúp mình.
2CH 25:21 Vậy Giô-ách vua Ít-ra-en kéo quân ra tấn công. Ông và A-ma-xia, vua Giu-đa, xáp chiến nhau ở Bết-Sê-mết thuộc Giu-đa.
2CH 25:22 Quân Ít-ra-en đánh bại quân Giu-đa. Ai nấy ở Giu-đa đều chạy trốn về nhà mình.
2CH 25:23 Ở Bết Sê-mết, Giô-ách, vua Ít-ra-en, bắt được A-ma-xia, vua Giu-đa. A-ma-xia là con Giô-ách, cháu A-cha-xia. Rồi Giô-ách mang vua về Giê-ru-sa-lem. Giô-ách phá sập vách thành Giê-ru-sa-lem từ cổng Ép-ra-im cho đến Cổng Góc, dài khoảng hai trăm thước.
2CH 25:24 Vua cũng lấy hết vàng bạc và các vật dụng trong đền thờ Thượng Đế mà Ô-bết Ê-đôm đã gìn giữ. Ông cũng cướp hết các kho báu trong cung vua và bắt một số con tin. Rồi ông trở về Xa-ma-ri.
2CH 25:25 A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa sống thêm mười lăm năm sau khi Giô-ách, con Giô-a-cha, vua Ít-ra-en qua đời.
2CH 25:26 Các việc khác vua A-ma-xia làm từ đầu đến cuối đều được ghi trong sách các vua Giu-đa và Ít-ra-en.
2CH 25:27 Từ lúc A-ma-xia không còn vâng theo CHÚA nữa thì một số người ở Giê-ru-sa-lem lập mưu phản ông. Vua chạy trốn đến La-kích, nhưng dân chúng cho người đuổi theo vua đến La-kích và giết vua tại đó.
2CH 25:28 Họ chở xác vua về trên lưng ngựa. Vua được chôn chung với các tổ tiên mình ở thành Đa-vít.
2CH 26:1 Rồi toàn dân Giu-đa lập Ô-xia làm vua thế cho cha ông là A-ma-xia. Lúc đó Ô-xia mới mười sáu tuổi.
2CH 26:2 Ông cho xây lại thị trấn Ê-lát và sáp nhập nó vào Giu-đa trở lại sau khi A-ma-xia qua đời.
2CH 26:3 Ô-xia được mười sáu tuổi khi lên ngôi vua và trị vì năm mươi hai năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Giê-cô-lia, quê quán ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 26:4 Vua làm điều phải trước mặt CHÚA như A-ma-xia cha mình đã làm.
2CH 26:5 Ô-xia vâng lời Thượng Đế trong khi Xa-cha-ri còn sống vì ông dạy cho Ô-xia biết kính sợ và vâng phục Thượng Đế. Bao lâu mà Ô-xia vâng lời CHÚA thì Ngài ban cho ông thành công.
2CH 26:6 Ô-xia đánh nhau với dân Phi-li-tin. Vua phá sập các vách tường quanh các thị trấn Gát, Giáp-nê, và Ách-đốt đồng thời xây các thị trấn mới gần Ách-đốt và các nơi khác trong xứ Phi-li-tin.
2CH 26:7 Thượng Đế giúp Ô-xia đánh dân Phi-li-tin, dân Á-rập sống ở Gu-rơ Ba-anh, và người Mê-u-nít.
2CH 26:8 Ngoài ra dân Am-môn đóng triều cống theo như Ô-xia đòi. Vua rất hùng mạnh cho nên danh tiếng vua vang đến tận biên giới Ai-cập.
2CH 26:9 Ô-xia xây các tháp canh ở Giê-ru-sa-lem nơi Cổng Góc, Cổng Thung lũng và nơi góc vách vua xây thật chắc.
2CH 26:10 Vua cũng xây các tháp trong sa mạc và đào nhiều giếng vì vua có vô số gia súc trên các sườn đồi và trong vùng bình nguyên. Vua đặt người làm ruộng và trồng vườn nho của vua trên đồi và trong vùng đất phì nhiêu vì vua rất thích trồng trọt.
2CH 26:11 Ô-xia có một đạo quân gồm các binh sĩ thiện chiến. Họ được kiểm kê và chia thành nhóm do Giê-i-ên, thư ký vua và Ma-a-sê-gia thực hiện. Ha-na-nia, một trong các sĩ quan chỉ huy của vua lãnh đạo họ.
2CH 26:12 Có hai ngàn sáu trăm sĩ quan chỉ huy các quân sĩ.
2CH 26:13 Họ chỉ huy một đạo quân gồm ba trăm lẻ bảy ngàn năm trăm quân đánh giặc rất hăng say để giúp vua chống quân thù.
2CH 26:14 Ô-xia cấp cho đạo quân mình các thuẫn, giáo, nón sắt, áo giáp, cung tên, và đá sỏi dùng bắn ná.
2CH 26:15 Ở Giê-ru-sa-lem vua cho đóng các vũ khí do các thợ khéo chế tạo. Các vũ khí đó đặt trên các tháp và các góc của vách thành và có thể dùng để bắn tên hay ném các tảng đá to. Vì thế Ô-xia vang danh rất xa vì vua được nhiều người giúp đỡ cho đến khi vua trở thành hùng cường.
2CH 26:16 Nhưng khi Ô-xia trở nên hùng cường thì tính tự phụ của vua khiến vua bại hoại. Vua không còn trung thành với CHÚA là Thượng Đế của mình nữa; vua đi vào đền thờ CHÚA và tự ý đốt hương trên bàn thờ xông hương.
2CH 26:17 A-xa-ria cùng tám mươi thầy tế lễ can đảm khác phục vụ CHÚA đi theo Ô-xia vào đền thờ.
2CH 26:18 Họ cho vua biết vua đã làm sai và bảo, “Vua không có quyền đốt hương cho CHÚA. Chỉ có các thầy tế lễ, con cháu A-rôn mới được làm việc đó mà thôi vì họ đã được biệt riêng ra thánh. Vua phải rời khỏi nơi thánh ngay lập tức. Vua đã không trung tín nên CHÚA là Thượng Đế sẽ không còn tôn trọng vua vì hành động nầy.”
2CH 26:19 Vua Ô-xia đang đứng bên cạnh bàn thờ xông hương trong đền thờ CHÚA, trong tay cầm một lư hương. Vua nổi giận cùng các thầy tế lễ. Trong khi vua đang đứng đối diện với các thầy tế lễ thì trên trán vua bộc phát một chứng bệnh ngoài da.
2CH 26:20 A-xa-ria, thầy tế lễ cả, và các thầy tế lễ khác nhìn thấy bệnh ngoài da nổi lên trên trán vua cho nên họ liền đuổi vua ra khỏi đền thờ. Ô-xia cũng vội vã đi ra vì CHÚA trừng phạt vua.
2CH 26:21 Vậy vua Ô-xia bị bệnh ngoài da cho đến ngày qua đời. Vua cũng phải sống biệt lập tại nhà riêng và không thể vào đền thờ CHÚA được. Giô-tham, con trai vua quản lý cung vua và cai trị dân chúng trong xứ.
2CH 26:22 Các việc khác của vua Ô-xia làm từ đầu đến cuối đều được nhà tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt ghi chép lại.
2CH 26:23 Ô-xia qua đời và được chôn gần tổ tiên mình trong ngôi mộ thuộc về các vua. Họ làm như thế vì dân chúng nói, “Vua mắc bệnh ngoài da.” Giô-tham, con trai vua lên nối ngôi.
2CH 27:1 Giô-tham được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua là Giê-ru-sa, con gái Xa-đốc.
2CH 27:2 Giô-tham làm điều phải trước mặt CHÚA như Ô-xia cha mình đã làm. Nhưng Giô-tham không tự ý vào đền thờ CHÚA như cha mình. Còn dân chúng thì vẫn làm điều ác.
2CH 27:3 Giô-tham xây lại Cổng Trên của đền thờ CHÚA và xây thêm vách ở Ô-phên cho rộng thêm.
2CH 27:4 Vua cũng xây các thị trấn trong vùng núi Giu-đa cùng các thành có vách và các tháp canh trong rừng.
2CH 27:5 Giô-tham cũng đánh vua dân Am-môn và chiến thắng. Cho nên trong ba năm kế tiếp họ nộp triều cống cho Giô-tham gồm ba tấn rưỡi bạc, khoảng 62.000 hộc lúa mì, và khoảng sáu mươi hai ngàn thùng lúa mạch.
2CH 27:6 Giô-tham trở nên hùng mạnh vì vua luôn luôn vâng lời CHÚA là Thượng Đế mình.
2CH 27:7 Các việc khác vua Giô-tham làm trong khi trị vì cùng những chiến công của vua đều được ghi chép trong sử ký các vua Ít-ra-en và Giu-đa.
2CH 27:8 Giô-tham được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 27:9 Giô-tham qua đời và được chôn trong thành Đa-vít. Rồi A-cha, con ông lên nối ngôi.
2CH 28:1 A-cha được hai mươi tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười sáu năm ở Giê-ru-sa-lem. Vua không làm điều thiện trước mặt CHÚA như Đa-vít, tổ tiên mình đã làm.
2CH 28:2 A-cha làm giống như các vua Ít-ra-en đã làm. Vua tạc các hình tượng bằng kim khí để thờ phụng Ba-anh.
2CH 28:3 Vua đốt hương trong Thung Lũng Ben Hin-nôm và thiêu con trai mình làm của lễ. Vua phạm những tội gớm ghiếc như các dân mà CHÚA đã đuổi ra khỏi xứ trước mặt dân Ít-ra-en.
2CH 28:4 Vua A-cha dâng sinh tế và đốt hương ở những nơi thờ các thần ngoại quốc, trên các đồi và dưới mỗi gốc cây xanh.
2CH 28:5 Vì thế CHÚA là Thượng Đế trao A-cha vào tay vua A-ram. Quân A-ram đánh bại A-cha và bắt vô số người Giu-đa làm tù binh đày sang Đa-mách. Ngài cũng trao A-cha vào tay Bê-ca, vua Ít-ra-en. Quân Bê-ca giết vô số quân sĩ của A-cha.
2CH 28:6 Trong một ngày, đạo quân của Bê-ca, con Rê-ma-lia, giết một trăm hai mươi ngàn lính chiến gan dạ của Giu-đa. Bê-ca đánh bại họ vì họ đã lìa bỏ CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 28:7 Xích-ri, một chiến sĩ của Ép-ra-im, giết Ma-a-sê-gia, con trai vua A-cha. Anh cũng giết A-ri-cam, sĩ quan quản lý cung điện, và Ên-ca-na, sĩ quan chỉ huy hàng nhì sau vua.
2CH 28:8 Đạo quân Ít-ra-en bắt hai trăm ngàn thân thuộc mình. Họ cướp đàn bà, con trai, con gái và vô số của báu từ Giu-đa, mang về Xa-ma-ri.
2CH 28:9 Nhưng một nhà tiên tri của CHÚA tên Ô-đết có mặt ở đó. Ông ra đón đạo quân Ít-ra-en khi họ trở về Xa-ma-ri và nói với họ, “CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên các ngươi đã trao Giu-đa vào tay các ngươi vì Ngài giận họ. Nhưng Ngài đã thấy các ngươi giết họ tàn bạo ra sao.
2CH 28:10 Bây giờ các ngươi định bắt đàn ông, đàn bà Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem làm tôi mọi mình, các ngươi đã phạm tội cùng CHÚA là Thượng Đế các ngươi.
2CH 28:11 Bây giờ hãy nghe ta đây. Hãy trả anh chị em mình mà các ngươi đã bắt về vì CHÚA nổi giận cùng các ngươi đó.”
2CH 28:12 Sau đó một số lãnh tụ trong Ép-ra-im, tức A-xa-ria con Giê-hô-ha-nan, Bê-rê-kia, con Mê-si-lê-mốt, Giê-hi-kia con Sa-lum, và A-ma-xa con Hát-lai, đón các chiến sĩ Ít-ra-en khi họ từ mặt trận trở về.
2CH 28:13 Họ cảnh cáo các quân sĩ rằng, “Đừng mang các tù binh Giu-đa vào đây. Nếu không các ngươi sẽ phạm tội cùng CHÚA và sẽ khiến tội lỗi chúng ta thêm nặng. Tội chúng ta đã nặng rồi cho nên CHÚA nổi thịnh nộ cùng Ít-ra-en.”
2CH 28:14 Vì thế các binh sĩ để các tù binh và những đồ quí trước mặt các sĩ quan và dân chúng.
2CH 28:15 Các lãnh tụ có tên trên đây mang các tù binh và cấp quần áo cho những tù binh bị trần truồng mà đạo quân Ít-ra-en đã bắt. Họ cấp cho các tù binh áo quần, giày dép, thức ăn, nước uống, và thuốc thang. Họ đặt những tù binh yếu ớt lên lưng lừa và mang trả về cho gia đình họ ở Giê-ri-cô là thành cây chà là. Rồi họ trở về nhà mình ở Xa-ma-ri.
2CH 28:16 Lúc đó quân Ê-đôm trở lại tấn công Giu-đa và bắt các tù binh. Cho nên vua A-cha cho người sang cầu cứu vua A-xy-ri.
2CH 28:18 Người Phi-li-tin cũng cướp phá các thị trấn trong các bình nguyên phía Tây và sa mạc miền Nam Giu-đa. Chúng chiếm được các thị trấn Bết-Sê-mết, Ai-gia-lôn, Ghê-đê-rốt, Sô-cô, Tim-na, và Ghim-xô, cùng các làng mạc xung quanh. Rồi dân Phi-li-tin vào ở trong các thị trấn đó.
2CH 28:19 CHÚA mang khốn khổ đến cho Giu-đa vì A-cha, vua họ đã dẫn dụ dân chúng phạm tội, và vì vua không trung thành cùng CHÚA.
2CH 28:20 Tiếc-lác Phi-lê-xe, vua A-xy-ri, đến tiếp cứu A-cha nhưng thực ra mang khốn khổ đến cho vua chứ không giúp được gì.
2CH 28:21 Vua A-cha lấy một số đồ quí trong đền thờ CHÚA, từ cung điện vua, từ các hoàng thân dâng cho vua A-xy-ri nhưng vô ích.
2CH 28:22 Trong cơn nguy khốn vua A-cha càng tỏ ra bất trung với CHÚA.
2CH 28:23 Vua dâng sinh tế cho các thần của người Đa-mách, là những người đánh bại mình. Vua nghĩ, “Các thần của các vua A-ram đã giúp đỡ họ. Nếu ta dâng của lễ cho các thần đó, họ sẽ giúp ta.” Nhưng việc đó mang bại hoại đến cho A-cha và toàn dân Ít-ra-en.
2CH 28:24 Vua A-cha gom góp tất cả những đồ dùng trong đền thờ Thượng Đế và đập nát ra. Rồi ông đóng các cửa đền thờ của CHÚA. Ông lập các bàn thờ đặt ở mỗi góc đường trong Giê-ru-sa-lem.
2CH 28:25 Trong mỗi thị trấn Giu-đa, A-cha xây những nơi đốt sinh tế để thờ phụng các thần khác. Vì thế vua chọc giận CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 28:26 Các việc khác vua A-cha làm từ đầu đến cuối đều được ghi trong sách các vua Giu-đa và Ít-ra-en.
2CH 28:27 A-cha qua đời và được chôn trong thành Giê-ru-sa-lem nhưng không được nằm chung trong mộ dành cho các vua Ít-ra-en. Ê-xê-chia, con trai vua lên nối ngôi.
2CH 29:1 Ê-xê-chia được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.
2CH 29:2 Ê-xê-chia làm điều phải trước mặt CHÚA, như Đa-vít, tổ tiên mình đã làm.
2CH 29:3 Vào tháng thứ nhất năm đầu khi lên ngôi vua Ê-xê-chia mở các cửa đền thờ CHÚA và sửa sang lại.
2CH 29:4 Ê-xê-chia mang các thầy tế lễ và người Lê-vi vào và tập họp họ trong sân phía Đông đền thờ.
2CH 29:5 Ê-xê-chia nói, “Hỡi các người Lê-vi, hãy nghe ta. Hãy dọn mình sẵn sàng phục vụ Chúa, và thánh hóa đền thờ CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các ngươi. Hãy dẹp bỏ những gì khiến đền thờ không tinh sạch.
2CH 29:6 Tổ tiên chúng ta đã không trung thành với Thượng Đế và làm điều ác trước mặt CHÚA. Họ lìa bỏ Ngài và không thờ phụng trong đền thờ nơi Ngài ngự. Họ gạt bỏ Ngài.
2CH 29:7 Họ đóng các cửa của cổng vào đền thờ, và không thắp đèn. Họ không đốt hương và dâng của lễ thiêu trong nơi thánh cho Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 29:8 CHÚA rất tức giận dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem nên trừng phạt họ. Những dân khác thấy vậy đâm ra sợ hãi và kinh hoàng vì những điều Ngài làm cho họ. Vì thế họ sỉ nhục dân Giu-đa. Các ngươi cũng biết quả đúng như vậy.
2CH 29:9 Vì vậy mà tổ tiên chúng ta bị giết trong chiến trận và con trai, con gái, cùng vợ chúng ta bị bắt làm tù binh.
2CH 29:10 Bây giờ, ta, Ê-xê-chia, quyết định lập giao ước với CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, để Ngài không còn nổi giận cùng chúng ta nữa.
2CH 29:11 Các con ơi, đừng phí thì giờ nữa. CHÚA đã chọn các con đứng trước mặt Ngài, phục vụ và làm tôi tớ Ngài đồng thời để đốt hương cho Ngài.”
2CH 29:12 Sau đây là những người Lê-vi bắt tay vào việc. Từ gia đình Cô-hát có Ma-hát, con A-ma-xai và Giô-ên, con trai A-xa-ria. Từ gia đình Mê-ra-ri có Kích, con Áp-đi, và A-xa-ria, con Giê-ha-lê-lên. Từ gia đình Ghẹt-sôn có Giô-a con Xim-ma và Ê-đen con Giô-a.
2CH 29:13 Từ gia đình Ê-li-xa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên. Từ gia đình A-sáp có Xa-cha-ri và Mát-ta-nia.
2CH 29:14 Từ gia đình Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i. Từ gia đình Giê-đu-thun có Sê-mai-gia và U-xi-ên.
2CH 29:15 Những người Lê-vi nầy triệu tập anh em mình lại và dọn mình ra thánh để phục vụ trong đền thờ. Rồi họ đi vào đền thờ của CHÚA để dọn sạch sẽ. Họ vâng mệnh lệnh vua ban ra từ CHÚA.
2CH 29:16 Khi các thầy tế lễ đi vào đền thờ CHÚA để dọn sạch sẽ thì họ mang ra những vật không tinh sạch họ tìm thấy trong đền thờ CHÚA và để ở sân đền thờ. Rồi người Lê-vi mang những món đó đi xuống Thung lũng Kít-rôn.
2CH 29:17 Họ bắt đầu dọn sạch sẽ để thánh hoá đền thờ sẵn sàng cho việc thờ kính CHÚA vào ngày một tháng giêng. Vào ngày tám tháng ấy, họ đến cổng đền thờ, và trong tám ngày sau đó họ thánh hoá đền thờ CHÚA. Vậy công việc dọn dẹp hoàn tất vào ngày mười sáu tháng giêng.
2CH 29:18 Sau đó họ đến trình với vua Ê-xê-chia rằng, “Chúng tôi đã dọn sạch toàn thể đền thờ CHÚA, từ bàn thờ để dâng của lễ thiêu và các dụng cụ, cho đến cái bàn để chưng bày bánh thánh cùng các dụng cụ trên bàn.
2CH 29:19 Khi A-cha còn làm vua, ông đã không trung thành với Thượng Đế và lấy một số đồ dùng trong đền thờ. Nhưng chúng tôi đã để các món đó lại, thánh hóa các món ấy cho CHÚA. Bây giờ các món đó đang ở trước bàn thờ Chúa.”
2CH 29:20 Sáng sớm hôm sau vua Ê-xê-chia triệu tập các lãnh tụ của thành phố lại và cùng họ đi lên đền thờ CHÚA.
2CH 29:21 Họ mang bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con và bảy con dê đực. Những con thú ấy dùng làm của lễ tẩy sạch quốc gia, nơi thờ phụng và dân chúng Giu-đa. Vua Ê-xê-chia ra lệnh cho các thầy tế lễ, con cháu A-rôn dâng các con thú ấy trên bàn thờ Chúa.
2CH 29:22 Vậy các thầy tế lễ giết các con bò đực rồi rưới huyết chúng trên bàn thờ. Họ giết các con chiên rồi rưới huyết chúng trên bàn thờ.
2CH 29:23 Sau đó các thầy tế lễ mang các con dê đực để chuộc tội đến trước mặt vua và cả dân chúng tại đó. Sau khi vua và dân chúng đặt tay trên các con dê,
2CH 29:24 thì các thầy tế lễ giết chúng. Họ dùng huyết dê làm của lễ trên bàn thờ để chuộc tội cho dân Ít-ra-en theo như vua truyền dặn. Vua đã nói rằng phải dâng của lễ thiêu và của lễ chuộc tội cho cả dân Ít-ra-en.
2CH 29:25 Vua Ê-xê-chia đặt những người Lê-vi trong đền thờ CHÚA dùng những chập chỏa, đờn cầm, đờn sắt, theo như Đa-vít, Gát, và Na-than đã truyền dặn. Gát là nhà tiên kiến cho vua, còn Na-than là nhà tiên tri. Mệnh lệnh đó do CHÚA truyền qua các nhà tiên tri của Ngài.
2CH 29:26 Vậy người Lê-vi đứng sẵn sàng với các nhạc khí của Đa-vít, và các thầy tế lễ cũng cầm kèn sẵn sàng.
2CH 29:27 Rồi vua Ê-xê-chia ra lệnh dâng của lễ thiêu trên bàn thờ. Khi của lễ thiêu bắt đầu dâng thì những bài ca cho CHÚA cũng trỗi lên. Kèn thổi, các nhạc khí của Đa-vít, vua Ít-ra-en, cũng trỗi lên.
2CH 29:28 Tất cả dân chúng cúi xuống bái lạy, các ca sĩ hát, kèn thổi trỗi lên cho đến khi của lễ thiêu được dâng xong.
2CH 29:29 Sau khi các sinh tế đã được dâng xong thì vua Ê-xê-chia và mọi người có mặt với vua đều cúi xuống bái lạy.
2CH 29:30 Vua Ê-xê-chia và các sĩ quan của vua ra lệnh cho người Lê-vi ca ngợi CHÚA, dùng những lời mà Đa-vít và A-sáp, nhà tiên kiến đã dùng. Vậy họ hớn hở ca ngợi Thượng Đế và cúi xuống bái lạy.
2CH 29:31 Rồi vua Ê-xê-chia bảo, “Bây giờ các ngươi là người Giu-đa đã được chỉ định để phục vụ CHÚA, hãy đến gần đền thờ Ngài. Hãy mang sinh tế và của lễ để tỏ lòng cảm tạ CHÚA.” Vậy dân chúng mang sinh tế và của lễ cảm tạ, và người nào vui lòng đều mang của lễ thiêu đến.
2CH 29:32 Về của lễ thiêu họ mang tổng cộng bảy mươi con bò đực, một trăm con chiên đực, hai trăm chiên con; tất cả các con thú đó đều được dâng làm của lễ thiêu cho CHÚA.
2CH 29:33 Các của lễ dâng hiến tổng cộng 600 con bò đực và ba ngàn con chiên và dê.
2CH 29:34 Vì không có đủ số thầy tế lễ để lột da tất cả các con thú dâng làm của lễ thiêu nên các thân nhân họ là người Lê-vi phải tiếp tay cho đến khi xong công tác và cho đến khi các thầy tế lễ khác được thánh hóa. Các người Lê-vi rất thận trọng trong việc dọn mình ra thánh để phục vụ CHÚA hơn cả các thầy tế lễ nữa.
2CH 29:35 Có vô số của lễ thiêu, cùng với mỡ trong của lễ thân hữu và của lễ uống. Cho nên việc thờ phụng trong đền thờ CHÚA bắt đầu trở lại.
2CH 29:36 Vua Ê-xê-chia và dân chúng rất hân hoan vì Thượng Đế đã khiến việc ấy xảy ra mau chóng.
2CH 30:1 Vua Ê-xê-chia thông báo cho toàn dân Ít-ra-en và Giu-đa, vua cũng gởi thơ cho Ép-ra-im và Ma-na-xe. Ê-xê-chia mời họ đến đền thờ CHÚA ở Giê-ru-sa-lem để kỷ niệm Lễ Vượt Qua cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 30:2 Vua Ê-xê-chia, các sĩ quan, và toàn dân cư Giê-ru-sa-lem đồng ý kỷ niệm Lễ Vượt Qua vào tháng hai.
2CH 30:3 Họ không thể kỷ niệm lễ ấy vào thời gian bình thường vì không đủ số thầy tế lễ dọn mình sẵn sàng phục vụ CHÚA, và dân chúng chưa tề tựu về Giê-ru-sa-lem kịp.
2CH 30:4 Chương trình đó hợp ý vua Ê-xê-chia và toàn dân.
2CH 30:5 Vì vậy họ loan báo khắp nơi trong Ít-ra-en, từ Bê-e-sê-ba cho đến Đan, cho dân chúng biết để đến Giê-ru-sa-lem kỷ niệm Lễ Vượt Qua cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en. Từ lâu lắm hầu hết dân chúng chưa kỷ niệm Lễ Vượt Qua theo như luật lệ qui định.
2CH 30:6 Theo lệnh vua, các sứ giả mang thư vua và các sĩ quan đi đến khắp xứ Ít-ra-en và Giu-đa. Thư viết như sau: “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy trở lại cùng CHÚA, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác, và Ít-ra-en thì Thượng Đế sẽ trở lại cùng các ngươi là những người còn sống sót, đã thoát khỏi tay các vua A-xy-ri.
2CH 30:7 Đừng như tổ tiên hay thân nhân các ngươi. Họ chống nghịch CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình, cho nên Ngài khiến các dân khác gớm ghét họ. Các ngươi biết rõ chuyện nầy.
2CH 30:8 Đừng ương ngạnh như tổ tiên các ngươi mà hãy sẵn lòng vâng phục CHÚA. Hãy đến đền thờ mà Ngài đã biệt ra thánh đời đời. Hãy phục vụ CHÚA là Thượng Đế ngươi để Ngài không còn nổi giận cùng các ngươi nữa.
2CH 30:9 Hãy trở về cùng Thượng Đế thì những kẻ đã bắt các thân nhân và con cháu các ngươi sẽ tỏ lòng nhân từ cùng họ và sẽ cho phép họ trở về xứ nầy. CHÚA là Thượng Đế các ngươi rất nhân từ và giàu lòng thương xót. Ngài sẽ không ngoảnh mặt khỏi các ngươi nếu các ngươi trở về cùng Ngài.”
2CH 30:10 Các sứ giả đi khắp các thị trấn trong Ép-ra-im và Ma-na-xe, suốt đến Xê-bu-lôn, nhưng dân chúng chế nhạo và chê cười họ.
2CH 30:11 Tuy nhiên một số người từ A-se, Ma-na-xe, và Xê-bu-lôn ăn năn về những điều họ làm và đi đến Giê-ru-sa-lem.
2CH 30:12 Thượng Đế kết hợp tất cả dân Giu-đa chịu vâng lời vua Ê-xê-chia và các sĩ quan, vì mệnh lệnh của họ đến từ CHÚA.
2CH 30:13 Vào tháng hai thì một số đông dân chúng tề tựu về Giê-ru-sa-lem để kỷ niệm Lễ Bánh Không Men.
2CH 30:14 Dân chúng tháo bỏ các bàn thờ và các bàn thờ xông hương cho các thần khác ở Giê-ru-sa-lem rồi ném xuống Thung lũng Kít-rôn.
2CH 30:15 Họ giết con chiên con của Lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng hai. Các thầy tế lễ và người Lê-vi cảm thấy xấu hổ nên họ dọn mình ra thánh và mang của lễ thiêu vào đền thờ CHÚA.
2CH 30:16 Họ trở lại vai trò thường xuyên của mình trong đền thờ theo như Lời Giáo Huấn của Mô-se, người của Thượng Đế, đã truyền dặn. Người Lê-vi trao huyết của con sinh tế cho thầy tế lễ để rưới lên bàn thờ.
2CH 30:17 Vì nhiều người trong quần chúng chưa dọn mình ra thánh, cho nên người Lê-vi giết các con chiên con của Lễ Vượt Qua cho người nào chưa tinh sạch. Người Lê-vi biệt riêng mỗi con chiên con ra thánh cho CHÚA.
2CH 30:18 Mặc dù dân chúng từ Ép-ra-im, Ma-na-xe, Y-xa-ca, và Xê-bu-lôn chưa dọn mình cho sạch để dự lễ, họ vẫn ăn Lễ Vượt Qua tuy rằng làm như thế là trái luật. Cho nên vua Ê-xê-chia cầu thay cho họ rằng, “Lạy CHÚA, Ngài là Đấng nhân từ. Ngài là CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên chúng tôi. Xin tha thứ cho tất cả những ai cố gắng vâng theo Ngài mặc dù họ chưa dọn mình cho sạch theo qui tắc của đền thờ.”
2CH 30:20 CHÚA nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia, nên Ngài chữa lành dân chúng.
2CH 30:21 Dân Ít-ra-en ở Giê-ru-sa-lem kỷ niệm Lễ Bánh Không Men trong bảy ngày với niềm hân hoan trong CHÚA. Mỗi ngày người Lê-vi và các thầy tế lễ chơi nhạc vang lừng để ca ngợi CHÚA.
2CH 30:22 Vua Ê-xê-chia khuyến khích các người Lê-vi nào tỏ ra hiểu cách phục vụ CHÚA. Dân chúng ăn lễ trong bảy ngày, dâng của lễ thân hữu, và ca ngợi CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên họ.
2CH 30:23 Rồi mọi người đồng ý ở lại thêm bảy ngày nữa, cho nên họ hân hoan kỷ niệm thêm bảy ngày nữa.
2CH 30:24 Ê-xê-chia, vua Giu-đa cấp cho dân chúng một ngàn con bò đực và bảy ngàn con chiên. Các sĩ quan cũng dâng một ngàn con bò đực và mười ngàn con chiên. Vô số thầy tế lễ tự dọn mình ra thánh.
2CH 30:25 Tất cả dân Giu-đa, các thầy tế lễ, người Lê-vi, mọi người đến từ Ít-ra-en, người ngoại quốc sống trong xứ Ít-ra-en và Giu-đa đều vô cùng hớn hở.
2CH 30:26 Bầu không khí vui tươi trải khắp Giê-ru-sa-lem vì từ thời Sô-lô-môn, con Đa-vít và vua Ít-ra-en, chưa hề có dịp kỷ niệm như vậy.
2CH 30:27 Các thầy tế lễ và người Lê-vi đứng lên chúc phước cho dân chúng, Thượng Đế nghe họ vì lời cầu nguyện của họ lên thấu đến thiên đàng, nơi Ngài ngự.
2CH 31:1 Khi lễ Vượt Qua đã được kỷ niệm xong thì toàn dân Ít-ra-en trong Giê-ru-sa-lem đi đến các thị trấn trong Giu-đa. Họ đập phá những trụ đá dùng thờ thần ngoại quốc. Họ giật sập các tượng A-sê-ra và phá hủy các bàn thờ và nơi thờ phụng các thần ngoại quốc ở Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im, và Ma-na-xe. Sau khi họ đã tiêu hủy những thứ đó rồi thì dân Ít-ra-en trở về nhà mình.
2CH 31:2 Vua Ê-xê-chia chỉ định các toán thầy tế lễ và người Lê-vi vào các nhiệm vụ đặc biệt. Họ phải dâng của lễ thiêu, của lễ thân hữu, để thờ phụng, và dâng lời cảm tạ cùng ca ngợi nơi cổng của nhà Chúa.
2CH 31:3 Vua Ê-xê-chia dâng một số gia súc của mình làm của lễ thiêu. Các của lễ nầy được dâng mỗi sáng mỗi chiều, vào những ngày Sa-bát, ngày Trăng Mới, và các cuộc lễ khác theo như lời Giáo Huấn của Chúa.
2CH 31:4 Vua Ê-xê-chia truyền cho dân chúng sống ở Giê-ru-sa-lem dâng cho các thầy tế lễ phần thuộc riêng về họ để các thầy tế lễ và người Lê-vi có thể dành trọn thì giờ lo cho việc Giáo Huấn của Chúa.
2CH 31:5 Khi lệnh vua vừa được ban ra cho người Ít-ra-en thì ai nấy đều rộng rãi dâng hiến phần ngũ cốc đầu mùa, rượu mới, dầu, mật ong, và mọi thứ họ trồng trong ruộng nương. Họ mang một số lương rất lớn, một phần mười của mọi thứ.
2CH 31:6 Dân Ít-ra-en và Giu-đa sống trong xứ Giu-đa cũng mang một phần mười gia súc và chiên cừu, một phần mười các vật thánh để dâng cho CHÚA là Thượng Đế mình, và chất thành từng đống.
2CH 31:7 Dân chúng bắt đầu mang đến hàng đống phẩm vật vào tháng ba và đến tháng bảy mới xong.
2CH 31:8 Khi vua Ê-xê-chia và các sĩ quan đến thấy các đống ấy thì ca ngợi CHÚA và dân Ngài, tức dân Ít-ra-en.
2CH 31:9 Vua Ê-xê-chia hỏi các thầy tế lễ và người Lê-vi về các đống đồ ấy.
2CH 31:10 A-xa-ria, thầy tế lễ cả từ gia đình Xa-đốc, thưa với vua, “Từ khi dân chúng bắt đầu mang của lễ dâng hiến đến đền thờ CHÚA, chúng tôi dư ăn và còn thừa lại vì CHÚA đã ban phước cho dân Ngài. Vì thế đây là những đồ dâng hiến còn dư lại.”
2CH 31:11 Sau đó vua Ê-xê-chia ra lệnh chuẩn bị các kho chứa trong đền thờ CHÚA. Thế là lệnh này được thực hiện.
2CH 31:12 Rồi các thầy tế lễ mang vào những của lễ và những vật dâng cho CHÚA cùng một phần mười các thứ dân chúng hiến dâng. Cô-na-nia, người Lê-vi, coi sóc các món nầy, và Si-mê-i, em ông, làm phụ tá.
2CH 31:13 Cô-na-nia và Si-mê-i, em ông, làm trưởng các giám thị sau đây: Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-xa-hên, Giê-ri-mốt, Giô-xa-bát, Ê-li-ên, Ích-ma-kia, Ma-hát, và Bê-nai-gia. Vua Ê-xê-chia và A-xa-ria, viên chức quản lý đền thờ Thượng Đế đã chọn lựa họ.
2CH 31:14 Cô-rê, con Im-na, người Lê-vi phụ trách các lễ vật đặc biệt dân chúng dâng cho Thượng Đế. Ông cũng chịu trách nhiệm phân phát những vật phẩm đóng góp cho CHÚA và các món dâng thánh. Cô-rê là người giữ Cửa Đông.
2CH 31:15 Ê-đen, Mi-ni-a-min, Giê-sua, Sê-mai-gia, A-ma-ria, và Sê-ca-nia phụ giúp Cô-rê trong các thị trấn mà các thầy tế lễ cư ngụ. Họ phân phát số lễ vật thu được cho các nhóm thầy tế lễ khác, không phân biệt già trẻ.
2CH 31:16 Từ số lễ vật đó ấy, họ cũng cấp cho những người thuộc phái nam từ ba tuổi trở lên có tên trong gia phổ của người Lê-vi. Họ phải vào đền thờ CHÚA để lo công việc hằng ngày, mỗi nhóm có nhiệm vụ riêng.
2CH 31:17 Các thầy tế lễ được cấp phần của mình trong số thu được, theo gia đình đã được liệt kê trong gia phổ. Những người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên được cấp phần trong số lễ vật dân chúng đóng góp, dựa theo trách nhiệm của họ và theo nhóm.
2CH 31:18 Các con nhỏ của người Lê-vi, vợ, con trai và con gái cũng được cấp phần trong số thu góp được. Việc cung cấp như thế được thực hiện cho tất cả các người Lê-vi được liệt kê theo gia phổ, vì họ luôn luôn dọn mình sẵn sàng để phục vụ CHÚA.
2CH 31:19 Một số con cháu A-rôn, các thầy tế lễ, sống trong các nông trại gần các thị trấn hay ngay trong thị trấn. Những người thuộc phái nam được chọn theo tên để cấp một phần các lễ vật cho các thầy tế lễ nầy. Tất cả các đàn ông và những ai có tên trong gia phổ của người Lê-vi đều nhận được phần của mình trong số lễ vật.
2CH 31:20 Đó là điều vua Ê-xê-chia làm khắp xứ Giu-đa. Vua làm điều tốt, đúng và vâng lời trước mặt CHÚA là Thượng Đế mình.
2CH 31:21 Ê-xê-chia hết sức vâng lời Thượng Đế trong việc phục vụ đền thờ Ngài, và ông cố gắng vâng theo lời giáo huấn và mệnh lệnh của Thượng Đế. Ông hết lòng lo công việc Thượng Đế cho nên ông rất thành công.
2CH 32:1 Sau khi vua Ê-xê-chia thực hiện các công tác trên để phục vụ CHÚA thì Xê-na-chê-ríp, vua A-xy-ri kéo đến đánh Giu-đa. Ông và đạo quân mình vây và tấn công các thành có vách kiên cố, định chiếm lấy các thành đó cho mình.
2CH 32:2 Vua Ê-xê-chia biết Xê-na-chê-ríp đã kéo đến định tấn công Giê-ru-sa-lem.
2CH 32:3 Vì thế vua Ê-xê-chia, các viên chức và các viên chỉ huy quân đội quyết định cắt đứt đường dẫn nước từ các suối bên ngoài thành phố. Các viên chức và sĩ quan chỉ huy giúp đỡ vua Ê-xê-chia.
2CH 32:4 Nhiều người đến cắt đứt tất cả các suối và nguồn nước chảy qua xứ. Họ bảo, “Khi vua A-xy-ri đến đây sẽ không tìm được chút nước nào.”
2CH 32:5 Sau đó Ê-xê-chia tăng cường thành Giê-ru-sa-lem. Vua xây lại các lỗ thủng trong vách và đặt tháp canh lên trên. Vua cũng xây một vách nữa bên ngoài vách đầu tiên và xây Mi-lô trong thành Đa-vít. Vua cũng làm nhiều vũ khí và thuẫn.
2CH 32:6 Vua Ê-xê-chia đặt các sĩ quan chỉ huy trên dân chúng và gặp họ nơi khu trống gần cửa thành. Ê-xê-chia giục giã họ rằng,
2CH 32:7 “Hãy mạnh dạn và can đảm lên. Đừng sợ hay lo âu về vua A-xy-ri hay lực lượng đông đảo của vua ấy. Đấng ở với chúng ta mạnh hơn lực lượng của chúng nó.
2CH 32:8 Vua đó chỉ có đông người thôi, còn chúng ta có CHÚA là Thượng Đế giúp chúng ta đánh trận.” Dân chúng trở nên can đảm qua lời giục giã của Ê-xê-chia, vua Giu-đa.
2CH 32:9 Trong khi vua Xê-na-chê-ríp của A-xy-ri và các sĩ quan của ông ở La-kích thì ông sai các đầy tớ đến Giê-ru-sa-lem nhắn như sau cho vua Ê-xê-chia của Giu-đa và toàn dân Giu-đa ở Giê-ru-sa-lem:
2CH 32:10 Xê-na-chê-ríp, vua A-xy-ri nói như sau: “Các ngươi chẳng có gì để nhờ cậy được đâu. Các ngươi ở trong Giê-ru-sa-lem khi thành đó bị tấn công thì có ích gì.
2CH 32:11 Ê-xê-chia nói cùng các ngươi, ‘CHÚA là Thượng Đế chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay vua A-xy-ri,’ nhưng ông ta gạt các ngươi đó. Nếu các ngươi còn ở trong Giê-ru-sa-lem các ngươi sẽ chết vì đói và khát.
2CH 32:12 Chính Ê-xê-chia đã tháo gỡ các nơi thờ phụng và bàn thờ của CHÚA các ngươi. Ông ta bảo rằng các ngươi là dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem chỉ được thờ phụng và đốt hương trên một bàn thờ mà thôi.
2CH 32:13 Các ngươi biết điều tổ tiên ta và ta đã làm cho tất cả các dân tộc khác. Thần của các dân đó đâu có giúp họ thoát khỏi quyền lực của ta.
2CH 32:14 Tổ tiên ta đã tiêu diệt các dân tộc đó, không có thần nào của họ có thể cứu họ khỏi tay ta cả. Cho nên thần của các ngươi cũng sẽ không thể nào giải cứu các ngươi khỏi quyền lực của ta đâu.
2CH 32:15 Đừng để Ê-xê-chia phỉnh gạt các ngươi. Đừng tin người. Không có thần của dân hay nước nào đã giải cứu họ khỏi tay ta hay tổ tiên ta cả. Thần các ngươi lại càng không thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta được đâu.”
2CH 32:16 Các sĩ quan của Xê-na-chê-ríp còn buông lời thậm tệ hơn nữa để bêu xấu CHÚA là Thượng Đế cùng tôi tớ Ngài là Ê-xê-chia.
2CH 32:17 Vua Xê-na-chê-ríp cũng viết nhiều thư sỉ nhục CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en. Các thư đó viết nghịch Ngài như sau, “Thần của các dân khác đâu có giải thoát họ khỏi tay ta. Vì thế thần của Ê-xê-chia cũng không làm sao giải thoát các ngươi khỏi tay ta được.”
2CH 32:18 Rồi các sĩ quan của vua kêu lớn lên bằng tiếng Hê-bơ-rơ cho dân Giê-ru-sa-lem ở trên vách thành nghe. Họ muốn làm cho dân chúng hoảng sợ để chiếm thành Giê-ru-sa-lem.
2CH 32:19 Họ nói đến Thượng Đế của Giê-ru-sa-lem như thể Ngài giống như thần của các dân trên thế gian thờ phụng, do tay loài người làm ra.
2CH 32:20 Vua Ê-xê-chia và nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt đã cầu nguyện với trời về điều nầy.
2CH 32:21 Sau đó CHÚA sai một thiên sứ xuống giết tất cả các binh sĩ, cấp lãnh đạo, và sĩ quan trong doanh trại của vua A-xy-ri. Cho nên vua nhục nhã trở về xứ mình. Khi ông vào đền thờ của thần mình để bái lạy thì mấy đứa con ông dùng gươm giết ông chết.
2CH 32:22 Vậy CHÚA giải cứu Ê-xê-chia và dân cư Giê-ru-sa-lem khỏi tay Xê-na-chê-ríp, vua A-xy-ri, và khỏi các dân khác. CHÚA chăm sóc họ đủ mọi mặt.
2CH 32:23 Rất nhiều người mang lễ vật đến cho CHÚA ở Giê-ru-sa-lem và họ cũng mang nhiều lễ vật quí giá biếu Ê-xê-chia, vua Giu-đa. Từ đó về sau tất cả các dân tộc đều kính nể vua Ê-xê-chia.
2CH 32:24 Lúc đó vua Ê-xê-chia lâm bệnh nặng gần chết. Vua cầu nguyện cùng CHÚA thì Ngài phán cùng vua và cho vua một dấu hiệu.
2CH 32:25 Nhưng vua Ê-xê-chia không cảm tạ Thượng Đế về lòng nhân từ Ngài vì vua quá tự phụ. CHÚA nổi giận với vua cùng dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2CH 32:26 Nhưng sau đó vua Ê-xê-chia và toàn dân Giê-ru-sa-lem hối hận, không tự phụ nữa cho nên CHÚA không trừng phạt họ trong khi vua Ê-xê-chia còn sống.
2CH 32:27 Vua Ê-xê-chia có nhiều của cải và danh tiếng. Vua lập nhiều kho chứa bạc, vàng, đá quí, hương liệu, thuẫn, và các vật quí khác.
2CH 32:28 Vua cũng xây các kho chứa ngũ cốc, rượu mới, dầu, và chuồng cho gia súc và ràn cho chiên.
2CH 32:29 Vua cũng xây nhiều thị trấn. Ông có rất nhiều chiên và bò vì Thượng Đế ban cho ông nhiều của cải.
2CH 32:30 Vua Ê-xê-chia là người chận hồ trên của suối Ghi-hôn để cho nước chảy thẳng đến phía Tây của khu cũ trong Giê-ru-sa-lem. Ê-xê-chia thành công trong mọi việc ông làm.
2CH 32:31 Nhưng có lần các nhà lãnh đạo Ba-by-lôn phái các sứ giả đến Ê-xê-chia để hỏi thăm về điềm lạ đã xảy ra trong xứ. Khi họ đến thì Thượng Đế để Ê-xê-chia tự hành động để thử xem những điều có trong lòng ông.
2CH 32:32 Lòng yêu mến Thượng Đế của Ê-xê-chia và các việc khác vua làm đều được chép trong khải tượng của nhà tiên tri Ê-sai, con A-mốt. Khải tượng đó được ghi trong sách các vua Giu-đa và Ít-ra-en.
2CH 32:33 Ê-xê-chia qua đời và được chôn trên một ngọn đồi nơi có mồ mả của con cháu Đa-vít. Tất cả dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem tỏ lòng tôn kính Ê-xê-chia khi vua qua đời. Rồi Ma-na-xe, con trai ông, lên nối ngôi.
2CH 33:1 Ma-na-xe được mười hai tuổi khi lên ngôi vua và trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 33:2 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA. Ông làm những việc ghê tởm như các dân khác đã làm, tức các dân mà CHÚA đã đuổi ra khỏi xứ trước mặt dân Ít-ra-en.
2CH 33:3 Ê-xê-chia, cha Ma-na-xe đã phá hủy những nơi thờ thần tượng nhưng Ma-na-xe cho xây lại. Ông cũng xây bàn thờ cho các thần Ba-anh, dựng lại các trụ thờ thần A-sê-ra cùng bái lạy các chòm sao trên trời và phục vụ chúng.
2CH 33:4 CHÚA đã phán về đền thờ rằng, “Ta sẽ được thờ phụng tại Giê-ru-sa-lem đời đời,” nhưng Ma-na-xe đã xây các bàn thờ ngay trong đền thờ CHÚA.
2CH 33:5 Ông xây các bàn thờ để bái lạy các ngôi sao trong hai sân của đền thờ CHÚA.
2CH 33:6 Ông thiêu con trai mình làm của lễ trong Thung lũng Bên Hin-nôm. Ông dùng ma thuật, đồng bóng, đoán tương lai bằng cách giải điềm và mộng mị. Vua nghe theo các đồng bóng và thầy bói. Ông làm vô số điều ác, chọc giận CHÚA.
2CH 33:7 Ma-na-xe tạc một tượng chạm và đặt trong đền thờ Thượng Đế. Ngài đã phán cùng Đa-vít và Sô-lô-môn, con ông, về đền thờ rằng, “Ta sẽ được thờ phụng đời đời trong đền thờ nầy tại Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn từ trong các chi tộc Ít-ra-en.
2CH 33:8 Ta sẽ không bao giờ bắt dân Ít-ra-en bỏ xứ mà ta đã cấp cho tổ tiên họ. Nhưng họ phải vâng theo mọi điều ta truyền dặn trong các lời giáo huấn, qui tắc, và mệnh lệnh ta truyền qua Mô-se.”
2CH 33:9 Nhưng Ma-na-xe dẫn dụ dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem làm điều ác. Họ làm ác hơn tất cả các dân mà CHÚA đã tiêu diệt trước mặt dân Ít-ra-en.
2CH 33:10 CHÚA phán cùng Ma-na-xe và dân sự ông nhưng họ không nghe.
2CH 33:11 Vì vậy CHÚA đưa các chỉ huy quân đội của vua A-xy-ri đến tấn công Giu-đa. Họ bắt Ma-na-xe, treo móc vào ông, cùm tay ông trong xiềng sắt và giải qua Ba-by-lôn.
2CH 33:12 Trong khi Ma-na-xe đang gặp khốn khó ông liền cầu khẩn CHÚA là Thượng Đế của mình giúp đỡ và hạ mình xuống trước mặt Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 33:13 Khi Ma-na-xe cầu khẩn thì CHÚA nghe và động lòng từ bi đối với ông. Ngài cho ông trở về Giê-ru-sa-lem và phục hồi ngôi vua cho ông. Lúc đó Ma-na-xe nhận biết rằng CHÚA là Thượng Đế thật.
2CH 33:14 Sau đó Ma-na-xe xây lại vách ngoài của thành Giê-ru-sa-lem cho cao hơn. Vách đó nằm trong thung lũng về phía Tây của suối Ghi-hôn và chạy dài đến cửa vào Cổng Cá và bao quanh đồi Ô-phên. Rồi ông đặt các viên chỉ huy trong tất cả các thành có vách kiên cố trong Giu-đa.
2CH 33:15 Ma-na-xe tháo bỏ các thần tượng của các dân khác, luôn cả thần tượng trong đền thờ CHÚA. Ông tháo bỏ các bàn thờ mà ông đã xây trên đồi của đền thờ và trong Giê-ru-sa-lem, ném chúng ra bên ngoài thành phố.
2CH 33:16 Rồi ông lập lại bàn thờ Chúa và dâng sinh tế trên đó gồm của lễ thân hữu và của lễ khác để cảm tạ Thượng Đế. Ma-na-xe truyền cho tất cả dân chúng Giu-đa phải phục vụ CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 33:17 Dân chúng tiếp tục dâng sinh tế ở những nơi thờ phụng nhưng họ chỉ dâng sinh tế cho CHÚA là Thượng Đế của mình mà thôi.
2CH 33:18 Các việc khác Ma-na-xe làm trong khi trị vì, lời cầu nguyện của ông cùng Thượng Đế, và những điều mà các nhà tiên kiến nói với ông nhân danh CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, đều được ghi trong sách lịch sử của các vua Ít-ra-en.
2CH 33:19 Lời cầu nguyện của Ma-na-xe, lòng từ bi của Thượng Đế đối với ông, tội lỗi ông, sự bất trung của ông và những nơi ông xây để thờ phụng tà thần cùng trụ thờ thần A-sê-ra trước khi ông ăn năn đều được ghi trong sách của các nhà tiên kiến.
2CH 33:20 Ma-na-xe qua đời và được chôn trong cung điện mình. A-môn, con trai ông lên nối ngôi.
2CH 33:21 A-môn được hai mươi hai tuổi khi lên ngôi vua và trị vì hai năm tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 33:22 Ông làm điều ác trước mặt CHÚA y như Ma-na-xe cha mình đã làm. A-môn thờ phụng và dâng sinh tế cho tất cả các tượng chạm mà Ma-na-xe đã làm.
2CH 33:23 A-môn không hạ mình xuống trước mặt CHÚA như cha mình đã làm. Ngược lại, A-môn còn phạm tội nhiều hơn nữa.
2CH 33:24 Các sĩ quan của vua A-môn lập mưu phản và giết ông ngay trong cung vua.
2CH 33:25 Tuy nhiên dân chúng xử tử tất cả những người đã âm mưu giết vua A-môn. Sau đó họ lập Giô-xia, con trai A-môn lên nối ngôi.
2CH 34:1 Giô-xia được tám tuổi khi lên ngôi vua và trị vì ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.
2CH 34:2 Ông làm điều phải trước mặt CHÚA. Ông sống y như Đa-vít, tổ tiên mình và luôn luôn làm điều thiện.
2CH 34:3 Vào năm thứ tám sau khi lên ngôi, trong khi hãy còn trẻ tuổi, Giô-xia bắt đầu vâng lời Thượng Đế của tổ tiên mình là Đa-vít. Vào năm thứ mười hai sau khi lên ngôi, Giô-xia bắt đầu phá bỏ khỏi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem những tà thần, những nơi thờ thần trên đỉnh đồi, các trụ thờ thần A-sê-ra, các tượng bằng đá và bằng sắt.
2CH 34:4 Dân chúng kéo sập các bàn thờ của thần Ba-anh theo chỉ thị của Giô-xia. Rồi vua Giô-xia phá sập bàn thờ xông hương nằm phía trên các bàn thờ đó. Ông đốn ngã các trụ thờ thần A-sê-ra, và nghiền ra bụi các tượng bằng gỗ và bằng sắt. Sau đó ông rải các bụi ấy trên các mộ của những kẻ đã dâng sinh tế cho các thần ấy.
2CH 34:5 Ông đốt xương các thầy tế lễ của chúng trên những bàn thờ đó. Vậy Giô-xia diệt trừ hết việc thờ tà thần khỏi Giu-đa, Giê-ru-sa-lem,
2CH 34:6 và khỏi các thị trấn trong vùng Ma-na-xe, Ép-ra-im, Xi-mê-ôn suốt cho đến Nép-ta-li, và các khu vực đổ nát gần các thị trấn ấy.
2CH 34:7 Giô-xia phá sập các bàn thờ, nghiền các trụ thờ thần A-sê-ra ra bụi. Sau khi đập phá các bàn thờ xông hương trong cả Ít-ra-en thì vua trở về Giê-ru-sa-lem.
2CH 34:8 Vào năm thứ mười tám triều đại mình, vua làm cho Giu-đa và đền thờ tinh sạch trở lại. Vua sai Sa-phan, con A-xa-lia, Ma-a-sê-gia, thị trưởng thành phố, và Giô-a con Giô-ách, viên lục sự lo việc sửa chữa đền thờ CHÚA, Thượng Đế của Giô-xia.
2CH 34:9 Họ đến cùng Hinh-kia, thầy tế lễ tối cao trao cho ông số tiền mà những người Lê-vi giữ cửa đã thu được từ dân cư Ma-na-xe, Ép-ra-im, và tất cả dân Ít-ra-en còn sống sót, cùng toàn dân Giu-đa, Bên-gia-min và Giê-ru-sa-lem. Đó là số tiền mà họ đã mang vào đền thờ của Thượng Đế.
2CH 34:10 Rồi người Lê-vi trao tiền đó cho các giám thị lo việc sửa chữa đền thờ CHÚA để họ trả công cho thợ tái thiết và sửa chữa đền thờ.
2CH 34:11 Họ giao tiền cho thợ mộc và thợ xây cất để mua đá đẽo và gỗ. Gỗ thì dùng để xây lại các tòa nhà, bắc các đà ngang vì các vua Giu-đa đã để cho các tòa nhà bị đổ nát.
2CH 34:12 Các thợ thực hiện công tác rất tốt đẹp. Các giám thị họ là Gia-hát và Áp-đia là những người Lê-vi từ họ hàng Mê-ra-ri, và Xa-cha-ri cùng Mê-su-lam, thuộc họ hàng Cô-hát. Các người Lê-vi đó đều là các nhạc sĩ có tài.
2CH 34:13 Họ cũng giám sát các thợ khuân vác và các thợ khác. Một số người Lê-vi làm thư ký, sĩ quan, và giữ cửa.
2CH 34:14 Các người Lê-vi lấy tiền ra từ đền thờ CHÚA. Đang khi họ kiểm điểm thì Hinh-kia, thầy tế lễ tối cao tìm ra được Sách ghi những lời Giáo Huấn của Chúa đã được trao cho Mô-se.
2CH 34:15 Hinh-kia nói với Sa-phan, thư ký hoàng gia rằng, “Tôi đã tìm được Sách Giáo Huấn trong đền thờ CHÚA!” Rồi ông trao sách ấy cho Sa-phan.
2CH 34:16 Sa-phan mang sách đến trình cho vua và báo cáo cùng Giô-xia, “Các viên chức vua đã thi hành mọi điều vua dặn bảo.
2CH 34:17 Họ đã trả tiền thu được trong đền thờ CHÚA cho các đốc công và thợ thuyền.”
2CH 34:18 Rồi Sa-phan, thư ký hoàng gia thưa với vua, “Thầy tế lễ Hinh-kia có trao cho tôi một quyển sách.” Rồi Sa-phan đọc sách đó cho vua nghe.
2CH 34:19 Khi vua vừa nghe những lời trong sách Giáo Huấn liền xé quần áo mình tỏ dấu đau buồn cùng cực.
2CH 34:20 Vua ra lệnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con Sa-phan, Ạc-bo, con Mi-ca-gia, Sa-phan, thư ký hoàng gia, và A-xai-gia, tôi tớ vua. Lệnh vua như sau:
2CH 34:21 “Hãy đi cầu hỏi CHÚA về những lời trong sách mới tìm được. Hãy hỏi thăm cho ta và toàn thể dân còn sống sót trong Ít-ra-en và Giu-đa. CHÚA đã nổi giận với chúng ta vì tổ tiên chúng ta không vâng theo lời Ngài, không làm theo những điều ghi trong sách nầy.”
2CH 34:22 Vậy Hinh-kia và những người được vua sai đến nói chuyện với nữ tiên tri Hun-đa. Bà là vợ của Sa-lum, con Tiếc-va, cháu Hạc-ha, người lo các y phục cho vua. Hun-đa cư ngụ ở Giê-ru-sa-lem, thuộc khu mới của thành phố.
2CH 34:23 Bà bảo họ, “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau: Hãy nói cùng với người đã sai các ngươi đến cùng ta rằng,
2CH 34:24 CHÚA phán: Ta sẽ mang khốn khổ đến chỗ nầy và những người sống tại đây. Ta sẽ giáng những điều nguyền rủa đã được chép trong sách mà vua Giu-đa đã nghe đọc.
2CH 34:25 Dân Giu-đa đã lìa bỏ ta và đốt hương cho các thần khác. Họ đã chọc giận ta bằng những điều ác họ làm. Cho nên ta sẽ nổi thịnh nộ mà trừng phạt họ, cơn thịnh nộ không nguôi.
2CH 34:26 Hãy bảo vua Giu-đa là người đã sai các ngươi đến cầu hỏi CHÚA như sau, ‘CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau về những lời các ngươi đã nghe:
2CH 34:27 Khi người nghe lời ta nghịch cùng nơi nầy và dân cư nó thì ngươi hối hận về những điều mình làm và hạ mình xuống trước mặt ta. Ngươi xé quần áo tỏ dấu đau buồn và khóc lóc trước mặt ta. Vì vậy mà ta đã nghe ngươi, CHÚA phán vậy.
2CH 34:28 Vì thế ta sẽ cho ngươi qua đời và được chôn cất bình yên. Ngươi sẽ không thấy những khốn khổ ta sẽ giáng cho nơi nầy và dân cư sống tại đây.’” Vậy họ mang những lời ấy trình lại cho vua.
2CH 34:29 Vua liền tập họp các bô lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem lại.
2CH 34:30 Vua đi lên đền thờ CHÚA cùng với tất cả dân chúng từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Các thầy tế lễ, người Lê-vi cùng toàn thể dân chúng, từ sang đến hèn đều đi lên với vua. Vua đọc cho họ nghe những lời trong Sách Giao Ước tìm được trong đền thờ CHÚA.
2CH 34:31 Vua đứng cạnh cây cột và lập giao ước với CHÚA, cam kết hết lòng vâng theo mệnh lệnh, qui tắc, và luật lệ của Ngài và làm theo những lời của giao ước đã ghi trong sách.
2CH 34:32 Rồi vua buộc dân chúng ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min hứa tuân giữ giao ước ấy. Vậy toàn dân Giê-ru-sa-lem vâng theo giao ước với Thượng Đế, tức Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 34:33 Sau đó Giô-xia ném hết các thần tượng đáng gớm ghiếc trong xứ mà dân Ít-ra-en đã giữ. Ông hướng dẫn dân Ít-ra-en trở lại phục vụ CHÚA là Thượng Đế mình. Suốt đời Giô-xia, dân chúng vâng phục CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên mình.
2CH 35:1 Vua Giô-xia kỷ niệm Lễ Vượt Qua cho CHÚA tại Giê-ru-sa-lem. Chiên con Lễ Vượt Qua bị giết vào ngày mười bốn tháng giêng.
2CH 35:2 Giô-xia chọn các thầy tế lễ để lo phận sự, vua khuyến khích họ trong khi họ thi hành nhiệm vụ trong đền thờ CHÚA.
2CH 35:3 Các người Lê-vi dạy dỗ dân Ít-ra-en và dọn mình ra thánh cho CHÚA. Giô-xia bảo họ, “Hãy đặt Rương Thánh trong đền thờ CHÚA mà Sô-lô-môn, con Đa-vít, vua Ít-ra-en đã xây. Đừng khiêng Rương đó trên vai từ chỗ nầy đến chỗ khác như các ngươi vẫn làm. Bây giờ hãy phục vụ CHÚA là Thượng Đế các ngươi và của Ít-ra-en.
2CH 35:4 Hãy dọn mình theo từng họ hàng để phục vụ và thi hành nhiệm vụ mà vua Đa-vít và Sô-lô-môn, con trai người, đã giao cho các ngươi.
2CH 35:5 Hãy đứng ở nơi thánh cùng với nhóm người Lê-vi của mỗi họ hàng.
2CH 35:6 Hãy giết con chiên con cho Lễ Vượt Qua và dọn mình ra thánh cho CHÚA. Hãy giết các con chiên cho thân nhân mình, dân Ít-ra-en, theo như CHÚA truyền dặn chúng ta làm qua Mô-se.”
2CH 35:7 Vua Giô-xia cấp cho dân Ít-ra-en ba mươi ngàn con chiên và dê để làm sinh tế cho Lễ Vượt Qua, và cho họ ba ngàn con bò. Tất cả các con thú đó là của riêng vua.
2CH 35:8 Các viên chức của vua Giô-xia cũng vui lòng cấp cho dân chúng, các thầy tế lễ, và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri, và Giê-hi-ên, cùng các viên chức quản lý đền thờ, biếu cho các thầy tế lễ hai ngàn sáu trăm con chiên và dê, cùng ba trăm con bò để làm sinh tế cho Lễ Vượt Qua.
2CH 35:9 Cô-na-nia, các anh em ông là Sê-mai-gia và Nê-tha-nên, cùng Ha-sa-bia, Giê-i-ên, và Giô-xa-bát biếu người Lê-vi năm ngàn con chiên và dê và năm trăm con bò để làm sinh tế cho Lễ Vượt Qua. Những người đó là các lãnh tụ của người Lê-vi.
2CH 35:10 Khi mọi việc đã sẵn sàng cho Lễ Vượt Qua thì các thầy tế lễ và người Lê-vi đứng vào vị trí mình theo như vua truyền dặn.
2CH 35:11 Các con chiên dùng cho Lễ Vượt Qua bị giết. Rồi người Lê-vi lột da các con thú đó và trao huyết cho các thầy tế lễ để rưới trên bàn thờ.
2CH 35:12 Rồi họ trao các con thú làm của lễ thiêu cho các họ hàng để làm của lễ thiêu dâng lên cho CHÚA theo như đã ghi trong sách của Mô-se. Về các con bò họ cũng làm y như vậy.
2CH 35:13 Người Lê-vi quay các sinh tế của Lễ Vượt Qua trên lửa theo như được dặn bảo và luộc các của lễ thánh trong nồi, trong ấm, và trong chảo. Sau đó họ vội vàng trao thịt cho dân chúng.
2CH 35:14 Sau khi xong nghi thức đó thì người Lê-vi chuẩn bị thịt cho mình và cho các thầy tế lễ, con cháu A-rôn. Các thầy tế lễ làm việc cho đến tối, dâng của lễ thiêu và đốt mỡ của các con sinh tế.
2CH 35:15 Các ca sĩ người Lê-vi thuộc gia đình A-sáp đứng vào chỗ đã được vua Đa-vít, A-sáp, Hê-man, và Giê-đu-thun, nhà tiên kiến của vua định. Các người gác ở mỗi cửa ra vào không phải rời chỗ của mình vì các đồng nghiệp Lê-vi của họ đã chuẩn bị mọi sự cho họ dự Lễ Vượt Qua.
2CH 35:16 Như thế là mọi việc đều thực hiện trong ngày đó để thờ phụng CHÚA, theo như vua Giô-xia truyền dặn. Lễ Vượt Qua được cử hành, và các của lễ thiêu được dâng lên trên bàn thờ Chúa.
2CH 35:17 Các người Ít-ra-en có mặt tại đó kỷ niệm Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men trong bảy ngày.
2CH 35:18 Từ thời nhà tiên tri Sa-mu-ên cho đến bấy giờ Lễ Vượt Qua chưa hề được kỷ niệm như thế cả. Không có vua Ít-ra-en nào kỷ niệm Lễ Vượt Qua như vua Giô-xia, các thầy tế lễ, người Lê-vi, dân Giu-đa và Ít-ra-en có mặt tại đó và dân cư Giê-ru-sa-lem đã làm.
2CH 35:19 Lễ Vượt Qua ấy được kỷ niệm vào năm thứ mười tám triều đại Giô-xia.
2CH 35:20 Sau khi vua Giô-xia thực hiện các việc đó cho đền thờ thì Nê-cô, vua Ai-cập mang một đạo quân tấn công Cạt-kê-mít, một thị trấn nằm trên sông Ơ-phơ-rát. Giô-xia kéo quân ra đón đánh Nê-cô.
2CH 35:21 Nhưng Nê-cô sai sứ đến Giô-xia nói rằng, “Thưa vua Giô-xia, chúng ta không nên tranh chiến với nhau. Không phải tôi đến để đánh vua mà đánh kẻ thù tôi. Thượng Đế bảo tôi phải nhanh tay vì Ngài ở về phía tôi. Cho nên vua không nên chiến đấu cùng Ngài, nếu không Ngài sẽ tiêu diệt vua.”
2CH 35:22 Nhưng vua Giô-xia không chịu lui binh. Vua ăn mặc giả dạng để không ai nhận ra mình. Vua không chịu nghe lời Nê-cô nói theo mệnh lệnh Thượng Đế mà vẫn cứ kéo binh ra đánh nhau ở bình nguyên Mê-ghi-đô.
2CH 35:23 Đang khi lâm trận thì vua Giô-xia bị các lính cầm cung bắn trúng. Vua bảo các đầy tớ, “Hãy mang ta ra khỏi đây vì ta bị thương nặng.”
2CH 35:24 Vậy họ mang vua ra khỏi quân xa và đặt vua trên một quân xa khác mang về Giê-ru-sa-lem. Vua qua đời tại đó và được chôn trong mồ mả của tổ tiên mình. Tất cả dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều thương tiếc cho cái chết của vua Giô-xia.
2CH 35:25 Giê-rê-mi viết mấy bài ai ca về vua Giô-xia. Cho đến ngày nay các ca sĩ nam và nữ vẫn còn nhớ và hát các bài đó để tôn kính vua Giô-xia. Việc đó trở thành tục lệ trong Ít-ra-en khi hát những bài ca ấy trong số tuyển tập các bài ai ca.
2CH 35:26 Các việc khác vua Giô-xia làm từ dầu đến cuối đều được ghi trong sách các vua Ít-ra-en và Giu-đa. Sách đó ghi lại cho thấy vua yêu mến những lời giáo huấn của Chúa ra sao.
2CH 36:1 Dân Giu-đa chọn Giô-A-cha, con trai Giô-xia lên làm vua ở Giê-ru-sa-lem, nối ngôi cha mình.
2CH 36:2 Giô-A-cha được hai mươi ba tuổi khi lên ngôi vua và trị vì tại Giê-ru-sa-lem được ba tháng.
2CH 36:3 Sau đó Nê-cô vua Ai-cập truất ngôi của Giô-A-cha ở Giê-ru-sa-lem. Nê-cô buộc dân Giu-đa đóng triều cống khoảng ba tấn rưỡi bạc và khoảng ba mươi lăm kí vàng.
2CH 36:4 Vua Ai-cập đặt Ê-li-a-kim, anh Giô-A-cha, làm vua Giu-đa ở Giê-ru-sa-lem và đổi tên ông là Giê-hô-gia-kim. Còn Giô-A-cha, em ông, thì Nê-cô mang sang Ai-cập.
2CH 36:5 Giê-hô-gia-kim được hai mươi lăm tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Ông làm điều ác trước mặt CHÚA.
2CH 36:6 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn tấn công Giu-đa, bắt sống Giê-hô-gia-kim, xiềng lại và đày qua Ba-by-lôn.
2CH 36:7 Nê-bu-cát-nết-xa tháo gỡ một số đồ trong đền thờ CHÚA mang sang Ba-by-lôn và đặt trong cung điện mình.
2CH 36:8 Các việc khác Giê-hô-gia-kim làm, những điều gớm ghiếc ông làm, tất cả những tội lỗi ông đều được chép trong sách các vua Ít-ra-en và Giu-đa. Rồi Giê-hô-gia-kin, con trai Giê-hô-gia-kim lên nối ngôi vua.
2CH 36:9 Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi lên ngôi vua Giu-đa và trị vì ở Giê-ru-sa-lem được ba tháng mười ngày. Ông làm điều ác trước mặt CHÚA.
2CH 36:10 Đến mùa xuân, vua Nê-bu-cát-nết-xa cho triệu Giê-hô-gia-kin và giải ông qua Ba-by-lôn cùng một số của báu trong đền thờ. Rồi vua Nê-bu-cát-nết-xa đặt em của Giê-hô-gia-kin là Xê-đê-kia lên làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2CH 36:11 Xê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi lên ngôi vua Giu-đa và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem.
2CH 36:12 Xê-đê-kia làm điều ác trước mặt CHÚA là Thượng Đế mình. Nhà tiên tri Giê-rê-mi truyền sứ điệp của CHÚA cho vua, nhưng Xê-đê-kia không vâng theo.
2CH 36:13 Vua Xê-đê-kia phản nghịch cùng vua Nê-bu-cát-nết-xa là người đã buộc ông nhân danh Thượng Đế trung thành với mình. Nhưng vua Xê-đê-kia ương ngạnh và không vâng theo CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
2CH 36:14 Ngoài ra các lãnh tụ của các thầy tế lễ và dân Giu-đa gian ác hơn trước, họ bắt chước những gương xấu của các dân khác. CHÚA đã làm cho đền thờ Ngài nên thánh nhưng các lãnh tụ đó làm cho đền thờ ra nhơ nhớp.
2CH 36:15 CHÚA là Thượng Đế của tổ tiên họ đã sai các sứ giả cảnh cáo họ nhiều lần vì Ngài thương xót họ và đền thờ Ngài.
2CH 36:16 Nhưng họ chế giễu các sứ giả của Thượng Đế và ghét các lời cảnh cáo của Ngài. Họ nhất định không nghe các nhà tiên tri cho đến cuối cùng; Ngài quá bực mình với dân Ngài đến nỗi không ai có thể can ngăn Ngài được nữa.
2CH 36:17 Vì thế Thượng Đế đưa vua Ba-by-lôn đến tấn công dân chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Vua giết những trai tráng ngay cả khi họ đang ở trong đền thờ. Ông không nương tay với thanh niên hay thiếu nữ, người già cả hay bệnh tật gì hết. Thượng Đế trao tất cả mọi người vào tay Nê-bu-cát-nết-xa.
2CH 36:18 Nê-bu-cát-nết-xa lấy hết những vật dụng trong đền thờ Thượng Đế, từ lớn đến nhỏ mang qua Ba-by-lôn. Vua cũng lấy các của báu trong đền thờ CHÚA, trong cung vua và trong nhà của các sĩ quan hoàng gia.
2CH 36:19 Vua Nê-bu-cát-nết-xa và quân đội ông phóng hỏa đền thờ Thượng Đế, phá sập vách thành Giê-ru-sa-lem và thiêu hủy cung vua. Họ lấy hay tiêu hủy tất cả những gì quí giá trong Giê-ru-sa-lem.
2CH 36:20 Nê-bu-cát-nết-xa bắt sống và đày qua Ba-by-lôn những người còn sống sót, bắt họ làm tôi mọi cho mình và dòng dõi mình. Họ ở đó làm tôi mọi cho đến khi đế quốc Ba-tư đánh bại Ba-by-lôn.
2CH 36:21 Cho nên những gì CHÚA phán cùng Ít-ra-en qua nhà tiên tri Giê-rê-mi đã thành sự thật: Xứ trở thành hoang vu trong bảy mươi năm để đền bù cho những năm Sa-bát nghỉ ngơi mà họ không tôn trọng.
2CH 36:22 Vào năm đầu tiên khi vua Xi-ru lên ngôi nước Ba-tư vì CHÚA giục lòng Xi-ru, nên ông ban chỉ thị trên toàn đế quốc để lời CHÚA phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi thành sự thật. Vua viết rằng:
2CH 36:23 Xi-ru, vua Ba-tư, ra chỉ thị rằng: CHÚA, Thượng Đế trên trời đã ban cho ta mọi nước trên đất và Ngài chỉ định ta xây một đền thờ cho Ngài tại Giê-ru-sa-lem trong Giu-đa. Vậy nguyện CHÚA là Thượng Đế ở cùng tất cả các ngươi là dân Ngài. Các ngươi được phép tự do trở về Giê-ru-sa-lem.
EZR 1:1 Trong năm đầu sau khi lên ngôi vua Ba-tư, CHÚA cảm động lòng Xi-ru nên vua ra chỉ thị toàn quốc để lời CHÚA phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi được thành tựu. Vua viết:
EZR 1:2 “Xi-ru, vua Ba-tư ra chỉ thị: CHÚA, Thượng Đế trên trời, đã ban cho ta mọi nước trên đất, và Ngài chỉ định ta xây đền thờ cho Ngài tại Giê-ru-sa-lem trong Giu-đa.
EZR 1:3 Nguyện Thượng Đế ở cùng các ngươi là dân sự Ngài. Các ngươi được tự do trở về Giê-ru-sa-lem xứ Giu-đa để xây đền thờ cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en là Đấng ngự ở Giê-ru-sa-lem.
EZR 1:4 Những ai còn ở lại, bất kỳ nơi nào, phải giúp những người muốn hồi hương. Hãy cho họ vàng, bạc, đồ dùng, gia súc, và những lễ vật cho đền thờ của Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem.”
EZR 1:5 Sau đó các trưởng gia đình của Giu-đa và Bên-gia-min, cùng các thầy tế lễ và người Lê-vi sẵn sàng lên đường về Giê-ru-sa-lem mỗi người tùy theo Thượng Đế thúc giục về Giê-ru-sa-lem để xây lại đền thờ CHÚA.
EZR 1:6 Tất cả các láng giềng đều giúp đỡ họ, cấp cho họ những đồ dùng bằng bạc, vàng, cùng với các vật dụng, gia súc, những tặng vật quí giá, và các vật dâng hiến cho đền thờ.
EZR 1:7 Ngoài ra, vua Xi-ru cũng mang ra các chén bát và chảo thuộc về đền thờ của CHÚA mà vua Nê-bu-cát-nết-xa đã lấy từ Giê-ru-sa-lem rồi để trong đền thờ của thần mình.
EZR 1:8 Xi-ru vua Ba-tư bảo Mít-rê-đít, thủ quỹ mang các vật đó ra và đếm trước mặt Sết-ba-xa, quan trưởng của Giu-đa.
EZR 1:9 Ông kiểm kê ba mươi cái dĩa vàng, một ngàn dĩa bạc, hai mươi chín cái chảo,
EZR 1:10 ba mươi cái chén vàng, bốn trăm mười chén bạc cùng bộ, và một ngàn món khác.
EZR 1:11 Tổng cộng năm ngàn bốn trăm món đồ bằng vàng và bạc. Sết-ba-xa mang các món đó theo mình khi các tù binh lên đường hồi hương từ Ba-by-lôn về Giê-ru-sa-lem.
EZR 2:1 Sau đây là danh sách những người trong vùng trở về từ cuộc lưu đày. Họ đã bị Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn bắt đày sang Ba-by-lôn. Họ trở về lại Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy.
EZR 2:2 Những người sau đây trở về cùng Xê-ru-ba-bên, Nê-hê-mi, Sê-rai-gia, Rê-ê-lai-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Bích-vai, Rê-hum và Ba-a-na. Những người sau đây thuộc dân Ít-ra-en:
EZR 2:3 con cháu Ba-rốt: 2.172 người;
EZR 2:4 con cháu Sê-pha-tia: 372 người;
EZR 2:5 con cháu A-ra: 775 người;
EZR 2:6 con cháu Ba-hát Mô-áp, qua gia đình Giê-sua và Giô-áp: 2.812 người;
EZR 2:7 con cháu Ê-lam: 1.254 người;
EZR 2:8 con cháu Xát-tu: 945 người:
EZR 2:9 con cháu Xác-cai: 760 người;
EZR 2:10 con cháu Ba-ni: 642 người;
EZR 2:11 con cháu Bê-bai: 623 người;
EZR 2:12 con cháu Ác-gác: 1.222 người;
EZR 2:13 con cháu A-đô-ni-cam: 66 người;
EZR 2:14 con cháu Bích-vai: 2.056 người;
EZR 2:15 con cháu A-đinh: 454 người;
EZR 2:16 con cháu A-te, qua gia đình Xê-đê-kia: 98 người;
EZR 2:17 con cháu Bê-xai: 323 người;
EZR 2:18 con cháu Giô-ra: 112 người;
EZR 2:19 con cháu Ha-sum: 223 người;
EZR 2:20 con cháu Ghíp-ba: 95 người;
EZR 2:21 Sau đây là những người thuộc thị trấn Bết-lê-hem: 123 người;
EZR 2:22 thị trấn Nê-tô-pha: 56 người;
EZR 2:23 thị trấn A-na-thốt: 128 người;
EZR 2:24 thị trấn Ách-ma-vết: 42 người;
EZR 2:25 thị trấn Ki-ri-át Giê-a-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: 743 người;
EZR 2:26 thị trấn Ra-ma và Ghê-ba: 621 người;
EZR 2:27 thị trấn Mích-mát: 122 người;
EZR 2:28 thị trấn Bê-tên và A-hi: 223 người;
EZR 2:29 thị trấn Nê-bô: 52 người;
EZR 2:30 thị trấn Mác-bích: 156 người;
EZR 2:31 thị trấn Ê-lam khác: 1.254 người;
EZR 2:32 thị trấn Ha-rim: 320 người;
EZR 2:33 thị trấn Lốt, Ha-đích, và Ô-nô: 725 người;
EZR 2:34 thị trấn Giê-ri-cô: 345 người;
EZR 2:35 thị trấn Sê-na-a: 3.630 người;
EZR 2:36 Những người sau đây là các thầy tế lễ: con cháu Giê-đai-gia, qua gia đình Giê-sua: 973 người;
EZR 2:37 con cháu Im-mê: 1.052 người;
EZR 2:38 con cháu Ba-sua: 1.247 người;
EZR 2:39 con cháu Ha-rim: 1.017 người;
EZR 2:40 Sau đây là người Lê-vi: con cháu Giê-sua và Cát-miên, qua gia đình Hô-đa-via: 74 người;
EZR 2:41 Sau đây là các ca sĩ: con cháu A-sáp: 128 người;
EZR 2:42 Sau đây là những người giữ cửa của đền thờ: con cháu Sa-lum, A-te, Thanh-môn, Ác-cúp, Ha-ti-ta, và Sô-bai: 139 người;
EZR 2:43 Sau đây là những người giúp việc trong đền thờ: con cháu Xi-ha, Ha-su-pha, Ta-ba-ốt,
EZR 2:44 Kê-rô, Si-a-ha, Ba-đôn,
EZR 2:45 Lê-ba-na, Ha-ga-ba, Ác-cúp,
EZR 2:46 Ha-gáp, Sanh-mai, Ha-nan,
EZR 2:47 Ghi-đên, Ga-ha, Rê-a-gia,
EZR 2:48 Rê-xin, Nê-cô-đa, Ga-xam,
EZR 2:49 U-xa, Ba-sê-a, Bê-sai,
EZR 2:50 Át-na, Mê-u-nim, Nê-phu-xim,
EZR 2:51 Bác-búc, Ha-cu-pha, Ha-sua,
EZR 2:52 Ba-lút, Mê-hi-đa, Hát-sa,
EZR 2:53 Bác-cô, Xi-xê-ra, Thê-ma,
EZR 2:54 Nê-xia, và Ha-ti-pha.
EZR 2:55 Sau đây là con cháu của các tôi tớ Sô-lô-môn: con cháu Sô-tai, Hát-xô-phê-rết; Bê-ru-đa,
EZR 2:56 Gia-a-la, Đác-côn, Ghít-đên,
EZR 2:57 Sê-pha-tia, Hát-tin, Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và A-mi.
EZR 2:58 Các người giúp việc trong đền thờ và con cháu của các tôi tớ Sô-lô-môn tổng cộng là 392 người;
EZR 2:59 Một số người đến Giê-ru-sa-lem từ các thị trấn Tê-Ma-la, Tê-Ha-sa, Kê-rúp, Ách-đan, và Im-mê, nhưng họ không chứng minh được tổ tiên mình là người Ít-ra-en.
EZR 2:60 Họ là con cháu Đê-lai-gia, Tô-bia, và Nê-cô-đa gồm 652 người;
EZR 2:61 Ngoài ra các thầy tế lễ sau đây: con cháu Hô-bai-gia, Hác-cô, và Bát-xi-lai, người lấy con gái của Bát-xi-lai từ Ghi-lê-át và mang tên gia đình vợ mình.
EZR 2:62 Họ tra cứu gia phổ nhưng không thấy tên cho nên không được làm chức tế lễ vì họ bị xem như không tinh sạch.
EZR 2:63 Quan tổng trấn không cho phép họ ăn những món đã được dâng cho Thượng Đế cho đến khi một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để giải quyết vấn đề nầy.
EZR 2:64 Tổng số người hồi hương là: 42.360 người.
EZR 2:65 Trong số đó không tính 7.337 tôi trai tớ gái và 200 nam nữ ca sĩ cùng đi với họ.
EZR 2:66 Họ có 736 con ngựa, 245 con la,
EZR 2:67 435 con lạc đà, và 6.720 con lừa.
EZR 2:68 Khi đến đền thờ của CHÚA tại Giê-ru-sa-lem thì một số trưởng gia đình dâng hiến của cải để xây lại đền thờ Thượng Đế trên địa điểm cũ.
EZR 2:69 Họ dâng hết sức theo khả năng vào ngân khố để tái thiết đền thờ: khoảng 1.100 cân vàng, 6.000 cân bạc, và 100 bộ áo cho các thầy tế lễ.
EZR 2:70 Tất cả các người Ít-ra-en định cư trong các thị trấn quê quán mình. Các thầy tế lễ, người Lê-vi, các ca sĩ, người giữ cửa, người giúp việc trong đền thờ, cùng với những người khác đều định cư trong thị trấn mình.
EZR 3:1 Vào tháng bảy sau khi dân Ít-ra-en đã định cư tại các thị trấn nhà của mình thì họ họp nhau lại tại Giê-ru-sa-lem.
EZR 3:2 Giê-sua con Giô-xa-đác và các thầy tế lễ đồng nghiệp cùng với Xê-ru-ba-bên, con của Sê-anh-tiên bắt đầu xây lại bàn thờ Thượng Đế của Ít-ra-en để dâng của lễ thiêu theo như lời chỉ dạy của Mô-se, người của Thượng Đế.
EZR 3:3 Mặc dù còn sợ các dân tộc xung quanh, họ vẫn xây lại đền thờ tại chỗ cũ. Rồi họ dâng của lễ thiêu trên đó cho CHÚA mỗi sáng mỗi chiều.
EZR 3:4 Sau đó họ vâng theo lời đã được ghi chép và cử hành Lễ Lều Tạm. Họ dâng đúng số sinh tế mỗi ngày cho cuộc lễ.
EZR 3:5 Sau Lễ Lều Tạm, họ dâng sinh tế đều đặn mỗi ngày cũng như sinh tế vào ngày Trăng Mới và mọi buổi lễ theo như CHÚA truyền dặn. Ngoài ra cũng có những lễ vật đặc biệt cho CHÚA.
EZR 3:6 Vào ngày đầu tiên tháng bảy, họ bắt đầu dâng của lễ thiêu cho CHÚA, tuy nhiên người ta chưa đặt nền cho đền thờ CHÚA.
EZR 3:7 Rồi họ trao tiền cho thợ nề và thợ mộc. Họ cũng dùng thực phẩm, rượu và dầu ô-liu trả công cho dân cư thành Xi-đôn và Tia để các thành ấy thả trôi các khúc gỗ hương nam từ Li-băng xuống thành Giốp-ba trên bờ biển. Xi-ru, vua Ba-tư đã cho phép làm việc đó.
EZR 3:8 Vào tháng hai năm thứ hai sau khi họ đến đền thờ của Thượng Đế tại Giê-ru-sa-lem thì Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, Giê-sua con Giô-xa-đác, các thầy tế lễ đồng nghiệp, các người Lê-vi cùng những người đã trở về Giê-ru-sa-lem từ cuộc lưu đày bắt tay vào việc. Họ chọn những người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên để lo việc xây cất đền thờ CHÚA.
EZR 3:9 Những người sau đây chịu trách nhiệm xây cất đền thờ của Thượng Đế: Giê-sua cùng các con trai và anh em ông, Cát-miên cùng các con trai là con cháu Hô-đa-via; các con trai Hê-na-đát, các con trai và anh em họ. Tất cả đều là người Lê-vi.
EZR 3:10 Những thợ xây cất đặt xong nền của đền thờ CHÚA. Rồi các thầy tế lễ mặc đồng phục đứng cầm kèn, các người Lê-vi, các con trai A-sáp, cũng đứng cầm chập chỏa. Họ đứng vào vị trí và ca ngợi CHÚA theo như Đa-vít, vua Ít-ra-en đã căn dặn.
EZR 3:11 Họ hát những bài ca đối đáp và cảm tạ CHÚA như sau: “Ngài nhân từ, tình yêu Ngài cho Ít-ra-en còn đến đời đời.” Rồi toàn dân reo mừng, “Chúc tụng CHÚA! Nền của đền thờ đã được đặt xong.”
EZR 3:12 Tuy nhiên các thầy tế lễ già nua, những người Lê-vi cùng các trưởng gia đình đã thấy đền thờ đầu tiên liền khóc lớn khi họ nhìn thấy nền của đền thờ nầy. Hầu hết dân chúng vui mừng hò reo.
EZR 3:13 Họ reo hò lớn đến nỗi ở xa cũng nghe. Không ai phân biệt được tiếng reo hò vui vẻ và tiếng khóc thảm sầu.
EZR 4:1 Khi những kẻ thù của dân Giu-đa và Bên-gia-min nghe rằng những tù binh vừa hồi hương đang xây lại đền thờ của CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en,
EZR 4:2 thì họ đến gặp Xê-ru-ba-bên và các trưởng gia đình và nói, “Chúng tôi sẽ giúp đỡ các anh xây cất vì chúng tôi cũng như các anh, muốn thờ phụng Thượng Đế các anh. Chúng tôi đã dâng của lễ cho Ngài từ thời Ê-sa-hát-đôn, vua A-xy-ri là người đã mang chúng tôi đến đây.”
EZR 4:3 Nhưng Xê-ru-ba-bên, Giê-sua, và các lãnh tụ Ít-ra-en đáp, “Các anh không cần giúp đỡ chúng tôi xây đền thờ của Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi sẽ tự mình xây đền thờ đó cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en theo như Xi-ru, vua Ba-tư truyền dặn chúng tôi.”
EZR 4:4 Sau đó những người sống quanh họ tìm cách làm nản lòng dân Giu-đa khiến cho họ sợ không dám xây cất.
EZR 4:5 Các kẻ thù của họ thuê những người khác làm trì hoãn chương trình xây cất trong thời Xi-ru vua Ba-tư. Việc đó kéo dài đến thời Đa-ri-út lên ngôi vua Ba-tư.
EZR 4:6 Khi Xét-xe mới lên ngôi, những người đó viết một thư phản đối dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
EZR 4:7 Khi Ạc-ta-xét-xe lên ngôi vua Ba-tư thì Bích-lam, Mít-rê-đít, Ta-biên, và những đồng lõa của chúng viết một thư cho vua. Thư đó viết bằng tiếng A-ram và được dịch ra.
EZR 4:8 Rê-hum, quan tổng trấn, và Sim-sai, thư ký quan tổng trấn viết một thư chống Giê-ru-sa-lem cho vua. Thư viết như sau:
EZR 4:9 Thư nầy do Rê-hum, quan tổng trấn, Sim-sai, thư ký, và các đồng nghiệp: các quan án cùng những viên chức cao cấp cai quản những người đã trở về từ Tri-bô-li, Ba-tư, Ê-réc, và Ba-by-lôn, người Ê-lam ở Su-sa,
EZR 4:10 cùng những người mà vua A-su-ba-ni-banh cao cả vĩ đại đã trục xuất ra khỏi xứ họ và cho định cư tại thành Xa-ma-ri cùng những nơi khác thuộc vùng Xuyên Ơ-phơ-rát.
EZR 4:11 Đây là bản sao bức thư họ gởi cho vua Ạt-ta-xét-xe: “Các đầy tớ vua sống trong vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, kính gởi vua.
EZR 4:12 Thưa vua, vua biết những người Do-thái từ vua trở về cùng chúng tôi đã đi đến Giê-ru-sa-lem để xây lại thành gian ác bất tuân nầy. Họ đang xây lại vách và nền của các tòa nhà.
EZR 4:13 Bây giờ, thưa vua, nên biết rằng nếu Giê-ru-sa-lem được xây, vách nó được sửa chữa lại thì Giê-ru-sa-lem sẽ không còn đóng món thuế nào nữa. Rồi số thu của chính phủ sẽ sụt xuống.
EZR 4:14 Vì chúng tôi phải trung thành với chính phủ, chúng tôi không muốn vua bị người ta xem thường cho nên chúng tôi viết thư nầy để ngài biết.
EZR 4:15 Chúng tôi đề nghị ngài cho sưu tầm sử liệu của các vua tiền nhiệm. Ngài sẽ thấy rằng thành Giê-ru-sa-lem bất phục tùng và gây rối cho các vua cùng các vùng do nước Ba-tư kiểm soát. Từ lâu lắm rồi nó là chỗ khỏi xướng sự bất tuân. Vì thế mà nó bị tiêu hủy.
EZR 4:16 Thưa vua, chúng tôi muốn vua biết rằng nếu thành nầy được tái thiết, vách được sửa chữa lại thì vua không còn gì ở phía Xuyên Ơ-phơ-rát bên nầy cả.”
EZR 4:17 Vua gởi thư phúc đáp như sau: “Gởi Rê-hum, quan tổng trấn, và Sim-sai, thư ký cùng các đồng nghiệp sống ở Xa-ma-ri cùng những người sống ở các nơi khác trong vùng Xuyên Ơ-phơ-rát. Chào thăm các ngươi.
EZR 4:18 Bức thư các ngươi gởi cho ta đã được phiên dịch và đọc cho ta nghe.
EZR 4:19 Ta ra lệnh sưu tầm sử liệu và việc đó đã được thực hiện. Ta thấy rằng thành Giê-ru-sa-lem có một lịch sử phản nghịch với các vua và là một địa điểm gây rối.
EZR 4:20 Giê-ru-sa-lem trước kia có các vua hùng mạnh cai trị toàn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, và người ta phải đóng đủ loại thuế cho nó.
EZR 4:21 Bây giờ hãy ra lệnh cho các người đó ngưng công tác. Thành Giê-ru-sa-lem không được phép xây lại cho đến khi có lệnh ta.
EZR 4:22 Các ngươi phải thi hành lệnh nầy vì nếu chúng tiếp tục, chính phủ sẽ bị thiệt hại.”
EZR 4:23 Một bản sao thư vua gởi được đọc cho Rê-hum, và Sê-sai, thư ký và những người khác. Rồi họ vội vàng đi đến dân Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và buộc họ ngưng công tác xây cất.
EZR 4:24 Vì thế công tác của đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem bị ngưng lại cho đến năm thứ hai khi vua Đa-ri-út lên ngôi vua Ba-tư.
EZR 5:1 Các nhà tiên tri A-gai và Xa-cha-ri, con của Y-đô, nhân danh Thượng Đế của Ít-ra-en là Đấng cai quản họ, nói tiên tri về dân Do-thái ở Giu-đa và Giu-đa,
EZR 5:2 Rồi Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, và Giê-sua, con Giô-xa-đác khởi công xây lại đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem. Các nhà tiên tri của Thượng Đế có ở đó phụ giúp họ.
EZR 5:3 Lúc đó, Tát-tê-nai, quan tổng trấn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, Sê-tha-Bô-xê-nai cùng các đồng nghiệp chúng đến cùng người Do-thái hỏi, “Ai cho phép các anh xây lại đền thờ và sửa chữa các vách nầy?”
EZR 5:4 Chúng cũng hỏi, “Tên của những người làm việc trong toà nhà nầy là ai?”
EZR 5:5 Nhưng Thượng Đế của họ trông nom các bô lão của người Giu-đa. Các thợ thuyền không bị gián đoạn công tác cho đến khi báo cáo được gởi về Đa-ri-út và được vua phúc đáp lại.
EZR 5:6 Đây là bản sao bức thơ do Tát-tê-nai, quan tổng trấn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, Sê-tha-Bô-xê-nai, và những viên chức cao cấp khác thuộc vùng Xuyên Ơ-phơ-rát gởi cho vua Đa-ri-út.
EZR 5:7 Sau đây là nội dung của bản phúc trình họ gởi cho vua: Kính vua Đa-ri-út. Nguyện vua hưởng thái bình.
EZR 5:8 Thưa vua Đa-ri-út, chúng tôi muốn vua biết rằng chúng tôi đã đi thăm khu vực Giu-đa nơi có đền thờ của Thượng Đế cao cả. Người ta đang dùng các tảng đá to để xây đền thờ đó, và dùng gỗ để dựng vách. Họ làm việc rất cực nhọc và xây cất rất nhanh chóng.
EZR 5:9 Chúng tôi hỏi các bô lão, “Ai cho phép các anh xây lại đền thờ và các vách nầy?”
EZR 5:10 Chúng tôi hỏi tên họ và ghi lại tên của những người lãnh đạo họ để vua rõ.
EZR 5:11 Họ trả lời cho chúng tôi như sau: “Chúng tôi là tôi tớ của Thượng Đế của trời đất. Chúng tôi đang xây lại đền thờ mà một vì vua lớn của Ít-ra-en đã xây và hoàn tất cách đây nhiều năm.
EZR 5:12 Nhưng tổ tiên chúng tôi chọc giận Thượng Đế trên trời cho nên Ngài trao họ cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, người tiêu hủy đền thờ nầy và bắt họ làm tù binh đày sang Ba-by-lôn.
EZR 5:13 Sau đó, năm đầu tiên vừa lên ngôi, Xi-ru, vua Ba-by-lôn ra chỉ thị đặc biệt cho phép xây lại đền thờ nầy.
EZR 5:14 Vua Xi-ru mang những chén bát cùng chảo bằng vàng và bạc đã lấy từ đền thờ Thượng Đế ra khỏi đền thờ ở Ba-by-lôn. Nê-bu-cát-nết-xa đã lấy những thứ đó khỏi đền thờ ở Giê-ru-sa-lem và để trong đền thờ ở Ba-by-lôn. Vua Xi-ru trả lại các món đó cho Sết-ba-xa, quan tổng trấn do vua bổ nhiệm.”
EZR 5:15 Xi-ru bảo ông, “Hãy lấy các chén bát và chảo bằng vàng và bạc nầy đem để lại trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và xây lại đền thờ Thượng Đế trên nền cũ của nó.”
EZR 5:16 Vậy Sết-ba-xa trở về và đặt nền của đền thờ Thượng Đế tại Giê-ru-sa-lem. Từ ngày đó đến nay công tác vẫn tiến hành nhưng chưa hoàn tất.
EZR 5:17 Bây giờ, nếu đẹp ý vua, xin cho sưu tầm sử ký hoàng gia tại Ba-by-lôn. Xem thử vua Xi-ru có ra chỉ thị cho phép xây lại đền thờ nầy ở Giê-ru-sa-lem không. Rồi xin vua cho chúng tôi biết quyết định của vua.
EZR 6:1 Vậy vua Đa-ri-út ra lệnh sưu tầm sử liệu lưu trữ trong ngân khố ở Ba-by-lôn.
EZR 6:2 Người ta tìm được một cuộn giấy ở Éc-ba-ta-na, thủ đô Ba-tư. Sau đây là những bút lục ghi trên đó. Lưu ý:
EZR 6:3 Vua Xi-ru ra sắc lệnh về đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem vào năm đầu tiên sau khi lên ngôi. Chỉ thị đó như sau: “Đền thờ được phép xây lại để làm nơi dâng của lễ. Cho phép đặt nền; chiều cao đền thờ là ba mươi mốt thước, rộng ba mươi mốt thước.
EZR 6:4 Có ba lớp đá lớn rồi một lớp gỗ. Phí tổn do ngân khố nhà vua đài thọ.
EZR 6:5 Những vật dụng bằng vàng và bạc từ đền thờ Thượng Đế phải được trả lại và đặt vào vị trí cũ. Nê-bu-cát-nết-xa đã lấy những món đó từ đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, mang qua Ba-by-lôn nhưng những món đó phải được đặt lại trong đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem.”
EZR 6:6 “Bây giờ, Tát-tê-nai, quan tổng trấn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, Sê-tha-Bô-xê-nai, và các viên chức vùng đó hãy giang ra.
EZR 6:7 Không được phá khuấy công tác của đền thờ Thượng Đế. Hãy để thống đốc của người Do-thái và các bô lão Do-thái xây lại đền thờ nầy trên nền cũ.
EZR 6:8 Ngoài ra ta ra lệnh cho ngươi làm như sau cho các bô lão Do-thái đang xây lại đền thờ: Phí tổn xây cất phải hoàn toàn do ngân khố hoàng gia đài thọ, lấy từ thuế thu được ở vùng Xuyên Ơ-phơ-rát. Ngươi hãy thi hành lệnh nầy để công tác không bị ngưng trệ.
EZR 6:9 Hãy cung cấp cho những người đó bất cứ thứ gì họ cần: bò tơ đực, chiên đực hay chiên con để làm của lễ thiêu cho Thượng Đế trên trời, lúa mì, muối, rượu, hay dầu ô-liu. Hãy cung cấp cho các thầy tế lễ ở Giê-ru-sa-lem bất cứ thứ gì họ yêu cầu mỗi ngày không được chậm trễ.
EZR 6:10 Như thế để họ dâng của lễ làm vui lòng Thượng Đế trên trời và cũng để họ cầu nguyện cho mạng sống của vua và các hoàng tử.
EZR 6:11 Ngoài ra, ta cũng ra lệnh nầy: Nếu ai thay đổi lệnh nầy thì phải rút một cây đà ra khỏi nhà nó và đâm xuyên qua người nó. Vì tội ác nó, nhà nó phải biến thành đống cây vụn.
EZR 6:12 Thượng Đế đã chọn Giê-ru-sa-lem làm nơi người ta thờ phụng Ngài. Nguyện Ngài trừng phạt vua nào hay người nào tìm cách thay đổi lệnh nầy hay hủy phá đền thờ nầy. Ta, Đa-ri-út, ra lệnh nầy. Phải thi hành lệnh nầy mau chóng và cẩn thận.”
EZR 6:13 Vì thế, Tát-tê-nai, quan tổng trấn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, Sê-thê-Bô-xê-nai, và các đồng nghiệp họ vội vàng thi hành lệnh vua Đa-ri-út một cách cẩn thận.
EZR 6:14 Các bô lão Do-thái tiếp tục công tác xây cất và thành công vì lời giảng dạy của nhà tiên tri A-gai, và Xa-cha-ri, một con cháu của Y-đô. Họ hoàn tất công tác xây đền thờ theo như Thượng Đế của Ít-ra-en truyền dặn và theo sắc lệnh của các vua Xi-ru, Đa-ri-út, và Ạc-ta-xét-xe của Ba-tư.
EZR 6:15 Đền thờ được hoàn tất vào ngày ba tháng A-đa, năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út.
EZR 6:16 Rồi dân Ít-ra-en hân hoan kỷ niệm và dâng hiến đền thờ cho Thượng Đế để tôn kính Ngài. Mọi người đều vui vẻ: các thầy tế lễ, người Lê-vi, và toàn thể dân Giu-đa trở về từ cuộc lưu đày.
EZR 6:17 Họ dâng đền thờ cho Thượng Đế bằng một trăm con bò đực, hai trăm con chiên đực, bốn trăm con chiên con làm của lễ. Và để làm của lễ chuộc tội cho toàn dân Ít-ra-en, họ dâng mười hai con chiên đực, mỗi con đại diện cho một chi tộc trong Ít-ra-en.
EZR 6:18 Sau đó họ chia các thầy tế lễ và người Lê-vi ra hai nhóm riêng biệt. Mỗi nhóm phục vụ Thượng Đế ở đền thờ ở Giê-ru-sa-lem theo thời gian ấn định như sách Mô-se đã ghi.
EZR 6:19 Những người Do-thái hồi hương từ cuộc lưu đày cử hành Lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng giêng.
EZR 6:20 Các thầy tế lễ và người Lê-vi đã dọn mình thanh sạch. Sau đó người Lê-vi giết các con chiên con dùng cho Lễ Vượt Qua cho toàn thể dân chúng đã trở về từ cuộc lưu đày, cho thân nhân của họ là các thầy tế lễ, và cho chính mình.
EZR 6:21 Vậy toàn dân Ít-ra-en đã trở về từ cuộc lưu đày ăn con chiên của Lễ Vượt Qua. Dân chúng đã từ bỏ những lối sống không tinh sạch của các lân bang ngoại quốc để thờ phụng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en.
EZR 6:22 Trong bảy ngày họ vui mừng kỷ niệm Lễ Bánh Không Men. CHÚA đã khiến họ vui mừng bằng cách thay đổi lòng của vua A-xy-ri để vua giúp họ trong công tác xây cất đền thờ Thượng Đế của Ít-ra-en.
EZR 7:1 Sau các việc ấy, vào triều đại Ạc-ta-xét-xe, vua Ba-tư thì E-xơ-ra từ Ba-by-lôn trở về. Ông là con Sê-rai-gia, Sê-rai-gia con A-xa-ria, A-xa-ria con Hinh-kia,
EZR 7:2 Hinh-kia con Sa-lum, Sa-lum con Xa-đốc, Xa-đốc con A-hi-túp,
EZR 7:3 A-hi-túp con A-ma-ria, A-ma-ria con A-xa-ria, A-xa-ria con Mê-rai-giốt,
EZR 7:4 Mê-rai-giốt con Xê-ra-hia, Xê-ra-hia con U-xi, U-xi con Búc-ki,
EZR 7:5 Búc-ki con A-bi-sua, A-bi-sua con Phi-nê-ha, Phi-nê-ha con Ê-lê-a-xa, Ê-lê-a-xa con A-rôn là thầy tế lễ tối cao.
EZR 7:6 E-xơ-ra từ Ba-by-lôn về Giê-ru-sa-lem. Ông là giáo sư luật và rất rành về những điều giáo huấn của Mô-se do CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en truyền lại. E-xơ-ra nhận được đủ mọi thứ ông yêu cầu từ vua vì CHÚA là Thượng Đế giúp đỡ ông.
EZR 7:7 Vào năm thứ bảy triều vua Ạc-ta-xét-xe, có thêm nhiều người Ít-ra-en nữa trở về Giê-ru-sa-lem. Trong số đó có các thầy tế lễ, người Lê-vi, các ca sĩ, người giữ cửa, và những người giúp việc trong đền thờ.
EZR 7:8 E-xơ-ra trở về Giê-ru-sa-lem vào tháng năm, năm thứ bảy triều vua.
EZR 7:9 E-xơ-ra rời Ba-by-lôn vào ngày đầu tiên tháng giêng, và về đến Giê-ru-sa-lem vào ngày một tháng năm vì Thượng Đế giúp đỡ ông.
EZR 7:10 E-xơ-ra đã hết sức cố gắng học hỏi và vâng theo những lời Giáo Huấn của CHÚA để dạy các qui tắc và mệnh lệnh Ngài cho dân Ít-ra-en.
EZR 7:11 Vua gởi một thư cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và giáo sư dạy các mệnh lệnh và luật lệ mà CHÚA cho dân Ít-ra-en. Nội dung bức thư như sau:
EZR 7:12 “Ạc-ta-xét-xe, vua các vua, gởi E-xơ-ra, thầy tế lễ và giáo sư luật của Thượng Đế trên trời. Chào thăm ông.
EZR 7:13 Ta ra lệnh sau: Bất cứ người Ít-ra-en nào sống trong vương quốc ta đều có thể theo ngươi về Giê-ru-sa-lem, kể cả các thầy tế lễ và người Lê-vi.
EZR 7:14 E-xơ-ra, ngươi được vua và bảy cố vấn vua phái đi để hỏi thăm người Giu-đa và Giê-ru-sa-lem ra sao trong việc vâng theo Luật lệ của Thượng Đế mà ngươi đang mang theo mình.
EZR 7:15 Ngoài ra cũng hãy mang theo ngươi bạc và vàng mà vua và các cố vấn vua dâng hiến rộng rãi cho Thượng Đế của Ít-ra-en, Đấng có đền thờ ở Giê-ru-sa-lem.
EZR 7:16 Cũng hãy mang về bạc và vàng mà ngươi nhận từ vùng Ba-by-lôn. Hãy nhận những của lễ mà người Ít-ra-en và các thầy tế lễ họ dâng cho đền thờ của Thượng Đế các ngươi tại Giê-ru-sa-lem.
EZR 7:17 Dùng tiền đó mua bò đực, chiên đực, chiên con, ngũ cốc và các của lễ uống đi kèm theo các sinh tế đó. Rồi dâng các của lễ trên bàn thờ trong đền thờ của Thượng Đế các ngươi tại Giê-ru-sa-lem.
EZR 7:18 Ngươi và các đồng bào Do-thái ngươi có thể tùy tiện dùng bạc và vàng còn lại và theo ý muốn Thượng Đế.
EZR 7:19 Hãy mang về cho Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem tất cả các đồ dùng cho việc thờ phụng trong đền thờ Thượng Đế các ngươi,
EZR 7:20 những đồ dùng mà chúng ta đã cho các ngươi. Hãy dùng ngân khố hoàng gia đài thọ những điều khác ngươi cần cho đền thờ Thượng Đế các ngươi.
EZR 7:21 Nay ta, vua, ra lệnh sau đây cho tất cả các viên chức quản thủ ngân khố vùng Xuyên Ơ-phơ-rát: Hãy cấp cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và giáo sư luật của Thượng Đế trên trời bất cứ điều gì người yêu cầu.
EZR 7:22 Hãy cấp cho người tới mức ba ngàn bốn trăm năm mươi kí bạc, 600 hộc lúa mì, 2.200 lít rượu, và 2.200 lít dầu ô-liu. Còn muối thì người cần bao nhiêu cấp bấy nhiêu.
EZR 7:23 Hãy cẩn thận cấp cho người bất cứ những gì mà Thượng Đế trên trời cần cho đền thờ của Ngài. Chúng ta không muốn Thượng Đế nổi giận cùng vua và các hoàng tử.
EZR 7:24 Nên nhớ các ngươi không được phép đánh bất cứ loại thuế nào trên những người sau đây: các thầy tế lễ, người Lê-vi, ca sĩ, người giữ cửa, người giúp việc trong đền thờ và các nhân công khác trong đền thờ của Thượng Đế.
EZR 7:25 Còn ngươi, hỡi E-xơ-ra, hãy dùng sự khôn ngoan mà Thượng Đế ban cho ngươi để chọn những quan án và các nhà làm luật để cai trị dân Do-thái sống trong vùng Xuyên Ơ-phơ-rát. Họ biết luật lệ của Thượng Đế các ngươi, và ngươi có thể dạy cho những ai không biết luật.
EZR 7:26 Ai không tuân theo luật của Thượng Đế các ngươi hay của vua phải bị trừng phạt. Nó phải bị giết hay bị tù đày, tịch thu gia sản hay bị cầm tù.”
EZR 7:27 Chúc tụng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên chúng tôi. Ngài khiến vua có lòng tôn trọng đền thờ của CHÚA ở Giê-ru-sa-lem.
EZR 7:28 CHÚA đã tỏ ra cho tôi, E-xơ-ra, tình yêu Ngài trước mặt vua, những cố vấn vua, và các quần thần. Nhờ CHÚA là Thượng Đế tôi giúp đỡ, tôi thêm can đảm nên tôi triệu tập các lãnh tụ Ít-ra-en cùng hồi hương với tôi.
EZR 8:1 Sau đây là các trưởng tộc và những người cùng được liệt kê với họ trở về cùng tôi từ Ba-by-lôn trong đời vua.
EZR 8:2 Từ con cháu Phi-nê-ha: Ghẹt-sôn. Từ con cháu Y-tha-ma: Đa-niên. Từ con cháu Đa-vít: Hát-túc
EZR 8:3 thuộc con cháu Sê-cai-gia. Từ con cháu Ba-rốt: Xa-cha-ri, với một trăm năm mươi người.
EZR 8:4 Từ con cháu Ba-hát Mô-áp: Ê-li-hô-ê-nai, con Xa-ra-hia, với hai trăm người.
EZR 8:5 Từ con cháu Xát-tu: Sê-ca-nia, con Gia-ha-xiên, với ba trăm người.
EZR 8:6 Từ con cháu A-đinh: Ê-bết, con Giô-na-than, với năm mươi người.
EZR 8:7 Từ con cháu Ê-lam: Giê-sai-gia, con A-tha-lia, với bảy mươi người.
EZR 8:8 Từ con cháu Sê-pha-tia: Xê-ba-đia, con Mi-chên, với tám mươi người.
EZR 8:9 Từ con cháu Giô-áp: Áp-đia, con Giê-hi-ên, với hai trăm mười tám người.
EZR 8:10 Từ con cháu Ba-ni: Sê-lô-mít, con Giô-si-phia, với một trăm sáu mươi người.
EZR 8:11 Từ con cháu Bê-bai: Xa-cha-ri, con Bê-bai, với hai mươi tám người.
EZR 8:12 Từ con cháu A-gát: Giô-ha-nan, con Hác-ca-tan, với một trăm mười người.
EZR 8:13 Từ con cháu A-đô-ni-cam, sau đây là những người cuối cùng: Ê-li-phê-lết, Giê-u-ên, và Sê-mai-gia với sáu mươi người.
EZR 8:14 Từ con cháu Bích-vai: U-thai và Xa-cua, với bảy mươi người.
EZR 8:15 Tôi gọi tất cả những người đó lại nơi kênh đào chảy ra A-ha-va, rồi chúng tôi dựng trại ba ngày tại đó. Tôi kiểm điểm dân chúng và các thầy tế lễ, nhưng không thấy có người Lê-vi nào.
EZR 8:16 Cho nên tôi gọi các lãnh tụ sau đây lại: Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-mai-gia, Ên-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam. Tôi cũng gọi Giô-a-ríp và Ên-na-than là hai giáo sư.
EZR 8:17 Tôi sai họ đến Y-đô, lãnh tụ ở Ca-xi-phia, và dặn họ phải nói gì với Y-đô cùng thân nhân ông. Những người đó giúp việc trong đền thờ ở Ca-xi-phia. Tôi bảo họ mang các người giúp việc đến cho tôi để phục vụ trong đền thờ Thượng Đế.
EZR 8:18 Vì được Thượng Đế chúng tôi giúp đỡ nên các thân nhân của Y-đô giao Sê-rê-bia, một người rất khôn ngoan thuộc dòng họ Ma-li, con Lê-vi, cháu Ít-ra-en. Họ cũng mang các con trai Sê-rê-bia và anh em ông đến, tổng cộng mười tám người.
EZR 8:19 Rồi họ mang đến cho chúng tôi Ha-sa-bia và Giê-sai-gia thuộc dòng họ Mê-ra-ri cùng với anh em và cháu ông. Tổng cộng hai mươi người.
EZR 8:20 Họ cũng mang đến hai trăm hai mươi người giúp việc trong đền thờ, tức nhóm người mà Đa-vít và các quần thần lập nên để giúp đỡ người Lê-vi. Tất cả những người đó đều được liệt kê theo từng tên.
EZR 8:21 Nơi kênh đào A-ha-va, tôi loan báo mọi người cữ ăn và hạ mình xuống trước mặt Thượng Đế. Chúng tôi cầu xin Thượng Đế gìn giữ chúng tôi, con cháu và tài sản chúng tôi đi đường bình yên.
EZR 8:22 Tôi ngại không dám xin vua cho binh sĩ và lính cỡi ngựa hộ tống bảo vệ chúng tôi khỏi kẻ thù dọc đường vì chúng tôi đã thưa với vua, “Thượng Đế chúng tôi sẽ giúp những ai vâng lời Ngài, nhưng nổi thịnh nộ cùng ai từ bỏ Ngài.”
EZR 8:23 Vậy chúng tôi cữ ăn và cầu nguyện cùng Thượng Đế xin Ngài gìn giữ chúng tôi khi đi đường, Ngài nghe lời cầu xin của chúng tôi.
EZR 8:24 Rồi tôi chọn mười hai thầy tế lễ làm lãnh tụ: Sê-rê-bia, Ha-sa-bia, và mười thân nhân của họ.
EZR 8:25 Tôi cân các của dâng hiến bằng bạc và vàng cùng những đồ dùng dâng cho đền thờ Thượng Đế chúng tôi và trao cho mười hai thầy tế lễ mà tôi đã chọn. Nhà vua, các cố vấn, các quần thần, và tất cả những người Ít-ra-en có mặt với chúng tôi đã dâng hiến những vật đó cho đền thờ.
EZR 8:26 Tôi cân và trao cho họ khoảng năm mươi ngàn cân bạc, khoảng bảy ngàn năm trăm cân các vật dụng bằng bạc, và khoảng bảy ngàn năm trăm cân vàng.
EZR 8:27 Tôi trao cho họ hai mươi cái chén vàng cân nặng khoảng mười chín cân, và hai miếng đồng đánh bóng quí giá như vàng.
EZR 8:28 Rồi tôi bảo các thầy tế lễ, “Các ngươi và những vật dụng nầy thuộc về CHÚA để phục vụ Ngài. Bạc và vàng là vật dâng hiến cho CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các ngươi.
EZR 8:29 Hãy canh giữ các món nầy cho cẩn thận. Đến Giê-ru-sa-lem, hãy cân chúng trước mặt các thầy tế lễ lãnh đạo, người Lê-vi, các trưởng gia đình của Ít-ra-en trong phòng của đền thờ Thượng Đế.”
EZR 8:30 Vậy các thầy tế lễ và người Lê-vi nhận bạc, vàng và các đồ dùng đã được cân để mang về đền thờ của Thượng Đế chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem.
EZR 8:31 Vào ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi rời kênh A-ha-va khởi hành về Giê-ru-sa-lem. Thượng Đế chúng tôi giúp đỡ và che chở chúng tôi khỏi các kẻ thù và trộm cướp dọc đường.
EZR 8:32 Sau cùng chúng tôi về đến Giê-ru-sa-lem và nghỉ ngơi ba ngày ở đó.
EZR 8:33 Đến ngày thứ tư chúng tôi cân bạc, vàng và những đồ dùng cho đền thờ Thượng Đế. Chúng tôi trao tất cả cho thầy tế lễ Mê-rê-mốt, con U-ri. Ê-lê-a-xa, con Phi-nê-ha cũng có mặt đó với người cùng với các người Lê-vi như Giô-xa-bát, con Giê-sua, và Nô-a-đia, con Bin-nui.
EZR 8:34 Chúng tôi kiểm kê mọi thứ theo số món và theo trọng lượng, rồi ghi lại tổng số.
EZR 8:35 Sau đó những tù binh vừa hồi hương dâng của lễ thiêu lên cho Thượng Đế của Ít-ra-en. Họ dâng mười hai con bò đực, chín mươi sáu con chiên đực, và bảy mươi bảy con chiên con. Còn về của lễ chuộc tội thì họ dâng mười hai con dê đực. Tất cả các con thú đó được dâng lên làm của lễ thiêu cho CHÚA.
EZR 8:36 Họ trình sắc lệnh của vua cho các sĩ quan hoàng gia và cho các tổng trấn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát. Rồi những người đó giúp đỡ dân chúng và đền thờ của Thượng Đế.
EZR 9:1 Sau các việc ấy thì các lãnh tụ đến trình với tôi, “E-xơ-ra ơi, dân Ít-ra-en, kể cả các thầy tế lễ và người Lê-vi, không biệt mình riêng ra khỏi các dân tộc xung quanh chúng ta. Các dân đó làm ác, như dân Ca-na-an, Hê-tít, Phê-ri-xít, Giê-bu-sít, A-môn, Mô-áp, Ai-cập, và A-mô-rít.
EZR 9:2 Các người đàn ông Ít-ra-en cùng con trai họ đã cưới các người đàn bà đó. Họ đã pha trộn dân Thượng Đế với các dân sống quanh mình. Các lãnh tụ và các viên chức Ít-ra-en đã hướng dẫn toàn dân Ít-ra-en làm điều bất trung nầy.”
EZR 9:3 Khi tôi nghe vậy thì giận dữ xé áo dài và áo choàng tôi, nhổ tóc và râu rồi ngồi xuống mà kinh hoảng.
EZR 9:4 Người nào nghe lời Thượng Đế của Ít-ra-en và run sợ đều tụ tập quanh tôi vì sự bất trung mà các tù binh vừa hồi hương phạm. Tôi ngồi đó kinh hoảng cho đến giờ dâng của lễ buổi chiều.
EZR 9:5 Đến giờ dâng của lễ buổi chiều tôi đứng dậy khỏi nơi tôi ngồi để bày tỏ sự hổ nhục. Áo dài và áo choàng tôi rách tả tơi, tôi quì xuống giơ hai tay lên hướng về CHÚA là Thượng Đế tôi.
EZR 9:6 Tôi cầu nguyện, “Lạy Thượng Đế, tôi quá nhục nhã và xấu hổ không dám ngước mặt lên cùng Ngài, là Thượng Đế tôi vì tội lỗi chúng tôi quá nhiều. Chúng cao hơn đầu chúng tôi. Tội lỗi chúng tôi lên đến tận trời.
EZR 9:7 Từ thời tổ tiên chúng tôi đến nay, tội lỗi chúng tôi nhiều lắm. Vì tội lỗi chúng tôi mà chúng tôi, các vua và các thầy tế lễ chúng tôi đã bị trừng phạt bằng gươm và bị tù đày. Các vua ngoại quốc đã cướp của cải chúng tôi và làm nhục chúng tôi cho đến ngày nay.
EZR 9:8 Nhưng nay, trong một thời gian ngắn, CHÚA là Thượng Đế đã tỏ lòng nhân từ cùng chúng tôi. Ngài đã cho phép một số chúng tôi trở về từ chốn lưu đày và cho chúng tôi sống an ninh trong nơi thánh của Ngài. Ngoài ra Thượng Đế chúng tôi đã ban cho chúng tôi hi vọng và giải thoát khỏi cảnh nô lệ.
EZR 9:9 Mặc dù chúng tôi là nô lệ nhưng Thượng Đế không lìa bỏ chúng tôi. Ngài khiến cho các vua Ba-tư nhân từ cùng chúng tôi và ban cho chúng tôi một cuộc đời mới. Chúng tôi có thể xây lại đền thờ và sửa chữa những nơi đổ nát của nó. Ngài cũng ban cho chúng tôi một tường thành để bảo vệ chúng tôi trong Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
EZR 9:10 Nhưng bây giờ thưa Thượng Đế, chúng tôi sẽ nói gì sau khi Ngài đã làm những điều đó? Chúng tôi đã không vâng phục mệnh lệnh
EZR 9:11 mà Ngài đã truyền lại qua các tôi tớ và các nhà tiên tri của Ngài. Ngài phán, ‘Xứ mà các ngươi vào nhận làm sản nghiệp đã hư hỏng rồi; dân sống ở đó đã làm hư hỏng đất đó vì những điều ác chúng làm. Sự gian ác chúng nó tràn ngập đất, nhơ nhớp đầy dẫy từ đầu nầy đến đầu kia.
EZR 9:12 Vì thế đừng cho con gái các ngươi kết hôn với con trai chúng nó, cũng đừng cưới con gái chúng nó cho con trai các ngươi. Đừng mong ước hòa bình hay thành công cho chúng nó. Như thế các ngươi sẽ hùng mạnh và hưởng những điều tốt lành trong xứ. Rồi các ngươi sẽ để lại xứ nầy cho dòng dõi các ngươi đời đời.’
EZR 9:13 Chúng tôi đã tự gây ra những thảm họa cho mình. Chúng tôi đã làm những điều ác, tội lỗi chúng tôi rất lớn. Nhưng Ngài là Thượng Đế chúng tôi, đã không trừng phạt chúng tôi tương xứng với tội lỗi chúng tôi; Ngài đã để cho một số chúng tôi còn sống sót.
EZR 9:14 Chúng tôi không nên phạm mệnh lệnh Ngài bằng cách kết hôn với những dân độc ác nầy. Nếu không Ngài sẽ nổi giận tiêu diệt chúng tôi, rồi sẽ không còn ai sống sót.
EZR 9:15 Lạy CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en, vì lòng nhân từ Ngài mà một số ít chúng tôi còn sống sót hôm nay. Chúng tôi nhìn nhận mình có tội. Không ai trong chúng tôi xứng đáng đứng trước mặt Ngài.”
EZR 10:1 Trong khi E-xơ-ra đang cầu nguyện xưng tội, khóc lóc vật vã trước mặt đền thờ thì một nhóm đông người Ít-ra-en gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con tụ tập xung quanh ông khóc lóc thảm thiết.
EZR 10:2 Rồi Sê-ca-nia, con Giê-hi-ên, người Ê-lam nói cùng E-xơ-ra rằng, “Chúng ta đã bất trung cùng Thượng Đế chúng ta bằng cách kết hôn với những đàn bà thuộc các dân tộc quanh ta. Dù vậy, vẫn còn hi vọng cho Ít-ra-en.
EZR 10:3 Bây giờ chúng ta hãy lập giao ước trước mặt Thượng Đế chúng ta. Chúng ta sẽ đuổi tất cả những người đàn bà đó cùng con cái họ theo như ông và những người tôn trọng mệnh lệnh Thượng Đế chỉ bảo. Chúng ta phải làm như thế theo lời Giáo Huấn của Ngài.
EZR 10:4 Vậy, E-xơ-ra ơi, hãy đứng lên. Ông là người chịu trách nhiệm, chúng tôi sẽ ủng hộ ông. Hãy can đảm làm điều đó.”
EZR 10:5 Vậy E-xơ-ra đứng dậy và buộc các thầy tế lễ, người Lê-vi, cùng toàn dân Ít-ra-en hứa làm theo lời đề nghị trên. Mọi người đều hứa.
EZR 10:6 Rồi E-xơ-ra rời đền thờ và đi vào phòng của Giê-hô-ha-nan, con Ê-li-a-xíp. Trong khi ở đó, E-xơ-ra không ăn uống gì vì ông vẫn còn buồn bực về sự bất trung của những tù binh vừa hồi hương.
EZR 10:7 Họ ra lệnh cho tất cả các tù binh trong Giu-đa và Giê-ru-sa-lem vừa hồi hương phải tập họp tại Giê-ru-sa-lem.
EZR 10:8 Trong vòng ba ngày ai không đến Giê-ru-sa-lem sẽ bị tịch thu gia sản và bị loại ra khỏi cộng đồng của những tù binh hồi hương. Đó là quyết định của các viên chức và các bô lão.
EZR 10:9 Vì thế trong vòng ba ngày tất cả các người Giu-đa và Bên-gia-min tập họp lại tại Giê-ru-sa-lem. Đó là ngày hai mươi tháng chín. Tất cả dân chúng ngồi trong sân trống trước đền thờ, bực tức vì vụ họp và vì trời mưa.
EZR 10:10 Thầy tế lễ E-xơ-ra đứng lên nói với họ, “Các ngươi đã bất trung khi lấy những người đàn bà không phải Do-thái làm vợ. Các ngươi đã làm cho dân Ít-ra-en mắc tội thêm.
EZR 10:11 Bây giờ hãy xưng tội cùng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các ngươi. Hãy làm theo ý muốn Ngài và tách ra khỏi các dân tộc sống quanh các ngươi và khỏi các vợ không phải Do-thái của mình.”
EZR 10:12 Tất cả nhóm đều lớn tiếng đáp với E-xơ-ra, “E-xơ-ra, ông nói phải! Chúng tôi phải làm theo như ông nói.
EZR 10:13 Nhưng ở đây có đông người mà trời mưa nữa. Chúng tôi không thể đứng ngoài trời vì vấn đề nầy không thể giải quyết trong một hai ngày được, vì chúng tôi đã phạm tội rất nặng.
EZR 10:14 Bây giờ hãy để các viên chức quyết định cho toàn thể. Rồi mỗi người trong thành chúng tôi ai đã cưới vợ không phải Do-thái gặp riêng các bô lão hay quan án của từng thị trấn theo thời gian ấn định trước cho đến khi cơn giận phừng của Thượng Đế qua khỏi chúng tôi.”
EZR 10:15 Chỉ có Giô-na-than, con A-sa-hên, Gia-xê-gia, con Tích-va, Mê-su-lam và Sa-bê-thai người Lê-vi phản đối đề nghị đó.
EZR 10:16 Vậy những tù binh hồi hương làm theo lời đề nghị. Thầy tế lễ E-xơ-ra chọn những trưởng tộc và chỉ định một người từ mỗi họ hàng. Ngày một tháng mười họ ngồi xuống cứu xét từng trường hợp.
EZR 10:17 Đến ngày một tháng giêng thì họ đã kiểm kê xong những đàn ông đã kết hôn với các phụ nữ không phải Do-thái.
EZR 10:18 Sau đây là con cháu các thầy tế lễ đã kết hôn với các thiếu nữ ngoại lai: Trong con cháu Giê-sua, con Giô-xa-đác, và anh em Giê-sua: Ma-a-sê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia.
EZR 10:19 Tất cả những người nầy đều hứa ly dị vợ mình, mỗi người mang một con chiên đực trong bầy để làm của lễ chuộc lỗi.
EZR 10:20 Trong con cháu Im-mê: Ha-na-ni và Xê-ba-đia.
EZR 10:21 Trong con cháu Ha-rim: Ma-a-sê-gia, Ê-li, Sê-mai-gia, Giê-hi-ên, và Ô-xia.
EZR 10:22 Trong con cháu Ba-sua: Ê-li-nô-ê-ai, Ma-a-sê-gia, Ích-ma-ên, Nê-tha-nên, Giô-xa-bát, và Ê-la-xa.
EZR 10:23 Trong vòng người Lê-vi: Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-lai-gia (cũng có tên là Kê-li-ta), Bê-tha-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.
EZR 10:24 Trong vòng ca sĩ: Ê-li-a-síp. Trong vòng các người giữ cửa: Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.
EZR 10:25 Và trong vòng các người Ít-ra-en khác thì những người sau đây kết hôn với các phụ nữ không phải Do-thái: Trong con cháu Ba-rốt: Ra-mai-gia, Ích-xai-gia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-nai-gia.
EZR 10:26 Trong vòng con cháu Ê-lam: Ma-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li.
EZR 10:27 Trong vòng con cháu Xát-tu: Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Ma-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa.
EZR 10:28 Trong vòng con cháu Bê-bai: Giê-hô-ha-nan, Ha-na-nia, Xa-bai, và Át-lai.
EZR 10:29 Trong vòng con cháu Ba-ni: Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đai-gia, Gia-súp, Sê-an, và Giê-rê-mốt.
EZR 10:30 Trong vòng con cháu Ba-hát Mô-áp: Ách-na, Kê-lanh, Bê-nai-gia, Ma-a-sê-gia, Ma-ta-nia, Bê-xa-lên, Binh-nui, và Ma-na-xe.
EZR 10:31 Trong vòng con cháu Ha-rim: Ê-li-ê-xe, Ích-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-mai-gia, Xi-mê-ôn,
EZR 10:32 Bê-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria.
EZR 10:33 Trong vòng con cháu Ha-sum: Mát-tê-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-xe, và Si-mê-i.
EZR 10:34 Trong vòng con cháu Ba-ni: Ma-A-đai, Am-ram, U-ên,
EZR 10:35 Bê-nai-gia, Bê-đê-gia, Kê-lu-hi,
EZR 10:36 Va-nai-gia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp,
EZR 10:37 Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, và Gia-a-xu.
EZR 10:38 Trong vòng con cháu Binh-nui: Si-mê-i,
EZR 10:39 Sê-lê-mia, Na-than, A-đai-gia,
EZR 10:40 Mạc-na-đê-bai, Sa-sai, Sa-rai,
EZR 10:41 A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria,
EZR 10:42 Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-xép.
EZR 10:43 Trong vòng con cháu Nê-bô: Giê-Y-ên, Mát-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên, và Bê-nai-gia.
EZR 10:44 Tất cả những người đó lấy vợ không phải Do-thái và một số đã có con với họ.
NEH 1:1 Sau đây là lời của Nê-hê-mi, con trai Ha-ca-lia. Vào tháng Kích-lê năm thứ hai mươi, tôi, Nê-hê-mi, đang ở trong khu vực thuộc thành Su-sơ.
NEH 1:2 Một trong những anh em tôi là Ha-na-ni và một số người khác từ xứ Giu-đa trở về. Tôi hỏi thăm họ về thành Giê-ru-sa-lem và những người Do-thái đã thoát khỏi cuộc lưu đày đang sống trong vùng ấy.
NEH 1:3 Họ đáp, “Những người còn sót lại sau cuộc lưu đày đã trở về xứ Giu-đa nhưng họ gặp khó khăn và tủi nhục lắm. Vách thành Giê-ru-sa-lem thì sụp đổ, còn các cổng thành thì bị thiêu rụi.”
NEH 1:4 Sau khi nghe tin đó thì tôi ngồi khóc mấy ngày liền. Tôi buồn bã không ăn uống gì. Tôi cầu nguyện với Thượng Đế trên trời rằng,
NEH 1:5 “Lạy CHÚA là Thượng Đế của các từng trời, Ngài là Đấng cao cả đáng kính sợ. Ngài thành tín và giữ giao ước với những người yêu mến và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
NEH 1:6 Xin hãy nhìn xuống và lắng nghe lời tôi, kẻ tôi tớ Ngài khẩn nguyện cả ngày lẫn đêm cho dân Ít-ra-en là các tôi tớ Ngài. Tôi xưng tội mà họ đã phạm cùng Ngài. Gia đình cha tôi và tôi cũng đã phạm tội cùng Ngài.
NEH 1:7 Chúng tôi đã hành động gian ác đối với Ngài, không vâng theo mệnh lệnh, qui tắc, luật lệ Ngài truyền ra qua tôi tớ Ngài là Mô-se.
NEH 1:8 Xin hãy nhớ điều Ngài đã dạy Mô-se, tôi tớ Ngài rằng, ‘Nếu các ngươi không trung tín, ta sẽ phân tán các ngươi giữa mọi nước.
NEH 1:9 Nhưng nếu các ngươi trở lại cùng ta và vâng theo mệnh lệnh ta, thì ta sẽ mang các ngươi về từ nơi tận cùng trái đất. Ta sẽ mang họ về từ chỗ bị cầm tù đến nơi ta đã chọn để họ thờ phụng ta.’
NEH 1:10 Họ là các tôi tớ và dân chúng mà Ngài đã giải cứu bằng sức mạnh và quyền năng lớn lao của Ngài.
NEH 1:11 Lạy CHÚA, xin hãy lắng nghe lời khẩn nguyện của tôi tớ Ngài cùng những lời cầu xin của các tôi tớ yêu mến và tôn kính Ngài. Hôm nay, xin Ngài hãy ban cho tôi, kẻ tôi tớ Ngài được thành công. Xin giúp cho nhà vua tỏ lòng nhân từ đối với tôi.” Tôi là người hầu rượu cho vua.
NEH 2:1 Vào tháng Ni-san năm thứ hai mươi triều đại vua. Nhà vua cần rượu cho nên tôi dâng rượu lên cho vua. Xưa nay tôi chưa hề tỏ vẻ buồn rầu khi đứng trước mặt vua.
NEH 2:2 Vì thế vua hỏi, “Sao mặt ngươi trông ủ rũ mặc dù ngươi không có bệnh tật gì? Chắc trong lòng ngươi có điều gì buồn bực?” Lúc đó tôi đâm ra sợ.
NEH 2:3 Tôi thưa với vua, “Thưa vua, chúc vua sống đời đời! Sở dĩ tôi buồn là vì thành phố nơi có mồ mả của tổ tiên tôi bị điêu tàn, các cổng thành bị thiêu rụi.”
NEH 2:4 Vua liền hỏi, “Ngươi cần gì?” Tôi liền thầm nguyện với Thượng Đế trên trời.
NEH 2:5 Rồi tôi thưa với vua, “Nếu vua bằng lòng, xin cho phép tôi đi trở về thành thuộc xứ Giu-đa nơi có mồ mả của tổ tiên tôi để tôi xây nó lại.”
NEH 2:6 Lúc đó hoàng hậu đang ngồi cạnh vua. Nhà vua hỏi, “Ngươi đi bao lâu và chừng nào ngươi về?” Vua bằng lòng sai tôi đi nên tôi định kỳ hạn.
NEH 2:7 Tôi cũng thưa với vua, “Nếu vua cho phép, xin cấp cho tôi thư gởi cho các tổng trấn phía Tây sông Ơ-phơ-rát để họ cho phép tôi đi an toàn về Giu-đa.
NEH 2:8 Tôi xin vua viết một thư cho A-sáp, viên quản thủ lâm sản của vua để người cấp cho tôi gỗ. Tôi cần gỗ để làm các cổng cung điện kế cận đền thờ, và để xây tường, đồng thời để xây nhà cho tôi ở.” Vua liền cấp cho tôi các bức thư vì Thượng Đế tỏ lòng nhân từ Ngài đối cùng tôi.
NEH 2:9 Rồi tôi đi đến các quan tổng trấn phía Tây sông Ơ-phơ-rát và trình các bức thư của vua cấp. Vua cũng phái các sĩ quan và các lính cỡi ngựa cùng đi với tôi.
NEH 2:10 Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bia, viên sĩ quan người Am-môn, nghe tin nầy thì họ đâm ra bực tức vì nay có người giúp đỡ dân Ít-ra-en.
NEH 2:11 Tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở lại đó ba ngày.
NEH 2:12 Ban đêm tôi cùng một vài người nữa lên đường. Tôi không cho ai biết điều Thượng Đế muốn tôi làm cho Giê-ru-sa-lem. Không có súc vật nào khác ngoài con vật tôi cỡi.
NEH 2:13 Ban đêm tôi đi qua Cổng Thung Lũng. Tôi đi đến Giếng Rồng và Cổng Rác, xem xét các vách thành Giê-ru-sa-lem đã bị sụp đổ và các cổng đã bị lửa đốt cháy.
NEH 2:14 Rồi tôi đi đến Cổng Suối Nước và Hồ Vua. Ở đó không đủ chỗ cho con vật tôi cỡi đi qua.
NEH 2:15 Cho nên ban đêm tôi đi lên thung lũng và xem xét vách thành. Cuối cùng tôi quay trở về Cổng Thung Lũng.
NEH 2:16 Các lính canh không biết tôi đi đâu hay làm gì. Tôi chưa nói gì cả với dân Do-thái, các thầy tế lễ, các thân hào, các sĩ quan, hay bất cứ ai sẽ tham gia công tác tái thiết.
NEH 2:17 Sau đó tôi bảo họ, “Các anh em có thể thấy cái khó khăn mình gặp ở đây. Giê-ru-sa-lem là một đống hoang tàn, cổng thành bị lửa thiêu rụi. Bây giờ chúng ta hãy xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem để chúng ta không bị tủi nhục nữa.”
NEH 2:18 Tôi cũng cho họ biết Thượng Đế đã nhân từ đối với tôi ra sao cùng thuật lại với họ những lời vua nói cùng tôi. Họ đồng thanh bảo, “Vậy chúng ta hãy khởi công tái thiết.” Thế là họ ra công.
NEH 2:19 Nhưng khi San-ba-lát, người Hô-rôn và Tô-bia, sĩ quan người Am-môn, và Ghê-sem, người Á-rập nghe tin đó liền chế diễu và cười nhạo chúng tôi. Họ hỏi, “Mấy anh định làm gì đó? Mấy anh định âm mưu chống vua à?”
NEH 2:20 Nhưng tôi trả lời, “Thượng Đế của các từng trời sẽ giúp chúng tôi thành công. Chúng tôi là tôi tớ Ngài, sẽ khởi công xây dựng lại. Nhưng các anh không có phần, quyền lợi hay kỷ niệm gì với Giê-ru-sa-lem cả.”
NEH 3:1 Ê-li-a-síp, thầy tế lễ cả và các thầy tế lễ đồng nghiệp bắt tay xây dựng lại Cổng Chiên. Họ dâng công tác mình cho CHÚA và dựng lại các cửa vào vị trí. Họ làm việc cho đến Tháp Một Trăm và dâng công tác cho CHÚA. Rồi họ đi đến xây lại Tháp Ha-na-nên.
NEH 3:2 Kế bên họ, có những người ở Giê-ri-cô xây lại một phần vách, còn Xa-cua, con trai Im-ri, xây kế bên họ.
NEH 3:3 Các con trai của Hát-sê-na xây lại Cổng Cá, đặt ván và dựng cửa, chốt cửa và đòn ngang vào vị trí.
NEH 3:4 Mê-rê-mốt, con trai U-ri, con của Hát-cô, sửa chữa kế bên họ. Mê-su-lam, con của Bê-rê-kia, con trai của Mê-sê-sa-bên, xây sửa kế bên Mê-rê-mốt. Còn Xa-đốc, con của Ba-a-na, sửa chữa bên cạnh Mê-su-lam.
NEH 3:5 Những người từ Tê-cô-a sửa chữa kế bên họ, nhưng những người trưởng toán của Tê-cô-a không làm việc dưới quyền các đốc công của họ.
NEH 3:6 Giô-gia-đa, con Pha-sê-a và Mê-su-lam, con Bê-sô-đia sửa chữa Cổng Cũ. Họ đặt ván và dựng cửa, chốt cửa và đòn ngang vào vị trí.
NEH 3:7 Tiếp theo họ có Mê-la-tia từ Ghi-bê-ôn cùng những người khác từ Ghi-bê-ôn và Mích-ba, với Gia-đôn từ Mê-rô-nốt cũng sửa chữa. Đó là những khu vực thuộc quyền cai trị của viên thống đốc vùng Ơ-phơ-rát.
NEH 3:8 Kế họ có U-xi-ên, con trai Ha-hai-gia, thợ bạc, cũng sửa chữa. Kế người có Ha-na-nai-gia, thợ làm dầu thơm, sửa chữa. Những người đó xây sửa lại Giê-ru-sa-lem cho đến Cửa Rộng.
NEH 3:9 Phần kế tiếp của vách do Rê-phai-a, con Hu-rơ, quan cai trị phân nửa quận Giê-ru-sa-lem sửa chữa.
NEH 3:10 Cạnh người có Giê-đai-gia, con trai Ha-ru-máp sửa chữa phần đối diện nhà mình. Kế bên người có Ha-túc, con Ha-sáp-nia sửa chữa.
NEH 3:11 Manh-ki-gia, con Ha-rim và Hát-súp, con Pha-hát Mô-áp sửa chữa phần khác của vách và Tháp Lò.
NEH 3:12 Kế họ có Sa-lum, con Ha-lô-hết, viên quan cai quản nửa quận Giê-ru-sa-lem. Các con gái người cũng tham gia công tác sửa chữa.
NEH 3:13 Ha-nun và những người từ Xa-nô-a sửa chữa Cổng Thung Lũng, xây dựng lại cổng đó, dựng cửa, chốt cửa và đặt các đòn ngang vào vị trí. Họ cũng sửa chữa hơn bốn trăm thước vách chạy dài cho đến Cổng Rác.
NEH 3:14 Manh-ki-gia, con Rê-cáp, viên quan cai trị quận Bết Ha-kê-rem, sửa chữa Cổng Rác. Người xây lại cổng đó, dựng cửa, chốt cửa và đặt các đòn ngang vào vị trí.
NEH 3:15 Sa-lum, con của Côn-Hô-giê, viên quan cai trị quận Mích-ba sửa chữa Cổng Suối Nước. Người xây sửa lại cổng đó, dựng mái che lên trên, đặt cửa, chốt cửa và các đòn ngang vào vị trí. Người cũng sửa chữa vách của Hồ Si-lôm kế cận Vườn Vua chạy dài cho tới các bậc thềm đi xuống phần xưa cũ của thành Đa-vít.
NEH 3:16 Kế Sa-lum có Nê-hê-mi, con Ách-búc, viên quan cai trị phân nửa quận Bết-sua. Người sửa chữa phần đối diện mả của Đa-vít và chạy tới hồ nhân tạo và Nhà của Các Anh hùng.
NEH 3:17 Kế người có các người Lê-vi sửa chữa. Họ làm việc dưới quyền coi sóc của Rê-hum, con Ba-ni. Kế người có Ha-sa-bia, quan cai trị nửa quận Kê-I-la, tức quận của mình.
NEH 3:18 Cạnh người có Binh-nui, con Hê-na-đát và những người Lê-vi sửa chữa. Binh-nui là quan cai trị nửa quận Kê-I-la.
NEH 3:19 Kế họ có Ê-xe, con Giê-sua, quan cai trị Mích-ba, sửa chữa phần khác của vách. Người làm việc đối diện với kho vũ khí, đến chỗ quẹo.
NEH 3:20 Kế người có Ba-rúc, con Xáp-bai, ra công dựng lại vách từ chỗ quẹo cho đến cổng nhà của Ê-li-a-síp, thầy tế lễ cả.
NEH 3:21 Kế người là Mê-rê-mốt, con U-ri, con Hát-cô sửa chữa phần vách chạy từ cổng nhà Ê-li-a-síp cho đến cuối nhà.
NEH 3:22 Khu vực kế tiếp do các thầy tế lễ từ sống gần vùng đó phụ trách sửa chữa.
NEH 3:23 Kế họ có Bên-gia-min và Hát-súp sửa chữa trước mặt nhà họ. Tiếp đến có A-xa-ria, con Ma-a-sê-gia, con A-na-nia, sửa chữa bên cạnh nhà mình.
NEH 3:24 Cạnh người có Binh-nui, con Hê-na-đát, sửa chữa vách chạy từ nhà A-xa-ria đến chỗ quẹo cho tới góc thành.
NEH 3:25 Pha-lanh, con U-sai sửa chữa đối diện từ chỗ quẹo cạnh tháp ở cung điện trên, gần sân của toán cận vệ vua. Kế bên Pha-lanh có Phê-đai-gia, con Pha-rốt sửa chữa.
NEH 3:26 Những người giúp việc trong đền thờ cư ngụ trên đồi Ô-phen sửa chữa cho đến điểm đối ngang Cổng Nước. Rồi họ sửa chữa về phía đông và phía tháp chạy từ cung vua.
NEH 3:27 Kế họ có những người ở Tê-cô-a sửa chữa vách từ tháp cao chạy dài từ cung vua cho đến vách Ô-phen.
NEH 3:28 Các thầy tế lễ sửa chữa phía trên Cổng Ngựa, mỗi người lo phần trước mặt nhà mình.
NEH 3:29 Kế bên họ có Xa-đốc, con của Im-mê sửa chữa đối diện nhà mình. Cạnh người có Sê-mai-gia, con Sê-ca-nia, lính canh Cổng phía đông, cũng sửa chữa.
NEH 3:30 Kế bên người có Ha-na-nia, con Sê-lê-mia và Ha-nun, con thứ sáu của Xa-láp, sửa chữa phần khác của vách. Cạnh họ có Mê-su-lam, con Bê-rê-kia sửa chữa ngay trước nơi ở của mình.
NEH 3:31 Kế người có Manh-ki-gia, một trong những thợ bạc, cũng sửa chữa. Người sửa cho đến nhà của các đầy tớ phục vụ trong đền thờ và các thương gia. Đó là phần nằm đối diện Cổng Thanh tra, và làm cho đến phòng phía trên góc vách.
NEH 3:32 Các thợ bạc và thương gia sửa chữa phần nằm giữa phòng phía trên của góc vách và Cổng Chiên.
NEH 4:1 Khi San-ba-lát nghe chúng tôi xây sửa lại vách thành, hắn rất bất bình đến độ tức tối. Hắn chế diễu dân Do-thái.
NEH 4:2 Hắn bảo bạn hữu và những kẻ có thế lực ở Xa-ma-ri rằng, “Bọn Do-thái yếu hèn đó mà làm được gì? Tụi nó xây lại vách thành à? Rồi dâng của lễ hả? Bộ chúng xây một ngày là xong sao? Liệu chúng có thể phục hồi sinh lực của các tảng đá đã thành đống rác hay tro tàn được sao?”
NEH 4:3 Tô-bia người Am-môn đứng kế San-ba-lát cũng phụ họa, “Nếu có con chồn trèo lên vách đá mà chúng đang xây cũng đủ làm nó sập liền.”
NEH 4:4 Tôi cầu nguyện, “Thượng Đế ơi, xin nghe chúng tôi. Người ta ghét chúng tôi. Xin đổ sự sỉ nhục của San-ba-lát và Tô-bia lại trên đầu chúng nó. Xin cho chúng nó bị bắt làm tù đày và làm chiến lợi phẩm.
NEH 4:5 Xin đừng giấu tội lỗi hay cất gian ác chúng nó khỏi mắt chúng nó vì chúng nó đã sỉ nhục những thợ sửa chữa.”
NEH 4:6 Nên chúng tôi xây lại vách đến phân nửa chiều cao, vì dân chúng hăng say làm việc.
NEH 4:7 Nhưng San-ba-lát, Tô-bia, những người Á-rập, người Am-môn, người từ Ách-đốt đều tức giận khi chúng nghe chương trình sửa chữa vách thành Giê-ru-sa-lem tiến triển đều đặn và các lỗ trong vách thành đang được trám lại.
NEH 4:8 Cho nên họ lập mưu đến Giê-ru-sa-lem kiếm chuyện để gây rối, ngăn trở việc xây cất.
NEH 4:9 Nhưng chúng tôi cầu nguyện cùng Thượng Đế và cắt lính canh chừng họ cả ngày lẫn đêm.
NEH 4:10 Dân Giu-đa báo cáo, “Các nhân công đã mệt mỏi rồi. Rác rưởi nhiều quá chúng tôi không thể xây sửa vách thành được nữa.”
NEH 4:11 Các kẻ thù chúng tôi bảo, “Bọn Do-thái không biết, không thấy gì hết cho đến khi chúng ta ập đến giết chúng và làm gián đoạn công tác.”
NEH 4:12 Mười lần những người Do-thái sống cạnh các kẻ thù chúng tôi đến báo cáo, “Quay phía nào cũng bị kẻ thù tấn công.”
NEH 4:13 Vì thế tôi đặt người gác những nơi thấp nhất dọc theo vách tức các chỗ trống và cắt các gia đình làm việc chung nhau, mang theo gươm, giáo, cung tên.
NEH 4:14 Rồi tôi nhìn quanh quất và đứng lên bảo các người có uy tín, các người lãnh đạo, và cùng toàn thể dân chúng: “Anh em đừng sợ họ. Hãy nhớ CHÚA là Đấng cao cả và quyền năng. Hãy chiến đấu vì anh em, con trai và con cái mình, cho vợ và nhà cửa mình.”
NEH 4:15 Sau đó các kẻ thù nghe rằng chúng tôi đã hay biết âm mưu của chúng và Thượng Đế đã phá hỏng âm mưu chúng. Cho nên chúng tôi trở lại công tác xây sửa vách thành, ai lo làm phần nấy.
NEH 4:16 Từ hôm đó trở đi, phân nửa số thợ lo xây sửa. Phân nửa khác sẵn sàng gươm, thuẫn, cung tên, và vũ khí. Các sĩ quan đứng phía sau người Giu-đa
NEH 4:17 là những người đang xây lại vách. Những người mang vật liệu bằng một tay, còn tay kia cầm vũ khí.
NEH 4:18 Mỗi người thợ đều mang theo vũ khí bên hông đang khi làm việc. Còn người thổi kèn báo động đứng kế bên tôi.
NEH 4:19 Rồi tôi bảo những người có uy tín, các người lãnh đạo và toàn thể dân chúng rằng, “Công tác nầy rất lớn lao. Chúng ta phân tán mỏng dọc theo vách thành cho nên cách nhau quá xa.
NEH 4:20 Khi nào các anh em nghe tiếng kèn báo động thì hãy tập họp lại chỗ đó. Thượng Đế của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.”
NEH 4:21 Cho nên chúng tôi tiếp tục làm việc, phân nửa số người cầm gươm giáo từ sáng sớm cho đến khi sao mọc.
NEH 4:22 Lúc đó tôi cũng bảo dân chúng, “Mỗi người thợ và các người phụ việc phải ngủ đêm lại Giê-ru-sa-lem. Ban đêm họ làm lính tuần canh, còn ban ngày thì làm việc.”
NEH 4:23 Tôi, anh em tôi, các người thợ, hay các lính tuần canh đều không thay quần áo. Mỗi người đều mang theo vũ khí cả lúc đi lấy nước nữa.
NEH 5:1 Một số người đàn ông và các bà vợ khiếu nại về đồng bào Do-thái khác.
NEH 5:2 Họ bảo, “Gia đình chúng tôi đông con, trai lẫn gái. Muốn sống chúng tôi phải ăn bằng thóc gạo.”
NEH 5:3 Một số người khác bảo, “Chúng tôi cầm thế ruộng, vườn nho, nhà cửa để lấy tiền mua thóc gạo vì thực phẩm khan hiếm.”
NEH 5:4 Một số người khác nữa nói, “Chúng tôi phải vay tiền để trả thuế ruộng nương và vườn nho cho vua.
NEH 5:5 Chúng tôi cũng giống như các anh em Do-thái khác, con chúng tôi cũng như con họ. Nhưng chúng tôi phải bán con trai con gái mình làm tôi mọi. Một số con gái chúng tôi đã bị bán. Chúng tôi không biết làm gì hơn vì đất ruộng và vườn nho chúng tôi thuộc về người khác rồi.”
NEH 5:6 Khi tôi nghe những lời khiếu nại đó tôi vô cùng tức giận.
NEH 5:7 Sau khi suy xét kỹ về vấn đề nầy, tôi liền trách những người có uy tín, những người lãnh đạo trong dân chúng. Tôi bảo, “Mấy anh em cho vay ăn lời cắt cổ.” Cho nên tôi triệu tập một phiên họp lớn để giải quyết.
NEH 5:8 Tôi bảo họ, “Chúng ta đã chuộc tự do cho đồng bào Do-thái mình là những kẻ đã bị bán cho người ngoại quốc. Bây giờ anh em lại bán đồng bào Do-thái mình cho chúng tôi!” Các người lãnh đạo làm thinh, không biết nói làm sao.
NEH 5:9 Tôi tiếp, “Điều anh em làm thật không đúng chút nào. Anh em không kính sợ Thượng Đế sao? Đừng để những kẻ thù ngoại quốc sỉ nhục chúng ta.
NEH 5:10 Tôi, anh em tôi, và những người làm cho tôi cũng cho dân chúng mượn tiền, thóc gạo và lấy lời. Nhưng anh em không nên làm như thế.
NEH 5:11 Bây giờ hãy trả lại ruộng nương, vườn nho, cây ô liu, và nhà cửa cho họ. Cũng phải hoàn trả lại số tiền lời quá đáng mà anh em đã thu, tức một phần trăm tiền cho vay, gạo thóc, rượu mới và dầu.”
NEH 5:12 Họ đáp, “Chúng tôi sẽ trả lại cho dân chúng và không đòi họ thêm gì cả. Chúng tôi sẽ làm theo như ông nói.” Rồi tôi gọi các thầy tế lễ và buộc các người có uy tín và các người lãnh đạo tuyên thệ thực hiện lời họ cam kết.
NEH 5:13 Tôi cũng giũ áo tôi và tuyên bố, “Những ai không giữ lời cam kết sẽ bị Thượng Đế giũ ra như thế nầy. Cầu Thượng Đế giũ họ ra khỏi nhà Ngài và ra khỏi tài sản họ. Nguyện người đó bị giũ ra còn tay không!” Rồi toàn thể mọi người nói, “A-men,” và ca ngợi CHÚA. Vậy dân chúng làm theo điều họ cam kết.
NEH 5:14 Năm thứ hai mươi đời vua Ạc-ta-xét-xe, tôi được cử làm tổng trấn đất Giu-đa. Tôi giữ chức tổng trấn xứ Giu-đa trong mười hai năm cho đến năm thứ ba mươi hai đời vua đó. Trong thời gian tại chức tôi hay anh em tôi không hề hưởng lương thực dành cho quan tổng trấn.
NEH 5:15 Nhưng các quan tổng trấn trước tôi đè đầu cỡi cổ dân chúng. Họ thu một cân bạc từ mỗi người, không kể thực phẩm và rượu. Những người giúp việc cho quan tổng trấn trước tôi cũng chèn ép dân chúng, nhưng tôi không làm như vậy vì tôi kính sợ Thượng Đế.
NEH 5:16 Tôi làm công tác sửa chữa vách thành cũng như tất cả đầy tớ tôi có mặt tại đó. Chúng tôi không mua ruộng nương của ai.
NEH 5:17 Ngoài ra tôi thết đãi một trăm năm mươi người và viên chức Do-thái ăn cùng bàn với tôi, luôn cả những người đến từ các quốc gia lân cận.
NEH 5:18 Thức ăn chuẩn bị hằng ngày gồm có: một con bò, sáu con chiên mập, và chim chóc. Mỗi mười ngày lại có đủ thứ rượu. Nhưng tôi không hề đòi hỏi lương thực dành cho quan tổng trấn vì dân chúng đã phải làm lụng vất vả lắm rồi.
NEH 5:19 Lạy Thượng Đế, xin nhớ tỏ lòng nhân từ đối với tôi vì những điều tốt tôi đã làm cho dân nầy.
NEH 6:1 Lúc đó San-ba-lát, Tô-bia, Ghê-sem người Á-rập, và những kẻ thù khác của chúng tôi nghe rằng tôi đã sửa chữa lại vách thành và không còn lỗ trống nào trong vách. Nhưng tôi chưa cho dựng các cánh cửa của cổng thành.
NEH 6:2 Nên San-ba-lát và Ghê-sem nhắn với tôi như sau: “Nầy anh Nê-hê-mi, chúng ta hãy gặp nhau ở Kê-phi-rim trong bình nguyên Ô-nô.” Nhưng thực tâm là chúng định ám hại tôi.
NEH 6:3 Nên tôi cho người trả lời họ như sau: “Tôi đang bận làm công tác lớn nên không thể xuống được. Tôi không thể nào bỏ dở công việc để gặp các anh.”
NEH 6:4 San-ba-lát và Ghê-sem nhắn tôi bốn lần, lần nào tôi cũng trả lời hắn y như vậy.
NEH 6:5 Lần thứ năm San-ba-lát cho người giúp việc của hắn nhắn tôi, tay cầm theo thư không dán.
NEH 6:6 Thư viết như sau: Có tiếng đồn trong các nước, và Ghê-sem đã kiểm chứng thấy là đúng sự thật, rằng anh và những người Giu-đa đang âm mưu chống lại vua và rằng anh đang xây sửa vách thành. Họ bảo rằng anh sẽ là vua của họ
NEH 6:7 và rằng anh đã chỉ định các nhà tiên tri để loan báo tại Giê-ru-sa-lem: “Ở đây có một vua Giu-đa!” Nhà vua sẽ nghe biết việc nầy. Cho nên chúng ta hãy gặp nhau để thảo luận vấn đề.
NEH 6:8 Tôi liền nhắn lại với hắn: “Điều anh nói không đúng sự thật. Anh chỉ tưởng tượng ra trong trí thôi.”
NEH 6:9 Kẻ thù chúng tôi muốn làm cho chúng tôi hoảng sợ vì chúng nghĩ rằng, “Bọn chúng quá hèn yếu không làm việc nổi. Vách thành không thể nào xong được.” Nhưng tôi cầu nguyện, “Lạy Thượng Đế, xin giúp tôi can đảm.”
NEH 6:10 Một ngày nọ tôi đi đến nhà của Sê-mai-gia, con Đê-lai-gia, cháu Mê-hê-ta-bên. Sê-mai-gia phải nghỉ ở nhà. Anh bảo, “Anh Nê-hê-mi à, chúng ta hãy gặp nhau trong đền thờ Thượng Đế. Hãy đi vào Nơi Thánh rồi đóng cửa lại vì có người định đến lúc ban đêm để giết anh đó.”
NEH 6:11 Nhưng tôi bảo, “Người như tôi mà bỏ chạy à? Tôi mà chạy vào đền thờ để thoát chết sao? Tôi không làm như thế được.”
NEH 6:12 Tôi biết không phải Thượng Đế sai anh ta mà Tô-bia và San-ba-lát đã trả tiền cho anh nói tiên tri nghịch tôi.
NEH 6:13 Chúng trả tiền cho anh ta để khiến tôi sợ hãi buộc phải làm theo điều anh ta đề nghị và phạm tội. Rồi chúng sẽ bêu xấu tôi và làm nhục tôi.
NEH 6:14 Tôi cầu nguyện, “Lạy Thượng Đế, xin nhớ Tô-bia và San-ba-lát cùng những điều chúng làm. Cũng xin Ngài nhớ đến nữ tiên tri Nô-a-đia và các tiên tri khác đã tìm cách làm tôi hoảng sợ.”
NEH 6:15 Vách thành Giê-ru-sa-lem được xây sửa xong vào ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun. Công tác sửa chữa mất năm mươi hai ngày.
NEH 6:16 Khi các kẻ thù chúng tôi nghe và các quốc gia lân cận thấy việc đó thì đâm ra xấu hổ. Lúc đó chúng biết rằng công tác nầy được hoàn tất là do Thượng Đế chúng tôi hỗ trợ.
NEH 6:17 Cũng trong những ngày đó các người có uy tín của Giu-đa gởi nhiều thư cho Tô-bia và hắn trả lời các lá thư của họ.
NEH 6:18 Nhiều người Giu-đa cam kết trung thành với Tô-bia vì hắn là rể của Sê-ca-nia, con A-ra. Còn Giê-hô-ha-nan, con trai Tô-bia lấy con gái Mê-su-lam, con Bê-rê-kia.
NEH 6:19 Những người ấy khen Tô-bia là người tốt đồng thời thuật cho anh ta nghe những điều tôi làm. Vì thế Tô-bia gởi thơ hăm dọa tôi.
NEH 7:1 Sau khi vách thành đã được xây sửa xong và tôi đã lắp cửa, thì tôi chọn những người gác cửa, các ca sĩ và người Lê-vi.
NEH 7:2 Tôi đặt Ha-na-ni, em tôi, cùng với Ha-na-nia, chỉ huy cung điện, chịu trách nhiệm canh giữ Giê-ru-sa-lem. Ha-na-nia là người lương thiện và kính sợ Thượng Đế hơn tất cả mọi người.
NEH 7:3 Tôi bảo họ, “Không nên mở cổng thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi mặt trời lên cao. Trong lúc các người gác cổng đang thi hành nhiệm vụ, bảo họ đóng cổng khóa chốt lại. Hãy cắt đặt những người ở Giê-ru-sa-lem làm lính tuần canh, đặt một số ở các vọng canh, một số canh ở nhà mình.”
NEH 7:4 Thành phố thì rộng lớn bao la mà dân cư thì thưa thớt, nhà cửa cũng chưa xây cất lại.
NEH 7:5 Cho nên Thượng Đế của tôi giục tôi triệu tập các người có uy tín, các lãnh tụ, và những thường dân để tôi đăng ký họ theo gia đình. Tôi tìm được gia phổ của những người đã hồi hương lần đầu tiên. Sau đây là những điều ghi trong các gia phổ đó:
NEH 7:6 Dưới đây là những người trong vùng trở về nước sau cuộc lưu đày mà Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã bắt mang đi. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, mỗi người trở về nguyên quán mình.
NEH 7:7 Những người sau đây hồi hương cùng với Xê-ru-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-phê-rết, Bích-vai, Nê-hum, và Ba-a-na. Sau đây là những người thuộc dân Ít-ra-en:
NEH 7:8 con cháu Pha-rốt: 2.172 người;
NEH 7:9 con cháu Sê-pha-tia: 372 người;
NEH 7:10 con cháu A-ra: 652 người;
NEH 7:11 con cháu Pha-hát Mô-áp (qua gia đình Giê-sua và Giô-áp): 2.818 người;
NEH 7:12 con cháu Ê-lam: 1.254 người;
NEH 7:13 con cháu Giát-tu: 845 người;
NEH 7:14 con cháu Giác-cai: 760 người;
NEH 7:15 con cháu Binh-nui: 648 người;
NEH 7:16 con cháu Bê-bai: 628 người;
NEH 7:17 con cháu Ách-gát: 2.322 người;
NEH 7:18 con cháu A-đô-ni-cam: 667 người;
NEH 7:19 con cháu Bích-vai: 2.067 người;
NEH 7:20 con cháu A-đinh: 655 người;
NEH 7:21 con cháu A-tơ (qua Hê-xê-kia): 98 người;
NEH 7:22 con cháu Ha-sum: 328 người;
NEH 7:23 con cháu Bê-dai: 324 người;
NEH 7:24 con cháu Ha-ríp: 112 người;
NEH 7:25 con cháu Ghi-bê-ôn: 95 người;
NEH 7:26 Những người sau đây thuộc thị trấn Bết-lê-hem và Nê-tô-pha: 188 người;
NEH 7:27 thuộc A-na-thốt: 128 người;
NEH 7:28 thuộc Bết A-ma-vết: 42 người;
NEH 7:29 thuộc Ki-ri-át Giê-a-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: 743 người;
NEH 7:30 thuộc Ra-ma và Ghê-ba: 621 người;
NEH 7:31 thuộc Mích-ma: 122 người;
NEH 7:32 thuộc Bê-tên và A-hi: 123 người;
NEH 7:33 thuộc Nê-bô thứ nhì: 52 người;
NEH 7:34 thuộc thị trấn Ê-lam thứ nhì: 1.254 người;
NEH 7:35 thuộc Ha-rim: 320 người;
NEH 7:36 thuộc Giê-ri-cô: 345 người;
NEH 7:37 thuộc Lốt, Ha-đích, và Ô-nô: 721 người;
NEH 7:38 thuộc Sê-na-a: 3.930 người;
NEH 7:39 Sau đây là những thầy tế lễ: con cháu Giê-đai-gia, qua gia đình Giê-sua: 973 người;
NEH 7:40 con cháu Im-mê: 1.052 người;
NEH 7:41 con cháu Pha-sua: 1.247 người;
NEH 7:42 con cháu Ha-rim: 1.017 người;
NEH 7:43 Sau đây là những người Lê-vi: con cháu Giê-sua, qua Cát-miên, qua gia đình của Hô-đa-via: 74 người;
NEH 7:44 Sau đây là những ca sĩ: con cháu A-sáp: 148 người;
NEH 7:45 Sau đây là những người gác cửa: con cháu Sa-lum, A-te, Tanh-môn, Ác-cúp, Ha-ti-ta, và Sô-bai: 138 người.
NEH 7:46 Sau đây là những đầy tớ phục vụ trong đền thờ: con cháu Di-ha, Ha-su-pha, Táp-bao-ốt,
NEH 7:47 Kê-rốt, Sia, Pha-đôn,
NEH 7:48 Lê-ba-na, Ha-ga-ba, Sanh-mai,
NEH 7:49 Ha-nan, Ghi-đen, Ga-ha,
NEH 7:50 Rê-ai-gia, Rê-xin, Nê-cô-đa,
NEH 7:51 Ga-giam, U-xa, Pha-sê-a,
NEH 7:52 Bê-sai, Mê-u-nim, Nê-phu-sim,
NEH 7:53 Bát-cúc, Ha-ku-pha, Ha-hua,
NEH 7:54 Bát-lút, Mê-hi-đa, Hát-sa,
NEH 7:55 Bát-cốt, Si-sê-ra, Thê-ma,
NEH 7:56 Nê-xia, và Ha-ti-pha.
NEH 7:57 Sau đây là con cháu của các đầy tớ Sô-lô-môn: con cháu Sô-tai, Sô-phê-rết, Phê-ri-đa,
NEH 7:58 Gia-a-la, Đác-côn, Ghi-đen,
NEH 7:59 Sê-pha-tia, Hát-tin, Phô-kê-rết Ha-giê-ba-im, và Am-môn.
NEH 7:60 Các đầy tớ phục vụ trong đền thờ của Sô-lô-môn tổng cộng là 392 người.
NEH 7:61 Một số người đến Giê-ru-sa-lem từ các thị trấn như Tên-Mê-la, Tên-Hát-sa, Kê-rúp, Ách-đôn, và Im-mê, nhưng họ không chứng minh được gốc gác tổ tiên mình là người Ít-ra-en. Sau đây là tên và nhân số của họ:
NEH 7:62 con cháu Đê-lai-gia, Tô-bia, và Nê-cô-đa: 642 người;
NEH 7:63 Các thầy tế lễ sau đây không chứng minh được gốc gác Ít-ra-en của mình: con cháu Hô-bai-gia, Hách-côi, và Bát-xi-lai. (Ai lấy con gái Bát-xi-lai vùng Ghi-lê-át thì được xem là dòng dõi Bát-xi-lai.)
NEH 7:64 Những người đó sưu tầm gia phổ nhưng không tìm được. Nên họ không thể làm thầy tế lễ vì họ bị xem như không đủ năng cách.
NEH 7:65 Quan tổng trấn ra lệnh cho họ không được phép ăn các thức ăn cực thánh cho đến khi một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để giải quyết vấn đề nầy.
NEH 7:66 Tổng số người hồi hương là 42.360.
NEH 7:67 Trong số đó không kể 7.337 tôi trai tớ gái của họ và 245 nam nữ ca sĩ cùng về với họ.
NEH 7:68 Họ có 736 con ngựa, 245 con la,
NEH 7:69 435 con lạc đà, và 6.720 con lừa.
NEH 7:70 Một số các trưởng gia đình dâng công. Quan tổng trấn ứng vào ngân quỹ khoảng 19 cân vàng, 50 chén bát, và 530 bộ áo cho các thầy tế lễ.
NEH 7:71 Một số trưởng gia đình dâng khoảng 375 cân vàng và 2.750 cân bạc vào ngân quỹ.
NEH 7:72 Tổng số lễ vật của các người khác là khoảng 375 cân vàng, 2.500 cân bạc, và 67 bộ áo cho thầy tế lễ.
NEH 7:73 Vậy tất cả những người sau đây định cư tại các tỉnh nhà của mình: các thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cửa, các ca sĩ, các đầy tớ phục vụ trong đền thờ. Đến tháng bảy năm ấy, toàn dân Ít-ra-en đều đã định cư xong trong các thành mình. Đến tháng bảy, tất cả dân Ít-ra-en đều định cư xong tại các thị trấn nguyên quán của mình.
NEH 8:1 Tất cả dân Ít-ra-en tập họp tại công viên gần Cổng Nước. Họ yêu cầu E-xơ-ra là chuyên gia về luật mang đến Sách Giáo Huấn của Mô-se mà CHÚA đã ban cho dân Ít-ra-en.
NEH 8:2 Cho nên ngày đầu tiên của tháng, E-xơ-ra là thầy tế lễ mang sách Giáo Huấn ra đọc cho dân chúng. Đàn ông, đàn bà, và tất cả những ai có thể nghe và hiểu được đều họp lại.
NEH 8:3 Tại công viên gần Cổng Nước, E-xơ-ra đọc lớn lời Giáo Huấn từ sáng sớm cho đến trưa cho tất cả đàn ông, đàn bà, cùng những ai có thể nghe và hiểu được. Mọi người đều chăm chú nghe Sách Giáo Huấn.
NEH 8:4 Chuyên gia luật pháp E-xơ-ra đứng trên một bục gỗ cao đã được đóng cho việc đó. Bên phải ông có Ma-ti-thia, Sê-ma, A-nai-gia, U-ri-a, Hinh-kia, và Ma-a-sê-gia. Bên trái ông có Bê-đai-gia, Mi-sa-ên, Manh-ki-gia, Ha-sun, Hát-bát-đa-na, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam.
NEH 8:5 E-xơ-ra mở sách ra trước mắt mọi người, vì ông đứng cao hơn họ. Khi ông mở sách ra thì mọi người đứng dậy.
NEH 8:6 E-xơ-ra ca ngợi CHÚA, Thượng Đế chí cao, mọi người liền giơ tay lên trời nói, “A-men! A-men!” Rồi họ sấp mặt xuống đất bái lạy CHÚA.
NEH 8:7 Những người Lê-vi sau đây giải thích Lời Giáo Huấn cho dân chúng đang đứng đó: Giê-sua, Ba-ni, Sê-rê-bia, Gia-min, Ác-cúp, Sa-bê-thai, Hô-đia, Ma-a-sê-gia, Kê-li-ta, A-xa-ria, Giô-xa-bát, Ha-nan, và Bê-lai-gia.
NEH 8:8 Họ đọc Sách Giáo Huấn của Thượng Đế và giải nghĩa cho dân chúng hiểu điều đang đọc.
NEH 8:9 Rồi Nê-hê-mi, quan tổng trấn, E-xơ-ra, thầy tế lễ và chuyên gia luật, và những người Lê-vi đang dạy dỗ bảo toàn thể dân chúng, “Hôm nay là ngày thánh cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Đừng buồn bã hay than khóc.” Vì dân chúng đều khóc sướt mướt khi nghe đọc lời trong Sách Giáo Huấn.
NEH 8:10 Nê-hê-mi bảo, “Hãy đi ăn uống cho ngon. Hãy mang thức ăn cho những người thiếu thốn, vì hôm nay là ngày thánh cho CHÚA. Không nên buồn bã vì sự vui vẻ của CHÚA sẽ giúp các ngươi mạnh dạn.”
NEH 8:11 Người Lê-vi khuyên dỗ dân chúng và bảo, “Hãy yên lặng vì hôm nay là ngày thánh. Đừng buồn.”
NEH 8:12 Vậy dân chúng đi về ăn và uống, gởi thực phẩm cho những người khác và hớn hở ăn mừng. Sau cùng họ đã hiểu được điều dạy dỗ.
NEH 8:13 Vào ngày mồng hai của tháng, các trưởng gia đình, các thầy tế lễ, và những người Lê-vi họp chung với chuyên gia luật E-xơ-ra. Họ họp nhau lại để học hỏi những lời trong Sách Giáo Huấn.
NEH 8:14 Họ thấy trong Sách Giáo Huấn viết như sau: CHÚA truyền qua Mô-se là dân Ít-ra-en phải ở trong các chòi lá vào thời gian kỷ niệm lễ tháng bảy.
NEH 8:15 Dân chúng phải phổ biến lời dạy dỗ sau đây trong các thị trấn và tại Giê-ru-sa-lem: “Hãy lên núi, hái về các nhánh ô-liu cùng các cây ô-liu hoang, cành cây sim, cành chà là, và cành cây có bóng mát. Dùng những nhành cây đó làm chòi lá theo như đã viết.”
NEH 8:16 Cho nên dân chúng đi ra mang về các nhánh cây. Họ dựng chòi lá trên mái nhà, trong sân, trong sân đền thờ, trong công viên ở Cổng Nước, và nơi công viên kế bên Cổng Ép-ra-im.
NEH 8:17 Tất cả những người đã trở về từ cuộc lưu đày đều dựng chòi ở trong đó. Từ thời Giô-suê, con trai của Nun cho đến lúc bấy giờ dân Ít-ra-en chưa hề làm như vậy. Ai nấy đều rất vui mừng.
NEH 8:18 Mỗi ngày E-xơ-ra đọc cho họ nghe Sách Giáo Huấn, từ ngày đầu tới ngày cuối. Dân Ít-ra-en cử hành lễ trong bảy ngày, rồi đến ngày thứ tám họ họp nhau lại theo như luật định.
NEH 9:1 Vào ngày hai mươi bốn tháng đó, dân Ít-ra-en họp nhau lại. Họ cữ ăn và mặc vải sô, phủ bụi đất lên đầu để tỏ sự buồn thảm.
NEH 9:2 Những người gốc Ít-ra-en tách ra khỏi những người ngoại quốc. Họ đứng lên xưng tội mình và tội của tổ tiên mình.
NEH 9:3 Họ đứng suốt ba tiếng đồng hồ liền để nghe đọc Sách Giáo Huấn của CHÚA là Thượng Đế của họ. Ba tiếng đồng hồ kế tiếp họ xưng tội và thờ phụng CHÚA là Thượng Đế của họ.
NEH 9:4 Những người Lê-vi sau đây đứng trên bậc thang: Giê-sua, Ba-ni, Cát-miên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni, và Ca-na-ni. Họ lớn tiếng kêu cầu cùng CHÚA là Thượng Đế mình.
NEH 9:5 Rồi những người Lê-vi sau đây lên tiếng: Giê-sua, Cát-miên, Ba-ni, Ha-sáp-nê-gia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia, và Bê-tha-hia. Họ bảo, “Hãy đứng dậy ca ngợi CHÚA là Thượng Đế các ngươi, Đấng sống đời đời.” “Đáng chúc tụng danh kỳ diệu của Ngài. Danh đó thật diệu kỳ hơn những lời chúc tụng và ca ngợi.
NEH 9:6 Ngài là CHÚA duy nhất. Ngài tạo nên trời và các từng trời rất cao, cùng các ngôi sao. Ngài dựng nên trái đất và mọi loài trong đó, Biển và mọi loài trong biển; Ngài ban sự sống cho mọi loài. Các thiên thần phụng thờ Ngài.
NEH 9:7 Ngài là CHÚA, là Thượng Đế, Đấng đã chọn Áp-ram, mang người ra khỏi U-rơ thuộc vùng Ba-by-lôn và đổi tên người ra Áp-ra-ham.
NEH 9:8 Ngài nhận thấy người trung tín với Ngài, cho nên Ngài lập ước với người hứa cho dòng dõi người đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-ri-sít, dân Giê-bu-sít, và dân Ghi-ga-sít. Ngài đã giữ lời hứa mình, Vì Ngài luôn luôn làm điều phải.
NEH 9:9 Ngài thấy các tổ tiên chúng tôi khổ sở nơi Ai-cập, và nghe họ kêu khóc nơi Hồng hải.
NEH 9:10 Ngài làm nhiều điều kỳ diệu nghịch lại vua Ai-cập, nghịch lại các quần thần và dân chúng của người, vì Ngài biết họ rất tự phụ. Ngài nổi danh như ngày nay.
NEH 9:11 Ngài rẽ biển trước mắt tổ tiên chúng tôi; họ đi ngang qua trên đất khô, Nhưng Ngài xô những kẻ đuổi theo họ xuống nước sâu, như hòn đá bị quăng vào dòng nước chảy mạnh.
NEH 9:12 Ban ngày Ngài dẫn dắt các tổ tiên chúng tôi bằng một trụ mây, còn ban đêm bằng một trụ lửa. Chúng soi đường để dân chúng đi.
NEH 9:13 Ngài ngự xuống trên núi Si-nai, từ trời Ngài phán với tổ tiên chúng tôi. Ngài ban cho họ các luật lệ công bình và những lời giáo huấn chân thật, những huấn lệnh và chỉ thị tốt lành.
NEH 9:14 Ngài dạy họ về ngày Sa-bát thánh, và ban cho họ các chỉ thị, huấn lệnh qua Mô-se, tôi tớ Ngài.
NEH 9:15 Khi họ đói, Ngài ban cho họ bánh từ trời. Khi họ khát, Ngài ban cho họ nước uống từ tảng đá. Ngài bảo họ hãy vào chiếm xứ mà Ngài đã hứa ban cho họ.
NEH 9:16 Nhưng các tổ tiên chúng tôi kiêu căng và ương ngạnh, không vâng huấn lệnh của Ngài.
NEH 9:17 Họ không thèm nghe; họ quên những phép lạ Ngài làm cho họ. Họ đâm ra ương ngạnh, chống nghịch Ngài, và tự chọn cho mình một người lãnh đạo để đem họ trở về ách nô lệ. Nhưng Ngài là Thượng Đế hay tha thứ. Đầy lòng từ ái. Ngài chậm nóng giận, giàu tình yêu lớn. Nên Ngài không lìa bỏ họ.
NEH 9:18 Thậm chí các tổ tiên chúng tôi làm cho mình một tượng bò con. Họ bảo, ‘Ít-ra-en ơi, đây là thần đã mang ngươi ra khỏi Ai-cập.’ Họ nói phạm đến Ngài.
NEH 9:19 Ngài giàu lòng từ ái, nên không bỏ rơi họ trong sa mạc. Ban ngày có trụ mây dẫn đường, ban đêm có trụ lửa soi sáng lối đi.
NEH 9:20 Ngài ban Thánh Linh nhân từ Ngài dạy dỗ họ. Ban ma-na cho họ ăn và nước uống khi họ khát.
NEH 9:21 Trong suốt bốn mươi năm Ngài săn sóc họ; Họ không thiếu thốn gì hết. Áo quần họ không sờn, Chân họ không sưng phù.
NEH 9:22 Ngài ban cho họ các vương quốc và các dân tộc; và cấp thêm đất cho họ. Họ chiếm xứ Si-hôn, vua của Hết-bôn và xứ Óc, vua của Ba-san.
NEH 9:23 Ngài khiến cho con cháu họ đông như sao trên trời, mang họ vào xứ mà Ngài bảo các tổ tiên họ vào chiếm lấy.
NEH 9:24 Cho nên các con cháu họ vào chiếm lấy xứ. Người Ca-na-an đang sống trong xứ, nhưng Ngài đánh bại dân ấy. Ngài trao người Ca-na-an vào tay họ, các vua chúng, và toàn dân của xứ, để tổ tiên chúng tôi có thể mặc tình đối xử với chúng.
NEH 9:25 Họ chiếm các thành trì vững chắc có vách cao và đất đai phì nhiêu. Họ chiếm nhà cửa có đầy đủ mọi thứ, giếng đã đào sẵn, cùng vườn nho, cây ô liu, và các cây ăn trái. Họ ăn uống cho đến khi no say và mập béo; Họ tận hưởng ơn phước dồi dào của Ngài.
NEH 9:26 Nhưng họ bất tuân và chống nghịch Ngài, không đếm xỉa đến lời giáo huấn Ngài. Các tiên tri Ngài khuyên răn họ trở về cùng Ngài, Nhưng họ giết các tiên tri và nói phạm cùng Ngài.
NEH 9:27 Nên Ngài trao họ vào tay các kẻ thù, để chúng ngược đãi họ. Nhưng trong cơn khốn khổ các tổ tiên chúng tôi kêu khóc cùng CHÚA, từ trời Ngài liền nghe. CHÚA có lòng từ bi lớn nên sai các người giải cứu đến giải phóng họ khỏi quyền lực kẻ thù.
NEH 9:28 Nhưng vừa khi họ được an tịnh, họ lại làm ác. Ngài liền trao họ cho kẻ thù thống trị họ. Họ lại kêu khóc cùng Ngài, từ trời Ngài nghe họ. Vì lòng từ bi Ngài, Ngài giải cứu họ nhiều lần.
NEH 9:29 Ngài khuyên răn họ trở về với lời giáo huấn Ngài, nhưng họ tự phụ, không vâng theo huấn lệnh CHÚA, là luật mà nếu ai vâng theo thì sẽ sống. Nhưng họ quay lưng khỏi Ngài. Họ ương ngạnh, bướng bỉnh, và không vâng lời.
NEH 9:30 Ngài kiên nhẫn với họ trong nhiều năm, dùng Thánh Linh Ngài qua các nhà tiên tri mà cảnh cáo họ, nhưng họ chẳng thèm để ý. Nên Ngài trao họ vào tay các quốc gia khác.
NEH 9:31 Nhưng do lòng từ bi lớn lao, CHÚA không tuyệt diệt hay bỏ rơi họ. Ngài là Thượng Đế nhân từ và bác ái.
NEH 9:32 Cho nên, Thượng Đế của chúng tôi ơi, Ngài là Thượng Đế cao cả, quyền năng và kỳ diệu. Ngài giữ giao ước của tình yêu. Xin đừng làm ngơ trước những nỗi khốn khổ của chúng tôi. Những nỗi khốn khổ nầy đến trên chúng tôi, trên vua và các nhà lãnh đạo của chúng tôi, trên các thầy tế lễ và các nhà tiên tri, Trên các tổ tiên và dân tộc Ngài từ đời các vua A-xy-ri cho đến hôm nay.
NEH 9:33 Những gì xảy ra cho chúng tôi thật xứng đáng vì Ngài rất công bằng; Ngài thành tín nhưng chúng tôi quá gian ác.
NEH 9:34 Các vua, các nhà lãnh đạo, các thầy tế lễ, và các tổ tiên chúng tôi không nghe theo lời giáo huấn Ngài; Họ không thèm để ý đến những huấn lệnh và lời cảnh cáo Ngài.
NEH 9:35 Dù trong khi các tổ tiên chúng tôi đang sống trong xứ, vui hưởng những ơn lành Ngài ban cho, tận hưởng đất đai phì nhiêu và khoảng khoát, họ cũng vẫn cứ làm điều ác.
NEH 9:36 Vì thế ngày nay chúng tôi bị làm tôi mọi trong xứ Ngài ban cho tổ tiên chúng tôi. Đáng lẽ họ vui hưởng hoa quả và phúc lành, Mà bây giờ chúng tôi phải làm nô lệ tại đây.
NEH 9:37 Mùa màng tốt đẹp của xứ thuộc về các vua mà Ngài đặt lên thống trị chúng tôi, vì tội lỗi chúng tôi. Các vua đó hống hách thống trị chúng tôi và gia súc chúng tôi, cho nên chúng tôi gặp khốn đốn.
NEH 9:38 Vì những lý do đó, nay chúng tôi lập một giao ước viết ra chữ. Các vị lãnh đạo, các người Lê-vi, và các thầy tế lễ đóng ấn họ vào đó.”
NEH 10:1 Sau đây là những người đã đóng ấn vào giao ước: Nê-hê-mi, quan tổng trấn, con của Ha-ca-lia,
NEH 10:2 Xê-đê-kia, Sê-rai-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi,
NEH 10:3 Bát-sua, A-ma-ria, Manh-ki-gia,
NEH 10:4 Hát-túc, Sê-ba-nia, Ma-lúc,
NEH 10:5 Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia,
NEH 10:6 Đa-niên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc,
NEH 10:7 Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min,
NEH 10:8 Ma-a-xia, Binh-gai, và Sê-mai-gia. Những người đó là thầy tế lễ.
NEH 10:9 Sau đây là những người Lê-vi đóng ấn trên giao ước: Giê-sua con của A-xa-nia, Binh-nui, một trong các con của Hê-na-đát, Cát-miên,
NEH 10:10 cùng những bạn Lê-vi khác: Sê-ba-nia, Hô-đia, Kê-li-ta, Bê-lai-gia, Ha-nan,
NEH 10:11 Mai-ca, Rê-hốp, Ha-sa-bia,
NEH 10:12 Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia,
NEH 10:13 Hô-đia, Ba-ni, và Bê-ni-nu.
NEH 10:14 Sau đây là những người lãnh đạo của dân chúng đóng ấn vào giao ước: Ba-rốt, Ba-hát Mô-áp, Ê-lam, Giát-tu, Ba-ni,
NEH 10:15 Bu-ni, A-gát, Bê-bai,
NEH 10:16 A-đô-ni-gia, Bích-vai, A-đinh,
NEH 10:17 A-tơ, Hê-sê-kia, A-xua,
NEH 10:18 Hô-đia, Ha-sum, Bê-dai,
NEH 10:19 Ha-ríp, A-na-thốt, Nê-bai,
NEH 10:20 Mác-bi-át, Mê-su-lam, Hê-xia,
NEH 10:21 Mê-sê-xa-bên, Xa-đốc, Gia-đua,
NEH 10:22 Bê-la-tia, Ha-nan, A-nai-gia,
NEH 10:23 Ô-sê, Ha-na-nia, Hát-súp,
NEH 10:24 Ha-lô-hết, Binh-ha, Sô-béc,
NEH 10:25 Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-sê-gia,
NEH 10:26 A-hia, Ha-nan, A-nan,
NEH 10:27 Ma-lúc, Ha-rim, và Ba-a-na.
NEH 10:28 Những người còn lại trong dân chúng tuyên thệ. Đó là các thầy tế lễ, người Lê-vi, người gác cửa, ca sĩ, đầy tớ phục vụ trong đền thờ, cùng những người đã phân ly khỏi các người ngoại quốc để giữ lời Giáo Huấn của Thượng Đế, cùng vợ và con trai con gái là những người có thể hiểu được.
NEH 10:29 Họ nhập với các đồng bào Ít-ra-en khác cùng các người lãnh đạo tham dự cuộc tuyên thệ. Lời tuyên thệ có một lời nguyền rủa kèm theo nếu họ vi phạm lời thề. Họ hứa tuân theo lời Giáo Huấn của Thượng Đế đã được truyền qua Mô-se, tôi tớ của Ngài, và vâng theo những huấn lệnh, qui tắc, và luật lệ của CHÚA là Thượng Đế chúng tôi.
NEH 10:30 Họ tuyên bố: “Chúng tôi hứa sẽ không để con gái chúng tôi kết hôn với người ngoại quốc, hay để con trai chúng tôi lấy con gái họ.
NEH 10:31 Những người ngoại quốc có thể mang hàng hóa và ngũ cốc bán trong ngày Sa-bát, nhưng chúng tôi sẽ không mua bán trong ngày đó hay bất cứ ngày lễ nào. Mỗi bảy năm chúng tôi sẽ không trồng trọt gì và tha nợ cho những ai thiếu chúng tôi.
NEH 10:32 Chúng tôi sẽ tôn trọng huấn lệnh về việc đóng góp vào đền thờ của Thượng Đế chúng tôi. Mỗi năm chúng tôi sẽ dâng một phần tám lượng bạc.
NEH 10:33 Tiền dâng đó để dành mua bánh trần thiết trên bàn; các của lễ chay và của lễ thiêu thường xuyên; các của lễ ngày Sa-bát, lễ Trăng Mới, và các lễ đặc biệt; các của lễ thánh; các của lễ chuộc tội cho dân Ít-ra-en; và cho công tác của đền thờ.
NEH 10:34 Chúng tôi, thầy tế lễ, người Lê-vi, và toàn thể dân chúng, đã bắt thăm để biết gia đình nào trong năm phải cung cấp củi cho đền thờ. Củi để dùng trên bàn thờ của CHÚA là Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi sẽ thực hiện theo nhưng luật lệ đã ghi.
NEH 10:35 Mỗi năm chúng tôi cũng sẽ dâng cho đền thờ hoa quả đầu mùa và hoa quả đầu tiên của mỗi cây.
NEH 10:36 Chúng tôi cũng sẽ dâng cho đền thờ con trai đầu lòng, súc vật đầu lòng của gia súc, theo như lời Giáo Huấn ghi. Chúng tôi cũng sẽ mang chúng đến cho các thầy tế lễ phục vụ trong đền thờ.
NEH 10:37 Chúng tôi sẽ mang cho các thầy tế lễ giữ kho đền thờ ngũ cốc đầu tiên xay sẵn, của lễ, hoa quả của tất cả các cây chúng tôi cùng rượu mới và dầu. Chúng tôi cũng sẽ dâng một phần mười hoa quả chúng tôi cho người Lê-vi. Họ sẽ thu phần đó trong mọi thị trấn chúng tôi làm việc.
NEH 10:38 Một thầy tế lễ trong gia đình A-rôn phải có mặt với người Lê-vi khi họ nhận phần mười mùa màng từ dân chúng. Người Lê-vi phải đem một phần mười những của họ nhận vào đền thờ của Thượng Đế chúng tôi để chứa vào kho ngân khố.
NEH 10:39 Dân Ít-ra-en và người Lê-vi phải mang vào kho chứa những lễ vật ngũ cốc, rượu mới và dầu. Kho đó chứa các vật dụng trong đền thờ và cũng là nơi các thầy tế lễ đang hành chức, những người gác cửa và các ca sĩ ở. Chúng tôi sẽ không bỏ bê đền thờ của Thượng Đế chúng tôi.”
NEH 11:1 Các nhà lãnh đạo của Ít-ra-en sống trong Giê-ru-sa-lem nhưng dân chúng bắt thăm để mỗi mười người thì một người được vào ở trong Giê-ru-sa-lem là thành phố thánh. Chín người kia ở trong thị trấn mình.
NEH 11:2 Dân chúng chúc phước cho những người tình nguyện vào ở Giê-ru-sa-lem.
NEH 11:3 Sau đây là những nhà lãnh đạo khu vực vào ở Giê-ru-sa-lem. Một số đã cư ngụ trên đất mình trong các thành thuộc xứ Giu-đa. Trong số đó có các người Ít-ra-en, các thầy tế lễ, người Lê-vi, những đày tớ phục vụ đền thờ, và con cháu của các đầy tớ Sô-lô-môn.
NEH 11:4 Những người khác thuộc các gia đình Giu-đa và Bên-gia-min đã sống ở Giê-ru-sa-lem. Sau đây là các con cháu Giu-đa vào ở Giê-ru-sa-lem. Có A-thai-gia, con U-xia. U-xia là con Xa-cha-ri, con A-ma-ria. A-ma-ria là con Sê-pha-tia, con Ma-ha-la-lên. Ma-ha-la-lên là con cháu của Phê-rê.
NEH 11:5 Cũng có Ma-sê-gia, con Ba-rúc. Ba-rúc là con Côn-Hô-xê, con Ha-xai-gia. Ha-xai-gia là con A-đai-gia, con Giô-gia-ríp. Giô-gia-ríp là con Xa-cha-ri, con cháu Sê-la.
NEH 11:6 Tổng số con cháu Phê-rê sống ở Giê-ru-sa-lem là 468 người. Tất cả đều là chiến sĩ.
NEH 11:7 Sau đây là con cháu Bên-gia-min dọn vào ở Giê-ru-sa-lem. Có Xa-lu, con của Mê-su-lam. Mê-su-lam là con Giô-ếch, con của Bê-đai-gia. Bê-đai-gia là con của Cô-lai-gia, con của Ma-a-sê-gia. Ma-a-sê-gia là con của Y-thiên, con của Giê-sai-gia.
NEH 11:8 Kế sau người có Gáp-bai và Xa-lai, tổng cộng 928 người.
NEH 11:9 Giô-ên, con của Xích-ri được chỉ định cai quản họ, còn Giu-đa con Hát-sê-nua được chỉ định phụ tá coi sóc vùng mới trong thành.
NEH 11:10 Sau đây là những thầy tế lễ dọn vào cư ngụ trong Giê-ru-sa-lem. Giê-đai-gia, con Giô-a-ríp, Gia-kin,
NEH 11:11 và Xê-rai-gia, con Hinh-kia, người quản thủ đền thờ. Hinh-kia là con Mê-su-lam, con Xa-đốc. Xa-đốc là con Mê-rai-ốt, con A-hi-túp.
NEH 11:12 Cũng có những người khác với họ là những người làm việc trong đền thờ. Tổng cộng 822 người. Có A-đai-gia, con Giê-rô-ham. Giê-rô-ham là con Bê-la-lia, con Am-xi. Am-xi là con Xa-cha-ri, con Bát-sua. Bát-sua là con Manh-ki-gia.
NEH 11:13 Cũng có các chủ gia đinh cùng với ông. Tổng cộng 242 người. Ngoài ra còn có A-mát-sai, con A-xa-rên. A-xa-rên là con A-xai, con Mê-si-lê-mốt. Mê-si-lê-mốt là con Im-mê.
NEH 11:14 Cũng có những dũng sĩ cùng với A-ma-sai. Cộng tất cả 128 người. Xáp-đi-ên con của Ha-ghê-đô-lim được cử giám thị họ.
NEH 11:15 Sau đây là những người Lê-vi dọn vào Giê-ru-sa-lem. Có Sê-mai-gia con Hát-súp. Hát-súp là con A-ri-cam, con của Ha-sa-bia. Ha-sa-bia là con của Bu-ni.
NEH 11:16 Rồi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát, hai lãnh tụ người Lê-vi chịu trách nhiệm coi sóc bên ngoài đền thờ.
NEH 11:17 Có Mát-tha-nia, con của Mai-ca. Mai-ca là con Xáp-đi, con của A-sáp. Ma-tha-nia là người hướng dẫn việc tạ ơn và cầu nguyện. Có Bác-bu-kia, người đứng hàng nhì chịu trách nhiệm giám thị người Lê-vi. Sau đó có Áp-đa, con Sam-mua. Sam-mua là con Ga-lanh, con Giê-đu-thun.
NEH 11:18 Tổng cộng 284 người Lê-vi cư ngụ trong thành thánh Giê-ru-sa-lem.
NEH 11:19 Các người gác cửa dọn vào Giê-ru-sa-lem là Ác-cúp, Thanh-môn, và những người khác cùng với họ. Tổng cộng 172 người gác cổng thành.
NEH 11:20 Còn những người Ít-ra-en, các thầy tế lễ, và người Lê-vi khác cư ngụ trên đất của họ rải rác trong các thị trấn xứ Giu-đa.
NEH 11:21 Những đầy tớ phục vụ trong đền thờ cư ngụ trên đồi Ô-phên, có Xi-ha và Ghít-ba giám thị họ.
NEH 11:22 U-xi, con Ba-ni được cử làm giám thị các người Lê-vi ở Giê-ru-sa-lem. Ba-ni là con Ha-sa-bia, con Mát-tha-nia. Mát-tha-nia là con Mai-ca. U-xi là một trong các con cháu A-sáp là những ca sĩ lo cho các buổi lễ trong đền thờ.
NEH 11:23 Các ca sĩ được đặt dưới lệnh của vua, lệnh nầy định việc cho họ từng ngày.
NEH 11:24 Bê-tha-nia, con Mê-sê-xa-bên là phát ngôn viên của vua. Mê-sê-xa-bên là một trong những con cháu của Xê-ra, con Giu-đa.
NEH 11:25 Một số người trong xứ Giu-đa sống trong các làng có ruộng nương bao bọc. Họ sống trong Ki-ri-át Ạc-ba và vùng phụ cận, Đi-bôn và vùng phụ cận, Giê-cáp-xi-ên và vùng phụ cận,
NEH 11:26 ở Giê-sua, Mô-la-đa, Bết-Bê-lết,
NEH 11:27 Ha-xa Su-anh, Bê-e-sê-ba và vùng phụ cận,
NEH 11:28 ở Xiếc-lác và Mê-cô-na và vùng phụ cận,
NEH 11:29 ở Ên-Rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút,
NEH 11:30 Xa-noa, A-đu-lam và các làng mạc, ở La-kích và các đồng ruộng quanh đó, ở A-xê-ka và vùng phụ cận. Như thế họ định cư từ Bê-e-sê-ba chạy đến Thung lũng Hin-nôm.
NEH 11:31 Các con cháu của Bên-gia-min từ Ghê-ba sống ở Mích-mát, Ai-gia, Bê-tên và vùng phụ cận,
NEH 11:32 ở A-na-tốt, Nóp, A-na-nia,
NEH 11:33 Hát-xo, Ra-ma, Ghít-ta-im,
NEH 11:34 Ha-đích, Xê-bô-im, Nê-ba-lát,
NEH 11:35 Lót, Ô-nô, và trong Thung lũng của các Thợ thủ công.
NEH 11:36 Một vài nhóm người Lê-vi thuộc xứ Giu-đa định cư trong đất của chi tộc Bên-gia-min.
NEH 12:1 Sau đây là các thầy tế lễ và người Lê-vi hồi hương chung với Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên và với Giê-sua. Có Sê-rai-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra,
NEH 12:2 A-ma-ria, Ma-lúc, Hát-túc,
NEH 12:3 Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt,
NEH 12:4 Y-đô, Ghi-nê-hôn, A-bi-gia,
NEH 12:5 Mi-gia-min, Mô-a-đia, Binh-ga,
NEH 12:6 Sê-mai-gia, Giô-a-ríp, Giê-đai-gia,
NEH 12:7 Sa-lu, A-mốc, Hinh-kia, và Giê-đai-gia. Đó là những lãnh tụ của các thầy tế lễ và thân nhân họ trong thời Giê-sua.
NEH 12:8 Các người Lê-vi gồm có Giê-sua, Bin-nui, Cát-miên, Sê-rê-bai-gia, Giu-đa, và Ma-tha-nia. Ma-tha-nia và các thân nhân ông chịu trách nhiệm ca nhạc tạ ơn.
NEH 12:9 Bác-bu-kia và U-ni và thân nhân đứng đối diện nhau trong các buổi lễ.
NEH 12:10 Giê-sua sinh Giô-gia-kim. Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp. Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa.
NEH 12:11 Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, Giô-na-than sinh Giát-đua.
NEH 12:12 Trong thời Giô-gia-kim các thầy tế lễ sau đây làm trưởng gia đình của các thầy tế lễ: Mê-rai-gia thuộc gia đình Sê-rai-gia; Ha-na-nia, thuộc gia đình Giê-rê-mi;
NEH 12:13 Mê-su-lam, thuộc gia đình E-xơ-ra; Giê-hô-ha-nan thuộc gia đình A-ma-ria;
NEH 12:14 Giô-na-than thuộc gia đình Ma-lúc; Giô-xép thuộc gia đình Sê-ca-nia.
NEH 12:15 Ách-na thuộc gia đình Ha-rim; Hên-cai thuộc gia đình Mê-rê-mốt;
NEH 12:16 Xa-cha-ri thuộc gia đình Y-đô; Mê-su-lam thuộc gia đình Ghin-nê-thôn;
NEH 12:17 Xích-ri thuộc gia đình A-bi-gia; Binh-tai thuộc gia đình Mi-nia-min và gia đình Mô-a-đia;
NEH 12:18 Sam-mua thuộc gia đình Binh-ga, Giê-hô-na-than thuộc gia đình Sê-mai-gia;
NEH 12:19 Mát-tê-nai thuộc gia đình Giô-ia-ríp; U-xi thuộc gia đình Giê-đai-gia;
NEH 12:20 Ca-lai thuộc gia đình Xa-lu; Ê-be thuộc gia đình A-mốc;
NEH 12:21 Ha-sa-bia thuộc gia đình Hinh-kia; và Nê-tha-nên thuộc gia đình Giê-đai-gia.
NEH 12:22 Các trưởng gia đình người Lê-vi và các thầy tế lễ được ghi chép trong thời Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan, và Gia-đua, khi Đa-ri-út người Ba-tư làm vua.
NEH 12:23 Các trưởng gia đình giữa vòng người Lê-vi được ghi trong sách sử ký, nhưng chỉ ghi đến đời Giô-ha-nan, con của Ê-li-a-síp mà thôi.
NEH 12:24 Các lãnh tụ người Lê-vi là Ha-sa-bia, Sê-rê-bia, Giê-sua con Cát-miên và các thân nhân họ. Các thân nhân họ đứng đối diện họ và ca hát cảm tạ Thượng Đế. Hai nhóm đối đáp nhau theo như Đa-vít, người của Thượng Đế đã qui định.
NEH 12:25 Sau đây là những người gác cửa giữ kho vật liệu kế cận các cổng: Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Áp-đia, Mê-su-lam, Thanh-môn, và Ác-cúp.
NEH 12:26 Họ phục vụ trong thời Giô-gia-kim con Giê-sua, con Giô-xa-đác. Họ cũng phục vụ trong thời Nê-hê-mi làm quan tổng trấn và Ê-xơ-ra, thầy tế lễ và chuyên gia luật.
NEH 12:27 Khi vách thành Giê-ru-sa-lem được dâng lên cho Thượng Đế thì người ta yêu cầu người Lê-vi cư ngụ bất cứ đâu tề tựu về Giê-ru-sa-lem để hoan hỉ kỷ niệm lễ cung hiến vách thành. Họ kỷ niệm bằng các bài ca cảm tạ, dùng các nhạc cụ như chập chỏa, đờn cầm, và đờn sắt.
NEH 12:28 Người ta cũng mang các ca sĩ từ khắp nơi quanh Giê-ru-sa-lem về, từ các làng Nê-tô-pha-thít,
NEH 12:29 từ Bết Ghinh-ganh, và từ các vùng Ghê-ba và Ạc-ma-vết. Các ca sĩ đã xây dựng làng mạc riêng cho họ quanh Giê-ru-sa-lem.
NEH 12:30 Các thầy tế lễ và người Lê-vi tắm rửa sạch sẽ, họ cũng chuẩn bị cho dân chúng, cổng thành, và vách thành Giê-ru-sa-lem tinh sạch.
NEH 12:31 Tôi bảo các lãnh tụ của Giu-đa lên trên đỉnh vách, rồi tôi chỉ định hai ban hợp ca lớn hát tạ ơn. Một ban lên đứng trên đỉnh vách hướng về phía Cổng Rác.
NEH 12:32 Đi sau họ có Hô-sai-gia và phân nửa các lãnh tụ Giu-đa.
NEH 12:33 Cũng có A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam,
NEH 12:34 Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-mai-gia, và Giê-rê-mi cùng đi.
NEH 12:35 Một số các thầy tế lễ thổi kèn cùng đi với Xa-cha-ri, con Giô-na-than. (Giô-na-than là con Sê-mai-gia, con Ma-tha-nia. Ma-tha-nia là con Mi-cai-gia, con Xa-cua. Xa-cua là con A-sáp.)
NEH 12:36 Các thân nhân Xa-cha-ri cũng đi chung. Những người đó là Sê-mai-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nên, Giu-đa, và Ha-na-ni. Họ chơi các nhạc khí của Đa-vít, người của Thượng Đế, có giáo sư E-xơ-ra đi trước họ.
NEH 12:37 Họ đi từ Cổng Suối Nước thẳng các bực thềm lên điểm cao nhất của vách qua khu vực cũ của thành Đa-vít. Rồi họ đi phía trên nhà Đa-vít cho đến Cổng Nước về hướng đông.
NEH 12:38 Ban hát thứ nhì đi về phía trái trong khi tôi đi theo họ lên đỉnh vách thành với phân nửa số dân chúng. Chúng tôi đi từ Tháp Lò cho đến Vách Rộng,
NEH 12:39 qua Cổng Ép-ra-im cho đến Cổng Xưa và Cổng Cá, về phía Tháp Ha-na-nên và Tháp Một Trăm. Chúng tôi đi đến Cổng Chiên và dừng lại tại Cổng Gác.
NEH 12:40 Rồi hai ban hát bước vào chỗ trong đền thờ. Phân nửa các lãnh tụ và tôi cũng vậy.
NEH 12:41 Những thầy tế lễ sau đây cầm kèn: Ê-li-a-kim, Ma-a-sê-gia, Mi-ni-a-min, Mi-cai-gia, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri, và Ha-na-nia.
NEH 12:42 Những người sau đây cũng có mặt tại đó: Ma-a-sê-gia, Sê-mai-gia, Ê-lê-a-sa, U-xi, Giê-hô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam, và Ê-xe. Ban hợp ca hát lên dưới sự hướng dẫn của Giê-ra-hia.
NEH 12:43 Dân chúng dâng rất nhiều của lễ hôm đó. Mọi người đều hân hoan vì Thượng Đế ban cho họ niềm vui lớn. Đàn bà trẻ con cũng hớn hở. Tiếng reo vui ở Giê-ru-sa-lem vang ra rất xa.
NEH 12:44 Lúc đó các lãnh tụ đề cử người lo cho kho chứa. Các kho nầy dùng chứa các lễ vật, cây trái đầu mùa, và mười phần trăm phẩm vật dân chúng mang đến. Sách Giáo Huấn dạy rằng họ phải mang phần của các thầy tế lễ và người Lê-vi từ đồng ruộng quanh các thị trấn. Dân Giu-đa rất vui làm việc đó cho các thầy tế lễ và người Lê-vi là những người phục vụ.
NEH 12:45 Họ thi hành nhiệm vụ Thượng Đế giao cho để biến mọi vật thánh sạch. Các ca sĩ và người gác cổng cũng làm phận sự họ theo như Đa-vít đã truyền dặn con mình là Sô-lô-môn.
NEH 12:46 Trước đó trong thời Đa-vít và A-sáp, có trưởng ban nhạc chịu trách nhiệm các ca sĩ và các bài hát chúc tụng và tạ ơn Thượng Đế.
NEH 12:47 Trong thời Xê-ru-ba-bên và Nê-hê-mi cũng vậy. Toàn thể dân Ít-ra-en biếu các ca sĩ và các người gác cổng những tặng vật đồng thời dành phần riêng cho người Lê-vi. Rồi người Lê-vi dành phần riêng cho con cháu A-rôn.
NEH 13:1 Trong ngày đó họ đọc Sách Mô-se cho dân chúng nghe. Người ta thấy trong đó có ghi rằng đời đời không một người Am-môn hay Mô-áp nào được phép gia nhập vào cộng đồng của Thượng Đế.
NEH 13:2 Vì người Am-môn và Mô-áp không đem thức ăn và nước uống chào đón dân Ít-ra-en. Ngược lại, họ thuê Ba-la-am nguyền rủa dân Ít-ra-en. (Nhưng Thượng Đế chúng tôi đã biến lời nguyền rủa ra phúc lành.)
NEH 13:3 Khi dân chúng nghe điều dạy bảo nầy thì họ phân rẽ những người ngoại quốc ra khỏi Ít-ra-en.
NEH 13:4 Trước đó, thầy tế lễ Ê-li-a-síp, người quản lý kho chứa rất thân thiện với Tô-bia.
NEH 13:5 Ê-li-a-síp cho phép Tô-bia sử dụng một trong các kho lớn. Trước kia kho đó dùng chứa của lễ chay, trầm hương, dụng cụ, một phần mười của lễ chay, rượu mới, và dầu ô liu của người Lê-vi, các ca sĩ, và những người gác cổng. Kho đó cũng được dùng để chứa các tặng phẩm của các thầy tế lễ.
NEH 13:6 Trong khi chuyện đó xảy ra thì tôi không có mặt tại Giê-ru-sa-lem. Tôi trở về gặp vua Ba-by-lôn vào năm thứ ba mươi hai triều vua ấy. Sau cùng tôi xin phép vua cho tôi ra đi.
NEH 13:7 Khi trở lại Giê-ru-sa-lem, tôi hay biết chuyện quấy Ê-li-a-síp làm tức là cho phép Tô-bia sử dụng một phòng trong sân đền thờ.
NEH 13:8 Tôi rất bực mình về chuyện đó nên quăng đồ đạc của Tô-bia ra khỏi phòng.
NEH 13:9 Tôi ra lệnh dọn sạch phòng đó rồi mang các dụng cụ dành cho đền thờ Thượng Đế, của lễ chay, và trầm hương vào.
NEH 13:10 Rồi tôi cũng khám phá rằng dân chúng không cấp cho người Lê-vi phần của họ. Cho nên một số người Lê-vi và các ca sĩ phục vụ trong đền thờ bỏ về với ruộng nương mình.
NEH 13:11 Tôi khiển trách các viên chức. Tôi hỏi, “Tại sao các anh không lo cho đền thờ?” Tôi liền triệu tập người Lê-vi và các ca sĩ lại, đặt họ vào các vai trò cũ.
NEH 13:12 Sau đó tất cả dân chúng trong Giu-đa mang vào kho một phần mười các mùa màng, rượu mới, và dầu ô liu của họ.
NEH 13:13 Tôi đặt những người sau đây lo cho kho chứa: Sê-lê-mai-gia, thầy tế lễ, Xa-đốc, chuyên gia luật, và Bê-đai-gia, người Lê-vi. Tôi chỉ định Ha-nan, con Xa-cua, con Ma-ta-nia, phụ giúp họ. Ai cũng biết những người nầy rất thanh liêm. Họ phân phát phần dành cho các thân nhân họ.
NEH 13:14 Thượng Đế ơi, xin nhớ đến tôi về điều nầy. Đừng quên lòng yêu mến của tôi cho đền thờ Ngài và các dịch vụ cho đền thờ.
NEH 13:15 Trong lúc đó tôi thấy mấy người Giu-đa làm việc nơi bàn ép rượu trong ngày Sa-bát. Họ mang lúa thóc và chất lên lưng lừa. Họ cũng mang rượu, nho, trái vả vào thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. Tôi liền cảnh cáo họ về việc buôn bán thực phẩm trong ngày đó.
NEH 13:16 Dân cư từ thành Tia đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem cũng mang cá và những hàng hóa khác buôn bán với người Giu-đa trong ngày Sa-bát.
NEH 13:17 Tôi khiển trách những người có uy tín trong Giu-đa. Tôi hỏi, “Chuyện ác mấy anh đang làm đây nghĩa là gì? Mấy anh xem ngày Sa-bát cũng như các ngày khác.
NEH 13:18 Đó chính là điều tổ tiên các anh đã làm cho nên Thượng Đế trừng phạt chúng ta và thành phố nầy. Bây giờ mấy anh lại khiến Ngài nổi giận với dân Ít-ra-en thêm bằng cách làm nhơ nhớp ngày Sa-bát.”
NEH 13:19 Tôi liền ra lệnh đóng các cửa thành từ buổi chiều trước ngày Sa-bát và chỉ mở sau ngày Sa-bát mà thôi. Tôi đặt các đầy tớ tôi canh các cổng để không ai mang hàng hóa vào thành trong ngày Sa-bát.
NEH 13:20 Một vài lần các con buôn hàng hóa phải ngủ đêm ngoài thành Giê-ru-sa-lem.
NEH 13:21 Tôi liền cảnh cáo chúng, “Sao mấy anh ngủ đêm bên vách thành? Nếu mấy anh còn làm nữa tôi sẽ tống cổ mấy anh đi đó.” Từ đó về sau chúng không còn trở lại trong ngày Sa-bát nữa.
NEH 13:22 Rồi tôi ra lệnh cho người Lê-vi dọn mình cho sạch và canh gác cổng thành để giữ cho ngày Sa-bát được thánh. Lạy Thượng Đế, xin nhớ đến tôi về điều nầy. Xin hãy tỏ lòng nhân ái đối với tôi vì tình yêu lớn lao của Ngài.
NEH 13:23 Trong thời gian đó tôi thấy mấy người Giu-đa lấy các phụ nữ Ách-đốt, Am-môn, và Mô-áp làm vợ.
NEH 13:24 Phân nửa con cái họ nói tiếng Ách-đốt hay vùng nào đó, chúng không biết nói tiếng Giu-đa.
NEH 13:25 Tôi trách móc, sỉ vả họ, đánh đập mấy người, giật tóc họ. Tôi bắt họ phải hứa với Thượng Đế rằng, “Không được gả con gái cho người ngoại quốc, cũng không cưới con gái người ngoại quốc cho con trai mình.
NEH 13:26 Chính các phụ nữ ngoại quốc đã khiến vua Sô-lô-môn của Ít-ra-en phạm tội. Trong các dân không có vua nào như người. Thượng Đế yêu mến Sô-lô-môn và đặt người làm vua trên cả Ít-ra-en nhưng các phụ nữ ngoại quốc xúi người phạm tội.
NEH 13:27 Mà bây giờ các anh bất tuân bằng cách làm điều ác nầy. Cưới vợ ngoại quốc là bất trung với Thượng Đế.”
NEH 13:28 Giô-gia-đa con Ê-li-a-síp là thầy tế lễ cả. Một trong các con trai Giô-gia-đa lấy con gái San-ba-lát, người Hô-rôn, làm vợ cho nên tôi đuổi nó đi khỏi mặt tôi.
NEH 13:29 Thượng Đế ơi, xin nhớ đến chúng nó là kẻ làm dơ bẩn chức tế lễ cùng khiến cho giao ước của thầy tế lễ và người Lê-vi ô dơ.
NEH 13:30 Cho nên tôi dọn sạch khỏi họ những gì có tính cách ngoại quốc. Tôi chỉ định nhiệm vụ cho thầy tế lễ và người Lê-vi, giao việc cho từng người.
NEH 13:31 Tôi cũng sắp xếp để người ta mang củi vào bàn thờ đều đặn và hoa quả đầu mùa cũng được mang vào đúng hạn. Thượng Đế ơi, xin nhớ đến tôi; tỏ lòng nhân từ Ngài cùng tôi.
EST 1:1 Chuyện xảy ra trong thời Vua A-suê-ru, hoàng đế cai trị một trăm hai mươi bảy tỉnh từ Ấn-độ đến Ê-thi-ô-bi.
EST 1:2 Vua đặt kinh đô tại Su-sơ.
EST 1:3 Năm thứ ba lúc đang trị vì, vua mở đại tiệc thết đãi tất cả quan trong triều, những tướng lãnh từ các tiểu quốc thuộc Ba-tư và Mê-đi cùng các quan đầu tỉnh trên toàn đế quốc.
EST 1:4 Đại tiệc kéo dài một trăm tám mươi ngày. Trong suốt thời gian đó, vua A-suê-ru phô trương sự giàu sang rực rỡ của đất nước cùng quyền uy tột bực của mình.
EST 1:5 Sau đó, vua lại mở một đại tiệc khác khoản đãi dân chúng tại kinh đô Su-sơ, không phân biệt sang hèn. Tiệc được tổ chức trong sân vườn vua và kéo dài bảy ngày.
EST 1:6 Khắp vườn giăng màn trắng, xanh với nơ lụa tím cột quanh những vòng bạc đính trên các cột cẩm thạch. Những chiếc ghế trường kỷ bọc vàng và bạc đặt trên nền lót gạch cẩm thạch, xa cừ và hồng ngọc.
EST 1:7 Rượu được rót đãi trong những ly bằng vàng đủ kiểu. Rượu nhiều vô kể vì vua rất rộng rãi.
EST 1:8 Vua truyền lệnh cho những kẻ hầu tiệc cứ cho khách tha hồ uống rượu tùy thích, không hạn chế.
EST 1:9 Hoàng hậu Vả-Thi cũng mở tiệc thết đãi những phụ nữ trong hoàng cung A-suê-ru.
EST 1:10 Qua ngày thứ bảy, khi đang ngà ngà men rượu, Vua cao hứng truyền cho bảy hoạn quan là Mê-hu-man, Bít-tha, Hạt-bô-na, Biếc-tha, A-bác-tha, Xê-tha và Cạt-cách
EST 1:11 mang hoàng hậu Vả-Thi, đầu đội vương miện đến ra mắt vua, để khoe vẻ đẹp sang trọng của bà cho mọi người chiêm ngưỡng.
EST 1:12 Các hoạn quan báo lệnh nầy cho hoàng hậu nhưng bà không chịu đến. Vua nổi giận phừng phừng.
EST 1:13 Theo thông lệ, vua hay hội ý những chuyên gia luật pháp và trật tự công cộng. Cho nên vua A-suê-ru hỏi ý những học giả xem phải xử trí ra sao.
EST 1:14 Những học giả được vua hay tham khảo ý kiến thường nhất là Cát-xê-na, Xê-thát, Ách-ma-tha, Tạt-si, Mê-ra, Mạc-xê-na, Mê-mu-can. Họ là bảy quan lớn của nước Ba-tư và Mê-đi. Các quan nầy có đặc ân ra mắt vua đồng thời cũng là các quan cao cấp nhất trong vương quốc.
EST 1:15 Vua hỏi họ, “Hoàng hậu Vả-Thi đã không vâng lệnh ta truyền qua các hoạn quan. Vậy theo luật pháp, ta phải xử nàng như thế nào?”
EST 1:16 Mê-mu-can thưa cùng vua và các thượng quan rằng, “Hoàng hậu Vả-Thi đã làm sai không những trước mặt vua mà còn trước mặt các quan cùng tất cả dân chúng trên toàn quốc.
EST 1:17 Khi vợ của các quan trong đế quốc Ba-tư và Mê-đi nghe biết hành động của Vả-Thi họ sẽ không còn nể nang chồng mình nữa. Họ sẽ bảo rằng ‘Vua A-suê-ru truyền lệnh cho hoàng hậu Vả-Thi đến nhưng bà không chịu tuân theo.’
EST 1:18 Bây giờ khi vợ của các quan trong nước Phe-rơ-sơ và Mê-đi hay biết hành động của hoàng hậu, họ cũng sẽ đối xử với chồng mình y như thế; rồi e rằng sự khinh khi và bất hoà sẽ không bao giờ chấm dứt.
EST 1:19 Nếu vua bằng lòng, xin ra sắc lệnh được viết thành luật của nước Ba-tư và Mê-đi để không thể thay đổi được; luật đó cấm hoàng hậu Vả-Thi không bao giờ được ra mắt vua A-suê-ru nữa. Vua sẽ ban chức hoàng hậu cho một người khác xứng đáng hơn.
EST 1:20 Xin ban hành sắc lệnh trên toàn đế quốc rộng lớn để tất cả các bà vợ sẽ kính trọng chồng mình, bất kể sang hèn.”
EST 1:21 Vua cùng các quan cao cấp tán thành ý kiến của Mê-mu-can nên liền thi hành ngay lời đề nghị đó.
EST 1:22 Vua ra lệnh khắp các tiểu quốc, theo từng ngôn ngữ địa phương, rằng mỗi người đàn ông phải làm chủ gia đình mình.
EST 2:1 Sau khi nguôi giận, vua nhớ Vả-Thi, hành động của bà và sắc lệnh đã ban hành.
EST 2:2 Các cận thần đề nghị, “Hãy tìm các cô gái trẻ đẹp cho vua.
EST 2:3 Vua sẽ chọn các quan đầu tỉnh bảo họ đưa những thiếu nữ đẹp nhất về cung vua tại kinh đô Su-sơ. Hoạn quan Hê-gai, người đảm trách các cung phi sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc sắc đẹp cho các nàng.
EST 2:4 Cô gái nào đẹp ý vua nhất sẽ được chọn làm hoàng hậu thế cho Vả-Thi.” Vua thích ý kiến đó và cho thực hành ngay.
EST 2:5 Tại kinh đô Su-sơ có một người Do-thái tên Mạc-đô-chê, con trai Giai-rô, cháu Si-mê-i, chắt của Kích, thuộc chi tộc Bên-gia-min.
EST 2:6 Ông bị Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn bắt cầm tù tại Giê-ru-sa-lem, và bị lưu đày cùng một lượt với Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa và nhiều người khác.
EST 2:7 Mạc-đô-chê có người bà con tên Ha-đa-xa, con gái một người cậu. Vì Ha-đa-xa mồ côi nên Mạc-đô-chê đem về nuôi dưỡng. Ha-đa-xa còn có tên là Ê-xơ-tê. Dáng dấp nàng thanh nhã và nhan sắc thật mặn mà. Mạc-đô-chê nhận nàng làm con nuôi vì cha mẹ nàng mất sớm.
EST 2:8 Khi lệnh vua được ban hành, nhiều thiếu nữ được đưa về kinh đô Su-sơ dưới sự trông coi của Hê-gai, quan đảm trách các cung phi. Ê-xơ-tê cũng được đưa về cung.
EST 2:9 Ê-xơ-tê được lòng Hê-gai, nên ông cấp cho Ê-xơ-tê nhiều mỹ phẩm và thức ăn ngon. Ông chọn cho Ê-xơ-tê bảy tỳ nữ trong cung vua rồi đưa nàng cùng các tỳ nữ về ở khu vực tốt nhất trong cung phi tần.
EST 2:10 Ê-xơ-tê không cho ai biết về gốc gác gia đình và dân tộc mình theo lời Mạc-đô-chê căn dặn.
EST 2:11 Hằng ngày Mạc-đô-chê qua lại sân cung phi để thăm hỏi Ê-xơ-tê và theo dõi mọi việc diễn tiến ra sao.
EST 2:12 Trước khi ra mắt vua, mỗi cô gái được chăm sóc sắc đẹp trong mười hai tháng. Sáu tháng đầu dùng dầu mộc dược và sáu tháng sau dùng dầu thơm cùng các mỹ phẩm khác.
EST 2:13 Sau đó xem như sẵn sàng để gặp vua. Khi đến phiên mình, mỗi cô gái được tự chọn những vật dụng mình thích từ cung phi tần mang vào hoàng cung.
EST 2:14 Buổi tối, nàng vào cung vua. Sáng hôm sau nàng trở về khu vực khác trong cung phi tần, dưới sự trông coi của hoạn quan Sa-ách-ga, người quản trị các tỳ nữ. Nàng sẽ không gặp lại nhà vua nữa trừ khi được vua yêu thích và cho gọi đích danh.
EST 2:15 Đến phiên Ê-xơ-tê, con gái A-bi-hai, cậu của Mạc-đô-chê, người được ông nhận làm con nuôi, ra mắt vua. Nàng không xin gì cả, chỉ mang theo những thứ hoạn quan Hê-gai đề nghị cho mình. (Hê-gai là hoạn quan của vua coi sóc các cung phi.) Ê-xơ-tê chiếm được cảm tình của những người gặp nàng.
EST 2:16 Nàng được đưa vào gặp vua trong hoàng cung vào tháng mười, tức tháng Tê-bết, năm thứ bảy triều đại vua A-suê-ru.
EST 2:17 Vua yêu thích Ê-xơ-tê hơn tất cả những mỹ nữ khác. Vua thích nàng nhất nên đội vương miện lên đầu nàng và chọn nàng làm hoàng hậu thế cho Vả-Thi.
EST 2:18 Sau đó vua mở đại tiệc mừng tân hoàng hậu và mời tất cả các quan chức trong triều đình tham dự. Vua tuyên bố ngày lễ trên toàn quốc và ban phát nhiều quà tặng.
EST 2:19 Khi các cô gái tập họp lần thứ nhì, Mạc-đô-chê ngồi tại cửa vua.
EST 2:20 Ê-xơ-tê vẫn chưa tiết lộ cho ai biết về gốc gác gia đình và dân tộc nàng theo lời Mạc-đô-chê dặn. Nàng vâng lời Mạc-đô-chê như lúc đang còn ở nhà.
EST 2:21 Một ngày kia, khi Mạc-đô-chê đang ngồi trước cửa cung vua, thì hai quan gác cửa là Bích-than và Thê-rết có chuyện bất bình và bàn định giết vua.
EST 2:22 Mạc-đô-chê khám phá ra âm mưu đó liền báo cho hoàng hậu Ê-xơ-tê hay. Ê-xơ-tê thưa cùng vua về âm mưu mà Mạc-đô-chê vừa khám phá.
EST 2:23 Người ta điều tra và thấy đúng sự thật cho nên hai quan chủ mưu ám hại vua liền bị treo cổ. Biến cố nầy được ghi lại trong sử ký triều đình đương thời trước mắt vua.
EST 3:1 Sau các việc đó, vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man, con trai Ha-ma-đa-tha, người A-gác. Vua đặt Ha-man làm tể tướng, trên quyền tất cả các quan trong triều đình.
EST 3:2 Theo lệnh vua, các quan trong triều phải cúi lạy chào Ha-man, nhưng Mạc-đô-chê không cúi lạy cũng chẳng tỏ vẻ tôn kính Ha-man.
EST 3:3 Các quan trong triều tại cửa vua thắc mắc hỏi Mạc-đô-chê, “Tại sao ông không tuân lệnh vua?”
EST 3:4 Chúng gạn hỏi ông mỗi ngày nhưng ông chẳng buồn để ý. Họ liền báo cho Ha-man hay. Họ muốn biết xem Ha-man có chấp nhận thái độ của Mạc-đô-chê hay không vì Mạc-đô-chê cho họ biết mình là người Do-thái.
EST 3:5 Khi Ha-man thấy Mạc-đô-chê không cúi chào cũng chẳng tỏ vẻ tôn kính mình thì vô cùng giận dữ.
EST 3:6 Ha-man không muốn giết chỉ một mình Mạc-đô-chê thôi nhưng mà còn tìm cách tiêu diệt cả dân Do-thái trên toàn đế quốc của vua A-suê-ru mới hả giận.
EST 3:7 Vào tháng giêng gọi là tháng Ni-san, năm thứ mười hai, triều đại vua A-suê-ru, người ta bắt thăm để chọn ngày và tháng trước mặt Ha-man. Thăm rơi trúng tháng mười hai, tức tháng A-đa.
EST 3:8 Ha-man tâu cùng vua A-suê-ru rằng, “Có một dân tộc ở rải rác khắp các tỉnh trong vương quốc. Phong tục họ khác hẳn với các dân tộc khác. Họ không tuân theo luật pháp của vua, chúng ta chẳng nên để họ tiếp tục sống trên lãnh thổ của vua làm gì.
EST 3:9 Nếu đẹp ý vua, xin ban hành sắc lệnh hủy diệt dân tộc đó. Hạ thần xin đóng bảy trăm năm mươi ngàn cân bạc vào quỹ nhà vua để lo chi phí cho việc thi hành sắc lệnh nầy.”
EST 3:10 Vua liền tháo nhẫn trao cho Ha-man, con Ha-ma-đê-tha, người A-gác, kẻ thù của dân Do-thái.
EST 3:11 Vua bảo Ha-man, “Tiền và dân tộc đó trong tay ngươi, muốn làm gì tùy ý.”
EST 3:12 Vào ngày mười ba tháng giêng, theo lệnh Ha-man, các thư ký trong triều đình viết sắc lệnh gởi đến các thống đốc và cấp chỉ huy quân đội của các tiểu quốc và của mỗi sắc dân tùy theo chữ viết và ngôn ngữ địa phương. Sắc lệnh ký tên vua A-suê-ru và đóng ấn bằng nhẫn vua.
EST 3:13 Sắc lệnh được gởi qua các sứ giả phái đến khắp nơi trong nước, truyền cho dân chúng vào ngày mười ba tháng mười hai tức tháng A-đa, hãy hủy diệt, tàn sát cho tuyệt gốc dân Do-thái, từ nhỏ tới lớn, kể cả đàn bà trẻ em và tịch thu hết tài sản của họ.
EST 3:14 Bản sao sắc lệnh được gởi tới mỗi tiểu quốc như một đạo luật để mọi người đều biết và sẵn sàng thi hành.
EST 3:15 Các sứ giả vội vã lên đường thi hành lệnh vua ban ra tại hoàng cung ở kinh đô Su-sơ. Vua và Ha-man ngồi uống rượu trong khi cả thành Su-sơ đều nhốn nháo.
EST 4:1 Khi Mạc-đô-chê hay được tin dữ nầy, ông liền xé áo, mặc vải sô và đội tro, ra giữa thành phố kêu khóc thảm thiết.
EST 4:2 Nhưng Mạc-đô-chê chỉ đến được tới bên ngoài cổng vua vì không ai được phép vào bên trong cổng vua đang khi mặc vải sô.
EST 4:3 Khi lệnh vua được ban hành khắp nơi, dân Do-thái kêu khóc đau thương. Nhiều người bỏ ăn, nằm lăn trong vải sô và phủ tro để tỏ nỗi đau khổ.
EST 4:4 Các tỳ nữ của Ê-xơ-tê và hoạn quan đến thuật cho hoàng hậu nghe chuyện Mạc-đô-chê, nàng rất buồn lòng và lo sợ. Bà gởi quần áo đến để Mạc-đô-chê mặc thay vì mặc vải sô nhưng ông từ chối không mặc.
EST 4:5 Hoàng hậu bảo Ha-thát, một trong những hoạn quan hầu cận nàng đi tìm Mạc-đô-chê để hỏi nguyên do.
EST 4:6 Ha-thát đến cùng Mạc-đô-chê trong khi ông đang ngồi tại công viên thành phố trước cổng vua.
EST 4:7 Mạc-đô-chê thuật hết mọi việc cho Ha-thát nghe rồi nhắn Ha-thát nói cùng hoàng hậu về số tiền mà Ha-man hứa đóng vào ngân quỹ nhà vua để chi phí cho việc thi hành sắc lệnh tiêu diệt dân Do-thái.
EST 4:8 Mạc-đô-chê cũng gởi bản sao sắc lệnh tiêu diệt dân Do-thái đã được ban hành tại kinh đô Su-sơ cho Ha-thát và yêu cầu ông trao lại cho Ê-xơ-tê cùng kể hết mọi việc cho bà nghe để yêu cầu bà can thiệp với vua cho dân tộc mình.
EST 4:9 Ha-thát về thuật lại cho Ê-xơ-tê nghe theo như lời Mạc-đô-chê căn dặn.
EST 4:10 Ê-xơ-tê bảo Ha-thát đi nói cùng Mạc-đô-chê rằng,
EST 4:11 “Tất cả quần thần cùng dân chúng khắp nơi đều biết rằng không ai, bất luận nam hay nữ, được tự ý vào nội điện vua mà không có lệnh đòi. Kẻ phạm luật đó sẽ bị xử tử trừ khi vua đưa cây trượng vàng ra thì mới khỏi chết.”
EST 4:12 Lời nhắn của Ê-xơ-tê được chuyển lại cho Mạc-đô-chê.
EST 4:13 Mạc-đô-chê nhắn với Ê-xơ-tê rằng, “Đừng tưởng ở trong cung vua mà con là người Do-thái duy nhất được thoát nạn.
EST 4:14 Nếu con im lặng trong lúc nầy, dân Do-thái chắc chắn sẽ được giải cứu bằng cách khác, nhưng con và cả gia đình đều sẽ chết. Biết đâu đây là lý do mà con được chọn làm hoàng hậu?”
EST 4:15 Ê-xơ-tê bảo nhắn cùng Mạc-đô-chê rằng,
EST 4:16 “Hãy đi triệu tập tất cả những người Do-thái trong kinh đô Su-sơ, rồi vì tôi mà nhịn ăn, nhịn uống ba ngày ba đêm. Tôi cùng các tỳ nữ cũng sẽ cữ ăn. Sau đó, dù có phạm luật, tôi sẽ vào gặp vua, nếu phải chết thì tôi đành chịu.”
EST 4:17 Mạc-đô-chê làm theo mọi điều Ê-xơ-tê căn dặn.
EST 5:1 Qua ngày thứ ba, Ê-xơ-tê mặc triều phục, đứng chầu bên sân trong của cung, đối diện văn phòng vua. Vua đang ngồi trên ngai đối diện cổng vào.
EST 5:2 Vừa thấy hoàng hậu đứng trong sân cung điện, vua rất vui liền đưa cây trượng vàng ra. Ê-xơ-tê tiến đến sờ vào đầu cây trượng.
EST 5:3 Vua hỏi, “Hoàng hậu Ê-xơ-tê, nàng có việc gì? Nàng muốn xin điều chi? Dù xin phân nửa vương quốc ta cũng sẽ cho.”
EST 5:4 Ê-xơ-tê thưa, “Muôn tâu bệ hạ, nếu đẹp ý bệ hạ, xin mời Ngài cùng Ha-man đến dự tiệc mà thiếp đã chuẩn bị sẵn hôm nay.”
EST 5:5 Vua bảo, “Hãy cho mời Ha-man đến lập tức để làm theo ý muốn Hoàng hậu.” Vua và Ha-man liền đến dự tiệc hoàng hậu mời.
EST 5:6 Khi đang uống rượu, Vua hỏi Ê-xơ-tê, “Nào bây giờ nàng muốn gì ta sẽ ban cho! Dù xin phân nửa vương quốc, ta cũng bằng lòng.”
EST 5:7 Ê-xơ-tê thưa, “Đây là điều thiếp muốn xin cùng bệ hạ.
EST 5:8 Ngày mai, xin bệ hạ vui lòng cùng Ha-man đến dự tiệc mà thiếp đã dọn sẵn, rồi thiếp sẽ trả lời câu hỏi của bệ hạ.”
EST 5:9 Ha-man rời cung điện, lòng đầy hân hoan và mãn nguyện. Nhưng khi thấy Mạc-đô-chê tại cổng vua, chẳng đứng dậy cúi chào hoặc tỏ vẻ khúm núm sợ sệt trước mặt mình, Ha-man đầy lòng căm tức.
EST 5:10 Nhưng ông ta cố nén giận về nhà. Rồi ông mời bạn bè cùng vợ mình là Xê-rết đến.
EST 5:11 Ông khoe với họ về sự giàu sang của mình và số con trai mình có. Đồng thời ông cũng thuật việc vua đã tôn trọng ông ra sao và đặt ông chỗ cao nhất trong số các quan trong triều đình.
EST 5:12 Ông cũng khoe rằng, “Ta là người duy nhất có vinh dự được mời dự tiệc cùng vua do chính hoàng hậu thết đãi. Ngày mai ta cũng được hoàng hậu mời làm khách danh dự đi cùng với vua.
EST 5:13 Thế nhưng những điều đó chẳng làm ta vui sướng khi mà ta còn thấy tên Do-thái Mạc-đô-chê cứ ngồi trước cổng vua.”
EST 5:14 Vợ Ha-man là Xê-rết cùng các bạn hữu đề nghị, “Hãy ra lệnh dựng một cái giàn cao bảy mươi lăm bộ rồi sáng mai vào xin vua treo cổ Mạc-đô-chê lên đó, xong rồi hãy vui vẻ mà đi dự tiệc với vua.” Ha-man rất thích đề nghị nầy. Ông liền ra lệnh đóng cái giàn.
EST 6:1 Đêm ấy, vua không ngủ được cho nên bảo đem sử ký triều đình đọc cho vua nghe.
EST 6:2 Khi đọc đến đoạn Mạc-đô-chê khám phá âm mưu ám hại vua của hai quan giữ cổng là Bích-than và Thê-rết.
EST 6:3 Vua hỏi, “Vậy Mạc-đô-chê có được tuyên dương công trạng và phần thưởng gì không?” Các cận thần đáp, “Dạ không được gì cả.”
EST 6:4 Vua tiếp, “Ai đang ở ngoài sân vậy?” Lúc đó Ha-man vừa tới ngoài hoàng cung định vào xin vua treo cổ Mạc-đô-chê lên cây giàn ông mới cho dựng xong.
EST 6:5 Cận thần thưa, “Dạ, Ha-man đang ở ngoài đó!” Vua bảo, “Gọi ông ta vào đây.”
EST 6:6 Ha-man bước vào. Vua hỏi, “Phải đối đãi thế nào với người mà vua muốn ban vinh dự?” Ha-man thầm nghĩ, “Còn ai mà vua muốn ban vinh dự hơn ta nữa?”
EST 6:7 Ha-man thưa, “Đây là những điều vua nên làm cho người vua muốn ban vinh dự:
EST 6:8 Bảo các tôi tớ khoác áo hoàng gia vào cho người đó, đội vương miện lên đầu và cho cỡi ngựa vua.
EST 6:9 Vị đại thần cao nhất triều đình sẽ nhận áo và ngựa vua. Rồi các đầy tớ vua sẽ khoác áo lên cho người vua muốn ban vinh dự, dẫn người ấy ngồi trên ngựa quanh khắp đường phố kinh đô và hô to lên rằng, ‘Người vua ban vinh dự được đãi như thế nầy.’”
EST 6:10 Vua liền bảo Ha-man, “Nhanh lên, lấy áo và ngựa của ta như lời ngươi vừa nói mặc vào cho Mạc-đô-chê, người Do-thái đang ngồi tại cổng vua. Nhớ không được bỏ sót bất cứ chi tiết nào ngươi vừa đề nghị.”
EST 6:11 Ha-man lấy áo và ngựa, khoác áo vua vào cho Mạc-đô-chê, đỡ ông lên ngựa vua, dẫn đi khắp đường phố kinh đô, hô to lên rằng, “Người được vua ban vinh dự được đãi ngộ như thế nầy.”
EST 6:12 Sau đó, Mạc-đô-chê trở về cổng vua, còn Ha-man vội vã trở về nhà, trùm đầu lại, cảm thấy xấu hổ và nhục nhã vô cùng.
EST 6:13 Ông kể cho Xê-rết, vợ mình cùng các bạn hữu sự việc vừa xảy ra. Vợ Ha-man và các bạn hữu đã cố vấn ông bảo, “Ông có vẻ thất thế trước Mạc-đô-chê rồi đó! Nếu hắn là người Do-thái, ông không thắng nổi hắn đâu; chắc thế nào ông cũng thảm bại.”
EST 6:14 Đang khi họ đang còn nói chuyện thì các hoạn quan của vua tới nơi, hối hả đưa Ha-man đến dự tiệc Hoàng hậu mời.
EST 7:1 Vua cùng Ha-man đến dự tiệc của Hoàng hậu Ê-xơ-tê.
EST 7:2 Khi đang uống rượu, vua hỏi Ê-xơ-tê lần nữa, “Em muốn gì ta sẽ ban cho. Dù xin phân nửa lãnh thổ ta, ta cũng sẵn lòng.”
EST 7:3 Hoàng hậu Ê-xơ-tê đáp, “Tâu vua, nếu thiếp được vua thương, xin cứu lấy mạng sống thiếp cùng cả dân tộc thiếp nữa.
EST 7:4 Thiếp cùng cả dân tộc đã bị bán để bị hủy diệt, sát hại cho tận gốc. Nếu dân tộc thiếp bị bán để làm nô lệ thôi thì thiếp không nói làm gì, vì điều đó chẳng đáng chi cho vua bận tâm.”
EST 7:5 Vua A-suê-ru hỏi hoàng hậu, “Kẻ đó là ai? Đang ở đâu? Ai dám cả gan làm chuyện đó?”
EST 7:6 Ê-xơ-tê đáp, “Kẻ thù ấy chính là tên Ha-man độc ác nầy.” Ha-man hoảng kinh trước mặt vua và hoàng hậu.
EST 7:7 Vua nổi giận lôi đình, bỏ ly rượu đứng dậy bước ra vườn. Còn Ha-man thì ở lại van xin hoàng hậu tha mạng vì hắn thấy rõ vua nhất quyết muốn giết mình.
EST 7:8 Khi vua từ ngoài vườn trở lại bàn tiệc, thấy Ha-man đang sấp mình lạy lục trên ghế trường kỷ nơi hoàng hậu đang ngồi, vua hét lên, “Bây giờ mà nó còn tính chuyện cưỡng hiếp hoàng hậu ngay trước mặt ta nữa chứ!” Vua vừa dứt lời, các cận thần xông đến che mặt Ha-man lại.
EST 7:9 Ha-bô-na, một trong các hoạn quan hầu cận thưa, “Ha-man đã cho đóng một cái giàn cao bảy mươi lăm bộ bên cạnh nhà để định treo cổ Mạc-đô-chê là người đã cứu mạng vua.” Vua ra lệnh, “Vậy treo cổ tên Ha-man lên đó đi!”
EST 7:10 Người ta liền treo Ha-man lên giàn thắt cổ mà Ha-man đã dựng cho Mạc-đô-chê. Rồi vua nguôi giận.
EST 8:1 Trong ngày đó, vua A-suê-ru cho Hoàng hậu Ê-xơ-tê hết cả tài sản của Ha-man, kẻ thù dân Do-thái, để lại sau khi hắn chết. Còn Mạc-đô-chê được ra mắt vua vì Ê-xơ-tê đã tâu thật cùng vua rằng Mạc-đô-chê bà con với mình.
EST 8:2 Vua tháo nhẫn đã lấy lại từ Ha-man trao cho Mạc-đô-chê. Ê-xơ-tê cử Mạc-đô-chê quản lý tất cả tài sản Ha-man để lại.
EST 8:3 Một lần nữa, Ê-xơ-tê vào quì dưới chân vua kêu khóc, khẩn khoản xin vua hủy bỏ âm mưu độc ác của Ha-man, người A-gác định tiêu diệt dân Do-thái.
EST 8:4 Vua giơ cây trượng vàng ra cho Ê-xơ-tê, nàng đứng dậy trước mặt vua
EST 8:5 thưa rằng, “Tâu vua, nếu thiếp được đẹp ý vua và vua xét rằng đây là điều phải lẽ, nếu vua thương thì xin vua viết sắc lệnh hủy bỏ văn thư Ha-man đã viết. Ha-man người A-gác, đã gởi chỉ thị hủy diệt dân Do-thái trên toàn vương quốc của vua.
EST 8:6 Làm sao thiếp đành lòng nhìn cảnh đau thương đó xảy đến cho dân tộc thiếp, làm sao thiếp chịu nổi khi nhìn thấy gia đình thiếp bị tàn sát?”
EST 8:7 Vua A-suê-ru bảo Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê, người Do-thái, “Vì Ha-man đã chống dân Do-thái nên ta đã cho Ê-xơ-tê tài sản hắn; quân lính ta cũng đã treo cổ hắn.
EST 8:8 Bây giờ, nhân danh ta, hãy viết một chỉ thị khác theo ý các ngươi cho người Do-thái. Rồi đóng ấn nhẫn vua, vì không có văn thư nào có chữ ký và đóng ấn nhẫn vua mà có thể hủy bỏ được.”
EST 8:9 Các thư ký vua được gọi vào cung ngày hai mươi ba tháng ba tức tháng Xi-van. Họ viết y theo những gì Mạc-đô-chê yêu cầu rồi gởi cho người Do-thái, các thống đốc, các tướng lãnh chỉ huy ở mỗi tỉnh cùng mọi viên chức khắp nơi trên toàn lãnh thổ từ Ấn-độ đến Ê-thi-ô-bi gồm một trăm hai mươi bảy tỉnh. Văn thư được soạn thảo theo chữ viết và ngôn ngữ địa phương, cho người Do-thái thì viết theo ngôn ngữ của họ.
EST 8:10 Mạc-đô-chê sai viết chỉ thị mang tên vua A-suê-ru, đóng ấn nhẫn vua. Sau đó ông sai quân lính cỡi ngựa hỏa tốc là ngựa nuôi riêng cho vua, mang chỉ thị đi khắp nơi.
EST 8:11 Theo chỉ thị nầy, người Do-thái ở mọi nơi có quyền tập họp để tự vệ. Họ có quyền tiêu diệt, đánh giết và tàn sát kẻ nào tấn công họ kể cả đàn bà con nít của kẻ thù. Họ cũng có quyền chiếm đoạt tài sản của kẻ thù nữa.
EST 8:12 Ngày ấn định cho người Do-thái thực hiện chỉ thị nầy trên toàn đế quốc của vua A-suê-ru là ngày mười ba tháng mười hai, tức tháng A-đa.
EST 8:13 Bản sao chỉ thị nầy cũng được gởi đến mỗi tỉnh để công bố thành luật cho mọi người dân trong nước biết, cũng để cho người Do-thái chuẩn bị sẵn sàng chống trả kẻ thù.
EST 8:14 Theo lệnh khẩn cấp của vua, quân lính cỡi ngựa hoả tốc đem sắc lệnh đi khắp nơi, kể cả cung vua ở kinh đô Su-sơ.
EST 8:15 Mạc-đô-chê mặc triều phục xanh và trắng, đội mão miện vàng với áo thụng tím bằng vải gai mịn tốt nhất từ cung vua bước ra. Cả dân chúng kinh đô Su-sơ đều lớn tiếng reo mừng.
EST 8:16 Dân Do-thái vô cùng hân hoan, mừng rỡ, sung sướng và vinh dự.
EST 8:17 Khi sắc lệnh vua được thông báo đến mỗi tỉnh, thì người Do-thái vô cùng hân hoan. Bất cứ tỉnh hay tiểu quốc nào khi nhận được lệnh vua thì họ mở tiệc liên hoan. Có nhiều người khắp đế quốc nhập tịch Do-thái vì họ rất sợ người Do-thái.
EST 9:1 Ngày mười ba tháng mười hai tức tháng A-đa, là ngày thi hành lệnh vua, ngày mà kẻ thù dân Do-thái mong sẽ đánh bại họ trái lại đã đổi thành ngày dân Do-thái đánh bại kẻ thù mình.
EST 9:2 Người Do-thái tập họp trong các thành phố khắp đế quốc A-suê-ru để tấn công kẻ định làm hại họ. Không ai đủ mạnh để chống lại người Do-thái vì ai cũng sợ họ.
EST 9:3 Nhà cầm quyền các tỉnh, tướng lãnh cùng quan chức triều đình đều giúp đỡ người Do-thái vì họ rất sợ Mạc-đô-chê.
EST 9:4 Mạc-đô-chê rất được tôn trọng trong cung vua. Danh tiếng ông vang lừng khắp nước vì càng ngày ông càng có thể lực.
EST 9:5 Người Do-thái dùng gươm chống trả kẻ thù, chém giết và tàn sát họ. Những kẻ nào ghét họ cũng bị chung số phận.
EST 9:6 Tại cung vua ở Su-sơ họ giết năm trăm người.
EST 9:7 Họ cũng giết Phạt-san-đa-tha, Đanh-Phông, A-ba-tha,
EST 9:8 Phô-ra-tha, A-đa-lia, A-ri-đa-tha,
EST 9:9 Phạt-ma-na-tha, A-ri-sai, A-ri-đai và Va-giê-xa-tha
EST 9:10 tức là mười con trai Ha-man, con của Ha-ma-đê-tha, kẻ thù dân Do-thái. Nhưng người Do-thái không chiếm tài sản họ.
EST 9:11 Trong ngày ấy, số người bị giết tại kinh đô Su-sơ được báo cáo lên vua.
EST 9:12 Vua bảo Hoàng hậu Ê-xơ-tê, “Dân Do-thái đã giết năm trăm người tại cung vua ở Su-sơ, họ cũng đã giết mười con trai Ha-man. Giờ đây em còn muốn xin điều gì nữa không trong đế quốc ta; ta sẽ làm cho. Xin gì nữa ta cũng sẽ làm cho em.”
EST 9:13 Ê-xơ-tê thưa, “Nếu đẹp ý vua, xin cho người Do-thái tại kinh đô Su-sơ ngày mai được phép hành động như hôm nay và xin vua cho treo xác mười con trai Ha-man lên giàn.”
EST 9:14 Vua bằng lòng và truyền sắc lệnh tại Su-sơ cho treo xác mười con trai Ha-man lên giàn.
EST 9:15 Người Do-thái tại Su-sơ tập họp lại trong ngày mười bốn tháng A-đa. Họ giết thêm ba trăm người tại Su-sơ nhưng không chiếm tài sản.
EST 9:16 Đồng thời người Do-thái trên toàn quốc tập họp lại để tự vệ và tiêu diệt kẻ thù. Họ giết bảy mươi lăm ngàn người thù ghét mình nhưng không chiếm tài sản.
EST 9:17 Sự việc xảy ra vào ngày mười ba tháng A-đa. Qua ngày mười bốn, họ nghỉ ngơi và làm ngày ăn mừng.
EST 9:18 Người Do-thái tại kinh đô Su-sơ đã tập họp để giết kẻ thù trong hai ngày mười ba và mười bốn tháng A-đa. Rồi ngày mười lăm họ nghỉ ngơi, mở tiệc ăn mừng.
EST 9:19 Vì thế người Do-thái sống tại các vùng thôn quê hay các làng hẻo lánh hiện vẫn giữ ngày mười bốn tháng A-đa để tổ chức ăn mừng và trao quà cho nhau.
EST 9:20 Mạc-đô-chê ghi lại mọi sự việc xảy ra và gởi thư cho những người Do-thái ở khắp nơi trong nước, không kể gần xa.
EST 9:21 Ông dặn họ tổ chức ăn mừng hằng năm vào ngày mười bốn và mười lăm tháng A-đa,
EST 9:22 vì đó là ngày diệt kẻ thù; ngày đổi buồn ra vui, than khóc ra mừng rỡ. Ông dặn họ ăn mừng hai ngày nầy, trao quà cho nhau và biếu tặng cho kẻ nghèo.
EST 9:23 Người Do-thái đồng ý làm theo những điều Mạc-đô-chê dặn bảo và mừng lễ hàng năm.
EST 9:24 Ha-man, con trai Ha-ma-đê-tha, người A-gác, kẻ thù dân Do-thái, người đã định tâm tiêu diệt dân Do-thái và cho bắt thăm định ngày tàn sát.
EST 9:25 Nhưng khi hay biết âm mưu hãm hại người Do-thái của Ha-man thì vua đã ra lệnh dùng mưu đó hại lại Ha-man. Lệnh vua truyền treo cổ Ha-man cùng mười con trai ông ta lên giàn.
EST 9:26 Ngày nầy được gọi là lễ Phu-rim, dịch từ chữ “Phu-rơ” (bắt thăm). Vì theo văn thư căn dặn và những điều họ đã chứng kiến hoặc đã xảy ra cho họ
EST 9:27 nên người Do-thái đã thiết lập tập tục nầy. Họ cùng con cháu và những người nhập tịch Do-thái đều phải kỷ niệm hai ngày lễ nầy hằng năm. Họ làm đúng theo cách thức và thời gian mà Mạc-đô-chê đã ghi rõ trong văn thư.
EST 9:28 Hai ngày lễ nầy sẽ được ghi nhớ và kỷ niệm từ đó về sau trong mỗi gia đình mỗi tỉnh, mỗi thành phố. Ngày lễ Phu-rim sẽ luôn được người Do-thái ăn mừng và dặn con cháu đời sau cũng phải luôn nhớ giữ lễ đó.
EST 9:29 Hoàng hậu Ê-xơ-tê, con gái A-bi-hai, cùng với Mạc-đô-chê, cũng viết văn thư thứ nhì qui định lễ Phu-rim. Dùng uy quyền sẵn có, họ viết để xác nhận văn thư thứ nhất là chính xác.
EST 9:30 Mạc-đô-chê gởi văn thư cho người Do-thái trong toàn thể một trăm hai mươi bảy tỉnh của vương quốc A-suê-ru với lời chúc lành và chân thật.
EST 9:31 Ông định ngày mừng lễ Phu-rim. Mạc-đô-chê người Do-thái cùng hoàng hậu Ê-xơ-tê ra chỉ thị cho người Do-thái cùng con cháu rằng: Trong hai ngày nầy mọi người sẽ cữ ăn và than khóc để tưởng niệm.
EST 9:32 Văn thư của Hoàng hậu qui định việc giữ lễ Phu-rim được ghi vào sổ bộ.
EST 10:1 Vua A-suê-ru buộc khắp nơi trong nước, kể cả các tỉnh vùng duyên hải phải đóng thuế.
EST 10:2 Những công trình lớn lao cùng uy quyền của vua A-suê-ru, đều được ghi chép vào sách sử ký các vua của Mê-đi và Ba-tư. Ngoài ra các sách vở đó còn ghi các công nghiệp của Mạc-đô-chê người mà vua đã vinh thăng.
EST 10:3 Mạc-đô-chê, người Do-thái, làm tể tướng đời vua A-suê-ru. Trong vòng người Do-thái ông là vị quan chức cao cấp nhất. Ông được dân tộc kính nể vô cùng vì đã giúp đỡ và bảo vệ an ninh cho toàn dân Do-thái.
JOB 1:1 Có một người tên Gióp sống trong xứ Út-xơ. Ông thanh liêm và ngay thật; kính sợ Thượng Đế và tránh xa điều ác.
JOB 1:2 Gióp có bảy trai ba gái.
JOB 1:3 Ông có bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, năm trăm cặp bò, và năm trăm lừa cái. Ông cũng có rất đông tôi tớ. Gióp là người giàu nhất trong tất cả các người ở Đông Phương.
JOB 1:4 Các con trai ông thay phiên nhau đãi tiệc ở nhà mình và mời các chị em mình cùng dự.
JOB 1:5 Sau mỗi lần tiệc tàn thì Gióp bảo các con dọn mình cho thanh sạch. Sáng sớm Gióp dâng của lễ thiêu cho mỗi đứa vì ông nghĩ, “Con cái ta rất có thể đã phạm tội và nguyền rủa Thượng Đế trong lòng.” Ông làm như thế luôn luôn.
JOB 1:6 Một ngày kia các thiên sứ ra trình diện CHÚA, Sa-tăng cũng có mặt trong vòng họ.
JOB 1:7 CHÚA hỏi Sa-tăng, “Ngươi ở đâu đến?” Sa-tăng thưa, “Tôi đi lang thang khắp mặt đất, dạo nơi nầy nơi kia.”
JOB 1:8 CHÚA hỏi Sa-tăng, “Ngươi có thấy Gióp, tôi tớ của ta không? Trên thế gian không có ai giống như nó. Thật là người thanh liêm và ngay thẳng, kính sợ Thượng Đế và tránh xa điều ác.”
JOB 1:9 Nhưng Sa-tăng thưa với CHÚA, “Gióp kính sợ Thượng Đế là phải.
JOB 1:10 Vì Ngài dựng bức tường che chở quanh người, gia đình người, và mọi tài sản người. Những gì người làm CHÚA đều ban phước. Các bầy gia súc người thật đông thiếu điều chật đất.
JOB 1:11 Nhưng nếu Ngài thử giơ tay ra tiêu diệt những gì mà ông ta có, ông ta sẽ nguyền rủa CHÚA tận mặt.”
JOB 1:12 CHÚA bảo Sa-tăng, “Được rồi. Tất cả những gì Gióp có đều nằm trong tay ngươi, nhưng ngươi không được phép đụng đến người.” Sa-tăng lui ra khỏi mặt CHÚA.
JOB 1:13 Một ngày kia các con trai con gái Gióp đang ăn uống trong nhà anh cả mình.
JOB 1:14 Có người đến báo tin cho Gióp hay, “Bò đang cày ruộng, còn lừa thì đang ăn cỏ gần đó,
JOB 1:15 bỗng nhiên quân Xa-ba tấn công cướp đi tất cả. Họ dùng gươm giết các tôi tớ, chỉ một mình tôi thoát khỏi chạy báo tin cho ông!”
JOB 1:16 Người ấy còn đang nói thì kẻ khác chạy đến báo, “Sấm sét từ Thượng Đế trên trời loè xuống đốt cháy tiêu hết các con chiên và tôi tớ. Chỉ một mình tôi thoát chết chạy về báo tin cho ông!”
JOB 1:17 Người thứ nhì còn đang nói thì một người nữa chạy vào trình, “Quân Ba-by-lôn chia làm ba toán tấn công cướp hết lạc đà và giết sạch các tôi tớ. Chỉ một mình tôi thoát chạy về báo tin cho ông hay!”
JOB 1:18 Người thứ ba còn đang nói thì một người nữa chạy vào báo, “Các con trai con gái ông đang ăn uống tại nhà anh cả.
JOB 1:19 Bỗng nhiên có trận cuồng phong dữ dội từ sa mạc thổi đến ập vào bốn góc nhà. Nhà sập ai cũng chết hết. Chỉ một mình tôi sống sót chạy về báo cho ông hay!”
JOB 1:20 Sau khi nghe các tin ấy Gióp liền đứng dậy xé áo mình, cạo đầu chứng tỏ đau buồn cùng cực. Rồi ông sấp mặt xuống đất bái lạy Thượng Đế.
JOB 1:21 Ông nói: “Sinh ra tôi đã trần truồng, Đến khi chết cũng sẽ trần truồng. CHÚA ban cho tôi đủ thứ, bây giờ CHÚA lại lấy đi. Đáng chúc tụng danh CHÚA!”
JOB 1:22 Trong tất cả mọi chuyện đó Gióp không hề phạm tội hay oán trách Thượng Đế.
JOB 2:1 Một ngày khác các thiên sứ đến trình diện CHÚA, Sa-tăng cũng có mặt.
JOB 2:2 CHÚA hỏi Sa-tăng, “Ngươi ở đâu đến?” Sa-tăng thưa, “Tôi đi lang thang đây đó trên mặt đất, dạo chỗ nầy chỗ kia.”
JOB 2:3 Rồi CHÚA hỏi Sa-tăng, “Ngươi có thấy Gióp tôi tớ của ta không? Trên thế gian không có ai như nó. Người thanh liêm chân thật, kính sợ Thượng Đế và tránh xa điều ác. Dù ngươi xúi ta làm hại người vô cớ, nhưng người vẫn toàn thiện.”
JOB 2:4 Sa-tăng đáp, “Lấy da đền da! Ai có của thì đổi lấy mạng mình.
JOB 2:5 Nhưng Ngài thử giơ tay ra đụng đến xương thịt người xem, người sẽ nguyền rủa Ngài tận mặt.”
JOB 2:6 CHÚA bảo Sa-tăng, “Được rồi. Gióp ở trong tay ngươi nhưng ngươi không được đụng đến mạng sống người.”
JOB 2:7 Sa-tăng liền lui ra khỏi mặt CHÚA. Nó tạo ra những vết lở lói đau nhức trên thân thể Gióp, từ đỉnh đầu cho đến gót chân.
JOB 2:8 Gióp dùng một miếng sành để gãi. Ông ngồi trong tro khốn khổ lắm.
JOB 2:9 Vợ Gióp hỏi, “Sao mà ông ráng toàn thiện chi vậy? Hãy nguyền rủa Thượng Đế xong chết phứt cho rồi!”
JOB 2:10 Gióp đáp, “Bà nói giống người ngu. Chẳng lẽ điều gì tốt Thượng Đế cho thì lấy còn điều xấu thì không?” Dù gặp cảnh như vậy, Gióp cũng không phạm tội trong lời nói.
JOB 2:11 Gióp có ba người bạn: Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-ha và Xô-pha người Na-a-mát. Khi họ nghe Gióp gặp tai ương liền đồng ý gặp nhau đến thăm ông. Họ muốn tỏ niềm lo âu và an ủi Gióp.
JOB 2:12 Họ nhìn thấy Gióp từ xa nhưng suýt không nhận ra vì ông trông khác hẳn trước. Họ lớn tiếng khóc, xé quần áo và phủ bụi lên đầu tỏ dấu đau xót.
JOB 2:13 Rồi họ ngồi dưới đất cùng với Gióp bảy ngày bảy đêm. Không ai nói tiếng nào với ông vì thấy tình cảnh của Gióp thật vô cùng bi đát.
JOB 3:1 Sau bảy ngày Gióp lên tiếng và nguyền rủa ngày sinh của mình.
JOB 3:2 Ông nói:
JOB 3:3 “Ngày tôi sinh ra hãy lụi tàn đi, và cả cái đêm được báo tin, ‘Một bé trai đã ra đời!’ cũng không nên có.
JOB 3:4 Nguyện cho ngày ấy hóa ra tăm tối. Đừng để CHÚA lưu ý đến nó. Đừng để ánh sáng chiếu trên nó.
JOB 3:5 Nguyền cho bóng tối bao trùm ngày đó. Mong cho mây mù phủ kín nó. Nguyền bóng tối mịt mù che ánh sáng nó.
JOB 3:6 Nguyền bóng tối dày đặc chụp lấy nó. Đừng tính nó vào trong các ngày của năm hay đặt nó vào ngày nào trong tháng.
JOB 3:7 Mong cho đêm đó hoang vắng, không nghe tiếng reo vui nào.
JOB 3:8 Nguyền cho ai hay nguyền rủa hãy nguyền rủa ngày ấy đi. Mong cho họ đánh thức quái vật Lê-vi-a-than trong biển cả. Vậy họ hãy nguyền rủa ngày tôi sinh ra đi.
JOB 3:9 Nguyền cho sao mai không bao giờ mọc lên cho ngày đó; Nguyền cho nó mong đợi ánh sáng ban ngày không bao giờ đến. Tôi mong nó đừng thấy ánh mặt trời lần đầu tiên,
JOB 3:10 vì ánh sáng đó khiến tôi ra chào đời, nó không che giấu khốn khổ khỏi mắt tôi.
JOB 3:11 Sao tôi không tắt hơi khi vừa mới sinh? Sao tôi không chết đi khi vừa lọt lòng mẹ?
JOB 3:12 Tại sao đầu gối mẹ tôi đỡ lấy tôi, và vú mẹ tôi cho tôi bú?
JOB 3:13 Nếu không có những điều đó, thì bây giờ tôi đã an giấc ngàn thu; tôi đã an nghỉ
JOB 3:14 cùng với các vua và những người khôn ngoan trên đất là những kẻ đã xây lâu đài cho mình mà nay bị đổ nát.
JOB 3:15 Tôi hẳn đã an giấc với các quan quyền là những kẻ chất vàng bạc đầy nhà mình.
JOB 3:16 Sao tôi không được chôn như đứa bé sanh non, như hài nhi không hề thấy ánh sáng ban ngày?
JOB 3:17 Vì trong mồ mả, kẻ ác không còn gây rối, và những kẻ làm công nhọc nhằn được an nghỉ.
JOB 3:18 Trong mồ mả, kẻ tù đày được thảnh thơi, không còn nghe tiếng quát tháo của chủ nô lệ nữa.
JOB 3:19 Người sang kẻ hèn đều nằm trong mồ, và kẻ nô lệ được giải thoát khỏi tay chủ mình.
JOB 3:20 Tại sao ban ánh sáng cho kẻ khốn khổ làm gì? Ban sự sống cho kẻ bất hạnh để làm chi?
JOB 3:21 Họ muốn chết cho rồi, nhưng cái chết không đến. Họ tìm cái chết còn hơn tìm bảo vật giấu kín.
JOB 3:22 Họ vô cùng hân hoan khi được đặt vào huyệt mả.
JOB 3:23 Họ không biết mình đi về đâu, vì Thượng Đế giấu kín tương lai của họ.
JOB 3:24 Khi tôi ăn, tôi chỉ than vãn vì buồn bã; lời rên siết tôi tuôn ra như nước.
JOB 3:25 Tôi lo những gì gớm ghê xảy đến cho tôi, Thì quả chúng đều đã xảy đến thật.
JOB 3:26 Tôi không an tâm hay bình thản. Tôi quá bực dọc, không thể nghỉ ngơi được!”
JOB 4:1 Sau đó Ê-li-pha ngươi Thê-man lên tiếng:
JOB 4:2 “Nếu có ai tìm cách đối đáp với anh, anh có tức giận không? Tôi không thể nào làm thinh.
JOB 4:3 Hãy nhớ lại bao nhiêu người mà anh đã khuyên dạy và kẻ thất vọng mà chính anh đã nâng đỡ.
JOB 4:4 Lời khuyên của anh an ủi ngã lòng, và anh đã khuyến khích những kẻ sắp té ngã.
JOB 4:5 Nhưng nay khi gặp khốn khó anh chán nản; hoạn nạn đến với anh, thì anh hoảng hốt.
JOB 4:6 Chính ra anh phải tự tin vì anh kính sợ Thượng Đế; anh phải nuôi hi vọng vì anh vô tội.
JOB 4:7 Nên nhớ rằng người vô tội sẽ không chết; kẻ lương thiện sẽ không bao giờ bị tiêu diệt.
JOB 4:8 Tôi nhận thấy rằng kẻ cày điều ác, và gieo lộn xộn sẽ gặt lấy chúng.
JOB 4:9 Hơi thở của Thượng Đế sẽ tiêu diệt họ, luồng thịnh nộ của Ngài sẽ giết chết họ.
JOB 4:10 Sư tử có thể tha hồ gầm thét, nhưng nếu răng của sư tử cường bạo bị gãy,
JOB 4:11 thì nó cũng sẽ chết đói thôi. Các con của sư tử mẹ bị tản lạc.
JOB 4:12 Có tiếng nói với tôi trong nơi kín, lỗ tai tôi nghe tiếng thì thầm.
JOB 4:13 Như cơn ác mộng khiến tôi không ngủ được.
JOB 4:14 Tôi run sợ như cầy sấy; xương cốt tôi run lập cập.
JOB 4:15 Có một thần lượn qua trước mặt tôi, khiến tôi rởn tóc gáy.
JOB 4:16 Thần đó dừng lại, nhưng tôi không biết đó là thần gì. Một hình thù đứng trước mắt tôi, và tôi nghe tiếng nói rất khẽ. Tiếng đó nói rằng,
JOB 4:17 ‘Loài người có công chính hơn Thượng Đế không? Con người có thể nào tinh sạch trước mặt Đấng tạo ra mình không?
JOB 4:18 Thượng Đế không tin các thiên sứ Ngài; Ngài thường trách họ về những lầm lỗi.
JOB 4:19 Nên Ngài trách loài người nhiều hơn vì là loài vốn xuất thân từ bụi đất, nhà cửa nó bằng đất sét, là loài dễ bị dập nát như con thiêu thân.
JOB 4:20 Giữa bình minh và hoàng hôn, nhiều người bị tan nát; họ chết, biến mất vĩnh viễn không ai hay biết.
JOB 4:21 Các dây cột lều của họ bị giật đứt, rồi họ chết không hiểu biết gì.’”
JOB 5:1 “Gióp ơi, anh muốn kêu thì kêu, nhưng không ai trả lời đâu. Anh không thể quay đến các đấng thánh.
JOB 5:2 Cơn giận dữ giết kẻ dại, và lòng ganh tị diệt người ngu xuẩn.
JOB 5:3 Tôi đã từng thấy kẻ dại tưởng mình an toàn, nhưng bỗng nhiên chúng lìa đời.
JOB 5:4 Con cái chúng không sống yên lành bị toà án trừng phạt không phương bênh vực.
JOB 5:5 Người đói khổ ăn lấy hoa lợi chúng, thậm chí lấy hết những gì mọc trong gai gốc, và người khát nước chiếm đoạt của cải nó.
JOB 5:6 Thời kỳ khó khăn không thể mọc lên từ đất, và chuyện lôi thôi không thể do đất sinh ra.
JOB 5:7 Con người sinh ra để gặp khốn khó, như tia lửa bắn lên không.
JOB 5:8 Nếu tôi là anh, tôi sẽ đến gặp Thượng Đế và trình nỗi khó khăn tôi trước mặt Ngài.
JOB 5:9 Thượng Đế làm nhiều điều kỳ diệu không thể hiểu nổi; Ngài làm vô số phép lạ không thể đếm được.
JOB 5:10 Ngài ban mưa xuống đất, và tưới nước cho ruộng.
JOB 5:11 Ngài nâng đỡ người thấp hèn, khiến kẻ buồn bã trở nên vui mừng.
JOB 5:12 Ngài phá hỏng mưu đồ của kẻ lường gạt, để chúng không thực hiện được.
JOB 5:13 Ngài bắt kẻ khôn trong mưu chước nó, phá sập kế hoạch của kẻ phỉnh gạt người khác.
JOB 5:14 Giữa ban ngày bóng tối chụp lấy chúng; ngay giữa trưa mà chúng sờ soạng như trong bóng tối.
JOB 5:15 Thượng Đế giải cứu người nghèo khổ khỏi mưu dối gạt của chúng, và khỏi bị thiệt hại bởi kẻ cường bạo.
JOB 5:16 Cho nên người nghèo khổ có niềm hi vọng, còn kẻ bất công bị câm miệng.
JOB 5:17 Phúc cho ai được Thượng Đế sửa dạy, cho nên đừng giận Đấng Toàn Năng khi Ngài răn bảo.
JOB 5:18 Thượng Đế làm cho bị thương rồi băng bó lại; Ngài gây thương tích nhưng cũng chính Ngài chữa lành.
JOB 5:19 Trong sáu tai nạn Ngài giải cứu hết; dù bảy cảnh khốn đốn cũng không làm hại anh.
JOB 5:20 Thượng Đế sẽ chuộc anh lại từ cõi chết trong thời kỳ đói kém, còn trong chiến trận Ngài sẽ gìn giữ anh khỏi lưỡi gươm.
JOB 5:21 Anh sẽ được bảo vệ khỏi lưỡi sắc bén và anh cũng chẳng nao núng khi xảy ra tai biến.
JOB 5:22 Còn khi hoạn nạn và đói kém đến thì anh sẽ cười khẩy chúng, anh cũng chẳng sợ dã thú,
JOB 5:23 vì anh đã kết ước với đá trong đồng, và các loài dã thú sẽ sống hoà bình cùng anh.
JOB 5:24 Anh biết rằng lều anh vững chắc, vì anh sẽ kiểm điểm tài sản mình và thấy không thiếu mất gì hết.
JOB 5:25 Anh biết mình sẽ có đông con, và dòng dõi anh sẽ nhiều như cỏ trên đất.
JOB 5:26 Đến khi xuống mồ thì anh vẫn còn sung sức, như các bó lúa gặt đúng thì.
JOB 5:27 Chúng tôi đã xem xét những điều đó, và thấy quả đúng như thế, cho nên hãy nghe và hiểu ý nghĩa chúng.”
JOB 6:1 Sau đó Gióp trả lời:
JOB 6:2 “Ước gì nỗi đau khổ của tôi được cân, và cảnh bất hạnh của tôi để trên bàn cân.
JOB 6:3 Nỗi sầu não của tôi nặng hơn cát biển. Vì thế mà tôi ăn nói sơ xuất.
JOB 6:4 Các mũi tên của Đấng Toàn Năng bắn vào tôi; tinh thần tôi nhiễm nọc độc của tên. Sự kinh hoàng của CHÚA bao quanh tôi.
JOB 6:5 Con lừa hoang không kêu khi nó đủ cỏ để ăn, còn con bò mộng làm thinh khi có lương thực.
JOB 6:6 Thức ăn lạt lẽo phải có muối mới dùng được, còn tròng trắng trứng gà chẳng có mùi vị gì.
JOB 6:7 Tôi không thèm đụng tới các thức ăn đó, vì chúng khiến tôi đau yếu.
JOB 6:8 Ước gì tôi nhận được điều tôi khẩn cầu và Thượng Đế ban cho tôi điều tôi mong mỏi.
JOB 6:9 Ước gì Thượng Đế chà đạp tôi, Ngài hãy giết tôi đi.
JOB 6:10 Thì tôi sẽ được an ủi bởi điều nầy thôi: Dù đang bị đau khổ, tôi luôn luôn vâng lời Đấng Thánh.
JOB 6:11 Tôi không có sức chờ đợi. Chẳng có gì mà hi vọng, vậy kiên nhẫn mà làm chi?
JOB 6:12 Sức tôi đâu phải sức đá, thịt tôi cũng chẳng phải đồng.
JOB 6:13 Tôi không có khả năng tự giúp, vì sự thành công đã bị cướp khỏi tôi rồi.
JOB 6:14 Người ta hay nói, ‘Bạn mình phải tỏ ra tốt với mình khi mình lâm cảnh khốn khó, dù rằng mình không còn kính sợ Đấng Toàn Năng nữa.’
JOB 6:15 Nhưng tôi không thể trông cậy vào anh em tôi. Họ như suối lúc chảy lúc ngưng, như dòng suối có khi chảy ào như nước lũ.
JOB 6:16 Các dòng suối đó hóa đục vì băng giá tan và dâng lên khi tuyết chảy ra.
JOB 6:17 Nhưng mùa khô thì chúng ngưng chảy; khi trời nóng lên thì chúng biến mất.
JOB 6:18 Khách lữ hành rời khỏi lối đi, lạc vào sa mạc rồi bỏ xác nơi đó.
JOB 6:19 Nhiều đoàn lữ khách từ Tha-ma đi tìm nước, và các con buôn Sê-ba nuôi hi vọng.
JOB 6:20 Họ bực dọc vì quá yên trí; khi đến nơi họ đâm ra thất vọng.
JOB 6:21 Các bạn cũng vô dụng như thế. Các bạn thấy điều ghê gớm thì đâm ra sợ hãi.
JOB 6:22 Tôi chưa bao giờ nói, ‘Cho tôi xin một món quà. Hãy dùng của cải các bạn trả nợ giùm tôi.
JOB 6:23 Xin hãy cứu tôi khỏi quyền lực kẻ thù. Xin hãy chuộc tôi ra khỏi nanh vuốt bọn hung bạo.’
JOB 6:24 Hãy dạy tôi thì tôi sẽ im lặng. Hãy cho tôi thấy tôi quấy chỗ nào.
JOB 6:25 Lời thẳng thắn thường đau buốt, nhưng luận điệu các bạn chẳng chứng minh được gì.
JOB 6:26 Các bạn muốn chỉnh điều tôi nói chăng? Chẳng lẽ các bạn xem lời nói của người gặp khốn khó như gió thoảng qua hay sao?
JOB 6:27 Các bạn dám đánh cá với kẻ mồ côi, và đánh đổi cả bạn hữu mình.
JOB 6:28 Nhưng bây giờ hãy nhìn tôi đây. Tôi không nói dối với các bạn.
JOB 6:29 Hãy đổi ý; đừng bất công nữa; hãy suy nghĩ lại đi, vì có kẻ thắc mắc niềm vô tội của tôi.
JOB 6:30 Tôi không nói dối; Tôi biết phân biệt phải trái.”
JOB 7:1 “Con người sống trên đất phải gánh công việc nhọc nhằn, ngày của họ như ngày của kẻ cần lao.
JOB 7:2 Họ như kẻ nô lệ ao ước bóng hoàng hôn, như lao công trông chờ lương bổng.
JOB 7:3 Nhưng những tháng ngày của tôi trống rỗng vô vị, và những đêm tối của tôi đầy khốn khổ.
JOB 7:4 Khi nằm xuống, tôi tự hỏi, ‘Chừng nào tôi sẽ thức dậy?’ Đêm dài, tôi nằm thao thức đến sáng.
JOB 7:5 Thân thể tôi đầy dòi bọ và ghẻ chốc, da tôi bị nứt nẻ đầy vết lở.
JOB 7:6 Những ngày tháng của tôi trôi qua mau hơn khung dệt cửi, đến cuối cùng không có hi vọng gì.
JOB 7:7 Lạy Thượng Đế, xin nhớ rằng đời sống tôi chẳng khác nào hơi thở. Mắt tôi sẽ không bao giờ còn thấy thời kỳ vui vẻ nữa.
JOB 7:8 Những ai đã từng thấy tôi sẽ chẳng bao giờ thấy tôi nữa; Ngài sẽ tìm tôi nhưng tôi không còn nữa.
JOB 7:9 Như mây tan biến không còn thấy, con người xuống mồ mả không bao giờ trở lại.
JOB 7:10 Họ không bao giờ trở về nhà mình nữa, và chỗ ở của họ cũng không nhận ra họ nữa.
JOB 7:11 Vì thế tôi sẽ không im lặng; Tôi sẽ nói lên trong cái khổ đau của tinh thần tôi. Tôi sẽ kêu rêu vì thiếu hạnh phúc.
JOB 7:12 Tôi chẳng phải thần hà bá cũng chẳng phải là quái vật của biển. Sao CHÚA canh giữ tôi bốn bên?
JOB 7:13 Đôi khi tôi tưởng giường tôi sẽ an ủi tôi hay cái chõng của tôi sẽ khiến tôi thôi than thở.
JOB 7:14 Thì Ngài lấy mộng mị làm tôi kinh hãi, và khiến tôi hoảng sợ vì dị tượng.
JOB 7:15 Chẳng thà tôi bị ngột thở; còn hơn sống như thế nầy.
JOB 7:16 Tôi ghét sự sống tôi; tôi chẳng muốn sống đời đời. Xin để tôi yên, vì đời tôi chẳng có ý nghĩa gì.
JOB 7:17 Tại sao Ngài làm cho con người quan trọng và chú ý đến họ làm gì?
JOB 7:18 Mỗi sáng Ngài dò xét họ, và lúc nào cũng thử nghiệm họ.
JOB 7:19 Xin CHÚA làm ơn nhìn chỗ khác, hay để tôi có thể nuốt nước miếng được không?
JOB 7:20 Nếu tôi có phạm tội, thì tôi đã làm gì Ngài, hỡi Đấng trông chừng loài người? Sao Ngài dùng tôi làm đối tượng của Ngài? Phải chăng tôi đã trở thành gánh nặng cho Ngài?
JOB 7:21 Sao Ngài không tha thứ những sai lầm tôi và xoá bỏ tội lỗi tôi? Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ nằm xuống chung với bụi đất. Lúc đó Ngài sẽ tìm tôi, nhưng tôi không còn nữa.”
JOB 8:1 Bấy giờ Binh-đát người Su-ha lên tiếng:
JOB 8:2 “Anh sẽ lải nhải cho đến bao giờ? Lời nói anh chẳng khác nào gió thổi.
JOB 8:3 Thượng Đế không vặn vẹo công lý; Đấng Toàn Năng không bẻ cong điều chính trực.
JOB 8:4 Con cái anh đã phạm tội cùng Thượng Đế, Nên Ngài trừng phạt tội lỗi chúng.
JOB 8:5 Nhưng anh hãy xin Ngài giúp đỡ và cầu xin lòng từ ái của Đấng Toàn Năng.
JOB 8:6 Nếu anh đạo đức và thanh liêm, Ngài sẽ bênh vực anh phục hồi địa vị cho anh.
JOB 8:7 Khởi điểm của anh sẽ không đáng kể, so với tương lai rạng rỡ của anh.
JOB 8:8 Hãy hỏi các cụ già; tìm hiểu xem tổ tiên họ học được gì,
JOB 8:9 vì chúng ta mới sinh ra hôm qua chưa hiểu biết gì. Đời chúng ta trên đất như vó câu qua cửa sổ.
JOB 8:10 Họ sẽ chỉ dạy cho anh, và nói ra những điều họ biết.
JOB 8:11 Cây lác không thể mọc nơi không có đầm lầy, cây sậy không thể lớn lên ở nơi không có nước.
JOB 8:12 Trong khi chúng đang lớn lên chưa bị cắt, chúng sẽ khô héo nhanh hơn cỏ.
JOB 8:13 Kẻ quên Thượng Đế cũng đồng chung số phận; hi vọng của kẻ ác sẽ không còn.
JOB 8:14 Chúng đặt hi vọng vào chỗ yếu ớt; niềm tin cậy của chúng chẳng khác màng nhện.
JOB 8:15 Khi chúng tựa vào màng nhện thì nó đứt. Chúng nắm lấy nhưng màng ấy không giữ chúng được.
JOB 8:16 Chúng như cây nhuần nước trong ánh mặt trời, tỏa rễ ra khắp vườn.
JOB 8:17 Rễ chúng bao quanh một đống đá, và tìm chỗ giữa các viên đá.
JOB 8:18 Nhưng khi bị bứng đi khỏi chỗ nó, thì nơi đó không còn nhìn nó nữa và bảo, ‘Ta chẳng từng thấy mầy.’
JOB 8:19 Niềm vui đã tan biến; ngay chỗ đất ấy các cây khác đã mọc lên.
JOB 8:20 Chắc hẳn Thượng Đế không bao giờ từ bỏ người vô tội hay thêm sức cho kẻ làm ác.
JOB 8:21 Thượng Đế sẽ khiến miệng anh đầy tiếng cười và môi anh sẽ reo lên vui vẻ.
JOB 8:22 Các kẻ thù anh sẽ mang đầy nhơ nhuốc, và lều trại của kẻ gian ác sẽ biến mất.”
JOB 9:1 Bấy giờ Gióp trả lời:
JOB 9:2 “Phải, tôi biết điều đó đúng, nhưng làm sao cho con người được vô tội trước mặt Thượng Đế?
JOB 9:3 Ai muốn cãi lý với Ngài cũng được nhưng không ai đối đáp được với Ngài, ngàn lần Ngài vẫn thắng.
JOB 9:4 Sự khôn ngoan của Ngài thật sâu sắc, quyền năng Ngài bao la; không ai chiến đấu với Ngài mà không bị tổn thương.
JOB 9:5 Ngài dời núi đi không ai hay biết, lật nhào chúng trong cơn giận Ngài.
JOB 9:6 Ngài lay chuyển đất ra khỏi chỗ nó, và khiến nền nó rúng động.
JOB 9:7 Ngài truyền cho mặt trời ngưng chiếu sáng, và tắt các ánh sao.
JOB 9:8 Chỉ một mình Ngài trải các bầu trời ra, và bước đi trên các lượn sóng biển.
JOB 9:9 Chính Ngài đã làm ra các sao Bắc đẩu, sao Cày, sao Rua, và chòm sao Nam Tào. Ngài khiến các hành tinh băng qua nam bán cầu.
JOB 9:10 Ngài làm nhiều điều diệu kỳ không thể hiểu nổi; và vô số các phép lạ không thể đếm được.
JOB 9:11 Khi Ngài vượt qua, tôi không thấy Ngài; Khi Ngài đi ngang qua, tôi không nhận biết Ngài.
JOB 9:12 Khi Ngài giật lấy, không ai cản Ngài được hay hỏi Ngài, ‘Chúa làm gì vậy?’
JOB 9:13 Ngài không kìm hãm cơn thịnh nộ. Thậm chí các bề tôi của quái vật Ra-háp cũng nằm sóng sượt vì khiếp sợ dưới chân Ngài.
JOB 9:14 Cho nên làm sao tôi biện luận được với Thượng Đế, hay tìm lời lẽ tranh luận với Ngài?
JOB 9:15 Dù cho có lý đi nữa, tôi cũng không thể trả lời Ngài; Tôi chỉ có thể kêu xin lòng nhân ái của Thượng Đế, Quan Án tôi.
JOB 9:16 Nếu tôi kêu Ngài và Ngài trả lời, tôi vẫn không tin Ngài chịu nghe tôi.
JOB 9:17 Ngài sẽ lấy cơn bão tố đè bẹp tôi và thêm cho tôi nhiều thương tích vô cớ.
JOB 9:18 Ngài không cho tôi lấy hơi, nhưng bao trùm tôi bằng khốn khổ.
JOB 9:19 Sức mạnh Ngài lớn hơn tôi; không ai có thể cáo Ngài về sự công chính.
JOB 9:20 Dù cho tôi có lý đi nữa, miệng tôi sẽ bảo tôi sai lầm; Dù cho tôi vô tội, miệng tôi sẽ nói tôi có tội.
JOB 9:21 Tôi vô tội nhưng tôi đâu dám nhận. Tôi chán đời sống tôi.
JOB 9:22 Vì thế mà tôi nói, ‘Đằng nào cũng thế thôi. Thượng Đế tiêu diệt người vô tội lẫn kẻ có tội.’
JOB 9:23 Khi tai ương mang đến chết chóc bất ngờ, Thượng Đế sẽ cười trên đau khổ của người vô tội.
JOB 9:24 Khi xứ rơi vào tay kẻ gian ác, thì Ngài bịt mắt các quan án, không cho họ thấy. Nếu Thượng Đế không làm điều đó thì ai làm?
JOB 9:25 Những ngày tháng tôi qua mau hơn lực sĩ chạy đua; bay đi không thấy có niềm vui nào.
JOB 9:26 Chúng lướt mau như thuyền lác. Chúng bổ nhào như chim ưng vồ mồi.
JOB 9:27 Dù cho tôi nói, ‘Tôi sẽ không than van nữa; tôi sẽ đổi sắc mặt và tươi cười,’
JOB 9:28 Tôi vẫn gớm ghê mọi đau khổ tôi. Tôi biết Ngài cho rằng tôi có tội.
JOB 9:29 Vì tôi đã bị xem như có tội rồi, cho nên cố gắng mà làm chi?
JOB 9:30 Dù tay tôi rửa bằng xà bông, thân tôi tắm thật sạch sẽ,
JOB 9:31 Ngài sẽ vẫn đẩy tôi xuống hố nhơ nhớp, thậm chí đến áo quần tôi cũng gớm ghê tôi.
JOB 9:32 Thượng Đế không phải là con người như tôi nên tôi không thể tranh luận với Ngài. Tôi không thể đưa Ngài ra tòa.
JOB 9:33 Ước gì có ai giảng hoà giữa chúng tôi, phân xử trường hợp chúng tôi.
JOB 9:34 Người đó có thể cất đi hình phạt của Thượng Đế để sự kinh hoàng của Ngài không làm tôi khiếp sợ nữa.
JOB 9:35 Lúc đó tôi sẽ nói lên mà không sợ sệt, nhưng hiện nay tôi không làm như thế được.”
JOB 10:1 “Tôi chán sống, cho nên tôi phải kêu ca không ngần ngại; Tôi phải nói vì tôi bực dọc.
JOB 10:2 Tôi sẽ thưa cùng Thượng Đế: Xin đừng bắt lỗi tôi xin cho tôi biết tại sao Ngài nghịch tôi.
JOB 10:3 Ngài có vui sướng khi làm khổ tôi không? Ngài không lo cho tôi vốn là công trình của tay Ngài sao? Ngài có vui về âm mưu kẻ ác chăng?
JOB 10:4 Ngài có mắt và thấy như loài người không?
JOB 10:5 Ngày của CHÚA có ngắn ngủi như ngày của con người, và năm của Ngài ngắn như năm của con người không?
JOB 10:6 CHÚA tìm điều ác tôi đã làm, và lùng kiếm tội lỗi tôi.
JOB 10:7 Ngài biết tôi không có lỗi gì, nhưng không ai cứu tôi thoát khỏi quyền lực của Ngài.
JOB 10:8 Tay CHÚA nắn và dựng nên tôi. Chẳng lẽ CHÚA quay trở lại và diệt tôi sao?
JOB 10:9 Xin nhớ rằng Ngài nắn tôi như đất sét. Bây giờ không lẽ Ngài khiến tôi trở về bụi đất lại?
JOB 10:10 Ngài tạo tôi trong bụng mẹ tôi, như phó mát ra từ sữa.
JOB 10:11 Ngài mặc da thịt cho tôi; khâu tôi lại cùng với xương và bắp thịt.
JOB 10:12 Ngài ban cho tôi sự sống và tỏ ra lòng nhân từ Ngài, và chăm sóc, trông nom đời tôi.
JOB 10:13 Nhưng trong lòng Ngài có các chương trình khác. Tôi biết nó nằm trong trí Ngài.
JOB 10:14 Nếu tôi phạm tội, Ngài sẽ trông chừng tôi và không bao giờ tha thứ cho tôi.
JOB 10:15 Nếu tôi có tội thì số phận tôi sẽ vô cùng kinh khủng! Dù cho tôi có lý đi nữa, tôi cũng không dám ngước đầu lên. Tôi đầy tủi nhục và chỉ nếm biết đau khổ.
JOB 10:16 Nếu tôi ngước đầu lên, Ngài sẽ săn tôi như sư tử và dùng quyền năng kinh khiếp đè trên tôi.
JOB 10:17 Ngài đưa các nhân chứng mới ra nghịch tôi, và gia tăng cơn giận Ngài cùng tôi. Đạo quân CHÚA tung ra nghịch tôi.
JOB 10:18 Vậy tại sao Ngài để tôi ra đời làm gì? Ước gì tôi đã chết trước khi có người nào thấy tôi.
JOB 10:19 Ước gì tôi không bao giờ sống, nhưng được đưa ngay xuống mồ khi vừa mới chào đời.
JOB 10:20 Chuỗi ngày ngắn ngủi của tôi gần kết thúc. Xin cho tôi yên để tôi có thể hưởng được một giây phút an vui.
JOB 10:21 Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ lìa đời; không bao giờ trở lại từ vùng đen tối ảm đạm,
JOB 10:22 từ đất của đêm tăm tối nhất, từ xứ bi thảm và hỗn loạn, nơi mà ánh sáng chỉ là bóng tối thôi.”
JOB 11:1 Bấy giờ Xô-pha, người Na-a-mát lên tiếng:
JOB 11:2 “Những lời anh nói chẳng lẽ không ai đối đáp sao? Người lắm điều nầy có lý chăng?
JOB 11:3 Lời nói dối của anh khiến người ta không im lặng nổi; họ phải chỉnh anh khi anh chế giễu Thượng Đế.
JOB 11:4 Anh nói, ‘Lời giáo huấn của tôi là đúng, tôi tinh sạch trước mặt Thượng Đế.’
JOB 11:5 Tôi ước gì Thượng Đế lên tiếng, và mở miệng nghịch anh;
JOB 11:6 cho anh biết những bí mật của sự khôn ngoan, vì khôn ngoan có hai mặt. Hãy biết rõ điều nầy: Thượng Đế đã bỏ qua một số tội lỗi của anh.
JOB 11:7 Anh có biết bí mật của Thượng Đế không? Anh có thể nào tìm được giới hạn của Đấng Toàn Năng không?
JOB 11:8 Giới hạn của Ngài cao hơn trời; anh với không tới! Sâu hơn mồ mả; anh không thể hiểu nổi!
JOB 11:9 Giới hạn Ngài dài hơn trái đất, và rộng hơn đại dương.
JOB 11:10 Nếu Thượng Đế đến bắt nhốt anh vào tù, hay gọi anh ra trước tòa, thì không ai có thể cản Ngài được.
JOB 11:11 Thượng Đế biết ai gian ác, và khi Ngài thấy điều ác, thì Ngài để ý.
JOB 11:12 Kẻ ngu không thể tự nhiên hóa khôn, cũng như lừa hoang không thể tự thuần hóa.
JOB 11:13 Anh phải dâng hết tấm lòng cho Ngài, và giơ tay ra xin Ngài giúp đỡ.
JOB 11:14 Hãy gỡ tội lỗi ra khỏi tay anh đi; đừng để điều ác nào còn lảng vảng trong lều anh.
JOB 11:15 Bấy giờ anh có thể ngước mặt lên mà không xấu hổ, và anh có thể đứng hiên ngang mà không sợ hãi.
JOB 11:16 Anh sẽ quên nỗi khốn khổ của mình, và chỉ còn nhớ nó như nước chảy qua cầu.
JOB 11:17 Đời anh sẽ sáng rỡ như ánh mặt trời giữa trưa, và bóng tối sẽ như sớm mai.
JOB 11:18 Anh sẽ cảm thấy an toàn vì có hi vọng; anh sẽ nhìn quanh và bình yên an nghỉ.
JOB 11:19 Anh sẽ nằm xuống không sợ hãi ai. Nhiều người sẽ cầu ơn của anh.
JOB 11:20 Nhưng kẻ ác không thể thấy, cho nên chúng không thoát được. Niềm hi vọng duy nhất của chúng là cái chết.”
JOB 12:1 Bấy giờ Gióp trả lời:
JOB 12:2 “Chắc anh cho rằng chỉ có một mình anh khôn ngoan, nhưng khi anh chết, cái khôn của anh cũng chết theo với anh!
JOB 12:3 Trí tôi cũng không thua kém trí anh; anh chẳng có gì hơn tôi đâu. Anh nói những điều mà ai cũng biết.
JOB 12:4 Các bạn hữu tôi chê cười tôi. Khi tôi kêu xin CHÚA mong Ngài trả lời; họ chế diễu tôi mặc dù tôi có lý và vô tội!
JOB 12:5 Những kẻ sống sung sướng không thèm biết đến những khốn khổ của người khác; họ cho rằng những kẻ đó gặp khốn khổ là phải.
JOB 12:6 Lều của bọn trộm cướp không hề bị quấy phá, còn kẻ chọc tức Thượng Đế được yên thân. Chúng nó dường như có thần phù hộ trong túi.
JOB 12:7 Hãy hỏi thú vật, chúng sẽ dạy anh, hay hỏi chim trời, chúng sẽ cho anh biết.
JOB 12:8 Hãy nói với đất, nó sẽ chỉ bảo anh, hay để loài cá dưới biển chỉ dạy anh.
JOB 12:9 Ai cũng biết rằng, tay của CHÚA đã tạo ra chúng.
JOB 12:10 Sự sống của mỗi sinh vật, và hơi thở của mọi người đều nằm trong tay Thượng Đế.
JOB 12:11 Lỗ tai thử lời nói, còn lưỡi để nếm thức ăn.
JOB 12:12 Người lớn tuổi có khôn ngoan, sống lâu được thông hiểu.
JOB 12:13 Nhưng chỉ một mình Thượng Đế có được khôn ngoan, và quyền năng, mưu lược và thông hiểu.
JOB 12:14 Điều gì Ngài phá sập, không ai xây lại được; kẻ bị Ngài cầm tù không thể được giải thoát.
JOB 12:15 Nếu CHÚA giữ nước lại liền có hạn hán; khi Ngài mở nước ra liền có lụt lội trên đất.
JOB 12:16 Ngài có sức mạnh và đắc thắng, kẻ lường gạt và người bị lường gạt đều thuộc về Ngài.
JOB 12:17 Thượng Đế bắt giải kẻ khôn ngoan đi như đám tù binh, biến các quan án ra như kẻ dại.
JOB 12:18 Ngài tháo các xiềng xích mà vua chúa đã cột vào, và cho họ mặc áo quần.
JOB 12:19 Ngài dẫn các thầy tế lễ đi trần truồng, và tiêu diệt kẻ quyền thế.
JOB 12:20 Ngài khiến kẻ tín nhiệm câm miệng, và tước lấy sự khôn ngoan của các bô lão.
JOB 12:21 Ngài đổ sỉ nhục trên các kẻ quyền quí, và tước vũ khí của kẻ mạnh.
JOB 12:22 Ngài phơi bày những điều thẳm sâu của bóng tối và đưa những điều kín giấu ra ánh sáng.
JOB 12:23 Ngài làm cho các quốc gia trở nên hùng cường rồi Ngài làm chúng suy tàn; Ngài khiến các dân tộc bành trướng, rồi phân tán họ.
JOB 12:24 Ngài tước lấy sự khôn ngoan của các lãnh tụ trên đất, khiến họ lang thang qua một sa mạc hoang vu không lối đi.
JOB 12:25 Họ dò dẫm trong bóng tối, họ loạng choạng như kẻ say.”
JOB 13:1 “Mắt tôi đã thấy những điều ấy; tai tôi đã nghe hiểu tất cả.
JOB 13:2 Điều gì các anh biết tôi cũng biết. Các anh chẳng có gì hơn tôi.
JOB 13:3 Nhưng tôi muốn nói chuyện với Đấng Toàn Năng, và biện luận với Ngài về hoàn cảnh tôi.
JOB 13:4 Các anh bôi lọ tôi bằng những lời bịa đặt. Mấy anh đều là y sĩ bất tài!
JOB 13:5 Ước gì các anh làm thinh; thì các anh mới thực sự khôn ngoan!
JOB 13:6 Hãy lắng nghe lời biện luận tôi, ráng nghe lời bào chữa của môi tôi.
JOB 13:7 Các anh đừng nhân danh Thượng Đế mà bêu xấu; các anh không thể dùng lời láo khoét mà nói về chân lý của Thượng Đế.
JOB 13:8 Các anh đừng về phe Ngài mà chống tôi một cách bất công; không nên biện hộ giùm Thượng Đế.
JOB 13:9 Nếu Ngài tra xét, các anh cũng sẽ không khá đâu; các anh không thể gạt Thượng Đế như gạt người phàm được.
JOB 13:10 Chắc chắn Thượng Đế sẽ khiển trách các anh nếu các anh thiên vị, về hùa theo một bên.
JOB 13:11 Sự vinh quang sáng rực của Ngài sẽ làm các anh kinh khiếp, và Ngài sẽ làm các anh hoảng sợ.
JOB 13:12 Những châm ngôn khôn ngoan của các anh rốt cuộc vô dụng như tro bụi, lập luận các anh yếu ớt như đất sét.
JOB 13:13 Hãy im lặng nghe tôi nói. Điều gì xảy đến với tôi cũng được.
JOB 13:14 Tại sao tôi phải liều mạng, và tự nắm lấy số phận trong tay mình?
JOB 13:15 Dù Thượng Đế giết tôi, tôi cũng vẫn vững tin nơi Ngài; Tôi sẽ bênh vực mình trước mặt Ngài.
JOB 13:16 Đây là sự cứu rỗi tôi. Kẻ ác không thể đến trước mặt Ngài.
JOB 13:17 Hãy lắng nghe kỹ lời tôi; lỗ tai các anh hãy nghe điều tôi nói đây.
JOB 13:18 Nầy, tôi đã chuẩn bị lý đoán, và tôi sẽ chứng tỏ mình có lý.
JOB 13:19 Không ai có thể cáo tôi làm bậy. Nếu ai làm được, tôi sẽ im miệng và chịu chết.
JOB 13:20 Lạy Thượng Đế, xin cho tôi hai điều thôi, rồi tôi sẽ không lẩn trốn Ngài:
JOB 13:21 Xin hãy cất sự trừng phạt Ngài khỏi tôi, và đừng dùng sự kinh khiếp Ngài làm tôi hoảng sợ.
JOB 13:22 Rồi hãy kêu tôi, tôi sẽ trả lời, hay để tôi nói, còn Ngài trả lời.
JOB 13:23 Tôi đã làm bao nhiêu điều ác và phạm bao nhiêu tội? Xin hãy cho tôi thấy việc quấy hay tội lỗi tôi phạm.
JOB 13:24 Xin đừng giấu mặt Ngài khỏi tôi; và đừng xem tôi như kẻ thù Ngài.
JOB 13:25 Xin đừng trừng phạt chiếc lá bị gió thổi bay; đừng đuổi theo cọng rạ khô.
JOB 13:26 CHÚA ghi lại những điều dữ nghịch tôi, bắt tôi chịu khổ sở vì những tội lỗi tôi phạm thuở niên thiếu.
JOB 13:27 Ngài còng chân tôi vào xiềng, và theo dõi các bước đi tôi. Ngài ghi dấu nơi bàn chân tôi.
JOB 13:28 Tôi hao mòn như đồ mục thối, như áo quần bị mọt ăn.”
JOB 14:1 “Chúng ta là con người do đàn bà sinh ra, sống tạm ít ngày đầy nhọc nhằn,
JOB 14:2 Lớn lên như hoa cỏ rồi khô héo tàn lụi. Đời chúng ta chẳng khác nào bóng bay qua không trở lại.
JOB 14:3 Lạy CHÚA, Ngài có cần theo dõi tôi như thế nầy không? Ngài phải mang tôi đến trước Ngài để chịu xét xử sao?
JOB 14:4 Không ai tìm được cái sạch trong cái dơ bẩn bao giờ.
JOB 14:5 Đời sống chúng ta có hạn định. CHÚA ban cho chúng ta sống bao nhiêu thời gian đó, và đặt giới hạn mà chúng ta không thể vượt qua.
JOB 14:6 Cho nên xin hãy để mặc chúng tôi, cho đến khi chúng tôi làm hết giờ như lao công.
JOB 14:7 Nếu loài cây bị chặt xuống, nó vẫn có hi vọng mọc lên trở lại và đâm nhánh mới.
JOB 14:8 Dù cho rễ nó già cỗi trong đất, hay gốc nó chết trong bùn đất,
JOB 14:9 khi có nước nó liền mọc lên và đâm chồi mới như cây non.
JOB 14:10 Nhưng khi con người chết, thân xác vùi trong bụi đất; thở hơi cuối cùng rồi biến mất.
JOB 14:11 Nước biến mất khỏi hồ, còn sông mất nguồn nước rồi khô cạn.
JOB 14:12 Cũng vậy, chúng ta nằm xuống rồi không ngồi dậy nữa; chúng ta không dậy hay được đánh thức cho đến khi trời đất biến đi.
JOB 14:13 Ước gì Ngài giấu tôi trong huyệt mả; giấu tôi cho đến khi cơn giận Ngài qua đi. Ước gì Ngài định kỳ hạn để nhớ đến tôi!
JOB 14:14 Khi con người chết, có sống lại được không? Những ngày của đời tôi là cả một sự chiến đấu; Tôi sẽ chờ đợi cho đến khi tôi được giải thoát.
JOB 14:15 CHÚA sẽ kêu và tôi sẽ trả lời; Rồi tôi là công trình của tay Ngài, sẽ trở thành quan trọng đối với Ngài.
JOB 14:16 Rồi Ngài sẽ đếm các bước chân tôi, nhưng Ngài sẽ không theo dõi tội lỗi tôi.
JOB 14:17 Những sai lầm tôi sẽ được niêm phong, và Ngài sẽ che lấp tội lỗi tôi.
JOB 14:18 Núi bị trôi đi và sụp đổ, đá bị xô đi khỏi vị trí nó.
JOB 14:19 Nước chảy làm đá mòn, và cuồng lưu cuốn trôi bùn đất. Cũng vậy, Ngài phá tan hi vọng tôi.
JOB 14:20 Ngài đánh bại con người, nó không còn nữa; Ngài đuổi nó đi sau khi biến đổi diện mạo nó.
JOB 14:21 Con cái nó được vẻ vang, nhưng nó chẳng hay biết; con cái nó bị nhơ nhuốc, nhưng nó cũng chẳng thấy.
JOB 14:22 Nó chỉ cảm biết thân thể mình đau buốt, rồi tự thương hại mình.”
JOB 15:1 Bấy giờ Ê-li-pha người Thê-man lên tiếng:
JOB 15:2 “Nếu anh khôn ngoan, anh sẽ không dùng lời rỗng tuếch để đối đáp, hay dùng những lời khoe khoang để nói.
JOB 15:3 Không ai biện luận với những lời vô ích, hay đăng đàn diễn thuyết trống không.
JOB 15:4 Nhưng anh hủy hoại lòng tôn kính Thượng Đế, và giới hạn sự thờ phụng Ngài.
JOB 15:5 Tội lỗi anh dạy môi anh phát ngôn; anh dùng lời nói để bịp kẻ khác.
JOB 15:6 Chính miệng anh, không phải miệng tôi, chứng tỏ anh gian ác, chính môi anh làm chứng nghịch anh.
JOB 15:7 Anh đâu có phải người đầu tiên mới sinh; anh cũng chẳng già hơn núi.
JOB 15:8 Anh cũng không nghe được lời bàn bạc kín đáo của Thượng Đế. Nhưng anh tự lấy cái khôn mình làm giới hạn cho mình.
JOB 15:9 Anh chẳng biết gì hơn chúng tôi. Cũng không hiểu nhiều hơn chúng tôi.
JOB 15:10 Giữa chúng tôi cũng có kẻ tuổi cao tóc bạc; họ còn già hơn cả cha anh nữa.
JOB 15:11 Niềm an ủi Thượng Đế ban cho anh chưa đủ, thậm chí những lời êm dịu nói cùng anh cũng không đủ sao?
JOB 15:12 Phải chăng tâm hồn anh đã khiến anh xa cách Thượng Đế? Tại sao mắt anh long lên sòng sọc?
JOB 15:13 Tại sao anh bày tỏ cơn giận mình cùng Thượng Đế? Tại sao anh để những lời lẽ như thế tuôn ra từ miệng anh?
JOB 15:14 Có ai tinh sạch không? Có ai do đàn bà sinh ra mà đạo đức không?
JOB 15:15 Thượng Đế không tin các đấng thánh của Ngài, ngay đến các từng trời cũng còn chưa tinh sạch trước mắt Ngài.
JOB 15:16 Huống hồ kẻ đáng ghê tởm và thối nát, uống điều gian ác như uống nước thì làm sao tinh sạch được?
JOB 15:17 Hãy lắng tai, tôi sẽ giải thích cho anh; Tôi sẽ thuật lại điều mắt tôi đã thấy.
JOB 15:18 Đó là những điều người khôn ngoan thuật lại; cha ông họ dạy họ, không giấu diếm điều gì.
JOB 15:19 Đất được cấp cho tổ tiên họ mà thôi, không một người ngoại quốc nào được sống chung với họ.
JOB 15:20 Kẻ ác cả đời chịu khổ; kẻ hung bạo khốn khổ suốt những năm tháng dành cho chúng.
JOB 15:21 Những tiếng kêu khủng khiếp văng vẳng bên tai chúng, và khi chúng nó tưởng mọi việc tốt đẹp, thì kẻ cướp xông vào chúng.
JOB 15:22 Kẻ ác thôi không tìm cách trốn bóng tối nữa; vì số phận chúng sẽ chết vì lưỡi gươm.
JOB 15:23 Chúng lang thang đây đó rồi rốt cuộc làm mồi cho kên kên. Chúng biết bóng tối sẽ đến.
JOB 15:24 Lo âu và khốn khổ làm chúng hoảng sợ; bao trùm chúng như vua sẵn sàng tấn công,
JOB 15:25 vì chúng giơ tay lên chống lại Thượng Đế, và hành động tự ý nghịch lại Đấng Toàn Năng.
JOB 15:26 Chúng ngang nhiên dùng thuẫn dầy, và cứng để chống lại Ngài.
JOB 15:27 Dù cho mặt mày của kẻ ác béo phệ, và bụng chúng đầy mỡ,
JOB 15:28 chúng sẽ sống trong các thị trấn bị tàn phá, trong những căn nhà hoang vắng, đang sụp đổ tan tành.
JOB 15:29 Kẻ ác không thể nào giàu có được, còn của cải chúng cũng không bền lâu; tài sản chúng không còn trải dài trên đất.
JOB 15:30 Chúng sẽ không thể nào thoát khỏi bóng tối. Một ngọn lửa sẽ thiêu đốt những cành cây của chúng; Hơi thở của Thượng Đế sẽ thổi bay kẻ ác đi.
JOB 15:31 Kẻ ác không nên tự gạt bằng cách trông cậy vào những điều vô ích. Vì chúng sẽ chẳng nhận được gì.
JOB 15:32 Các cành cây của chúng sẽ khô héo trước kỳ hạn chẳng thể nào hóa xanh tươi được.
JOB 15:33 Chúng giống như dây nho bị tuốt trái non, như cây ô-liu bị mất hoa.
JOB 15:34 Kẻ không có Thượng Đế sẽ chẳng làm được gì. Lửa sẽ thiêu đốt lều của kẻ nhận hối lộ để làm điều ác,
JOB 15:35 là kẻ gây rối loạn và gieo điều ác, trong lòng chỉ mưu phỉnh người khác.”
JOB 16:1 Sau đó Gióp trả lời:
JOB 16:2 “Tôi đã từng nghe những điều đó. Các anh an ủi kiểu gì mà chỉ gây bực dọc!
JOB 16:3 Những bài diễn thuyết lê thê của các anh không dứt sao? Tại sao các anh cứ mãi biện luận?
JOB 16:4 Tôi cũng có thể nói được như các anh nếu các anh ở địa vị tôi. Tôi cũng có thể diễn thuyết hay ho chống lại các anh, và lắc đầu nhìn các anh.
JOB 16:5 Nhưng tôi muốn giục giã các anh, dùng lời nói trấn an các anh.
JOB 16:6 Dù cho tôi nói thì nỗi đau đớn của tôi chẳng vơi đi, còn nếu tôi không nói thì nỗi khổ tôi cũng không dịu đi chút nào.
JOB 16:7 Thượng Đế ôi, Ngài đã cất lấy sức lực tôi, và tiêu diệt gia đình tôi.
JOB 16:8 Ngài làm cho tôi ốm yếu gầy còm, để chứng tỏ tôi đã làm quấy.
JOB 16:9 Thượng Đế tấn công và xâu xé tôi trong cơn giận Ngài; Ngài nghiến răng nhìn tôi; kẻ thù tôi ngó tôi mà mắt long lên sòng sọc.
JOB 16:10 Người ta mở miệng chế diễu tôi, vả má sỉ nhục tôi. Chúng họp nhau lại chống nghịch tôi.
JOB 16:11 Thượng Đế đã giao tôi cho kẻ ác, và trao tôi vào tay kẻ hung bạo.
JOB 16:12 Tôi đang yên ổn, thì Ngài đập tôi ra từng mảnh; Ngài nắm cổ chà đạp tôi. Ngài biến tôi thành cái bia;
JOB 16:13 Những xạ thủ bắn tên của Ngài vây quanh tôi. Ngài đâm hông tôi không thương tiếc; Ngài đổ mật tôi ra trên đất.
JOB 16:14 Thượng Đế tấn công tôi nhiều lần; Ngài lao vào tôi như chiến sĩ.
JOB 16:15 Tôi đã khâu trên da tôi một lớp vải sô tỏ dấu buồn bực và chôn vùi mặt tôi trong bụi đất.
JOB 16:16 Mặt tôi đỏ lên vì than khóc; hai mắt tôi có quầng thâm.
JOB 16:17 Tuy nhiên tay tôi không làm điều gì hung ác, và lời cầu nguyện tôi tinh sạch.
JOB 16:18 Đất ơi, đừng che lấp máu huyết tôi. Hãy để tiếng khóc tôi được mọi người nghe đến!
JOB 16:19 Ngay giờ đây tôi có người bênh vực tôi trên thiên đàng; Đấng bào chữa tôi ngự trên cao.
JOB 16:20 Đấng nói hộ cho tôi là bạn tôi. Mắt tôi nhỏ lệ trước mặt Thượng Đế.
JOB 16:21 Ngài cầu xin Thượng Đế giùm cho một con người như kẻ biện hộ giùm bạn mình.
JOB 16:22 Chỉ còn có vài năm nữa thôi, rồi tôi sẽ làm cuộc hành trình dài, không trở về.”
JOB 17:1 Tinh thần tôi lụn bại; đời tôi hầu như tàn rồi. Mồ mả đang chờ đợi tôi.
JOB 17:2 Những kẻ cười nhạo tôi đang vây quanh tôi; Tôi nhìn họ sỉ nhục tôi.
JOB 17:3 “Lạy Thượng Đế, xin hứa cùng tôi. Vì không ai chịu cam kết hộ tôi.
JOB 17:4 Ngài đóng trí họ để không còn hiểu biết. Đừng để họ thắng tôi.
JOB 17:5 Có kẻ nhận của hối lộ để làm chứng nghịch bạn mình, nhưng làm như thế, mắt con cái nó sẽ bị mù.
JOB 17:6 Thượng Đế đã khiến tên tôi thành lời nguyền rủa; người ta phỉ nhổ vào mặt tôi.
JOB 17:7 Tôi buồn thảm đến nỗi mờ mắt, thân hình tôi dẹp như cái bóng.
JOB 17:8 Người nhân đức sẽ bất bình về điều nầy; người vô tội tức tối về kẻ nghịch lại Thượng Đế.
JOB 17:9 Nhưng ai công chính sẽ cứ mãi làm điều công chính, còn ai có tay không bị dơ bẩn vì tội lỗi sẽ càng ngày càng vững mạnh.
JOB 17:10 Nhưng các anh hãy ráng chứng tỏ tôi sai đi! Tôi chẳng thấy có ai khôn trong vòng các anh cả.
JOB 17:11 Đời tôi tàn rồi, chương trình tôi bị phá hủy, cùng với ước vọng của lòng tôi.
JOB 17:12 Các anh cho đêm là ngày; khi bóng tối đến các anh nói, ‘Ánh sáng gần ló dạng.’
JOB 17:13 Nếu mồ mả là hi vọng chỗ tôi ở, nếu tôi trải giường tôi trong bóng tối,
JOB 17:14 Nếu tôi nói với nấm mồ, ‘Ngươi là cha ta,’ và nói với dòi bọ, ‘Ngươi là mẹ ta’ hay ‘Ngươi là chị em ta,’
JOB 17:15 thì hi vọng tôi ở đâu? Ai có thể nhìn thấy hi vọng nào cho tôi?
JOB 17:16 Hi vọng có đi xuống cửa cõi chết không? Chúng ta có cùng nhau đi vào bụi đất không?”
JOB 18:1 Lúc đó Binh-đát người Su-ha lên tiếng:
JOB 18:2 “Khi nào anh mới thôi diễn thuyết? Anh hãy tế nhị thì chúng ta mới nói chuyện được.
JOB 18:3 Anh xem chúng tôi như trâu bò, cho chúng tôi là đồ ngu si.
JOB 18:4 Cơn giận của anh chỉ hại anh thôi. Chẳng lẽ trái đất chỉ để cho một mình anh tung hoành? Chẳng lẽ Thượng Đế phải dời núi đi vì anh?
JOB 18:5 Đèn của kẻ ác sẽ bị dập tắt, và ngọn đèn của chúng sẽ không còn cháy sáng.
JOB 18:6 Đèn trong lều chúng sẽ tối đen, và đèn bên cạnh chúng sẽ tắt.
JOB 18:7 Các bước đi vững chắc của chúng sẽ yếu dần; chúng sẽ rơi vào bẫy gian ác của mình.
JOB 18:8 Chân chúng sẽ mắc vào lưới, chúng rơi vào bẫy và mắc kẹt.
JOB 18:9 Một cái bẫy sẽ bắt lấy gót chúng, và giữ chặt lại.
JOB 18:10 Dưới đất có giăng sẵn một cái bẫy, ngay trên lối đi chúng.
JOB 18:11 Các chuyện khủng khiếp sẽ làm chúng hoảng sợ bốn bên, và đuổi theo chúng từng bước.
JOB 18:12 Đói kém làm chúng hao mòn sức lực, và thảm họa kề sát bên chúng.
JOB 18:13 Bệnh tật ăn mòn da chúng; cái chết gậm nhấm tay chân chúng.
JOB 18:14 Chúng bị giật ra khỏi lều trại, nơi an toàn của chúng và bị lôi đến trước Thần Chết, vua của kinh hoàng.
JOB 18:15 Lều trại chúng phát hỏa, còn diêm sinh rải rắc khắp nhà chúng.
JOB 18:16 Rễ chúng khô dưới đất, và nhánh chúng khô bên trên.
JOB 18:17 Dân cư trên đất không nhớ chúng nữa; tên tuổi chúng sẽ bị lãng quên trên đất.
JOB 18:18 Chúng sẽ bị xua đuổi từ chỗ sáng vào chỗ tối, và bị trục xuất ra khỏi thế gian.
JOB 18:19 Chúng không có con cái hay dòng dõi để lưu danh, Trong gia đình chúng không ai sống sót.
JOB 18:20 Dân cư miền tây sẽ kinh ngạc về cảnh ngộ chúng, còn dân cư miền Đông đâm ra hãi hùng.
JOB 18:21 Chắc chắn đó là số phận kẻ ác; và là chốn dành cho kẻ không nhìn biết Thượng Đế.”
JOB 19:1 Gióp liền trả lời:
JOB 19:2 “Các anh sẽ làm tổn thương tôi, và dùng lời lẽ chà đạp tôi cho đến bao giờ?
JOB 19:3 Đã mười lần các anh nhục mạ tôi, và công kích tôi không biết xấu hổ.
JOB 19:4 Nếu quả tôi có phạm tội, thì đó là chuyện của riêng tôi.
JOB 19:5 Nếu các anh muốn chứng tỏ mình tốt hơn tôi, để trách tôi vì nỗi khốn khổ tôi.
JOB 19:6 Thì nên biết rằng CHÚA đã hại tôi, và giăng lưới quanh tôi.
JOB 19:7 Tôi kêu lên, ‘Tôi đã bị ức hiếp!’ Nhưng chẳng ai trả lời. Tôi kêu cứu nhưng chẳng thấy công lý.
JOB 19:8 Thượng Đế đã chận đường để tôi không thể đi qua; Ngài lấy bóng tối che phủ lối tôi đi.
JOB 19:9 Ngài đã tước đoạt danh dự tôi, và lấy mão triều trên đầu tôi.
JOB 19:10 Ngài đánh tôi ngã tứ phía, cho đến khi tôi qua đời; Ngài tiêu diệt hi vọng tôi như cây bị đốn.
JOB 19:11 Cơn thịnh nộ Ngài cháy phừng cùng tôi, Ngài xem tôi như kẻ thù Ngài.
JOB 19:12 Đạo binh Ngài tập trung lại; chuẩn bị tấn công tôi. Chúng đóng trại vây quanh lều tôi.
JOB 19:13 Thượng Đế khiến anh em tôi trở nên thù nghịch tôi, và làm cho bạn hữu tôi như người xa lạ.
JOB 19:14 Thân nhân tôi đã bỏ đi, bạn bè tôi cũng quên tôi.
JOB 19:15 Khách khứa và tớ gái tôi xem tôi như người lạ; chúng nhìn tôi như người ngoại quốc.
JOB 19:16 Tôi gọi đầy tớ tôi nhưng nó chẳng thèm trả lời, đến nỗi tôi năn nỉ nó muốn gãy lưỡi.
JOB 19:17 Vợ tôi không chịu được hơi thở tôi, đến gia đình tôi cũng gớm ghiếc tôi.
JOB 19:18 Lũ trẻ nhỏ không thích tôi, và xầm xì về tôi khi tôi đứng lên.
JOB 19:19 Các bạn thân tôi ghét tôi; thậm chí đến các người tôi thương cũng trở mặt với tôi.
JOB 19:20 Tôi chỉ còn da bọc xương; Tôi đã suýt chết.
JOB 19:21 Các bạn ơi, hãy thương xót tôi, tội nghiệp cho tôi, vì tay Thượng Đế đã đánh tôi.
JOB 19:22 Tại sao các bạn rượt đuổi tôi giống như Thượng Đế? Các bạn làm tôi tổn thương chưa đủ sao?
JOB 19:23 Ước gì lời tôi được ghi lại, viết trên một cuộn giấy.
JOB 19:24 Ước gì tiếng nói tôi được ghi bằng bút sắt vào chì, hay khắc vào đá để đời.
JOB 19:25 Tôi biết Đấng Bảo Vệ tôi đang sống, cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.
JOB 19:26 Dù cho sau khi da tôi tan nát, ngoài xác thịt tôi sẽ thấy Thượng Đế.
JOB 19:27 Chính tôi sẽ nhìn thấy Ngài; và chính mắt tôi sẽ chiêm ngưỡng CHÚA. Lòng tôi mong mỏi điều đó mau đến!
JOB 19:28 Nếu các anh nói, ‘Chúng ta sẽ tiếp tục gây bực dọc cho Gióp, vì chính anh ta có lỗi,’
JOB 19:29 thì các anh hãy biết sợ lưỡi gươm. Cơn thịnh nộ của Thượng Đế sẽ mang trừng phạt bằng lưỡi gươm. Rồi các anh sẽ biết quả có công lý.”
JOB 20:1 Sau đó Xô-pha người Na-a-ma trả lời:
JOB 20:2 “Tư tưởng tôi bối rối khiến tôi phải lên tiếng, vì tôi rất bất bình.
JOB 20:3 Anh sỉ nhục tôi về những lời đáp của anh, nhưng tôi đủ khôn để đối đáp với anh.
JOB 20:4 Từ lâu anh vốn biết rằng, từ khi loài người được đặt trên trái đất.
JOB 20:5 Hạnh phúc của kẻ ác ngắn ngủi, và niềm vui của kẻ hung bạo chỉ kéo dài trong giây lát.
JOB 20:6 Lòng kiêu căng của chúng dù cao ngất đến tận trời, và đầu chúng đụng đến mây,
JOB 20:7 nhưng chúng sẽ biến mất đời đời, giống như phân của chúng. Những ai biết chúng sẽ bảo, ‘Chúng đâu rồi?’
JOB 20:8 Chúng sẽ bay đi như giấc mộng, không ai tìm thấy chúng nữa; chúng sẽ bị rượt đuổi như ảo ảnh ban đêm.
JOB 20:9 Ai đã từng thấy chúng sẽ không bao giờ còn thấy chúng nữa; nơi chúng ở cũng sẽ không còn nhìn thấy chúng nữa.
JOB 20:10 Con cái chúng phải trả lại cho kẻ nghèo, chúng phải từ bỏ của cải.
JOB 20:11 Chúng có sức mạnh của tuổi trẻ trong xương cốt, nhưng sức mạnh đó sẽ nằm chết với chúng trong bụi đất.
JOB 20:12 Điều ác có vị ngọt trong miệng, chúng có thể giấu dưới lưỡi mình.
JOB 20:13 Chúng không chịu nhả ra; mà cứ giữ mãi trong miệng.
JOB 20:14 Nhưng đồ ăn của chúng sẽ hóa chua trong bụng chúng, như nọc rắn trong người chúng.
JOB 20:15 Chúng đã ăn nuốt giàu sang, nhưng sẽ phải mửa ra; Thượng Đế sẽ bắt chúng nhả cái giàu sang của chúng ra.
JOB 20:16 Chúng sẽ hút nọc độc của rắn, và nanh rắn sẽ giết chúng.
JOB 20:17 Chúng sẽ không còn thấy suối lóng lánh, hay sông chảy mật và sữa.
JOB 20:18 Chúng phải trả lại những gì chúng làm ra mà không ăn được; chúng sẽ không thể thụ hưởng tiền kiếm được nhờ buôn bán,
JOB 20:19 vì chúng quấy rối người nghèo, không để cho họ được chút gì. Chúng cướp đoạt nhà cửa chúng không xây lên.
JOB 20:20 Kẻ ác không bao giờ dứt lòng tham, không có gì thoát khỏi tánh ích kỷ chúng.
JOB 20:21 Nhưng chúng sẽ không còn gì để ăn; của cải chúng sẽ không bền lâu.
JOB 20:22 Đang khi chúng sung túc thì tai ương đuổi kịp chúng, và cảnh khốn khó sẽ chụp lên chúng.
JOB 20:23 Khi kẻ ác đang no bụng, thì Thượng Đế sẽ phừng phừng nổi giận cùng chúng, và hàng loạt sự trừng phạt đổ trên đầu chúng như mưa.
JOB 20:24 Kẻ ác có thể chạy trốn khỏi vũ khí bằng sắt, nhưng mũi tên đồng sẽ đâm xuyên qua chúng.
JOB 20:25 Chúng sẽ rút mũi tên ra khỏi lưng mình, và giật mũi nhọn ra khỏi lá gan mình. Cơn kinh hoàng sẽ chụp lấy chúng;
JOB 20:26 sự tối tăm mù mịt là phần của chúng. Một ngọn lửa không do người nhen sẽ thiêu đốt chúng và thiêu hết những gì còn lại trong lều chúng.
JOB 20:27 Trời sẽ cho phơi bày tội lỗi chúng, đất sẽ nổi lên nghịch chúng.
JOB 20:28 Một trận lụt sẽ cuốn trôi nhà cửa chúng, quét sạch nhà chúng trong ngày thịnh nộ của Thượng Đế.
JOB 20:29 Đó là dự định của Thượng Đế dành cho kẻ ác; và là phần Ngài bắt chúng nhận lãnh.”
JOB 21:1 Bấy giờ Gióp trả lời:
JOB 21:2 “Hãy nghe kỹ lời tôi nói, và đây là cách các anh có thể an ủi tôi.
JOB 21:3 Hãy kiên nhẫn nghe tôi nói. Xong rồi muốn chế diễu tôi cũng được.
JOB 21:4 Tôi không phàn nàn về người ta; tôi có lý do để sốt ruột.
JOB 21:5 Hãy nhìn tôi rồi kinh hoảng; hãy lấy tay che miệng vì sửng sốt.
JOB 21:6 Khi tôi suy nghĩ về điều nầy, tôi vô cùng hoảng sợ và toàn thân tôi run rẩy.
JOB 21:7 Tại sao kẻ ác sống lâu? Chúng càng già càng thêm cường thịnh.
JOB 21:8 Chúng thấy con cái đầy đàn quanh mình; Chúng nhìn con cái mình lớn lên.
JOB 21:9 Nhà cửa chúng an toàn không có gì phải sợ; Thượng Đế không trừng phạt chúng.
JOB 21:10 Bò đực của chúng truyền giống không sai sẩy; bò cái của chúng sinh ra bò con khoẻ mạnh.
JOB 21:11 Chúng cho con cái mình chơi đùa như bầy chiên; các con nhỏ chúng nhảy tung tăng.
JOB 21:12 Ca hát theo điệu trống cơm và đờn cầm, còn tiếng sáo làm chúng sảng khoái.
JOB 21:13 Kẻ ác an hưởng cuộc đời thành công, rồi yên lành đi xuống mồ mả.
JOB 21:14 Chúng bảo Thượng Đế, ‘Hãy để chúng tôi yên! Chúng tôi không muốn biết đến đường lối Ngài.
JOB 21:15 Đấng Toàn Năng là ai mà chúng tôi phải phục vụ? Cầu nguyện với Ngài thì có lợi gì?’
JOB 21:16 Sự thành công của kẻ ác không phải do chúng tạo ra. Sự suy nghĩ của chúng cũng khác tôi.
JOB 21:17 Thế nhưng đèn của kẻ ác bị tắt bao nhiêu lần? Có bao nhiêu lần tai họa đổ trên chúng? Có bao nhiêu lần chúng bị cơn thịnh nộ Thượng Đế trừng phạt?
JOB 21:18 Bao nhiêu lần chúng giống như rơm rạ trước gió, hay trấu bị trận cuồng phong thổi bay đi?
JOB 21:19 Người ta nói, ‘Thượng Đế dành trừng phạt của cha cho con.’ Nhưng Thượng Đế nên trừng phạt kẻ ác để chúng biết điều đó.
JOB 21:20 Mắt chúng phải chứng kiến sự diệt vong của mình, và phải chịu hình phạt dưới cơn thịnh nộ của Đấng Toàn Năng.
JOB 21:21 Chúng chẳng lo đến gia đình mà chúng sẽ để lại, khi đời chúng đến chỗ tận cùng.
JOB 21:22 Không ai có thể dạy khôn cho Thượng Đế; Ngài là Đấng xét xử những kẻ có tước vị.
JOB 21:23 Có người qua đời trong khi còn mạnh khoẻ, cảm thấy an toàn và thoải mái.
JOB 21:24 Thân thể được no béo, xương cốt tráng kiện và khoẻ mạnh.
JOB 21:25 Nhưng kẻ khác qua đời khi lòng cay đắng, không hề nếm biết hạnh phúc trên đời.
JOB 21:26 Họ được chôn cất kề bên nhau, và dòi bọ bao phủ họ.
JOB 21:27 Tôi biết rõ tư tưởng các anh, và ý định các anh làm hại tôi.
JOB 21:28 Các anh hỏi tôi, ‘Nhà của bậc vĩ nhân nầy đâu rồi? Còn lều kẻ ác ở đâu?’
JOB 21:29 Các anh có bao giờ hỏi các lữ khách chưa? Có khi nào nghe họ kể chuyện chưa?
JOB 21:30 Trong ngày Thượng Đế nổi giận và trừng phạt, thì bọn gian ác được bình yên.
JOB 21:31 Ai sẽ tố cáo thẳng vào mặt chúng? Ai sẽ trả đũa cho chúng về những điều ác mà chúng gây ra?
JOB 21:32 Chúng được đưa xuống huyệt mả, nấm mồ chúng có người trông chừng.
JOB 21:33 Đất trong thung lũng có vẻ êm ái đối với chúng. Mọi người theo sau chúng, và nhiều người đi trước chúng.
JOB 21:34 Làm sao các anh an ủi tôi được bằng những điều nhảm nhí nầy? Những lời đáp của các anh chỉ láo khoét!”
JOB 22:1 Lúc đó Ê-li-pha người Thê-man lên tiếng:
JOB 22:2 “Có người nào thật hữu dụng cho Thượng Đế không? Dù người khôn ngoan thì có ích gì cho Ngài không?
JOB 22:3 Nếu anh nhân từ có giúp gì được cho Đấng Toàn Năng chăng? Còn nếu anh vô tội thì Ngài có lợi gì?
JOB 22:4 Tại sao Thượng Đế trừng phạt anh? Có phải vì anh thờ kính Ngài?
JOB 22:5 Không! Chẳng qua là vì điều ác anh làm quá mức, và tội lỗi anh vô giới hạn.
JOB 22:6 Anh đoạt của cải anh em mình để thế cho món nợ họ thiếu anh; anh cướp áo quần người ta để họ phải trần truồng.
JOB 22:7 Anh không cho kẻ khát được một ly nước, anh để kẻ đói không có cơm ăn.
JOB 22:8 Anh là cường hào làm chủ đất đai; anh được tôn trọng và sống trong xứ.
JOB 22:9 Nhưng anh đuổi kẻ goá bụa về tay không, và ngược đãi trẻ mồ côi.
JOB 22:10 Bởi thế cho nên các bẫy sập vây quanh anh, và cơn nguy hiểm bất chợt làm anh hoảng sợ.
JOB 22:11 Bời thế vì quá tăm tối anh không thấy được, và do đó nước lụt bao phủ anh.
JOB 22:12 Thượng Đế ngự trên trời cao. Anh thấy các ngôi sao trên cao kia không!
JOB 22:13 Nhưng anh hỏi, ‘Thượng Đế biết gì? Ngài có thể phân xử qua mây mù không?
JOB 22:14 Đám mây dầy đặc che phủ Ngài nên Ngài chẳng thấy chúng ta, khi Ngài đi trên các từng trời cao.’
JOB 22:15 Anh sẽ cứ mãi đi theo lối cũ của kẻ ác sao?
JOB 22:16 Chúng chết trước kỳ hạn, và nền nhà chúng bị nước lụt cuốn trôi.
JOB 22:17 Chúng nói với Thượng Đế, ‘Hãy để chúng tôi yên! Đấng Toàn Năng không làm gì được chúng tôi cả!’
JOB 22:18 Nhưng chính Thượng Đế ban cho chúng nhà cửa đầy của tốt. Lối suy nghĩ của chúng khác tôi.
JOB 22:19 Những người nhân đức sẽ thấy và vui mừng; người vô tội sẽ cười chúng và bảo,
JOB 22:20 ‘Dĩ nhiên các kẻ thù chúng ta bị tiêu diệt, còn lửa thiêu đốt của cải chúng.’
JOB 22:21 Hãy vâng lời Thượng Đế và làm hòa với Ngài; đó là con đường hạnh phúc.
JOB 22:22 Hãy chấp nhận lời dạy dỗ từ miệng Ngài, ghi tạc lời Ngài vào lòng.
JOB 22:23 Nếu anh trở lại với Đấng Toàn Năng, thì anh sẽ lại được phước. Cho nên hãy dẹp điều ác khỏi nhà anh.
JOB 22:24 Ném các thỏi vàng của anh vào bụi đất, và quăng vàng thượng hạng của anh vào các tảng đá dưới hố.
JOB 22:25 Thì Đấng Toàn Năng sẽ là vàng quí giá cho anh, Ngài sẽ là bạc tốt nhất của anh.
JOB 22:26 Anh sẽ tìm được nguồn vui thoả trong Đấng Toàn Năng, và anh sẽ ngửa trông Ngài.
JOB 22:27 Anh sẽ cầu nguyện cùng Ngài, Ngài sẽ trả lời anh, và anh sẽ giữ lời hứa nguyện với Ngài.
JOB 22:28 Điều gì anh định làm sẽ thành tựu, ánh sáng sẽ chiếu trên lối đi anh.
JOB 22:29 Khi con người bị thất thế mà anh bảo, ‘Hãy can đảm lên,’ thì người thấp hèn sẽ được giải cứu.
JOB 22:30 Dù cho kẻ có tội cũng sẽ chạy thoát, họ cũng sẽ được giải cứu vì thấy anh thanh sạch.”
JOB 23:1 Sau đó Gióp trả lời:
JOB 23:2 “Lời than van của tôi hôm nay vẫn còn cay đắng. Tôi rên rỉ vì tay Thượng Đế đè nặng trên tôi.
JOB 23:3 Ước gì tôi biết Thượng Đế ở đâu, để tôi đi đến chỗ Ngài ở.
JOB 23:4 Tôi sẽ trình bày hoàn cảnh tôi trước mặt Ngài, và làm cho môi tôi đầy lý đoán.
JOB 23:5 Tôi muốn biết Ngài trả lời tôi ra sao, và suy nghĩ về những điều Ngài sẽ nói.
JOB 23:6 Ngài sẽ không bắt lý tôi sao? Không, Ngài sẽ lắng tai nghe tôi.
JOB 23:7 Người thanh liêm có thể trình bày hoàn cảnh mình cho Thượng Đế, và tôi sẽ được quan án tôi giải cứu đời đời.
JOB 23:8 Nếu tôi đi sang Đông, Thượng Đế không có đó; còn nếu tôi đi sang Tây, tôi cũng chẳng thấy Ngài.
JOB 23:9 Khi Ngài đang bận rộn ở phương Bắc, tôi không nhìn thấy Thượng Đế; khi Ngài quay sang phương Nam, tôi không thể thấy Ngài được.
JOB 23:10 Nhưng Thượng Đế biết đường tôi đi, sau khi Ngài thử rèn tôi, tôi sẽ hóa như vàng.
JOB 23:11 Các bước chân tôi đi theo sát gót Ngài; Tôi đã đi trong lối Ngài; không quay sang trái hay phải.
JOB 23:12 Tôi chưa bao giờ bỏ qua mệnh lệnh Ngài đã truyền; Tôi quí trọng lời Ngài hơn lời nói của chính tôi.
JOB 23:13 Nhưng Ngài là Thượng Đế duy nhất. Ai chống nghịch Ngài được? Ngài muốn làm gì tùy ý.
JOB 23:14 Ngài sẽ làm cho tôi điều Ngài định làm, mà Ngài có nhiều chương trình như vậy.
JOB 23:15 Vì thế mà tôi sợ hãi Ngài; khi tôi suy nghĩ đến điều đó, tôi run sợ vì Ngài.
JOB 23:16 Thượng Đế đã làm cho tôi sợ; Đấng Toàn Năng làm tôi kinh hãi.
JOB 23:17 Nhưng tôi không bị bóng tối che khuất, không bị màn đêm đen mịt che phủ mặt tôi.”
JOB 24:1 “Ước gì Đấng Toàn Năng định ngày phân xử. Ước gì những ai theo Thượng Đế biết ngày đó.
JOB 24:2 Kẻ ác chiếm đoạt đất đai người khác; chúng đánh cắp các bầy gia súc, rồi mang đến đồng cỏ khác.
JOB 24:3 Chúng đuổi lừa của kẻ mồ côi, và cướp đoạt bò của goá phụ không tiền.
JOB 24:4 Chúng xô kẻ khốn khó ra khỏi lối đi; kẻ nghèo khổ trong xứ phải trốn tránh chúng.
JOB 24:5 Người nghèo hóa ra như lừa hoang trong sa mạc, đi lang thang tìm thức ăn. Sa mạc cung cấp thức ăn cho con cái chúng.
JOB 24:6 Chúng lượm cỏ khô và rơm rạ trong đồng, mót những trái nho còn sót trong vườn nho của kẻ ác.
JOB 24:7 Chúng phải ngủ trần truồng vì không có quần áo, không có gì che thân cho khỏi lạnh.
JOB 24:8 Chúng bị ướt dầm vì mưa núi, phải núp trong hốc đá vì không nhà.
JOB 24:9 Đứa trẻ mất cha bị giật khỏi vú mẹ; chúng bắt trẻ thơ của mẹ để thế món nợ mẹ chúng thiếu.
JOB 24:10 Cho nên kẻ nghèo đi lang thang không quần áo, họ vác bao gạo cho kẻ khác mà mình lại đói;
JOB 24:11 Họ ép trái ô-liu để lấy dầu, đạp trái nho để lấy rượu, nhưng vẫn khát nước.
JOB 24:12 Người hấp hối rên rỉ trong thành, kẻ bị thương kêu xin cứu giúp, nhưng Thượng Đế không lên án kẻ làm ác.
JOB 24:13 Những kẻ chống nghịch sự sáng không biết đường lối Thượng Đế, hay đi theo các nẻo Ngài.
JOB 24:14 Đến cuối ngày, kẻ sát nhân đứng dậy giết người nghèo khó khốn cùng. Ban đêm chúng rình rập như kẻ trộm.
JOB 24:15 Những kẻ ngoại tình trông chờ bóng đêm, chúng nghĩ, ‘Sẽ không ai thấy chúng ta,’ chúng che mặt lại.
JOB 24:16 Kẻ ác lẻn vào nhà người ta trong bóng tối. Ban ngày chúng đóng cửa rút vào nhà, vì chúng không muốn lộ ra ánh sáng.
JOB 24:17 Đối với kẻ ác, bóng tối là ánh sáng cho chúng, bạn bè của chúng là bóng đêm kinh hoàng.
JOB 24:18 Chúng như bọt nổi trên nước. Phần đất của chúng bị nguyền rủa; Không ai đi trên con đường gần vườn nho chúng.
JOB 24:19 Như hơi nóng và khô hạn làm tuyết tan nhanh ra sao, thì mồ mả cũng cướp lấy tội nhân nhanh như thế.
JOB 24:20 Mẹ chúng quên chúng, dòi bọ sẽ ăn thân xác chúng. Sẽ không ai nhớ chúng nữa, còn kẻ ác sẽ gãy vụn như cái que.
JOB 24:21 Kẻ ác hành hạ người đàn bà không con, không tỏ lòng nhân từ với người góa bụa.
JOB 24:22 Nhưng Thượng Đế dùng quyền năng Ngài lôi kẻ mạnh đi. Dù chúng mạnh, chúng không biết còn sống bao lâu.
JOB 24:23 Thượng Đế có thể để chúng an thân trong một thời gian, nhưng Ngài canh chừng lối đi của chúng.
JOB 24:24 Chúng được sung túc trong một thời gian ngắn rồi qua đời; chúng bị chôn vùi như tất cả mọi người khác; chúng bị cắt như bông lúa.
JOB 24:25 Nếu không đúng thế thì ai có thể chứng tỏ tôi sai? Ai có thể bảo lời nói tôi không giá trị gì?”
JOB 25:1 Rồi Binh-đát, người Su-ha lên tiếng:
JOB 25:2 “Thượng Đế cai trị, ai nấy phải tôn trọng Ngài; Ngài sắp xếp trật tự trên trời cao.
JOB 25:3 Không ai có thể đếm các đạo binh Ngài. Ánh sáng Ngài chiếu trên mọi người.
JOB 25:4 Cho nên không ai nhân đức trước mặt Ngài, chẳng ai do đàn bà sinh ra mà gọi là tinh sạch.
JOB 25:5 Thậm chí mặt trăng cũng không sáng đủ các ngôi sao cũng chưa tinh sạch trước mặt Ngài.
JOB 25:6 Huống hồ con người ta! Họ chỉ như côn trùng. Chẳng khác nào loài dòi bọ!”
JOB 26:1 Sau đó Gióp trả lời:
JOB 26:2 “Mấy anh chẳng ích gì cho kẻ khốn cùng! Các anh không giúp đỡ người yếu thế!
JOB 26:3 Lời khuyên của các anh thiếu khôn ngoan! Các anh chứng tỏ kém hiểu biết!
JOB 26:4 Ai xúi các anh thốt những lời đó? Những ý tưởng đó ở đâu mà ra?
JOB 26:5 Thần linh của kẻ chết run rẩy, đó là những kẻ ở trong lòng đất.
JOB 26:6 Cái chết phải lột trần trước mặt Thượng Đế; sự hủy diệt phải lộ ra trước mặt Ngài.
JOB 26:7 Thượng Đế giăng bầu trời phương Bắc ra trong khoảng trống, và treo trái đất trong không gian.
JOB 26:8 Ngài bọc nước trong các đám mây, nhưng mây không bể ra dưới sức nặng của nước.
JOB 26:9 Ngài che phủ mặt trăng, lấy mây che khuất nó.
JOB 26:10 Ngài vẽ chân trời ra như vòng tròn trên nước nơi ánh sáng và bóng tối gặp nhau.
JOB 26:11 Nền trời rung chuyển khi Ngài gầm thét.
JOB 26:12 Dùng sức mạnh Ngài dẹp yên biển cả; nhờ sự khôn ngoan Ngài tiêu diệt Ra-háp, con quái vật dưới biển.
JOB 26:13 Ngài thở hơi ra, bầu trời liền trong sáng. Tay Ngài nắm con rắn đang trốn chạy.
JOB 26:14 Đó chỉ là một phần nhỏ của công việc Thượng Đế. Chúng ta chỉ mới nghe thì thầm về Ngài. Ai có thể hiểu được tiếng gầm thét của Thượng Đế?”
JOB 27:1 Gióp tiếp tục nói:
JOB 27:2 “Thật như Thượng Đế hằng sống, Đấng đã tước quyền tôi, Đấng Toàn Năng đã khiến tôi mất hạnh phúc,
JOB 27:3 nhưng bao lâu mà tôi còn sống, và còn hơi thở của Thượng Đế trong lỗ mũi tôi,
JOB 27:4 thì tôi sẽ không làm kẻ giả đạo đức, và lưỡi tôi sẽ không nói dối.
JOB 27:5 Tôi sẽ chẳng bao giờ nhận rằng các anh đúng; cho đến khi tôi chết, tôi sẽ vẫn nhất quyết rằng mình vô tội.
JOB 27:6 Tôi sẽ cả quyết rằng tôi đúng; tôi sẽ không rút lại lời đó. Lương tâm tôi không hề cáo trách tôi.
JOB 27:7 Hãy để cho kẻ thù tôi giống như kẻ ác, để cho kẻ nghịch tôi giống như kẻ làm bậy.
JOB 27:8 Khi kẻ ác qua đời thì chúng có hi vọng gì, khi Thượng Đế cất mạng sống chúng đi?
JOB 27:9 Ngài sẽ không thèm nghe tiếng kêu của chúng, khi chúng gặp gian nan.
JOB 27:10 Chúng không tìm thấy niềm vui trong Đấng Toàn Năng, dù rằng miệng chúng luôn luôn kêu Thượng Đế.
JOB 27:11 Tôi sẽ dạy cho các anh về quyền năng của Thượng Đế, và không giấu diếm đường lối của Đấng Toàn Năng.
JOB 27:12 Chính mắt các anh đã thấy những điều nầy. Tại sao chúng ta cứ mãi nói chuyện nhảm nhí?
JOB 27:13 Đây là điều Thượng Đế định cho kẻ ác, và là điều Đấng Toàn Năng dành cho kẻ hung bạo:
JOB 27:14 Chúng có thể có đông con, nhưng gươm sẽ giết con cái chúng. Những đứa còn sống sót sẽ không đủ ăn.
JOB 27:15 Rồi chúng sẽ chết vì bệnh tật và được chôn cất, còn vợ góa của chúng sẽ không than khóc chúng.
JOB 27:16 Kẻ ác có thể gom góp bạc như đất, quần áo nhiều như đất sét.
JOB 27:17 Nhưng người nhân đức sẽ mặc đồ mà kẻ ác đã thu góp cho mình, và người tốt sẽ phân chia bạc của chúng.
JOB 27:18 Nhà kẻ ác xây giống như màng nhện, giống như lều của người canh gác xây lên.
JOB 27:19 Kẻ ác được giàu có khi đi ngủ, nhưng chỉ giàu lần cuối đó thôi; vì khi mở mắt ra, mọi vật đều tan biến.
JOB 27:20 Cơn hãi hùng chụp lấy chúng như nước lụt, và cơn bão thổi bay chúng lúc ban đêm.
JOB 27:21 Ngọn gió đông sẽ mang chúng đi, rồi chúng biến mất, vì ngọn gió đã thổi chúng khỏi chỗ mình.
JOB 27:22 Luồng gió đập vào chúng không thương xót trong khi chúng chạy trốn khỏi sức mạnh của gió.
JOB 27:23 Giống như gió đang vỗ tay; và huýt sáo chế nhạo chúng khi chúng chạy trốn khỏi chỗ mình.”
JOB 28:1 “Bạc lấy ở mỏ lên, và có nơi luyện vàng.
JOB 28:2 Sắt khai lên từ dưới đất, và đồng được nung chảy từ đá.
JOB 28:3 Các thợ mỏ mang đèn đuốc, và đi tìm sâu trong mỏ để kiếm quặng nơi tối tăm.
JOB 28:4 Thợ mỏ đào hầm xa chỗ người ở, nơi chưa ai đặt chân đến; họ làm việc xa người ta, lắc lư và đong đưa trên dây thừng.
JOB 28:5 Thực phẩm mọc trên mặt đất, nhưng trong lòng đất lửa cháy ngùn ngụt.
JOB 28:6 Người ta tìm được ngọc trong đá, và bụi vàng cũng nằm trong đá.
JOB 28:7 Chim ưng không biết lối đi đến đó; chim phượng hoàng cũng chưa thấy đường đi.
JOB 28:8 Dã thú chưa hề dẫm đến, và chưa có sư tử nào đi ngang qua.
JOB 28:9 Thợ mỏ đập đá lửa, và đào nơi chân núi.
JOB 28:10 Họ đào hầm xuyên qua đá và thấy được của báu trong đó.
JOB 28:11 Họ tìm nguồn sông, và mang những điều bí ẩn ra ánh sáng.
JOB 28:12 Nhưng sự khôn ngoan tìm được ở đâu, sự thông sáng sống nơi nào?
JOB 28:13 Người ta không hiểu được giá trị của khôn ngoan; không thể tìm được nó giữa vòng người sống.
JOB 28:14 Đại dương sâu nói, ‘Tôi đâu có giữ nó,’ biển cả cũng bảo, ‘Nó cũng chẳng có ở đây với tôi.’
JOB 28:15 Sự khôn ngoan không thể mua được bằng vàng, giá trị nó cũng không cân được bằng bạc.
JOB 28:16 Cũng không thể mua được nó bằng vàng ròng, hay bằng ngọc mã não hoặc bích ngọc.
JOB 28:17 Vàng và pha lê cũng không có giá trị bằng sự khôn ngoan, không ai mua được nó bằng nữ trang làm bằng vàng.
JOB 28:18 San hô và bích ngọc chẳng đáng nói đến, giá trị của sự khôn ngoan vượt hơn hồng ngọc.
JOB 28:19 Hoàng ngọc của xứ Ê-thi-ô-bi không thể sánh được với sự khôn ngoan; vàng ròng thượng hạng cũng không mua nó được.
JOB 28:20 Vậy sự khôn ngoan ở đâu mà ra, sự thông sáng sống nơi nào?
JOB 28:21 Nó bị giấu kín khỏi mắt mọi loài sống, chim trời cũng không biết đến.
JOB 28:22 Sự hủy diệt và sự chết bảo, ‘Chúng tôi đã nghe về nó.’
JOB 28:23 Chỉ có Thượng Đế hiểu đường dẫn đến khôn ngoan, chỉ một mình Ngài biết sự khôn ngoan ở chỗ nào,
JOB 28:24 vì Ngài nhìn đến nơi xa nhất trên đất, và thấy mọi vật dưới bầu trời.
JOB 28:25 Khi Thượng Đế ban quyền lực cho gió, và định chừng mực cho nước,
JOB 28:26 khi Ngài đặt luật lệ cho mưa, và vạch lối đi cho giông bão,
JOB 28:27 thì Ngài nhìn vào sự khôn ngoan và ấn định trị giá của nó; Ngài đem nó ra trắc nghiệm.
JOB 28:28 Rồi Ngài bảo con người, ‘Kính sợ Thượng Đế là khôn ngoan; tránh xa điều ác là thông sáng.’”
JOB 29:1 Gióp tiếp tục lên tiếng:
JOB 29:2 “Tôi mơ ước về những tháng ngày trước đây, khi Thượng Đế trông nom tôi.
JOB 29:3 Ngọn đèn CHÚA chiếu trên đầu tôi, và ánh đèn Ngài soi đường khi tôi đi trong tăm tối.
JOB 29:4 Tôi mơ ước ngày tôi còn sung túc, khi tôi còn tận hưởng tình thân hữu với Thượng Đế cùng các phúc lành của Ngài cho gia đình tôi.
JOB 29:5 Lúc đó Đấng Toàn Năng vẫn còn ở với tôi, và con cái tôi sống chung quanh tôi.
JOB 29:6 Lối đi tôi còn dầm mỡ sữa, và đá phun dầu ô-liu thượng hạng ra cho tôi.
JOB 29:7 Tôi đi đến cửa thành, ngồi nơi công viên cùng với các bô lão.
JOB 29:8 Khi các thanh niên thấy tôi liền tránh qua một bên, và người già đứng lên tỏ dấu tôn kính.
JOB 29:9 Những kẻ tai mắt thôi nói, và lấy tay che miệng.
JOB 29:10 Tiếng nói của các kẻ tai mắt ngưng bặt, như thể lưỡi họ bị kẹt nơi vòm họng.
JOB 29:11 Ai nghe đến tôi đều nói tốt về tôi, những kẻ thấy tôi đều ca ngợi tôi,
JOB 29:12 vì tôi cứu giúp kẻ nghèo đang kêu xin, và trẻ mồ côi không ai giúp đỡ.
JOB 29:13 Người hấp hối chúc phước cho tôi, tôi làm cho lòng người góa bụa hát mừng.
JOB 29:14 Tôi mặc lấy nếp sống phải lẽ như áo quần; và khoác sự công chính vào như áo dài và khăn vành.
JOB 29:15 Tôi là con mắt cho kẻ mù và chân cho kẻ què.
JOB 29:16 Tôi như cha của người túng quẫn, tôi giúp người lạ thắng kiện.
JOB 29:17 Tôi bẻ gãy nanh kẻ ác, và cướp tù nhân ra khỏi nanh vuốt chúng.
JOB 29:18 Tôi thầm nghĩ, ‘Tôi sẽ sống nhiều ngày như cát, và sẽ qua đời trong nhà mình.
JOB 29:19 Rễ của tôi ăn sâu xuống tới nước. Sương mai sẽ đọng trên cành suốt đêm.
JOB 29:20 Vinh dự sẽ luôn luôn đến với tôi, và tôi luôn có sức mạnh.’
JOB 29:21 Người ta sẽ lắng nghe và im lặng chờ tôi cho ý kiến.
JOB 29:22 Sau khi tôi dứt lời, họ không còn gì để thêm. Lời tôi rót êm nhẹ vào lỗ tai họ.
JOB 29:23 Họ mong chờ tôi như chờ cơn mưa xuống và uống lời nói tôi như uống mưa xuân.
JOB 29:24 Tôi mỉm cười khi họ không tin, và sự đồng ý của tôi vô cùng quan trọng đối với họ.
JOB 29:25 Tôi chọn lối đi cho họ và là lãnh tụ của họ. Tôi sống như vua ở giữa quân sĩ mình, như kẻ an ủi người buồn thảm.”
JOB 30:1 “Nhưng nay kẻ trẻ tuổi hơn tôi chế nhạo tôi. Trước kia tôi không cho cha chúng ngồi chung với chó giữ chiên tôi là khác.
JOB 30:2 Sức mạnh của chúng giúp ích gì cho tôi, vì chúng không còn sức để làm việc.
JOB 30:3 Chúng gầy còm vì đói, và lang thang ban đêm trong đất khô khan cằn cỗi.
JOB 30:4 Chúng gom góp các bụi cây trong sa mạc, và ăn rễ của cây dùng làm chổi.
JOB 30:5 Chúng buộc phải sống xa loài người; người ta tri hô sau chúng như kẻ trộm.
JOB 30:6 Chúng sống giữa những lòng suối cạn, trong các hang hốc và giữa các tảng đá.
JOB 30:7 Chúng tru như thú vật giữa lùm cây, và xúm xít trong bụi gai.
JOB 30:8 Chúng là bọn du đãng vô danh, bị đuổi ra khỏi đất.
JOB 30:9 Bây giờ chúng đặt bài hát chế giễu tôi; tên tôi là trò cười cho chúng.
JOB 30:10 Chúng ghét và xa lánh tôi, chúng không ngần ngại phỉ nhổ vào mặt tôi.
JOB 30:11 Thượng Đế đã lấy sức mạnh tôi đi, khiến tôi khổ sở, cho nên chúng trút đổ cơn giận vào tôi.
JOB 30:12 Chúng tấn công tôi bên phải. Chúng giăng bẫy trên bước chân tôi, đắp mô để tấn công và tiêu diệt tôi như thành lũy.
JOB 30:13 Chúng phá đường tôi đi tìm cách tiêu diệt tôi, không ai cứu giúp tôi.
JOB 30:14 Chúng nhào đến tôi như chui qua lỗ thủng trong tường, chúng lăn xả đến giữa đống gạch vụn.
JOB 30:15 Tôi bị kinh hoảng vây phủ, Chúng thổi bay danh dự tôi như cơn gió mạnh, và sự an toàn tôi biến đi như mây khói.
JOB 30:16 Bây giờ đời tôi gần tàn, các tháng ngày tôi đầy dẫy khốn khổ.
JOB 30:17 Ban đêm xương cốt tôi đau buốt; cơn nhức nhối không hề dứt.
JOB 30:18 Thượng Đế dùng quyền lớn túm lấy áo quần tôi, và siết cổ áo tôi.
JOB 30:19 Ngài ném tôi vào bùn đất, tôi trở thành bụi đất lẫn tro.
JOB 30:20 Tôi kêu cứu cùng Ngài, Thượng Đế ôi, nhưng Ngài không thèm đáp; Tôi đứng lên nhưng Ngài chỉ nhìn tôi.
JOB 30:21 Ngài đã nổi giận cùng tôi không nương tay; và dùng cánh tay mạnh mẽ của Ngài tấn công tôi.
JOB 30:22 Ngài giật tôi và ném tôi vào gió, rồi quăng tôi lăn lóc trong giông bão.
JOB 30:23 Tôi biết Ngài sẽ kéo tôi đến chỗ chết, đến nơi tất cả các kẻ sống phải đi đến.
JOB 30:24 Hẳn nhiên không ai muốn làm hại người khốn cùng, khi người kêu cứu trong lúc khốn khó.
JOB 30:25 Tôi kêu cứu giùm cho những kẻ đang gặp khốn đốn; Tôi buồn bã thay cho người nghèo khó.
JOB 30:26 Nhưng khi tôi trông mong điều thiện, thì điều ác xảy đến cho tôi; khi tôi tìm ánh sáng thì bóng tối chụp đến.
JOB 30:27 Tôi luôn luôn bực dọc; những ngày đau khổ đang ở trước tôi.
JOB 30:28 Người tôi hóa đen nhưng không phải vì rám nắng. Tôi đứng giữa nơi công cộng kêu cứu.
JOB 30:29 Tôi kết nghĩa anh em với chó hoang và bạn bè với chim đà điểu.
JOB 30:30 Da tôi thâm đen và tróc ra từng lớp, toàn thân tôi nóng bừng lên vì sốt.
JOB 30:31 Đờn cầm tôi lên dây ca bài thiểu não, và tiếng sáo trổi giọng bi ai.”
JOB 31:1 “Tôi đã lập giao ước với mắt tôi, rằng tôi sẽ không nhìn thiếu nữ với vẻ thèm muốn nữa.
JOB 31:2 Thượng Đế đã hứa gì cho dân Ngài? Đấng Toàn Năng đã dự định gì từ trên cao kia?
JOB 31:3 Đó là sự tàn hại cho kẻ ác, và thảm họa cho kẻ làm quấy.
JOB 31:4 Thượng Đế thấy con đường tôi đi, Ngài đếm từng bước tôi.
JOB 31:5 Nếu tôi có bất lương, hay dối trá cùng kẻ khác,
JOB 31:6 thì xin Ngài để tôi lên cái cân chính xác. Ngài sẽ thấy tôi không có làm gì quấy.
JOB 31:7 Nếu tôi có quay lưng để khỏi làm điều phải, hay mắt tôi hướng dẫn lòng tôi làm điều sái bậy, hoặc tay tôi có dơ bẩn,
JOB 31:8 thì cầu cho kẻ khác ăn lấy vật tôi đã trồng, và mùa màng tôi bị nhổ lên.
JOB 31:9 Nếu tôi có ham muốn người đàn bà khác, hay rình mò vợ người láng giềng tôi nơi cửa nhà người,
JOB 31:10 thì nguyền cho vợ tôi xay lúa cho người đàn ông khác, để cho người khác ăn nằm với nàng.
JOB 31:11 Điều đó sẽ thật sỉ nhục, một tội lỗi đáng bị trừng phạt.
JOB 31:12 Giống như lửa đốt cháy và tiêu hủy; những gì tôi làm sẽ bị nhổ lên.
JOB 31:13 Nếu tôi có bất công đối với tôi trai hay tớ gái của tôi, khi chúng khiếu nại tôi điều gì,
JOB 31:14 thì làm sao tôi trả lời với Thượng Đế về hành động tôi? Tôi đối đáp thế nào khi Ngài bảo tôi giải thích điều tôi làm?
JOB 31:15 Đấng dựng nên tôi trong bụng mẹ tôi, cũng đã dựng nên chúng nó; Ngài dựng nên cả hai trong bụng mẹ.
JOB 31:16 Tôi chưa hề từ chối lời khiếu nại của kẻ nghèo, hay khiến người góa bụa thất vọng khi họ xin cứu giúp.
JOB 31:17 Tôi không giữ khư khư thức ăn lấy cho mình, nhưng chia xẻ với trẻ mồ côi.
JOB 31:18 Từ khi còn trẻ, tôi đã như cha của trẻ mồ côi. Từ lúc mới sinh, tôi hướng dẫn người góa bụa.
JOB 31:19 Tôi chưa để ai chết vì không quần áo mặc, hay để kẻ khốn cùng thiếu áo che thân.
JOB 31:20 Lòng của họ chúc phước cho tôi, vì tôi dùng len của chiên tôi đắp cho họ ấm.
JOB 31:21 Tôi chưa hề làm hại trẻ mồ côi, dù rằng tôi biết sẽ thắng kiện.
JOB 31:22 Nếu tôi có làm điều đó, nguyền cho tay tôi rớt ra khỏi vai, và đứt ra khỏi khớp nối.
JOB 31:23 Tôi sợ sự hủy hoại của Thượng Đế, tôi kinh hãi sự oai nghiêm Ngài, nên tôi không thể làm những điều đó.
JOB 31:24 Tôi không đặt niềm tin nơi vàng, hay bảo với vàng ròng rằng, ‘Ngươi là niềm an ninh ta.’
JOB 31:25 Tôi chưa hề ăn mừng sự giàu có tôi, hay của cải tay tôi làm ra.
JOB 31:26 Tôi chưa hề suy nghĩ đến việc bái lạy mặt trời rực sáng, hay thán phục mặt trăng di chuyển trong vinh quang,
JOB 31:27 để cho lòng tôi bị kéo xa khỏi Thượng Đế. Tay tôi chưa hề dâng cho mặt trời, mặt trăng cái hôn sùng bái nào.
JOB 31:28 Nếu tôi đã làm những điều đó, quả thật đắc tội, đáng trừng phạt, vì tôi đã không trung tín với Thượng Đế.
JOB 31:29 Tôi không hớn hở khi kẻ thù tôi lâm nạn, hay cười vui sướng khi nó gặp khốn khó.
JOB 31:30 Tôi không để miệng tôi phạm tội, bằng cách nguyền rủa mạng sống kẻ thù tôi.
JOB 31:31 Những gia nhân của tôi đều nói, ‘Ai trong nhà của Gióp cũng ăn uống tha hồ.’
JOB 31:32 Không có khách lạ nào phải ngủ đêm ngoài đường phố, vì tôi luôn mời khách lữ hành vào nhà mình.
JOB 31:33 Tôi không che giấu tội mình như kẻ khác, giấu đút tội mình riêng cho mình.
JOB 31:34 Tôi không sợ quần chúng đến nỗi im lặng rút vào nhà, vì sợ gia đình khác ganh ghét mình.
JOB 31:35 Ước gì toà án bằng lòng xử vụ của tôi! Đây tôi ký nhận mình đã nói sự thật. Xin Đấng Toàn Năng trả lời cho tôi; còn kẻ cáo giác tôi hãy viết cáo trạng.
JOB 31:36 Tôi sẽ mang lời khai trên vai tôi; và đội nó như mão triều.
JOB 31:37 Tôi sẽ giải thích cùng Thượng Đế mỗi việc tôi làm, và đến gần Ngài như một quan trưởng.
JOB 31:38 Nếu đất kêu la nghịch tôi, và nếu các luống cày nó không đẫm nước mắt,
JOB 31:39 Nếu tôi đã cướp mùa màng của đất mà không đền bù, hay làm mất tinh thần kẻ làm công cho đất tôi,
JOB 31:40 thì nguyền cho gai gốc mọc lên thay vì lúa, và cỏ dại mọc thay vì lúa mạch.” Đến đây chấm dứt lời của Gióp.
JOB 32:1 Ba người bạn đó thôi không nói với Gióp nữa vì ông tự thấy mình phải.
JOB 32:2 Nhưng Ê-li-hu, con trai Ba-ra-kên, người Bu-xi, thuộc gia đình Ram, nổi giận cùng Gióp, vì Gióp cho mình phải hơn Thượng Đế.
JOB 32:3 Ê-li-hu cũng nổi giận với ba người bạn của Gióp vì họ không chứng minh được Gióp có lỗi mà lại tiếp tục lên án ông.
JOB 32:4 Ê-li-hu chờ đợi để nói với Gióp vì ba người bạn kia đều lớn tuổi hơn mình.
JOB 32:5 Sau khi Ê-li-hu thấy họ không còn có gì để nói nữa thì đâm ra bực tức.
JOB 32:6 Vậy Ê-li-hu, con trai Ba-ra-kên, người Bu-xi lên tiếng: “Tôi còn trẻ, còn các anh đều đã lớn tuổi. Vì thế nên tôi ngại không dám nói điều tôi biết.
JOB 32:7 Tôi nghĩ, ‘Người lớn tuổi nên nói, và kẻ sống lâu năm nên dạy khôn.’
JOB 32:8 Nhưng chính thật ra thần linh trong con người, hơi thở của Đấng Toàn Năng mới ban thông sáng.
JOB 32:9 Chẳng phải già mà tự nhiên khôn; cũng chẳng phải lớn tuổi mà hiểu điều phải.
JOB 32:10 Cho nên tôi nói, các anh hãy nghe đây. Tôi cũng có thể nói cho các anh điều tôi biết.
JOB 32:11 Tôi chờ cho các anh nói, và lắng nghe lời giải thích của các anh. Trong khi các anh đang tìm chữ để nói,
JOB 32:12 Tôi quan sát các anh rất kỹ. Nhưng không ai trong các anh chứng tỏ Gióp sai quấy; không ai đối đáp với lý lẽ Gióp đưa ra.
JOB 32:13 Đừng nói, ‘Chúng ta đã tìm được sự khôn ngoan; chỉ một mình Thượng Đế mới có thể chứng tỏ Gióp sai quấy, chớ không phải người ta.’
JOB 32:14 Lời nói của Gióp không phải để bài bác tôi, cho nên tôi sẽ không dùng lý lẽ của các anh để đối đáp với Gióp.
JOB 32:15 Ba người bạn nầy thua rồi, chẳng có gì nữa để nói; họ hết chữ để nói rồi.
JOB 32:16 Bây giờ họ đứng đó không biết đối đáp với Gióp ra sao. Họ đã im lặng, tôi có phải chờ để lên tiếng không?
JOB 32:17 Không, tôi cũng sẽ nói, và bảo các anh điều tôi biết.
JOB 32:18 Tôi có đầy đủ chữ, thần linh trong tôi giục tôi nói.
JOB 32:19 Tôi như rượu đựng kín trong chai; sẵn sàng bùng ra như bầu rượu mới.
JOB 32:20 Tôi phải nói để xả hơi; Tôi phải mở miệng và lên tiếng.
JOB 32:21 Tôi sẽ công bằng đối với mọi người, và không nịnh hót ai.
JOB 32:22 Tôi không biết nịnh nọt, vì nếu tôi làm thế, Đấng Tạo Hóa sẽ diệt tôi ngay.”
JOB 33:1 “Vậy bây giờ, Gióp, anh hãy lắng tai nghe tôi đây. Chú ý mọi điều tôi nói.
JOB 33:2 Tôi mở miệng và sẵn sàng lên tiếng.
JOB 33:3 Lời tôi phát xuất từ tấm lòng chân thật, tôi chân thành nói ra điều mình biết.
JOB 33:4 Thần linh Thượng Đế tạo nên tôi, và hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống.
JOB 33:5 Nếu anh biết hãy trả lời tôi; hãy sẵn sàng đứng trước mặt tôi.
JOB 33:6 Trước mặt Thượng Đế tôi cũng như anh; Tôi cũng do đất sét mà ra.
JOB 33:7 Đừng sợ tôi; Tôi sẽ không khắt khe với anh.
JOB 33:8 Nhưng tôi đã nghe anh nói; Tôi nghe hết từng tiếng.
JOB 33:9 Anh nói, ‘Tôi trong sạch và vô tội; Tôi vô tội, không có vết dơ nào.
JOB 33:10 Nhưng Thượng Đế đã kiếm cớ tấn công tôi; Ngài đối xử với tôi như kẻ thù.
JOB 33:11 Ngài khoá chân tôi vào xiềng, và theo dõi tôi từng bước.’
JOB 33:12 Nhưng tôi cho anh biết, anh nói vậy không đúng, vì Thượng Đế lớn hơn chúng ta.
JOB 33:13 Tại sao anh trách rằng Thượng Đế có nhiệm vụ phải giải thích mọi điều cho anh?
JOB 33:14 Thượng Đế có nói, đôi khi bằng cách nầy hay cách khác nhưng con người không hiểu được.
JOB 33:15 Ngài nói qua chiêm bao hay dị tượng ban đêm, khi con người ngủ mê, nằm trên giường mình.
JOB 33:16 Ngài nói vào lỗ tai họ, và dùng những lời cảnh cáo làm họ hoảng sợ
JOB 33:17 để họ khỏi làm điều quấy, và để họ khỏi đâm ra tự phụ.
JOB 33:18 Thượng Đế làm như thế để cứu người ta khỏi chết, tránh cảnh diệt vong.
JOB 33:19 Thượng Đế cũng sửa dạy con người đang khi người nằm trên giường đau đớn; khi xương cốt người nhức nhối triền miên.
JOB 33:20 Đau đến nỗi gớm ghét thức ăn, ớn cả mỹ vị.
JOB 33:21 Thân thể người gầy còm đến nỗi chẳng còn gì, xương cốt nhô ra.
JOB 33:22 Người gần chết, và đời người hầu tàn.
JOB 33:23 Nhưng có một thiên sứ đến nói thay cho người, đó là một trong một ngàn thiên sứ, đến bảo người phải làm gì.
JOB 33:24 Thiên sứ sẽ kêu xin ơn trên thương xót và cầu khẩn: ‘Xin cứu người khỏi chết. Tôi đã tìm được giá trả thay cho mạng sống người.’
JOB 33:25 Rồi thân thể người được phục hồi như thân thể đứa trẻ. Trở lại giống như thời trai trẻ.
JOB 33:26 Người sẽ cầu xin cùng Thượng Đế, Ngài sẽ nghe lời người. Người sẽ thấy mặt Thượng Đế và reo mừng. Thượng Đế sẽ khiến mọi việc trở lại tốt đẹp cho người.
JOB 33:27 Người sẽ bảo kẻ khác, ‘Tôi đã phạm tội và xuyên tạc điều phải, nhưng tôi không bị hình phạt xứng đáng với tội tôi.
JOB 33:28 Thượng Đế khiến tôi sống lại từ cõi chết, và tôi sẽ tiếp tục tận hưởng cuộc đời.’
JOB 33:29 Thượng Đế làm điều nầy cho con người hai hoặc ba lần
JOB 33:30 để con người khỏi chết vì bị trừng phạt bởi tội mình, để cho người tận hưởng cuộc đời.
JOB 33:31 Gióp ơi, hãy để ý lắng tai nghe tôi; hãy im lặng, tôi sẽ lên tiếng.
JOB 33:32 Nếu anh có gì muốn nói, hãy trả lời tôi đi; hãy nói lên vì tôi muốn chứng tỏ anh đúng.
JOB 33:33 Còn nếu anh không có gì để nói thì hãy nghe tôi đây; hãy im lặng, tôi sẽ dạy khôn cho anh.”
JOB 34:1 Rồi Ê-li-hu tiếp tục diễn thuyết:
JOB 34:2 “Hỡi các người khôn, hãy nghe tôi nói: hãy lắng nghe tôi, hỡi những kẻ hiểu biết.
JOB 34:3 Lỗ tai thử lời nói, như lưỡi nếm thức ăn.
JOB 34:4 Chúng ta hãy cùng quyết định xem điều gì phải, và hãy học điều tốt.
JOB 34:5 Gióp bảo, ‘Tôi vô tội, Thượng Đế không chịu phân xử công bằng cho tôi.
JOB 34:6 Thay vì được phân xử công bình, tôi bị gọi là kẻ nói dối. Tôi đã bị tổn thương nặng nề, dù rằng tôi không hề phạm tội.’
JOB 34:7 Không ai giống như Gióp; uống sỉ nhục như nước lạnh.
JOB 34:8 Anh ta chơi với bọn làm ác, giao du với phường hung bạo
JOB 34:9 vì anh nói, ‘Làm Thượng Đế vui lòng có ích gì.’
JOB 34:10 Cho nên những ai thông hiểu hãy nghe tôi đây. Thượng Đế không bao giờ lầm lẫn! Đấng Toàn Năng không thể làm ác.
JOB 34:11 Thượng Đế báo trả cho mọi người theo điều họ làm, và đền bù tương xứng với hành vi của họ.
JOB 34:12 Thật vậy, Thượng Đế không hề sai lầm; Đấng Toàn Năng không bao giờ vặn vẹo điều công chính.
JOB 34:13 Không ai cử Thượng Đế cai quản khắp đất, hay đặt Ngài quản lý cả vũ trụ.
JOB 34:14 Nếu Thượng Đế quyết định, cất mạng sống hay hơi thở,
JOB 34:15 thì tất cả mọi người đều chết chung nhau, và trở thành bụi đất.
JOB 34:16 Nếu các anh hiểu biết, hãy nghe đây; hãy lắng nghe điều tôi nói.
JOB 34:17 Có quan cai trị nào mà ghét lẽ công bằng không? Làm sao anh trách móc Thượng Đế là Đấng công bằng và Toàn Năng?
JOB 34:18 Thượng Đế là Đấng nói với các vua, ‘Mấy anh là đồ vô dụng,’ hay bảo các kẻ quyền thế, ‘Các anh là đồ độc ác.’
JOB 34:19 Ngài không nể nang quan trưởng hay bất cứ ai, Ngài không trọng người giàu hơn người nghèo, vì chính Ngài dựng nên họ.
JOB 34:20 Họ có thể qua đời trong nháy mắt, ngay giữa đêm. Nếu họ bị đánh gục, họ tàn đời; người quyền thế cũng chết không phương cứu vãn.
JOB 34:21 Thượng Đế quan sát bước đi người; Ngài thấy mỗi bước họ đi.
JOB 34:22 Không có nơi tối tăm hay bóng tối nào mà kẻ ác có thể trốn khỏi mặt Ngài.
JOB 34:23 Ngài không cần định thời gian cho con người đến trước mặt Ngài để bị xét xử.
JOB 34:24 Ngài không cần phải hạch hỏi khi người ta làm quấy, Dù cho họ là kẻ có quyền thế. Ngài chỉ cần tiêu diệt họ và đặt người khác thế chỗ họ.
JOB 34:25 Vì Thượng Đế biết điều họ làm, Ngài đánh bại họ ban đêm, họ bị chà đạp.
JOB 34:26 Ngài trừng phạt họ về điều ác họ làm, để mọi người nhìn thấy,
JOB 34:27 Ngài làm như thế vì họ chống nghịch Ngài, và không thèm để ý đến đường lối Ngài.
JOB 34:28 Tiếng kêu của người nghèo đến tai Thượng Đế; Ngài nghe tiếng kêu xin của kẻ khốn cùng.
JOB 34:29 Nhưng nếu Thượng Đế cứ im lặng thì ai làm gì được Ngài? Nếu Ngài ẩn mặt, thì ai thấy được Ngài? Thượng Đế vẫn cai quản các quốc gia và con người.
JOB 34:30 Ngài không cho kẻ ác cai trị và để chúng đánh bẫy người khác.
JOB 34:31 Nhưng nếu có ai thưa với Thượng Đế, ‘Tôi có lỗi, tôi sẽ không phạm tội nữa.
JOB 34:32 Xin hãy dạy tôi điều tôi không thấy. Nếu tôi có làm gì sai, tôi sẽ không tái phạm.’
JOB 34:33 Cho nên, Gióp ơi, chẳng lẽ Thượng Đế thưởng anh theo điều anh muốn mà chính anh không chịu thay đổi? Chính anh phải quyết định, không phải tôi, cho nên hãy nói cho tôi điều anh biết.
JOB 34:34 Người khôn ngoan nghe tôi nói, kẻ hiểu biết bảo rằng,
JOB 34:35 ‘Gióp nói mà không biết điều mình nói có đúng không; lời nói của Gióp chứng tỏ mình không hiểu biết.’
JOB 34:36 Ước gì Gióp được thử thách đến cùng, vì Gióp trả lời như kẻ ác!
JOB 34:37 Bây giờ Gióp thêm tội chống nghịch Thượng Đế. Anh ta vỗ tay phản đối, càng ngày càng chống báng Ngài.”
JOB 35:1 Ê-li-hu nói tiếp:
JOB 35:2 “Gióp ơi, anh nói không đúng, Anh bảo, ‘Tôi phải hơn Thượng Đế,’
JOB 35:3 anh cũng nói, ‘Làm vui lòng Ngài thì ích lợi gì? Tôi không phạm tội cũng chẳng ích gì.’
JOB 35:4 Tôi sẽ trả lời anh và các bạn hữu anh.
JOB 35:5 Hãy nhìn lên trời, ngó các đám mây trên cao kia.
JOB 35:6 Nếu anh phạm tội thì chẳng thiệt hại gì cho Thượng Đế; dù cho tội lỗi anh đầy tràn, chúng chẳng làm gì cho Ngài;
JOB 35:7 Dù cho anh đạo đức, anh chẳng cho Thượng Đế được điều gì; Ngài chẳng nhận gì từ tay anh.
JOB 35:8 Đường lối ác độc của anh chỉ hại một người như anh thôi, còn điều tốt anh làm chỉ giúp được những con người khác.
JOB 35:9 Người ta kêu cứu khi gặp cảnh khốn khó; họ van xin kẻ quyền thế giúp đỡ.
JOB 35:10 Nhưng không ai hỏi, ‘Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa tôi, Đấng ban cho chúng tôi bài hát trong đêm,
JOB 35:11 Ngài tạo làm cho chúng ta khôn ngoan hơn mọi loài thú trên đất, và khôn hơn các loài chim trời.’
JOB 35:12 Thượng Đế không thèm trả lời kẻ ác khi họ kêu cứu, vì chúng nó tự phụ.
JOB 35:13 Ngài không thèm nghe tiếng van xin vô ích của chúng; Đấng Toàn Năng không thèm lưu ý tới chúng.
JOB 35:14 Ngài càng ít lưu ý tới anh, nếu anh nói anh không thấy Ngài, rằng trường hợp của anh ở trước mặt Ngài, rằng anh phải chờ đợi Ngài,
JOB 35:15 rằng cơn giận Ngài chưa trừng phạt, và Ngài không để ý đến điều ác.
JOB 35:16 Như thế Gióp chỉ nói nhảm, nói mà không biết mình nói gì.”
JOB 36:1 Ê-li-hu nói tiếp:
JOB 36:2 “Hãy nghe tôi thêm một chút nữa, còn nhiều điều mà Thượng Đế muốn tôi nói.
JOB 36:3 Điều tôi biết đến từ nơi xa. Tôi sẽ chứng tỏ Đấng Tạo Hóa của tôi đúng.
JOB 36:4 Anh có thể tin chắc rằng lời nói tôi không phải giả dối; người hiểu biết hiện đang có mặt với anh đây.
JOB 36:5 Thượng Đế rất quyền năng, nhưng Ngài không ghét con người; Ngài quyền năng và cũng rất khôn ngoan.
JOB 36:6 Ngài không để kẻ ác sống, nhưng bênh vực quyền của người nghèo.
JOB 36:7 Ngài luôn luôn trông nom người làm điều phải; Ngài đặt họ ngồi với vua chúa và họ được tôn trọng đời đời.
JOB 36:8 Nếu ai bị xiềng xích trói buộc, hoặc nếu tai ương ràng buộc họ như dây thừng,
JOB 36:9 thì Thượng Đế cho họ biết họ đã làm gì, hoặc họ đã phạm tội kiêu căng.
JOB 36:10 Ngài khiến họ nghe lời cảnh cáo của Ngài và truyền dặn họ từ bỏ điều ác.
JOB 36:11 Nếu họ vâng lời và phục vụ Ngài, thì đời họ sẽ thành công, và những năm tháng còn lại của họ sẽ phước hạnh.
JOB 36:12 Nhưng nếu họ không chịu nghe, thì họ sẽ bị tiêu diệt, và qua đời như kẻ ngu dại.
JOB 36:13 Những ai có tâm địa độc ác nuôi cơn giận. Dù khi bị Thượng Đế trừng phạt, họ không thèm cầu xin cứu giúp.
JOB 36:14 Họ chết lúc còn thanh xuân, đời họ kết thúc trong sỉ nhục.
JOB 36:15 Nhưng Thượng Đế cứu giúp kẻ đau khổ qua sự đau khổ của họ; Ngài khiến họ lắng nghe qua sự đau đớn mình.
JOB 36:16 Thượng Đế cũng đang dịu dàng đưa anh ra khỏi nanh vuốt khốn khổ, đến một chỗ khoảng khoát tự do, nơi Ngài bày ra cho anh cỗ bàn đầy cao lương mỹ vị.
JOB 36:17 Nhưng nay anh bị trừng phạt như kẻ ác; anh đang nhận công lý.
JOB 36:18 Hãy cẩn thận! Đừng để giàu sang kéo anh xa khỏi Thượng Đế; đừng để tiền bạc lôi cuốn anh.
JOB 36:19 Nhớ rằng của cải và sức mạnh cũng không thể cứu anh ra khỏi khốn khó được đâu.
JOB 36:20 Đừng trông mong bóng đêm khi người ta bị bắt ra khỏi nhà họ.
JOB 36:21 Hãy cẩn thận đừng quay theo điều ác, là điều anh có vẻ ham muốn hơn sự đau khổ.
JOB 36:22 Thượng Đế cao cả và quyền năng; không có giáo sư nào giống như Ngài.
JOB 36:23 Không ai hoạch định chương trình cho Ngài; cũng không ai dám nói với Thượng Đế, ‘Chúa làm bậy rồi.’
JOB 36:24 Hãy nhớ ca ngợi công việc Ngài, mà con người đã ca tụng bằng bài hát.
JOB 36:25 Ai cũng nhìn thấy công việc Ngài; người ta nhìn từ xa.
JOB 36:26 Thượng Đế rất cao cả, cao đến nỗi chúng ta không thể hiểu nổi! Không ai biết Ngài bao nhiêu tuổi.
JOB 36:27 Ngài làm cho các giọt nước bốc hơi lên khỏi đất biến chúng thành mưa.
JOB 36:28 Rồi mưa từ các đám mây trút xuống, mưa rào rơi trên mọi người.
JOB 36:29 Không ai hiểu được Thượng Đế giăng các đám mây như thế nào hoặc sai sấm chớp đến từ nơi Ngài ở ra sao.
JOB 36:30 Hãy xem Thượng Đế phân tán các lằn chớp quanh Ngài, soi sáng nơi sâu thẳm nhất của đại dương.
JOB 36:31 Đó là cách Thượng Đế quản trị các dân; đó là cách Ngài nuôi sống chúng ta.
JOB 36:32 Ngài nắm các lằn chớp trong tay và truyền nó đánh nơi nào tùy ý.
JOB 36:33 Sấm báo trước cơn giông sắp đến, cho đến thú vật cũng biết cơn giông đã gần kề.”
JOB 37:1 “Khi nghe tiếng sấm, tim tôi hồi hộp thiếu điều muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
JOB 37:2 Hãy nghe đây! Hãy nghe tiếng gầm của Thượng Đế và tiếng vang rền từ miệng Ngài.
JOB 37:3 Ngài thả chớp ra dưới cả bầu trời, và sai nó đánh chỗ xa xôi nhất của đất.
JOB 37:4 Sau đó anh nghe tiếng rền khi Ngài gầm lên. Ngài không giữ lại lằn chớp khi người ta nghe tiếng Ngài.
JOB 37:5 Tiếng của Thượng Đế vang rền kỳ diệu; Ngài làm nhiều điều lớn lao mà chúng ta không hiểu nổi.
JOB 37:6 Ngài phán cùng tuyết giá, ‘Hãy rơi xuống đất,’ và nói cùng mưa rào rằng, ‘Hãy mưa thật to.’
JOB 37:7 Dùng những hiện tượng đó Ngài ngăn cản công việc con người để ai nấy đều biết công việc của tay Thượng Đế.
JOB 37:8 Các thú vật tìm cách trú mưa ẩn trong các hang động của chúng.
JOB 37:9 Cơn giông từ nơi chứa chúng kéo đến; khí lạnh đến cùng với gió mạnh.
JOB 37:10 Hơi thở Thượng Đế tạo ra băng giá, làm khối nước lớn đóng băng.
JOB 37:11 Ngài làm cho mây chứa đầy nước và trải chớp ra giữa chúng nó.
JOB 37:12 Theo lệnh Ngài chúng bay vòng quanh trái đất, làm theo như ý Ngài muốn.
JOB 37:13 Ngài dùng mây để trừng phạt con người hoặc tưới đất để tỏ tình thương của Ngài.
JOB 37:14 Gióp ơi, hãy nghe đây: Hãy dừng lại và suy nghĩ đến các phép lạ của Thượng Đế.
JOB 37:15 Anh có biết Thượng Đế sắp đặt cho các đám mây và tạo sấm chớp như thế nào không?
JOB 37:16 Anh có biết mây treo trên bầu trời như thế nào không? Anh có biết các phép lạ của Thượng Đế là Đấng biết mọi điều không?
JOB 37:17 Anh chỉ biết đổ mồ hôi, còn áo quần dính vào người anh, khi mọi vật im lìm dưới gió nóng từ phương Nam thổi đến.
JOB 37:18 Anh không thể trải bầu trời ra như Thượng Đế và làm nó trông cứng như đồng đánh bóng.
JOB 37:19 Hãy cho chúng tôi biết phải nói gì với Ngài; chúng ta không thể chuẩn bị lý đoán vì không đủ hiểu biết.
JOB 37:20 Có ai bảo với Thượng Đế rằng tôi muốn nói chuyện với Ngài không? Nói như thế tức là xin tự tiêu hủy mình.
JOB 37:21 Không ai có thể nhìn mặt trời khi nó chiếu sáng giữa bầu trời sau khi gió đã thổi bay các đám mây.
JOB 37:22 Từ phương Bắc Thượng Đế ngự đến trên Núi Thánh, trong vẻ oai nghi rực rỡ.
JOB 37:23 Đấng Toàn Năng quá cao chúng ta với không tới. Ngài đầy quyền năng; Ngài luôn luôn đúng và không bao giờ đối xử bất công với ai.
JOB 37:24 Vì thế con người tôn trọng Ngài; Ngài không nể kẻ tự cho mình khôn ngoan.”
JOB 38:1 Bấy giờ từ giữa cơn giông CHÚA trả lời cho Gióp. Ngài bảo:
JOB 38:2 “Người nầy là ai mà làm mục đích ta lu mờ bằng những lời ngu dại?
JOB 38:3 Hãy tỏ ra mạnh bạo! Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi phải trả lời cho ta.
JOB 38:4 Khi ta đặt nền trái đất thì ngươi ở đâu? Nói đi, nếu ngươi biết.
JOB 38:5 Ai định kích thước cho nó? Chắc ngươi biết chứ? Ai giăng mực thước ngang qua nó?
JOB 38:6 Nền trái đất đặt trên vật gì? Ai đặt đá góc nền nó vào chỗ
JOB 38:7 trong khi sao mai cùng xướng hát và các thiên sứ reo vui?
JOB 38:8 Ai đóng cửa ngăn biển cả lại, khi nó bùng ra và khai sinh,
JOB 38:9 Lúc ta làm mây như cái áo mặc cho biển cả và bọc nó trong đám mây đen,
JOB 38:10 Lúc ta đặt giới hạn cho biển và dựng cửa cùng thanh gài vào vị trí.
JOB 38:11 Khi ta nói cùng biển rằng, ‘Mầy chỉ có thể đến đây thôi, không được đi xa hơn nữa, các lượn sóng kiêu ngạo của mầy phải dừng tại đây.’
JOB 38:12 Trong đời ngươi có khi nào ngươi ra lệnh cho bình minh xuất hiện, và chỉ cho ban mai bắt đầu lúc nào
JOB 38:13 để cho nó nắm lấy viền của đất và giũ kẻ ác ra khỏi đó?
JOB 38:14 Buổi sáng trái đất thay đổi như đất sét bị đóng ấn; đồi núi và thung lũng hiện ra như những lằn xếp của áo.
JOB 38:15 Kẻ ác không nhận được ánh sáng; chúng giơ tay lên để làm hại nhưng tay bị gãy.
JOB 38:16 Có khi nào ngươi đi đến tận nguồn biển cả, hay bước đi trong thung lũng sâu dưới biển chưa?
JOB 38:17 Cổng của thần chết đã mở ra cho ngươi chưa? Ngươi đã từng thấy cổng của vực thẳm đen tối chưa?
JOB 38:18 Ngươi có biết trái đất rộng bao nhiêu không? Nếu ngươi biết những điều đó thì nói cho ta đi.
JOB 38:19 Lối đi đến nơi ở của ánh sáng là đâu, và bóng tối ở chỗ nào?
JOB 38:20 Ngươi có mang chúng về chỗ chúng ở được không? Ngươi có biết đường về nhà chúng không?
JOB 38:21 Chắc chắn ngươi biết nếu ngươi sinh ra vào lúc đó! Ngươi sống được bao nhiêu năm?
JOB 38:22 Ngươi có từng đi vào nơi chứa tuyết hay vào kho mưa đá,
JOB 38:23 mà ta đã để dành cho kỳ khốn khó, cho ngày chiến tranh và giao đấu chưa?
JOB 38:24 Ánh sáng bắt nguồn từ đâu? Gió đông thổi qua đất phát xuất từ chỗ nào?
JOB 38:25 Ai cắt thủy đạo cho mưa lớn và vạch đường cho giông bão?
JOB 38:26 Ai tưới vùng đất không người ở, nơi sa mạc vắng tanh?
JOB 38:27 Ai sai mưa đến để thấm nhuần đất bỏ hoang để cỏ xanh bắt đầu mọc?
JOB 38:28 Mưa có cha không? Ai sinh ra các giọt sương?
JOB 38:29 Ai là mẹ của nước đá? Ai sinh ra tuyết giá từ trời
JOB 38:30 khi nước trở thành cứng như đá, và mặt biển đông đặc lại?
JOB 38:31 Ngươi có thể buộc các chùm sao Rua hay mở dây cho sao Cày không?
JOB 38:32 Ngươi có thể mang các chòm sao ra đúng giờ hay dẫn các sao Đại hùng tinh với các con của nó không?
JOB 38:33 Ngươi có biết luật lệ của trời và hiểu phép tắc của đất không?
JOB 38:34 Ngươi có thể nào ra lệnh cho mây và phủ mình bằng dòng nước lụt không?
JOB 38:35 Ngươi có thể nào sai sấm chớp ra đi không? Chúng có cần đến với ngươi và thưa, ‘Dạ, chúng tôi đây’?
JOB 38:36 Ai đặt sự thông minh trong trí và hiểu biết trong lòng?
JOB 38:37 Ai có đủ khôn ngoan để đếm các đám mây? Làm cho nó nghiêng để nó đổ nước xuống từ trời
JOB 38:38 khi bụi đất trở nên cứng và các tảng đất dính vào nhau?
JOB 38:39 Ngươi có đi săn mồi cho sư tử cái để nuôi con nó
JOB 38:40 trong khi chúng nằm trong hang hay ẩn trong bụi sẵn sàng nhảy bổ ra?
JOB 38:41 Ai nuôi các chim trời khi con nó kêu la cùng Thượng Đế và đi lang thang vì không có thức ăn?”
JOB 39:1 “Ngươi có biết mùa nào dê núi sinh sản không? Ngươi có nhìn nai mẹ sinh ra nai con chưa?
JOB 39:2 Ngươi có đếm được số tháng cho đến ngày nó sinh và biết đúng lúc nó sinh con không?
JOB 39:3 Nó nằm xuống, sinh con ra rồi hết đau đẻ.
JOB 39:4 Các con nó lớn mạnh trong vùng hoang dã. Rồi rời tổ, không trở về nữa.
JOB 39:5 Ai thả cho lừa hoang chạy rông? Ai tháo dây cho nó?
JOB 39:6 Ta là Đấng ban sa mạc làm nơi ở cho lừa hoang; Ta ban đất sa mạc cho nó sinh sống.
JOB 39:7 Con lừa hoang chê cười nơi huyên náo của chốn thị thành, và không nghe tiếng hò hét của kẻ đánh xe.
JOB 39:8 Nó rảo khắp núi đồi tìm đồng cỏ, tìm thứ cỏ non xanh ăn được.
JOB 39:9 Liệu con bò rừng có chịu phục vụ ngươi, và đứng quanh quẩn cạnh máng ăn lúc ban đêm không?
JOB 39:10 Ngươi có thể nào buộc dây cương để bắt nó đi theo luống cày để nó cày ruộng cho ngươi không?
JOB 39:11 Ngươi có nhờ cậy nổi sức lực của bò rừng để nó gánh vác việc nhọc nhằn cho ngươi không?
JOB 39:12 Ngươi có trông cậy vào con bò để chở thóc gạo và mang đến sân đập lúa của ngươi không?
JOB 39:13 Chim đà điểu đập cánh vui mừng, nhưng lông của nó không giống lông con cò.
JOB 39:14 Nó đẻ trứng trên mặt đất, rồi ấp bằng cát.
JOB 39:15 Mà không hề nghĩ rằng có thể có bàn chân đạp lên đè nát trứng; Nó không hề biết có thể thú vật dẫm lên đó.
JOB 39:16 Chim đà điểu rất hung bạo đối với con nó, như thể không phải con mình. Nó không quan tâm đến công sức đã bỏ ra,
JOB 39:17 vì Thượng Đế không cho nó trí khôn; Ngài không ban cho nó hiểu biết thông thường.
JOB 39:18 Nhưng khi nó chỗi dậy phóng chạy, thì nó chạy rất nhanh, đến nỗi nó cười chê cả ngựa lẫn người cỡi.
JOB 39:19 Gióp ơi, có phải ngươi ban sức mạnh cho ngựa và đặt cái bờm trên lưng nó không?
JOB 39:20 Có phải ngươi khiến cho ngựa nhảy như cào cào không? Nó khịt một tiếng làm ngươi ta hoảng sợ.
JOB 39:21 Nó dậm chân, tận dụng sức lực và lao vào chiến trận.
JOB 39:22 Nó coi thường nỗi sợ hãi và không e ngại điều gì; gươm không làm nó hoảng sợ.
JOB 39:23 Bên hông nó, tiếng ống tên nghe lọc cọc, cùng với gươm giáo sáng loáng dưới ánh mặt trời.
JOB 39:24 Nó hăng say phóng trên đất; khi nghe tiếng kèn thổi nó không chịu đứng yên.
JOB 39:25 Khi kèn thổi lên nó hí lớn, ‘A ha!’ Nó đánh mùi chiến trường từ xa; Nó nghe tiếng người chỉ huy và tiếng hò la xung trận.
JOB 39:26 Có phải nhờ khôn ngoan ngươi mà chim ó bay được và giương cánh bay về phương Nam?
JOB 39:27 Có phải ngươi ra lệnh cho chim diều hâu bay và làm tổ trên cao?
JOB 39:28 Nó ở trên các ghềnh đá cao và ngủ ở đó suốt đêm; chỏm đá là nơi trú ẩn an toàn của nó.
JOB 39:29 Từ đó nó tìm mồi; mắt nó rất tinh có thể thấy từ xa.
JOB 39:30 Các con nó ăn huyết; xác chết ở đâu, diều hâu tụ lại đó.”
JOB 40:1 Rồi CHÚA nói cùng Gióp:
JOB 40:2 “Kẻ tranh luận với Đấng Toàn Năng sẽ chỉnh Ngài chăng? Người nào cáo trách Thượng Đế hãy trả lời với Ngài.”
JOB 40:3 Sau đó Gióp thưa với CHÚA:
JOB 40:4 “Tôi chẳng ra gì; tôi không thể đối đáp gì với Ngài, nên tôi sẽ lấy tay che miệng.
JOB 40:5 Tôi nói một lần nhưng sẽ không nói nữa. Tôi nói hai lần, nhưng chẳng có gì để thêm.”
JOB 40:6 Rồi từ giữa cơn giông CHÚA nói cùng Gióp:
JOB 40:7 “Hãy nai nịt ngươi! Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi phải trả lời cho ta.
JOB 40:8 Có phải ngươi bảo rằng ta bất công chăng? Có phải ngươi oán trách ta để ta khiến cho ngươi hoá ra công chính chăng?
JOB 40:9 Ngươi có mạnh bằng Thượng Đế không? Giọng ngươi có gầm thét được như giọng Ngài không?
JOB 40:10 Nếu được, hãy điểm tô ngươi bằng vinh hiển và sắc đẹp; lấy vinh dự và uy nghi mặc vào.
JOB 40:11 Hãy trút cơn thịnh nộ ngươi ra; hãy nhìn kẻ tự phụ và hạ chúng xuống.
JOB 40:12 Hãy nhìn kẻ kiêu căng và khiến chúng nhún nhường. Hãy đè bẹp kẻ ác.
JOB 40:13 Hãy chôn vùi chúng chung nhau trong bụi đất; phủ mặt chúng trong mồ mả.
JOB 40:14 Nếu ngươi làm được chuyện đó, chính ta đây sẽ ca ngợi ngươi, vì ngươi đủ mạnh để tự cứu mình.
JOB 40:15 Hãy nhìn con bê-hê-mốt, mà ta đã tạo nên như ta đã tạo ngươi. Nó ăn cỏ như bò.
JOB 40:16 Hãy nhìn sức lực trong thân thể nó; bắp thịt trong bao tử nó vô cùng mạnh.
JOB 40:17 Đuôi nó mạnh như cây hương nam, các bắp thịt trong đùi nó đan tréo nhau.
JOB 40:18 Xương nó như ống đồng; chân nó như thanh sắt.
JOB 40:19 Nó là một trong những công trình đầu tiên của Thượng Đế, nhưng Đấng Tạo Hoá có thể tiêu diệt nó.
JOB 40:20 Núi đồi, nơi các muôn thú nô đùa, làm thức ăn cho nó.
JOB 40:21 Nó nằm dưới các cây sen, ẩn trong các bụi lác cao nơi đầm lầy.
JOB 40:22 Các cây sen làm bóng che nó, các cây bạch dương nơi dòng suối bao quanh nó.
JOB 40:23 Nếu sông ngòi làm lụt lội, nó chẳng sợ; dù sông Giô-đanh tràn đến miệng nó vẫn ung dung.
JOB 40:24 Có ai bịt được mắt nó để bắt nó không? Có ai dám lấy vòng xỏ mũi nó không?”
JOB 41:1 “Ngươi có thể nào câu con lê-vi-a-than hay lấy dây buộc lưỡi nó không?
JOB 41:2 Ngươi có thể nào lấy dây xỏ mũi nó hay móc hàm nó không?
JOB 41:3 Liệu nó có van xin ngươi thương xót và ăn nói ngon ngọt với ngươi không?
JOB 41:4 Nó có bằng lòng kết ước với ngươi để ngươi bắt nó làm tôi mọi trọn đời không?
JOB 41:5 Ngươi có thể nào nuôi lê-vi-a-than như nuôi chim trong nhà hay buộc dây cho con gái nhỏ ngươi dắt đi chơi không?
JOB 41:6 Các lái buôn có bằng lòng thương lượng với ngươi để mua nó, để họ chia chác với nhau không?
JOB 41:7 Ngươi có thể nào phóng lao vào da nó hay lấy gươm đâm thủng đầu nó không?
JOB 41:8 Nếu ngươi đặt tay trên nó, ngươi sẽ nhớ cuộc giao tranh, ngươi sẽ chẳng dám bao giờ làm như thế nữa.
JOB 41:9 Chẳng có hi vọng gì thắng được nó, chỉ cần nhìn nó áp đảo người ta.
JOB 41:10 Không ai dám chọc giận nó, vậy ai dám đối đầu với ta?
JOB 41:11 Không ai cho ta điều gì để ta phải trả lại, vì mọi vật ở dưới trời đều thuộc về ta.
JOB 41:12 Ta sẽ nói về tứ chi con lê-vi-a-than, sức mạnh vô song và thân hình cân đối của nó.
JOB 41:13 Không ai có thể xé da nó hay chọc thủng lớp áo giáp bọc nó.
JOB 41:14 Không ai có thể mở banh hàm vĩ đại của nó; trong hàm đầy răng nhọn ghê rợn.
JOB 41:15 Nó có hàng dãy khiên trên lưng nó bám sát vào nhau.
JOB 41:16 Mỗi cái khiên đều sát nhau, đến nỗi không khí không qua được.
JOB 41:17 Chúng nối vào nhau thật chắc; đến nỗi không thể tách rời được.
JOB 41:18 Khi nó khịt mũi, tia sáng phun ra, mắt nó giống như ánh bình minh.
JOB 41:19 Lửa phun ra từ miệng nó; tia lửa bắn ra.
JOB 41:20 Khói xịt ra từ mũi nó, như hơi ra từ một nồi lớn đặt trên lửa nóng.
JOB 41:21 Hơi thở nó đốt cháy than, lửa phun ra từ miệng nó.
JOB 41:22 Cổ nó rất chắc. Người ta sợ nó và bỏ chạy.
JOB 41:23 Các lằn xếp trên da nó kết chặt với nhau; xếp cứng lại không thể di động được.
JOB 41:24 Ngực nó cứng như đá, cứng như đá cối xay.
JOB 41:25 Kẻ thế lực cũng sợ cái nhìn khủng khiếp của nó và run rẩy giật lùi khi nó di chuyển.
JOB 41:26 Gươm đâm nhưng nó không hề hấn gì, cả đến tên, lao, hay giáo cũng vậy.
JOB 41:27 Nó xem sắt như rơm rạ và xem đồng như gỗ mục.
JOB 41:28 Nó không chạy trốn khỏi mũi tên; Các viên đá bắn vào nó chẳng khác nào trấu đối với nó.
JOB 41:29 Cái dùi cui đối với nó như rác rưởi, và nó cười khì khi người ta phóng lao vào nó.
JOB 41:30 Bụng nó như bình gốm bể. Nó để lại lối đi trên bùn như trên bàn đạp lúa.
JOB 41:31 Nó làm cho biển sâu sủi bọt như nồi nước sôi; nó khuấy động biển như chảo dầu.
JOB 41:32 Khi nó bơi, nó để lại đường sáng trong nước khiến biển giống như ra tóc bạc.
JOB 41:33 Không gì trên đất sánh với nó được; nó là con thú không biết sợ ai cả.
JOB 41:34 Nó xem thường kẻ tự phụ; nó là vua các loài thú kiêu căng.”
JOB 42:1 Sau đó Gióp thưa với CHÚA:
JOB 42:2 “Tôi biết Ngài có thể làm mọi điều, không có chương trình nào của Ngài bị hư hỏng.
JOB 42:3 Ngài hỏi, ‘Người nầy là ai mà làm cho mục đích ta lu mờ bằng cách nói nhảm?’ Thật vậy tôi đã nói những điều tôi không hiểu biết; Tôi nói đến những điều kỳ diệu quá không hiểu nổi.
JOB 42:4 Ngài nói, ‘Nghe đây, ta sẽ nói. Ta sẽ hỏi ngươi, ngươi phải trả lời cho ta.’
JOB 42:5 Trước đây tôi có nghe về Ngài, nhưng nay mắt tôi đã thấy Ngài.
JOB 42:6 Cho nên tôi lấy làm xấu hổ; Tôi sẽ thay đổi lòng và nếp sống, và ngồi trong tro bụi.”
JOB 42:7 Sau khi CHÚA nói những lời ấy với Gióp thì Ngài bảo Ê-li-pha, người Thê-man, “Ta giận ngươi và hai bạn ngươi vì các ngươi không nói đúng về ta như Gióp, kẻ tôi tớ ta.
JOB 42:8 Bây giờ hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực rồi đi đến Gióp, kẻ tôi tớ ta, để dâng của lễ thiêu cho các ngươi. Gióp, kẻ tôi tớ ta sẽ cầu nguyện cho các ngươi, ta sẽ nghe lời người và ta sẽ không trừng phạt sự dại dột của các ngươi. Các ngươi đã không nói đúng về ta như Gióp, kẻ tôi tớ ta.”
JOB 42:9 Vậy Ê-li-pha, người Thê-man, Binh-đát, người Su-ha, và Xô-pha người Na-a-mát làm theo như CHÚA bảo. Ngài nghe lời cầu nguyện của Gióp.
JOB 42:10 Sau khi Gióp cầu nguyện cho các bạn mình thì CHÚA ban phước cho ông trở lại. Ngài ban cho ông gấp đôi những điều ông có trước.
JOB 42:11 Các anh chị em đến thăm Gióp cùng với những người biết ông trước đây, rồi cùng ăn chung với ông. Họ an ủi ông và làm vơi bớt nỗi khổ mà CHÚA mang đến cho ông. Mỗi người cho Gióp một miếng bạc và một cái vòng vàng.
JOB 42:12 CHÚA ban phước cho chuỗi đời còn lại của Gióp nhiều hơn lúc đầu. Gióp có mười bốn ngàn chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò, và một ngàn lừa cái.
JOB 42:13 Gióp cũng có bảy con trai và ba con gái.
JOB 42:14 Ông đặt tên cô con gái đầu là Giê-mi-ma, cô thứ nhì là Kê-xia, và cô thứ ba là Kê-ren Háp-phúc.
JOB 42:15 Toàn xứ không có thiếu nữ nào đẹp bằng các con gái của Gióp. Cha các cô cho các cô đó tài sản cũng như các anh mình.
JOB 42:16 Sau đó, Gióp sống được một trăm bốn mươi năm. Ông nhìn thấy con, cháu, chắt, chít mình.
JOB 42:17 Rồi Gióp qua đời; cao tuổi và sống lâu.
PSA 1:1 Phúc cho người nào không nghe lời kẻ ác, không bước trong nẻo tội nhân, chẳng làm như kẻ xấc láo.
PSA 1:2 Nhưng yêu mến lời dạy của CHÚA, và suy tư lời ấy đêm ngày.
PSA 1:3 Họ lớn mạnh như cây mọc cạnh suối nước, sinh hoa quả đúng mùa, lá chẳng khô héo. Mọi việc họ làm đều thành công.
PSA 1:4 Kẻ ác chẳng được như thế. Chúng giống như trấu bị gió thổi bay tứ tung.
PSA 1:5 Cho nên kẻ ác sẽ chẳng thoát khỏi sự trừng phạt của Thượng Đế. Tội nhân cũng không thể nào thờ phụng chung với dân CHÚA.
PSA 1:6 Vì CHÚA chăm sóc con dân Ngài, còn kẻ ác sẽ bị tiêu diệt.
PSA 2:1 Tại sao các quốc gia nổi giận, và dân chúng lập mưu vô ích?
PSA 2:2 Các vua trên đất chuẩn bị chiến đấu, mọi lãnh tụ âm mưu cùng nhau chống lại CHÚA và vua được Ngài bổ nhiệm.
PSA 2:3 Họ bảo, “Chúng ta hãy bẻ xiềng trói và ném bỏ các dây buộc chúng ta.”
PSA 2:4 Nhưng Đấng ngự trên trời cười; CHÚA chế nhạo họ.
PSA 2:5 Rồi Ngài khiển trách họ và dùng cơn giận Ngài làm chúng hoảng sợ.
PSA 2:6 Ngài bảo, “Ta đã chỉ định vua ta trị vì tại Giê-ru-sa-lem, trên Xi-ôn là núi thánh ta.”
PSA 2:7 Bây giờ ta sẽ cho các ngươi biết điều CHÚA đã phán: Ngài nói cùng ta, “Con là con ta. Ngày nay ta sinh ra con.
PSA 2:8 Nếu con xin, ta sẽ cho con các quốc gia; mọi dân trên đất sẽ thuộc về con.
PSA 2:9 Con sẽ cai trị họ bằng một cây roi sắt. Con sẽ đập nát chúng như đồ gốm.”
PSA 2:10 Cho nên, các vua ơi, hãy khôn ngoan, các quan quyền ơi, hãy học bài nầy.
PSA 2:11 Hãy kính sợ và vâng phục Thượng Đế. Hãy run sợ mà phục vụ Ngài.
PSA 2:12 Hãy tỏ lòng trung thành với con Ngài, nếu không Ngài sẽ nổi giận tiêu diệt các ngươi vì Ngài rất dễ nóng giận. Nhưng phúc cho người nào nhờ cậy Ngài bảo vệ mình.
PSA 3:1 Đa-vít hát bài nầy khi đang chạy trốn khỏi Áp-xa-lôm, con trai mình. CHÚA ôi, kẻ thù tôi quá đông! Vô số người chống lại tôi.
PSA 3:2 Nhiều người nói về tôi rằng, “Thượng Đế sẽ không giải cứu hắn đâu.” Xê-la
PSA 3:3 CHÚA ôi, xin hãy đứng dậy! Ngài là cái thuẫn đỡ cho tôi, Thượng Đế kỳ diệu của tôi giúp tôi thêm can đảm.
PSA 3:4 Tôi sẽ cầu nguyện CHÚA, từ núi thánh Ngài sẽ trả lời tôi. Xê-la
PSA 3:5 Tôi nằm xuống ngủ rồi thức dậy vì CHÚA ban thêm sức cho tôi.
PSA 3:6 Hàng ngàn quân thù vây quanh tôi, nhưng tôi không sợ.
PSA 3:7 Lạy CHÚA, xin đứng dậy! Thượng Đế tôi ơi, xin đến cứu tôi! Ngài tát vào má kẻ thù tôi; Ngài bẻ hết răng kẻ ác.
PSA 3:8 Sự đắc thắng thuộc về Ngài. Lạy CHÚA, xin ban phước cho dân Ngài. Xê-la
PSA 4:1 Soạn cho nhạc trưởng. Dùng với nhạc cụ bằng dây. Thi thiên của Đa-vít. Lạy CHÚA là Đấng làm điều ngay thẳng, xin đáp lời khi tôi khẩn cầu Ngài. Khi tôi lâm nguy, xin giải cứu tôi. Xin thương xót tôi và nghe lời cầu nguyện của tôi.
PSA 4:2 Nầy các ngươi, các ngươi sẽ biến vinh dự ta ra điều hổ nhục trong bao lâu nữa? Các ngươi sẽ yêu mến và chạy theo điều giả dối vô ích cho đến bao giờ? Xê-la
PSA 4:3 Các ngươi biết CHÚA đã chọn cho mình những kẻ trung thành. CHÚA sẽ nghe khi tôi khẩn cầu cùng Ngài.
PSA 4:4 Lúc ngươi đang nổi giận thì chớ phạm tội. Đang khi nằm trên giường ngủ hãy thầm lặng suy nghĩ những điều đó. Xê-la
PSA 4:5 Hãy dâng của lễ phải lẽ cho Thượng Đế và nhờ cậy Ngài.
PSA 4:6 Nhiều người hỏi, “Ai sẽ cho chúng ta điều tốt đẹp?” Lạy CHÚA, xin ban phúc lành cho chúng tôi.
PSA 4:7 Ngài khiến tôi hết sức vui mừng, vui hơn những kẻ khác vào mùa gặt, lúc họ đang dồi dào ngũ cốc và rượu mới.
PSA 4:8 Tôi nằm ngủ yên giấc, vì CHÚA ơi, chỉ một mình Ngài giữ cho tôi được an toàn.
PSA 5:1 Soạn cho nhạc trưởng. Dùng với sáo. Thi thiên của Đa-vít. CHÚA ôi, xin hãy nghe tiếng tôi khẩn cầu. Xin hiểu nỗi buồn thảm của tôi.
PSA 5:2 Xin nghe tiếng kêu cứu của tôi, lạy Vua là Thượng Đế tôi vì tôi khẩn nguyện cùng Ngài.
PSA 5:3 Lạy CHÚA, mỗi sáng Ngài nghe tiếng tôi. Mỗi sáng tôi dâng lên lời khẩn xin cùng Ngài và chờ đợi Ngài trả lời.
PSA 5:4 Ngài là Thượng Đế không thích điều ác; Ngài không chịu được kẻ làm ác.
PSA 5:5 Những kẻ ngu dại không thể đứng trước mặt Ngài. Ngài ghét mọi kẻ làm ác.
PSA 5:6 Ngài diệt những kẻ nói dối; CHÚA ghét bọn giết người và kẻ lường gạt người khác.
PSA 5:7 Vì lòng yêu thương lớn lao của CHÚA, tôi có thể đến trong đền thờ Ngài. Vì tôi kính sợ CHÚA nên tôi có thể thờ phụng trong đền thánh Ngài.
PSA 5:8 Lạy CHÚA, vì kẻ thù tôi rất đông, xin chỉ cho tôi biết cách hành động. Xin cho tôi biết rõ phải sống thế nào để đẹp lòng Ngài.
PSA 5:9 Môi miệng kẻ thù tôi không hề biết nói thật; trong lòng chúng nó lúc nào cũng muốn hại người khác. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; chúng dùng lưỡi để lường gạt người khác.
PSA 5:10 Lạy CHÚA xin lên án chúng nó! Hãy cho chúng nó tự rơi vào chính bẫy mình giăng ra. Hãy đuổi chúng nó đi vì chúng phạm tội quá nhiều; chúng đã chống nghịch Ngài.
PSA 5:11 Nhưng xin hãy cho những ai tin cậy Ngài được vui sướng; để họ hát mừng mãi mãi. Xin hãy bảo vệ những người yêu mến Ngài để họ vui thích trong Ngài.
PSA 5:12 Lạy CHÚA, Ngài ban phúc cho những ai làm theo lẽ phải; Ngài bảo vệ họ như cái thuẫn đỡ của chiến sĩ.
PSA 6:1 Soạn cho nhạc trưởng. Dùng với nhạc khí bằng dây. Theo điệu sê-mi-nít. Thi thiên của Đa-vít. CHÚA ôi, xin đừng sửa trị tôi trong khi Ngài nổi giận; xin đừng trừng phạt tôi khi Ngài đang thịnh nộ.
PSA 6:2 Lạy CHÚA, xin thương xót tôi, vì tôi đuối sức. CHÚA ôi, xin chữa lành tôi, vì xương cốt tôi run rẩy.
PSA 6:3 Tôi rất lo sợ, CHÚA ôi, chừng nào thì Ngài sẽ chữa lành cho tôi?
PSA 6:4 Lạy CHÚA xin trở lại giải cứu tôi; hãy cứu tôi vì lòng nhân từ của CHÚA.
PSA 6:5 Kẻ chết không nhớ đến CHÚA đâu; người nằm trong mồ làm sao ca ngợi CHÚA được?
PSA 6:6 Tôi mệt mỏi vì than vãn cùng Ngài. Mỗi đêm tôi khóc ướt giường tôi; dầm nó trong nước mắt.
PSA 6:7 Mắt tôi mờ vì kêu khóc; lòa vì than khóc kẻ thù tôi.
PSA 6:8 Hỡi những kẻ làm ác hãy đi khỏi ta vì CHÚA đã nghe tiếng kêu than ta.
PSA 6:9 CHÚA đã nghe tiếng kêu cứu của ta; CHÚA sẽ đáp lời cầu nguyện ta.
PSA 6:10 Các kẻ thù tôi sẽ xấu hổ và lo sợ. Chúng nó sẽ bất thần bỏ đi vì nhục nhã.
PSA 7:1 Bài ca của Đa-vít theo điệu Si-gai. Ông hát bài nầy cho CHÚA về vụ Cút, người Bên-gia-min. Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, tôi trông cậy Ngài che chở tôi. Xin giải cứu tôi khỏi các kẻ đang rượt đuổi tôi.
PSA 7:2 Nếu không chúng nó sẽ xé xác tôi như sư tử. Chúng sẽ phanh thây tôi, không ai cứu giúp.
PSA 7:3 Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi ôi, tôi đã làm gì? Tay tôi có làm gì quấy không?
PSA 7:4 Tôi có đối xử bất công với bạn hữu tôi hay vô cớ ăn cắp đồ của kẻ thù tôi không?
PSA 7:5 Nếu tôi có làm những điều ấy thì cầu cho kẻ thù tôi rượt theo bắt được tôi. Mong cho nó chà đạp tôi dưới cát bụi và chôn vùi tôi xuống đất đen. Xê-la
PSA 7:6 Lạy CHÚA, xin hãy nổi thịnh nộ đứng dậy; chống lại cơn giận của kẻ thù tôi. Thượng Đế tôi ơi, xin hãy đứng dậy và định ngày xét xử.
PSA 7:7 Xin hãy nhóm họp các dân lại quanh Ngài và trên ngôi cao từ trời xét xử chúng.
PSA 7:8 Lạy CHÚA xin hãy xét xử các dân. Lạy CHÚA, xin bênh vực tôi vì tôi làm điều phải, Lạy Thượng Đế tối cao, tôi không làm điều gì quấy.
PSA 7:9 Lạy Thượng Đế, Ngài luôn luôn làm điều phải. Ngài biết tư tưởng và cảm nghĩ của lòng chúng tôi. Xin hãy ngăn chận hành vi kẻ ác và cứu giúp kẻ làm điều phải.
PSA 7:10 Thượng Đế che phủ tôi như cái thuẫn đỡ; Ngài cứu những kẻ có lòng ngay thật.
PSA 7:11 Thượng Đế phân xử theo lẽ công bằng, Ngài luôn sẵn sàng trừng phạt kẻ ác.
PSA 7:12 Nếu kẻ ác không ăn năn, thì Thượng Đế sẽ mài gươm; Ngài đã giương cung và nhắm.
PSA 7:13 Ngài đã chuẩn bị các khí giới độc hại; và chế tên lửa.
PSA 7:14 Có những kẻ âm mưu điều ác, gieo rối loạn và tung lời láo khoét.
PSA 7:15 Chúng đào hố để kẻ khác sụp, nhưng chính mình lại rơi vào đó.
PSA 7:16 Chính chúng sẽ lâm vào cảnh khốn đốn; sự hung ác mà chúng gây ra sẽ trở lại gây hại cho chúng.
PSA 7:17 Tôi ca ngợi CHÚA vì Ngài làm điều công bằng. Tôi ca tụng Thượng Đế Chí cao.
PSA 8:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu ghi-tít. Thi thiên của Đa-vít. Lạy CHÚA là chủ tôi, danh CHÚA thật diệu kỳ trên khắp đất! Danh đó khiến trời cao ca ngợi Ngài.
PSA 8:2 Vì cớ kẻ thù nên Ngài dạy cho trẻ thơ và hài nhi ca ngợi Ngài để chúng bị câm miệng và để diệt những kẻ định báo thù.
PSA 8:3 Tôi nhìn bầu trời do tay Ngài tạo nên. Tôi ngắm mặt trăng và các ngôi sao mà Ngài đã dựng nên.
PSA 8:4 Thì con người là gì mà Ngài bận tâm? Tại sao CHÚA chăm sóc loài người?
PSA 8:5 CHÚA tạo nên con người dưới thiên sứ một chút rồi ban cho người vinh hiển và danh dự.
PSA 8:6 Ngài đặt con người quản trị mọi loài Ngài đã tạo dựng. Ngài đặt mọi vật dưới quyền kiểm soát của con người:
PSA 8:7 tất cả chiên cừu, gia súc, muông thú,
PSA 8:8 chim trời, cá biển và mọi sinh vật trong biển.
PSA 8:9 Lạy CHÚA là chủ tôi, danh CHÚA thật diệu kỳ trên khắp đất!
PSA 9:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Cái chết của Con.” Thi thiên của Đa-vít. Lạy CHÚA, tôi sẽ hết lòng ca ngợi Ngài. Tôi sẽ thuật lại các phép lạ Ngài đã làm.
PSA 9:2 Tôi sẽ vui mừng vì Ngài; lạy Thượng Đế Chí Cao, tôi sẽ ca ngợi danh Ngài.
PSA 9:3 Các kẻ thù tôi lùi lại; vì cớ Ngài chúng bị vây khốn và tiêu diệt.
PSA 9:4 Ngài đã nghe lời than vãn của tôi; Ngài ngự trên ngôi và phân xử công bằng cho tôi.
PSA 9:5 CHÚA quở trách các quốc gia và tiêu diệt kẻ ác; Ngài vĩnh viễn xóa sạch tên chúng nó.
PSA 9:6 Kẻ thù tôi bị tiêu diệt đời đời. Ngài hủy phá thành của chúng nó; không ai còn nhớ đến chúng nữa.
PSA 9:7 Nhưng CHÚA ngự trị đến muôn đời. Ngài ngự trên ngôi và phân xử,
PSA 9:8 dùng lẽ công bằng phân xử thế gian; Ngài sẽ phân xử chính trực cho mọi dân.
PSA 9:9 CHÚA bênh vực kẻ khốn khổ; Ngài bênh vực họ khi họ lâm cảnh khốn cùng.
PSA 9:10 Những ai biết uy danh CHÚA sẽ đặt lòng tin cậy nơi Ngài vì Ngài không xua đuổi kẻ tìm kiếm Ngài.
PSA 9:11 Hãy ca ngợi CHÚA là vua ngự trên núi Xi-ôn. Hãy thuật cho các dân biết những việc lớn lao Ngài làm.
PSA 9:12 Ngài ghi nhớ kẻ giết người; Ngài không quên tiếng kêu của kẻ khốn cùng.
PSA 9:13 Lạy CHÚA, xin thương xót tôi. Hãy xem kẻ thù hại tôi biết bao nhiêu. Đừng để tôi đi qua cổng chết.
PSA 9:14 Rồi tại cửa thành Giê-ru-sa-lem, tôi sẽ ca ngợi Ngài; tôi sẽ vui mừng vì Ngài đã cứu tôi.
PSA 9:15 Các dân rơi vào hố chúng đã đào. Chân chúng vướng phải lưới chúng đã giăng.
PSA 9:16 CHÚA đã tỏ mình qua những phán quyết công bình của Ngài; kẻ ác bị sập bẫy do điều chúng làm. Hi-gai-on Xê-la
PSA 9:17 Kẻ ác đi xuống mồ và những ai quên CHÚA cũng vậy.
PSA 9:18 Nhưng những kẻ khốn cùng sẽ không bị quên lãng. Hi vọng của kẻ nghèo không bao giờ tiêu mất.
PSA 9:19 Lạy CHÚA, xin đứng dậy phân xử các nước. Đừng để các dân tưởng mình mạnh mẽ.
PSA 9:20 Lạy CHÚA, xin hãy dạy họ kính sợ Ngài. Các dân nên biết rằng mình chẳng qua chỉ là người phàm. Xê-la
PSA 10:1 CHÚA ôi, sao Ngài đứng xa? Trong khi tôi gặp khốn khó, sao Ngài lánh mặt đi?
PSA 10:2 Kẻ ác hung hăng rượt đuổi người khốn khổ. Cầu cho chúng nó sập bẫy chúng giăng ra.
PSA 10:3 Chúng nó khoe khoang về lòng tham muốn mình. Chúng chúc phước cho kẻ tham lam nhưng ghét Thượng Đế.
PSA 10:4 Kẻ ác quá sức kiêu căng. Chúng không bao giờ tìm kiếm Thượng Đế. Trong đầu chúng không có chỗ nào cho CHÚA.
PSA 10:5 Chúng luôn luôn thành công, Sự xét đoán của CHÚA cao quá điều hiểu biết của chúng; chúng chế diễu kẻ thù mình.
PSA 10:6 Rồi tự nhủ, “Sẽ không có tai họa gì xảy đến cho ta; ta sẽ chẳng bao giờ bị tàn hại.”
PSA 10:7 Môi miệng chúng nó đầy lời chửi rủa, dối trá và đe dọa; chúng dùng lưỡi mình để phạm tội và làm điều ác.
PSA 10:8 Chúng lẩn khuất ở các làng mạc, tìm người vô tội để giết; chúng núp nơi kín để bắt kẻ khốn cùng.
PSA 10:9 Chúng rình mò như sư tử rình mồi. Chúng rình bắt kẻ nghèo; chụp bắt kẻ khốn khó, kéo họ vào trong lưới chúng.
PSA 10:10 Kẻ nghèo bị xô đẩy và giày đạp; họ bị thua thiệt vì kẻ thù họ mạnh hơn.
PSA 10:11 Kẻ ác thầm nghĩ, “CHÚA đã quên chúng ta rồi. Ngài không thấy gì hết.”
PSA 10:12 Lạy CHÚA, xin đứng dậy và ra tay. Xin đừng quên kẻ khốn cùng.
PSA 10:13 Tại sao kẻ ác ghét CHÚA? Chúng tự nhủ, “Thượng Đế sẽ không trừng phạt chúng ta đâu.”
PSA 10:14 Lạy CHÚA, Ngài hẳn đã thấy những điều hung bạo và gian ác nầy; xin nhìn đến và ra tay. Những kẻ khốn cùng trông cậy Ngài giúp đỡ. Ngài là Đấng cứu giúp kẻ mồ côi.
PSA 10:15 Xin bẻ gãy quyền lực kẻ ác. Xin trừng phạt tội phạm của chúng cho đến khi không còn điều ác nào.
PSA 10:16 CHÚA làm vua đến đời đời. Ngài đã tiêu diệt các dân ngoại quốc khỏi mặt đất.
PSA 10:17 Lạy CHÚA, Ngài đã nghe nguyện vọng kẻ nghèo. Xin đáp lời họ van xin và nghe tiếng kêu cầu của họ.
PSA 10:18 Xin bảo vệ kẻ mồ côi, kéo họ ra khỏi cảnh khốn khổ để họ không còn sợ kẻ ác nữa.
PSA 11:1 Thi thiên của Đa-vít. Soạn cho nhạc trưởng. Tôi nhờ cậy Thượng Đế bảo vệ. Vậy sao ngươi hỏi ta rằng, “Hãy bay lên núi như chim đi.”
PSA 11:2 Kẻ ác giương cung như thợ săn; Gài sẵn tên vào dây cung. Từ trong bóng tối, chúng núp bắn người lương thiện.
PSA 11:3 Nếu nền móng bị sụp đổ, thì người công chính sẽ làm sao?
PSA 11:4 CHÚA ngự trong đền thánh Ngài; Ngài ngự trên ngôi trời, Thấy hết hành động mỗi người; Mắt Ngài quan sát từng người.
PSA 11:5 CHÚA thử nghiệm người thiện và kẻ ác, Ngài ghét kẻ mưu hại người khác.
PSA 11:6 Nguyện Ngài xối than lửa đỏ với diêm sinh cháy bừng lên đầu kẻ ác. Nguyện chúng nhận lấy bão lốc.
PSA 11:7 CHÚA luôn công chính, Ngài chuộng công lý; nên những người ngay thẳng sẽ được thấy mặt Ngài.
PSA 12:1 Soạn cho nhạc trưởng. Theo điệu sê-mi-nít. Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA xin giải cứu tôi vì người nhân đức không còn nữa; không còn tín hữu chân thật trên mặt đất.
PSA 12:2 Ai cũng lừa dối người láng giềng mình; chúng nói một đằng, định bụng một nẻo.
PSA 12:3 Xin CHÚA hớt môi người nịnh hót, cắt lưỡi kẻ khoe khoang.
PSA 12:4 Chúng bảo, “Lưỡi chúng ta sẽ giúp chúng ta đắc thắng. Chúng ta muốn nói gì cũng được; chẳng ai cai trị chúng ta cả.”
PSA 12:5 Nhưng CHÚA phán, “Bây giờ ta sẽ đứng dậy vì kẻ nghèo bị ức hiếp quá mức. Vì họ rên siết nên ta sẽ cứu giúp họ.”
PSA 12:6 Lời CHÚA rất tinh sạch, như bạc đã được tinh luyện bằng lửa, đến bảy lần.
PSA 12:7 Lạy CHÚA, xin giữ gìn chúng tôi; Ngài luôn bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ như thế.
PSA 12:8 Kẻ ác vây quanh chúng tôi, khi con người đề cao việc ác.
PSA 13:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. CHÚA ơi, Ngài sẽ quên tôi cho đến bao giờ? Ngài sẽ tránh mặt tôi cho đến bao giờ?
PSA 13:2 Tôi phải mang gánh lo âu và buồn thảm trong lòng mỗi ngày đến chừng nào? Kẻ thù tôi sẽ thắng tôi đến bao giờ?
PSA 13:3 Lạy CHÚA, xin hãy đoái thương tôi. Lạy Thượng Đế tôi, xin hãy đáp lời tôi; thêm sức cho tôi kẻo tôi qua đời.
PSA 13:4 Nếu không kẻ thù tôi sẽ bảo, “Ta thắng nó rồi!” Những kẻ nghịch tôi sẽ reo mừng, vì tôi bị thua thiệt.
PSA 13:5 Tôi tin cậy nơi tình yêu Ngài. Lòng tôi vui mừng vì Ngài cứu tôi.
PSA 13:6 Tôi sẽ hát cho CHÚA vì Ngài đã chăm sóc tôi.
PSA 14:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Kẻ ngu dại nghĩ thầm, “Chẳng có Thượng Đế đâu.” Bọn ngu dại ấy đều độc ác và hành động nhơ nhuốc; Chẳng có ai làm điều thiện.
PSA 14:2 Từ trời CHÚA nhìn xuống loài người xem thử có ai hiểu biết, hoặc tìm kiếm Thượng Đế để xin Ngài hướng dẫn chăng.
PSA 14:3 Nhưng ai nấy đều quay đi. Tất cả đều gian ác. Chẳng có ai làm điều thiện, không có lấy một người
PSA 14:4 Kẻ ác không hiểu biết sao? Chúng tiêu diệt dân ta như ăn bánh. Chúng không hề nhờ cậy CHÚA.
PSA 14:5 Nhưng kẻ ác bị kinh hoảng vì CHÚA ở cùng những người làm điều phải.
PSA 14:6 Mưu mô kẻ ác nghịch cùng người nghèo sẽ thất bại, vì CHÚA gìn giữ họ.
PSA 14:7 Tôi cầu mong cho chiến thắng đến với Ít-ra-en từ núi Xi-ôn! Khi CHÚA phục hồi dân của Ngài, thì con cháu Gia-cốp sẽ vui mừng, và dân Ít-ra-en sẽ hớn hở.
PSA 15:1 Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA, ai được vào Lều Thánh Ngài? Ai được phép ở trên núi thánh của CHÚA?
PSA 15:2 Chỉ có những người thanh sạch, và làm điều ngay thẳng. Họ nói lời chân thật từ lòng mình.
PSA 15:3 Những ai không dối gạt kẻ khác; không làm hại người láng giềng, không đi nói xấu.
PSA 15:4 Họ không kiêng nể kẻ gian ác nhưng tôn trọng kẻ kính sợ CHÚA. Họ giữ lời hứa với người láng giềng, dù phải thiệt hại đi nữa.
PSA 15:5 Kẻ không tính tiền lời khi cho vay, không nhận của hối lộ để làm hại người vô tội. Những ai làm các điều đó sẽ không bao giờ bị tiêu diệt.
PSA 16:1 Bài “mịch-tâm” của Đa-vít. Lạy Thượng Đế, xin hãy bảo vệ tôi vì tôi tin cậy nơi Ngài.
PSA 16:2 Tôi thưa cùng CHÚA, “Ngài là CHÚA tôi. Mọi ơn phước tôi có là do CHÚA ban.”
PSA 16:3 Tôi rất ưa thích những người thánh thiện trên đất.
PSA 16:4 Những kẻ chạy theo hình tượng sẽ khốn khổ. Tôi sẽ không dâng huyết cho các thần tượng ấy, và cũng không nhắc đến tên tuổi chúng nó nữa.
PSA 16:5 Tôi chỉ cần một mình CHÚA thôi. Ngài chăm sóc tôi.
PSA 16:6 Đời sống tôi trên đất rất tốt đẹp; phần số tôi thật tuyệt diệu.
PSA 16:7 Tôi ca ngợi CHÚA vì Ngài chỉ dạy tôi. Còn ban đêm, lương tâm tôi dạy dỗ tôi.
PSA 16:8 Tôi luôn luôn để CHÚA đứng trước mặt. Vì Ngài ở bên tôi, tôi sẽ không bị tổn hại gì.
PSA 16:9 Nên lòng tôi vui mừng, thâm tâm tôi hớn hở. Thân thể tôi được yên ổn,
PSA 16:10 vì Ngài sẽ không bỏ tôi trong huyệt mả, cũng chẳng để người thánh của CHÚA bị mục nát.
PSA 16:11 Lạy CHÚA, xin dạy tôi sống đời thánh thiện. Được ở cùng CHÚA khiến tôi tràn đầy niềm vui; Ở bên tay phải CHÚA tôi vô cùng sung sướng.
PSA 17:1 Lời cầu nguyện của Đa-vít. Lạy CHÚA, xin nghe lời tôi nài xin được đối xử công bằng; xin nghe tiếng kêu cứu tôi. Xin nghe lời cầu nguyện tôi vì tôi chân thật.
PSA 17:2 Ngài sẽ xử rằng lẽ phải về tôi; mắt Ngài thấy điều chân thật.
PSA 17:3 Ngài đã dò xét lòng tôi; thử nghiệm tôi suốt đêm. Ngài tra xét tôi nhưng không thấy có gì quấy. Miệng tôi cũng không phạm tội.
PSA 17:4 Tôi vâng giữ các mệnh lệnh CHÚA, tôi không làm giống kẻ ác.
PSA 17:5 Tôi làm theo lời Ngài dạy bảo; không hề đi sai lệch.
PSA 17:6 Lạy CHÚA, tôi kêu cầu cùng Ngài, và Ngài trả lời tôi. Bây giờ xin lắng nghe tôi, nghe lời tôi thưa.
PSA 17:7 Tình yêu CHÚA thật tuyệt diệu. Quyền năng Ngài cứu những kẻ tin cậy Ngài khỏi tay các kẻ thù nghịch.
PSA 17:8 Xin hãy giữ gìn tôi như con ngươi của mắt Ngài. Xin che phủ tôi dưới bóng cánh Ngài.
PSA 17:9 Xin giữ tôi khỏi kẻ ác đang tấn công tôi, khỏi các kẻ thù đang vây quanh tôi.
PSA 17:10 Chúng nó ích kỷ và khoe khoang.
PSA 17:11 Chúng đuổi theo tôi cho đến khi vây được tôi. Chúng dự định xô tôi ngã xuống đất.
PSA 17:12 Chúng như sư tử sắp giết con mồi; chúng rình rập như sư tử.
PSA 17:13 Lạy CHÚA, xin hãy đứng dậy, đối đầu với kẻ thù tôi, và đánh hạ chúng nó. Xin hãy dùng gươm Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ ác.
PSA 17:14 Lạy CHÚA, xin dùng quyền lực Ngài cứu tôi, khỏi những kẻ trông cậy đời nầy. Xin dành nhiều sự trừng phạt cho con cái chúng, và dành sự khốn khổ cho dòng dõi chúng.
PSA 17:15 Vì tôi sống ngay thẳng, nên tôi sẽ nhìn thấy mặt CHÚA. Lúc thức dậy, tôi sẽ mãn nguyện khi nhìn thấy Ngài.
PSA 18:1 Soạn cho nhạc trưởng. Do Đa-vít, tôi tớ CHÚA sáng tác. Đa-vít ca bài nầy cho Chúa khi Ngài cứu ông khỏi tay Sau-lơ và mọi kẻ thù. Lạy CHÚA, tôi yêu mến Ngài. Ngài là sức mạnh tôi.
PSA 18:2 CHÚA là tảng đá, nguồn che chở tôi, Đấng Cứu Rỗi tôi. CHÚA là khối đá, nơi tôi chạy đến ẩn núp lúc lâm nguy. Ngài là cái thuẫn và là sức mạnh cứu tôi, Đấng bênh vực tôi.
PSA 18:3 Tôi kêu xin cùng CHÚA, chỉ một mình Ngài là Đấng đáng được ca ngợi. Tôi sẽ được giải thoát khỏi tay kẻ thù.
PSA 18:4 Các dây sự chết đã vây quanh tôi; sông sự chết bao phủ tôi.
PSA 18:5 Các dây sự chết quấn chặt tôi. Bẫy sự chết ở trước mặt tôi.
PSA 18:6 Trong cơn khốn khó, tôi kêu cầu cùng CHÚA. Tôi van xin Ngài giúp đỡ. Từ đền thánh Ngài nghe tiếng tôi; Lời kêu cứu tôi thấu đến tai CHÚA.
PSA 18:7 Đất rung chuyển mạnh. Các nền núi non bị lay động. Chúng rung chuyển vì CHÚA nổi giận.
PSA 18:8 Khói xịt ra từ lỗ mũi Ngài, miệng Ngài phát ra ngọn lửa hừng, than hồng đi trước mặt Ngài.
PSA 18:9 CHÚA xé toạc các từng trời và ngự xuống trong đám mây đen kịt dưới chân.
PSA 18:10 Ngài cỡi thú có cánh và bay. Ngài lượn trên cánh gió.
PSA 18:11 CHÚA dùng bóng tối che phủ mình, nơi ở Ngài có mây mù vây kín.
PSA 18:12 Từ sự hiện diện rực rỡ của Ngài phát ra mây chứa mưa đá và sấm chớp.
PSA 18:13 CHÚA làm sấm rền trời; Đấng Tối Cao lên tiếng, liền có mưa đá và sấm sét.
PSA 18:14 Ngài bắn tên làm quân thù chạy tán loạn. Ngài làm sấm chớp khiến chúng lúng túng và kinh hãi.
PSA 18:15 Lạy CHÚA, Ngài nạt một tiếng. Gió xịt ra từ lỗ mũi Ngài. Các đáy biển sâu lộ ra, và các nền lục địa phơi bày.
PSA 18:16 Từ trên cao CHÚA với tay nắm tôi; kéo tôi lên khỏi đáy nước sâu.
PSA 18:17 Ngài cứu tôi khỏi tay kẻ thù mạnh hơn tôi, khỏi tay kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
PSA 18:18 Trong cơn khốn khó chúng tấn công tôi, nhưng CHÚA nâng đỡ tôi.
PSA 18:19 Ngài đưa tôi đến chỗ an toàn. Vì ưa thích tôi nên Ngài cứu tôi.
PSA 18:20 Ngài thưởng cho tôi vì tôi sống ngay thẳng. Ngài ban thưởng tôi vì tôi không làm điều gì ác.
PSA 18:21 Tôi đã đi theo đường lối CHÚA dạy; Tôi không làm điều ác bằng cách quay khỏi CHÚA.
PSA 18:22 Tôi không quên luật lệ CHÚA, không vi phạm qui tắc của Ngài.
PSA 18:23 Tôi trong sạch trước mặt CHÚA; tôi tránh không làm điều ác.
PSA 18:24 CHÚA thưởng tôi vì tôi điều ngay thẳng, và làm điều đẹp ý CHÚA.
PSA 18:25 Lạy CHÚA, người nào trung tín, Ngài cũng trung tín lại, người nào nhân từ Ngài cũng nhân từ lại.
PSA 18:26 Đối với kẻ trong sạch, CHÚA tỏ ra trong sạch nhưng Ngài nghịch lại kẻ xấu xa.
PSA 18:27 CHÚA cứu người khiêm nhường, nhưng hạ kẻ tự phụ xuống.
PSA 18:28 Lạy CHÚA, Ngài ban ánh sáng cho ngọn đèn tôi. Thượng Đế chiếu sáng chỗ tối quanh tôi.
PSA 18:29 Nhờ Ngài giúp đỡ, tôi có thể tấn công cả đạo binh. Nhờ Ngài yểm trợ, tôi có thể nhảy qua tường thành.
PSA 18:30 Đường lối Thượng Đế vô cùng hoàn hảo. Lời CHÚA rất tinh sạch. Ngài là thuẫn đỡ cho kẻ nào tin cậy nơi Ngài.
PSA 18:31 Ai là Thượng Đế? Chỉ một mình CHÚA thôi. Ai là Khối Đá? Chỉ một mình Thượng Đế của chúng ta thôi.
PSA 18:32 Thượng Đế là Đấng khiến tôi thêm sức mạnh. Ngài khiến các lối đi của tôi không vấp váp.
PSA 18:33 Ngài làm cho tôi chạy nhanh như nai mà không vấp ngã; Ngài giúp tôi đứng trên các núi cao.
PSA 18:34 Ngài luyện tay tôi thành thiện chiến, nên cánh tay tôi có thể giương nổi cung đồng.
PSA 18:35 Ngài che chở tôi bằng cái khiên cứu rỗi của Ngài. Ngài dùng tay phải nâng đỡ tôi. Sự giúp đỡ của Ngài khiến tôi thêm mạnh mẽ.
PSA 18:36 Ngài ban cho tôi một lối sống tốt đẹp hơn, để tôi sống theo ý muốn Ngài.
PSA 18:37 Tôi rượt đuổi theo kẻ thù và bắt kịp chúng. Tôi không ngưng tay cho đến khi chúng nó hoàn toàn bị tiêu diệt.
PSA 18:38 Tôi chà đạp chúng nó đến nỗi chúng không ngóc đầu dậy được. Chúng nằm mọp dưới chân tôi.
PSA 18:39 Ngài thêm sức cho tôi trong chiến trận. Ngài khiến kẻ thù phải quì lạy trước mặt tôi.
PSA 18:40 Ngài khiến kẻ thù lui bước, tôi tiêu diệt những kẻ ghét tôi.
PSA 18:41 Chúng kêu cứu nhưng không ai đến giúp. Chúng kêu cầu CHÚA nhưng Ngài chẳng trả lời.
PSA 18:42 Tôi đánh tan nát các kẻ thù tôi, giống như bụi bị gió thổi bay. Tôi trút chúng ra như bùn trên đường.
PSA 18:43 Khi chúng tấn công tôi thì Ngài đến cứu tôi. Ngài lập tôi làm lãnh tụ các quốc gia. Những dân chưa hề biết tôi sẽ phục vụ tôi.
PSA 18:44 Khi nghe đến tôi, họ sẽ vâng phục tôi. Các người ngoại quốc cũng sẽ khúm núm trước mặt tôi.
PSA 18:45 Họ sẽ sợ hãi và run rẩy khi bước ra khỏi nơi trú ẩn của mình.
PSA 18:46 CHÚA muôn đời! Khối Đá tôi đáng được ca ngợi. Đáng tôn vinh Thượng Đế là Đấng cứu tôi!
PSA 18:47 Thượng Đế giúp tôi đắc thắng kẻ thù tôi, Ngài đặt mọi dân dưới quyền tôi.
PSA 18:48 Ngài cứu tôi khỏi tay kẻ thù. Ngài đặt tôi lên trên kẻ ghét tôi. Ngài cứu tôi khỏi kẻ hung ác.
PSA 18:49 Cho nên, CHÚA ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân. Tôi sẽ hát khen danh Ngài.
PSA 18:50 CHÚA ban sự đắc thắng cho vua của Ngài. Ngài thành tín đối với vua Ngài đã lập, với Đa-vít và dòng dõi người cho đến mãi mãi.
PSA 19:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Các từng trời thuật lại sự vinh hiển của Thượng Đế, bầu trời loan báo công việc tay Ngài làm.
PSA 19:2 Ngày nầy sang ngày khác, chúng thuật chuyện, đêm nọ sang đêm kia, chúng bày tỏ quyền năng Ngài.
PSA 19:3 Chúng chẳng dùng tiếng hay lời; không ai nghe âm thanh chúng.
PSA 19:4 Thế nhưng thông điệp chúng vang dội bốn phương; lời nói chúng truyền ra khắp đất. Ngài tạo không gian làm chỗ ở của mặt trời.
PSA 19:5 Mặt trời xuất hiện như chàng rể bước ra khỏi phòng tân hôn. Hớn hở như lực sĩ sẵn sàng chạy đua.
PSA 19:6 Mặt trời mọc từ phương trời nầy chạy giáp vòng đến phương trời kia. Không gì tránh khỏi sức nóng của nó được.
PSA 19:7 Những lời dạy dỗ CHÚA thật hoàn hảo để tăng thêm sức mới. Qui tắc CHÚA thật đáng tin khiến kẻ tầm thường nên khôn ngoan.
PSA 19:8 Mệnh lệnh của CHÚA đều đúng, khiến con người vui mừng. Mệnh lệnh của CHÚA rất tinh sạch, soi sáng lối đi.
PSA 19:9 Sự kính sợ CHÚA là tốt lành, sẽ còn mãi mãi. Phán đoán CHÚA là thật, hoàn toàn hợp lý.
PSA 19:10 Chúng quí giá hơn vàng, thật báu hơn cả vàng ròng. Ngọt hơn mật, hơn cả mật nguyên chất.
PSA 19:11 Những điều đó cảnh tỉnh tôi tớ CHÚA. Ai vâng giữ thì được phần thưởng lớn.
PSA 19:12 Người ta thường không thấy lỗi lầm của mình. Xin CHÚA tha các tội của tôi.
PSA 19:13 Xin đừng để tôi phạm tội tự phụ; đừng để chúng cai trị tôi. Thì tôi sẽ trong sạch và không bị hoen ố bởi những tội trọng.
PSA 19:14 Nguyện những lời nói và tư tưởng của tôi đẹp lòng Ngài. Lạy CHÚA, Ngài là Khối Đá, Đấng cứu tôi.
PSA 20:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Nguyện CHÚA đáp lời ngươi trong cơn nguy khốn. Nguyện Thượng Đế của Gia-cốp bảo vệ ngươi.
PSA 20:2 Nguyện Ngài sai ơn cứu giúp ngươi từ đền thánh Ngài, phù trợ ngươi từ núi Xi-ôn.
PSA 20:3 Nguyện Ngài nhớ lễ vật ngươi và chấp nhận sinh tế của ngươi. Xê-la
PSA 20:4 Nguyện Ngài ban cho ngươi điều lòng ngươi ước ao, và hoàn thành các dự định ngươi.
PSA 20:5 Chúng ta sẽ reo vui khi Ngài giúp đỡ ngươi, Chúng ta sẽ ca ngợi danh Ngài. Nguyện Ngài ban cho ngươi điều ngươi cầu xin.
PSA 20:6 Nay ta biết CHÚA giúp đỡ vua là người được Ngài bổ nhiệm. Từ trên trời thánh, Ngài sẽ trả lời người, và dùng tay phải mạnh mẽ giải cứu người.
PSA 20:7 Có người ỷ vào xe cộ, kẻ khác nhờ vào binh sĩ, nhưng chúng tôi nhờ cậy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi.
PSA 20:8 Chúng bị vây phủ và bị đánh bại, nhưng chúng tôi cứ tiến tới và đắc thắng.
PSA 20:9 Lạy CHÚA, xin bảo vệ vua Ngài! Xin đáp lời kêu cứu của chúng tôi.
PSA 21:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA, vua vui mừng trong sức mạnh Ngài; vua hớn hở khi được Ngài cứu!
PSA 21:2 Ngài ban cho vua điều người ao ước và không từ chối điều gì người xin. Xê-la
PSA 21:3 Ngài đặt mọi điều tốt đẹp trước mặt người và đội mão triều bằng vàng trên đầu người.
PSA 21:4 Người xin được sống lâu, CHÚA liền ban cho, nên năm tháng người kéo dài vô tận.
PSA 21:5 Người được hiển vinh vì Ngài cho người sự đắc thắng. Ngài ban cho người vinh dự và lời ca tụng.
PSA 21:6 Ngài luôn ban phước cho người; Ngài khiến người vui mừng vì Ngài ở với người.
PSA 21:7 Vua thật tin cậy nơi CHÚA. Vì Thượng Đế Chí cao luôn yêu mến người cho nên người sẽ không dao động.
PSA 21:8 Tay CHÚA chống lại các kẻ thù nghịch mình; những kẻ ghét Ngài sẽ nếm biết quyền năng Ngài.
PSA 21:9 Khi Ngài xuất hiện, Ngài sẽ thiêu chúng trong lò lửa. Đang cơn giận, Ngài sẽ thiêu đốt chúng trong lửa.
PSA 21:10 Ngài sẽ diệt gia đình chúng khỏi đất, và con cháu chúng cũng không còn.
PSA 21:11 Chúng âm mưu ác nghịch cùng Ngài, nhưng mưu mô chúng bất thành.
PSA 21:12 Ngài khiến chúng nó xoay lưng khi Ngài nhắm tên bắn chúng nó.
PSA 21:13 Lạy CHÚA, chúng tôi sẽ tôn cao Ngài bằng bài ca, Sẽ ca ngợi quyền năng cao cả của Ngài.
PSA 22:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Con nai bình minh.” Bài ca của Đa-vít. Thượng Đế tôi ơi, Thượng Đế tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi? Sao Ngài đứng xa, không cứu giúp tôi, không nghe tiếng tôi rên rỉ?
PSA 22:2 Lạy Thượng Đế tôi, ban ngày tôi kêu xin cùng Ngài, nhưng Ngài chẳng đáp lời, ban đêm cũng vậy, tôi có im lặng đâu.
PSA 22:3 Ngài là Đấng thánh đang ngự trị. Lời ca ngợi của Ít-ra-en là ngôi Ngài.
PSA 22:4 Tổ tiên chúng tôi tin cậy Ngài; Vì họ tin cậy Ngài cho nên Ngài cứu họ.
PSA 22:5 Họ kêu xin cùng CHÚA liền được giải cứu. Họ tin cậy Ngài nên không thất vọng.
PSA 22:6 Nhưng tôi là loài sâu bọ chứ không phải con người. Ai cũng khinh chê và ganh ghét tôi.
PSA 22:7 Ai thấy tôi đều chê cười. Chúng trề môi, lắc đầu.
PSA 22:8 Chúng giễu, “Hãy kêu CHÚA cứu giúp đi. Có thể Ngài sẽ cứu ngươi. Nếu Ngài thích ngươi, Ngài sẽ giải cứu ngươi!”
PSA 22:9 Ngài để mẹ tôi sinh ra tôi. Khi tôi còn là hài nhi Ngài khiến tôi tin cậy Ngài.
PSA 22:10 Từ khi mới chào đời tôi đã nương cậy nơi CHÚA, Ngài đã là Thượng Đế tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.
PSA 22:11 Cho nên Thượng Đế ôi, xin đừng đứng xa tôi. Nay cơn khốn khó gần kề, không ai cứu giúp.
PSA 22:12 Người ta vây tôi đông như bò đực hung tợn. Chúng vây kín tôi bốn phía, như bò đực cường bạo của Ba-san.
PSA 22:13 Chúng hả miệng chực ăn nuốt tôi như sư tử đói gầm thét.
PSA 22:14 Sức lực tôi tiêu tan như nước đổ xuống đất. Xương cốt tôi rời rã. Tinh thần tôi như sáp, tan chảy trong lòng tôi.
PSA 22:15 Sức lực tôi khô cằn như bình thợ gốm, lưỡi tôi dính nơi vòm họng. Ngài để tôi nằm trong bụi đất của sự chết.
PSA 22:16 Kẻ ác vây tôi; chúng đánh bẫy tôi như lũ chó. Chúng cắn xé tay và chân tôi.
PSA 22:17 Tôi có thể đếm được các xương cốt tôi; mọi người nhìn chăm vào tôi.
PSA 22:18 Chúng chia nhau áo xống tôi, và bắt thăm lấy quần áo tôi.
PSA 22:19 Nhưng CHÚA ôi, xin chớ đứng xa tôi. Ngài là sức lực tôi. Xin hãy mau đến cứu giúp tôi.
PSA 22:20 Xin hãy cứu tôi khỏi lưỡi gươm; và cứu mạng tôi khỏi loài chó.
PSA 22:21 Xin hãy cứu tôi khỏi hàm sư tử; và khỏi sừng bò đực.
PSA 22:22 Rồi tôi sẽ thuật về CHÚA cho đồng bào Ít-ra-en của tôi; tôi sẽ ca ngợi Ngài trong buổi họp công cộng.
PSA 22:23 Tất cả những ai kính sợ CHÚA, hãy ca ngợi Ngài. Các con cháu Gia-cốp ơi, hãy tôn trọng Ngài; Toàn dân Ít-ra-en, hãy kính sợ Ngài.
PSA 22:24 Ngài không bỏ quên kẻ lâm cảnh khổ. Ngài không lánh mặt khỏi họ nhưng nghe tiếng kêu xin của họ.
PSA 22:25 Lạy CHÚA, tôi ca ngợi Ngài giữa hội lớn của dân CHÚA; những kẻ thờ phụng Ngài sẽ thấy tôi thực hiện lời hứa.
PSA 22:26 Nầy kẻ nghèo, hãy đến và ăn no nê; những ai trông đợi CHÚA sẽ ca ngợi Ngài. Nguyện lòng các ngươi vui mừng mãi mãi!
PSA 22:27 Dân chúng khắp nơi sẽ nhớ và quay về cùng Ngài. Mọi gia tộc trên thế gian sẽ thờ phụng Ngài;
PSA 22:28 vì CHÚA là Vua, Ngài cai quản mọi quốc gia.
PSA 22:29 Dân chúng đã ăn no nê, rồi cúi xuống thờ phụng Ngài. Thật vậy, mọi người sẽ cúi mình trước mặt Ngài— tất cả những người sẽ qua đời.
PSA 22:30 Những kẻ hậu sinh sẽ phục vụ Ngài; Thế hệ mai sau sẽ nghe biết CHÚA.
PSA 22:31 Chúng sẽ rao ra rằng Ngài làm điều công chính; Những kẻ sắp chào đời sẽ nghe biết những điều Thượng Đế đã làm.
PSA 23:1 Bài ca của Đa-vít. CHÚA là Đấng chăn giữ tôi; nên tôi có đầy đủ mọi sự cần dùng.
PSA 23:2 Ngài để tôi nghỉ ngơi nơi đồng cỏ tươi xanh. Dẫn tôi đến suối nước an tịnh.
PSA 23:3 Ngài thêm sức mới cho tôi, dắt tôi vào các lối ngay thẳng vì danh tốt của Ngài.
PSA 23:4 Dù phải băng qua thung lũng tối tăm, tôi sẽ không sợ hãi gì, vì Ngài cùng đi với tôi. Cây trượng và cây gậy của CHÚA an ủi tôi.
PSA 23:5 Ngài bày tiệc cho tôi trước mặt kẻ thù tôi, Ngài đổ dầu lên đầu tôi; và rót tràn chén tôi.
PSA 23:6 Chắc chắn lòng nhân từ và tình yêu của Ngài sẽ ở cùng tôi suốt đời. Còn tôi sẽ ở trong nhà CHÚA mãi mãi.
PSA 24:1 Bài ca của Đa-vít. Đất và muôn vật trên đất đều thuộc về CHÚA. Thế gian và mọi dân trên hoàn cầu cũng thuộc về Ngài.
PSA 24:2 Vì Ngài lập đất trên các khối nước, và đặt nó đứng vững trên các sông.
PSA 24:3 Ai có thể lên núi của CHÚA? Ai có thể đứng trong đền thánh Ngài?
PSA 24:4 Chỉ những người có tay tinh sạch và lòng thánh khiết, những ai không thờ lạy hình tượng, không hứa nguyện nhân danh các thần giả.
PSA 24:5 Họ sẽ nhận phước lành từ CHÚA; Thượng Đế, Đấng cứu họ sẽ tuyên bố họ là công bình.
PSA 24:6 Họ cố gắng đi theo Thượng Đế; trông cậy Thượng Đế của Gia-cốp giúp đỡ mình. Xê-la
PSA 24:7 Nầy các cửa, hãy mở toang ra. Còn các cửa lâu đời, hãy mở rộng ra, để vua vinh hiển vào.
PSA 24:8 Vua vinh hiển nầy là ai? Chính là CHÚA mạnh dạn và quyền năng. CHÚA là chiến sĩ dũng cảm.
PSA 24:9 Nầy các cửa, hãy mở toang ra. Các cửa lâu đời, hãy mở rộng ra để vua vinh hiển vào.
PSA 24:10 Vua vinh hiển nầy là ai? Đó là CHÚA Toàn Năng, Ngài là vua vinh hiển. Xê-la
PSA 25:1 Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA, tôi đặt mạng sống tôi trong tay Ngài;
PSA 25:2 Lạy Thượng Đế, tôi tin cậy nơi Ngài. Xin đừng để tôi bị xấu hổ; đừng để kẻ thù chế nhạo tôi.
PSA 25:3 Không ai tin cậy Ngài mà lại bị xấu hổ, chỉ những kẻ vô cớ phạm tội mới bị xấu hổ.
PSA 25:4 Lạy CHÚA xin chỉ cho tôi biết đường lối Ngài; Dạy tôi cách sống.
PSA 25:5 Hãy hướng dẫn tôi đi trong chân lý của Ngài, và dạy dỗ tôi, lạy Thượng Đế là Đấng Cứu Chuộc tôi. Hằng ngày tôi tin cậy CHÚA.
PSA 25:6 Lạy CHÚA, xin nhớ lại lòng nhân từ và tình yêu Ngài mà Ngài đã tỏ ra từ xưa.
PSA 25:7 Xin đừng nhớ lại tội lỗi và hành vi sai quấy của tôi lúc tôi còn trẻ tuổi. Nhưng xin CHÚA luôn nhớ yêu thương tôi vì Ngài là Đấng nhân từ.
PSA 25:8 CHÚA rất nhân từ và chính trực; Ngài hướng tội nhân vào đường ngay thẳng.
PSA 25:9 Dạy kẻ khiêm nhường làm điều phải, và chỉ cho họ đường lối Ngài.
PSA 25:10 Các đường lối CHÚA đều là nhân từ và chân thật cho những người làm theo giao ước Ngài.
PSA 25:11 Lạy CHÚA, vì danh Ngài, xin hãy tha thứ các tội lỗi tôi.
PSA 25:12 Ai là người kính sợ CHÚA? Ngài sẽ chỉ cho họ con đường chính đáng.
PSA 25:13 Họ sẽ hưởng một đời phước hạnh, và con cháu họ sẽ thừa hưởng đất đai.
PSA 25:14 CHÚA sẽ tỏ sự bí mật cho người kính sợ Ngài; và cho họ biết giao ước Ngài.
PSA 25:15 Mắt tôi luôn trông mong CHÚA cứu giúp. Ngài sẽ giữ chân tôi khỏi rơi vào bẫy.
PSA 25:16 Xin CHÚA hãy quay lại và thương xót tôi, vì tôi cô đơn và đau khổ.
PSA 25:17 Những nỗi nguy khốn của tôi tăng thêm nhiều; xin hãy giải thoát tôi khỏi hoạn nạn.
PSA 25:18 Xin hãy xem xét những đau khổ và khốn khó tôi; và cất lấy các tội lỗi tôi.
PSA 25:19 Xin CHÚA hãy xem tôi có biết bao nhiêu kẻ thù! Chúng ghét tôi quá sức.
PSA 25:20 Xin hãy bảo vệ và cứu giúp tôi. Tôi tin cậy nơi Ngài, xin đừng để tôi bị xấu hổ.
PSA 25:21 Nguyện sự nhân từ và ngay thẳng giữ gìn tôi, vì tôi đặt hi vọng trong Ngài.
PSA 25:22 Lạy CHÚA, xin hãy cứu Ít-ra-en khỏi mọi khốn khó.
PSA 26:1 Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA, xin hãy bênh vực tôi vì tôi sống đời thanh liêm. Tôi đã tin cậy nơi Ngài, không hề lay động.
PSA 26:2 Lạy CHÚA, xin hãy thử nghiệm tôi; dò xét lòng dạ và tâm trí tôi.
PSA 26:3 Tôi thấy được tình yêu CHÚA nên tôi sống trong chân lý Ngài.
PSA 26:4 Tôi không giao du với người dối trá, cũng không kết bạn với kẻ che giấu tội lỗi mình.
PSA 26:5 Tôi ghét giao du với kẻ ác, không ngồi chung với bọn gian tà.
PSA 26:6 Lạy CHÚA, tôi rửa tay để chứng tỏ mình vô tội, rồi bước đến bàn thờ Ngài.
PSA 26:7 Tôi lớn tiếng ca ngợi và thuật lại những phép lạ Ngài làm.
PSA 26:8 Lạy CHÚA, tôi yêu đền thánh, nơi Ngài ngự, chỗ có vinh hiển Ngài.
PSA 26:9 Xin chớ giết tôi chung với kẻ có tội, hoặc cất mạng sống tôi chung với kẻ giết người.
PSA 26:10 Trong lòng chúng nó đầy dẫy gian ác, chúng nhận hối lộ để làm quấy.
PSA 26:11 Nhưng tôi đã sống một đời thanh liêm, nên xin Ngài hãy giải cứu và thương xót tôi.
PSA 26:12 Tôi đứng một nơi vững vàng. Lạy CHÚA, tôi ca ngợi Ngài giữa buổi hội lớn.
PSA 27:1 Bài ca của Đa-vít. CHÚA là ánh sáng và là Đấng cứu tôi, tôi sẽ chẳng sợ ai. Ngài bảo vệ mạng sống tôi, tôi sẽ không e ngại người nào.
PSA 27:2 Kẻ ác tìm hại mạng sống tôi. Bọn thù nghịch và những kẻ ghét tôi tấn công tôi nhưng chúng nó lúng túng và bị đánh bại.
PSA 27:3 Dù cho cả đạo quân vây quanh tôi, tôi sẽ chẳng nao núng. Nếu tranh chiến xảy ra, tôi sẽ tin cậy CHÚA.
PSA 27:4 Tôi sẽ xin CHÚA một điều và là điều tôi ao ước: Đó là trọn đời được ở trong nhà CHÚA, để ngắm xem vẻ đẹp của CHÚA và cầu hỏi trong đền thờ Ngài.
PSA 27:5 Trong cơn nguy biến Ngài sẽ cho tôi chỗ trú ẩn an toàn. Ngài sẽ ẩn núp trong Lều Thánh của Ngài, mang tôi đến nơi an toàn của Ngài.
PSA 27:6 Nếu Ngài giúp tôi đánh bại kẻ thù quanh tôi, thì tôi sẽ dâng sinh tế trong đền thánh Ngài với lòng hân hoan. Tôi sẽ đờn hát ca tụng CHÚA.
PSA 27:7 Lạy CHÚA, xin nghe khi tôi kêu cầu; xin thương xót và trả lời tôi.
PSA 27:8 Khi lòng tôi bảo tôi, “Hãy đi thờ phụng Ngài!” Lạy CHÚA, tôi liền đi thờ phụng Ngài.
PSA 27:9 Xin đừng quay khỏi tôi. Đang khi giận xin chớ xua đuổi kẻ tôi tớ Ngài; Ngài đã giúp tôi. Lạy Thượng Đế là Đấng cứu giúp tôi, xin đừng xua đuổi hay để tôi cô đơn.
PSA 27:10 Dù cho cha mẹ tôi từ bỏ tôi, thì CHÚA sẽ tiếp nhận tôi.
PSA 27:11 Lạy CHÚA xin chỉ dạy tôi đường lối Ngài, hướng dẫn tôi làm điều ngay thẳng vì tôi có vô số kẻ thù.
PSA 27:12 Xin đừng trao tôi vào tay kẻ thù vì chúng đặt điều nói dối về tôi và hăm dọa hại tôi.
PSA 27:13 Tôi tin chắc tôi sẽ sống để thấy sự nhân từ của CHÚA trước khi tôi qua đời.
PSA 27:14 Hãy trông đợi sự cứu giúp của CHÚA. Hãy vững chí, can đảm và chờ đợi Ngài tiếp cứu.
PSA 28:1 Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA là Khối Đá tôi, tôi kêu cứu cùng Ngài. Xin đừng làm ngơ. Nếu Ngài làm thinh thì tôi sẽ giống như kẻ đi xuống huyệt.
PSA 28:2 Xin nghe lời khẩn nguyện tôi, khi tôi kêu Ngài cứu giúp, lúc tôi giơ tay hướng về Ngài trong đền thánh Ngài.
PSA 28:3 Xin đừng lôi tôi đi chung với kẻ ác, cùng những kẻ xấu xa; là kẻ ngoài miệng nói hòa bình cùng người láng giềng mà trong lòng thì âm mưu ác.
PSA 28:4 Xin CHÚA phạt chúng nó cho xứng với điều ác chúng làm. Vì những hành vi gian tà của chúng, xin hãy báo trả chúng cho tương xứng.
PSA 28:5 Chúng chẳng hề biết những việc Ngài làm hay những gì Ngài tạo nên. Cho nên Ngài hất chúng nó xuống, không thèm đỡ dậy.
PSA 28:6 Hãy ca ngợi Thượng Đế vì Ngài nghe tiếng kêu cứu của tôi.
PSA 28:7 CHÚA là sức mạnh và là cái khiên che chở tôi. Tôi tin cậy nơi Ngài, Ngài liền giúp tôi. Tôi vui mừng hát ca ngợi Ngài.
PSA 28:8 CHÚA ban sức mạnh cho dân Ngài; Ngài giải cứu người được chọn lựa của Ngài.
PSA 28:9 Xin hãy cứu dân CHÚA và ban phúc lành cho những người thuộc về Ngài. Xin chăn giữ và chăm sóc họ đời đời.
PSA 29:1 Bài ca của Đa-vít. Nầy các thiên sứ, hãy ca ngợi CHÚA; hãy ca ngợi CHÚA vinh hiển và quyền năng.
PSA 29:2 Hãy ca ngợi vinh hiển của danh Ngài; hãy thờ phụng Ngài vì Ngài là thánh.
PSA 29:3 Tiếng của CHÚA vang trên các biển. Thượng Đế vinh quang trong sấm sét; Ngài làm sấm chớp trên các đại dương.
PSA 29:4 Tiếng CHÚA rất hùng mạnh; tiếng CHÚA vô cùng uy nghi.
PSA 29:5 Tiếng CHÚA bẻ gãy cây cối; làm gãy cây hương nam Li-băng.
PSA 29:6 Ngài khiến đất Li-băng nhảy múa như bò con và núi Hẹt-môn nhảy dựng như bò con đực.
PSA 29:7 Tiếng CHÚA tạo ra lằn sét.
PSA 29:8 Tiếng CHÚA làm rung chuyển sa mạc; làm rúng động sa mạc Ca-đe.
PSA 29:9 Tiếng CHÚA rung chuyển cây sồi và khiến lá cây trong rừng rụng hết. Trong đền thờ Ngài, mọi người đều nói, “Thượng Đế đáng được vinh hiển!”
PSA 29:10 CHÚA cai quản nước lụt. CHÚA làm vua đến muôn đời.
PSA 29:11 CHÚA ban sức lực cho dân Ngài; và chúc bình an cho họ.
PSA 30:1 Bài ca của Đa-vít vào dịp khánh thành đền thờ. Lạy CHÚA, tôi sẽ ca ngợi Ngài vì Ngài đã giải cứu tôi. Ngài không để kẻ thù nhạo cười tôi.
PSA 30:2 Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, tôi kêu xin Ngài, Ngài đã chữa lành cho tôi.
PSA 30:3 Ngài đem tôi lên khỏi mồ mả; không để tôi xuống âm phủ.
PSA 30:4 Hỡi những người thuộc về CHÚA hãy hát tôn vinh Ngài; hãy ca tụng danh thánh của Ngài.
PSA 30:5 Cơn giận Ngài chỉ trong chốc lát, còn lòng nhân từ Ngài kéo dài suốt đời. Tiếng khóc than đến trú ban đêm, nhưng buổi sáng đến mang theo vui mừng.
PSA 30:6 Khi tôi cảm thấy an ninh, tôi liền nói, “Tôi sẽ không sợ hãi gì.”
PSA 30:7 Lạy CHÚA, nhờ lòng nhân từ Ngài núi tôi được vững chắc. Nhưng khi Ngài quay đi, tôi đâm ra hoảng sợ.
PSA 30:8 Tôi nói, “Lạy CHÚA, tôi kêu cầu cùng Ngài, và nài xin Ngài thương xót tôi.”
PSA 30:9 Tôi thưa, “Nếu tôi qua đời hay đi xuống mồ mả thì có ích gì chăng? Bụi đất không thể ca ngợi CHÚA; chúng không thể rao truyền chân lý của Ngài.
PSA 30:10 CHÚA ơi, xin nghe tiếng tôi và thương xót tôi. Lạy CHÚA, xin giúp đỡ tôi.”
PSA 30:11 Ngài biến nỗi sầu thảm của tôi ra vui mừng. Ngài cất lấy bộ áo tang buồn thảm của tôi, và mặc niềm vui mừng cho tôi.
PSA 30:12 Lạy Thượng Đế là CHÚA tôi, tôi sẽ ca tụng Ngài, tôi sẽ không im lặng. Tôi sẽ đời đời ca ngợi CHÚA.
PSA 31:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Lạy CHÚA tôi tin cậy nơi Ngài; xin đừng để tôi bị sỉ nhục. Xin giải cứu tôi vì Ngài là Đấng làm điều ngay thẳng.
PSA 31:2 Xin hãy nghe tiếng tôi, mau đến giải cứu tôi. Xin làm khối đá bảo vệ tôi, làm thành lũy vững chắc để cứu tôi.
PSA 31:3 Ngài là khối đá và là nơi trú ẩn tôi. Vì danh tốt của Ngài, xin hãy hướng dẫn tôi.
PSA 31:4 Xin giải thoát tôi ra khỏi bẫy mà chúng nó gài để bắt tôi, vì Ngài là nguồn che chở tôi.
PSA 31:5 Tôi dâng đời tôi cho Ngài; lạy CHÚA là Thượng Đế chân thật, xin hãy cứu tôi.
PSA 31:6 Tôi ghét những kẻ thờ thần giả. Tôi chỉ tin cậy một mình CHÚA thôi.
PSA 31:7 Tôi sẽ vui mừng trong tình yêu CHÚA vì Ngài thấy được nỗi khổ của tôi; biết những khốn khó tôi.
PSA 31:8 CHÚA không giao tôi vào tay kẻ thù nhưng để tôi nơi an toàn.
PSA 31:9 Lạy CHÚA, xin thương xót vì tôi gặp khốn đốn. Mắt tôi lòa vì than khóc, người tôi rã rời vì buồn thảm.
PSA 31:10 Sinh mạng tôi gần tàn vì sầu khổ, các năm tháng tôi tiêu hao vì than khóc. Những nỗi khổ làm tiêu hao sức lực tôi, xương cốt tôi run rẩy.
PSA 31:11 Vì những hoạn nạn tôi, các kẻ thù ganh ghét tôi, cả đến những láng giềng cũng quay mặt đi. Khi bạn hữu nhìn thấy tôi, họ đều lo sợ và tránh xa.
PSA 31:12 Tôi như mảnh bể của bình gốm. Tôi bị quên lãng như kẻ đã qua đời.
PSA 31:13 Tôi đã nghe nhiều điều sỉ nhục. Sự kinh hoàng bao quanh tôi. Chúng âm mưu hại tôi, muốn giết tôi đi.
PSA 31:14 Lạy CHÚA, tôi trông cậy nơi Ngài. Tôi thưa, “Ngài là Thượng Đế tôi.”
PSA 31:15 Mạng sống tôi ở trong tay CHÚA. Xin giải cứu tôi khỏi các kẻ thù và những kẻ rượt đuổi tôi.
PSA 31:16 Xin hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi là tôi tớ Ngài. Xin hãy giải cứu tôi vì tình yêu thương của Ngài.
PSA 31:17 Lạy CHÚA, tôi kêu xin Ngài giúp đỡ, xin đừng để tôi bị xấu hổ. Nguyền xin cho kẻ ác bị sỉ nhục và nằm lặng thinh nơi mồ mả.
PSA 31:18 Do kiêu căng và ganh ghét chúng bêu xấu người làm điều thiện. Xin hãy khiến môi dối trá của chúng câm lặng.
PSA 31:19 Sự nhân từ mà Ngài dành cho những người kính sợ và tin cậy Ngài thật lớn lao. Ngài làm điều đó cho mọi người xem thấy.
PSA 31:20 Nhờ sự hiện diện của Ngài, CHÚA bảo vệ họ khỏi những kẻ âm mưu ám hại họ. Ngài che chở họ khỏi những lời độc ác.
PSA 31:21 Cảm tạ CHÚA, vì khi tôi bị tấn công như thành bị vây hãm, thì tình yêu CHÚA đối cùng tôi thật lạ lùng.
PSA 31:22 Trong cơn nguy khốn, tôi thưa, “CHÚA không nhìn thấy tôi nữa!” Nhưng khi tôi kêu cứu cùng Ngài thì Ngài nghe tiếng tôi.
PSA 31:23 Hãy yêu mến CHÚA, hỡi tất cả những ai thuộc về Ngài. CHÚA bảo vệ những người thật tâm tin cậy; nhưng Ngài trừng phạt những kẻ tự phụ như kẻ phạm tội.
PSA 31:24 Hỡi tất cả những ai đặt hi vọng nơi CHÚA, hãy can đảm và vững chí.
PSA 32:1 Bài mạch-kinh của Đa-vít. Phúc cho người nào mà tội lỗi được tha, mọi lầm lỗi được bôi xóa.
PSA 32:2 Phước cho người mà CHÚA không kết tội và trong lòng không có gì giả dối.
PSA 32:3 Khi tôi im lặng, tôi cảm thấy yếu đuối. Tôi rên rỉ suốt ngày.
PSA 32:4 Ngày và đêm tay CHÚA đè nặng trên tôi. Sức lực tôi suy yếu vì sức nóng mùa hè. Xê-la
PSA 32:5 Rồi tôi xưng tội cùng CHÚA, không giấu diếm tội lỗi tôi. Tôi nói, “Tôi sẽ xưng tội cùng CHÚA,” còn Ngài sẽ tha thứ cho tôi. Xê-la
PSA 32:6 Vì thế những ai vâng lời Ngài hãy cầu nguyện trong khi còn có cơ hội. Để khi khốn khó xảy đến như nước lụt, họ sẽ không bị tổn hại gì.
PSA 32:7 Ngài là nơi trú ẩn của tôi. Ngài bảo vệ tôi khỏi mọi gian nan và khiến lòng tôi đầy dẫy những bài ca cứu rỗi của CHÚA. Xê-la
PSA 32:8 CHÚA phán, “Ta sẽ khiến con khôn ngoan, và sẽ chỉ cho con biết đường phải đi. Ta sẽ dắt dẫn và trông nom con.
PSA 32:9 Đừng giống như lừa và ngựa vốn không hiểu biết gì. Người ta phải dùng hàm khớp và dây cương để dắt dẫn, nếu không chúng sẽ chẳng chịu đến gần con.”
PSA 32:10 Kẻ ác gặp nhiều nỗi khổ đau nhưng tình yêu CHÚA bao phủ những kẻ tin cậy Ngài.
PSA 32:11 Hỡi những người nhân đức, hãy hớn hở vui mừng trong CHÚA. Còn những ai có lòng ngay thẳng, hãy ca hát lên.
PSA 33:1 Hỡi những người làm điều ngay thẳng, hãy hát tôn vinh CHÚA; và những ai lương thiện hãy ca ngợi Ngài.
PSA 33:2 Hãy dùng đờn cầm mà ca ngợi CHÚA; hát khen Ngài bằng đờn sắt mười dây.
PSA 33:3 Hãy hát một bài ca mới cho Ngài; hãy dạo đờn thật hay và thật vui.
PSA 33:4 Lời CHÚA rất chân thật, mọi việc Ngài làm đều thành tín.
PSA 33:5 Ngài chuộng sự công bình và ngay thẳng; tình yêu Ngài phủ đầy cả đất.
PSA 33:6 Trời đất được tạo nên do lời phán của Ngài. Do hơi thở từ miệng Ngài, các ngôi sao xuất hiện.
PSA 33:7 Ngài gom nước lại thành một khối; và đặt nước biển trong kho chứa.
PSA 33:8 Khắp đất nên thờ phụng Ngài; muôn dân nên kính sợ Ngài.
PSA 33:9 Ngài phán, thì sự vật liền có. Ngài ra lệnh, sự vật liền xuất hiện.
PSA 33:10 CHÚA làm đảo lộn mưu kế các quốc gia; phá hỏng mọi chương trình của họ.
PSA 33:11 Nhưng những kế hoạch CHÚA còn muôn đời; các chương trình của Ngài tồn tại mãi mãi.
PSA 33:12 Phúc cho quốc gia nào chọn Thượng Đế làm CHÚA mình, hay dân tộc nào được Ngài nhận làm của riêng Ngài.
PSA 33:13 Từ trời cao CHÚA nhìn xuống thấy từng người.
PSA 33:14 Từ ngôi Ngài, Chúa quan sát những kẻ sống trên đất.
PSA 33:15 Ngài tạo dựng lòng họ, nên hiểu hết những hành vi của họ.
PSA 33:16 Không vua nào nhờ vào quân số đông mà được giải cứu. Không chiến sĩ nào thoát chết nhờ sức mạnh.
PSA 33:17 Ngựa không mang lại chiến thắng; sức mạnh chúng chẳng cứu được ai.
PSA 33:18 Nhưng CHÚA chăm sóc người kính sợ Ngài, và kẻ đặt hi vọng nơi tình yêu Ngài.
PSA 33:19 Ngài cứu họ thoát chết và giữ gìn sinh mạng họ trong cơn đói kém.
PSA 33:20 Vì thế chúng tôi đặt hi vọng nơi CHÚA. Ngài là Đấng cứu giúp, là thuẫn bảo vệ chúng tôi.
PSA 33:21 Chúng tôi vui mừng trong Ngài, tin cậy nơi danh thánh Ngài.
PSA 33:22 Lạy CHÚA, xin hãy tỏ tình yêu Ngài đối với chúng tôi vì chúng tôi đặt hi vọng nơi Ngài.
PSA 34:1 Bài ca của Đa-vít khi ông giả vờ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, vua xứ Gát để bị đuổi đi. Tôi sẽ chúc tụng CHÚA luôn luôn; lời ca ngợi Ngài lúc nào cũng ở trên môi tôi.
PSA 34:2 Toàn thân tôi là bài ca tôn vinh CHÚA. Những người nghèo khổ sẽ nghe và vui mừng.
PSA 34:3 Hãy cùng tôi tôn vinh Thượng Đế, chúng ta hãy chung nhau ca ngợi danh Ngài.
PSA 34:4 Khi tôi kêu cứu cùng Thượng Đế, thì Ngài đáp lời tôi. Ngài giải cứu tôi khỏi những điều làm tôi sợ hãi.
PSA 34:5 Ai kêu xin CHÚA thì vui mừng, không bao giờ bị sỉ nhục.
PSA 34:6 Kẻ khốn cùng nầy kêu cầu thì CHÚA nghe và giải cứu người khỏi mọi gian nan.
PSA 34:7 Thiên sứ của Thượng Đế đóng trại quanh những người kính sợ Ngài và giải cứu họ.
PSA 34:8 Hãy nếm biết CHÚA tốt lành biết bao. Phúc cho ai tin cậy Ngài.
PSA 34:9 Hỡi những người thuộc về CHÚA hãy kính sợ Ngài! Những ai kính sợ CHÚA không hề thiếu thốn gì hết.
PSA 34:10 Sư tử có lúc ốm yếu vì thiếu mồi, nhưng những ai trông cậy nơi CHÚA sẽ luôn luôn nhận được điều tốt lành.
PSA 34:11 Các con ơi, hãy đến nghe ta. Ta sẽ dạy các con biết cách thờ phụng Thượng Đế.
PSA 34:12 Các con hãy làm điều đó thì sẽ sống phước hạnh và vui thỏa.
PSA 34:13 Đừng nói xấu cũng đừng nói dối.
PSA 34:14 Hãy tránh điều ác, làm điều lành. Tìm sự hoà bình mà theo đuổi.
PSA 34:15 CHÚA nhìn thấy người ngay thẳng, Ngài nghe lời cầu nguyện của họ.
PSA 34:16 Nhưng Ngài nghịch lại kẻ làm điều ác; Ngài khiến thế gian không còn nhớ đến chúng nữa.
PSA 34:17 Người ngay lành kêu xin cùng CHÚA, Ngài liền nghe và giải cứu họ khỏi cảnh khổ.
PSA 34:18 CHÚA ở cạnh những người có lòng tan vỡ và nâng đỡ những người lụn bại tinh thần.
PSA 34:19 Người ngay thẳng có thể gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn nhưng CHÚA giúp người thoát khỏi hết.
PSA 34:20 Ngài giữ gìn các xương cốt người, chẳng một cái nào bị gãy.
PSA 34:21 Điều ác sẽ giết kẻ ác; những kẻ ghét người ngay thẳng sẽ bị kết tội.
PSA 34:22 Nhưng CHÚA giải cứu mạng sống tôi tớ Ngài; chẳng ai tin cậy Ngài mà bị kết tội.
PSA 35:1 Bài ca của Đa-vít. Lạy Chúa, xin hãy chống nghịch cùng kẻ chống nghịch tôi. Hãy chiến đấu cùng kẻ chiến đấu chống tôi.
PSA 35:2 Xin hãy lấy khiên và áo giáp, đứng lên giúp đỡ tôi.
PSA 35:3 Xin rút gươm giáo lớn và nhỏ, ngăn chận kẻ rượt đuổi tôi. Xin trấn an tôi rằng, “Ta sẽ giải cứu ngươi.”
PSA 35:4 Xin khiến kẻ lăm le giết tôi bị sỉ nhục. Xin làm cho những kẻ âm mưu hại tôi quay lưng chạy trốn.
PSA 35:5 Xin khiến chúng như trấu bị gió thổi bay tứ tung, giống như thiên sứ Ngài làm chúng chạy tán loạn.
PSA 35:6 Nguyện lối đi chúng nó bị tối tăm và trơn trợt, giống như đang bị thiên sứ CHÚA rượt đuổi.
PSA 35:7 Chúng nó vô cớ giăng lưới đánh bẫy tôi; chẳng hiểu lý do gì mà chúng đào hố cho tôi sụp.
PSA 35:8 Cầu cho sự tàn hại bắt lấy chúng thình lình. Nguyện chúng nó mắc vào lưới mình đã giăng, rơi vào hố mình đã đào và chết trong đó.
PSA 35:9 Bấy giờ tôi sẽ vui mừng trong CHÚA; tôi sẽ hớn hở khi Ngài giải cứu tôi.
PSA 35:10 Ngay đến xương cốt tôi cũng nói, “Lạy CHÚA, có ai giống như Ngài không? Ngài giải thoát kẻ yếu khỏi tay kẻ mạnh, cứu kẻ kém thế và nghèo khổ khỏi tay kẻ cướp bóc.”
PSA 35:11 Bọn làm chứng gian xuất hiện. Chúng tra hỏi những điều tôi không hề biết.
PSA 35:12 Chúng lấy xấu trả tốt, khiến tôi hết sức buồn nản.
PSA 35:13 Còn khi chúng nó đau yếu, tôi mặc áo quần bằng vải sô và buồn rầu cữ ăn. Tôi cúi đầu cầu xin nhưng không được đáp lại.
PSA 35:14 Tôi đối với chúng như bạn hữu hay anh em. Tôi buồn bã gục đầu như đang than khóc mẹ tôi.
PSA 35:15 Nhưng khi tôi gặp khốn khó, chúng vui cười họp lại; tụ tập để hãm hại tôi nhưng tôi chẳng biết. Chúng không ngừng sỉ nhục tôi.
PSA 35:16 Chúng chế giễu tôi và độc ác đối với tôi, chúng nghiến răng nghịch tôi.
PSA 35:17 CHÚA ơi, Ngài chứng kiến chuyện nầy cho đến bao giờ? Xin giải cứu tôi khỏi sự công kích của chúng nó; cứu tôi khỏi tay những kẻ hung dữ như sư tử.
PSA 35:18 Tôi sẽ ca ngợi Thượng Đế giữa hội lớn. Tôi sẽ tôn vinh Ngài giữa đám quần chúng đông đảo.
PSA 35:19 Xin đừng để kẻ thù nghịch cười giễu tôi; chúng nó ghét tôi vô cớ. Xin đừng để chúng chế nhạo tôi và ghét tôi vô cớ.
PSA 35:20 Chúng nó không nói lời ôn hòa nhưng lường gạt kẻ yêu hoà bình.
PSA 35:21 Chúng chống nghịch tôi bảo rằng, “A ha, ta đã thấy điều ngươi làm rồi!”
PSA 35:22 Lạy CHÚA, Ngài đã thấy. Xin đừng làm thinh. Lạy CHÚA, xin đừng để tôi cô đơn.
PSA 35:23 Lạy Thượng Đế và CHÚA tôi, xin hãy thức dậy và đến bênh vực tôi, tranh chiến hộ tôi.
PSA 35:24 Lạy CHÚA xin lấy lẽ phải của Ngài mà bênh vực tôi. Đừng để chúng cười nhạo tôi.
PSA 35:25 Đừng để chúng la lên, “A ha, ta đã đạt được ý nguyện rồi!” Xin đừng để chúng reo lên, “Ta đã diệt được hắn rồi.”
PSA 35:26 Nguyện chúng bị sỉ nhục và xấu hổ, vì chúng hớn hở khi tôi bị thiệt hại. Nguyền cho sự sỉ nhục và xấu hổ trùm lấy chúng vì chúng nghĩ chúng tốt hơn tôi.
PSA 35:27 Nguyền cho các bạn hữu tôi hát và reo vui. Nguyền cho họ luôn luôn nói, “Đáng ca tụng sự cao cả oai nghi của CHÚA là Đấng muốn tôi tớ Ngài thành công.”
PSA 35:28 Tôi sẽ thuật lại sự nhân từ CHÚA, ca ngợi CHÚA mỗi ngày.
PSA 36:1 Soạn cho nhạc trưởng. Do Đa-vít, tôi tớ Chúa sáng tác. Tội lỗi nói trong lòng kẻ ác. Chúng không hề kính sợ Thượng Đế.
PSA 36:2 Chúng tin chắc rằng tội lỗi của chúng sẽ không bị phơi bày.
PSA 36:3 Lời nói chúng nó toàn là gian ác dối gạt; chúng không còn khôn ngoan hay nhân đức nữa.
PSA 36:4 Ban đêm chúng lập mưu ác; chẳng có hành vi nào của chúng gọi là tốt lành cả. Chúng không bỏ qua chuyện làm ác.
PSA 36:5 Lạy CHÚA, tình yêu Ngài cao đến tận trời; sự thành tín Ngài vút đến mây xanh.
PSA 36:6 Lòng nhân từ Ngài như núi cao hùng vĩ. Sự công bình Ngài như vực sâu đại dương. Lạy CHÚA, Ngài bảo tồn nhân loại và sinh vật.
PSA 36:7 Lạy Thượng Đế, tình yêu Ngài thật cao quí vô cùng! Ngài bảo vệ con người dưới bóng cánh của Ngài.
PSA 36:8 Họ ăn những món ngon trong nhà Ngài. Ngài cho họ uống nước sông khoái lạc.
PSA 36:9 Vì Ngài là Đấng ban nguồn sống. Ánh sáng CHÚA khiến chúng tôi an hưởng cuộc đời.
PSA 36:10 Xin hãy cứ yêu những kẻ biết Ngài và làm ơn cho những người ngay lành.
PSA 36:11 Xin đừng để kẻ tự phụ tấn công tôi hoặc kẻ ác đánh đuổi tôi.
PSA 36:12 Những kẻ làm ác đã bị đánh bại. Chúng bị xô ngã; không còn làm ác được nữa.
PSA 37:1 Bài ca của Đa-vít. Đừng bất bình vì kẻ ác. Chớ ganh tị với kẻ làm quấy,
PSA 37:2 vì chẳng bao lâu chúng sẽ bị khô héo như cỏ và chết khô như cây xanh.
PSA 37:3 Hãy tin cậy CHÚA và làm điều lành. Hãy cư ngụ trong xứ và nuôi mình bằng sự trung tín.
PSA 37:4 Hãy vui thỏa trong CHÚA thì Ngài sẽ ban cho điều ngươi ao ước.
PSA 37:5 Hãy tin cậy nơi CHÚA thì Ngài sẽ chăm sóc ngươi.
PSA 37:6 Ngài sẽ chứng tỏ ngươi rõ ràng vô tội, Mọi người sẽ thấy rằng ngươi công chính.
PSA 37:7 Hãy chờ đợi và tin cậy CHÚA. Đừng bực tức khi người nầy được giàu có, hay người kia thành công.
PSA 37:8 Đừng nổi giận hay bực mình vì những điều đó chỉ đưa đến rắc rối.
PSA 37:9 Kẻ ác sẽ bị tiêu diệt nhưng ai tin cậy CHÚA sẽ hưởng được đất.
PSA 37:10 Chẳng bao lâu nữa kẻ ác sẽ không còn. Ngươi tìm nhưng chúng đã biến mất rồi.
PSA 37:11 Người khiêm nhường sẽ thừa hưởng đất đai và sống vui sướng trong sung túc.
PSA 37:12 Kẻ ác lập mưu hại người lành. Chúng nghiến răng giận dữ cùng họ.
PSA 37:13 Nhưng CHÚA sẽ cười chúng nó vì thấy phần số chúng đã gần kề.
PSA 37:14 Kẻ ác rút gươm và giương cung định giết kẻ nghèo và những người cô thế, cùng tìm cách hãm hại những người lương thiện.
PSA 37:15 Nhưng gươm chúng nó sẽ trở lại đâm vào lòng chúng nó, còn cung chúng nó sẽ bị gãy.
PSA 37:16 Thà có ít của mà ngay thẳng, còn hơn có của nhiều mà cong quẹo.
PSA 37:17 Sức mạnh của kẻ ác sẽ bị bẻ gãy, nhưng CHÚA phù hộ người ngay thẳng.
PSA 37:18 CHÚA trông nom mạng sống người vô tội và phần thưởng Ngài dành cho họ còn mãi mãi.
PSA 37:19 Trong hoàn cảnh khó khăn họ không bị xấu hổ. Vào thời kỳ đói kém họ được no đủ.
PSA 37:20 Nhưng kẻ ác sẽ bị tiêu diệt. Những kẻ thù nghịch CHÚA sẽ khô héo như hoa cỏ trong đồng nội; chúng sẽ tan biến như khói.
PSA 37:21 Kẻ ác mượn mà không trả, nhưng người ngay thẳng có lòng nhân từ và ban phát rộng rãi.
PSA 37:22 Người được CHÚA ban phúc lành sẽ hưởng được đất nhưng những kẻ bị Ngài nguyền rủa sẽ bị tiêu diệt.
PSA 37:23 CHÚA trông chừng bước đi của người làm vừa lòng Thượng Đế.
PSA 37:24 Dù người vấp cũng không té ngã vì CHÚA nắm tay người.
PSA 37:25 Trước tôi trẻ, nay tôi già nhưng chưa hề thấy người nhân từ lâm cảnh khốn khó, hoặc con cháu người đi ăn xin.
PSA 37:26 Người nhân từ cho kẻ khác vay mượn rộng rãi, còn con cháu người là nguồn phúc cho người.
PSA 37:27 Hãy tránh điều ác, làm điều lành để ngươi được sống mãi.
PSA 37:28 CHÚA yêu công lý, Ngài không từ bỏ kẻ thờ phụng Ngài. Ngài luôn bảo vệ họ, nhưng dòng dõi kẻ ác sẽ bị tiêu diệt.
PSA 37:29 Người nhân từ sẽ hưởng được đất và cư ngụ ở đó mãi mãi.
PSA 37:30 Người tốt nói chuyện khôn ngoan, ngôn ngữ người chứa điều hợp lý.
PSA 37:31 Lời dạy dỗ của Thượng Đế ở trong lòng người ấy, và người luôn luôn giữ lời đó.
PSA 37:32 Kẻ ác rình rập và tìm cách hãm hại người lành.
PSA 37:33 Nhưng Thượng Đế luôn luôn bảo vệ người và không khi nào để kẻ nhân từ bị kết tội.
PSA 37:34 Hãy chờ đợi CHÚA giúp đỡ và bước theo Ngài. Ngài sẽ tôn trọng ngươi và cho ngươi hưởng được đất, rồi ngươi sẽ thấy kẻ ác bị xua đuổi.
PSA 37:35 Tôi đã thấy kẻ ác trông có vẻ hung bạo như cây mọc vững vàng trong đất tốt.
PSA 37:36 Nhưng nó chết đi và biến mất. Tôi tìm nó nhưng không thấy nữa.
PSA 37:37 Hãy để ý người ngay thẳng và quan sát kẻ lương thiện. Người có lòng hiền hoà sẽ có con cháu nối dòng.
PSA 37:38 Nhưng tội nhân sẽ bị tiêu diệt; chúng sẽ không có con để nối dòng.
PSA 37:39 CHÚA giải cứu người ngay thẳng; Ngài là sức mạnh của họ trong cơn nguy biến.
PSA 37:40 CHÚA giúp đỡ và giải cứu họ; Ngài cứu họ khỏi kẻ ác vì họ trông cậy Ngài.
PSA 38:1 Bài ca của Đa-vít để ghi nhớ. Lạy CHÚA, xin đừng sửa phạt tôi đang khi Ngài nổi giận. Đừng trừng trị tôi đang khi Ngài bực tức.
PSA 38:2 Các mũi tên CHÚA làm tổn thương tôi, tay CHÚA hành hại tôi.
PSA 38:3 Toàn thân tôi đau yếu vì bị Ngài trừng phạt. Vì tội lỗi tôi, thịt xương tôi không còn lành lặn.
PSA 38:4 Tội lỗi tôi tràn ngập tôi, đè trên tôi như gánh nặng.
PSA 38:5 Vì các lỗi lầm tôi nên những vết lở của tôi tanh hôi và làm độc.
PSA 38:6 Tôi đi khòm lưng; suốt ngày buồn thảm.
PSA 38:7 Thân thể tôi nóng sốt, tứ chi tôi đau nhức.
PSA 38:8 Tôi yếu ớt và xây xẩm. Tôi rên rỉ vì đau buồn.
PSA 38:9 Lạy CHÚA Ngài biết các nhu cầu tôi; tiếng khóc tôi không giấu được CHÚA.
PSA 38:10 Tim tôi hồi hộp, sức lực tôi tiêu tan. Mắt tôi mù lòa.
PSA 38:11 Vì các thương tích tôi, cho nên bạn hữu và láng giềng đều xa lánh, còn các thân nhân cũng tránh né.
PSA 38:12 Có kẻ giăng bẫy định giết tôi. Những kẻ rắp tâm hại tôi lập mưu ác; suốt ngày chúng tính chuyện dối gạt.
PSA 38:13 Tôi như người điếc, không nghe thấy gì. Tôi như kẻ câm, chẳng nói tiếng nào.
PSA 38:14 Tôi như người không biết nghe, chẳng đáp một lời.
PSA 38:15 Lạy CHÚA, tôi tin cậy nơi Ngài. Lạy CHÚA là Thượng Đế tôi, Ngài sẽ trả lời.
PSA 38:16 Tôi thưa, “Xin đừng để chúng cười nhạo hay huênh hoang khi tôi bị thua thiệt.”
PSA 38:17 Tôi sắp chết, tôi không thể quên những đau đớn tôi.
PSA 38:18 Tôi xưng tội tôi ra; các tội lỗi tôi khiến tôi bối rối.
PSA 38:19 Những kẻ thù nghịch tôi mạnh dạn, lắm người ghét tôi vô cớ.
PSA 38:20 Chúng lấy dữ trả lành. Chúng chống đối tôi, vì tôi muốn làm điều ngay thẳng.
PSA 38:21 CHÚA ôi, xin đừng lìa bỏ tôi; Lạy Thượng Đế, xin đừng bỏ đi.
PSA 38:22 Xin hãy mau mau đến giúp tôi, lạy CHÚA là Đấng Cứu Chuộc tôi.
PSA 39:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu Giê-đu-thun. Bài ca của Đa-vít. Tôi nói, “Tôi sẽ thận trọng về những hành vi tôi và sẽ không phạm tội trong lời nói. Trong khi ở gần kẻ ác tôi phải hết sức thận trọng lời ăn tiếng nói.”
PSA 39:2 Cho nên tôi giữ im lặng. Thậm chí đến lời lành cũng không ra khỏi miệng tôi, nhưng vì vậy mà tôi càng thêm bực bội.
PSA 39:3 Trong lòng tôi tức giận, càng nghĩ đến, tôi càng tức tối. Nên tôi phải lên tiếng;
PSA 39:4 Lạy CHÚA, xin cho tôi biết bao giờ đời tôi sẽ chấm dứt và tôi còn sống được bao lâu nữa. Xin cho tôi biết đời tôi dài bao nhiêu.
PSA 39:5 Ngài cho tôi một đời ngắn ngủi; mạng sống tôi chẳng nghĩa lý gì đối với Ngài. Đời người giống như hơi thở. Xê-la
PSA 39:6 Đời người như bóng thoảng qua. Công trình họ làm thật vô ích; họ tích lũy của cải nhưng chẳng biết ai sẽ hưởng thụ.
PSA 39:7 Cho nên, CHÚA ơi, hi vọng tôi là gì? Ngài là hi vọng của tôi.
PSA 39:8 Xin cứu tôi khỏi mọi tội lỗi tôi. Đừng để kẻ ác ngu dại chế diễu tôi.
PSA 39:9 Tôi im lặng, không mở miệng vì Ngài là Đấng làm việc ấy.
PSA 39:10 Xin đừng trừng phạt tôi; roi vọt của CHÚA hầu như sắp giết tôi.
PSA 39:11 Ngài sửa phạt và trừng trị tội lỗi con người; Ngài tiêu diệt điều họ ưa thích như con thiêu thân. Mạng sống con người chẳng khác gì hơi thở. Xê-la
PSA 39:12 Lạy CHÚA, xin nghe lời cầu nguyện tôi, nghe tiếng kêu than của tôi. Đừng quên nước mắt tôi. Tôi như lữ khách trên đời nầy với Ngài. Đời tôi chỉ tạm thời thôi, chẳng khác nào các tổ tiên tôi.
PSA 39:13 Xin cho tôi yên thân để tôi được vui mừng trước khi tôi biến mất, không còn nữa.
PSA 40:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Tôi kiên nhẫn chờ đợi CHÚA. Ngài đã quay lại nghe tiếng kêu xin của tôi.
PSA 40:2 Ngài nhấc tôi lên khỏi hố hủy diệt, khỏi vũng bùn nhão. Ngài đặt tôi đứng trên tảng đá, khiến chân tôi vững vàng.
PSA 40:3 Ngài đặt một bài ca mới vào miệng tôi, bài ca ngợi tôn Thượng Đế. Nhiều người sẽ thấy điều đó và thờ phụng Ngài. Rồi họ sẽ tin cậy Chúa.
PSA 40:4 Phước cho người tin cậy Chúa, không quay sang lũ kiêu ngạo hay chạy theo kẻ lường gạt.
PSA 40:5 Lạy Chúa là Thượng Đế tôi, Ngài đã làm nhiều phép lạ. Các chương trình của Ngài cho chúng tôi thật nhiều, không ai có thể so với Ngài. Nếu tôi thử thuật lại các chương trình đó, thật quá nhiều đếm không hết.
PSA 40:6 Ngài không muốn sinh tế hay các của dâng. Ngài đã mở lỗ tai cho tôi để nghe và vâng lời Ngài. Ngài không muốn của lễ thiêu hay sinh tế chuộc tội.
PSA 40:7 Rồi tôi nói, “Nầy tôi đến. Trong sách có viết về tôi.
PSA 40:8 Lạy Thượng Đế, tôi đến để làm theo ý muốn Ngài. Lời dạy dỗ của Ngài ở trong lòng tôi.”
PSA 40:9 Tôi sẽ thuật lại sự nhân từ Chúa trong các hội lớn. Chúa ơi, Ngài biết môi tôi không im lặng.
PSA 40:10 Tôi không giấu diếm sự nhân từ Ngài trong lòng tôi. Tôi rao ra sự thành tín và sự cứu rỗi của Ngài. Trong hội lớn đông người, tôi không giấu diếm tình yêu và chân lý Ngài.
PSA 40:11 Lạy Chúa xin đừng khép lòng nhân từ Ngài đối với tôi. Xin hãy để tình yêu và chân lý luôn luôn bảo vệ tôi.
PSA 40:12 Những nỗi khốn khổ vây phủ tôi; nhiều quá không đếm nổi. Tội lỗi đã bắt lấy tôi khiến tôi không còn lối thoát. Tội lỗi tôi còn nhiều hơn tóc trên đầu tôi, cho nên tôi đâm ra thất vọng.
PSA 40:13 Lạy Chúa xin hãy cứu tôi. Lạy Chúa, xin mau mau đến giúp tôi.
PSA 40:14 Nhiều kẻ tìm giết mạng sống tôi. Xin khiến chúng nó bị hổ nhục và nhuốc nhơ. Kẻ nào muốn hại tôi, xin khiến chúng nó bỏ chạy vì xấu hổ.
PSA 40:15 Kẻ nào chế giễu tôi, xin khiến chúng nó câm miệng vì xấu hổ.
PSA 40:16 Nhưng xin hãy cho những ai theo Ngài được vui mừng hớn hở. Họ yêu mến Ngài vì Ngài cứu họ. Nguyền cho họ luôn luôn nói, “Đáng ca ngợi Chúa!”
PSA 40:17 Lạy Chúa, vì tôi nghèo khổ và khốn đốn, xin hãy nhớ đến tôi. Ngài là Đấng giúp đỡ và là Đấng cứu chuộc tôi. Lạy Thượng Đế, xin đừng chậm trễ.
PSA 41:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Phúc cho người nào giúp đỡ kẻ nghèo. Khi gặp hoạn nạn, Ngài sẽ giải cứu người.
PSA 41:2 Chúa sẽ gìn giữ mạng sống người và ban phước cho người trên đất. Ngài không để kẻ thù nghịch thắng hơn người.
PSA 41:3 Khi bị đau yếu, Ngài sẽ thêm sức cho người, và khiến người lành mạnh lại.
PSA 41:4 Tôi nói, “Lạy Chúa, xin thương xót tôi. Chữa lành tôi vì tôi phạm tội cùng Chúa.”
PSA 41:5 Những kẻ thù tôi trù ẻo tôi rằng, “Chừng nào thì hắn qua đời và bị quên lãng?”
PSA 41:6 Vài người đến thăm tôi nhưng lòng chúng không thật. Chúng đến để mong kiếm tin dữ. Rồi chúng đi ra đồn đãi.
PSA 41:7 Nhiều kẻ thù xầm xì nghịch tôi, mong tôi gặp điều chẳng lành.
PSA 41:8 Chúng nói, “Hắn mắc cơn bệnh hiểm nghèo, Hắn sẽ không thể nào ngồi dậy khỏi giường nổi.”
PSA 41:9 Đến nỗi người bạn thân nhất của tôi, vốn ăn chung bàn cùng tôi cũng quay lại phản tôi.
PSA 41:10 Lạy Chúa xin thương xót tôi. Thêm sức để tôi báo thù chúng nó.
PSA 41:11 Vì kẻ thù tôi không thể đánh bại tôi nên tôi biết Ngài hài lòng về tôi.
PSA 41:12 Vì tôi thanh liêm, nên Ngài yểm trợ tôi và ở cùng tôi mãi mãi.
PSA 41:13 Hãy ca ngợi Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en. Từ nay cho đến muôn đời. A-men, A-men.
PSA 42:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài mạch-kinh của con cháu Cô-rê. Thượng Đế ôi, tôi khao khát Ngài như con nai thèm suối nước.
PSA 42:2 Tôi khát khao Thượng Đế hằng sống. Chừng nào tôi mới được đi gặp Ngài?
PSA 42:3 Ngày đêm nước mắt làm thức ăn cho tôi. Người ta luôn luôn hỏi tôi, “Thượng Đế anh đâu?”
PSA 42:4 Khi tôi nhớ lại thời tươi đẹp ấy, thì tôi thốt ra nỗi lòng của tôi. Trước kia tôi thường đi cùng dân chúng, hướng dẫn họ vào đền thờ để hát ca ngợi Ngài.
PSA 42:5 Tại sao tôi buồn bã đến thế? Tại sao tôi bực dọc đến thế? Tôi phải tiếp tục hi vọng nơi Thượng Đế, và sẽ vẫn ca ngợi Ngài là Cứu Chúa
PSA 42:6 và Thượng Đế tôi. Tôi rất buồn thảm. Tôi nghĩ đến Ngài nơi nguồn sông Giô-đanh, gần đỉnh núi Hẹt-môn và núi Mít-xa.
PSA 42:7 Thác lũ của Ngài vang động. Những đợt sóng Chúa ập vào tôi.
PSA 42:8 Mỗi ngày Chúa tỏ lòng nhân từ của Ngài cùng tôi. Mỗi tối tôi hát ca ngợi Ngài, như lời cầu nguyện cùng Thượng Đế hằng sống.
PSA 42:9 Tôi thưa cùng Thượng Đế, là Khối Đá của tôi rằng, “Sao Chúa quên tôi? Tại sao tôi buồn thảm và bị kẻ thù quấy rối?”
PSA 42:10 Những sự sỉ nhục của kẻ thù muốn giết chết tôi. Chúng luôn luôn hạch hỏi, “Thượng Đế anh đâu rồi?”
PSA 42:11 Tại sao tôi buồn thảm? Tại sao tôi bực dọc? Tôi sẽ tiếp tục đặt niềm hi vọng nơi Chúa, và sẽ vẫn ca ngợi Ngài là Cứu Chúa và là Thượng Đế tôi.
PSA 43:1 Lạy Chúa, xin hãy bênh vực tôi. Xin biện hộ cho tôi chống lại những kẻ chẳng theo Ngài. Xin giải cứu tôi khỏi những kẻ dối trá và những kẻ làm ác.
PSA 43:2 Lạy Thượng Đế, Ngài là sức mạnh của tôi. Sao Ngài từ bỏ tôi? Tại sao tôi phải buồn thảm và bị kẻ thù quấy rối?
PSA 43:3 Xin Ngài ban cho tôi ánh sáng cùng chân lý để hướng dẫn tôi. Cầu xin ánh sáng và chân lý đó dẫn tôi đến núi thánh, nơi Ngài ngự.
PSA 43:4 Rồi tôi sẽ đi đến đền thờ Chúa, đến cùng Thượng Đế là niềm vui và nguồn hạnh phúc của tôi. Tôi sẽ lấy đờn cầm ca ngợi Ngài, là Thượng Đế tôi.
PSA 43:5 Tại sao tôi buồn thảm? Tại sao tôi bực dọc? Tôi sẽ tiếp tục đặt niềm hi vọng nơi Thượng Đế và sẽ vẫn ca ngợi Ngài, Cứu Chúa và là Thượng Đế tôi.
PSA 44:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài mạch-kinh của con cháu Cô-rê. Lạy Chúa, chúng tôi có nghe về Ngài. Tổ tiên chúng tôi đã thuật lại những điều Ngài làm trong đời họ, ngày xưa lâu lắm rồi.
PSA 44:2 Ngài dùng quyền năng đánh đuổi các dân tộc ra khỏi đất rồi cho tổ tiên chúng tôi vào sinh sống trong đất ấy. Ngài tiêu diệt các dân tộc khác nhưng Ngài giải thoát tổ tiên chúng tôi.
PSA 44:3 Họ chiếm được đất không nhờ gươm giáo, cũng chẳng phải nhờ sức mạnh của họ mà là nhờ quyền năng lớn lao và sức mạnh của Ngài. Ngài ở cùng họ vì Ngài yêu thương họ.
PSA 44:4 Lạy Thượng Đế, Ngài là vua của tôi. Nhờ mệnh lệnh Ngài dân cư Gia-cốp được đắc thắng.
PSA 44:5 Nhờ sự giúp đỡ Ngài chúng tôi đánh đuổi được kẻ thù. Nhân danh Ngài chúng tôi chà đạp đối phương.
PSA 44:6 Tôi chẳng nhờ cung tên để giúp tôi hay gươm giáo để cứu tôi.
PSA 44:7 Ngài mới là Đấng cứu chúng tôi khỏi tay kẻ thù, Ngài khiến kẻ nghịch chúng tôi xấu hổ.
PSA 44:8 Chúng tôi sẽ ca ngợi Chúa mỗi ngày; ca tụng danh Chúa mãi mãi. Xê-la
PSA 44:9 Nhưng Chúa đã từ bỏ chúng tôi, khiến chúng tôi xấu hổ. Chúa không còn ra trận với đạo binh chúng tôi nữa.
PSA 44:10 Ngài để cho kẻ thù xua đuổi chúng tôi và để những kẻ ghét chúng tôi cướp đoạt của cải chúng tôi.
PSA 44:11 Chúa đưa chúng tôi đi như chiên sắp bị làm thịt, phân tán chúng tôi trong các nước.
PSA 44:12 Ngài bán dân sự Ngài với giá rẻ mạt, và không buồn kiếm lời khi bán họ nữa.
PSA 44:13 Ngài khiến chúng tôi thành lời giễu cợt cho láng giềng chúng tôi; những người sống quanh chúng tôi trêu chọc chúng tôi.
PSA 44:14 Ngài khiến chúng tôi thành trò đùa giữa các nước; mọi người nhìn chúng tôi lắc đầu.
PSA 44:15 Tôi luôn luôn bị nhục nhã và sự xấu hổ bao trùm lấy tôi.
PSA 44:16 Các kẻ thù tôi trả đũa tôi bằng lời mắng chưởi và nguyền rủa.
PSA 44:17 Mọi điều đó xảy đến cho chúng tôi, nhưng chúng tôi không quên Chúa, hay phá lời giao ước Ngài.
PSA 44:18 Lòng chúng tôi không quay khỏi Ngài, chúng tôi vẫn luôn luôn theo Ngài.
PSA 44:19 Nhưng Chúa đã đè bẹp chúng tôi nơi chó rừng ở và lấy bóng tối bao trùm chúng tôi.
PSA 44:20 Nếu chúng tôi quên Chúa hay giơ tay hướng về các thần lạ,
PSA 44:21 Ngài hẳn đã biết vì Ngài thấy rõ đáy lòng chúng tôi.
PSA 44:22 Vì Chúa mà chúng tôi luôn luôn bị đe dọa tính mạng. Người ta xem chúng tôi như chiên sắp bị làm thịt.
PSA 44:23 Lạy Chúa, xin hãy thức dậy! Sao Ngài ngủ? Xin hãy thức dậy! Đừng quên chúng tôi mãi mãi.
PSA 44:24 Sao Chúa giấu mặt khỏi chúng tôi? Sao Chúa quên những nỗi đau khổ và gian nan của chúng tôi?
PSA 44:25 Chúng tôi đã bị chà đạp xuống đất đen; chúng tôi nằm sấp mặt xuống đất.
PSA 44:26 Xin hãy đứng dậy giúp chúng tôi. Vì tình yêu Ngài, xin hãy cứu chúng tôi.
PSA 45:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Hoa huệ.” Thể mạch-kinh. Một khúc nhạc tình ái do con cháu Cô-rê soạn. Lòng tôi tràn đầy những lời hoa mỹ. Tôi hát bài ca cho vua. Lưỡi tôi như ngòi viết của văn sĩ có tài.
PSA 45:2 Ngài đẹp trai hơn tất cả mọi người, Ngài ăn nói hoạt bát cho nên Thượng Đế đã ban phúc lành cho Ngài đến đời đời.
PSA 45:3 Hỡi chiến sĩ anh dũng, hãy đeo gươm vào. Hãy chứng tỏ sự oai nghi của Ngài.
PSA 45:4 Hãy xông ra trong chiến thắng oai nghi, vì lẽ phải và công bằng. Hãy dùng quyền năng Ngài làm nhiều điều diệu kỳ.
PSA 45:5 Các mũi tên bén nhọn của Ngài đâm thủng tim kẻ thù. Các quốc gia sẽ bị đại bại trước mặt Ngài.
PSA 45:6 Lạy Thượng Đế, ngôi vua còn bền mãi vô cùng. Ngài lấy sự công minh cai trị nước mình.
PSA 45:7 Ngài yêu điều lành và ghét điều ác cho nên Thượng Đế đã chọn Ngài riêng ra từ giữa các bạn hữu Ngài; Thượng Đế đã vui mừng biệt Ngài riêng ra, Xức dầu sang trọng trên đầu Ngài.
PSA 45:8 Áo xống Ngài thơm phức mùi mộc dược, trầm hương và nhục quế. Từ trong điện bằng ngà có tiếng nhạc trỗi lên làm vui lòng Ngài.
PSA 45:9 Các con gái vua thuộc vào hàng phụ nữ đáng kính. Cô dâu Ngài đứng bên phải Ngài, đeo vàng Ô-phia quí giá.
PSA 45:10 Hỡi con gái ta, hãy nghe đây! Hãy để ý và chú tâm. Hãy quên dân tộc và gia đình cha của con đi.
PSA 45:11 Vua ưa thích nhan sắc con. Vì Ngài là Chúa của con, con hãy vâng lời Ngài.
PSA 45:12 Dân chúng thành Tia đã mang đến một lễ vật. Nhiều người giàu có sẽ muốn gặp con.
PSA 45:13 Nàng công chúa thật xinh đẹp. Áo xống nàng dệt bằng vàng.
PSA 45:14 Nàng sẽ mặc áo đẹp ra mắt vua. Các nàng phụ dâu sẽ đi theo sau và cũng sẽ được trình diện vua.
PSA 45:15 Họ sẽ vui mừng và hớn hở đi đến rồi vào cung vua.
PSA 45:16 Ngài sẽ có các con trai để thay thế tổ tiên mình. Ngài sẽ đặt chúng cai trị cả đất.
PSA 45:17 Từ nay về sau tôi sẽ làm cho danh Ngài vẻ vang, để dân chúng sẽ ca ngợi Ngài đời đời.
PSA 46:1 Soạn cho nhạc trưởng. Theo điệu a-la-mốt. Thi thiên của con cháu Cô-rê. Thượng Đế là nơi che chở và là sức mạnh của chúng tôi. Ngài luôn luôn cứu giúp trong lúc nguy nan.
PSA 46:2 Cho nên chúng tôi chẳng sợ dù cho đất rung động hay núi non sụp xuống biển,
PSA 46:3 Dù cho biển gầm và sủi bọt, hay núi lay chuyển vì sóng vỗ ầm ầm cũng vậy. Xê-la
PSA 46:4 Có một con sông mang lại niềm vui cho thành của Thượng Đế, nơi thánh mà Thượng Đế Chí Cao ngự.
PSA 46:5 Thượng Đế ở trong thành đó, nó sẽ không bị rúng động. Vừa bình minh Chúa sẽ giúp đỡ thành ấy.
PSA 46:6 Các dân tộc và vương quốc chuyển lay. Thượng Đế gầm thét, đất liền sụp đổ.
PSA 46:7 Chúa Toàn Năng ở cùng chúng tôi; Thượng Đế của Gia-cốp là Đấng bảo vệ chúng tôi. Xê-la
PSA 46:8 Hãy đến xem những việc Chúa làm, những điều diệu kỳ Ngài đã làm ra trên đất.
PSA 46:9 Ngài dẹp yên giặc khắp nơi trên đất. Ngài bẻ gãy cung tên, gươm giáo và thiêu rụi các chiến xa.
PSA 46:10 Thượng Đế phán, “Hãy im lặng và biết ta là Thượng Đế. Ta là Chủ Tể các dân tộc; Ta là Đấng Chí Cao trên khắp đất.”
PSA 46:11 CHÚA Toàn Năng ở cùng chúng ta; Thượng Đế của Gia-cốp là Đấng bảo vệ chúng ta. Xê-la
PSA 47:1 Bài ca của con cháu Cô-rê. Nầy các dân, hãy vỗ tay. Hãy reo vui cho Thượng Đế.
PSA 47:2 Thượng Đế Chí Cao là Đấng diệu kỳ. Ngài là vua cao cả trên khắp thế gian!
PSA 47:3 Ngài giúp chúng ta đánh bại các quốc gia, và đặt chúng dưới quyền quản trị của chúng ta.
PSA 47:4 Ngài chọn đất cho chúng ta thừa hưởng. Chúng ta là con cái Gia-cốp, tức những kẻ được Ngài yêu. Xê-la
PSA 47:5 Thượng Đế thăng lên trong tiếng reo hò; Chúa ngự lên trong tiếng kèn thổi vang dậy.
PSA 47:6 Hãy ca ngợi Thượng Đế. Hãy xướng hát lên. Hãy hát ca tụng vua chúng ta. Hãy ca lên.
PSA 47:7 Thượng Đế là Vua trên khắp thế gian nên chúng ta hãy hát ca ngợi Ngài.
PSA 47:8 Thượng Đế là vua các dân tộc. Ngài ngự trên ngôi thánh Ngài.
PSA 47:9 Những nhà lãnh đạo các dân tộc cùng nhóm lại chung với dân cư của Thượng Đế của Áp-ra-ham vì các nhà lãnh đạo trên đất đều thuộc về Ngài. Ngài là Đấng cao cả.
PSA 48:1 Bài ca của con cháu Cô-rê. Chúa là Đấng cao cả; Ngài đáng được ca ngợi trong thành của Thượng Đế, trên núi thánh Ngài.
PSA 48:2 Núi ấy rất cao, ngoạn mục là nguồn vui cho cả thế giới. Núi Xi-ôn nổi cao lên về hướng Bắc; đó là thành của vua lớn.
PSA 48:3 Thượng Đế ngự trong đền Ngài; Ngài là Đấng bảo vệ thành ấy.
PSA 48:4 Các vua họp nhau lại để tấn công Xi-ôn. Họ tiến về phía thành ấy.
PSA 48:5 Nhưng khi họ thấy thành thì sửng sốt, và hoảng sợ bỏ chạy.
PSA 48:6 Họ đâm ra sợ hãi và quặn thắt như đàn bà đau đẻ.
PSA 48:7 Thượng Đế dùng ngọn gió Đông hủy diệt các tàu lớn.
PSA 48:8 Trước kia chúng tôi đã nghe, nay chúng tôi thấy rằng Thượng Đế luôn luôn bảo vệ thành Ngài. Đó là thành của CHÚA Toàn Năng, thành của Thượng Đế chúng tôi. Xê-la
PSA 48:9 Lạy Chúa, chúng tôi đi vào đền thờ Ngài để suy tư về tình yêu Ngài.
PSA 48:10 Lạy Thượng Đế, Ngài nổi danh khắp nơi. Khắp đất mọi người đều ca ngợi Ngài. Tay phải Chúa đầy sự cứu rỗi.
PSA 48:11 Núi Xi-ôn vui mừng, các thành của Giu-đa hớn hở vì những quyết định của Chúa rất công minh.
PSA 48:12 Hãy đi quanh Giê-ru-sa-lem và đếm các tháp canh của nó.
PSA 48:13 Xem chúng vững chắc ra sao. Hãy nhìn các đền đài trong đó. Rồi các ngươi hãy kể lại cho con cháu mình biết.
PSA 48:14 Chúa là Thượng Đế chúng ta cho đến đời đời. Từ nay trở đi Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta.
PSA 49:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của con cháu Cô-rê. Nầy các dân hãy nghe đây; các người sống trên đất hãy để ý.
PSA 49:2 Tất cả những người thượng lưu hay hạ lưu, giàu sang hay nghèo hèn, hãy nghe đây.
PSA 49:3 Những lời tôi nói ra đều là khôn ngoan, lòng tôi phát ra sự thông sáng.
PSA 49:4 Tôi sẽ chú tâm đến những châm ngôn; và giải câu đố tôi qua đờn cầm.
PSA 49:5 Tại sao tôi phải sợ hãi trong ngày khốn khó? Tại sao tôi lo sợ khi kẻ ác vây quanh tôi?
PSA 49:6 Chúng ỷ lại vào tiền tài, lợi lộc và khoe khoang của cải.
PSA 49:7 Không ai có thể chuộc được mạng sống kẻ khác. Chẳng ai có thể hối lộ Thượng Đế,
PSA 49:8 vì giá trả cho mạng sống mình vô cùng đắt, không ai trả nổi.
PSA 49:9 Có ai sống mãi mãi đâu? Trước sau mọi người cũng phải lìa đời.
PSA 49:10 Người khôn ngoan cũng phải chết như kẻ dại dột. Kẻ điên dại và ngu xuẩn cũng qua đi, để lại của cải cho người khác.
PSA 49:11 Nơi ở cuối cùng của chúng là nấm mồ. Đó là nơi ở của chúng từ nay về sau dù cho chúng lấy tên mình đặt cho các địa danh đi nữa.
PSA 49:12 Người giàu sang cũng không thể sống mãi; rốt cuộc chúng cũng phải chết đi như thú vật.
PSA 49:13 Đó là số phận của những kẻ ỷ lại vào chính mình và những kẻ tin tưởng nơi chúng. Xê-la
PSA 49:14 Chúng sẽ chết như đàn cừu, mồ mả là chuồng của họ, và cái chết là người chăn giữ chúng. Nhưng bình minh đến thì người thanh liêm sẽ đắc thắng, còn thân xác chúng sẽ bị mục nát trong mồ mả, cách xa nơi ở sang trọng của mình.
PSA 49:15 Nhưng Thượng Đế sẽ cứu mạng sống tôi và rút tôi ra khỏi mồ mả. Xê-la
PSA 49:16 Đừng thấy nhà cửa kẻ giàu sang đẹp đẽ hơn mà sợ hãi họ.
PSA 49:17 Họ chẳng mang được gì theo khi xuống huyệt; của cải họ cũng chẳng xuống mồ với họ đâu.
PSA 49:18 Dù cho khi còn sống họ được tán dương, người ta hay ca tụng những kẻ thành công
PSA 49:19 nhưng rốt cuộc họ cũng nối gót tổ tiên. Chẳng bao giờ còn nhìn thấy ánh sáng nữa.
PSA 49:20 Những kẻ giàu mà thiếu khôn ngoan cũng giống như thú vật chết mất thôi.
PSA 50:1 Bài ca của A-sáp. Thượng Đế, Chúa của các Chúa, phán. Từ hướng mặt trời mọc cho đến hướng mặt trời lặn Ngài gọi cả thế giới.
PSA 50:2 Ngài chiếu sáng ra từ Giê-ru-sa-lem, thành phố có vẻ đẹp tuyệt vời.
PSA 50:3 Thượng Đế của chúng tôi đến, Ngài không im lặng đâu. Trước mặt Ngài có ngọn lửa cháy, và quanh Ngài có trận bão dữ dội.
PSA 50:4 Ngài bảo trời cao và đất thấp làm nhân chứng, khi Ngài phân xử dân sự Ngài.
PSA 50:5 Ngài phán, “Hỡi những kẻ thờ phụng ta hãy tập họp lại đây, là những người đã dùng sinh tế lập giao ước với ta.”
PSA 50:6 Thượng Đế là quan án, đến nỗi trời cao kia cũng tuyên bố sự công chính của Ngài. Xê-la
PSA 50:7 Thượng Đế phán, “Hỡi dân Ít-ra-en ta, hãy nghe đây. Ta sẽ làm chứng nghịch các ngươi. Ta là Thượng Đế, Chúa của các ngươi.
PSA 50:8 Ta sẽ chẳng trách ngươi vì các của lễ ngươi. Các ngươi luôn dâng cho ta các của lễ thiêu.
PSA 50:9 Nhưng ta không cần bò đực trong chuồng hay dê đực trong ràn của các ngươi
PSA 50:10 vì tất cả muôn thú trong rừng đều thuộc về ta. Các gia súc ăn cỏ trên ngàn núi cũng là của ta.
PSA 50:11 Ta biết từng con chim trên núi, mọi sinh vật trong đồng nội cũng thuộc về ta.
PSA 50:12 Nếu ta đói, ta chẳng nói cho ngươi biết, vì đất và mọi vật trong đất đều thuộc về ta.
PSA 50:13 Ta không ăn thịt bò đực hay uống huyết dê đực.
PSA 50:14 Hãy dâng của lễ để tỏ lòng cảm tạ Thượng Đế. Hãy dâng cho Thượng Đế Chí Cao điều ngươi đã hứa.
PSA 50:15 Hãy kêu cầu ta trong khi gặp gian nan. Ta sẽ giải cứu ngươi rồi ngươi sẽ tôn kính ta.”
PSA 50:16 Nhưng Thượng Đế phán cùng kẻ ác rằng, “Tại sao ngươi nói đến luật lệ ta, và đề cập đến giao ước ta làm gì?”
PSA 50:17 Ngươi ghét lời dạy ta và quay lưng khỏi điều ta dặn bảo.
PSA 50:18 Khi ngươi thấy kẻ trộm liền nhập bọn với nó. Ngươi tham dự vào chuyện ngoại tình.
PSA 50:19 Miệng ngươi tuôn ra lời nói xấu, lưỡi ngươi phát ra điều dối trá.
PSA 50:20 Ngươi nói xấu anh em ngươi, và đặt điều dối trá về con của mẹ ngươi.
PSA 50:21 Trong khi ngươi làm như vậy thì ta làm thinh, cho nên ngươi tưởng ta cũng như ngươi. Nhưng ta sẽ quở phạt ngươi tận mặt.
PSA 50:22 “Vậy, hỡi những người quên Thượng Đế hãy suy nghĩ điều nầy. Nếu không ta sẽ xé banh xác ngươi, không ai giải cứu nổi.
PSA 50:23 Kẻ nào dâng của lễ tỏ lòng biết ơn ta là kẻ tôn kính ta. Còn những kẻ đi trong đường lối ta, Ta là Thượng Đế sẽ giải cứu họ.”
PSA 51:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít soạn khi nhà tiên tri Na-than khiển trách ông sau khi ông phạm tội với Bát-sê-ba. Thượng Đế ôi, xin hãy đối nhân từ cùng tôi vì Ngài là Đấng thành tín. Xin hãy xoá sạch các sai lầm tôi vì Ngài là Đấng vị tha.
PSA 51:2 Xin hãy rửa tội lỗi tôi và làm cho tôi tinh sạch trở lại.
PSA 51:3 Tôi biết các sai lầm tôi, tôi không bao giờ quên chúng được.
PSA 51:4 Tôi đã phạm tội với riêng Chúa; làm điều Chúa ngăn cấm. Ngài rất công minh khi phán xử, và phán quyết Ngài dành cho tôi rất công bằng.
PSA 51:5 Tôi chào đời trong vi phạm. Mẹ tôi sinh tôi ra trong tội lỗi.
PSA 51:6 Chúa muốn tôi hoàn toàn chân thật, nên xin hãy dạy tôi khôn ngoan.
PSA 51:7 Xin cất lấy tội lỗi tôi thì tôi sẽ tinh sạch. Hãy rửa tôi thì tôi sẽ trắng hơn tuyết.
PSA 51:8 Xin cho tôi nghe tiếng mừng rỡ và hân hoan; Xin hãy làm cho các xương cốt tôi mà Chúa đã bẻ gãy được vui sướng trở lại.
PSA 51:9 Xin hãy ngoảnh mặt làm ngơ khỏi các tội lỗi tôi và lau sạch mọi gian ác tôi.
PSA 51:10 Lạy Thượng Đế, xin hãy tạo một tấm lòng trong sạch trong tôi và chỉnh đốn tâm linh tôi lại.
PSA 51:11 Xin đừng đuổi tôi đi khỏi mặt Ngài hay cất Thánh Linh Ngài ra khỏi tôi.
PSA 51:12 Xin hãy ban lại cho tôi niềm vui vẻ về sự cứu rỗi Chúa. Xin giữ tôi vững mạnh qua ý muốn sẵn lòng.
PSA 51:13 Rồi tôi sẽ dạy đường lối Ngài cho những kẻ làm quấy, và tội nhân sẽ quay về cùng Ngài.
PSA 51:14 Lạy Chúa là Thượng Đế của sự cứu rỗi tôi, xin giải cứu tôi khỏi tội giết người, rồi tôi sẽ hát ngợi ca sự nhân từ Ngài.
PSA 51:15 Lạy Chúa, xin cho phép tôi nói để tôi ca ngợi Ngài.
PSA 51:16 Chúa không thích của lễ, nếu không thì tôi đã dâng. Ngài không màng của lễ thiêu.
PSA 51:17 Của lễ đẹp lòng Ngài là tấm lòng tan vỡ. Lạy Thượng Đế, Ngài không gạt bỏ tấm lòng tan vỡ và hối hận.
PSA 51:18 Xin Chúa hãy làm điều tốt lành cho Giê-ru-sa-lem theo ý muốn Ngài. Xin hãy xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem
PSA 51:19 rồi Chúa sẽ vui lòng nhận sinh tế và của lễ toàn thiêu, và người ta sẽ dâng bò đực trên bàn thờ Ngài.
PSA 52:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài mạch kinh của Đa-vít khi Đô-E người Ê-đôm đến mách với Sau-lơ rằng “Đa-vít hiện trú trong nhà A-hi-mê-léc.” Nầy dũng sĩ, sao ngươi khoe khoang việc ác mình? Tình yêu của Thượng Đế sẽ còn đời đời.
PSA 52:2 Ngươi lập mưu ác. Lưỡi ngươi như dao cạo bén, toàn bịa đặt điều dối trá.
PSA 52:3 Ngươi thích điều quấy hơn lẽ phải, ưa chuyện dối trá hơn sự thật. Xê-la
PSA 52:4 Ngươi thích lời cay cú và lưỡi bịa đặt.
PSA 52:5 Nhưng Thượng Đế sẽ tàn hại ngươi đến đời đời. Ngài sẽ túm lấy ngươi, ném ra khỏi trại ngươi; Ngài sẽ kéo ngươi ra khỏi đất người sống.
PSA 52:6 Người thanh liêm sẽ thấy điều đó và kính sợ Thượng Đế. Họ sẽ cười ngươi và bảo,
PSA 52:7 “Hãy xem số phận của kẻ không nhờ cậy Thượng Đế mà ỷ lại vào tiền tài. Nó càng ngày càng mạnh thêm trong mưu ác.”
PSA 52:8 Còn tôi như cây ô-liu mọc trong đền thờ Chúa. Tôi sẽ tin cậy nơi tình yêu Chúa mãi mãi.
PSA 52:9 Lạy Thượng Đế, tôi sẽ cảm tạ Ngài muôn đời về những việc Ngài làm. Tôi sẽ tin cậy danh Ngài cùng với những người thờ phụng Ngài vì Ngài nhân từ.
PSA 53:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “ma-ha-lát.” Một bài mạch kinh của Đa-vít. Kẻ ngu dại nghĩ thầm, “Chẳng có Thượng Đế đâu.” Kẻ dại dột đều gian ác và hành động nhơ nhuốc; Chẳng có ai làm điều phải.
PSA 53:2 Thượng Đế từ trời nhìn xuống loài người xem thử có ai khôn ngoan, hoặc tìm kiếm Ngài để xin chỉ dạy chăng.
PSA 53:3 Nhưng mọi người đều quay đi. Ai nấy đều gian ác. Chẳng có ai làm điều thiện, kiếm một người cũng không ra.
PSA 53:4 Kẻ ác không biết sao? Chúng ăn nuốt dân ta như ăn bánh. Chúng không hề nhờ cậy Chúa.
PSA 53:5 Kẻ ác bị kinh hoảng dù không có gì phải sợ. Thượng Đế sẽ phân tán xương cốt của kẻ thù ngươi. Chúng sẽ bị ô nhục, vì Thượng Đế đã từ bỏ chúng.
PSA 53:6 Tôi cầu xin cho chiến thắng đến với Ít-ra-en từ núi Xi-ôn! Cầu Chúa mang họ trở về. Lúc đó dân của Gia-cốp sẽ vui mừng, còn người Ít-ra-en sẽ hớn hở.
PSA 54:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với nhạc khí bằng dây. Bài mạch kinh của Đa-vít làm khi người Xíp đến mách với Sau-lơ rằng, “Đa-vít hiện trốn giữa chúng tôi.” Lạy Chúa, xin hãy vì danh Chúa mà giải cứu tôi. Dùng năng lực Ngài để chứng minh tôi vô tội.
PSA 54:2 Xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi; lắng nghe tiếng kêu của tôi.
PSA 54:3 Biết bao người lạ nổi lên chống nghịch tôi, Những kẻ hung ác muốn giết tôi. Chúng không cần biết đến Ngài. Xê-la
PSA 54:4 Nầy, Thượng Đế sẽ giúp đỡ tôi; Chúa sẽ yểm trợ tôi.
PSA 54:5 Cầu cho kẻ thù tôi bị trừng phạt chung với mưu ác của chúng. Xin hãy tiêu diệt chúng vì Ngài thành tín đối với tôi.
PSA 54:6 Tôi sẽ dâng sinh tế cho Chúa. Lạy CHÚA, tôi sẽ cảm tạ Ngài vì Ngài nhân từ.
PSA 54:7 Ngài đã giải cứu tôi khỏi mọi gian nan, mắt tôi đã thấy kẻ thù tôi bị đánh bại.
PSA 55:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với nhạc khí bằng dây. Bài mạch kinh của Đa-vít. Thượng Đế ôi, xin nghe lời cầu nguyện tôi, đừng làm ngơ trước tiếng kêu cứu tôi.
PSA 55:2 Xin lắng nghe và đáp lời tôi. Tôi bị bối rối và buồn bực
PSA 55:3 vì những lời của kẻ thù và cách kẻ ác nhìn tôi. Chúng gây khó khăn cho tôi và tấn công tôi trong khi giận dữ.
PSA 55:4 Lòng tôi lo sợ; sự kinh hoàng về cái chết hãm bắt tôi.
PSA 55:5 Tôi lo sợ và run rẩy; kinh khiếp chụp lấy tôi.
PSA 55:6 Tôi nói, “Ước gì tôi có cánh như bồ câu. Tôi sẽ bay đi để được yên thân.
PSA 55:7 Tôi sẽ bay thật xa đến trú ẩn nơi sa mạc. Xê-la
PSA 55:8 Tôi sẽ vội vã đến nơi trú ẩn của tôi, xa khỏi giông bão mãnh liệt.”
PSA 55:9 Lạy Chúa, xin hãy tiêu diệt và làm rối loạn tiếng nói chúng nó, vì tôi chứng kiến sự hung bạo và cãi vã trong thành.
PSA 55:10 Ngày và đêm chúng đi quanh vách thành, bên trong đó toàn là điều ác và chuyện rối loạn.
PSA 55:11 Sự tàn phá xảy ra khắp nơi trong thành; những chuyện rối loạn và dối trá không khi nào ra khỏi đường phố.
PSA 55:12 Dù kẻ thù sỉ nhục tôi cũng không sao, Tôi có thể chịu được. Dù kẻ ghét tôi cũng không đáng kể. Tôi có thể trốn khỏi nó.
PSA 55:13 Nhưng chính là ngươi, kẻ thân thiết, thân hữu và bạn đồng hành.
PSA 55:14 Chúng tôi trước kia là bạn thân. Cùng nhau đi đến đền thờ Chúa.
PSA 55:15 Cầu cho cái chết chụp bắt kẻ thù tôi. Cầu cho chúng nó chết non vì lòng chúng âm mưu điều ác.
PSA 55:16 Nhưng tôi sẽ kêu cứu cùng Thượng Đế, CHÚA sẽ giải cứu tôi.
PSA 55:17 Sáng, trưa, chiều lòng tôi bối rối và bực dọc, nhưng Ngài sẽ nghe tiếng tôi.
PSA 55:18 Nhiều kẻ chống nghịch tôi nhưng Chúa giữ tôi an toàn trong chiến trận.
PSA 55:19 Thượng Đế là Đấng sống đời đời sẽ nghe tôi và trừng phạt chúng nó. Xê-la Nhưng chúng nó không thay đổi cũng chẳng kính sợ Thượng Đế.
PSA 55:20 Người vốn trước là bạn tôi tấn công bằng hữu mình và bội ước.
PSA 55:21 Miệng lưỡi nó trơn láng như mỡ nhưng trong lòng đầy chiến tranh. Lời nói nó dịu dàng hơn dầu nhưng sắc bén hơn dao.
PSA 55:22 Hãy trao những nỗi lo âu cho Chúa, Ngài sẽ chăm sóc ngươi. Ngài không bao giờ để người nhân đức bị thất vọng.
PSA 55:23 Nhưng Chúa ơi, Ngài sẽ hạ kẻ gian ác xuống nơi mồ mả. Kẻ sát nhân và kẻ dối trá chỉ sống được nửa đời người. Nhưng tôi sẽ tin cậy nơi Ngài.
PSA 56:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Chim bồ câu của cây sồi phương xa.” Thể mịch-tâm của Đa-vít khi người Phi-li-tin bắt được ông ở Gát. Lạy Chúa, xin hãy thương xót tôi vì người ta rượt đuổi tôi; chiến trận vây tôi bốn bề.
PSA 56:2 Kẻ thù tôi suốt ngày đuổi theo tôi; vô số kẻ đánh nhau với tôi.
PSA 56:3 Khi tôi sợ hãi, tôi liền tin cậy nơi Ngài.
PSA 56:4 Tôi ca ngợi vì lời Ngài. Tôi tin cậy nơi Ngài nên chẳng sợ hãi gì. Loài người chẳng làm gì được tôi.
PSA 56:5 Hằng ngày chúng xuyên tạc lời nói tôi; lập mưu ác chống nghịch tôi.
PSA 56:6 Chúng chờ đợi, ẩn núp, theo dõi các bước đi của tôi để chực giết tôi.
PSA 56:7 Lạy Thượng Đế, hãy xua đuổi chúng vì điều ác chúng làm; xin nổi giận trừng phạt chúng.
PSA 56:8 Chúa đã ghi nhớ những nỗi khổ tôi. Ngài ghi sổ những giọt nước mắt tôi. Chẳng phải chúng đều nằm trong nhật ký Ngài sao?
PSA 56:9 Ngày nào tôi kêu cứu, kẻ thù tôi sẽ quay lưng bỏ chạy. Tôi biết rõ điều ấy vì Thượng Đế đứng về phía tôi.
PSA 56:10 Tôi ca ngợi Thượng Đế về lời Ngài phán cùng tôi. Tôi ca ngợi lời Ngài.
PSA 56:11 Tôi tin cậy nơi Thượng Đế. Tôi sẽ không sợ hãi gì. Loài người làm gì tôi được đâu?
PSA 56:12 Lạy Thượng Đế, tôi sẽ giữ lời hứa tôi cùng Ngài. Tôi sẽ dâng của lễ cảm tạ cho Ngài,
PSA 56:13 vì Ngài đã cứu tôi khỏi chết. Ngài giữ chân tôi khỏi vấp té. Cho nên tôi bước đi với Chúa trong ánh sáng của sự sống.
PSA 57:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Chớ tiêu hủy.” Bài mịch-tâm Đa-vít làm khi ông trốn trong hang khỏi tay Sau-lơ. Thượng Đế ôi, xin thương xót tôi, đoái đến tôi vì tôi chạy đến xin Ngài che chở. Xin cho tôi núp dưới bóng cánh Chúa cho đến lúc tai họa qua đi.
PSA 57:2 Tôi kêu cầu cùng Thượng Đế Chí Cao, Đấng thực hiện mọi điều cho tôi.
PSA 57:3 Từ thiên đàng Ngài cứu giúp tôi. Ngài trừng phạt kẻ rượt đuổi tôi. Xê-la Sai tình yêu và sự chân thật Ngài đến cùng tôi.
PSA 57:4 Kẻ thù tôi vây quanh tôi như sư tử. Tôi phải nằm giữa đám sư tử. Răng chúng nó nhọn như lưỡi giáo và mũi tên, lưỡi chúng nó sắc bén như gươm.
PSA 57:5 Thượng Đế cao cả hơn các từng trời; sự oai nghiêm Ngài bao trùm cả đất.
PSA 57:6 Chúng giăng bẫy cho tôi sập. Chúng đào hố trên lối đi tôi, nhưng chính chúng lại té xuống đó. Xê-la
PSA 57:7 Thượng Đế ôi, tôi đã sẵn sàng cả linh hồn và tấm lòng, để hát ca ngợi Ngài.
PSA 57:8 Linh hồn ơi, hãy thức dậy. Tôi sẽ đánh thức bình minh. Đờn cầm và đờn sắt ơi, hãy tỉnh giấc!
PSA 57:9 Lạy Chúa, tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa muôn dân; Tôi sẽ hát ca ngợi Ngài giữa các nước.
PSA 57:10 Tình yêu cao cả của Chúa vượt trên các từng trời; chân lý Ngài vút đến tận mây xanh.
PSA 57:11 Lạy Chúa, Ngài vượt cao hơn các từng trời. Nguyện vinh hiển Ngài bao phủ khắp đất.
PSA 58:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Chớ tiêu hủy.” Bài mịch-tâm của Đa-vít. Hỡi các quan cai trị, các ngươi cân nhắc đúng đắn chăng? Có phân xử công minh chăng?
PSA 58:2 Không, lòng các ngươi chỉ âm mưu điều ác; Các ngươi dự định chuyện hung tàn trong xứ nầy.
PSA 58:3 Từ lúc mới sinh, kẻ ác đã xa lánh Thượng Đế; vừa mới lọt lòng chúng đã xa lìa và học nói dối.
PSA 58:4 Cơn giận chúng như rắn độc, như rắn hổ mang điếc, bịt tai lại
PSA 58:5 để không nghe tiếng sáo của thầy ếm chú, dù thổi hay đến mấy đi nữa.
PSA 58:6 Lạy Thượng Đế, xin bẻ răng trong miệng chúng! Lạy CHÚA, xin nhổ nanh các sư tử ấy.
PSA 58:7 Cho chúng biến mất như nước chảy đi. Xin cho chúng bị dẫm lên như cỏ, khô héo tàn tạ đi.
PSA 58:8 Xin khiến chúng như ốc sên, vừa bò vừa tan chảy. Nguyện chúng nó như đứa con sảo thai, sinh ra không thấy ánh mặt trời.
PSA 58:9 Cơn giận Ngài sẽ thổi bay chúng nó, nhanh hơn gai gốc đun nóng ấm nước.
PSA 58:10 Người thanh liêm sẽ vui mừng khi thấy hắn bị báo trả. Họ sẽ rửa chân mình trong huyết kẻ ác.
PSA 58:11 Bấy giờ người ta sẽ nói, “Quả có phần thưởng cho kẻ làm điều ngay thẳng. Quả có Thượng Đế phân xử thế gian.”
PSA 59:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Chớ tiêu hủy.” Bài mịch-tâm của Đa-vít khi Sau-lơ cho người tới canh gác nhà để giết ông. Thượng Đế ôi, xin cứu tôi khỏi kẻ thù tôi. Xin bảo vệ tôi khỏi tay kẻ chống nghịch tôi.
PSA 59:2 Xin giải thoát tôi khỏi kẻ làm ác và kẻ giết người.
PSA 59:3 Kìa, chúng rình phục kích tôi. Những kẻ hung ác tấn công tôi nhưng Chúa ôi, tôi có phạm tội hay làm gì quấy đâu.
PSA 59:4 Dù tôi không làm gì hại chúng, nhưng chúng chực tấn công tôi. Xin thức dậy giúp tôi, xin Ngài hãy nhìn.
PSA 59:5 Ngài là Chúa Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en. Xin đứng dậy trừng phạt chúng nó. Đừng thương xót bọn phản bội. Xê-la
PSA 59:6 Buổi tối chúng trở lại, gầm gừ như chó và đi rảo quanh thành.
PSA 59:7 Xin để ý lời ra từ miệng chúng nó. Môi chúng nó nói toàn lời xấc xược vì chúng bảo, “Có ai nghe đâu?”
PSA 59:8 Nhưng Chúa ơi, Ngài sẽ cười và chế diễu chúng nó.
PSA 59:9 Lạy Thượng Đế là sức mạnh tôi, tôi trông cậy Ngài cứu giúp, vì Ngài là Đấng bảo vệ tôi.
PSA 59:10 Thượng Đế tôi yêu thương tôi, Ngài đi trước tôi. Ngài sẽ giúp tôi đánh bại kẻ thù.
PSA 59:11 Lạy Chúa là Đấng bảo vệ chúng tôi, xin đừng giết chúng, nếu không dân cư tôi sẽ quên. Hãy dùng quyền năng Chúa phân tán chúng và đánh hạ chúng.
PSA 59:12 Xin hãy trừng phạt chúng về điều chúng nói. Chúng chưởi rủa và nói dối, nguyền cho sự kiêu căng chúng đánh bẫy chúng.
PSA 59:13 Xin Ngài nổi giận tiêu diệt chúng đi; xin hãy tiêu diệt chúng hoàn toàn! Lúc đó chúng sẽ biết Thượng Đế cai trị trên Ít-ra-en và đến tận cùng trái đất. Xê-la
PSA 59:14 Buổi tối chúng trở lại, gầm gừ như chó và đi rảo quanh thành.
PSA 59:15 Chúng đi lang thang tìm mồi và nếu không tìm đủ miếng ăn liền tru lên.
PSA 59:16 Nhưng tôi sẽ hát ca ngợi sức mạnh Chúa. Buổi sáng tôi sẽ ca ngợi tình yêu Ngài. Ngài là Đấng bảo vệ tôi, nơi trú ẩn trong lúc gian nan.
PSA 59:17 Lạy Thượng Đế, sức mạnh tôi, tôi sẽ hát ca ngợi Ngài. Lạy Thượng Đế, Đấng bảo vệ tôi, Ngài là Thượng Đế yêu thương tôi.
PSA 60:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Hoa huệ giao ước.” Bài mịch-tâm của Đa-vít. Dùng để dạy dỗ khi ông đánh dân A-ram ở phía tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi và Xô-ba và khi Giô-áp trở lại đánh bại mười hai ngàn quân Ê-đôm trong Thung lũng Muối. Thượng Đế ôi, Ngài đã từ bỏ và phân tán chúng tôi. Ngài đã nổi giận, nhưng xin hãy trở lại cùng chúng tôi.
PSA 60:2 Ngài làm đất rung động và nứt nẻ. Xin hãy hàn gắn lại các khe nứt vì đất rung chuyển.
PSA 60:3 Chúa khiến dân Ngài gặp khốn khổ. Ngài cho chúng tôi uống ly rượu khiến chúng tôi đi loạng choạng.
PSA 60:4 Ngài đã giương cờ lên cho những người kính sợ Ngài, để tập họp họ lại xa tầm tên bắn của kẻ thù. Xê-la
PSA 60:5 Xin hãy đáp lời và dùng quyền năng Ngài giải cứu chúng tôi để dân Ngài yêu dấu được giải thoát.
PSA 60:6 Từ đền thờ Ngài, Chúa đã phán rằng, “Sau khi ta thắng trận, ta sẽ phân chia Sê-chem và đo thung lũng Su-cốt.
PSA 60:7 Ghi-li-át và Ma-na-xe đều thuộc về ta. Ép-ra-im là mũ sắt ta. Giu-đa cầm cây trượng vàng ta.
PSA 60:8 Mô-áp là chậu ta tắm rửa. Ta ném giày dép ta qua Ê-đôm. Ta quát tháo Phi-li-tin.”
PSA 60:9 Ai sẽ đưa tôi đến thành có vách kiên cố? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?
PSA 60:10 Lạy Chúa chính Ngài là Đấng đã từ bỏ chúng tôi; Ngài không còn ra trận với đạo quân chúng tôi nữa.
PSA 60:11 Xin giúp chúng tôi chiến đấu chống kẻ thù vì sự giúp đỡ của loài người thật vô dụng.
PSA 60:12 Nhưng chúng tôi có thể thắng được nhờ Ngài giúp đỡ. Ngài sẽ đánh bại kẻ thù chúng tôi.
PSA 61:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với nhạc khí bằng dây. Bài ca của Đa-vít. Chúa ôi, xin nghe tiếng kêu và lời khẩn nguyện tôi.
PSA 61:2 Từ cuối đất, khi tôi sợ hãi liền kêu xin Ngài. Xin mang tôi lên một ngọn núi cao hơn.
PSA 61:3 Ngài là nơi che chở tôi, như tiền đồn kiên cố chống địch quân.
PSA 61:4 Xin cho tôi ở trong Lều Thánh Ngài mãi mãi, và được an ninh khi núp dưới cánh Ngài. Xê-la
PSA 61:5 Lạy Chúa Ngài đã nghe hứa nguyện tôi. Những gì kẻ thờ kính Ngài có được là do Ngài ban cho.
PSA 61:6 Nguyện vua được sống lâu; để người được trường thọ.
PSA 61:7 Hãy để người cai trị trước mặt Chúa đời đời. Xin dùng tình yêu và chân lý Ngài bảo bọc vua.
PSA 61:8 Rồi tôi sẽ ca ngợi danh Chúa muôn đời, và hằng ngày tôi sẽ giữ lời tôi hứa nguyện.
PSA 62:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Giê-đu-thun”. Bài ca của Đa-vít. Tôi tìm được sự an nghỉ trong Thượng Đế; chỉ một mình Ngài có thể cứu tôi.
PSA 62:2 Ngài là khối đá và là sự cứu rỗi tôi. Ngài là Đấng bảo vệ tôi; tôi sẽ không bao giờ bị đánh bại.
PSA 62:3 Các ngươi sẽ tấn công ta cho đến chừng nào? Tất cả các ngươi sẽ tìm giết ta sao? Ta giống như vách nghiêng hay một hàng rào sắp sập.
PSA 62:4 Các ngươi âm mưu khiến xô ta ngã. Các ngươi thích đặt điều nói dối về ta. Ngoài miệng thì nói ngon ngọt, mà trong lòng thì nguyền rủa ta. Xê-la
PSA 62:5 Tôi tìm được sự an nghỉ nơi Thượng Đế; chỉ một mình Ngài ban cho tôi hi vọng.
PSA 62:6 Ngài là khối đá và là sự cứu rỗi tôi. Ngài là Đấng bảo vệ tôi; tôi sẽ không khi nào bị đánh bại.
PSA 62:7 Vinh dự tôi và vinh hiển tôi đến từ Thượng Đế. Ngài là khối đá vững mạnh và là nơi che chở tôi.
PSA 62:8 Hỡi muôn dân, hãy luôn luôn tin cậy nơi Chúa. Hãy trút hết tâm sự mình với Ngài, vì Thượng Đế là nguồn che chở của chúng tôi. Xê-la
PSA 62:9 Người hạ lưu chỉ như hơi thở, còn kẻ thượng lưu chỉ là giả dối. Để lên cân, chúng chổng lên; chung nhau lại, chúng giống hơi thở.
PSA 62:10 Đừng ỷ vào sức mạnh. Trộm cắp cũng vô ích. Dù ngươi giàu sang đến đâu, cũng đừng ỷ lại vào của cải.
PSA 62:11 Thượng Đế đã phán một lần; lỗ tai tôi lại nghe nhiều lần: Thượng Đế rất quyền năng.
PSA 62:12 Thượng Đế là Đấng yêu thương. Ngài báo trả mỗi người theo việc họ làm.
PSA 63:1 Bài ca của Đa-vít khi ông trốn trong sa mạc Giu-đa. Lạy Chúa, Ngài là Thượng Đế tôi. Tôi tìm kiếm Ngài. Tôi khao khát Ngài như người đi lạc trong đất khô khan, hoang vu, không nước.
PSA 63:2 Tôi đã thấy Ngài trong đền thờ, đã nhìn sức mạnh và vinh hiển Ngài.
PSA 63:3 Vì tình yêu Ngài quí hơn mạng sống, nên tôi sẽ ca ngợi Ngài.
PSA 63:4 Tôi sẽ ca ngợi Chúa suốt đời tôi. Tôi sẽ giơ tay lên cầu nguyện cùng danh Ngài.
PSA 63:5 Tôi sẽ thích thú như được nếm thức ăn ngon. Môi tôi sẽ hát, miệng tôi sẽ tôn vinh Ngài.
PSA 63:6 Đang khi nằm trên giường, tôi nhớ đến Ngài; tôi suy nghĩ về Ngài suốt đêm.
PSA 63:7 Ngài là sự cứu giúp tôi; vì được Ngài bảo vệ nên tôi hát.
PSA 63:8 Tôi ở gần Ngài; tay phải Ngài nâng đỡ tôi.
PSA 63:9 Có mấy kẻ tìm giết tôi nhưng chúng sẽ đi xuống huyệt.
PSA 63:10 Chúng sẽ bị gươm giết và bị chó sói xé xác.
PSA 63:11 Nhưng vua sẽ vui mừng nơi Thượng Đế mình. Những ai hứa nguyện trong danh Ngài sẽ ca ngợi Ngài. Còn miệng của kẻ dối trá sẽ ngậm lại.
PSA 64:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Lạy Chúa xin nghe lời kêu xin của tôi. Tôi sợ kẻ thù; xin bảo vệ tôi khỏi tay chúng.
PSA 64:2 Xin giấu tôi khỏi kẻ lập mưu ác, khỏi lũ tính chuyện gian tà.
PSA 64:3 Chúng mài lưỡi mình cho bén như gươm, và bắn ra những lời cay đắng như tên.
PSA 64:4 Từ nơi ẩn núp, chúng lén bắn người vô tội; chúng bắn bất chợt, không sợ hãi gì.
PSA 64:5 Chúng thi nhau làm quấy, bàn định chuyện giăng bẫy, nghĩ rằng không ai thấy.
PSA 64:6 Chúng lập mưu ác và tự nhủ, “Chúng ta có kế hoạch hoàn hảo.” Tâm địa con người thật khó lường.
PSA 64:7 Nhưng Chúa đã lấy tên bắn chúng nó; chúng bất ngờ bị bắn ngã.
PSA 64:8 Lời nói chúng trở lại hại chúng. Mọi người thấy chúng sẽ lắc đầu.
PSA 64:9 Bấy giờ mọi người sẽ kính sợ Chúa. Họ thuật lại những việc Thượng Đế làm, và học được từ đó.
PSA 64:10 Những người ngay thẳng sẽ vui mừng trong CHÚA và được Ngài bảo vệ. Những ai ngay thẳng hãy ca ngợi Ngài.
PSA 65:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca ngợi của Đa-vít. Lạy Chúa, Ngài đáng được tán dương tại Giê-ru-sa-lem. Chúng tôi sẽ giữ lời hứa cùng Ngài.
PSA 65:2 Ngài nghe lời cầu xin của chúng tôi. Mọi dân sẽ đến cùng Ngài.
PSA 65:3 Tội lỗi chúng tôi bao phủ chúng tôi, nhưng Chúa tha hết.
PSA 65:4 Phúc cho người được Chúa chọn ở trong triều đình Ngài. Trong nhà Chúa, trong đền thánh Ngài chúng tôi nhận lãnh mọi điều tốt lành.
PSA 65:5 Lạy Chúa là Đấng Cứu chuộc chúng tôi, Ngài đáp lời chúng tôi bằng sự giải thoát diệu kỳ. Muôn dân trên đất và bên kia các đại dương sẽ trông cậy vào Ngài.
PSA 65:6 Ngài dùng quyền năng dựng nên núi non; nai nịt bằng sức mạnh.
PSA 65:7 Ngài dẹp tiếng biển gào thét, ngăn chận các lượn sóng ầm ầm, và sự náo loạn của các dân.
PSA 65:8 Thậm chí các dân ở cuối đất cũng sợ hãi các phép lạ Chúa. Người ta ca ngợi Ngài từ hướng mặt trời mọc đến hướng mặt trời lặn.
PSA 65:9 Chúa chăm sóc đất và nhuần tưới nó; khiến nó ra phì nhiêu. Các sông ngòi Chúa đầy nước. Ngài khiến ngũ cốc mọc lên.
PSA 65:10 Ngài sai mưa tưới các luống cày, tràn ngập các luống bừa. Ngài cho mưa làm mềm đất và ban phước cho mùa màng.
PSA 65:11 Đầu năm Ngài ban cho trúng mùa cuối năm Ngài ban cho nhiều hoa lợi.
PSA 65:12 Cỏ xanh mọc kín sa mạc, sự vui mừng bao phủ đồi núi.
PSA 65:13 Các đồng cỏ đầy dẫy gia súc, các thung lũng tràn ngập ngũ cốc. Mọi thứ trên đất đều reo mừng.
PSA 66:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca ngợi. Hỡi cả trái đất, hãy reo vui cho Thượng Đế.
PSA 66:2 Hãy ca ngợi uy danh của Ngài! Hãy ca ngợi Ngài.
PSA 66:3 Hãy thưa cùng Chúa rằng, “Các công việc Ngài làm thật lạ lùng! Vì quyền năng cao cả Ngài, các kẻ thù đều phải phục tùng Ngài.
PSA 66:4 Cả đất thờ phụng Ngài và ca ngợi Ngài. Chúng hát khen danh Ngài.” Xê-la
PSA 66:5 Hãy đến xem điều Thượng Đế đã làm, những việc kỳ diệu Ngài thực hiện cho con người.
PSA 66:6 Ngài hóa biển ra đất khô. Người ta đi bộ qua sông. Chúng ta hãy hát mừng vì công việc Ngài làm.
PSA 66:7 Chúa dùng quyền năng cai trị đời đời. Ngài trông chừng các dân để chúng không chống nghịch Ngài. Xê-la
PSA 66:8 Hỡi các dân, hãy ca ngợi Thượng Đế chúng ta; hãy lớn tiếng hát khen Ngài.
PSA 66:9 Ngài bảo vệ mạng sống chúng ta, trông nom chúng ta.
PSA 66:10 Lạy Thượng Đế, Ngài đã thử chúng tôi; Ngài đã luyện chúng tôi như luyện bạc.
PSA 66:11 Chúa khiến chúng tôi sập bẫy, chất gánh nặng trên chúng tôi.
PSA 66:12 Ngài để kẻ thù đè đầu cỡi cổ chúng tôi. Chúng tôi đi qua lửa và lụt lội, nhưng Chúa đưa chúng tôi đến nơi tốt lành.
PSA 66:13 Tôi sẽ mang của lễ thiêu vào đền thờ Chúa. Tôi sẽ thực hiện điều tôi hứa,
PSA 66:14 là những điều tôi cam kết đang khi gặp khốn khó.
PSA 66:15 Tôi sẽ mang cho Ngài súc vật mập béo, dâng cho Ngài chiên, bò đực và dê đực. Xê-la
PSA 66:16 Tất cả những ai kính sợ Chúa, hãy đến nghe, ta sẽ cho các ngươi biết điều Chúa đã làm cho ta.
PSA 66:17 Miệng tôi kêu cầu cùng Thượng Đế và lưỡi tôi hát ca ngợi Ngài.
PSA 66:18 Nếu lòng tôi có chứa điều ác, chắc hẳn Chúa sẽ không nghe tôi.
PSA 66:19 Nhưng Thượng Đế đã nghe; Ngài nhận lời khấn nguyện tôi.
PSA 66:20 Chúc tụng Thượng Đế vì Ngài không bỏ ngoài tai lời cầu nguyện tôi hay rút lại tình yêu Ngài đối với tôi.
PSA 67:1 Soạn cho nhạc trưởng. Dùng với nhạc khí bằng dây. Bài ca ngợi. Lạy Chúa, xin thương xót chúng tôi, xin ban phước và tỏ lòng nhân từ Ngài với chúng tôi, Xê-la
PSA 67:2 để thế gian học biết đường lối Ngài và muôn dân sẽ biết quyền năng cứu chuộc của Ngài.
PSA 67:3 Lạy Thượng Đế, muôn dân phải ca ngợi Ngài; mọi người hãy tôn vinh Ngài.
PSA 67:4 Các dân hãy vui vẻ và hát khen Ngài vì Ngài phân xử các dân một cách công minh. Ngài hướng dẫn các dân trên đất. Xê-la
PSA 67:5 Lạy Thượng Đế, muôn dân nên ca ngợi Ngài; mọi người phải tôn vinh Chúa.
PSA 67:6 Đất đã sinh sản hoa màu. Thượng Đế chúng tôi ban phúc cho chúng tôi.
PSA 67:7 Ngài ban phúc lành cho chúng tôi để mọi người trên đất kính sợ Ngài.
PSA 68:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca ngợi của Đa-vít. Nguyện Chúa đứng lên phân tán các kẻ thù Ngài; nguyện những kẻ ghét Ngài trốn chạy trước mặt Ngài.
PSA 68:2 Xin hãy thổi bay chúng nó như khói bị gió thổi tạt. Như sáp tan chảy trước lửa ra sao nguyện kẻ ác cũng bị tan biến trước Thượng Đế như thế.
PSA 68:3 Nhưng những ai làm điều công chính sẽ vui mừng, và hớn hở trước mặt Thượng Đế; họ sẽ mừng rỡ.
PSA 68:4 Hãy hát cho Thượng Đế; ca ngợi danh Ngài. Hãy ca tụng Đấng cỡi trên mây gió, danh Ngài là CHÚA. Hãy reo vui trước mặt Ngài.
PSA 68:5 Thượng Đế ngự trong đền thánh Ngài. Ngài là cha của kẻ mồ côi, Đấng bênh vực kẻ góa bụa.
PSA 68:6 Thượng Đế chuẩn bị nơi ở cho kẻ cô đơn không nhà. Ngài giải phóng tù nhân trong tiếng reo mừng, còn những kẻ chống nghịch Ngài sẽ phải sống trong đất khô cằn.
PSA 68:7 Lạy Thượng Đế, Ngài dẫn dắt dân Ngài ra khỏi Ai-cập, khi Ngài đi qua sa mạc. Xê-la
PSA 68:8 Đất rung chuyển, các từng trời đổ mưa xuống khi Thượng Đế của Ít-ra-en ngự đến núi Si-nai,
PSA 68:9 Lạy Thượng Đế Ngài sai mưa nhuần tưới; Ngài phục hồi lại đất khô cằn.
PSA 68:10 Dân Ngài định cư tại đó. Lạy Thượng Đế, Ngài chăm sóc kẻ nghèo khổ do lòng nhân từ Ngài.
PSA 68:11 Chúa truyền lệnh, thì vô số người loan tin:
PSA 68:12 “Các vua và đạo binh họ bỏ chạy. Trong trại quân họ chia nhau của cướp được nơi chiến trận.
PSA 68:13 Những kẻ ngồi quanh lửa trại sẽ phân chia những của cướp nơi chiến trận.”
PSA 68:14 Đấng Toàn Năng phân tán các vua như tuyết trên núi Sanh-môn.
PSA 68:15 Núi Ba-san cao vút; núi Ba-san có nhiều chóp.
PSA 68:16 Tại sao núi có nhiều chóp ganh tị nhìn ngọn núi Thượng Đế đã chọn làm nơi ở Ngài? Chúa sẽ ngự ở đó đời đời.
PSA 68:17 Thượng Đế đến cùng với hàng ngàn quân xa; từ núi Si-nai Chúa đi đến nơi thánh Ngài.
PSA 68:18 Khi Ngài lên núi cao, dắt theo một đoàn tù nhân. Ngài nhận lễ vật của loài người, ngay cả lễ vật của kẻ chống nghịch, không muốn Ngài là Thượng Đế ở đó.
PSA 68:19 Hãy ca ngợi Chúa, Thượng Đế của chúng ta, Đấng cứu giúp chúng ta mỗi ngày. Xê-la
PSA 68:20 Thượng Đế chúng ta là Thượng Đế giải cứu; Ngài cứu chúng ta khỏi chết.
PSA 68:21 Thượng Đế sẽ đập đầu kẻ thù Ngài, là đầu tóc của những kẻ hay phạm tội.
PSA 68:22 Chúa phán, “Ta sẽ dắt kẻ thù ta về từ Ba-san; Ta sẽ mang chúng về từ đáy biển sâu.
PSA 68:23 Lúc đó các ngươi sẽ dẫm trong huyết chúng, cho đến mấy con chó các ngươi cũng liếm láp được phần của chúng nó.”
PSA 68:24 Lạy Thượng Đế, người ta đã thấy Ngài bước đi trong chiến thắng; Lạy Thượng Đế tôi, vua chúng ta đi vào nơi thánh Ngài.
PSA 68:25 Các ca sĩ đi trước, nhạc khí trỗi lên sau; còn các thiếu nữ đánh trống cơm đi ở giữa.
PSA 68:26 Hãy ca ngợi Thượng Đế ở nơi nhóm họp; hãy ca tụng Ngài giữa hội chúng Ít-ra-en.
PSA 68:27 Bên-gia-min, một chi tộc nhỏ nhất hướng dẫn họ. Trong số có các trưởng tộc Giu-đa cùng các trưởng tộc Xê-bu-lôn và Nép-ta-li.
PSA 68:28 Lạy Thượng Đế, xin tỏ ra sức mạnh Ngài; xin tỏ ra quyền năng Ngài đã thi thố cho chúng tôi trước đây.
PSA 68:29 Các vua sẽ đem của cải đến cho Ngài, đến đền thờ Ngài tại Giê-ru-sa-lem.
PSA 68:30 Xin hãy trừng phạt dân Ai-cập. Chúng như con thú sống trong đầm lầy, như bò đực ở giữa các bò con. Xin hãy sỉ nhục chúng, Hãy để chúng bò đến cùng Ngài, mang theo của lễ bằng bạc.
PSA 68:31 Các sứ giả của Ai-cập mang của lễ đến; Ê-thi-ô-bi cũng dâng đồ triều cống cho Ngài.
PSA 68:32 Hỡi các vua trên đất, hãy hát khen Chúa; hãy ca tụng Ngài. Xê-la
PSA 68:33 Hãy hát ca tụng Đấng cỡi trên các từng trời thái cổ. Tiếng Ngài rền như sấm.
PSA 68:34 Hãy cho mọi người biết Thượng Đế vô cùng quyền năng. Ngài cai trị trên Ít-ra-en, quyền năng Ngài ở trong các từng trời.
PSA 68:35 Lạy Thượng Đế, Ngài thật diệu kỳ trong đền thờ Ngài. Thượng Đế của Ít-ra-en ban cho dân Ngài sức lực và quyền năng. Hãy ca tụng Ngài!
PSA 69:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Hoa huệ.” Bài ca của Đa-vít. Lạy Chúa, xin hãy cứu tôi vì nước đã ngập đến cổ tôi.
PSA 69:2 Tôi đang lún xuống bùn hụt chân. Tôi chìm trong nước sâu, nước lụt bao phủ tôi.
PSA 69:3 Tôi mệt mỏi vì kêu cứu; cổ họng tôi khan. Mắt tôi lòa vì trông đợi Ngài cứu tôi.
PSA 69:4 Số người ghét tôi vô cớ nhiều hơn tóc trên đầu tôi; Nhiều kẻ muốn diệt tôi. Lắm kẻ thù vu cáo tôi. Chúng bắt tôi trả lại vật mà tôi không hề lấy.
PSA 69:5 Lạy Thượng Đế, Ngài biết tôi phạm tội. Tôi không thể che đậy tội mình trước mặt Ngài.
PSA 69:6 Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, xin đừng để kẻ đặt hi vọng nơi Ngài bị xấu hổ vì tôi. Lạy Thượng Đế của Ít-ra-en, xin đừng để kẻ thờ phụng Ngài bị sỉ nhục vì tôi.
PSA 69:7 Vì Ngài mà tôi mang nhục, mặt tôi đầy nhơ nhuốc.
PSA 69:8 Tôi như người xa lạ đối với thân nhân, như người ngoại quốc đối với các con trai của mẹ tôi.
PSA 69:9 Lòng sốt sắng về đền thờ Chúa hoàn toàn chế ngự tôi. Tôi đau đớn khi người ta sỉ nhục Ngài.
PSA 69:10 Khi tôi hạ mình và cữ ăn, điều đó chỉ khiến chúng chế giễu tôi.
PSA 69:11 Chúng trêu chọc tôi khi tôi mặc áo quần tang.
PSA 69:12 Chúng chế giễu tôi giữa chốn công cộng. Kẻ say rượu đặt bài ca chế nhạo tôi.
PSA 69:13 Nhưng, Chúa ôi, tôi cầu khẩn Ngài đáp lời tôi, vào thời điểm CHÚA định, vì tình yêu lớn lao của Ngài. Chỉ Ngài mới cứu tôi được thôi.
PSA 69:14 Xin rút tôi lên khỏi bùn lấm, đừng để tôi lún xuống. Xin hãy cứu tôi khỏi những kẻ ghét tôi và khỏi nước sâu.
PSA 69:15 Đừng để nước lụt khiến tôi chết đuối, hoặc để nước sâu trùm lấy tôi hay mồ mả khép kín quanh tôi.
PSA 69:16 Lạy Chúa, xin hãy trả lời tôi vì tình yêu Ngài thật tuyệt diệu. Vì lòng nhân từ lớn lao Ngài xin hãy quay sang tôi.
PSA 69:17 Xin đừng giấu mặt Ngài khỏi tôi, kẻ tôi tớ Chúa. Tôi đang gặp khốn khó. Xin hãy mau giúp đỡ tôi!
PSA 69:18 Xin hãy đến gần và cứu tôi; cứu tôi khỏi kẻ thù tôi.
PSA 69:19 Chúa thấy sự sỉ nhục và xấu hổ tôi. Chúa biết các kẻ thù tôi.
PSA 69:20 Những lời sỉ nhục đã làm tan vỡ lòng tôi, khiến tôi kiệt lực. Tôi mong có người thông cảm nhưng chẳng có ai; tôi tìm người an ủi, nhưng chẳng thấy người nào.
PSA 69:21 Chúng bỏ thuốc độc vào thức ăn tôi, cho tôi uống giấm.
PSA 69:22 Nguyện bữa tiệc chúng trở thành bẫy sập cho chúng, thành bẫy cho bạn bè chúng.
PSA 69:23 Nguyện chúng nó bị đui mù để không còn nhìn thấy. Nguyện lưng chúng nó khòm xuống vì khốn khổ.
PSA 69:24 Xin hãy đổ cơn giận trên chúng nó; nguyện cơn thịnh nộ Ngài bắt lấy chúng.
PSA 69:25 Nguyện chỗ ở chúng bỏ hoang; cầu cho không ai trú trong lều chúng.
PSA 69:26 Chúng nó rượt đuổi kẻ Ngài đã đánh, và bàn tán về nỗi đau của kẻ mà Ngài đã làm tổn thương.
PSA 69:27 Xin Chúa kết án chúng từ tội ác nầy đến tội ác khác, đừng tha cho chúng.
PSA 69:28 Xin hãy xóa tên chúng khỏi sách sự sống, và đừng kể tên chúng nó vào sổ chung với người công chính.
PSA 69:29 Tôi đau buồn. Lạy Thượng Đế, nguyện quyền năng cứu vớt của Ngài đến giúp tôi.
PSA 69:30 Tôi sẽ lấy bài hát ca tụng Ngài và tôn vinh Ngài bằng lời cảm tạ.
PSA 69:31 Điều đó sẽ làm vừa lòng Ngài hơn dâng súc vật, hơn cả sinh tế bằng bò đực có sừng và có móng.
PSA 69:32 Người khốn khổ sẽ thấy điều nầy và vui mừng. Hỡi những ai kính thờ Thượng Đế, hãy vững lòng lên.
PSA 69:33 Chúa lắng nghe những kẻ cùng khốn, Ngài không khinh dể người bị giam cầm.
PSA 69:34 Trời đất hãy ca ngợi Ngài, biển và mọi sinh vật trong biển hãy hát tôn vinh Ngài.
PSA 69:35 Thượng Đế sẽ cứu Giê-ru-sa-lem và xây lại các thành Giu-đa. Rồi dân chúng sẽ sống ở đó và nhận lấy nó làm tài sản.
PSA 69:36 Dòng dõi của kẻ tôi tớ Ngài sẽ hưởng đất ấy, những người yêu mến Ngài sẽ sống trong đó.
PSA 70:1 Soạn cho nhạc trưởng: Bài ca của Đa-vít để nhắc nhở. Lạy Chúa, xin mau đến cứu tôi. Lạy Chúa xin đến giúp tôi ngay.
PSA 70:2 Xin hãy khiến những kẻ định giết tôi phải hổ nhục và nhuốc nhơ. Nguyện những kẻ muốn hại tôi phải bỏ chạy vì xấu hổ.
PSA 70:3 Nguyện những kẻ chế giễu tôi ngưng lại vì nhục nhã.
PSA 70:4 Nhưng nguyện cho những kẻ thờ phụng Ngài vui mừng hớn hở. Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi Ngài luôn luôn nói, “Đáng ca ngợi sự cao cả của Thượng Đế.”
PSA 70:5 Tôi nghèo khổ và cùng khốn; lạy Chúa xin hãy mau đến với tôi. Chúa giúp đỡ và cứu rỗi tôi. Lạy Chúa, xin đừng chậm trễ.
PSA 71:1 Lạy Chúa, Ngài là nơi che chở tôi. Xin đừng để tôi bị sỉ nhục.
PSA 71:2 Vì Ngài luôn làm điều công chính, xin hãy cứu tôi; hãy lắng nghe và giải cứu tôi.
PSA 71:3 Xin làm nơi trú ẩn an toàn cho tôi. Xin làm đồn lũy bảo vệ tôi, vì Ngài là khối đá và là nơi tôi ẩn náu.
PSA 71:4 Lạy Thượng Đế, xin cứu tôi khỏi quyền lực kẻ ác, khỏi tầm tay của kẻ bất công và người hung ác.
PSA 71:5 Lạy Chúa, Ngài là hi vọng của tôi, là Đấng tôi tin cậy từ buổi ấu thơ.
PSA 71:6 Tôi đã nhờ cậy Ngài từ khi mới lọt lòng mẹ; Chúa đã giúp tôi từ lúc tôi mới chào đời. Tôi sẽ luôn luôn ca ngợi Ngài.
PSA 71:7 Tôi sẽ là một tấm gương cho nhiều người, vì Ngài là Đấng che chở tôi.
PSA 71:8 Tôi luôn luôn ca tụng Ngài; suốt ngày tôi tôn kính Ngài.
PSA 71:9 Xin đừng từ bỏ tôi khi tôi về già; đừng xa tôi khi sức tôi suy tàn.
PSA 71:10 Kẻ thù lập mưu hại tôi, chúng nhóm họp lại định giết tôi.
PSA 71:11 Chúng bảo nhau, “Thượng Đế bỏ nó rồi. Chúng ta hãy đuổi theo bắt lấy nó vì chẳng ai cứu nó đâu.”
PSA 71:12 Lạy Thượng Đế, xin chớ đứng xa. Lạy Chúa của tôi, xin hãy mau đến giúp tôi.
PSA 71:13 Xin hãy khiến những kẻ tố cáo tôi bị xấu hổ và tiêu diệt. Nguyện kẻ lập tâm hại tôi bị sỉ nhục và nhuốc nhơ bao trùm.
PSA 71:14 Nhưng tôi sẽ luôn luôn nuôi hi vọng và ca tụng Ngài càng ngày càng gia tăng.
PSA 71:15 Tôi sẽ thuật lại sự công chính của Chúa. Suốt ngày tôi sẽ kể lại sự cứu rỗi Chúa, dù tôi không đếm hết được.
PSA 71:16 Lạy Chúa, tôi sẽ thuật lại các việc quyền năng Chúa. Tôi sẽ nhắc nhở mọi người rằng chỉ một mình Ngài làm điều công chính.
PSA 71:17 Lạy Thượng Đế, Ngài đã dạy tôi từ khi tôi còn thơ ấu. Cho đến nay tôi vẫn thuật lại phép lạ Ngài làm.
PSA 71:18 Dù khi tôi già yếu, tóc bạc hoa râm, lạy Chúa, xin đừng rời tôi cho đến khi tôi thuật lại cho con cháu tôi biết quyền năng Chúa; cho đến khi tôi kể lại cho dòng dõi đến sau tôi về sức mạnh Ngài.
PSA 71:19 Lạy Chúa, sự công minh Chúa vượt cao hơn các từng trời. Chúa đã làm nhiều việc lớn lao; Thượng Đế ôi, không ai giống như Ngài.
PSA 71:20 Chúa đã cho tôi gặp nhiều cảnh khốn khó gian nan, nhưng Ngài sẽ hồi sức lại cho tôi. Dù khi tôi gần qua đời, Chúa sẽ khiến tôi sống.
PSA 71:21 Chúa sẽ khiến tôi được sang trọng hơn bao giờ hết, Ngài sẽ an ủi tôi trở lại.
PSA 71:22 Tôi sẽ ca ngợi Chúa bằng đờn cầm, Về sự thành tín của Ngài là Thượng Đế tôi. Lạy Đấng thánh của Ít-ra-en, tôi sẽ hát cho Ngài bằng đờn sắt.
PSA 71:23 Tôi sẽ lớn tiếng vui mừng ca ngợi Ngài vì Ngài đã cứu tôi.
PSA 71:24 Suốt ngày tôi sẽ thuật lại sự công minh của Chúa. Còn những kẻ muốn hại tôi sẽ xấu hổ và bị sỉ nhục.
PSA 72:1 Bài ca tặng Sô-lô-môn. Lạy Chúa, xin ban sự công minh cho vua và ban sự nhân từ Ngài cho hoàng tử.
PSA 72:2 Xin giúp vua biết phân xử dân chúng một cách công bằng và bênh vực kẻ nghèo khó.
PSA 72:3 Nguyện các núi mang lại hoà bình và các đồi mang lại nhân từ.
PSA 72:4 Xin giúp vua đối xử công bằng cho kẻ nghèo, cứu người túng thiếu và trừng phạt kẻ hiếp đáp.
PSA 72:5 Hễ mặt trời còn chiếu sáng và mặt trăng còn soi bóng bao lâu, nguyện họ biết kính sợ Chúa bấy lâu.
PSA 72:6 Nguyện vua như mưa rơi xuống cỏ, như mưa rào tưới đất.
PSA 72:7 Nguyện sự nhân từ được dồi dào trong đời vua. Nguyện sự hoà bình còn mãi như mặt trăng.
PSA 72:8 Nguyện nước vua trải rộng từ biển nầy đến biển kia, và từ sông Ơ-phơ-rát cho đến tận cùng trái đất.
PSA 72:9 Nguyện dân cư sống trong sa mạc cúi đầu trước Ngài và các kẻ thù Ngài phải liếm bụi đất.
PSA 72:10 Nguyện các vua Tạt-si và các vùng đất xa xăm hãy mang tặng vật đến cho vua. Các vua Sa-ba và Sê-ba hãy mang của lễ đến cho Ngài.
PSA 72:11 Nguyện các vua cúi đầu trước Ngài, và các dân tộc phục vụ Ngài.
PSA 72:12 Ngài sẽ giúp kẻ nghèo khổ khi họ kêu cầu và cứu kẻ túng thiếu không ai giúp đỡ.
PSA 72:13 Ngài sẽ tỏ lòng nhân ái đối với kẻ yếu đuối nghèo nàn, cứu vớt mạng sống họ.
PSA 72:14 Ngài sẽ cứu họ khỏi tay kẻ hung bạo đang tìm cách ức hiếp họ vì mạng sống họ là quí trước mặt vua.
PSA 72:15 Vua vạn tuế! Cầu cho vua nhận được vàng từ Sê-ba. Mọi người hãy cầu nguyện cho vua, hằng ngày chúc phước cho vua.
PSA 72:16 Nguyện ruộng đất sinh sản đầy ngũ cốc, các đồi đầy hoa màu, và phì nhiêu như Li-băng, các thành trì mọc lên như cỏ trong đồng nội.
PSA 72:17 Nguyện vua được uy danh mãi mãi; hễ mặt trời còn chiếu sáng bao lâu, nguyện vua được ghi nhớ bấy lâu. Nguyện các dân được phước vì vua, muôn dân chúc phước cho người.
PSA 72:18 Chúc tụng Chúa là Thượng Đế, Thượng Đế của Ít-ra-en là Đấng duy nhất làm được các phép lạ đó.
PSA 72:19 Nguyện danh vinh hiển Ngài được ca ngợi mãi mãi. Nguyện vinh hiển Ngài đầy dẫy đất. A-men! A-men!
PSA 72:20 (Đến đây chấm dứt các bài cầu nguyện của Đa-vít, con trai Gie-xê.)
PSA 73:1 Bài ca ngợi của A-sáp. Thượng Đế thật nhân từ cùng Ít-ra-en, cùng những kẻ có lòng trong sạch.
PSA 73:2 Nhưng chân tôi gần vấp té; suýt nữa tôi trượt ngã vào tội lỗi.
PSA 73:3 Tôi ganh tức với kẻ tự phụ. Tôi thấy kẻ ác được thịnh vượng.
PSA 73:4 Chúng chẳng gặp đau khổ; chúng khoẻ mạnh và sung sức.
PSA 73:5 Chúng chẳng hề gặp khốn khó như người khác; không vướng hoạn nạn như kẻ khác.
PSA 73:6 Chúng mang tính tự kiêu như kiềng đeo cổ, mặc sự hung bạo như áo quần.
PSA 73:7 Mắt chúng sáng rỡ vì của cải, chẳng kiềm chế dục vọng ích kỷ.
PSA 73:8 Chúng chế diễu kẻ khác, buông lời bêu xấu kẻ khác; kiêu căng đe dọa mọi người.
PSA 73:9 Chúng khoe khoang chuyện trời đất, hành động như thể đất nầy là của chúng.
PSA 73:10 Đến nỗi dân của Thượng Đế cũng chạy theo chúng, nghe theo điều chúng nói.
PSA 73:11 Chúng bảo, “Làm sao Trời biết được? Đấng Chí Cao có biết gì đâu?”
PSA 73:12 Dân nầy là dân độc ác, nhưng chúng sống thoải mái, càng ngày càng hưng thịnh.
PSA 73:13 Vậy thì tôi lo giữ lòng thanh sạch để làm gì? Tại sao tôi phải giữ cho tay mình khỏi phạm tội?
PSA 73:14 Suốt ngày tôi chịu khổ sở; mỗi sáng tôi chịu hình phạt.
PSA 73:15 Lạy Thượng Đế, nếu tôi bảo, tôi sẽ nói những điều ấy, thì tôi hẳn đã phản bội dân Chúa.
PSA 73:16 Tôi cố gắng hiểu thấu việc ấy, thấy khó giải thích vô cùng,
PSA 73:17 mãi đến khi vào đền thờ của Thượng Đế, tôi mới hiểu chung cuộc của chúng nó.
PSA 73:18 Ngài đưa chúng vào chỗ hiểm nguy; khiến chúng bị tiêu diệt.
PSA 73:19 Trong chốc lát chúng bị tiêu diệt; bị cơn kinh hoàng thổi bay đi.
PSA 73:20 Giống như người tỉnh mộng liền quên hết chiêm bao. Lạy Chúa, khi Ngài đứng lên, chúng sẽ tan biến.
PSA 73:21 Khi lòng tôi buồn bã và bực tức,
PSA 73:22 tôi không hiểu biết và ngu xuẩn. Tôi hành động như thú vật đối cùng Ngài.
PSA 73:23 Nhưng tôi ở cùng Chúa luôn luôn; Ngài nắm tay phải tôi.
PSA 73:24 Ngài dùng lời để khuyên dạy tôi, rồi nghênh tiếp tôi trong vinh dự.
PSA 73:25 Trên trời, tôi không có ai ngoài Chúa; Dưới đất, tôi chẳng mong ai ngoài Ngài.
PSA 73:26 Thân thể và tinh thần tôi suy yếu, nhưng Thượng Đế là sức mạnh tôi. Ngài là di sản của tôi cho đến đời đời.
PSA 73:27 Những kẻ lìa xa Chúa sẽ chết; Ngài tiêu diệt các kẻ bất trung.
PSA 73:28 Nhưng tôi sống gần Chúa, đó là điều tốt. Chúa, Thượng Đế là nơi trú ẩn của tôi. Tôi sẽ thuật hết các công việc Ngài.
PSA 74:1 Bài ca theo thể mạch-kinh của A-sáp. Lạy Thượng Đế, sao Ngài từ bỏ chúng tôi quá lâu? Sao Ngài nổi giận cùng chúng tôi là bầy chiên của đồng cỏ Ngài?
PSA 74:2 Xin nhớ lại rằng dân mà Ngài đã chuộc từ xưa. Ngài cứu chúng tôi, chúng tôi thuộc riêng về Ngài. Ngài ngự tại núi Xi-ôn.
PSA 74:3 Xin hãy bước đến các nơi đổ nát lâu đời nầy; kẻ thù đã phá tan đền thờ Ngài.
PSA 74:4 Những kẻ chống nghịch Ngài hò hét trong nơi nhóm họp, giương cờ của chúng nó tại đó.
PSA 74:5 Chúng đến giơ cao búa rìu, lăm le chặt phá mọi thứ như đốn cây.
PSA 74:6 Chúng dùng rìu và búa nhỏ, đập phá các vật chạm trổ.
PSA 74:7 Chúng thiêu rụi đền thờ Ngài; làm nhơ nhớp nơi mang danh Ngài.
PSA 74:8 Chúng nghĩ thầm, “Ta sẽ phá hết!” Chúng thiêu đốt hết những nơi thờ phụng của Ngài trong xứ.
PSA 74:9 Chúng tôi không còn thấy dấu hiệu gì cho chúng tôi. Không còn nhà tiên tri, cũng chẳng ai biết chuyện nầy sẽ kéo dài đến bao giờ.
PSA 74:10 Lạy Chúa, Ngài để kẻ thù trêu chọc Ngài đến bao giờ? Chẳng lẽ chúng sỉ nhục Ngài mãi sao?
PSA 74:11 Sao Ngài không thi thố quyền năng Ngài? Xin hãy tỏ quyền năng Ngài ra để diệt chúng đi!
PSA 74:12 Lạy Thượng Đế, Ngài là vua chúng tôi từ xưa. Ngài mang sự cứu rỗi đến cho đất.
PSA 74:13 Dùng quyền uy tách biển ra và đập bể đầu các quái vật trong biển.
PSA 74:14 Ngài đập nát đầu quái vật Lê-vi-a-than, ném nó làm thức ăn cho muông thú trong sa mạc.
PSA 74:15 Ngài mở các suối và khe; khiến các sông ngòi đang chảy xiết bỗng cạn khô.
PSA 74:16 Ngày cũng như đêm đều thuộc về Chúa; Ngài làm ra mặt trời và mặt trăng.
PSA 74:17 Ngài đặt giới hạn trên đất; Ngài làm ra mùa hè và mùa đông.
PSA 74:18 Lạy Chúa, xin nhớ rằng kẻ thù sỉ nhục Ngài. Đừng quên một dân ngu dại chế giễu danh Ngài.
PSA 74:19 Xin đừng trao chúng tôi là bồ câu của Ngài cho dã thú. Xin đừng quên dân chúng đáng thương của Ngài mãi mãi.
PSA 74:20 Xin nhớ lại giao ước Ngài lập với chúng tôi, vì sự hung tàn tràn ngập mọi ngõ ngách đen tối của xứ nầy.
PSA 74:21 Xin đừng để dân chúng đau khổ của Ngài bị sỉ nhục. Nguyện kẻ nghèo khó khốn cùng ca ngợi Ngài.
PSA 74:22 Lạy Thượng Đế, hãy đứng lên và tự vệ. Xin đừng quên lời nhục mạ Chúa hằng ngày của dân ngu dại.
PSA 74:23 Xin đừng quên tiếng kẻ thù Ngài; hay tiếng gầm thét của bọn luôn luôn dấy nghịch cùng Ngài.
PSA 75:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Chớ tiêu hủy.” Một bài ca ngợi của A-sáp. Lạy Thượng Đế, chúng tôi cảm tạ Ngài; Chúng tôi cảm tạ Ngài vì Ngài ở gần. Chúng tôi thuật lại các phép lạ Ngài làm.
PSA 75:2 Ngài phán, “Ta đã định kỳ hạn cho phiên xử, ta sẽ phân xử công minh.
PSA 75:3 Đất cùng mọi dân trên đất xao động, nhưng ta là Đấng khiến nó đứng vững vàng. Xê-la
PSA 75:4 Ta bảo kẻ tự phụ, ‘Chớ khoe khoang,’ và nói với kẻ ác, ‘Đừng tìm cách phô trương sức mạnh ngươi ra.
PSA 75:5 Đừng huênh hoang, tự phụ. Chớ ương ngạnh.’”
PSA 75:6 Sự cao sang không đến từ Đông, Tây hay vùng núi trong sa mạc.
PSA 75:7 Nhưng Thượng Đế là quan án; Ngài hạ người nầy xuống, nâng người khác lên.
PSA 75:8 Chúa cầm chén trong tay; là chén đầy rượu hòa với ngũ vị hương. Ngài trút chén ra. Kẻ ác sẽ uống cạn chén ấy.
PSA 75:9 Tôi sẽ mãi mãi thuật lại điều nầy; tôi sẽ ca ngợi Thượng Đế của Gia-cốp.
PSA 75:10 Ngài sẽ lấy sức mạnh khỏi kẻ ác, nhưng sức mạnh của người nhân đức sẽ gia tăng.
PSA 76:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với nhạc khí bằng dây. Bài ca ngợi của A-sáp. Tại Giu-đa người ta biết đến Thượng Đế; Ngài được cả Ít-ra-en tôn kính.
PSA 76:2 Lều Ngài ở Giê-ru-sa-lem; nơi ngự Ngài trên núi Xi-ôn.
PSA 76:3 Nơi đó Chúa bẻ gãy các tên lửa, thuẫn, gươm và khí giới chiến tranh. Xê-la
PSA 76:4 Lạy Thượng Đế, Ngài thật diệu kỳ! Ngài oai nghi hơn đồi núi đầy súc vật.
PSA 76:5 Kẻ thù Ngài tưởng mình mạnh mẽ lắm, nhưng nay chúng nằm chết la liệt ngoài đồng. Người ta lột những của cướp khỏi thây chúng. Chúng không còn đủ sức tự vệ.
PSA 76:6 Lạy Thượng Đế của Gia-cốp, khi Ngài nạt, ngựa và người cỡi đều sửng sốt như chết.
PSA 76:7 Ngài thật đáng sợ; khi Ngài nổi giận không ai đứng nổi trước mặt Ngài.
PSA 76:8 Từ trời Chúa ra quyết định, cả đất đều sợ hãi và im lặng.
PSA 76:9 Lạy Thượng Đế, Ngài đứng lên phân xử và cứu vớt kẻ khốn cùng trên đất. Xê-la
PSA 76:10 Mọi người ca ngợi Ngài vì cơn giận Ngài nghịch lại điều ác. Ngài ngăn không để những kẻ thoát khỏi cơn giận Ngài làm ác nữa.
PSA 76:11 Hãy hứa nguyện và giữ lời hứa với Chúa là Thượng Đế ngươi. Mọi người khắp nơi hãy mang lễ vật dâng cho Thượng Đế, Đấng đáng kinh sợ.
PSA 76:12 Ngài làm các nhà lãnh đạo mất tinh thần; các vua trên đất kinh sợ Ngài.
PSA 77:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu Giê-đu-thun. Một bài ca ngợi của A-sáp. Tôi kêu la cùng Thượng Đế; tôi kêu cầu cùng Ngài, thì Ngài liền nghe tiếng tôi.
PSA 77:2 Trong ngày hoạn nạn tôi tìm kiếm Chúa. Suốt đêm tôi giơ tay ra, lòng tôi bất an.
PSA 77:3 Khi nhớ đến Thượng Đế; Tôi muốn nói nỗi lòng tôi ra nhưng không biết nói sao. Xê-la
PSA 77:4 Chúa không cho tôi chợp mắt. Tôi không nói nên lời vì quá bực dọc.
PSA 77:5 Tôi nhớ lại thuở xưa, những năm về trước.
PSA 77:6 Ban đêm tôi hồi tưởng lại các bài ca của tôi. Tôi suy nghĩ và tự hỏi:
PSA 77:7 “Chúa sẽ từ bỏ chúng ta mãi sao? Ngài sẽ không còn tỏ lòng nhân từ đối với chúng ta nữa sao?
PSA 77:8 Tình yêu của Ngài tan biến rồi sao? Ngài không còn phán với chúng ta nữa sao?
PSA 77:9 Phải chăng Thượng Đế đã quên mất lòng thương xót Ngài? Phải chăng vì Ngài quá nóng giận, không còn tội nghiệp cho chúng ta nữa hay sao?” Xê-la
PSA 77:10 Rồi tôi suy nghĩ lại và nói, “Đây là điều khiến tôi buồn bã: Quyền năng của Thượng Đế Chí Cao đã lìa bỏ chúng ta.”
PSA 77:11 Tôi nhớ những điều Ngài làm; hồi tưởng lại những điều kỳ diệu Ngài làm xưa kia.
PSA 77:12 Tôi suy gẫm những điều ấy, và xem xét các điều Ngài đã làm.
PSA 77:13 Lạy Thượng Đế, các đường lối Ngài thật thánh thiện. Không có thần nào cao cả như Thượng Đế chúng ta.
PSA 77:14 Ngài là Thượng Đế của những việc diệu kỳ; Ngài chứng tỏ quyền năng Ngài cho người ta thấy.
PSA 77:15 Ngài đã dùng quyền năng giải cứu dân Ngài tức con cháu Gia-cốp và Giô-xép. Xê-la
PSA 77:16 Lạy Thượng Đế, các dòng nước trông thấy Ngài; chúng thấy Ngài liền đâm ra sợ hãi; đến nỗi các vực nước sâu cũng run rẩy.
PSA 77:17 Trời đổ mưa xuống. Mây rền sấm. Các tia chớp xẹt qua lại như tên bay.
PSA 77:18 Tiếng sấm Ngài vang rền trong gió lốc. Chớp lòe sáng thế gian. Đất rung động mạnh.
PSA 77:19 Ngài bước đi qua biển, vạch lối qua các vực nước sâu, nhưng không để lại dấu chân.
PSA 77:20 Ngài dùng Mô-se và A-rôn dẫn dắt dân Ngài như bầy chiên.
PSA 78:1 Bài dạy dỗ của A-sáp. Hỡi dân ta hãy lắng nghe lời dạy dỗ ta; hãy để ý lời ta nói đây.
PSA 78:2 Ta sẽ dùng truyện tích để nói chuyện; sẽ tiết lộ những bí mật từ xưa.
PSA 78:3 Chúng ta đã nghe biết những chuyện đó vì tổ tiên đã kể lại cho chúng ta.
PSA 78:4 Chúng ta sẽ không giấu các chuyện ấy với con cháu; chúng ta sẽ thuật cho những kẻ hậu sinh về Ngài. Chúng ta sẽ ca ngợi Chúa về các phép lạ Ngài làm.
PSA 78:5 Chúa đã lập ước với Gia-cốp, Ngài ban luật lệ cho Ít-ra-en, truyền dặn tổ tiên chúng ta dạy lại cho con cháu mình.
PSA 78:6 Thì chúng nó sẽ biết những lời dạy ấy, cả đến thế hệ sau chúng ta là các con cháu chưa sinh ra nữa. Rồi chúng sẽ tiếp tục dạy lại cho con cháu chúng.
PSA 78:7 Để chúng nó tin cậy Thượng Đế, không quên những điều Ngài làm, nhưng luôn luôn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 78:8 Chúng sẽ không như các tổ tiên mình vốn ương ngạnh và bướng bỉnh. Lòng họ không trung thành cùng Thượng Đế, không thành thật cùng Ngài.
PSA 78:9 Người Ép-ra-im dùng cung tên làm vũ khí, nhưng bỏ chạy trong ngày chiến trận.
PSA 78:10 Họ không giữ giao ước với Thượng Đế cũng không nghe theo lời dạy dỗ Ngài.
PSA 78:11 Họ quên những điều Ngài làm cùng những việc diệu kỳ Ngài thực hiện trước mặt họ.
PSA 78:12 Ngài làm các việc diệu kỳ ngay trước mắt các tổ tiên, trong cánh đồng Xô-an xứ Ai-cập.
PSA 78:13 Ngài rẽ biển ra, dắt họ đi qua. Ngài khiến nước dựng đứng lên như vách tường.
PSA 78:14 Ban ngày Ngài dẫn dắt họ bằng đám mây, ban đêm bằng ánh lửa.
PSA 78:15 Ngài chẻ đá trong sa mạc cho họ uống nước tràn trề như nước phun ra từ biển sâu.
PSA 78:16 Ngài khiến suối phun ra từ tảng đá, cho nước chảy ào ào như sông.
PSA 78:17 Nhưng họ cứ tiếp tục phạm tội cùng Ngài; họ phản nghịch Thượng Đế Tối Cao trong sa mạc.
PSA 78:18 Họ thách thức Thượng Đế, đòi Ngài ban cho thức ăn mình muốn.
PSA 78:19 Rồi họ thách Ngài rằng, “Thượng Đế làm sao cấp thức ăn trong sa mạc được?
PSA 78:20 Khi Ngài đập tảng đá, nước liền phun ra tuôn tràn như sông. Nhưng làm sao Ngài ban bánh cho chúng ta được? Làm sao Ngài cấp thịt cho dân Ngài được?”
PSA 78:21 Khi Chúa nghe biết liền nổi giận, cơn thịnh nộ Ngài nổi phừng cùng Gia-cốp; cơn giận Ngài nghịch cùng Ít-ra-en.
PSA 78:22 Họ không tin Thượng Đế và không nhờ cậy Ngài giải cứu họ.
PSA 78:23 Tuy nhiên Ngài ra lệnh cho các đám mây trên cao, mở cửa các từng trời.
PSA 78:24 Cho mưa ma-na xuống nuôi họ; Ngài ban cho họ thức ăn từ trời.
PSA 78:25 Họ được ăn bánh của các thiên sứ. Ngài cho họ ăn no nê.
PSA 78:26 Ngài đưa gió đông đến từ trời, dùng quyền năng Ngài dẫn gió Nam lại.
PSA 78:27 Ngài cho mưa thịt rơi xuống phủ họ như bụi. Chim bay đến nhiều như cát biển.
PSA 78:28 Ngài khiến chim rơi xuống trong doanh trại, quanh các lều.
PSA 78:29 Nên họ ăn uống no nê. Thượng Đế ban cho họ thứ họ thèm khát.
PSA 78:30 Trong khi họ còn muốn ăn thêm, thức ăn còn trong miệng,
PSA 78:31 Ngài bỗng nổi giận cùng họ; giết một số người khoẻ mạnh trong đám họ; đánh ngã những thanh niên tráng kiện nhất trong Ít-ra-en.
PSA 78:32 Nhưng họ vẫn cứ phạm tội. Dù đã trông thấy các việc diệu kỳ, họ vẫn cứ không chịu tin.
PSA 78:33 Cho nên Ngài chấm dứt chuỗi ngày vô nghĩa và những năm tháng kinh hoàng của họ.
PSA 78:34 Khi Ngài đánh giết họ, họ liền kêu cứu cùng Ngài; họ trở lại cùng Thượng Đế và tìm kiếm Ngài.
PSA 78:35 Họ nhớ lại rằng Thượng Đế là Khối Đá mình và Đấng Tối Cao là Đấng đã giải cứu mình.
PSA 78:36 Nhưng lời nói họ không thành thật, lưỡi họ dối trá.
PSA 78:37 Lòng họ không trung thành cùng Thượng Đế; chẳng giữ giao ước với Ngài.
PSA 78:38 Tuy vậy Thượng Đế vẫn nhân từ. Ngài tha thứ và không tiêu diệt họ. Nhiều lần Ngài nén giận, không tuôn ra cơn thịnh nộ Ngài.
PSA 78:39 Ngài nhớ lại rằng họ chẳng qua chỉ là con người, như gió thoảng qua, không bao giờ trở lại.
PSA 78:40 Trong sa mạc họ chống nghịch Ngài và làm Ngài buồn lòng nhiều lần.
PSA 78:41 Họ cứ thách thức Ngài, làm đau lòng Đấng Thánh của Ít-ra-en.
PSA 78:42 Họ không hề nhớ lại quyền năng Ngài hoặc lúc Ngài giải cứu họ khỏi tay kẻ thù.
PSA 78:43 Họ quên những dấu kỳ Ngài làm ở Ai-cập và phép lạ trong cánh đồng Xô-an.
PSA 78:44 Ngài biến các sông ra máu để không ai uống nước sông được.
PSA 78:45 Ngài sai ruồi mòng chích người Ai-cập, sai ếch nhái tàn hại họ.
PSA 78:46 Ngài cho cào cào ăn nuốt mùa màng họ, và ném nông sản họ cho châu chấu ăn.
PSA 78:47 Ngài sai mưa đá hủy phá vườn nho họ, và tàn hại các cây sung.
PSA 78:48 Ngài cho mưa đá tiêu diệt các súc vật, và sét đánh giết gia súc.
PSA 78:49 Ngài đổ cơn thịnh nộ Ngài ra trên họ. Ngài phát cơn thịnh nộ và sai thiên sứ hủy diệt đến với họ.
PSA 78:50 Ngài tìm cách tỏ ra cơn giận Ngài. Ngài không tha chết cho họ, nhưng giết họ bằng dịch hạch.
PSA 78:51 Thượng Đế giết các con đầu lòng xứ Ai-cập, các con trưởng nam của Cham.
PSA 78:52 Rồi Ngài dẫn dân Ngài ra như đàn chiên, dắt họ như bầy chiên băng qua sa mạc.
PSA 78:53 Ngài đưa họ đến nơi an toàn không sợ hãi gì, còn kẻ thù họ bị chết đuối trong biển sâu.
PSA 78:54 Thượng Đế đưa dân Ngài vào đất thánh Ngài, đến hòn núi Ngài đã chiếm lấy bằng quyền năng Ngài.
PSA 78:55 Ngài đánh đuổi các dân tộc khác, cho dân Ngài thừa hưởng đất đai họ. Ngài cho các chi tộc Ít-ra-en định cư tại đó, trong các lều trại.
PSA 78:56 Nhưng họ thách thức Thượng Đế, chống nghịch Đấng Tối Cao; họ không tuân giữ luật lệ Ngài.
PSA 78:57 Họ quay đi và bất trung y như tổ tiên mình. Họ giống như cây cung cong vẹo, không thể bắn thẳng được.
PSA 78:58 Họ chọc giận Thượng Đế bằng cách xây những bàn thờ cho các thần khác; chọc giận Ngài bằng các thần tượng họ.
PSA 78:59 Khi nghe họ làm như vậy, Ngài liền nổi giận và từ bỏ dân Ít-ra-en hoàn toàn.
PSA 78:60 Ngài rời khỏi nơi ngự tại Si-lô, Lều mà Ngài ở với dân chúng.
PSA 78:61 Ngài để cho rương Giao Ước, tức quyền năng Ngài bị cướp đoạt; Ngài để rương Giao Ước, dấu hiệu của quyền năng và vinh hiển Ngài bị kẻ thù cướp đi.
PSA 78:62 Ngài để dân Ngài bị giết vì Ngài tức giận con cái Ngài.
PSA 78:63 Thanh niên thì bị lửa thiêu, thiếu nữ trẻ không còn được nghe bài ca hôn lễ.
PSA 78:64 Các thầy tế lễ ngã chết vì lưỡi gươm, nhưng các vợ goá của họ không được phép than khóc chồng mình.
PSA 78:65 Rồi Chúa như thức giấc, Ngài thức dậy như người vừa tỉnh rượu.
PSA 78:66 Ngài đánh hạ kẻ thù và sỉ nhục chúng đời đời.
PSA 78:67 Nhưng Thượng Đế đã từ bỏ nhà Giô-xép; Ngài không còn chọn chi tộc Ép-ra-im.
PSA 78:68 Thay vào đó, Ngài chọn chi tộc Giu-đa và núi Xi-ôn mà Ngài ưa thích.
PSA 78:69 Ngài xây đền thờ trên ngọn núi cao ấy. Ngài dựng nó vững bền như trái đất.
PSA 78:70 Ngài chọn Đa-vít, tôi tớ Ngài, và mang người ra từ các ràn chiên.
PSA 78:71 Ngài mang người ra từ nghề chăn chiên, để người dắt dẫn dân Ngài, tức Gia-cốp, dân Ít-ra-en, tài sản Ngài.
PSA 78:72 Đa-vít lãnh đạo họ với tấm lòng trong sạch và dắt dẫn họ do tay khéo léo của người.
PSA 79:1 Bài ca của A-sáp. Thượng Đế ôi, các dân đã chống nghịch lại dân được chọn lựa của Ngài. Chúng đã làm dơ bẩn đền thánh Ngài, biến Giê-ru-sa-lem ra nơi hoang tàn.
PSA 79:2 Chúng đã ném xác các đầy tớ Ngài làm thức ăn cho chim trời; quăng thây kẻ thờ phụng Ngài làm mồi cho dã thú.
PSA 79:3 Chúng đổ huyết chảy lênh láng như nước quanh Giê-ru-sa-lem. Không còn ai để chôn kẻ chết.
PSA 79:4 Chúng tôi trở thành lời giễu cợt cho các dân tộc khác; chúng cười đùa và chế giễu chúng tôi.
PSA 79:5 Chúa ôi, việc nầy kéo dài đến bao lâu? Ngài sẽ tức giận mãi sao? Cơn thịnh nộ của Ngài sẽ tiếp tục cháy phừng mãi sao?
PSA 79:6 Xin hãy nổi giận cùng các quốc gia không biết Ngài và các vương quốc không kêu cầu Ngài.
PSA 79:7 Chúng ăn nuốt dân cư Gia-cốp và tiêu hủy đất đai họ.
PSA 79:8 Xin đừng phạt chúng tôi vì tội lỗi xưa kia của chúng tôi. Xin sớm tỏ lòng thương xót Ngài đối với chúng tôi vì chúng tôi kiệt quệ.
PSA 79:9 Lạy Thượng Đế là Đấng Cứu Rỗi chúng tôi, vì sự vinh hiển của danh Ngài, xin cứu giúp chúng tôi; vì uy danh Ngài xin cứu giúp và tha tội chúng tôi.
PSA 79:10 Đừng để các dân có cớ để hỏi, “Thượng Đế chúng đâu rồi?” Trước mặt Ngài xin hãy cho các dân khác và chúng tôi thấy rằng, Ngài sẽ trừng phạt những kẻ giết hại các đầy tớ Ngài.
PSA 79:11 Xin hãy nghe lời rên rỉ của các tù nhân. Xin dùng quyền năng vĩ đại của Ngài giải cứu kẻ bị án tử hình.
PSA 79:12 Chúa ôi, xin báo trả bảy lần những điều chúng sỉ nhục Ngài.
PSA 79:13 Chúng tôi là dân Ngài, bầy chiên của Ngài. Chúng tôi sẽ luôn luôn cảm tạ Chúa; muôn đời chúng tôi sẽ ca ngợi Ngài!
PSA 80:1 Soạn cho nhạc trưởng theo điệu “Hoa Huệ Giao ước.” Bài ca của A-sáp. Lạy Đấng chăn dắt Ít-ra-en, xin hãy nghe chúng tôi. Ngài dẫn dắt dân cư Giô-xép như một đàn chiên. Ngài ngự trên ngôi giữa các sinh vật bằng vàng có cánh. Xin hãy tỏ sự cao cả của Ngài
PSA 80:2 cho dân Ép-ra-im, Bên-gia-min và Ma-na-xe thấy. Xin hãy dùng sức mạnh Ngài đến giải cứu chúng tôi.
PSA 80:3 Thượng Đế ôi, xin mang chúng tôi trở về. Xin tỏ lòng nhân từ Ngài cùng chúng tôi để chúng tôi được giải cứu.
PSA 80:4 Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, Ngài sẽ tức giận về lời cầu nguyện của con dân Ngài cho đến bao giờ?
PSA 80:5 Ngài khiến dân Ngài sống bằng nước mắt; Ngài bắt họ uống giọt lệ tràn trề.
PSA 80:6 Ngài khiến những kẻ quanh chúng tôi dành giựt chúng tôi, khiến chúng tôi làm trò cười cho các dân tộc chung quanh chúng tôi.
PSA 80:7 Lạy Thượng Đế Toàn Năng, xin mang chúng tôi trở về. Xin tỏ lòng nhân từ Ngài cùng chúng tôi để chúng tôi được giải cứu.
PSA 80:8 Ngài bứng chúng tôi ra khỏi Ai-cập như dây nho. Ngài đánh đuổi các dân khác và trồng chúng tôi vào đất ấy.
PSA 80:9 Ngài dọn đất cho chúng tôi. Chúng tôi đâm rễ và mọc tràn đất.
PSA 80:10 Bóng mát chúng tôi che phủ các núi. Nhánh của chúng tôi che phủ các cây hương nam hùng mạnh.
PSA 80:11 Cành lá chúng tôi đâm ra đến Địa-trung-hải, và các chồi chúng tôi mọc đến sông Ơ-phơ-rát.
PSA 80:12 Lạy Thượng Đế, tại sao Ngài phá sập các vách tường che chở nó? Nay thì người qua kẻ lại đều hái trái nó.
PSA 80:13 Heo rừng đạp trên nó; thú hoang ăn nuốt lá nó.
PSA 80:14 Lạy Đấng Toàn Năng, xin hãy trở lại. Từ trời xin hãy nhìn xuống mà xem. Xin hãy che chở cây nho của Ngài.
PSA 80:15 Chính tay Ngài trồng mầm non nầy và vun xới nó.
PSA 80:16 Nhưng nay nó bị chặt và chụm lửa; Cái nhìn giận dữ của Ngài cũng đủ tiêu diệt chúng tôi.
PSA 80:17 Xin hãy dùng tay Ngài tiếp sức cho kẻ Ngài đã chọn lựa. Xin giúp đỡ những người mà Ngài đã nuôi nấng.
PSA 80:18 Như thế chúng tôi sẽ không lìa xa Ngài. Xin khiến chúng tôi sống lại, thì chúng tôi sẽ kêu cầu Ngài.
PSA 80:19 Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, xin mang chúng tôi trở về. Xin tỏ lòng nhân từ Ngài với chúng tôi để chúng tôi được giải cứu.
PSA 81:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với đàn ghi-tít. Bài ca của A-sáp. Hãy hát mừng cho Thượng Đế, sức mạnh của chúng ta; hãy cất tiếng hoan hô Thượng Đế của Gia-cốp.
PSA 81:2 Hãy trỗi nhạc và đánh trống cơm vang rền. Hãy tấu nhạc dịu dàng bằng đờn cầm và đờn sắt.
PSA 81:3 Hãy thổi kèn vào ngày Trăng Mới, trỗi lên lúc trăng tròn để ăn mừng.
PSA 81:4 Đây là luật lệ cho Ít-ra-en; và là mệnh lệnh của Thượng Đế của Gia-cốp.
PSA 81:5 Ngài ban qui tắc nầy cho nhà Giô-xép, khi họ ra khỏi đất Ai-cập. Tôi nghe một thứ tiếng mà tôi không hiểu bảo rằng,
PSA 81:6 “Ta đã cất gánh nặng khỏi vai chúng nó; Ta lấy giỏ nặng khỏi tay chúng.
PSA 81:7 Khi gặp khốn đốn ngươi kêu van, ta liền giải cứu ngươi. Ta trả lời ngươi qua tiếng sấm. Ta thử ngươi tại các suối Mê-ri-ba. Xê-la
PSA 81:8 Hỡi dân ta, hãy nghe. Ta muốn cảnh tỉnh các ngươi. Hỡi Ít-ra-en, hãy lắng nghe ta!
PSA 81:9 Ngươi không được có các thần khác; ngươi không được thờ phụng các thần ngoại quốc.
PSA 81:10 Ta, Chúa và là Thượng Đế ngươi, Đấng mang ngươi ra khỏi Ai-cập. Hãy hả miệng ra ta sẽ đút cho ngươi ăn.
PSA 81:11 Nhưng dân ta không chịu nghe ta; Ít-ra-en không muốn có ta.
PSA 81:12 Cho nên ta để họ tự ý đi đường ương ngạnh, tự làm theo ý muốn riêng mình.
PSA 81:13 Ta mong dân ta lắng nghe ta; Ta ao ước Ít-ra-en sống theo đường lối ta.
PSA 81:14 Như thế ta mới có thể mau chóng đánh bại kẻ thù của họ và trở tay nghịch lại địch thủ họ.
PSA 81:15 Những kẻ ghét Chúa sẽ cúi đầu trước mặt Ngài. Chúng sẽ bị trừng phạt đời đời.
PSA 81:16 Nhưng ta sẽ ban cho ngươi lúa mì hảo hạng và cho ngươi no nê mật ong từ tảng đá.”
PSA 82:1 Bài ca ngợi của A-sáp. Thượng Đế chủ tọa hội của các thần; Ngài phân xử giữa các thần.
PSA 82:2 Ngài hỏi, “Các ngươi bênh vực kẻ ác cho đến chừng nào? Các ngươi thiên vị người bất lương cho đến bao giờ?” Xê-la
PSA 82:3 Hãy bênh vực người yếu thế và kẻ mồ côi; hãy bênh vực quyền của người nghèo khó và kẻ khốn khổ.
PSA 82:4 Hãy cứu người yếu đuối và kẻ cô thế; giải thoát họ khỏi quyền lực kẻ ác.
PSA 82:5 “Các ngươi chẳng biết gì cả. Các ngươi không hiểu gì hết. Các ngươi dò dẫm đi trong bóng tối trong khi thế gian đang sụp đổ.”
PSA 82:6 Ta bảo, “Các ngươi là thần. Các ngươi đều là con của Thượng Đế Chí Cao.
PSA 82:7 Nhưng các ngươi sẽ chết như loài người; sẽ sụp đổ như mọi lãnh tụ.”
PSA 82:8 Thượng Đế ôi, xin hãy đến phân xử thế gian vì tất cả các dân đều thuộc về Ngài.
PSA 83:1 Bài ca ngợi của A-sáp. Thượng Đế ôi, xin chớ làm thinh và bất động.
PSA 83:2 Kẻ thù Ngài đang tự phụ, những kẻ ghét Ngài đang chuẩn bị tấn công.
PSA 83:3 Chúng âm mưu chống lại dân Ngài; chúng định tâm nghịch những kẻ Ngài yêu dấu.
PSA 83:4 Chúng bảo, “Chúng ta hãy tiêu diệt toàn quốc gia nầy đi để không ai còn nhớ tên ‘Ít-ra-en’ nữa.”
PSA 83:5 Chúng liên kết lập mưu. Bọn đó đã lập ước nghịch Ngài:
PSA 83:6 các gia tộc Ê-đôm cùng người Ích-ma-ên, Mô-áp và Ha-ga-rít,
PSA 83:7 các dân Ghê-banh, Am-môn, A-ma-léc, Phi-li-tin và Tia.
PSA 83:8 Đến cả A-xy-ri cũng nhập chung với chúng để giúp Am-môn và Mô-áp, là dòng dõi của Lót. Xê-la
PSA 83:9 Thượng Đế ôi, xin ra tay đánh chúng nó như Ngài đã ra tay đánh Mi-đi-an, và như Ngài đã làm cho Si-sê-ra và Gia-bin ở sông Kít-sôn.
PSA 83:10 Chúng ngã chết tại Ên-đô-rơ, thây chúng mục nát trên đất.
PSA 83:11 Xin đối xử với các lãnh tụ chúng như Ngài đã làm cho Ô-rép và Xê-ép. Xin phạt các lãnh tụ chúng như Ngài đã làm cho Xê-ba và Xanh-mu-na.
PSA 83:12 Chúng bảo, “Chúng ta hãy chiếm lấy các đồng cỏ của Thượng Đế.”
PSA 83:13 Lạy Thượng Đế, xin hãy khiến chúng như cỏ rơm, như trấu bị gió thổi bay.
PSA 83:14 Xin Ngài hãy thiêu đốt chúng như lửa đốt rừng, như các luồng lửa thiêu rụi các đồi núi.
PSA 83:15 Xin dùng giông bão của Ngài rượt đuổi chúng, và dùng gió lốc khiến chúng hoảng sợ.
PSA 83:16 Xin lấy sỉ nhục bao phủ chúng. Lạy Chúa, bấy giờ chúng sẽ tìm kiếm Ngài.
PSA 83:17 Xin khiến chúng sợ hãi và sỉ nhục mãi mãi. Xin hãy sỉ nhục và tiêu diệt chúng đi.
PSA 83:18 Bấy giờ chúng sẽ biết Ngài là Chúa, và rằng chỉ một mình Ngài là Đấng Chí Cao cai trị khắp thế gian.
PSA 84:1 Soạn cho nhạc trưởng để dùng với đàn ghi-tít. Bài ca của con cháu Cô-rê. Lạy Chúa Toàn Năng, đền thờ Ngài thật đẹp!
PSA 84:2 Tôi chỉ ao ước được ở trong sân của đền thờ Ngài. Con người tôi chỉ muốn hát ca ngợi Thượng Đế hằng sống.
PSA 84:3 Con chim sẻ tìm được nơi ở, và chim én tìm được nơi xây tổ. Chúng nó nuôi con gần bàn thờ Ngài.
PSA 84:4 Phúc cho người được sống trong đền thờ Ngài; họ sẽ luôn luôn ca ngợi Ngài. Xê-la
PSA 84:5 Phúc cho người nhận được sức lực từ nơi Ngài, tức những người muốn đi đến Giê-ru-sa-lem.
PSA 84:6 Đang khi họ đi qua thung lũng Ba-ca, họ sẽ biến nó ra suối nước. Mưa thu làm ngập các vũng nước.
PSA 84:7 Họ càng bước tới Giê-ru-sa-lem càng sung sức, mỗi người ra mắt Thượng Đế tại đó.
PSA 84:8 Lạy Thượng Đế Toàn Năng, xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi, Thượng Đế của Gia-cốp ôi, xin hãy lắng nghe tôi. Xê-la
PSA 84:9 Lạy Thượng Đế, Đấng che chở chúng tôi; xin hãy đối xử nhân từ cùng vua mà Ngài đã bổ nhiệm.
PSA 84:10 Một ngày trong sân đền thờ Thượng Đế, quí hơn một ngàn ngày ở nơi khác. Tôi thà giữ làm người gác cửa cho đền thờ Chúa, hơn là sống trong nhà kẻ ác.
PSA 84:11 Chúa là Thượng Đế giống như mặt trời và cái thuẫn; Chúa ban nhân từ và vinh dự. Ngài không từ chối ban những điều tốt cho những ai ăn ở lương thiện.
PSA 84:12 Lạy Chúa Toàn Năng, phúc cho những ai tin cậy nơi Ngài.
PSA 85:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê. Lạy Chúa, Ngài đã tỏ lòng nhân từ cùng đất nước Ngài; Ngài mang con dân Gia-cốp trở về.
PSA 85:2 Ngài tha thứ lầm lỡ của họ và xóa bỏ tội lỗi họ. Xê-la
PSA 85:3 Ngài không còn tức giận; và thu hồi cơn thịnh nộ Ngài.
PSA 85:4 Lạy Thượng Đế là Đấng Cứu Chuộc chúng tôi, xin hãy mang chúng tôi trở về. Xin đừng giận chúng tôi nữa.
PSA 85:5 Ngài sẽ giận chúng tôi mãi sao? Ngài vẫn còn tức giận từ đời nầy sang đời kia sao?
PSA 85:6 Ngài sẽ không khiến chúng tôi sống lại nữa sao? Dân Ngài sẽ vui mừng trong Ngài.
PSA 85:7 Lạy Chúa, xin hãy tỏ ra tình yêu Ngài và cứu chúng tôi.
PSA 85:8 Tôi sẽ lắng nghe lời Chúa là Thượng Đế tôi. Ngài nói về sự an bình cho dân Ngài và những người thờ kính Ngài. Họ không nên trở lại con đường ngu dại nữa.
PSA 85:9 Thượng Đế sẽ sớm cứu những kẻ kính sợ Ngài, và đất nước chúng ta sẽ nhận được vinh hiển Ngài.
PSA 85:10 Tình yêu và lòng trung tín của Chúa sẽ gặp nhau; sự công chính và hoà bình sẽ chào nhau, để ban phúc cho dân Ngài.
PSA 85:11 Sự trung thành sẽ mọc lên từ đất, và sự công chính sẽ nhìn xuống từ trời.
PSA 85:12 Thật vậy, Chúa sẽ ban những điều tốt lành, đất đai chúng ta sẽ sinh sản hoa màu.
PSA 85:13 Sự công chính sẽ đi trước Thượng Đế để dọn đường cho Ngài.
PSA 86:1 Lời cầu nguyện của Đa-vít. Chúa ôi, xin hãy nghe và đáp lời tôi, vì tôi khốn khổ và bị áp bức.
PSA 86:2 Xin hãy bảo vệ tôi vì tôi trung thành với Ngài. Xin hãy cứu tôi, kẻ tôi tớ hằng tin cậy nơi Ngài, là Thượng Đế tôi.
PSA 86:3 Lạy Chúa, xin hãy thương xót tôi vì suốt ngày tôi kêu cầu cùng Ngài.
PSA 86:4 Lạy Chúa, xin ban hạnh phúc cho tôi, kẻ tôi tớ Chúa, vì Chúa ôi, tôi dâng mạng sống tôi cho Ngài.
PSA 86:5 Lạy Chúa, Ngài nhân từ và hay tha thứ, Ngài hằng tỏ lòng yêu thương lớn lao cho những kẻ kêu xin Ngài.
PSA 86:6 Chúa ôi, xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi, lắng nghe khi tôi nài xin ơn thương xót.
PSA 86:7 Tôi kêu cầu Ngài đang khi gặp khốn khó vì Ngài đáp lời tôi.
PSA 86:8 Lạy Chúa, không có thần nào giống như Ngài, cũng không có công việc nào giống công việc Chúa làm.
PSA 86:9 Lạy Chúa, các nước mà Ngài đã lập sẽ đến thờ phụng Ngài. Họ sẽ tôn trọng Ngài.
PSA 86:10 Ngài là Đấng cao cả và hay làm những điều kỳ diệu. Chỉ một mình Chúa là Thượng Đế.
PSA 86:11 Lạy Chúa, xin chỉ cho tôi biết ý muốn Ngài, thì tôi sẽ sống bằng chân lý Ngài. Xin dạy cho đời tôi biết hết lòng kính sợ Ngài.
PSA 86:12 Lạy Chúa là Thượng Đế tôi, tôi sẽ hết lòng ca ngợi Ngài, và tôn kính danh Chúa muôn đời.
PSA 86:13 Ngài đã tỏ tình yêu lớn lao đối với tôi. Ngài đã cứu tôi khỏi chết.
PSA 86:14 Lạy Thượng Đế, bọn kiêu căng tấn công tôi; một lũ côn đồ tìm cách giết tôi. Chúng không kính sợ Ngài.
PSA 86:15 Nhưng Chúa ơi, Ngài là Thượng Đế giàu lòng thương xót và nhân từ. Ngài chậm giận, dạt dào tình yêu và thành tín.
PSA 86:16 Xin hãy quay qua tôi và tỏ lòng thương xót. Xin thêm sức cho kẻ tôi tớ Chúa. Xin hãy cứu vớt con trai của tớ gái Ngài.
PSA 86:17 Xin hãy tỏ dấu hiệu rằng Ngài lo cho tôi. Để các kẻ thù của tôi nhìn thấy thì chúng sẽ bị xấu hổ vì Ngài là Đấng giúp đỡ và an ủi tôi.
PSA 87:1 Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê. Chúa xây dựng Giê-ru-sa-lem trên các núi thánh.
PSA 87:2 Ngài ưa thích các cổng Xi-ôn hơn các nơi khác trong Ít-ra-en.
PSA 87:3 Hỡi thành của Thượng Đế, người ta nói rất nhiều điều kỳ diệu về ngươi. Xê-la
PSA 87:4 Thượng Đế phán, “Ta sẽ đặt Ai-cập và Ba-by-lôn trong danh sách các quốc gia biết ta. Các dân Phi-li-tin, Tia và Ê-thi-ô-bi đều sinh trưởng từ nơi đó.”
PSA 87:5 Họ nói về Giê-ru-sa-lem như sau, “Người nầy, người nọ sinh ra ở đó.” Thượng Đế Chí Cao sẽ thêm sức cho thành ấy.
PSA 87:6 Chúa sẽ giữ một danh sách các quốc gia. Ngài ghi chú rằng, “Người nầy sinh tại đó.” Xê-la
PSA 87:7 Họ sẽ nhảy múa hát xướng, “Mọi điều tốt lành đều từ ngươi mà ra, hỡi Giê-ru-sa-lem.”
PSA 88:1 Bài ca ngợi của con cháu Cô-rê soạn cho nhạc trưởng. Lời cầu nguyện xin CHÚA chữa bệnh. Theo giọng Ma-ha-lát Lê-an-nốt. Thể mạch-kinh của Hê-man người Ếch-ra-hít. Chúa ôi, Ngài là Thượng Đế, Đấng cứu tôi. Cả ngày lẫn đêm, tôi kêu cầu cùng Chúa.
PSA 88:2 Xin hãy nghe lời khẩn nguyện tôi, lắng nghe tiếng kêu xin của tôi.
PSA 88:3 Đời tôi đầy khốn khổ, tôi hầu như sắp chết.
PSA 88:4 Người ta nghĩ rằng tôi đang đi xuống mồ. Tôi như người kiệt sức.
PSA 88:5 Tôi bị bỏ mặc cho chết, như xác nằm trong mồ, như những kẻ mà Ngài không nhớ tới nữa, hoàn toàn bị cách xa quyền năng Chúa.
PSA 88:6 Chúa đã đặt tôi trong mồ sâu tăm tối của sự chết.
PSA 88:7 Cơn giận Ngài nổi phừng cùng tôi; các lượn sóng Chúa bao trùm tôi. Xê-la
PSA 88:8 Chúa đã làm cho bạn hữu tôi xa lánh tôi, khiến họ ghét tôi. Tôi bị mắc kẹt không thoát được.
PSA 88:9 Mắt tôi lòa vì than khóc. Chúa ôi, tôi cầu nguyện cùng Chúa mỗi ngày. Tôi giơ tay lên cầu nguyện cùng Chúa.
PSA 88:10 Ngài có tỏ phép lạ cho người chết không? Họ có sống dậy để ca ngợi Ngài không? Xê-la
PSA 88:11 Tình yêu Ngài có được rao truyền nơi huyệt mả không? Sự thành tín Ngài có được rao giảng nơi cõi chết không?
PSA 88:12 Phép lạ Ngài có được biết đến trong mồ mả đen tối không? Sự nhân từ Ngài có được biết đến nơi đất lãng quên không?
PSA 88:13 Nhưng Chúa ôi, tôi đã kêu cứu cùng Ngài; mỗi sáng tôi cầu nguyện với Ngài.
PSA 88:14 Lạy Chúa, sao Ngài lìa bỏ tôi? Sao Ngài ẩn mặt cùng tôi?
PSA 88:15 Tôi yếu ớt và hấp hối từ khi còn trẻ. Tôi gánh chịu sự kinh khiếp của Ngài, tôi hoàn toàn kiệt quệ.
PSA 88:16 Ngài đã nổi giận cùng tôi, cơn kinh khiếp của Chúa tàn hại tôi.
PSA 88:17 Chúng vây tôi hằng ngày như nước lụt. Chúng đến quanh tôi.
PSA 88:18 Ngài đã lấy người thân và bạn bè tôi đi. Tôi phải làm bạn với bóng tối.
PSA 89:1 Do Ê-than người Ếch-ra-hít soạn theo thể mạch-kinh. Tôi sẽ luôn luôn ca ngợi tình yêu Chúa; Từ nay về sau tôi sẽ thuật lại sự thành tín Ngài.
PSA 89:2 Tôi sẽ nói, “Tình yêu Chúa còn đời đời; sự thành tín Chúa vững bền như bầu trời,”
PSA 89:3 Ngài phán, “Ta đã lập giao ước với người ta đã chọn; Ta đã hứa cùng tôi tớ ta là Đa-vít.
PSA 89:4 Ta hứa với người, ‘Ta sẽ khiến gia tộc ngươi còn mãi. Nước ngươi sẽ còn đời đời.’” Xê-la
PSA 89:5 Lạy Chúa, các từng trời ca ngợi phép lạ Ngài. Các người thánh Chúa ca tụng sự thành tín Ngài.
PSA 89:6 Trên trời có ai bằng Chúa? Không có thần nào giống như Ngài.
PSA 89:7 Những người thánh, tức các thiên sứ quanh ngôi, họp nhau lại thì họ kính sợ Ngài; Ngài đáng kinh sợ hơn cả các thiên sứ chầu quanh Ngài.
PSA 89:8 Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, có ai giống như Ngài? Chúa ôi, Ngài quyền năng và thành tín.
PSA 89:9 Ngài cai quản đại dương gầm thét và dẹp các lượn sóng cồn.
PSA 89:10 Chúa đập nát Ra-háp, con quái vật của nó trở thành xác chết. Ngài dùng sức mạnh phân tán các kẻ thù Ngài.
PSA 89:11 Trời đất đều thuộc về Chúa. Chúa tạo nên thế giới và muôn vật trong đó.
PSA 89:12 Chúa lập ra phương Bắc và phương Nam. Các núi Ta-bô và Hẹt-môn hát mừng.
PSA 89:13 Cánh tay Ngài có quyền năng lớn lao. Tay Ngài mạnh mẽ; tay phải Ngài giơ cao lên.
PSA 89:14 Nước Ngài được xây dựng trên nền công bằng và chính trực. Tình yêu và sự thành tín đi trước Ngài.
PSA 89:15 Phúc cho người học tập ca ngợi Ngài. Lạy Chúa, đó là những người bước đi trong ánh sáng của sự hiện diện Ngài.
PSA 89:16 Họ vui mừng trong Chúa mỗi ngày, luôn luôn ca tụng lòng nhân ái Ngài.
PSA 89:17 Ngài là sức mạnh vinh hiển của họ, Quyền năng của họ do Ngài mà ra.
PSA 89:18 Thuẫn che chở của chúng tôi là vua, Đấng thánh của Ít-ra-en.
PSA 89:19 Trước đây, trong sự hiện thấy, Chúa phán với những kẻ trung thành đi theo Ngài. Ngài bảo, “Ta đã ban sức mạnh cho dũng sĩ, Từ trong dân ta, ta đã cất nhắc một chàng trai trẻ.
PSA 89:20 Ta đã tìm được Đa-vít, kẻ tôi tớ ta; Ta đã đổ dầu thánh ta lên người để bổ nhiệm người.
PSA 89:21 Tay ta sẽ giữ người đứng vững, cánh tay ta sẽ thêm sức mạnh cho người.
PSA 89:22 Không có kẻ thù nào kiểm soát người, cũng không có kẻ ác nào đánh thắng người được.
PSA 89:23 Ta sẽ đè bẹp kẻ thù người trước mặt người; Ta sẽ đánh bại các kẻ ghét người.
PSA 89:24 Lòng thành tín và tình yêu ta sẽ ở cùng người. Người sẽ vững mạnh trong ta.
PSA 89:25 Ta sẽ ban cho người quyền trên đại dương, và quyền kiểm soát các sông ngòi.
PSA 89:26 Người sẽ thưa với ta, ‘Ngài là Cha tôi, Là Thượng Đế, Khối Đá và là Đấng Cứu Rỗi tôi.’
PSA 89:27 Ta sẽ lập người làm con trưởng nam ta, vua cao sang nhất trên đất.
PSA 89:28 Tình yêu ta sẽ chăm nom người mãi mãi, giao ước ta với người sẽ không bao giờ chấm dứt.
PSA 89:29 Ta sẽ làm cho gia tộc người còn mãi, và nước người bền như bầu trời.
PSA 89:30 Nếu con cháu người gạt bỏ sự dạy dỗ ta, không theo luật lệ ta,
PSA 89:31 nếu chúng không đếm xỉa đến điều ta muốn, bất vâng phục mệnh lệnh ta,
PSA 89:32 thì ta sẽ trị tội chúng bằng roi, chỉnh sự sai lầm chúng bằng roi quất.
PSA 89:33 Nhưng ta sẽ không rút lại tình yêu ta cho Đa-vít, hay ném bỏ sự thành tín ta.
PSA 89:34 Ta sẽ không phá giao ước hoặc thay đổi điều ta đã hứa.
PSA 89:35 Ta đã hứa qua sự thánh khiết ta, ta sẽ không nói dối với Đa-vít,
PSA 89:36 Gia tộc người sẽ còn đời đời. Nước người sẽ bền mãi trước mặt ta như vầng thái dương.
PSA 89:37 Vương quốc người sẽ còn đời đời, như mặt trăng, một nhân chứng đáng tin trên bầu trời.” Xê-la
PSA 89:38 Nhưng nay Chúa đã từ chối và gạt bỏ vua Ngài bổ nhiệm. Chúa đã nổi giận cùng người.
PSA 89:39 Chúa đã bỏ giao ước với tôi tớ Ngài và ném mão triều người xuống đất.
PSA 89:40 Chúa đã phá sập các tường thành người; biến các thành kiên cố người ra nơi hoang tàn.
PSA 89:41 Người qua kẻ lại đều cướp đoạt người. Láng giềng người sỉ nhục người.
PSA 89:42 Chúa đã tiếp tay cho kẻ thù nghịch, khiến chúng đâm ra khoái trá.
PSA 89:43 Chúa khiến gươm giáo người ra vô dụng; Ngài không giúp đỡ người trong chiến trận.
PSA 89:44 Chúa khiến người bại trận, và dẹp quyền cai trị vinh hiển của người.
PSA 89:45 Chúa đã cắt ngắn đời người, bao phủ người bằng sỉ nhục. Xê-la
PSA 89:46 Lạy Chúa, tình trạng nầy kéo dài đến bao giờ? Chúa sẽ lánh mặt mãi sao? Cơn giận phừng của Chúa sẽ còn đến bao giờ?
PSA 89:47 Xin nhớ rằng đời tôi rất ngắn ngủi. Phải chăng Chúa muốn chúng tôi trở nên vô dụng?
PSA 89:48 Có người nào sống mà không phải chết? Có ai thoát được sức mạnh của mồ mả đâu? Xê-la
PSA 89:49 Lạy Chúa, tình yêu xưa kia mà Ngài đã hứa? Ngài hứa với Đa-vít rằng Ngài sẽ thành tín với gia đình người.
PSA 89:50 Chúa ôi, xin nhớ rằng chúng sỉ nhục các tôi tớ Chúa; đừng quên rằng tôi đã gánh chịu sự sỉ nhục của các dân.
PSA 89:51 Chúa ôi, các kẻ thù nghịch đã chế giễu tôi; hễ gặp vua được Ngài chọn ở đâu thì chúng sỉ nhục đến đó.
PSA 89:52 Ca ngợi Chúa mãi mãi! A-men! A-men!
PSA 90:1 Lời cầu nguyện của Mô-se, người của Thượng Đế. Lạy Chúa, từ xưa đến nay Ngài là nguồn cứu giúp của chúng tôi.
PSA 90:2 Trước khi núi non sinh ra, trước khi Ngài sáng tạo trái đất và thế gian, Chúa là Thượng Đế, Ngài có từ xưa và còn đời đời.
PSA 90:3 Ngài biến loài người trở thành bụi đất. Ngài phán, “Hỡi loài người, hãy trở về với cát bụi.”
PSA 90:4 Đối với Chúa, ngàn năm như một ngày qua đi, hay một vài giờ trong đêm.
PSA 90:5 Đời sống chúng tôi như giấc mộng, chấm dứt khi buổi sáng đến. Chúng tôi giống như cỏ,
PSA 90:6 buổi sáng đâm chồi và mọc lên, nhưng đến chiều đã chết héo.
PSA 90:7 Chúng tôi bị cơn giận Ngài tiêu diệt; và kinh hoàng vì cơn thịnh nộ Ngài.
PSA 90:8 Chúa đặt những điều ác mà chúng tôi làm trước mặt Ngài; Ngài thấy rõ các tội lỗi kín giấu của chúng tôi.
PSA 90:9 Chuỗi ngày chúng tôi chấm dứt khi Ngài nổi giận. Các năm tháng chúng tôi kết thúc như tiếng thở dài.
PSA 90:10 Đời chúng tôi chỉ có bảy mươi tuổi còn nếu khỏe mạnh thì được tám mươi. Nhưng các năm tháng ấy đều đầy lao khổ. Chúng qua mau, rồi chúng tôi biến mất.
PSA 90:11 Ai biết được sức mạnh của cơn giận Ngài? Sự kính sợ của chúng tôi đối với Ngài cũng lớn bằng cơn giận Ngài.
PSA 90:12 Xin dạy chúng tôi biết đời mình ngắn ngủi ra sao để chúng tôi thêm khôn ngoan.
PSA 90:13 Chúa ơi, bao giờ thì Chúa sẽ trở lại và tỏ lòng nhân từ cho các tôi tớ Ngài?
PSA 90:14 Mỗi sáng xin hãy đổ tình yêu Ngài trên chúng tôi. Thì trọn đời chúng tôi sẽ hát mừng.
PSA 90:15 Chúng tôi đã thấy những năm tháng khốn khó. Bây giờ xin hãy ban sự vui mừng cho chúng tôi tương xứng với những khổ đau mà Ngài đặt trên chúng tôi.
PSA 90:16 Xin hãy cho các tôi tớ Ngài thấy những việc diệu kỳ của Ngài; hãy tỏ sự cao cả Ngài cho con cái họ.
PSA 90:17 Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi, xin ban ơn cho chúng tôi. Xin giúp chúng tôi thành công trong mọi việc. Xin giúp chúng tôi thành công.
PSA 91:1 Người nào ẩn náu trong Đấng Chí Cao sẽ được Đấng Toàn Năng bảo vệ.
PSA 91:2 Tôi thưa cùng Chúa rằng, “Ngài là nơi ẩn náu và thành lũy tôi. Ngài là Thượng Đế tôi, nên tôi tin cậy nơi Ngài.”
PSA 91:3 Chúa sẽ giải cứu ngươi khỏi những hiểm nguy ngầm và những bệnh tật hiểm nghèo.
PSA 91:4 Ngài sẽ che phủ ngươi, Ngươi có thể ẩn náu dưới cánh Ngài. Sự thành tín Ngài là cái thuẫn che chở ngươi.
PSA 91:5 Ngươi sẽ không sợ nguy hiểm ban đêm hay tên bay ban ngày.
PSA 91:6 Cũng không sợ dịch lệ trong bóng tối, hay bệnh tật tàn phá giữa trưa.
PSA 91:7 Dù bên cạnh ngươi có hàng ngàn người chết, bên phải ngươi hàng vạn người gục ngã, nhưng ngươi sẽ không bị tổn hại gì.
PSA 91:8 Ngươi chỉ cần nhìn và chứng kiến kẻ ác bị trừng phạt.
PSA 91:9 Chúa là nơi che chở ngươi; ngươi đã chọn Đấng Chí Cao làm nơi trú ẩn của mình.
PSA 91:10 Sẽ không có điều gì chẳng lành đến cho ngươi, cũng chẳng có thảm họa nào viếng lều ngươi.
PSA 91:11 Ngài đã sai thiên sứ chăm nom ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi.
PSA 91:12 Các thiên sứ sẽ giữ ngươi trong tay để chân ngươi khỏi vấp nhằm đá.
PSA 91:13 Ngươi sẽ đạp trên sư tử và rắn; ngươi sẽ dẫm lên sư tử hung hăng và rắn rít.
PSA 91:14 Chúa phán, “Ai yêu mến ta, ta sẽ giải cứu người ấy. Ta sẽ bảo vệ những người biết ta.
PSA 91:15 Họ sẽ kêu xin ta, ta sẽ đáp lời. Ta sẽ ở cùng họ trong cảnh nguy khốn; Ta sẽ giải cứu họ và tôn trọng họ.
PSA 91:16 Ta sẽ cho họ mãn nguyện sống lâu, và họ sẽ thấy ta sự cứu rỗi của ta.”
PSA 92:1 Bài ca dùng vào ngày Sa-bát. Ca ngợi Chúa và chúc tụng Đấng Chí Cao là điều tốt.
PSA 92:2 Thuật lại sự yêu thương Chúa vào buổi sáng và sự thành tín Ngài vào buổi chiều là điều tốt.
PSA 92:3 Kèm theo đờn sắt mười dây và đờn cầm dìu dặt.
PSA 92:4 Lạy Chúa, những việc Ngài làm khiến tôi hớn hở; Tôi sẽ hát mừng về những việc tay Ngài làm.
PSA 92:5 Lạy Chúa, Ngài đã làm những việc lớn lao! Tư tưởng Ngài vô cùng sâu sắc!
PSA 92:6 Kẻ ngu si không thể hiểu biết, người điên dại không am tường.
PSA 92:7 Lũ gian ác mọc lên như cỏ. Bọn gian tà thịnh vượng, nhưng chúng sẽ bị tiêu diệt đời đời.
PSA 92:8 Nhưng, Chúa ôi, Ngài sẽ được tôn cao muôn đời.
PSA 92:9 Lạy Chúa, hãy nhìn các kẻ thù Ngài, Chúng sẽ bị tiêu diệt. Tất cả các kẻ gian ác sẽ bị tản lạc.
PSA 92:10 Nhưng Ngài làm cho tôi mạnh như trâu. Ngài đổ dầu hảo hạng trên tôi.
PSA 92:11 Khi tôi nhìn thì tôi thấy kẻ thù tôi bị ngã xuống; tôi nghe tiếng kêu la của bọn gian ác nghịch tôi.
PSA 92:12 Nhưng người nhân đức sẽ lớn mạnh như cây chà là, sẽ cao vút như cây hương nam ở Li-băng.
PSA 92:13 Những người được trồng trong đền thờ Chúa, họ lớn mạnh trong sân Thượng Đế.
PSA 92:14 Dù đã già, họ vẫn sinh hoa quả; vẫn khoẻ mạnh xanh tươi.
PSA 92:15 Họ chứng tỏ rằng Chúa rất nhân lành. Ngài là Khối Đá tôi, luôn làm điều chân chính.
PSA 93:1 Chúa là vua, Ngài mặc sự uy nghi. Chúa mặc oai nghi và nai nịt bằng sức mạnh. Thế gian đã được an bài, sẽ không lay chuyển.
PSA 93:2 Nước Ngài vững lập từ xưa; Ngài còn đời đời.
PSA 93:3 Chúa ơi, biển vang dội, các đại dương gầm thét, biển cả đập sóng ầm ầm vào bờ.
PSA 93:4 Tiếng nước sóng vang rền; các luồng phong ba mãnh liệt, nhưng Chúa còn vĩ đại hơn.
PSA 93:5 Lạy Chúa, luật lệ Ngài vững bền mãi. Đền thờ Ngài muôn đời thánh khiết.
PSA 94:1 Lạy Chúa là Thượng Đế trừng phạt. Xin hãy đến trừng phạt chúng.
PSA 94:2 Hỡi quan án của thế gian, hãy đứng dậy và trừng phạt đích đáng bọn kiêu căng.
PSA 94:3 Bọn gian ác sẽ hớn hở đến bao giờ? Bao lâu nữa, thưa Chúa?
PSA 94:4 Chúng nói toàn lời ngạo mạn; Những kẻ gian ác huênh hoang chuyện chúng làm.
PSA 94:5 Chúa ôi, chúng chà đạp dân Ngài, làm khổ những kẻ thuộc về Ngài.
PSA 94:6 Chúng giết kẻ góa bụa, lữ khách tạm trú trong xứ chúng ta. Chúng tàn sát trẻ mồ côi.
PSA 94:7 Chúng ngạo nghễ bảo rằng, “Chúa không thấy đâu; Thượng Đế của Gia-cốp chẳng thèm biết đến.”
PSA 94:8 Nầy bọn ngu xuẩn, hãy chú ý, Còn kẻ điên cuồng, bao giờ các ngươi mới hiểu?
PSA 94:9 Đấng tạo ra lỗ tai mà không nghe được sao? Đấng tạo ra con mắt mà không thấy à?
PSA 94:10 Đấng sửa trị thế gian mà không trừng phạt các ngươi sao? Ngài là Đấng dạy khôn cho loài người.
PSA 94:11 Chúa biết ý nghĩ con người. Ngài biết tư tưởng họ chỉ như luồng gió thoảng.
PSA 94:12 Lạy Chúa, kẻ được Ngài sửa trị thật có phúc. Ngài dạy họ luật lệ Ngài.
PSA 94:13 Ngài cho họ nghỉ ngơi khỏi cảnh khốn khổ cho đến khi hố dành cho kẻ ác đã đào xong.
PSA 94:14 Chúa không lìa bỏ dân Ngài hay bỏ rơi những kẻ thuộc về Ngài.
PSA 94:15 Sự công chính sẽ trở lại, mang theo sự công bình, Những người ngay thẳng sẽ có mặt ở đó và nhìn thấy điều ấy.
PSA 94:16 Ai sẽ giúp tôi chống kẻ ác? Ai sẽ cùng tôi chống lại kẻ gian tà?
PSA 94:17 Nếu Chúa không giúp đỡ thì chắc trong phút chốc tôi đã mất mạng rồi.
PSA 94:18 Tôi thưa, “Tôi sắp ngã,” nhưng, Chúa ôi, tình yêu Ngài nâng đỡ tôi.
PSA 94:19 Tôi rất lo lắng nhưng Ngài an ủi tôi và khiến tôi vui vẻ.
PSA 94:20 Những kẻ lãnh đạo bất lương không thể kết thân với Chúa được. Chúng dùng luật lệ để gây khổ đau.
PSA 94:21 Chúng hợp lực chống lại người làm điều phải, và kết án tử hình kẻ vô tội.
PSA 94:22 Nhưng Chúa là Đấng bảo vệ tôi, Thượng Đế tôi là Khối Đá che chở tôi.
PSA 94:23 Chúa sẽ trừng phạt tội lỗi chúng và sẽ diệt chúng vì tội ác chúng làm. Chúa là Thượng Đế chúng tôi sẽ tiêu diệt chúng.
PSA 95:1 Hãy đến hát mừng Chúa. Hãy lớn tiếng ca ngợi Khối Đá đã giải cứu chúng ta.
PSA 95:2 Hãy đến với Ngài bằng bài ca tạ ơn. Hãy hát tôn vinh Ngài,
PSA 95:3 vì Chúa là Thượng Đế cao cả, vua lớn trên tất cả các thần.
PSA 95:4 Mọi vực thẳm sâu nhất trên đất thuộc về Ngài, các núi cao tột đỉnh cũng là của Ngài.
PSA 95:5 Biển cả là của Chúa vì Ngài tạo nên chúng, Ngài tạo đất khô bằng chính tay mình.
PSA 95:6 Hãy đến cúi xuống thờ kính. Chúng ta hãy quì gối trước mặt Chúa là Đấng dựng nên chúng ta.
PSA 95:7 Ngài là Thượng Đế chúng ta, chúng ta là dân mà Ngài chăm sóc, là đàn chiên Ngài chăn giữ. Hôm nay hãy nghe tiếng Ngài phán dạy:
PSA 95:8 “Đừng ương ngạnh như tổ tiên các ngươi tại Mê-ri-ba, và như việc các ngươi làm tại Mát-xa trong sa mạc,
PSA 95:9 Nơi mà tổ tiên các ngươi thách thức và thử ta mặc dù họ đã thấy mọi điều ta làm.
PSA 95:10 Ta nổi giận với họ trong bốn mươi năm. Ta bảo, ‘Họ không trung thành cùng ta, chẳng hiểu đường lối ta.’
PSA 95:11 Ta nổi giận và thề quyết, ‘Họ sẽ không bao giờ được vào sự an nghỉ ta.’”
PSA 96:1 Cả trái đất, hãy hát một bài ca mới cho Chúa; hãy hát tôn vinh Ngài.
PSA 96:2 Hãy hát xướng cho Chúa và ca ngợi Ngài; mỗi ngày hãy thuật lại ơn giải cứu lớn lao của Ngài.
PSA 96:3 Hãy thuật cho các nước biết vinh quang Ngài, và muôn dân biết các điều diệu kỳ Ngài làm,
PSA 96:4 vì Chúa rất cao cả; Ngài đáng được ca ngợi luôn luôn. Ngài đáng được tôn trọng hơn tất cả các thần.
PSA 96:5 Các thần khác hoàn toàn vô ích, nhưng Chúa tạo lập các từng trời.
PSA 96:6 Chúa đầy vinh hiển và uy nghiêm; Ngài có năng lực và vẻ đẹp trong đền thánh Ngài.
PSA 96:7 Hỡi các nước trên đất, hãy ca ngợi Chúa; hãy ca ngợi sự vinh hiển và quyền năng Ngài.
PSA 96:8 Hãy ca ngợi xứng đáng với vinh hiển Ngài. Hãy mang của lễ đi vào sân của đền thờ Ngài.
PSA 96:9 Hãy thờ phụng Chúa vì Ngài là thánh. Mọi người trên đất, hãy run sợ trước mặt Ngài.
PSA 96:10 Hãy bảo cho các nước rằng, “Chúa là vua.” Trái đất đã được Chúa an bài, sẽ không lay chuyển. Ngài sẽ phân xử các dân tộc một cách công minh.
PSA 96:11 Các từng trời hãy reo vui, đất hãy mừng rỡ; biển và mọi vật trong biển hãy la lớn lên.
PSA 96:12 Đồng ruộng và mọi vật trong đó hãy hớn hở, Mọi cây cối trong rừng hãy hát mừng
PSA 96:13 trước mặt Chúa vì Ngài đang ngự đến. Ngài đến để phân xử thế gian; Ngài sẽ phân xử thế gian bằng sự công chính và các dân tộc bằng sự thành tín.
PSA 97:1 Chúa là Vua. Cả trái đất hãy reo vui; các hải đảo hãy hớn hở.
PSA 97:2 Quanh Ngài có đám mây đen kịt. Nước Ngài được xây trên nền chính trực và công bằng.
PSA 97:3 Trước mặt Ngài có đám lửa thiêu đốt các thù nghịch Ngài bốn phía.
PSA 97:4 Lằn chớp Ngài chiếu sáng khắp thế gian; trái đất thấy liền run sợ.
PSA 97:5 Núi non tan chảy như sáp trước mặt Chúa, trước mặt Chúa của cả trái đất.
PSA 97:6 Các từng trời thuật lại lòng nhân từ Ngài mọi người thấy vinh hiển Ngài.
PSA 97:7 Những kẻ thờ phụng tượng chạm sẽ bị xấu hổ; họ khoe khoang về các thần vô dụng của mình. Tất cả các thần đều thờ phụng Chúa.
PSA 97:8 Giê-ru-sa-lem nghe liền hớn hở, các thành Giu-đa vui mừng. Chúng vui mừng vì sự phân xử của Ngài, thưa Chúa.
PSA 97:9 Lạy Chúa, Ngài là Đấng Chí Cao trên khắp đất; Ngài được suy tôn trên tất cả các thần.
PSA 97:10 Những ai yêu mến Chúa ghét điều ác. Chúa chăm nom những kẻ trung tín theo Ngài và giải thoát họ khỏi quyền lực của kẻ ác.
PSA 97:11 Ánh sáng chiếu trên những ai làm theo lẽ phải; sự vui mừng đi theo những kẻ lương thiện.
PSA 97:12 Hỡi những ai làm theo lẽ phải, hãy vui mừng trong Chúa. Hãy ca ngợi danh Ngài.
PSA 98:1 Bài ca ngợi Hãy hát một bài ca mới cho Chúa vì Ngài đã làm những việc diệu kỳ. Tay phải mạnh mẽ và thánh của Ngài giúp Ngài chiến thắng.
PSA 98:2 Chúa đã dùng quyền năng giải cứu; cho muôn dân thấy sự đắc thắng của Ngài dành cho dân tộc Ngài.
PSA 98:3 Ngài nhớ lại tình yêu và sự thành tín mà Ngài dành cho dân Ít-ra-en. Các nơi xa xăm của đất đã thấy quyền năng giải cứu của Thượng Đế.
PSA 98:4 Cả thế gian hãy reo hò vui vẻ cho Chúa; hãy trỗi tiếng ca và dạo nhạc.
PSA 98:5 Hãy dạo nhạc cho Chúa bằng đờn cầm, dùng đờn cầm và âm nhạc.
PSA 98:6 Hãy thổi kèn cùng tù và; hãy lớn tiếng hát mừng cho Chúa, là vua.
PSA 98:7 Biển và mọi vật trong biển hãy nổi tiếng ầm ầm lên, thế gian và mọi người đang sống trên đất hãy xướng hát lên.
PSA 98:8 Các sông hãy vỗ tay; các núi hãy cùng nhau hát mừng.
PSA 98:9 Tất cả hãy hát xướng trước mặt Chúa, vì Ngài đến để phân xử thế gian. Ngài sẽ phân xử thế gian bằng sự công bằng; Ngài sẽ phân xử các dân trong công chính.
PSA 99:1 Chúa là Vua. Các dân hãy run sợ trước mặt Ngài. Ngài ngự giữa các con thú bằng vàng có cánh. Đất hãy rung động.
PSA 99:2 Chúa của Giê-ru-sa-lem rất vĩ đại; Ngài được suy tôn trên khắp các dân.
PSA 99:3 Mọi người hãy ca ngợi danh Ngài; danh Ngài rất lớn, Ngài là Đấng thánh và đáng sợ.
PSA 99:4 Vua có quyền năng, Ngài chuộng công lý. Ngài thiết lập sự công bằng; Ngài thi hành điều công chính và phải lẽ giữa dân Gia-cốp.
PSA 99:5 Hãy tôn cao Chúa là Thượng Đế chúng ta, hãy thờ phụng Ngài nơi bệ chân Ngài. Ngài là Đấng thánh.
PSA 99:6 Mô-se và A-rôn là thầy tế lễ của Ngài, Sa-mu-ên cũng kêu cầu cùng Ngài. Họ kêu xin cùng Chúa, Ngài liền đáp lời họ.
PSA 99:7 Ngài phán với họ trong trụ mây. Họ giữ các qui tắc và luật lệ Ngài ban cho.
PSA 99:8 Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi, Ngài đáp lời họ. Ngài cho họ thấy Ngài là Đấng hay tha thứ, nhưng sửa trị xứng đáng những hành vi sai lầm của họ.
PSA 99:9 Hãy tôn cao Chúa là Thượng Đế chúng ta, hãy cúi xuống thờ phụng Ngài trên núi thánh Ngài, vì Chúa, Thượng Đế chúng ta là Đấng thánh.
PSA 100:1 Bài ca cảm tạ. Hỡi cả thế gian, hãy reo vang ca ngợi Chúa.
PSA 100:2 Hãy vui mừng phục vụ Chúa; hát xướng mà đến trước mặt Chúa.
PSA 100:3 Phải biết rằng Chúa là Thượng Đế. Ngài tạo nên chúng ta, chúng ta thuộc về Ngài. Chúng ta là dân Ngài, là bầy chiên Ngài chăn giữ.
PSA 100:4 Hãy hát cảm tạ mà đi vào thành thánh Ngài và bước vào sân đền Ngài bằng tiếng ca tôn vinh. Hãy cảm tạ và ca ngợi danh Ngài.
PSA 100:5 CHÚA rất nhân từ. Tình yêu Ngài còn đời đời, sự thành tín Ngài kéo dài vô tận.
PSA 101:1 Bài ca của Đa-vít. Tôi sẽ hát ca về tình yêu và lòng công minh; Chúa ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài.
PSA 101:2 Tôi sẽ cố gắng sống cuộc đời toàn thiện. Bao giờ thì Ngài sẽ đến cùng tôi? Tôi sẽ sống cuộc đời toàn thiện trong nhà tôi.
PSA 101:3 Tôi sẽ không nhìn điều gì xấu xa. Những điều ấy sẽ không bám vào tôi.
PSA 101:4 Tôi không muốn liên can đến điều bất lương; Tôi không muốn dính vào việc ác.
PSA 101:5 Tôi sẽ ngăn chận kẻ nói lén người láng giềng mình, luôn cả những kẻ tự phụ và kiêu căng.
PSA 101:6 Tôi sẽ tìm người đáng tin trong xứ để sống chung với tôi. Chỉ những ai có đời sống thanh liêm mới được làm tôi tớ cho tôi thôi.
PSA 101:7 Kẻ bất lương không được ngụ trong nhà tôi; bọn nói dối phải dang xa khỏi tôi.
PSA 101:8 Mỗi sáng tôi sẽ tiêu diệt mọi kẻ ác trong xứ. Tôi sẽ trừ khử mọi kẻ gian tà khỏi thành của Chúa.
PSA 102:1 Lời cầu nguyện của người đang khốn khổ khi người yếu đuối và bày tỏ lòng buồn bực cùng Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời cầu nguyện tôi; nguyện lời kêu xin của tôi lên đến Ngài.
PSA 102:2 Xin đừng lánh mặt trong khi tôi gặp khốn khó. Xin hãy lưu ý đến tôi. Khi tôi kêu cầu, xin Ngài nghe tiếng tôi.
PSA 102:3 Đời tôi tan đi như mây khói, xương cốt tôi cháy như than đỏ.
PSA 102:4 Lòng tôi như cỏ bị cắt và phơi khô. Tôi quên cả ăn.
PSA 102:5 Vì quá sầu khổ, tôi chỉ còn da bọc xương.
PSA 102:6 Tôi như chim cú trong sa mạc, như chim cú sống trong các nơi đổ nát.
PSA 102:7 Tôi nằm thao thức. Tôi giống như chim lẻ bạn đậu trên mái nhà.
PSA 102:8 Suốt ngày kẻ thù sỉ nhục tôi; những kẻ chế giễu tôi nguyền rủa tôi.
PSA 102:9 Thức ăn của tôi là điều buồn bã, nước mắt là thức uống.
PSA 102:10 Trong cơn giận, Chúa đã túm bắt và ném tôi thật xa.
PSA 102:11 Những ngày tháng của tôi sắp qua đi như bóng câu; Tôi héo như cỏ.
PSA 102:12 Nhưng Chúa ôi, Ngài cai trị muôn đời, uy danh Ngài còn đời nầy qua đời kia.
PSA 102:13 Ngài sẽ đến và thương xót Giê-ru-sa-lem, đã đến lúc Ngài tỏ lòng nhân từ cùng thành ấy; nay chính là thời điểm đó.
PSA 102:14 Các kẻ tôi tớ Chúa yêu thích các tảng đá của thành ấy, cả đến bụi bặm của nó nữa.
PSA 102:15 Các dân sẽ kính sợ danh Chúa, các vua trên đất sẽ tôn trọng Ngài.
PSA 102:16 Chúa sẽ xây lại Giê-ru-sa-lem; người ta sẽ nhìn thấy vinh hiển Ngài ở đó.
PSA 102:17 Ngài sẽ đáp lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, và không từ chối lời khẩn cầu của họ.
PSA 102:18 Hãy viết những điều nầy để thế hệ mai sau ca ngợi Chúa.
PSA 102:19 Từ nơi thánh Ngài trên cao Chúa trông xuống; từ thiên đàng Ngài nhìn xuống đất.
PSA 102:20 Ngài nghe tiếng than vãn của các tù nhân, Ngài giải thoát những kẻ bị kêu án tử hình.
PSA 102:21 Để người ta sẽ rao truyền danh Chúa tại Giê-ru-sa-lem; lời ca ngợi Ngài sẽ được nghe ở đó.
PSA 102:22 Các dân sẽ cùng họp nhau, các nước sẽ phục vụ Ngài.
PSA 102:23 Chúa khiến tôi chán sống; Ngài đã cắt ngắn đời tôi.
PSA 102:24 Cho nên tôi thưa, “Lạy Chúa tôi ôi, xin đừng cất mạng tôi nửa chừng. Các năm Chúa còn mãi mãi.
PSA 102:25 Thuở xưa Chúa dựng nên trái đất, bàn tay Ngài làm ra các bầu trời.
PSA 102:26 Trời đất sẽ tiêu tan, nhưng Chúa sẽ tồn tại mãi. Trời đất sẽ mòn cũ như áo quần, Ngài sẽ thay và ném bỏ chúng đi như quần áo.
PSA 102:27 Nhưng Chúa không bao giờ thay đổi, các năm tháng CHÚA không hề chấm dứt.
PSA 102:28 Con cái chúng tôi sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài, và cháu chắt chúng tôi sẽ được bình an trước mặt Ngài.”
PSA 103:1 Bài ca của Đa-vít. Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa; toàn thân ta ơi, hãy ca tụng danh thánh Ngài.
PSA 103:2 Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa, đừng quên sự nhân từ Ngài.
PSA 103:3 Ngài tha thứ mọi tội lỗi tôi, chữa lành mọi bệnh tật tôi.
PSA 103:4 Ngài cứu tôi khỏi mồ mả, Ngài lấy tình yêu và lòng thương xót làm mão triều đội cho tôi.
PSA 103:5 Ngài ban cho tôi mọi điều tốt lành, và làm tôi trẻ lại như chim phượng hoàng.
PSA 103:6 Chúa làm điều phải lẽ và công bằng cho những kẻ bị ức hiếp.
PSA 103:7 Ngài cho Mô-se biết đường lối Ngài và cho Ít-ra-en biết việc làm của Ngài.
PSA 103:8 Chúa đầy lòng thương xót và nhân từ. Ngài chậm giận, giàu tình yêu.
PSA 103:9 Không phải lúc nào Ngài cũng luôn luôn bắt tội chúng ta, Ngài không căm giận mãi.
PSA 103:10 Chúa không trừng phạt chúng tôi xứng với tội lỗi chúng tôi; không báo trả chúng tôi đáng với sự gian ác chúng tôi.
PSA 103:11 Hễ các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tình yêu Ngài dành cho kẻ kính sợ Ngài cũng lớn bấy nhiêu.
PSA 103:12 Phương đông xa phương tây bao nhiêu, thì Ngài cũng mang tội lỗi xa khỏi chúng tôi bấy nhiêu.
PSA 103:13 Chúa tỏ lòng nhân từ đối cùng những ai kính sợ Ngài, như cha tỏ lòng nhân từ cùng con cái mình.
PSA 103:14 Ngài biết chúng tôi được tạo nên như thế nào; Ngài nhớ rằng chúng tôi chỉ là bụi đất.
PSA 103:15 Đời người giống như cỏ; Nó trổ hoa trong đồng.
PSA 103:16 Gió thổi, hoa bay mất, không còn để lại dấu tích.
PSA 103:17 Nhưng tình yêu Chúa dành cho những kẻ kính sợ Ngài còn đời đời, và lòng nhân từ Ngài kéo dài đến con cháu họ
PSA 103:18 là những người giữ giao ước Ngài và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 103:19 Chúa đặt ngôi Ngài trên trời, nước Ngài quản trị mọi loài.
PSA 103:20 Hỡi các thiên sứ Ngài, hãy ca ngợi Ngài. Các ngươi là những chiến sĩ bạo dạn, làm theo lời phán và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 103:21 Hỡi các đoàn quân của Chúa là các tôi tớ Chúa làm theo ý muốn Chúa, hãy ca ngợi Ngài; Các ngươi là tôi tớ Chúa, hãy làm theo ý muốn Ngài.
PSA 103:22 Mọi vật Chúa dựng nên hãy ca ngợi Ngài bất cứ chỗ nào Ngài cai trị. Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa.
PSA 104:1 Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa. Lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài rất cao cả. Ngài mặc vinh hiển và oai nghi;
PSA 104:2 áo Ngài là ánh sáng. Ngài giăng bầu trời ra như cái lều.
PSA 104:3 Xây phòng Ngài trên các đám mây. Ngài dùng mây làm xe, và lượn trên cánh gió.
PSA 104:4 Ngài dùng gió làm sứ giả mình, ngọn lửa làm tôi tớ mình.
PSA 104:5 Chúa xây trái đất trên nền nó, nó sẽ không bị di động.
PSA 104:6 Ngài phủ trái đất như chiếc áo; nước dâng ngập các ngọn núi cao.
PSA 104:7 Nhưng khi Chúa ra lệnh, nó liền hạ xuống. Khi Ngài gầm thét, nó vội vàng trôi mất.
PSA 104:8 Nước chảy qua núi non; rồi xuống thung lũng, đến nơi Ngài định cho nó.
PSA 104:9 Ngài đặt ranh giới biển, không cho nó vượt qua, để nước không còn làm ngập lụt đất nữa.
PSA 104:10 Ngài khiến suối đổ vào các sông ngòi; chúng chảy giữa các núi non.
PSA 104:11 Suối cấp thức uống cho muông thú; các lừa hoang đến đó uống nước.
PSA 104:12 Chim muông làm tổ gần nước; hót thánh thót giữa các cành cây.
PSA 104:13 Từ trời Ngài tưới các núi non. Đất đầy dẫy những thành quả của công trình Ngài.
PSA 104:14 Ngài khiến cỏ mọc lên cho súc vật, và rau cỏ cho con người. Ngài khiến đất sinh ra thực phẩm.
PSA 104:15 Ngài cho chúng tôi rượu ngon khiến chúng tôi vui vẻ, và dầu ô liu làm mặt chúng tôi sáng rỡ. Ngài ban bánh mì để chúng tôi thêm sức.
PSA 104:16 Cây cối của Chúa được tưới đầy đủ; đó là các cây hương nam của Li-băng mà Ngài đã trồng.
PSA 104:17 Chim trời làm tổ trên đó; con cò xây tổ trong các nhành thông.
PSA 104:18 Núi cao là lãnh thổ của dê rừng. Các khe đá là nơi trú ẩn của con rái đồng.
PSA 104:19 Ngài dùng mặt trăng để định ngày tháng, mặt trời luôn biết giờ lặn.
PSA 104:20 Chúa khiến nó tối lại, thì hóa ra đêm. Bấy giờ các thú rừng đi ra.
PSA 104:21 Sư tử gầm thét khi kiếm mồi. Chúng trông đợi Thượng Đế ban thức ăn.
PSA 104:22 Khi mặt trời mọc lên, chúng trở về hang động để nghỉ ngơi.
PSA 104:23 Rồi con người đi ra làm việc, mãi đến chiều tà.
PSA 104:24 Lạy Chúa, Ngài đã làm thật nhiều điều; nhờ sự khôn ngoan Ngài dựng nên tất cả mọi thứ. Đất đầy dẫy các vật mà Ngài tạo nên.
PSA 104:25 Hãy nhìn đại dương to rộng, cùng vô số sinh vật lớn nhỏ sống trong đó.
PSA 104:26 Tàu bè đi lại trên biển, cũng có Lê-vi-a-than mà Ngài khiến nô đùa trong đó.
PSA 104:27 Tất cả đều trông đợi Ngài ban thức ăn theo giờ.
PSA 104:28 Khi Ngài ban thức ăn thì chúng nhận lấy. Khi Ngài xoè tay ra, chúng được no nê thức ăn ngon.
PSA 104:29 Khi Ngài quay đi, chúng đâm ra hoảng sợ. Ngài lấy hơi thở chúng, chúng dãy chết và trở về bụi đất.
PSA 104:30 Khi Ngài hà hơi sống trên chúng, chúng được dựng nên, Ngài làm đất trở nên mới.
PSA 104:31 Nguyện vinh hiển của Chúa còn mãi mãi. Nguyện Chúa vui hưởng điều Ngài sáng tạo.
PSA 104:32 Ngài nhìn đất, đất liền rung chuyển, Ngài sờ vào núi, núi liền bốc khói.
PSA 104:33 Tôi sẽ hát xướng cho Chúa suốt đời tôi; Tôi còn sống bao lâu, thì tôi sẽ ca ngợi Thượng Đế tôi bấy lâu.
PSA 104:34 Nguyện tư tưởng tôi đẹp lòng Ngài; Tôi vui mừng trong Chúa.
PSA 104:35 Nguyện tội nhân bị diệt khỏi đất, nguyện kẻ ác không còn tồn tại. Linh hồn ta ơi, hãy ca ngợi Chúa. Hãy ca ngợi Chúa.
PSA 105:1 Hãy cảm tạ Chúa và rao truyền danh Ngài. Hãy thuật cho các quốc gia những việc Ngài làm.
PSA 105:2 Hãy hát xướng; hãy ca ngợi Ngài. Hãy thuật lại các việc diệu kỳ của Ngài.
PSA 105:3 Hãy vui mừng trong sự kiêu hãnh; những người tìm kiếm Chúa hãy vui mừng.
PSA 105:4 Hãy tìm kiếm nơi Chúa và sức mạnh của Ngài; hãy luôn luôn đến cùng Ngài để xin cứu giúp.
PSA 105:5 Hãy nhớ lại các việc diệu kỳ Ngài đã làm; những việc lạ lùng và các phán quyết của miệng Ngài.
PSA 105:6 Các ngươi là dòng dõi của tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, con cháu Gia-cốp, dân được lựa chọn của Ngài.
PSA 105:7 Chúa là Thượng Đế chúng ta. Ngài cai trị toàn thế giới.
PSA 105:8 Ngài sẽ mãi mãi tôn trọng giao ước Ngài, và luôn luôn giữ lời hứa.
PSA 105:9 Ngài giữ giao ước đã lập với Áp-ra-ham và lời hứa Ngài cùng Y-sác.
PSA 105:10 Ngài xác nhận giao ước cho Gia-cốp; lập thành giao ước với Ít-ra-en cho đến đời đời.
PSA 105:11 Chúa phán, “Ta sẽ cho ngươi đất Ca-na-an, xứ đó sẽ thuộc về các ngươi.”
PSA 105:12 Khi Ngài tuyên bố những điều ấy thì dân cư của Ngài hãy còn ít oi. Họ là kiều dân trong xứ.
PSA 105:13 Họ lưu lạc từ nước nầy sang nước khác, từ vương quốc nầy đến vương quốc nọ.
PSA 105:14 Tuy nhiên Chúa không cho ai ức hiếp họ; Ngài cảnh cáo các vua không được làm hại họ.
PSA 105:15 Ngài bảo, “Chớ có đụng đến dân được chọn lựa của ta, không được làm hại các nhà tiên tri ta.”
PSA 105:16 Thượng Đế đưa thời kỳ đói kém đến trong xứ, Ngài tiêu hủy mọi nguồn thực phẩm.
PSA 105:17 Sau đó Ngài sai một người đi trước họ tức Giô-xép, bị bán làm nô lệ.
PSA 105:18 Chúng xiềng chân người và đeo gông vào cổ người.
PSA 105:19 Cho đến thời kỳ mà người đã tiên đoán xảy đến, lời của Chúa chứng tỏ Giô-xép nói đúng.
PSA 105:20 Vua Ai-cập cho gọi Giô-xép đến và thả người ra; nhà lãnh đạo quần chúng phóng thích người.
PSA 105:21 Vua đặt người cai quản cả cung vua; Giô-xép quản trị mọi tài sản vua.
PSA 105:22 Người có quyền sai khiến các hoàng thân. Người dạy khôn cho các bậc lão thành.
PSA 105:23 Sau đó cha người là Ít-ra-en đến Ai-cập; Gia-cốp trú ngụ tại xứ Cham.
PSA 105:24 Chúa khiến dân Ngài sinh sôi nẩy nở, làm cho họ lớn mạnh hơn kẻ thù họ.
PSA 105:25 Ngài làm cho người Ai-cập ghét dân Ngài để họ nghịch các tôi tớ Ngài.
PSA 105:26 Rồi Ngài sai tôi tớ Ngài là Mô-se, và A-rôn là người Ngài đã chọn.
PSA 105:27 Họ làm các dấu lạ giữa người Ai-cập và thực hiện các phép lạ trong xứ Cham.
PSA 105:28 Chúa sai bóng tối đến khiến xứ tối mịt, nhưng người Ai-cập chống nghịch lời Ngài.
PSA 105:29 Chúa liền biến nước ra máu khiến cá đều chết.
PSA 105:30 Rồi xứ bị ếch nhái tràn ngập, thậm chí tràn vào phòng ngủ của các quan cai trị.
PSA 105:31 Chúa phán thì ruồi nhặng bay đến, muỗi mòng tràn lan khắp xứ.
PSA 105:32 Ngài khiến mưa đá rơi xuống thay vì mưa và sai sấm vang chớp loè khắp xứ.
PSA 105:33 Ngài tàn phá các dây nho và cây vả họ, Ngài tiêu diệt cây cối khắp xứ.
PSA 105:34 Ngài phán thì cào cào liền bay tới ào ạt nhiều vô kể.
PSA 105:35 Chúng ăn sạch các cây xanh trong xứ cùng những gì do đất họ sinh ra.
PSA 105:36 Chúa cũng giết các con trai đầu lòng trong xứ, tức con trưởng nam của mỗi gia đình.
PSA 105:37 Sau đó Ngài dẫn dân Ngài ra khỏi Ai-cập, họ mang theo bạc và vàng, không một ai trong vòng họ vấp té hay bị bỏ lại.
PSA 105:38 Dân Ai-cập quá mừng khi dân sự Ngài ra đi, vì người Ai-cập rất sợ họ.
PSA 105:39 Chúa dùng đám mây làm bóng mát cho họ, và soi sáng bóng đêm bằng ánh lửa.
PSA 105:40 Họ xin, Ngài liền sai chim cút đến và cho họ ăn no nê bánh từ trời.
PSA 105:41 Chúa chẻ tảng đá, nước liền phun ra; chảy như sông giữa sa mạc.
PSA 105:42 Chúa nhớ lại lời hứa thánh mà Ngài lập với Áp-ra-ham tôi tớ Ngài.
PSA 105:43 Thượng Đế mang dân Ngài ra trong niềm hân hoan, là dân chọn lựa của Ngài trong tiếng ca hát.
PSA 105:44 Ngài cấp cho họ đất đai của các dân tộc khác, họ nhận lãnh công lao của kẻ khác.
PSA 105:45 Ngài làm như thế để họ giữ mệnh lệnh Ngài và vâng theo lời dạy của Ngài. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 106:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy cảm tạ Chúa vì lòng nhân từ của Ngài. Tình yêu Ngài còn mãi mãi.
PSA 106:2 Không ai có thể thuật hết các việc quyền năng Chúa đã làm. Không ai có thể hát hết lời ca ngợi Ngài.
PSA 106:3 Phúc cho ai làm điều công chính, và kẻ luôn làm điều phải.
PSA 106:4 Chúa ôi, xin nhớ đến tôi khi tỏ lòng nhân từ cùng dân tộc Ngài; giúp tôi khi Ngài cứu họ.
PSA 106:5 Xin hãy cho tôi thấy sự sung túc của dân Ngài lựa chọn. Xin cho tôi cùng chung vui với dân Ngài; cùng nhập chung với dân Chúa mà ca ngợi Ngài.
PSA 106:6 Chúng tôi đã phạm tội giống như tổ tiên chúng tôi trước kia. Chúng tôi làm quấy, chúng tôi gian ác.
PSA 106:7 Trong xứ Ai-cập, tổ tiên chúng tôi không hiểu được các phép lạ Chúa. Họ chẳng ghi nhớ lòng yêu thương bao la của Ngài, trái lại họ chống nghịch Ngài tại Biển Sậy.
PSA 106:8 Nhưng vì danh Ngài, Chúa đã cứu họ, để tỏ ra quyền năng lớn lao của Ngài.
PSA 106:9 Ngài ra lệnh cho biển Sậy, nó liền cạn khô. Ngài dẫn họ qua biển sâu như thể bước đi trong sa mạc.
PSA 106:10 Ngài cứu họ khỏi những kẻ ghét họ, giải thoát họ khỏi tay kẻ thù,
PSA 106:11 Ngài khiến nước phủ ngập lên kẻ thù họ. Không một ai thoát chết.
PSA 106:12 Bấy giờ họ tin điều Chúa phán, và ca ngợi Ngài.
PSA 106:13 Nhưng rồi họ vội vàng quên điều Ngài làm; không chờ đợi huấn lệnh Chúa.
PSA 106:14 Họ thèm muốn đang khi ở trong sa mạc, thách thức Ngài tại đó.
PSA 106:15 Ngài cho họ điều họ ao ước, nhưng sai dịch lệ đến với họ.
PSA 106:16 Dân chúng trong doanh trại đố kỵ với Mô-se và A-rôn, thầy tế lễ thánh của Chúa.
PSA 106:17 Đất liền nứt ra nuốt Đa-than và chôn sống bè lũ A-bi-ram.
PSA 106:18 Một ngọn lửa thiêu đốt những kẻ đi theo chúng, hỏa thiêu bọn gian ác.
PSA 106:19 Dân chúng tạc một bò con vàng tại núi Hô-rếp, bái lạy một tượng đúc,
PSA 106:20 Họ đánh đổi Thượng Đế vinh hiển của mình lấy hình tượng con bò ăn cỏ.
PSA 106:21 Họ quên Thượng Đế là Đấng đã giải cứu và làm những phép lạ trong xứ Cham,
PSA 106:22 Đấng đã làm nhiều phép lạ ở Ai-cập và những việc diệu kỳ nơi biển Sậy.
PSA 106:23 Nên Thượng Đế nhất quyết tiêu diệt họ. Nhưng Mô-se, người được Chúa chọn, đứng trước mặt Ngài, cản không để cơn thịnh nộ Ngài tiêu diệt họ.
PSA 106:24 Họ không chịu đi vào xứ Ca-na-an đẹp đẽ; không tin lời hứa của Ngài.
PSA 106:25 Trong lều trại họ oán trách và không vâng lời Chúa.
PSA 106:26 Nên Ngài thề là họ sẽ chết trong sa mạc.
PSA 106:27 Ngài phán rằng con cháu họ sẽ bị các dân khác đánh bại, và rằng họ sẽ bị tản lạc trong các nước khác.
PSA 106:28 Họ họp nhau bái lạy thần Ba-anh Phê-ô, và ăn đồ đã được cúng cho các người chết.
PSA 106:29 Chúa nổi giận cùng họ, nên nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo.
PSA 106:30 Nhưng Phi-nê-a đứng lên và can thiệp.
PSA 106:31 Thượng Đế xem đó là việc làm phải lẽ, sẽ được mãi mãi ghi nhớ.
PSA 106:32 Họ cũng chọc Ngài giận ở các suối nước Mê-ri-ba, và vì họ mà Mô-se lãnh hậu quả không hay.
PSA 106:33 Dân chúng phản nghịch lại Thánh Linh của Chúa, khiến Mô-se nổi giận.
PSA 106:34 Dân chúng cũng không tiêu diệt các dân khác như Chúa dặn bảo.
PSA 106:35 Nhưng lại sống chung chạ với chúng và học đòi theo phong tục của các dân ấy.
PSA 106:36 Thần tượng của các dân khác trở thành cạm bẫy cho họ.
PSA 106:37 Đến nỗi họ giết con trai con gái mình làm của lễ hi sinh cho các ác quỉ.
PSA 106:38 Họ giết trẻ con vô tội, tức chính con trai con gái mình để làm sinh tế cho các thần tượng xứ Ca-na-an. Cho nên đất trở nên dơ bẩn vì huyết chúng.
PSA 106:39 Họ tự làm cho mình dơ bẩn vì các hành động của họ; Họ không trung thành bằng các hành động của họ.
PSA 106:40 Nên Ngài tức giận và chán ngán con dân Ngài.
PSA 106:41 Ngài trao họ cho các quốc gia khác, cho phép kẻ thù cai trị họ.
PSA 106:42 Kẻ thù áp bức và thống trị họ.
PSA 106:43 Nhiều lần Chúa giải cứu dân Ngài, nhưng họ tiếp tục phản nghịch Ngài. Càng suy sụp trong tội lỗi.
PSA 106:44 Nhưng khi nghe tiếng kêu than, Ngài thấy cảnh khốn đốn họ.
PSA 106:45 Ngài nhớ lại giao ước với họ và an ủi họ do lòng yêu thương lớn lao của Ngài.
PSA 106:46 Ngài khiến các kẻ áp bức họ cũng thương hại họ.
PSA 106:47 Lạy Chúa là Thượng Đế chúng tôi, xin hãy cứu và mang chúng tôi trở về từ các nước khác. Chúng tôi sẽ cảm tạ Ngài và vui mừng ca ngợi Ngài.
PSA 106:48 Hãy ca ngợi Chúa, là Thượng Đế của Ít-ra-en. Đấng sẽ còn mãi mãi. Mọi người hãy nói, “A-men!” Hãy ca ngợi CHÚA!
PSA 107:1 Cảm tạ Chúa vì Ngài nhân từ. Tình yêu Ngài còn đời đời.
PSA 107:2 Hỡi những ai được Chúa cứu hãy ca ngợi như thế. Ngài đã giải cứu họ khỏi tay kẻ thù
PSA 107:3 và đã tập họp họ lại từ các quốc gia, từ Đông đến Tây, từ Bắc đến Nam.
PSA 107:4 Một số đã lưu lạc trong sa mạc, không tìm được thành nào để sống.
PSA 107:5 Họ bị đói khát, chán nản cùng cực.
PSA 107:6 Trong cơn khốn đốn họ kêu la cùng Thượng Đế, thì Ngài giải thoát họ khỏi mọi cảnh khốn khổ.
PSA 107:7 Ngài dẫn họ thẳng đến thành có thể ở được.
PSA 107:8 Họ phải cảm tạ Chúa vì tình yêu và những phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
PSA 107:9 Ngài cho họ đã khát và no đủ.
PSA 107:10 Một số ngồi trong cảnh ảm đạm tăm tối; họ đang đau khổ trong xiềng xích.
PSA 107:11 Họ đã chống báng lời phán của Thượng Đế, không thèm nghe lời khuyên của Đấng Chí Cao.
PSA 107:12 Do đó Ngài bắt họ lao khổ để hạ tính tự phụ của họ, không ai giúp đỡ họ.
PSA 107:13 Trong cơn khốn đốn, họ kêu xin cùng Chúa, Ngài liền giải cứu họ ra khỏi cảnh hiểm nghèo.
PSA 107:14 Ngài mang họ ra khỏi cảnh ảm đạm đen tối, bẻ xiềng xích họ.
PSA 107:15 Họ phải cảm tạ Chúa vì lòng yêu thương và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
PSA 107:16 Ngài phá các cổng đồng và cắt song sắt.
PSA 107:17 Một số ngu dại chống nghịch Thượng Đế, mang lấy khốn khổ do hậu quả của việc ác mình làm.
PSA 107:18 Họ không thiết ăn uống đến nỗi suýt chết.
PSA 107:19 Trong cơn khốn đốn họ kêu la cùng Chúa, Ngài liền giải cứu họ ra khỏi cảnh khốn khổ.
PSA 107:20 Ngài ra huấn lệnh và chữa lành, cứu họ khỏi chết.
PSA 107:21 Họ phải cảm tạ Chúa vì tình yêu và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
PSA 107:22 Họ phải dâng của lễ cảm tạ Ngài. Hớn hở thuật lại những việc tay Chúa làm.
PSA 107:23 Có kẻ dùng tàu biển buôn bán trên các đại dương.
PSA 107:24 Họ thấy những điều Chúa có thể làm, những phép lạ Ngài thực hiện trong biển sâu.
PSA 107:25 Chúa phán thì giông tố nổi lên, thổi sóng cuồn cuộn.
PSA 107:26 Tàu bè bị chòng chành, khi trồi lên cao chót vót, lúc sụp xuống nơi thẳm sâu. Trận bão dữ dội đến nỗi họ hết hi vọng.
PSA 107:27 Họ đi lảo đảo và ngã té như người say. Họ lúng túng không biết làm sao.
PSA 107:28 Trong cơn khốn khổ họ kêu la cùng Chúa, Ngài liền giải cứu họ khỏi nỗi hiểm nguy.
PSA 107:29 Ngài khiến bão lặng và dẹp yên các lượn sóng.
PSA 107:30 Họ vui mừng vì bão yên. Thượng Đế hướng dẫn họ đến bến mà họ muốn đi.
PSA 107:31 Họ phải cảm tạ Chúa về tình yêu và các phép lạ Ngài làm cho dân Ngài.
PSA 107:32 Họ phải ca ngợi sự cao cả Ngài trong hội các dân; họ phải ca ngợi Ngài trong buổi hội các bô lão.
PSA 107:33 Ngài biến sông ngòi ra sa mạc, và suối nước ra đất khô.
PSA 107:34 Ngài biến đất màu mỡ ra đất mặn vì dân cư sống ở đó gian ác.
PSA 107:35 Chúa biến sa mạc ra ao hồ, và đất khô ra suối nước.
PSA 107:36 Ngài cho kẻ đói khổ lập nghiệp tại đó để họ xây thành định cư.
PSA 107:37 Họ gieo giống trong đồng ruộng và vườn nho, họ được trúng mùa.
PSA 107:38 Thượng Đế ban phước cho họ, dân số họ gia tăng. Gia súc cũng không sụt giảm.
PSA 107:39 Nhưng vì thiên tai, khốn khổ và buồn thảm, dân số gia đình họ sút giảm và suy yếu.
PSA 107:40 Chúa cho thấy Ngài bất bình với các nhà lãnh đạo họ cho nên Ngài bắt họ lưu lạc trong sa mạc không lối đi.
PSA 107:41 Nhưng Ngài mang kẻ nghèo khó ra khỏi cảnh khổ, khiến gia đình họ gia tăng như bầy cừu.
PSA 107:42 Những người ngay thẳng vui vẻ khi nhìn thấy điều nầy, nhưng kẻ ác làm thinh.
PSA 107:43 Kẻ nào khôn ngoan sẽ ghi nhớ việc đó và suy gẫm về tình yêu của Chúa.
PSA 108:1 Bài ca ngợi của Đa-vít. Lạy Thượng Đế, lòng tôi ổn định. Linh hồn tôi sẽ hát ca ngợi Chúa.
PSA 108:2 Hỡi đờn sắt và đờn cầm, hãy tỉnh giấc! Tôi sẽ đánh thức bình minh dậy.
PSA 108:3 Chúa ôi, tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân; tôn vinh Ngài trong các nước.
PSA 108:4 Tình yêu lớn lao của Ngài vượt trên các từng trời, chân lý Ngài cao vút đến mây xanh.
PSA 108:5 Lạy Thượng Đế, nguyền Ngài được tôn cao hơn các từng trời. Nguyện vinh quang Ngài lan tràn khắp đất.
PSA 108:6 Xin hãy trả lời chúng tôi qua quyền năng Ngài, để dân mà Chúa yêu được giải cứu.
PSA 108:7 Từ đền thánh Ngài Thượng Đế phán, “Sau khi thắng, ta sẽ chia Sê-chem và đo thung lũng Xu-cốt.
PSA 108:8 Ghi-lê-át và Ma-na-xe đều thuộc về ta. Ép-ra-im là mũ sắt ta. Giu-đa cầm cây trượng vàng ta.
PSA 108:9 Mô-áp là chậu ta rửa ráy. Ta ném giày dép ta ở Ê-đôm. Ta reo hò đắc thắng trên Phi-li-tin.”
PSA 108:10 Ai sẽ đưa tôi đến thành có vách kiên cố? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?
PSA 108:11 Chính là Thượng Đế, Đấng đã từ bỏ chúng tôi; Ngài không còn ra trận với đạo quân chúng tôi nữa.
PSA 108:12 Xin hãy giúp chúng tôi đánh quân thù. Sự giúp đỡ loài người thật vô dụng,
PSA 108:13 nhưng nhờ Thượng Đế giúp, chúng tôi có thể chiến thắng quân thù. Ngài sẽ đánh bại kẻ thù chúng tôi.
PSA 109:1 Soạn cho nhạc trưởng. Bài ca của Đa-vít. Thượng Đế ôi, tôi ca ngợi Ngài. Xin đừng im lặng.
PSA 109:2 Bọn gian ác và dối trá phao vu về tôi; chúng đặt điều nói dối về tôi.
PSA 109:3 Chúng đồn đãi tiếng xấu cho tôi và vô cớ tấn công tôi.
PSA 109:4 Dù rằng tôi yêu thương và cầu nguyện cho chúng, chúng vẫn công kích tôi.
PSA 109:5 Chúng lấy xấu báo tốt, lấy dữ trả lành. Tôi yêu thương chúng, nhưng chúng ghét tôi.
PSA 109:6 Chúng nói về tôi rằng, “Hãy kiếm một tên gian ác chống lại nó, hãy cho một kẻ tố cáo nó.
PSA 109:7 Khi nó bị phân xử, mong cho nó bị xử có tội, nguyện lời cầu nguyện của nó phô bày tội lỗi nó ra.
PSA 109:8 Nguyện đời nó bị rút ngắn, nguyện không ai thay thế địa vị lãnh đạo của nó.
PSA 109:9 Nguyện con cái nó thành mồ côi và vợ nó thành goá bụa.
PSA 109:10 Nguyện con cái nó thất thểu đi ăn xin. Nguyện chúng bị đuổi khỏi chốn hoang tàn mà chúng đang trú ngụ.
PSA 109:11 Nguyện chủ nợ tịch thu hết các tài sản nó, nguyện kẻ xa lạ ăn cắp hết những gì nó làm ra.
PSA 109:12 Nguyện không có ai thương nó hay tội nghiệp cho đàn con côi cút của nó.
PSA 109:13 Nguyện dòng dõi nó chết không còn lưu lại kỷ niệm cho hậu thế.
PSA 109:14 Chúa ôi, xin nhớ lại tổ tiên chúng nó gian ác ra sao, xin đừng bôi xóa tội lỗi của mẹ nó.
PSA 109:15 Chúa ôi, xin luôn nhớ tội lỗi chúng nó. Xin Ngài khiến chúng nó bị lãng quên hoàn toàn.
PSA 109:16 Nó không hề nghĩ đến chuyện làm ơn. Nó làm hại người nghèo, kẻ túng thiếu và kẻ đau buồn cho đến khi họ gần chết.
PSA 109:17 Nó thích nguyền rủa người khác, nguyện những lời trù ẻo đó lại rơi trên nó. Nó không thích chúc lành cho kẻ khác, nên nguyện nó không nhận được ơn lành nào.
PSA 109:18 Nó nguyền rủa người khác hằng ngày như mặc áo. Nguyền rủa kẻ khác là bản tính của nó, giống như uống nước hay dùng dầu thoa thân thể.
PSA 109:19 Nguyện những lời nguyền rủa phủ nó như áo xống, quấn nó như cái nịt.”
PSA 109:20 Nguyện Chúa đối như vậy cho kẻ tố cáo tôi, tức những kẻ bêu xấu tôi.
PSA 109:21 Nhưng, Chúa ôi, xin tỏ lòng nhân từ cùng tôi, để kẻ khác biết rằng Ngài nhân hậu. Vì tình yêu Chúa rất tốt lành, xin hãy cứu tôi.
PSA 109:22 Tôi nghèo khổ, khốn đốn và buồn thảm.
PSA 109:23 Tôi hấp hối như bóng chiều ngã dài; bị xua đuổi như cào cào.
PSA 109:24 Đầu gối tôi run rẩy vì thiếu ăn, tôi trở nên ốm yếu.
PSA 109:25 Kẻ thù tôi sỉ nhục tôi; chúng nhìn tôi lắc đầu.
PSA 109:26 Lạy Chúa là Thượng Đế tôi, xin giúp đỡ tôi; vì Ngài nhân ái, xin hãy cứu tôi.
PSA 109:27 Bấy giờ chúng sẽ biết rằng Ngài làm việc ấy; và hiểu rõ rằng chính quyền năng Chúa đã giúp đỡ tôi.
PSA 109:28 Chúng nguyền rủa tôi, nhưng Ngài ban phước cho tôi. Chúng công kích tôi, nhưng sẽ bị hổ nhục. Bấy giờ, tôi là kẻ tôi tớ Chúa sẽ vui mừng.
PSA 109:29 Nguyện những kẻ tố cáo tôi bị hổ nhục và bị nhuốc nhơ bao trùm như cái áo.
PSA 109:30 Tôi sẽ dùng môi miệng ca ngợi Chúa; tôi sẽ ca tụng Ngài trước mặt mọi người.
PSA 109:31 Ngài bênh vực kẻ cô thế, cứu họ khỏi tay kẻ tố cáo họ.
PSA 110:1 Bài ca của Đa-vít. Chúa phán cùng chúa tôi, “Hãy ngồi bên phải ta cho đến khi ta đặt mọi kẻ thù con dưới quyền quản trị của con.”
PSA 110:2 Chúa sẽ nới rộng nước con quá ranh giới Giê-ru-sa-lem, rồi con sẽ cai trị kẻ thù con.
PSA 110:3 Trong ngày chiến trận, dân tộc con sẽ nhập với con. Từ khi mới sinh con đã được mặc đức thánh thiện; Con tươi mát như đứa trẻ.
PSA 110:4 Chúa đã hứa và sẽ không đổi ý rằng, “Con là thầy tế lễ đời đời, giống như Mên-chi-xê-đéc.”
PSA 110:5 Chúa sẽ ở bên con để giúp con. Khi nổi giận, Ngài sẽ đè bẹp các vua.
PSA 110:6 Ngài sẽ xử đoán các nước, làm khắp nơi đầy xác chết; Ngài sẽ đánh bại các lãnh tụ của mọi quốc gia trên thế giới.
PSA 110:7 Vua sẽ uống nước khe đang khi đi đường. Rồi người ngước đầu lên và trở nên mạnh mẽ.
PSA 111:1 Ca ngợi Chúa! Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa trong buổi họp của các người ngay thẳng.
PSA 111:2 Chúa đã làm những việc lớn lao; hơn mọi điều chúng ta cầu xin.
PSA 111:3 Điều Chúa làm thật hiển vinh và rực rỡ, lòng nhân ái Ngài còn đến đời đời.
PSA 111:4 Ngài nổi danh qua các phép lạ Ngài làm. Chúa đầy lòng nhân từ và thương xót.
PSA 111:5 Ngài ban thức ăn cho kẻ kính sợ Ngài. Ngài mãi mãi ghi nhớ giao ước mình.
PSA 111:6 Ngài chứng tỏ quyền năng khi ban đất của các nước khác cho dân Ngài.
PSA 111:7 Mọi điều Ngài làm đều tốt đẹp và công bằng; Các huấn lệnh Ngài thật đáng tin cậy.
PSA 111:8 Các huấn lệnh ấy sẽ còn đời đời, vì chúng đều được thực hiện trong sự thành tín và chân thật.
PSA 111:9 Chúa giải phóng dân Ngài. Ngài lập giao ước đời đời. Ngài là Đấng thánh và kỳ diệu.
PSA 111:10 Kính sợ Chúa là khởi điểm của khôn ngoan; ai theo vâng theo huấn lệnh Ngài có tri thức lớn. Ngài đáng được ca ngợi muôn đời.
PSA 112:1 Hãy ca ngợi Chúa! Phúc cho người kính sợ Chúa, ao ước làm theo ý muốn Ngài.
PSA 112:2 Dòng dõi người sẽ cường thịnh trong xứ; con cháu của người thanh liêm sẽ được phước.
PSA 112:3 Nhà người sẽ đầy dẫy của cải, và sự nhân từ người sẽ còn mãi.
PSA 112:4 Ánh sáng chiếu trong tối cho những người thanh liêm, và cho những ai có lòng phúc hậu, nhân từ và ngay thẳng.
PSA 112:5 Con người nên tỏ ra nhân từ và rộng rãi, phải chăng trong công việc.
PSA 112:6 Vì họ sẽ không bao giờ bị lay chuyển. Người ta sẽ luôn ghi nhớ người ngay thẳng.
PSA 112:7 Họ không sợ tin dữ; lòng họ ổn định vì họ tin cậy nơi Chúa.
PSA 112:8 Họ rất tin tưởng nên không sợ hãi gì. Họ sẽ chứng kiến sự thất bại của kẻ thù.
PSA 112:9 Họ bố thí rộng rãi cho kẻ nghèo. Lòng nhân từ của họ sẽ còn mãi. Họ sẽ được tôn trọng trong chiến thắng.
PSA 112:10 Kẻ ác sẽ thấy điều ấy và đâm tức giận. Chúng sẽ tức tối nghiến răng rồi biến mất. Những ao ước của kẻ ác sẽ chẳng đi đến đâu.
PSA 113:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hỡi các tôi tớ CHÚA, hãy ca ngợi danh Ngài.
PSA 113:2 Danh Chúa đáng được tán tụng từ nay cho đến mãi mãi.
PSA 113:3 Danh Chúa đáng được ca ngợi từ phía mặt trời mọc cho đến phía mặt trời lặn.
PSA 113:4 Chúa được suy tôn trong các quốc gia; vinh quang Ngài lên đến tận các từng trời.
PSA 113:5 Không ai giống như Chúa là Thượng Đế chúng ta, Đấng cai trị từ thiên đàng,
PSA 113:6 Đấng nhìn xuống các từng trời và đất.
PSA 113:7 Chúa nâng người nghèo khổ lên khỏi đất đen, đem kẻ cô thế ra khỏi bụi tro.
PSA 113:8 Ngài đặt họ ngồi với các kẻ quyền quí, với các lãnh tụ của dân Ngài.
PSA 113:9 Ngài khiến đàn bà hiếm muộn sinh con cái, được hớn hở làm mẹ. Hãy ca ngợi Thượng Đế!
PSA 114:1 Khi dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập, nhà Gia-cốp rời bỏ một xứ ngoại quốc.
PSA 114:2 Giu-đa trở thành nơi thánh cho Chúa; Ít-ra-en trở nên đất Ngài cai trị.
PSA 114:3 Hồng hải nhìn xong liền bỏ chạy; sông Giô-đanh chảy lùi lại.
PSA 114:4 Núi nhún nhảy như dê đực, và đồi nhảy nhót như cừu non.
PSA 114:5 Nầy biển, sao ngươi bỏ chạy? Nầy sông Giô-đanh, sao ngươi chảy lùi lại?
PSA 114:6 Nầy núi, sao các ngươi nhảy như dê đực? Còn đồi, sao các ngươi nhảy nhót như cừu non vậy?
PSA 114:7 Hỡi trái đất, hãy run sợ trước mặt Chúa, trước mặt Thượng Đế của Gia-cốp.
PSA 114:8 Ngài biến tảng đá ra ao nước, biến khối đá cứng ra suối nước.
PSA 115:1 Chúa ôi, vì tình yêu và sự thành tín Ngài, vinh hiển thuộc về Chúa, chứ không thuộc về chúng tôi!
PSA 115:2 Tại sao các dân hỏi, “Thượng Đế của chúng đâu rồi?”
PSA 115:3 Thượng Đế chúng tôi trên thiên đàng. Ngài làm điều Ngài thích.
PSA 115:4 Các tượng chạm của họ bằng bạc và bằng vàng, do tay người làm ra.
PSA 115:5 Chúng có miệng mà chẳng nói được. Có mắt chẳng thấy.
PSA 115:6 Có lỗ tai chẳng nghe. Có mũi chẳng ngửi được.
PSA 115:7 Có tay không sờ được. Có chân chẳng đi được. Cổ họng chẳng phát ra được tiếng nào.
PSA 115:8 Người nào tạc tượng cũng sẽ y như thế, còn ai tin tưởng vào các tượng ấy cũng vậy.
PSA 115:9 Hỡi dòng họ Ít-ra-en, hãy tin cậy Thượng Đế. Ngài là Đấng cứu giúp và bảo vệ ngươi.
PSA 115:10 Hỡi gia đình A-rôn, hãy tin cậy Thượng Đế. Ngài là Đấng giúp đỡ và bảo vệ các ngươi.
PSA 115:11 Những ai tôn kính Thượng Đế hãy tin cậy Ngài. Vì Ngài là Đấng giúp đỡ và bảo vệ ngươi.
PSA 115:12 Chúa nhớ chúng ta và chúc phước cho chúng ta. Ngài sẽ ban phước cho dòng họ Ít-ra-en; Ngài sẽ ban phúc lành cho gia đình A-rôn.
PSA 115:13 Chúa sẽ ban ân phúc cho những ai tôn trọng Ngài, từ người lớn nhất cho đến người nhỏ nhất.
PSA 115:14 Nguyện Chúa ban cho ngươi thành công, nguyện Ngài giúp ngươi và con cái ngươi được may mắn.
PSA 115:15 Nguyện ngươi được phúc lành từ Chúa, Đấng tạo nên trời đất.
PSA 115:16 Trời thuộc về Chúa, nhưng Ngài ban đất cho dân Ngài.
PSA 115:17 Người chết không thể ca ngợi Chúa; kẻ nằm trong mồ mả im lặng.
PSA 115:18 Nhưng chúng tôi sẽ ca ngợi Chúa từ nay cho đến mãi mãi. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 116:1 Tôi yêu mến Chúa vì Ngài nghe tiếng kêu cứu của tôi.
PSA 116:2 Ngài để ý đến tôi, cho nên hễ tôi còn sống bao lâu thì tôi sẽ kêu xin Ngài bấy lâu.
PSA 116:3 Dây tử thần trói buộc tôi, và mối lo sợ về cái chết nắm giữ tôi. Tôi lo lắng và buồn bã.
PSA 116:4 Tôi liền kêu đến danh Chúa. Tôi thưa, “Chúa ôi, xin cứu tôi!”
PSA 116:5 Chúa rất nhân từ và làm điều phải; Thượng Đế chúng tôi đầy lòng thương xót.
PSA 116:6 Chúa trông chừng kẻ yếu thế; khi tôi bị cô thế thì Ngài liền cứu tôi.
PSA 116:7 Tôi tự nhủ, “Hãy yên tâm, vì Chúa sẽ lo cho ngươi.”
PSA 116:8 Lạy Chúa, Ngài đã cứu tôi khỏi chết. Lau nước mắt cho tôi; Giữ tôi khỏi bị thua thiệt.
PSA 116:9 Cho nên tôi sẽ cùng đi với Chúa trong đất người sống.
PSA 116:10 Tôi tin nên tôi nói, “Tôi hoàn toàn thất thế rồi.”
PSA 116:11 Trong cơn nguy biến tôi bảo, “Người nào cũng nói dối cả.”
PSA 116:12 Tôi sẽ lấy gì đền đáp những ơn lành Chúa ban cho tôi?
PSA 116:13 Tôi sẽ nâng chén cứu rỗi lên, rồi cầu nguyện cùng Chúa.
PSA 116:14 Tôi sẽ thực hiện lời tôi hứa với Chúa trước mặt dân của Ngài.
PSA 116:15 Sự chết của những kẻ theo Chúa rất quí báu trước mặt Ngài.
PSA 116:16 Chúa ôi, tôi là tôi tớ Chúa; tôi là đầy tớ, con trai của kẻ nô lệ Ngài. Ngài đã giải thoát tôi khỏi xiềng xích.
PSA 116:17 Tôi sẽ dâng của lễ cảm tạ Ngài, tôi sẽ cầu nguyện cùng Chúa.
PSA 116:18 Tôi sẽ thực hiện lời tôi hứa cùng Chúa trước mặt dân Ngài,
PSA 116:19 trong sân đền Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 117:1 Hỡi các nước, hãy ca ngợi Chúa. Hỡi các dân hãy chúc tụng Ngài
PSA 117:2 vì Chúa rất yêu chúng ta, chân lý Ngài còn đời đời. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 118:1 Cảm tạ Chúa vì Ngài nhân ái. Tình yêu Ngài còn đến đời đời.
PSA 118:2 Toàn dân Ít-ra-en hãy nói, “Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
PSA 118:3 Nhà A-rôn hãy nói rằng, “Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
PSA 118:4 Những người tôn kính Chúa hãy nói, “Tình yêu Ngài còn đến đời đời.”
PSA 118:5 Khi tôi bị khốn đốn, tôi kêu la cùng Chúa. Ngài trả lời tôi và giải thoát tôi.
PSA 118:6 Tôi không sợ vì Chúa ở với tôi. Không ai làm gì được tôi.
PSA 118:7 Chúa ở với tôi và giúp đỡ tôi, tôi sẽ thấy kẻ thù tôi bị đánh bại.
PSA 118:8 Nên tin cậy Chúa hơn tin cậy loài người.
PSA 118:9 Nên tin cậy Chúa hơn tin cậy các kẻ tước vị.
PSA 118:10 Các quốc gia vây tôi, nhưng tôi nhờ quyền năng Chúa đánh bại chúng.
PSA 118:11 Chúng vây tôi tứ phía, nhưng nhờ quyền năng Chúa, tôi đánh bại chúng.
PSA 118:12 Chúng vây tôi như bầy ong, nhưng chúng tàn lụi nhanh như gai cháy. Nhưng nhờ quyền năng Chúa, tôi đánh bại chúng.
PSA 118:13 Chúng đuổi theo tôi cho đến khi tôi gần bại trận nhưng Chúa giúp tôi.
PSA 118:14 Chúa là nguồn năng lực và là chủ đề của bài ca tôi. Ngài đã cứu tôi.
PSA 118:15 Từ lều của những người thanh liêm vang tiếng reo hò vui vẻ rằng, “Chúa đã làm những việc quyền năng.”
PSA 118:16 Quyền năng Chúa đã mang đến chiến thắng; nhờ quyền năng Ngài Chúa đã làm nhiều việc lớn lao.
PSA 118:17 Tôi sẽ không chết nhưng được sống để thuật lại những việc Chúa làm.
PSA 118:18 Chúa đã dạy tôi một bài học đắt giá nhưng Ngài không để tôi phải chết.
PSA 118:19 Xin hãy mở cửa đền thờ cho tôi. Thì tôi sẽ vào cảm tạ Chúa.
PSA 118:20 Đây là cửa của Chúa; chỉ có những người nhân đức mới được vào đó.
PSA 118:21 Lạy Chúa, tôi cảm tạ Ngài vì Ngài đã trả lời tôi. Ngài đã giải cứu tôi.
PSA 118:22 Tảng đá bị thợ xây nhà loại ra lại trở thành viên đá góc nhà.
PSA 118:23 Đó là điều Chúa làm, thật là kỳ diệu dưới mắt chúng ta.
PSA 118:24 Hôm nay là ngày Chúa đã dựng nên. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng trong ngày ấy!
PSA 118:25 Lạy Chúa, xin hãy cứu chúng tôi. Lạy Chúa xin giúp chúng tôi thành công.
PSA 118:26 Nguyện Chúa ban phúc cho Đấng đến trong danh Ngài. Từ đền thờ Chúa, ta chúc phước cho tất cả các ngươi.
PSA 118:27 Chúa là Thượng Đế, Ngài tỏ lòng nhân từ đối với chúng ta. Hãy cầm nhành chà là cùng nhau nhập tiệc vui. Hãy đến gần bàn thờ.
PSA 118:28 Ngài là Thượng Đế tôi, tôi sẽ cảm tạ Ngài; Ngài là Thượng Đế tôi, tôi sẽ ca ngợi sự cao cả của Ngài.
PSA 118:29 Hãy cảm tạ Chúa vì Ngài nhân từ. Tình yêu Ngài còn đến đời đời.
PSA 119:1 Phúc cho những ai sống cuộc đời trong sạch, và đi theo sự dạy dỗ của Chúa.
PSA 119:2 Phúc cho những ai giữ theo các qui tắc Ngài, hết lòng vâng lời Chúa.
PSA 119:3 Họ không làm điều sái bậy; nhưng đi theo các đường lối Ngài.
PSA 119:4 Lạy Chúa, Ngài đã truyền các mệnh lệnh Ngài để người ta tuyệt đối tuân theo.
PSA 119:5 Tôi ao ước được thêm trung tín khi tuân theo những điều Chúa dặn.
PSA 119:6 Để tôi không cảm thấy xấu hổ khi nghiên cứu luật lệ Ngài.
PSA 119:7 Khi tôi hiểu ra luật lệ Chúa là công bằng thì tôi hết lòng ca ngợi Ngài.
PSA 119:8 Tôi sẽ luôn luôn vâng theo các qui luật Chúa, xin đừng lìa bỏ tôi.
PSA 119:9 Người trẻ tuổi làm thế nào để sống cuộc đời trong sạch? Bằng cách vâng theo lời Chúa.
PSA 119:10 Tôi hết lòng vâng lời Ngài. Đừng để tôi vi phạm các mệnh lệnh của Chúa.
PSA 119:11 Tôi ghi tạc lời Chúa trong lòng tôi để tôi không phạm tội cùng Ngài.
PSA 119:12 Lạy Chúa, Ngài đáng được ca ngợi. Xin hãy dạy tôi các luật lệ Ngài.
PSA 119:13 Môi tôi sẽ thuật lại những luật lệ mà Chúa đã phán ra.
PSA 119:14 Tôi vui thích sống theo qui tắc của Ngài như người ta ham thích của cải.
PSA 119:15 Tôi học hỏi mệnh lệnh Chúa và đi theo đường lối Ngài.
PSA 119:16 Tôi vui thích vâng theo luật lệ Chúa, sẽ không bao giờ quên lời Ngài.
PSA 119:17 Xin hãy tỏ lòng nhân từ đối với tôi, kẻ tôi tớ Ngài, để tôi được sống và vâng theo lời Chúa.
PSA 119:18 Xin mở mắt tôi để tôi được nhìn thấy những điều lạ lùng trong lời dạy của Chúa.
PSA 119:19 Tôi là khách lạ trên đất. Xin đừng giấu luật lệ Ngài khỏi tôi.
PSA 119:20 Tôi mòn mỏi vì luôn ao ước luật lệ Ngài.
PSA 119:21 Chúa quở trách những kẻ tự phụ; những kẻ lơ là đối với luật lệ Ngài sẽ bị nguyền rủa.
PSA 119:22 Xin đừng để tôi bị sỉ nhục hay bị ghét bỏ vì tuân theo qui tắc của Ngài.
PSA 119:23 Dù cho các quan quyền bàn luận nghịch tôi, thì tôi là kẻ tôi tớ Chúa vẫn suy tư về luật lệ Chúa.
PSA 119:24 Luật lệ Chúa mang cho tôi niềm vui sướng; Luật lệ Chúa hướng dẫn tôi.
PSA 119:25 Tôi sắp sửa qua đời. Xin hãy cho tôi sống như Ngài đã hứa.
PSA 119:26 Tôi thuật cho Ngài biết về đời tôi, Chúa liền trả lời tôi. Xin hãy dạy tôi các luật lệ Chúa.
PSA 119:27 Xin hãy giúp tôi hiểu mệnh lệnh Ngài. Tôi sẽ suy tư về phép lạ Ngài.
PSA 119:28 Tôi buồn bã và mệt mỏi. Xin hãy thêm sức cho tôi như Ngài đã hứa.
PSA 119:29 Xin đừng để tôi trở nên bất lương; xin thương mà giúp tôi vâng theo lời dạy của Ngài.
PSA 119:30 Tôi đã chọn con đường chân lý; Tôi đã dùng luật lệ Ngài làm hướng đi cho tôi.
PSA 119:31 Tôi hết lòng tuân theo các qui tắc của Ngài. Chúa ôi, xin đừng để tôi bị xấu hổ.
PSA 119:32 Tôi sẽ nhanh nhẹn vâng theo luật lệ Ngài, vì Ngài làm tôi vui mừng.
PSA 119:33 Lạy Chúa, xin hãy dạy tôi luật lệ Ngài, thì tôi sẽ vâng giữ chúng đến cùng.
PSA 119:34 Xin giúp tôi hiểu, để tôi giữ lời dạy của Chúa, hết lòng vâng theo.
PSA 119:35 Xin dẫn tôi đi trong con đường luật lệ Chúa vì điều ấy khiến tôi vui mừng.
PSA 119:36 Xin hãy khiến tôi vâng giữ qui luật Ngài, chứ đừng thèm khát của cải.
PSA 119:37 Xin đừng để tôi chú tâm về những chuyện vô ích. Hãy cho tôi sống nhờ lời Ngài.
PSA 119:38 Xin hãy giữ lời hứa cùng tôi, kẻ tôi tớ Chúa, là những người tôn kính Chúa.
PSA 119:39 Xin hãy cất khỏi tôi sự hổ nhục mà tôi sợ, vì luật lệ Chúa rất tốt lành.
PSA 119:40 Tôi mong muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài. Vì Ngài nhân từ xin hãy cho tôi sống.
PSA 119:41 Chúa ôi, xin tỏ tình yêu Ngài đối với tôi và cứu giúp tôi như Ngài đã hứa.
PSA 119:42 Tôi đối đáp kẻ sỉ nhục tôi vì tôi tin cậy điều Chúa phán.
PSA 119:43 Xin đừng ngăn cấm tôi nói ra chân lý của Chúa, vì tôi nhờ cậy vào luật lệ tốt lành của Ngài.
PSA 119:44 Tôi sẽ vâng theo lời dạy dỗ của Ngài mãi mãi.
PSA 119:45 Để tôi được sống trong tự do, vì tôi mong muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:46 Tôi sẽ trình bày các qui luật Chúa với các vua, không ngượng ngùng gì.
PSA 119:47 Tôi vui thích vâng theo luật lệ Ngài; là điều tôi yêu mến.
PSA 119:48 Tôi ca ngợi phép tắc Ngài, là điều tôi thích, và suy tư về các điều đòi hỏi của Chúa.
PSA 119:49 Xin đừng quên lời hứa của Ngài cùng tôi, kẻ tôi tớ Chúa vì lời hứa đó mang cho tôi hi vọng.
PSA 119:50 Khi tôi gặp khốn khổ, thì tôi được an ủi; vì lời hứa Ngài khiến tôi sống.
PSA 119:51 Những kẻ tự phụ chế giễu tôi, nhưng tôi không ném bỏ lời dạy của Ngài.
PSA 119:52 Chúa ôi, khi tôi nhớ lại luật lệ Chúa ban ra từ xưa, thì lòng tôi được an ủi.
PSA 119:53 Tôi nổi giận với kẻ gian ác là kẻ không nghe theo lời dạy của Ngài.
PSA 119:54 Hễ tôi ở đâu thì tôi sẽ ca ngợi luật lệ Ngài ở đó.
PSA 119:55 Chúa ôi, ban đêm tôi nhớ đến Ngài, tôi sẽ vâng theo lời dạy của Ngài.
PSA 119:56 Đây là điều tôi thường làm: Tôi vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:57 Lạy Chúa, Ngài là sản nghiệp của đời tôi; Tôi đã hứa vâng theo lời Ngài.
PSA 119:58 Tôi hết lòng cầu nguyện cùng Ngài, Xin hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi như Ngài đã hứa.
PSA 119:59 Tôi suy tư về đời sống tôi, rồi tôi nhất quyết theo các qui tắc của Ngài.
PSA 119:60 Tôi mau mắn vâng theo luật lệ Ngài, không chậm trễ.
PSA 119:61 Kẻ ác đã trói buộc tôi, nhưng tôi không quên sự dạy dỗ Chúa.
PSA 119:62 Giữa đêm tôi thức dậy để cảm tạ Ngài vì luật lệ Chúa là đúng.
PSA 119:63 Tôi là bạn thân của những người kính sợ Chúa và kẻ vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:64 Chúa ôi, tình yêu Chúa tràn đầy mặt đất. Xin hãy dạy tôi điều Chúa muốn.
PSA 119:65 Lạy Chúa Ngài đã đối tốt cùng kẻ tôi tớ Ngài như Ngài đã hứa.
PSA 119:66 Xin dạy tôi khôn ngoan và hiểu biết vì tôi tin cậy nơi các luật lệ Ngài.
PSA 119:67 Trước kia tôi bị khốn khổ, và làm điều sai lầm, nhưng nay tôi vâng theo lời Ngài.
PSA 119:68 Chúa là Đấng nhân đức, hay làm điều nhân đức. Xin hãy dạy tôi luật lệ Ngài.
PSA 119:69 Những kẻ tự phụ đặt điều phao vu về tôi, nhưng tôi vẫn hết lòng vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:70 Lòng chúng nó chai đá, nhưng tôi yêu mến lời dạy của Ngài.
PSA 119:71 Cảnh khổ là điều tốt cho tôi; tôi đã học các luật lệ Ngài.
PSA 119:72 Sự dạy dỗ Chúa đối với tôi quí hơn hàng ngàn lượng vàng và bạc.
PSA 119:73 Ngài đã chính tay tạo ra và uốn nắn tôi. Xin cho tôi tri thức để tôi học hỏi các luật lệ Ngài.
PSA 119:74 Nguyện những ai kính sợ Chúa vui mừng khi thấy tôi vì tôi đặt hi vọng nơi lời hứa của Ngài.
PSA 119:75 Lạy Chúa, tôi biết luật lệ Ngài là đúng và khi Ngài trừng phạt tôi cũng đúng nữa.
PSA 119:76 Xin hãy lấy tình yêu Ngài an ủi tôi, như Ngài đã hứa cùng tôi, kẻ tôi tớ Ngài.
PSA 119:77 Xin hãy thương xót tôi để tôi được sống. Tôi yêu mến sự dạy dỗ Ngài.
PSA 119:78 Xin hãy khiến kẻ tự phụ xấu hổ vì chúng đặt điều phao vu cho tôi. Nhưng tôi sẽ suy tư về mệnh lệnh Chúa.
PSA 119:79 Nguyền những ai kính sợ Chúa trở lại cùng tôi, tức những người biết luật lệ Chúa.
PSA 119:80 Nguyện tôi hoàn toàn vâng theo qui tắc của Ngài để tôi không bị xấu hổ.
PSA 119:81 Tôi mòn mỏi vì trông đợi Ngài giải cứu tôi, nhưng tôi hi vọng nơi lời Ngài.
PSA 119:82 Mắt tôi mòn mỏi vì tìm kiếm lời hứa Ngài. Chừng nào Ngài sẽ an ủi tôi?
PSA 119:83 Dù cho tôi như bầu rượu bằng da bị ném vào đống rác, tôi sẽ không quên luật lệ Ngài.
PSA 119:84 Tôi còn sống bao lâu nữa? Chừng nào thì Ngài sẽ phân xử bọn làm khổ tôi?
PSA 119:85 Những kẻ tự phụ đã đào hố cho tôi sụp. Chúng chẳng hề quan tâm đến sự dạy dỗ Ngài.
PSA 119:86 Tất cả các qui luật Ngài đều đáng tin. Những kẻ dối trá đang hại tôi. Xin hãy giúp tôi!
PSA 119:87 Chúng suýt đưa tôi xuống mồ, nhưng tôi không từ bỏ mệnh lệnh Chúa.
PSA 119:88 Xin cho tôi sống do tình yêu Ngài để tôi vâng theo các qui tắc Ngài.
PSA 119:89 Lạy Chúa, lời Ngài còn đời đời; lời Chúa tồn tại mãi trên thiên đàng.
PSA 119:90 Sự thành tín Ngài kéo dài vô tận; Ngài tạo lập trái đất, nó vẫn đứng vững.
PSA 119:91 Mọi vật còn đến ngày nay là do luật lệ Chúa, vì muôn vật phải phục vụ Ngài.
PSA 119:92 Nếu tôi không yêu mến sự dạy dỗ Ngài, tôi hẳn đã chết trong sự khốn khổ tôi.
PSA 119:93 Tôi sẽ không quên các mệnh lệnh Ngài, vì nhờ đó mà Chúa cho tôi sống.
PSA 119:94 Tôi thuộc về Ngài, xin hãy cứu tôi. Tôi muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:95 Kẻ ác chực giết hại tôi, nhưng tôi sẽ suy tư về qui luật Chúa.
PSA 119:96 Tôi nhìn thấy mọi vật mà Ngài dựng nên đều có giới hạn, nhưng luật lệ Chúa có những lợi ích vô hạn.
PSA 119:97 Tôi yêu mến lời dạy Chúa biết bao! Suốt ngày tôi suy tư về lời dạy ấy.
PSA 119:98 Luật lệ Chúa khiến tôi khôn ngoan hơn kẻ thù tôi, vì đời đời luật lệ ấy thuộc về tôi.
PSA 119:99 Tôi khôn ngoan hơn các giáo sư tôi, vì tôi suy tư về các qui tắc Chúa.
PSA 119:100 Tôi hiểu biết hơn các vị lãnh đạo lão thành, vì tôi tuân theo các mệnh lệnh Chúa.
PSA 119:101 Tôi đã tránh mọi lối gian tà để tôi vâng theo lời Ngài.
PSA 119:102 Tôi không đi lạc xa các luật lệ Chúa, vì Ngài dạy dỗ tôi.
PSA 119:103 Lời hứa Ngài rất ngọt ngào cho tôi, ngọt hơn mật trong miệng tôi!
PSA 119:104 Những mệnh lệnh Ngài giúp tôi hiểu biết, nên tôi ghét con đường dối trá.
PSA 119:105 Lời Chúa là đèn soi bước chân tôi và là ánh sáng chiếu trên lối tôi đi.
PSA 119:106 Tôi sẽ làm điều tôi hứa nguyện và vâng theo luật lệ công minh của Ngài.
PSA 119:107 Tôi chịu khổ quá lâu. Chúa ôi, xin hãy cho tôi sống theo lời Ngài đã hứa.
PSA 119:108 Chúa ôi, xin hãy chấp nhận lời ca ngợi tôi và dạy tôi luật lệ Ngài.
PSA 119:109 Mạng sống tôi hằng gặp nguy biến, nhưng tôi không quên lời dạy của Chúa.
PSA 119:110 Kẻ ác giăng bẫy bắt tôi, nhưng tôi không đi lạc xa khỏi mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:111 Tôi sẽ vâng theo các qui luật Ngài mãi mãi, vì chúng làm tôi vui mừng.
PSA 119:112 Tôi sẽ mãi mãi làm theo điều Ngài đòi hỏi, cho đến cùng.
PSA 119:113 Tôi ghét kẻ bất trung, nhưng yêu lời dạy của Chúa.
PSA 119:114 Ngài là nơi tôi ẩn náu và là cái khiên che chở tôi; tôi đặt hi vọng vào lời Ngài.
PSA 119:115 Hỡi kẻ làm ác, hãy tránh xa khỏi ta để ta giữ các luật lệ của Thượng Đế ta.
PSA 119:116 Xin Chúa hãy hỗ trợ tôi như Ngài đã hứa thì tôi sẽ sống. Tôi tin cậy Ngài, xin đừng làm tôi thất vọng.
PSA 119:117 Xin giúp tôi thì tôi sẽ được cứu. Tôi sẽ luôn luôn tôn trọng luật lệ Ngài.
PSA 119:118 Chúa gạt bỏ những kẻ không tôn trọng luật lệ Ngài. Vì chúng bị lầm lạc bởi những sự dối trá của chúng.
PSA 119:119 Chúa ném bọn gian ác như người ta ném rác. Cho nên tôi yêu mến các qui tắc Ngài.
PSA 119:120 Tôi run sợ trước mặt Chúa; tôi tôn trọng luật lệ Chúa.
PSA 119:121 Tôi đã làm điều phải và công chính. Xin đừng để tôi rơi vào tay kẻ hãm hại tôi.
PSA 119:122 Xin hứa giúp tôi, kẻ tôi tớ Chúa. Xin đừng để kẻ tự phụ làm hại tôi.
PSA 119:123 Mắt tôi mờ vì trông đợi sự cứu rỗi và lời hứa tốt lành của Chúa.
PSA 119:124 Xin hãy cho tôi, kẻ tôi tớ Chúa, thấy tình yêu Ngài và dạy tôi điều Ngài muốn.
PSA 119:125 Tôi là kẻ tôi tớ Chúa. Xin cho tôi sự khôn ngoan để tôi hiểu qui luật Ngài.
PSA 119:126 Chúa ôi, đến lúc Ngài phải ra tay, vì loài người đã bất tuân sự dạy dỗ Chúa.
PSA 119:127 Tôi yêu mến luật lệ Chúa hơn yêu vàng ròng.
PSA 119:128 Tôi tôn trọng các mệnh lệnh Ngài, nên tôi ghét con đường giả dối.
PSA 119:129 Các qui tắc Chúa thật diệu kỳ, nên tôi tuân theo.
PSA 119:130 Việc học hỏi lời Chúa mang lại sự khôn ngoan, và ban hiểu biết cho người khờ dại.
PSA 119:131 Tôi rất thèm khát, muốn học hỏi luật lệ Ngài.
PSA 119:132 Xin hãy nhìn tôi và thương xót tôi như Ngài thương xót kẻ yêu mến Ngài.
PSA 119:133 Xin hãy chỉ dẫn các bước của tôi như Ngài đã hứa; đừng để tội lỗi kiểm soát tôi.
PSA 119:134 Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ ác hại để tôi vâng theo mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:135 Xin hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi, kẻ tôi tớ Ngài. Xin dạy tôi các luật lệ của Ngài.
PSA 119:136 Tôi rơi lệ vì người ta không vâng theo lời dạy của Ngài.
PSA 119:137 Lạy Chúa, Ngài làm điều phải, luật lệ Ngài thật công minh.
PSA 119:138 Những qui tắc Chúa truyền đều đúng và hoàn toàn đáng tin cậy.
PSA 119:139 Tôi bực dọc và mòn mỏi, vì kẻ thù tôi đã quên lời Ngài.
PSA 119:140 Những lời hứa Chúa đã được trắc nghiệm, cho nên kẻ tôi tớ Chúa yêu mến lời ấy.
PSA 119:141 Tôi vô danh và bị ghét bỏ, nhưng tôi không quên mệnh lệnh Ngài.
PSA 119:142 Lòng nhân từ Ngài còn mãi mãi, những lời giáo huấn của Ngài là chân thật.
PSA 119:143 Tôi gặp khó khăn và khốn khổ, nhưng tôi yêu mến luật lệ Ngài.
PSA 119:144 Các qui tắc Chúa đều mãi mãi tốt lành. Xin giúp tôi hiểu để tôi được sống.
PSA 119:145 Chúa ôi, tôi hết lòng kêu xin Ngài. Xin trả lời tôi thì tôi sẽ tuân giữ các điều đòi hỏi của Ngài.
PSA 119:146 Tôi kêu cầu Ngài. Xin giải cứu tôi để tôi vâng theo các qui tắc Ngài.
PSA 119:147 Buổi sáng tôi dậy sớm và kêu xin. Tôi đặt hi vọng nơi lời Ngài.
PSA 119:148 Tôi thao thức suốt đêm để suy tư về lời hứa Ngài.
PSA 119:149 Vì tình yêu Ngài xin hãy lắng nghe tôi; Chúa ôi, xin cho tôi sống bằng luật lệ Ngài.
PSA 119:150 Những kẻ làm điều ác đang theo sát gần tôi, nhưng chúng rất xa lời giáo huấn Ngài.
PSA 119:151 Nhưng Chúa ôi, Ngài cũng ở gần, mọi luật lệ Ngài đều chân thật.
PSA 119:152 Xưa kia tôi học biết qui tắc Ngài là những qui tắc Ngài lập nên còn đời đời.
PSA 119:153 Xin hãy nhìn sự khốn khổ tôi và giải cứu tôi, vì tôi không quên lời dạy của Chúa.
PSA 119:154 Xin hãy bào chữa cho tôi và cứu tôi. Hãy cho tôi sống theo lời hứa Ngài.
PSA 119:155 Kẻ ác sẽ không được cứu đâu, vì chúng nó không tuân theo các luật lệ Ngài.
PSA 119:156 Lạy Chúa nhân từ; xin cho tôi sống bằng luật lệ Ngài.
PSA 119:157 Vô số kẻ thù đuổi theo tôi, nhưng tôi không ném bỏ luật lệ Chúa.
PSA 119:158 Tôi nhìn thấy kẻ phản bội, tôi ghét chúng, vì chúng không vâng lời Ngài dạy.
PSA 119:159 Hãy xem tôi yêu mến mệnh lệnh Ngài biết bao nhiêu. Lạy Chúa, xin hãy cho tôi sống bằng tình yêu Ngài.
PSA 119:160 Từ đầu, lời Chúa vốn chân thật, các luật lệ Ngài đều công chính cho đến đời đời.
PSA 119:161 Các quan quyền tấn công tôi vô cớ, nhưng lòng tôi luôn kính sợ luật lệ Ngài.
PSA 119:162 Tôi vui mừng về lời hứa Ngài như vừa tìm được của báu.
PSA 119:163 Tôi gớm ghét và khinh bỉ chuyện dối trá, nhưng tôi yêu mến lời dạy Ngài.
PSA 119:164 Tôi ca ngợi Ngài bảy lần mỗi ngày vì luật lệ Ngài rất công chính.
PSA 119:165 Những ai yêu mến lời dạy của Ngài sẽ tìm được sự bình an thật, không gì thắng nổi họ được.
PSA 119:166 Chúa ôi, tôi trông đợi Ngài giải cứu tôi, Tôi sẽ vâng theo luật lệ Ngài.
PSA 119:167 Tôi tuân theo qui tắc Ngài, hết lòng yêu mến các qui tắc ấy.
PSA 119:168 Tôi vâng theo mệnh lệnh và qui tắc Ngài, vì Chúa biết mọi điều tôi làm.
PSA 119:169 Chúa ôi, xin nghe tiếng kêu cứu tôi. Nguyện lời Ngài giúp cho tôi hiểu.
PSA 119:170 Xin lắng nghe lời cầu xin tôi; và cứu tôi như Ngài đã hứa.
PSA 119:171 Xin cho tôi ca ngợi Ngài, vì Ngài đã dạy tôi các điều đòi hỏi của Ngài.
PSA 119:172 Xin cho tôi hát chúc tụng lời hứa Ngài, vì các luật lệ Ngài đều công chính.
PSA 119:173 Xin giơ tay giúp đỡ tôi, vì tôi đã chọn luật lệ Ngài.
PSA 119:174 Lạy Chúa, tôi mong Ngài cứu tôi. Tôi yêu mến lời giáo huấn của Ngài.
PSA 119:175 Xin cho tôi sống để tôi ca ngợi Ngài. Xin để các luật lệ Ngài nâng đỡ tôi.
PSA 119:176 Tôi đã đi lang thang như chiên lạc. Xin hãy tìm kiếm tôi tớ Ngài, vì tôi không quên các luật lệ Chúa.
PSA 120:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Khi tôi gặp khốn đốn, tôi kêu xin Chúa, Ngài đáp lời tôi.
PSA 120:2 Chúa ôi, xin cứu tôi khỏi kẻ nói dối cùng những kẻ lập mưu ác.
PSA 120:3 Ê bọn lập mưu ác, Thượng Đế sẽ đối xử với các ngươi ra sao? Ngài sẽ trừng phạt các ngươi như thế nào?
PSA 120:4 Ngài sẽ lấy tên nhọn của chiến sĩ và than lửa đỏ mà phạt các ngươi.
PSA 120:5 Thật kinh khủng khi tôi sống trong đất Mê-siếc, ở giữa lều của dân Kê-đa.
PSA 120:6 Tôi đã sống quá lâu giữa bọn ghét hòa bình.
PSA 120:7 Khi tôi nói hoà bình, chúng lại thích chiến tranh.
PSA 121:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Tôi ngước trông lên đồi, ơn cứu giúp tôi đến từ đâu?
PSA 121:2 Ơn cứu giúp tôi đến từ Chúa, Đấng tạo nên trời đất.
PSA 121:3 Ngài sẽ không để ngươi bị thất bại. Đấng canh giữ ngươi không hề chợp mắt.
PSA 121:4 Đấng canh giữ Ít-ra-en không hề mệt mỏi, Ngài không cần ngủ nghỉ.
PSA 121:5 Chúa gìn giữ ngươi. Ngài là bóng mát che ngươi khỏi nắng nóng.
PSA 121:6 Mặt trời không cháy sém ngươi ban ngày, mặt trăng cũng không hại ngươi ban đêm.
PSA 121:7 Chúa sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi nguy biến; Ngài sẽ bảo vệ mạng sống ngươi.
PSA 121:8 Chúa sẽ gìn giữ khi ngươi đi vào, lúc ngươi bước ra, từ nay cho đến mãi mãi.
PSA 122:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác. Tôi hân hoan khi người ta bảo tôi, “Chúng ta hãy đi đến đền thờ Chúa.”
PSA 122:2 Hỡi Giê-ru-sa-lem, chúng ta đang đứng tại cổng ngươi.
PSA 122:3 Giê-ru-sa-lem mới là thành được xây bằng một khối.
PSA 122:4 Các chi tộc sẽ đi lên đó, tức những chi tộc thuộc về Chúa. Thể lệ buộc Ít-ra-en phải ca ngợi Chúa tại Giê-ru-sa-lem.
PSA 122:5 Đó là nơi dòng dõi Đa-vít đặt ngôi để phân xử dân chúng.
PSA 122:6 Hãy cầu hoà bình cho Giê-ru-sa-lem; “Nguyện những ai yêu mến thành ấy được an ninh.
PSA 122:7 Nguyện sự hoà bình ngự bên trong các vách ngươi, và sự an ninh ở bên trong các tháp kiên cố ngươi.”
PSA 122:8 Vì cớ các thân nhân và bạn hữu ta, ta nói, “Nguyện Giê-ru-sa-lem hưởng thái bình.”
PSA 122:9 Vì cớ đền thờ của Chúa là Thượng Đế chúng ta, ta cầu cho ngươi được phúc lành.
PSA 123:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Lạy Chúa, tôi hướng lòng về Ngài, Đấng ngự trên thiên đàng.
PSA 123:2 Kẻ tôi mọi trông chờ nơi chủ mình, đứa tớ gái trông chờ bà chủ mình. Cũng vậy, chúng tôi trông chờ nơi Chúa là Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi trông chờ Ngài tỏ lòng thương xót.
PSA 123:3 Chúa ôi, xin thương xót chúng tôi. Xin thương xót chúng tôi vì chúng tôi đã bị sỉ nhục.
PSA 123:4 Chúng tôi mang sự sỉ nhục của những kẻ tự phụ, gánh sự hung hăng của kẻ tự phụ.
PSA 124:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác. Ít-ra-en nên nói, Nếu Chúa không đứng về phía chúng ta thì sao?
PSA 124:2 Nếu Chúa không đứng về phía chúng ta khi chúng ta bị tấn công thì sao?
PSA 124:3 Chắc hẳn kẻ thù đã ăn tươi nuốt sống chúng ta trong cơn nóng giận.
PSA 124:4 Chúng có thể như nước lụt ào đến dìm chết chúng ta; hay tràn ngập chúng ta như sông lớn.
PSA 124:5 Chúng có thể cuốn trôi chúng ta đi như thác lũ.
PSA 124:6 Ca ngợi Chúa, Ngài không để chúng ăn nuốt chúng ta.
PSA 124:7 Chúng ta thoát như chim thoát khỏi bẫy sập. Bẫy bị hỏng, nên chúng ta thoát.
PSA 124:8 Sự tiếp trợ chúng ta đến từ Chúa, Đấng tạo nên trời đất.
PSA 125:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Những ai tin cậy Chúa giống như núi Xi-ôn vững chãi,
PSA 125:2 Các rặng núi bao bọc Giê-ru-sa-lem ra sao, Chúa cũng bao bọc dân Ngài như vậy, từ nay cho đến mãi mãi.
PSA 125:3 Kẻ ác không thể cai trị người thanh liêm. Nếu không người thanh liêm có thể dùng quyền lực đó để làm ác.
PSA 125:4 Lạy Chúa, xin hãy đối nhân từ cùng kẻ nhân từ, tức những người có lòng ngay thẳng.
PSA 125:5 Nhưng khi Ngài diệt kẻ ác, thì Ngài cũng sẽ diệt luôn những kẻ từ bỏ Ngài. Nguyện sự hoà bình ngự trên Ít-ra-en.
PSA 126:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Lúc Chúa mang các tù nhân trở về Giê-ru-sa-lem, thì chúng tôi tưởng như đang nằm mơ.
PSA 126:2 Chúng tôi vui cười sung sướng, hát lên bài ca hân hoan. Các nước khác thấy thế liền nói, “Chúa đã làm các việc lớn cho họ.”
PSA 126:3 Chúa đã làm những việc lớn lao cho chúng ta, chúng ta lấy làm mừng rỡ.
PSA 126:4 Chúa ôi, xin mang các tù nhân chúng tôi về, như Ngài đã mang suối nước vào sa mạc.
PSA 126:5 Kẻ nào vừa trồng vừa khóc, sẽ hát mừng vào mùa gặt.
PSA 126:6 Kẻ vừa gieo giống vừa rơi nước mắt, sẽ trở về vui hát, mang bó lúa mình.
PSA 127:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Sô-lô-môn sáng tác. Nếu Chúa không cất nhà, thì thợ xây cũng trở thành vô dụng. Nếu Chúa không canh giữ thành, thì các lính canh chẳng làm được gì.
PSA 127:2 Uổng công cho các ngươi là kẻ thức dậy sớm, đi ngủ trễ, lo làm ăn. Chúa ban giấc ngủ ngon cho kẻ Ngài yêu.
PSA 127:3 Con cái là món quà Chúa ban; trẻ thơ là phần thưởng của lòng mẹ.
PSA 127:4 Con cái sinh ra trong khi cha còn trẻ như mũi tên trong tay chiến sĩ.
PSA 127:5 Phước cho người nào có đầy tên trong giỏ. Họ sẽ có ưu thế khi chống nhau với kẻ thù nơi cửa thành.
PSA 128:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Phúc cho người nào kính sợ Thượng Đế và vâng lời Ngài.
PSA 128:2 Ngươi sẽ vui hưởng điều tay mình làm ra, ngươi sẽ được phước về mọi phương diện.
PSA 128:3 Vợ ngươi sẽ sinh nhiều con cho ngươi, như dây nho sai trái. Con cái ngươi cũng mang niềm vui cho ngươi, như nhành ô liu sai trái.
PSA 128:4 Người kính sợ Chúa được phước như vậy.
PSA 128:5 Nguyện Chúa ban phước cho ngươi từ núi Xi-ôn; nguyện ngươi vui hưởng những điều tốt lành từ Giê-ru-sa-lem trọn đời ngươi.
PSA 128:6 Nguyện ngươi nhìn thấy cháu chít mình. Nguyện hoà bình ngự giữa Ít-ra-en.
PSA 129:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Ít-ra-en hãy nói, Suốt đời tôi bị kẻ thù tấn công.
PSA 129:2 Tuy chúng đã ngược đãi tôi suốt đời tôi nhưng chưa đánh thắng tôi.
PSA 129:3 Như nông gia cày ruộng, chúng cày bừa trên lưng tôi, để lại những luống thương tích dài.
PSA 129:4 Nhưng Chúa đã làm điều phải; Ngài đã giải thoát tôi khỏi tay kẻ ác.
PSA 129:5 Nguyện những người ghét Giê-ru-sa-lem phải lùi lại vì xấu hổ.
PSA 129:6 Nguyện họ giống như cỏ mọc trên mái nhà, bị chết héo trước khi đâm rễ.
PSA 129:7 Không đầy một nắm tay hay bó cho được một ôm.
PSA 129:8 Người qua kẻ lại cũng không nói, “Cầu Chúa ban phước cho ngươi. Chúng tôi nhân danh quyền năng Chúa ban phúc lành cho ngươi.”
PSA 130:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Chúa ôi, tôi đang gặp nguy khốn, nên kêu cứu cùng Ngài.
PSA 130:2 Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi; lắng nghe lời cầu cứu tôi.
PSA 130:3 Chúa ôi, nếu Ngài trừng phạt con người theo tội lỗi họ, thì Chúa ôi, còn ai sống sót?
PSA 130:4 Nhưng Chúa tha tội lỗi chúng tôi, vì thế Ngài được tôn kính.
PSA 130:5 Tôi trông đợi Chúa giúp tôi, tôi tin cậy lời Ngài.
PSA 130:6 Tôi mong đợi Ngài cứu giúp tôi hơn người lính canh trông chờ sáng.
PSA 130:7 Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đặt hi vọng của các ngươi trong Chúa vì Ngài là Đấng yêu thương và đầy lòng cứu rỗi.
PSA 130:8 Ngài sẽ cứu Ít-ra-en khỏi mọi tội lỗi của họ.
PSA 131:1 Bài ca khi đang đi lên đền thờ. Do Đa-vít sáng tác. Lạy Chúa, lòng tôi không tự phụ; tôi không xem thường kẻ khác. Tôi không nghĩ đến những việc lớn lao, hay những điều không thể làm được.
PSA 131:2 Nhưng tôi nằm yên lặng, như hài nhi nằm trong tay mẹ. Tôi an bình như hài nhi nằm với mẹ.
PSA 131:3 Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đặt hi vọng mình trong Chúa từ nay cho đến đời đời.
PSA 132:1 Bài ca khi đang đi lên thờ phụng. Lạy Chúa, xin nhớ lại Đa-vít và những cảnh khốn khổ người chịu.
PSA 132:2 Người đã thề cùng Chúa, hứa nguyện cùng Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.
PSA 132:3 Người hứa, “Tôi sẽ không đi vào nhà tôi, hay nằm xuống giường,
PSA 132:4 chợp mắt, hay ngủ
PSA 132:5 cho đến khi tôi tìm được một nơi cho Chúa ngự. Tôi muốn tìm một nơi ở cho Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.”
PSA 132:6 Chúng tôi đã nghe về Rương Giao Ước Chúa tại Bết-lê-hem. Chúng tôi tìm được rương ấy ở Ki-ri-át Giê-a-rim.
PSA 132:7 Chúng ta hãy đi đến nhà Chúa. Chúng ta hãy thờ phụng nơi bệ chân Ngài.
PSA 132:8 Lạy Chúa, xin đứng dậy đi đến nơi nghỉ ngơi của Ngài; bước vào cùng với Rương Giao Ước để tỏ ra quyền năng Ngài.
PSA 132:9 Nguyện các thầy tế lễ của Ngài luôn làm điều phải. Nguyện dân Ngài ca hát mừng rỡ.
PSA 132:10 Vì cớ Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài, xin đừng từ bỏ vua mà Ngài đã bổ nhiệm.
PSA 132:11 Chúa đã hứa cùng Đa-vít, lời hứa chắc chắn không thay đổi. Ngài hứa rằng, “Ta sẽ đặt một người trong dòng dõi ngươi làm vua kế vị ngươi.
PSA 132:12 Nếu con cái ngươi giữ giao ước và các qui tắc mà ta dạy chúng, thì con cháu chúng nó sẽ tiếp tục ngồi trên ngôi ngươi mãi mãi.”
PSA 132:13 Chúa đã chọn Giê-ru-sa-lem; Ngài chọn thành ấy làm nơi ở Ngài.
PSA 132:14 Ngài phán, “Đây là nơi ta nghỉ ngơi. Đây là nơi ta muốn ngự.
PSA 132:15 Ta sẽ ban phước nhiều cho thành nầy; cho những kẻ nghèo dồi dào thức ăn.
PSA 132:16 Ta sẽ lấy sự cứu rỗi mặc cho các thầy tế lễ và những kẻ thờ phụng ta sẽ vui hát.
PSA 132:17 Ta sẽ chọn ra một vị vua từ gia tộc Đa-vít. Ta sẽ chọn trong dòng dõi người một người làm vua để kế vị Đa-vít.
PSA 132:18 Ta sẽ lấy sỉ nhục bao trùm kẻ thù nghịch người, nhưng mão triều người sẽ sáng chói.”
PSA 133:1 Bài ca khi đang đi lên thờ phụng Do Đa-vít sáng tác. Khi con dân Chúa cùng chung sống trong hoà thuận thật rất tốt đẹp.
PSA 133:2 Giống như dầu thơm đổ lên đầu thầy tế lễ chảy xuống râu. Chảy xuống râu A-rôn và chảy lên cổ áo người.
PSA 133:3 Như sương trên núi Hẹt-môn rơi xuống các đồi quanh Giê-ru-sa-lem. Đó là nơi hưởng phước lâu dài của Chúa cho đến đời đời.
PSA 134:1 Bài ca khi đang đi lên thờ phụng. Hỡi các tôi tớ Chúa, là những kẻ phục vụ ban đêm ở đền thờ, hãy ca ngợi Ngài.
PSA 134:2 Hãy giơ tay lên trong đền thờ mà ca ngợi Chúa.
PSA 134:3 Nguyện Chúa ban phước cho các ngươi từ núi Xi-ôn, Ngài là Đấng dựng nên trời đất.
PSA 135:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy ca ngợi danh Chúa; Hỡi các tôi tớ Chúa và
PSA 135:2 những kẻ đứng trong đền thờ Chúa cùng trong sân đền thờ, hãy ca ngợi Ngài.
PSA 135:3 Hãy ca ngợi Ngài, vì Ngài nhân từ; hãy hát ca ngợi Ngài vì Ngài tuyệt vời.
PSA 135:4 Chúa đã chọn dân Gia-cốp cho mình; Ngài tuyển chọn dân Ít-ra-en cho chính mình.
PSA 135:5 Tôi biết Chúa là Đấng cao cả. Chúa chúng tôi vĩ đại cao cả hơn tất cả các thần.
PSA 135:6 Ngài làm điều đẹp ý Ngài, ở trên trời và dưới đất, trên biển và trong các đại dương sâu.
PSA 135:7 Ngài mang mây đến từ cuối trái đất, Sai sấm chớp đến với mưa. Mang gió ra từ các kho chứa mình.
PSA 135:8 Ngài tiêu diệt các con trai đầu lòng xứ Ai-cập của người lẫn gia súc.
PSA 135:9 Ngài làm nhiều dấu kỳ và phép lạ ở Ai-cập nghịch lại vua và các tôi tớ người.
PSA 135:10 Ngài đánh bại các quốc gia và giết các vua hùng mạnh:
PSA 135:11 Tức Si-hôn, vua dân A-mô-rít, Óc, vua của Ba-san, và tất cả các vua Ca-na-an.
PSA 135:12 Rồi Ngài ban đất của họ làm món quà cho dân Ngài, tức dân Ít-ra-en.
PSA 135:13 Lạy Chúa, danh Chúa còn đến đời đời; Lạy Chúa, Ngài sẽ được ghi nhớ mãi mãi.
PSA 135:14 Chúa bênh vực dân Ngài và tỏ lòng thương xót cho các tôi tớ Ngài.
PSA 135:15 Hình tượng của các dân đều làm bằng bạc hay vàng, sản phẩm của tay người.
PSA 135:16 Chúng nó có miệng mà không nói được. Có mắt mà chẳng thấy.
PSA 135:17 Có lỗ tai mà không nghe. Miệng không hơi thở.
PSA 135:18 Những kẻ tạc hình tượng cũng giống như các hình tượng ấy, những ai tin chúng nó cũng như vậy.
PSA 135:19 Hỡi nhà Ít-ra-en, hãy ca ngợi Chúa. Hỡi nhà A-rôn, hãy ca ngợi Chúa.
PSA 135:20 Hỡi nhà Lê-vi hãy ca ngợi Chúa. Những ai kính sợ Chúa hãy ca ngợi Ngài.
PSA 135:21 Hỡi cư dân Giê-ru-sa-lem, hãy ca ngợi Chúa trên núi Xi-ôn. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 136:1 Hãy cảm tạ Thượng Đế vì Ngài nhân từ. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:2 Hãy cảm tạ Thượng Đế của các thần. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:3 Hãy cảm tạ Chúa các Chúa. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:4 Chỉ một mình Ngài làm được các phép lạ. Tình yêu Ngài còn đời đời.
PSA 136:5 Nhờ sự khôn ngoan, Ngài tạo nên bầu trời. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:6 Ngài trải đất ra trên biển. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:7 Ngài tạo ra mặt trời và mặt trăng. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:8 Ngài đặt mặt trời cai trị ban ngày. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:9 Ngài để mặt trăng và các ngôi sao cai trị ban đêm. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:10 Ngài giết các con đầu lòng của người Ai-cập. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:11 Ngài mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:12 Ngài dùng quyền năng và sức mạnh lớn lao mình thực hiện điều đó. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:13 Ngài rẽ Hồng hải ra. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:14 Ngài đưa dân Ít-ra-en đi ngang giữa biển. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:15 Nhưng vua và toàn thể đạo quân Ai-cập bị chết đuối trong Hồng hải. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:16 Ngài dẫn dân Ngài ra qua sa mạc. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:17 Ngài đánh bại các vua lớn. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:18 Ngài giết các vua hùng mạnh. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:19 Ngài đánh bại Si-hôn, vua dân A-mô-rít. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:20 Ngài đánh bại Óc, vua của Ba-san. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:21 Ngài ban đất của họ cho chúng ta. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:22 Ngài ban đất ấy cho dân Ít-ra-en, tôi tớ Ngài như một quà biếu. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:23 Ngài nhớ chúng ta khi chúng ta gặp khốn đốn. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:24 Ngài giải thoát chúng ta khỏi tay kẻ thù. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:25 Ngài ban thực phẩm cho mọi sinh vật. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 136:26 Hãy cảm tạ Thượng Đế của các từng trời. Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
PSA 137:1 Chúng tôi ngồi bên các sông Ba-by-lôn và khóc khi tưởng nhớ đến Giê-ru-sa-lem.
PSA 137:2 Chúng tôi treo đờn cầm trên cây dương liễu gần đó.
PSA 137:3 Những kẻ bắt chúng tôi làm tù binh bảo chúng tôi hát; Kẻ thù chúng tôi muốn nghe bài ca vui. Chúng bảo, “Hãy hát cho chúng ta nghe một bài về Giê-ru-sa-lem đi!”
PSA 137:4 Nhưng chúng tôi làm sao hát về Chúa được trong khi chúng tôi đang bị lưu đày ở nước người?
PSA 137:5 Giê-ru-sa-lem ơi, nếu ta quên ngươi, nguyện tay phải ta mất khả năng đi.
PSA 137:6 Nếu ta không còn nhớ ngươi nữa hay nếu ta không nghĩ đến ngươi như là niềm vui nhất của ta thì nguyện lưỡi ta kẹt dính nơi vòm họng.
PSA 137:7 Lạy Chúa, xin hãy nhớ lại điều dân Ê-đôm làm trong ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ. Chúng bảo, “Hãy phá sập nó đi! Hãy phá sập cho đến tận nền nó đi!”
PSA 137:8 Hỡi dân Ba-by-lôn, các ngươi sẽ bị tiêu diệt. Những kẻ báo trả các ngươi về điều các ngươi làm cho chúng ta sẽ vui mừng.
PSA 137:9 Chúng sẽ bắt con nhỏ các ngươi ném vào tảng đá.
PSA 138:1 Thi thiên của Đa-vít. Lạy Chúa, tôi hết lòng cảm tạ Ngài; Tôi sẽ hát ca ngợi Ngài trước mặt các thần.
PSA 138:2 Tôi sẽ cúi mình hướng về đền thờ Ngài, và cảm tạ Chúa vì tình yêu và sự thành tín của Ngài. Ngài đã làm cho danh Chúa và lời Ngài được tôn cao.
PSA 138:3 Trong ngày tôi kêu cầu cùng Chúa, Ngài trả lời tôi. Ngài làm cho tôi mạnh mẽ và can đảm.
PSA 138:4 Lạy Chúa, nguyện các vua trên đất ca ngợi Ngài khi họ nghe lời Ngài phán.
PSA 138:5 Họ sẽ ca ngợi Ngài về những điều Ngài làm, vì sự vinh hiển của Ngài rất lớn.
PSA 138:6 Dù là Đấng Chí Cao, Chúa cũng chăm sóc đến những kẻ khiêm nhường, nhưng Ngài lánh xa kẻ tự phụ.
PSA 138:7 Chúa ôi, khi những cảnh nguy khốn vây quanh tôi tứ phía, Ngài sẽ gìn giữ mạng sống tôi. Khi kẻ thù tôi nổi giận, Chúa sẽ lấy quyền năng với tay xuống cứu tôi.
PSA 138:8 Lạy Chúa, Ngài làm mọi sự cho tôi. Lạy Chúa, tình yêu Ngài còn đời đời. Xin đừng lìa bỏ chúng tôi, là những kẻ Ngài dựng nên.
PSA 139:1 Thi thiên của Đa-vít. Soạn cho nhạc trưởng. Lạy Chúa, Ngài đã tra xét và thấu hiểu tất cả về tôi.
PSA 139:2 Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy. Ngài rõ các tư tưởng tôi, trước khi tôi nghĩ tới chúng.
PSA 139:3 Chúa biết chỗ tôi đi, nơi tôi nằm xuống. Ngài thấu rõ mọi hành vi tôi.
PSA 139:4 Trước khi tôi mở miệng nói nửa câu, thì, Chúa ôi, Ngài đã biết trước rồi.
PSA 139:5 Ngài bao quanh tôi phía trước lẫn phía sau, và đặt tay Ngài trên tôi.
PSA 139:6 Sự khôn ngoan của Ngài thật quá diệu kỳ đối với tôi; vượt quá khả năng hiểu biết của tôi.
PSA 139:7 Tôi đi đâu để tránh khỏi Thánh Linh Chúa? Chạy đâu để tránh mặt Chúa?
PSA 139:8 Nếu tôi lên trời, Chúa có ở đó. Nếu tôi nằm trong mồ mả, Chúa cũng có ở đó.
PSA 139:9 Nếu tôi mọc lên từ phía Đông cùng với mặt trời, hay lặn xuống phía Tây quá bên kia biển,
PSA 139:10 thì Chúa cũng có ở đó để dẫn dắt tôi. Tay phải Chúa sẽ nắm tôi.
PSA 139:11 Nếu tôi nói, “Bóng tối sẽ che kín tôi. Nguyện xin ánh sáng quanh tôi biến thành bóng tối.”
PSA 139:12 Nhưng bóng tối không che được mắt Ngài. Bóng tối cũng sáng như ban ngày; Vì đối với Chúa tối và sáng chẳng khác gì nhau.
PSA 139:13 Chúa đã tạo nên con người tôi; Ngài nắn nên tôi từ trong bụng mẹ.
PSA 139:14 Tôi ca ngợi Ngài vì Ngài dựng nên tôi một cách kỳ diệu. Điều Chúa làm thật lạ lùng. Tôi biết rất rõ.
PSA 139:15 Chúa thấy xương cốt tôi được tạo nên trong khi tôi thành hình trong bụng mẹ tôi. Khi tôi được tạo dựng nên trong đó,
PSA 139:16 Ngài thấy thân thể tôi thành hình. Trước khi tôi chào đời được một ngày thì số các ngày đã định cho tôi đã được ghi vào sổ Chúa.
PSA 139:17 Thượng Đế ôi, tư tưởng Chúa thật quá quí báu đối với tôi. Số tư tưởng đó thật quá nhiều.
PSA 139:18 Nếu tôi thử đếm thì nhiều hơn cát bãi biển. Khi tôi thức giấc, tôi vẫn ở với Chúa.
PSA 139:19 Chúa ôi, tôi mong Ngài diệt kẻ ác! Bớ bọn sát nhân, hãy đi xa khỏi ta!
PSA 139:20 Chúng nói xấu Ngài. Kẻ thù Chúa dùng danh Chúa cách bữa bãi.
PSA 139:21 Chúa ôi, tôi ghét kẻ ghét Chúa; Tôi ghét kẻ chống nghịch Ngài.
PSA 139:22 Tôi ghét chúng quá sức; chúng nó là kẻ thù tôi.
PSA 139:23 Lạy Chúa, xin hãy tra xét tôi và hiểu lòng tôi; xin thử nghiệm tôi và biết các sự lo lắng trong lòng tôi.
PSA 139:24 Xin đừng để tôi bước trên lối sai lạc. Xin dẫn tôi vào con đường phải lẽ.
PSA 140:1 Thi thiên của Đa-vít. Soạn cho nhạc trưởng. Chúa ôi, xin giải cứu tôi khỏi kẻ ác; bảo bọc tôi khỏi người hung bạo
PSA 140:2 là những kẻ lập mưu ác, lúc nào cũng gây hấn.
PSA 140:3 Lưỡi chúng chích như rắn; lời nói chúng như nọc rắn. Xê-la
PSA 140:4 Lạy Chúa, xin giữ gìn tôi khỏi quyền lực kẻ dữ; bảo vệ tôi khỏi những kẻ hung bạo chỉ lăm le đánh bẫy tôi.
PSA 140:5 Kẻ tự phụ lén gài bẫy hại tôi. Chúng giăng lưới bên đường; Chúng gài bẫy cho tôi sụp. Xê-la
PSA 140:6 Tôi thưa cùng Chúa, “Ngài là Chúa tôi.” Lạy Chúa, xin nghe tiếng kêu cứu của tôi.
PSA 140:7 Lạy Chúa là Thượng Đế, Đấng Cứu Chuộc mạnh mẽ của tôi, Ngài gìn giữ tôi trong chiến trận.
PSA 140:8 Lạy Chúa, xin đừng ban cho kẻ ác điều chúng ao ước. Xin đừng để các mưu mô chúng thành tựu, Nếu không chúng sẽ đâm ra tự phụ. Xê-la
PSA 140:9 Những kẻ quanh tôi âm mưu mờ ám. Nguyện âm mưu đó trở lại hãm hại chúng.
PSA 140:10 Nguyện than lửa rơi trên đầu chúng. Xin hãy ném chúng vào lửa hay vào hố không lối thoát.
PSA 140:11 Xin đừng để kẻ gian dối thành công. Nguyện tai họa theo đuổi chúng.
PSA 140:12 Tôi biết Chúa sẽ mang công lý đến cho kẻ nghèo, Ngài sẽ bênh vực kẻ khốn khó nơi tòa án.
PSA 140:13 Người nhân đức sẽ ca ngợi danh Ngài; Kẻ lương thiện sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài.
PSA 141:1 Thi thiên của Đa-vít. Lạy Chúa, tôi kêu xin Ngài. Xin hãy mau mau đến cùng tôi. Khi tôi kêu cầu, xin hãy lắng nghe.
PSA 141:2 Nguyện lời cầu nguyện tôi như trầm hương bay tỏa lên trước mặt Ngài, và lời ca ngợi tôi như của lễ buổi chiều.
PSA 141:3 Lạy Chúa, xin giúp tôi kiềm chế lưỡi tôi; giúp tôi thận trọng trong lời ăn tiếng nói.
PSA 141:4 Xin cất khỏi tôi ý muốn làm ác hay nhập bọn làm điều sái bậy. Xin đừng để tôi ngồi ăn tiệc chung với kẻ ác.
PSA 141:5 Hãy để người chân chính sửa trị tôi, vì đó là điều tốt cho tôi. Nếu người sửa dạy tôi, tôi sẽ vui mừng đón nhận. Tôi sẽ mãi cầu xin được chống nghịch lại kẻ làm ác.
PSA 141:6 Nguyện các người lãnh đạo chúng bị xô xuống vực. Bấy giờ mọi người sẽ biết rằng tôi nói đúng:
PSA 141:7 “Đất đã bị cày lên và bể vụn ra. Cũng vậy, xương cốt chúng sẽ bị phân tán trong huyệt mả.”
PSA 141:8 Thượng Đế ôi, tôi trông đợi Ngài cứu giúp. Lạy Chúa, tôi tin cậy nơi Ngài. Xin đừng để tôi phải chết mất.
PSA 141:9 Xin bảo hộ tôi khỏi những cạm bẫy mà chúng gài để bắt tôi và khỏi lưới kẻ ác giăng ra.
PSA 141:10 Nguyện kẻ ác mắc vào lưới chúng nó đã giăng, Nhưng nguyện tôi đi qua vô sự.
PSA 142:1 Bài mạch kinh của Đa-vít khi ông trốn trong hang. Lời cầu nguyện. Tôi kêu xin cùng Chúa; Tôi nài xin Chúa thương xót.
PSA 142:2 Tôi trút đổ tâm tư tôi cùng Ngài; Tôi trình bày cùng Chúa nỗi sầu khổ của tôi.
PSA 142:3 Chúa ôi, khi tôi lo sợ, thì Chúa chỉ cho tôi lối ra. Trên đường tôi đi, Có cái bẫy gài kín.
PSA 142:4 Xin hãy nhìn quanh tôi. Chẳng ai lo lắng cho tôi. Tôi chẳng tìm được chỗ nào an ninh cả. Nào có ai lo cho mạng sống tôi.
PSA 142:5 Chúa ôi, tôi kêu cầu cùng Ngài. Tôi thưa, “Ngài là nơi bảo vệ tôi. Ngài là niềm mong ước tôi trên đời nầy.”
PSA 142:6 Xin hãy lắng nghe tiếng kêu của tôi. Vì tôi cô thế. Xin giải cứu tôi khỏi những kẻ rượt đuổi tôi, Vì chúng mạnh hơn tôi.
PSA 142:7 Xin giải thoát tôi khỏi ngục tù, rồi tôi sẽ ca ngợi danh Ngài. Những người nhân đức sẽ ở chung quanh tôi, vì Ngài chăm sóc tôi.
PSA 143:1 Thi thiên của Đa-vít. Lạy Chúa, xin nghe lời cầu xin tôi. Lắng nghe tiếng tôi kêu xin được cứu giúp. Xin cho tôi thấy Ngài thành tín và nhân từ.
PSA 143:2 Xin đừng xét xử tôi, kẻ tôi tớ Chúa, vì không có con người nào vô tội trước mặt Ngài.
PSA 143:3 Kẻ thù tôi đang rượt đuổi tôi; Chúng chà đạp tôi xuống đất. Chúng bắt tôi sống trong tăm tối như kẻ đã chết lâu đời rồi.
PSA 143:4 Tôi quá run sợ; tôi hết can đảm rồi.
PSA 143:5 Tôi nhớ lại ngày xưa; Tôi xem xét mọi việc Chúa làm. Tôi suy nghĩ những kỳ công của Ngài.
PSA 143:6 Tôi giơ tay lên cùng Ngài và cầu nguyện. Như đất khô hạn cần nước. Tôi khao khát Ngài. Xê-la
PSA 143:7 Lạy Chúa, xin hãy mau mau trả lời tôi, vì tôi đang suy yếu. Xin đừng tránh mặt tôi, Nếu không tôi sẽ giống như kẻ đã qua đời.
PSA 143:8 Buổi sáng xin tỏ cho tôi biết tình yêu Ngài, vì tôi tin cậy nơi Chúa. Xin cho tôi biết điều tôi phải làm, Vì lời cầu xin tôi lên đến trước mặt Ngài.
PSA 143:9 Chúa ôi, xin giải cứu tôi khỏi kẻ thù tôi; Tôi ẩn núp trong Ngài.
PSA 143:10 Xin dạy tôi biết ý muốn Ngài, vì Ngài là Thượng Đế tôi. Xin Thánh Linh nhân lành của Chúa đặt tôi đứng trên thế đất bằng phẳng.
PSA 143:11 Lạy Chúa, xin cho tôi được sống để người ta ca ngợi Ngài. Vì sự nhân từ Chúa, xin hãy cứu tôi ra khỏi mọi gian nan.
PSA 143:12 Vì tình yêu Ngài, xin hãy đánh bại kẻ thù tôi. Xin hãy tiêu diệt mọi kẻ quấy rối tôi, Vì tôi là tôi tớ Ngài.
PSA 144:1 Do Đa-vít sáng tác. Tôi ca ngợi Chúa là Khối Đá tôi, Đấng dạy tôi đánh giặc, Ngài dạy tôi chiến đấu.
PSA 144:2 Ngài yêu thương và bảo vệ tôi. Ngài là nơi ẩn náu an toàn của tôi trên núi cao. Ngài là Đấng bảo vệ và Đấng Cứu Chuộc tôi, Là cái thuẫn và nguồn che chở tôi. Ngài giúp tôi quản trị dân tộc tôi.
PSA 144:3 Lạy Chúa, loài người là gì mà Chúa lưu tâm? Tại sao Chúa lo nghĩ đến con người?
PSA 144:4 Loài người như hơi thở; sự sống con người như bóng thoảng qua.
PSA 144:5 Lạy Chúa, xin mở bầu trời và nhìn xuống. Xin đụng đến núi cho chúng bốc khói lên.
PSA 144:6 Xin sai sấm chớp xuống làm kẻ thù tôi chạy tán loạn. Xin hãy bắn tên để chúng bỏ chạy.
PSA 144:7 Xin hãy với tay xuống từ trời. Giải cứu tôi khỏi nước lũ, khỏi các kẻ thù nghịch, và khỏi tay bọn ngoại quốc.
PSA 144:8 Bọn chúng là đồ láo khoét và bất lương.
PSA 144:9 Lạy Thượng Đế, tôi sẽ hát một bài ca mới cho Ngài; Tôi sẽ khảy đờn cầm mười dây cho Ngài thưởng thức.
PSA 144:10 Ngài ban chiến thắng cho các vua. Ngài cứu Đa-vít kẻ tôi tớ Ngài khỏi lưỡi gươm hiểm độc.
PSA 144:11 Xin hãy giải cứu tôi khỏi bọn ngoại quốc nầy. Chúng nó toàn là dối trá và bất lương.
PSA 144:12 Xin cho các con trai thanh xuân của chúng tôi lớn lên như cây cối, và con gái chúng tôi như đá chạm trổ trong đền thờ.
PSA 144:13 Xin hãy cho các kho chứa chúng tôi tràn đầy hoa lợi đủ loại. Xin cho bầy chiên chúng tôi ngoài đồng sinh sản hằng ngàn hằng vạn chiên con.
PSA 144:14 Xin khiến bầy gia súc chúng tôi sinh sôi nẩy nở. Nguyện không có kẻ trộm lẻn vào. Không có tranh chiến hay tiếng la hãi hùng trên đường phố chúng tôi.
PSA 144:15 Phúc cho người nào được hưởng khung cảnh như vậy; Phúc cho dân tộc nào có Thượng Đế làm Chúa mình.
PSA 145:1 Thi thiên ca ngợi của Đa-vít. Lạy Chúa là vua, tôi ca ngợi sự cao cả của Ngài; Tôi sẽ ca ngợi Ngài mãi mãi.
PSA 145:2 Hằng ngày tôi sẽ ca ngợi Ngài. Tôi sẽ ca ngợi Ngài đời đời kiếp kiếp.
PSA 145:3 Chúa là Đấng cao cả đáng được tán tụng; không ai dò được sự cao cả của Ngài.
PSA 145:4 Cha mẹ thuật lại cho con cái điều Ngài đã làm. Họ sẽ thuật lại những kỳ công của Ngài,
PSA 145:5 sự oai nghi lạ lùng và vinh hiển Ngài. Tôi sẽ suy nghĩ về những phép lạ Ngài.
PSA 145:6 Họ sẽ thuật lại những việc diệu kỳ Ngài đã làm, còn tôi sẽ thuật lại sự cao cả của Ngài.
PSA 145:7 Họ sẽ nhớ lại sự nhân từ lớn lao của Ngài, và ca tụng sự công chính Ngài.
PSA 145:8 Chúa thật nhân từ, giàu lòng từ ái. Ngài chậm giận và đầy lòng yêu thương.
PSA 145:9 Chúa nhân từ đối với mọi người; Ngài luôn thương xót những vật Ngài tạo nên.
PSA 145:10 Lạy Chúa, mọi vật Ngài làm nên sẽ ca ngợi Ngài; những ai thuộc về Ngài sẽ chúc tụng Ngài.
PSA 145:11 Họ sẽ thuật lại sự vinh hiển của nước Ngài, và kể lại quyền năng Ngài.
PSA 145:12 Mọi người sẽ biết những việc lớn lao Ngài làm cùng quyền năng và sự oai nghi của nước Ngài.
PSA 145:13 Nước Ngài sẽ còn đời đời, Ngài sẽ mãi mãi cai trị. Chúa sẽ luôn luôn giữ lời hứa Ngài; Ngài thành tín đối với những vật Ngài tạo nên.
PSA 145:14 Chúa giúp những ai đang bị thất thế và chăm sóc những kẻ đang lâm cảnh khó khăn.
PSA 145:15 Mọi sinh vật đều trông đợi Chúa ban thức ăn. Ngài cho chúng đồ ăn đúng giờ.
PSA 145:16 Chúa xòe tay ra, thoả mãn muôn vật.
PSA 145:17 Mọi điều Chúa làm đều đúng. Ngài thành tín đối với những vật Ngài tạo nên.
PSA 145:18 Chúa ở gần những kẻ cầu xin Ngài, tức những ai thật lòng tìm kiếm Ngài.
PSA 145:19 Ngài ban cho những kẻ tôn kính Ngài điều họ ao ước. Ngài nghe tiếng họ khi họ kêu cứu và giải cứu họ.
PSA 145:20 Chúa bảo vệ những ai yêu mến Ngài, nhưng Ngài tiêu diệt kẻ ác.
PSA 145:21 Tôi sẽ ca ngợi Chúa. Tất cả mọi người hãy ca ngợi danh thánh của Ngài cho đến đời đời.
PSA 146:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Ngài.
PSA 146:2 Tôi sẽ ca ngợi Ngài trọn đời tôi; Hễ tôi còn sống bao lâu tôi sẽ ca ngợi Chúa bấy lâu.
PSA 146:3 Chớ nên tin cậy vua chúa hay loài người, là những kẻ không thể cứu ngươi.
PSA 146:4 Khi con người chết, họ bị chôn trong đất. Bao nhiêu dự định họ đều tan theo mây khói.
PSA 146:5 Phúc cho những kẻ được Thượng Đế của Gia-cốp giúp đỡ. Họ đặt hi vọng đặt trong Chúa là Thượng Đế của mình.
PSA 146:6 Ngài tạo nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó. Ngài giữ lòng thành tín đến đời đời.
PSA 146:7 Ngài xử công bằng cho kẻ bị ức hiếp. Ban thức ăn cho kẻ đói khổ. Chúa giải phóng người bị tù.
PSA 146:8 Khiến kẻ mù được sáng mắt. Chúa nâng đỡ kẻ gặp khó khăn. Ngài yêu mến người làm điều phải.
PSA 146:9 Chúa bảo vệ các ngoại kiều. Ngài bênh vực trẻ mồ côi và người góa bụa, Nhưng Ngài cản đường kẻ ác.
PSA 146:10 Chúa sẽ làm vua cho đến đời đời, Hỡi Giê-ru-sa-lem, Thượng Đế ngươi còn đời đời. Ngợi ca Chúa!
PSA 147:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy nên ca tụng Thượng Đế chúng ta vì đó là điều tốt lành. Ngài đáng được chúng ta ca ngợi.
PSA 147:2 Chúa xây dựng lại Giê-ru-sa-lem, Ngài mang các tù nhân Ít-ra-en trở về.
PSA 147:3 Ngài hàn gắn lại những tấm lòng tan vỡ, băng bó các vết thương họ.
PSA 147:4 Ngài đếm các ngôi sao và đặt từng tên cho chúng.
PSA 147:5 Chúa chúng ta vô cùng vĩ đại và quyền năng. Sự thông hiểu Ngài thật vô hạn.
PSA 147:6 Ngài bênh vực người khiêm nhường, nhưng xô kẻ ác té xuống đất.
PSA 147:7 Hãy ca ngợi Chúa; khảy đờn cầm mà chúc tụng Ngài.
PSA 147:8 Ngài phủ mây đầy bầu trời, sai mưa tưới đất và khiến cỏ mọc phủ các đồi núi.
PSA 147:9 Ngài ban thức ăn cho súc vật và các chim non kêu ríu rít.
PSA 147:10 Ngài không quan tâm đến sức mạnh của ngựa hay sức lực của con người.
PSA 147:11 Ngài hài lòng với người kính sợ Ngài, với những người tin cậy nơi tình yêu Ngài.
PSA 147:12 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca ngợi Chúa; Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca ngợi Thượng Đế ngươi.
PSA 147:13 Ngài củng cố các cửa thành ngươi, ban phước cho các con cái sống trong thành ngươi.
PSA 147:14 Ngài ban hòa bình cho xứ ngươi và cho ngươi đầy dẫy ngũ cốc tốt nhất.
PSA 147:15 Ngài ra lệnh cho đất, nó liền vâng lời Ngài.
PSA 147:16 Ngài trải tuyết ra như lông chiên và rải sương tuyết ra như tro.
PSA 147:17 Ngài rắc mưa đá xuống như sỏi. Không ai chịu nổi luồng gió lạnh của Ngài.
PSA 147:18 Rồi Ngài ra lệnh, tuyết giá liền tan. Ngài sai luồng gió đến, nước liền chảy.
PSA 147:19 Ngài ban mệnh lệnh cho Gia-cốp, và luật lệ cùng mệnh lệnh Ngài cho Ít-ra-en.
PSA 147:20 Không có quốc gia nào khác được ân huệ đó. Họ không biết luật lệ Ngài. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 148:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy ca tụng Chúa từ các từng trời. Hãy ca ngợi từ chốn không trung.
PSA 148:2 Hỡi các thiên sứ, hãy ca ngợi Ngài. Hỡi các đạo binh thiên quốc, hãy ca tụng Ngài.
PSA 148:3 Hỡi mặt trời, mặt trăng hãy ca ngợi Chúa. Hỡi các ngôi sao sáng hãy ca tụng Ngài.
PSA 148:4 Hỡi các từng trời cao và nước trên các từng trời hãy ca ngợi Ngài.
PSA 148:5 Tất cả hãy ca ngợi Chúa, vì mọi vật được tạo nên đều do mệnh lệnh Ngài.
PSA 148:6 Ngài đặt chúng vào vị trí cho đến đời đời, Ngài đặt ra luật pháp bất di bất dịch.
PSA 148:7 Hãy ca ngợi Chúa từ dưới đất, hỡi các sinh vật to lớn sống trong biển cùng các đại dương,
PSA 148:8 Hỡi sấm chớp và mưa đá, tuyết và sương, gió bão vâng lời Ngài.
PSA 148:9 Hỡi các núi đồi, các cây trái và các cây hương nam,
PSA 148:10 các dã thú và gia súc, các sinh vật bò sát cùng các loài chim muông,
PSA 148:11 hỡi các vua thế gian cùng các dân tộc, các quan tước và các nhà cầm quyền trên đất,
PSA 148:12 hỡi các thanh niên thiếu nữ, người già cả cùng trẻ em,
PSA 148:13 Hãy ca tụng Ngài vì chỉ một mình Ngài là Đấng cao cả. Sự oai nghi Ngài vượt hơn trời đất.
PSA 148:14 Thượng Đế đã ban cho dân Ngài một vị vua. Những ai thuộc về Ngài hãy ca ngợi Ngài. Toàn dân Ít-ra-en hãy ca ngợi Chúa, tức là dân thuộc về Ngài. Hãy ca ngợi Chúa!
PSA 149:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy hát một bài ca mới cho Ngài; Hãy ca ngợi giữa buổi họp của dân Ngài.
PSA 149:2 Toàn dân Ít-ra-en hãy vui mừng vì Thượng Đế, Đấng dựng nên mình. Dân cư Giê-ru-sa-lem hãy vui mừng vì vua mình.
PSA 149:3 Hãy nhảy múa mà ca ngợi Ngài. Hãy đánh trống cơm và dùng đờn cầm mà ca tụng Chúa.
PSA 149:4 Chúa hài lòng với dân Ngài; Ngài cứu kẻ khiêm nhường.
PSA 149:5 Hỡi những ai thờ phụng Ngài hãy vui mừng trong vinh hiển Ngài. Dù khi đang nằm trên giường cũng hãy ca tụng Ngài!
PSA 149:6 Mọi người hãy lớn tiếng ca tụng Chúa bằng gươm hai lưỡi trong tay.
PSA 149:7 Họ sẽ trừng phạt các nước, đánh bại các dân.
PSA 149:8 Họ sẽ trói các vua bằng xiềng và cột những người có quyền thế bằng xích sắt.
PSA 149:9 Họ sẽ trừng phạt chúng theo bản án Thượng Đế định. Đó là vinh dự cho những kẻ theo Ngài. Hãy ca tụng Chúa!
PSA 150:1 Hãy ca ngợi Chúa! Hãy ca tụng Thượng Đế trong đền thờ Ngài; Hãy tán dương Chúa trên các từng trời hùng vĩ.
PSA 150:2 Hãy ca ngợi sức mạnh Ngài, tán tụng Chúa vì sự cao cả của Ngài.
PSA 150:3 Hãy thổi hồi kèn vang dội mà ca tụng Chúa. Hãy khảy đờn cầm với đờn sắt mà tán dương Ngài.
PSA 150:4 Hãy đánh trống cơm và nhảy múa mà ca ngợi Ngài. Hãy dùng nhạc khí bằng dây và sáo mà ca tụng Chúa.
PSA 150:5 Hãy đánh chập chỏa và phèn la vang rền để ca ngợi Ngài.
PSA 150:6 Mọi vật có hơi thở hãy ca ngợi Chúa. Hãy ca tụng Ngài!
PRO 1:1 Sau đây là những châm ngôn của Sô-lô-môn, con Đa-vít, vua Ít-ra-en
PRO 1:2 để dạy sự khôn ngoan và tiết độ; giúp con chấp nhận sự sửa dạy, am hiểu những lời thông sáng.
PRO 1:3 Không những chúng dạy con tiết độ và khôn ngoan mà còn biết làm điều phải, công bằng và chính trực.
PRO 1:4 Những lời ấy khiến kẻ mộc mạc, chất phác trở nên khôn ngoan, và giúp người trẻ tuổi thêm hiểu biết và dè dặt.
PRO 1:5 Kẻ khôn ngoan có thể nghe và học hỏi! Người thông minh cũng tìm được ý tưởng hay.
PRO 1:6 Ai nấy có thể hiểu biết lời lẽ và truyện tích khôn ngoan, cùng những lời của người khôn và câu đố của họ.
PRO 1:7 Kính sợ Chúa là khởi điểm của sự hiểu biết, còn kẻ ngu dại ghét sự khôn ngoan và tiết độ.
PRO 1:8 Con ơi, hãy nghe lời dạy dỗ của cha con, đừng quên lời khuyên răn của mẹ con.
PRO 1:9 Những lời dạy bảo ấy như hoa cài trên tóc, như vòng xuyến đeo quanh cổ con.
PRO 1:10 Con ơi, nếu tội nhân tìm cách dẫn con vào lối lầm lạc, thì đừng nghe theo.
PRO 1:11 Chúng sẽ nói, “Hãy cùng chúng ta rình rập giết hại kẻ khác; hãy tấn công người nào đi ngang qua.
PRO 1:12 Hãy ăn tươi nuốt sống chúng nó như sự chết; hãy nuốt sống chúng nó như mồ mả.
PRO 1:13 Chúng ta sẽ cướp mọi của báu, và chất của ăn cắp đầy nhà chúng ta.
PRO 1:14 Hãy đến nhập bọn với chúng ta. Chúng ta sẽ chia của ăn cắp với anh.”
PRO 1:15 Con ơi, chớ nhập bọn với chúng theo con đường ấy, hãy tránh lối đi của chúng.
PRO 1:16 Chúng vội vàng làm điều ác, và nhanh tay giết người.
PRO 1:17 Giăng lưới mà để chim nhìn thấy được thì thật vô ích.
PRO 1:18 Nhưng chúng lại tự giăng bẫy cho mình, và rình rập mình.
PRO 1:19 Đó là phần số của những kẻ tham lam; Chúng sẽ chết vì tính tham lam của mình.
PRO 1:20 Sự khôn ngoan lên tiếng nơi đường phố; nàng lên tiếng chỗ công cộng.
PRO 1:21 Nàng kêu lên trong đường phố ồn ào, và la lên nơi cửa thành như sau:
PRO 1:22 “Hỡi kẻ ngu dại, các ngươi sẽ chuộng sự ngu dại cho đến chừng nào? Các ngươi sẽ chế giễu sự khôn ngoan, và ghét sự thông sáng cho đến bao giờ?
PRO 1:23 Nếu các người chịu nghe khi ta sửa dạy các ngươi, thì ta sẽ cho các ngươi biết tư tưởng của ta; ta hẳn đã cho các ngươi biết ý nghĩ trong trí ta.
PRO 1:24 Tuy nhiên vì ta kêu mà các ngươi chẳng trả lời; ta giơ tay ra mà các ngươi không thèm để ý.
PRO 1:25 Các ngươi chẳng thèm nghe lời khuyên ta, và không đếm xỉa khi ta sửa dạy.
PRO 1:26 Cho nên khi các ngươi gặp khốn khó ta sẽ chế diễu các ngươi. Ta sẽ chế diễu khi thảm hoạ chụp bắt các ngươi.
PRO 1:27 Khi thảm họa đến với các ngươi như giông bão, khi khốn khó lao vào ngươi như gió lốc, khi sự đau đớn và khốn khó chụp lấy ngươi,
PRO 1:28 Lúc ấy, chúng nó sẽ cầu cứu ta nhưng ta sẽ không trả lời. Chúng nó sẽ tìm kiếm ta nhưng không gặp.
PRO 1:29 Vì chúng đã gạt bỏ sự hiểu biết và không kính sợ Chúa.
PRO 1:30 Chúng không thèm nghe lời khuyên ta, bỏ ngoài tai mọi sự sửa dạy ta.
PRO 1:31 Cho nên chúng sẽ lãnh hậu quả của hành động mình; chúng sẽ lãnh lấy những điều chúng dành cho kẻ khác.
PRO 1:32 Những kẻ ngu dại sẽ chết vì tính nết hư hỏng, chúng sẽ bị tiêu diệt vì tính tự mãn.
PRO 1:33 Nhưng ai nghe lời ta sẽ sống an toàn, bình an vô sự, không sợ hãi điều gì.”
PRO 2:1 Con ơi, hãy chú ý nghe lời ta và ấp ủ điều ta dạy bảo.
PRO 2:2 Hãy nghe kỹ điều khôn ngoan; lưu ý đến điều thông sáng.
PRO 2:3 Hãy đòi cho được sự khôn ngoan, van xin sự thông sáng.
PRO 2:4 Hãy tìm kiếm nó như bạc, săn lùng nó như kho tàng kín giấu.
PRO 2:5 Thì con sẽ biết kính sợ Chúa, và tìm được sự hiểu biết về Thượng Đế.
PRO 2:6 Chỉ một mình Chúa là Đấng ban sự khôn ngoan; Ngài ban sự thông sáng và hiểu biết.
PRO 2:7 Ngài dành khả năng cho những kẻ liêm chính. Ngài bảo vệ người ngay thẳng như cái thuẫn.
PRO 2:8 Ngài trông chừng để mọi người được đối xử công bằng, và bảo vệ những kẻ trung thành với Ngài.
PRO 2:9 Lúc ấy con sẽ hiểu biết điều ngay thẳng và công chính, cùng sự thanh liêm và các lối đi phải lẽ.
PRO 2:10 Sự khôn ngoan sẽ nhập vào tâm trí con, con sẽ ưa thích sự hiểu biết.
PRO 2:11 Lẽ phải sẽ bảo vệ con; sự hiểu biết sẽ canh chừng con.
PRO 2:12 Nó sẽ giữ chân con khỏi lối đi của kẻ ác, khỏi những kẻ ăn nói thô bỉ,
PRO 2:13 khỏi những kẻ bỏ lối đi chính trực, mà theo ngõ tăm tối.
PRO 2:14 Chúng thích làm quấy, ưa làm những chuyện không ngay thẳng và gian ác.
PRO 2:15 Các lối chúng đều cong quẹo, các đường chúng đều bất lương.
PRO 2:16 Sự khôn ngoan sẽ giúp con tránh người đàn bà bất chính, kẻ quyến dụ con ngoại tình bằng những lời đường mật.
PRO 2:17 Nàng bỏ chồng mình lấy lúc thanh xuân, không đếm xỉa đến lời hứa trước mặt Thượng Đế.
PRO 2:18 Nhà nàng dẫn đến sự chết; các lối đi của nàng đưa đến chỗ chết.
PRO 2:19 Không ai đi đến nàng mà trở về, hay sống lại cả.
PRO 2:20 Sự khôn ngoan sẽ giúp con đi trên đường chính trực, và đi trong lối ngay thẳng.
PRO 2:21 Người lương thiện sẽ sống trong xứ, và những ai vô tội sẽ ở trong đó.
PRO 2:22 Nhưng kẻ ác sẽ bị trục xuất khỏi xứ, những kẻ bất trung sẽ bị ném ra khỏi đó.
PRO 3:1 Con ơi, đừng quên lời dạy của ta, hãy ghi nhớ lời giáo huấn của ta trong trí.
PRO 3:2 Thì con sẽ sống lâu, nó sẽ cho con sự bình an.
PRO 3:3 Đừng bao giờ từ bỏ sự yêu thương và lòng thành tín. Hãy đeo nó như vòng xuyến nơi cổ. Ghi tạc nó vào lòng con như ghi trên tập vở.
PRO 3:4 Để con được ơn và sự kính nể trước mặt Thượng Đế cùng người đời.
PRO 3:5 Hãy hết lòng nhờ cậy Chúa. Đừng ỷ lại vào sự hiểu biết riêng của con.
PRO 3:6 Trong mọi việc làm hãy nhớ đến Chúa, thì Ngài sẽ giúp con đi đúng lối.
PRO 3:7 Đừng ỷ lại vào sự khôn ngoan của con. Hãy kính sợ Chúa và tránh làm điều quấy.
PRO 3:8 Như thế thân thể con sẽ khỏe mạnh, và xương cốt con sẽ vững chắc.
PRO 3:9 Hãy dùng tài sản và hoa lợi đầu mùa của con mà tôn kính Chúa.
PRO 3:10 Thì các kho chứa con sẽ đầy ắp, và các thùng rượu con sẽ tràn rượu mới.
PRO 3:11 Con ơi, đừng khinh thường sự sửa phạt của Chúa, chớ nổi giận khi Ngài sửa trị.
PRO 3:12 Vì Chúa sửa dạy kẻ Ngài yêu như người cha sửa dạy con cái mình.
PRO 3:13 Phúc cho người nào tìm được sự khôn ngoan, và kẻ có được sự hiểu biết.
PRO 3:14 Sự khôn ngoan có giá trị hơn bạc, nàng mang lợi ích hơn cả vàng ròng.
PRO 3:15 Sự khôn ngoan quí hơn châu ngọc; không gì sánh với nó được.
PRO 3:16 Tay phải nàng cho con sống lâu, còn tay trái nàng cho con sự giàu có và danh dự.
PRO 3:17 Các lối đi của nàng đều thoải mái và các đường đi của nàng đều an tịnh.
PRO 3:18 Nàng là cây sự sống cho kẻ nào nắm lấy nó. Ai ôm ấp nàng sẽ được hạnh phúc.
PRO 3:19 Chúa tạo nên trái đất nhờ sự khôn ngoan Ngài. Ngài đặt bầu trời vào vị trí nó nhờ sự thông sáng của Ngài.
PRO 3:20 Nhờ sự hiểu biết, Ngài khiến các suối phun nước, và mây tạo ra mưa.
PRO 3:21 Con ơi, hãy nắm giữ sự khôn ngoan và trí sáng suốt. Đừng để chúng rơi khỏi tầm mắt con.
PRO 3:22 Chúng sẽ giúp con sống lâu và thêm trang sức như vòng xuyến nơi cổ con.
PRO 3:23 Lúc đó con sẽ bước đi vững vàng trên đường lối mình, chân con sẽ không vấp ngã.
PRO 3:24 Khi nằm xuống con sẽ không sợ hãi; con sẽ nằm ngủ bình yên.
PRO 3:25 Con không sợ tai họa bất chợt xảy đến; con cũng không e ngại sự tàn phá rơi trên kẻ ác,
PRO 3:26 vì Chúa là nguồn tin tưởng của con. Ngài sẽ giúp chân con khỏi mắc bẫy.
PRO 3:27 Nếu sự việc nằm trong tầm tay con, hãy giúp đỡ người cần được giúp.
PRO 3:28 Nếu con có trong tay đồ vật mà người láng giềng xin, thì đừng nói, “Mai đến đây tôi sẽ cho anh.”
PRO 3:29 Đừng lập tâm hại người láng giềng là người sống cạnh con và tin cậy con.
PRO 3:30 Đừng vô cớ vu cáo người khác, hay thưa gởi kẻ không làm hại mình.
PRO 3:31 Đừng ganh tức với kẻ hung bạo, cũng đừng theo đường lối họ.
PRO 3:32 Chúa ghê tởm kẻ lươn lẹo, nhưng Ngài kết bạn với người thanh liêm.
PRO 3:33 Chúa nguyền rủa nhà kẻ ác, nhưng chúc phước cho nhà kẻ làm điều lành.
PRO 3:34 Chúa chế giễu những kẻ chế diễu Ngài, nhưng Ngài ban ơn cho kẻ khiêm nhường.
PRO 3:35 Những kẻ khôn ngoan sẽ nhận được vinh dự, nhưng kẻ ngu dại sẽ bị sỉ nhục.
PRO 4:1 Các con ơi, hãy nghe lời dạy dỗ của cha; hãy chú ý để hiểu biết.
PRO 4:2 Lời ta nói ra đều tốt lành, cho nên chớ quên điều ta dạy con.
PRO 4:3 Khi ta còn là con trong nhà cha ta, ta như đứa con duy nhất của mẹ ta,
PRO 4:4 Cha ta thường dạy ta như sau, “Hãy hết lòng nghe lời dạy của cha. Vâng theo lời chỉ dạy của cha thì con sẽ sống.
PRO 4:5 Hãy tìm kiếm sự khôn ngoan và trí hiểu biết. Đừng quên hay bỏ qua lời ta dạy.
PRO 4:6 Đừng lìa xa sự khôn ngoan thì nó sẽ chăm sóc con. Yêu mến nó thì nó sẽ giữ con an toàn.
PRO 4:7 Sự khôn ngoan vô cùng quan trọng; cho nên hãy cố gắng có được sự khôn ngoan. Dù tốn kém bao nhiêu cũng hãy ráng tìm được sự thông hiểu.
PRO 4:8 Hãy quí trọng sự khôn ngoan, nó sẽ khiến con được cao trọng; nắm giữ nó thì nó sẽ mang vinh dự đến cho con.
PRO 4:9 Nó sẽ như hoa trên tóc con, như mão triều rực rỡ trên đầu con.”
PRO 4:10 Con ơi, hãy lắng nghe và chấp nhận điều cha nói, thì con sẽ sống lâu.
PRO 4:11 Cha dạy con đi theo đường khôn ngoan, cha dẫn con đi trên lối ngay thẳng.
PRO 4:12 Khi con đi, sẽ không có gì kềm giữ con lại; lúc con chạy, con sẽ không bị vấp ngã.
PRO 4:13 Hãy luôn luôn ghi nhớ điều con đã được dạy, đừng quên lãng. Hãy giữ lấy điều con đã học vì nó vô cùng quan trọng cho đời con.
PRO 4:14 Đừng bước vào con đường kẻ ác; cũng đừng làm như chúng.
PRO 4:15 Hãy tránh xa lối ấy, chớ chạy theo chúng. Hãy tránh xa khỏi đường ấy và tiếp tục đi đường con.
PRO 4:16 Chúng không thể ngủ yên được cho đến khi làm cho người khác vấp ngã. Chúng không nghỉ ngơi được cho đến khi đã làm hại người khác.
PRO 4:17 Chúng ăn nuốt điều ác và điều hung bạo như thể ăn bánh và uống rượu.
PRO 4:18 Đường lối của người công chính như ánh bình minh, càng ngày càng rực sáng cho đến giữa trưa.
PRO 4:19 Nhưng con đường kẻ ác rất tăm tối; chúng không biết tại sao mình vấp ngã.
PRO 4:20 Con ơi, hãy lưu ý lời cha, nghe cho kỹ điều cha nói đây.
PRO 4:21 Đừng bao giờ bỏ qua lời cha; hãy ghi tạc nó trong trí con.
PRO 4:22 Vì chúng là sự sống cho ai tìm được; chúng mang sức khoẻ cho cả thân thể.
PRO 4:23 Trên hết mọi việc hãy giữ tấm lòng của con, vì sự sống phát xuất từ đó.
PRO 4:24 Chớ dùng miệng lưỡi mình mà nói dối; Hãy lấy môi gian dối ra khỏi con.
PRO 4:25 Mắt con hãy nhìn thẳng phía trước, hãy nhìn thẳng trước mặt.
PRO 4:26 Hãy thận trọng điều con làm, thì các bước đi của con sẽ vững chắc.
PRO 4:27 Chớ quay qua bên phải hay bên trái; hãy tránh xa con đường độc ác.
PRO 5:1 Con ơi, hãy để ý đến sự khôn ngoan ta; hãy lắng nghe sự hiểu biết của ta.
PRO 5:2 Hãy thận trọng mà sống cho khôn ngoan, đừng để môi miệng mình nói điều không phải.
PRO 5:3 Vì lời dụ dỗ của vợ người khác nghe ngon ngọt như mật; trơn láng hơn dầu ô-liu.
PRO 5:4 Nhưng cuối cùng nàng sẽ mang đến cho con sự cay đắng, đâm con đau như gươm hai lưỡi.
PRO 5:5 Nàng đang đi trên con đường dẫn đến sự chết; các bước chân nàng hướng thẳng vào mồ mả.
PRO 5:6 Nàng đã bỏ con đường sự sống, cũng không hề biết đường mình đi là sai quấy.
PRO 5:7 Nầy các con ta, hãy nghe cha, đừng bỏ qua điều cha dặn.
PRO 5:8 Hãy tránh xa hạng đàn bà như thế. Chớ bén mảng đến gần cửa nhà nàng
PRO 5:9 nếu không con sẽ phải trao danh dự mình cho kẻ khác, và dâng cuộc đời con cho kẻ hung ác.
PRO 5:10 Các người dưng sẽ hưởng của cải con, và những gì con khổ công gây dựng sẽ lọt vào tay kẻ khác.
PRO 5:11 Cuối đời con sẽ rên rỉ vì sức khoẻ con không còn.
PRO 5:12 Lúc đó con sẽ nói, “Tại sao tôi ghét sự dạy dỗ? Tại sao tôi không thèm nghe sự sửa dạy?
PRO 5:13 Tôi chẳng thèm nghe thầy dạy tôi, và bỏ ngoài tai sự sửa dạy.
PRO 5:14 Cho nên bây giờ tôi phải chịu khốn khổ đủ điều, đến nỗi ai cũng biết.”
PRO 5:15 Hãy chung thủy với vợ con, như uống nước giếng nhà mình.
PRO 5:16 Nếu không nước sẽ chảy ra ngoài đường, nước con sẽ chảy ra chỗ công cộng.
PRO 5:17 Nước ấy chỉ cho một mình con dùng, không nên san sẻ với người lạ.
PRO 5:18 Nguyện nguồn nước của con được phước. Hãy hưởng khoái lạc với vợ con cưới lúc còn trẻ.
PRO 5:19 Nàng dễ thương như nai tơ, và duyên dáng như dê rừng. Nguyện thân hình nàng làm con vui sướng; và tình yêu nàng mãi mãi mê hoặc con.
PRO 5:20 Con ơi, đừng bị quyến dụ bởi người đàn bà, Chớ ôm ấp vợ người khác.
PRO 5:21 Chúa nhìn thấy lối đi của con người, và Ngài dò xét đường lối họ.
PRO 5:22 Kẻ ác sẽ sụp vào mưu ác mình; Dây tội lỗi sẽ buộc chặt nó.
PRO 5:23 Nó sẽ chết vì không biết tự chế, và sự ngu dại nó sẽ dẫn nó đi lầm lạc.
PRO 6:1 Con ơi, nếu con bảo lãnh cho người láng giềng, nhất là cam kết trả nợ cho người khác.
PRO 6:2 Thì con có thể bị mắc kẹt trong lời cam kết mình; bị vướng trong lời hứa mình.
PRO 6:3 Con ơi, nếu số phận con nằm trong tay người láng giềng, thì hãy gỡ mình ra như sau. Con hãy hạ mình, đi đến người ấy van xin được gỡ khỏi lời hứa của con.
PRO 6:4 Chớ ngủ hay chợp mắt
PRO 6:5 nhưng hãy tự giải thoát như con nai chạy thoát khỏi tay thợ săn, như con chim bay vụt khỏi kẻ đánh bẫy.
PRO 6:6 Nầy kẻ lười biếng, hãy quan sát loài kiến. Hãy nhìn chúng mà học khôn.
PRO 6:7 Tuy chúng không có kẻ chỉ huy, người lãnh đạo hay quan tướng,
PRO 6:8 nhưng chúng biết tích trữ thực phẩm lúc mùa hè, và thu chứa lương thực vào mùa gặt.
PRO 6:9 Nầy kẻ biếng nhác, các ngươi nằm nướng như thế cho đến bao giờ? Chừng nào thì các ngươi thức dậy?
PRO 6:10 Ngủ một chút; chợp mắt một chút. Khoanh tay nghỉ ngơi một chút
PRO 6:11 thì sự nghèo khổ sẽ nhanh chóng đến trên con; và cảnh thiếu thốn sẽ ập đến như kẻ cướp.
PRO 6:12 Có những người gian ác và vô tích sự. Chỉ đi quanh phao tin thất thiệt,
PRO 6:13 chúng chớp mắt, làm dấu bằng chân, ra hiệu bằng tay.
PRO 6:14 Lòng hư hỏng của kẻ âm mưu điều ác, lúc nào cũng muốn gieo xích mích.
PRO 6:15 Cho nên bỗng chốc tai hoạ sẽ chụp bắt chúng; thình lình chúng bị thiệt hại đến nỗi không ai giúp được.
PRO 6:16 Có sáu điều Chúa ghét. Có bảy điều Ngài không chịu nổi:
PRO 6:17 cái nhìn tự phụ, lưỡi dối gạt, tay giết người vô tội,
PRO 6:18 lòng định mưu ác, chân vội vàng làm điều ác,
PRO 6:19 kẻ chứng gian tuôn ra điều dối gạt, và gây chuyện hục hặc trong gia đình.
PRO 6:20 Con ơi, hãy vâng theo lời dạy bảo của cha, đừng quên sự dạy dỗ của mẹ con.
PRO 6:21 Buộc nó vào lòng con, đeo nó quanh cổ con.
PRO 6:22 Nó sẽ hướng dẫn khi con bước đi. Nó sẽ bảo vệ con khi con ngủ nghỉ. Nó sẽ chuyện trò với con khi con thức dậy.
PRO 6:23 Những lời dạy bảo ấy giống như ngọn đèn; lời giáo huấn đó là ánh sáng. Sự sửa trị của nó là con đường sống cho con.
PRO 6:24 Chúng sẽ giúp con tránh khỏi người đàn bà tội lỗi, và những lời đường mật của người vợ bất chính.
PRO 6:25 Chớ mê nhan sắc nàng. Đừng để cái liếc mắt đưa tình của nàng quyến rũ con.
PRO 6:26 Gái làng chơi chỉ tốn có một ổ bánh, nhưng vợ người khác săn lùng đời sống quí báu của con.
PRO 6:27 Con không thể nào ôm lửa đỏ vào lòng, mà không cháy quần áo,
PRO 6:28 cũng không thể bước trên than hồng mà không bị phỏng chân.
PRO 6:29 Nếu con ăn nằm với vợ người khác thì cũng giống như vậy. Ai làm chuyện đó thế nào cũng lãnh trừng phạt.
PRO 6:30 Kẻ nào vì đói mà phải ăn cắp thì không bị khinh chê.
PRO 6:31 Nhưng nếu bị bắt thì phải bồi thường bảy lần vật nó đánh cắp, có thể phải lấy hết tài sản mình mà bồi thường nữa.
PRO 6:32 Kẻ phạm tội ngoại tình thiếu hiểu biết; nó sẽ tự hủy hoại mình.
PRO 6:33 Nó sẽ bị đánh đập và bị sỉ nhục, cái nhục đó không bao giờ phai.
PRO 6:34 Vì một khi đàn ông nổi ghen thì tràn đầy thịnh nộ, khi người đó báo thù thì chẳng bao giờ nương tay.
PRO 6:35 Người sẽ không bao giờ chấp nhận món bồi thường nào cho chuyện quấy ấy cả; đền bù bao nhiêu người cũng không nhận.
PRO 7:1 Con ơi, hãy ghi nhớ lời cha dạy, ấp ủ điều cha khuyên răn,
PRO 7:2 Vâng theo lời dạy dỗ của cha thì con sẽ sống, Hãy bảo vệ lời răn dạy cha như con ngươi của mắt con.
PRO 7:3 Buộc nó trên ngón tay con; ghi tạc nó vào tập vở của lòng con.
PRO 7:4 Hãy gọi sự khôn ngoan rằng, “Ngươi là chị em với ta” và hãy gọi sự hiểu biết rằng “Ngươi là bạn thân ta.”
PRO 7:5 Sự khôn ngoan và hiểu biết sẽ giúp con tránh khỏi tội ngoại tình, tránh khỏi người vợ bất chính và những lời dụ dỗ đường mật của nàng.
PRO 7:6 Thỉnh thoảng ta ngồi tựa cửa sổ nhìn qua bức sáo,
PRO 7:7 ta thấy có mấy chàng thanh niên khờ khạo. Ta thấy có một anh chàng chẳng hiểu biết gì cả.
PRO 7:8 Anh ta đang đi trên phố gần góc đường dẫn đến nhà nàng.
PRO 7:9 Lúc đó là hoàng hôn; màn đêm vừa chụp xuống.
PRO 7:10 Người đàn bà đến gần anh ta, nàng ăn mặc như con điếm, định tâm dụ dỗ anh chàng.
PRO 7:11 Nàng sỗ sàng và ương ngạnh, không bao giờ ở nhà.
PRO 7:12 Nàng luôn luôn ở ngoài phố hay nơi công cộng, rình rập nơi các góc đường.
PRO 7:13 Nàng ôm chầm và hôn anh ta. Mặt mày trơ trẽn, nàng nói,
PRO 7:14 “Em đã làm sẵn của lễ thân hữu. Hôm nay em đã giữ lời khấn hứa của em,
PRO 7:15 Cho nên em ra đón anh; Em đã tìm anh lâu lắm rồi mà bây giờ mới gặp.
PRO 7:16 Em đã lấy khăn màu Ai-cập trải trên giường em.
PRO 7:17 Em đã làm giường em thơm phức bằng nhũ hương, hoa hồi và quế.
PRO 7:18 Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau làm tình cho đến sáng. Chúng mình hãy tận hưởng tình yêu cho nhau.
PRO 7:19 Chồng em không có nhà; anh ấy đang du hành xa lắm,
PRO 7:20 Mang theo một số tiền lớn, mấy tuần nữa mới về.”
PRO 7:21 Nàng dùng lời khôn khéo dụ dỗ chàng trai ấy; dùng lời đường mật, nàng dẫn anh chàng làm chuyện bậy bạ.
PRO 7:22 Thế là anh chàng đi theo nàng, như con bò bị dắt đến hàng làm thịt, như con nai lao vào bẫy,
PRO 7:23 cho đến khi bị tên bắn xuyên qua lá gan. Như chim sa nhanh vào bẫy, anh ta không hề biết rằng hành động của mình sẽ giết hại mình.
PRO 7:24 Bây giờ, hỡi các con, hãy nghe cha; lắng nghe lời cha nói đây.
PRO 7:25 Đừng bao giờ để lòng con xiêu theo lối của nàng, đừng lạc vào lối của nó.
PRO 7:26 Nàng đã làm cho nhiều người đàn ông quỵ ngã, nàng giết hại vô số người.
PRO 7:27 Nhà của nàng nằm trên con đường dẫn đến cái chết, đó là con đường đi sâu xuống âm phủ.
PRO 8:1 Sự khôn ngoan kêu lớn; sự thông biết cất cao giọng.
PRO 8:2 Từ trên đỉnh đồi dọc theo đường, từ nơi ngã tư, sự khôn ngoan đứng kêu.
PRO 8:3 Từ nơi cửa thành, và từ các lối vào thành, sự khôn ngoan kêu lên:
PRO 8:4 “Mọi người hãy nghe đây, ta kêu gọi các ngươi; Ta kêu gọi mọi người.
PRO 8:5 Những ai thiếu hiểu biết hãy học tính thận trọng. Những ai ngu dốt hãy học sự hiểu biết.
PRO 8:6 Hãy lắng nghe đây vì ta có điều quan trọng nói cùng các ngươi, lời ta nói là đúng.
PRO 8:7 Điều ta nói là chân thật vì môi miệng ta ghét việc ác.
PRO 8:8 Ta nói mọi điều ngay thật; ta không nói điều gì thiếu ngay thẳng hay giả dối.
PRO 8:9 Ta nói thật rõ ràng cho những ai hiểu biết; và những ai tìm sự khôn ngoan đều thấy lời ta là đúng.
PRO 8:10 Đừng chọn bạc mà nên chọn lời dạy dỗ ta, hãy chọn sự hiểu biết, đừng chọn vàng ròng.
PRO 8:11 Sự khôn ngoan quí hơn châu ngọc. Chẳng có gì con ưa thích mà sánh với nó được.
PRO 8:12 Ta là sự khôn ngoan sống chung với sự thận trọng. Ta cũng có trí hiểu và tri thức thông thường.
PRO 8:13 Kính sợ Chúa nghĩa là ghét điều ác. Ta ghét tính tự phụ và khoe khoang, ta ghét đường lối gian ác và môi miệng lừa gạt.
PRO 8:14 Ta có sự khôn ngoan và lời khuyên tốt, ta có hiểu biết và quyền lực.
PRO 8:15 Nhờ ta mà các vua cai trị, cũng nhờ ta mà các quan quyền làm ra những luật lệ công bằng.
PRO 8:16 Các quan trưởng cần ta để lãnh đạo, và những người quyền cao chức trọng cần ta để phân xử công bằng.
PRO 8:17 Ta yêu những kẻ yêu ta, ai tìm ta sẽ gặp ta.
PRO 8:18 Trong tay ta có sự giàu sang và danh dự cùng của cải và sự công chính lâu dài.
PRO 8:19 Điều ta cho quí hơn vàng ròng, sản phẩm của ta tốt hơn bạc nguyên chất.
PRO 8:20 Ta làm điều phải, và đi theo con đường công lý.
PRO 8:21 Ta ban của cải cho kẻ yêu thích ta, cho nhà cửa họ đầy châu báu.
PRO 8:22 Ta là sự khôn ngoan, ở với Chúa khi Ngài khởi công, và có mặt bên cạnh Ngài trước khi Ngài tạo dựng nên bất cứ vật gì.
PRO 8:23 Từ nguyên thủy ta đã được dựng nên, trước khi có trời đất.
PRO 8:24 Ta được sinh ra trước khi có đại dương, trước khi có các suối phun nước,
PRO 8:25 trước khi có đồi, trước khi núi non được đặt vào vị trí, thì ta đã được sinh ra rồi.
PRO 8:26 Trước khi Thượng Đế dựng nên đất đai và đồng ruộng, trước khi có bụi đất trên thế gian.
PRO 8:27 Ta đã có ở đó khi Thượng Đế đặt bầu trời vào chỗ, lúc Ngài trải chân trời trên biển cả,
PRO 8:28 khi Ngài tạo mây trên trời và đặt các suối ngầm của biển khơi vào chỗ.
PRO 8:29 Ta có ở đó khi Ngài ra lệnh cho biển không được vượt quá giới hạn Ngài định cho nó. Ta có ở đó khi Ngài đặt nền trái đất.
PRO 8:30 Ta như người thợ giỏi đứng cạnh Ngài. Mỗi ngày ta là nguồn vui của Ngài, Nhảy múa trước mặt Ngài,
PRO 8:31 Ta chơi đùa trên thế gian mà Ngài tạo dựng, và vui thích nơi loài người mà Ngài đặt vào đó.
PRO 8:32 Bây giờ, các con ơi, hãy nghe ta, vì những ai đi theo đường ta sẽ hạnh phúc,
PRO 8:33 Hãy nghe lời dạy dỗ ta, các ngươi sẽ khôn ngoan; đừng bỏ qua lời dạy ta.
PRO 8:34 Phúc cho ai lắng nghe ta, canh chừng nơi cửa ta mỗi ngày, dựa cửa chờ ta.
PRO 8:35 Những ai tìm được ta là tìm được sự sống, Chúa sẽ ban ơn cho những người ấy.
PRO 8:36 Những ai không tìm ta là tự hại mình. Những ai ghét ta là yêu sự chết.”
PRO 9:1 Sự khôn ngoan xây nhà mình và dựng bảy cột trụ.
PRO 9:2 Nàng đã chuẩn bị rượu và bày bàn ăn.
PRO 9:3 Nàng sai các tớ gái đi ra, và từ các điểm cao nhất trong thành phố nàng gọi xuống.
PRO 9:4 Nàng kêu những kẻ kém hiểu biết rằng, “Hãy quay vào đây!” và những kẻ ngờ nghệch rằng,
PRO 9:5 “Hãy đến dùng thức ăn ta, và uống rượu ta đã pha chế.
PRO 9:6 Hãy bỏ đường lối ngu dại của các ngươi thì các ngươi sẽ sống; hãy đi con đường hiểu biết.”
PRO 9:7 Nếu các ngươi sửa dạy những kẻ xấc láo, các ngươi sẽ bị sỉ nhục. Nếu các ngươi sửa dạy người ác, các ngươi sẽ bị thiệt hại.
PRO 9:8 Đừng thèm sửa dạy kẻ xấc láo vì nó sẽ ghét ngươi. Nhưng hãy sửa dạy người khôn, thì người sẽ yêu mến ngươi.
PRO 9:9 Hãy dạy người khôn, thì người sẽ khôn ngoan hơn. Hãy dạy bảo người tốt thì người sẽ học biết thêm.
PRO 9:10 Kính sợ Chúa là khởi điểm của khôn ngoan, nhìn biết Đấng Thánh là thông hiểu.
PRO 9:11 Nhờ ta, ngươi sẽ sống lâu; đời ngươi sẽ thêm năm tháng.
PRO 9:12 Người khôn nhận được sự khôn ngoan làm phần thưởng, nhưng kẻ xấc láo sẽ chịu khốn khổ một mình.
PRO 9:13 Sự ngu dốt là người đàn bà lớn miệng; Nó ngu dốt, chẳng hiểu biết gì.
PRO 9:14 Nó ngồi nơi cửa nhà, trên ghế ở nơi cao nhất của thành phố.
PRO 9:15 Nó kêu người qua kẻ lại, những người đang đi lo công việc mình.
PRO 9:16 Nó gọi những kẻ ít học rằng, “Hỡi kẻ ngu dại!
PRO 9:17 Nước ăn cắp thật ngọt ngào, món ăn vụng thật ngon lành.”
PRO 9:18 Nhưng họ không biết rằng hồn ma đang lảng vảng nơi nhà nó, và tất cả các khách khứa của nó đều về chốn âm phủ.
PRO 10:1 Đây là những châm ngôn của Sô-lô-môn: Con trai khôn ngoan làm cha mình vui, nhưng con trai ngu dại gây buồn khổ cho mẹ nó.
PRO 10:2 Của bất nghĩa không có giá trị gì, những ai công chính sẽ cứu mình khỏi chết.
PRO 10:3 Chúa không bao giờ để người lành bị đói khổ, nhưng Ngài cản không cho kẻ ác đạt được ý muốn.
PRO 10:4 Ai lười biếng sẽ nghèo khổ, nhưng ai chịu khó sẽ được giàu có.
PRO 10:5 Ai thu chứa hoa quả đúng mùa là khôn ngoan, nhưng kẻ ngủ suốt mùa gặt là điều sỉ nhục.
PRO 10:6 Người nhân lành sẽ được nhiều ân phúc, nhưng miệng kẻ ác che dấu điều hung bạo.
PRO 10:7 Người nhân đức để lại những nguồn phước hạnh, nhưng tên tuổi kẻ ác sẽ bị tiêu diệt.
PRO 10:8 Người khôn làm theo điều chỉ bảo, nhưng kẻ nói nhiều sẽ bị tổn hại.
PRO 10:9 Ai thanh liêm sẽ sống bình an, nhưng kẻ bất lương sẽ bị bại lộ.
PRO 10:10 Kẻ dùng mắt mình làm dấu sẽ gặp lôi thôi, và ai nói nhiều sẽ gặp tổn hại.
PRO 10:11 Lời nói của người tốt giống như suối nước tươi mát, nhưng miệng kẻ ác sẽ bị thiệt hại.
PRO 10:12 Sự ghen ghét gây ra điều lôi thôi, còn tình yêu thương tha thứ mọi lỗi lầm.
PRO 10:13 Sự khôn ngoan ở trên lưỡi người thông minh, nhưng roi đập xuống lưng kẻ ngu dại.
PRO 10:14 Người khôn ngoan thận trọng khi nói ra điều mình biết, còn miệng kẻ ngu dại mang tai hoạ cho mình.
PRO 10:15 Kẻ giàu được bảo vệ nhờ tiền nhiều, nhưng kẻ nghèo bị tổn hại vì thiếu tiền.
PRO 10:16 Phần thưởng của người công chính là sự sống, còn lợi tức của kẻ ác là sự trừng phạt.
PRO 10:17 Ai chịu sửa dạy là đi theo đường sự sống, còn kẻ xem thường sự sửa trị sẽ dẫn kẻ khác lầm lạc.
PRO 10:18 Người che giấu điều ganh ghét là kẻ dối trá. Kẻ loan tin đồn là dại.
PRO 10:19 Nói nhiều chỉ đưa đến lỗi lầm; còn ai canh chừng miệng lưỡi mình là khôn.
PRO 10:20 Lời nói của người nhân đức như bạc nguyên chất, nhưng tư tưởng của kẻ ác chẳng có giá trị gì.
PRO 10:21 Lời nói của người nhân đức giúp đỡ kẻ khác, nhưng kẻ dại dột sẽ chết vì thiếu hiểu biết.
PRO 10:22 Phước lành của Chúa ban của cải, còn vất vả cũng chẳng thêm được gì.
PRO 10:23 Kẻ dại thích làm bậy, còn người hiểu biết thích làm việc khôn.
PRO 10:24 Kẻ ác sẽ lãnh điều chúng nó sợ, còn người nhân đức sẽ nhận được điều mình ao ước.
PRO 10:25 Trận bão sẽ thổi bay kẻ ác đi, nhưng người nhân đức sẽ đứng vững vàng.
PRO 10:26 Kẻ biếng nhác làm hại người chủ sai mình đi, như giấm buốt răng hay khói cay mắt.
PRO 10:27 Ai kính sợ Chúa sẽ sống lâu, nhưng đời của kẻ ác sẽ bị cắt ngắn.
PRO 10:28 Niềm hi vọng của người lành mang lại vui mừng, còn hi vọng kẻ ác sẽ tiêu tan.
PRO 10:29 Chúa gìn giữ người liêm chính, nhưng Ngài diệt kẻ ác.
PRO 10:30 Người liêm chính sẽ không bao giờ bị lay chuyển, còn kẻ ác sẽ bị đuổi ra khỏi xứ.
PRO 10:31 Người nhân đức nói ra những lời khôn ngoan, nhưng lưỡi của kẻ nói dối sẽ bị cắt đi.
PRO 10:32 Người nhân đức biết điều mình phải nói, nhưng kẻ ác chỉ chuyên nói dối.
PRO 11:1 Chúa ghét cái cân gian, nhưng Ngài hài lòng với trái cân đúng.
PRO 11:2 Sự kiêu căng đưa tới nhục nhã; còn sự khiêm nhường dẫn đến khôn ngoan.
PRO 11:3 Người nhân đức dùng tính lương thiện hướng dẫn mình; còn tính bất lương sẽ tiêu diệt kẻ bất trung.
PRO 11:4 Đến giờ qua đời thì giàu có chẳng ích gì, còn sống phải lẽ sẽ giúp con trong kỳ tai hoạ.
PRO 11:5 Sự công chính của người ngay thẳng khiến đời sống người dễ chịu, nhưng kẻ ác sẽ bị diệt trong mưu ác mình.
PRO 11:6 Lòng thanh liêm của người chính trực giải thoát người ấy, nhưng kẻ bất trung sẽ bị mắc kẹt trong ước vọng của chúng.
PRO 11:7 Khi kẻ ác chết, hi vọng chúng cũng chết theo; hi vọng giàu sang của chúng cũng tan theo mây khói.
PRO 11:8 Người lành thoát khỏi mọi khó khăn; nhưng khó khăn đó lại rơi trên đầu kẻ ác.
PRO 11:9 Lời nói kẻ ác làm hại người láng giềng, nhưng người nhân đức nhờ hiểu biết mà thoát hiểm.
PRO 11:10 Khi người nhân đức thành công, cả thành đều hớn hở. Nhưng khi kẻ ác bị tiêu diệt thì mọi người reo vui.
PRO 11:11 Sự thịnh vượng của người nhân đức nâng đỡ thành mình, còn kẻ ác dùng miệng lưỡi mình phá sập nó.
PRO 11:12 Người ngu dại khinh dể láng giềng mình, còn người hiểu biết im lặng.
PRO 11:13 Kẻ bép xép không thể giữ điều kín giấu, còn người đáng tin không tiết lộ điều bí mật.
PRO 11:14 Quốc gia suy sụp vì thiếu lãnh đạo, còn nhiều cố vấn cứu được dân tộc.
PRO 11:15 Ai bảo lãnh người lạ sẽ phải chịu thiệt. Cho nên tốt hơn đừng bảo lãnh.
PRO 11:16 Người đàn bà duyên dáng được kính nể, còn đàn ông hung dữ chỉ được của cải.
PRO 11:17 Kẻ nhân từ làm ơn cho chính mình, còn kẻ hung bạo chỉ mang khổ vào thân.
PRO 11:18 Công việc của kẻ ác chỉ là dối trá, còn người nhân đức chắc chắn sẽ được thưởng.
PRO 11:19 Người nhân đức sẽ được sống, nhưng kẻ theo đuổi điều ác sẽ chết.
PRO 11:20 Chúa ghét những kẻ có lòng gian ác, nhưng Ngài thích kẻ ngay thẳng.
PRO 11:21 Kẻ ác chắc chắn sẽ bị phạt, còn ai làm điều phải sẽ được giải phóng.
PRO 11:22 Người đàn bà đẹp mà thiếu khôn khéo, như vòng vàng đeo vào mũi heo.
PRO 11:23 Hi vọng của người chân chính sẽ mang kết quả, còn hi vọng của kẻ ác sẽ đưa đến cơn thịnh nộ của Thượng Đế.
PRO 11:24 Có người cho ra nhiều nhưng lại thêm giàu có. Còn có kẻ keo kiệt, bủn xỉn thì lại nghèo thiếu.
PRO 11:25 Ai ban phát cho người khác sẽ trở nên sung túc hơn; còn ai giúp người sẽ được người giúp lại.
PRO 11:26 Dân chúng nguyền rủa kẻ tích trữ lúa thóc, nhưng chúc phước cho kẻ bán lúa ra.
PRO 11:27 Người nào tìm điều tốt lành sẽ nhận được ân phúc, còn kẻ tìm điều ác sẽ gặp điều ác.
PRO 11:28 Ai trông cậy vào của cải sẽ bị tàn hại, còn người nhân đức sẽ tươi tốt như lá cây xanh.
PRO 11:29 Ai mang hiềm khích cho gia đình, sẽ chẳng nhận được gì ngoài gió lốc. Người ngu dại sẽ làm tôi cho kẻ khôn ngoan.
PRO 11:30 Người nhân đức ban sự sống cho kẻ khác, nhưng sự hung bạo giết sinh mạng.
PRO 11:31 Người nhân đức được phần thưởng trên thế gian, còn kẻ ác và tội nhân bị trừng phạt.
PRO 12:1 Ai yêu học vấn sẽ yêu sự sửa dạy, còn kẻ ghét sự sửa dạy là dại dột.
PRO 12:2 Người chân chính nhận được ân lành từ Chúa, nhưng Ngài trừng phạt kẻ mưu đồ việc ác.
PRO 12:3 Làm ác không mang lại an ninh, còn nền tảng của người đạo đức sẽ không bị lay chuyển.
PRO 12:4 Vợ đảm đang như mão triều cho chồng mình, nhưng vợ gây sỉ nhục giống như bệnh xương cốt.
PRO 12:5 Những dự định của người chân chính đều phải lẽ, còn lời khuyên của kẻ ác sẽ phỉnh gạt con.
PRO 12:6 Lời nói của kẻ ác như cuộc phục kích đẫm máu, nhưng lời nói của người công chính sẽ cứu mình.
PRO 12:7 Kẻ ác bị diệt khỏi đất, nhưng gia đình người nhân đức sẽ vững chắc.
PRO 12:8 Người biết lẽ phải sẽ được ca tụng, còn người lươn lẹo sẽ bị khinh khi.
PRO 12:9 Làm người tầm thường mà có kẻ hầu, còn hơn giả vờ quan trọng mà không có thức ăn.
PRO 12:10 Người nhân đức chăm sóc gia súc mình, nhưng hành vi nhân từ của kẻ ác vẫn mang dấu hiệu độc ác.
PRO 12:11 Ai cày bừa nơi đất mình sẽ dư ăn, còn kẻ chạy theo ảo vọng là dại dột.
PRO 12:12 Kẻ ác thèm muốn điều kẻ ác chiếm đoạt, nhưng người nhân đức mọc rễ sâu và mang kết quả nhiều.
PRO 12:13 Kẻ ác bị sập bẫy trong lời ác mình, nhưng người nhân đức thoát khỏi chuyện lôi thôi.
PRO 12:14 Nhờ lời nói mình mà được hưởng phúc, cũng nhờ công khó mình mà được lợi ích.
PRO 12:15 Kẻ dại tưởng mình làm đúng, nhưng người khôn nghe lời khuyên dạy.
PRO 12:16 Kẻ dại tỏ dấu hiệu giận dữ, nhưng người khôn bỏ qua điều sỉ nhục.
PRO 12:17 Nhân chứng lương thiện khai sự thật, còn nhân chứng bất lương bịa đặt điều dối trá.
PRO 12:18 Lời nói xấu đâm buốt như gươm, nhưng lời khôn ngoan khiến vết thương lành.
PRO 12:19 Lưỡi chân thật sẽ còn mãi, nhưng lưỡi dối trá chỉ tồn tại trong chốc lát.
PRO 12:20 Những kẻ âm mưu điều ác đầy dẫy dối trá, nhưng người tính chuyện hoà bình tràn ngập vui mừng.
PRO 12:21 Người nhân đức không gặp tổn hại gì, còn đời kẻ ác đầy dẫy khốn khó.
PRO 12:22 Chúa ghét những kẻ nói dối, nhưng Ngài thích những người thật thà.
PRO 12:23 Người khôn khéo giữ điều mình biết trong lòng, còn kẻ ngu dại phơi bày sự ngu dại mình.
PRO 12:24 Người siêng năng sẽ giữ vai trò lãnh đạo, còn kẻ lười biếng sẽ phải làm tôi tớ.
PRO 12:25 Sự lo lắng là gánh nặng cho tinh thần, nhưng lời nói êm dịu khiến lòng phấn khởi.
PRO 12:26 Người chân chính giúp ý hay cho bạn hữu, còn kẻ ác dẫn người khác đi lầm lạc.
PRO 12:27 Kẻ biếng nhác không nướng thịt mình đã săn được, nhưng ai chăm chỉ sẽ được giàu sang.
PRO 12:28 Làm điều phải dẫn đến sự sống, ai đi theo đường đó sẽ không gặp sự chết.
PRO 13:1 Con khôn ngoan nghe lời cha khuyên bảo, nhưng con hỗn láo chẳng thèm để ý đến lời răn dạy.
PRO 13:2 Người nhân đức ăn lấy hoa quả của miệng mình, nhưng kẻ gian tà chỉ ham thích sự hung bạo.
PRO 13:3 Ai thận trọng trong lời ăn tiếng nói bảo vệ mạng sống mình, còn kẻ phát ngôn bừa bãi sẽ bị tàn hại.
PRO 13:4 Kẻ lười biếng mong mỏi nhiều mà chẳng được gì, nhưng sự ao ước của người siêng năng sẽ được thoả mãn.
PRO 13:5 Người công chính ghét điều giả dối, còn kẻ ác làm điều ô nhục.
PRO 13:6 Sự công chính bảo vệ người thanh liêm, nhưng làm điều ác khiến kẻ có tội bị tàn hại.
PRO 13:7 Có người làm bộ giàu mà thực ra chẳng có gì. Kẻ khác làm bộ nghèo nhưng thực ra lại giàu có.
PRO 13:8 Kẻ giàu có thể phải trả tiền chuộc mạng mình, nhưng người nghèo sợ bị đe dọa.
PRO 13:9 Người nhân đức nhìn tương lai xán lạn, còn tương lai kẻ ác như lửa tắt.
PRO 13:10 Tánh kiêu căng chỉ đưa đến cãi vã, nhưng ai nghe lời khuyên răn là người khôn.
PRO 13:11 Tiền phù vân tiêu tan nhanh chóng, nhưng tiền dành giụm sẽ từ từ gia tăng.
PRO 13:12 Không đạt được ý nguyện khiến lòng buồn rầu. Nhưng điều ao ước thành tựu giống như ăn trái cây sự sống.
PRO 13:13 Ai gạt bỏ điều dạy bảo sẽ phải trả giá đắt, còn kẻ vâng theo mệnh lệnh sẽ được ban thưởng.
PRO 13:14 Lời dạy dỗ của người khôn là mạch sống. Nó giúp người ta tránh được cạm bẫy nguy hiểm.
PRO 13:15 Người biết phải chăng sẽ được kính trọng, nhưng đời của kẻ không đáng tin sẽ lâm cảnh khốn khổ.
PRO 13:16 Người thông sáng hành động khôn ngoan, còn kẻ ngu dại phơi bày bản chất dốt nát của mình.
PRO 13:17 Sứ giả gian ác gây lôi thôi, nhưng sứ giả đáng tin khiến mọi việc suông sẻ.
PRO 13:18 Ai không chịu sửa dạy sẽ lâm cảnh nghèo khó và nhục nhã, nhưng ai nghe lời khuyên dạy sẽ được tôn trọng.
PRO 13:19 Ước muốn thành tựu khiến tâm hồn sảng khoái, còn kẻ ngu dại chẳng bao giờ muốn thôi làm điều ác.
PRO 13:20 Ai kết bạn với người khôn sẽ trở nên khôn ngoan, nhưng làm bạn với kẻ dại sẽ bị tổn hại.
PRO 13:21 Kẻ có tội sẽ bị chuyện lôi thôi theo đuổi, nhưng người nhân đức sẽ vui hưởng thành công.
PRO 13:22 Người tốt để lại gia tài cho con cháu, còn của cải kẻ có tội sẽ dành cho người công chính.
PRO 13:23 Ruộng nương kẻ nghèo sinh sản nhiều hoa lợi, nhưng kẻ bất công cướp lấy hết.
PRO 13:24 Không sửa dạy con là ghét nó, nhưng ai thương con mình sẽ lo sửa dạy nó.
PRO 13:25 Người công chính sẽ đủ ăn, còn kẻ ác sẽ bị đói khổ.
PRO 14:1 Đàn bà khôn ngoan gây dựng gia đình, còn đàn bà ngu dại làm tan hoang cửa nhà.
PRO 14:2 Ai sống ngay lành kính sợ CHÚA, còn kẻ sống gian ác khinh dể Ngài.
PRO 14:3 Trong miệng kẻ ngu dại có cái roi quất vào lưng nó, nhưng lời lẽ của người khôn sẽ che chở người ấy.
PRO 14:4 Nơi nào không có trâu, kho chứa vắng thực phẩm. Nhưng có trâu cày ruộng thì ngũ cốc sinh sản nhiều.
PRO 14:5 Nhân chứng thành thật không khai gian, còn nhân chứng dối chỉ khai điều giả trá.
PRO 14:6 Kẻ tự phụ tìm sự khôn ngoan mà không thấy, nhưng người hiểu biết gặp tri thức dễ dàng.
PRO 14:7 Hãy tránh xa kẻ ngu dại, vì con chẳng học được gì nơi chúng đâu.
PRO 14:8 Sự khôn ngoan của người thông sáng giúp người biết phải làm gì, còn sự dốt nát của kẻ ngu dại phỉnh gạt nó.
PRO 14:9 Kẻ ngu dại chê bai của lễ chuộc lỗi, nhưng người liêm chính nhận được ân huệ.
PRO 14:10 Không ai biết được nỗi buồn trong lòng con, người dưng không chia xẻ được niềm vui của con.
PRO 14:11 Nhà cửa kẻ gian ác sẽ bị tiêu hủy, nhưng lều người lành sẽ vững bền.
PRO 14:12 Có kẻ tưởng mình làm phải, nhưng cuối cùng dẫn đến chỗ chết.
PRO 14:13 Có người bên ngoài vui cười mà trong lòng sầu thảm, Sau khi niềm vui ra đi thì nỗi buồn vẫn còn lại.
PRO 14:14 Kẻ phản nghịch trả giá cho điều ác mình, còn người nhân đức sẽ được ban thưởng về phong cách của mình.
PRO 14:15 Kẻ ngây ngô tin hết mọi điều, nhưng người khôn cân nhắc hành vi mình.
PRO 14:16 Người khôn khéo léo tránh lôi thôi, nhưng kẻ ngu dại quá tự tin và hành động cẩu thả.
PRO 14:17 Người nào nóng tính hành động dại dột, còn kẻ mưu mô bị ghét bỏ.
PRO 14:18 Kẻ ngu dại nhận được điều xuẩn ngốc của nó, nhưng người khôn ngoan nhận được tri thức làm mão triều.
PRO 14:19 Kẻ ác sẽ phải cúi đầu trước người nhân đức; Nó sẽ cúi đầu trước cổng nhà của người công chính.
PRO 14:20 Người nghèo khó thì dù cho đến láng giềng cũng ruồng bỏ, nhưng kẻ giàu sang có rất đông bạn hữu.
PRO 14:21 Ghét người láng giềng là phạm tội, nhưng tỏ lòng nhân từ đối với kẻ khốn cùng mang hạnh phúc.
PRO 14:22 Kẻ âm mưu điều ác sẽ bị lầm lạc, nhưng ai tính chuyện tốt lành sẽ được yêu thương và tin cậy.
PRO 14:23 Ai chịu khó sẽ kiếm được lợi, nhưng kẻ đa ngôn sẽ gặp túng quẫn.
PRO 14:24 Người khôn ngoan nhận được của cải làm phần thưởng, nhưng kẻ ngu dại chỉ lãnh lấy sự dại dột.
PRO 14:25 Nhân chứng thành thật cứu mạng người khác, nhưng nhân chứng giả dối là kẻ phản bội.
PRO 14:26 Ai kính sợ Chúa sẽ có lòng tự tin, con cái họ cũng được che chở.
PRO 14:27 Sự kính sợ Chúa là nguồn sống, giúp người ta tránh được cạm bẫy,
PRO 14:28 Dân số đông là niềm vinh dự cho vua, nhưng quan trưởng mà không có dân thì xem như chẳng có gì.
PRO 14:29 Người kiên nhẫn có thông sáng lớn, nhưng kẻ nóng tính phơi bày sự ngu dại mình.
PRO 14:30 Tinh thần trầm tĩnh khiến thân thể khoẻ mạnh, nhưng sự ganh ghét làm mục xương cốt.
PRO 14:31 Ai ngược đãi người nghèo là sỉ nhục Đấng Tạo Hóa mình, nhưng ai tử tế với người thiếu thốn tôn trọng Thượng Đế.
PRO 14:32 Kẻ ác bị tàn hại vì mưu mô mình, nhưng ai làm điều phải tìm được sự liêm chính làm nơi trú ẩn.
PRO 14:33 Sự khôn ngoan sống trong lòng người có trí hiểu biết, nhưng kẻ ngu dại chẳng hiểu biết khôn ngoan là gì.
PRO 14:34 Thực thi điều phải khiến quốc gia phồn thịnh, nhưng tội lỗi mang sỉ nhục cho bất cứ dân tộc nào.
PRO 14:35 Vua thích tôi tớ khôn ngoan, nhưng tôi tớ mang sỉ nhục khiến vua nổi giận.
PRO 15:1 Lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận, nhưng lời đáp cộc cằn khiến cơn giận phừng thêm lên.
PRO 15:2 Lời nói của người khôn làm cho sự hiểu biết được chấp nhận, nhưng kẻ ngu dại tuôn ra sự ngu xuẩn mình.
PRO 15:3 Mắt Chúa thấy hết mọi điều; Ngài trông chừng kẻ ác cùng người thiện.
PRO 15:4 Lời lành là cây ban sự sống, nhưng lời dối trá đè bẹp tâm linh,
PRO 15:5 Kẻ ngu dại gạt bỏ lời cha mẹ khuyên răn, nhưng ai chịu nhận sửa dạy là người khôn.
PRO 15:6 Trong nhà người công chính có nhiều của cải, còn kẻ ác chẳng nhận được gì ngoài chuyện lôi thôi.
PRO 15:7 Người khôn dùng lời nói mình rao truyền tri thức, nhưng đầu óc của kẻ ngu dại không thể tin cậy được.
PRO 15:8 Chúa ghét của lễ của kẻ ác dâng lên, nhưng Ngài ưa thích lời cầu khẩn của người ngay thật.
PRO 15:9 Chúa ghét hành vi kẻ ác, nhưng Ngài thích kẻ theo đuổi sự chính trực.
PRO 15:10 Kẻ từ bỏ điều phải sẽ bị trừng phạt nặng nề, Vì kẻ ghét sửa dạy sẽ bị tiêu diệt.
PRO 15:11 CHÚA biết thế giới của kẻ chết, Ngài cũng rõ tư tưởng của kẻ sống.
PRO 15:12 Kẻ kiêu căng không thích được sửa dạy; và chẳng thèm hỏi ý người khôn.
PRO 15:13 Hạnh phúc khiến mặt mũi tươi vui, nhưng buồn rầu khiến tinh thần lụn bại.
PRO 15:14 Người hiểu biết muốn thêm tri thức, còn kẻ ngu dại chỉ thích điều dốt nát.
PRO 15:15 Kẻ khốn khó chịu vất vả mỗi ngày, nhưng lòng vui mừng giống như tiệc tùng không dứt.
PRO 15:16 Thà nghèo khổ mà kính sợ Chúa, hơn là giàu có mà gặp lôi thôi.
PRO 15:17 Thà ăn rau cùng với người yêu thích mình, còn hơn ăn thịt ngon với kẻ ghét mình.
PRO 15:18 Người nóng tính gây chuyện cãi cọ, nhưng ai trầm tĩnh ngăn được cuộc cãi vã.
PRO 15:19 Lối đi của kẻ lười biếng bị gai gốc ngăn chận, còn lối đi của người công chính như đường lộ bằng phẳng.
PRO 15:20 Con khôn ngoan làm cho cha vui, nhưng con dại dột khinh rẻ mẹ mình.
PRO 15:21 Kẻ thiếu hiểu biết thích chuyện ngu dại, nhưng người khôn ngoan làm điều ngay thẳng.
PRO 15:22 Chương trình bị thất bại vì thiếu ý kiến, nhưng kế hoạch thành tựu do sự góp ý của nhiều người.
PRO 15:23 Biết cách đối đáp khiến cho con người vui thích. Lời đáp đúng lúc thật tuyệt diệu.
PRO 15:24 Lối đi của người khôn dẫn đến sự sống, để họ tránh được âm phủ.
PRO 15:25 Chúa phá sập nhà kẻ tự phụ, nhưng Ngài bảo vệ tài sản của người góa bụa.
PRO 15:26 Chúa gớm ghét các tư tưởng bậy bạ, nhưng ưa thích lời nói nhân hậu.
PRO 15:27 Kẻ tham lam mang họa cho gia đình, nhưng người ghét của hối lộ sẽ được sống.
PRO 15:28 Người nhân đức suy nghĩ trước khi trả lời, còn miệng kẻ ác tuôn ra điều ác.
PRO 15:29 Chúa tránh xa kẻ ác, nhưng Ngài nghe lời khẩn nguyện của người ngay thẳng.
PRO 15:30 Nụ cười khiến người khác vui mừng. Tin vui làm cho thân thể thêm sức lực.
PRO 15:31 Nếu con nghe lời sửa dạy bổ ích, thì con sẽ sống giữa vòng người khôn ngoan.
PRO 15:32 Ai gạt bỏ sự sửa dạy ghét bản thân mình, nhưng ai nghe lời khuyên răn tiếp nhận sự hiểu biết.
PRO 15:33 Kính sợ Chúa khiến con khôn ngoan. Đức khiêm nhường đi trước sự tôn trọng.
PRO 16:1 Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.
PRO 16:2 Các đường lối loài người đều trong sạch theo mắt họ, nhưng Chúa nhìn thấy động lực trong lòng.
PRO 16:3 Hãy nhờ cậy Chúa trong mọi điều con làm, thì các kế hoạch con sẽ thành công.
PRO 16:4 Mọi việc CHÚA làm ra đều có mục đích. Ngài cũng đã dành kẻ ác cho ngày tai họa.
PRO 16:5 Chúa ghét kẻ kiêu căng. Trước sau chúng cũng bị phạt.
PRO 16:6 Tình yêu và lòng trung thành gỡ được tội lỗi. Kính sợ Chúa tức tránh khỏi điều ác.
PRO 16:7 Đời sống ai đẹp lòng Chúa, thì cho đến kẻ thù cũng sống hoà bình với người ấy.
PRO 16:8 Thà nghèo khó mà thanh liêm, còn hơn giàu có mà bất lương.
PRO 16:9 Con người hoạch định đường lối mình, nhưng Chúa chỉ dẫn các bước của người.
PRO 16:10 Những quyết định khôn ngoan do vua mà đến, cho nên các phán quyết của vua đều công bằng.
PRO 16:11 Chúa muốn cái cân đúng; trái cân là công việc Ngài.
PRO 16:12 Vua ghét những kẻ làm quấy, quyền cai trị của vua được thiết lập do sự công chính.
PRO 16:13 Vua thích lời nói chân chính; và chuộng kẻ nói chân thật.
PRO 16:14 Cơn giận của vua có thể khiến người dân mất mạng, nhưng người khôn có thể làm vua nguôi giận.
PRO 16:15 Nụ cười của vua là nguồn sống; sự nhân từ của vua rải xuống như mưa xuân.
PRO 16:16 Thà được khôn ngoan hơn vàng vòng, thà chuộng hiểu biết hơn bạc quí!
PRO 16:17 Đường người công chính giúp họ tránh điều ác. Nhờ trông chừng các bước mình mạng sống họ được bảo toàn.
PRO 16:18 Sự kiêu căng đi trước sự bại hoại; thái độ tự phụ dẫn đến thất bại.
PRO 16:19 Thà khiêm nhường mà sống với người nghèo khổ, còn hơn chia của cắp với kẻ kiêu căng.
PRO 16:20 Ai nghe điều khuyên dạy sẽ thành công, ai tin cậy Chúa sẽ vui mừng.
PRO 16:21 Người khôn được kẻ khác nhận ra. Lời lẽ đắn đo của họ giúp thuyết phục kẻ khác.
PRO 16:22 Sự hiểu biết là nguồn sống cho ai uống nó, nhưng sự ngu xuẩn mang trừng phạt đến cho kẻ dại dột.
PRO 16:23 Đầu óc người khôn dạy họ biết cách ăn nói, và giúp họ dạy dỗ kẻ khác.
PRO 16:24 Lời nói khôn khéo dịu ngọt cho lưỡi, và là sức khoẻ cho thân thể.
PRO 16:25 Có người tưởng mình làm điều phải, nhưng cuối cùng lại dẫn đến nẻo chết.
PRO 16:26 Bụng đói khiến người ta ra sức làm việc, bao tử trống giục người ta cố gắng.
PRO 16:27 Kẻ ác âm mưu ác, lời nói của nó như lửa đốt.
PRO 16:28 Kẻ lươn lẹo gây tranh chấp, cố phá tan tình bằng hữu.
PRO 16:29 Kẻ hung ác lường gạt người láng giềng, và xúi giục họ làm bậy.
PRO 16:30 Kẻ nháy mắt làm hiệu âm mưu điều lường gạt, Kẻ bĩu môi manh tâm điều ác.
PRO 16:31 Tóc bạc là vinh dự, đạt được do nếp sống công chính.
PRO 16:32 Lòng kiên nhẫn tốt hơn sức mạnh. Biết tự chế tốt hơn chiếm được thành trì.
PRO 16:33 Người ta bắt thăm để quyết định, nhưng kết quả do Chúa mà đến.
PRO 17:1 Thà ăn bánh mì khô mà hoà thuận, còn hơn nhà đầy thức ăn mà cãi vã.
PRO 17:2 Đầy tớ khôn ngoan sẽ quản trị con trai gây sỉ nhục, và thừa hưởng một phần gia tài chủ để lại cho con cái.
PRO 17:3 Lò luyện bạc và nồi thử vàng, còn Chúa thử lòng.
PRO 17:4 Kẻ ác hay nghe ý kiến ác độc. Kẻ nói dối để tâm đến lời cay cú.
PRO 17:5 Ai ngược đãi người nghèo sỉ nhục Đấng Tạo Hóa mình, ai hớn hở trên sự đau khổ người khác sẽ bị phạt.
PRO 17:6 Con cháu là niềm kiêu hãnh của người già, và cha mẹ là niềm kiêu hãnh của con cái.
PRO 17:7 Lời tao nhã không thích hợp cho kẻ dại, Lời nói dối càng không phù hợp với người cai trị.
PRO 17:8 Kẻ hối lộ tin vào may mắn. Hắn cho rằng làm gì cũng thành công.
PRO 17:9 Ai tha thứ lỗi lầm kẻ khác tìm thêm bạn hữu, nhưng nhắc mãi lỗi cũ khiến bạn bè xa lánh.
PRO 17:10 Người khôn học được nhiều qua lời trách móc, còn kẻ ngu dại có đánh trăm roi cũng như không.
PRO 17:11 Kẻ ác tìm điều dấy loạn, cho nên sứ giả hung bạo sẽ được sai đi trị chúng.
PRO 17:12 Thà gặp gấu cái mất con, hơn gặp kẻ ngu dại làm chuyện ngu xuẩn.
PRO 17:13 Ai lấy ác báo thiện, sẽ luôn luôn gặp khó khăn trong gia đình.
PRO 17:14 Gây cãi vã chẳng khác nào chỗ nứt trong đập nước, cho nên hãy ngăn chận nó trước khi nó nổ bùng.
PRO 17:15 Chúa rất ghét hai điều sau: phóng thích kẻ có tội và trừng phạt người vô tội.
PRO 17:16 Kẻ dại dù có mua khôn ngoan cũng vô ích, vì nó không ước muốn học hỏi.
PRO 17:17 Bạn bè thương nhau mọi lúc, còn anh em sinh ra để giúp nhau trong cảnh khốn khó.
PRO 17:18 Ai dại dột mới bảo lãnh cho láng giềng.
PRO 17:19 Ai ưa tranh biện thích phạm tội. Ai hay khoác lác rước lấy lôi thôi vào mình.
PRO 17:20 Kẻ có lòng gian ác chẳng thể thành công, kẻ ăn nói phỉnh gạt sẽ gặp lôi thôi.
PRO 17:21 Sinh con dại dột thật đáng buồn; làm cha mẹ của đứa ngu dại chẳng vui sướng gì.
PRO 17:22 Lòng vui mừng là phương thuốc hay, còn tinh thần chán nản làm suy yếu sức khoẻ.
PRO 17:23 Khi kẻ ác nhận của hối lộ, thì công lý cất cánh bay đi.
PRO 17:24 Người thông hiểu luôn tìm sự khôn ngoan, nhưng mắt kẻ ngu dại nhìn mông lung.
PRO 17:25 Con ngu dại gây buồn bực cho cha, là niềm sầu khổ của mẹ.
PRO 17:26 Trừng phạt người vô tội là sai, đánh đập người lãnh đạo lương thiện là quấy.
PRO 17:27 Người khôn ngoan dè dặt trong lời nói, kẻ biết điều mình làm tỏ ra bình thản.
PRO 17:28 Khi im lặng thì kẻ ngu cũng được xem là khôn, nếu làm thinh thì kẻ dại cũng được xem như thông sáng.
PRO 18:1 Những kẻ thiếu thân thiện tỏ ra ích kỷ, và cãi vã với sự khôn ngoan thật.
PRO 18:2 Kẻ dại không muốn hiểu biết gì. Chúng chỉ muốn nói điều mình nghĩ.
PRO 18:3 Khi điều ác đến, thì sự khinh rẻ cũng xuất hiện. Khi sỉ nhục đến thì lời chửi bới cũng sẽ đến.
PRO 18:4 Lời nói có thể như nước sâu, nhưng sự khôn ngoan như dòng suối chảy.
PRO 18:5 Không nên thiên vị kẻ ác, hay xử bất công với người vô tội.
PRO 18:6 Lời nói kẻ ngu dại đưa đến cãi vã. Lối ăn nói của chúng khiến người ta muốn đánh chúng.
PRO 18:7 Ngôn ngữ của kẻ dại sẽ hại nó; lời nói của nó là cái bẫy cho nó.
PRO 18:8 Lời nói của kẻ bép xép như món ăn ngon, đi sâu vào ruột gan người nghe.
PRO 18:9 Kẻ biếng nhác trong công việc, là anh em với kẻ phá hoại.
PRO 18:10 Danh của Chúa như cái tháp vững chắc; ai làm điều phải chạy đến đó trú ẩn an toàn.
PRO 18:11 Kẻ giàu trông cậy vào của cải, tin rằng của cải là thành có vách cao vững chãi.
PRO 18:12 Sự kiêu căng đi trước sự tàn hại, sự khiêm nhường đi trước sự tôn trọng.
PRO 18:13 Trả lời trước khi nghe, là ngu dại và sỉ nhục.
PRO 18:14 Tinh thần của con người có thể khiến họ chịu đựng bệnh tật, nhưng nếu mất tinh thần thì mọi việc đều bó tay.
PRO 18:15 Trí óc người hiểu biết thu nhận tri thức; người khôn lắng nghe để học thêm kiến thức.
PRO 18:16 Quà cáp mở cửa cho người biếu xén, và giúp người ấy gặp kẻ có quyền.
PRO 18:17 Người đầu tiên trình bày lý lẽ có vẻ hợp lý, cho đến khi bị chất vấn.
PRO 18:18 Bắt thăm giải quyết được cuộc tranh luận giữa hai người mạnh bạo.
PRO 18:19 Anh em bị tổn thương khó được lòng lại hơn thành có vách kiên cố, còn tranh luận phân rẽ anh em như then cài cổng lâu đài.
PRO 18:20 Nhờ lời nói mà được hưởng phúc; cũng nhờ môi miệng mà được khen ngợi.
PRO 18:21 Sống chết đều do lời nói mà ra. Ăn nói thận trọng sẽ được khen thưởng.
PRO 18:22 Ai kiếm được vợ tức tìm được hạnh phúc, và nhận được phúc lành từ Chúa.
PRO 18:23 Kẻ nghèo van xin nhưng người giàu đáp xẳng xớm.
PRO 18:24 Người có nhiều bạn đôi khi bị hại, nhưng có một người bạn còn thân thiết hơn anh em ruột.
PRO 19:1 Thà nghèo mà sống lương thiện, còn hơn ngu dại mà ăn nói quanh co.
PRO 19:2 Ao ước mà thiếu hiểu biết không ích lợi gì. Nếu con hành động hấp tấp con sẽ sai lầm.
PRO 19:3 Người nào ngu dại sẽ làm hại đời mình, nhưng trong lòng người lại oán trách Chúa.
PRO 19:4 Giàu có tăng thêm bạn, còn nghèo khó bị bạn bè xa lánh.
PRO 19:5 Làm chứng gian thế nào cũng bị phạt; còn kẻ nói dối sẽ không thoát khỏi tội.
PRO 19:6 Nhiều người muốn lấy lòng người rộng rãi, ai cũng thích kết thân với kẻ hay biếu xén.
PRO 19:7 Kẻ nghèo bị thân nhân ghét bỏ; đến nỗi bạn bè cũng xa lánh. Họ chạy theo van xin bạn hữu, nhưng ai cũng tránh xa.
PRO 19:8 Ai hiểu biết yêu linh hồn mình, Ai giữ gìn tri thức sẽ thành công.
PRO 19:9 Làm chứng gian thế nào cũng bị phạt, kẻ nói dối sẽ bị diệt.
PRO 19:10 Kẻ dại dột không nên sống xa xỉ, Còn kẻ nô lệ không nên cai trị quan trưởng.
PRO 19:11 Người hiểu biết thường chậm nóng giận; Họ lấy làm vinh dự mà bỏ qua sự tổn thương.
PRO 19:12 Cơn thịnh nộ của vua giống như sư tử gầm thét, còn lòng nhân từ của vua giống như giọt sương mai đọng trên cỏ.
PRO 19:13 Con trai ngu dại làm hại cho cha mình, còn người vợ hay gây gổ giống như nhà dột.
PRO 19:14 Con cái thừa hưởng gia sản từ cha mẹ, nhưng người vợ khôn ngoan do Chúa ban cho.
PRO 19:15 Sự lười biếng khiến người ta thích ngủ, còn kẻ biếng nhác sẽ đói khổ.
PRO 19:16 Kẻ vâng theo luật lệ tự bảo vệ mình, nhưng ai cẩu thả sẽ phải thiệt mạng.
PRO 19:17 Ai nhân từ đối với kẻ nghèo là cho Chúa vay mượn; Ngài sẽ đền đáp tương xứng với điều con đã làm.
PRO 19:18 Hãy sửa dạy con cái trong khi còn có hi vọng; đừng để chúng tự hại mình.
PRO 19:19 Ai nóng tính sẽ phải trả giá đắt. Nếu con giúp hắn con sẽ phải giúp mãi.
PRO 19:20 Hãy nghe lời khuyên và chấp nhận sự sửa dạy, về sau con sẽ khôn ngoan.
PRO 19:21 Con người có nhiều dự tính, nhưng chỉ có chương trình của Chúa là thành tựu mà thôi.
PRO 19:22 Ai cũng thích người trung thành, cho nên thà nghèo còn hơn nói dối.
PRO 19:23 Ai kính sợ Chúa sẽ dẫn đến sự sống, Người sẽ mãn nguyện không tổn hại gì.
PRO 19:24 Kẻ lười biếng thò thay vào dĩa, nhưng không buồn đưa thức ăn vào miệng.
PRO 19:25 Hãy trừng phạt kẻ khinh dể sự khôn ngoan, thì kẻ ngờ nghệch sẽ hiểu biết. Hãy sửa dạy người hiểu biết, thì họ sẽ thêm tri thức.
PRO 19:26 Đứa con hung dữ với cha và xua đuổi mẹ mình, là đứa con sỉ nhục.
PRO 19:27 Con ơi, nếu con thôi nghe lời răn dạy, thì con sẽ rời xa sự hiểu biết.
PRO 19:28 Chứng gian xem thường công lý, còn miệng kẻ ác chỉ thích ngốn ngấu điều gian tà.
PRO 19:29 Kẻ kiêu căng sẽ lãnh trừng phạt, còn lưng của kẻ ngu dại sẽ bị đánh đập.
PRO 20:1 Rượu và bia khiến người ta ăn nói bừa bãi và xấc láo, Kẻ say sưa thiếu khôn ngoan.
PRO 20:2 Cơn giận của vua như sư tử gầm thét. Chọc giận vua là mất mạng.
PRO 20:3 Kẻ ngu dại luôn luôn tranh cãi, còn ai tránh được đôi co mang lại vinh dự cho mình.
PRO 20:4 Nông gia biếng nhác không chịu cày bừa đúng lúc; đến mùa họ mong gặt hoa lợi mà chẳng thấy gì.
PRO 20:5 Tư tưởng con người ta như giếng sâu, nhưng ai khôn ngoan sẽ hiểu được các tư tưởng ấy.
PRO 20:6 Nhiều người tự cho mình trung thành, nhưng kiếm được người đáng tin cậy không phải dễ.
PRO 20:7 Người công chính sống đời ngay thẳng, là nguồn phước cho con cái.
PRO 20:8 Khi ngồi trên ngôi phân xử, vua phải thận trọng phân biệt điều lành và điều ác.
PRO 20:9 Ai dám nói, “Tôi vô tội; Tôi không hề làm điều gì quấy”?
PRO 20:10 CHÚA ghét hai điều sau: trái cân giả và lít giả.
PRO 20:11 Nhìn hành động trẻ con cũng biết tính tình nó ra sao; xem tác phong nó cũng biết nó làm điều phải hay quấy.
PRO 20:12 CHÚA tạo dựng nên hai thứ sau: tai để nghe, mắt để thấy.
PRO 20:13 Kẻ hay ngủ sẽ nghèo khó. Nếu muốn có đầy đủ lương thực phải thức.
PRO 20:14 Người mua chê, “Món nầy xấu.” Rồi bước khỏi đó khoe món hàng mình đã mua được.
PRO 20:15 Vàng và châu ngọc dễ kiếm, nhưng lưỡi nói ra sự hiểu biết là châu ngọc quí giá.
PRO 20:16 Hãy giữ lấy áo của kẻ bảo lãnh cho người lạ, giữ nó làm của tin cho đến khi người trả xong nợ.
PRO 20:17 Thức ăn đánh cắp có vẻ ngon, nhưng về sau giống như miệng ngậm sỏi.
PRO 20:18 Các kế hoạch nhờ ý kiến hay sẽ thành công. Trước khi ra trận hãy góp nhặt nhiều ý kiến.
PRO 20:19 Kẻ bép xép không thể giữ được điều bí mật, cho nên hãy tránh xa kẻ nói nhiều.
PRO 20:20 Kẻ chưởi rủa cha mẹ mình, giống như đèn bị tắt trong đêm tối mịt.
PRO 20:21 Tài sản kiếm được vội vàng lúc đầu chẳng có bền lâu.
PRO 20:22 Đừng nói, “Tôi sẽ lấy ác trả ác.” Hãy chờ đợi CHÚA, Ngài sẽ cứu ngươi.
PRO 20:23 CHÚA ghét trái cân giả, và cái cân gian.
PRO 20:24 Các bước con người đều do CHÚA định; Ai biết được đường lối mình sẽ ra sao?
PRO 20:25 Đừng vội hứa nguyện gì với Thượng Đế, vì con có thể hối hận về sau.
PRO 20:26 Vua khôn ngoan thanh lọc kẻ ác, và trừng phạt chúng.
PRO 20:27 Thần linh của con người là ngọn đèn của CHÚA. Ngài dùng nó để dò xét tư tưởng họ.
PRO 20:28 Sự trung kiên và thành tín giúp vua bảo vệ ngôi báu; vua ngự trị nhờ lòng trung kiên.
PRO 20:29 Sức lực là niềm kiêu hãnh của thanh niên, còn tóc bạc là điều hãnh diện của người già.
PRO 20:30 Hình phạt nặng sẽ trừ khử được điều ác, còn roi vọt luyện sạch cõi lòng.
PRO 21:1 Ý nghĩ của vua như nước suối do CHÚA điều khiển, Ngài muốn hướng dẫn thế nào theo ý Ngài.
PRO 21:2 Điều con người làm cho là phải, nhưng CHÚA xem xét động lực trong lòng người ấy.
PRO 21:3 Làm điều công bằng hợp lý, CHÚA sẽ hài lòng hơn dâng của lễ.
PRO 21:4 Cái nhìn kiêu căng, tư tưởng tự phụ và hành động gian ác đều là tội lỗi.
PRO 21:5 Dự định của người chịu khó mang lợi ích, còn kẻ hành động hấp tấp sẽ trở nên nghèo khó.
PRO 21:6 Của cải có được nhờ gian manh là một cái bẫy giết người, nó sẽ biến mất như sương mù tiêu tan theo mây khói.
PRO 21:7 Sự hung bạo của kẻ ác sẽ lôi chúng đi, vì chúng không làm điều phải.
PRO 21:8 Những kẻ có tội sống đời bất lương, còn người thanh liêm làm điều phải.
PRO 21:9 Thà sống một góc trên mái nhà hơn sống trong nhà chung với người vợ hay gây gổ.
PRO 21:10 Kẻ ác âm mưu ác. Nó chẳng ngó ngàng gì đến người láng giềng.
PRO 21:11 Nếu con trừng phạt kẻ xấc láo, thì kẻ khờ dại sẽ trở nên khôn. Nếu con dạy người khôn thì họ sẽ thêm hiểu biết.
PRO 21:12 Thượng Đế công bình luôn canh chừng nhà kẻ ác, Ngài sẽ khiến chúng nó bị tàn hại.
PRO 21:13 Ai bịt tai không nghe lời kêu xin của người nghèo, cũng sẽ kêu xin mà không ai ngó ngàng đến.
PRO 21:14 Của hối lộ làm nguôi cơn giận; của đút lót làm mất cơn thịnh nộ.
PRO 21:15 Khi công lý được thực thi, thì người công chính sẽ vui mừng, nhưng công lý sẽ làm kẻ ác hoảng sợ.
PRO 21:16 Ai không thận trọng sẽ cùng chung số phận với kẻ chết.
PRO 21:17 Ai ham vui sẽ trở nên nghèo khó; ai thích rượu và dầu sẽ không giàu nổi.
PRO 21:18 Đôi khi kẻ ác trở thành của chuộc cho người công chính, kẻ phản bội sẽ làm vật cầm thế cho người thanh liêm.
PRO 21:19 Thà ở một mình trong sa mạc, hơn ở chung với người vợ hay gây gổ, phàn nàn.
PRO 21:20 Nhà người khôn đầy thức ăn ngon và dầu ô liu, nhưng kẻ dại tiêu tán của cải mình.
PRO 21:21 Ai theo đuổi sự ngay thật và nhân từ sẽ tìm được sự sống, thành công và vinh dự.
PRO 21:22 Người khôn có thể chiến thắng một thành trì đầy chiến sĩ và phá sập chiến lũy mà chúng trông cậy.
PRO 21:23 Ai thận trọng trong lời nói sẽ tránh gặp lôi thôi.
PRO 21:24 Những kẻ kiêu căng được gọi là kẻ “xấc láo.” Nó hành động tự phụ.
PRO 21:25 Sự ham muốn của kẻ biếng nhác sẽ giết nó, vì nó không chịu làm việc.
PRO 21:26 Mỗi ngày nó thèm muốn đủ thứ, nhưng người công chính phân phát rộng rãi.
PRO 21:27 CHÚA gớm ghiếc của lễ kẻ ác mang đến, nhất là khi chúng dâng của lễ với ý xấu.
PRO 21:28 Chứng gian sẽ bị phơi bày và bị trừng phạt, nhưng chứng nhân thành thật sẽ được nghe.
PRO 21:29 Kẻ ác phải giả bộ, còn người chân chính đắn đo lời nói mình.
PRO 21:30 Không có sự khôn ngoan, hiểu biết hoặc ý kiến hay nào mà chống nghịch CHÚA được.
PRO 21:31 Ngựa chuẩn bị cho chiến trận, nhưng sự chiến thắng do CHÚA mà đến.
PRO 22:1 Danh tiếng tốt quí hơn tiền của. Uy tín quí hơn vàng bạc.
PRO 22:2 Kẻ giàu và người nghèo đều giống nhau ở chỗ nầy: CHÚA dựng nên cả hai.
PRO 22:3 Người khôn thấy trước nguy hiểm và tránh né, kẻ khờ dại cứ đâm đầu vào rồi gặp rắc rối.
PRO 22:4 Nếu con tôn kính CHÚA và khiêm tốn, con sẽ được giàu có, vinh dự và sống lâu.
PRO 22:5 Đời kẻ ác giống như lối đi đầy chông gai và bẫy dò. Nhưng người thận trọng giữ mạng sống mình và tránh những lối đi ấy.
PRO 22:6 Hãy dạy dỗ con cái biết cách sống, để khi về già nó cũng không lạc lối.
PRO 22:7 Kẻ giàu quản trị người nghèo, ai mắc nợ là tôi tớ của chủ nợ.
PRO 22:8 Kẻ gieo điều ác sẽ gặp thảm họa. Sự kiêu căng giận dữ của chúng sẽ không kéo dài.
PRO 22:9 Người rộng rãi sẽ được phước, vì họ biết san sẻ thức ăn với người nghèo khó.
PRO 22:10 Hãy đuổi kẻ xấc láo đi, thì những cuộc tranh biện sẽ ngưng, và những cuộc cãi vã sẽ chấm dứt.
PRO 22:11 Ai ham thích tư tưởng trong sạch và lời nói thanh nhã sẽ được làm bạn với vua.
PRO 22:12 CHÚA canh giữ sự hiểu biết, nhưng Ngài phá hỏng âm mưu của kẻ vô tín.
PRO 22:13 Kẻ biếng nhác bảo, “Có con sư tử ngoài kia! Tôi có thể bị nó xé xác ngoài phố!”
PRO 22:14 Lời dụ dỗ của người vợ bất chính như bẫy sâu. Những kẻ chọc giận CHÚA sẽ rơi vào đó.
PRO 22:15 Trẻ con nào cũng dại dột, nhưng nhờ sửa phạt mà chúng sẽ trở nên khôn ngoan.
PRO 22:16 Ai làm giàu do ngược đãi người nghèo, hay do hối lộ kẻ giàu sẽ trở nên nghèo khó.
PRO 22:17 Hãy nghe thật kỹ lời người khôn nói; hãy để ý lời ta dạy con.
PRO 22:18 Nên ghi tạc những lời nầy trong trí con để lúc nào con cũng sẵn sàng dùng đến.
PRO 22:19 Nay ta dạy con những điều ấy để con đặt lòng tin cậy nơi CHÚA.
PRO 22:20 Ta đã viết ba mươi câu châm ngôn và hiểu biết nầy cho con.
PRO 22:21 Ta dạy con những lời chân thật và đáng tin để con có thể trả lời chân thật cho những ai hỏi con.
PRO 22:22 Đừng thấy kẻ nghèo mà hiếp đáp họ, chớ nên lợi dụng họ nơi tòa án.
PRO 22:23 CHÚA sẽ bênh vực họ. Ngài nâng đỡ người nghèo khổ. Ngài sẽ tước đoạt những kẻ nào tước đoạt họ.
PRO 22:24 Chớ nên làm bạn với người nóng tính, hay kết thân với kẻ dễ nổi giận.
PRO 22:25 Nếu không con cũng sẽ giống chúng. Rồi con sẽ mắc bẫy.
PRO 22:26 Chớ nên bảo lãnh cho ai, hay bảo đảm nợ của kẻ khác.
PRO 22:27 Vì nếu con không trả nổi, thì cho đến cái giường con nằm cũng bị lấy đi.
PRO 22:28 Chớ dời lằn ranh cũ, vì đó là ranh do tổ tiên con dựng lên.
PRO 22:29 Con có thấy người khéo tay trong việc mình làm không? Họ sẽ làm việc cho vua chứ không phải cho người thường đâu.
PRO 23:1 Nếu con ngồi ăn với người có chức tước, hãy để ý thức ăn dọn ra trước mặt con.
PRO 23:2 Hãy biết tự chế, nếu con có tính háu ăn.
PRO 23:3 Đừng thèm muốn cao lương mỹ vị của họ, vì thức ăn ấy có thể chỉ là bẫy sập thôi.
PRO 23:4 Đừng vất vả làm giàu; phải biết khôn ngoan và tiết độ.
PRO 23:5 Của cải có thể tan biến trong nháy mắt, Chúng chắc chắn sẽ mọc cánh và bay mất như chim ưng.
PRO 23:6 Đừng ăn thức ăn của kẻ ích kỷ; đừng tham muốn thức ăn ngon của chúng.
PRO 23:7 Kẻ ích kỷ lúc nào cũng lo lắng về phí tổn thức ăn. Chúng mời mọc, “Mời anh ăn và uống,” nhưng trong lòng thì không muốn.
PRO 23:8 Con sẽ phải mửa ra miếng thực phẩm con đã nuốt vào, con sẽ phí lời nói nhân hậu.
PRO 23:9 Đừng uổng lời với kẻ ngu dại, nó sẽ khinh dể lời khôn ngoan của con.
PRO 23:10 Chớ nên dời ranh giới cũ của con, cũng đừng chiếm ruộng đất của kẻ mồ côi.
PRO 23:11 Thượng Đế, Đấng bênh vực họ rất mạnh; Ngài sẽ đứng về phía họ mà nghịch lại con.
PRO 23:12 Hãy để ý nghe lời dạy bảo, hãy nghe cho kỹ lời thông sáng.
PRO 23:13 Đừng ngần ngại trong việc sửa dạy trẻ con. Dù trừng phạt bằng roi nó chẳng chết đâu.
PRO 23:14 Khi trị nó bằng roi vọt là con cứu nó khỏi chết.
PRO 23:15 Con ơi, nếu con khôn ngoan, cha sẽ rất vui mừng.
PRO 23:16 Tâm hồn cha sẽ mãn nguyện, nếu con ăn nói phải cách.
PRO 23:17 Đừng ganh tị với kẻ có tội, nhưng hãy luôn luôn kính sợ CHÚA.
PRO 23:18 Con sẽ có hi vọng trong tương lai, và ước vọng con sẽ thành đạt.
PRO 23:19 Con ơi, hãy lắng nghe và học khôn. Hãy chuyên chú điều phải.
PRO 23:20 Đừng giao du với kẻ chè chén say sưa.
PRO 23:21 Những kẻ ăn uống quá độ sẽ trở nên nghèo túng. Kẻ ngủ li bì sẽ trở nên rách rưới.
PRO 23:22 Hãy nghe lời cha là người sinh ra con, đừng khinh rẻ mẹ con khi người trở nên già yếu.
PRO 23:23 Hãy mua sự thật, đừng bán nó. Hãy học khôn, tiết độ và hiểu biết.
PRO 23:24 Cha của đứa nhân đức sẽ vui mừng; Con khôn là nguồn vui cho cha.
PRO 23:25 Hãy làm cho cha mẹ con vui mừng; hãy làm cho người mẹ sinh ra con được hớn hở.
PRO 23:26 Con ơi, hãy hết lòng nghe lời cha, hãy quan sát đường lối của cha.
PRO 23:27 Gái điếm nguy hiểm như hố sâu, còn người vợ bất chính giống như giếng hẹp.
PRO 23:28 Cô ta rình rập con như bọn cướp, khiến đàn ông bất chính với vợ mình.
PRO 23:29 Ai gặp lôi thôi? Ai bị đau khổ? Ai đánh nhau? Ai hay phàn nàn? Ai bị thương tích vô cớ? Ai có đôi mắt đỏ ngầu?
PRO 23:30 Đó là những kẻ khề khà bên rượu, những kẻ nếm các thứ rượu pha.
PRO 23:31 Đừng ngắm nhìn ly rượu khi nó đỏ, lúc nó lóng lánh trong ly, và rót chảy dễ dàng.
PRO 23:32 Nhưng về sau nó cắn như rắn tiêm nọc độc.
PRO 23:33 Mắt con sẽ hoa lên, trí con sẽ bấn loạn.
PRO 23:34 Con sẽ thấy choáng váng như bị say sóng trên tàu, như thể nằm trên cột buồm.
PRO 23:35 Con thầm nghĩ, “Họ đánh nhưng tôi không biết đau. Họ đập tôi nhưng tôi chẳng nhớ gì. Khi tôi tỉnh dậy tôi sẽ tiếp tục uống rượu nữa.”
PRO 24:1 Đừng ganh tị với kẻ ác, cũng đừng mong ước kết bạn với chúng.
PRO 24:2 Đầu óc chúng chỉ âm mưu hung bạo, và lúc nào cũng nói đến chuyện gây rối.
PRO 24:3 Muốn dựng gia đình tốt phải có khôn ngoan, muốn tạo gia đình mạnh phải có hiểu biết.
PRO 24:4 Có hiểu biết phòng ốc mới đầy đủ, và chứa những châu báu và của cải quí giá.
PRO 24:5 Người khôn ngoan hơn kẻ có sức mạnh, ai hiểu biết mạnh hơn kẻ có sức.
PRO 24:6 Khi ra trận phải có chiến thuật hay. Muốn chiến thắng phải có nhiều cố vấn giỏi.
PRO 24:7 Kẻ dại không hiểu nổi sự khôn ngoan. Khi họp nơi công cộng chúng chẳng biết nói gì.
PRO 24:8 Kẻ âm mưu điều ác sẽ bị gọi là kẻ quấy rối.
PRO 24:9 Âm mưu ngu xuẩn là phạm tội, người ta ghét kẻ xấc láo.
PRO 24:10 Nếu con tỏ ra yếu hèn khi gặp khó khăn, chứng tỏ sức con quá kém.
PRO 24:11 Đừng ngần ngại giải cứu những kẻ sắp bị đưa đến chỗ chết; giải thoát những kẻ sắp bị giết.
PRO 24:12 Nếu con nói, “Chúng ta chẳng hay biết gì về việc nầy cả,” thì Thượng Đế, Đấng thấu rõ tâm tư con sẽ thấy. Đấng đang trông chừng con sẽ biết. Ngài sẽ đền đáp cho mỗi người theo điều họ làm.
PRO 24:13 Con ơi, hãy ăn mật ong vì nó ngon. Mật ong từ tổ ong thật ngon ngọt.
PRO 24:14 Cũng vậy, sự khôn ngoan rất ngọt ngào cho đời con. Nếu con tìm được sự khôn ngoan, con sẽ có hi vọng trong tương lai, ước vọng con sẽ không bị cắt đứt.
PRO 24:15 Đừng làm như kẻ gian ác rình rập nhà người công chính; đặng cướp phá nơi ở họ.
PRO 24:16 Dù người công chính gặp khó khăn bảy lần, họ sẽ không quỵ ngã, nhưng kẻ ác sẽ bị sụp đổ vĩnh viễn vì một tai ương.
PRO 24:17 Chớ vui mừng khi kẻ thù con bị gục ngã; đừng hớn hở khi nó gặp lôi thôi.
PRO 24:18 CHÚA sẽ thấy điều đó và không hài lòng. Ngài sẽ không còn nổi giận cùng nó nữa.
PRO 24:19 Đừng ganh tị với kẻ ác, đừng đố kỵ với kẻ gian tà.
PRO 24:20 Kẻ ác chẳng có gì mà trông mong; chúng sẽ bị diệt đi như đèn tắt.
PRO 24:21 Con ơi, hãy kính trọng CHÚA và vua. Đừng nhập bọn với kẻ không vâng phục vua và CHÚA.
PRO 24:22 CHÚA và vua sẽ mau chóng tiêu diệt bọn đó. Hai vị đó có thể gây đại họa cho chúng.
PRO 24:23 Sau đây là lời lẽ của người khôn: Khi ngồi phân xử không nên thiên vị bên nào.
PRO 24:24 Đừng xử kẻ ác mà cho rằng chúng vô tội; vì dân chúng sẽ chưởi rủa con, các nước sẽ hận thù con.
PRO 24:25 Nhưng nếu con phạt kẻ có tội thì mọi việc sẽ êm xuôi, con sẽ nhận được ân phúc.
PRO 24:26 Lời đáp thẳng thắn như cái hôn lên môi.
PRO 24:27 Trước hết hãy thu xếp việc bên ngoài và chuẩn bị ruộng nương của con. Rồi sau đó hãy xây nhà.
PRO 24:28 Đừng vô cớ làm chứng nghịch người láng giềng mình. Đừng khai những điều không thật.
PRO 24:29 Không nên nói, “Ta sẽ trả đũa; Ta sẽ làm cho hắn như hắn đã làm cho ta.”
PRO 24:30 Ta đi ngang ruộng của kẻ biếng nhác và đi qua vườn nho của kẻ thiếu hiểu biết.
PRO 24:31 Ta thấy gai gốc mọc khắp nơi. Cỏ dại phủ kín đất, còn vách đá thì đổ nhào.
PRO 24:32 Ta suy nghĩ điều ta thấy; và học được bài nầy.
PRO 24:33 Ngủ một chút, chợp mắt chốc lát. Khoanh tay nằm xuống nghỉ giây lát.
PRO 24:34 Thì cái nghèo sẽ đến với con như chiến sĩ mang vũ khí; con sẽ thiếu thốn như bị cướp.
PRO 25:1 Sau đây là những lời khôn ngoan khác của Sô-lô-môn mà các cận thần của Ê-xê-chia, vua Giu-đa thu thập.
PRO 25:2 Thượng Đế được tôn trọng vì Ngài giữ kín điều Ngài làm. Còn vua được tôn kính nhờ khám phá những điều kín giấu.
PRO 25:3 Không ai đo được chiều cao của trời hay độ sâu của đất. Cũng thế, không ai biết được ý nghĩ của vua.
PRO 25:4 Hãy lấy cáu cặn ra khỏi bạc, để thợ bạc sử dụng bạc đó.
PRO 25:5 Hãy dẹp kẻ ác khỏi trước mặt vua; thì chính thể vua sẽ công chính và tồn tại lâu dài.
PRO 25:6 Đừng khoe khoang với vua, cũng đừng đứng chung với những người quan trọng.
PRO 25:7 Thà để vua cất nhắc con lên địa vị cao hơn là bị vua hạ bệ trước mặt người tước vị. Điều con đã thấy,
PRO 25:8 không nên hấp tấp trình ra trước tòa. Vì con sẽ xử trí ra sao nếu láng giềng con chứng tỏ rằng con sai?
PRO 25:9 Cứ tranh cãi với láng giềng con, nhưng đừng tiết lộ chuyện riêng của người khác.
PRO 25:10 Kẻo người nghe điều ấy sẽ làm nhục con, và con sẽ không còn được tôn trọng nữa.
PRO 25:11 Lời nói phải lúc giống như trái táo vàng nằm trong chén bạc.
PRO 25:12 Lời khuyên răn khôn ngoan cho kẻ chịu nghe quí báu như bông tai vàng hay nữ trang cao giá.
PRO 25:13 Sứ giả đáng tin khiến kẻ sai thoải mái, như tuyết mát rơi trong ngày mùa gặt.
PRO 25:14 Ai hứa biếu quà cáp mà không thực hiện, chẳng khác mây và gió không mang mưa đến.
PRO 25:15 Nếu kiên nhẫn, con có thể thuyết phục quan quyền, và lời nói hòa nhã có thể phá hủy những sự chống đối mãnh liệt.
PRO 25:16 Nếu con tìm được mật ong thì chỉ nên ăn vừa phải, vì nếu ăn quá nhiều con sẽ bị nôn mửa ra thôi.
PRO 25:17 Đừng hay lui tới nhà người láng giềng con; vì người có thể đâm ra chán ghét con.
PRO 25:18 Kẻ đặt điều vu oan cho người láng giềng giống như kẻ dùng gươm giáo phân tán mọi người.
PRO 25:19 Lúc gặp khó khăn mà trông cậy vào người không đáng tin, chẳng khác nào nhai bằng răng lung lay hay bước bằng chân què.
PRO 25:20 Hát cho người có tâm sự buồn chẳng khác nào đoạt áo khoác ngoài của họ khi trời lạnh giá hay đổ dấm vào vết thương.
PRO 25:21 Nếu kẻ thù con đói hãy cho nó ăn. Nếu nó khát hãy cho nó uống.
PRO 25:22 Làm như thế chẳng khác nào chất than lửa trên đầu nó, rồi CHÚA sẽ thưởng cho con.
PRO 25:23 Gió bấc mang mưa lại thế nào thì lời nói bép xép cũng khiến kẻ khác giận dữ như thế.
PRO 25:24 Thà ở trên xó nóc nhà còn hơn ở trong nhà chung với người vợ hay gây gổ.
PRO 25:25 Tin vui từ xa mang lại giống như nước mát cho người đang khát.
PRO 25:26 Người công chính mà vấp ngã trước kẻ ác, thật giống như suối vấy bùn hay giếng bị ô dơ.
PRO 25:27 Không nên ăn quá nhiều mật ong, cũng không nên tìm vinh dự nầy tiếp theo vinh dự khác.
PRO 25:28 Kẻ nào không biết tự chế như thành trì bị đổ vách.
PRO 26:1 Tuyết không rơi vào mùa hè, hay mưa vào mùa gặt. Cũng vậy, không nên tôn trọng kẻ dại dột.
PRO 26:2 Lời chưởi rủa không thể làm hại người vô tội; chẳng khác nào như chim sẻ hay chim én lượn đi lượn lại không chịu đáp.
PRO 26:3 Roi dành cho ngựa, hàm thiếc dành cho lừa, còn roi vọt dành cho lưng kẻ ngu dại.
PRO 26:4 Không có cách nào đối đáp với kẻ ngu theo kiểu ngu của nó, vì nếu đối đáp với nó thì con cũng sẽ giống như nó.
PRO 26:5 Nếu con không đối đáp với nó, thì nó lại tưởng nó khôn lắm.
PRO 26:6 Nhờ kẻ ngu dốt mang tin tức, chẳng khác nào tự chặt chân hay uống điều hung ác.
PRO 26:7 Châm ngôn phát ra từ miệng kẻ ngu dại chẳng khác nào chân của kẻ què.
PRO 26:8 Tôn trọng kẻ ngu dại chẳng khác nào tra viên đá vào ná.
PRO 26:9 Châm ngôn phát ra từ miệng kẻ ngu dại chẳng khác nào gai đâm vào tay kẻ say rượu.
PRO 26:10 Thuê mướn kẻ ngu hay khách qua đường chẳng khác nào giương cung bắn lung tung.
PRO 26:11 Kẻ ngu lặp lại cái ngu của nó giống như chó ăn lại đồ nó đã mửa ra.
PRO 26:12 Con có thấy kẻ tự nghĩ mình khôn ngoan không? Kẻ ngu còn có hi vọng hơn nó.
PRO 26:13 Kẻ biếng nhác bảo, “Có con sư tử ngoài đường! Có con sư tử ngoài phố!”
PRO 26:14 Kẻ biếng nhác lăn trở trên giường giống như cửa xoay quanh bản lề.
PRO 26:15 Kẻ biếng nhác thò tay vào dĩa, rồi không thèm đưa đồ ăn lên miệng.
PRO 26:16 Kẻ biếng nhác nghĩ mình khôn ngoan hơn bảy người biết đối đáp hợp lý.
PRO 26:17 Liên can vào chuyện người khác như nắm lỗ tai chó.
PRO 26:18 Như kẻ khùng bắn các tên lửa chết người ra sao
PRO 26:19 thì kẻ gạt người láng giềng rồi bảo, “Tôi chỉ đùa thôi” cũng y như thế.
PRO 26:20 Lửa tắt vì thiếu củi, khi không ai bép xép thì không còn chuyện cãi vã.
PRO 26:21 Như than nuôi bếp hồng và củi giữ cho lửa cháy đỏ thế nào, thì kẻ khơi ra cãi vã cũng như thế.
PRO 26:22 Lời nói của kẻ bép xép giống như thức ăn ngon; mà người ta thích ăn nuốt.
PRO 26:23 Lời nhân hậu từ đầu óc kẻ ác giống như lớp men sáng lên bên ngoài bình bằng đất.
PRO 26:24 Kẻ ghét con sẽ tìm cách dùng lời nói để ngụy trang, trong đầu nó âm mưu điều lường gạt.
PRO 26:25 Dù cho nó ăn nói ngon ngọt, con chớ tin, vì đầu óc nó đầy ý nghĩ gian ác.
PRO 26:26 Nó lấy lời nói dối để che đậy sự lường gạt, nhưng mưu ác nó sẽ bị lộ ra giữa công chúng.
PRO 26:27 Ai đào hố cho kẻ khác sẽ sụp vào đó. Ai lăn đá để đè kẻ khác sẽ bị đá lăn đè trở lại.
PRO 26:28 Kẻ nói dối ghét người mà nó làm hại, miệng nịnh hót tiêu diệt con người.
PRO 27:1 Chớ khoe về tương lai; vì con chưa biết sẽ ra sao.
PRO 27:2 Đừng tự tán dương mình. Hãy để cho người khác làm. Hãy để người ngoài ca tụng con, miệng con đừng làm.
PRO 27:3 Đá nặng, cát cũng nặng, nhưng lời châm chọc của kẻ ngu còn nặng hơn cả hai.
PRO 27:4 Cơn giận thật hung dữ, phá hủy như nước lụt, nhưng ai chịu nổi sự ganh tị!
PRO 27:5 Thà công khai sửa dạy hơn yêu thương giấu kín.
PRO 27:6 Sự tổn thương do bạn hữu gây ra vẫn tốt hơn những cái hôn giả dối của kẻ thù.
PRO 27:7 Khi no bụng, con cũng chẳng thấy thèm mật ong, nhưng khi bụng đói thì thức ăn dở cũng hóa ngon.
PRO 27:8 Ai đi ra khỏi nhà giống như chim rời xa tổ.
PRO 27:9 Nước hoa và trầm hương thật dịu dàng cho tâm hồn, như lời khuyên của bạn tốt hơn ý kiến của chính mình.
PRO 27:10 Đừng quên bạn con hay bạn của cha mẹ con. Khi lâm cảnh khó khăn hãy đến xin láng giềng giúp đỡ. Thân nhân xa thua láng giềng gần.
PRO 27:11 Con ơi, hãy khôn ngoan lên để cha vui mừng. Để cha đối đáp những lời nhục mạ.
PRO 27:12 Người khôn thấy lôi thôi và tránh đi, kẻ dại đâm đầu vướng phải tai ương.
PRO 27:13 Hãy đoạt lấy áo của kẻ bảo lãnh người dưng, giữ cho đến khi anh ta trả hết nợ cho người ấy.
PRO 27:14 Sáng sớm mà lớn tiếng chào người láng giềng, người sẽ xem đó như lời nguyền rủa.
PRO 27:15 Người vợ hay cãi cọ như mưa lộp độp rả rích suốt ngày.
PRO 27:16 Ngăn chận nàng như ngăn gió hay nắm dầu trong tay.
PRO 27:17 Sắt mài bén sắt, bạn hữu giúp bạn hữu cải tiến.
PRO 27:18 Ai chăm sóc cây vả sẽ ăn trái nó, Còn ai phục vụ chủ mình sẽ được tôn trọng.
PRO 27:19 Nước phản chiếu gương mặt ra sao, thì lòng người cũng phản ảnh con người như thế.
PRO 27:20 Âm phủ và hỏa ngục không bao giờ đầy, Cũng vậy, mắt con người không bao giờ thoả mãn.
PRO 27:21 Lò dùng để luyện vàng và nồi để luyện bạc, còn lời khen ngợi dùng để thử con người.
PRO 27:22 Dù cho con nghiền kẻ ngu như nghiền gạo trong cối, thì con cũng không thể nào lấy cái ngu ra khỏi nó được.
PRO 27:23 Hãy chăm sóc bầy chiên mình, lo cho gia súc mình.
PRO 27:24 Giàu có không còn mãi, không chính thể nào còn đời đời.
PRO 27:25 Hãy gom cỏ khô để cỏ tươi mọc lên. Hãy gom cỏ từ các đồi.
PRO 27:26 Chiên sẽ giúp con có áo quần mặc, Và dê giúp con có tiền mua ruộng.
PRO 27:27 Con sẽ có tràn trề sữa dê để nuôi gia đình con, và nuôi các tôi tớ gái con.
PRO 28:1 Kẻ ác bỏ chạy dù không ai đuổi theo, còn người công chính vững vàng như sư tử.
PRO 28:2 Khi quốc gia hỗn loạn thì quan quyền liên tiếp thay thế nhau; nhưng khi có người tài đức, khôn ngoan lãnh đạo thì khi quốc gia trở nên vững mạnh.
PRO 28:3 Quan quyền ngược đãi kẻ nghèo, như mưa lũ làm hại mùa màng.
PRO 28:4 Ai không vâng lời dạy dỗ tức tán dương kẻ ác, còn ai nghe dạy là chống lại chúng.
PRO 28:5 Kẻ ác không hiểu được công lý, nhưng kẻ theo CHÚA hiểu rõ công lý.
PRO 28:6 Thà nghèo mà thanh liêm, hơn giàu mà sống lươn lẹo.
PRO 28:7 Con khôn ngoan nghe lời khuyên dạy, nhưng ai làm bạn với kẻ hoang đàng khiến cho cha mẹ mình tủi nhục.
PRO 28:8 Ai làm giàu nhờ cho vay cắt cổ sẽ thấy tài sản mình lọt vào tay kẻ nhân từ đối với người nghèo.
PRO 28:9 Nếu con bịt tai không nghe lời khuyên dạy, thì lời cầu nguyện của con cũng sẽ là điều CHÚA gớm ghiếc.
PRO 28:10 Ai dẫn người công chính vào đường lầm lạc sẽ bị tiêu diệt vì mưu ác mình, nhưng người thanh liêm sẽ hưởng hạnh phúc.
PRO 28:11 Kẻ giàu tự cho mình khôn ngoan, nhưng người nghèo mà sáng suốt thấy rõ bộ mặt thật của họ.
PRO 28:12 Khi người công chính đắc thắng, ai cũng vui mừng, nhưng khi kẻ ác lên cầm quyền, ai cũng bỏ trốn.
PRO 28:13 Người nào che giấu tội lỗi sẽ không thành công. Nhưng ai xưng tội và từ bỏ nó sẽ được thương xót.
PRO 28:14 Phúc cho kẻ luôn luôn biết sợ, còn ai ương ngạnh sẽ gặp tai ương.
PRO 28:15 Quan quyền độc ác mà cai trị kẻ nghèo là một mối nguy, giống như sư tử gầm thét hay gấu vồ mồi.
PRO 28:16 Quan quyền mà thiếu sáng suốt sẽ trở nên độc ác, nhưng ai từ chối những lợi lộc bất chính sẽ cai trị lâu dài.
PRO 28:17 Hãy để cho kẻ sát nhân trốn tránh cho đến khi chết; Đừng giúp đỡ nó.
PRO 28:18 Người thanh liêm sẽ an toàn, còn kẻ bất lương sẽ bị tiêu diệt bất thần.
PRO 28:19 Ai trồng trọt ruộng vườn sẽ dư ăn, nhưng kẻ đuổi theo ảo vọng sẽ trở nên nghèo khó.
PRO 28:20 Ai trung tín sẽ nhận được nhiều phúc, nhưng kẻ vội làm giàu sẽ bị trừng phạt.
PRO 28:21 Thiên vị là điều không tốt, nhưng có kẻ chỉ vì miếng ăn mà phạm tội.
PRO 28:22 Kẻ ích kỷ mong làm giàu nhanh chóng mà không biết rằng cái nghèo đi liền theo sau.
PRO 28:23 Ai sửa dạy người khác về sau sẽ được biết ơn, hơn kẻ buông lời nịnh hót.
PRO 28:24 Ai ăn cắp của cha mẹ mà nói, “Chẳng có gì quấy cả,” là đồng lõa với kẻ phá hoại.
PRO 28:25 Kẻ tham lam gây chuyện lôi thôi, nhưng ai tin cậy CHÚA sẽ thành công.
PRO 28:26 Ai tự ỷ lại là dại dột, nhưng ai sống khôn ngoan sẽ được an toàn.
PRO 28:27 Ai giúp đỡ kẻ nghèo sẽ không bao giờ thiếu thốn, nhưng ai không đếm xỉa đến kẻ nghèo sẽ bị nguyền rủa.
PRO 28:28 Khi kẻ ác chiếm quyền, mọi người đều lẩn trốn, nhưng khi chúng bị diệt, người công chính sẽ gia tăng.
PRO 29:1 Kẻ bị sửa trị nhiều lần sẽ trở nên bướng bỉnh, nó sẽ bị tổn hại bất thần, không phương cứu chữa.
PRO 29:2 Khi người công chính cai trị thì ai nấy vui mừng, còn khi kẻ ác cai trị thì dân chúng than van.
PRO 29:3 Ai yêu thích khôn ngoan mang vui mừng cho cha mẹ, nhưng kẻ làm bạn với gái điếm phung phí tiền bạc.
PRO 29:4 Vua công minh khiến quốc gia hùng mạnh, nhưng vua thích của hối lộ phá tan đất nước.
PRO 29:5 Nịnh hót ai là giăng bẫy dưới chân người ấy.
PRO 29:6 Kẻ ác sập vào bẫy mình giăng, nhưng người công chính hát mừng vui vẻ.
PRO 29:7 Người công chính quan tâm đến công lý cho kẻ nghèo, còn kẻ ác không hề để ý đến.
PRO 29:8 Kẻ xấc láo gây rối cho thành trì, nhưng người khôn làm nguôi cơn giận.
PRO 29:9 Khi người khôn ngoan tranh tụng với kẻ ngu, thì kẻ ngu chế diễu, cười cợt, không lúc nào yên.
PRO 29:10 Kẻ sát nhân ghét người thanh liêm, còn kẻ ác tìm cách giết người công chính.
PRO 29:11 Kẻ ngu dại để cơn giận bộc phát, nhưng người khôn luôn giữ bình tĩnh.
PRO 29:12 Khi người lãnh đạo chuyên tâm đến chuyện dối trá, thì tất cả cấp dưới trở nên độc ác.
PRO 29:13 Kẻ nghèo và người hung ác đều giống nhau như sau: CHÚA ban sự sống cho cả hai.
PRO 29:14 Nếu vua phân xử công bình cho người nghèo, ngôi vua sẽ vững bền.
PRO 29:15 Sửa trị và trừng phạt giúp trẻ con khôn ngoan, nhưng trẻ con bị thả lỏng sẽ mang sỉ nhục cho mẹ mình.
PRO 29:16 Khi kẻ ác gia tăng, tội lỗi cũng gia tăng, nhưng người công chính sẽ nhìn thấy chúng bị sụp đổ.
PRO 29:17 Hãy sửa dạy con cái, chúng nó sẽ khiến con hãnh diện; chúng sẽ không làm con xấu hổ.
PRO 29:18 Nơi nào không có lời CHÚA thì dân chúng đâm ra phóng túng, nhưng ai vâng lời dạy dỗ sẽ được tôn trọng.
PRO 29:19 Nói suông không đủ để sửa dạy đầy tớ, dù nó hiểu biết đi nữa nó cũng chẳng thèm nghe theo.
PRO 29:20 Con có thấy kẻ ăn nói hấp tấp không? Người ngu còn có hi vọng hơn hắn.
PRO 29:21 Nuông chiều đứa đầy tớ, thì nó sẽ trở thành hoang phí.
PRO 29:22 Người nóng tính gây chuyện cãi vã; kẻ nóng nảy dễ phạm tội.
PRO 29:23 Tánh tự phụ hạ thấp con người, còn ai khiêm nhường sẽ được tôn trọng.
PRO 29:24 Kẻ đồng lõa với trộm cướp ghét mạng sống mình. Mặc dù được gọi ra làm chứng trước toà nhưng nó không chịu khai.
PRO 29:25 Sự lo sợ là cái bẫy cho mình, nhưng ai tin cậy CHÚA sẽ được an toàn.
PRO 29:26 Nhiều người muốn xin ân huệ nơi quan quyền, nhưng công lý chỉ do CHÚA mà đến.
PRO 29:27 Người công chính ghét kẻ gian tà, còn kẻ ác gớm ghét người lương thiện.
PRO 30:1 Sau đây là những lời giáo huấn của A-gu-rơ con trai Gia-kê, người xứ Mát-xa. Ông bảo, “Lạy Thượng Đế, tôi mệt mỏi, tôi đuối sức và kiệt lực.”
PRO 30:2 Ta là kẻ dại dột hơn mọi người, ta không hiểu biết gì.
PRO 30:3 Ta chưa học khôn, và không biết gì về Thượng Đế, Đấng Thánh.
PRO 30:4 Ai đã lên trời rồi lại xuống? Ai có thể nắm gió trong tay? Ai có thể bọc nước trong áo choàng? Ai đã đặt ranh giới cho đất? Tên Ngài hay tên con trai Ngài là gì? Nếu ngươi biết hãy nói cho ta đi!
PRO 30:5 Mỗi một lời nói của Thượng Đế đều chân chính. Ngài bảo vệ những ai đến với Ngài.
PRO 30:6 Đừng thêm bớt gì vào lời Ngài, nếu không Ngài sẽ trừng phạt con và cho con là kẻ nói dối.
PRO 30:7 Con cầu xin Ngài hai điều. Xin đừng từ chối trước khi con chết.
PRO 30:8 Xin đừng để con nói dối và bất lương. Đừng để con giàu sang hay nghèo khổ; xin cho con đủ đồ dùng hằng ngày.
PRO 30:9 Nếu quá sung túc, con có thể chối bỏ Ngài và bảo, “Tôi không biết CHÚA là ai cả!” Nếu quá nghèo khổ con có thể trộm cắp làm nhục danh Thượng Đế của con.
PRO 30:10 Đừng nói xấu đầy tớ với chủ nó, nếu không nó sẽ nguyền rủa con, rồi con sẽ phải mang tội.
PRO 30:11 Có người chưởi rủa cha mình cũng chẳng chúc phước cho mẹ mình.
PRO 30:12 Có người tự nghĩ mình trong sạch nhưng thực sự chưa tẩy sạch được điều dơ bẩn trong lòng.
PRO 30:13 Có người mang tính tự phụ, xem thường người khác.
PRO 30:14 Có kẻ có răng bén như gươm; hàm của chúng như dao nhọn. Chúng muốn giết kẻ nghèo khỏi xứ và đuổi kẻ túng thiếu ra khỏi loài người.
PRO 30:15 Con đỉa có hai con gái gọi là “Cho thêm” và “Cho thêm.” Có ba điều không bao giờ thỏa mãn, và bốn điều không bao giờ nói, “Đủ rồi!”
PRO 30:16 Đó là nghĩa địa, dạ không sinh con, đất không bao giờ đủ mưa, và lửa không bao giờ nói “Đủ rồi!”
PRO 30:17 Con mắt chế giễu cha mình, không vâng lời mẹ mình, thì chim trời sẽ móc mắt ấy, kên kên sẽ ăn nó.
PRO 30:18 Có ba điều rất lạ lùng đối với ta, và bốn điều ta chưa hiểu được:
PRO 30:19 Đó là đường chim ưng bay trên trời, đường con rắn bò trên đá, lối tàu chạy trên biển, và đường người nam đi lại với người nữ.
PRO 30:20 Người đàn bà ngoại tình hành động như sau: Nàng làm như thể vừa mới ăn xong rồi rửa mặt; và bảo, “Tôi có làm gì quấy đâu.”
PRO 30:21 Có ba điều làm rung chuyển đất, và bốn điều mà đất không chịu nổi:
PRO 30:22 Đó là khi kẻ tôi tớ lên làm vua, Người ngu có dư thức ăn,
PRO 30:23 Người đàn bà bị chồng ghét nhưng vẫn cưới nàng, và đứa tớ gái lên làm bà chủ.
PRO 30:24 Có bốn loài nhỏ xíu trên đất nhưng lại rất khôn:
PRO 30:25 Con kiến chẳng có sức mạnh gì, nhưng biết dự trữ thức ăn lúc mùa hè.
PRO 30:26 Con chồn núi không mạnh mẽ gì, nhưng sống giữa các tảng đá.
PRO 30:27 Cào cào tuy không có vua, nhưng bay ra theo hàng ngũ.
PRO 30:28 Con thằn lằn mà người ta lấy tay bắt được, vậy mà lại ở trong cung vua.
PRO 30:29 Có ba thứ bước đi hiên ngang, và bốn thứ bước đi hùng dũng:
PRO 30:30 Đó là sư tử, con vật oai phong nhất, không biết sợ ai,
PRO 30:31 con gà trống đi hiên ngang, con dê đực, và nhà vua khi hướng dẫn dân chúng.
PRO 30:32 “Nếu con vừa ngu mà lại tự phụ, hay nếu con định mưu ác thì hãy lấy tay bịt miệng.
PRO 30:33 Sữa quậy lên làm ra bơ, mũi bị đập sẽ chảy máu. Chọc giận người khác gây ra chuyện lôi thôi.”
PRO 31:1 Sau đây là những lời khuyên của vua Lê-mu-ên, xứ Mát-xa, do mẹ ông dạy:
PRO 31:2 “Con ơi, hãy nghe mẹ, đứa con của lòng dạ mẹ, Đứa con cầu tự của mẹ.
PRO 31:3 Con đừng nên phí năng lực cho đàn bà, hay phí thì giờ cho kẻ làm hại vua.
PRO 31:4 Lê-mu-ên ơi, vua không nên uống rượu, bậc quan quyền không nên uống men say.
PRO 31:5 Nếu không, họ sẽ say sưa và quên luật pháp không còn bênh vực quyền lợi kẻ nghèo.
PRO 31:6 Hãy cấp rượu cho kẻ sắp lìa đời và thức uống say cho người buồn thảm.
PRO 31:7 Hãy cho họ uống để họ quên nỗi khổ để không nhớ đến cảnh khổ của mình.
PRO 31:8 Hãy lên tiếng bênh vực kẻ không dám nói; bảo vệ quyền lợi của kẻ bất hạnh.
PRO 31:9 Hãy lên tiếng và phân xử công bằng, hãy bênh vực quyền của người nghèo khó và túng thiếu.”
PRO 31:10 Người vợ đảm đang rất khó kiếm, vì nàng quí giá hơn châu ngọc.
PRO 31:11 Chồng nàng tin cậy nàng hoàn toàn. Chồng nàng không thiếu lợi lộc.
PRO 31:12 Suốt đời nàng làm ích lợi chứ không làm hại cho chồng.
PRO 31:13 Nàng đi tìm len và vải và thích dùng tay mình làm ra nhiều thứ.
PRO 31:14 Nàng như chiếc tàu buôn, mang thực phẩm về từ xứ xa.
PRO 31:15 Nàng thức dậy khi trời còn tối chuẩn bị thức ăn cho gia đình và cấp phần ăn cho các đầy tớ gái.
PRO 31:16 Nàng đi xem xét miếng ruộng rồi mua nó. Nhờ tiền kiếm được nàng trồng một vườn nho.
PRO 31:17 Nàng hết lòng làm việc, tay nàng rất mạnh.
PRO 31:18 Nàng biết công việc làm ăn mang lợi ích. Ban đêm, đèn nàng không bao giờ tắt.
PRO 31:19 Nàng xe chỉ và dệt vải.
PRO 31:20 Nàng mở lòng rộng rãi cho người nghèo giúp đỡ kẻ túng thiếu.
PRO 31:21 Khi trời tuyết nàng không lo gia đình bị lạnh, vì mọi người đều có đủ áo quần ấm.
PRO 31:22 Nàng may khăn trải giường cho mình; áo quần nàng làm bằng loại vải mịn tốt và vải tím đắt tiền.
PRO 31:23 Người ta biết đến chồng nàng nơi cửa thành trong các buổi họp công cộng của thành phố, nơi chồng nàng ngồi với các người lãnh đạo trong xứ.
PRO 31:24 Nàng dệt áo quần và bán nó, cung cấp đai lưng cho thương gia.
PRO 31:25 Nàng có uy tín và được dân chúng kính nể. Nàng nhìn về tương lai mà lòng hớn hở.
PRO 31:26 Nàng nói ra lời khôn ngoan và trung tín dạy kẻ khác.
PRO 31:27 Nàng trông nom gia đình chẳng bao giờ ở không.
PRO 31:28 Con cái nàng khen ngợi nàng. Chồng nàng cũng tấm tắc ca ngợi nàng
PRO 31:29 bảo rằng, “Có nhiều người đàn bà đảm đang, nhưng nàng giỏi hơn tất cả.”
PRO 31:30 Duyên là giả dối, sắc chỉ tạm bợ, nhưng người đàn bà nào kính sợ CHÚA sẽ được ca tụng.
PRO 31:31 Hãy cấp cho nàng phần thưởng xứng với công khó nàng; Hãy ca tụng nàng công khai vì tài đảm đang của nàng.
ECC 1:1 Sau đây là lời của Thầy, con trai Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem.
ECC 1:2 Thầy nói, “Vô ích! Vô ích! Hoàn toàn vô nghĩa! Mọi sự đều vô ích.”
ECC 1:3 Người ta lao khổ trên đời nầy để làm gì?
ECC 1:4 Người ta sống, rồi chết, nhưng đất vẫn còn mãi vô tận.
ECC 1:5 Mặt trời mọc, mặt trời lặn, rồi nó vội vàng chạy trở về nơi nó mọc.
ECC 1:6 Gió thổi về hướng Nam; xong quay sang hướng Bắc. Rồi xoay vần trở lại, theo chu kỳ cũ nhưng chẳng đi tới đâu.
ECC 1:7 Mọi sông đều đổ vào biển, nhưng biển không bao giờ đầy.
ECC 1:8 Mọi việc ấy khiến người ta mỏi mệt, đến nỗi không ai muốn nhắc tới nữa. Chuyện nghe rồi lại nghe lần nữa, tai không hề nhàm nghe, mắt không hề chán ngó.
ECC 1:9 Việc gì cũng diễn tiến giống y như lúc ban đầu. Việc gì đã xảy ra rồi lại cũng sẽ xảy ra nữa. Dưới đất nầy chẳng có gì mới lạ.
ECC 1:10 Có người nói, “Kìa! Cái nầy mới,” nhưng thực ra đã có từ lâu rồi. Có trước khi chúng ta sinh ra nữa.
ECC 1:11 Người ta chẳng nhớ lại việc xảy ra đời xưa, người thời tương lai cũng không nhớ chuyện hiện đang xảy ra. Tương lai sau nầy cũng chẳng ai nhớ người thời trước đã làm gì.
ECC 1:12 Ta là Thầy, đã là vua trên Ít-ra-en tại Giê-ru-sa-lem.
ECC 1:13 Ta quyết định dùng sự khôn ngoan mình để tìm hiểu mọi chuyện xảy ra trên đất. Nỗ lực ấy là một mối bận tâm mà Thượng Đế trao cho loài người.
ECC 1:14 Ta nhìn mọi sự việc trên đời và thấy việc nào cũng vô ích, giống như đuổi theo mây gió.
ECC 1:15 Việc gì cong quẹo, không thể làm cho ngay được. Vật gì khiếm khuyết, không thể bảo là đầy đủ được.
ECC 1:16 Ta tự nhủ, “Ta đã trở nên khôn ngoan và hiện nay ta khôn hơn những người trị vì trước ta tại Giê-ru-sa-lem. Ta rõ sự khôn ngoan và hiểu biết là gì.”
ECC 1:17 Cho nên ta quyết chí đi tìm khôn ngoan và hiểu biết đồng thời tìm sự ngu xuẩn, nhưng ta thấy rốt cuộc chẳng khác nào chạy theo mây khói.
ECC 1:18 Càng khôn ngoan càng bực dọc nhiều; người càng hiểu biết càng chuốc thêm đau khổ.
ECC 2:1 Ta tự nhủ, “Ta sẽ đi tìm lạc thú. Ta sẽ vui chơi.” Nhưng ta thấy cũng vô ích.
ECC 2:2 Cười mãi cũng dại, vui chơi cũng chẳng đi tới đâu.
ECC 2:3 Ta quyết định thử dùng rượu để mua vui trong khi trí ta còn minh mẫn. Ta tìm cách hưởng lạc thú để xem có gì ích lợi cho con người đang khi sống tạm trên đời nầy không.
ECC 2:4 Cho nên ta thực hiện các đại công tác: ta xây nhà cửa và trồng vườn nho.
ECC 2:5 Ta trồng vườn và lập công viên, ta trồng đủ loại cây trái trong đó.
ECC 2:6 Ta đào hầm chứa nước để tưới cây.
ECC 2:7 Ta mua tôi trai tớ gái, ta cũng có các tôi mọi sinh trưởng trong nhà ta. Ta có nhiều bầy gia súc hơn tất cả những người có trước ta tại Giê-ru-sa-lem.
ECC 2:8 Ta gom góp bạc vàng cho mình, vật quí từ các vua chúa. Ta có các nam nữ ca sĩ cùng đủ mọi thứ mà ai cũng thích.
ECC 2:9 Ta nổi danh hơn tất cả những người sống trước ta tại Giê-ru-sa-lem. Sự khôn ngoan giúp ta có được những điều ấy.
ECC 2:10 Điều gì mắt ta thấy, lòng ta thích là ta có. Ta không thiếu thốn bất cứ lạc thú nào. Ta mãn nguyện với những điều ta làm, và lạc thú ấy là phần thưởng của công khó ta.
ECC 2:11 Nhưng rồi ta nhìn điều ta đã làm, và suy nghĩ về những công khó của tay ta. Bỗng ta nhận thấy các thứ đó đều vô ích, giống như chạy theo mây khói. Trên đất nầy dù có làm gì đi nữa thì cũng chẳng ích lợi gì dưới mặt trời.
ECC 2:12 Ta ngẫm nghĩ lại về sự khôn ngoan, và về sự ngu dại hay những hành động điên rồ. Nhưng thử hỏi, có ai làm gì hơn được đâu? Vua mới cũng chẳng làm gì hơn vua trước kia đã làm.
ECC 2:13 Ta thấy chắc chắn là khôn tốt hơn dại, cũng như ánh sáng tốt hơn bóng tối.
ECC 2:14 Người khôn biết mình đi đâu, còn kẻ dại lần mò trong đêm tối. Nhưng ta nhận thấy rằng dù khôn hay dại thì rốt cuộc cả hai đều chung số phận.
ECC 2:15 Ta tự nghĩ, “Điều gì xảy ra cho người ngu cũng sẽ xảy ra cho ta nữa, cho nên khôn ngoan mà được gì?” Ta tự nhủ, “Khôn ngoan cũng chẳng ích lợi gì.”
ECC 2:16 Cả người khôn lẫn kẻ dại đều chết, Trong tương lai người ta không nhớ ai cả. Mọi người đều bị quên lãng.
ECC 2:17 Cho nên ta ghét cuộc đời. Khi ta nhìn thấy mọi việc trên đời đều vô ích như đuổi theo mây khói, ta đâm ra buồn chán.
ECC 2:18 Ta ghét những điều ta đã làm ra trên đời vì phải để lại cho kẻ sống sau ta.
ECC 2:19 Người khác sẽ hưởng những điều ta đã khổ công gây dựng mà ta chẳng biết là nó khôn hay dại. Điều ấy cũng thật vô ích.
ECC 2:20 Vì thế ta đâm ra buồn chán cho những điều ta đã làm ra trên đất nầy.
ECC 2:21 Ai cũng khổ công dùng mọi khôn ngoan, hiểu biết, tài năng nhưng rồi chết, để lại điều mình tạo dựng cho kẻ khác. Những kẻ đến sau không bỏ công sức mà lại hưởng tất cả mọi thứ. Quả là bất công và vô ích.
ECC 2:22 Người ta khổ công chật vật trên đất nầy để làm gì?
ECC 2:23 Suốt đời con người triền miên đau khổ và buồn thảm, thậm chí đến ban đêm tâm trí cũng không an nghỉ được. Quả là vô ích.
ECC 2:24 Cho nên tốt hơn cả là ăn, uống, hưởng thụ công việc tay mình làm ra. Ta thấy điều đó cũng do CHÚA ban cho,
ECC 2:25 vì nếu Ngài không cho thì chẳng ai ăn uống hay thụ hưởng gì được.
ECC 2:26 Nếu ai làm vừa lòng Thượng Đế thì Ngài sẽ cho người ấy sự khôn ngoan, hiểu biết và vui mừng. Nhưng kẻ không làm vừa lòng Ngài chỉ lo thu trữ tài sản cho người làm vừa lòng Thượng Đế. Điều ấy thật vô nghĩa, chẳng khác nào đuổi theo mây khói.
ECC 3:1 Mọi việc đều có định kỳ, mọi sự trên đất đều có thời kỳ riêng.
ECC 3:2 Có lúc sinh, và có lúc tử. Có lúc trồng và có lúc nhổ.
ECC 3:3 Có lúc giết hại và có lúc chữa lành. Có lúc hủy phá và có lúc xây dựng.
ECC 3:4 Có lúc khóc và có lúc cười. Có lúc buồn bã và có lúc nhảy múa.
ECC 3:5 Có lúc ném đá và có lúc thu đá lại. Có lúc ôm ấp và có lúc ruồng rẫy.
ECC 3:6 Có lúc tìm kiếm và có lúc thôi tìm. Có lúc giữ đồ vật và có lúc ném đồ vật đi.
ECC 3:7 Có lúc xé rách và có lúc vá lại. Có lúc im lặng và có lúc lên tiếng.
ECC 3:8 Có lúc yêu và có lúc ghét. Có lúc chiến tranh và có lúc hoà bình.
ECC 3:9 Người ta có được lợi ích gì từ công lao của mình không?
ECC 3:10 Ta thấy công việc nhọc nhằn mà Thượng Đế giao cho con người làm.
ECC 3:11 Thượng Đế cho chúng ta khả năng suy nghĩ về thế gian nầy nhưng chúng ta không thể hiểu hết mọi việc Ngài làm.
ECC 3:12 Cho nên ta thấy tốt nhất là con người vui hưởng công việc của tay mình đang khi còn sống.
ECC 3:13 Vì thế ai có thể ăn uống, vui hưởng công khó mình làm thì đó là ân huệ Ngài cho.
ECC 3:14 Ta biết mọi việc Thượng Đế làm đều còn đời đời. Không ai thêm hay bớt được điều gì Ngài đã làm. Ngài làm như thế để mọi người kính sợ Ngài.
ECC 3:15 Việc gì hiện đang xảy ra thì trước kia đã xảy ra rồi, và việc gì sẽ xảy ra trong tương lai thì trước đó cũng đã xảy ra. Thượng Đế khiến sự việc tái diễn nhiều lần.
ECC 3:16 Ta cũng nhận thấy điều nầy trên đời: Chỗ đáng có công lý, thì lại thấy gian ác; chỗ đáng có lẽ phải, thì lại thấy điều trái.
ECC 3:17 Ta tự nhủ, “Thượng Đế dự liệu thời kỳ cho mỗi việc và mỗi hành vi, để Ngài có thể phân xử người tốt, kẻ xấu.”
ECC 3:18 Ta suy nghĩ điều con người làm và tự nhủ: Thượng Đế muốn thử nghiệm con người, để họ thấy rằng họ chẳng hơn gì loài thú.
ECC 3:19 Việc xảy ra cho loài thú cũng xảy ra cho loài người; cả hai loài cùng có hơi thở, cả hai loài cùng chết. Loài người không hơn gì loài thú vì cả hai đều vô ích.
ECC 3:20 Cả hai cùng chung số phận; cả hai đều từ bụi đất mà ra rồi cả hai cũng sẽ trở về với bụi đất.
ECC 3:21 Có ai biết chắc được là hồn loài người sẽ lên ở với Thượng Đế và hồn loài thú sẽ đi xuống đất không?
ECC 3:22 Do đó ta thấy tốt nhất là con người vui hưởng công việc mình làm vì đó là phần số mình. Vì chẳng ai biết được những việc gì sẽ xảy ra sau khi mình qua đời.
ECC 4:1 Ta lại thấy những người bị ngược đãi trên đất nầy. Ta thấy nước mắt của họ mà không ai an ủi. Kẻ hung bạo có quyền thế, nhưng không ai an ủi những người bị họ làm hại.
ECC 4:2 Cho nên ta thấy người chết sướng hơn người sống.
ECC 4:3 Còn những kẻ chưa sinh ra lại còn sướng hơn; vì họ chưa thấy những chuyện gian ác trên đất nầy.
ECC 4:4 Ta thấy có người vất vả làm việc để thành công: Họ đố kỵ nhau. Điều nầy thật cũng vô ích như đuổi theo mây khói.
ECC 4:5 Có người cho rằng khoanh tay không làm gì cả là dại, vì sẽ chết đói.
ECC 4:6 Chẳng thà có ít của mà thảnh thơi còn hơn có nhiều của mà khốn khổ, rồi rốt cuộc giống như đuổi theo mây khói.
ECC 4:7 Ta lại cũng thấy chuyện vô ích nầy trên đất:
ECC 4:8 Ta thấy một người không gia đình, không con cái, không anh em. Anh ta làm việc vất vả nhưng không bao giờ mãn nguyện. Anh ta không bao giờ tự hỏi, “Mình làm việc vất vả như thế nầy cho ai? Sao không dành thì giờ hưởng thụ?” Chuyện đó thật đáng buồn và vô nghĩa.
ECC 4:9 Hai người tốt hơn một, vì cả hai chung sức thì làm được nhiều việc hơn.
ECC 4:10 Nếu một người ngã, thì người kia đỡ lên. Nhưng nếu chỉ có một mình mà ngã, thì không có ai đỡ mình lên.
ECC 4:11 Nếu hai người nằm chung thì ấm, còn một người làm sao ấm được?
ECC 4:12 Một người có thể bị kẻ thù đánh thắng, nhưng hai người chung sức có thể tự vệ được. Một dây thừng bện bằng ba sợi rất khó đứt.
ECC 4:13 Chú bé nghèo mà khôn còn hơn ông vua già mà dại vì không nghe ý kiến hay.
ECC 4:14 Chú bé lên làm vua. Nó được sinh ra trong cảnh nghèo trong vương quốc của vị vua già ấy, thậm chí đã từng ngồi tù trước khi lên làm vua.
ECC 4:15 Ta nhìn xem những người sống trên đất theo nó để tôn nó làm vua.
ECC 4:16 Nhiều người theo nó lúc đầu nhưng về sau không thích nó nữa. Cho nên danh vọng quyền hành đều vô ích giống như chạy theo mây khói.
ECC 5:1 Phải thận trọng khi ngươi thờ phụng nơi đền thờ. Thà lắng nghe hơn là dâng của lễ như người ngu dại không biết mình làm bậy.
ECC 5:2 Trước khi nói phải đắn đo, phải thận trọng về lời ngươi thưa cùng Thượng Đế. Thượng Đế ở trên trời, còn ngươi ở dưới đất, cho nên hãy ít nói trước mặt Ngài.
ECC 5:3 Câu ngạn ngữ rất chí lý: Ác mộng là do quá lo lắng sinh ra, Còn người dại dột do nói nhiều.
ECC 5:4 Nếu ngươi hứa điều gì cùng Thượng Đế thì hãy mau lo thực hiện. Thượng Đế không thích kẻ dại, cho nên hứa thì làm.
ECC 5:5 Thà không hứa còn hơn là hứa mà không làm.
ECC 5:6 Đừng để lời nói mình khiến mình phạm tội và đừng nói với thầy tế lễ nơi đền thờ, “Hứa như thế là sai lầm.” Nếu không Thượng Đế sẽ nổi giận với ngươi và tiêu diệt những gì ngươi gây dựng.
ECC 5:7 Đừng để chiêm bao vô dụng và tính khoe khoang khiến ngươi gặp lôi thôi. Ngươi phải kính sợ Thượng Đế.
ECC 5:8 Có khi ngươi thấy kẻ nghèo bị ngược đãi thì đừng ngạc nhiên. Quan nầy bị quan trên điều động, rồi quan ấy bị quan trên nữa điều động.
ECC 5:9 Tài sản quốc gia được chia cho mọi người. Ngay cả vua cũng được hưởng phần mình trong đó.
ECC 5:10 Ai yêu tiền tài sẽ không bao giờ có đủ tiền; Ai yêu của cải sẽ không bao giờ mãn nguyện. Điều ấy cũng thật vô ích.
ECC 5:11 Tiền của càng có bao nhiêu, thì càng có nhiều bạn phung phí giùm bấy nhiêu. Cho nên lợi lộc gì? Chẳng có lợi gì ngoài việc ngắm nhìn của cải mình.
ECC 5:12 Ai làm việc cực nhọc thì ngủ ngon; dù ăn ít hay nhiều cũng không sao. Nhưng người giàu dư ăn dư mặc, lại khó ngủ.
ECC 5:13 Ta cũng thấy điều bất hạnh nầy trên đời: Tiền bạc dành giụm trở thành tai họa cho sở hữu chủ.
ECC 5:14 Họ mất hết của cải vì thất bại trong việc làm ăn, không còn gì để lại cho con cái.
ECC 5:15 Người sinh ra đời với hai tay không, rồi chết buông xuôi với hai tay trắng. Làm việc cực nhọc lúc còn sống, đến khi qua đời rồi cũng để lại y như lúc chào đời.
ECC 5:16 Điều nầy cũng là chuyện bất hạnh: Chào đời ra sao thì qua đời cũng y như vậy. Cho nên cực nhọc đuổi theo mây khói mà làm gì?
ECC 5:17 Đời người là chuỗi ngày buồn thảm, đen tối, bệnh tật và sầu não.
ECC 5:18 Ta thấy làm thế nầy là tốt nhất: ăn, uống, hưởng thụ công lao mình trong cuộc đời ngắn ngủi mà Thượng Đế giao cho. Vì đó là phần thưởng của mình.
ECC 5:19 Tùy người mà Thượng Đế ban cho của cải, giàu có. Ngài cũng cho người ấy hưởng thụ các của cải đó cùng với công lao mình. Nó là món quà của Thượng Đế.
ECC 5:20 Người ấy không bao giờ bận tâm về cuộc đời ngắn ngủi vì Thượng Đế khiến họ bận rộn với công việc họ ưa thích.
ECC 6:1 Ta cũng thấy một điều nghịch lý khác trên đời đã gây bực dọc cho con người không ít.
ECC 6:2 Một số người được Thượng Đế ban cho của cải, giàu sang và danh dự. Họ có đủ thứ. Nhưng Thượng Đế không cho họ hưởng những thứ đó mà là một người dưng. Điều đó quả thật vô ích và hết sức nghịch lý.
ECC 6:3 Dù ai sống lâu đến đâu đi nữa nhưng nếu không hưởng được điều Thượng Đế cho hoặc được an táng tươm tất thì ích lợi gì? Ta cho rằng hài nhi sảo thai còn may mắn hơn người ấy.
ECC 6:4 Hài nhi sảo thai thật vô dụng. Nó sinh ra trong sương mù rồi chết đi trong bóng tối, không tên tuổi.
ECC 6:5 Hài nhi ấy không hề thấy ánh mặt trời, không biết gì cả nhưng nó còn được an nghỉ hơn người kia.
ECC 6:6 Dù cho người ấy sống đến hai ngàn năm đi nữa mà không tận hưởng được cuộc đời thì có phải cả hai đều về chung một chỗ không?
ECC 6:7 Ai cũng làm việc để nuôi thân, nhưng hình như chẳng bao giờ đủ.
ECC 6:8 Vì thế cho nên người khôn cũng không hơn gì kẻ ngu dại. Và người nghèo cho dù biết sống trên đời cũng không ích lợi gì cho mình.
ECC 6:9 Thà hài lòng với điều mình có còn hơn ham muốn thêm. Càng ham muốn càng vô ích, giống như chạy theo mây khói.
ECC 6:10 Điều gì đang xảy ra thật đã được trù liệu từ lâu. Ai cũng biết loài người chỉ là người thôi. Không ai có thể biện luận với Thượng Đế, vì Ngài mạnh hơn tất cả mọi người.
ECC 6:11 Ngươi càng nói nhiều bao nhiêu, càng vô ích bấy nhiêu. Có lợi gì đâu?
ECC 6:12 Loài người chỉ sống tạm mấy ngày vô nghĩa trên đất; đời người như bóng câu qua cửa sổ. Lúc còn sống ai biết được điều gì tốt nhất cho mình đâu? Có ai biết tương lai ra sao đâu?
ECC 7:1 Uy tín hơn dầu thơm. Ngày chết hơn ngày sinh.
ECC 7:2 Thà đi đến đám ma hơn đến đám tiệc. Chúng ta ai cũng chết, cho nên khi còn sống phải nghĩ đến chuyện ấy.
ECC 7:3 Buồn bã hơn cười vui, vì có khi gương mặt buồn mà lòng lại khoan khoái.
ECC 7:4 Người khôn nghĩ đến cái chết, nhưng kẻ dại chỉ nghĩ đến cuộc vui chơi.
ECC 7:5 Thà bị người khôn chỉ trích hơn được kẻ dại ca tụng.
ECC 7:6 Tiếng cười của kẻ dại như tiếng nổ lẹt đẹt của gai cháy trong lò. Cả hai đều vô dụng.
ECC 7:7 Tiền tài khiến người khôn hóa dại. Của hối lộ làm hư hỏng lòng người.
ECC 7:8 Hoàn tất công việc tốt hơn khởi công. Thà hòa nhã và kiên nhẫn hơn tự phụ và nóng nảy.
ECC 7:9 Đừng vội nóng giận, vì tức giận là dại dột.
ECC 7:10 Chớ hỏi, “Tại sao thời trước tốt hơn thời bây giờ?” Vì hỏi như thế là chẳng khôn.
ECC 7:11 Sự khôn ngoan mà có tiền bạc đi kèm thì tốt. Người khôn sẽ có nhiều của cải. Cả hai giúp những kẻ sống.
ECC 7:12 Sự khôn ngoan như tiền tài: cả hai đều có ích. Nhưng sự khôn ngoan tốt hơn vì có thể cứu được mạng sống.
ECC 7:13 Hãy xem điều Thượng Đế làm: Việc gì Ngài đã bẻ cong, không ai chữa cho ngay lại được.
ECC 7:14 Hãy tận hưởng đời sống đang khi mọi việc tốt đẹp. Khi đời sống gặp khó khăn nên nhớ: Thượng Đế tạo thời kỳ tốt và thời kỳ xấu, vì không ai biết ngày mai ra sao.
ECC 7:15 Trong chuỗi đời vô ích của ta, ta chứng kiến cả hai điều nầy: Ta thấy người tốt, dù tốt vẫn chết bất thần, còn kẻ ác, dù ác vẫn sống lâu.
ECC 7:16 Đừng làm ra vẻ công chính quá, cũng đừng tỏ ra khôn ngoan quá. Tại sao tự hại lấy mình?
ECC 7:17 Đừng quá độc ác, cũng đừng ngu dại. Tại sao muốn chết non làm gì?
ECC 7:18 Ngươi làm cái nầy nhưng đừng buông cái kia thì tốt; ai kính trọng Thượng Đế sẽ giữ được cả hai.
ECC 7:19 Sự khôn ngoan khiến người ta thêm mạnh hơn mười người lãnh đạo trong thành.
ECC 7:20 Thật ra trên đời không có một người nhân đức nào làm lành mà chẳng hề phạm tội.
ECC 7:21 Đừng nghe mọi điều người ta nói, nếu không ngươi sẽ nghe tôi tớ mình nguyền rủa mình.
ECC 7:22 Vì ngươi biết nhiều khi chính mình cũng đã nguyền rủa kẻ khác.
ECC 7:23 Ta dùng sự khôn ngoan để thử nghiệm mọi điều nầy. Ta muốn được khôn ngoan nhưng quá khó khăn đối với ta.
ECC 7:24 Những gì đang xảy ra thật xa vời và sâu thẳm, Ai hiểu nổi?
ECC 7:25 Ta nghiên cứu và cố gắng kiếm sự khôn ngoan, để tìm ý nghĩa mọi việc, thì ta thấy rằng gian ác là dại, và hành động ngu xuẩn là điên.
ECC 7:26 Ta thấy sự ngu xuẩn còn đáng sợ hơn cái chết nữa, nó nguy hiểm như cái bẫy. Tình yêu nó như màn lưới, tay nó ôm chặt như dây xích. Ai sống đẹp lòng Thượng Đế sẽ thoát khỏi móng vuốt nó, nhưng kẻ có tội sẽ bị nó bắt lấy.
ECC 7:27 Thầy nói, “Ta học được điều nầy: Ta gom chung mọi điều lại để tìm ý nghĩa mọi việc.
ECC 7:28 Ta tìm tòi thì nhận thấy điều nầy: Trong một ngàn người thì ta tìm được một người đàn ông tốt, nhưng ta không tìm được một người đàn bà nào trong số ấy.
ECC 7:29 Nhưng ta học được một điều: Thượng Đế dựng nên con người toàn thiện, nhưng con người tìm mọi cách để làm ác.”
ECC 8:1 Ai giống như người khôn ngoan, hiểu biết đủ mọi thứ? Ai có thể giải thích mọi điều? Sự khôn ngoan khiến mặt buồn hóa vui.
ECC 8:2 Hãy vâng phục lệnh vua vì ngươi đã hứa nguyện cùng Thượng Đế.
ECC 8:3 Đừng vội xa lìa vua. Đừng ủng hộ điều quấy, vì vua muốn làm gì thì làm.
ECC 8:4 Lời vua nói là luật lệ; không ai bảo vua rằng, “Tại sao ngài làm như thế?”
ECC 8:5 Ai vâng phục vua thì được an toàn. Người khôn làm đúng việc và đúng lúc.
ECC 8:6 Có lối làm đúng cách và đúng thì cho mỗi việc nhưng người ta thường gặp nhiều khó khăn.
ECC 8:7 Họ không biết tương lai ra sao, cũng không ai có thể cho họ biết chuyện gì sẽ xảy ra.
ECC 8:8 Không ai điều khiển gió được hay ngăn chận cái chết của mình. Không binh sĩ nào được giải ngũ trong thời chiến, và điều ác không buông tha cho kẻ làm ác.
ECC 8:9 Ta nhìn thấy mọi điều đó trong khi ta quan sát mọi việc xảy ra trên đất. Người có quyền ức hiếp kẻ dưới quyền.
ECC 8:10 Ta cũng nhìn thấy đám ma của những kẻ ác đã từng vào ra nơi thánh. Chúng được tôn trọng nơi thị trấn chúng làm việc ác. Điều ấy cũng quả thực phi lý.
ECC 8:11 Vì kẻ ác không bị phạt ngay nên người khác cũng muốn làm ác.
ECC 8:12 Dù kẻ có tội làm một trăm điều ác và sống lâu đi nữa, nhưng ta thấy người kính sợ CHÚA vẫn được phần tốt hơn.
ECC 8:13 Kẻ làm ác sẽ không được yên thân, đời chúng như chiếc bóng, không sống lâu được vì chúng không kính sợ Thượng Đế.
ECC 8:14 Đôi khi có những việc vô ích xảy ra trên đất. Chuyện rủi xảy ra cho người tốt đáng lẽ phải xảy ra cho kẻ ác. Chuyện may xảy ra cho kẻ ác đáng lẽ phải xảy ra cho người tốt. Ta cho điều đó thật phi lý.
ECC 8:15 Nên ta thấy rằng không có gì hơn cho con người trên cõi trần là tận hưởng cuộc đời, bao lâu mà Thượng Đế còn cho mình sống. Tốt nhất là con người nên ăn, uống, tận hưởng cuộc đời, vì niềm vui ấy giúp họ làm nổi những việc nhọc nhằn.
ECC 8:16 Ta cố gắng tìm hiểu mọi việc xảy ra trên đất. Ta thấy con người bận rộn làm việc ngày đêm không ngủ.
ECC 8:17 Ta cũng thấy mọi điều Thượng Đế làm. Không ai hiểu được điều Ngài làm trên đất nầy. Dù cố gắng đến đâu con người cũng không hiểu nổi. Kẻ khôn ngoan cho rằng mình hiểu nhưng thực ra chẳng hiểu gì; không ai có thể hiểu được.
ECC 9:1 Ta suy nghĩ và tìm hiểu những điều đó. Ta thấy rằng Thượng Đế cai quản người công chính và người khôn ngoan cùng những điều họ làm, nhưng không ai biết họ sẽ được yêu hay ghét.
ECC 9:2 Kẻ xấu người tốt đều về chung một đường: người làm phải, kẻ làm quấy, người làm lành, kẻ làm ác, người trong sạch, kẻ dơ bẩn, người hi sinh, kẻ vị kỷ. Việc xảy ra cho người nhân đức, cũng xảy ra cho kẻ có tội, điều xảy ra cho người hứa nguyện với Thượng Đế cũng như kẻ chẳng hứa nguyện gì.
ECC 9:3 Đây là điều tệ hại nhất xảy ra trên đất nầy: Mọi người đều cùng chung số phận. Cho nên trong khi còn sống, tâm trí con người đầy dẫy điều ác và tư tưởng xấu. Sau đó họ nhập bọn với kẻ chết.
ECC 9:4 Nhưng ai còn sống thì còn hi vọng; vì con chó sống hơn con sư tử chết!
ECC 9:5 Người sống biết mình sẽ chết, nhưng kẻ chết chẳng biết gì cả. Người chết không còn nhận được phần thưởng gì, và bị người đời quên lãng.
ECC 9:6 Sau khi qua đời, không ai còn yêu hay ghét hoặc đố kỵ gì. Họ không còn dự phần gì vào những việc xảy ra trên đất.
ECC 9:7 Cho nên hãy ăn và hưởng thụ; hãy uống rượu và vui chơi, vì đó là điều Thượng Đế ban thưởng cho ngươi.
ECC 9:8 Hãy luôn luôn mặc quần áo đẹp và xức dầu thơm trên đầu.
ECC 9:9 Hãy vui hưởng lạc thú bên người vợ mình yêu. Hãy vui hưởng những chuỗi ngày vô dụng của cuộc đời vô dụng mà Thượng Đế đã cho ngươi trên đất vì đó là điều ngươi có. Cho nên hãy tận hưởng công khó của ngươi trên đời nầy.
ECC 9:10 Việc gì ngươi làm hãy làm hết sức vì mồ mả là nơi ngươi sắp đi đến chẳng có việc làm, chương trình, hiểu biết hay khôn ngoan gì.
ECC 9:11 Ta cũng thấy việc khác nữa trên đời nầy: Người chạy nhanh nhất không phải lúc nào cũng thắng cuộc đua, chiến sĩ dũng cảm nhất không phải lúc nào cũng thắng trận, người khôn ngoan nhất không phải lúc nào cũng đủ ăn, người thông minh nhất không phải lúc nào cũng giàu có, và người có tài năng nhất không phải lúc nào cũng được ca tụng. Thời thế và cơ hội xảy ra cho mỗi người.
ECC 9:12 Không ai biết được tương lai. Như cá mắc lưới, như chim sa bẫy, con người bị điều ác bắt lấy khi việc ác thình lình chụp lấy họ.
ECC 9:13 Ta cũng thấy điều khôn ngoan nầy trên đất khiến ta chú ý.
ECC 9:14 Tỉnh nhỏ kia có ít dân. Một vị vua mạnh đến đào hào, đắp lũy để bao vây và tấn công nó.
ECC 9:15 Có một người nghèo mà khôn trong tỉnh, dùng trí khôn mình giải cứu cho cả tỉnh, nhưng về sau chẳng ai nhớ đến người ấy.
ECC 9:16 Ta vẫn cho sự khôn ngoan hơn sức mạnh. Người ta quên lãng sự khôn ngoan của người nghèo và lời nói của người chẳng ai thèm nghe.
ECC 9:17 Lời êm dịu của người khôn đáng được nghe, hơn tiếng la hét của kẻ cầm quyền ngu dại.
ECC 9:18 Sự khôn ngoan hơn khí giới chiến tranh, nhưng một kẻ ngu dại có thể làm thiệt hại lớn lao.
ECC 10:1 Con ruồi chết làm thối bình dầu thơm. Cũng vậy, một chút ngu dại làm hỏng sự khôn ngoan và danh dự.
ECC 10:2 Lòng của người khôn hướng về điều phải, còn lòng của kẻ dại hướng về điều quấy.
ECC 10:3 Dù cho đang khi đi đường, kẻ dại cũng chứng tỏ nó chẳng hiểu gì; nó cho thấy sự ngu dốt mình.
ECC 10:4 Đừng buông tay bỏ việc, khi ông chủ nổi giận với mình. Sự bình tĩnh giải quyết được nhiều lỗi lầm lớn.
ECC 10:5 Có một việc khác rất phi lý xảy ra trên đời nầy. Đó là lỗi lầm mà các kẻ cầm quyền phạm phải:
ECC 10:6 Kẻ dại được giữ chức vụ quan trọng trong khi người có khả năng bị giao cho chức vụ thấp kém;
ECC 10:7 Ta từng thấy kẻ tôi tớ cỡi ngựa còn quan quyền thì đi bộ như tôi tớ.
ECC 10:8 Ai đào hố có thể sẽ rơi vào đó; ai phá đổ vách tường có thể bị rắn cắn;
ECC 10:9 ai lăn tảng đá sẽ bị dập vì đá; còn ai đốn cây sẽ bị cây đè.
ECC 10:10 Lưỡi rìu cùn khiến thêm nhọc nhằn. Sự khôn khéo làm việc nhanh hơn.
ECC 10:11 Nếu bị rắn cắn trước khi nó bị ếm, thì thầy ếm chú chẳng ích gì.
ECC 10:12 Lời của người khôn mang sự ca tụng, còn lời của kẻ dại chỉ mang đến sự hủy diệt.
ECC 10:13 Kẻ dại mở miệng nói chuyện ngu dại và kết luận bằng những lời điên khùng và độc ác.
ECC 10:14 Kẻ dại hay lắm lời. Chẳng ai biết được tương lai, cũng không ai biết được chuyện gì xảy ra sau khi chết.
ECC 10:15 Sự cực nhọc của kẻ dại khiến nó mệt mỏi; đến nỗi nó không biết đường về nhà.
ECC 10:16 Thật khốn đốn cho quốc gia nào có vua khờ khạo như trẻ con và các quan quyền chỉ ăn uống thâu đêm suốt sáng.
ECC 10:17 Thật may mắn cho quốc gia nào có vua xuất thân từ gia đình đàng hoàng, và các quan quyền ăn uống đúng giờ giấc để lấy sức, không phải để say sưa.
ECC 10:18 Kẻ nào biếng nhác thì mái nhà nó sẽ bị sập. Nếu không lo sửa chữa, nhà sẽ dột.
ECC 10:19 Tiệc tùng khiến ngươi thoải mái, rượu giúp ngươi giải sầu, còn tiền bạc mua được mọi thứ.
ECC 10:20 Đừng nói xấu vua, dù trong phòng ngủ cũng đừng bêu xấu kẻ giàu có. Vì chim con sẽ đồn tiếng ngươi ra; và chim chóc sẽ bay đi thuật lại điều ngươi nói.
ECC 11:1 Hãy làm điều tốt ở những nơi ngươi đến, vì sau một thời gian những điều ấy sẽ trở lại cùng ngươi.
ECC 11:2 Hãy đầu tư điều ngươi có vào nhiều thương vụ khác nhau, vì ngươi không biết vận rủi sẽ xảy ra lúc nào.
ECC 11:3 Nếu mây chứa đầy mưa, mưa sẽ tưới đất. Cây có thể ngã về hướng bắc hay hướng nam, hễ ngã hướng nào thì nó nằm ngay chỗ đó.
ECC 11:4 Ai chờ cho thời tiết thuận hoà sẽ không gieo, ai nhìn mây sẽ không gặt.
ECC 11:5 Ngươi không biết gió thổi hướng nào, ngươi không biết thai nhi lớn lên trong bụng mẹ ra sao. Cũng thế, ngươi không biết Thượng Đế hành động thế nào, hoặc Ngài dựng nên mọi vật ra sao.
ECC 11:6 Hãy gieo giống lúc sáng sớm, đừng ngưng tay vào buổi chiều, vì ngươi không biết hột nào sẽ kết quả, hoặc mọi hột đều kết quả.
ECC 11:7 Ánh nắng thật êm dịu; nhìn thấy ánh bình minh thật thích thú.
ECC 11:8 Hãy tận hưởng mỗi ngày của đời mình, dù sống lâu đến đâu đi nữa. Nhưng hãy nhớ điều nầy: Ngươi qua đời rồi đi mất. Chuyện gì xảy ra sau cái chết đều vô ích.
ECC 11:9 Hỡi thanh thiếu niên, hãy tận hưởng cuộc đời khi còn trẻ; hãy vui thích khi còn thanh xuân. Hãy làm điều lòng mình muốn, nhìn điều mắt mình ưa thích. Nhưng nên nhớ rằng Thượng Đế sẽ xét xử điều ngươi làm.
ECC 11:10 Đừng để cơn giận nhập vào lòng, hãy xua đuổi tội lỗi ra khỏi thân thể, hãy quên đi những nỗi đau đớn của thân thể, vì tuổi xuân và thời thơ ấu thật hoàn toàn vô dụng thôi.
ECC 12:1 Khi còn trẻ hãy tưởng nhớ Đấng Tạo hóa mình, trước khi thời buổi khó khăn đến, và những năm tương lai khi ngươi nói, “Tôi không mãn nguyện về những năm tháng ấy.”
ECC 12:2 Khi ngươi về già, thì ánh mặt trời, mặt trăng và ngôi sao sẽ trở nên tăm tối, mây mưa hình như không dứt.
ECC 12:3 Lúc đó tay ngươi sẽ run rẩy, chân ngươi sẽ yếu ớt. Răng ngươi sẽ rụng, không còn nhai được, mắt ngươi sẽ lòa không thấy rõ nữa.
ECC 12:4 Tai ngươi sẽ bị lãng không nghe được tiếng ồn ào trong đường phố, và ngươi không còn nghe rõ tiếng xay cối. Ngươi sẽ thức giấc khi chim bắt đầu hót, nhưng ngươi sẽ không nghe rõ tiếng hót.
ECC 12:5 Ngươi sẽ hãi hùng khi lên những chỗ cao và sợ sệt lúc đi đường. Tóc ngươi sẽ bạc trắng như hoa hạnh nhân. Ngươi sẽ đi cà nhắc như cào cào. Ngươi sẽ ăn không biết ngon. Rồi ngươi sẽ về nhà đời đời của mình, người ta sẽ dự đám ma ngươi.
ECC 12:6 Chẳng bao lâu đời ngươi sẽ đứt như dây xích bạc, hay bể ra như chén vàng. Ngươi sẽ như bầu nước nát vụn bên suối, hay bánh xe gãy nằm cạnh giếng.
ECC 12:7 Ngươi sẽ trở về bụi đất, là nơi xuất xứ của ngươi, và thần linh ngươi sẽ trở về cùng Thượng Đế là Đấng dựng nên nó.
ECC 12:8 Mọi việc đều vô ích! Thầy nói rằng mọi việc đều vô ích.
ECC 12:9 Thầy là người rất khôn ngoan và dạy người khác điều mình biết. Thầy đã suy nghĩ, nghiên cứu và sắp xếp kỹ lưỡng mọi lời dạy dỗ khôn ngoan của mình.
ECC 12:10 Thầy đã đắn đo tìm đúng chữ để viết ra những lời đáng tin và chân thật.
ECC 12:11 Lời của người khôn ngoan như gậy nhọn dùng dẫn súc vật. Những lời đó như đinh đóng thật chắc. Tất cả đều là những lời dạy dỗ khôn ngoan do một Vị Chăn Chiên dạy dỗ.
ECC 12:12 Cho nên, con ơi, hãy thận trọng về những lời dạy bảo khác. Người ta luôn luôn biên soạn thêm sách vở, còn học quá khiến con mệt mỏi.
ECC 12:13 Sau khi đã học hỏi trong sách nầy, lời khuyên cuối cùng của ta là: Hãy tôn kính Thượng Đế và vâng theo mệnh lệnh Ngài, đó là nghĩa vụ của con.
ECC 12:14 Thượng Đế sẽ phân xử mọi việc, kể cả việc làm lén lút, dù thiện hay ác cũng vậy.
SOL 1:1 Bài thơ tình nổi tiếng nhất của Sô-lô-môn.
SOL 1:2 Hãy hôn em bằng môi anh, vì tình yêu của anh ngon hơn rượu.
SOL 1:3 Mùi nước hoa anh thật thơm dịu, và danh tiếng của anh trải ra như dầu thơm đắt giá. Vì thế nên các thiếu nữ yêu anh.
SOL 1:4 Hãy mang em đi với anh; chúng ta hãy cùng chạy trốn chung với nhau. Vua đưa tôi vào phòng chàng. Chúng tôi sẽ hớn hở vui mừng cùng anh; Chúng tôi ca tụng tình yêu của anh hơn ca tụng rượu. Các cô gái trẻ yêu anh là phải.
SOL 1:5 Tôi ngăm đen nhưng xinh đẹp, các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem ơi, tôi ngăm đen như các lều của Kê-đa và Sanh-ma, như các màn trướng của Sô-lô-môn.
SOL 1:6 Đừng nhìn màu da rám nắng của tôi, màu sậm đó do mặt trời cháy nám. Các anh tôi bất bình với tôi, Bắt tôi chăm sóc vườn nho của họ, Còn vườn nho tôi thì tôi bỏ bê!
SOL 1:7 Người yêu của em ơi, anh chăn chiên nơi nào? Buổi trưa anh cho chúng nằm nghỉ ở đâu? Tại sao em phải tìm anh gần bầy chiên anh, Như người thiếu nữ mang khăn che mặt?
SOL 1:8 Em đẹp nhất trong tất cả các thiếu nữ. Chắc hẳn em biết theo bầy chiên. Hãy đi theo các con chiên, Hãy cho các dê con ăn gần lều các kẻ chăn chiên.
SOL 1:9 Em yêu dấu ơi, em như con ngựa cái ở giữa bầy ngựa đực kéo xe cho Pha-ra-ôn.
SOL 1:10 Má em xinh vì đồ trang sức, cổ em đẹp vì nữ trang.
SOL 1:11 Chúng ta sẽ làm cho em các đồ trang sức bằng vàng có cẩn bạc.
SOL 1:12 Mùi hương của nước hoa tôi tỏa ra trên ghế dài của vua.
SOL 1:13 Người yêu tôi như bao mộc dược nằm giữa nhũ hoa tôi.
SOL 1:14 Người yêu tôi như một chùm hoa, hái từ vườn nho Ên-ghê-đi.
SOL 1:15 Em yêu ơi, em đẹp tuyệt trần, Em quá xinh, đôi mắt em như mắt bồ câu.
SOL 1:16 Tình nhân của em ơi, anh đẹp trai lắm, anh dịu dàng lắm! Giường chúng ta như thảm cỏ xanh.
SOL 1:17 Mái nhà chúng ta làm bằng cây hương nam; Trần nhà chúng ta làm bằng gỗ cây tòng.
SOL 2:1 Em là hoa hồng trong đồng bằng Sa-rôn, là hoa huệ trong thung lũng.
SOL 2:2 Trong đám thiếu nữ, thì em giống như hoa huệ giữa bụi gai!
SOL 2:3 Trong đám thanh niên, người yêu của em như cây táo giữa rừng! Tôi thích ngồi dưới bóng chàng; Trái cây của chàng dịu ngọt cho lưỡi tôi.
SOL 2:4 Chàng mang tôi vào phòng tiệc yến, và phất trên tôi lá cờ tình yêu.
SOL 2:5 Hãy lấy trái nho bổ sức cho tôi, và dùng trái táo làm sức tôi hồi phục, vì tôi bủn rủn vì tình yêu.
SOL 2:6 Tay trái của người yêu tôi kê dưới đầu tôi, tay phải chàng ôm chặt lấy tôi.
SOL 2:7 Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem ơi, hãy hứa với tôi bên đàn sơn dương hay bầy nai, đừng đánh thức hoặc kích động tình yêu cho đến khi nó sẵn sàng.
SOL 2:8 Tôi nghe tiếng người yêu tôi, Chàng đến, nhảy qua các núi, vượt qua các đồi.
SOL 2:9 Người yêu tôi giống như con sơn dương hay con nai tơ, Kìa, chàng đứng sau tường lén nhìn qua cửa sổ, qua bức mành.
SOL 2:10 Người yêu tôi nói thỏ thẻ với tôi, “Em yêu ơi, hãy thức dậy; người đẹp của anh ơi, chúng ta hãy đi xa.
SOL 2:11 Nầy, mùa đông đã qua, mưa đã dứt không còn rơi.
SOL 2:12 Bông hoa nở ra khắp đất, Thời kỳ hát xướng đã đến; Tiếng chim ngân vang lên trong xứ.
SOL 2:13 Có trái vả non mọc trên cây, và giàn nho trổ hoa thơm nức. Người yêu của anh ơi, hãy thức dậy. Chúng ta hãy đi xa, người đẹp của anh ơi.”
SOL 2:14 Chim bồ câu núp trong kẽ đá, trong nơi bí hiểm của ghềnh. Hãy cho anh nhìn mặt em, cho anh nghe tiếng em. Tiếng em dịu ngọt, gương mặt em dễ thương.
SOL 2:15 Hãy bắt các con chồn cho chúng tôi, mấy con chồn nhỏ phá vườn nho trong khi hoa đang trổ.
SOL 2:16 Người yêu tôi thuộc về tôi, tôi thuộc về chàng. Chàng chăn bầy giữa đám hoa huệ
SOL 2:17 cho đến khi bình mình ló dạng và bóng tối tan đi. Anh yêu ơi, hãy quay lại. Hãy như con sơn dương hay nai tơ trong khe núi Bê-the.
SOL 3:1 Ban đêm trên giường tôi, Tôi tìm người tôi yêu; Tôi tìm anh ấy nhưng không thấy.
SOL 3:2 Tôi thức dậy đi vòng quanh thành, tìm người yêu tôi nơi đường phố và công viên. Tôi tìm người tôi yêu, nhưng không gặp.
SOL 3:3 Các lính tuần canh thành phố gặp tôi, tôi liền hỏi, “Các anh có thấy người yêu tôi ở đâu không?”
SOL 3:4 Vừa khi tôi rời họ, thì tôi gặp người yêu tôi. Tôi ôm chầm lấy anh, không chịu buông ra cho đến khi tôi đưa anh ấy về nhà mẹ tôi, vào phòng nơi tôi sinh ra.
SOL 3:5 Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem ơi, hãy hứa với tôi bên cạnh con sơn dương hay nai tơ rằng đừng đánh thức hay khiêu khích tình yêu cho đến khi nó sẵn sàng.
SOL 3:6 Người nữ bước ra khỏi sa mạc giữa đám người đông đảo là ai? Người nào thơm phức mùi mộc dược, trầm hương và hương liệu khác?
SOL 3:7 Nầy, đó là kiệu của Sô-lô-môn có sáu mươi binh sĩ hầu quanh, những chiến sĩ tinh nhuệ nhất của Ít-ra-en.
SOL 3:8 Các binh sĩ đó đều cầm gươm, đã được huấn luyện để chiến đấu. Mỗi người đeo gươm nơi hông và sẵn sàng đối phó với mối nguy hiểm ban đêm.
SOL 3:9 Vua Sô-lô-môn làm một cái giường cho mình bằng gỗ cây hương nam Li-băng.
SOL 3:10 Vua đóng các cột bằng bạc và các cây tréo bằng vàng. Chỗ ngồi bọc vải tím mà các thiếu nữ Giê-ru-ra-lem đã dệt bằng tình yêu.
SOL 3:11 Các thiếu nữ Giê-ru-ra-lem ơi, hãy ra mà xem vua Sô-lô-môn. Vua đang đội mão triều mà mẹ ông đặt trên đầu ông trong ngày cưới, khi lòng vua vui mừng hớn hở.
SOL 4:1 Em ơi, em đẹp lắm! Em đẹp tuyệt trần! Đôi mắt em phía sau khăn mỏng che mặt giống như bồ câu. Tóc em như bầy dê đang đi xuống triền núi Ghi-lê-át.
SOL 4:2 Răng em trắng tựa đàn chiên vừa mới hớt lông sau khi tắm. Tất cả đều sinh đôi, không sót con nào.
SOL 4:3 Môi em tợ sợi chỉ hồng, miệng em thật xinh xắn. Má em ẩn sau khăn mỏng che mặt như hai lát trái lựu.
SOL 4:4 Cổ em giống như tháp Đa-vít, xây trên hàng dãy khối đá. Một ngàn tấm khiên treo trên vách; Mỗi tấm thuộc về một chiến sĩ.
SOL 4:5 Nhũ hoa em như hai con nai tơ, như con sơn dương sinh đôi, đang ăn cỏ giữa đám hoa huệ.
SOL 4:6 Cho đến khi ngày ló dạng và bóng tối tan đi, anh sẽ đi đến núi nhũ hương và đi đến đồi trầm hương đó.
SOL 4:7 Em ơi, cái gì trong người em cũng xinh đẹp, thân thể em thật hoàn mỹ.
SOL 4:8 Cô dâu của anh ơi, hãy từ Li-băng đi đến cùng anh. Hãy từ Li-băng đi đến cùng anh, từ đỉnh núi A-ma-na, Từ đỉnh núi Xê-nia và núi Hẹt-môn. Hãy đến từ hang sư tử và từ các đồi núi của beo.
SOL 4:9 Tân nương, em gái anh ơi, em làm tim anh rung động; em làm tim anh rung động bằng cái liếc mắt đưa tình của em, và ánh lóng lánh của vòng đeo cổ em.
SOL 4:10 Tình yêu em thật dịu dàng, em gái và cô dâu của anh ơi. Tình yêu em ngon hơn rượu, nước hoa của em dịu dàng hơn hương liệu.
SOL 4:11 Nàng dâu của anh ơi, môi em nhễu mật ong; mật ong và sữa nằm dưới lưỡi em. Quần áo em thơm nức mùi cây hương nam Li-băng.
SOL 4:12 Em gái, cô dâu của anh ơi, em như khu vườn rào kín, như suối có tường cao, như suối nước giấu kín.
SOL 4:13 Tay chân em như vườn lựu sai trái ngon, đầy hoa và cây cam tòng,
SOL 4:14 hồng hoa, xương bồ và nhục quế, trầm hương, mộc dược, và lô hội, toàn các hương liệu nổi tiếng.
SOL 4:15 Em như giếng nước mát, như suối nước chảy từ các núi Li-băng.
SOL 4:16 Gió Bắc ơi, hãy thức dậy. Gió Nam ơi, hãy đến. Thổi trên vườn ta, để hương thơm nó tỏa ra. Để cho người yêu ta vào vườn ăn trái ngon nhất của nó.
SOL 5:1 Em gái anh, cô dâu của ta ơi, anh đã vào vườn của anh. Anh đã gom mộc dược cùng với hương liệu ta. Anh đã ăn tàng ong cùng với mật. Anh đã uống rượu và sữa. Nầy các bạn, hãy ăn và uống, hãy say men tình, hỡi các tình nhân.
SOL 5:2 Tôi ngủ nhưng tim tôi thức. Tôi nghe tiếng người yêu tôi gõ cửa. “Hãy mở cửa ra cho anh, em gái, cô dâu của anh, chim bồ câu và người toàn hảo của ta ơi. Đầu anh ướt đẫm giọt sương, tóc anh sũng ướt sương đêm.”
SOL 5:3 Tôi đã cởi áo rồi, mặc lại làm gì? Tôi đã rửa chân rồi, làm dơ trở lại sao?
SOL 5:4 Người yêu tôi thò tay qua then cửa, làm tim tôi hồi hộp.
SOL 5:5 Tôi đứng dậy mở cửa cho người yêu tôi. Mộc dược nhỏ xuống từ tay tôi chảy giữa các ngón tay, rơi xuống tay cầm ổ khóa.
SOL 5:6 Tôi mở cửa cho người yêu tôi, nhưng chàng đi mất rồi. Khi chàng nói, tôi nín thở. Tôi kiếm chàng nhưng không thấy. Tôi gọi chàng, nhưng chàng không trả lời.
SOL 5:7 Các lính canh gặp tôi khi đang tuần hành trong thành phố. Chúng đánh và làm tổn thương tôi; các lính gác trên vách thành giật cái khăn mỏng che mặt của tôi.
SOL 5:8 Các cô gái Giê-ru-ra-lem ơi, hãy hứa với tôi, nếu các chị gặp người yêu tôi, thì bảo anh ấy rằng tôi đang lụy vì tình.
SOL 5:9 Người yêu của chị hơn các người yêu khác như thế nào, hỡi thiếu nữ tuyệt trần? Người yêu của chị hơn các người yêu khác ra sao? Tại sao chị muốn chúng tôi hứa như vậy?
SOL 5:10 Người yêu tôi khoẻ mạnh và ngăm ngăm, số một trong hàng vạn người.
SOL 5:11 Đầu chàng như vàng thượng hạng; tóc chàng dợn sóng và đen như quạ.
SOL 5:12 Mắt chàng như bồ câu đậu bên suối nước. Trông giống như vừa tắm trong sữa và nạm ngọc.
SOL 5:13 Má chàng như luống hương liệu; thơm phức như vườn hoa. Môi chàng như hoa huệ chảy mộc dược ròng.
SOL 5:14 Tay chàng như bản lề vàng cẩn ngọc, Thân chàng như ngà voi bóng láng cẩn ngọc xanh.
SOL 5:15 Hai chân chàng như cột cẩm thạch, dựng trên các đế bằng vàng ròng. Chàng giống như cây hương nam Li-băng, xinh tốt nhất trong các cây.
SOL 5:16 Miệng chàng rất êm dịu cho nụ hôn, nên tôi rất thích chàng. Các thiếu nữ Giê-ru-ra-lem ơi, người yêu tôi và bạn tôi như thế đó.
SOL 6:1 Hỡi người con gái xinh đẹp nhất trong các người nữ, người yêu chị đi đâu rồi? Người tình của chị quay phía nào? Chúng tôi sẽ cùng chị đi tìm anh ấy.
SOL 6:2 Người yêu tôi đi xuống vườn anh ấy, đến luống thuốc thơm, để cho bầy chiên ăn, và hái hoa huệ.
SOL 6:3 Tôi thuộc về người yêu tôi, và người yêu tôi thuộc về tôi. Chàng cho bầy chiên ăn giữa đám hoa huệ.
SOL 6:4 Em yêu ơi, em đẹp như thành Tiệt-xa, dễ thương như thành Giê-ru-ra-lem, như một đội quân phất cờ.
SOL 6:5 Em hãy quay nhìn chỗ khác, vì mắt em làm anh rung động quá mức. Tóc em như bầy dê, đang chạy xuống triền núi Ghi-lê-át.
SOL 6:6 Răng em trắng như bầy chiên vừa mới tắm xong; con nào cũng sinh đôi, không sót con nào.
SOL 6:7 Má em lấp ló sau cái lúp giống như hai lát trái lựu.
SOL 6:8 Có sáu mươi hoàng hậu và tám mươi tì nữ còn gái trẻ thì vô số,
SOL 6:9 nhưng chỉ có một thiếu nữ toàn hảo giống như chim bồ câu của anh. Nàng là con gái một của mẹ nàng, đứa con cưng nhất mà mẹ nàng sinh ra. Các thiếu nữ thấy nàng và cho nàng có phúc; Các hoàng hậu và tì nữ cũng ca ngợi nàng.
SOL 6:10 Cô gái trẻ sáng rỡ như bình minh kia là ai? Nàng đẹp như tiên nga, tươi sáng như mặt trời, kỳ diệu như một đạo quân phất cờ.
SOL 6:11 Tôi đi xuống vườn hạnh đào xem các chùm hoa của thung lũng, tìm các nụ hoa trên dây nho, để xem cây lựu đã trổ hoa chưa.
SOL 6:12 Không ngờ lòng tôi khao khát nàng khiến tôi cảm thấy mình như hoàng tử đang cỡi quân xa của vua.
SOL 6:13 Thiếu nữ Su-lam ơi, hãy trở lại, trở lại. Hãy trở lại, trở lại, để chúng tôi ngắm nhìn chị. Tại sao các chị muốn nhìn người thiếu nữ Su-lam như nhìn cuộc nhảy múa giữa hai hàng khán giả?
SOL 7:1 Chân em mang dép thật dễ thương, em là con gái của một ông hoàng. Đùi em tròn trịa như nữ trang do họa sĩ có tài làm ra.
SOL 7:2 Rún em tròn như cốc rượu luôn luôn đầy. Bụng em như đống lúa mì có hoa huệ mọc quanh.
SOL 7:3 Nhũ hoa em như hai con nai con, như con hoàng dương sinh đôi.
SOL 7:4 Cổ em như tháp ngà. Mắt em như các hồ nước Hết-bôn gần cổng Bát Ra-bim. Mũi em như núi Li-băng nhìn xuống Đa-mách.
SOL 7:5 Đầu em như núi Cạt-mên, tóc em như vải tím; có lọn làm say đắm lòng vua.
SOL 7:6 Em xinh đẹp và dịu dàng; tình yêu của ta ơi, em làm anh say mê.
SOL 7:7 Em cao như cây chà là, nhũ hoa em như hai chùm trái chà là.
SOL 7:8 Anh nói, “Anh sẽ trèo lên cây chà là và vin các trái nó.” Nguyện nhũ hoa em như chùm nho, hơi thở em thơm mùi trái táo,
SOL 7:9 và miệng em như rượu mới hảo hạng. Nguyện rượu nầy chảy đến người yêu tôi; chảy nhẹ nhàng qua môi và răng.
SOL 7:10 Tôi thuộc về người yêu tôi; chàng chỉ thích một mình tôi.
SOL 7:11 Anh yêu ơi, hãy đến, chúng ta hãy đi vào vùng quê ngủ đêm trong đồng.
SOL 7:12 Hãy đi sớm vào vườn nho xem dây nho đã nứt lộc chưa. Để xem thử hoa đã trổ và cây lựu ra bông chưa. Ở đó em sẽ cho anh tình yêu của em.
SOL 7:13 Các hoa ngải sâm tỏa ra mùi dịu dàng, và tất cả các trái thơm ngon nhất đều có sẵn tại cổng nhà chúng ta. Anh yêu ơi, em đã để dành các trái đó cho anh, cả cũ lẫn mới đủ loại.
SOL 8:1 Ước gì anh là anh của em bú vú của mẹ em. Để nếu em thấy anh ngoài đường, em sẽ hôn anh, mà không sợ ai chê cười.
SOL 8:2 Em sẽ đưa anh vào nhà mẹ em; người đã dạy em. Em sẽ cho anh uống rượu thơm pha lựu của em.
SOL 8:3 Người yêu tôi kê tay trái dưới đầu tôi, tay phải chàng ôm chặt lấy tôi.
SOL 8:4 Các cô gái Giê-ru-ra-lem ơi, hãy hứa với tôi là sẽ không đánh thức hay kích động tình yêu cho đến khi nó muốn.
SOL 8:5 Thiếu nữ nầy là ai từ sa mạc đi ra tựa vào người yêu mình? Tôi đánh thức anh dưới gốc cây táo nơi anh sinh ra; đó là nơi mẹ anh sinh ra anh.
SOL 8:6 Hãy để em như cái ấn trong lòng anh, như con dấu trên cánh tay anh. Tình yêu mạnh như sự chết; Sự ghen tương hung bạo như mồ mả. Tình yêu bộc phát và bốc cháy như lửa nóng.
SOL 8:7 Nước bao nhiêu cũng không dập tắt được lửa tình; lụt lội cùng không đè nén nổi ái tình. Ai có thể khinh dể người bằng lòng đánh đổi mọi thứ cho tình yêu?
SOL 8:8 Chúng tôi có một em gái nhỏ chưa có nhũ hoa. Chúng tôi phải làm gì cho em gái chúng tôi trong ngày hứa hôn của nó?
SOL 8:9 Nếu nó là vách thành, thì chúng tôi sẽ xây các trụ đỡ trên đó. Nếu nó là cái cửa, chúng tôi sẽ lấy ván hương nam bảo vệ nó.
SOL 8:10 Em là vách thành, còn nhũ hoa em như cái tháp. Đối với chàng, em là người làm chàng mãn nguyện.
SOL 8:11 Sô-lô-môn có một vườn nho ở Ba-anh Ha-môn. Ông cho người khác thuê mướn, và người thuê phải trả hai mươi lăm cân bạc để hái nho.
SOL 8:12 Nhưng vườn nho tôi thì tôi cho không vì là của tôi. Sô-lô-môn ơi, hai mươi lăm cân bạc là của anh, Còn năm cân bạc là cho các người thuê mướn.
SOL 8:13 Em ở trong các vườn, bạn hữu anh nghe tiếng em; hãy để anh nghe tiếng em.
SOL 8:14 Hãy đến mau, người yêu của em ơi, như con sơn dương hay con nai tơ nhảy trên các núi thuốc thơm.
ISA 1:1 Sau đây là sự hiện thấy của Ê-sai, con trai A-mốt về tương lai của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ê-sai chứng kiến những sự hiện thấy nầy trong đời các vua U-xia, Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia trị vì xứ Giu-đa.
ISA 1:2 Hỡi trời và đất hãy nghe đây, vì nầy là lời CHÚA phán: “Ta nuôi dưỡng con cái ta lớn lên, nhưng chúng nó chống nghịch ta.
ISA 1:3 Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ, nhưng dân Ít-ra-en ta không hề biết ta; dân ta chẳng hiểu biết.”
ISA 1:4 Thật gớm ghê chưa! Ít-ra-en là một nước tội lỗi, một dân bị gian ác đè nặng, một đám con làm ác, thật là một lũ con gian ác. Chúng đã từ bỏ CHÚA; ghét Thượng Đế, Đấng Thánh của Ít-ra-en, và đã quay lưng khỏi Ngài như thể quay mặt khỏi người lạ.
ISA 1:5 Tại sao các ngươi muốn bị trừng phạt mãi? Tại sao các ngươi vẫn tiếp tục chống nghịch Ngài? Đầu các ngươi bị thương tích, lòng các ngươi bệnh hoạn.
ISA 1:6 Từ bàn chân cho tới đỉnh đầu ngươi không có chỗ nào lành lặn; toàn thân ngươi đầy vết thương, trầy trụa và vết lở chưa được rửa hay băng bó, chưa được xức thuốc cho bớt đau.
ISA 1:7 Xứ ngươi bị tàn hại; các thành phố ngươi bị thiêu rụi. Trong khi ngươi nhìn thì kẻ thù ngươi bóc lột mọi thứ trong xứ ngươi; đất ngươi bị kẻ thù tàn phá.
ISA 1:8 Giê-ru-sa-lem bị bỏ hoang như lều trống trong vườn nho, như chòi bỏ hoang trong ruộng dưa, như thành bị kẻ thù vây hãm.
ISA 1:9 May mà CHÚA Toàn Năng đã để lại một số ít trong dân ta sống sót. Nếu không thì chúng ta đã hoàn toàn bị diệt như hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ rồi.
ISA 1:10 Giê-ru-sa-lem ơi, các lãnh tụ ngươi chẳng khác nào những lãnh tụ Xô-đôm, và dân ngươi chẳng khác nào dân Gô-mô-rơ. Hãy nghe lời CHÚA phán; lắng nghe lời dạy của Thượng Đế chúng ta!
ISA 1:11 CHÚA phán, “Ta không cần những sinh tế các ngươi. Ta đã có đủ của lễ thiêu bằng chiên đực và mỡ của các thú vật tốt nhất của ngươi rồi. Ta không thích huyết bò đực, huyết chiên đực hay huyết dê đực.
ISA 1:12 Khi ngươi đến gặp ta, ai bảo ngươi dẫm chân lên hành lang ta?
ISA 1:13 Thôi đừng mang sinh tế vô ích cho ta nữa! Ta ngấy các cuộc dâng hương, các ngày Trăng Mới, ngày Sa-bát hay các ngày lễ lộc khác của ngươi. Ta không chịu nổi những điều ác ngươi làm trong các buổi họp thánh.
ISA 1:14 Ta ghét những ngày lễ Trăng Mới và các lễ hằng năm khác. Chúng đã thành gánh nặng cho ta, ta mệt rồi không muốn mang nữa.
ISA 1:15 Khi các ngươi giơ tay ra cầu nguyện với ta, ta không thèm nhìn. Dù cho ngươi cầu nguyện dông dài, ta chẳng thèm nghe, vì tay ngươi dính đầy máu.
ISA 1:16 Hãy tắm rửa cho sạch đi. Đừng làm điều ác. Và thôi làm điều bất chính.
ISA 1:17 Hãy học làm điều lành. Tìm kiếm điều công bình. Trừng phạt kẻ làm hại người khác. Hãy giúp đỡ kẻ mồ côi. Bênh vực người góa bụa.”
ISA 1:18 CHÚA phán, “Hãy đến để chúng ta thảo luận việc nầy. Dù tội ngươi như hồng điều, dù lỗi ngươi như son đỏ, cũng sẽ trắng như lông chiên.
ISA 1:19 Nếu ngươi bằng lòng vâng lời ta, ngươi sẽ ăn sản vật của xứ.
ISA 1:20 Nhưng nếu ngươi không chịu vâng lời và chống nghịch ta, ngươi sẽ bị gươm kẻ thù tiêu diệt.” Đó là lời do chính CHÚA phán ra.
ISA 1:21 Thành Giê-ru-sa-lem trước kia theo CHÚA, nhưng nó không còn trung thành với Ngài nữa. Trước kia nó đầy dẫy điều công chính; dân chúng sống theo ý muốn Thượng Đế. Bây giờ nó là nơi lũ sát nhân trú ngụ.
ISA 1:22 Giê-ru-sa-lem ơi, ngươi giống như bạc đã biến thành cặn bã; như rượu pha với nước.
ISA 1:23 Các lãnh tụ ngươi là những kẻ phản loạn bạn bè với quân trộm cắp. Chúng đều nhận hối lộ để làm bậy, ăn của đút lót để lường gạt dân chúng. Chúng không đem công lý đến cho kẻ mồ côi hay đếm xỉa đến quyền lợi của người góa bụa.
ISA 1:24 Cho nên Thượng Đế Toàn Năng, Đấng Quyền Oai của Ít-ra-en phán như sau: “Ngươi, kẻ thù ta, sẽ không còn gây phiền cho ta nữa. Ta sẽ báo trả điều ngươi làm.
ISA 1:25 Ta sẽ chống nghịch ngươi và sẽ tẩy sạch cặn bã ra khỏi ngươi; ta sẽ loại bỏ những kim loại vô dụng.
ISA 1:26 Ta sẽ mang các quan án ngươi về như xưa kia; các cố vấn ngươi giống như cũ. Rồi ngươi sẽ được gọi là thành Công Chính, thành Trung Kiên.”
ISA 1:27 Nhờ làm điều công chính, Giê-ru-sa-lem sẽ được tự do như trước. Nhờ làm điều phải, dân cư trở về với CHÚA sẽ được giải thoát.
ISA 1:28 Còn tội nhân và kẻ chống nghịch Thượng Đế sẽ bị tiêu diệt; kẻ rời bỏ CHÚA sẽ chết mất.
ISA 1:29 “Ngươi sẽ bị sỉ nhục vì đã bái lạy các thần khác dưới các cây sồi. Ngươi sẽ bị nhục nhã vì đã thờ lạy các thần khác trong vườn mình.
ISA 1:30 Ngươi sẽ như cây sồi úa lá, như vườn không tưới.
ISA 1:31 Những kẻ quyền thế sẽ như những khúc củi nhỏ, khô queo, công việc họ như những tia lửa. Chúng sẽ cùng nhau cháy, không ai dập tắt.”
ISA 2:1 Ê-sai, con trai A-mốt nói tiên tri như sau về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem:
ISA 2:2 Trong những ngày cuối cùng, núi nơi có đền thờ của CHÚA sẽ cao hơn các núi, cao hơn các đồi và các dân sẽ đổ về đó.
ISA 2:3 Nhiều dân tộc sẽ đến bảo rằng, “Chúng ta hãy lên núi của CHÚA, đi đến đền thờ Thượng Đế của Gia-cốp để Ngài dạy chúng ta đường lối Ngài, và chúng ta sẽ vâng theo lời giáo huấn của Ngài.” Lời giáo huấn Ngài xuất phát từ Giê-ru-sa-lem; lời phán của CHÚA cũng ra từ Giê-ru-sa-lem.
ISA 2:4 Ngài sẽ giàn xếp những tranh chấp giữa các dân tộc và quyết định cho nhiều quốc gia. Lúc đó họ sẽ rèn gươm ra lưỡi cày và biến giáo mác ra dao cong. Các nước sẽ không còn đánh nhau, cũng không tập luyện chiến tranh nữa.
ISA 2:5 Hỡi nhà Gia-cốp, chúng ta hãy đi theo đường lối của CHÚA.
ISA 2:6 Lạy CHÚA, CHÚA đã bỏ dân Ngài, là nhà Gia-cốp, vì chúng đã đầy những tư tưởng bậy bạ theo các dân Đông phương. Chúng bói toán như dân Phi-li-tin, và hoàn toàn chấp nhận các tư tưởng ngoại lai đó.
ISA 2:7 Xứ chúng đầy vàng và bạc; vô số châu báu. Xứ chúng đầy ngựa; và vô số quân xa.
ISA 2:8 Xứ chúng đầy hình tượng. Dân chúng bái lạy các hình tượng đó do tay mình làm ra và do chính ngón tay mình tạo nên.
ISA 2:9 Vì thế ai nấy sẽ xấu hổ. Lạy Thượng Đế, xin đừng tha thứ chúng.
ISA 2:10 Hãy núp sau các tảng đá; đào hố và trốn trong đất để trốn cơn giận của CHÚA và tránh khỏi quyền năng lớn lao Ngài!
ISA 2:11 Kẻ tự phụ sẽ bị hạ xuống, chúng sẽ cúi đầu vì xấu hổ. Lúc đó chỉ có một mình CHÚA được tôn cao.
ISA 2:12 CHÚA Toàn Năng đã định một ngày để trừng phạt kẻ kiêu căng và khoác lác, chúng sẽ bị hạ xuống.
ISA 2:13 Ngài sẽ đốn ngã các cây hương nam Li-băng cao vút, và các cây sồi to lớn của Ba-san,
ISA 2:14 Ngài sẽ hạ bệ các núi và đồi cao,
ISA 2:15 các tháp và vách cao,
ISA 2:16 các tàu buôn Tạt-si và thuyền tráng lệ.
ISA 2:17 Lúc đó những kẻ kiêu căng sẽ bị hạ xuống, chúng sẽ cúi đầu xấu hổ, vì chỉ có một mình CHÚA được tôn cao,
ISA 2:18 còn các thần tượng sẽ bị tiêu diệt.
ISA 2:19 Người ta sẽ chạy vào các hang trong hốc đá và đào lỗ trốn trong đất để tránh cơn giận của CHÚA và quyền năng lớn lao của Ngài, khi Ngài đứng lên làm rung chuyển đất.
ISA 2:20 Lúc đó người ta sẽ ném bỏ các thần tượng vàng và bạc, mà họ đã làm ra để bái lạy; chúng sẽ ném các thần tượng đó cho dơi và chuột đồng.
ISA 2:21 Rồi họ sẽ trốn trong các hang hốc, các kẽ đá để tránh khỏi cơn giận của Thượng Đế và quyền năng lớn lao của Ngài, khi Ngài đứng lên làm rung chuyển đất.
ISA 2:22 Chớ nên nhờ cậy con người giải cứu ngươi, vì họ chỉ là người; chẳng thể nào giúp được ngươi.
ISA 3:1 Hãy hiểu biết điều nầy: CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng sẽ cất lấy những nhu cầu của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem gồm thức ăn và nước uống,
ISA 3:2 các anh hùng và binh sĩ thiện chiến, các quan án và các nhà tiên tri, những thầy bói toán, các bô lão,
ISA 3:3 các nhà chỉ huy quân sự và các quan quyền, các cố vấn, những thợ khéo, và những người phù phép.
ISA 3:4 CHÚA phán, “Ta sẽ đặt những chú bé lãnh đạo ngươi, các trẻ con khờ khạo sẽ cai trị ngươi.
ISA 3:5 Người nầy sẽ chống người kia; các láng giềng chống nghịch nhau. Thanh niên không tôn trọng người già cả, kẻ thứ dân khinh thường người thượng lưu.”
ISA 3:6 Lúc đó có người sẽ nắm một trong các anh em mình mà nói rằng, “Anh có áo choàng, hãy làm lãnh tụ chúng ta đi. Cảnh điêu tàn nầy sẽ do anh liệu định.”
ISA 3:7 Nhưng người đó sẽ đáp, “Tôi không thể cai trị các anh, vì tôi không có thực phẩm hay quần áo trong nhà tôi. Đừng cử tôi làm lãnh tụ.”
ISA 3:8 Việc đó sẽ xảy ra vì Giê-ru-sa-lem đã vấp ngã, Giu-đa đã té nhào. Những điều chúng nói và làm đều nghịch lại Thượng Đế; chúng chống lại Ngài.
ISA 3:9 Vẻ mặt của chúng cũng cho thấy chúng có tội; như dân Xô-đôm, chúng kiêu hãnh vì tội lỗi mình. Chúng không cần biết ai nhìn thấy. Khốn cho chúng vì chúng đã rước họa vào thân.
ISA 3:10 Hãy bảo những kẻ làm điều nhân đức rằng họ sẽ thịnh vượng, vì sẽ hưởng công lao mình làm ra.
ISA 3:11 Nhưng khốn cho kẻ ác! Chúng sẽ bị hình phạt vì tội lỗi mình.
ISA 3:12 Các trẻ nhỏ ngược đãi dân ta, còn đàn bà thì thống trị họ. Hỡi dân ta, các lãnh tụ ngươi hướng dẫn ngươi đi lầm đường rồi và khuyến dụ ngươi bỏ đường chánh.
ISA 3:13 CHÚA đã an vị nơi phòng xử án và đứng lên để xét xử dân Ngài.
ISA 3:14 CHÚA đã trình vụ án nghịch lại các bô lão và các lãnh tụ khác của dân Ngài: “Các ngươi đã đốt vườn nho. Nhà các ngươi đầy dẫy những vật lấy từ kẻ nghèo.
ISA 3:15 Ai cho các ngươi quyền chà đạp dân ta và giúi đầu kẻ nghèo xuống đất đen?” CHÚA Toàn Năng hỏi như vậy.
ISA 3:16 CHÚA phán, “Các đàn bà Giê-ru-sa-lem rất tự phụ. Chúng bước đi õng ẹo, liếc mắt đưa tình. Chúng bước thoăn thoắt, khua vòng đeo chân kêu leng keng.”
ISA 3:17 Cho nên CHÚA sẽ khiến đầu của các đàn bà Giê-ru-sa-lem lở lói, làm chúng rụng tóc.
ISA 3:18 Lúc đó Ngài sẽ cất lấy những thứ khiến chúng kiêu hãnh: các khoen đeo chân xinh đẹp, khăn vấn đầu, kiềng đeo cổ hình mặt trăng,
ISA 3:19 vòng đeo tai, vòng xuyến, màn mỏng,
ISA 3:20 khăn choàng cổ, xuyến đeo chân, nịt lưng, chai nước hoa, bùa đeo,
ISA 3:21 nhẫn, vòng đeo mũi,
ISA 3:22 áo dài đẹp nhất, mũ đội, khăn choàng, và ví,
ISA 3:23 gương soi mặt, áo vải gai, khăn quấn đầu, và khăn choàng dài.
ISA 3:24 Thay vì có mùi thơm sẽ có mùi thối. Thay vì thắt lưng đẹp, họ sẽ mang dây thừng tù nhân. Thay vì mái tóc đẹp, họ sẽ bị sói đầu. Thay vì mặc áo quần đẹp, họ sẽ mặc quần áo tang. Thay vì hấp dẫn lộng lẫy, họ sẽ mang nhãn hiệu tù binh.
ISA 3:25 Lúc đó đàn ông các ngươi sẽ bị gươm giết, các anh hùng ngươi sẽ chết trong chiến trận.
ISA 3:26 Sẽ có tiếng than khóc gần cổng thành. Giê-ru-sa-lem sẽ như người đàn bà mất tất cả và ngồi bệt xuống đất.
ISA 4:1 Lúc đó bảy người đàn bà sẽ nắm bắt một người đàn ông và năn nỉ, “Chúng tôi sẽ tự nuôi thân, tự may mặc lấy, nhưng xin anh hãy lấy chúng tôi, để chúng tôi mang tên anh. Xin cất sự xấu hổ chúng tôi đi.”
ISA 4:2 Lúc đó nhánh của CHÚA sẽ rất xinh đẹp và lớn. Dân chúng còn sống trong Ít-ra-en sẽ rất hãnh diện về sự bành trướng của xứ.
ISA 4:3 Những ai còn sống sót trong Xi-ôn và Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là thánh; tên họ sẽ được ghi vào những kẻ sống trong Giê-ru-sa-lem.
ISA 4:4 CHÚA sẽ gột rửa những vết dơ bẩn khỏi các con gái Xi-ôn. Ngài sẽ rửa sạch vết máu khỏi Giê-ru-sa-lem và tẩy sạch thành đó bằng thần linh công chính và thần linh bằng lửa.
ISA 4:5 Rồi CHÚA sẽ dùng đám khói ban ngày và trụ lửa sáng rực ban đêm để che phủ núi Xi-ôn. Mỗi người đều sẽ được một lọng che.
ISA 4:6 Mái che nầy sẽ giúp họ khỏi ánh nắng nóng và làm nơi trú ẩn khi mưa gió.
ISA 5:1 Tôi sẽ hát cho bạn yêu dấu tôi về vườn nho của anh ấy. Bạn yêu dấu tôi có một vườn nho trên một sườn đồi phì nhiêu.
ISA 5:2 Anh đào và dọn hết sỏi đá trong vườn và trồng loại nho tốt nhất trong đó. Anh xây một cái tháp ở giữa vườn và xây một cái bàn ép rượu. Anh hi vọng loại nho tốt sẽ mọc trong vườn, nhưng hóa ra toàn loại nho xấu mọc thôi.
ISA 5:3 Bạn yêu dấu tôi bảo, “Hỡi các ngươi là kẻ sống trong Giê-ru-sa-lem và dân cư Giu-đa, hãy phân xử giữa ta và vườn nho ta.
ISA 5:4 Có điều gì tốt mà ta không làm cho vườn nho ta không? Tại sao ta mong nho tốt mọc lên, thì toàn thấy nho xấu?
ISA 5:5 Bây giờ ta sẽ cho các ngươi biết điều ta sẽ làm cho vườn nho ta: Ta sẽ tháo bỏ hàng rào, thì nó sẽ bị đốt cháy. Ta sẽ phá bỏ tường ngăn, thì nó sẽ bị dẫm lên.
ISA 5:6 Ta sẽ tiêu hủy vườn nho, không thèm tỉa sửa và vun xén, để cho cỏ dại tha hồ mọc. Ta sẽ bảo mây đừng mưa xuống trên nó.”
ISA 5:7 Vườn nho của CHÚA Toàn Năng là dân Ít-ra-en; vườn nho mà Ngài yêu thích là dân Giu-đa. Ngài tìm điều công chính, thì chỉ thấy giết chóc. Ngài tìm nếp sống phải chăng, thì chỉ thấy tiếng kêu đau thương.
ISA 5:8 Khốn cho các ngươi là kẻ tậu thêm nhà cửa, mua sắm thêm ruộng nương cho đến nỗi không còn gì cho kẻ khác nữa. Rồi chỉ có các ngươi là còn sót lại trong xứ.
ISA 5:9 CHÚA Toàn Năng phán với ta như sau: “Những nhà cửa xinh đẹp sẽ bị tiêu hủy; những nhà cửa to lớn sang trọng sẽ bị bỏ hoang.
ISA 5:10 Lúc đó vườn nho rộng mười sào chỉ làm được hai mươi hai lít rượu, và sáu thùng hột giống chỉ lên được hơn nửa thùng ngũ cốc.”
ISA 5:11 Khốn cho những kẻ dậy sớm để tìm rượu mạnh, thức khuya vì say men rượu.
ISA 5:12 Trong tiệc tùng của chúng có tiếng đờn sắt, đờn cầm, trống cơm, sáo, và rượu. Chúng không thấy điều CHÚA làm, hay để ý đến công việc của tay Ngài.
ISA 5:13 Vì thế nên dân ta bị bắt và lưu đày, vì chúng không biết đến ta. Các dân lớn sẽ chết đói, và thường dân sẽ chết khát.
ISA 5:14 Cho đến nỗi âm phủ hả miệng thật rộng đòi thêm người chết mãi. Những người sang trọng trong Giê-ru-sa-lem và các thường dân sẽ cùng nhau đi xuống đó, cùng với những kẻ hân hoan và ồn ào.
ISA 5:15 Cho nên thường dân và quan trưởng sẽ phải cúi đầu, cảm thấy nhục nhã.
ISA 5:16 CHÚA Toàn Năng sẽ được vinh hiển vì phân xử công bằng; Thượng Đế thánh sẽ tỏ mình ra thánh bằng cách làm điều phải.
ISA 5:17 Rồi các chiên con sẽ ăn cỏ trong đồng mà những kẻ giàu có trước đây làm chủ.
ISA 5:18 Khốn thay cho những kẻ ấy! Chúng kéo lê tội lỗi sau mình như người ta kéo các xe bằng dây thừng.
ISA 5:19 Họ bảo, “Thượng Đế muốn vội vã thì vội vã; hãy để Ngài sớm thực hiện việc của Ngài cho chúng ta thấy. Hãy để cho chương trình của Đấng Thánh trên Ít-ra-en sớm diễn ra để chúng ta biết nó như thế nào.”
ISA 5:20 Khốn cho các kẻ gọi lành là dữ và gọi dữ là lành, bảo tối là sáng và sáng là tối, cho chua là ngọt và ngọt là chua.
ISA 5:21 Khốn cho những kẻ cho mình là khôn ngoan và nghĩ mình thông sáng.
ISA 5:22 Khốn cho kẻ nổi danh vì uống rượu và quán quân về hoà rượu.
ISA 5:23 Chúng nhận hối lộ để phóng thích kẻ có tội, và không để cho người lành được xét xử công bằng.
ISA 5:24 Chúng sẽ bị tiêu hủy như lửa thiêu đốt rơm hay cỏ khô. Chúng sẽ bị tiêu diệt như cây bị thúi rễ, và như hoa khô héo bị gió thổi bay đi như bụi bặm. Chúng không chịu nghe lời giáo huấn của CHÚA Toàn Năng và ghét sứ điệp từ Thượng Đế Thánh của Ít-ra-en.
ISA 5:25 Cho nên CHÚA đã nổi giận cùng dân Ngài, và giơ tay ra trừng phạt họ. Dù cho đến núi cũng kinh hoảng. Thây người nằm la liệt trên phố xá như rác rưởi. Nhưng CHÚA vẫn còn nổi giận; tay Ngài còn giơ ra để đánh phạt dân Ngài.
ISA 5:26 Ngài giương cờ cho các dân tộc ở xa. Ngài huýt sáo gọi các dân tộc ở tận cùng quả đất. Kìa! Kẻ thù đang tràn tới!
ISA 5:27 Không một người nào trong chúng nó mệt mỏi hay vấp ngã. Không một ai trong chúng nó buồn ngủ hay ngủ gục. Không ai tháo vũ khí ra hay cởi dây giày.
ISA 5:28 Mũi tên chúng nó rất nhọn, và các cung chúng nó sẵn sàng để bắn. Vó ngựa chúng nó cứng như đá, và bánh quân xa chúng nó chạy mau như gió cuốn.
ISA 5:29 Tiếng hò hét chúng nó như tiếng gầm của sư tử; vang rền như sư tử con. Chúng gầm gừ khi bắt tù binh. Không ai ngăn chận khi chúng nó cướp tù binh đi.
ISA 5:30 Trong ngày đó chúng sẽ gầm thét như sóng biển. Và khi người ta nhìn vào xứ, họ chỉ thấy đen tối và đau khổ; ánh sáng chỉ còn là bóng tối trong đám mây dầy đặc nầy.
ISA 6:1 Vào năm vua U-xia qua đời, tôi thấy CHÚA ngồi trên ngôi cao cả. Vạt áo Ngài phủ đầy đền thờ.
ISA 6:2 Các thiên binh bằng lửa đứng phía trên Ngài. Mỗi thiên binh có sáu cánh: hai cánh che mặt, hai cánh che chân, và hai cánh dùng để bay.
ISA 6:3 Các Xê-ra-phim kêu lên như sau: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là CHÚA Toàn Năng. Vinh hiển Ngài đầy dẫy đất.”
ISA 6:4 Tiếng kêu của các Xê-ra-phim khiến mọi khung cửa rung chuyển, trong khi đền thờ dầy đặc khói.
ISA 6:5 Tôi kêu lên, “Thôi, đời tôi tàn rồi. Tôi không tinh sạch, ở giữa một dân không tinh sạch, nhưng tôi đã thấy Vua, là CHÚA Toàn Năng.”
ISA 6:6 Một trong các Xê-ra-phim dùng cái kẹp lấy than lửa đỏ nơi bàn thờ. Rồi người bay đến tôi trong tay cầm than lửa đỏ.
ISA 6:7 Người lấy than lửa đụng vào môi tôi và bảo rằng, “Nầy, tội ngươi đã được tha vì than nầy đã chạm môi ngươi. Tội ngươi đã được xóa bỏ rồi.”
ISA 6:8 Rồi tôi nghe tiếng CHÚA hỏi, “Ta sẽ sai ai đi? Ai bằng lòng đi cho chúng ta?” Tôi liền thưa, “Có tôi đây. Xin Ngài hãy sai tôi!”
ISA 6:9 Rồi CHÚA phán, “Hãy đi bảo dân nầy như sau: ‘Các ngươi nghe thì nghe, nhưng không hiểu. Các ngươi nhìn thì nhìn, nhưng không học được.’
ISA 6:10 Hãy làm cho trí dân nầy đần độn. Hãy bít lỗ tai chúng lại. Hãy bịt mắt chúng. Nếu không chúng sẽ hiểu điều mình thấy bằng mắt và nghe bằng tai. Trí chúng hiểu được rồi trở lại cùng ta để được chữa lành.”
ISA 6:11 Nên tôi hỏi, “Thưa CHÚA, tôi phải làm như thế nầy trong bao lâu?” Ngài đáp, “Cho đến khi các thành bị tiêu diệt và dân cư không còn, cho đến khi các nhà cửa bỏ hoang không người ở, cho đến khi đất bị tiêu diệt và hoang phế.
ISA 6:12 CHÚA sẽ đày dân chúng đi rất xa, và đất sẽ bị bỏ hoang.
ISA 6:13 Một phần mười dân cư sẽ còn lại trong xứ, nhưng số đó cũng sẽ bị tiêu diệt luôn. Chúng như cây sồi còn lại gốc sau khi thân bị đốn xuống. Những người còn sót lại sẽ như gốc đâm chồi trở lại.”
ISA 7:1 A-cha là con Giô-tham, cháu U-xia. Khi A-cha làm vua Giu-đa thì Rê-xin, vua A-ram và Bê-ca, con Rê-ma-lia, vua Ít-ra-en, kéo lên đánh Giê-ru-sa-lem. Nhưng họ không chiếm nổi thành.
ISA 7:2 Nhà Đa-vít nhận tin báo rằng, “Các lực lượng của A-ram và Ít-ra-en đã liên kết nhau.” Khi nghe vậy, vua và toàn dân đều hoảng sợ. Họ run sợ như cây trong rừng bị gió thổi.
ISA 7:3 Sau đó CHÚA bảo Ê-sai, “Ngươi và Sê-a Gia-súp, con trai ngươi hãy đi gặp A-cha chỗ nước chảy vào hồ trên, nơi con đường dân chúng hay giặt đồ.
ISA 7:4 Bảo A-cha: Hãy cẩn thận. Hãy yên tâm đừng lo sợ. Đừng để hai người đó, A-ram và con Rê-ma-lia, khiến cho ngươi hoảng hốt. Đừng sợ cơn giận của chúng hay cơn giận của A-ram vì chúng chỉ như hai que gỗ cháy sắp tàn.
ISA 7:5 Bọn A-ram đã lập kế hoạch cùng với Ép-ra-im và con trai Rê-ma-lia để hại ngươi, bảo rằng,
ISA 7:6 ‘Chúng ta hãy tấn công Giu-đa và phá nó tan hoang. Chúng ta sẽ cùng nhau chia đất và lập con trai Ta-bên làm vua Giu-đa.’”
ISA 7:7 Nhưng ta, CHÚA và Thượng Đế phán, “‘Kế hoạch chúng nó sẽ không thành; việc đó sẽ không xảy ra,
ISA 7:8 vì A-ram bị thành Đa-mách cai trị, còn Đa-mách thì bị Rê-xin cai trị. Trong sáu mươi lăm năm nữa Ép-ra-im sẽ không còn là một quốc gia nữa.
ISA 7:9 Ít-ra-en bị thành Xa-ma-ri cai trị, và Xa-ma-ri thì bị con trai của Rê-ma-lia cai trị. Nếu ngươi không đủ niềm tin để đứng vững, ngươi sẽ không còn sức tồn tại lâu.’”
ISA 7:10 Rồi CHÚA phán cùng A-cha lần nữa rằng,
ISA 7:11 “Hãy xin một dấu hiệu từ CHÚA là Thượng Đế ngươi để cho ngươi tin rằng những điều nầy là thật. Có thể là dấu hiệu dưới âm phủ hay trên trời cao kia.”
ISA 7:12 Nhưng A-cha đáp, “Tôi sẽ không xin dấu hiệu nào hay thử CHÚA.”
ISA 7:13 Ê-sai liền nói, “Hỡi nhà Đa-vít, hãy nghe kỹ đây! Ngươi thử lòng kiên nhẫn của dân chúng chưa đủ sao? Tại sao ngươi còn muốn thử lòng kiên nhẫn của Thượng Đế ta?
ISA 7:14 Chính CHÚA sẽ ban cho ngươi một dấu hiệu: Một thiếu nữ sẽ mang thai và sinh ra một bé trai và đặt tên là Em-ma-nu-ên.
ISA 7:15 Đứa trẻ sẽ ăn sữa đông và mật ong trước khi nó biết bỏ điều ác và chọn điều lành.
ISA 7:16 Hiện nay ngươi đang sợ vua Ít-ra-en và A-ram. Nhưng trước khi đứa trẻ biết chọn điều lành và bỏ điều ác, thì xứ Ít-ra-en và A-ram sẽ bị hoang phế.
ISA 7:17 CHÚA sẽ mang khốn khó đến cho ngươi, dân tộc ngươi, và cho những người trong gia đình cha ngươi. Họ sẽ khốn khổ hơn bất cứ thời kỳ nào từ khi Ép-ra-im tách ra khỏi Giu-đa. CHÚA sẽ đưa vua A-xy-ri đến tấn công ngươi.
ISA 7:18 Lúc đó CHÚA sẽ huýt sáo gọi người Ai-cập, và chúng sẽ đến đông như ruồi từ các suối xa xăm của Ai-cập. Ngài sẽ gọi người A-xy-ri, và chúng sẽ tràn đến như ong.
ISA 7:19 Các quân thù nầy sẽ đóng quân trong hố sâu và trên ghềnh đá, gần các bụi cây, và nơi các giếng nước.
ISA 7:20 CHÚA sẽ thuê người A-xy-ri và dùng chúng như dao cạo để trừng phạt Giu-đa. Giống như CHÚA cạo trọc đầu, cạo lông trên Giu-đa.
ISA 7:21 Lúc đó mỗi người chỉ có thể giữ một con bò cái tơ và hai con chiên còn sống thôi.
ISA 7:22 Chỉ có đủ sữa cho người đó ăn sữa đông. Ai còn sót trong xứ sẽ phải trở lại ăn sữa đông và mật ong.
ISA 7:23 Trong xứ nầy hiện nay đầy vườn nho và hàng ngàn dây nho, đáng giá hai mươi lăm cân bạc. Nhưng các vườn nho đó sẽ đầy cỏ dại và gai gốc.
ISA 7:24 Xứ sẽ trở thành hoang địa và chỉ dùng làm đất săn bắn.
ISA 7:25 Dân chúng trước kia làm lụng và trồng trọt hoa màu trên các sườn đồi nầy nhưng đến lúc đó họ sẽ không đến đó nữa vì đất sẽ đầy cỏ dại và gai gốc. Chỉ có chiên và trâu bò đến thôi.”
ISA 8:1 CHÚA bảo tôi, “Hãy lấy một bảng viết và ghi trên đó bằng cây viết thường: ‘Ma-hê Sa-lanh Hát-Bát.’
ISA 8:2 Tôi sẽ triệu tập một số nhân chứng đáng tin: U-ria, thầy tế lễ, và Xa-cha-ri, con Giê-bê-rê-kia.”
ISA 8:3 Rồi tôi đi đến nhà của nữ tiên tri, nàng thụ thai và sinh một con trai. CHÚA bảo tôi, “Hãy đặt tên nó là Ma-hê Sa-lanh Hát-Bát,
ISA 8:4 vì vua A-xy-ri sẽ cướp tất cả những tài sản của cải của Đa-mách và Xa-ma-ri trước khi đứa trẻ biết kêu cha hay mẹ.”
ISA 8:5 CHÚA lại phán cùng tôi rằng,
ISA 8:6 “Những người nầy không chịu nhận nước chảy nhẹ từ hồ Xi-lôm và kinh khiếp vì Rê-xin và con trai Rê-ma-lia.
ISA 8:7 Cho nên CHÚA tôi sẽ mang vua A-xy-ri cùng mọi đạo quân của người để nghịch lại chúng, giống như trận lụt ào ào đổ từ sông Ơ-phơ-rát xuống. Quân A-xy-ri sẽ giống như nước dâng lên từ bờ sông, chảy cả xứ.
ISA 8:8 Nước đó sẽ tràn và chảy vào Giu-đa, ngập lên đến cổ nó, Hỡi Em-ma-nu-ên, đạo quân nầy sẽ giương cánh ra như chim cho đến khi bao phủ cả xứ.”
ISA 8:9 Hỡi các dân, hãy tan nát, hãy bể vụn ra từng miếng. Hỡi các xứ xa xăm hãy nghe. Hãy chuẩn bị ra trận và hãy bể vụn ra! Hãy chuẩn bị ra trận và hãy bể vụn ra!
ISA 8:10 Hãy lập kế hoạch đánh nhau nhưng các kế hoạch đó sẽ thất bại. Hãy ra lệnh cho đạo quân ngươi, nhưng chúng sẽ vô dụng, vì Thượng Đế ở với chúng ta.
ISA 8:11 CHÚA phán cùng ta bằng quyền năng Ngài và cảnh cáo ta chớ có theo đường lối của dân chúng. Ngài bảo,
ISA 8:12 “Dân chúng nói rằng những kẻ khác âm mưu nghịch họ, nhưng ngươi đừng tin chúng nó. Đừng sợ điều chúng sợ; và đừng kinh hãi những điều đó.
ISA 8:13 Nhưng hãy nhớ rằng CHÚA Toàn Năng là thánh. Ngài là Đấng ngươi phải sợ; Đấng ngươi nên kính nể.
ISA 8:14 Ngài sẽ làm nơi trú ẩn an toàn cho ngươi. Nhưng còn về hai gia tộc Ít-ra-en, Ngài sẽ như hòn đá gây vấp ngã, như tảng đá khiến người ta té nhào. Ngài như cái bẫy cho Giê-ru-sa-lem, khiến họ rơi vào.
ISA 8:15 Nhiều kẻ sẽ rơi trên tảng đá nầy. Họ sẽ rơi và bị dập nát; Họ sẽ rơi vào bẫy và bị sập.”
ISA 8:16 Hãy lập giao ước. Hãy niêm phong lời giáo huấn trong khi các môn đệ ta đang nhìn.
ISA 8:17 Ta sẽ đợi CHÚA giúp chúng ta, CHÚA xấu hổ về gia đình Ít-ra-en. Ta sẽ trông đợi Ngài.
ISA 8:18 Ta đang đứng đây. Cùng với ta là con cái CHÚA ban cho ta. Chúng ta là dấu hiệu và bằng cớ cho dân Ít-ra-en từ CHÚA Toàn Năng, Đấng ngự trên núi Xi-ôn.
ISA 8:19 Có ngươi đề nghị, “Hãy đi hỏi bọn đồng bóng và thầy bói là những kẻ chuyên thì thầm và lẩm bẩm để biết phải làm gì.” Nhưng ta bảo các ngươi rằng nên cầu xin Thượng Đế giúp đỡ. Tại sao người sống mà lại đi hỏi người chết?
ISA 8:20 Các ngươi phải vâng theo lời giáo huấn và giao ước với CHÚA. Bọn đồng bóng và thầy bói không thể nói ra lời của CHÚA, cho nên lời nói chúng chẳng ra gì.
ISA 8:21 Dân chúng đi lang thang khắp xứ, bị hoang mang và đói khổ. Khi họ đói họ đâm ra giận dữ và ngước lên nguyền rủa vua cùng Thượng Đế mình.
ISA 8:22 Chúng nhìn quanh, khắp xứ chỉ thấy khốn đốn, tăm tối, và bi thảm, cái bi thảm của dân bị buộc phải xa xứ.
ISA 9:1 Nhưng bỗng nhiên xứ bị khốn khổ không còn ảm đạm nữa. Trước kia Thượng Đế khiến đất Xê-bu-lôn và Nép-ta-li gục đầu xấu hổ, nhưng trong tương lai các vùng đất đó sẽ trở nên trù phú. Chúng sẽ kéo dài từ con đường dọc theo Địa-trung-hải cho đến vùng đất phía Đông sông Giô-đanh, chạy đến phía bắc tới Ga-li-lê, xứ của dân không phải Ít-ra-en.
ISA 9:2 Trước kia các dân đó sống trong tối tăm, nay thấy ánh sáng lớn. Trước kia sống trong đất tăm tối, thì nay ánh sáng chiếu trên họ.
ISA 9:3 Lạy Thượng Đế, Ngài đã khiến dân tộc lớn mạnh và dân chúng hân hoan. Họ đã tỏ niềm vui cho Ngài thấy, như niềm vui lúc mùa gặt, hay niềm vui của kẻ chiếm được chiến lợi phẩm.
ISA 9:4 Giống như khi Ngài đánh bại Mi-đi-an, Ngài quăng bỏ ách nặng nề khỏi cổ họ, và cây đòn nặng khỏi lưng họ cùng cây roi kẻ thù dùng đánh phạt họ.
ISA 9:5 Mỗi một đôi giày đi ra trận chiến và mỗi một bộ đồng phục vấy máu đã bị ném vào lửa.
ISA 9:6 Có một con trẻ được sinh ra cho chúng ta; Thượng Đế ban cho chúng ta một con trai. Người sẽ dắt dẫn dân sự mình. Danh Ngài là Cố Vấn Tuyệt Vời, Thượng Đế Toàn Năng, Cha Đời Đời, Chúa Bình An.
ISA 9:7 Quyền năng và sự hòa bình sẽ ngự trong nước Ngài và gia tăng mãi không thôi. Ngài sẽ làm vua trên ngôi và nước của Đa-vít. Ngài sẽ làm cho nước đó vững mạnh bằng cách dùng công lý và nhân từ mà cai trị từ nay cho đến đời đời. CHÚA Toàn Năng sẽ làm điều đó vì lòng sốt sắng Ngài dành cho dân sự mình.
ISA 9:8 CHÚA phán sứ điệp nghịch lại dân cư Gia-cốp; bảo rằng Thượng Đế sẽ xét xử Ít-ra-en.
ISA 9:9 Rồi mỗi người trong Ép-ra-im, cho đến các lãnh tụ của Xa-ma-ri, sẽ biết rằng Thượng Đế đã truyền sứ điệp đó. Chúng kiêu căng và khoe khoang rằng,
ISA 9:10 “Tuy gạch đã đổ, nhưng chúng ta sẽ xây lại bằng đá đẽo. Những cây nhỏ đã bị đốn xuống, Nhưng chúng ta sẽ thế bằng các cây hương nam cao lớn.”
ISA 9:11 Nhưng CHÚA đã mang các kẻ thù của Rê-xin nghịch lại chúng; Ngài đã khích động các kẻ thù nghịch lại chúng.
ISA 9:12 Dân A-ram từ miền Đông và dân Phi-li-tin từ miền Tây, chúng xua quân ăn nuốt Ít-ra-en. Nhưng CHÚA vẫn còn nổi giận; tay Ngài còn giơ ra để trừng phạt dân chúng.
ISA 9:13 Nhưng chúng không chịu trở lại cùng Đấng đã đánh mình; chúng không theo CHÚA Toàn Năng.
ISA 9:14 Nên CHÚA sẽ cắt đầu và đuôi của Ít-ra-en, cùng trong một ngày CHÚA cắt cả nhánh lẫn cọng.
ISA 9:15 Các bô lão và giới thượng lưu là đầu, còn các tiên tri dối là đuôi.
ISA 9:16 Những kẻ hướng dẫn dân chúng dắt họ đi lầm đường, còn những kẻ theo chúng bị hủy diệt.
ISA 9:17 Vì thế CHÚA tôi không hài lòng vì bọn trẻ, Ngài cũng không tỏ lòng từ bi đối với cô nhi quả phụ. Tất cả dân cư đã rời bỏ Thượng Đế và trở nên cực ác; chúng đều nói dối. Nhưng CHÚA còn nổi giận; tay Ngài còn giơ ra để đánh phạt dân chúng.
ISA 9:18 Điều ác giống như đám lửa nhỏ. Trước hết nó chỉ thiêu đốt cỏ dại và gai gốc. Sau đó nó thiêu các bụi rậm trong rừng, rồi tất cả tiêu tan theo mây khói.
ISA 9:19 CHÚA Toàn Năng nổi giận, dân chúng như củi dành cho lửa; không ai tìm cách cứu anh chị em mình.
ISA 9:20 Dân chúng quay qua bên phải để tóm lấy vật gì, nhưng vẫn đói. Họ tìm vật gì bên trái để ăn, nhưng không no. Ai nấy đều quay qua ăn thịt con cái mình.
ISA 9:21 Dân Ma-na-xe sẽ nghịch lại dân Ép-ra-im, và Ép-ra-im sẽ nghịch lại Ma-na-xe. Rồi cả hai nghịch lại Giu-đa. Nhưng CHÚA còn nổi giận; tay Ngài còn giơ ra để trừng phạt dân chúng.
ISA 10:1 Khốn cho những kẻ làm ra luật bất công, và những kẻ soạn luật để gây khốn khổ cho người khác.
ISA 10:2 Chúng bất công với người nghèo, và cướp đoạt quyền của những kẻ khốn khổ giữa vòng dân ta. Chúng để người ta ăn cắp của góa phụ và cướp đoạt của cải cô nhi.
ISA 10:3 Ngươi sẽ làm gì khi sự hủy diệt ngươi đến từ phương xa? Ngươi chạy đến đâu để cầu cứu? Lúc đó ngươi sẽ giấu của cải mình ở đâu?
ISA 10:4 Ngươi phải cúi đầu xuống giữa đám tù nhân hay ngã gục giữa các xác chết. Nhưng CHÚA vẫn còn nổi giận; tay Ngài vẫn giơ ra để trừng phạt dân chúng.
ISA 10:5 Thượng Đế phán, “Khốn cho vua A-xy-ri. Ta dùng nó làm cái roi để tỏ cơn giận ta; trong cơn thịnh nộ ta dùng A-xy-ri làm dùi cui.
ISA 10:6 Ta sai nó nghịch lại một dân tộc lìa bỏ Thượng Đế. Ta nổi giận cùng dân ấy, nên ta bảo A-xy-ri đi đánh chúng, cướp của cải của chúng, để dẫm lên chúng như đất trên đường.
ISA 10:7 Nhưng vua A-xy-ri không hiểu rằng ta đang dùng nó; nó không biết rằng nó chỉ là dụng cụ của ta. Nó chỉ muốn tiêu diệt kẻ khác và đánh bại nhiều dân tộc.
ISA 10:8 Vua A-xy-ri tự nhủ, ‘Các cấp chỉ huy của ta như vua chúa.
ISA 10:9 Thành Canh-nô như thành Cạt-kê-mít. Thành Ha-mát như thành Ạc-bát. Thành Xa-ma-ri như thành Đa-mách.
ISA 10:10 Ta đánh bại các quốc gia thờ thần tượng, và những thần tượng đó nhiều hơn thần tượng của Giê-ru-sa-lem và Xa-ma-ri.
ISA 10:11 Như ta đã đánh hạ Xa-ma-ri và thần tượng nó, ta cũng sẽ đánh hạ Giê-ru-sa-lem và thần tượng nó.’”
ISA 10:12 Sau khi Chúa thi hành xong điều Ngài định làm cho núi Xi-ôn và Giê-ru-sa-lem, Ngài sẽ trừng phạt A-xy-ri. Vua A-xy-ri rất tự kiêu, lòng tự kiêu khiến nó phạm tội cho nên Thượng Đế sẽ trừng phạt nó.
ISA 10:13 Vua A-xy-ri bảo: “Nhờ sức lực ta, ta thực hiện những điều nầy; nhờ sự khôn ngoan ta, ta đánh bại nhiều dân tộc, ta đã cướp của cải chúng nó, và như một dũng sĩ, ta cướp luôn dân cư nó.
ISA 10:14 Ta đã lấy tài sản của những dân đó, như người ta thò tay vào tổ chim. Ta đã cướp các dân đó như người ta lấy trứng nằm trên đất. Không ai vỗ cánh hay mở miệng kêu chim chíp để thoát khỏi tay ta.”
ISA 10:15 Cái rìu không thể tốt hơn người dùng nó. Cái cưa cũng không khá hơn người sử dụng nó. Cái que không thể điều động người nhặt nó lên. Cái dùi cui không thể nhấc con người lên được!
ISA 10:16 Cho nên CHÚA Toàn Năng sẽ sai một bệnh tật khủng khiếp đến trên các binh sĩ A-xy-ri. Sức mạnh A-xy-ri sẽ bị tiêu hủy, như lửa thiêu đốt hết mọi thứ.
ISA 10:17 Thượng Đế, Ánh Sáng của Ít-ra-en, sẽ như lửa đốt; Đấng Thánh sẽ như ngọn lửa. Ngài sẽ như lửa bùng ra thiêu đốt cỏ dại và gai gốc trong một ngày.
ISA 10:18 Lửa sẽ đốt tiêu các rừng và ruộng vườn phì nhiêu của A-xy-ri, tiêu diệt hết. Ngài sẽ tiêu diệt cả xác lẫn hồn. A-xy-ri sẽ giống như kẻ đau yếu càng ngày càng suy nhược.
ISA 10:19 Chỉ một số rất ít cây còn sót lại mà một đứa trẻ có thể đếm được.
ISA 10:20 Lúc đó sẽ còn một số dân sót lại trong Ít-ra-en từ gia đình Gia-cốp. Chúng sẽ không còn lệ thuộc vào kẻ chiến thắng mình. Chúng sẽ thật sự học biết trông cậy CHÚA, Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 10:21 Những kẻ còn sống sót trong gia đình Gia-cốp sẽ lại theo Thượng Đế Toàn Năng.
ISA 10:22 Ít-ra-en ơi, tuy dân ngươi đông, như cát bờ biển, nhưng chỉ còn một số rất ít sống sót để trở về cùng CHÚA. Thượng Đế đã tuyên bố rằng Ngài sẽ hoàn toàn tiêu diệt đất một cách công bằng.
ISA 10:23 Chúa là Thượng Đế Toàn Năng chắc chắn sẽ tiêu diệt đất nầy, như Ngài đã tuyên bố.
ISA 10:24 Đây là Thượng Đế Toàn Năng phán: “Hỡi dân ta đang sống trong Xi-ôn, đừng sợ người A-xy-ri, là kẻ lấy roi đánh các ngươi, và giơ gậy lên nghịch ngươi như Ai-cập đã làm.
ISA 10:25 Ít lâu nữa cơn giận ta đối với ngươi sẽ dứt, rồi ta sẽ quay cơn giận ta hủy diệt chúng.”
ISA 10:26 Rồi CHÚA Toàn Năng sẽ lấy roi đánh A-xy-ri như Ngài đã đánh Mi-đi-an ở tảng đá Ô-rép. Ngài sẽ giơ gậy lên trên biển như Ngài đã làm ở Ai-cập.
ISA 10:27 Rồi những khốn khổ A-xy-ri đặt trên ngươi sẽ không còn, và gánh nặng chúng bắt ngươi mang sẽ được lấy đi.
ISA 10:28 Đạo quân A-xy-ri sẽ vào gần Ai-át. Lính của nó sẽ bước qua Mi-rôn. Chúng sẽ chứa lương thực ở Mích-ma.
ISA 10:29 Đạo quân đó sẽ vượt qua đèo. Các binh sĩ sẽ ngủ đêm ở Ghê-ba. Dân Ra-ma sẽ hoảng sợ, còn dân Ghi-bê-a của Sau-lơ sẽ bỏ chạy.
ISA 10:30 Hỡi Bát-Ga-lim, hãy kêu lên! Hỡi Lai-sa, hãy nghe đây! Tội nghiệp cho A-na-tốt!
ISA 10:31 Dân ở Mát-mê-na đã bỏ chạy; còn dân ở Ghê-bim đang lẩn tránh.
ISA 10:32 Hôm nay đạo quân sẽ dừng chân tại Nóp. Chúng sẽ giơ quả đấm nghịch cùng Núi Xi-ôn, nơi chân đồi Giê-ru-sa-lem.
ISA 10:33 Hãy coi chừng! Vì CHÚA Toàn Năng sẽ dùng quyền lực lớn lao đốn ngã chúng như cây cổ thụ. Những kẻ cao sang sẽ bị hạ xuống; những kẻ chức vị sẽ té xuống đất.
ISA 10:34 Ngài sẽ đốn ngã chúng như lưỡi rìu chặt ngã đám rừng. Còn các cây hương nam của Li-băng sẽ ngã dưới quyền lực của Đấng Toàn Năng.
ISA 11:1 Một nhánh sẽ mọc ra từ gốc; một vị vua sẽ xuất thân từ gia đình Gie-xê.
ISA 11:2 Thần linh CHÚA sẽ ngự trên người. Thần linh đó sẽ ban cho người sự khôn ngoan, hiểu biết, tài hướng dẫn, và quyền năng. Thần linh đó sẽ dạy vua biết kính sợ CHÚA.
ISA 11:3 Vua sẽ vui mừng vâng theo CHÚA. Người sẽ không phán đoán theo mắt thấy, hay quyết định theo tai nghe.
ISA 11:4 Nhưng người sẽ phân xử thanh liêm cho kẻ nghèo; phán quyết của người sẽ rất công bằng cho người nghèo khổ trong xứ. Theo lệnh người kẻ ác sẽ bị trừng phạt, và theo lời người kẻ ác sẽ bị xử tử.
ISA 11:5 Sức mạnh của người là sự nhân từ và công chính, như thắt lưng quanh hông người.
ISA 11:6 Lúc đó muông sói sẽ sống an lành với chiên con, hùm beo sẽ nằm nghỉ chung với dê. Bò con, sư tử, và bò đực tơ sẽ ăn chung nhau, rồi một đứa trẻ thơ sẽ dắt chúng nó.
ISA 11:7 Bò cái và gấu sẽ ăn chung nhau vô sự. Các con nhỏ chúng nó sẽ nằm nghỉ chung. Sư tử sẽ ăn cỏ khô như bò.
ISA 11:8 Một em bé sẽ chơi kề hang rắn hổ mang, còn một đứa trẻ sẽ thò tay vào ổ rắn độc.
ISA 11:9 Chúng nó sẽ không làm hại hay tiêu diệt lẫn nhau trong khắp núi thánh ta, vì cả đất sẽ đầy sự hiểu biết CHÚA, như biển đầy tràn nước.
ISA 11:10 Lúc đó vua mới xuất thân từ gia đình Gie-xê sẽ đứng lên làm cờ xí cho mọi dân tộc. Các dân sẽ tập họp quanh người, và nơi người ở sẽ đầy vinh hiển.
ISA 11:11 Lúc đó CHÚA sẽ lại tìm kiếm mang về những kẻ sống sót từ A-xy-ri, Bắc Ai-cập, Nam Ai-cập, Cút, Ê-lam, Ba-by-lôn, Ha-mát, và các hải đảo ngoài biển khơi.
ISA 11:12 Thượng Đế sẽ giương cờ làm dấu cho các dân tộc, Ngài sẽ tập họp dân Ít-ra-en là những kẻ bị đày ra khỏi xứ mình. Ngài sẽ gom lại những dân bị tản lạc của Giu-đa từ khắp các nơi trên trái đất.
ISA 11:13 Lúc đó Ép-ra-im sẽ không còn ganh tức nữa, Giu-đa cũng sẽ không còn kẻ thù nào. Ép-ra-im không còn tỵ hiềm với Giu-đa, và Giu-đa cũng sẽ không còn ghét Ít-ra-en nữa.
ISA 11:14 Nhưng Ép-ra-im và Giu-đa sẽ tấn công Phi-li-tin về phía Tây. Hai bên cùng nhau chiếm của cải các dân phương Đông. Họ sẽ chiến thắng Ê-đôm và Mô-áp, còn dân Am-môn sẽ chịu phục tùng họ.
ISA 11:15 CHÚA sẽ làm cho Hồng hải của Ai-cập khô cạn, Ngài sẽ vẫy tay trên sông Ơ-phơ-rát và thổi cơn gió nóng khiến nó cạn nước. Ngài sẽ chia nó ra thành bảy con sông nhỏ để người ta có thể mang giày băng qua chúng được.
ISA 11:16 Cho nên dân sót lại của CHÚA còn sống sót sẽ có cách rời A-xy-ri, giống như lúc Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
ISA 12:1 Lúc ấy ngươi sẽ nói: “Lạy Chúa, tôi ca ngợi Ngài! Trước đây Ngài đã nổi giận cùng tôi, nhưng nay cơn giận Ngài không còn! Ngài đã an ủi tôi.
ISA 12:2 Thượng Đế là Đấng đã cứu tôi; Tôi sẽ tin cậy nơi Ngài, không sợ hãi gì. CHÚA, CHÚA ban sức mạnh cho tôi và khiến tôi hát xướng. Ngài đã cứu tôi.”
ISA 12:3 Ngươi sẽ vui mừng nhận sự cứu rỗi mình như khi ngươi lấy nước từ giếng lên.
ISA 12:4 Lúc đó ngươi sẽ nói, “Hãy ca ngợi CHÚA và thờ lạy Ngài. Hãy cho mọi người biết điều Ngài đã làm và sự cao cả của Ngài.
ISA 12:5 Hãy hát ca ngợi CHÚA vì Ngài đã làm những việc lớn lao. Hãy cho cả thế giới biết việc Ngài làm.
ISA 12:6 Hỡi dân cư Xi-ôn, hãy vui hát lớn tiếng, vì Đấng Thánh của Ít-ra-en đã làm những việc lớn lao trước mặt các ngươi.”
ISA 13:1 CHÚA trao sứ điệp nầy về Ba-by-lôn cho Ê-sai, con trai A-mốt:
ISA 13:2 Hãy giương cờ trên núi trọi. Hãy gọi chúng nó. Hãy giơ tay ra dấu bảo chúng nó vào các cửa dành cho bậc quyền quí.
ISA 13:3 Chính ta đã chỉ huy những kẻ ta biệt riêng ra cho mình. Ta đã gọi các chiến sĩ để chúng thi hành cơn giận ta. Chúng hớn hở vui mừng làm theo ý muốn ta.
ISA 13:4 Hãy nghe tiếng ồn ào huyên náo trên núi, tiếng của vô số người. Hãy nghe tiếng ồn ào trong các nước, tiếng của các dân tộc tập họp lại. CHÚA Toàn Năng triệu tập quân lực Ngài để ra trận.
ISA 13:5 Đạo quân nầy đến từ xứ rất xa, từ ven chân trời. Trong khi nóng giận CHÚA dùng đạo quân nầy làm vũ khí tiêu diệt cả nước.
ISA 13:6 Hãy khóc đi, vì ngày phán xử của CHÚA gần đến rồi; Đấng Toàn Năng đưa sự hủy diệt đến.
ISA 13:7 Dân chúng sẽ yếu sức vì hoảng sợ, và lòng can đảm họ cũng tiêu tan.
ISA 13:8 Ai nấy đều lo sợ. Sự đau khổ xâm chiếm họ; họ sẽ đau đớn như đàn bà đau đẻ. Ai nấy đều lo sợ nhìn nhau, mặt nào cũng đỏ bừng như lửa.
ISA 13:9 Nầy, ngày phán xử của CHÚA sắp đến ngày kinh khiếp, ngày thịnh nộ của Thượng Đế. CHÚA sẽ tiêu diệt đất và mọi kẻ có tội sống trong đó.
ISA 13:10 Các ngôi sao không chiếu sáng nữa; bầu trời sẽ trở nên tối tăm. Mặt trời trở nên đen tối khi mọc lên, mặt trăng cũng không chiếu sáng.
ISA 13:11 CHÚA phán, “Ta sẽ trừng phạt thế gian vì tội ác nó và trừng phạt kẻ ác vì tội lỗi chúng. Ta sẽ trừ thói kiêu căng của những kẻ tự phụ, và ta sẽ diệt lòng tự kiêu của kẻ độc ác với người khác.
ISA 13:12 Sẽ chỉ còn lại có vài người, họ sẽ hiếm như vàng Ô-phia nguyên chất.
ISA 13:13 Ta sẽ làm cho trời rung, đất sẽ di chuyển ra khỏi chỗ nó, khi CHÚA Toàn Năng tỏ cơn thịnh nộ phừng phừng của Ngài.
ISA 13:14 Bấy giờ dân chúng Ba-by-lôn sẽ chạy trốn như nai bị săn đuổi, như chiên không người chăn. Ai nấy chạy trở lại với dân mình; mỗi người chạy trở về đất mình.
ISA 13:15 Người nào bị bắt sẽ bị giết; ai bị bắt giữ sẽ chết vì gươm.
ISA 13:16 Các con thơ của họ sẽ bị đánh chết ngay trước mắt họ. Nhà cửa sẽ bị cướp bóc, vợ họ bị hãm hiếp.
ISA 13:17 Nầy, ta sẽ khiến đạo quân Mê-đi tấn công Ba-by-lôn. Chúng không thèm bạc, cũng không màng đến vàng.
ISA 13:18 Các binh sĩ chúng sẽ dùng tên bắn các thanh niên; chúng không tội nghiệp con trẻ, cũng chẳng thương hại trẻ thơ.
ISA 13:19 Ba-by-lôn là nước xinh đẹp nhất trong các nước, dân Ba-by-lôn cũng rất hãnh diện về điều đó. Nhưng Thượng Đế sẽ tiêu diệt nó như tiêu diệt Xô-đôm và Gô-mô-rơ.
ISA 13:20 Sẽ không ai còn ở hay định cư tại đó nữa. Không người Á-rập nào dựng lều tại đó; cũng chẳng có kẻ chăn chiên nào mang bầy chiên mình đến đó.
ISA 13:21 Chỉ có thú hoang trong sa mạc ở đó, còn nhà cửa chúng sẽ là nơi trú của chó rừng. Chim cú sẽ làm tổ ở đó, dê rừng sẽ nhảy tung tăng khắp nhà.
ISA 13:22 Chó sói sẽ tru giữa các vách thành kiên cố, chó rừng sẽ sủa giữa các tòa nhà sang trọng. Ngày tận số của Ba-by-lôn gần đến, thời kỳ của nó gần xong rồi.”
ISA 14:1 CHÚA sẽ tỏ lòng từ bi đối với dân cư Gia-cốp, và Ngài sẽ lại chọn lựa dân Ít-ra-en. Ngài sẽ định cư họ trong xứ mình. Những dân ngoại quốc sẽ nhập chung với dân Ít-ra-en và trở thành gia đình Gia-cốp.
ISA 14:2 Các dân tộc sẽ đưa Ít-ra-en về xứ mình. Bấy giờ đàn ông, đàn bà từ các dân khác sẽ làm nô lệ cho Ít-ra-en trong xứ của CHÚA. Trước kia dân Ít-ra-en làm nô lệ cho chúng, nhưng nay dân Ít-ra-en sẽ đánh bại các quốc gia đó và thống trị họ.
ISA 14:3 CHÚA sẽ cất sự nhọc nhằn khỏi Ít-ra-en và sẽ an ủi chúng. Chúng sẽ không còn làm cực như nô lệ nữa.
ISA 14:4 Trong ngày đó Ít-ra-en sẽ hát bài nầy về vua Ba-by-lôn: Vua độc ác đã thống trị chúng ta không còn nữa; sự khống chế hung bạo của vua đã chấm dứt!
ISA 14:5 CHÚA đã bẻ cây trượng vàng của các kẻ cai trị độc ác, và đoạt lấy quyền lực của họ.
ISA 14:6 Trong cơn giận vua Ba-by-lôn đánh dân chúng nhiều lần. Vua đó thống trị các dân bằng thịnh nộ và luôn hành hạ họ.
ISA 14:7 Nhưng nay cả thế gian an nghỉ và bình yên. Bây giờ dân chúng cất tiếng hát.
ISA 14:8 Cho đến cây thông cũng vui mừng, cây hương nam của Li-băng cũng hớn hở. Chúng bảo, “Nhà vua đã đổ rồi, không còn đứng lên được nữa.”
ISA 14:9 Âm phủ rất vui mừng đón tiếp khi ngươi đến. Nó đánh thức các linh hồn kẻ chết, tức các lãnh tụ trên thế giới. Nó khiến vua của các dân tộc đứng dậy khỏi ngai mà chào mừng ngươi.
ISA 14:10 Các lãnh tụ đó sẽ chế giễu ngươi rằng, “Bây giờ ngươi cũng yếu ớt như chúng ta. Bây giờ ngươi cũng chẳng khác gì chúng ta.”
ISA 14:11 Sự kiêu căng ngươi đã đi xuống âm phủ với ngươi, Nhạc từ đờn cầm ngươi cũng đi theo luôn. Sâu bọ trải ra như cái giường bên dưới ngươi, và dòi bọ phủ trên ngươi như cái mền.
ISA 14:12 Hỡi vua Ba-by-lôn, ngôi sao mai, ngươi đã từ trời rơi xuống, dù ngươi vốn chói sáng như mặt trời đang mọc! Trước kia các dân tộc trên đất cúi lạy trước mặt ngươi, nhưng nay ngươi đã bị lật đổ.
ISA 14:13 Ngươi tự nhủ, “Ta sẽ lên trời. Ta sẽ đặt ngôi mình bằng với các ngôi sao của Thượng Đế. Ta sẽ ngồi ở Xa-phông, trên đồi của núi thánh.
ISA 14:14 Ta sẽ cất mình lên trên các từng mây. Ta sẽ như Đấng Tối Cao.”
ISA 14:15 Nhưng ngươi đã bị đem xuống âm phủ, đến nơi sâu thẳm của mồ mả.
ISA 14:16 Những ai thấy ngươi cũng sững sờ. Họ nhìn điều xảy ra cho ngươi và nói, “Đây có phải là kẻ đã gây sợ hãi lớn lao trên đất, làm lung lay các nước,
ISA 14:17 biến thế giới ra sa mạc, tiêu diệt các thành phố, bắt các tù binh trong chiến tranh và từ chối thả họ trở về nhà không?”
ISA 14:18 Các vua trên đất đã được chôn cất trong vinh dự, mỗi người được chôn trong mồ mả mình.
ISA 14:19 Nhưng ngươi bị ném khỏi mồ ngươi, như một xác chết sình thối ghê tởm. Ngươi bị bao phủ bởi các thây chết vì chiến trận, bởi các xác sẽ được chôn trong hầm đá. Ngươi như thây ma bị các lính khác dẫm lên.
ISA 14:20 Ngươi sẽ không được chôn với các thây ma ấy, vì ngươi đã tàn phá xứ sở ngươi và giết hại dân chúng ngươi. Con cái của các kẻ gian ác sẽ không bao giờ được ai nhắc đến trở lại.
ISA 14:21 Hãy chuẩn bị giết con cái nó, vì cha chúng nó có tội. Chúng sẽ không bao giờ kiểm soát đất đai được nữa; chúng sẽ không bao giờ xây cất các thành phố tràn đầy mặt đất.
ISA 14:22 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Ta sẽ đánh các dân đó; Ta sẽ tiêu hủy Ba-by-lôn và dân cư, con cái và dòng dõi nó,” CHÚA phán vậy.
ISA 14:23 “Ta sẽ khiến Ba-by-lôn thành chỗ ở cho thú vật và cho đầm lầy. Ta sẽ lấy chổi hủy diệt quét Ba-by-lôn,” CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
ISA 14:24 CHÚA Toàn Năng cam kết như sau: “Những điều sau đây sẽ xảy ra đúng y như ta dự định; chúng sẽ xảy ra y như ta đã sắp đặt.
ISA 14:25 Ta sẽ tiêu diệt vua A-xy-ri trong xứ ta; Ta sẽ chà đạp nó trên núi ta. Nó đặt gánh nặng trên dân ta, nhưng gánh nặng đó sẽ được lấy đi.
ISA 14:26 Đây là điều ta dự định làm cho cả đất. Đây là bàn tay ta đã giơ lên trên các dân tộc.”
ISA 14:27 Khi CHÚA Toàn Năng hoạch định, thì không ai ngăn cản nổi. Khi CHÚA giơ tay lên trừng phạt người ta, thì không ai ngăn cản Ngài được.
ISA 14:28 Đây là sứ điệp được loan báo trong năm vua A-cha qua đời:
ISA 14:29 Xứ Phi-li-tin ơi, đừng vội mừng vì vua trước đây tấn công ngươi đã chết. Người như con rắn sinh ra rắn độc khác. Vua mới sẽ như một con rắn nguy hiểm, lanh lẹ cắn ngươi.
ISA 14:30 Ngay như những kẻ nghèo khó nhất của dân ta cũng sẽ ăn uống thỏa thích, và những người khốn cùng sẽ nằm nghỉ bình yên. Nhưng ta sẽ giết gia đình ngươi bằng nạn đói kém, và những ai còn sót lại của ngươi sẽ chết.
ISA 14:31 Dân cư gần cổng thành ơi, hãy kêu khóc đi! Hỡi Phi-li-tin, hãy hoảng sợ vì một đám bụi sẽ thổi đến từ phương bắc. Đó là một đạo quân sẵn sàng chiến đấu không ai chậm trễ.
ISA 14:32 Chúng ta sẽ bảo các sứ giả của nước ấy như thế nào? Hãy nói rằng CHÚA đã khiến Giê-ru-sa-lem thêm mạnh và những kẻ nghèo khó của Ngài sẽ đến đó để tìm sự an ninh.
ISA 15:1 Đây là tuyên ngôn cho Mô-áp: Trong đêm mà thành A-rơ bị tiêu diệt thì Mô-áp cũng hoang tàn. Trong đêm mà Kiệt bị tiêu diệt thì Mô-áp cũng hoang phế.
ISA 15:2 Dân Đi-bôn đi đến các nơi thờ phụng để than khóc. Dân Mô-áp than khóc cho các thành Nê-bô và Mê-đê-ba. Mọi đầu và râu đều cạo nhẵn nhụi để tỏ nỗi sầu thảm của Mô-áp.
ISA 15:3 Trong phố chúng mặc vải sô để tỏ nỗi đau buồn. Trên nóc nhà và nơi công viên, chúng kêu khóc thảm thiết.
ISA 15:4 Dân cư của các thành Hết-bôn và Ê-lê-a-lê kêu khóc. Ngươi có thể nghe tiếng khóc của chúng nó từ xa trong thành Gia-hát. Ngay đến các chiến sĩ Mô-áp cũng sợ sệt; chúng run lên vì kinh sợ.
ISA 15:5 Lòng ta khóc than vì đau buồn cho Mô-áp. Dân cư nó chạy trốn đến Xoa để trú ẩn; chúng chạy đến Ếch-la Sê-li-si-gia. Dân chúng chạy lên con đường trên núi để đi đến Lu-hít, vừa đi vừa khóc. Dân chúng đi trên đường đến Hô-rô-na-im, than khóc về cảnh điêu tàn của mình.
ISA 15:6 Nhưng nước ở Nim-rim đã khô cạn. Cỏ đều chết héo, cây cối đều chết; không còn thứ gì xanh cả.
ISA 15:7 Cho nên dân chúng thu góp những gì còn vớt vát được rồi mang chúng sang Hố Cây Liễu.
ISA 15:8 Người ta nghe tiếng khóc khắp nơi trong Mô-áp. Tiếng khóc chúng nó ở tận thành Ếch-la-im cũng nghe thấy; Tận thành Bê-e Ê-lim xa lắc cũng nghe tiếng khóc.
ISA 15:9 Nước của thành Đi-môn đầy máu, và ta, CHÚA, sẽ mang thêm khốn khổ cho Đi-môn. Một số dân sống ở Mô-áp đã trốn thoát khỏi kẻ thù, nhưng ta sẽ sai sư tử giết chúng nó.
ISA 16:1 Hãy gởi triều cống cho lãnh tụ của xứ. Hãy gởi một con chiên con từ Sê-la qua sa mạc đến núi của Con gái Xi-ôn.
ISA 16:2 Các người đàn bà Mô-áp tìm cách băng qua sông Ạc-nôn như chim con rơi ra khỏi tổ.
ISA 16:3 Họ bảo: “Hãy giúp chúng tôi. Bảo chúng tôi phải làm sao. Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi tay kẻ thù như bóng mát che chúng tôi khỏi ánh mặt trời buổi trưa. Xin hãy giấu chúng tôi, vì chúng tôi chạy tìm nơi an toàn! Đừng trao chúng tôi vào tay kẻ thù.
ISA 16:4 Hãy để những ai trong chúng tôi bị đuổi ra khỏi Mô-áp sống trong xứ ngươi. Xin giấu chúng tôi khỏi kẻ thù.” Cảnh cướp bóc Mô-áp sẽ chấm dứt. Kẻ thù sẽ bị đánh bại; những kẻ hiếp đáp người khác sẽ biến mất khỏi xứ.
ISA 16:5 Rồi một vua mới trung thành sẽ đến; vua trung thành nầy sẽ xuất thân từ nhà Đa-vít. Người sẽ phân xử công bằng và làm điều phải.
ISA 16:6 Chúng ta đã nghe rằng dân Mô-áp rất kiêu căng tự phụ. Chúng rất hợm hĩnh và nóng giận, nhưng sự khoác lác của chúng không ra gì.
ISA 16:7 Vì thế dân Mô-áp sẽ khóc lóc; chúng nó sẽ buồn thảm. Chúng sẽ than vãn về các bánh nho khô mà chúng đã ăn trong Kiệt Ha-rê-sết.
ISA 16:8 Nhưng các ruộng của Hết-bôn và cây nho của Xíp-ma không thể ra trái; các kẻ cầm quyền ngoại quốc đã tiêu diệt các dây nho. Kẻ thù đã tới Gia-xe, tràn đến sa mạc và ra đến tận biển.
ISA 16:9 Ta than khóc với dân Gia-xe về các dây nho Xíp-ma. Ta than khóc với dân Hết-bôn và Ê-lê-a-lê. Sẽ không có tiếng reo vui, vì sẽ không còn mùa gặt hay trái cây chín nữa.
ISA 16:10 Sẽ không còn cảnh hớn hở vui mừng trong vườn cây ăn trái không còn bài ca và tiếng reo vui trong vườn nho. Không ai làm rượu nơi bàn ép rượu nữa, vì ta đã làm tắt tiếng mừng rỡ.
ISA 16:11 Lòng ta khóc cho Mô-áp như đờn cầm đánh bản ai ca; Ta rất đau buồn cho Kiệt Ha-sê-rết.
ISA 16:12 Dân Mô-áp sẽ đi đến nơi thờ phụng để cầu khẩn. Nhưng khi chúng đi đến đền thờ cầu nguyện cũng chẳng được nghe.
ISA 16:13 Trước đây CHÚA đã phán những lời nầy về Mô-áp.
ISA 16:14 Nhưng nay CHÚA phán, “Trong ba năm nữa, tức thời gian người làm thuê tính công, cả chúng nó và niềm kiêu căng chúng sẽ bị ghét bỏ. Chỉ sẽ còn sót lại một số rất ít người nhưng vô cùng yếu ớt.”
ISA 17:1 Sau đây là sứ điệp về Đa-mách: “Thành Đa-mách sẽ bị tiêu hủy; chỉ còn lại đống hoang tàn.
ISA 17:2 Dân chúng sẽ bỏ các thành ở A-rô-e. Các đàn súc vật sẽ đi thong dong trong các thị trấn bỏ hoang đó, không ai ngăn cản.
ISA 17:3 Các thành có vách kiên cố trong Ép-ra-im sẽ bị tiêu hủy. Chính phủ Đa-mách sẽ không còn. Những kẻ còn sót lại trong A-ram sẽ giống như vinh hiển Ít-ra-en,” Chúa Toàn Năng phán vậy.
ISA 17:4 “Lúc đó của cải Ít-ra-en sẽ tiêu tan. Ít-ra-en sẽ giống như những kẻ ốm yếu vì bệnh hoạn.
ISA 17:5 Lúc đó sẽ như mùa gặt lúa trong thung lũng Rê-pha-im. Các nhân công gặt lúa mì. Cắt các bông lúa và gom về.
ISA 17:6 Lúc đó cũng sẽ giống như mùa gặt ô liu, chỉ còn sót lại một vài trái. Chỉ có hai ba trái ô liu còn lại nơi các nhánh trên cùng. Chỉ còn bốn hoặc năm trái còn sót trên các nhánh,” CHÚA, là Thượng Đế của Ít-ra-en phán vậy.
ISA 17:7 Lúc đó người ta sẽ hướng về Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa mình; mắt của họ sẽ nhìn Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 17:8 Họ sẽ không còn tin tưởng nơi những bàn thờ mình đã xây, cũng sẽ không tin điều tay mình làm ra, không tin cả đến tượng A-sê-ra và bàn thờ của họ.
ISA 17:9 Trong ngày đó các thành kiên cố sẽ bỏ hoang. Chúng sẽ giống như các thành của dân Hê-vít và A-mô-rít để lại khi dân Ít-ra-en đến chiếm xứ. Mọi vật đều sẽ bị tiêu hủy.
ISA 17:10 Các ngươi đã quên Thượng Đế là Đấng cứu các ngươi; không nhớ Thượng Đế là nơi trú ẩn an toàn của mình. Các ngươi trồng dây nho tốt nhất và các cây nho lấy từ xứ xa.
ISA 17:11 Ngươi trồng dây nho hôm nay và mong nó mọc lên, hôm sau ngươi ao ước nó trổ bông. Nhưng đến mùa gặt mọi thứ đều chết; các cây sẽ bị bệnh mà chết.
ISA 17:12 Hãy nghe tiếng vô số người! Nghe như tiếng ồn ào của biển cả. Hãy lắng nghe tiếng của các dân! Nghe như tiếng của sóng vỗ ào ào.
ISA 17:13 Chúng gầm thét như sóng cồn, nhưng khi Thượng Đế quở trách, chúng sẽ bỏ chạy. Như trấu trên đồi bị gió thổi bay, hay những bụi cỏ dại bị giông bão thổi đi.
ISA 17:14 Ban đêm chúng sẽ hoảng sợ, Trước rạng đông, sẽ không còn ai sót lại. Kẻ thù sẽ đến trong xứ chúng ta nhưng chẳng làm được gì.
ISA 18:1 Khốn cho xứ bên kia sông Cút, xứ đầy tiếng vỗ cánh ào ào.
ISA 18:2 Nó sai các sứ giả băng qua biển; lướt trên nước trong các thuyền bằng lau sậy. Hãy đi nhanh lên, hỡi các sứ giả, đến với một dân tộc người cao da mịn, dân mà ai nấy đều kinh sợ. Chúng là một dân hùng mạnh đã đánh bại các dân tộc khác. Đất chúng có các con sông phân nhánh.
ISA 18:3 Hỡi dân cư trên đất, hãy nhìn! Mọi người sống trên thế giới, hãy trông! Các ngươi sẽ thấy một lá cờ giương trên núi. Các ngươi sẽ nghe tiếng kèn.
ISA 18:4 CHÚA phán cùng tôi, “Ta sẽ từ nơi ta ở lặng lẽ quan sát, như hơi nắng nóng, như sương trong sức nóng mùa gặt.
ISA 18:5 Sẽ đến lúc, sau khi hoa đã nở và trước mùa gặt, khi nho mới sẽ nẩy mầm và lớn lên thì kẻ thù sẽ dùng dao tỉa hết nhánh; cắt dây nho mang đi.
ISA 18:6 Các cây đó sẽ dành cho chim trên núi và muông thú. Chim muông sẽ dùng chúng để nuôi thân suốt mùa hạ, và muông thú sẽ ăn chúng trong mùa đông ấy.”
ISA 18:7 Lúc đó người ta sẽ mang của dâng cho Chúa Toàn Năng từ những dân tộc người cao da mịn, mà khắp nơi ai cũng sợ. Chúng là dân đã chiến thắng các quốc gia khác. Xứ chúng có sông phân nhánh. Những của dâng ấy sẽ được mang đến Núi Xi-ôn, nơi ở của Chúa Toàn Năng.
ISA 19:1 Đây là tuyên ngôn dành cho Ai-cập: Nầy, CHÚA đến như đám mây bay nhanh vào Ai-cập. Các thần tượng nó sẽ run sợ trước mặt Ngài, và Ai-cập sẽ không còn can đảm.
ISA 19:2 CHÚA phán, “Ta sẽ khiến cho dân Ai-cập tự đánh lẫn nhau. Thân nhân đánh thân nhân; láng giềng đánh láng giềng; thành đánh thành; vương quốc đánh vương quốc.
ISA 19:3 Người Ai-cập sẽ hoảng sợ, ta sẽ phá hỏng kế hoạch chúng. Chúng sẽ cầu hỏi thần tượng mình và các vong linh người đã chết, hỏi các đồng bóng và thầy bói.”
ISA 19:4 Chúa Toàn Năng phán, “Ta sẽ trao Ai-cập cho một ông chủ khắc nghiệt, một vua hùng mạnh sẽ cai trị chúng.”
ISA 19:5 Biển sẽ khô cạn, nước sẽ biến mất khỏi sông Nin.
ISA 19:6 Các kênh rạch sẽ hôi thúi; và các suối nước của Ai-cập sẽ khô cạn. Các cây mọc dưới nước sẽ thối;
ISA 19:7 các cây dọc theo bờ sông Nin sẽ chết. Ngay cả các cây mọc trong đồng bên bờ sông Nin sẽ khô héo, bị gió thổi đi, và biến mất.
ISA 19:8 Những người đánh cá cùng những kẻ bắt cá trong sông Nin, sẽ than khóc; những kẻ đánh cá trên sông Nin sẽ buồn rầu.
ISA 19:9 Những kẻ dùng cây đay dệt thành vải sẽ rầu rĩ, và những thợ dệt vải trắng sẽ tuyệt vọng.
ISA 19:10 Những thợ dệt vải sẽ phá sản, và kẻ làm công kiếm tiền sẽ thảm sầu.
ISA 19:11 Các viên chức của thành phố Xoan toàn là đồ ngu ngốc; những cố vấn khôn ngoan cho vua Ai-cập đưa ra ý kiến bậy bạ. Làm sao các ngươi nói được cùng vua rằng, “Tôi là dòng dõi của những người khôn ngoan”? Làm sao ngươi bảo rằng, “Tôi là dòng vua xưa kia”?
ISA 19:12 Hỡi Ai-cập, kẻ khôn ngoan của ngươi đâu? Bảo chúng cho ngươi biết điều Chúa Toàn Năng đã định cho Ai-cập đi.
ISA 19:13 Các viên chức của Xoan đã bị gạt; các lãnh tụ của Mem-phít tin chuyện nhảm. Cho nên các lãnh tụ Ai-cập hướng dẫn dân mình đi lầm lạc.
ISA 19:14 CHÚA đã khiến các lãnh tụ đó hoang mang. Chúng hướng dẫn dân Ai-cập đi lang thang không lối, như người say sờ soạng trong đồ mình mửa ra.
ISA 19:15 Ai-cập bó tay, dù sang hay hèn, lãnh tụ hay thường dân, không ai giúp nó được.
ISA 19:16 Trong ngày đó dân Ai-cập sẽ như đàn bà. Chúng sẽ khiếp sợ CHÚA Toàn Năng, vì Ngài sẽ giơ tay lên phạt chúng.
ISA 19:17 Đất Giu-đa sẽ làm cho Ai-cập hoảng sợ. Ai nghe đến tên Giu-đa cũng sẽ kinh khiếp, vì CHÚA Toàn Năng đã định nghịch cùng chúng.
ISA 19:18 Lúc đó năm thành trong Ai-cập sẽ nói tiếng Hê-bơ-rơ, ngôn ngữ của xứ Ca-na-an. Họ sẽ cam kết trung thành cùng CHÚA Toàn Năng. Một trong các thành đó sẽ có tên là Thành Hủy Diệt.
ISA 19:19 Lúc đó sẽ có một bàn thờ cho CHÚA giữa xứ Ai-cập và một đền kỷ niệm cho CHÚA ở biên giới Ai-cập.
ISA 19:20 Đây là dấu hiệu và nhân chứng cho CHÚA Toàn Năng trong xứ Ai-cập. Khi dân chúng kêu xin CHÚA cứu giúp thì Ngài sai người đến cứu và bênh vực họ. Ngài sẽ giải cứu họ khỏi những kẻ ức hiếp họ.
ISA 19:21 CHÚA sẽ tỏ mình cho dân Ai-cập, họ sẽ biết Ngài là CHÚA. Họ sẽ thờ lạy Thượng Đế và dâng của lễ. Họ sẽ hứa nguyện cùng CHÚA và giữ lời hứa đó.
ISA 19:22 CHÚA sẽ trừng phạt dân Ai-cập, nhưng Ngài sẽ chữa lành cho họ. Họ sẽ trở lại cùng Ngài, Ngài sẽ nghe lời cầu khẩn của họ và chữa lành họ.
ISA 19:23 Lúc đó sẽ có một đường cái chạy từ Ai-cập đến A-xy-ri. Người A-xy-ri sẽ đi đến Ai-cập, và người Ai-cập sẽ đi đến A-xy-ri. Cả người Ai-cập lẫn A-xy-ri đều sẽ cùng thờ lạy Thượng Đế.
ISA 19:24 Lúc đó Ít-ra-en, A-xy-ri, và Ai-cập sẽ hiệp chung nhau. Họ sẽ trở thành nguồn phước cho cả thế giới.
ISA 19:25 CHÚA Toàn Năng sẽ chúc phước cho họ rằng, “Hỡi Ai-cập, ngươi là dân ta. Hỡi A-xy-ri, ta đã dựng nên ngươi. Hỡi Ít-ra-en, ngươi là sản nghiệp ta. Tất cả các ngươi đều sẽ được phước!”
ISA 20:1 Sạt-gôn, vua A-xy-ri sai một viên chỉ huy đến tấn công Ách-đốt. Viên chỉ huy đó tấn công và chiếm được thành.
ISA 20:2 Rồi CHÚA phán cùng Ê-sai, con trai A-mốt rằng, “Hãy cởi quần áo vải sô khỏi ngươi, cùng dép khỏi chân ngươi.” Vậy Ê-sai làm theo, ở trần đi chân đất.
ISA 20:3 CHÚA phán, “Ê-sai, tôi tớ ta ở trần đi chân đất trong ba năm để làm dấu hiệu nghịch lại Ai-cập và Cút.
ISA 20:4 Vua A-xy-ri sẽ mang các tù nhân đi khỏi Ai-cập và Cút. Mọi người từ già đến trẻ đều sẽ bị dẫn đi ở trần, chân không, phơi bày mông ra. Người Ai-cập sẽ cảm thấy nhục nhã.
ISA 20:5 Ai trông chờ Cút giúp đỡ sẽ hoảng sợ, còn ai sững sờ về sự huy hoàng của Ai-cập sẽ xấu hổ.
ISA 20:6 Dân cư sống gần biển sẽ bảo, ‘Hãy nhìn các nước đó. Chúng ta trông mong họ giúp đỡ chúng ta. Chúng ta chạy đến mong họ cứu chúng ta khỏi tay vua A-xy-ri. Như thế làm sao chúng ta thoát được?’”
ISA 21:1 Đây là tuyên ngôn nghịch cùng xứ sa mạc gần biển: Thảm họa sẽ đến từ sa mạc như gió nam thổi đến. Thảm hoạ tới từ một xứ kinh khủng.
ISA 21:2 Ta đã nhìn thấy một hiện tượng đáng sợ. Ta thấy những kẻ phản bội bị phản bội và những kẻ phá hoại bị phá hoại. Hỡi Ê-lam, hãy tấn công dân chúng! Hỡi Mê-đi, hãy vây thành và tấn công nó! Ta sẽ chấm dứt sự đau khổ do thành đó gây ra.
ISA 21:3 Ta đã thấy những việc kinh khủng, và bây giờ đây ta đau đớn; cái đau của ta như người đàn bà đau đẻ. Điều ta nghe làm ta kinh sợ; Điều ta thấy khiến ta run rẩy.
ISA 21:4 Ta lo âu và run sợ. Buổi chiều êm đềm của ta đã biến ra đêm kinh hoàng.
ISA 21:5 Chúng bày bàn ăn; chúng trải thảm; chúng ăn uống. Hỡi các lãnh tụ, hãy đứng lên. Hãy chuẩn bị khiên để chiến đấu!
ISA 21:6 CHÚA phán cùng ta, “Hãy đi đặt lính canh cho thành, bảo nó báo cáo những gì trông thấy.
ISA 21:7 Nếu nó thấy quân xa, ngựa, lừa hay lạc đà, thì phải để ý đặc biệt.”
ISA 21:8 Nếu người lính canh kêu lên, “Chủ ơi, mỗi ngày tôi đứng trên vọng canh trông chừng; mỗi đêm tôi trực gác.
ISA 21:9 Nầy, tôi thấy một người cỡi quân xa do một đoàn ngựa kéo.” Người đó kêu lên, “Ba-by-lôn đã sụp đổ rồi! Nó sụp đổ rồi! Các thần tượng nó nằm bể tan tành trên mặt đất.”
ISA 21:10 Dân ta bị chà nát như lúa trên sân đập lúa. Hỡi dân ta, ta cho các ngươi biết điều ta nghe từ Đấng Toàn Năng, từ Thượng Đế của Ít-ra-en.
ISA 21:11 Đây là tuyên ngôn về Đu-ma: Có kẻ từ Ê-đôm gọi ta, “Nầy người gác, đêm còn bao lâu nữa? Nầy người gác, chừng nào thì hết đêm?”
ISA 21:12 Người gác trả lời, “Buổi sáng đến, nhưng đêm cũng sẽ tới. Nếu ngươi muốn hỏi thì lát nữa hãy đến mà hỏi.”
ISA 21:13 Đây là tuyên ngôn về Á-rập: Một đoàn thương gia từ Đê-đăng ngủ đêm gần trong một khu rừng ở Á-rập.
ISA 21:14 Chúng cấp nước cho lữ khách đang khát; Dân cư Thê-ma cấp thức ăn cho họ.
ISA 21:15 Họ chạy trốn tránh lưỡi gươm, khỏi các lưỡi gươm giết hại, khỏi các cây cung nhắm bắn, khỏi cuộc chiến tàn khốc.
ISA 21:16 CHÚA phán cùng tôi như sau: “Một năm nữa sự huy hoàng của xứ Kê-đa sẽ không còn. (Tức thời gian tính cho người làm thuê.)
ISA 21:17 Lúc đó chỉ còn rất ít lính cầm cung, trong đám lính Kê-đa sống sót.” CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán vậy.
ISA 22:1 Đây là tuyên ngôn về Thung lũng Hiện thấy: Dân ngươi làm sao vậy? Tại sao ngươi đứng trên mái nhà?
ISA 22:2 Thành nầy phồn hoa, đầy tiếng huyên náo và tiệc tùng say sưa. Bây giờ dân ngươi đã bị giết, không phải bằng gươm, cũng không phải do chiến trận.
ISA 22:3 Các lãnh tụ ngươi cùng nhau chạy trốn, nhưng đều bị bắt dù không tốn mũi tên nào. Những người bị bắt là những người chạy trốn trước khi quân thù tới.
ISA 22:4 Nên ta bảo, “Đừng nhìn ta. Hãy để ta khóc to lên. Đừng vội an ủi ta về sự tàn phá của dân yêu dấu ta.”
ISA 22:5 CHÚA Toàn Năng đã chọn một ngày cho hỗn loạn. Người ta sẽ dẫm lên nhau trong Thung lũng Hiện Thấy. Vách thành sẽ bị phá sập, và người ta sẽ kêu la cùng núi non.
ISA 22:6 Các lính tráng từ Ê-lam sẽ gom các mũi tên lại cùng các quân xa và lính cỡi ngựa. Kiệt sẽ chuẩn bị khiên.
ISA 22:7 Các thung lũng xinh đẹp nhất của ngươi sẽ tràn ngập quân xa. Các lính cỡi ngựa sẽ được lệnh canh gác các cổng thành.
ISA 22:8 Các vách thành bảo vệ Giu-đa sẽ sụp đổ. Lúc đó dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ trông cậy vào các vũ khí cất giữ ở Cung điện trong Rừng.
ISA 22:9 Ngươi thấy các vách thành Đa-vít có nhiều kẽ nứt cần được sửa chữa. Ngươi trữ nước trong hồ dưới.
ISA 22:10 Ngươi đếm nhà cửa trong Giê-ru-sa-lem, và phá sập chúng để lấy đá sửa chữa vách thành.
ISA 22:11 Ngươi đào hồ nước giữa hai vách để dành nước từ hồ cũ, nhưng ngươi không tin cậy vào Thượng Đế là Đấng làm các việc đó; ngươi không kính sợ Đấng đã trù liệu các việc ấy từ xưa.
ISA 22:12 CHÚA Toàn Năng bảo dân chúng khóc than buồn thảm, cạo đầu và mặc bao gai.
ISA 22:13 Nhưng xem kìa, dân chúng lại vui mừng và mở tiệc tùng say sưa. Chúng giết bò và chiên; ăn nhậu say sưa và bảo nhau, “Chúng ta hãy ăn uống no say, vì ngày mai chúng ta sẽ chết.”
ISA 22:14 CHÚA Toàn Năng phán cùng tôi rằng: “Dân chúng sẽ chết trước khi tội nầy được tha.” CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng phán như vậy.
ISA 22:15 CHÚA Toàn Năng phán: “Hãy đi đến Sép-na, quản lý cung điện.
ISA 22:16 Bảo nó rằng, ‘Ngươi làm gì ở đây? Đâu có thân nhân nào của người được chôn cất ở đây? Tại sao ngươi chuẩn bị mả cho mình nơi cao thế nầy? Tại sao ngươi đục huyệt mả trong đá?
ISA 22:17 Nầy, người mạnh sức! CHÚA sẽ quăng ngươi đi. Ngài sẽ túm bắt ngươi
ISA 22:18 và cuốn ngươi thành một quả banh rồi ném ngươi vào một xứ khác. Ngươi sẽ chết ở đó, nhưng các quân xa của ngươi sẽ còn lại. Ngươi sẽ là một điều sỉ nhục cho nhà chủ ngươi.
ISA 22:19 Ta sẽ khiến ngươi mất chức trọng, và sẽ ném ngươi ra khỏi địa vị cao sang của ngươi.’
ISA 22:20 Lúc đó ta sẽ gọi tôi tớ là Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia.
ISA 22:21 Ta sẽ cởi áo dài ngươi ra, mặc cho người và cho người dây nịt của ngươi. Ta sẽ trao cho người chức trọng ngươi đang giữ, người sẽ giống như cha của dân Giê-ru-sa-lem và gia đình Giu-đa.
ISA 22:22 Ta sẽ đeo chìa khóa nhà Đa-vít quanh cổ người. Nếu người mở, thì không ai đóng được; và nếu người đóng thì không ai mở được.
ISA 22:23 Người sẽ như một ghế danh dự trong nhà cha mình. Ta sẽ làm cho người mạnh mẽ như một cái đinh máng đóng chặt vào vách.
ISA 22:24 Những gì vinh dự và quan trọng trong gia đình người sẽ lệ thuộc vào người; từ người lớn đến trẻ nhỏ. Họ sẽ như chén bát và chai lọ máng trên người.”
ISA 22:25 CHÚA Toàn Năng phán, “Lúc đó cái đinh máng chặt sẽ suy yếu. Nó sẽ gãy và rớt ra, rồi những gì máng trên nó sẽ bị tiêu hủy.” CHÚA phán vậy.
ISA 23:1 Đây là tuyên ngôn cho Tia: Hỡi các tàu buôn Tạt-si, hãy than khóc lên! Vì các nhà cửa và bến tàu của Tia đã bị tiêu hủy rồi. Tin tức đó truyền đến cho các tàu bè từ đảo Chíp.
ISA 23:2 Hãy im lặng, hỡi các ngươi là kẻ sống trên đảo Tia; hỡi các thương gia của Xi-đôn, hãy im lặng. Các thủy thủ đã khiến ngươi giàu có.
ISA 23:3 Chúng ra khơi để mang thóc gạo về từ Ai-cập; các thủy thủ của Tia mang thóc gạo về từ thung lũng sông Nin, và bán cho các nước khác.
ISA 23:4 Hỡi Xi-đôn, hãy xấu hổ đi! Hỡi Đồn của Biển hãy xấu hổ, vì biển lên tiếng rằng: “Khi ta sinh, ta chẳng thấy đau đẻ; Ta không nuôi dưỡng các thanh niên thiếu nữ ngươi.”
ISA 23:5 Ai-cập sẽ nghe tin tức về Tia, tin đó sẽ làm cho Ai-cập đau buồn.
ISA 23:6 Các thuyền bè ngươi nên trở về Tạt-si. Dân ngươi sống gần biển hãy buồn rầu.
ISA 23:7 Hãy nhìn thành ngươi trước kia vui vẻ bao nhiêu! Hãy nhìn thành xưa cổ của ngươi! Dân cư thành đó đã đi định cư nơi xa.
ISA 23:8 Ai đã dự định phá hủy thành Tia? Thành Tia đã mang giàu có đến cho các thành khác. Các thương gia nó được đối xử như bậc vương giả, và các con buôn nó được trọng vọng.
ISA 23:9 Chính CHÚA Toàn Năng đã hoạch định điều nầy. Ngài hạ những dân tự phụ nầy xuống; và làm sỉ nhục những kẻ trước kia được trọng vọng.
ISA 23:10 Hãy đi qua đất ngươi, hỡi dân Tạt-si, như sông Nin chảy qua Ai-cập. Bây giờ không còn bến đậu nào cho ngươi nữa!
ISA 23:11 CHÚA đã giơ tay ra trên biển khiến các nước rung động. Ngài ra lệnh cho các thành có vách kiên cố của Ca-na-an bị tiêu diệt.
ISA 23:12 Ngài phán, “Xi-đôn ơi, ngươi sẽ không còn hớn hở nữa, vì ngươi đã bị tiêu diệt. Dù cho ngươi băng qua biển đến Chíp, cũng chẳng tìm được nơi an nghỉ đâu.”
ISA 23:13 Hãy nhìn đất dân Ba-by-lôn kìa; bây giờ đâu còn là nước nữa. A-xy-ri đã biến nó ra nơi ở của muông thú. A-xy-ri xây tháp để tấn công nó; các lính tráng nó lấy tất cả các của báu từ các thành nó, và biến chúng ra điêu tàn.
ISA 23:14 Hỡi các tàu buôn, hãy rầu rĩ đi, vì thành vững chãi của các ngươi đã bị tiêu diệt rồi.
ISA 23:15 Lúc đó người ta sẽ quên bẵng Tia trong bảy mươi năm, tức bằng một đời vua. Sau bảy mươi năm, Tia sẽ như cô gái điếm trong bài ca nầy:
ISA 23:16 “Hỡi cô gái điếm bị lãng quên kia ơi! Hãy lấy đờn cầm của chị mình và đi dạo qua thành. Hãy gảy đờn cho hay. Hãy hát nghêu ngao ca bài của mình. Thì sẽ được người đời nhớ đến.”
ISA 23:17 Sau bảy mươi năm, CHÚA sẽ xét lại trường hợp của Tia và định đoạt số phận nó. Việc kinh doanh của nó sẽ lại tái tục. Nó sẽ như gái điếm cho các dân trên đất.
ISA 23:18 Những doanh lợi của nó sẽ để dành cho CHÚA. Tia sẽ không cất giữ tiền mình kiếm được nhưng sẽ ban nó cho những ai phục vụ CHÚA để họ dư ăn dư mặc.
ISA 24:1 Nầy! CHÚA sẽ tiêu diệt xứ nầy khiến nó hoang vu; Ngài sẽ tiêu hủy mặt đất và phân tán dân cư nó.
ISA 24:2 Lúc đó ai nấy đều đồng chung số phận: thường dân cũng như thầy tế lễ, nô lệ đàn ông cũng như chủ nhân, nữ nô lệ cũng như nữ chủ nhân, kẻ bán cũng như người mua, người vay cũng như kẻ cho vay, chủ nợ cũng như con nợ.
ISA 24:3 Đất sẽ hoàn toàn hoang vu. Của cải sẽ bị cướp đi, vì CHÚA ra lệnh đó.
ISA 24:4 Đất sẽ khô cằn và tiêu điều; thế giới sẽ héo mòn và biến mất; các đại lãnh tụ trong đất nầy sẽ mòn mỏi.
ISA 24:5 Dân cư trên đất đã tàn hại nó, vì chúng không đi theo lời giáo huấn của Thượng Đế, không vâng theo luật lệ Ngài, không tôn trọng giao ước với Thượng Đế là giao ước còn mãi mãi.
ISA 24:6 Cho nên sự nguyền rủa sẽ tiêu diệt đất, Dân trên thế gian có tội, nên sẽ bị tiêu diệt; chỉ còn lại một số ít.
ISA 24:7 Rượu mới sẽ hư, và cây nho sẽ chết. Những ai trước đây vui vẻ sẽ buồn rầu.
ISA 24:8 Sẽ không còn tiếng trống cơm tưng bừng, Tiếng tiệc liên hoan sẽ ngưng. Tiếng đờn cầm náo nức sẽ dứt.
ISA 24:9 Dân chúng không còn ca hát đang khi uống rượu. Bia sẽ hóa đắng cho kẻ nào uống nó.
ISA 24:10 Thành điêu tàn sẽ bị hoang vu, Mọi nhà sẽ đóng cửa kín mít không cho ai vào.
ISA 24:11 Người đi ngoài phố sẽ xin rượu, nhưng niềm vui sẽ biến nên sầu thảm; vì tất cả thú vui trên đời đã vỗ cánh bay đi.
ISA 24:12 Thành sẽ hoá ra điêu tàn, các cổng thành đều bể nát vụn.
ISA 24:13 Đó là điều sẻ xảy ra trên khắp đất cho tất cả mọi nước. Đất sẽ như cây ô liu sau mùa gặt hái, chỉ còn một vài trái nho sót trên cành sau mùa hái nho.
ISA 24:14 Dân chúng reo vui. Từ phương tây, họ ca tụng sự cao cả của CHÚA.
ISA 24:15 Hỡi dân phương đông, hãy ca tụng CHÚA. Hỡi dân trong các hải đảo, hãy ca ngợi danh CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en.
ISA 24:16 Từ khắp nơi trên đất chúng ta nghe các bài ca tán dương Thượng Đế, Đấng Công bình. Nhưng tôi nói, “Tôi đang hấp hối, tôi đang hấp hối! Khốn cho tôi! Những kẻ phản bội đã hại dân chúng; dùng lối lường gạt, chúng đã hại dân chúng.”
ISA 24:17 Dân cư trên đất sẽ gặp kinh hoàng, vấp phải hố, và bẫy.
ISA 24:18 Ai thoát được tiếng kinh hoàng sẽ rơi vào hố. Ai trèo ra khỏi hố sẽ bị sập bẫy. Mây sẽ đổ mưa xuống, và nền trái đất sẽ rung chuyển mạnh.
ISA 24:19 Mặt đất sẽ bể ra; đất sẽ nứt nẻ; đất sẽ rung chuyển mạnh.
ISA 24:20 Đất sẽ xiêu vẹo như người say; nó sẽ rung chuyển như lều gặp bão. Tội lỗi nó như gánh nặng trên lưng nó; nó sẽ ngã không ngồi dậy được.
ISA 24:21 Lúc đó CHÚA sẽ trừng phạt các thế lực trên trời và các quan quyền dưới đất.
ISA 24:22 Chúng sẽ nhóm lại như những tù nhân bị ném vào ngục tối; chúng sẽ bị nhốt vào ngục. Bị trừng phạt một thời gian lâu.
ISA 24:23 Mặt trăng sẽ ngượng ngùng, mặt trời sẽ xấu hổ, vì CHÚA Toàn Năng sẽ làm vua cai trị trên núi Xi-ôn trong Giê-ru-sa-lem. Các lãnh tụ Giê-ru-sa-lem sẽ nhìn thấy sự oai nghi của Ngài.
ISA 25:1 Lạy CHÚA, Ngài là Thượng Đế tôi. Tôi tôn trọng và ca tụng Ngài, vì Ngài đã làm những việc diệu kỳ. Ngài luôn luôn làm điều Ngài phán; và thực hiện điều Ngài hoạch định từ xưa.
ISA 25:2 Ngài đã biến thành phố ra đống đá vụn và tiêu hủy nó. Đền đài của kẻ thù nay không còn nữa; nó sẽ không được ai xây lại.
ISA 25:3 Dân cư từ các nước hùng cường sẽ tôn kính Ngài; thành phố của các dân hung bạo sẽ sợ hãi Ngài.
ISA 25:4 Ngài che chở kẻ nghèo; Ngài bênh vực kẻ cô thế khi họ gặp nguy khốn. Ngài như nơi trú ẩn lúc giông bão, như mái che họ khỏi nắng nóng. Kẻ ác tấn công như mưa bão đập vào tường,
ISA 25:5 như sức nóng trong sa mạc. Nhưng Thượng Đế ơi, Ngài ngăn chận cuộc tấn công hung bạo của chúng nó. Như mây làm mát ngày nóng nực thế nào, Ngài cũng làm tắt tiếng ca của những kẻ không có lòng từ bi như thế.
ISA 25:6 CHÚA Toàn Năng sẽ dọn một bữa tiệc trên núi nầy cho các dân. Một bữa tiệc đầy cao lương mỹ vị, cùng với thịt ngon và rượu hảo hạng.
ISA 25:7 Trên núi nầy Thượng Đế sẽ ném bỏ tấm màn che mọi dân, tấm màn phủ trên mọi dân tộc;
ISA 25:8 Ngài sẽ tiêu diệt sự chết cho đến đời đời. CHÚA là Thượng Đế sẽ lau khô nước mắt trên mọi gương mặt. Ngài sẽ cất sự sỉ nhục khỏi dân Ngài trên đất. CHÚA đã phán.
ISA 25:9 Lúc đó mọi người sẽ bảo, “Thượng Đế chúng tôi làm điều nầy! Chúng ta đã trông đợi Ngài, và Ngài đã đến giải cứu chúng ta. Đây là CHÚA. Chúng ta đã trông đợi Ngài, chúng ta sẽ vui mừng hớn hở khi Ngài cứu chúng ta.”
ISA 25:10 CHÚA sẽ bảo vệ núi nầy, nhưng Ngài sẽ giày đạp Mô-áp, kẻ thù chúng ta như rơm rạ bị giày xéo trong đống phân.
ISA 25:11 Chúng sẽ dang tay ra trong đó như người đang bơi. Nhưng Thượng Đế sẽ hạ lòng kiêu căng của chúng xuống, và những gì khôn khéo chúng làm sẽ không còn ra gì.
ISA 25:12 Thượng Đế sẽ phá sập các vách vững chắc của Mô-áp. Ngài sẽ ném chúng xuống đến bụi đất.
ISA 26:1 Lúc ấy người ta sẽ ca bài nầy trong Giu-đa: Chúng ta có một thành kiên cố. Thượng Đế bảo vệ chúng ta bằng vách và pháo đài vững chắc.
ISA 26:2 Hãy mở toang các cổng ra, thì một dân tộc công chính sẽ vào, đó là những người theo Thượng Đế.
ISA 26:3 CHÚA sẽ ban hòa bình chân chính cho những kẻ nhờ cậy Ngài, vì họ tin tưởng nơi Ngài.
ISA 26:4 Vậy nên hãy tin cậy CHÚA luôn luôn, vì Ngài là Khối Đá đời đời của chúng ta.
ISA 26:5 Ngài sẽ tiêu diệt thành kiêu căng, và trừng phạt dân cư trong đó. Ngài sẽ hạ thành đó xuống đất, ném nó trong cát bụi.
ISA 26:6 Rồi những kẻ bị nó làm hại sẽ dẫm trên đống đổ nát của nó; những kẻ bị nó bóc lột đến nghèo khổ sẽ đạp nó dưới chân.
ISA 26:7 Con đường sự sống rất bằng phẳng cho những ai sống công chính. Lạy Chúa, xin Ngài hãy san bằng con đường sự sống cho họ.
ISA 26:8 Nhưng CHÚA ôi, chúng tôi trông đợi con đường công chính của Ngài. Linh hồn chúng tôi muốn nhớ lại Ngài và danh Ngài.
ISA 26:9 Ban đêm linh hồn tôi muốn ở cùng Ngài, và thần linh tôi tìm kiếm Ngài. Khi đường chân lý của Ngài đến trên đất, dân trên thế gian sẽ học biết lối sống phải lẽ.
ISA 26:10 Kẻ ác sẽ không chịu học làm điều nhân đức dù Ngài tỏ lòng nhân từ đối với chúng. Chúng sẽ tiếp tục làm điều ác, dù cho đang sống trong một xứ tốt đẹp; chúng không bao giờ thấy sự cao cả của CHÚA.
ISA 26:11 Lạy CHÚA, Ngài sẵn sàng trừng phạt chúng nó, nhưng chúng không thấy điều đó. Xin hãy tỏ cho chúng thấy tình yêu lớn lao Ngài dành cho dân Ngài. Thì những kẻ ác sẽ xấu hổ. Xin hãy thiêu đốt chúng trong lửa mà Ngài dành cho kẻ thù Ngài.
ISA 26:12 Lạy CHÚA, chúng tôi thành công là vì điều Ngài làm, xin ban sự hòa bình cho chúng tôi.
ISA 26:13 Lạy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi, trước kia chúng tôi đi theo các chúa khác, nhưng nay chúng tôi chỉ theo một mình Ngài.
ISA 26:14 Những chủ nhân ông đó nay đã chết; linh hồn họ sẽ không sống lại từ cõi chết. Ngài trừng phạt và tiêu diệt họ, và không còn ai nhớ đến chúng nữa.
ISA 26:15 Lạy CHÚA, Ngài đã gia tăng dân số của Ngài; Ngài tăng dân số họ và mang vinh dự cho chính mình. Ngài mở rộng biên giới họ.
ISA 26:16 Lạy CHÚA, dân chúng nhớ đến Ngài khi họ gặp gian nan; họ thầm nguyện cùng Ngài khi Ngài trừng phạt họ.
ISA 26:17 Lạy CHÚA, vì Ngài, chúng tôi như đàn bà đau đẻ; nàng kêu la vì đau đẻ.
ISA 26:18 Cũng vậy, chúng tôi bị đau đớn. Chúng tôi cũng sinh, nhưng sinh ra gió. Chúng tôi không mang sự cứu rỗi đến cho đất hay dựng nên người mới trên thế giới.
ISA 26:19 Dân cư Ngài đã chết, nhưng họ sẽ sống lại; thân xác họ sẽ sống lại từ trong cõi chết. Hỡi các ngươi là kẻ đang nằm dưới đất, hãy thức dậy và hớn hở! Sương bao phủ ngươi giống như sương của ngày mới; đất sẽ sinh ra kẻ chết.
ISA 26:20 Hỡi dân ta, hãy đi vào phòng đóng cửa lại. Hãy tạm ẩn trong phòng một thời gian, cho đến khi cơn giận của Thượng Đế nguôi đi.
ISA 26:21 CHÚA sẽ rời nơi ở Ngài để trừng phạt tội lỗi của dân cư trên thế gian. Đất sẽ phơi bày máu của những kẻ đã bị giết; nó sẽ không che giấu người chết nữa.
ISA 27:1 Lúc đó CHÚA sẽ trừng phạt Lê-vi-a-than, con rắn uốn éo, Ngài sẽ trừng phạt Lê-vi-a-than, con rắn nằm cuộn tròn, bằng lưỡi gươm lớn, cứng rắn và mạnh mẽ của Ngài. Ngài sẽ giết con quái vật của biển.
ISA 27:2 Lúc đó người ta sẽ hát về vườn nho sai trái.
ISA 27:3 “Ta, CHÚA, sẽ chăm sóc vườn nho đó; ta sẽ tưới nó đúng thì. Sẽ không ai làm hại nó, vì ta sẽ ngày đêm canh giữ nó.
ISA 27:4 Ta không tức giận. Nhưng nếu ai dựng hàng rào gai gốc cho ta, Ta sẽ đến gây chiến và đốt rụi nó.
ISA 27:5 Nhưng nếu ai đến cùng ta để được an ninh và muốn làm hòa với ta, thì người đó hãy đến làm hòa với ta.”
ISA 27:6 Trong những ngày sắp đến, dân cư Gia-cốp như cây mọc rễ sâu; Ít-ra-en sẽ mọc như cây sắp trổ hoa. Thế gian sẽ đầy dẫy con cái chúng.
ISA 27:7 CHÚA không làm hại dân Ngài như đã làm hại kẻ thù của họ; dân Ngài không bị giết như những kẻ tìm cách giết họ.
ISA 27:8 Ngài sẽ giàn xếp tranh chấp của Ngài với Ít-ra-en bằng cách đày họ đi xa. Ngài sẽ đẩy họ đi như gió nóng sa mạc.
ISA 27:9 Đó là cách làm cho tội lỗi dân Gia-cốp được tha; đó là cách tội lỗi họ được xóa đi; Ít-ra-en sẽ nghiền đá của bàn thờ ra bụi, không còn hình tượng hay bàn thờ nào còn lại để thờ thần A-sê-ra.
ISA 27:10 Lúc đó thành vững chắc có vách kiên cố sẽ hoang vắng như sa mạc. Bò con sẽ ăn cỏ ở đó. Chúng sẽ nằm và nhơi lá từ các nhánh cây.
ISA 27:11 Các nhánh cây sẽ khô và gãy, để đàn bà dùng làm củi chụm. Dân chúng không chịu hiểu, nên Thượng Đế sẽ không an ủi họ. Đấng Tạo hóa sẽ không tỏ lòng nhân từ cùng họ.
ISA 27:12 Lúc đó CHÚA sẽ gom dân Ngài lại từng người một, từ sông Ơ-phơ-rát cho đến suối Ai-cập. Ngài sẽ tách họ ra khỏi những dân khác, như lúa tách ra khỏi trấu.
ISA 27:13 Nhiều người trong dân ta hiện nay lạc mất trong A-xy-ri. Một số đã chạy trốn sang Ai-cập. Nhưng đến lúc đó sẽ có tiếng kèn lớn thổi lên, mọi người sẽ đến thờ phụng CHÚA trên núi thánh ở Giê-ru-sa-lem.
ISA 28:1 Khốn cho Xa-ma-ri, niềm kiêu hãnh của những kẻ say sưa trong Ít-ra-en! Mão triều bằng bông hoa xinh đẹp đó chỉ là một cây khô đặt trên đầu của những tên bợm rượu phì nộn.
ISA 28:2 Nầy CHÚA đã có người mạnh dạn oai hùng. Giống như luồng mưa đá và cơn gió mạnh, như cơn nước lụt tràn đến bất chợt trên xứ, Ngài sẽ xô Xa-ma-ri ngã xuống đất.
ISA 28:3 Thành ấy, tức niềm kiêu hãnh của những bọn say sưa trong Ép-ra-im, sẽ bị người ta giày đạp dưới chân.
ISA 28:4 Cái mão triều bằng bông hoa xinh đẹp đó chỉ là một cây khô héo, đặt trên đồi nhìn xuống một thung lũng phì nhiêu. Thành đó giống như cây vả đầu mùa hạ. Ai thấy cũng muốn hái trái ăn.
ISA 28:5 Lúc ấy CHÚA Toàn Năng sẽ như mão triều xinh đẹp, như mão hoa tuyệt đẹp cho những người còn sót lại trong dân Ngài.
ISA 28:6 Ngài sẽ ban sự khôn ngoan cho các quan án xét xử và sức mạnh cho những kẻ chiến đấu ở cửa thành.
ISA 28:7 Nhưng nay những lãnh tụ đó đã say rượu; họ đi lạng quạng vì uống quá nhiều rượu. Các thầy tế lễ và nhà tiên tri say sưa vì rượu và uống quá nhiều rượu mạnh. Họ đi lạng quạng vì uống rượu quá nhiều. Các nhà tiên tri say rượu khi thấy dị tượng; các quan án đi lạng quạng khi phán quyết.
ISA 28:8 Bàn nào cũng đầy đồ mửa, không có chỗ nào sạch.
ISA 28:9 CHÚA muốn dạy một bài học cho dân Ngài; Ngài tìm cách cho họ hiểu lời giáo huấn Ngài. Nhưng dân chúng như đứa bé quá lớn không thể bú sữa mẹ, không còn bú vú mẹ nữa.
ISA 28:10 Chúng chế giễu nhà tiên tri của CHÚA và bảo: “Một mệnh lệnh ở đây, một mệnh lệnh ở đó. Chỗ nầy một qui tắc, chỗ kia một qui tắc. Nơi nầy một bài học, nơi nọ một bài học.”
ISA 28:11 Cho nên CHÚA sẽ dùng từ ngữ lạ và tiếng ngoại quốc mà nói cùng dân nầy.
ISA 28:12 Thượng Đế bảo họ, “Đây là chỗ nghỉ ngơi; ai mệt mỏi hãy đến mà nghỉ. Đây là chỗ bình yên.” Nhưng chúng không thèm nghe.
ISA 28:13 Cho nên lời của CHÚA sẽ như thế nầy, “Một mệnh lệnh ở đây, một mệnh lệnh ở đó. Chỗ nầy một qui tắc, chỗ kia một qui tắc. Nơi nầy một bài học, nơi nọ một bài học.” Chúng sẽ vấp và ngã ngửa; chúng sẽ bị sập bẫy và bị bắt.
ISA 28:14 Nầy những kẻ kiêu căng, hãy nghe lời CHÚA phán, hỡi những người ở Xi-ôn, kẻ cai trị dân nầy.
ISA 28:15 Các ngươi nói, “Chúng tôi đã lập ước với cái chết; chúng tôi đã kết ước với âm phủ. Khi sự trừng phạt ghê gớm đi qua, chúng tôi sẽ không tổn hại gì. Những sự dối trá của chúng tôi sẽ giữ chúng tôi bình yên, những mánh khoé chúng tôi sẽ che giấu chúng tôi.”
ISA 28:16 Vì thế nên CHÚA, là Thượng Đế phán: “Ta sẽ đặt một tảng đá nền ở Xi-ôn, một tảng đá thử nghiệm. Mọi thứ sẽ được xây trên tảng đá quan trọng và quí báu nầy. Ai có niềm tin cậy nơi CHÚA sẽ không bị xấu hổ.
ISA 28:17 Ta sẽ dùng công lý làm thước đo, và nhân đức làm tiêu chuẩn. Những sự dối trá mà các ngươi núp sau sẽ bị tiêu hủy như bị mưa đá. Chúng sẽ trôi đi như trong cơn lụt.
ISA 28:18 Giao ước các ngươi với cái chết sẽ bị xóa bỏ; khế ước ngươi với âm phủ sẽ vô dụng. Khi sự trừng phạt khủng khiếp xảy đến, ngươi sẽ bị nó đè bẹp.
ISA 28:19 Khi nào sự trừng phạt đến, nó sẽ mang ngươi đi. Nó sẽ đến hết buổi sáng nầy đến buổi sáng khác; nó sẽ đánh gục ngươi lúc ban ngày và ban đêm. Ai hiểu được sự trừng phạt nầy sẽ kinh hoảng.”
ISA 28:20 Các ngươi sẽ như người ngủ trên một cái giường quá ngắn đắp một cái mền quá hẹp không đủ ấm.
ISA 28:21 CHÚA sẽ chiến đấu như Ngài đã làm ở núi Phê-ra-xim. Ngài sẽ nổi giận như lúc ở thung lũng Ghi-bê-ôn. Ngài sẽ hoàn tất công tác, một công tác kỳ lạ. Ngài sẽ làm xong công việc, một công việc khác thường.
ISA 28:22 Bây giờ các ngươi không nên chế giễu những điều nầy nữa, nếu không sợi dây thừng quanh ngươi sẽ siết chặt lại. CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng đã cho ta biết, cả thế gian sẽ bị tiêu diệt ra sao.
ISA 28:23 Hãy nghe kỹ điều ta bảo ngươi; hãy nghe điều ta nói đây.
ISA 28:24 Không phải lúc nào nông phu cũng cày bừa; không phải lúc nào cũng xới đất.
ISA 28:25 Nông phu cào đất cho phẳng. Rồi trồng tiểu hồi và gieo đại hồi. Trồng lúa mì theo luống, lúa mạch trong nơi riêng biệt, và lúa mì khác để làm ranh giới quanh ruộng mình.
ISA 28:26 Thượng Đế đã dạy người nông phu, chỉ cho người cách phải làm.
ISA 28:27 Nông phu không dùng vồ đập lúa để nghiền tiểu hồi; hay dùng xe có bánh để chà nát đại hồi. Người dùng que nhỏ để cạy hột tiểu hồi, và que thường để cạy hột đại hồi.
ISA 28:28 Ngũ cốc được nghiền làm bánh. Người ta không phải nghiền chúng mãi vì sẽ bị hư. Nông phu dùng xe cán trên lúa, nhưng không cho ngựa dẫm lên.
ISA 28:29 Bài học ấy cũng từ CHÚA Toàn Năng mà đến, Đấng ban những sự khuyên bảo diệu kỳ vì Ngài rất khôn ngoan.
ISA 29:1 Hỡi A-ri-ên, A-ri-ên, khốn cho ngươi, là thành nơi Đa-vít đóng quân. Những lễ lộc ngươi kéo dài từ năm nầy qua năm khác.
ISA 29:2 Ta sẽ tấn công A-ri-ên, thành đó sẽ đầy sầu não khóc lóc. Nó sẽ thành một bàn thờ cho ta.
ISA 29:3 Nầy A-ri-ên, ta sẽ cho quân lính bao vây ngươi, Ta sẽ xây tháp vây ngươi và dùng hào lũy tấn công ngươi.
ISA 29:4 Ngươi sẽ bị kéo sập và phải đứng dưới đất mà nói; Ta sẽ nghe tiếng ngươi vang lên từ dưới đất. Nghe như tiếng ma; tiếng ngươi nghe tựa như tiếng thì thầm từ đất.
ISA 29:5 Các kẻ thù ngươi vô số như bụi nhuyễn; những dân độc ác giống như trấu bị thổi bay tứ tung. Mọi việc sẽ diễn ra nhanh chóng.
ISA 29:6 Đấng Toàn Năng sẽ đến trong sấm chớp, động đất, và tiếng vang rầm, trong giông bão, gió mạnh và lửa thiêu đốt.
ISA 29:7 Rồi các dân đã nghịch lại A-ri-ên sẽ trở nên như mộng mị; các quốc gia tấn công nó sẽ giống như thấy mộng mị ban đêm.
ISA 29:8 Chúng sẽ giống như người đói nằm chiêm bao thấy mình ăn, mà khi thức dậy vẫn thấy đói. Như người khát nằm chiêm bao thấy mình uống, mà khi thức dậy thấy vẫn kiệt lực vì khát. Các dân đánh núi Xi-ôn cũng vậy.
ISA 29:9 Hãy kinh ngạc và sửng sốt. Hãy bịt mắt để các ngươi không thấy. Hãy say sưa nhưng không phải vì rượu. Loạng choạng nhưng không phải vì đồ uống say.
ISA 29:10 CHÚA đã khiến các ngươi ngủ mê. Ngài đã bịt mắt các ngươi. Các nhà tiên tri là con mắt của các ngươi. Ngài đã trùm đầu các ngươi. Các đấng tiên kiến là đầu của các ngươi.
ISA 29:11 Dị tượng nầy như lời của một quyển sách được xếp và niêm phong lại. Ngươi trao quyển sách đó cho ai biết đọc rồi bảo họ đọc. Nhưng kẻ đó sẽ bảo, “Tôi không đọc sách nầy được vì đã bị niêm phong.”
ISA 29:12 Hoặc ngươi trao quyển sách cho người không biết đọc rồi bảo họ đọc. Họ sẽ bảo, “Tôi đâu có biết đọc.”
ISA 29:13 Chúa phán: “Dân nầy bảo là rất yêu ta; chúng tỏ lòng tôn kính bằng miệng, nhưng lòng chúng nó rất xa ta. Sự tôn kính chúng phô bày chỉ là qui tắc con người đặt ra thôi.
ISA 29:14 Cho nên ta sẽ tiếp tục làm cho dân nầy kinh ngạc bằng cách làm thêm nhiều phép lạ. Những kẻ khôn ngoan của chúng sẽ mất cái khôn của mình; người khôn ngoan của chúng sẽ không hiểu nổi.”
ISA 29:15 Khốn cho những kẻ giấu đút ý định của mình khỏi mắt CHÚA cùng những kẻ hành động lén lút trong bóng tối mà nghĩ rằng không ai thấy hay biết.
ISA 29:16 Các ngươi lầm rồi. Các ngươi tưởng rằng đất sét cũng chẳng khác gì thợ gốm. Các ngươi cho rằng đồ vật có thể bảo người làm ra mình rằng, “Ngươi chẳng làm ra ta.” Chẳng khác nào cái bình bảo người nặn ra nó rằng, “Ông chẳng biết gì cả.”
ISA 29:17 Ít lâu nữa Li-băng sẽ trở thành ruộng nương phì nhiêu, và ruộng nương phì nhiêu sẽ giống như rừng rậm.
ISA 29:18 Lúc đó kẻ điếc sẽ nghe lời trong sách. Thay vì bóng tối mờ mịt, kẻ mù sẽ thấy được.
ISA 29:19 CHÚA sẽ làm cho người nghèo khó vui mừng; họ sẽ hớn hở trong Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 29:20 Những kẻ không có lòng từ bi sẽ bị tiêu diệt; ai không kính sợ Thượng Đế sẽ biến mất. Kẻ thích làm điều ác sau đây sẽ không còn:
ISA 29:21 Đó là những kẻ làm chứng dối trước tòa, giăng bẫy cho người khác nơi tòa án, những kẻ nói dối và cướp công lý khỏi người vô tội trước tòa.
ISA 29:22 Đây là điều CHÚA, Đấng đã giải thoát Áp-ra-ham nói cùng nhà Gia-cốp: “Bây giờ dân Gia-cốp sẽ không phải hổ nhục nữa, mặt chúng cũng sẽ không tái nhợt.
ISA 29:23 Khi họ thấy tất cả con cái mình, con cái do tay ta tạo ra, chúng sẽ nói rằng danh ta được tôn thánh. Chúng sẽ đồng ý rằng Đấng Thánh của Gia-cốp rất thánh thiện, và chúng sẽ tôn kính Thượng Đế của Ít-ra-en.
ISA 29:24 Những kẻ làm ác sẽ hiểu. Những ai hay phàn nàn sẽ chịu nghe dạy.”
ISA 30:1 CHÚA phán, “Khốn cho con cái ương ngạnh. Chúng lập chương trình nhưng không thèm xin ta giúp đỡ. Chúng kết ước với các dân tộc khác, mà không hỏi ý Thần linh ta. Chúng chồng chất thêm tội trên mình.
ISA 30:2 Chúng đi xuống Ai-cập xin trợ lực mà không thèm cầu hỏi ta trước. Chúng hi vọng vua Ai-cập sẽ giải cứu mình; chúng muốn Ai-cập bảo vệ chúng.
ISA 30:3 Nhưng núp bóng Ai-cập chỉ đưa đến hổ nhục; trông chờ Ai-cập bảo vệ mình chỉ chuốc lấy thất vọng.
ISA 30:4 Các quan chức ngươi đã đi đến Xoan, các sứ giả ngươi đã đi đến Ha-ne,
ISA 30:5 nhưng tất cả đều bị xấu hổ, vì Ai-cập chẳng giúp gì được. Chẳng giúp đỡ được và hoàn toàn vô dụng; chỉ đưa đến sỉ nhục và xấu hổ.”
ISA 30:6 Đây là sứ điệp về các thú vật trong miền Nam Giu-đa: Miền Nam Giu-đa là một nơi nguy hiểm, đầy sư tử đực và sư tử cái, cùng rắn mai gầm và rắn độc. Các sứ giả đi qua đó mang theo của cải mình trên lưng lừa, và chở của báu mình trên lưng lạc đà. Chúng chở các của đó đến cho một dân chẳng giúp gì mình được,
ISA 30:7 đến cho Ai-cập vô dụng chẳng giúp gì được. Cho nên ta gọi xứ đó là Ra-háp, Con Rồng Vô Dụng.
ISA 30:8 Bây giờ hãy viết điều nầy trên một bảng hiệu cho dân chúng, ghi nó trên một cuộn giấy, để đến tương lai nó sẽ làm nhân chứng mãi mãi.
ISA 30:9 Dân nầy giống như trẻ con thích nói dối và bất vâng phục; chúng không chịu nghe lời dạy của Chúa.
ISA 30:10 Chúng bảo người tiên kiến, “Thôi đừng thấy dị tượng nữa!” và bảo các nhà tiên tri, “Thôi đừng nói sự thật cho chúng tôi nữa! Hãy nói những gì khiến cho chúng tôi sảng khoái; Hãy nhìn ảo ảnh mà chúng tôi thích.
ISA 30:11 Xin đừng cản lối đi của chúng tôi. Hãy tránh lối ra. Thôi đừng nói với chúng tôi về Thượng Đế, Đấng Thánh của Ít-ra-en nữa.”
ISA 30:12 Cho nên đây là điều Đấng Thánh của Ít-ra-en phán: “Các ngươi không chịu nghe lời khuyên nầy mà cậy vào chuyện hung ác và dối gạt.
ISA 30:13 Các ngươi đã phạm tội. Nên các ngươi chẳng khác vách tường cao bị nứt sẽ đổ sập bất thần, vỡ ra thành nhiều mảnh.
ISA 30:14 Các ngươi sẽ giống như lu bằng gốm bể ra, tan tành thành nhiều mảnh. Những mảnh đó quá nhỏ không đủ để cào than ra khỏi lửa hay để múc nước giếng.”
ISA 30:15 CHÚA là Thượng Đế, Đấng Thánh của Ít-ra-en phán như sau: “Nếu ngươi trở lại cùng ta, tin cậy ta, các ngươi sẽ được cứu. Nếu các ngươi bình tĩnh và tin cậy ta, các ngươi sẽ vững mạnh.” Nhưng các ngươi không muốn làm vậy.
ISA 30:16 Các ngươi bảo, “Không, chúng tôi muốn có ngựa cỡi để trốn chạy.” Cho nên các ngươi sẽ cỡi ngựa chạy trốn. Các ngươi bảo, “Chúng tôi sẽ cỡi ngựa chạy nhanh.” Nên những kẻ rượt theo các ngươi cũng nhanh.
ISA 30:17 Một kẻ thù đe doạ, một ngàn người trong các ngươi bỏ chạy. Năm kẻ thù đe doạ, tất cả các ngươi đều bỏ chạy. Các ngươi sẽ giống như cột cờ đứng chơ vơ một mình trên ngọn đồi, giống như lá cờ phất phới trên đồi.
ISA 30:18 CHÚA muốn tỏ lòng từ bi Ngài cho ngươi. Ngài muốn đứng dậy an ủi ngươi. CHÚA là Thượng Đế công bằng, ai trông đợi Ngài giúp đỡ sẽ hớn hở.
ISA 30:19 Các ngươi là những kẻ đang sống trên núi Xi-ôn ở Giê-ru-sa-lem sẽ không than khóc nữa. CHÚA đã nghe tiếng khóc than của các ngươi, Ngài sẽ an ủi các ngươi. Khi nghe các ngươi, Ngài sẽ cứu giúp các ngươi.
ISA 30:20 Chúa đã ban cho ngươi sự sầu não và đau đớn như thể bánh và nước mà các ngươi dùng hằng ngày. Ngài là thầy giáo ngươi, Ngài sẽ không ẩn mặt mãi mãi khỏi ngươi, nhưng chính mắt ngươi sẽ thấy thầy mình.
ISA 30:21 Nếu ngươi đi sai lạc quay qua bên phải hay bên trái thì nghe đằng sau có tiếng bảo, “Đây là đường chánh. Hãy đi theo.”
ISA 30:22 Ngươi có những tượng chạm bọc bạc và vàng, nhưng ngươi sẽ phá hủy chúng để dùng vào việc khác. Ngươi sẽ ném chúng đi như giẻ rách dơ bẩn và bảo rằng, “Quăng nơi khác đi!”
ISA 30:23 Lúc đó CHÚA sẽ sai mưa tưới hột giống ngươi trồng dưới đất, và đất sẽ sinh ra thực phẩm cho ngươi. Mùa gặt sẽ trúng lớn, ngươi sẽ có dư dật thức ăn ngoài đồng cho gia súc mình.
ISA 30:24 Bò và lừa của ngươi dùng cày ruộng sẽ đủ thức ăn. Ngươi sẽ phải dùng xẻng và bồ cào để trải thức ăn ra cho chúng.
ISA 30:25 Mọi núi và đồi đều tràn đầy suối nước. Việc đó xảy ra sau khi nhiều người đã bị giết và các tháp bị kéo sập.
ISA 30:26 Lúc đó ánh trăng sẽ sáng như mặt trời, và ánh mặt trời sẽ sáng gấp bảy lần so với bây giờ, như ánh sáng của bảy ngày. Những điều nầy xảy ra khi CHÚA băng bó dân Ngài và chữa lành vết thương Ngài gây ra cho họ.
ISA 30:27 Nầy! CHÚA từ xa đến. Cơn giận Ngài như lửa và khói đen dầy đặc. Miệng Ngài đầy thịnh nộ, lưỡi Ngài như lửa cháy.
ISA 30:28 Hơi thở Ngài như sông chảy cuồn cuộn, dâng lên đến cổ. Ngài sẽ phân xử các dân như đang sàng sảy bằng cái rây hủy diệt. Ngài sẽ đặt trong miệng họ một hàm khớp để dẫn họ đi lạc đường.
ISA 30:29 Các ngươi sẽ hát một bài ca vui mừng như trong đêm các ngươi bắt đầu cử hành lễ. Các ngươi sẽ vui mừng như kẻ nghe thổi sáo đang khi đi lên núi của CHÚA, đến cùng Khối Đá của Ít-ra-en.
ISA 30:30 CHÚA sẽ khiến các dân nghe tiếng lớn của Ngài và thấy cánh tay mạnh mẽ của Ngài giáng xuống trong cơn thịnh nộ, như lửa thiêu đốt mọi vật, như cơn mưa bão và mưa đá.
ISA 30:31 A-xy-ri sẽ run sợ khi nghe tiếng CHÚA, vì Ngài sẽ lấy roi đánh A-xy-ri.
ISA 30:32 Khi CHÚA lấy roi trừng phạt A-xy-ri, thì Ngài quất chúng theo điệu nhạc trống cơm và đờn cầm; Ngài sẽ chiến đấu nghịch chúng bằng những vũ khí mạnh.
ISA 30:33 Từ lâu Tô-phết đã chuẩn bị sẵn sàng; sẵn sàng để đón vua. Củi lửa làm cho nó sâu và rộng thêm. Hơi thở của CHÚA sẽ đến như luồng lửa lưu hoàng làm nó bốc cháy.
ISA 31:1 Khốn cho những kẻ đi xuống Ai-cập nhờ cậy cứu giúp. Chúng nghĩ rằng ngựa sẽ cứu chúng, hoặc tin rằng nhiều quân xa và đông lính kỵ mã hùng mạnh là được giải cứu. Chúng không nhờ cậy Thượng Đế, Đấng Thánh của Ít-ra-en, hay xin CHÚA giúp mình.
ISA 31:2 Ngài là Đấng khôn ngoan đang mang thảm hoạ đến cho chúng. Chúng không thể thay đổi mệnh lệnh Ngài đã ra. Ngài sẽ nghịch lại kẻ ác và đồng lõa của chúng.
ISA 31:3 Bọn Ai-cập cũng chỉ là người, không phải Trời. Ngựa của chúng cũng chỉ là thú vật, không phải thần linh. CHÚA sẽ giơ tay ra, thì kẻ giúp đỡ chúng sẽ ngã, và những người cầu cứu cũng té nhào. Tất cả chúng nó đều sẽ cùng bị tiêu diệt.
ISA 31:4 CHÚA phán cùng ta như sau: “Khi sư tử đực hoặc sư tử con giết con mồi, nó đứng trên con mồi đã chết và rống thật to. Dù các kẻ chăn chiên tụ lại để đánh đuổi nó, nó chẳng sợ tiếng họ hò hét, hay e ngại tiếng ồn ào của họ. Cho nên CHÚA Toàn Năng sẽ ngự xuống, chiến đấu trên núi và đồi của Xi-ôn.
ISA 31:5 CHÚA Toàn Năng sẽ bảo vệ Giê-ru-sa-lem, như chim bay trên tổ. Ngài sẽ bảo vệ và giải cứu thành; Ngài sẽ ‘vượt qua’ và giải cứu Giê-ru-sa-lem.”
ISA 31:6 Hỡi các ngươi là con cái Ít-ra-en, hãy trở lại cùng Thượng Đế là Đấng các ngươi chống nghịch.
ISA 31:7 Đến lúc tất cả các ngươi phải thôi thờ lạy thần tượng bằng vàng và bằng bạc mà các ngươi làm ra và khiến mình phạm tội.
ISA 31:8 “A-xy-ri sẽ bị gươm đánh bại, nhưng không phải của con người; Nó sẽ bị tiêu diệt bằng giáo mác, nhưng không phải của con người. A-xy-ri sẽ trốn chạy khỏi gươm giáo của Thượng Đế, Còn các trai tráng của chúng sẽ bị bắt làm nô lệ.
ISA 31:9 Chúng sẽ hốt hoảng; nguồn bảo vệ của chúng sẽ bị tiêu diệt. Cấp chỉ huy của chúng sẽ kinh hoàng khi thấy lá cờ mặt trận của Thượng Đế,” CHÚA, Đấng có lửa ở Xi-ôn và lò lửa hực ở Giê-ru-sa-lem, phán vậy.
ISA 32:1 Vua sẽ cai trị một cách công chính, và các lãnh tụ sẽ quyết định hợp lý.
ISA 32:2 Mỗi một lãnh tụ như nơi tránh gió, như chỗ trú ẩn an toàn khỏi bão tố, như suối nước trong đất khô, và như bóng mát của khối đá lớn trong đất nóng.
ISA 32:3 Mắt của những kẻ thấy được sẽ mở ra, tai của những kẻ nghe được sẽ chú ý.
ISA 32:4 Ai đang nhẹ dạ sẽ hiểu biết. Ai hiện ú ớ sẽ nói rõ ràng và lưu loát.
ISA 32:5 Các ngươi sẽ không cho kẻ ngu là vĩ nhân, hoặc tôn kính kẻ ác nữa.
ISA 32:6 Kẻ ngu nói những lời ngu dại, trong lòng nó manh tâm chuyện ác. Kẻ ngu làm chuyện gian ác, nói phạm thượng nghịch cùng CHÚA. Kẻ ngu không cho người đói được miếng ăn hay cho người khát được miếng nước.
ISA 32:7 Kẻ ác dùng mưu ác. Nó âm mưu cướp đoạt hết của cải người nghèo. Dùng lời dối trá tiêu diệt kẻ nghèo, dù cho khi họ nắm phần phải.
ISA 32:8 Nhưng lãnh tụ tốt tính chuyện tốt lành, và những việc tốt đó giúp họ vững vàng.
ISA 32:9 Hỡi các đàn bà hiện không âu lo, hãy đứng lên nghe ta. Hỡi các đàn bà hiện đang yên ổn, hãy nghe ta nói.
ISA 32:10 Hỡi các đàn bà hiện đang an ninh, sau một năm các ngươi sẽ lo sợ. Vì sẽ không còn nho để hái cũng không còn hoa quả mùa hè để gom lại.
ISA 32:11 Hỡi các đàn bà hiện không âu lo, các ngươi nên run sợ. Hỡi các đàn bà hiện đang an ninh nên run rẩy. Hãy cởi bỏ áo quần tốt đẹp các ngươi và quấn vải sô quanh hông.
ISA 32:12 Hãy đấm ngực buồn rầu vì đồng ruộng trước kia tốt tươi nay hoang dại. Hãy kêu khóc vì dây nho trước kia sai trái nay không ra trái nữa.
ISA 32:13 Hãy kêu khóc cho xứ dân ta, là nơi chỉ có gai gốc và cỏ dại mọc. Hãy khóc cho thành trước kia an vui và cho tất cả mọi nhà trước đây hớn hở.
ISA 32:14 Cung vua sẽ bỏ hoang mãi mãi; dân chúng sẽ rời bỏ nơi phồn hoa đô hội. Các thành lũy và các tháp cao sẽ hoang vắng. Lừa rừng sẽ sống ở đó, và chiên sẽ đến đó ăn cỏ.
ISA 32:15 Việc đó sẽ kéo dài cho đến khi Thượng Đế đổ Thần linh Ngài trên chúng ta. Lúc đó sa mạc sẽ trở thành đồng ruộng phì nhiêu và đồng ruộng phì nhiêu sẽ trở thành rừng rú.
ISA 32:16 Và dù cho ở trong sa mạc cũng có công lý, và lẽ công bằng cũng sẽ có nơi đồng ruộng phì nhiêu.
ISA 32:17 Sự công bình đó sẽ mang lại hoà bình và an ninh mãi mãi.
ISA 32:18 Dân ta sẽ sống trong các nơi an ninh, trong các nhà yên ổn và ở những nơi an bình thảnh thơi.
ISA 32:19 Mưa đá sẽ tiêu hủy rừng rậm, thành phố sẽ hoàn toàn bị tiêu hủy.
ISA 32:20 Nhưng các ngươi sẽ hớn hở khi gieo giống gần các suối nước hoặc khi ngươi thả trâu bò và lừa đi rông.
ISA 33:1 Khốn cho các ngươi là kẻ tiêu diệt người khác nhưng chính ngươi chưa bị diệt. Khốn cho các ngươi là kẻ phản bội, mà chưa bị ai chống nghịch. Khi ngươi phản bội xong thì chính ngươi sẽ bị phản bội. Khi ngươi thôi chống nghịch người khác, thì họ sẽ chống nghịch ngươi.
ISA 33:2 Lạy CHÚA, xin hãy tỏ lòng nhân từ cùng chúng tôi. Chúng tôi đã trông mong Ngài cứu giúp. Mỗi sáng xin thêm sức cho chúng tôi. Xin giải cứu khi chúng tôi gặp nguy biến.
ISA 33:3 Tiếng nói vang rền của Ngài khiến chúng sợ hãi bỏ chạy, sự oai nghi Ngài khiến các dân bỏ trốn.
ISA 33:4 Các kẻ thù ngươi như cào cào sẽ cướp những chiến lợi phẩm ngươi đoạt trong chiến trận. Giống như đoàn cào cào bay ào tới, chúng sẽ cướp lấy của cải ngươi.
ISA 33:5 CHÚA rất oai nghi, Ngài ở nơi rất cao. Ngài đổ tràn lẽ công bằng và nền công lý trên Giê-ru-sa-lem.
ISA 33:6 Ngài sẽ là nơi an toàn cho ngươi. Ngài đầy sự cứu rỗi, khôn ngoan, và thông sáng. Không gì quí cho bằng kính sợ CHÚA.
ISA 33:7 Xem kìa, các sứ giả đang kêu khóc trong đường phố; những kẻ đang cố mang lại hoà bình đang kêu khóc thảm thiết.
ISA 33:8 Không có ai trên đường, không ai đi trên nẻo. Dân chúng đã phá giao ước họ lập. Chúng không chịu tin vào bằng cớ do nhân chứng đưa ra. Không ai tôn trọng ai cả.
ISA 33:9 Đất đang mắc bệnh và chết dần; Li-băng bị xấu hổ và hấp hối. Bình nguyên Sa-rôn khô khan như sa mạc, các cây cối của Ba-san và Cạt-mên đang rụng lá.
ISA 33:10 CHÚA phán, “Bây giờ ta sẽ đứng dậy tỏ sự oai nghi ta. Bây giờ ta sẽ được tôn cao.
ISA 33:11 Các ngươi mang thai trấu và sinh ra rơm rạ. Thần linh trong các ngươi là lửa đốt cháy các ngươi.
ISA 33:12 Chúng nó sẽ bị đốt cho đến khi xương chỉ còn chất vôi trắng; chúng cháy phừng nhanh như bụi gai khô.”
ISA 33:13 Các ngươi là kẻ từ xứ xa, hãy nghe điều ta làm. Các ngươi là kẻ gần ta, hãy biết đến quyền năng ta.
ISA 33:14 Các kẻ phạm tội ở Giê-ru-sa-lem đang lo sợ; những kẻ lìa xa Thượng Đế run sợ. Chúng bảo, “Ai trong chúng ta sống sót qua được đám lửa thiêu hủy? Ai có thể sống gần đám lửa cháy đời đời?”
ISA 33:15 Người làm điều công chính nói ra điều công chính, người không chịu nhận tiền hối lộ, không chịu lãnh của đút lót để làm hại người khác, không nghe những mưu mô giết người, không nghĩ đến điều ác.
ISA 33:16 Đó là người được an ổn. Người sẽ được che chở như đang ở trong một cái thành có vách cao kiên cố. Người sẽ luôn luôn đủ thức ăn, và không bao giờ thiếu nước uống.
ISA 33:17 Mắt ngươi sẽ nhìn thấy vua cùng vẻ huy hoàng của Ngài. Ngươi sẽ thấy đất chạy dài mênh mông.
ISA 33:18 Ngươi sẽ suy nghĩ đến sự kinh hoàng thuở trước: “Viên chức đó đâu rồi? Kẻ thu thuế đâu? Còn quan chịu trách nhiệm tháp canh phòng vệ đâu?”
ISA 33:19 Ngươi sẽ không còn thấy các dân hách dịch từ các quốc gia khác, nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu.
ISA 33:20 Hãy nhìn Xi-ôn, thành của những lễ lộc ta. Hãy nhìn Giê-ru-sa-lem, nơi nghỉ ngơi yên tĩnh, như lều không bao giờ bị dời đi; như những cọc lều không bao giờ bị nhổ lên, và các dây thừng buộc nó sẽ không bao giờ đứt.
ISA 33:21 Đó là nơi ngự của CHÚA, Đấng Oai Nghi của chúng ta. Đó là đất có suối và sông lớn, nhưng không có thuyền bè bơi bằng mái chèo; cũng chẳng có tàu lớn nào chạy trên sông.
ISA 33:22 Vì CHÚA là quan án của chúng ta. Ngài làm ra luật lệ của chúng ta. Ngài là vua chúng ta. Ngài sẽ giải cứu chúng ta.
ISA 33:23 Hỡi các thủy thủ từ các xứ xa hãy nghe: Dây thừng buộc thuyền các ngươi lỏng lẻo. Cột buồm không vững chắc nữa. Buồm không giương ra. Của cải vô số của các ngươi bị phân ra, Đến nỗi kẻ què cũng được phần chia.
ISA 33:24 Không ai sống trong Giê-ru-sa-lem nói rằng, “Tôi bị đau.” Vì mọi người sống ở đó đều được tha tội.
ISA 34:1 Hỡi các dân, hãy đến gần nghe. Hỡi các dân hãy chú ý! Đất và mọi người trên đất hãy lắng tai, thế gian và mọi vật trong đó cũng vậy.
ISA 34:2 CHÚA nổi giận cùng các dân; Ngài nổi thịnh nộ cùng quân đội của họ. Ngài sẽ tiêu diệt và giết hết tất cả.
ISA 34:3 Thây chúng nó sẽ bị ném ra ngoài. Mùi hôi thúi sẽ xông lên từ các xác chết, và huyết sẽ chảy ròng ròng xuống núi.
ISA 34:4 Mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao sẽ tiêu tan, và bầu trời sẽ cuốn lại như quyển sách. Các ngôi sao sẽ rơi như lá úa rụng xuống từ dây nho hay trái vả khô rơi xuống khỏi cây vả.
ISA 34:5 Gươm của Chúa trên trời dính đầy máu. Nó sẽ chặt qua Ê-đôm và sẽ tiêu diệt hết dân đó làm của lễ dâng lên cho CHÚA.
ISA 34:6 Gươm của Chúa sẽ vấy máu; gươm đó sẽ dính đầy mỡ, cùng máu của chiên con và dê, với mỡ của các trái cật của dê đực. Vì CHÚA đã muốn rằng sẽ có sinh tế ở Bốt-ra và sẽ có giết chóc lớn ở Ê-đôm.
ISA 34:7 Trâu rừng sẽ bị giết, cùng với các bò đực mạnh mẽ. Cả xứ sẽ đầy máu chúng nó, và đất sẽ ngập mỡ của chúng nó.
ISA 34:8 CHÚA đã chọn thì giờ báo thù. Ngài đã chọn năm mà dân chúng phải trả giá về những điều ác chúng làm nghịch lại Xi-ôn.
ISA 34:9 Các sông Ê-đôm sẽ giống như nhựa nóng. Đất nó sẽ như lưu hoàng đang cháy. Xứ nó sẽ như nhựa cháy.
ISA 34:10 Lửa sẽ cháy cả ngày lẫn đêm; khói sẽ bốc lên từ Ê-đôm cho đến đời đời. Thế hệ nầy sang thế hệ khác, đất sẽ hoang vu; Chẳng còn ai qua lại xứ đó nữa.
ISA 34:11 Chim chóc và các thú nhỏ sẽ chiếm đất ấy, chim cú và quạ sẽ sống ở đó. Dân chúng sẽ gọi nơi ấy là “Sa mạc Hoang Vu.”
ISA 34:12 Các kẻ quyền quí sẽ chẳng còn ai mà cai trị; các lãnh tụ sẽ không còn.
ISA 34:13 Gai gốc sẽ mọc choán hết các tháp canh, và các bụi cỏ dại sẽ mọc trên các thành có vách. Nó sẽ trở thành nơi ở của chó sói và chỗ trú ngụ của chim đà điểu.
ISA 34:14 Muông thú trong sa mạc sẽ sống chung với chó rừng, và dê hoang sẽ kêu nhau nơi đó. Các loài thú sống ban đêm sẽ lấy nơi đó làm chỗ ở và dùng đất đó làm chỗ nghỉ ngơi.
ISA 34:15 Rắn sống trên cây sẽ làm tổ và đẻ trứng ở đó. Khi trứng nở, rắn mẹ sẽ ấp con mình dưới bóng của nó. Kên kên sẽ tụ lại từng đoàn.
ISA 34:16 Hãy nhìn cuốn sách của Chúa và đọc những lời viết bên trong: Sẽ không thiếu con nào; con nào cũng có đôi có cặp. Thượng Đế đã ra lệnh, cho nên Thần linh Ngài tập họp chúng lại.
ISA 34:17 Thượng Đế đã chia đất cho chúng, Ngài đã ban cho mỗi con một phần. Để chúng chiếm hữu đất đó đời đời và sẽ cư ngụ ở đó, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
ISA 35:1 Sa mạc và đất khô sẽ vui mừng; đồng hoang sẽ hớn hở và trổ hoa.
ISA 35:2 Sa mạc sẽ đâm chồi nẩy lộc. Nó sẽ mừng rỡ và reo vui hớn hở. Nó sẽ tươi đẹp như rừng Li-băng, xinh tươi như đồi Cạt-mên và bình nguyên Sa-rôn. Mọi người sẽ thấy vinh hiển CHÚA và sự huy hoàng của Thượng Đế chúng ta.
ISA 35:3 Hãy làm cho các bàn tay yếu ớt trở nên mạnh mẽ và giúp các đầu gối run run trở nên vững chãi.
ISA 35:4 Hãy nói cùng những kẻ đang sợ sệt rằng, “Hãy mạnh dạn. Đừng sợ hãi. Kìa, Thượng Đế ngươi sẽ đến, Ngài sẽ trừng phạt các kẻ thù ngươi. Ngài sẽ bắt chúng trả giá những điều ác chúng làm, nhưng Ngài sẽ giải cứu ngươi.”
ISA 35:5 Kẻ mù sẽ thấy đường, kẻ điếc sẽ nghe được.
ISA 35:6 Kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, còn kẻ bị câm sẽ lớn tiếng reo mừng. Nước sẽ chảy trong sa mạc, và suối sẽ chảy nơi đất khô.
ISA 35:7 Người ta sẽ thấy ảo ảnh giống như hồ nước, nhưng chính ra là hồ nước thật. Nơi chó rừng sống trước kia, nay cỏ và cây sống dưới nước sẽ mọc lên.
ISA 35:8 Nơi đó sẽ có lối đi; đường cái đó sẽ được gọi là “Con Đường dẫn đến Thánh thiện.” Những kẻ ngu dại sẽ không được đi trên đó; đường ấy chỉ dành cho kẻ thuộc về Thượng Đế. Không một lữ khách nào, kể cả kẻ ngu dại, sẽ bị lạc trên đường ấy được.
ISA 35:9 Sẽ không còn sư tử sống ở đó, hay ác thú qua lại đường ấy. Sẽ không ai thấy chúng nó nữa. Đường đó sẽ chỉ dành cho những kẻ được Thượng Đế cứu chuộc;
ISA 35:10 những ai được CHÚA giải phóng sẽ trở về đó. Họ sẽ vui mừng đi vào Xi-ôn, và niềm vui của họ sẽ còn mãi mãi. Họ sẽ vô cùng vui mừng hớn hở, còn cảnh đau buồn khổ sở chỉ là chuyện xa xưa.
ISA 36:1 Trong năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-xy-ri tấn công và chiếm lấy tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.
ISA 36:2 Vua A-xy-ri phái viên tư lệnh tác chiến cùng với một đạo quân rất đông từ La-kích đến đánh vua Ê-xê-chia ở Giê-ru-sa-lem. Khi viên tư lệnh đến gần đường dẫn nước từ hồ trên, chỗ đường dân chúng hay giặt đồ thì dừng lại.
ISA 36:3 Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-ách đi ra gặp ông. Ê-li-a-kim, con Hinh-kia làm quản lý cung vua, Sếp-na là đổng lý văn phòng, và Giô-ách, con A-sáp là bí thư hoàng gia.
ISA 36:4 Viên tư lệnh tác chiến bảo họ, “Hãy nói với Ê-xê-chia như sau: Đại vương A-xy-ri hỏi: Hiện nay ngươi đang tin tưởng vào cái gì?
ISA 36:5 Ngươi bảo mình có kế hoạch tác chiến và sức mạnh để chiến đấu nhưng lời nói ngươi rỗng tuếch. Ngươi hiện trông cậy vào ai để chống lại ta?
ISA 36:6 Nầy, ngươi hiện đang trông cậy Ai-cập để hỗ trợ mình nhưng Ai-cập là cây gậy dập. Ai tựa vào, nó sẽ đâm thủng tay. Vua Ai-cập cũng sẽ làm tổn thương những ai nhờ hắn giúp.
ISA 36:7 Ngươi có thể tự hào: ‘Chúng ta nhờ cậy vào CHÚA là Thượng Đế của chúng ta,’ nhưng Ê-xê-chia đã tiêu hủy các bàn thờ và các nơi thờ phụng CHÚA. Ê-xê-chia bảo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, ‘Các ngươi chỉ được thờ phụng nơi bàn thờ nầy mà thôi.’
ISA 36:8 Bây giờ hãy lập ước với chủ ta là vua A-xy-ri: Ta sẽ cấp cho ngươi hai ngàn con ngựa nếu ngươi tìm được đủ người cỡi.
ISA 36:9 Ngươi không thể thắng nổi một sĩ quan thấp kém nhất của chủ ta thì tại sao ngươi lại nhờ cậy Ai-cập để chúng cấp cho ngươi xe cộ và lính cỡi ngựa?
ISA 36:10 Ta đến tấn công và tiêu hủy xứ nầy là do mệnh lệnh CHÚA. Chính Ngài bảo ta đến tiêu diệt xứ nầy.”
ISA 36:11 Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-ách nói cùng viên tư lệnh tác chiến rằng, “Xin nói với chúng tôi bằng tiếng A-ram vì chúng tôi hiểu thứ tiếng đó. Đừng nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ vì dân trong thành có thể nghe được.”
ISA 36:12 Nhưng viên tư lệnh trả lời, “Chủ ta sai ta đến nói những chuyện nầy đâu phải chỉ cho các ngươi và vua các ngươi mà thôi đâu. Ngài sai ta đến để nói với những người đang ngồi trên vách thành là những kẻ sẽ ăn phân và uống nước tiểu mình như các ngươi vậy.”
ISA 36:13 Nói xong viên tư lệnh đứng la lớn bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng, “Hãy nghe lời đại vương A-xy-ri bảo,
ISA 36:14 ‘Ngài bảo các ngươi không nên để Ê-xê-chia phỉnh gạt mình vì người không thể nào cứu các ngươi được đâu.
ISA 36:15 Đừng để Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi tin tưởng vào CHÚA rằng: CHÚA sẽ giải cứu chúng ta. Thành nầy sẽ không bị trao vào tay vua A-xy-ri.
ISA 36:16 Đừng thèm nghe Ê-xê-chia. Vua A-xy-ri khuyên: Hãy cầu hòa với ta, hãy từ thành kéo nhau ra đầu hàng ta thì mỗi người các ngươi sẽ được tự do ăn trái nho, trái vả và uống nước của giếng mình.
ISA 36:17 Sau đó ta sẽ đến đưa các ngươi vào một xứ giống như xứ các ngươi, xứ đầy thóc gạo, rượu mới, bánh và vườn nho.’
ISA 36:18 Đừng để Ê-xê-chia gạt các ngươi bảo rằng: ‘CHÚA sẽ cứu chúng ta.’ Có thần nào của các dân khác cứu họ khỏi quyền lực của vua A-xy-ri chưa?
ISA 36:19 Các thần của Ha-mát và Ác-bát đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im đâu? Chúng nó đâu có giải cứu Xa-ma-ri ra khỏi tay ta.
ISA 36:20 Không có một thần nào của các xứ đó giải cứu dân chúng khỏi tay ta cả. Vì thế CHÚA cũng sẽ không thể giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi quyền lực của ta.”
ISA 36:21 Dân chúng làm thinh. Họ không trả lời gì cả với viên tư lệnh vì vua Ê-xê-chia đã ra lệnh, “Đừng đối đáp gì hết với hắn.”
ISA 36:22 Sau đó Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-a xé quần áo mình để bày tỏ lòng đau buồn. Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia là quản lý cung vua, Sếp-na làm đổng lý văn phòng, còn Giô-a, con A-sáp làm ký lục. Ba người đi gặp vua Ê-xê-chia và thuật lại những gì viên tư lệnh tác chiến nói.
ISA 37:1 Khi vua Ê-xê-chia nghe các điều đó thì ông xé quần áo và mặc vải sô. Ông liền đi vào đền thờ của CHÚA.
ISA 37:2 Ê-xê-chia sai Ê-li-a-kim, quản lý cung vua, và Sếp-na, đổng lý văn phòng, cùng các thầy tế lễ lớn tuổi đến gặp nhà tiên tri Ê-sai. Tất cả đều mặc vải sô khi họ đến gặp nhà tiên tri Ê-sai, con A-mốt.
ISA 37:3 Họ nói với Ê-sai, “Vua Ê-xê-chia nói: Hôm nay là ngày buồn thảm, trừng phạt và hổ nhục, giống như đứa bé sắp sinh ra nhưng người mẹ quá yếu ớt, không sinh được.
ISA 37:4 Vua A-xy-ri đã sai viên chỉ huy tác chiến đến sỉ nhục Thượng Đế hằng sống. Nguyện CHÚA là Thượng Đế nghe điều viên chỉ huy đó nói và trừng phạt hắn. Xin ông hãy cầu nguyện cho số ít chúng tôi được sống sót.”
ISA 37:5 Khi các sĩ quan của vua Ê-xê-chia đến cùng Ê-sai,
ISA 37:6 thì Ê-sai bảo họ rằng, “Hãy nói với chủ các ngươi như sau: CHÚA phán, ‘Đừng sợ điều các ngươi nghe. Đừng kinh hoảng vì lời của các đầy tớ của vua A-xy-ri nói phạm đến ta.
ISA 37:7 Nghe đây! Ta sẽ đặt một thần linh trong vua A-xy-ri. Người sẽ nghe tiếng đồn khiến người sẽ trở về xứ mình rồi ta sẽ khiến cho người chết vì gươm tại đó.’”
ISA 37:8 Viên tư lệnh tác chiến nghe vua A-xy-ri đã rời La-ki. Khi trở về thì thấy vua đang vây đánh thành Líp-na.
ISA 37:9 Vua nghe rằng Tiệt-ha-ca, vua Cu-si của Ai-cập đang kéo đến đánh mình. Khi vua A-xy-ri nghe vậy liền sai sứ đến nói với vua Ê-xê-chia rằng,
ISA 37:10 “Hãy bảo Ê-xê-chia, vua Giu-đa như sau: Đừng để thần mà ngươi tin cậy phỉnh gạt. Đừng nghe thần đó quả quyết rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không bị trao vào tay vua A-xy-ri.
ISA 37:11 Ngươi đã nghe điều các vua A-xy-ri làm. Họ đã chiến thắng tất cả các nước cho nên đừng tưởng rằng các ngươi sẽ an thân.
ISA 37:12 Các thần của những dân tộc ấy có giải cứu họ không? Tổ tiên ta tiêu diệt chúng, đánh bại các thành Gô-xan, Ha-ran, và Rê-xếp, và dân Ê-đen ở Tên-Át-xa.
ISA 37:13 Các vua Ha-mát và Ác-bát đâu? Vua của các thành Xê-phạt-va-im, Hê-na và Y-va đâu rồi?”
ISA 37:14 Khi vua Ê-xê-chia nhận được thư từ tay các sứ giả và đọc xong thì ông đi lên đền thờ của CHÚA. Ông mở thơ ra trước mặt CHÚA
ISA 37:15 và cầu nguyện:
ISA 37:16 “Ôi Lạy CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en, ngôi ngài ngự giữa các sinh vật bằng vàng có cánh, chỉ một mình Ngài là Thượng Đế của các nước trên đất. Ngài tạo nên trời và đất.
ISA 37:17 Lạy CHÚA, xin lắng tai nghe. Xin mở mắt ra nhìn. Xin hãy nghe mọi điều vua San-chê-ríp đã nói để sỉ nhục Thượng Đế hằng sống.
ISA 37:18 Lạy CHÚA, quả thật rằng các vua A-xy-ri đã tiêu diệt các xứ đó và đất đai chúng.
ISA 37:19 Họ đã ném những thần của các dân tộc đó vào lửa nhưng những thần đó chẳng qua chỉ là gỗ và đá do tay người làm ra vì thế các vua A-xy-ri đã tiêu diệt chúng.
ISA 37:20 Lạy CHÚA là Thượng Đế chúng tôi xin hãy giải cứu chúng tôi khỏi quyền lực vua A-xy-ri để các nước trên đất biết rằng Ngài là Thượng Đế duy nhất.”
ISA 37:21 Sau đó Ê-sai, con trai A-mốt nhắn với Ê-xê-chia như sau, “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ngươi đã cầu nguyện cùng ta về San-chê-ríp, vua A-xy-ri. Ta đã nghe lời khẩn cầu của ngươi.
ISA 37:22 Đây là điều CHÚA phán nghịch cùng San-chê-ríp: Dân cư Ít-ra-en ghét ngươi và sỉ nhục ngươi; dân cư Xi-ôn xinh đẹp chế nhạo ngươi khi ngươi bỏ chạy.
ISA 37:23 Ngươi đã sỉ nhục ta và nói phạm đến ta; ngươi đã lên tiếng nghịch cùng ta. Ngươi lên mặt ngạo mạn, xấc láo đối với ta, Đấng Thánh của Ít-ra-en!
ISA 37:24 Ngươi đã sai sứ đến sỉ nhục Chúa. Ngươi nói, ‘Nhờ vào vô số quân xa ta kéo lên các đỉnh núi, lên các núi cao nhất của Li-băng. Ta đã đốn ngã các cây hương nam và các cây thông tốt nhất của nó. Ta đã lên đến các đỉnh cao nhất và vào các rừng tốt nhất của nó.
ISA 37:25 Ta đã đào các giếng trong các nước ngoại quốc, và uống nước từ các giếng đó. Nhờ bàn chân ta, ta đã làm cạn khô hết các sông Ai-cập.
ISA 37:26 Hỡi vua A-xy-ri, hẳn ngươi đã nghe. Từ xưa ta, CHÚA, đã dự liệu việc nầy. Từ lâu ta đã trù liệu việc ấy, bây giờ ta thực hiện chúng. Ta đã cho phép ngươi biến các thành kiên cố có vách thành đống gạch vụn.
ISA 37:27 Dân cư các thành ấy rất yếu ớt; chúng nó hoảng sợ và bị xấu hổ. Chúng như cỏ ngoài đồng, như cỏ non yếu ớt, như cỏ trên nóc nhà bị gió thiêu đốt trước khi mọc lên.
ISA 37:28 Ta biết khi ngươi nằm nghỉ, cả lúc ngươi đi hay đến, và cách ngươi nổi giận nghịch ta.
ISA 37:29 Vì ngươi nổi giận nghịch ta, và vì ta đã nghe những lời xấc láo của ngươi, ta sẽ đặt móc trong mũi ngươi và tra hàm thiếc vào miệng ngươi. Rồi ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi xứ ta y như cách ngươi đến.’”
ISA 37:30 Rồi CHÚA phán, “Hỡi Ê-xê-chia, ta sẽ cho ngươi dấu hiệu nầy: Năm nay ngươi sẽ ăn thóc lúa mọc hoang, năm thứ hai ngươi sẽ ăn những gì mọc hoang từ thóc lúa đó. Nhưng đến năm thứ ba, hãy trồng trọt và gặt hái. Hãy trồng vườn nho và ăn trái.
ISA 37:31 Một số người trong gia đình Giu-đa sẽ trốn thoát. Giống như cây đâm rễ, họ sẽ mọc mạnh và sinh nhiều con cháu.
ISA 37:32 Một số người sẽ sống sót từ Giê-ru-sa-lem; một số ít từ núi Xi-ôn sẽ sống còn. Tình yêu lớn lao của CHÚA Toàn Năng sẽ thực hiện điều đó.”
ISA 37:33 “Cho nên đây là điều CHÚA phán về vua A-xy-ri: ‘Người sẽ không vào thành nầy, cũng sẽ không bắn một mũi tên nào vào đây. Người cũng sẽ không dùng khiên hay đắp bậc thang lên để tấn công vách thành.
ISA 37:34 Người đến đây thể nào thì cũng sẽ trở về xứ mình như thế, người sẽ không vào thành nầy,’ CHÚA phán vậy.
ISA 37:35 Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành nầy vì Đa-vít, tôi tớ ta.”
ISA 37:36 Sau đó thiên sứ của CHÚA đến giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong doanh trại A-xy-ri. Sáng sớm hôm sau khi người ta dậy thì thấy toàn xác chết.
ISA 37:37 San-chê-ríp, vua A-xy-ri liền trở về lại Ni-ni-ve.
ISA 37:38 Một ngày kia San-chê-ríp đang thờ lạy trong đền thờ Nít-rốc, thần của mình thì hai con trai vua là Ách-ra-mê-léc và Sa-rê-xe lấy gươm giết vua rồi trốn qua xứ A-ra-rát. Ê-xa-hát-đôn, con San-chê-ríp, lên ngôi vua A-xy-ri.
ISA 38:1 Lúc đó vua Ê-xê-chia lâm bệnh nặng gần chết. Nhà tiên tri Ê-sai, con A-mốt đến thăm và bảo, “CHÚA phán như sau: Hãy thu xếp mọi việc vì ngươi sẽ không sống được đâu mà sẽ qua đời.”
ISA 38:2 Ê-xê-chia xoay mặt vào vách và cầu nguyện cùng CHÚA,
ISA 38:3 “CHÚA ôi, xin nhớ rằng tôi đã luôn luôn vâng lời Ngài. Tôi đã hoàn toàn dâng hiến mình cho Ngài và làm điều phải trước mặt Ngài.” Rồi Ê-xê-chia khóc thảm thiết.
ISA 38:4 Sau đó CHÚA bảo Ê-sai:
ISA 38:5 “Hãy đi nói với Ê-xê-chia: ‘CHÚA là Thượng Đế của Đa-vít, tổ tiên ngươi phán như sau: Ta đã nghe lời cầu nguyện ngươi và đã thấy nước mắt ngươi. Cho nên ta sẽ thêm cho đời ngươi mười lăm tuổi nữa.
ISA 38:6 Ta sẽ giải cứu ngươi và thành nầy khỏi tay vua A-xy-ri; ta sẽ bảo vệ thành nầy.
ISA 38:7 CHÚA sẽ thực hiện điều Ngài phán. Đây là dấu hiệu CHÚA tỏ cho ngươi:
ISA 38:8 Bóng mặt trời đã đi xuống bàn trắc ảnh của A-cha, nhưng ta sẽ khiến bóng đó lui lại mười nấc.’” Vậy bóng mặt trời lui lại mười nấc.
ISA 38:9 Sau khi Ê-xê-chia, vua Giu-đa bình phục thì ông viết bài ca nầy:
ISA 38:10 Tôi nói, “Tôi đang ở giữa cuộc đời tôi. Tôi có phải đi xuống cửa sự chết không? Phần còn lại của đời tôi có bị lấy khỏi tôi không?”
ISA 38:11 Tôi thưa, “Tôi sẽ không thấy CHÚA trong đất người sống nữa. Tôi sẽ không thấy những người sống trên đất nữa.
ISA 38:12 Nhà tôi đã bị phá sập và tước đoạt, như lều của kẻ chăn chiên. Đời tôi chấm dứt rồi, như miếng vải của thợ dệt cuốn lại và bị cắt khỏi khung cửi. Trong một ngày CHÚA đưa tôi đến đường cùng.
ISA 38:13 Suốt đêm tôi kêu khóc thảm thiết. Ngài nghiền nát xương cốt tôi như sư tử. Trong một ngày CHÚA đưa tôi đến đường cùng.
ISA 38:14 Tôi kêu lên như chim và than vãn như chim cu đất. Khi tôi mỏi mắt hướng về trời. Lạy Chúa, tôi vô cùng thất vọng. Xin giúp đỡ tôi.”
ISA 38:15 Bây giờ tôi biết nói gì? CHÚA đã cho tôi biết điều gì sẽ xảy ra, và Ngài khiến nó xảy ra. Tôi đã gặp những khốn đốn trong linh hồn tôi, cho nên suốt đời tôi sẽ khiêm nhượng.
ISA 38:16 Lạy CHÚA, vì Ngài, mọi người được sống. Vì Ngài, thần linh tôi cũng sống; Ngài chữa lành và cho tôi sống.
ISA 38:17 Những khốn đốn đó là ích lợi cho tôi. Vì Ngài rất yêu tôi, không để tôi chết nhưng ném tội lỗi tôi đi xa.
ISA 38:18 Những kẻ ở âm phủ không thể ca ngợi Ngài; người chết rồi không thể ca hát chúc tụng Ngài; những ai đã qua đời không thể nào nhờ Ngài giúp đỡ.
ISA 38:19 Chỉ những người sống mới có thể ca ngợi Ngài. Họ sẽ ca ngợi Ngài như tôi ca ngợi Ngài hôm nay. Các người cha phải thuật cho con mình biết rằng CHÚA giúp đỡ.
ISA 38:20 CHÚA đã cứu tôi, cho nên suốt đời tôi, chúng tôi sẽ gảy nhạc cụ bằng dây trong đền thờ CHÚA.
ISA 38:21 Rồi Ê-sai bảo, “Hãy làm chất dẻo bằng trái vả đắp lên mụt nhọt của Ê-xê-chia, vua sẽ được lành.”
ISA 38:22 Ê-xê-chia liền hỏi Ê-sai, “Sẽ có dấu hiệu gì cho thấy tôi sẽ đi lên đền thờ CHÚA không?”
ISA 39:1 Lúc đó Mê-rô-đác Ba-la-đan, con trai Ba-la-đan làm vua Ba-by-lôn. Ông gởi thơ và quà cho Ê-xê-chia vì nghe vua Ê-xê-chia đau và bình phục.
ISA 39:2 Ê-xê-chia rất vui nên khoe với các sứ giả những vật quí trong kho mình: bạc, vàng, hương liệu, nước hoa đắt tiền, gươm và thuẫn, cùng mọi tài sản của mình. Ông khoe với họ tất cả những gì trong cung vua và trong nước.
ISA 39:3 Nhà tiên tri Ê-sai liền đi đến gặp vua Ê-xê-chia hỏi, “Mấy người nầy nói gì vậy? Họ ở đâu đến?” Ê-xê-chia đáp, “Họ đến từ một xứ rất xa, từ Ba-by-lôn.”
ISA 39:4 Ê-sai hỏi tiếp, “Họ thấy gì trong cung vua?” Ê-xê-chia đáp, “Họ thấy tất cả mọi thứ trong cung của ta. Ta khoe với họ tất cả của cải ta có.”
ISA 39:5 Ê-sai liền nói với Ê-xê-chia rằng: “Hãy nghe lời CHÚA Toàn Năng phán:
ISA 39:6 ‘Trong tương lai những gì ngươi hiện có trong cung điện cùng những gì tổ tiên ngươi để dành lại cho đến hôm nay đều sẽ bị mang qua Ba-by-lôn, không chừa lại một món nào cả,’ CHÚA phán vậy.
ISA 39:7 Một số con cái ngươi, tức các con sinh ra cho ngươi cũng sẽ bị đày đi làm tôi tớ trong cung vua Ba-by-lôn.”
ISA 39:8 Ê-xê-chia nói với Ê-sai, “Những lời của CHÚA rất phải.” Vua nói vậy vì tự nghĩ, “Ít ra trong đời ta sẽ có hòa bình và an ninh.”
ISA 40:1 Thượng Đế các ngươi phán, “Hãy an ủi, hãy an ủi dân ta.
ISA 40:2 Hãy nói lời hoà nhã cùng dân cư Giê-ru-sa-lem rằng thời kỳ phục dịch của chúng đã xong, chúng đã trả giá cho tội lỗi mình, và CHÚA đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem gấp đôi về mỗi tội của chúng.”
ISA 40:3 Đây là tiếng người kêu: “Hãy chuẩn bị đường trong sa mạc cho CHÚA. Hãy làm thẳng lối đi trong xứ khô khan cho Thượng Đế chúng ta.
ISA 40:4 Các thung lũng sẽ được nâng lên, núi đồi sẽ được lấp bằng. Đất gồ ghề sẽ được san phẳng, và những nơi lởm chởm sẽ được ủi láng.
ISA 40:5 Rồi vinh hiển CHÚA sẽ tỏ ra, mọi người sẽ thấy. Chính CHÚA đã phán vậy.”
ISA 40:6 Có tiếng bảo, “Hãy kêu lớn!” Nhưng tôi hỏi, “Tôi kêu như thế nào?” “Hãy nói rằng mọi người như cỏ, và vinh hiển chúng như hoa trong đồng ruộng.
ISA 40:7 Cỏ héo hoa rơi, khi hơi thở CHÚA thổi qua trên chúng. Thật vậy loài ngươi giống như cỏ.
ISA 40:8 Cỏ héo hoa rơi, nhưng lời của Thượng Đế chúng ta sẽ còn lại đời đời.”
ISA 40:9 Hỡi Xi-ôn, ngươi có tin vui phải loan báo. Hãy đi lên núi cao. Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy rao lớn tin mừng. Hãy thông báo tin vui. Hãy tuyên bố lớn lên đừng sợ hãi. Hãy nói cùng các thị trấn Giu-đa rằng, “Thượng Đế ngươi đây.”
ISA 40:10 Kìa, Chúa là Thượng Đế đến với quyền năng để cai trị muôn dân. Nầy Ngài sẽ mang phần thưởng cho dân Ngài; Ngài sẽ trả công cho họ.
ISA 40:11 Ngài chăm sóc dân Ngài như người chăn chiên, Gom họ lại như chiên con bồng trong tay và mang họ đi sát với Ngài. Ngài dịu dàng dẫn các chiên mẹ.
ISA 40:12 Ai đã lấy bàn tay đo biển cả? Ai đã dùng tay đo bầu trời? Ai đã dùng chậu để lường cát bụi trên đất? Hay lấy cân mà cân núi đồi?
ISA 40:13 Ai biết ý của CHÚA hay có thể góp ý với Ngài?
ISA 40:14 Ngài cần ai giúp đỡ? Ai dạy cho Ngài đường ngay? Ai dạy cho Ngài trí hiểu và ban cho Ngài sự thông sáng?
ISA 40:15 Các dân tộc đều giống như giọt nước nhỏ xíu trong thùng; chẳng khác nào một hạt bụi trên cân của Ngài. Đối với Ngài các hải đảo chỉ như bụi nhuyễn trên cân.
ISA 40:16 Tất cả các cây trong rừng Li-băng không đủ để đốt làm củi trên bàn thờ, và các súc vật của Li-băng không đủ làm của lễ thiêu.
ISA 40:17 Sánh với CHÚA các dân đều không ra gì; đối với Ngài họ chẳng có giá trị gì cả.
ISA 40:18 Các ngươi so sánh CHÚA với gì? Các ngươi so Ngài với hình ảnh nào đây?
ISA 40:19 Thần tượng do thợ khéo làm ra, rồi thợ bạc bọc vàng và làm ra dây xích bạc cho nó.
ISA 40:20 Người nghèo không mua nổi các pho tượng đắt giá đó, cho nên đi tìm một loại cây không bị mục nát. Rồi nhờ một người thợ khéo tạc thành pho tượng để không bị ngã nhào.
ISA 40:21 Thật vậy các ngươi vốn biết. Hẳn các ngươi đã nghe. Từ ban đầu chắc đã có người bảo cho các ngươi biết. Chắc hẳn các ngươi được cho biết từ lúc tạo thiên lập địa.
ISA 40:22 Ngôi Thượng Đế ngự trên vòng trái đất, so với Ngài, loài người giống như cào cào. Ngài trải bầu trời ra như tấm vải và giăng chúng ra như cái lều che người ngồi bên dưới.
ISA 40:23 Ngài khiến những kẻ cai trị trở nên vô dụng và các quan án thế gian không ra gì cả.
ISA 40:24 Họ giống như cây cối trồng trong đất, như hột giống được gieo. Vừa khi bắt đầu mọc mạnh lên, Ngài thổi trên chúng, chúng liền khô héo, gió thổi chúng bay đi như trấu.
ISA 40:25 Thượng Đế, Đấng Thánh phán, “Các ngươi có thể sánh ta với ai không? Có ai ngang hàng với ta không?”
ISA 40:26 Hãy nhìn lên trời, Ai tạo ra những vì sao đó? Ngài kéo các đạo binh trên trời ra từng đoàn và đặt tên cho mỗi vì sao. Vì Ngài mạnh mẽ và quyền năng, cho nên không sót ngôi sao nào.
ISA 40:27 Hỡi dân cư Gia-cốp, sao các ngươi phàn nàn? Hỡi dân Ít-ra-en sao ngươi nói, “CHÚA không thấy thân phận tôi đâu; Ngài chẳng thấy tôi hay trừng phạt tôi”?
ISA 40:28 Chắc hẳn các ngươi biết. Chắc chắn các ngươi đã nghe. CHÚA là Thượng Đế hằng hữu, Đấng tạo nên thế giới. Ngài không mệt mỏi hay cần nghỉ ngơi. Không ai hiểu được sự khôn ngoan Ngài.
ISA 40:29 Ngài ban sức mạnh cho kẻ mệt mỏi, thêm năng lực cho kẻ yếu đuối.
ISA 40:30 Dù cho trẻ thơ cũng mệt mỏi cần nghỉ ngơi, cho đến người trẻ tuổi cũng vấp ngã.
ISA 40:31 Nhưng ai trông cậy CHÚA sẽ sung sức. Họ sẽ cất lên như chim phượng hoàng tung cánh trên trời; chạy mà không biết mệt; đi mà không đuối sức.
ISA 41:1 CHÚA phán, “Hỡi các xứ xa xôi, hãy yên lặng nghe ta. Các dân hãy mạnh dạn lên. Hãy đến nói chuyện với ta; Chúng ta sẽ gặp nhau thảo luận xem ai phải.
ISA 41:2 Ai đánh thức Đấng đến từ phương Đông? Ai ban cho Ngài chiến thắng bốn phía? Đấng mang Ngài lại, trao cho Ngài các dân tộc và đánh bại các vua. Ngài vung gươm thì các vua trở thành như bụi. Ngài bắn cung thì họ bị thổi bay như trấu.
ISA 41:3 Ngài rượt theo họ và không hề bị thương tích, Ngài đi mà chân không chạm đất.
ISA 41:4 Ai làm ra những chuyện đó? Ai nắm lịch sử từ lúc ban đầu? Chính ta, CHÚA là Đấng ấy. Ta đã có đây từ ban đầu, và ta cũng sẽ vẫn còn đây khi mọi việc kết thúc.”
ISA 41:5 Hỡi các nơi xa xăm hãy nhìn và kinh sợ; Hỡi các nơi xa xăm trên đất, hãy run sợ. Hãy đến gần nghe ta.
ISA 41:6 Các người thợ giúp đỡ nhau bảo nhau rằng, “Hãy mạnh dạn lên!”
ISA 41:7 Người thợ khéo giục giã thợ bạc, thợ dùng búa gõ nhẵn kim khí, khuyến khích thợ rèn làm việc với cái đe. Người nói rằng, “Mối hàn nầy tốt.” Người lấy đinh đóng cái tượng vào đế để nó khỏi ngã.
ISA 41:8 CHÚA phán, “Hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi là đầy tớ ta. Hỡi dân cư Gia-cốp, ta đã chọn các ngươi. Các ngươi thuộc gia đình của Áp-ra-ham, bạn ta.
ISA 41:9 Ta rút ngươi ra từ xứ xa xăm trên đất và gọi ngươi từ một miền xa thăm thẳm. Ta bảo, ‘Các ngươi là đầy tớ ta.’ Ta đã chọn ngươi và không chống nghịch ngươi.
ISA 41:10 Cho nên đừng sợ, vì ta ở với ngươi. Chớ kinh khiếp vì ta là Thượng Đế ngươi. Ta sẽ khiến ngươi thêm mạnh và sẽ giúp đỡ ngươi; Ta sẽ lấy tay phải ta mà nâng đỡ và giải cứu ngươi.
ISA 41:11 Tất cả các dân đang nổi giận cùng ngươi sẽ bị hổ thẹn và nhục nhã. Những kẻ chống nghịch ngươi sẽ biến mất.
ISA 41:12 Các ngươi sẽ tìm kẻ thù mình, nhưng không thấy. Những kẻ đối địch ngươi sẽ hoàn toàn biến mất.
ISA 41:13 Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi, Đấng nắm tay phải ngươi, bảo ngươi, ‘Đừng sợ hãi, ta sẽ giúp đỡ ngươi.’
ISA 41:14 Hỡi những kẻ sót lại trong Ít-ra-en, đừng sợ cho dù ngươi yếu ớt và vô dụng.” CHÚA phán, “Chính ta sẽ giúp đỡ ngươi. Đấng giải cứu ngươi là Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 41:15 Nầy, ta đã làm cho ngươi mới lại như miếng ván đập lúa có răng bén. Để ngươi đi trên các núi và chà đạp chúng. Ngươi sẽ khiến đồi núi thành trấu.
ISA 41:16 Ngươi sẽ ném chúng lên trời, để gió thổi chúng bay đi; gió bão sẽ phân tán chúng. Rồi ngươi sẽ vui mừng trong CHÚA; Ngươi sẽ hãnh diện trong Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 41:17 Kẻ nghèo khổ khốn cùng sẽ tìm nước, nhưng không tìm được. Lưỡi họ khô vì khát. Nhưng ta, CHÚA sẽ đáp lời cầu nguyện của họ; Ta, Thượng Đế của Ít-ra-en sẽ không để họ chết.
ISA 41:18 Ta sẽ khiến sông chảy trên đồi khô, và suối phun ra từ thung lũng. Ta sẽ biến sa mạc ra hồ nước và đất khô thành các suối.
ISA 41:19 Ta sẽ khiến cây mọc trong sa mạc: cây hương nam, cây keo, cây sim và cây thông. Ta sẽ đặt cây thông, cây bách, và cây tùng mọc chung nhau trong sa mạc.
ISA 41:20 Người ta sẽ nhìn thấy những điều đó và hiểu; họ sẽ suy nghĩ kỹ về những việc nầy. Và biết rằng quyền năng CHÚA làm ra việc đó, và rằng Đấng Thánh của Ít-ra-en đã thực hiện các việc nầy.”
ISA 41:21 CHÚA phán, “Hãy trình bày lý lẽ ngươi ra.” Vua của Gia-cốp bảo, “Hãy cho ta thấy lý đoán của ngươi.
ISA 41:22 Hãy mang các thần tượng ngươi vào để chúng tiết lộ chuyện tương lai. Bảo chúng cho chúng ta biết chuyện xảy ra lúc ban đầu. Rồi chúng ta sẽ cùng nhau suy nghĩ, để chúng ta biết kết cục ra sao. Hoặc cho chúng ta biết chuyện tương lai.
ISA 41:23 Hãy cho chúng ta biết chuyện tương lai, thì chúng ta sẽ tin các ngươi là thần. Hãy hành động đi, dù tốt hay xấu, để chúng ta sợ hãi.
ISA 41:24 Các ngươi là thần vô dụng; chẳng làm được gì cả. Những kẻ thờ phụng các ngươi đáng ghê tởm.
ISA 41:25 Ta đã mang một người đến từ phương Bắc. Ta đã gọi đích danh một người từ phương Đông, và người biết ta. Người dẫm đạp lên các vua như dẫm lên bùn, như thợ gốm đạp lên đất sét.
ISA 41:26 Ai cho chúng ta biết chuyện nầy trước khi nó xảy đến? Ai báo trước cho chúng ta biết để chúng ta nói, ‘Ngài đã nói đúng’? Không ai trong các ngươi cho chúng ta biết gì cả; không ai trong các ngươi bảo cho chúng ta biết trước khi việc xảy ra; không ai nghe các ngươi nói gì về chuyện đó cả.
ISA 41:27 Ta, CHÚA là Đấng đầu tiên nói cho Giê-ru-sa-lem biết rằng dân chúng sẽ hồi hương. Ta sai sứ giả đến báo tin mừng cho Giê-ru-sa-lem.
ISA 41:28 Ta nhìn các thần tượng, nhưng chẳng tượng nào có thể trả lời cả. Không ai trong chúng nó biết cho ý kiến; Chẳng ai trong chúng nó có thể trả lời câu hỏi ta.
ISA 41:29 Nầy, tất cả chúng nó đều là thần giả. Không biết làm gì cả; Chúng nó thật vô dụng.”
ISA 42:1 “Đầy tớ ta đây là kẻ ta yểm trợ, là kẻ ta chọn lựa, ta rất hài lòng về người. Ta đã đặt Thần Linh ta trên người, người sẽ mang công bình đến cho các dân.
ISA 42:2 Người sẽ không kêu la hay to tiếng trên đường phố.
ISA 42:3 Người sẽ không bẻ cọng sậy bị dập hay tắt ngọn lửa leo lét. Người sẽ mang lại công bình;
ISA 42:4 người sẽ không thất vọng hay bỏ cuộc cho đến khi đã mang công bình đến cho thế gian. Các dân ở xa sẽ tin cậy nơi sự dạy dỗ người.”
ISA 42:5 CHÚA là Thượng Đế đã phán những điều đó. Ngài tạo nên bầu trời và trải nó ra. Ngài trải đất ra cùng mọi vật trong đó. Ngài ban sự sống cho mọi người trên đất, tức cho mọi người đi lại trên đất.
ISA 42:6 CHÚA phán, “Ta là CHÚA kêu gọi các ngươi làm điều thiện, ta sẽ nắm tay và bảo vệ ngươi. Ngươi sẽ làm dấu hiệu của giao ước ta với dân chúng, làm ánh sáng chiếu cho mọi người.
ISA 42:7 Ngươi sẽ giúp kẻ mù thấy đường. Giải thoát người bị cầm tù, ngươi sẽ dẫn những kẻ sống trong bóng tối ra khỏi ngục thất.
ISA 42:8 Ta là CHÚA. Đó là danh ta. Ta sẽ không nhường vinh hiển ta cho ai khác; Ta sẽ không để thần tượng nào đoạt lấy sự ca ngợi của ta.
ISA 42:9 Những điều ta báo trước đều đã thành sự thật, và nay ta bảo cho các ngươi biết những điều mới. Trước khi chúng xảy ra, ta đã bảo cho ngươi biết rồi.”
ISA 42:10 Hãy hát một bài ca mới cho CHÚA; hãy hát ca tụng Ngài khắp nơi trên đất. Hỡi các ngươi là kẻ lướt trên biển, hãy ca tụng Ngài cùng mọi sinh vật sống trong biển cũng vậy. Hỡi những kẻ ở xa xăm hãy ca tụng Ngài.
ISA 42:11 Sa mạc và các thành phố nên ca tụng Ngài. Những vùng định cư của Kê-đa hãy ca ngợi Ngài. Hỡi những dân sống ở Sê-la hãy hát mừng; họ nên la lớn lên từ các đỉnh núi.
ISA 42:12 Họ nên dâng vinh hiển cho CHÚA. Các dân sống ở những nơi xa xăm hãy ca tụng Ngài.
ISA 42:13 CHÚA sẽ bước ra như chiến sĩ mạnh dạn; Ngài sẽ thích thú như người sẵn sàng ra trận. Ngài sẽ hô xung trận và đánh bại kẻ thù Ngài.
ISA 42:14 CHÚA phán, “Đã lâu nay ta không nói gì cả; Ta đã làm thinh và kìm hãm mình. Nhưng bây giờ ta sẽ kêu lớn và ráng sức như đàn bà đang sinh nở.
ISA 42:15 Ta sẽ tiêu diệt núi đồi và làm khô héo tất cả các cây xanh trên đó. Ta sẽ khiến sông ngòi trở thành đất khô và làm cạn các ao nước.
ISA 42:16 Rồi ta sẽ dẫn kẻ mù theo con đường chúng chưa hề đi, Ta sẽ dắt chúng theo lối chúng chưa hề biết. Ta sẽ biến bóng tối ra ánh sáng cho chúng, và khiến đất gồ ghề trở nên bằng phẳng. Ta sẽ làm những điều ấy; Ta sẽ không rời bỏ dân ta.
ISA 42:17 Nhưng những kẻ tin tưởng nơi thần tượng, những kẻ nói cùng các tượng chạm rằng, ‘Các ngài là thần của chúng tôi’ sẽ bị thất vọng và sỉ nhục.
ISA 42:18 Hỡi các ngươi là kẻ điếc hãy nghe ta. Hỡi các ngươi là kẻ mù hãy nhìn và thấy.
ISA 42:19 Không ai đui mù hơn dân Ít-ra-en là tôi tớ ta, hay điếc hơn sứ giả ta đã sai đi. Không ai đui hơn những người thuộc về ta hay mù hơn tôi tớ của CHÚA.
ISA 42:20 Hỡi Ít-ra-en, ngươi đã thấy nhiều điều, nhưng không chịu vâng lời. Ngươi nghe nhưng không chịu để ý.”
ISA 42:21 CHÚA đã khiến cho những sự dạy dỗ của Ngài thật diệu kỳ, vì Ngài nhân đức.
ISA 42:22 Các dân nầy đã bị đánh bại và cướp bóc. Chúng bị sập bẫy trong hố hoặc bị nhốt trong lao tù. Các kẻ thù như bọn cướp đã bắt chúng đi, không ai giải cứu chúng. Các kẻ thù đã đày chúng đi, mà không ai lên tiếng bảo, “Hãy mang chúng về.”
ISA 42:23 Có ai chịu nghe điều nầy không? Trong tương lai các ngươi có chịu khó để ý nghe không?
ISA 42:24 Ai để cho Gia-cốp bị cướp đi? Ai để cho Ít-ra-en bị bóc lột? Chính CHÚA đã để cho những việc đó xảy ra, vì chúng ta đã phạm tội cùng Ngài. Chúng ta không sống theo ý muốn Ngài và không vâng theo lời dạy dỗ Ngài.
ISA 42:25 Vì thế nên Ngài nổi thịnh nộ cùng chúng ta và mang chiến tranh khủng khiếp đến cho chúng ta. Khiến lửa vây phủ quanh dân Ít-ra-en, nhưng họ chẳng hiểu đầu đuôi ra sao. Họ bị thiêu đốt, nhưng chẳng thèm để ý.
ISA 43:1 Hãy nghe lời CHÚA phán như sau: Hỡi dân Gia-cốp, Ngài dựng nên các ngươi; hỡi dân Ít-ra-en, Ngài tạo thành các ngươi. Ngài phán, “Đừng sợ vì ta đã giải cứu ngươi. Ta đã gọi đích danh ngươi, và ngươi thuộc về ta.
ISA 43:2 Khi ngươi đi qua nước, ta sẽ ở cùng ngươi. Khi băng qua sông, ngươi sẽ không bị chết đuối. Khi băng qua lửa, ngươi sẽ không bị cháy.
ISA 43:3 Vì ta, CHÚA là Thượng Đế ngươi, ta là Đấng Thánh của Ít-ra-en, Cứu Chúa ngươi. Ta đã hi sinh Ai-cập để trả giá cho ngươi, ta đã đánh đổi Cút và Sê-ba để khiến ngươi thuộc về ta.
ISA 43:4 Vì ngươi rất quí đối với ta, nên ta ban cho ngươi vinh dự và yêu thương ngươi, ta sẽ hi sinh các dân khác vì ngươi; ta sẽ đánh đổi các dân tộc khác để chuộc mạng sống ngươi.
ISA 43:5 Đừng sợ vì ta ở với ngươi. Ta sẽ mang con cái ngươi về từ phương Đông, và gom góp các ngươi lại từ phương Tây.
ISA 43:6 Ta sẽ bảo phương Bắc: Hãy trả dân ta lại cho ta. Và bảo phương Nam: Đừng nhốt dân ta trong ngục thất nữa. Hãy mang các con trai ta về từ nơi xa xăm và các con gái ta từ xứ thăm thẳm.
ISA 43:7 Hãy trả lại dân ta cho ta, là kẻ ta đã tạo nên cho vinh hiển ta, là dân mà ta đã tạo dựng.”
ISA 43:8 Hãy mang ra những kẻ có mắt mà không thấy, cùng những kẻ có tai mà không nghe.
ISA 43:9 Các dân tộc đã nhóm họp với nhau, các dân đã quy tụ lại. Có thần nào của chúng từng tiên đoán rằng việc nầy sẽ xảy ra không? Thần nào của chúng có thể báo trước việc xảy ra từ ban đầu không? Hãy bảo các thần đó mang nhân chứng ra để cho thấy rằng là chúng đúng, thì mọi người sẽ bảo, “Quả đúng thế.”
ISA 43:10 CHÚA phán, “Các ngươi là nhân chứng cho ta, là đầy tớ ta đã chọn. Ta đã chọn các ngươi để các ngươi biết và tin ta, để các ngươi hiểu rằng ta là Thượng Đế thật. Trước ta không có Thượng Đế nào, và sau ta cũng chẳng có Thượng Đế khác.
ISA 43:11 Chính ta là CHÚA. Ta là Đấng Cứu Thế duy nhất.
ISA 43:12 Chính ta đã phán cùng các ngươi, giải cứu các ngươi, và cho ngươi biết các việc nầy. Chính ta chớ không phải thần lạ nào ở giữa các ngươi đâu. Các ngươi là nhân chứng cho ta, còn ta là Thượng Đế,” CHÚA phán vậy.
ISA 43:13 “Ta xưa nay vẫn là Thượng Đế. Không ai có thể giải cứu dân chúng khỏi quyền lực của ta; khi ta hành động, không ai có thể thay đổi được.”
ISA 43:14 Đây là điều CHÚA, Đấng giải cứu ngươi, Đấng Thánh của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ phái đạo quân đến Ba-by-lôn để giải thoát các ngươi, ta sẽ phá sập mọi cổng thành khóa kín. Tiếng hân hoan của người Canh-đê sẽ biến ra tiếng thảm sầu.
ISA 43:15 Ta là CHÚA, Đấng Thánh ngươi, Tạo Hóa của Ít-ra-en, Vua ngươi.”
ISA 43:16 Đây là điều CHÚA phán. Ngài là Đấng mở con đường băng qua biển và tạo lối đi băng qua nước ào ào.
ISA 43:17 Ngài là Đấng đánh bại các quân xa cùng ngựa và các đạo quân hùng mạnh. Chúng cùng nhau ngã nhào không bao giờ ngồi dậy nữa. Chúng bị tiêu diệt như ngọn lửa tắt.
ISA 43:18 CHÚA phán, “Hãy quên chuyện đã xảy ra trước kia, đừng nghĩ đến việc quá khứ.
ISA 43:19 Hãy nhìn những điều mới ta sắp làm. Các ngươi không thấy sao? Việc đó đang xảy ra. Ta sẽ làm một con đường trong sa mạc và tạo ra sông ngòi trên đất khô.
ISA 43:20 Ngay đến dã thú cũng cảm tạ ta như chó rừng và chim đà điểu. Chúng sẽ tôn kính ta khi ta tạo ra nước trong sa mạc và sông chảy trên đất khô để cung cấp nước cho dân ta là những kẻ ta đã chọn.
ISA 43:21 Dân mà ta đã tạo lập nên cho ta sẽ ca ngợi ta.
ISA 43:22 Hỡi dân cư Gia-cốp, các ngươi không hề kêu cầu ta; hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi đã chán ta.
ISA 43:23 Các ngươi không mang sinh tế bằng chiên cho ta hay dâng của lễ để tỏ lòng tôn kính ta. Ta không đòi sinh tế để làm gánh nặng cho ngươi hay khiến ngươi chán ngấy vì phải đốt hương.
ISA 43:24 Nên các ngươi không mua hương cho ta; các ngươi không tự ý mang cho ta mỡ của sinh tế các ngươi. Nhưng tội lỗi các ngươi khiến ta mệt nhọc; ngươi làm cho ta kiệt lực vì những điều sai quấy ngươi làm.
ISA 43:25 Ta, chính ta là Đấng tha thứ mọi tội lỗi các ngươi, vì danh ta, ta sẽ không nhớ tội lỗi các ngươi nữa.
ISA 43:26 Nhưng các ngươi hãy nhắc nhở ta. Hãy họp nhau lại tranh luận. Hãy thuật cho ta điều ngươi làm, hãy chứng tỏ rằng các ngươi đúng.
ISA 43:27 Người cha đầu tiên của các ngươi đã phạm tội, các lãnh tụ ngươi đã chống nghịch ta.
ISA 43:28 Cho nên ta sẽ khiến các lãnh tụ thánh các ngươi không còn thánh nữa. Ta sẽ hủy diệt Gia-cốp, và khiến cho Ít-ra-en bị sỉ nhục.”
ISA 44:1 CHÚA phán, “Hỡi dân Gia-cốp, các ngươi là đầy tớ ta. Hãy nghe ta đây! Hỡi dân Ít-ra-en, ta đã chọn ngươi.”
ISA 44:2 Đây là điều CHÚA, Đấng tạo ra ngươi phán, Đấng tạo ra ngươi trong lòng mẹ, sẽ giúp đỡ ngươi: “Hỡi dân Gia-cốp, đầy tớ ta, đừng sợ. Hỡi Giê-su-run, ta đã chọn ngươi.
ISA 44:3 Ta sẽ rưới nước cho đất đang khát và khiến suối chảy trên đất khô. Ta sẽ đổ thần linh ta trên con cái các ngươi và xuống phước lành trên con cháu ngươi.
ISA 44:4 Con cái ngươi sẽ mọc lên như cây trong đồng cỏ, như cây liễu mọc cạnh suối nước.
ISA 44:5 Người nầy sẽ nói, ‘Tôi thuộc về CHÚA,’ người nọ sẽ dùng danh Gia-cốp. Kẻ khác nữa sẽ ghi trên bàn tay mình như sau, ‘Tôi thuộc về CHÚA,’ rồi người khác nữa sẽ dùng danh Ít-ra-en.”
ISA 44:6 CHÚA, vua Ít-ra-en, là CHÚA Toàn Năng, Đấng giải cứu Ít-ra-en. Ngài phán như sau: “Ta là đầu tiên và là cuối cùng. Ta là Thượng Đế duy nhất.
ISA 44:7 Có thần nào giống như ta không? Thần đó hãy đến chứng tỏ đi. Thần đó hãy thuật lại những việc từ xưa. Thần đó hãy cho biết việc tương lai đi.
ISA 44:8 Đừng sợ hãi cũng đừng lo âu! Ta đã cho các ngươi biết việc sẽ xảy ra. Các ngươi là nhân chứng cho ta. Ngoài ta không có Thượng Đế nào khác. Ta không biết đến Khối Đá nào khác; ta là Khối Đá duy nhất.”
ISA 44:9 Có kẻ tạc ra thần tượng, nhưng chúng nó vô dụng. Người ta quí các thần đó, nhưng chúng chẳng ích lợi gì. Họ là nhân chứng cho các tượng chạm, nhưng chúng không thấy. Chúng chẳng biết hổ nhục là gì.
ISA 44:10 Ai làm ra những thần nầy? Ai đã tạo ra những thần vô dụng nầy?
ISA 44:11 Các thợ làm ra chúng sẽ bị xấu hổ, vì họ chỉ là người. Nếu họ họp chung nhau lại, thì họ cũng sẽ cùng nhau xấu hổ và sợ hãi.
ISA 44:12 Người thợ dùng dụng cụ để nung sắt, làm việc trên than đỏ. Dùng búa đập sắt để làm ra bức tượng bằng cánh tay lực lưỡng của mình. Nhưng khi người kiệt lực thì đói lả. Nếu không uống nước, người sẽ mệt lả.
ISA 44:13 Một người thợ khác dùng dây tẩm mực và dụng cụ dùng để vẽ vòng tròn trên gỗ. Rồi dùng cái đục để khắc ra tượng, dùng dụng cụ để đo tượng. Làm theo cách ấy người thợ tạc khúc gỗ giống y như hình người, và đặt tượng đó trong nhà.
ISA 44:14 Người đi đốn cây hương nam, cây lật, hay cây sồi. Những cây đó tự mọc bằng sức riêng trong rừng. Hoặc người trồng cây thông, mưa khiến nó mọc lên.
ISA 44:15 Rồi người đốt cây. Dùng một số gỗ làm củi sưởi ấm, người cũng nhen lửa nướng bánh mì. Nhưng dùng một phần gỗ làm một vị thần rồi thờ lạy nó. Làm ra một hình tượng rồi cúi xuống lạy nó!
ISA 44:16 Người đốt phân nửa gỗ làm củi chụm. Dùng lửa đó nấu thịt, và ăn thịt no nê. Người cũng đốt gỗ để sưởi ấm. Người nói, “Tốt! Bây giờ ta ấm áp rồi. Ta có thể thấy được nhờ ánh sáng của lửa.”
ISA 44:17 Nhưng người lấy gỗ còn lại tạc một bức tượng và gọi nó là thần. Người cúi xuống thờ lạy nó. Người cầu nguyện cùng nó rằng, “Ngài là thần của tôi. Xin hãy giải cứu tôi!”
ISA 44:18 Những kẻ đó không biết mình đang làm gì. Chúng không hiểu biết! Giống như đang bị bịt mắt nên không thể thấy. Trí óc chúng không hiểu gì.
ISA 44:19 Chúng không suy nghĩ đến những điều đó; chúng không hiểu biết. Chúng không tự suy xét rằng, “Ta đã đốt phân nửa gỗ làm củi chụm và dùng than đỏ nướng bánh mì ta. Ta đã nấu và ăn thịt đã nấu. Ta dùng số gỗ còn lại để làm ra vật đáng ghê tởm nầy. Ta thờ lạy một khúc gỗ!”
ISA 44:20 Chúng nó không biết mình làm gì; trí não quẫn bách khiến người lầm lạc. Chúng không tự cứu hay nhìn nhận, “Hình tượng ta đang cầm trong tay là thần giả.”
ISA 44:21 “Hỡi dân Gia-cốp, hãy nhớ những điều nầy! Hỡi dân Ít-ra-en, đừng quên rằng ngươi là đầy tớ ta. Ta tạo nên các ngươi, ngươi là đầy tớ ta. Cho nên hỡi Ít-ra-en, ta sẽ chẳng bao giờ quên ngươi.
ISA 44:22 Ta đã thổi sạch tội lỗi ngươi như đám mây; Ta đã cất tội lỗi các ngươi như mây tan biến vào không khí. Hãy trở lại cùng ta vì ta đã giải cứu ngươi.”
ISA 44:23 Hỡi các bầu trời, hãy hát mừng vì CHÚA làm những việc lớn lao! Hỡi đất, hãy reo vui từ những nơi thẳm sâu nhất của ngươi! Hỡi núi non, hãy hát lời cảm tạ cho Thượng Đế. Hỡi các cây cối trong rừng, hãy ca lên! CHÚA đã giải cứu dân cư Gia-cốp! Ngài bày tỏ vinh hiển mình khi giải thoát Ít-ra-en.
ISA 44:24 Đây là lời CHÚA, Đấng giải cứu ngươi, Đấng tạo ngươi ra trong bụng mẹ phán: “Ta, CHÚA, tạo nên mọi vật, một mình ta giăng các bầu trời và trải đất ra.
ISA 44:25 Ta vạch trần cho thấy những dấu hiệu của các nhà tiên tri nói dối là giả tạo; Ta khiến những kẻ làm ma thuật phải xấu hổ. Ta làm cho người khôn rối trí; chúng tưởng mình biết nhiều nhưng ta khiến chúng hóa ra ngờ nghệch.
ISA 44:26 Ta khiến cho những lời nói của các đầy tớ ta thành sự thật; Ta làm cho những lời khuyên của các sứ giả ta xảy ra. Ta bảo Giê-ru-sa-lem, ‘Người ta sẽ lại đến ở giữa ngươi!’ Ta nói cùng các thị trấn Giu-đa, ‘Ngươi sẽ được tái thiết!’ Ta phán cùng chỗ đổ nát của Giê-ru-sa-lem rằng, ‘Ta sẽ sửa chữa ngươi.’
ISA 44:27 Ta ra lệnh cho các chỗ nước sâu rằng, ‘Hãy khô cạn đi! Ta sẽ khiến các suối nước ngươi cạn khô!’
ISA 44:28 Ta nói về Xi-ru như sau, Người là kẻ chăn của ta và sẽ làm theo ý muốn ta. Người sẽ bảo Giê-ru-sa-lem rằng, ‘Ngươi sẽ được tái thiết!’ Người sẽ nói với đền thờ, ‘Người ta sẽ xây lại nền của ngươi.’”
ISA 45:1 Đây là điều CHÚA phán về Xi-ru, vua được chọn lựa của Ngài: “Ta nắm tay phải ngươi và sẽ giúp ngươi chiến thắng các dân cùng tước đoạt quyền lực các vua. Ta sẽ mở các cửa cho ngươi các cổng thành sẽ không ngăn chận ngươi được.
ISA 45:2 Ta sẽ đi trước ngươi và san phẳng núi non. Ta sẽ phá sập các cổng thành bằng đồng và bẻ gãy mọi then cài sắt của chúng.
ISA 45:3 Ta sẽ ban cho ngươi của cải cất kỹ và những bửu vật kín giấu để ngươi biết rằng ta là CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en, Đấng gọi đích danh ngươi.
ISA 45:4 Ta làm những điều nầy vì dân cư Gia-cốp, kẻ tôi tớ ta và cho Ít-ra-en, dân được ta chọn. Hỡi Xi-ru, ta gọi tên ngươi, ban cho ngươi tước vị dù rằng ngươi không biết ta.
ISA 45:5 Ta là CHÚA. Không có Thượng Đế nào khác ngoài ta; Ta là Thượng Đế duy nhất. Ta sẽ khiến ngươi hùng mạnh, dù rằng ngươi không biết ta,
ISA 45:6 để mọi người biết rằng không có Thượng Đế nào khác. Từ Đông sang Tây mọi người sẽ biết rằng chỉ một mình ta là CHÚA.
ISA 45:7 Ta làm sáng làm tối. Ta mang thái bình, và tạo hỗn loạn. Chính ta, là CHÚA, làm những điều đó.
ISA 45:8 Hỡi từng trời cao kia, hãy cho chiến thắng rơi xuống như mưa, Hỡi các đám mây, hãy đổ chiến thắng xuống. Hãy để đất nhận lấy chúng, và hãy để chiến thắng mọc lên. Ta, CHÚA, đã tạo ra nó.
ISA 45:9 Khốn cho những kẻ biện bác với Thượng Đế, Đấng tạo ra mình. Chúng giống như mảnh vỡ của đống đồ gốm. Đất sét không bao giờ hỏi thợ gốm, ‘Ông làm gì vậy?’ Đồ vật không thể nào chất vấn người tạo ra mình.
ISA 45:10 Khốn cho kẻ nào nói với cha mình rằng, ‘Ông sinh gì?’ Khốn cho kẻ nào nói với mẹ mình rằng, ‘Bà đẻ ra gì?’”
ISA 45:11 Đây là điều CHÚA, Đấng Thánh của Ít-ra-en, Đấng dựng nên họ phán: “Các ngươi hỏi ta về chuyện tương lai, Các ngươi chất vấn ta về con cái ta, Các ngươi muốn ta chứng tỏ những điều ta đã làm.
ISA 45:12 Ta đã dựng nên đất cùng mọi người sống trên đất. Cánh tay ta giăng bầu trời, và điều động các đạo binh trên trời.
ISA 45:13 Ta sẽ mang Xi-ru đến để làm những việc tốt lành, Ta sẽ khiến công tác người được dễ dàng. Người sẽ tái thiết lại thành ta và giải thoát dân ta mà không đòi thù lao hay phần thưởng. CHÚA Toàn Năng phán như vậy.”
ISA 45:14 CHÚA phán, “Các hàng hoá làm từ Ai-cập và Cút, cùng những người cao lớn của Sê-ba sẽ đến cùng ngươi và trở thành tài sản ngươi. Người Sê-ba sẽ đi sau ngươi, kéo lê xiềng xích mình. Chúng sẽ cúi lạy trước mặt và khẩn cầu ngươi rằng, ‘Thượng Đế ở với vua, không có Thượng Đế nào khác.’”
ISA 45:15 Thượng Đế và Đấng Giải Cứu Ít-ra-en, Ngài là Thượng Đế mà loài ngươi không thể thấy.
ISA 45:16 Những ai tạc các thần tượng sẽ bị xấu hổ; chúng sẽ cùng nhau bị hổ nhục.
ISA 45:17 Nhưng Ít-ra-en sẽ được CHÚA giải cứu, và sự cứu chuộc đó sẽ còn đời đời. Dân Ít-ra-en sẽ không bao giờ bị sỉ nhục nữa.
ISA 45:18 CHÚA đã tạo nên trời. Ngài là Thượng Đế dựng nên đất. Ngài không muốn đất hoang vu, nhưng muốn có sự sống trên đất. Nên CHÚA phán như sau: Ta là CHÚA. Không có Thượng Đế nào khác.
ISA 45:19 Ta không nói nơi bí mật hay giấu lời ta ở nơi tăm tối. Ta không bảo gia đình Gia-cốp tìm ta nơi hoang vu. Ta là CHÚA, ta nói sự thật; và làm điều phải.
ISA 45:20 Các ngươi đã thoát khỏi các dân khác, hãy nhóm họp và đến ra mắt ta; hãy lại gần đây. Những kẻ mang tượng chạm bằng gỗ không biết mình làm gì. Chúng cầu nguyện cùng một thần không thể giải cứu mình.
ISA 45:21 Hãy bảo dân nầy đến cùng ta. Hãy trình bày trường hợp của các ngươi và thảo luận với nhau về những điều đó. Ai đã từ lâu bảo cho các ngươi biết những chuyện nầy sẽ xảy ra? Ai đã từ lâu nói cho các ngươi biết? Ta, CHÚA là Đấng bảo những điều đó. Không có Thượng Đế nào khác ngoài ta. Ta là Thượng Đế công chính duy nhất. Ta là Đấng Cứu Thế. Không có Thượng Đế nào khác.
ISA 45:22 “Hỡi dân cư khắp nơi, hãy theo ta để được cứu. Ta là Thượng Đế. Không có Thượng Đế nào khác.
ISA 45:23 Ta dùng quyền năng ta để tuyên hứa, và lời hứa ta chân thật. Điều ta nói sẽ không bao giờ thay đổi. Ta hứa rằng mọi người sẽ cúi lạy trước mặt ta và sẽ hứa nguyện đi theo ta.
ISA 45:24 Dân chúng sẽ nói về ta như sau, ‘Sự nhân từ và quyền năng đều đến từ CHÚA.’” Những ai nổi giận cùng Ngài sẽ đến cùng Ngài và bị xấu hổ.
ISA 45:25 Nhưng nhờ CHÚA giúp, dân Ít-ra-en sẽ sống phải cách, và sẽ ca ngợi Ngài.
ISA 46:1 Bên đã ngã xuống đất và Nê-bô cúi lạy trước mặt ta. Các thần tượng của chúng nó do thú vật chuyên chở. Các tượng chạm chỉ là đồ nặng phải chở; chỉ khiến thú vật chở chúng mệt mỏi thôi.
ISA 46:2 Các thần nầy đều sẽ cúi lạy. Chúng không thể tự cứu mình được, mà bị mang đi như tù nhân.
ISA 46:3 “Hỡi gia đình Gia-cốp, hãy nghe ta! Tất cả các ngươi là dân Ít-ra-en còn sống sót hãy nghe đây! Ta đã bồng ẵm các ngươi từ lúc mới sinh; Ta đã chăm sóc các ngươi từ khi mới lọt lòng mẹ.
ISA 46:4 Dù khi ngươi trở về già, ta cũng sẽ vẫn làm như vậy. Dù cho tóc ngươi đã bạc, ta cũng sẽ chăm sóc ngươi. Ta đã dựng nên ngươi, sẽ chăm sóc các ngươi. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu ngươi.
ISA 46:5 Các ngươi có thể so sánh ta với ai khác không? Không ai bằng ta hoặc giống ta.
ISA 46:6 Có kẻ giàu vì nhiều vàng và cân bạc trên cái cân. Họ thuê thợ bạc làm ra một vị thần. Rồi cúi xuống bái lạy nó.
ISA 46:7 Họ đặt nó lên vai rồi mang đi. Họ đặt nó ở chỗ nào thì nó đứng yên chỗ đó; nó không thể nào di động qua chỗ khác được. Người ta la hét vào mặt nó, nhưng nó không thể trả lời. Nó không thể tự cứu khỏi mọi thảm họa.
ISA 46:8 Hãy nhớ điều nầy, đừng bao giờ quên! Hãy suy nghĩ đến những điều nầy, hỡi các ngươi là kẻ chống nghịch Thượng Đế.
ISA 46:9 Hãy nhớ điều xảy ra từ xưa. Hãy nhớ rằng ta là Thượng Đế, không có Thượng Đế nào khác. Ta là Thượng Đế, không có ai giống như ta.
ISA 46:10 Từ đầu ta đã cho ngươi biết việc sẽ xảy ra lúc cuối cùng. Từ lâu ta đã cho ngươi biết việc chưa xảy đến. Khi ta dự định điều gì thì điều đó xảy ra. Điều ta muốn làm, ta sẽ làm.
ISA 46:11 Ta kêu gọi một người từ đông phương để thi hành kế hoạch ta; từ một xứ xa xôi người đến như diều hâu. Ta sẽ thực hiện điều ta phán. Ta sẽ làm điều ta đã trù liệu.
ISA 46:12 Hãy nghe ta, hỡi dân ương ngạnh, và dân xa cách sự cứu rỗi.
ISA 46:13 Ta sẽ sớm làm điều phải. Ta sẽ sớm mang đến sự cứu rỗi. Ta sẽ giải cứu Xi-ôn, và mang vinh hiển cho Ít-ra-en.”
ISA 47:1 CHÚA phán, “Hỡi thành Ba-by-lôn, hãy đi xuống ngồi trong bụi đất. Hỡi dân cư Ba-by-lôn, hãy ngồi xuống đất. Ngươi không còn làm quan quyền nữa. Ngươi sẽ không còn được gọi là dịu dàng xinh đẹp nữa.
ISA 47:2 Ngươi phải xay bột bằng cối đá nặng. Hãy gỡ bỏ khăn mỏng che mặt và cởi váy ra. Hãy túm váy và sẵn sàng băng qua sông.
ISA 47:3 Dân chúng sẽ thấy sự trần truồng ngươi; họ sẽ thấy sự hổ nhục ngươi. Ta sẽ trừng phạt ngươi; Ta sẽ trừng phạt mỗi người trong các ngươi.”
ISA 47:4 Cứu Chúa chúng ta là CHÚA Toàn Năng; Ngài là Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 47:5 Hỡi Ba-by-lôn, hãy ngồi trong bóng tối và im lặng. Ngươi sẽ không còn được gọi là hoàng hậu của các nước nữa.
ISA 47:6 Ta đã nổi giận cùng dân ta, và đã gạt bỏ những kẻ thuộc về ta. Ta trao họ cho ngươi, nhưng ngươi không tỏ lòng thương xót họ. Thậm chí ngươi hành hạ người già cả.
ISA 47:7 Ngươi bảo, “Ta sẽ mãi mãi là hoàng hậu.” Nhưng ngươi không thèm để ý đến những việc ngươi làm cho dân ta, cũng không suy xét đến việc sẽ xảy ra.
ISA 47:8 Bây giờ hãy nghe đây, hỡi ngươi là kẻ ham khoái lạc. Ngươi nghĩ mình bình an vô sự. Ngươi tự nhủ, “Chỉ có một mình ta là quan trọng. Ta sẽ không khi nào trở thành goá phụ hay mất con cái ta.”
ISA 47:9 Hai việc bất thần sẽ xảy ra cho ngươi cùng trong một ngày. Ngươi sẽ mất cả chồng lẫn con. Những việc nầy chắc chắn sẽ xảy ra cho ngươi, dù ngươi có ma lực đi nữa, dù ngươi dùng xảo thuật cao tay đi nữa.
ISA 47:10 Ngươi làm điều ác mà cảm thấy bình an vô sự lại còn nói, “Không ai thấy điều ta làm.” Sự khôn ngoan và hiểu biết ngươi đã gạt ngươi. Ngươi tự nhủ, “Ta là Thượng Đế, không ai bằng ta cả.”
ISA 47:11 Nhưng khốn đốn sẽ đến với ngươi, mà ngươi không biết cách nào ngăn chận. Thảm họa sẽ rơi trên ngươi, mà ngươi không thể nào tránh được. Ngươi sẽ bị tiêu diệt nhanh chóng; Thậm chí ngươi không thấy nó đến nữa.
ISA 47:12 “Hãy cứ dùng âm mưu xảo quyệt đi, và dùng ma thuật mà ngươi đã dùng từ lúc còn trẻ. Có thể chúng sẽ giúp ích cho ngươi; có thể chúng sẽ hù dọa được một vài người.
ISA 47:13 Ngươi mệt mỏi vì những lời khuyên. Cho nên hãy để cho những kẻ nghiên cứu trời đất tức những kẻ nhìn sao và trăng mới mà đoán tương lai, giải cứu ngươi khỏi những việc sẽ xảy đến cho ngươi.
ISA 47:14 Nhưng chúng nó như rơm rạ; bị lửa thiêu đốt nhanh chóng. Chúng không thể tự cứu khỏi quyền lực của lửa. Chúng không giống như than cung cấp hơi ấm cũng không giống như lửa mà ngươi có thể ngồi kế bên.
ISA 47:15 Ngươi đã làm việc với chúng, là những kẻ đã tiếp xúc với ngươi từ khi ngươi còn trẻ, nhưng chúng không thể giúp ngươi. Ai nấy đều đi đường riêng mình, không ai còn lại để giải cứu ngươi.”
ISA 48:1 CHÚA phán, “Hỡi nhà Gia-cốp, hãy nghe ta. Ngươi được gọi là Ít-ra-en, Ngươi xuất thân từ gia đình Giu-đa. Ngươi lấy danh CHÚA mà thề thốt và ca ngợi Thượng Đế của Ít-ra-en, nhưng lòng ngươi không chân thành.
ISA 48:2 Ngươi tự gọi mình là dân cư của thành thánh, và nương cậy vào Thượng Đế của Ít-ra-en, Đấng được gọi là CHÚA Toàn Năng.
ISA 48:3 Từ xưa ta đã cho ngươi biết những gì sẽ xảy ra. Ta nói trước và cho ngươi hay; rồi bỗng nhiên ta hành động thì những việc ấy xảy ra.
ISA 48:4 Ta biết ngươi rất ương ngạnh; cổ ngươi cứng như bắp thịt sắt, và đầu ngươi như đồng.
ISA 48:5 Cho nên từ xưa ta đã bảo trước cho ngươi những điều đó; Ta cho ngươi biết trước khi chúng xảy ra để ngươi không thể nói, ‘Thần tượng của tôi làm những điều nầy, các tượng chạm bằng gỗ và sắt của tôi khiến những việc nầy xảy ra.’”
ISA 48:6 “Ngươi đã nghe thấy mọi việc để ngươi có thể kể lại cho kẻ khác biết. Bây giờ ta sẽ cho ngươi biết những điều mới lạ, những điều kín giấu mà ngươi chưa rõ.
ISA 48:7 Những điều nầy hiện đang xảy ra chớ không phải xảy ra từ xưa; trước đây ngươi chưa hề nghe đến chúng. Nên ngươi không thể nói, ‘Chúng tôi biết chuyện đó rồi.’
ISA 48:8 Nhưng ngươi không nghe ta; ngươi không thèm hiểu. Từ xưa kia ngươi cũng đã chẳng chịu nghe ta. Ta biết chắc ngươi sẽ phản ta; từ khi sinh ra ngươi đã chống ta.
ISA 48:9 Nhưng ta nén giận vì danh ta. Người ta ca ngợi ta vì ta nén giận không tiêu diệt ngươi.
ISA 48:10 Ta đã khiến ngươi tinh sạch mà không dùng lửa như luyện bạc. Ta đã dùng những thử thách để luyện lọc ngươi.
ISA 48:11 Ta làm những điều đó vì ta, vì danh ta. Ta sẽ không để ai nói xấu ta, cũng sẽ không nhường vinh hiển ta cho thần nào khác.
ISA 48:12 Hỡi dân Gia-cốp, hãy nghe ta. Hỡi dân Ít-ra-en, ta đã gọi ngươi làm dân ta. Ta là đầu tiên và cuối cùng.
ISA 48:13 Chính tay ta dựng nên trái đất. Ta dùng tay phải ta trải các bầu trời ra. Khi ta gọi, chúng nó sẽ đến trình diện ta.
ISA 48:14 Tất cả các ngươi hãy đến nghe. Có thần giả nào bảo trước cho các ngươi những điều nầy không? CHÚA đã chọn người tấn công Ba-by-lôn; để thực hiện ý muốn Ngài nghịch lại người Canh-đê.
ISA 48:15 Ta đã phán; ta đã gọi người. Ta đã mang người đến và sẽ khiến người thành công.
ISA 48:16 Hãy đến cùng ta và nghe đây. Từ ban đầu ta đã nói tỏ tường. Từ lúc tạo thiên lập địa, ta đã có đó.” Bây giờ CHÚA là Thượng Đế đã sai ta đi cùng với Thần linh Ngài.
ISA 48:17 Đây là lời CHÚA, Đấng giải cứu ngươi, Đấng Thánh của Ít-ra-en phán: “Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi, Đấng dạy ngươi làm điều thiện, chỉ cho ngươi con đường phải theo.
ISA 48:18 Nếu ngươi chịu nghe mệnh lệnh ta thì ngươi đã có hoà bình như sông chảy cuồn cuộn. Phước lành sẽ ào đến ngươi như sóng biển.
ISA 48:19 Ngươi sẽ có đông con như cát. Chúng sẽ không bao giờ chết hay bị tiêu diệt.”
ISA 48:20 Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy chạy trốn khỏi người Ba-by-lôn! Hãy vui mừng la lớn báo tin nầy cho dân chúng; hãy loan truyền cho khắp đất biết. Hãy nói rằng, “CHÚA đã giải cứu tôi tớ Ngài là con cháu Gia-cốp.”
ISA 48:21 Khi Ngài dẫn họ đi qua sa mạc, họ sẽ không bị khát. Ngài khiến nước chảy ra từ một tảng đá. Ngài chẻ đá, nước liền phun ra.
ISA 48:22 “Kẻ ác không thể hưởng hoà bình,” CHÚA phán vậy.
ISA 49:1 Hỡi các dân ở gần biển, hãy nghe ta. Hỡi các dân tộc ở xa xôi, hãy lắng tai. Trước khi ta sinh ra, CHÚA đã gọi ta để phục vụ Ngài. CHÚA đã đặt tên cho ta từ khi ta còn nằm trong lòng mẹ.
ISA 49:2 Ngài khiến lưỡi ta như gươm bén. Ngài giấu ta trong lòng bàn tay Ngài. Ngài làm cho ta như mũi tên nhọn. Ngài giấu ta trong bao đựng tên của Ngài.
ISA 49:3 Ngài bảo ta, “Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi tớ ta. Ta sẽ làm những việc kỳ diệu qua ngươi.”
ISA 49:4 Nhưng ta bảo, “Tôi đã làm việc cực nhọc không công; Tôi đã ráng sức mà chẳng làm được việc gì hữu dụng. CHÚA sẽ quyết định việc làm nào của ta có giá trị. Thượng Đế sẽ định phần thưởng cho ta.”
ISA 49:5 Từ trong bụng mẹ ta CHÚA đã khiến ta làm đầy tớ Ngài, để hướng dẫn dân Gia-cốp trở về cùng Ngài, để Ít-ra-en được tập họp về cùng Ngài. CHÚA sẽ tôn trọng ta, Ta sẽ nhận được sức lực từ Thượng Đế.
ISA 49:6 Nay Ngài bảo ta, “Ngươi là đầy tớ quan trọng của ta để mang các chi tộc của Gia-cốp trở về, để mang dân sót lại của Ít-ra-en trở về. Nhưng quan trọng hơn nữa là ta sẽ khiến ngươi làm ngọn đèn cho các dân tộc để tỏ cho mọi người trên thế gian biết con đường cứu rỗi.”
ISA 49:7 CHÚA Đấng cứu ngươi là Đấng Thánh của Ít-ra-en. Ngài phán cùng kẻ bị dân chúng ghét, phán với tôi tớ của các quan quyền. Ngài phán như sau: “Các vua sẽ nhìn thấy ngươi và sẽ tôn trọng ngươi, Các đại lãnh tụ sẽ cúi lạy trước mặt ngươi, Vì CHÚA là Đấng đáng tin cậy. Ngài là Đấng Thánh của Ít-ra-en, Đấng đã lựa chọn ngươi.”
ISA 49:8 Đây là điều CHÚA phán: “Ta sẽ nghe lời khẩn nguyện của ngươi vào đúng lúc. Vào ngày cứu rỗi ta sẽ giúp đỡ ngươi. Ta sẽ bảo vệ ngươi, ngươi sẽ là dấu hiệu của giao ước ta với dân chúng. Ngươi sẽ mang dân chúng trở về xứ mình và hoàn trả đất hiện đang bị hư hại về cho nguyên chủ.
ISA 49:9 Ngươi sẽ bảo các tù nhân, ‘Hãy ra khỏi ngục.’ Và nói với những kẻ đang ở trong tối tăm rằng, ‘Hãy bước ra ánh sáng.’ Dân chúng sẽ ăn bên đường, và dù trên đồi trọc người ta vẫn tìm được thực phẩm.
ISA 49:10 Họ sẽ không còn đói khát nữa. Ánh nắng nóng hay gió sa mạc cũng sẽ không làm hại họ. Thượng Đế, Đấng an ủi họ sẽ dắt dẫn họ và đưa họ đến cạnh suối nước.
ISA 49:11 Ta sẽ biến núi đồi thành đường đi, và lối đi sẽ được nâng lên.
ISA 49:12 Nầy, từ khắp nơi xa xôi dân chúng đang đến cùng ta, từ phía Bắc và phía Tây, từ A-xu-an thuộc miền Nam Ai-cập.”
ISA 49:13 Hỡi trời và đất, hãy vui mừng lên. Hỡi núi đồi hãy reo vui, vì CHÚA yên ủi dân Ngài và tỏ lòng thương xót những kẻ bị khốn khổ.
ISA 49:14 Nhưng Giê-ru-sa-lem nói, “CHÚA đã bỏ ta; Ngài quên ta rồi.”
ISA 49:15 CHÚA đáp, “Đàn bà có thể nào quên cho con bú không? Có thể nào nàng không có chút tình cảm gì đối với đứa bé mình sinh ra hay sao? Dù đàn bà quên con mình, Ta cũng sẽ chẳng quên ngươi.
ISA 49:16 Xem nầy, ta đã viết tên ngươi trên bàn tay ta. Ta lúc nào cũng tưởng nhớ đến các tường thành ngươi.
ISA 49:17 Những kẻ xây dựng ngươi sẽ đông hơn kẻ tiêu diệt ngươi, còn những dân đã đánh thắng ngươi sẽ bỏ đi.
ISA 49:18 Hãy ngước lên và nhìn quanh ngươi. Tất cả các con cái ngươi đang tập họp lại để trở về cùng ngươi.” CHÚA phán, “Như ta hằng sống, con cái ngươi sẽ như nữ trang mà cô dâu đeo vào một cách kiêu hãnh.
ISA 49:19 Ngươi đã bị tiêu diệt và bị đánh bại, đất đai ngươi đã trở nên vô dụng. Nhưng nay ngươi sẽ có đông dân đến nỗi đất không đủ chỗ chứa, Còn những kẻ đã tiêu diệt ngươi sẽ cuốn gói đi xa.
ISA 49:20 Con cái ngươi sinh ra trong khi ngươi đang âu sầu, sẽ nói cùng ngươi, ‘Nơi nầy quá chật chội. Hãy cho chúng tôi một nơi khác rộng hơn để sống.’
ISA 49:21 Rồi ngươi sẽ tự nhủ, ‘Ai cho tôi đàn con nầy? Tôi vốn buồn bã và không sinh sản được, bị đánh bại và phân ly khỏi dân tộc tôi. Vậy ai nuôi những đứa con nầy? Tôi bị bỏ rơi một mình. Các đứa con nầy từ đâu ra?’”
ISA 49:22 CHÚA tôi phán như sau: “Nầy, ta đã giơ tay lên làm dấu cho muôn dân; ta giương cờ lên cho mọi người trông thấy. Rồi chúng nó sẽ mang các con trai ngươi về trong cánh tay mình, và sẽ vác các con gái ngươi trên vai.
ISA 49:23 Các vua sẽ dạy dỗ con cái ngươi, và các công chúa sẽ chăm sóc chúng nó. Họ sẽ cúi lạy trước mặt ngươi và hôn đất nơi chân ngươi. Rồi ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA. Ai tin cậy ta sẽ không thất vọng.”
ISA 49:24 Có ai đoạt lấy chiến lợi phẩm mà binh sĩ chiếm được nơi chiến trận không? Nếu một tù nhân bị canh phòng bởi một chiến sĩ hùng mạnh, thì liệu nó có thể trốn thoát được không?
ISA 49:25 CHÚA phán như sau: “Các tù binh sẽ bị cướp khỏi tay các binh sĩ dũng mãnh. Những người bị các kẻ hung ác bắt sẽ trốn thoát. Ta sẽ đánh các kẻ thù ngươi, và sẽ giải cứu con cái ngươi.
ISA 49:26 Ta sẽ bắt những kẻ quấy rối ngươi ăn thịt của mình. Huyết chúng sẽ làm rượu khiến chúng no say sưa. Rồi mọi người sẽ biết Ta, CHÚA, Đấng giải cứu ngươi; Ta là Đấng Toàn Năng của Gia-cốp giải cứu ngươi.”
ISA 50:1 CHÚA phán: “Hỡi dân Ít-ra-en, ngươi nói rằng ta ly dị mẹ ngươi. Vậy chứng thư ly dị đâu? Hay ngươi cho rằng ta bán ngươi để trả nợ? Vì những điều ác ngươi làm, ta đã bán ngươi. Vì nhiều lúc mẹ ngươi đã chống nghịch ta nên ta đuổi mẹ ngươi đi.
ISA 50:2 Ta đi về nhà không thấy ai; Ta gọi, nhưng chẳng ai trả lời. Ngươi cho rằng ta không thể giải cứu ngươi sao? Ta không có quyền lực giải cứu ngươi sao? Nầy, ta chỉ nạt một tiếng thì biển liền khô. Ta biến sông ngòi ra sa mạc, và cá trong sông sẽ hôi thối vì thiếu nước. Chúng nó chết khát.
ISA 50:3 Ta có thể khiến trời đất tối sầm lại; Ta có thể lấy vải sô đen che trời và đất.”
ISA 50:4 CHÚA là Thượng Đế ban cho ta khả năng, dạy dỗ cho ta biết cách nói để giục giã kẻ yếu đuối. Mỗi sáng Ngài đánh thức ta. Ngài dạy ta lắng nghe như học trò.
ISA 50:5 Chủ tôi là CHÚA giúp ta học hỏi, ta không chống nghịch Ngài và không từ chối đi theo Ngài.
ISA 50:6 Ta đưa lưng cho kẻ đánh ta. Ta giơ má cho kẻ giật râu ta. Ta không ẩn mặt khi chúng chế giễu hay phỉ nhổ ta.
ISA 50:7 CHÚA là Thượng Đế giúp đỡ ta, nên ta sẽ không bao giờ bị xấu hổ. Ta đã quyết định, ta biết sẽ không bị hổ nhục.
ISA 50:8 Ngài chứng tỏ ta vô tội, Ngài gần gũi với ta. Cho nên ai có thể tố cáo ta được? Nếu có ai tố cáo, chúng ta hãy cùng nhau ra tòa. Nếu có ai muốn chứng tỏ ta sai quấy, người đó hãy đến nói cho ta biết.
ISA 50:9 Nầy, chính CHÚA là Thượng Đế giúp đỡ ta. Cho nên ai có thể chứng tỏ ta có tội? Nầy, những kẻ muốn tố cáo ta trở thành vô dụng như áo cũ bị mối mọt ăn.
ISA 50:10 Ai trong các ngươi kính sợ CHÚA và vâng theo lời đầy tớ Ngài? Người có thể đi trong bóng tối, không thấy ánh sáng. Người nhờ cậy CHÚA, trông mong vào Thượng Đế mình.
ISA 50:11 Nhưng tất cả các ngươi muốn tự đốt lửa lấy và tạo ánh sáng lấy cho mình. Cho nên hãy bước trong ánh lửa của các ngươi đi. Hãy trông vào ánh sáng của mình để soi đường. Nhưng đây là điều các ngươi sẽ nhận từ ta: Các ngươi sẽ nằm xuống trong nơi đau khổ.
ISA 51:1 CHÚA phán, “Hãy nghe ta, hỡi các ngươi là những kẻ muốn sống phải lẽ và đi theo CHÚA. Hãy nhìn tảng đá mà ngươi được đục ra. Hãy nhìn hầm đá mà ngươi được đào lên.
ISA 51:2 Hãy nhìn Áp-ra-ham, tổ tiên ngươi, và Sa-ra, người sinh ra tổ tiên ngươi. Khi ta gọi người thì Áp-ra-ham chưa có con, nhưng ta ban phước cho người và ban cho dòng dõi người đông đảo.
ISA 51:3 Nên CHÚA sẽ an ủi Xi-ôn; Ngài sẽ tỏ lòng từ bi cho những kẻ sống trong đống đổ nát của nó. Ngài sẽ biến sa mạc nó ra vườn Ê-đen; Khiến đất hoang vu nó thành vườn của CHÚA. Mọi người sống nơi đó sẽ vui mừng; Họ sẽ cảm tạ và hát xướng.
ISA 51:4 Hỡi dân ta, hãy nghe ta; hỡi dân tộc ta, hãy để ý lời ta nói. Ta sẽ ban lời giáo huấn cho dân ta, và những quyết định của ta sẽ như ánh sáng cho các dân.
ISA 51:5 Ta sẽ sớm chứng tỏ điều ta làm là đúng. Ta sẽ sớm giải cứu ngươi. Ta sẽ dùng quyền năng và phân xử các dân. Tất cả những nơi xa xôi đang chờ đợi ta; Họ chờ đợi quyền năng ta giúp họ.
ISA 51:6 Hãy nhìn lên trời. Hãy nhìn quanh các ngươi và dưới đất thấp nầy. Bầu trời sẽ biến mất như mây khói. Đất sẽ trở thành vô dụng như chiếc áo cũ, và dân chúng trên đất sẽ chết như ruồi. Nhưng sự cứu rỗi ta còn đời đời, và lòng nhân từ ta không bao giờ dứt.
ISA 51:7 Các ngươi là kẻ biết lẽ phải hãy nghe ta; Các ngươi là kẻ nghe theo lời giáo huấn ta hãy nghe ta nói. Đừng sợ những điều ác kẻ khác nói, và đừng bực dọc về lời sỉ nhục của chúng.
ISA 51:8 Mối mọt sẽ ăn nuốt chúng như áo quần, và dòi bọ sẽ tiêu nuốt chúng như lông chiên. Nhưng lòng nhân từ ta sẽ còn đời đời, và sự cứu rỗi ta sẽ kéo dài mãi mãi từ nay về sau.”
ISA 51:9 Lạy CHÚA quyền năng, hãy thức dậy, thức dậy, và vận dụng sức mạnh Ngài. Hãy thức dậy như Ngài đã làm xưa kia, như Ngài đã thực hành thuở trước. Ngài dùng quyền năng chặt Ra-háp ra từng miếng và giết con quái vật dưới biển.
ISA 51:10 Ngài làm cho biển khô cạn và rút nước ra khỏi đại dương sâu thẳm. Ngài biến nơi thẳm sâu của biển ra đường cái cho dân chúng băng qua và được giải cứu.
ISA 51:11 Dân chúng mà CHÚA đã giải thoát sẽ trở về và hớn hở đi vào Xi-ôn. Sự hân hoan của họ sẽ còn mãi mãi. Họ sẽ hớn hở vui mừng, Còn mọi điều sầu não đau buồn chỉ là chuyện xa xưa.
ISA 51:12 CHÚA phán, “Ta là Đấng an ủi ngươi. Thế thì tại sao ngươi sợ loài người là loài sẽ chết? Tại sao ngươi e ngại con người là loài sẽ biến mất như cỏ?
ISA 51:13 Ngươi đã quên CHÚA là Đấng tạo ra ngươi, Đấng đã trải bầu trời ra và làm nên trái đất. Sao ngươi mãi lo sợ những kẻ nổi giận quấy rối ngươi và muốn hủy diệt ngươi? Bây giờ chúng nó đâu rồi?
ISA 51:14 Những kẻ bị cầm tù sẽ được trả tự do; họ sẽ không chết trong ngục, và sẽ đủ ăn.
ISA 51:15 Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi, Đấng quấy động biển cả và làm nổi sóng cồn. Danh ta là CHÚA Toàn Năng.
ISA 51:16 Ta sẽ đặt lời vào miệng ngươi. Ta sẽ lấy bàn tay ta che phủ ngươi. Ta đã tạo nên trời đất, và sẽ bảo Xi-ôn rằng, ‘Ngươi là dân ta.’”
ISA 51:17 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy! CHÚA đã nổi giận cùng ngươi; Sự trừng phạt ngươi như rượu trong cốc. CHÚA đã khiến ngươi uống rượu đó; Ngươi đã uống cạn chén cho đến khi say sưa.
ISA 51:18 Giê-ru-sa-lem có đông dân cư, nhưng không có ai lãnh đạo họ. Trong số những kẻ lớn lên tại đó, chẳng có người nào hướng dẫn họ.
ISA 51:19 Những khốn khó đến với ngươi từng cặp, nhưng không ai tội nghiệp ngươi. Ngươi gặp tàn hại, đại nạn, đói kém và giặc giã nhưng không người nào có thể an ủi ngươi hết.
ISA 51:20 Dân cư ngươi đã trở nên yếu ớt. Họ té nằm sóng sượt trên mỗi góc đường phố, như thú vật bị mắc vào lưới. Họ lãnh trọn cơn thịnh nộ của CHÚA và đã nghe tiếng gầm thét giận dữ của Thượng Đế.
ISA 51:21 Cho nên hỡi Giê-ru-sa-lem đáng thương hãy nghe ta, các ngươi là kẻ say nhưng không phải vì rượu.
ISA 51:22 Thượng Đế ngươi, Đấng Cao Cả sẽ bảo vệ dân Ngài. CHÚA là Thượng Đế ngươi phán như sau “Ta giao cho ngươi cốc rượu. Ngươi uống nó rồi đi liểng xiểng. Nhưng ta đang lấy cốc thịnh nộ ta ra khỏi ngươi. Ngươi sẽ không bị cơn giận ta trừng phạt nữa.
ISA 51:23 Nay ta sẽ trao cốc trừng phạt ấy cho các kẻ đã hành hạ ngươi, những kẻ đã ra lệnh cho ngươi, ‘Hãy cúi xuống để chúng ta bước qua trên ngươi.’ Lưng ngươi như đất để chúng bước qua; như đường đi cho chúng dẫm lên.”
ISA 52:1 Hỡi Xi-ôn hãy thức dậy, thức dậy! Hãy tỏ ra mạnh dạn! Hỡi thành thánh Giê-ru-sa-lem, hãy trở nên xinh đẹp lại. Những kẻ không chịu cắt dương bì, cùng những người ngoại quốc chẳng tinh sạch sẽ không được vào trong thành ngươi nữa.
ISA 52:2 Hỡi Giê-ru-sa-lem, trước kia ngươi là tù nhân, nay hãy phủi bụi và đứng dậy. Hỡi thành Xi-ôn, trước kia ngươi là tù nhân, Nay hãy cởi bỏ xiềng quanh cổ ngươi.
ISA 52:3 CHÚA phán như sau: “Vì ngươi bị bán mà không được trả đồng nào, nên ngươi sẽ được chuộc mà không tốn kém gì.”
ISA 52:4 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Ban đầu dân ta đi xuống Ai-cập để cư ngụ một thời gian. Sau đó A-xy-ri bắt chúng làm nô lệ.”
ISA 52:5 CHÚA phán, “Bây giờ hãy xem sự việc ra sao. Một dân khác đã cướp dân ta đi mà không tốn kém gì. Dân nầy là dân cai trị họ đã chế giễu ta. Suốt ngày chúng nói phạm đến ta.
ISA 52:6 Việc nầy xảy ra để dân ta biết ta là ai, và trong tương lai, họ sẽ biết ta là Đấng nói cùng họ. Đấng đó chính là ta.”
ISA 52:7 Người trèo qua các núi để rao tin mừng quả thật xinh đẹp, đó là người loan tin hoà bình và mang tin mừng, người loan báo sự cứu rỗi và bảo Xi-ôn rằng, “Thượng Đế ngươi là Vua.”
ISA 52:8 Hãy lắng nghe! Các lính canh ngươi đang hò hét. Tất cả bọn chúng đang reo hò! Chính mắt họ sẽ thấy khi CHÚA trở lại Xi-ôn.
ISA 52:9 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hiện nay các tòa nhà ngươi đang bị tiêu hủy, nhưng hãy reo vui lên, vì CHÚA đã an ủi dân Ngài. Ngài đã giải cứu Giê-ru-sa-lem.
ISA 52:10 CHÚA sẽ tỏ quyền năng thánh thiện của Ngài cho mọi dân tộc. Rồi mọi người trên đất sẽ thấy sự cứu rỗi của Thượng Đế chúng ta.
ISA 52:11 Hỡi các ngươi, hãy đi ra, đi ra; hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Đừng đụng đến những vật không sạch. Hỡi các ngươi là những kẻ mang các vật thánh dùng trong việc thờ phụng CHÚA, Hãy bỏ nơi đó và dọn mình cho sạch.
ISA 52:12 Các ngươi sẽ không phải bị buộc phải hấp tấp rời Ba-by-lôn; các ngươi sẽ không bị buộc phải bỏ chạy, vì CHÚA sẽ đi trước các ngươi, Thượng Đế của Ít-ra-en sẽ gìn giữ ngươi phía sau.
ISA 52:13 CHÚA phán, “Hãy xem, đầy tớ ta sẽ hành động khôn ngoan. Dân chúng sẽ tôn kính người.
ISA 52:14 Nhiều người sẽ sửng sốt khi nhìn thấy người. Diện mạo người thay đổi đến nỗi không giống con người nữa. Hình dạng người biến đổi đến nỗi họ không nhận ra người là con người nữa.
ISA 52:15 Nhưng nay người sẽ khiến các dân kinh ngạc. Các vua sẽ sửng sốt và câm miệng. Họ sẽ nhìn thấy những điều chưa ai nói với họ về người, và họ sẽ hiểu điều họ chưa hề nghe.”
ISA 53:1 Ai tin điều chúng ta nghe? Ai đã thấy quyền năng CHÚA trong điều ấy?
ISA 53:2 Người lớn lên như một cây non trước mặt CHÚA, như rễ đâm xuống đất khô. Người không có vẻ đẹp hay hình thể để chúng ta lưu ý đến; Trông người không có vẻ gì hấp dẫn đối với chúng ta.
ISA 53:3 Người bị dân tộc ghét bỏ. Người chịu nhiều đau đớn và khốn khổ. Dân chúng không thèm nhìn người. Người bị ghét, thậm chí chúng ta cũng không để ý đến người.
ISA 53:4 Nhưng người đã mang sự khốn khổ chúng ta trên mình và cảm biết sự đau đớn cho chúng ta. Chúng ta thấy sự khốn khổ người và tưởng rằng Thượng Đế trừng phạt người.
ISA 53:5 Nhưng người đã vì tội chúng ta mà mang thương tích; người bị đè bẹp vì điều ác chúng ta làm. Sự trừng phạt người chịu để chúng ta bình phục, và thương tích người mang khiến chúng ta được chữa lành.
ISA 53:6 Tất cả chúng ta đều như chiên lạc; ai đi đường nấy. Nhưng Thượng Đế đã đặt sự trừng phạt trên người về điều ác chúng ta làm.
ISA 53:7 Người bị đánh đập, nhưng không hề nói một lời. Người như chiên bị dắt đến chỗ làm thịt. Người im lặng như chiên đang bị hớt lông; người không hề mở miệng.
ISA 53:8 Người ta hung hăng mang người đi và đối xử bất công cùng người. Dân chúng của người không biết rằng người đã bị giết. Người bị xử tử vì tội lỗi của dân ta.
ISA 53:9 Người ta định chôn người chung với kẻ ác, nhưng người lại được chôn cất với kẻ giàu. Người không làm điều gì sai quấy, và không hề nói dối.
ISA 53:10 Nhưng chính CHÚA khiến cho người bị đè bẹp và làm cho người khốn khổ. CHÚA làm cho đời người như của lễ chuộc lỗi, nhưng người sẽ nhìn thấy dòng dõi mình và sẽ sống lâu. Người sẽ hoàn thành điều CHÚA muốn người làm.
ISA 53:11 “Sau khi người chịu nhiều khốn khổ, người sẽ thấy ánh sáng và thỏa mãn. Đầy tớ trung thành của ta sẽ phục hòa nhiều người lại với Thượng Đế; người sẽ gánh chịu sự trừng phạt của họ.
ISA 53:12 Vì thế ta sẽ khiến người trở thành vĩ nhân giữa vòng nhiều người, và người sẽ san sẻ nhiều điều với những kẻ mạnh. Người sẽ hi sinh mạng sống mình và bị đối xử như tên tội phạm. Nhưng người sẽ gánh tội lỗi của nhiều người và cầu xin sự tha thứ cho những kẻ phạm lỗi.”
ISA 54:1 CHÚA phán, “Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca lên. Ngươi như đàn bà hiếm con. Hãy ca hát và reo vui lên. Ngươi chưa hề biết đau đẻ, nhưng sẽ đông con hơn đàn bà có chồng.
ISA 54:2 Hãy nới rộng lều ngươi ra; hãy căng cho màn nó rộng thêm. Đừng để chật chội. Hãy nối thêm các dây cột và các cọc lều,
ISA 54:3 vì ngươi sẽ mở rộng bên phải và bên trái. Con cái ngươi sẽ chiếm đoạt các nước khác, Chúng sẽ lại ở trong các thành trước kia bị tiêu diệt.
ISA 54:4 Đừng sợ, vì ngươi sẽ không bị xấu hổ. Đừng e thẹn vì ngươi sẽ không bị sỉ nhục. Ngươi sẽ không còn nhớ điều nhục nhã của mình trước kia; Ngươi sẽ không còn nhớ điều nhơ nhuốc mình khi bị mất chồng.
ISA 54:5 Thượng Đế Đấng dựng nên ngươi là chồng ngươi, Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng. Đấng thánh của Ít-ra-en là Đấng Giải Cứu ngươi. Ngài được gọi là Thượng Đế trên khắp đất.
ISA 54:6 Ngươi trước kia như đàn bà bị chồng bỏ, âu sầu buồn bã. Ngươi như người đàn bà lấy chồng sớm rồi bị chồng ruồng bỏ. Nhưng CHÚA đã gọi ngươi thuộc riêng về Ngài,” Thượng Đế ngươi phán vậy.
ISA 54:7 Thượng Đế phán, “Ta đã bỏ ngươi một thời gian ngắn, nhưng vì lòng nhân từ lớn lao, ta sẽ mang ngươi trở về.
ISA 54:8 Ta đã nổi giận và ẩn mặt ta trong một thời gian, nhưng ta sẽ tỏ lòng từ bi đối với ngươi đời đời,” CHÚA là Đấng giải cứu ngươi phán vậy.
ISA 54:9 CHÚA phán, “Đối với ta hôm nay giống như thời Nô-ê. Ta hứa rằng sẽ không sai nước lụt đến trên đất nữa. Cũng vậy, ta hứa sẽ không nổi thịnh nộ với ngươi hay trừng phạt ngươi nữa.
ISA 54:10 Dù núi dời, dù đồi chuyển, nhưng tình yêu ta đối với ngươi sẽ không bao giờ dứt; lời hứa hòa bình của ta sẽ không bao giờ hết,” CHÚA là Đấng tỏ lòng từ bi cùng ngươi phán vậy.
ISA 54:11 Tội nghiệp cho thành ngươi. Bão tố đã làm thiệt hại ngươi, ngươi không được an ủi. Nhưng ta sẽ xây ngươi lại bằng cẩm thạch, và dựng nền ngươi lại bằng bích ngọc.
ISA 54:12 Ta sẽ dùng hồng ngọc xây tường ngươi, dùng ngọc lóng lánh nạm cửa, dùng ngọc quí bọc vách ngoài của ngươi.
ISA 54:13 Tất cả con cái ngươi sẽ được CHÚA dạy dỗ, chúng sẽ hưởng hòa bình.
ISA 54:14 Ta sẽ dùng sự công bình xây dựng ngươi. Ngươi sẽ không bị kẻ khác làm hại, nên không có gì phải sợ hãi. Không gì khiến ngươi lo sợ.
ISA 54:15 Ta sẽ không sai ai đến tấn công ngươi, ngươi sẽ đánh bại kẻ muốn tấn công mình.
ISA 54:16 “Nầy, ta làm ra người thợ rèn. Người quạt cho lửa nóng hơn, để chế ra dụng cụ mình cần. Cũng vậy ta làm ra kẻ hủy diệt để hủy diệt.
ISA 54:17 Cho nên không có vũ khí nào chống lại ngươi có thể thắng ngươi được. Ngươi sẽ chứng tỏ rằng những kẻ tố cáo ngươi là quấy. Đó là những điều tốt lành mà kẻ tôi tớ ta hưởng.” CHÚA phán vậy.
ISA 55:1 CHÚA phán, “Hỡi những ai khát hãy đến mà uống. Những kẻ không tiền, hãy đến mua thức ăn. Hãy đến mua rượu và sữa mà không cần tiền, không phải trả gì.
ISA 55:2 Sao các ngươi trả tiền mua món không phải thức ăn? Sao các ngươi làm lụng để lấy vật không thỏa mãn mình? Hãy nghe ta cho kỹ rồi ngươi sẽ ăn vật tốt lành; linh hồn ngươi sẽ vui hưởng cao lương mỹ vị.
ISA 55:3 Hãy đến nghe ta; hãy nghe ta để được sống. Ta sẽ lập một giao ước với các ngươi, một giao ước bền vững đời đời. Ta sẽ ban tình yêu bền chặt của ta cho Đa-vít.
ISA 55:4 Ta sẽ khiến Đa-vít làm chứng nhân về quyền năng ta cho các dân tộc, lập người làm lãnh đạo và chỉ huy nhiều dân.
ISA 55:5 Ngươi sẽ gọi những dân ngươi chưa hề biết. Các dân chưa biết ngươi sẽ chạy đến cùng ngươi vì ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi, vì Đấng Thánh của Ít-ra-en là Đấng tôn trọng ngươi.”
ISA 55:6 Cho nên hãy tìm kiếm CHÚA trước khi quá trễ; hãy kêu xin Ngài trong khi Ngài ở gần.
ISA 55:7 Kẻ ác hãy thôi làm ác, hãy trừ bỏ những tư tưởng xấu. Hãy trở về cùng CHÚA để Ngài tỏ lòng từ bi đối với họ. Hãy đến cùng Thượng Đế chúng ta, vì Ngài giàu lòng tha thứ.
ISA 55:8 CHÚA phán, “Tư tưởng ta không như tư tưởng các ngươi. Đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta.
ISA 55:9 Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu.
ISA 55:10 Như mưa và tuyết từ trời rơi xuống không trở lại cho đến khi đã thấm nhuần đất. Khiến cho cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, tạo ra hạt giống cho nông gia và bánh cho dân chúng.
ISA 55:11 Lời ta phán cũng vậy. Chúng sẽ không trở về với ta mà vô dụng, mà sẽ hoàn thành việc ta muốn, và thực hiện điều ta sai khiến chúng.
ISA 55:12 Cho nên các ngươi sẽ ra đi vui mừng và được dẫn đi trong hoà bình. Núi đồi sẽ ca hát trước mặt các ngươi, Cây cối trong đồng sẽ vỗ tay.
ISA 55:13 Cây tùng sẽ mọc lên thay cho gai gốc. Cây sim sẽ mọc thế chỗ cỏ dại. Chúng sẽ làm dấu hiệu về lời hứa CHÚA, một dấu hiệu đời đời về lòng nhân từ và quyền năng của Ngài, không bao giờ bị tiêu diệt.”
ISA 56:1 CHÚA phán như sau: “Hãy ban công lý cho mọi người, hãy làm điều phải, vì sự giải cứu của ta sẽ mau đến với ngươi. Mọi người sẽ sớm biết điều ta làm là đúng.
ISA 56:2 Ai vâng giữ luật lệ về ngày Sa-bát sẽ được phước, và kẻ không làm ác sẽ lãnh phúc lành.”
ISA 56:3 Người ngoại quốc nhập cùng CHÚA không nên nói, “CHÚA sẽ không chấp nhận tôi chung với dân Ngài.” Người hoạn không nên nói, “Tôi chỉ là cây khô, không thể có con.”
ISA 56:4 Đây là điều CHÚA phán: “Người hoạn cũng phải vâng giữ luật lệ về ngày Sa-bát làm điều ta muốn và giữ giao ước ta.
ISA 56:5 Nếu họ làm như thế, ta sẽ khiến tên họ được ghi nhớ mãi mãi trong đền thờ và vách của đền thờ ta. Điều đó còn tốt hơn là con cái. Ta sẽ lưu danh họ đời đời, không bao giờ bị quên lãng.
ISA 56:6 Người ngoại quốc sẽ nhập chung với CHÚA để thờ phụng và yêu mến Ngài, phục vụ Ngài, để giữ luật lệ ngày Sa-bát, và giữ giao ước ta.
ISA 56:7 Ta sẽ mang các dân nầy đến núi thánh ta và cho họ niềm vui trong nhà cầu nguyện của ta. Những của lễ và sinh tế họ đặt trên bàn thờ ta sẽ làm hài lòng ta, vì đền thờ ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân.”
ISA 56:8 CHÚA là Thượng Đế phán, tức Đấng qui tụ dân Ít-ra-en là dân đã bị đày ra khỏi xứ mình: “Ta sẽ mang các dân khác nhập chung với những dân đã được gom về.”
ISA 56:9 Hỡi tất cả các thú vật trong đồng, hỡi tất cả các muông thú trong rừng, hãy đến ăn.
ISA 56:10 Các lính canh bị mù loà; chúng không biết mình đang làm gì. Tất cả đều như chó câm không biết sủa. Chúng nằm xuống và chiêm bao, chỉ thích ngủ thôi.
ISA 56:11 Chúng như chó đói không bao giờ biết no. Chúng như kẻ chăn chiên không biết mình làm gì. Tất cả đều đi theo lối riêng; chỉ muốn thỏa mãn bản thân mình.
ISA 56:12 Chúng bảo, “Hãy cùng đến uống rượu; hãy uống say sưa. Ngày mai cũng như ngày hôm nay, hoặc có thể còn tuyệt hơn nữa.”
ISA 57:1 Những người đạo đức qua đời, nhưng không ai để ý. Những dân trung thành với Thượng Đế đã bị cất đi, nhưng không ai hiểu nguyên do tại sao. Họ được cất đi vì thời kỳ khó khăn sắp đến.
ISA 57:2 Nhưng hòa bình cũng đến nữa. Những kẻ tin cậy Thượng Đế sẽ tìm được sự an nghỉ trong cái chết.
ISA 57:3 “Hỡi các thuật sĩ, hãy đến đây! Hỡi các ngươi là con trai của gái điếm và những kẻ ngoại tình, cùng những kẻ dự phần vào việc gian dâm, hãy đến đây!
ISA 57:4 Các ngươi chế diễu ai? Các ngươi sỉ nhục ai? Các ngươi thè lưỡi ra chọc ghẹo ai? Các ngươi là dòng dõi phản nghịch và dối trá.
ISA 57:5 Các ngươi hành lạc dưới mỗi cây xanh để thờ lạy thần các ngươi. Các ngươi giết con cái mình dưới hố và dâng chúng nó dưới hố, giữa các tảng đá.
ISA 57:6 Ngươi nhận lấy các tảng đá láng bóng dưới hố cho mình. Ngươi đổ của lễ uống trên các thần đó để thờ phụng chúng, Ngươi dâng của lễ chay cho chúng. Làm như thế mà các ngươi mong ta tỏ lòng từ bi với ngươi sao?
ISA 57:7 Ngươi dọn giường mình trên mỗi đồi núi, rồi dâng sinh tế ở những nơi đó.
ISA 57:8 Ngươi giấu các thần tượng mình bên sau cánh cửa và cột cửa. Ngươi lìa bỏ ta, và tự lột trần truồng mình. Ngươi kéo tấm khăn trải giường rồi trèo lên giường. Ngươi trao thân mình cho chúng, và ngươi thích nhìn thấy thân thể trần truồng của chúng.
ISA 57:9 Ngươi đổ đầu và xức nước hoa dọn mình cho Mô-léc. Ngươi đã sai sứ đến các nơi xa xôi; đến nỗi ngươi sai họ đến chỗ người chết ở.
ISA 57:10 Ngươi chán ngấy những chuyện đó, nhưng ngươi không chịu chấm dứt. Ngươi tìm được sức mới, nên ngươi không chịu dừng.
ISA 57:11 Ngươi sợ ai mà phải nói dối với ta? Ngươi không còn nhớ ta, cũng chẳng thèm suy nghĩ đến ta. Từ lâu nay ta im lặng. Có phải vì vậy mà ngươi không sợ ta chăng?
ISA 57:12 Ta sẽ cho ngươi biết cái ‘nhân từ’ trong hành vi của ngươi, những điều không ích lợi gì cho ngươi.
ISA 57:13 Khi ngươi kêu cứu, thì hãy để các thần mà ngươi gom góp đến giúp ngươi đi. Gió sẽ thổi bay chúng nó; Một luồng gió thoảng cũng đủ mang chúng nó đi. Nhưng ai trông cậy ta sẽ được hưởng đất đai, và làm chủ núi thánh ta.”
ISA 57:14 Có kẻ bảo, “Hãy đắp đường! Hãy làm đường! Chuẩn bị lối đi! Hãy dọn đường thật sạch cho dân ta đi.”
ISA 57:15 Lý do như sau: Thượng Đế là Đấng Thánh và sống đời đời. Ngài được tôn cao. Ngài phán, “Ta ngự ở một nơi cao và thánh, nhưng ta sống cùng với những kẻ buồn bã và khiêm tốn. Ta ban sự sống mới cho những kẻ khiêm tốn và những kẻ có tâm hồn tan vỡ.
ISA 57:16 Ta sẽ không truy tố các ngươi đến đời đời, cũng sẽ không giận đến mãi mãi, vì nếu thế mạng sống con người sẽ suy yếu. Loài người do ta dựng nên sẽ chết.
ISA 57:17 Ta nổi giận vì chúng kiếm tiền kiểu bất lương, Ta trừng phạt chúng và tức giận quay mặt khỏi chúng. Nhưng chúng tiếp tục làm ác.
ISA 57:18 Ta đã thấy điều chúng làm nhưng ta sẽ chữa lành chúng. Ta sẽ hướng dẫn, an ủi chúng cùng những kẻ than khóc chúng. Mọi người sẽ ca ngợi ta.
ISA 57:19 Ta sẽ ban hoà bình, một nền hòa bình chân chính cho những kẻ ở xa và gần, ta sẽ chữa lành chúng,” CHÚA phán vậy.
ISA 57:20 Nhưng kẻ ác giống như biển động, không thể an nghỉ, các lượn sóng nó chỉ mang rác rưởi và bùn dơ.
ISA 57:21 Thượng Đế của ta phán, “Kẻ ác sẽ không bao giờ có bình an.”
ISA 58:1 CHÚA phán, “Hãy la lớn lên, đừng im lặng. Hãy kêu lớn lên như kèn. Hãy cho dân ta biết điều họ đã làm nghịch lại Thượng Đế mình; Hãy nói cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi họ.
ISA 58:2 Hằng ngày họ đến tìm kiếm ta muốn học hỏi đường lối ta. Họ hành động như một dân biết làm điều phải, biết vâng theo mệnh lệnh của Thượng Đế mình. Họ xin ta phân xử công bằng cho họ. Họ muốn Thượng Đế ở gần mình.
ISA 58:3 Họ bảo, ‘Chúng tôi có những ngày cữ ăn đặc biệt để tôn kính Ngài, nhưng Ngài không thấy. Chúng tôi đã hạ mình xuống để tôn kính Ngài, nhưng Ngài không để ý.’” Nhưng CHÚA phán, “Trong những ngày đó các ngươi chỉ muốn làm vừa lòng mình, các ngươi áp bức người làm công.
ISA 58:4 Trong những ngày đặc biệt khi cữ ăn, ngươi cãi vã và đánh nhau. Ngươi không thể làm như thế mà tin rằng lời cầu nguyện của mình sẽ được nghe trên thiên đàng.
ISA 58:5 Ta không cần ngày đặc biệt như thế. Đó không phải là cách ăn năn mà ta muốn dân ta làm. Ta không muốn họ chỉ cúi đầu vâng dạ như cây non và mặc vải sô, nằm trong tro để tỏ dấu buồn rầu. Đó là điều ngươi làm trong ngày ngươi cữ ăn, nhưng đó có phải là điều CHÚA muốn không?
ISA 58:6 Ta sẽ cho ngươi biết về ngày đặc biệt mà ta muốn: Hãy giải thoát kẻ bị cầm tù bất công cởi trói cho họ. Hãy trả tự do cho những kẻ ngươi đối xử bất công và giải thoát những người làm xâu.
ISA 58:7 Hãy san sẻ thức ăn với kẻ đói, mang những kẻ nghèo khổ, vô gia cư về nhà mình. Hãy mặc cho kẻ không áo quần, và đừng từ chối không giúp đỡ thân quyến mình,
ISA 58:8 thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu như ánh bình minh, và vết thương ngươi sẽ lành lặn mau chóng. Thượng Đế ngươi sẽ đi trước ngươi, và vinh hiển CHÚA sẽ bảo vệ phía sau ngươi.
ISA 58:9 Khi ngươi kêu thì CHÚA sẽ đáp lời. Ngươi kêu lớn Ngài sẽ đáp, ‘Có ta đây.’ Nếu ngươi đừng bắt kẻ khác làm xâu, nếu ngươi thôi tố cáo hay nói xấu lẫn nhau,
ISA 58:10 nếu ngươi ban thức ăn cho người đói và chăm sóc những kẻ gặp khốn khó thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu trong tối tăm, và ngươi sẽ chiếu sáng như ánh mặt trời giữa trưa.
ISA 58:11 CHÚA sẽ luôn luôn hướng dẫn ngươi. Ngài sẽ thỏa mãn nhu cầu ngươi trong đất khô và ban sức mạnh cho xương cốt ngươi. Ngươi sẽ như vườn đủ nước, như suối không bao giờ cạn.
ISA 58:12 Ngươi sẽ xây dựng lại các thành cũ hiện đang đổ nát, sẽ dựng lại nền chúng. Ngươi sẽ nổi danh sửa chữa những nơi hư hỏng và tái thiết đường sá cùng nhà cửa.
ISA 58:13 Ngươi phải vâng giữ luật lệ của Thượng Đế về ngày Sa-bát không tìm cách làm vừa lòng mình trong ngày thánh đó. Ngươi hãy gọi ngày Sa-bát là ngày vui mừng và tôn kính ngày đó như ngày thánh của CHÚA. Ngươi phải tôn trọng ngày đó bằng cách cữ làm điều mình thích, kiêng nói điều mình muốn nói trong ngày đó
ISA 58:14 thì ngươi sẽ tìm được niềm vui trong CHÚA. Ta sẽ mang ngươi đến những núi cao nhất, cho ngươi ăn hoa quả của đất mà ta đã cấp cho tổ tiên ngươi là Gia-cốp.” CHÚA phán vậy.
ISA 59:1 Quyền năng CHÚA đủ giải cứu ngươi. Ngài có thể nghe ngươi khi ngươi kêu cầu.
ISA 59:2 Nhưng chính điều ác ngươi phân cách ngươi khỏi Thượng Đế mình. Tội lỗi ngươi khiến Ngài quay mặt khỏi ngươi, để không nghe ngươi nữa.
ISA 59:3 Tay ngươi đã giết kẻ khác, ngón tay ngươi đã làm bậy. Môi miệng ngươi nói dối, và lưỡi ngươi nói điều ác.
ISA 59:4 Người nầy thưa kiện người khác một cách bất công, không ai nói thật khi trình bày phần mình. Ai nấy đặt điều tố cáo nhau bằng lời giả dối. Chúng gây chuyện và tạo ra thêm điều ác.
ISA 59:5 Chúng ấp điều ác như ấp trứng rắn độc. Ai ăn nhằm một trong các trứng đó sẽ chết, còn nếu ai đập trứng đó thì một con rắn độc sẽ chui ra. Chúng nói dối như thể dệt mạng nhện.
ISA 59:6 Mạng nhện chúng nó dệt không thể dùng may áo quần; không thể dùng mạng đó để che thân được. Những việc chúng làm là ác, chúng dùng tay mình để hại người khác.
ISA 59:7 Chúng hăng hái chạy làm điều ác, và sẵn sàng giết hại người vô tội. Chúng chỉ tơ tưởng điều ác. Nơi nào chúng đặt chân đến cũng gây hư hại và hủy phá.
ISA 59:8 Chúng không biết sống hòa bình là gì, trong đời chúng không biết làm điều phải. Chúng bất lương. Những ai sống như chúng sẽ không bao giờ có hòa bình.
ISA 59:9 Lẽ phải cách xa chúng; sự công chính đã biến mất. Chúng ta chờ đợi ánh sáng nhưng chỉ thấy bóng tối. Chúng ta mong ánh sáng chói lọi nhưng chỉ thấy mù mịt.
ISA 59:10 Chúng ta như người mù lần mò theo vách tường, dò dẫm như không có mắt. Giữa ánh nắng ban ngày mà chúng ta vấp ngã như thể ban đêm, như người chết giữa những kẻ mạnh khoẻ,
ISA 59:11 Chúng ta gầm gừ như gấu, gù gù than vãn như bồ câu. Chúng ta tìm công lý nhưng chẳng thấy đâu, mong được cứu nhưng sự cứu rỗi lánh xa.
ISA 59:12 Chúng ta đã phạm nhiều lỗi lầm đối với Thượng Đế; tội lỗi chúng ta chứng tỏ chúng ta sai quấy. Chúng ta biết mình đã nghịch lại Thượng Đế; chúng ta biết những việc ác mình làm:
ISA 59:13 tức phạm tội và gạt bỏ CHÚA, quay khỏi Thượng Đế mình, âm mưu hại người khác và bất vâng phục Thượng Đế, âm mưu và nói dối.
ISA 59:14 Cho nên chúng ta đã xua đuổi công lý, không cho lẽ phải đến gần. Nơi phố chợ không thấy nói đến sự thật; điều thanh liêm không được phép đặt chân vào thành.
ISA 59:15 Không ai thấy chân lý đâu cả, và ai không chịu làm điều ác thì bị tấn công. CHÚA nhìn và không thấy công lý đâu, nên Ngài rất bất bình.
ISA 59:16 Ngài không tìm được ai để giúp dân chúng, và hết sức sửng sốt vì không thấy ai giúp đỡ. Nên Ngài dùng quyền năng mình để giải cứu dân chúng; sự công chính của Ngài ban thêm sức cho Ngài.
ISA 59:17 Ngài dùng sự công chính bảo vệ mình như áo giáp. Ngài đội mũ sắt cứu rỗi trên đầu. Mặc áo quần của sự trừng phạt và quấn mình trong chiếc áo của tình yêu sâu đậm của Ngài.
ISA 59:18 CHÚA sẽ báo trả kẻ thù Ngài về những điều chúng làm. Tỏ cơn thịnh nộ Ngài đối với những kẻ chống nghịch; trừng phạt những dân cư ở xa cho đáng tội chúng.
ISA 59:19 Rồi dân từ phương Tây sẽ kinh hãi CHÚA, và dân phương Đông sẽ tôn trọng vinh hiển Ngài. CHÚA sẽ đến mau chóng như sông chảy cuồn cuộn, được đưa đẩy bằng hơi thở của CHÚA.
ISA 59:20 “Rồi một Đấng Cứu Rỗi sẽ đến Xi-ôn để cứu dân Gia-cốp là những kẻ đã quay khỏi tội lỗi,” CHÚA phán vậy.
ISA 59:21 CHÚA phán, “Đây là giao ước của ta đối với dân nầy: Thần linh và lời phán của ta ban cho các ngươi sẽ không bao giờ rời bỏ ngươi, con cái và dòng dõi ngươi.”
ISA 60:1 “Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy đứng lên và chiếu sáng, vì vinh hiển ngươi đã đến, và vinh quang CHÚA chiếu trên ngươi.
ISA 60:2 Hiện nay bóng tối che phủ đất; bóng tối dày đặc bao trùm dân cư nó. Nhưng CHÚA chiếu sáng ngươi, và dân chúng sẽ thấy vinh hiển bao quanh ngươi.
ISA 60:3 Các dân sẽ đến với ánh sáng ngươi; các vua sẽ đến với ánh bình minh của ngươi.
ISA 60:4 Hãy nhìn quanh ngươi. Dân chúng đang tụ họp và đến cùng ngươi. Các con trai ngươi đang từ xa đến, và các con gái ngươi cùng đến với chúng.
ISA 60:5 Khi ngươi nhìn thấy chúng, ngươi sẽ mừng rỡ; ngươi sẽ thích thú và hớn hở, vì của cải các dân bên kia biển sẽ được trao cho ngươi; sự giàu có của các dân tộc sẽ đến cùng ngươi.
ISA 60:6 Các bầy lạc đà sẽ phủ khắp xứ ngươi, các lạc đà con từ Mi-đi-an và Ê-pha. Dân chúng từ Sê-ba đến mang vàng và trầm hương, họ sẽ ca ngợi CHÚA.
ISA 60:7 Các bầy chiên từ Kê-đa sẽ được ban cho ngươi; bầy chiên từ Nê-bai-giốt sẽ được mang đến cho ngươi. Chúng sẽ làm sinh tế đẹp lòng ta trên bàn thờ ta, và ta sẽ khiến cho đền thờ ta vốn xinh đẹp càng thêm xinh đẹp.
ISA 60:8 Dân chúng sẽ trở về cùng ngươi như đám mây, như bồ câu bay về tổ.
ISA 60:9 Dân chúng từ các xứ xa xôi đang chờ đợi ta. Các thương thuyền lớn sẽ đến trước, chở các con cái ngươi về từ các xứ xa xôi, mang bạc vàng theo chúng. Để tôn kính CHÚA là Thượng Đế ngươi, tức Đấng Thánh của Ít-ra-en, Đấng làm những điều kỳ diệu cho ngươi.
ISA 60:10 Hỡi Giê-ru-sa-lem, người ngoại quốc sẽ xây lại tường ngươi, các vua chúng sẽ phục vụ ngươi. Trước đây khi ta giận, ta đã làm tổn thương ngươi, Nhưng nay ta muốn tỏ lòng nhân từ cùng ngươi và an ủi ngươi.
ISA 60:11 Các cổng ngươi sẽ luôn luôn mở rộng; dù ngày hay đêm không bao giờ đóng để cho các dân mang của cải đến cho ngươi, và các vua chúng sẽ được dẫn đến cùng ngươi.
ISA 60:12 Dân nào hay nước nào không phục vụ ngươi sẽ bị tiêu diệt; bị tàn phá hoàn toàn.
ISA 60:13 Các cây cối quí báu của Li-băng sẽ được ban cho ngươi: cây thông, cây tùng, và cây bách. Ngươi sẽ dùng chúng để xây đền thờ đẹp đẽ của ta, và ta sẽ ban vinh dự cho nơi nầy là nơi làm bệ chân ta.
ISA 60:14 Người nào đã từng làm hại ngươi sẽ cúi đầu trước mặt ngươi; kẻ ghét ngươi sẽ phủ phục dưới chân ngươi. Chúng sẽ gọi ngươi là Thành của CHÚA, tức Xi-ôn, thành của Đấng Thánh của Ít-ra-en.
ISA 60:15 Trước đây ngươi bị ghét và hoang phế không ai thèm qua lại. Nhưng từ nay về sau ta sẽ khiến ngươi trở nên nổi danh; Ngươi sẽ là nơi hạnh phúc đời đời.
ISA 60:16 Ngươi sẽ nhận được những gì mình cần từ các dân và các vua của chúng, như đứa bé bú sữa mẹ nó. Rồi ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA Đấng giải cứu ngươi. Ngươi sẽ biết rằng Đấng Toàn Năng của Gia-cốp bảo vệ ngươi.
ISA 60:17 Ta sẽ mang cho ngươi vàng thay vì đồng, bạc thay vì sắt, đồng thay vì gỗ, sắt thay vì đá. Ta sẽ biến sự trừng phạt ngươi ra hòa bình, và ngươi sẽ được lẽ phải cai trị.
ISA 60:18 Trong xứ ngươi sẽ không có sự bạo ngược nữa; xứ ngươi sẽ không bị tàn hại hay hủy diệt. Ngươi sẽ gọi tường lũy ngươi là Cứu rỗi và gọi cổng là Ca ngợi.
ISA 60:19 Ngươi sẽ không cần mặt trời ban ngày và ánh trăng ban đêm nữa, vì CHÚA sẽ làm ánh sáng đời đời cho ngươi, và Thượng Đế sẽ là vinh hiển ngươi.
ISA 60:20 Mặt trời sẽ không bao giờ lặn, mặt trăng sẽ không bao giờ bị mờ tối, vì CHÚA sẽ làm ánh sáng đời đời cho ngươi, và thời gian sầu thảm của ngươi sẽ chấm dứt.
ISA 60:21 Tất cả dân cư ngươi sẽ làm theo lẽ phải. Họ sẽ hưởng được đất đời đời. Họ sẽ như cây non ta trồng trong vườn ta, Là kỳ công của tay ta để tỏ ra sự cao cả ta.
ISA 60:22 Gia đình nhỏ nhất sẽ lớn thành hàng ngàn người. Kẻ thấp kém nhất trong ngươi cũng sẽ trở thành một dân tộc hùng cường. Ta là CHÚA, và đến kỳ, ta sẽ khiến những điều nầy xảy ra nhanh chóng.”
ISA 61:1 CHÚA đã đặt thần linh Ngài trong ta, vì Ngài đã chỉ định ta rao tin mừng cho kẻ nghèo. Ngài sai ta đi an ủi những kẻ có tâm hồn tan vỡ, để loan tin giải phóng cho những kẻ bị cầm tù, để báo cho họ biết rằng họ đã được tự do.
ISA 61:2 Ngài sai ta loan báo thời kỳ CHÚA sẽ tỏ lòng nhân từ Ngài lúc Ngài sẽ trừng phạt kẻ ác. Ngài sai ta đến an ủi kẻ buồn rầu
ISA 61:3 và giúp người sầu thảm trong Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ đội mão triều cho họ thay vì tro, và xức dầu vui mừng thay vì sầu thảm, và mặc cho họ sự ca ngợi thay vì lòng buồn bực. Rồi họ sẽ được gọi là Cây Nhân Từ, cây được CHÚA trồng để tỏ sự cao cả Ngài.
ISA 61:4 Họ sẽ xây lại nơi đổ nát và phục hồi lại những nơi bị tiêu hủy xưa kia. Họ sẽ tái thiết những thành bị điêu tàn những nơi bị tiêu hủy quá lâu.
ISA 61:5 Hỡi dân ta, các kẻ thù ngươi sẽ chăn chiên cho ngươi. Con cái chúng sẽ chăm sóc đồng ruộng và vườn nho ngươi.
ISA 61:6 Ngươi sẽ được gọi là thầy tế lễ của CHÚA; là đầy tớ của Thượng Đế chúng ta. Ngươi sẽ hưởng giàu sang từ các dân trên đất, và ngươi sẽ kiêu hãnh vì các của cải giàu sang đó.
ISA 61:7 Thay vì xấu hổ, dân ta sẽ nhận được của cải gấp hai. Thay vì hổ nhục, họ sẽ vui mừng vì nhận được của cải đó. Họ sẽ nhận được gấp đôi phần đất để niềm vui họ kéo dài mãi mãi.
ISA 61:8 “Ta, CHÚA, yêu công lý. Ta ghét trộm cắp và mọi điều sai quấy. Ta sẽ rất công bình và ban cho dân ta điều thuộc về họ, và sẽ lập giao ước với họ, giao ước đời đời.
ISA 61:9 Các dân sẽ biết con cái của dân ta, con cái của họ sẽ được các dân biết đến. Ai nhìn thấy chúng cũng sẽ biết rằng chúng là dân được CHÚA ban phước.”
ISA 61:10 CHÚA khiến ta vui mừng; và linh hồn ta hớn hở trong Thượng Đế ta. Ngài đã mặc cho ta quần áo cứu rỗi và áo dài công chính, như chàng rể ăn mặc cho lễ cưới mình, như nàng dâu trang sức bằng châu báu.
ISA 61:11 Đất khiến cây cối mọc lên, vườn khiến hột nẩy mầm. Cũng vậy CHÚA là Thượng Đế sẽ khiến sự công chính và sự ca ngợi đến từ các dân.
ISA 62:1 Vì ta yêu núi Xi-ôn nên ta sẽ nói luôn về nó; vì cớ Giê-ru-sa-lem cho nên ta sẽ không bao giờ ngưng nói cho đến khi sự công chính nó tỏa sáng rực rỡ, đến khi sự cứu rỗi nó rực lên như ánh lửa.
ISA 62:2 Hỡi Giê-ru-sa-lem, các dân sẽ thấy sự nhân từ ngươi, các vua sẽ thấy vinh hiển ngươi. Ngươi sẽ mang một tên mới, do chính Thượng Đế ban cho.
ISA 62:3 Ngươi sẽ như mão triều xinh đẹp trong tay Chúa, như mão triều của vua trong tay Thượng Đế.
ISA 62:4 Ngươi sẽ không còn bị gọi là dân bị Thượng Đế ruồng bỏ, xứ ngươi cũng không còn bị gọi là đất bị Thượng Đế hủy diệt. Ngươi sẽ được gọi là Dân được Thượng Đế Yêu mến, xứ ngươi sẽ được gọi là Cô Dâu của Thượng Đế, vì CHÚA yêu ngươi. Xứ ngươi sẽ thuộc về Ngài như cô dâu thuộc về chồng mình.
ISA 62:5 Như thanh niên cưới thiếu nữ, Thượng Đế, Đấng nâng đỡ ngươi sẽ cưới ngươi. Chồng vui mừng về vợ mới mình ra sao, Thượng Đế cũng sẽ vui mừng về ngươi như thế.
ISA 62:6 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta đã đặt lính canh trên tường thành để trông chừng. Ngày đêm họ không được im lặng. Các ngươi là những kẻ nhắc nhở CHÚA về nhu cầu mình trong khi cầu nguyện đừng bao giờ im lặng.
ISA 62:7 Hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi Ngài tái thiết Giê-ru-sa-lem, và khiến nó trở nên một thành mà muôn dân ca ngợi.
ISA 62:8 CHÚA đã hứa, và dùng quyền năng mình giữ lời hứa đó. Ngài phán, “Ta sẽ không bao giờ ban ngũ cốc của ngươi làm thực phẩm cho kẻ thù ngươi. Cũng sẽ không để kẻ thù ngươi uống rượu mới do tay ngươi làm.
ISA 62:9 Ai thu góp thực phẩm sẽ ăn nó, người đó sẽ ca ngợi CHÚA. Ai hái nho sẽ uống rượu trong sảnh đường của đền thờ ta.”
ISA 62:10 Hãy đi qua, qua các cổng! Hãy dọn đường cho dân ta. Hãy đắp, hãy đắp đường! Hãy dọn sạch đá khỏi đường cái. Hãy giương cờ lên làm dấu hiệu cho dân ta.
ISA 62:11 CHÚA phán cùng dân chúng các xứ xa xôi: “Hãy bảo dân Xi-ôn, ‘Nầy, Cứu Chúa ngươi đang đến. Ngài mang phần thưởng cho ngươi; và thù lao theo Ngài.’”
ISA 62:12 Dân Ngài sẽ được gọi là Dân Thánh, Dân Được Cứu của CHÚA. Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là: Thành Thượng Đế Muốn, Thành được Ngài Ngự.
ISA 63:1 Người đang đến từ Ê-đôm, từ thành Bốt-ra, mặc áo quần đỏ rực là ai? Ai ăn mặc áo quần sang trọng và đi tới hiên ngang cùng với quyền năng mình? Ngài phán, “Ta nói ra lẽ phải. Ta có quyền cứu ngươi.”
ISA 63:2 Có người hỏi, “Sao áo quần ngươi đỏ tươi như thể ngươi đã dẫm lên trái nho làm rượu?”
ISA 63:3 Ngài đáp, “Chỉ một mình ta dẫm lên bàn ép rượu, không ai trong các dân giúp ta. Ta nổi giận và dẫm lên các dân, và chà đạp họ trong cơn giận ta. Máu vấy lên quần áo ta, làm hoen ố y phục ta.
ISA 63:4 Ta đã chọn một thời điểm để báo thù, và ta mang sự giải cứu đến với ta.
ISA 63:5 Ta nhìn quanh nhưng không thấy ai đến giúp ta. Ta sửng sốt vì không ai yểm trợ ta. Cho nên ta dùng quyền năng mình để giải cứu dân ta; sự tức giận ta yểm trợ ta.
ISA 63:6 Trong khi ta nổi giận, ta dẫm lên các dân. Trong cơn giận ta trừng phạt họ, đổ máu họ xuống đất.”
ISA 63:7 Tôi sẽ thuật lại lòng nhân từ CHÚA và ca ngợi Ngài về những việc Ngài làm. Tôi sẽ ca ngợi CHÚA về những việc tốt lành Ngài làm cho chúng ta và lòng nhân từ Ngài đối cùng dân Ít-ra-en. Ngài đã tỏ lòng từ bi lớn lao cho chúng ta và rất nhân từ đối với chúng ta.
ISA 63:8 Ngài phán, “Đây là dân ta; con cái ta sẽ không nói dối với ta.” Nên Ngài giải cứu chúng.
ISA 63:9 Khi chúng bị khốn khổ, Ngài cũng chịu khốn khổ. Ngài sai thiên sứ đến giải cứu chúng. Vì lòng yêu thương và nhân từ, Ngài giải cứu chúng. Từ lâu Ngài đã nâng đỡ và bồng ẵm chúng.
ISA 63:10 Nhưng chúng chống nghịch Ngài làm buồn Thánh Linh Ngài. Nên Ngài trở thành thù nghịch chúng, và đánh lại chúng.
ISA 63:11 Nhưng rồi dân Ngài nhớ lại chuyện xưa, thuở mà Mô-se và dân Ít-ra-en ở với Ngài. CHÚA, Đấng đã mang dân mình qua biển cả, cùng với các cấp lãnh đạo của dân chúng đâu rồi? Đấng đặt Thánh Linh ở giữa họ,
ISA 63:12 nắm tay phải dắt Mô-se, bằng quyền năng kỳ diệu, rẽ nước ra trước mặt họ để nổi danh mãi mãi,
ISA 63:13 là Đấng đã dẫn dân chúng qua nước sâu đâu rồi? Như ngựa đi qua sa mạc, dân chúng không bị vấp ngã.
ISA 63:14 Như trâu bò đi xuống thung lũng, Thần Linh của CHÚA ban cho dân chúng một nơi an nghỉ. Lạy CHÚA, đó là cách Ngài dẫn dắt dân Ngài, vì thế mà Ngài nổi danh lạ lùng.
ISA 63:15 Lạy Chúa, xin hãy từ trời nhìn xuống, xin hãy nhìn chúng tôi từ nơi ở cao cả và thánh khiết của Ngài trên trời. Tình yêu lớn lao và quyền năng Ngài đâu rồi? Sao CHÚA cất tình yêu và lòng từ bi Ngài khỏi chúng tôi?
ISA 63:16 Ngài là cha chúng tôi. Áp-ra-ham không biết chúng tôi là con cháu người, còn Ít-ra-en cũng không nhận ra chúng tôi. Lạy Chúa, Ngài là cha chúng tôi. Ngài được gọi là “Đấng từ xưa nay vẫn giải cứu chúng tôi.”
ISA 63:17 Lạy CHÚA, sao Ngài khiến chúng tôi đi lầm lạc khỏi đường lối Ngài? Sao Ngài làm cho chúng tôi ương ngạnh đến nỗi chúng tôi không tôn kính Ngài? Vì cớ chúng tôi xin hãy trở lại cùng chúng tôi, kẻ tôi tớ CHÚA thuộc về Ngài.
ISA 63:18 Dân Ngài có được đất đai trong một thời gian, rồi bây giờ kẻ thù đến chà đạp nơi thánh Ngài.
ISA 63:19 Chúng tôi trở thành như dân chưa hề được Ngài cai trị, như những kẻ chưa hề mang danh Ngài.
ISA 64:1 Xin hãy xé các từng trời và ngự xuống đất để núi non rung chuyển trước mặt Ngài.
ISA 64:2 Như lửa đốt nhánh cây, như lửa nấu sôi nước, xin hãy cho các kẻ thù biết Ngài là ai. Rồi các dân sẽ run sợ khi nhìn thấy Ngài.
ISA 64:3 Ngài đã làm nhiều việc diệu kỳ chúng tôi không ngờ tới. Ngài ngự xuống thì núi non liền rung chuyển trước mặt Ngài.
ISA 64:4 Xưa nay chưa hề ai nghe một Thượng Đế nào giống như Ngài. Chưa hề ai thấy một Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, là Đấng giúp đỡ người tin cậy Ngài.
ISA 64:5 Ngài giúp người thích làm điều thiện, giúp người nhớ lại cách Ngài muốn họ sống. Nhưng Ngài nổi giận vì chúng tôi phạm tội. Trong một thời gian lâu chúng tôi đã bất vâng phục, cho nên làm sao chúng tôi được giải cứu?
ISA 64:6 Tất cả chúng tôi bị nhớp nhúa vì tội lỗi. Những việc lành chúng tôi như áo dơ. Tất cả chúng tôi như lá cây khô, tội lỗi chúng tôi như gió thổi mang chúng tôi đi.
ISA 64:7 Không ai thờ phụng Ngài hay nài xin Ngài giúp chúng tôi. Vì Ngài đã quay mặt khỏi chúng tôi và để cho tội lỗi tiêu diệt chúng tôi.
ISA 64:8 Nhưng lạy CHÚA, Ngài là cha chúng tôi. Chúng tôi như đất sét, Ngài là thợ gốm; Tay Ngài đã tạo nên chúng tôi.
ISA 64:9 Lạy CHÚA, xin đừng mãi nổi giận cùng chúng tôi; xin đừng ghi nhớ tội lỗi chúng tôi đến đời đời. Xin hãy đoái đến chúng tôi, vì chúng tôi là dân sự Ngài.
ISA 64:10 Các thành thánh của Ngài bị hoang vắng như sa mạc. Xi-ôn như đồng hoang; Giê-ru-sa-lem bị tiêu diệt.
ISA 64:11 Tổ tiên chúng tôi thờ phụng Ngài trong đền thờ thánh của chúng tôi, nhưng nay nó đã bị lửa thiêu đốt, mọi vật quí của chúng tôi đã bị tiêu hủy.
ISA 64:12 Khi Ngài nhìn thấy những điều nầy, mà Ngài vẫn không chịu cứu giúp chúng tôi sao? Lạy CHÚA, Ngài sẽ im lặng và trừng phạt chúng tôi mãi sao?
ISA 65:1 CHÚA phán, “Ta đã tỏ mình cho những người không tìm kiếm ta. Những kẻ không xin ta cứu giúp thì đã tìm được ta. Ta phán, ‘Ta đây. Ta đây,’ cùng một dân không cầu nguyện cùng ta.
ISA 65:2 Suốt ngày ta chịu đựng một dân chống nghịch ta, nhưng lối sống của chúng không tốt đẹp; chúng hành động theo ý muốn mình.
ISA 65:3 Ngay trước mặt ta chúng vẫn làm những điều chọc giận ta. Chúng dâng sinh tế cho các thần ngay trong vườn mình, và đốt hương trên các bàn thờ bằng gạch.
ISA 65:4 Chúng ngồi giữa mồ mả và suốt đêm ngồi chờ người chết lên tiếng. Chúng ăn thịt heo, và nồi niêu chúng đầy thịt không tinh sạch.
ISA 65:5 Nhưng chúng bảo kẻ khác, ‘Hãy xê ra, đừng đến gần ta. Ta quá thánh khiết so với ngươi.’ Dân nầy như khói trong lỗ mũi ta. Như lửa cháy mãi, chúng cứ chọc giận ta hoài.
ISA 65:6 Nầy, việc đó đã được ghi tại đây trước mặt ta. Ta sẽ không im lặng; ta sẽ đền đáp ngươi đúng mức. Ta sẽ trừng phạt ngươi về điều ngươi làm.
ISA 65:7 Ta sẽ trừng phạt ngươi vì tội lỗi ngươi và tội lỗi của tổ tiên ngươi,” CHÚA phán vậy. “Chúng đốt hương cho các thần trên núi và làm nhục ta trên các đồi núi đó. Cho nên ta sẽ trừng phạt chúng cho xứng với tội lỗi chúng làm.”
ISA 65:8 CHÚA phán như sau: “Khi trái nho còn nước, người ta bảo ‘Đừng ném bỏ, vì còn dùng được.’” Cho nên ta cũng sẽ đối với các đầy tớ như vậy: Ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt chúng.
ISA 65:9 Ta sẽ để lại một số con cái của Gia-cốp, và một số người trong Giu-đa sẽ nhận núi của ta. Ta sẽ chọn dân sống ở đó; các đầy tớ ta sẽ định cư nơi đó.
ISA 65:10 Rồi Bình nguyên Sa-rôn sẽ làm đồng cỏ cho gia súc, và Thung lũng A-cô sẽ là nơi cho các bầy gia súc nghỉ ngơi. Chúng sẽ là nơi dành cho những kẻ muốn theo ta.
ISA 65:11 “Nhưng riêng về phần các ngươi là những kẻ đã lìa bỏ CHÚA, những kẻ đã quên núi thánh ta, những kẻ thờ thần May Mắn, những kẻ giữ lễ cho thần Định Mạng.
ISA 65:12 Chính ta định phần số cho ngươi, ta sẽ dùng gươm trừng phạt ngươi. Tất cả các ngươi đều sẽ bị giết, vì khi ta kêu các ngươi không thèm trả lời. Ta nói nhưng các ngươi không thèm nghe. Các ngươi làm điều ác và làm những việc ta ghét.”
ISA 65:13 Nên CHÚA phán như sau: “Các đầy tớ ta sẽ ăn, nhưng các ngươi là những kẻ gian ác sẽ đói. Các đầy tớ ta sẽ uống, nhưng các ngươi là những kẻ gian ác sẽ khát. Các đầy tớ ta sẽ vui mừng, nhưng các ngươi là những kẻ gian ác sẽ bị hổ nhục.
ISA 65:14 Các đầy tớ ta sẽ reo vui, nhưng các ngươi sẽ kêu la vì đau đớn. Các ngươi sẽ kêu khóc thảm thiết vì tinh thần ngươi tan vỡ.
ISA 65:15 Tên các ngươi sẽ là vật nguyền rủa cho đầy tớ ta, CHÚA sẽ giết các ngươi. Nhưng Ngài sẽ gọi đầy tớ Ngài bằng một tên khác.
ISA 65:16 Dân cư trong xứ sẽ xin được phước họ sẽ cầu xin phước lành từ Thượng Đế thành tín. Còn dân trong xứ hứa nguyện sẽ nhân danh Thượng Đế thành tín mà hứa nguyện, vì những khốn khổ xưa kia sẽ không còn được ai nhớ tới nữa. Ta sẽ cất những khốn khổ đó đi khỏi các ngươi.
ISA 65:17 Nầy ta sẽ lập một trời mới và đất mới, dân chúng sẽ không nhớ những việc đã qua hay suy nghĩ đến những việc đó nữa.
ISA 65:18 Dân ta sẽ vui vẻ muôn đời vì những điều ta làm. Ta sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem đầy tiếng vui mừng, Ta sẽ khiến dân cư thành đó trở nên một niềm hớn hở.
ISA 65:19 Ta sẽ vui về Giê-ru-sa-lem và hớn hở cùng với dân ta. Trong thành đó người ta sẽ không còn nghe tiếng kêu khóc và thảm sầu nữa.
ISA 65:20 Trong thành đó sẽ không còn hài nhi chết non. Cùng sẽ không có người già nào mà không sống lâu. Ai sống đến trăm tuổi vẫn xem như còn trẻ, Còn ai qua đời trước trăm tuổi được xem như là kẻ có tội.
ISA 65:21 Trong thành đó ai cất nhà sẽ được ở trong đó. Ai trồng vườn nho sẽ được ăn trái.
ISA 65:22 Không còn có cảnh kẻ cất nhà mà người khác ở. Không còn có cảnh người trồng vườn mà kẻ khác ăn trái. Dân ta sẽ sống lâu, như cây cối. Dân chọn lựa của ta sẽ sống ở đó và vui hưởng điều mình làm ra.
ISA 65:23 Họ sẽ không còn làm việc không công. Cũng sẽ không còn sinh con chết non. Tất cả dân ta đều sẽ được CHÚA ban phước; con cái họ cũng được phước.
ISA 65:24 Trước khi họ xin, ta sẽ ban cho họ điều họ cần, ta sẽ giúp đỡ khi họ xin ta.
ISA 65:25 Chó sói và sư tử sẽ ăn cùng nhau bình yên, Sư tử sẽ ăn cỏ khô như bò, và rắn trên đất sẽ không làm hại ai. Chúng sẽ không cắn giết nhau, trên tất cả các núi thánh ta,” CHÚA phán vậy.
ISA 66:1 CHÚA phán như sau: “Trời là ngôi ta, đất là bệ chân ta. Cho nên các ngươi định cất nhà cho ta sao? Ta cần chỗ nghỉ ngơi sao?
ISA 66:2 Tay ta làm ra mọi vật. Mọi vật có được là do ta làm ra,” CHÚA phán vậy. “Hãy bảo dân nầy rằng: Ta thích những kẻ khiêm nhường, ăn năn và kẻ kính sợ mệnh lệnh ta.
ISA 66:3 Có kẻ giết bò đực làm sinh tế cho ta nhưng cũng hà hiếp người khác. Chúng giết chiên cừu làm sinh tế và bẻ cổ chó. Chúng dâng của lễ chay cho ta nhưng cũng dâng huyết heo cho ta. Chúng dâng hương giống nhưng cũng bái lạy thần tượng. Chúng chọn đường lối riêng cho mình, yêu thích những thần tượng gớm ghiếc.
ISA 66:4 Nên ta sẽ chọn lựa sự trừng phạt chúng, sự trừng phạt mà chúng e sợ nhất. Vì khi ta kêu chúng không thèm chú ý. Khi ta nói, chúng không thèm nghe. Chúng làm điều ác; Chúng thích làm điều ta ghét.”
ISA 66:5 Hỡi các ngươi là kẻ vâng theo lời CHÚA, hãy lắng tai nghe lời Ngài phán: “Anh em ngươi ghét ngươi và chống báng ngươi vì ngươi theo ta. Anh em ngươi nói, ‘Hãy tôn kính CHÚA để chúng ta thấy ngươi vui mừng,’ Nhưng chúng sẽ bị trừng phạt.
ISA 66:6 Hãy nghe tiếng kêu la từ thành; nghe tiếng ồn ào từ đền thờ. Đó là CHÚA đang trừng phạt kẻ thù Ngài, giáng trừng phạt tương xứng cho chúng.
ISA 66:7 Đàn bà sinh con trước khi đau đẻ; và đứa con trai lọt lòng mẹ trước khi chuyển bụng.
ISA 66:8 Chưa bao giờ ai nghe chuyện như thế; cũng chưa ai thấy chuyện đó xảy ra. Cũng vậy, chưa ai thấy một quốc gia khởi đầu trong một ngày; chưa ai thấy một tân quốc gia bắt đầu trong chốc lát. Nhưng Giê-ru-sa-lem sẽ sinh con, khi vừa cảm thấy chuyển bụng.
ISA 66:9 Cũng vậy, ta sẽ không gây ra chuyển bụng mà không sinh sản ra một điều gì mới lạ,” CHÚA phán vậy. “Nếu ta gây chuyển bụng cho ngươi, ta sẽ không ngăn chặn ngươi sinh ra một dân tộc mới,” Thượng Đế ngươi phán.
ISA 66:10 “Hỡi Giê-ru-sa-lem hãy vui mừng lên. Tất cả những ai yêu Giê-ru-sa-lem hãy hớn hở. Những ai đau buồn vì Giê-ru-sa-lem hãy mừng rỡ với nó.
ISA 66:11 Các ngươi sẽ được an ủi từ nó và mãn nguyện, như đứa bé nằm bên vú mẹ. Ngươi sẽ bú say sưa từ đó.”
ISA 66:12 CHÚA phán như sau: “Ta sẽ ban hoà bình chảy đến cho nó như sông. Của cải các dân tộc sẽ đến với nó như sông dâng tràn bờ. Các ngươi sẽ như em bé được cho bú và được bồng ẵm trong tay ta và nhún nhảy trên đầu gối ta.
ISA 66:13 Ta sẽ an ủi ngươi như người mẹ an ủi con mình. Các ngươi sẽ được an ủi trong Giê-ru-sa-lem.”
ISA 66:14 Khi thấy những điều đó, ngươi sẽ vui mừng, ngươi sẽ mọc mạnh lên như cỏ. Đầy tớ CHÚA sẽ thấy quyền năng Ngài, nhưng kẻ thù Ngài sẽ thấy cơn thịnh nộ Ngài.
ISA 66:15 Kìa CHÚA đến với đám lửa và quân xa Ngài đến trong đám bụi mù. Ngài sẽ dùng cơn giận trừng phạt các dân đó; Ngài sẽ trừng phạt chúng bằng đám lửa.
ISA 66:16 CHÚA sẽ dùng lửa phân xử dân chúng, và dùng gươm mình tiêu diệt nhiều người; Ngài sẽ giết vô số người.
ISA 66:17 “Các dân nầy dọn mình ra thánh và tinh sạch để đi bái lạy các thần mình trong vườn. Chúng xếp hàng đi vào các vườn tược, chúng ăn thịt heo, thịt chuột, và những vật đáng ghê tởm. Nhưng tất cả đều sẽ cùng nhau bị tiêu diệt,” CHÚA phán vậy.
ISA 66:18 “Ta biết tư tưởng và hành vi chúng rất độc ác, nên ta đến để trừng phạt chúng. Ta sẽ tập họp mọi dân, mọi người. Chúng sẽ đến và thấy vinh hiển ta.
ISA 66:19 Ta sẽ đánh dấu trên một số người, và ta sẽ sai một số người đã được cứu đến cùng các dân: Ta-rê-si, Ly-bi, Lút (dân bắn cung giỏi), Tu-banh, Hi-lạp, và các xứ xa xăm. Các dân nầy chưa bao giờ nghe những điều ta làm hay thấy vinh hiển ta. Cho nên những người đã được cứu sẽ nói cho họ biết vinh hiển ta.
ISA 66:20 Rồi họ sẽ mang các đồng bào Ít-ra-en ngươi từ các dân đến núi thánh ta ở Giê-ru-sa-lem. Các đồng bào Ít-ra-en ngươi sẽ đến bằng ngựa, lừa, lạc đà và xe cộ cùng xe ngựa có mui. Họ sẽ như của lễ chay mà người ta đem đến đền thờ đựng trong hũ sạch,” CHÚA phán vậy.
ISA 66:21 “Ta sẽ chọn một số người trong vòng họ để làm thầy tế lễ và người Lê-vi,” CHÚA phán vậy.
ISA 66:22 CHÚA phán “Ta sẽ làm trời mới và đất mới còn mãi mãi. Cũng vậy, tên tuổi ngươi và con cái các ngươi sẽ luôn luôn ở với ta.
ISA 66:23 Ai nấy đều sẽ đến thờ phụng ta vào mỗi ngày Sa-bát và ngày Trăng Mới.
ISA 66:24 Chúng sẽ đi ra và nhìn thấy các xác chết của những kẻ phạm tội nghịch ta. Dòi bọ ăn chúng nó sẽ không bao giờ chết và lửa thiêu chúng nó sẽ không bao giờ tắt. Mọi người đều ghê tởm khi nhìn thấy những xác chết ấy.”
JER 1:1 Sau đây là lời của Giê-rê-mi, con trai Hinh-kia. Ông thuộc gia đình các thầy tế lễ ở thị trấn A-na-thốt, xứ Bên-gia-min.
JER 1:2 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi vào năm thứ mười ba triều Giô-xia, con Am-môn, vua xứ Giu-đa.
JER 1:3 CHÚA cũng phán cùng Giê-rê-mi khi Giê-hô-gia-kim, cũng con của Giô-xia trị vì xứ Giu-đa và suốt mười một năm đang khi Xê-đê-kia, con Giô-xia trị vì xứ Giu-đa. Vào tháng năm, năm thứ mười một đời vua đó, dân chúng Giê-ru-sa-lem bị bắt làm tù binh.
JER 1:4 CHÚA phán cùng tôi rằng:
JER 1:5 “Trước khi ta tạo ra ngươi trong lòng mẹ, ta đã chọn ngươi. Trước khi ngươi ra chào đời, ta đã để riêng ngươi ra làm công tác đặc biệt. Ta đã chỉ định ngươi làm nhà tiên tri cho các dân.”
JER 1:6 Tôi thưa, “Nhưng lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài biết rằng tôi biết nói gì đâu vì tôi chỉ là một đứa con nít.”
JER 1:7 Nhưng CHÚA bảo tôi, “Đừng nói, ‘Tôi chỉ là một đứa con nít.’ Ngươi phải đi đến bất cứ nơi nào ta sai ngươi, nói bất cứ điều nào ta bảo.
JER 1:8 Đừng sợ ai hết vì ta ở cùng ngươi và che chở ngươi,” CHÚA phán vậy.
JER 1:9 Rồi CHÚA giơ tay ra chạm vào môi tôi. Ngài phán, “Hỡi Giê-rê-mi, ta đã đặt lời ta vào miệng ngươi.
JER 1:10 Ngày nay ta đã đặt ngươi coi sóc các dân, các nước. Ngươi sẽ nhổ và phá sập, hủy diệt và lật đổ, xây dựng và trồng trọt.”
JER 1:11 Rồi CHÚA bảo tôi rằng, “Hỡi Giê-rê-mi, ngươi thấy gì?” Tôi thưa, “Tôi thấy một nhánh cây hạnh nhân.”
JER 1:12 CHÚA phán cùng tôi, “Ngươi thấy đúng, vì ta đang trông chừng để chắc chắn rằng lời ta sẽ thành sự thật.”
JER 1:13 CHÚA lại phán cùng tôi lần nữa, “Ngươi thấy gì?” Tôi thưa, “Tôi thấy một nồi nước sôi, đổ tràn từ phía Bắc.”
JER 1:14 CHÚA phán cùng tôi, “Thảm họa sẽ đến từ phương Bắc và giáng trên tất cả dân cư trong xứ nầy.”
JER 1:15 CHÚA phán “Ít lâu nữa ta sẽ kêu gọi các dân thuộc mọi nước miền Bắc, Các vua đó sẽ đến và lập ngôi mình gần ngõ vào các cổng thành Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ đánh phá tất cả các vách thành quanh Giê-ru-sa-lem và các thành phố Giu-đa.
JER 1:16 Và ta sẽ loan báo phán quyết của ta nghịch cùng dân ta vì họ đã làm ác, quay lưng khỏi ta. Họ đã dâng sinh tế cho các thần khác, và bái lạy các tượng chạm do tay mình làm ra.
JER 1:17 Hỡi Giê-rê-mi, hãy sẵn sàng. Hãy đứng lên bảo họ mọi điều ta truyền cho ngươi. Đừng sợ họ, nếu không ta sẽ khiến ngươi run sợ trước mặt họ.
JER 1:18 Hôm nay ta sẽ làm cho ngươi ra một thành vững chắc, một cột sắt, một vách đồng. Ngươi có thể chống lại bất cứ ai trong xứ: Các vua Giu-đa, sĩ quan, thầy tế lễ, và các dân trong xứ.
JER 1:19 Họ sẽ chống đối ngươi nhưng sẽ không thắng ngươi nổi vì ta ở cùng ngươi để bảo vệ ngươi!” CHÚA phán vậy.
JER 2:1 CHÚA phán cùng tôi như sau:
JER 2:2 “Hãy đi nói cùng dân cư Giê-ru-sa-lem rằng: CHÚA phán: ‘Ta nhớ lại khi các ngươi còn là một tân quốc gia, các ngươi trung thành với ta như thế nào. Các ngươi yêu ta như một cô dâu. Các ngươi đi theo ta qua sa mạc, một vùng đất chưa hề được trồng trọt.
JER 2:3 Ít-ra-en là dân thánh cho CHÚA, giống như hoa quả đầu mùa của mùa gặt Ngài. Những kẻ làm hại Ít-ra-en bị trừng phạt nặng nề. Thảm họa xảy đến cho chúng,’” CHÚA phán vậy.
JER 2:4 Hãy nghe lời của CHÚA, hỡi nhà Gia-cốp, và các họ hàng Ít-ra-en.
JER 2:5 CHÚA phán như sau: “Ta rất công bằng với tổ tiên các ngươi, vậy tại sao chúng quay bỏ ta? Tổ tiên các ngươi thờ lạy các tượng chạm vô ích và chính mình cũng trở thành vô dụng.
JER 2:6 Tổ tiên các ngươi không hề hỏi, ‘CHÚA là Đấng mang chúng ta ra khỏi Ai-cập đâu rồi? Ngài dẫn dắt chúng ta qua sa mạc, qua vùng đất khô khan lởm chởm đá, qua xứ tăm tối và nguy hiểm. Ngài dẫn chúng ta qua nơi không ai ở hay đi lại.’
JER 2:7 Ta đưa các ngươi vào một xứ phì nhiêu để các ngươi mặc tình ăn hoa quả và sản vật xứ đó. Nhưng các ngươi vào làm nhơ nhớp xứ ta; Các ngươi làm nơi đó trở thành ghê tởm.
JER 2:8 Các thầy tế lễ không hỏi, ‘CHÚA đâu rồi?’ Những người truyền bá lời giáo huấn ta, không hề biết ta. Các lãnh tụ chống nghịch ta. Các nhà tiên tri nói tiên tri nhân danh Ba-anh, và bái lạy các tượng chạm vô ích.”
JER 2:9 “Nên bây giờ ta nhắc lại điều ta đã tuyên bố nghịch cùng các ngươi,” CHÚA phán. “Ta sẽ loan báo điều ta nghịch cùng con cháu các ngươi.
JER 2:10 Hãy băng qua biển đến các đảo Kít-tim mà xem. Hãy sai người đến xứ Kê-đa mà nhìn cho kỹ. Xem thử có thấy chuyện như thế nầy chưa?
JER 2:11 Có dân tộc nào đánh đổi thần mình không? Dù cho thần của chúng không phải là thần đi nữa. Nhưng dân ta đã đổi Thượng Đế vinh hiển của mình để lấy những tượng chạm vô ích.
JER 2:12 Hỡi trời, hãy sửng sốt về chuyện nầy và hãy run sợ!” CHÚA phán vậy.
JER 2:13 “Dân ta đã phạm hai điều ác: Chính họ đã quay lưng khỏi ta, là suối nước sống. Rồi tự đào các hồ chứa nước cho mình, là giếng nứt nẻ không giữ nước được.
JER 2:14 Dân Ít-ra-en có phải là nô lệ không? Chúng đã là nô lệ từ lúc mới ra đời sao? Tại sao chúng bị bắt làm tù binh?
JER 2:15 Quân thù đã gầm thét nghịch cùng Ít-ra-en như sư tử rống; chúng đã gầm gừ cùng Ít-ra-en. Chúng đã tiêu hủy đất Ít-ra-en. Các thành phố của Ít-ra-en điêu tàn, dân cư đã bỏ đi hết.
JER 2:16 Dân cư các thành Mem-phít và Ta-ban-hê đã cạo đầu các ngươi để sỉ nhục các ngươi.
JER 2:17 Phải chăng các ngươi rước những điều nầy vào mình vì đã quay khỏi Thượng Đế trong khi Ngài đang dẫn các ngươi vào đường chính đáng?
JER 2:18 Đừng đi xuống Ai-cập hay uống nước sông Si-ho mà uổng công! Chớ nên đi qua A-xy-ri cầu cứu và uống nước sông Ơ-phơ-rát vì chẳng ích gì.
JER 2:19 Các ngươi chuốc lấy trừng phạt do điều ác mình làm và những điều quấy các ngươi phạm sẽ dạy các ngươi một bài học. Hãy suy nghĩ điều nầy và hiểu rằng quay khỏi CHÚA, Thượng Đế mình, là điều cực ác. Không kính sợ Ngài là điều sái bậy,” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
JER 2:20 “Trước kia các ngươi bẻ gãy ách, cắt bỏ dây thừng trói buộc mình và nói, ‘Chúng tôi sẽ không phục vụ Ngài!’ Thật vậy, các ngươi nằm xuống hành dâm trên mỗi ngọn đồi, và dưới mỗi cây xanh.
JER 2:21 Ta đã trồng các ngươi như một dây nho đặc biệt gieo hạt giống rất tốt. Tại sao các ngươi hóa thành dây nho hoang sinh ra trái nho xấu vậy?
JER 2:22 Dù cho các ngươi tắm rửa bằng xà-bông và thuốc tẩy, ta vẫn nhìn thấy vết dơ của tội lỗi các ngươi,” CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
JER 2:23 “Sao các ngươi nói được cùng ta rằng, ‘Tôi không có lỗi. Tôi không có thờ thần Ba-anh?’ Hãy nhìn những gì ngươi làm trong thung lũng. Hãy suy nghĩ đến những hành động ngươi. Ngươi như con lạc đà cái đến thời kỳ rượng đực chạy tung tăng khắp nơi.
JER 2:24 Ngươi như con lừa hoang sống trong sa mạc và đánh hơi gió vào thời kỳ rượng đực. Lúc đó ai mà ngăn chận nó được? Lừa đực nào đuổi theo cũng bắt được nó dễ dàng; vào thời kỳ rượng đực, rất dễ kiếm nó.
JER 2:25 Đừng chạy cho đến khi chân ngươi sút giày dép hay đến khi cổ họng ngươi khô. Nhưng ngươi nói, ‘Vô ích! Tôi thích các thần khác, Tôi phải theo đuổi họ!’”
JER 2:26 Kẻ trộm cũng cảm thấy xấu hổ khi bị bắt quả tang. Nhà Ít-ra-en cũng vậy, phải biết mất cỡ, từ thầy tế lễ cho đến các nhà tiên tri.
JER 2:27 Họ nói cùng vật làm bằng gỗ rằng, “Ngươi là cha ta,” và tượng đá rằng, “Ngươi sinh ra ta.” Những kẻ đó không thèm nhìn đến ta; Chúng đã quay lưng khỏi ta. Nhưng khi gặp khốn đốn thì chúng kêu, “Xin hãy đến cứu chúng tôi!”
JER 2:28 Những hình tượng các ngươi làm cho mình đâu rồi? Bảo chúng đến cứu ngươi khi ngươi gặp khốn khó đi! Hỡi dân Giu-đa, ngươi có bao nhiêu thị trấn thì có bấy nhiêu hình tượng!
JER 2:29 “Sao các ngươi phàn nàn cùng ta? Tất cả các ngươi đều đã chống nghịch ta,” CHÚA phán vậy.
JER 2:30 “Ta đã trừng phạt các ngươi nhưng không kết quả. Các ngươi không thèm trở lại cùng ta khi ta trừng phạt các ngươi. Các ngươi dùng gươm giết các nhà tiên tri mình như sư tử đói.”
JER 2:31 “Hỡi dân Giu-đa, hãy để ý nghe lời CHÚA: Có phải ta giống sa mạc cho dân Ít-ra-en hay như mảnh đất đen tối và hiểm nguy chăng? Sao dân ta bảo, ‘Chúng ta tha hồ đi thong dong. Chúng ta sẽ không đến cùng Ngài nữa’?
JER 2:32 Thiếu nữ không hề quên đồ trang sức mình, cô dâu không quên vật trang điểm cho áo cưới mình. Nhưng dân ta quên ta không biết bao nhiêu lâu.
JER 2:33 Các ngươi biết rành việc theo đuổi tình yêu. Người đàn bà kém cỏi nhất cũng học được những thói gian ác từ các ngươi.
JER 2:34 Trên áo quần ngươi cũng có vấy máu của kẻ nghèo khó và vô tội, họ không phải là bọn trộm cắp mà các ngươi bắt được quả tang. Chính các ngươi làm những chuyện đó,
JER 2:35 rồi tuyên bố, ‘Tôi vô tội. Thượng Đế không nổi thịnh nộ cùng tôi đâu.’ Nhưng ta sẽ kết tội ngươi vì nói dối, Vì ngươi bảo, ‘Tôi có phạm tội đâu.’
JER 2:36 Thật quá dễ cho các ngươi đổi ý. Đến nỗi Ai-cập cũng như A-xy-ri đều làm nhục ngươi.
JER 2:37 Cuối cùng ngươi sẽ rời nơi đó hai tay chắp trên đầu như tù binh. Ngươi tin cậy các nước đó, nhưng chúng chẳng giúp gì được cho ngươi, vì CHÚA đã từ bỏ chúng.”
JER 3:1 “Nếu một người đàn ông ly dị vợ mình, nàng đi lấy chồng khác, thì người chồng đầu tiên có nên trở lại với nàng không? Nếu người trở lại với nàng thì đất chẳng hóa ra nhơ nhớp sao? Nhưng các ngươi đã hành dâm như gái điếm với nhiều tình nhân, mà các ngươi còn muốn trở lại cùng ta sao?” CHÚA hỏi.
JER 3:2 “Hỡi Giu-đa, hãy nhìn các ngọn đồi trọc. Có nơi nào mà ngươi chưa hành dâm không? Ngươi ngồi bên đường chờ người yêu, như dân du mục trong sa mạc. Ngươi đã khiến đất bị nhơ nhớp, vì ngươi đã làm điều ác và hành động như gái điếm.
JER 3:3 Vì vậy mà mưa không rơi, cũng chẳng có mưa xuân. Nhưng mặt ngươi vẫn dày dạn như mặt gái làng chơi. Đến nỗi ngươi không hề biết xấu hổ là gì.
JER 3:4 Nay ngươi lại kêu cầu cùng ta, ‘Cha ơi, Ngài là bạn tôi từ khi tôi còn trẻ.
JER 3:5 Ngài sẽ giận tôi mãi mãi sao? Cơn thịnh nộ Ngài còn đời đời sao?’ Hỡi Giu-đa, tuy ngươi nói điều ấy, nhưng ngươi vẫn tiếp tục làm ác như thường!”
JER 3:6 Khi vua Giô-xia đang trị vì Giu-đa thì CHÚA phán cùng tôi rằng, “Ngươi có thấy Ít-ra-en bất trung ra sao chưa? Nó hành dâm cùng các tượng chạm trên mỗi ngọn đồi và dưới mỗi cây xanh.
JER 3:7 Ta tự nhủ, ‘Ít-ra-en sẽ trở về cùng ta sau khi nó làm điều ác đó,’ nhưng nó không trở về. Còn em nó là Giu-đa thấy điều nó làm.
JER 3:8 Giu-đa thấy ta đã ly dị Ít-ra-en vì nó ngoại tình, nhưng điều đó chẳng làm cho em gái nó là Giu-đa run sợ chút nào. Nó cũng ra hành nghề mãi dâm!
JER 3:9 Và nó cũng không ngần ngại hành nghề ấy. Nó làm xứ nó nhơ nhớp và phạm tội ngoại tình vì nó bái lạy tượng chạm bằng đá và bằng gỗ.
JER 3:10 Đứa em gái gian ác của Ít-ra-en không hết lòng trở về cùng ta, chỉ giả vờ bên ngoài thôi,” CHÚA phán vậy.
JER 3:11 CHÚA phán cùng ta, “Ít-ra-en bất trung còn tỏ ra khá hơn Giu-đa giả dối.
JER 3:12 Hãy đi loan báo lời nầy cùng phương Bắc: CHÚA phán, ‘Hỡi dân Ít-ra-en bất chính, hãy trở lại, Ta sẽ không còn giận ngươi nữa, vì ta đầy lòng nhân ái,’ CHÚA phán vậy. ‘Ta sẽ không giận ngươi mãi mãi.
JER 3:13 Ngươi chỉ cần nhận tội rằng ngươi đã chống nghịch CHÚA, là Thượng Đế, và ngươi đã từng bái lạy các thần khác dưới mỗi cây xanh và không vâng lời ta,’” CHÚA phán vậy.
JER 3:14 CHÚA phán, “Hỡi con cái bất trung hãy trở lại vì ta là chủ ngươi. Ta sẽ chọn một người từ mỗi thành và hai người từ mỗi họ hàng, rồi ta sẽ mang các ngươi đến Giê-ru-sa-lem.
JER 3:15 Sau đó ta sẽ ban cho các ngươi các lãnh tụ mới trung thành với ta, là những người sẽ hướng dẫn các ngươi trong tinh thần hiểu biết và thông sáng.”
JER 3:16 CHÚA phán, “Trong những ngày đó các ngươi sẽ đông đảo trong xứ. Lúc đó sẽ không ai nói, ‘Tôi nhớ lại Rương Giao Ước.’ Họ sẽ không suy nghĩ, nhớ lại, tiếc nuối Rương đó hay đóng một Rương khác.
JER 3:17 Lúc đó dân chúng sẽ gọi Giê-ru-sa-lem là Ngôi của CHÚA, và mọi dân sẽ cùng đến Giê-ru-sa-lem để tỏ lòng tôn kính CHÚA. Họ sẽ không còn đi theo lòng ương ngạnh, gian ác của mình nữa.
JER 3:18 Trong những ngày đó gia đình Giu-đa sẽ nhập với gia đình Ít-ra-en. Họ sẽ từ một xứ miền Bắc trở về đất mà ta đã ban cho tổ tiên họ.”
JER 3:19 “Ta, là CHÚA phán, ‘Ta sẽ rất vui đối xử với các ngươi như con cái ta ban cho các ngươi một xứ xinh tươi, một xứ tốt đẹp hơn xứ của bất cứ dân nào khác.’ Ta nghĩ các ngươi sẽ gọi ta là, ‘Cha tôi’ và sẽ không quay mặt khỏi ta nữa.
JER 3:20 Nhưng ngươi đã như người vợ bất chính với chồng mình, hỡi nhà Ít-ra-en, các ngươi đã bất trung đối cùng ta,” CHÚA phán vậy.
JER 3:21 Các ngươi có thể nghe tiếng kêu la từ các đồi trọc. Đó là tiếng dân Ít-ra-en kêu khóc và nài xin được thương xót. Vì chúng đã trở nên gian ác, quên CHÚA là Thượng Đế mình.
JER 3:22 “Hỡi các con cái bất trung, hãy trở lại cùng ta, ta sẽ tha thứ tội bất trung của các ngươi.” “Vâng, chúng tôi sẽ đến cùng Ngài, vì Ngài là CHÚA và Thượng Đế chúng tôi.
JER 3:23 Bái lạy các tượng chạm trên các ngọn đồi hay trên các núi là điều ngu xuẩn. Hẳn nhiên sự cứu rỗi của Ít-ra-en đến từ CHÚA là Thượng Đế chúng ta.
JER 3:24 Từ khi chúng tôi còn trẻ, các tượng chạm ô nhục đã ăn các sinh tế nuốt hết những gì tổ tiên chúng tôi làm ra, các bầy chiên và bầy bò, con trai con gái của họ.
JER 3:25 Chúng ta hãy nằm lăn trong ô nhục, hãy để hổ nhục trùm lấy chúng ta như cái mền. Chúng ta đã phạm tội cùng CHÚA là Thượng Đế chúng ta, cả chúng ta lẫn tổ tiên chúng ta đã làm như thế. Từ lúc trẻ đến bây giờ, chúng ta không vâng lời CHÚA là Thượng Đế chúng ta.”
JER 4:1 CHÚA phán, “Hỡi Ít-ra-en, nếu các ngươi trở lại cùng ta thì hãy trở lại đi. Nếu các ngươi ném bỏ các tượng chạm mà ta ghét, thì đừng đi lang thang khỏi ta nữa.
JER 4:2 Nếu các ngươi nói các ngươi sẽ hứa, ‘Thật như CHÚA hằng sống,’ và các ngươi nói điều đó với tấm lòng ngay thẳng, chân thật, thì CHÚA sẽ ban phước cho dân tộc, họ sẽ ca ngợi Ngài về điều Ngài làm.”
JER 4:3 Đây là điều CHÚA phán cùng dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem: “Hãy cày đất hoang, đừng gieo giống giữa bụi gai.
JER 4:4 Hỡi dân Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem, hãy dâng mình phục vụ CHÚA, nhất định vâng lời Ngài, nếu không, cơn thịnh nộ ta sẽ lan tràn như lửa cháy, không ai dập tắt được, vì điều ác các ngươi làm.
JER 4:5 Hãy loan tin nầy trong Giu-đa và công bố trong Giê-ru-sa-lem: ‘Hãy thổi kèn khắp xứ!’ Hãy la lớn lên rằng, ‘Hãy tập họp lại! Hãy chạy trốn đến các thành có vách kiên cố!’
JER 4:6 Hãy giương cờ báo hiệu về hướng Giê-ru-sa-lem! Hãy chạy cứu mạng mình, đừng chậm chân, vì ta sẽ mang thảm hoạ đến từ phương Bắc. Sẽ có sự tàn phá kinh khủng.”
JER 4:7 Sư tử đã ra khỏi hang; kẻ hủy diệt các dân đã lên đường. Nó đã rời quê hương để tàn phá xứ các ngươi. Các thị trấn ngươi sẽ bị tiêu diệt không còn ai sống sót.
JER 4:8 Cho nên hãy mặc vải sô, chứng tỏ lòng buồn bực, kêu khóc thảm thiết đi. Cơn thịnh nộ kinh khủng của CHÚA không quay khỏi chúng ta.
JER 4:9 CHÚA phán, “Khi việc đó xảy ra, thì các vua và các sĩ quan sẽ mất can đảm. Các thầy tế lễ sẽ hoảng sợ, còn các nhà tiên tri sẽ kinh hoàng!”
JER 4:10 Rồi tôi nói, “Lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài đã phỉnh dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ngài bảo, ‘Các ngươi sẽ có hòa bình,’ nhưng bây giờ thì lưỡi gươm kề bên cổ chúng tôi!”
JER 4:11 Lúc đó người ta sẽ loan tin nầy cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem: “Một luồng gió nóng thổi từ các đồi trọc của sa mạc Giu-đa đến dân Chúa. Không phải gió hiu hiu để phân chia thóc và trấu ra đâu.
JER 4:12 Tôi cảm thấy một luồng gió nóng hơn thế nữa. Bây giờ thì chính tôi loan tin nầy nghịch cùng dân Giu-đa.”
JER 4:13 Kìa! Kẻ thù nổi lên như đám mây, và quân xa chúng ào đến như gió lốc. Ngựa của chúng nhanh hơn chim ưng. Khốn cho chúng ta! Đời chúng ta tàn rồi!
JER 4:14 Hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy lau sạch điều ác khỏi lòng mình đi để các ngươi được cứu. Đừng mãi lập mưu ác nữa.
JER 4:15 Có tiếng vang ra từ xứ Đan mang tin dữ từ các núi Ép-ra-im.
JER 4:16 “Hãy báo cáo điều nầy cho các dân. Hãy loan tin nầy ra trong Giê-ru-sa-lem: ‘Quân xâm lăng tràn đến từ một xứ xa xăm, tiếng reo hò xung trận nghịch lại các thành phố Giu-đa.
JER 4:17 Quân thù đã bao vây Giê-ru-sa-lem như người canh ruộng, vì Giu-đa đã phản nghịch ta,’” CHÚA phán vậy.
JER 4:18 “Lối sống và hành vi các ngươi đã mang khốn khổ nầy đến cho các ngươi. Đây là sự trừng phạt của các ngươi. Thật khốn cho các ngươi! Nỗi đau đớn đâm xuyên qua lòng các ngươi!”
JER 4:19 Ôi, tôi đau đớn, đau quá chừng! Tôi khòm xuống vì đau. Ôi, lòng tôi quặn thắt! Tim tôi đập mạnh. Tôi không thể nào im lặng được, vì tôi đã nghe tiếng kèn. Tôi nghe tiếng reo hò xung trận.
JER 4:20 Thảm họa chồng lên thảm họa; cả xứ đã bị tiêu diệt. Chỉ trong nháy mắt, lều của tôi bị tiêu hủy. Màn của tôi bị giật xuống nhanh chóng.
JER 4:21 Tôi phải nhìn ngọn cờ chiến tranh trong bao lâu nữa? Tôi phải còn nghe tiếng kèn xung trận trong bao lâu nữa?
JER 4:22 CHÚA phán, “Dân ta quả ngu dại. Chúng không hề biết ta. Chúng thật là con cái ngu xuẩn; chẳng hiểu biết gì. Chúng giỏi làm ác, không hề biết làm điều thiện.”
JER 4:23 Tôi nhìn mặt đất thì thấy gì? Đất hoang vu và vô hình dạng. Tôi nhìn bầu trời, thì không còn thấy ánh sáng nữa.
JER 4:24 Tôi nhìn núi non thì thấy gì? Chúng đang rung chuyển. Các ngọn đồi đều chuyển động lên.
JER 4:25 Tôi nhìn thì chẳng thấy bóng dáng người nào. Tất cả chim trời đều bay đi hết.
JER 4:26 Tôi nhìn thì thấy đất xưa kia tốt tươi, phì nhiêu nay đã hoá ra sa mạc. Các thị trấn nó đã bị CHÚA tiêu diệt trong cơn thịnh nộ lớn của Ngài.
JER 4:27 CHÚA phán như sau: “Toàn thể đất đai sẽ bị điêu tàn, nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt nó.
JER 4:28 Dân trên đất sẽ khóc lóc thảm thiết, bầu trời sẽ tối đen, vì ta đã phán và sẽ không đổi ý. Ta đã quyết định, và sẽ không thay đổi quyết định đó.”
JER 4:29 Khi nghe tiếng lính cỡi ngựa và lính bắn cung, thì dân chúng trong thị trấn đều bỏ chạy. Họ núp trốn trong các bụi rậm, núp trong các hang hốc. Các thành phố của Giu-đa hoang vu không ai ở.
JER 4:30 Hỡi Giu-đa là nước bị tiêu diệt, ngươi làm gì đó? Sao ngươi ăn diện và trang điểm bằng nữ trang bằng vàng làm gì? Sao ngươi vẽ mắt làm gì? Ngươi ăn diện cho đẹp, nhưng vô ích. Người yêu ngươi ghét ngươi; Chúng muốn giết ngươi.
JER 4:31 Ta nghe tiếng đàn bà sinh đẻ, tiếng rên siết như đàn bà sinh con so. Đó là tiếng rên la của con gái Xi-ôn. Nó giơ tay lên cầu nguyện rằng, “Ôi, tôi sắp ngất đi trước mặt những kẻ giết tôi!”
JER 5:1 CHÚA phán, “Hãy đi lên đi xuống các phố xá Giê-ru-sa-lem. Hãy nhìn quanh quất để tìm xem. Hãy lục lọi khắp các công viên trong thành phố. Nếu ngươi tìm được một người làm điều ngay thẳng, tìm kiếm chân lý, thì ta sẽ tha cho thành ấy.
JER 5:2 Dù dân chúng bảo, ‘Thật như CHÚA hằng sống!’ nhưng chúng không thực tâm tin như thế.”
JER 5:3 Lạy CHÚA, Ngài không tìm chân lý trong con người sao? Ngài đánh dân Giu-đa, nhưng chúng chẳng biết đau. Ngài chà đạp chúng, nhưng chúng không chịu học làm điều lành. Chúng ương ngạnh hơn đá; nhất định không trở về cùng Thượng Đế.
JER 5:4 Nhưng tôi nghĩ, “Đây chỉ là những người nghèo khổ, ngu dốt. Họ chưa hiểu biết đường lối CHÚA và cũng chưa biết Thượng Đế muốn họ làm gì.
JER 5:5 Cho nên tôi sẽ đi nói chuyện với các lãnh tụ Giu-đa. Chắc họ sẽ hiểu đường lối CHÚA và biết Thượng Đế muốn họ làm gì.” Nhưng ngay những người nầy cũng họp nhau lại để tránh xa khỏi CHÚA; cắt đứt liên lạc với Ngài.
JER 5:6 Vì thế một con sư tử trong rừng sẽ giết họ. Một con chó sói trong sa mạc sẽ tiêu diệt họ. Một con beo sẽ rình họ gần nơi thành họ ở. Nó sẽ xé xác những ai đi ra khỏi thành, vì dân Giu-đa đã phạm trọng tội. Chúng đã đi lạc xa khỏi CHÚA nhiều lần.
JER 5:7 CHÚA phán, “Hãy cho ta biết tại sao ta nên tha thứ các ngươi. Con cái các ngươi đã lìa bỏ ta và hứa hẹn cùng các tượng chạm không phải là thần. Ta đã cho chúng nó đủ mọi thứ, vậy mà chúng vẫn như người vợ bất chính đối với ta. Chúng ở trong các ổ điếm.
JER 5:8 Chúng như các con ngựa ăn no say rồi động cỡn; người nầy ham muốn vợ người khác.”
JER 5:9 CHÚA hỏi, “Ta có nên trừng trị dân Giu-đa về những tội đó không?” “Chẳng lẽ ta không trừng phạt một dân tộc như vậy cho xứng đáng với tội nó sao?
JER 5:10 Hãy đi xuống đốn các vườn nho Giu-đa, nhưng đừng phá hủy chúng hoàn toàn. Hãy chặt hết dân cư nó như thể chặt nhánh cây, vì chúng không còn thuộc về CHÚA nữa.”
JER 5:11 CHÚA phán, “Nhà Ít-ra-en và Giu-đa đã hoàn toàn bất trung cùng ta,
JER 5:12 Chúng đã dối trá cùng CHÚA và nói rằng, ‘Ngài sẽ không làm gì chúng ta cả! Sẽ chẳng có điều bất hạnh nào xảy đến cho chúng ta đâu! Chúng ta sẽ không thấy chiến tranh hay đói kém!
JER 5:13 Các nhà tiên tri giống như hơi gió; lời của Thượng Đế không có trong chúng. Vậy hãy để những điều chẳng lành mà họ nói sẽ xảy ra cho chúng đi.’”
JER 5:14 Vì thế CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Dân chúng nói rằng ta sẽ không trừng phạt họ. Cho nên những lời ta ban cho ngươi sẽ giống như lửa, Chúng sẽ như củi bị lửa đốt cháy.”
JER 5:15 CHÚA phán, “Hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe, Ta sẽ sớm đưa một dân tộc từ một xứ xa xôi đến tấn công các ngươi. Đó là một dân tộc xa xưa và tồn tại lâu đời. Chúng nói một ngôn ngữ mà các ngươi không hiểu; các ngươi không biết chúng nói gì.
JER 5:16 Các mũi tên chúng nó vô cùng độc hại. Tất cả chúng nó đều là chiến sĩ mạnh bạo.
JER 5:17 Chúng sẽ ăn nuốt mùa màng và thực phẩm các ngươi. Chúng sẽ ăn tươi nuốt sống con trai con gái các ngươi. Chúng sẽ ăn bầy bò và bầy chiên ngươi. Chúng sẽ ăn cây nho và cây vả ngươi. Chúng sẽ dùng gươm tiêu diệt các thành có vách kiên cố mà ngươi ỷ lại.”
JER 5:18 CHÚA phán, “Dù vậy, ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt các ngươi.
JER 5:19 Khi dân Giu-đa hỏi, ‘Tại sao CHÚA là Thượng Đế chúng ta giáng những điều gớm ghê nầy cho chúng ta?’ thì hãy trả lời cùng chúng rằng: ‘Các ngươi đã lìa bỏ Thượng Đế và phục vụ các thần ngoại quốc trong xứ mình. Cho nên bây giờ các ngươi sẽ làm tôi cho người ngoại quốc trong một xứ không thuộc về mình.’
JER 5:20 Hãy loan báo cùng nhà Gia-cốp, hãy cho dân Giu-đa biết như sau:
JER 5:21 Hỡi các dân ngu dốt, không biết suy nghĩ, hãy nghe lời nầy, Chúng nó có mắt mà không thấy. Có tai mà không nghe.”
JER 5:22 CHÚA phán, “Hẳn nhiên các ngươi nên sợ ta, Các ngươi nên run sợ trước mặt ta. Ta là đấng đặt bờ làm ranh giới cho biển, một ranh giới mà nước không tràn qua được. Sóng đánh vào bờ, nhưng không phá nó được. Sóng gầm thét nhưng không vượt qua được.
JER 5:23 Nhưng dân Giu-đa rất ương ngạnh và chống nghịch ta. Chúng đã xoay lưng đi xa khỏi ta.
JER 5:24 Chúng không bao giờ tự nghĩ, ‘Chúng ta nên kính sợ CHÚA là Thượng Đế chúng ta, Đấng ban cho chúng ta mưa thu, mưa hạ đúng thì, và ban cho mùa gặt hái vào đúng lúc.’
JER 5:25 Nhưng sự gian ác các ngươi ngăn chận mưa và mùa gặt. Tội lỗi các ngươi cản trở, không cho các ngươi vui hưởng những điều tốt lành.
JER 5:26 Trong vòng dân ta có kẻ gian ác. Giống như người giăng lưới bắt chim, chúng đánh bẫy người ta và cướp tài sản họ.
JER 5:27 Như lồng đầy chim, nhà chúng nó đầy dẫy sự dối trá. Vì thế mà chúng đã trở nên giàu có và thế lực.
JER 5:28 Chúng hóa ra mập béo. Việc ác chúng làm không bao giờ ngưng. Chúng không bênh vực kẻ mồ côi, hay bảo vệ lẽ phải cho người nghèo khổ.”
JER 5:29 CHÚA hỏi, “Lẽ nào ta không trừng phạt dân Giu-đa vì những điều ác nầy sao? Lẽ nào ta không trừng trị một dân như thế nầy cho đáng tội nó sao?
JER 5:30 Có một chuyện kinh hoàng ghê gớm xảy đến trong xứ Giu-đa:
JER 5:31 Các nhà tiên tri nói dối, còn các thầy tế lễ lạm dụng quyền hành, vậy mà dân chúng chịu được. Nhưng các ngươi sẽ làm gì khi tận số?”
JER 6:1 “Hỡi dân Bên-gia-min, hãy chạy để cứu mạng! Hãy chạy ra khỏi Giê-ru-sa-lem! Hãy thổi kèn chiến trận trong thành Tê-cô-a! Hãy giương cờ báo động trên tỉnh Bết Ha-kê-rem! Thảm họa sẽ đến từ phương Bắc; sự tàn phá khủng khiếp đang vồ lấy ngươi.
JER 6:2 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta sẽ tiêu diệt ngươi, ngươi là kẻ mảnh mai dịu dàng.
JER 6:3 Các kẻ chăn chiên và bầy mình sẽ đến đánh Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ dựng lều quanh nó, Mỗi một người chăn lo riêng cho khu vực mình.”
JER 6:4 Họ bảo, “Hãy sẵn sàng tiến đánh Giê-ru-sa-lem! Hãy đứng lên! Chúng ta sẽ tiến đánh vào buổi trưa! Nhưng chúng sẽ bảo: Không được! Quá trễ rồi; bóng chiều tà đã ngã dài.
JER 6:5 Vậy hãy đứng lên! Chúng ta sẽ tấn công lúc ban đêm. Chúng ta sẽ tiêu hủy các tháp canh vững chắc của Giê-ru-sa-lem!”
JER 6:6 Đấng Toàn Năng phán như sau: “Hãy đốn hết cây cối quanh Giê-ru-sa-lem, xây một đồi đất tấn công lên đến chóp của vách nó. Phải trừng trị thành nầy. Bên trong nó chẳng có gì ngoài cảnh nô lệ.
JER 6:7 Ít-ra-en luôn gây thêm điều gian ác mới như giếng nước tạo ra nước trong và mát. Người ta nghe tiếng bạo động và tàn phá bên trong thành. Ta có thể nhìn thấy bệnh tật và thương tổn của Giê-ru-sa-lem.
JER 6:8 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời cảnh cáo nầy, nếu không ta sẽ quay lưng khỏi các ngươi khiến xứ các ngươi ra sa mạc hoang vu không ai ở.”
JER 6:9 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Hãy gom góp các dân sống sót của Ít-ra-en lại, như ngươi mót các trái nho còn sót trên cành. Kiểm điểm cây nho lần nữa, như người ta thu góp trái nho.”
JER 6:10 Tôi nói với ai bây giờ? Tôi cảnh cáo ai đây? Ai bằng lòng nghe tôi? Dân Ít-ra-en đã bịt tai để khỏi nghe lời cảnh cáo của tôi. Họ không thích nghe lời CHÚA phán; họ không muốn nghe lời Ngài!
JER 6:11 Nhưng tôi đầy ắp cơn thịnh nộ của CHÚA, tôi chán không muốn giữ nó trong người. “Hãy trút cơn giận ta trên các trẻ nhỏ đang nô đùa trong phố và trên các thanh niên đang tụ tập. Cả chồng lẫn vợ sẽ bị cơn thịnh nộ Ngài ập bắt, người già cả cũng vậy.
JER 6:12 Nhà cửa họ sẽ được giao cho người khác, cùng với ruộng nương và vợ họ, vì ta sẽ giơ tay ra trừng phạt dân Giu-đa,” CHÚA phán vậy.
JER 6:13 “Tất cả mọi người, từ sang đến hèn đều tham tiền. Thậm chí nhà tiên tri và thầy tế lễ cũng đều nói dối.
JER 6:14 Họ tìm cách chữa các vết thương trầm trọng của dân ta, làm như vết thương sơ sài. Chúng bảo, ‘Không sao, không sao.’ Nhưng kỳ thực chẳng phải vậy.
JER 6:15 Chúng phải biết xấu hổ về hành vi của mình, nhưng chúng lại không biết xấu hổ gì cả. Chúng cũng chẳng biết hổ thẹn về tội lỗi mình. Cho nên chúng sẽ ngã quỵ cùng với những người khác.” CHÚA phán, “Khi ta trừng phạt chúng, chúng sẽ ngã xuống đất.”
JER 6:16 CHÚA phán như sau: “Hãy đứng chỗ ngã tư đường và nhìn. Hỏi thăm đường cũ ở đâu, rồi hỏi đường nào đúng mà đi theo đó. Làm như vậy, các ngươi sẽ tìm được nơi an nghỉ cho mình. Nhưng chúng đáp, ‘Chúng tôi không muốn đi con đường đúng.’
JER 6:17 Ta đã đặt lính gác để canh chừng các ngươi, Hãy lắng nghe tiếng kèn chiến trận trỗi lên!” Nhưng chúng bảo, “Chúng tôi không muốn nghe.”
JER 6:18 Cho nên, hỡi các dân, hãy nghe, hỡi các nhân chứng, hãy để ý. Hãy nhìn những gì ta sẽ làm cho dân Giu-đa.
JER 6:19 Hỡi các dân trên đất, hãy nghe điều nầy: Ta sẽ mang thảm họa đến cho dân Giu-đa vì những điều ác chúng âm mưu. Chúng không thèm nghe lời khuyên ta và gạt bỏ lời giáo huấn ta.
JER 6:20 Sao các ngươi mang của lễ bằng trầm hương từ đất Sê-ba đến cho ta làm gì? Sao các ngươi mang quế hương từ xứ xa xôi đến cho ta làm chi? Ta sẽ không nhận của lễ thiêu của các ngươi đâu; Những sinh tế các ngươi không làm vừa lòng ta.
JER 6:21 Cho nên đây là lời CHÚA phán: “Ta sẽ gây khó khăn trước mặt Giu-đa. Cả cha và con đều té nhào. Láng giềng và bạn hữu cùng chết chung.”
JER 6:22 CHÚA phán như sau: “Nầy, có một đạo quân từ miền Bắc tràn tới; một dân đông đảo đang tiến đến từ vùng đất xa xôi.
JER 6:23 Các chiến sĩ chúng nó đều mang cung và giáo. Chúng nó rất hung bạo, không có lòng nhân đạo đâu. Khi chúng phi ngựa nghe như tiếng sóng biển gầm thét. Đạo quân ấy đang tập họp sẵn sàng ra trận, sẵn sàng tấn công ngươi đó, hỡi Giê-ru-sa-lem.”
JER 6:24 Chúng ta đã nghe tin về đạo quân đó và đâm ra tê liệt vì hoảng sợ. Chúng ta bị cơn đau đớn bắt lấy, như đàn bà đang đau đẻ.
JER 6:25 Đừng đi vào trong ruộng hay đi trên đường, vì kẻ thù mang gươm giáo. Bên nào cũng đáng sợ cả.
JER 6:26 Hỡi dân ta, hãy mặc vải sô và lăn trong tro bụi để tỏ dấu buồn rầu. Hãy than khóc cho những kẻ đã chết, như thể khóc cho con mình, vì kẻ hủy diệt sẽ đến trong nay mai để nghịch lại chúng ta.
JER 6:27 “Hỡi Giê-rê-mi, ta đã khiến ngươi làm một tay thợ thử kim khí, dân ta giống như quặng kim khí, để ngươi biết mà thử các việc làm của chúng nó.
JER 6:28 Toàn thể dân ta đã chống nghịch ta và đều ương ngạnh. Chúng đi quanh tung tin láo khoét lẫn nhau. Chúng như đồng và sắt bị rỉ sét. Tất cả đều thối nát.
JER 6:29 Lửa được quạt cho nóng thêm, nhưng chỉ lấy được chì từ trong lửa. Không có kim loại nguyên chất chảy ra; điều ác chưa được cất ra khỏi dân ta.
JER 6:30 Dân ta sẽ được gọi là bạc bị ném bỏ, vì CHÚA đã ném bỏ họ.”
JER 7:1 Đây là lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi:
JER 7:2 “Hãy đứng nơi cửa đền thờ và tuyên bố sứ điệp nầy: Hỡi tất cả dân Giu-đa, hãy nghe lời CHÚA phán! Hỡi tất cả các ngươi là kẻ đi qua các cổng nầy để thờ phụng CHÚA, hãy nghe lời sau đây!
JER 7:3 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy thay đổi lòng mình và làm điều thiện thì ta sẽ để cho các ngươi sống trong đất nầy.
JER 7:4 Đừng nghe lời dối gạt của những kẻ bảo, ‘Đây là đền thờ CHÚA. Đây là đền thờ CHÚA. Đây là đền thờ CHÚA!’
JER 7:5 Các ngươi phải thay đổi nếp sống và làm điều thiện. Phải đối xử công bằng với nhau.
JER 7:6 Các ngươi không nên ức hiếp khách lạ, trẻ mồ côi và người góa bụa. Không được giết người vô tội nơi đây! Chớ đi theo các thần khác nếu không chúng sẽ tàn hại đời các ngươi.
JER 7:7 Nếu các ngươi làm những điều ấy thì ta sẽ để cho các ngươi sống trong đất nầy là đất mà ta ban cho tổ tiên các ngươi để giữ làm sản nghiệp đời đời.
JER 7:8 Nhưng xem kìa, các ngươi tin tưởng vào những lời dối gạt vô bổ.
JER 7:9 Các ngươi sẽ ăn cắp, giết người và gian dâm sao? Các ngươi sẽ vu khống kẻ khác sao? Các ngươi sẽ đốt hương cho thần Ép-ra-im và đi theo các thần khác mà mình chưa biết sao?
JER 7:10 Nếu các ngươi làm như thế mà các ngươi nghĩ có thể đến trước mặt ta và đứng tại nơi đây là nơi mà ta đã chọn để được thờ lạy sao? Các ngươi nghĩ rằng mình có thể nói, ‘Chúng ta bình yên vô sự!’ trong khi vẫn làm những chuyện ghê tởm đó sao?
JER 7:11 Nơi nầy là nơi mà ta đã chọn để được thờ phụng thì các ngươi xem chẳng khác nào sào huyệt lũ cướp. CHÚA phán, ngươi phải biết rằng ta đang canh chừng các ngươi.
JER 7:12 Hỡi dân cư Giu-đa, bây giờ hãy đi đến Si-lô, chỗ ta chọn làm nơi thờ phụng đầu tiên. Hãy nhìn những gì ta đã làm cho nó vì những điều ác dân Ít-ra-en đã làm.
JER 7:13 Các ngươi là dân Giu-đa cũng làm những điều ác tương tự, CHÚA phán vậy. Ta đã cảnh cáo các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi không thèm nghe. Ta gọi, nhưng các ngươi không trả lời.
JER 7:14 Cho nên ta sẽ hủy phá nơi mà ta đã chọn để được thờ phụng tại Giê-ru-sa-lem. Các ngươi tin cậy nơi đó là nơi mà ta đã ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi, nhưng ta sẽ hủy phá nó như đã hủy phá Si-lô.
JER 7:15 Ta sẽ xô các ngươi ra xa khỏi ta như ta đã xô thân nhân các ngươi là dân Ít-ra-en!
JER 7:16 Còn về phần ngươi, hỡi Giê-rê-mi, đừng cầu thay cho dân nầy. Đừng nài xin ta giúp họ vì ta sẽ không nghe ngươi đâu.
JER 7:17 Ngươi không thấy điều chúng đang làm trong các thị trấn Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem sao?
JER 7:18 Con cái đi lượm củi, cha dùng củi để chụm lửa. Đàn bà nhồi bột làm bánh rồi dâng cho Nữ vương trên trời. Chúng rót của lễ uống ra cho các thần khác để chọc giận ta.
JER 7:19 CHÚA phán, ta không phải là Đấng mà chúng làm tổn thương đâu. Chính chúng tự làm tổn thương mình và chuốc lấy hổ nhục cho mình.”
JER 7:20 Cho nên CHÚA phán như sau: “Ta sẽ trút cơn thịnh nộ của ta lên nơi nầy, lên người và súc vật, lên cây cối trong đồng và mùa màng trên đất. Cơn thịnh nộ ta sẽ như lửa hừng không ai dập tắt được.”
JER 7:21 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Hãy dâng của lễ thiêu cùng với các sinh tế khác, và ăn thịt của lễ đó!
JER 7:22 Khi ta mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập, không những ta chỉ nói với họ và ban chỉ thị cho họ về của lễ thiêu và sinh tế mà thôi đâu.
JER 7:23 Ta cũng cho họ mệnh lệnh nầy: Hãy vâng lời ta, thì ta sẽ là Thượng Đế các ngươi và các ngươi sẽ là dân ta. Hãy làm theo điều ta truyền để phước hạnh đổ trên các ngươi.
JER 7:24 Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không đếm xỉa gì đến ta. Chúng ương ngạnh và chỉ làm theo điều lòng mình muốn. Chúng đi giật lùi, không chịu đi tới.
JER 7:25 Kể từ khi tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập, ta đã sai các tôi tớ ta, các nhà tiên tri đến cùng các ngươi nhiều lần.
JER 7:26 Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không thèm đếm xỉa đến ta. Chúng ương ngạnh và làm ác hơn cả tổ tiên mình nữa.”
JER 7:27 “Hỡi Giê-rê-mi, ngươi sẽ nói những điều đó cho dân Giu-đa, nhưng chúng sẽ không nghe ngươi đâu. Ngươi sẽ gọi chúng, nhưng chúng sẽ không trả lời.
JER 7:28 Cho nên hãy bảo chúng, ‘Đây là một dân tộc không vâng lời CHÚA là Thượng Đế mình. Dân nầy không học được gì khi ta sửa trị chúng. Chúng không nói sự thật; sự thật đã biến mất khỏi môi miệng chúng.’”
JER 7:29 Hãy cắt tóc ngươi và ném bỏ đi. Hãy đi lên đồi trọc và kêu la vì CHÚA đã từ bỏ dân nầy. Ngài quay mặt khỏi họ và sẽ trừng phạt họ trong cơn thịnh nộ Ngài.
JER 7:30 Dân Giu-đa đã làm điều ác, CHÚA phán vậy. Chúng đã dựng các thần tượng đáng gớm ghiếc ở nơi ta chọn để thờ phụng, và biến nơi đó ra nhơ nhớp.
JER 7:31 Dân Giu-đa đã xây các nơi thờ cúng địa phương ở Tô-phết, trong thung lũng Bên-Hin-nôm. Họ thiêu con trai con gái mình để tế thần, điều mà ta không bao giờ dặn bảo. Ta không hề có ý nghĩ đó.
JER 7:32 Cho nên ta cảnh cáo các ngươi. CHÚA phán, sắp đến ngày người ta không gọi nơi nầy là Tô-phết hay thung lũng Bên-Hin-nôm nữa. Họ sẽ gọi nó là Thung lũng giết chóc. Chúng sẽ chôn những người chết trong Tô-phết cho đến khi không còn đủ chỗ chôn nữa.
JER 7:33 Rồi các xác chết sẽ làm thức ăn cho chim trời và muông thú. Sẽ không còn ai sống sót để đuổi chúng nó đi.
JER 7:34 Ta sẽ chấm dứt tiếng reo vui của cô dâu và chú rể. Sẽ không còn có tiếng reo vui trong các thành phố của Giu-đa hay trong các đường phố Giê-ru-sa-lem vì đất sẽ hoang vu như sa mạc!
JER 8:1 CHÚA phán: “Lúc đó chúng sẽ bốc ra khỏi mộ xương cốt của các vua và các quan trưởng, các thầy tế lễ và tiên tri cùng dân cư Giê-ru-sa-lem.
JER 8:2 Người ta sẽ phơi xương đó trên mặt đất dưới ánh mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao là những thứ chúng đã yêu mến, phục vụ, đi theo, tìm tòi và thờ lạy. Sẽ chẳng có ai gom lại hay chôn cất các xương đó. Chúng sẽ như phân rải trên đất.
JER 8:3 Ta sẽ đuổi dân Giu-đa ra khỏi nhà cửa, đất đai của chúng. CHÚA Toàn Năng phán, những ai trong gia đình gian ác đó mà còn sống đều mong được chết.”
JER 8:4 Hãy nói cùng dân Giu-đa rằng: CHÚA phán: “Nếu ai ngã chẳng lẽ không ngồi dậy sao? Nếu ai đi lạc đường chẳng lẽ không quay trở lại sao?
JER 8:5 Nếu vậy thì dân cư Giê-ru-sa-lem đã lạc đường sao chưa thấy quay lại? Chúng tin vào những lời dối trá của mình, không chịu đổi hướng quay lại.
JER 8:6 Ta đã lắng nghe chúng thật kỹ mà chẳng thấy chúng nói điều gì lành. Chúng không hề ân hận về đường lối ác của mình, Chúng nói rằng, ‘Tôi có làm gì đâu?’ Ai nấy đều làm theo ý mình, như ngựa xông vào chiến trận.
JER 8:7 Dù chim trời cũng biết đúng kỳ hành động. Con cò, cu đất, chim én và con nhạn đều biết lúc nào phải di cư. Nhưng dân ta không thèm biết CHÚA muốn họ làm gì.
JER 8:8 Các ngươi vẫn cứ nói, ‘Chúng ta khôn ngoan, vì chúng ta có lời dạy dỗ của CHÚA.’ Nhưng thật ra những kẻ giải thích Thánh Kinh dùng ngòi viết mình mà nói dối.
JER 8:9 Những kẻ khôn ngoan đó không thèm nghe lời của CHÚA, nên chúng có khôn ngoan gì đâu? Chúng sẽ bị xấu hổ. Chúng sẽ bị sửng sốt và sập bẫy.
JER 8:10 Nên ta sẽ trao vợ chúng nó cho đàn ông khác và ruộng nương chúng cho chủ mới. Tất cả mọi người, từ sang đến hèn đều tham tiền. Thậm chí các nhà tiên tri và thầy tế lễ đều nói dối.
JER 8:11 Họ tìm cách chữa các vết thương trầm trọng của dân ta như thể vết thương sơ sài. Chúng bảo, ‘Không sao, không sao.’ Nhưng kỳ thực không phải vậy.
JER 8:12 Chúng phải biết xấu hổ về hành vi của mình, nhưng chúng lại không biết xấu hổ gì cả. Chúng cũng chẳng biết mất cỡ về tội lỗi mình. Cho nên chúng sẽ ngã quỵ cùng với những người khác.” CHÚA phán, “Khi ta trừng phạt chúng, chúng sẽ ngã xuống đất.”
JER 8:13 CHÚA phán “Ta chắc chắn sẽ phá hủy mùa màng chúng, Sẽ không còn trái nho trên dây nho, hay trái vả trên cây vả. Thậm chí cho đến lá cũng sẽ khô héo. Ta sẽ cất lấy những gì ta ban cho chúng.”
JER 8:14 “Tại sao chúng ta ngồi đây làm gì? Chúng ta hãy họp nhau lại! Chúng ta đã phạm tội cùng CHÚA, nên Ngài cho chúng ta uống thuốc độc. Nhanh lên, chúng ta hãy chạy đến các thành có vách kiên cố. CHÚA là Thượng Đế đã định rằng chúng ta phải chết, vậy thà chúng ta chết ở đó còn hơn.
JER 8:15 Chúng ta mong mỏi hòa bình, nhưng chẳng có gì tốt đến cả. Chúng ta mong có lúc Ngài sẽ chữa lành chúng ta, nhưng chỉ toàn thấy kinh hoàng.
JER 8:16 Từ xứ Đan người ta có thể nghe được tiếng khịt mũi của ngựa kẻ thù. Đất rúng động vì tiếng hí của các con ngựa cao lớn của chúng nó. Chúng đến để tiêu diệt đất đai và mọi thứ trong đó, từ thành thị cho đến dân cư.”
JER 8:17 “Đúng! Ta sẽ sai rắn độc đến cắn các ngươi. Đó là loài rắn mà không ai ếm chú được, chúng sẽ cắn các ngươi,” CHÚA phán vậy.
JER 8:18 Lạy Thượng Đế, Tôi buồn thảm và sợ hãi.
JER 8:19 Xin Ngài hãy nghe tiếng của dân tộc tôi. Họ kêu khóc từ nơi xa xăm rằng: “CHÚA có còn ở Giê-ru-sa-lem không? Vua Giê-ru-sa-lem còn ở đó không?” Nhưng Thượng Đế đáp, “Tại sao họ chọc giận ta bằng cách bái lạy thần tượng, tức các tượng chạm ngoại lai vô dụng?”
JER 8:20 Dân chúng thưa, “Mùa gặt đã xong; mùa hạ đã qua mà chúng ta vẫn chưa được cứu.”
JER 8:21 Vì dân tôi đã bị chà đạp, tôi cũng bị chà đạp. Tôi khóc lóc thảm thiết và lo sợ cho họ.
JER 8:22 Trong đất Ghi-lê-át không có dầu xức sao? Nơi đó không có y sĩ sao? Sao không ai chữa lành vết thương của dân ta?
JER 9:1 Ước gì đầu tôi là suối nước và mắt tôi là nguồn lệ! Để tôi than khóc ngày đêm cho những người dân của tôi đã bị giết.
JER 9:2 Ước gì tôi có một nơi ở trong sa mạc, một cái nhà để lữ khách trú đêm, để tôi có thể tránh xa dân tôi. Để tôi có thể tạm xa lánh họ, vì họ đều bất trung cùng Thượng Đế; ai nấy đều chống nghịch Ngài.
JER 9:3 “Chúng dùng lưỡi mình như cái cung, bắn những lời dối gạt ra khỏi miệng mình như tên. Sự dối trá, không phải sự thật, đã lan tràn khắp xứ. Chúng làm từ chuyện ác nầy đến chuyện ác khác. Chúng chẳng biết ta là ai,” CHÚA phán vậy.
JER 9:4 “Ai nấy hãy trông chừng bạn hữu mình, chớ tin tưởng thân nhân mình, vì ai nấy đều lường gạt lẫn nhau, bạn bè đi phao điều láo khoét về ngươi.
JER 9:5 Ai nấy đều nói dối cùng bạn mình, chẳng có ai nói thật cả. Dân Giu-đa đã tập lưỡi mình nói dối. Chúng phạm tội đến khi thấm mệt.
JER 9:6 Hỡi Giê-rê-mi, ngươi sống giữa những lời dối gạt; vì nói dối nên chúng không chịu nhìn biết ta,” CHÚA phán vậy.
JER 9:7 Nên CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Ta sẽ thử nghiệm dân Giu-đa như người ta dùng lửa thử kim loại. Ta không có cách nào khác, vì dân ta đã phạm tội.
JER 9:8 Lưỡi chúng bén nhọn như tên. Môi miệng chúng nói điều dối trá. Ai nấy đều nói ngon ngọt cùng người láng giềng mình, mà trong lòng thì manh tâm hại họ.”
JER 9:9 CHÚA hỏi, “Chẳng lẽ ta không trừng phạt những kẻ làm như thế sao?” “Chẳng sẽ ta không giáng trừng phạt trên một dân như vậy cho xứng đáng với tội chúng sao?”
JER 9:10 Tôi, Giê-rê-mi, sẽ khóc lóc thảm thiết cho các núi non và hát bài ai ca cho các ruộng nương bỏ phế. Tất cả đều hoang vu, không ai qua lại. Tiếng bò rống không còn nghe. Chim chóc bay đi cả rồi, và thú vật cũng chẳng còn.
JER 9:11 CHÚA phán, “Ta, CHÚA, sẽ biến thành Giê-ru-sa-lem ra đống hoang tàn, thành một nơi ở của chó rừng. Ta sẽ hủy diệt các thành của Giu-đa để không còn ai ở đó.”
JER 9:12 Ai là người khôn ngoan để hiểu biết những điều nầy? Có ai được CHÚA dạy bảo để giải thích những chuyện nầy không? Tại sao đất bị hủy hoại? Tại sao xứ đã trở thành sa mạc hoang vu không ai ở?
JER 9:13 CHÚA đáp, “Vì dân Giu-đa đã bỏ lời giáo huấn mà ta đã truyền cho. Chúng không vâng lời hay làm theo điều ta dặn bảo.
JER 9:14 Ngược lại, chúng đã ương ngạnh, chạy theo Ba-anh như tổ tiên chúng dạy bảo.”
JER 9:15 Vì vậy mà CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ sớm khiến dân Giu-đa ăn vật đắng và uống nước độc.
JER 9:16 Ta sẽ phân tán chúng ra trong các dân tộc khác mà cả chúng lẫn tổ tiên chúng chưa hề biết. Ta sẽ dùng gươm đánh đuổi dân cư Giu-đa cho đến khi chúng bị tận diệt.”
JER 9:17 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Bây giờ hãy suy nghĩ đến những chuyện nầy! Hãy gọi những người đàn bà khóc mướn đến. Hãy mời những đàn bà giỏi về nghề đó.
JER 9:18 Bảo họ đến ngay và than khóc cho chúng ta. Để cho mắt chúng ta đẫm lệ, và đôi dòng nước mắt sẽ tuôn chảy từ mí mắt chúng ta.
JER 9:19 Người ta nghe tiếng kêu khóc thảm thiết từ Giê-ru-sa-lem: ‘Chúng ta bị hủy hoại rồi! Chúng ta thật đáng xấu hổ! Chúng ta phải rời xứ mình, vì nhà cửa chúng ta tiêu tan rồi.’”
JER 9:20 Bây giờ, hỡi các phụ nữ Giu-đa, hãy nghe lời CHÚA phán: hãy mở lỗ tai các ngươi ra mà nghe lời từ miệng Ngài. Hãy dạy con gái các ngươi biết khóc lóc thảm thiết. Hãy dạy nhau hát bài ai ca.
JER 9:21 Cái chết đã trèo qua cửa sổ chúng ta, xâm nhập vào các lâu đài, và thành phố của chúng ta. Cái chết đã ập đến bắt các trẻ con chúng ta đang chơi ngoài phố và các trai tráng đang gặp gỡ nhau nơi công viên.
JER 9:22 Hãy bảo, “CHÚA phán như sau: ‘Thây người sẽ nằm la liệt trong đồng trống như phân bón. Chúng sẽ nằm la liệt như lúa mà nhà nông mới gặt, nhưng không ai gom lại.’”
JER 9:23 CHÚA phán như sau: “Người khôn chớ khoe về sự khôn ngoan mình. Người mạnh chớ khoe về sức lực mình. Người giàu chớ khoe về của cải mình.
JER 9:24 Nhưng ai muốn khoe thì hãy khoe rằng mình hiểu biết CHÚA. Hãy khoe rằng ta là CHÚA, và rằng ta nhân từ và công bằng, làm điều phải trên đất. Khoe như thế làm vừa lòng ta,” CHÚA phán vậy.
JER 9:25 CHÚA phán, “Đến lúc ta sẽ trừng phạt những kẻ chỉ có cắt dương bì trong thể xác thôi:
JER 9:26 dân Ai-cập, Giu-đa, Ê-đôm, Am-môn, Mô-áp, và các dân du mục trong sa mạc cắt tóc ngắn. Vì đàn ông của các dân đó không cắt dương bì. Còn cả nhà Ít-ra-en cũng không hết lòng phục vụ ta.”
JER 10:1 Hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe lời CHÚA phán cùng các ngươi.
JER 10:2 Ngài phán như sau: “Đừng sống như các dân khác, đừng lo sợ các dấu lạ trên trời, dù rằng các dân khác sợ.
JER 10:3 Phong tục của các dân khác không có giá trị gì. Thần tượng chúng nó chỉ là khúc gỗ đốn trong rừng, rồi thợ đục đẽo mà thành.
JER 10:4 Chúng dùng vàng bạc giát lên các thần tượng đó. Rồi dùng búa và đinh đóng xuống cho chúng khỏi ngã.
JER 10:5 Các thần tượng chúng như hình nộm đặt trong ruộng dưa; chúng không biết nói. Vì không biết đi, nên người ta phải khiêng chúng. Đừng sợ các thần tượng đó, vì chúng không thể làm hại các ngươi được, cũng chẳng giúp gì được cho ngươi.”
JER 10:6 Lạy CHÚA, không có ai giống như Ngài, Ngài thật cao cả, danh Ngài oai nghi và hùng mạnh.
JER 10:7 Hỡi Vua của các dân, mọi người phải tôn kính Ngài; Ngài đáng được tôn kính. Trong số tất cả các người khôn ngoan giữa các dân, giữa các nước, không ai khôn ngoan như Ngài.
JER 10:8 Những kẻ khôn ngoan đó thật ngu dại và ngờ nghệch. Những điều dạy dỗ của chúng đều đến từ các thần tượng bằng gỗ vô dụng.
JER 10:9 Bạc giát mỏng từ Tạt-si và vàng mang từ U-pha về, để cho các thợ khéo và thợ bạc tạc tượng. Chúng mặc áo quần xanh và tím cho tượng. Tất cả những đồ đó đều do tay thợ khéo làm ra.
JER 10:10 Nhưng CHÚA là Thượng Đế chân thật duy nhất. Ngài là Thượng Đế hằng sống duy nhất, là Vua đời đời. Đất rung chuyển khi CHÚA nổi giận, các dân không thể chịu nổi cơn giận Ngài.
JER 10:11 Hãy bảo chúng như sau: “Các thần đó không tạo ra trời đất; chúng sẽ bị tiêu hủy và biến mất khỏi trời đất.”
JER 10:12 Thượng Đế dùng quyền năng Ngài tạo nên trái đất. Ngài dùng sự khôn ngoan mình dựng nên thế gian và dùng sự thông sáng Ngài trải các bầu trời ra.
JER 10:13 Khi Ngài gầm lên, thì nước trên trời vang động. Ngài khiến mây mọc lên trên bầu trời, đầy khắp cả đất. Ngài sai sấm chớp đến với mưa và mang gió ra từ các kho Ngài.
JER 10:14 Loài người ngu dại, ít hiểu biết. Các thợ bạc cảm thấy xấu hổ về những tượng chạm mình, vì các tượng đó chỉ là thần giả. Chúng không có hơi thở.
JER 10:15 Chúng hoàn toàn vô dụng; người ta chế diễu chúng. Khi bị xét xử, chúng sẽ bị tiêu diệt.
JER 10:16 Nhưng Thượng Đế là phần của Gia-cốp, không giống các thần ấy. Ngài tạo nên muôn vật, và chọn Ít-ra-en làm dân riêng của Ngài. Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
JER 10:17 Hãy gom góp của cải ngươi và chuẩn bị rời xứ, các ngươi là những kẻ đang bị kẻ thù bao vây.
JER 10:18 CHÚA phán như sau: “Vào lúc nầy ta sẽ trục xuất những dân sống trong xứ nầy. Ta sẽ mang khốn khổ đến cho chúng để chúng bị bắt làm tù binh.”
JER 10:19 Khốn cho tôi vì thương tích của tôi. Vết thương tôi không thể chữa lành. Nhưng tôi vẫn tự nhủ, “Đây là bệnh tật của tôi, tôi phải gánh chịu.”
JER 10:20 Lều tôi đã bị tiêu hủy rồi, các dây thừng giăng lều đã đứt. Các con cái tôi đã ra đi, bỏ tôi lại. Không còn ai giúp tôi dựng lều trở lại hay làm một nơi tạm trú cho tôi.
JER 10:21 Các người chăn chiên rất ngu dại không thèm hỏi ý CHÚA. Vì thế họ làm việc gì cũng không thành công, các bầy chiên của họ đã bị tản lạc.
JER 10:22 Hãy nghe! Có tin loan ra. Có tiếng vang ra từ phương Bắc để biến các thị trấn Giu-đa ra sa mạc hoang vu làm nơi ở cho chó rừng!
JER 10:23 Lạy CHÚA, tôi biết mạng sống con người không ở trong tay họ. Không ai làm chủ được đời mình.
JER 10:24 Lạy CHÚA, xin sửa dạy tôi nhưng hãy công bằng. Đừng trừng phạt tôi trong khi Ngài nổi giận, nếu không Ngài sẽ tiêu diệt tôi.
JER 10:25 Xin hãy trút cơn giận Ngài trên các dân khác là những dân không biết Ngài và không cầu khẩn cùng Ngài. Các dân đó đã tiêu diệt nhà Gia-cốp. Chúng đã hoàn toàn ăn nuốt nhà đó, và phá hủy xứ họ.
JER 11:1 Đây là lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi:
JER 11:2 “Hãy nghe những lời của giao ước nầy rồi thuật lại cho dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
JER 11:3 Hãy bảo cho họ biết rằng CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Khốn cho kẻ nào không vâng theo những lời của giao ước nầy
JER 11:4 mà ta đã lập với tổ tiên các ngươi khi ta mang họ ra khỏi Ai-cập. Ai-cập là một lò lửa hừng luyện sắt!’ Ta bảo họ, ‘Hãy vâng lời và làm theo mọi mệnh lệnh ta thì các ngươi sẽ là dân ta, còn ta sẽ làm Thượng Đế của các ngươi.
JER 11:5 Ta sẽ giữ lời hứa ta cùng tổ tiên các ngươi rằng ta sẽ ban cho họ một xứ phì nhiêu.’ Và hiện nay các ngươi đang sống trong xứ đó.” Tôi thưa, “Lạy CHÚA, A-men.”
JER 11:6 CHÚA phán cùng tôi, “Hãy loan báo điều nầy trong các thị trấn Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem: Hãy nghe những lời của giao ước nầy và làm theo.
JER 11:7 Ta đã khuyên răn tổ tiên các ngươi phải vâng lời ta khi ta mang họ ra khỏi Ai-cập. Ta khuyên đi khuyên lại nhiều lần cho đến ngày nay: ‘Hãy vâng lời ta!’
JER 11:8 Nhưng tổ tiên các ngươi không thèm vâng lời ta. Họ ương ngạnh và nhất định làm theo lòng gian ác mình. Vì thế ta giáng những điều nguyền rủa trong giao ước nầy trên họ. Ta truyền dặn họ vâng theo giao ước nhưng họ không nghe.”
JER 11:9 Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Ta biết dân Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem đang âm mưu.
JER 11:10 Chúng đã trở lại phạm những tội giống như tổ tiên mình. Tổ tiên chúng đã không nghe lời ta, trái lại đi thờ lạy các thần khác. Nhà Ít-ra-en và Giu-đa đã phá giao ước ta lập với tổ tiên chúng.”
JER 11:11 Nên CHÚA phán như sau: “Hãy để ý đây. Ta sẽ sớm mang thảm họa trên dân Giu-đa, họ sẽ không thoát được. Họ sẽ kêu cứu cùng ta nhưng ta sẽ không thèm nghe.
JER 11:12 Dân sống trong các thị trấn Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem sẽ cầu nguyện cùng các thần tượng mà chúng nó đã đốt hương nhưng các thần đó không giúp gì được khi thảm họa đến.
JER 11:13 Hỡi dân Giu-đa, các ngươi có bao nhiêu thị trấn thì có bấy nhiêu thần. Các ngươi đã xây số bàn thờ nhiều bằng số đường phố của Giê-ru-sa-lem để đốt hương cho thần Ba-anh gớm ghiếc.”
JER 11:14 Còn về phần ngươi, hỡi Giê-rê-mi, chớ cầu khẩn cho dân nầy, đừng kêu khóc cho chúng nó hay xin ân huệ nào giùm cho chúng. Ta sẽ không nghe khi chúng nó kêu xin cùng ta trong lúc khốn cùng.
JER 11:15 “Giu-đa yêu dấu của ta hiện đang làm gì trong đền thờ ta khi nó lập nhiều mưu ác? Ngươi cho rằng những sinh tế sẽ giúp ngươi tránh khỏi trừng phạt sao? Khi ngươi làm ác thì ngươi mãn nguyện lắm.”
JER 11:16 CHÚA gọi ngươi là “cây ô-liu rậm lá có trái xinh đẹp, hình dạng tốt tươi.” Nhưng qua một cơn giông ào ạt, thì Ngài sẽ thiêu đốt nó, rồi bao nhiêu nhánh nó đều sẽ bị cháy tiêu.
JER 11:17 CHÚA Toàn Năng, Đấng đã trồng ngươi, loan báo rằng thảm họa sẽ đến trên ngươi. Vì nhà Ít-ra-en và Giu-đa đã làm ác, đốt hương cho Ba-anh và chọc giận Ngài.
JER 11:18 CHÚA cho tôi biết những người ở A-na-thốt âm mưu hại tôi. Vì Ngài cho tôi biết âm mưu của họ nên tôi biết họ đang nghịch tôi.
JER 11:19 Phần tôi, tôi như con cừu non chờ bị làm thịt. Tôi chẳng biết họ âm mưu hại tôi rằng: “Chúng ta hãy đốn cây và trái luôn. Chúng ta hãy giết hắn, để không ai còn nhớ đến hắn nữa.”
JER 11:20 Nhưng lạy CHÚA Toàn Năng, Ngài là quan án công minh. Ngài biết thử lòng và trí loài người. Tôi sẽ trình bày lý lẽ tôi cùng Ngài, để Ngài trừng phạt chúng thật đích đáng.
JER 11:21 Cho nên CHÚA phán về những người ở A-na-thốt âm mưu giết Giê-rê-mi là kẻ nói rằng, “Đừng nói tiên tri nhân danh CHÚA nữa, nếu không chúng ta sẽ giết ngươi đó!”
JER 11:22 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Ta sẽ sớm trừng phạt những người ở A-na-thốt. Các trai tráng chúng nó sẽ chết trong chiến tranh. Con trai con gái chúng nó sẽ chết đói.
JER 11:23 Sẽ không ai trong thành A-na-thốt sống sót vì ta sẽ giáng một đại họa đến cho chúng nó vào năm đó.”
JER 12:1 Lạy CHÚA, khi tôi trình bày trường hợp của tôi cùng Ngài, thì Ngài luôn luôn đúng. Nhưng tôi muốn hỏi Ngài về công lý Ngài ban phát. Tại sao kẻ ác thành công? Tại sao những kẻ bất lương sống thoải mái?
JER 12:2 Ngài đặt những kẻ ác ở đây như cây có rễ vững chắc. Chúng mọc lên và sinh trái. Môi miệng chúng nói ngon ngọt về Ngài, nhưng lòng chúng cách xa Ngài.
JER 12:3 Nhưng lạy CHÚA, Ngài biết lòng tôi. Ngài thấy tôi và thử tư tưởng tôi đối với Ngài. Xin hãy lôi kẻ ác đi như chiên sắp bị làm thịt. Xin để chúng riêng ra cho ngày giết chóc.
JER 12:4 Xứ sẽ bị khô cằn và cỏ trong đồng bị héo úa trong bao lâu nữa? Súc vật và chim chóc trong xứ đều đã chết, vì dân cư quá độc ác. Thật vậy, thậm chí họ nói, “Thượng Đế không thấy số phận của chúng ta.”
JER 12:5 “Nếu ngươi chạy đua với người mà còn thấy mỏi mệt, thì làm sao đua được với ngựa? Nếu trong đồng trống mà ngươi còn vấp ngã, thì khi gặp những bụi rậm dọc theo bờ sông Giô-đanh ngươi sẽ làm sao?
JER 12:6 Thậm chí đến anh em và thân nhân trong chính gia đình ngươi cũng âm mưu hại ngươi. Chúng kêu la nghịch cùng ngươi. Đừng tin vào chúng, dù cho chúng nói ngon ngọt cùng ngươi!
JER 12:7 Ta đã lìa bỏ Ít-ra-en; Ta đã lìa bỏ dân ta. Ta đã trao dân mà ta yêu dấu vào tay kẻ thù chúng.
JER 12:8 Dân ta đối với ta như sư tử trong rừng. Chúng gầm thét cùng ta, cho nên ta ghét chúng.
JER 12:9 Dân ta đối với ta như chim, bị chim ưng vây tứ phía, Hãy đi gom muông thú trong xứ lại. Hãy cho chúng nó ăn.
JER 12:10 Vô số kẻ chăn chiên đã làm hư vườn nho ta và dẫm lên các cây non trong ruộng. Chúng đã biến ruộng nương xinh đẹp của ta ra sa mạc hoang vu.
JER 12:11 Chúng đã biến đồng ruộng ta ra sa mạc khô cằn và chết chóc. Cả xứ đã trở thành sa mạc hoang vu, vì chẳng ai sống ở đó lo đến nó nữa.
JER 12:12 Vô số chiến sĩ đã dẫm lên các đồi trọc. CHÚA dùng các đạo quân để trừng phạt đất từ đầu nầy đến đầu kia. Chẳng ai được an ninh cả.
JER 12:13 Dân chúng đã trồng lúa mì, nhưng chỉ gặt được gai gốc. Họ ra sức làm việc đến mệt lả, nhưng rốt cuộc không thu kết quả gì. Họ xấu hổ về mùa gặt nghèo nàn của mình vì cơn thịnh nộ CHÚA đã gây ra tình trạng đó.”
JER 12:14 CHÚA phán cùng tôi như sau: “Ta sẽ làm thế nầy cho những láng giềng độc ác đã chiếm đất mà ta giao cho dân Ít-ra-en ta. Còn dân Giu-đa, ta sẽ nhổ chúng lên.
JER 12:15 Nhưng sau khi ta đã nhổ chúng lên thì ta sẽ lại tội nghiệp cho chúng. Ta sẽ mang từng người trở về với sản nghiệp và đất đai mình.
JER 12:16 Ta muốn chúng học bài học của mình thật thuộc. Trước kia chúng dạy cho dân ta thề thốt trong danh Ba-anh. Nhưng nếu nay chúng học thề trong danh ta rằng, ‘Thật như CHÚA hằng sống …’ Ta sẽ cho chúng quay về trong vòng dân ta.
JER 12:17 Nhưng nếu dân tộc nào không chịu nghe lời ta thì ta sẽ nhổ bỏ hoàn toàn và tiêu diệt chúng,” CHÚA phán vậy.
JER 13:1 CHÚA phán cùng tôi như sau: “Hãy đi mua một cái khố bằng vải rồi mặc vào. Đừng làm ướt cái khố đó.”
JER 13:2 Vậy tôi đi mua một thắt lưng vải theo như CHÚA dặn bảo và buộc quanh hông tôi.
JER 13:3 Rồi CHÚA phán cho tôi lần thứ nhì:
JER 13:4 “Hãy lấy thắt lưng mà ngươi đã mua và đang quấn đi đến Bê-rát. Hãy giấu thắt lưng đó trong kẽ đá.”
JER 13:5 Vậy tôi đi đến Bê-rát và giấu thắt lưng ở đó như CHÚA dặn bảo.
JER 13:6 Sau nhiều ngày CHÚA bảo tôi, “Bây giờ hãy đi đến Bê-rát lấy thắt lưng mà ta bảo ngươi giấu ở đó.”
JER 13:7 Vậy tôi đi đến Bê-rát đào thắt lưng lên khỏi nơi tôi đã giấu. Nhưng nó đã bị mục nát hết, không dùng được việc gì.
JER 13:8 Rồi CHÚA phán cùng tôi.
JER 13:9 CHÚA phán: “Cũng vậy, ta sẽ hủy hoại lòng kiêu căng của dân Giu-đa và lòng tự phụ quá đáng của Giê-ru-sa-lem.
JER 13:10 Các dân gian ác đó không chịu nghe lời cảnh cáo của ta. Chúng ương ngạnh chỉ làm theo ý riêng mình, đi theo các thần khác để phục vụ và bái lạy. Nên chúng sẽ như thắt lưng vải mục nát nầy, hoàn toàn vô dụng.
JER 13:11 Như thắt lưng được dùng để quấn quanh hông người, ta đã quấn các gia đình Ít-ra-en và Giu-đa quanh ta,” CHÚA phán vậy. “Ta đã làm như vậy để họ làm dân ta, để mang danh tiếng, sự tán dương, và tôn trọng đến cho ta nhưng chúng không nghe.”
JER 13:12 “Hãy bảo chúng: ‘CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Tất cả các bầu da phải đầy rượu.’ Dân chúng sẽ nói cùng ngươi: ‘Dĩ nhiên, chúng tôi biết các bầu da phải đầy rượu.’
JER 13:13 Vậy ngươi phải bảo chúng rằng, ‘CHÚA phán như sau: Ta sẽ biến tất cả mọi người trong xứ nầy say sưa, từ các vua ngồi trên ngôi Đa-vít, thầy tế lễ, nhà tiên tri, cho đến tất cả mọi người sống trong Giê-ru-sa-lem.
JER 13:14 Ta sẽ khiến người nầy xô đẩy người kia, ngã té vào nhau, cha cũng như con, CHÚA phán vậy. Ta sẽ không tội nghiệp hay thương hại chúng mà nương tay không tiêu diệt chúng.’”
JER 13:15 Hãy nghe và để ý điều nầy. Đừng quá hợm hĩnh, vì CHÚA phán cùng các ngươi.
JER 13:16 Hãy dâng vinh hiển cho CHÚA là Thượng Đế các ngươi, trước khi Ngài mang tăm tối đến, trước khi các ngươi té ngã trên núi đồi tối tăm. Các ngươi sẽ mong có ánh sáng, nhưng Ngài sẽ biến nó ra bóng tối mịt mù; Ngài sẽ khiến nó thành ra màn đêm ảm đạm.
JER 13:17 Nếu các ngươi không vâng lời Ngài, thì ta sẽ khóc thầm về lòng tự phụ các ngươi. Ta sẽ khóc lóc cay đắng, mắt ta sẽ đẫm nước mắt, vì bầy chiên của CHÚA sẽ bị bắt cầm tù.
JER 13:18 Hãy rao điều nầy cho vua và thái hậu: “Hãy bước xuống khỏi ngôi báu, vì mão triều rực rỡ của ngươi đã rơi khỏi đầu các ngươi rồi.”
JER 13:19 Các thành phố miền Nam Giu-đa đã bị khóa chặt, không ai mở được. Tất cả Giu-đa sẽ bị bắt làm tù binh sang một xứ ngoại quốc; toàn thể dân cư đều sẽ bị bắt đi lưu đày.
JER 13:20 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ngước lên mà nhìn kẻ thù tràn đến từ phương Bắc. Bầy chiên mà Thượng Đế giao cho các ngươi chăn giữ đâu rồi, bầy mà ngươi vẫn hãnh diện đó?
JER 13:21 Các ngươi sẽ nói gì khi chúng cắt cử những người mà ngươi nghĩ là bạn hữu mình lên chỉ huy ngươi? Chẳng lẽ ngươi không đau đớn khổ sở, như đàn bà đang sinh đẻ sao?
JER 13:22 Ngươi có thể tự hỏi, “Tại sao chuyện nầy lại xảy đến cho tôi?” Nó xảy đến là vì ngươi phạm quá nhiều tội. Vì tội lỗi ngươi mà váy ngươi đã bị xé rách và thân thể ngươi bị bầm dập.
JER 13:23 Có người Cút nào đổi được màu da mình không? Con beo có đổi được đốm của nó không? Cũng vậy, hỡi Giê-ru-sa-lem, ngươi sẽ không thể nào thay đổi lòng được, để làm điều lành, vì ngươi đã quen làm ác rồi.
JER 13:24 “Ta sẽ phân tán các ngươi ra như trấu bị gió sa mạc thổi bay tứ phía.
JER 13:25 Đó là điều sẽ xảy đến cho các ngươi; vì vai trò của các ngươi trong chương trình của ta là như vậy,” CHÚA phán, “Vì các ngươi quên ta mà tin theo các điều dối trá,
JER 13:26 Ta sẽ kéo váy ngươi lên trùm mặt ngươi để mọi người thấy sự xấu hổ ngươi.
JER 13:27 Ta đã thấy những điều gớm ghiếc ngươi làm: hành vi dâm ô và tiếng khịt mũi của ngươi, nếp sống điếm đàng của ngươi, các hành vi ghê tởm của ngươi trên các đồi và trong đồng ruộng. Hỡi Giê-ru-sa-lem, thật khốn nạn cho ngươi. Ngươi sẽ mãi nhơ nhớp cho đến bao giờ?”
JER 14:1 Lời của CHÚA phán cùng Giê-rê-mi về nạn hạn hán:
JER 14:2 “Dân Giu-đa than khóc như có ai chết, các thành phố nó buồn thảm. Chúng đau buồn về xứ sở mình. Có tiếng khóc than từ Giê-ru-sa-lem lên đến Thượng Đế.
JER 14:3 Những kẻ quyền quí sai các tôi tớ mình đi tìm nước. Chúng đi đến các giếng, nhưng không tìm ra nước. Nên chúng xách bình không đi về. Chúng cảm thấy xấu hổ ngượng ngùng, trùm đầu lại để che dấu.
JER 14:4 Không ai cày bừa đất đai để trồng trọt. Đất khô cằn và nứt nẻ, vì không có mưa trong xứ. Nông gia buồn bực lo lắng, nên trùm đầu để che dấu.
JER 14:5 Thật vậy, đến nỗi nai cái trong đồng, cũng phải bỏ nai con lại cho chết, vì không có cỏ cho nó ăn.
JER 14:6 Các con lừa hoang đứng trên các đồi trọc đánh hơi gió như chó rừng. Nhưng mắt chúng bị mù lòa vì không có thức ăn.”
JER 14:7 Chúng tôi biết vì tội lỗi mình mà chúng tôi phải chịu khổ sở. Lạy CHÚA, xin hãy vì danh tốt Ngài mà cứu giúp chúng tôi. Bao lần chúng tôi đã lìa bỏ Ngài; chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài.
JER 14:8 Lạy Thượng Đế, là nguồn Hi vọng của Ít-ra-en, Ngài đã giải cứu Ít-ra-en trong những lúc khốn khó. Tại sao Ngài làm như khách lạ trong xứ, hay như lữ khách qua đêm?
JER 14:9 Tại sao Ngài như kẻ bị tấn công bất thần, như chiến sĩ chẳng giải cứu được ai? Nhưng lạy CHÚA, Ngài ở giữa chúng tôi, chúng tôi được gọi bằng danh Ngài xin đừng để chúng tôi tuyệt vọng!
JER 14:10 CHÚA phán như sau về dân Giu-đa: “Chúng muốn lìa xa ta; không ngần ngại lìa bỏ ta. Nên bây giờ CHÚA sẽ không chấp nhận chúng nó nữa. Ngài sẽ nhớ lại điều ác chúng làm và sẽ trừng phạt chúng vì tội lỗi chúng.”
JER 14:11 Rồi CHÚA phán, “Chớ cầu những điều lành đến cho dân Giu-đa.
JER 14:12 Dù cho chúng cữ ăn, ta sẽ không thèm nghe lời cầu nguyện của chúng. Dù cho chúng dâng của lễ thiêu và của lễ chay cho ta, ta cũng không chấp nhận chúng. Ngược lại, ta sẽ tiêu diệt dân Giu-đa bằng chiến tranh, đói kém, và dịch lệ.”
JER 14:13 Tôi thưa, “Ôi, lạy Chúa là Thượng Đế, các nhà tiên tri vẫn trấn an dân chúng rằng, ‘Các ngươi sẽ không bị khốn khổ do gươm giáo của quân thù hay đói kém đâu. Ta là CHÚA sẽ ban hoà bình cho các ngươi trong xứ nầy.’”
JER 14:14 Nhưng CHÚA phán cùng tôi, “Bọn tiên tri đó đang nhân danh ta mà nói tiên tri dối. Ta không sai, chỉ định hay phán cùng chúng. Chúng nói tiên tri theo những sự hiện thấy giả, sự thờ hình tượng, những trò ma thuật nhảm nhí, và ý tưởng ngông cuồng của chúng nó.
JER 14:15 Cho nên ta phán như sau về những nhà tiên tri nói tiên tri trong danh ta. Ta không hề sai chúng nó. Chúng bảo, ‘Sẽ không có kẻ thù nào dùng gươm tấn công chúng ta. Sẽ không có đói kém trong xứ.’ Cho nên chính chúng nó sẽ chết đói và ngã dưới lưỡi gươm quân thù.
JER 14:16 Còn những kẻ được họ nói tiên tri sẽ bị ném trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ chết vì đói và vì lưỡi gươm quân thù. Sẽ không có ai chôn chúng, vợ, con trai hay con gái chúng. Ta sẽ trừng phạt chúng.
JER 14:17 Hỡi Giê-rê-mi, hãy loan báo điều nầy cho Giu-đa: ‘Mắt tôi sẽ đẫm lệ đêm ngày không ngưng. Tôi sẽ than khóc cho dân chúng yêu dấu của tôi. Vì dân tôi đã lãnh một vố nặng nề, bị thương trầm trọng.
JER 14:18 Nếu tôi đi vào vùng quê, tôi thấy người ta bị gươm giết. Còn nếu đi vào thành, tôi thấy bệnh tật tràn lan, vì dân chúng không có thức ăn. Cả thầy tế lễ lẫn các nhà tiên tri đều bị bắt đày sang xứ khác.’”
JER 14:19 Lạy CHÚA, Ngài đã hoàn toàn từ bỏ dân Giu-đa sao? Ngài ghét Giê-ru-sa-lem sao? Sao Ngài làm chúng tôi thương tổn quá mức đến nỗi không bình phục được? Chúng tôi mong hoà bình, mà chẳng thấy có gì tốt đến. Chúng tôi trông mong thời gian chữa trị, mà chỉ thấy kinh hoàng.
JER 14:20 Lạy CHÚA, chúng tôi nhìn nhận mình gian ác, tổ tiên chúng tôi làm điều quấy. Chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài.
JER 14:21 Vì chính mình Ngài, xin Ngài chớ ghét chúng tôi. Xin đừng cất danh dự Ngài khỏi ngôi vinh hiển Ngài. Xin nhớ lại giao ước Ngài lập với chúng tôi, đừng phá giao ước ấy.
JER 14:22 Các thần tượng ngoại quốc có quyền ban mưa xuống không? Bầu trời tự nó có quyền đổ mưa rào xuống không? Lạy CHÚA, không! Chỉ một mình Ngài làm được điều đó thôi. Ngài là niềm hi vọng duy nhất của chúng tôi, vì chính Ngài là Đấng làm những điều đó.
JER 15:1 Sau đó CHÚA phán cùng tôi: “Dù cho Mô-se hay Sa-mu-ên cầu thay cho dân nầy, ta cũng sẽ không thương hại chúng. Hãy đuổi chúng ra khỏi mặt ta! Bảo chúng đi đi!
JER 15:2 Khi chúng hỏi, ‘Chúng tôi phải đi đâu?’ thì bảo, CHÚA phán: Ai đã được định cho chết, sẽ chết. Ai đã được định phải tử trận, sẽ tử trận. Ai đã được định phải chết đói, sẽ chết đói. Ai đã được định cho bị bắt làm tù binh, sẽ bị bắt làm tù binh.”
JER 15:3 CHÚA phán, “Ta sẽ sai bốn loại hủy diệt đến với chúng. Ta sẽ sai chiến tranh đến để giết chóc, chó để lôi các xác chết đi, chim trời và thú rừng để ăn và tiêu diệt các xác chết.
JER 15:4 Ta sẽ khiến dân Giu-đa trở thành nỗi kinh hoàng cho các dân trên đất vì những tội lỗi Ma-na-xe làm ở Giê-ru-sa-lem. (Ma-na-xe, con của Ê-xê-chia trước kia làm vua Giu-đa.)
JER 15:5 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ai sẽ tội nghiệp cho ngươi? Ai sẽ buồn bã và than khóc cho ngươi? Ai sẽ chịu khó hỏi thăm ngươi?”
JER 15:6 CHÚA phán, “Hỡi Giê-ru-sa-lem, ngươi đã lìa bỏ ta. Ngươi càng ngày càng lìa xa ta, cho nên ta sẽ bắt và tiêu diệt ngươi. Ta không còn tội nghiệp cho ngươi nữa.
JER 15:7 Ta đã lấy chĩa ba phân chia dân Giu-đa ra, phân tán chúng nơi các cửa thành của xứ. Ta đã tiêu diệt chúng và bắt con cái chúng đi, nhưng chúng không thay đổi nếp sống.
JER 15:8 Số góa phụ chúng còn nhiều hơn cát ngoài biển. Ta mang kẻ hủy diệt đến vào buổi trưa để giết hại các bà mẹ của trai tráng trong Giu-đa. Bất thình lình ta mang đau khổ và sợ hãi đến trên chúng.
JER 15:9 Khi kẻ thù tấn công và dùng gươm tàn sát, Chúng sẽ giết mọi kẻ còn sống sót ở Giu-đa. Một bà mẹ có bảy đứa con trai đều mất cả bảy đứa. Bà ta sẽ kêu khóc đến nỗi kiệt lực. Bà sẽ đau buồn và hoang mang, vì ngày tươi sáng của bà đã hoá ra đen tối buồn thảm.” CHÚA phán vậy.
JER 15:10 Mẹ ơi, tội nghiệp mẹ đã sinh ra con vì con phải tố cáo và lên án cả xứ. Con không cho ai vay hoặc mượn ai điều gì, vậy mà ai nấy đều nguyền rủa con.
JER 15:11 CHÚA phán, “Ta đã cứu ngươi vì có lý do. Ta đã khiến các kẻ thù ngươi van xin ngươi, lúc gặp thảm họa và khốn đốn.
JER 15:12 Các ngươi là sắt và đồng có thể đập bể miếng sắt hoặc đồng đến từ phương Bắc hay không?
JER 15:13 Còn về của cải và châu báu ngươi ta sẽ biếu không cho kẻ khác, vì cả xứ, toàn dân Giu-đa đã phạm tội.
JER 15:14 Ta sẽ khiến các ngươi làm tôi mọi cho kẻ thù trong một xứ mà ngươi chưa hề biết. Cơn thịnh nộ ta như lửa nóng, sẽ thiêu đốt các ngươi.”
JER 15:15 Lạy CHÚA, Ngài hiểu. Xin nhớ lại tôi và chăm sóc tôi. Xin hãy trừng phạt những kẻ làm hại tôi. Xin đừng tiêu diệt tôi trong khi Ngài kiên nhẫn với chúng. Xin suy nghĩ đến sự hổ nhục tôi chịu vì Ngài.
JER 15:16 Lời CHÚA phán cùng tôi, tôi cố gắng lắng nghe kỹ. Lời Ngài khiến tôi vui mừng, vì tôi được gọi bằng danh Ngài, CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng.
JER 15:17 Tôi không ngồi chung với đám đông khi chúng cười đùa vui vẻ. Tôi ngồi một mình vì Ngài bảo tôi, và Ngài khiến cho tôi tức giận vì những điều ác quanh tôi.
JER 15:18 Tôi không hiểu tại sao nỗi đau khổ tôi không dứt. Tôi không hiểu tại sao vết thương tôi không lành. Ngươi sẽ giống như suối cạn chăng? Ngươi sẽ giống như suối ngưng chảy chăng?
JER 15:19 Nên CHÚA phán như sau: “Nếu các ngươi thay đổi lối sống và trở về cùng ta, ta sẽ tiếp nhận các ngươi. Rồi các ngươi sẽ phục sự ta. Nếu các ngươi nói những điều đáng nói, không nói những điều nhảm nhí, thì các ngươi có thể thưa với ta. Hãy để dân Giu-đa quay về cùng ngươi, nhưng ngươi không nên giống như chúng.
JER 15:20 Ta sẽ khiến ngươi vững mạnh như vách thành cho dân nầy, chắc chắn như tường đồng. Chúng sẽ đánh ngươi, nhưng sẽ không thắng nổi ngươi, vì ta ở cùng ngươi. Ta sẽ giải cứu ngươi,” CHÚA phán vậy.
JER 15:21 “Ta sẽ giải thoát ngươi khỏi dân độc ác và cứu ngươi khỏi những kẻ hung bạo nầy.”
JER 16:1 Rồi CHÚA phán cùng tôi như sau:
JER 16:2 “Ngươi không nên kết hôn hay sinh con trai con gái trong nơi nầy.”
JER 16:3 CHÚA phán như sau về con trai con gái sinh ra trong xứ nầy và về cha mẹ chúng:
JER 16:4 “Chúng sẽ chết vì dịch lệ, sẽ không ai than khóc hay chôn cất chúng. Xác chúng sẽ nằm la liệt trên đất như phân. Chúng sẽ chết trận hay chết đói. Thây chúng sẽ làm thức ăn cho chim trời và muông thú.”
JER 16:5 Cho nên CHÚA phán như sau: “Hỡi Giê-rê-mi, đừng đi vào nhà đang khi người ta đang ăn tiệc đưa ma. Đừng đi vào đó mà than khóc cho người chết hay chia buồn với chúng vì ta đã lấy lại ơn phước, tình yêu và lòng thương hại của ta cho dân nầy,” CHÚA phán vậy.
JER 16:6 Những kẻ quyền quí hay thứ dân đều sẽ chết trong xứ Giu-đa. Không ai chôn cất hay than khóc cho chúng, cũng không ai rạch thân mình hay cạo đầu để tỏ dấu buồn rầu cho chúng.
JER 16:7 Không ai mang thức ăn đến để an ủi kẻ than khóc người quá cố. Không ai mời nước uống để an ủi những kẻ có cha mẹ qua đời.
JER 16:8 Đừng đi vào nhà nào đang ăn uống để ngồi mà ăn uống chung với họ,
JER 16:9 vì CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sẽ sớm chấm dứt tiếng vui mừng hớn hở, cùng tiếng hân hoan của cô dâu và chú rể trong nơi nầy. Việc đó sẽ diễn ra trong đời ngươi.
JER 16:10 Khi ngươi bảo dân Giu-đa biết những điều nầy thì chúng sẽ hỏi ngươi: Tại sao CHÚA giáng những thảm hoạ nầy đến trên chúng ta? Chúng ta đã làm điều gì quấy? Chúng ta đã phạm tội gì nghịch lại CHÚA là Thượng Đế chúng ta?
JER 16:11 Hãy đáp cùng chúng: Vì tổ tiên các ngươi đã lìa bỏ ta, CHÚA phán vậy. “Chúng đã đi theo các thần khác, phục vụ và bái lạy chúng. Tổ tiên các ngươi đã bỏ ta, không vâng theo lời giáo huấn ta.
JER 16:12 Nhưng các ngươi còn làm ác hơn tổ tiên mình nữa. Các ngươi ương ngạnh và làm theo ý mình; các ngươi không vâng lời ta.
JER 16:13 Cho nên ta sẽ ném các ngươi ra khỏi xứ nầy và đày các ngươi đi đến một xứ mà các ngươi lẫn tổ tiên mình chưa hề biết. Nơi đó các ngươi sẽ phục vụ các thần khác ngày đêm vì ta sẽ không giúp cũng không làm ơn cho các ngươi nữa.”
JER 16:14 Người ta bảo, “Thật như CHÚA hằng sống, Đấng mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập …” CHÚA phán, “Nhưng đến lúc người ta không nói như thế nữa.
JER 16:15 Ngược lại họ sẽ nói, ‘Thật như CHÚA hằng sống, Đấng mang Ít-ra-en ra khỏi xứ miền Bắc và khỏi các xứ mà Ngài đã đày họ đến …’ Ta sẽ mang chúng trở về xứ mà ta đã ban cho tổ tiên chúng.”
JER 16:16 CHÚA phán, “Ta sẽ sớm đưa những người đánh cá đến xứ nầy. Họ sẽ đánh lưới dân Giu-đa. Sau đó ta sẽ đưa nhiều thợ săn đến nữa. Họ sẽ săn lùng dân Giu-đa trên mỗi ngọn núi và đồi và trong mỗi kẽ đá.
JER 16:17 Ta thấy mọi điều chúng làm. Chúng không thể giấu khỏi ta điều gì; tội lỗi chúng không che được mắt ta.
JER 16:18 Ta sẽ báo trả dân Giu-đa gấp đôi tội lỗi chúng phạm, vì chúng đã biến xứ ta ra nhơ nhớp. Chúng đã làm cho xứ ta tràn ngập thần tượng đáng gớm ghiếc.”
JER 16:19 Lạy CHÚA, Ngài là sức mạnh và là nguồn bảo vệ tôi, nơi tôi trú ẩn an toàn trong lúc khốn khó. Các dân trên thế giới sẽ đến cùng Ngài và thưa rằng, “Tổ tiên chúng tôi đã thờ thần giả, những thần vô ích chẳng giúp gì được cho họ.
JER 16:20 Người ta có thể nào tạo ra thần cho mình không? Vì đó không phải là thần!”
JER 16:21 CHÚA phán, “Cho nên ta sẽ dạy những kẻ tạo ra thần tượng. Lần nầy ta sẽ dạy chúng biết về quyền năng và sức mạnh ta. Rồi chúng sẽ biết rằng danh ta là CHÚA.”
JER 17:1 “Tội lỗi của Giu-đa được ghi bằng bút sắt. Tội lỗi chúng được khắc vào đá tức tấm lòng của chúng. Tội lỗi chúng được tạc vào các sừng bàn thờ của chúng.
JER 17:2 Bất cứ lúc nào con cái chúng cũng nhớ các bàn thờ cùng các thần tượng chúng, và các tượng A-sê-ra bên cạnh các cây xanh trên các đồi cao.
JER 17:3 Chúng nhớ những điều ấy trên các núi trong đồng trống. Dân Giu-đa có nhiều châu báu. Nhưng ta sẽ trao những châu báu ấy vào tay người khác. Chúng sẽ phá hủy những nơi cao trong xứ các ngươi, vì các ngươi đã phạm tội bằng cách thờ phụng ở những nơi đó.
JER 17:4 Các ngươi sẽ mất xứ mà ta ban cho các ngươi, đó là do lỗi các ngươi. Ta sẽ để cho kẻ thù bắt các ngươi làm tôi mọi đày các ngươi đến xứ mình chưa hề biết. Vì các ngươi đã chọc ta giận như lửa hừng, sẽ cháy mãi không thôi.”
JER 17:5 CHÚA phán như sau: “Ai tin cậy loài người thì bị nguyền rủa, ai trông cậy vào sức mạnh con người, tức lòng dạ xa rời CHÚA.
JER 17:6 Chúng giống như bụi gai trong sa mạc mọc ở nơi đất hoang vu, nơi khô khan cằn cỗi. Chúng không bao giờ biết những ơn lành từ Thượng Đế.
JER 17:7 Nhưng ai tin cậy CHÚA sẽ được phước. Ngài sẽ chứng tỏ cho người đó thấy rằng Ngài là Đấng đáng tin cậy.
JER 17:8 Người đó sẽ lớn mạnh, như cây trồng gần dòng nước, đâm rễ mọc bên cạnh suối. Dù cho trời nóng nực cũng không sao; lá nó vẫn xanh tươi. Nó không lo năm hạn hán không mưa; luôn luôn ra trái.
JER 17:9 Lòng con người ác độc hơn mọi thứ, không chữa trị được. Không ai hiểu được.
JER 17:10 Nhưng ta, Thượng Đế, nhìn vào trong lòng mỗi người, thử nghiệm tâm tư. Để quyết định cho họ điều họ đáng lãnh; cấp cho họ phần thưởng phạt tương xứng.”
JER 17:11 Như chim ấp trứng mình không đẻ, kẻ làm giàu nhờ lường gạt cũng vậy. Khi xong nửa đời người, chúng sẽ mất hết của cải. Rồi đến cuối đời, chúng sẽ thấy rõ mình dại dột.
JER 17:12 Từ ban đầu, đền thờ chúng ta được tôn trọng như ngôi vinh hiển của Thượng Đế.
JER 17:13 Lạy CHÚA, nguồn hi vọng của Ít-ra-en, những kẻ lìa bỏ Ngài sẽ bị xấu hổ. Còn những ai xa lìa CHÚA sẽ giống như tên viết trên cát, vì chúng đã lìa bỏ CHÚA, suối nước hằng sống.
JER 17:14 Lạy CHÚA, xin chữa cho tôi thì tôi sẽ được lành. Xin cứu tôi thì tôi sẽ được giải cứu thật. Vì Ngài là Đấng tôi ca ngợi.
JER 17:15 Ngài phải biết rằng dân Giu-đa cứ theo hỏi tôi, “Lời của CHÚA đâu? Để xem lời phán đó có thành sự thật không!”
JER 17:16 Lạy CHÚA, tôi không trốn tránh trách nhiệm chăn bầy CHÚA giao. Tôi không muốn thấy ngày kinh khủng đó đến. Ngài biết hết mọi điều tôi nói; Ngài thấy mọi điều xảy ra.
JER 17:17 Xin đừng làm tôi kinh hoàng. Tôi chạy đến Ngài tìm chỗ trú ẩn lúc khốn đốn.
JER 17:18 Xin hãy khiến những kẻ hại tôi bị xấu hổ, nhưng xin đừng mang xấu hổ đến cho tôi. Xin khiến chúng bị kinh hoàng, nhưng đừng để tôi bị khủng hoảng. Xin mang ngày thảm họa đến trên kẻ thù tôi. Xin hãy tiêu diệt chúng, và diệt tận gốc.
JER 17:19 CHÚA phán cùng tôi như sau: “Hãy đến đứng nơi Cổng Dân Chúng của thành Giê-ru-sa-lem nơi các vua Giu-đa hay ra vào. Rồi đi đến tất cả các cổng khác của Giê-ru-sa-lem.
JER 17:20 Bảo họ như sau: ‘Hỡi các vua Giu-đa, hỡi tất cả dân Giu-đa và những người sống trong Giê-ru-sa-lem đi qua các cổng nầy để vào thành, hãy nghe lời CHÚA phán.
JER 17:21 CHÚA phán như sau: Hãy cẩn thận đừng mang đồ gì trong ngày Sa-bát hay mang qua các cổng của Giê-ru-sa-lem.
JER 17:22 Đừng mang vật gì ra khỏi nhà các ngươi cũng đừng làm việc ngày đó nhưng hãy giữ ngày Sa-bát ra thánh như ta đã truyền dặn tổ tiên các ngươi.
JER 17:23 Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không để ý đến ta. Chúng rất ương ngạnh và không vâng lời. Ta trừng phạt chúng nhưng không kết quả.
JER 17:24 Nhưng các ngươi hãy cẩn thận vâng lời ta, CHÚA phán vậy. Các ngươi không nên mang đồ gì qua cổng thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát, mà hãy giữ ngày Sa-bát ra thánh và đừng làm việc gì hết trong ngày đó.
JER 17:25 Nếu các ngươi vâng theo mệnh lệnh nầy thì các vua ngồi trên ngôi Đa-vít sẽ cùng các quần thần đi qua các cổng thành Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ đi qua, cỡi quân xa và cỡi ngựa cùng với dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Còn thành Giê-ru-sa-lem sẽ có dân cư sống ở đó mãi mãi.
JER 17:26 Từ các làng quanh đó dân chúng đổ về Giê-ru-sa-lem, từ các thị trấn trong Giu-đa, xứ Bên-gia-min, từ các vùng đồi phía Tây, từ vùng núi và từ miền Nam Giu-đa. Mọi người sẽ mang đến đền thờ CHÚA các của lễ thiêu, các sinh tế, của lễ chay, trầm hương, và các của lễ cảm tạ cho Thượng Đế.
JER 17:27 Nhưng các ngươi phải vâng lời ta và giữ ngày Sa-bát ra thánh. Các ngươi không được mang đồ gì vào Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. Nếu các ngươi không vâng lời ta, ta sẽ khơi lửa nơi cửa thành Giê-ru-sa-lem và đốt cháy cho đến khi thiêu rụi các tháp kiên cố nhất. Sẽ không ai dập tắt nổi.’”
JER 18:1 Đây là lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi:
JER 18:2 “Hãy đi xuống lò gốm, ta sẽ có lời cho ngươi tại đó.”
JER 18:3 Vậy tôi đi xuống lò gốm thì thấy người thợ gốm đang làm việc ở bàn xoay.
JER 18:4 Ông ta đang dùng tay để làm một cái nồi bằng đất sét nhưng bị hư. Nên ông dùng khối đất sét đó để làm cái nồi khác theo ý mình.
JER 18:5 Sau đó CHÚA phán cùng tôi:
JER 18:6 “Hỡi nhà Ít-ra-en, ta làm như thế đối với các ngươi được không?” CHÚA hỏi. “Các ngươi ở trong tay ta như đất sét trong tay thợ gốm.
JER 18:7 Sẽ có lúc ta bảo một dân tộc hay một quốc gia rằng ta sẽ nhổ chúng lên tận gốc hay ta sẽ kéo nó xuống để tiêu diệt nó.
JER 18:8 Nhưng nếu dân tộc đó thôi làm điều ác thì ta sẽ đổi ý không mang tai họa mà ta dự định mang đến cho chúng.
JER 18:9 Sẽ có lúc khác khi ta bảo một dân tộc rằng ta sẽ gây dựng và trồng lại.
JER 18:10 Nhưng nếu ta thấy chúng làm điều ác không vâng lời ta thì ta sẽ đổi ý không thực hiện điều lành mà ta dự định làm cho chúng.
JER 18:11 Cho nên hãy bảo dân Giu-đa và những kẻ ở trong Giê-ru-sa-lem như sau: ‘CHÚA phán: Ta đang chuẩn bị mang thảm họa đến cho các ngươi và dự định chống ngươi. Vậy hãy thôi làm điều ác. Hãy thay đổi lối sống và làm điều lành đi.’
JER 18:12 Nhưng dân Giu-đa sẽ trả lời, ‘Cố gắng cũng vô ích! Chúng tôi sẽ vẫn cứ làm theo ý mình. Mỗi người trong chúng tôi sẽ làm theo lòng ngoan cố gian ác của mình!’”
JER 18:13 Vì vậy CHÚA phán như sau: “Hãy hỏi các dân khác câu nầy: ‘Các ngươi có bao giờ nghe điều nào như điều nầy chưa?’ Dân Ít-ra-en đã làm một điều gớm ghiếc.
JER 18:14 Tuyết trên các núi Li-băng không bao giờ tan chảy trên đá. Những dòng suối mát chảy róc rách của nó không khi nào khô cạn.
JER 18:15 Nhưng dân ta đã quên ta. Chúng đốt hương cho các thần tượng vô dụng, vấp ngã trong điều mình làm, đi theo những lối cũ của tổ tiên mình. Chúng đi theo những lối rẽ và trên các đường sá gồ ghề.
JER 18:16 Vì thế xứ Giu-đa sẽ trở thành sa mạc hoang vu. Người ta sẽ cứ mãi chế giễu chúng. Người qua kẻ lại lắc đầu, sửng sốt vì cảnh điêu tàn của xứ.
JER 18:17 Ta sẽ phân tán chúng ra trước mặt các kẻ thù, như gió Đông thổi mạnh. Vào lúc kinh hoàng đó chúng sẽ không thấy ta đến giúp đỡ chúng; mà thấy ta ra đi.”
JER 18:18 Sau đó dân chúng bảo, “Bây giờ chúng ta hãy lập mưu hại Giê-rê-mi. Chắc chắn những điều giáo huấn của thầy tế lễ về luật lệ vẫn còn đó. Chúng ta vẫn còn có lời khuyên dạy của các người khôn ngoan và lời của nhà tiên tri. Cho nên hãy thủ tiêu hắn bằng cách đặt điều nói dối về hắn. Chúng ta không thèm để ý đến điều gì hắn nói nữa.”
JER 18:19 Lạy CHÚA, xin nghe tôi đây. Xin nghe điều những kẻ tố cáo tôi nói!
JER 18:20 Có nên lấy ác báo thiện không? Tôi nói như thế là vì chúng đã đào hố để giết tôi. Xin CHÚA nhớ lại rằng tôi đã đứng trước mặt Ngài, van xin Ngài làm ơn cho dân nầy, và xin Ngài thôi nổi giận cùng chúng.
JER 18:21 Bây giờ xin để con cái chúng nó chết đói, xin cho gươm kẻ thù giết chúng. Xin cho vợ chúng nó mất chồng lẫn con. Hãy cho những người Giu-đa phải bỏ mạng và các thanh niên trai tráng bị gươm giết trong mặt trận.
JER 18:22 Xin hãy để chúng kêu khóc trong nhà mình khi Ngài bất thần mang kẻ thù đến nghịch lại chúng. Xin cho những việc ấy xảy ra vì các kẻ thù tôi đã đào hố đặng bắt tôi, và giăng bẫy dưới chân tôi.
JER 18:23 Lạy CHÚA, Ngài biết những âm mưu chúng định giết tôi. Xin đừng tha tội ác chúng, cững đừng xóa tội lỗi chúng khỏi trí Ngài. Xin khiến chúng rơi ngã khỏi chỗ mình, và hãy trừng phạt chúng trong cơn thịnh nộ Ngài.
JER 19:1 CHÚA phán cùng tôi như sau: “Hãy đi mua một bình gốm từ tay thợ gốm.
JER 19:2 Hãy đem một vài bô lão của dân chúng cùng các thầy tế lễ đi với ngươi xuống thung lũng Bên-Hin-nôm, gần phía trước của Cổng Sành Bể. Tại đó ngươi sẽ nói những lời ta bảo ngươi.
JER 19:3 Hãy nói rằng: Hỡi các vua Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem hãy nghe lời CHÚA phán. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sẽ sớm mang thảm họa đến nơi nầy. Thảm họa đó sẽ làm sửng sốt và kinh hoàng những ai nghe đến.
JER 19:4 Vì dân Giu-đa đã không theo ta nữa. Chúng đã biến nơi nầy thành nơi bái lạy các thần ngoại quốc. Chúng đã dâng sinh tế cho các thần khác mà chúng và tổ tiên hay các vua Giu-đa chưa hề biết. Chúng đổ máu vô tội tràn ngập nơi nầy.
JER 19:5 Chúng đã xây những nơi thờ lạy cho Ba-anh trên các đỉnh đồi, nơi chúng thiêu con mình cho Ba-anh. Đó là điều ta không dặn bảo cũng không nói đến; điều đó chưa hề nẩy trong trí ta.
JER 19:6 Cho nên hãy lưu ý, người ta gọi nơi nầy là Thung lũng của Bên-Hin-nôm hay Tô-phết, nhưng CHÚA phán, sẽ đến ngày mà người ta gọi nơi đó là Thung lũng giết chóc.
JER 19:7 Tại nơi nầy ta sẽ phá hỏng chương trình của dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Các kẻ thù sẽ rượt đuổi chúng nó, và ta sẽ khiến chúng bị gươm giết. Ta sẽ cho chim trời và muông thú ăn xác chết chúng nó.
JER 19:8 Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt thành nầy. Người ta sẽ chế giễu nó và ai qua lại nơi đây cũng phải lắc đầu. Họ sẽ sửng sốt khi thấy thành nầy bị tiêu hủy như thế nào.
JER 19:9 Một đạo quân thù sẽ bao vây thành, không cho ai đi ra để kiếm thức ăn. Ta sẽ khiến chúng bị đói đến nỗi chúng phải ăn thịt con trai con gái mình và rồi ăn thịt lẫn nhau.
JER 19:10 Trong khi những kẻ đi với ngươi đang nhìn thì hãy đập bể bình gốm đó.
JER 19:11 Rồi nói như sau: CHÚA Toàn Năng phán: Ta sẽ đập dân nầy và thành nầy ra như người ta đập bể bình gốm tan tành đến nỗi không thể hàn gắn lại được. Những kẻ chết sẽ bị chôn ở đây, tại Tô-phết, vì không còn nơi nào khác để chôn chúng.
JER 19:12 Đây là điều ta sẽ làm cho dân nầy và nơi nầy, CHÚA phán vậy. Ta sẽ khiến thành nầy trở thành Tô-phết.
JER 19:13 Nhà cửa trong Giê-ru-sa-lem và các cung vua sẽ trở nên nhơ nhớp như nơi Tô-phết nầy vì dân chúng đã bái lạy các thần trên mái nhà chúng. Chúng bái lạy các ngôi sao, đốt hương tôn kính chúng và dâng của lễ uống cho các thần khác.”
JER 19:14 Sau khi Giê-rê-mi rời Tô-phết, nơi CHÚA bảo ông nói tiên tri thì ông đi đến đền thờ Chúa, đứng trong sân và nói cùng toàn dân rằng:
JER 19:15 “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Ta sẽ sớm mang đại nạn đến cho Giê-ru-sa-lem và các làng mạc quanh nó như ta đã nói trước. Việc đó sẽ xảy ra vì dân chúng rất ngoan cố không thèm nghe lời ta phán.’”
JER 20:1 Ba-sua, con Im-mê là thầy tế lễ và là viên chức cao cấp nhất trong đền thờ CHÚA. Khi nghe Giê-rê-mi nói tiên tri trong sân đền thờ
JER 20:2 thì ông bắt đánh đòn nhà tiên tri Giê-rê-mi. Ông cho cùm tay chân Giê-rê-mi vào hai khối gỗ lớn và nhốt ở Cổng Trên của Bên-gia-min trong đền thờ Chúa.
JER 20:3 Hôm sau khi Ba-sua tháo Giê-rê-mi ra khỏi hai khối gỗ thì Giê-rê-mi bảo ông rằng, “Tên Chúa đặt cho ngươi không phải là Ba-sua nữa. Bây giờ tên Ngài đặt cho ngươi là Kinh hoàng Tứ Phía.
JER 20:4 CHÚA phán như sau: Ta sẽ sớm mang sự kinh hoàng đến cho ngươi và bạn hữu ngươi. Ngươi sẽ chứng kiến kẻ thù giết các bạn hữu ngươi bằng gươm. Rồi ta sẽ trao toàn dân Giu-đa vào tay vua Ba-by-lôn, người sẽ đày chúng làm tù binh sang Ba-by-lôn và giết chúng bằng gươm.
JER 20:5 Ta sẽ trao hết của cải thành nầy cho kẻ thù, đồ đạc, châu báu, kho tàng của các vua Giu-đa. Quân thù sẽ mang tất cả những của báu đó sang Ba-by-lôn.
JER 20:6 Còn về phần ngươi, Ba-sua, ngươi và mọi người trong nhà ngươi sẽ bị bắt làm tù binh. Ngươi sẽ bị đày qua Ba-by-lôn, nơi ngươi sẽ chết và được chôn, ngươi, bạn hữu ngươi là những người mà ngươi đã tiên tri dối trá với họ.”
JER 20:7 Lạy CHÚA, Ngài đã gạt tôi, tôi đã bị gạt. Ngài mạnh hơn tôi, nên Ngài đã thắng. Tôi đã trở thành trò cười; Mọi người đều chế giễu tôi suốt ngày.
JER 20:8 Mỗi khi tôi nói là tôi phải hét. Tôi luôn luôn thét lên, vì những sự bạo ngược và hủy diệt. Tôi thuật lại cho dân chúng điều tôi nhận từ CHÚA, nhưng rốt cuộc tôi chỉ chuốc lấy sỉ nhục. Người ta chế giễu tôi suốt ngày.
JER 20:9 Đôi khi tôi tự nhủ, “Thôi hãy quên CHÚA đi. Đừng nói đến danh Ngài nữa.” Nhưng lúc đó thì lời Ngài như lửa thiêu đốt trong lòng tôi, thấu vào xương cốt tôi. Tôi không thể nào giữ mãi trong lòng được, rốt cuộc tôi không giữ được nữa, phải nói ra.
JER 20:10 Tôi nghe nhiều người thì thầm về tôi rằng: “Sự kinh hoàng vây nó bốn bề! Hãy nói về nó! Hãy mách với các quan cai trị về nó.” Bạn bè tôi chỉ mong tôi sơ hở. Chúng nói, “Chắc mình phỉnh nó được để đánh bại nó và trả thù.”
JER 20:11 Nhưng CHÚA bảo hộ tôi như một chiến sĩ mạnh bạo, nên những kẻ đuổi theo tôi sẽ ngã té; chúng sẽ không thể nào đánh bại được tôi. Chúng sẽ xấu hổ vì thất bại, sẽ không ai quên điều sỉ nhục của chúng.
JER 20:12 Lạy CHÚA Toàn Năng, Ngài thử nghiệm người lành; Ngài dò xét tận đáy lòng và tâm tư mỗi người. Tôi đã cho Ngài biết lời tranh luận của tôi với chúng, nên xin cho tôi nhìn thấy sự trừng phạt xứng đáng Ngài giáng trên chúng.
JER 20:13 Hãy xướng hát cho CHÚA! Hãy ca tụng Ngài! Vì Ngài giải cứu người nghèo khỏi quyền lực kẻ độc ác.
JER 20:14 Ngày tôi sinh đáng bị nguyền rủa; nguyền cho ngày ấy không phước hạnh gì khi mẹ tôi sinh tôi ra.
JER 20:15 Nguyện cho người báo tin cho cha tôi rằng, “Ông có con trai!” thì người ấy bị nguyền rủa. Tin đó khiến cha tôi rất mừng.
JER 20:16 Nguyện người đó như các thành bị CHÚA hủy diệt không thương xót. Nguyện người nghe tiếng than khóc vào buổi sáng và tiếng chiến trận vào buổi trưa,
JER 20:17 vì người không giết tôi cho rồi trước khi tôi ra đời. Lúc đó bụng mẹ tôi sẽ là nấm mồ cho tôi; Bụng mẹ tôi sẽ mang thai mãi mãi.
JER 20:18 Tại sao tôi phải lọt lòng mẹ? Đời tôi chỉ biết khốn khổ và sầu não, và mạng sống tôi sẽ chấm dứt trong hổ nhục.
JER 21:1 Lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau. Lời Ngài phán khi Xê-đê-kia, vua Giu-đa sai Ba-sua, con Manh-ki-gia và thầy tế lễ Xô-phô-ni, con Ma-a-sê-gia đến cùng Giê-rê-mi
JER 21:2 hỏi rằng, “Hãy cầu hỏi CHÚA cho chúng ta biết chuyện gì sẽ xảy ra vì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang tấn công chúng ta. Có thể CHÚA sẽ làm phép lạ giải cứu chúng ta như Ngài đã làm xưa kia để Nê-bu-cát-nết-xa thôi tấn công chúng ta và rút về nước.”
JER 21:3 Nhưng Giê-rê-mi trả lời rằng, “Hãy nói với vua Xê-đê-kia như thế nầy:
JER 21:4 CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Các ngươi có vũ khí chiến tranh trong tay để tự vệ chống lại vua Ba-by-lôn và quân Ba-by-lôn đang bao vây vách thành. Nhưng ta sẽ biến các vũ khí đó ra vô dụng. Ta sẽ sớm đưa chúng vào trong trung tâm thành phố nầy.
JER 21:5 Trong cơn thịnh nộ ta, cơn giận phừng phừng, chính ta sẽ đánh lại các ngươi bằng quyền năng và sức mạnh vô song của ta.
JER 21:6 Ta sẽ giết mọi sinh linh trong Giê-ru-sa-lem, từ người cho đến súc vật. Tất cả sẽ chết vì dịch lệ.’
JER 21:7 CHÚA phán, ‘Rồi ta sẽ trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa, các sĩ quan, và toàn dân Giê-ru-sa-lem mà chưa chết vì dịch lệ và chiến tranh hay đói kém vào tay Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Ta sẽ khiến những kẻ thắng trận muốn giết dân Giu-đa cho nên dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều bị tử trận. Nê-bu-cát-nết-xa sẽ không tỏ chút từ bi hay thương hại nào cho chúng cả!’
JER 21:8 Ngoài ra cũng bảo dân cư Giê-ru-sa-lem: CHÚA phán: Ta sẽ cho các ngươi chọn giữa cái sống và cái chết.
JER 21:9 Ai ở lại Giê-ru-sa-lem sẽ bị chết trận, chết đói, hay chết vì dịch lệ. Nhưng ai đi ra đầu hàng người Ba-by-lôn đang tấn công các ngươi thì sẽ sống. Ai rời thành thì sẽ cứu được mạng mình như thể chiến lợi phẩm.
JER 21:10 CHÚA phán, ‘Đúng, ta đã nhất quyết gây khốn khổ cho thành nầy và sẽ không giúp đỡ nó. Ta sẽ trao nó vào tay vua Ba-by-lôn và người sẽ thiêu hủy nó.’”
JER 21:11 Hãy bảo cho hoàng gia Giu-đa như sau: “Hãy nghe lời CHÚA phán.
JER 21:12 Hỡi nhà Đa-vít, CHÚA phán như sau: Mỗi sáng các ngươi phải phân xử mọi người cho công bình. Hãy giải cứu người bị cướp bóc khỏi quyền lực của kẻ tấn công nó. Nếu không, ta sẽ nổi giận cùng ngươi. Cơn giận ta sẽ như lửa hừng không ai dập tắt được, vì các ngươi đã làm điều ác.
JER 21:13 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta nghịch lại ngươi, ngươi là thành ở trên đỉnh núi, nhìn xuống thung lũng nầy,” CHÚA phán vậy. Ngươi bảo, “Không ai có thể tấn công chúng ta hay xâm nhập được vào trong thành kiên cố của chúng ta.”
JER 21:14 CHÚA phán, “Ta sẽ giáng cho ngươi sự trừng phạt tương xứng. Ta sẽ đốt rừng ngươi, gây ra một trận hỏa hoạn thiêu đốt mọi thứ quanh ngươi!”
JER 22:1 CHÚA phán như sau: “Hãy đi xuống cung vua Giu-đa và nói tiên tri tại đó như sau:
JER 22:2 ‘Hỡi vua Giu-đa, đang trị vì trên ngôi Đa-vít hãy nghe lời CHÚA phán. Ngươi, các sĩ quan, và toàn dân ngươi là những người đi qua các cổng nầy hãy nghe đây!’
JER 22:3 CHÚA phán: Hãy làm điều công bình và phải chăng. Hãy cứu người bị cướp bóc khỏi tay kẻ cướp bóc. Đừng ngược đãi hay làm hại khách ngoại quốc, trẻ mồ côi hay đàn bà góa. Đừng giết hại những lương dân vô tội tại đây.
JER 22:4 Nếu các ngươi vâng theo các mệnh lệnh nầy thì các vua ngồi trên ngôi Đa-vít sẽ cỡi quân xa và ngựa đi qua các cổng nầy cùng với quần thần và dân chúng mình.
JER 22:5 CHÚA phán, ‘Nhưng nếu các ngươi không vâng theo những mệnh lệnh nầy thì ta lấy danh ta mà thề rằng cung vua sẽ trở nên đống hoang tàn.’”
JER 22:6 CHÚA phán như sau về cung điện nơi vua Giu-đa ở: “Ngươi như cây cao lớn trong rừng Ghi-lê-át, như đỉnh núi Li-băng. Nhưng ta sẽ biến ngươi ra sa mạc, biến thành những thị trấn hoang vu không ai ở.
JER 22:7 Ta sẽ sai người đến tiêu diệt cung vua, mỗi người mang khí giới mình. Chúng sẽ chặt hết các cây đà bằng gỗ hương nam xinh đẹp của ngươi, rồi ném vào lửa.
JER 22:8 Dân chúng từ nhiều nước sẽ đi ngang thành nầy và hỏi nhau, ‘Tại sao CHÚA đối với thành lớn Giê-ru-sa-lem nầy kinh khủng như vậy?’
JER 22:9 Người ta sẽ trả lời: ‘Vì dân Giu-đa đã không vâng giữ giao ước với CHÚA là Thượng Đế của họ. Họ bái lạy và phục vụ các thần khác.’”
JER 22:10 Đừng than khóc cho vua đã qua đời hay buồn rầu vì người. Nhưng hãy than khóc cho vua bị đày đi xa, vì người sẽ không trở về hay nhìn thấy quê hương mình nữa.
JER 22:11 Vì CHÚA phán như sau về Giô-a-cha, con trai Giô-xia, lên ngôi vua Giu-đa sau khi cha mình qua đời và người đã rời nơi nầy: “Người sẽ không trở về nữa.
JER 22:12 Người sẽ chết nơi mình bị đày và sẽ không còn thấy lại mảnh đất nầy.”
JER 22:13 “Khốn cho kẻ làm điều bất chính để xây nhà mình, lường gạt dân chúng để xây phòng ốc mình. Nó bắt người ta làm không công, không trả thù lao cho họ.
JER 22:14 Nó nói, ‘Ta sẽ xây một lâu đài lớn cho ta có thật nhiều phòng trên sân thượng.’ Vậy nó xây lâu đài có nhiều cửa sổ rộng dùng gỗ hương nam làm vách, rồi sơn vách màu đỏ.
JER 22:15 Có phải vì dùng nhiều gỗ hương nam mà khiến ngươi thành vua lớn không? Cha ngươi có đủ món ăn thức uống là mãn nguyện rồi. Người làm điều hợp lý và công bằng, Cho nên mọi việc người làm đều thành công.
JER 22:16 Người giúp đỡ những kẻ nghèo khó túng thiếu, cho nên việc gì người làm cũng thành công. Biết Thượng Đế là như thế đó,” CHÚA phán vậy.
JER 22:17 “Còn ngươi chỉ tìm kiếm và nghĩ đến chuyện thủ lợi bất lương. Nếu cần giết kẻ vô tội để đạt mục đích ngươi cũng làm. Ngươi tha hồ làm hại kẻ khác và ăn cắp của họ.”
JER 22:18 Vì thế CHÚA phán như sau về Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia, vua Giu-đa: Dân Giu-đa sẽ không than khóc khi Giê-hô-gia-kim qua đời rằng, “Ôi, anh tôi ơi,” hay “Ôi, huynh trưởng tôi ơi.” Cũng sẽ không khóc cho người rằng: “Ôi, chủ ơi,” hay “Ôi, vua ơi.”
JER 22:19 Chúng sẽ chôn người như chôn con lừa, kéo xác người đi và ném ra ngoài cổng thành Giê-ru-sa-lem.
JER 22:20 Hỡi Giu-đa, hãy đi lên Li-băng mà than khóc. Hãy cho người ta nghe tiếng ngươi trong Ba-san, Hãy khóc lớn từ A-ba-rim, vì các bạn hữu ngươi đều đã chết cả rồi!
JER 22:21 Hỡi Giu-đa, khi ngươi thịnh vượng, ta đã cảnh cáo ngươi, nhưng ngươi nói, “Tôi sẽ không thèm nghe.” Từ khi còn trẻ ngươi đã hành động như thế rồi; ngươi không hề vâng lời ta.
JER 22:22 Sự trừng phạt ta sẽ thổi bay các kẻ chăn chiên ngươi, như gió bão, xô đẩy các bạn hữu ngươi vào cảnh tù đày. Rồi ngươi sẽ thực sự xấu hổ và sỉ nhục vì mọi điều ác ngươi làm.
JER 22:23 Nầy vua, ngươi sống trong cung điện, ấm cúng trong phòng bằng gỗ hương nam của ngươi. Nhưng khi sự trừng phạt ngươi đến, thì ngươi sẽ rên rỉ như đàn bà đang sinh con!
JER 22:24 CHÚA phán, “Thật như ta hằng sống, hỡi Giê-hô-gia-kin, con Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, dù cho ngươi là nhẫn đóng ấn trên tay phải ta đi nữa, ta cũng sẽ lột ra,
JER 22:25 trao ngươi vào tay những kẻ muốn giết ngươi, những kẻ ngươi sợ, vào tay Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn và vào tay người Canh-đê.
JER 22:26 Ta sẽ quăng ngươi và mẹ ngươi vào một xứ khác không phải là nơi mà các ngươi sinh ra nhưng cả hai đều sẽ chết tại đó.
JER 22:27 Chúng sẽ muốn trở về nhưng không trở về được.”
JER 22:28 Giê-hô-gia-kin như bình gốm bể bị người ta quăng đi; như vật phế thải. Tại sao Giê-hô-gia-kin và con cái người bị ném bỏ và bị đày sang nước ngoài?
JER 22:29 Đất ơi, hỡi đất Giu-đa, hãy nghe lời CHÚA phán đây!
JER 22:30 CHÚA phán như sau: “Hãy ghi trong sử ký về Giê-hô-gia-kin như sau: Người là cha không có con, đời người là một chuỗi thất bại. Không ai trong vòng dòng dõi người sẽ thành công; chẳng ai được ngồi trên ngôi Đa-vít, hay trị vì trên Giu-đa.”
JER 23:1 CHÚA phán, “Khốn cho các lãnh tụ Giu-đa là những kẻ phân tán và tiêu diệt dân ta,
JER 23:2 Chúng chịu trách nhiệm đối với dân chúng cho nên CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán cùng chúng như sau: Các ngươi đã phân tán dân ta, đánh đuổi họ đi, không chăm sóc họ nên ta sẽ trừng phạt ngươi về những điều ác ngươi làm,” CHÚA phán vậy.
JER 23:3 “Ta đã đày dân ta qua các xứ khác nhưng ta sẽ gom góp những kẻ sống sót trở về trong xứ mình. Rồi chúng sẽ sinh con đẻ cái đông đảo.
JER 23:4 Ta sẽ đặt những lãnh tụ mới trên dân ta là người sẽ chăm sóc chúng. Dân ta sẽ không sợ hãi hay kinh hoàng nữa, sẽ chẳng còn ai bị thất lạc,” CHÚA phán vậy.
JER 23:5 CHÚA phán, “Sẽ đến ngày ta ươm một nhánh tốt từ nhà Đa-vít. Người sẽ là một vị vua cai trị rất khôn ngoan; làm điều công bằng hợp lý trong xứ.
JER 23:6 Trong triều đại người, Giu-đa sẽ được cứu, và Ít-ra-en sẽ sống yên ổn. Danh Ngài là: CHÚA làm Điều Phải.”
JER 23:7 CHÚA phán, “Sẽ có ngày dân chúng không còn nói, ‘Thật như CHÚA hằng sống là đấng đã mang Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập …’
JER 23:8 mà họ sẽ nói một điều mới, ‘Thật như CHÚA hằng sống là Đấng mang dòng dõi Ít-ra-en ra khỏi xứ miền Bắc và khỏi các xứ mà Ngài đã lưu đày họ …’ Rồi dân Ít-ra-en sẽ sống trong xứ mình.”
JER 23:9 Có lời phán cho các nhà tiên tri: Ta đau lòng lắm. Xương cốt ta run rẩy. Ta giống như người say, như kẻ say rượu vì CHÚA và vì lời thánh của Ngài.
JER 23:10 Đất Giu-đa đầy những kẻ ngoại tình. Vì vậy CHÚA đã nguyền rủa đất. Xứ đã trở nên tiêu điều, Các đồng cỏ đã khô héo cả. Dân chúng rất độc ác và lạm dụng sức mạnh mình.
JER 23:11 “Cả tiên tri và thầy tế lễ sống như thể không có Thượng Đế. Ta thấy chúng làm chuyện ác ngay trong đền thờ ta,” CHÚA phán vậy.
JER 23:12 “Cho nên chúng sẽ sống trong nguy hiểm. Chúng sẽ bị đẩy vào trong bóng tối, nơi chúng sẽ bị đánh bại. Ta sẽ mang thảm họa đến cho chúng trong năm ta trừng phạt chúng,” CHÚA phán vậy.
JER 23:13 “Ta đã thấy các tiên tri trong Xa-ma-ri làm bậy. Các tiên tri đó nói tiên tri nhân danh Ba-anh và dẫn dân Ít-ra-en đi sai lạc.
JER 23:14 Ta cũng đã thấy các tiên tri trong Giê-ru-sa-lem làm những việc kinh khủng. Chúng phạm tội ngoại tình và sống bằng những lời dối gạt. Chúng xúi giục những kẻ làm ác, cứ tiếp tục làm ác thêm, Cho nên dân chúng tha hồ phạm tội. Những kẻ đó như thành Xô-đôm. Đối với ta dân cư Giê-ru-sa-lem thật chẳng khác nào thành Gô-mô-rơ!”
JER 23:15 Cho nên CHÚA Toàn Năng phán như sau về các nhà tiên tri: “Ta sẽ khiến các nhà tiên tri đó ăn vật đắng và uống nước độc, vì các nhà tiên tri của Giê-ru-sa-lem đã rải điều ác khắp xứ.”
JER 23:16 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Đừng để ý đến những lời các nhà tiên tri đó nói cùng các ngươi. Chúng đang phỉnh gạt các ngươi. Chúng nói theo những dị tượng do mình bịa đặt ra, không phải do ta mà đến.
JER 23:17 Chúng nói cùng những kẻ ghét ta rằng: ‘CHÚA phán: Các ngươi sẽ bình yên.’ Chúng nói cùng những kẻ ương ngạnh và hành động theo ý riêng rằng: ‘Chẳng có điều gì xấu xảy ra cho ngươi đâu.’
JER 23:18 Nhưng chẳng có nhà tiên tri nào trong vòng chúng đứng trong hội đồng các thiên sứ để thấy hay nghe lời của CHÚA cả. Chẳng ai trong chúng nó để ý đến lời phán của Ngài.
JER 23:19 Nầy, sự trừng phạt của CHÚA sẽ đến như vũ bão. Cơn thịnh nộ Ngài như cuồng phong. Nó sẽ đến đổ trên đầu những kẻ độc ác đó.
JER 23:20 Cơn giận Ngài không nguôi cho đến khi Ngài hoàn thành điều Ngài định làm. Khi ngày ấy xong rồi, thì các ngươi sẽ hiểu rõ điều nầy.
JER 23:21 Ta không sai các nhà tiên tri đó, nhưng chúng tự ý đi rao lời mình. Ta không hề phán cùng chúng, vậy mà chúng vẫn cứ nói tiên tri.
JER 23:22 Nếu chúng đã đứng trong hội các thiên sứ, chúng hẳn đã rao sứ điệp ta cho dân ta. Chúng hẳn đã khuyên dân ta quay khỏi lối ác, và khỏi hành động gian tà của mình.”
JER 23:23 CHÚA phán, “Ta là Thượng Đế ở gần, mà cũng là Thượng Đế rất xa.”
JER 23:24 “Không ai có thể trốn tránh khỏi mặt ta được,” CHÚA phán vậy. CHÚA phán, “Ta ở khắp trời đất,”
JER 23:25 “Ta đã nghe các nhà tiên tri nhân danh ta nói dối. Chúng bảo, ‘Tôi thấy chiêm bao! Tôi được báo mộng!’
JER 23:26 Chuyện đó còn ở trong đầu của các nhà tiên tri dối trá đó bao lâu nữa? Chúng nói tiên tri do trí tưởng tượng của mình.
JER 23:27 Chúng tìm cách làm cho dân Giu-đa quên ta bằng cách thuật cho nhau về những điềm chiêm bao đó. Các tổ tiên chúng cũng quên ta như thế và bái lạy Ba-anh.”
JER 23:28 CHÚA hỏi, “Rơm rạ có giống như lúa mì không? Nếu một nhà tiên tri muốn thuật lại chiêm bao mình thì cứ việc! Nhưng người nghe sứ điệp của ta phải thuật lại cho chân thật!”
JER 23:29 CHÚA hỏi, “Lời ta chẳng phải như lửa đốt sao? Sứ điệp của ta chẳng phải như búa đập vỡ đá sao?”
JER 23:30 CHÚA phán, “Cho nên, hãy để ý, ta nghịch lại các nhà tiên tri giả. Chúng cứ đánh cắp lời lẽ của nhau rồi nói rằng đó là lời ta.”
JER 23:31 CHÚA phán, “Hãy chú ý đây: Ta nghịch lại các nhà tiên tri giả. Chúng dùng lời mình nói và giả mạo như là lời ta.”
JER 23:32 CHÚA phán, “Hãy để ý: ta nghịch lại các nhà tiên tri nói tiên tri về các điềm chiêm bao giả. Chúng dẫn dân ta đi lầm lạc bằng những lời dối trá và bằng sự dạy dỗ giả dối của chúng! Ta không sai hay truyền cho chúng làm gì cho ta cả. Chúng không giúp được gì cho dân Giu-đa hết,” CHÚA phán vậy.
JER 23:33 “Giả sử có người nào thuộc dân Giu-đa, một nhà tiên tri, hay một thầy tế lễ hỏi ngươi: ‘Nầy Giê-rê-mi, lời CHÚA đè nặng trên ông như thế nào?’ Thì ngươi phải đáp với chúng rằng, ‘Chính các ngươi mới là gánh nặng cho CHÚA, nên Ngài phán, ta sẽ ném các ngươi xuống.’
JER 23:34 Nếu có một nhà tiên tri, thầy tế lễ hay ai trong dân chúng bảo, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA.’ Người ấy nói dối, ta sẽ trừng phạt nó cùng cả nhà nó.
JER 23:35 Các ngươi phải hỏi nhau như sau: ‘CHÚA trả lời ra sao?’ hay ‘CHÚA phán thế nào?’
JER 23:36 Nhưng các ngươi sẽ không bao giờ được nói, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA,’ vì điều ngươi nói là lời ngươi bịa đặt ra thôi. Ngươi đã giả mạo lời của Thượng Đế Hằng Sống của chúng ta, CHÚA Toàn Năng.
JER 23:37 Ngươi phải bảo các nhà tiên tri như sau: ‘CHÚA đáp thế nào với ngươi?’ hay ‘CHÚA nói thế nào?’
JER 23:38 Nhưng không nên nói, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA.’ Vì nếu ngươi nói như thế thì CHÚA phán: Vì ngươi nói rằng ‘Đó là sấm truyền của CHÚA,’ mặc dù ta không có bảo ngươi nói những lời ấy,
JER 23:39 Cho nên hãy nghe đây: Ta sẽ túm và ném ngươi ra khỏi mặt ta, cùng với Giê-ru-sa-lem mà ta đã ban cho tổ tiên ngươi và cho ngươi.
JER 23:40 Ta sẽ khiến cho ngươi hổ nhục đời đời, sự hổ nhục đó sẽ không bao giờ bị quên lãng.”
JER 24:1 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn bắt Giê-hô-gia-kin, con Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, các quần thần cùng tất cả những thợ khéo, thợ đồng của Giu-đa. Vua bắt họ khỏi Giê-ru-sa-lem và đày sang Ba-by-lôn. Lúc ấy CHÚA chỉ cho tôi hai giỏ trái vả đặt trước đền thờ CHÚA.
JER 24:2 Một giỏ đựng toàn trái vả tốt, như trái chín sớm đầu mùa. Nhưng giỏ kia toàn trái vải hư thối không ăn được.
JER 24:3 CHÚA hỏi tôi, “Hỡi Giê-rê-mi, ngươi thấy gì?” Tôi thưa, “Tôi thấy các trái vả. Trái tốt thì thật tốt, nhưng trái xấu thì hư thối không ăn được.”
JER 24:4 Rồi CHÚA phán cùng tôi:
JER 24:5 “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Chúng là những người tốt giống như những trái vả tốt nầy mà ta đã đuổi ra khỏi xứ và đày sang Ba-by-lôn.
JER 24:6 Ta sẽ chăm nom chúng và mang chúng về lại trong xứ Giu-đa. Ta sẽ không lôi chúng xuống mà nâng đỡ chúng lên. Ta sẽ không nhổ chúng lên nhưng ta sẽ trồng chúng để chúng mọc.
JER 24:7 Ta sẽ khiến chúng muốn biết rằng ta là CHÚA. Chúng sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Thượng Đế chúng vì chúng sẽ hết lòng trở lại cùng ta.’”
JER 24:8 “CHÚA phán như sau: ‘Nhưng giống những trái vả hư, không ăn được, ta sẽ lập Xê-đê-kia làm vua Giu-đa, các quần thần, và những kẻ sống sót ở Giê-ru-sa-lem, và kể cả những kẻ sống ở Ai-cập nữa.
JER 24:9 Ta sẽ khiến chúng trở thành vật ghê tởm, một thứ mà tất cả các dân tộc trên đất xem như là dân độc ác. Họ sẽ chế giễu chúng, kể chuyện khôi hài về chúng, chỉ ngón tay vào chúng và nguyền rủa chúng ở bất cứ nơi nào ta phân tán chúng.
JER 24:10 Ta sẽ sai chiến tranh, đói kém, bệnh tật theo đuổi chúng. Ta sẽ tấn công chúng cho đến khi tất cả đều bị giết. Rồi chúng sẽ không còn ở trong xứ mà ta đã ban cho chúng cùng tổ tiên chúng.’”
JER 25:1 Đây là sứ điệp cho Giê-rê-mi về toàn thể dân Giu-đa. Ông nhận sứ điệp nầy vào năm thứ tư đời vua Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia, vua Giu-đa, và năm thứ nhất đời Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.
JER 25:2 Sứ điệp mà tiên tri Giê-rê-mi rao cho toàn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem như sau:
JER 25:3 “Trong hai mươi ba năm qua CHÚA phán cùng ta nhiều lần. Ta đã làm tiên tri từ năm thứ mười ba đời Giô-xia, con Am-môn, vua Giu-đa. Ta đã rao truyền lời CHÚA cho các ngươi từ lúc đó đến nay, nhưng các ngươi không chịu nghe.
JER 25:4 CHÚA đã sai các tôi tớ Ngài là các nhà tiên tri đến cùng các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi không thèm nghe cũng không thèm để ý đến họ.
JER 25:5 Các nhà tiên tri đó đã nói, ‘Hãy lìa bỏ đường lối ác của các ngươi. Đừng làm quấy nữa để các ngươi có thể ở trong xứ CHÚA ban cho các ngươi và tổ tiên cư ngụ đời đời.
JER 25:6 Đừng đi theo các thần khác để phục vụ chúng hay bái lạy chúng. Đừng chọc giận ta, CHÚA các ngươi, bằng cách bái lạy các thần tượng do chính tay các ngươi làm ra, nếu không ta sẽ trừng phạt các ngươi.’
JER 25:7 Nhưng dân Giu-đa không chịu nghe ta,” CHÚA phán vậy. “Các ngươi chọc giận ta bằng cách bái lạy các thần tượng do tay mình làm ra, vì thế cho nên ta trừng phạt các ngươi.”
JER 25:8 Cho nên CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Vì các ngươi không nghe theo các lời ta
JER 25:9 nên CHÚA phán, ta sẽ mang tất cả các dân miền Bắc cùng tôi tớ là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đến. Ta sẽ mang chúng đến đánh dân Giu-đa, tất cả mọi người sống ở đây, và các dân sống quanh các ngươi nữa. Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt các xứ đó và khiến nó hoang tàn đời đời. Người ta sẽ sửng sốt khi thấy ta tiêu diệt các xứ đó tơi bời ra sao.
JER 25:10 Ta sẽ chấm dứt tiếng hoan ca, tiếng cô dâu chú rể, tiếng người xay cối. Ta cũng sẽ cất luôn ánh sáng đèn.
JER 25:11 Cả miền đó sẽ trở thành sa mạc hoang vu, các dân đó sẽ làm tôi mọi cho vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm.
JER 25:12 Sau bảy mươi năm ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và toàn thể dân tộc người vì sự độc ác của chúng,” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ khiến xứ đó thành sa mạc đời đời.
JER 25:13 Ta sẽ khiến những điều kinh khủng xảy đến cho Ba-by-lôn như ta đã nói, mọi điều mà Giê-rê-mi đã nói tiên tri về các dân tộc ngoại quốc, những lời cảnh cáo ghi trong sách nầy.
JER 25:14 Thật vậy, chúng cũng sẽ làm tôi mọi cho các dân và các vua lớn. Ta sẽ giáng trên chúng những sự trừng phạt tương xứng với các việc ác mà tay chúng đã gây ra.”
JER 25:15 CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en bảo ta như sau: “Cơn giận ta như rượu trong ly. Hãy lấy ly khỏi tay ta và bắt những dân mà ta sắp sai ngươi đến uống cơn giận ta trong ly nầy.
JER 25:16 Chúng sẽ uống cơn thịnh nộ ta và đi lạng quạng như người điên vì chiến tranh mà ta sắp mang đến giữa chúng nó.”
JER 25:17 Vậy tôi lấy ly khỏi tay Chúa và đi đến bắt các dân uống ly đó.
JER 25:18 Tôi đưa rượu ấy cho dân Giê-ru-sa-lem và dân thuộc các thị trấn Giu-đa, các vua và các quần thần của Giu-đa để họ trở thành hoang tàn. Vì thế, mọi người sẽ sửng sốt về sự việc xảy ra. Họ dùng tên chúng nó để nguyền rủa kẻ khác cho đến ngày nay.
JER 25:19 Tôi cũng khiến các dân sau đây uống cơn thịnh nộ của Chúa: vua Ai-cập, các tôi tớ, quần thần cùng dân tộc người,
JER 25:20 tất cả các ngoại kiều sống ở đó; tất cả các vua trong đất U-xơ; các vua Phi-li-tin tức vua của các thành Ách-kê-lôn, Ga-xa, Éc-rôn, và dân sống sót ở Ách-đốt;
JER 25:21 dân Ê-đôm, Mô-áp, và Am-môn;
JER 25:22 tất cả các vua Ty-rơ và Xi-đôn; tất cả các vua của các xứ vùng duyên hải, phía bên kia biển;
JER 25:23 các dân Đê-đan, Thê-ma và Bu-xơ; tất cả những dân cắt tóc ngắn;
JER 25:24 các vua Á-rập; vua của các bộ lạc pha giống trong sa mạc;
JER 25:25 tất cả các vua Xim-ri, Ê-lam, và Mê-đia;
JER 25:26 và tất cả các vua miền Bắc, gần và xa, hết người nầy đến người kia. Tôi bắt các nước trên đất uống ly thịnh nộ của Chúa, nhưng vua Ba-by-lôn sẽ uống ly đó sau khi các vua kia đã uống xong.
JER 25:27 “Rồi bảo chúng, ‘CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy uống ly thịnh nộ của ta. Hãy say sưa và mửa ra đi. Hãy té nhào, đừng ngồi dậy nữa vì chiến tranh mà ta sắp đưa đến giữa các ngươi!’
JER 25:28 Nếu chúng không nhận ly từ tay ngươi thì hãy bảo chúng rằng, CHÚA Toàn Năng phán như sau: Ngươi phải uống ly nầy.
JER 25:29 Kìa! Ngươi phải làm chứng về điều ấy vì ta sẽ mang thảm họa đến cho Giê-ru-sa-lem, thành được gọi bằng danh ta. Còn ngươi nghĩ rằng sẽ thoát khỏi trừng phạt sao? Ngươi chắc chắn sẽ bị trừng phạt! Thật vậy, ta sai chiến tranh đến cho tất cả các dân trên đất,” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
JER 25:30 “Còn ngươi, hỡi Giê-rê-mi, hãy dùng những lời nầy nói tiên tri nghịch chúng nó. Hãy nói với chúng nó rằng: ‘CHÚA sẽ gầm lên từ trời và hò hét từ đền thờ thánh Ngài. Ngài sẽ gầm thật to nghịch lại xứ của Ngài. Ngài sẽ hò hét như người đạp lên nho để làm rượu. Ngài sẽ hò hét nghịch lại mọi dân trên đất.
JER 25:31 Tiếng hét đó sẽ vang ra khắp đất, vì CHÚA sẽ truy tố mọi dân tộc. Ngài sẽ phân xử để cho thấy các dân phạm tội ra sao, Ngài sẽ dùng gươm giết kẻ ác,’” CHÚA phán vậy.
JER 25:32 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Nầy, thảm họa sẽ đến trên dân nầy rồi dân khác. Chúng đến như một trận cuồng phong mãnh liệt từ miền xa xăm trên đất.”
JER 25:33 Lúc đó những kẻ bị CHÚA giết sẽ đầy dẫy từ đầu nầy đến đầu kia của trái đất. Không ai than khóc, lượm thây hay chôn cất chúng. Thây chúng sẽ bị bỏ nằm la liệt trên đất như phân vậy.
JER 25:34 Hỡi các lãnh tụ, hãy khóc lên! Hãy khóc thảm thiết đi! Hỡi các lãnh tụ của dân chúng, hãy lăn trong bụi đất đi! Vì đến giờ các ngươi bị giết rồi. Các ngươi sẽ ngã và bị phân tán, như các mảnh bể của bình gốm.
JER 25:35 Sẽ không có chỗ nào cho các lãnh tụ trốn tránh cả; chúng sẽ không thoát được.
JER 25:36 Ta nghe tiếng các lãnh tụ la hét. Ta nghe các lãnh tụ khóc lóc thảm thiết, vì CHÚA đang tiêu diệt xứ của chúng.
JER 25:37 Những đồng cỏ êm đềm sẽ trở nên sa mạc hoang vu, vì CHÚA đã nổi giận.
JER 25:38 Ngài đã ra khỏi hang như sư tử. Đất chúng đã bị tiêu hủy vì chiến tranh khủng khiếp mà Ngài đưa đến, vì cơn thịnh nộ ghê gớm của Ngài.
JER 26:1 Sứ điệp sau đây của CHÚA truyền cho Giê-rê-mi vào năm đầu tiên sau khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia lên ngôi vua Giu-đa.
JER 26:2 CHÚA phán như sau: “Giê-rê-mi, hãy đứng trong sân đền thờ của CHÚA và rao sứ điệp nầy cho toàn dân sống trong các thị trấn Giu-đa đang đến thờ phụng trong đền thờ CHÚA. Hãy cho chúng biết hết mọi điều ta bảo ngươi, đừng bỏ sót lời nào.
JER 26:3 Biết đâu chúng sẽ nghe ngươi và quay lại khỏi lối ác. Nếu được như vậy ta sẽ đổi ý về dự định giáng thảm họa lên cho chúng vì điều ác chúng làm.
JER 26:4 Hãy nói cùng chúng như sau: ‘CHÚA phán: Các ngươi phải vâng lời ta và vâng giữ những lời giáo huấn ta truyền cho các ngươi.
JER 26:5 Các ngươi phải nghe điều các tôi tớ tức các nhà tiên tri bảo các ngươi. Ta đã sai họ đến với các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi không thèm nghe.
JER 26:6 Nếu các ngươi không vâng lời ta, ta sẽ tiêu hủy đền thờ ta tại Giê-ru-sa-lem như ta đã hủy phá Lều Thánh ta tại Si-lô. Khi ta làm điều ấy thì ta sẽ dùng Giê-ru-sa-lem để mọi dân trên đất nguyền rủa nó.’”
JER 26:7 Các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và toàn thể dân chúng nghe Giê-rê-mi nói những điều đó trong đền thờ CHÚA.
JER 26:8 Sau khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều CHÚA dặn ông thì các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và mọi người túm bắt ông. Họ bảo, “Ngươi chắc chắn phải chết!
JER 26:9 Sao ngươi dám nhân danh CHÚA nói tiên tri rằng đền thờ nầy sẽ bị tiêu hủy như đền thờ tại Si-lô? Sao ngươi dám nói rằng Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành sa mạc hoang vu không ai ở?” Tất cả mọi người xúm quanh Giê-rê-mi trong đền thờ CHÚA.
JER 26:10 Bấy giờ các viên chức Giu-đa nghe biết chuyện liền ra khỏi cung vua đi đến đền thờ CHÚA ngồi ở chỗ ra vào nơi Cổng Mới.
JER 26:11 Các thầy tế lễ, tiên tri nói cùng các viên chức và toàn thể dân chúng rằng, “Giê-rê-mi phải chết vì dám nói tiên tri nghịch cùng Giê-ru-sa-lem, và chính các ngươi đã nghe người nói.”
JER 26:12 Giê-rê-mi liền nói với các viên chức Giu-đa và toàn thể dân chúng rằng: “CHÚA đã sai ta nói cho các ngươi biết mọi điều mà các ngươi đã nghe về đền thờ và thành nầy.
JER 26:13 Bây giờ hãy thay đổi nếp sống, trở lại làm điều thiện và vâng theo CHÚA là Thượng Đế các ngươi thì Ngài sẽ đổi ý không giáng tai họa mà Ngài đã báo trước cho các ngươi.
JER 26:14 Còn về phần ta, ta ở trong tay các ngươi. Các ngươi muốn làm gì cũng được.
JER 26:15 Nhưng phải biết rõ một điều. Nếu các ngươi giết ta, các ngươi sẽ mang tội giết một người vô tội. Các ngươi sẽ làm cho thành nầy và toàn thể dân cư sống trong đó mang tội nữa! Thật CHÚA có sai ta đến rao cho các ngươi biết những lời nầy.”
JER 26:16 Sau đó các viên chức và toàn thể dân chúng nói cùng các thầy tế lễ và nhà tiên tri rằng, “Người nầy không đáng chết. Điều ông ta nói là do CHÚA, Thượng Đế chúng ta bảo.”
JER 26:17 Rồi các bô lão của Giu-đa đứng lên nói cùng toàn dân rằng,
JER 26:18 “Mi-ca, người thành Mô-rê-sết làm tiên tri trong đời Ê-xê-chia, vua Giu-đa. Mi-ca nói cùng toàn dân Giu-đa rằng, ‘CHÚA Toàn Năng phán: Giê-ru-sa-lem sẽ bị cày như đồng ruộng. Nó sẽ thành một đống đá vụn, và đền thờ trên đồi sẽ hoang vu và đầy bụi rậm.’
JER 26:19 Ê-xê-chia, vua Giu-đa và dân Giu-đa không giết Mi-ca. Các ngươi biết Ê-xê-chia kính sợ Thượng Đế và tìm cách làm đẹp lòng Ngài. Vì thế CHÚA đổi ý và không giáng trên Giu-đa tai họa mà Ngài đã nói. Nếu chúng ta làm hại Giê-rê-mi, chúng ta sẽ chuốc lấy thảm họa cho mình đó!”
JER 26:20 Còn có một người nữa nói tiên tri nhân danh CHÚA. Người là U-ri, con Sê-mai-gia, gốc thành Ki-ri-át Giê-a-rim. Người cũng nói tiên tri giống như thế nghịch cùng Giê-ru-sa-lem và đất Giu-đa như Giê-rê-mi vậy.
JER 26:21 Khi vua Giê-hô-gia-kim, toàn thể các sĩ quan và các lãnh tụ Giu-đa nghe U-ri nói như thế thì vua muốn giết U-ri. Nghe được tin ấy, U-ri sợ hãi trốn qua Ai-cập.
JER 26:22 Sau đó vua Giê-hô-gia-kim phái Ên-na-than, con Ác-bo và một vài người nữa sang Ai-cập
JER 26:23 mang U-ri về. Họ giải người đến trước mặt vua Giê-hô-gia-kim. Vua hạ lệnh giết người bằng gươm. Xác người bị ném vào hố chôn những kẻ nghèo khó.
JER 26:24 Nhưng A-hi-cam, con Sa-phan, bênh vực Giê-rê-mi. Nên A-hi-cam không trao Giê-rê-mi vào tay dân chúng để bị giết.
JER 27:1 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi vào năm thứ tư sau khi Xê-đê-kia, con Giô-xia lên ngôi vua Giu-đa.
JER 27:2 CHÚA phán cùng tôi rằng: “Hãy làm một cái ách bằng gỗ và đai da đặt trên cổ ngươi.
JER 27:3 Rồi nhắn với các vua Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Tia, và Xi-đôn qua các sứ giả của họ đã đến Giê-ru-sa-lem để viếng Xê-đê-kia, vua Giu-đa.
JER 27:4 Hãy bảo họ nhắn với chủ mình như sau: CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy nói với chủ các ngươi rằng:
JER 27:5 Ta dựng nên đất, người, và mọi sinh vật trong đó bằng quyền năng và sức mạnh lớn lao của ta. Ta ban đất cho ai tùy ý ta.
JER 27:6 Bây giờ ta đã trao đất nầy cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, là tôi tớ ta. Thậm chí ta cũng sẽ khiến dã thú vâng theo người.
JER 27:7 Các dân sẽ phục vụ Nê-bu-cát-nết-xa, con trai và cháu trai người. Rồi sau đó đến lúc Ba-by-lôn sẽ bị đánh bại. Nhiều dân tộc và các vua lớn sẽ bắt Ba-by-lôn làm tôi tớ cho mình.
JER 27:8 Nếu có dân nào, nước nào không chịu thần phục Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn thì ta sẽ trừng phạt chúng bằng chiến tranh, đói kém, dịch lệ, CHÚA phán vậy. Ta sẽ dùng Nê-bu-cát-nết-xa tiêu diệt chúng.
JER 27:9 Cho nên chớ nghe lời các nhà tiên tri giả của các ngươi là kẻ dùng ma thuật bói toán, những kẻ giải mộng, bọn đồng bóng và phù phép. Tất cả chúng nó đều bảo các ngươi, ‘Các ngươi sẽ không phải làm tôi tớ cho vua Ba-by-lôn đâu.’
JER 27:10 Chúng nói dối để các ngươi phải bị đày đi xa khỏi xứ mình. Ta sẽ đuổi các ngươi ra khỏi nhà mình và các ngươi sẽ bỏ xác trong một xứ khác.
JER 27:11 Nhưng dân nào chịu thần phục vua Ba-by-lôn thì được ở lại trong xứ mình, CHÚA phán vậy. Dân của các nước đó sẽ được ở trong xứ mình và trồng trọt.”
JER 27:12 Tôi cũng bảo y như vậy cho Xê-đê-kia, vua Giu-đa. Tôi nói, “Hãy thần phục vua Ba-by-lôn thì vua sẽ sống.
JER 27:13 Tại sao vua và dân chúng của vua phải chết vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ như CHÚA đã bảo những dân không chịu thần phục vua Ba-by-lôn?
JER 27:14 Nhưng các nhà tiên tri giả nói, ‘Vua sẽ không bao giờ làm nô lệ cho vua Ba-by-lôn đâu.’ Đừng nghe họ vì họ đang nói tiên tri dối cho vua đó!
JER 27:15 CHÚA phán, ‘Ta không có sai chúng nó. Chúng nói tiên tri dối, bảo rằng lời tiên tri ấy là của ta. Cho nên, ta sẽ khiến các ngươi bị đi đày. Ngươi và những nhà tiên tri đã nói tiên tri cùng các ngươi đều sẽ chết.’”
JER 27:16 Rồi tôi, Giê-rê-mi, nói cùng các thầy tế lễ và toàn thể dân chúng rằng, CHÚA phán: “Các nhà tiên tri giả đó nói, ‘Người Ba-by-lôn sắp trả lại những vật dụng họ lấy trong đền thờ CHÚA.’ Đừng nghe chúng nó! Chúng nó đang nói tiên tri dối cùng các ngươi.
JER 27:17 Đừng nghe các nhà tiên tri đó. Nhưng hãy thần phục vua Ba-by-lôn thì các ngươi sẽ sống. Không có lý do gì khiến các ngươi biến Giê-ru-sa-lem thành đống hoang tàn.
JER 27:18 Nếu chúng là nhà tiên tri và nhận sứ điệp từ CHÚA thì chúng hãy cầu nguyện cùng CHÚA Toàn Năng đi. Chúng hãy cầu xin để những vật dụng vẫn còn sót lại trong đền thờ CHÚA, trong cung vua, và ở Giê-ru-sa-lem khỏi bị đem sang Ba-by-lôn.
JER 27:19 CHÚA Toàn Năng phán như sau về những vật dụng còn lại ở Giê-ru-sa-lem. Trong đền thờ có các cây cột, cái chậu lớn gọi là Cái Biển, các đế chậu có thể mang đi được, và các món đồ khác.
JER 27:20 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn không lấy đi những món đó khi ông bắt Giê-hô-gia-kin con Giê-hô-gia-kim, các cấp thượng lưu khác của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đày sang Ba-by-lôn.
JER 27:21 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán về những món còn lại trong đền thờ CHÚA, trong cung vua và ở Giê-ru-sa-lem như sau:
JER 27:22 ‘Tất cả các món đó rồi cũng bị mang sang Ba-by-lôn. Chúng sẽ ở đó cho đến ngày ta sang lấy về,’ CHÚA phán vậy. ‘Rồi ta sẽ mang chúng về đặt lại y chỗ cũ tại nơi nầy.’”
JER 28:1 Trong năm đó, tức tháng thứ năm, năm thứ tư triều vua Xê-đê-kia, vua Giu-đa, sau khi lên ngôi trị vì thì nhà tiên tri Ha-na-nia, con A-xua, quê ở thành Ghi-bê-ôn, nói cùng tôi trong đền thờ CHÚA trước mặt các thầy tế lễ và toàn thể dân chúng. Người nói:
JER 28:2 “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Ta đã bẻ ách của vua Ba-by-lôn đặt trên Giu-đa.
JER 28:3 Cuối năm thứ hai, ta sẽ mang về tất cả những gì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã lấy từ trong đền thờ CHÚA sang Ba-by-lôn.
JER 28:4 Ta cũng sẽ mang Giê-hô-gia-kin, con Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa và các tù binh khác từ Giu-đa đã bị đày sang Ba-by-lôn trở về,’ CHÚA phán vậy. ‘Ta sẽ bẻ cái ách vua Ba-by-lôn đặt trên Giu-đa.’”
JER 28:5 Rồi nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với tiên tri Ha-na-nia trước mặt các thầy tế lễ và cả dân chúng đang đứng trong đền thờ CHÚA rằng,
JER 28:6 “A-men! Nguyện CHÚA thực sự làm điều ấy! Nguyện CHÚA thực hiện điều ngươi nói. Nguyện Ngài mang về đây tất cả những vật dụng trong đền thờ CHÚA và toàn thể dân bị bắt làm tù binh sang Ba-by-lôn.”
JER 28:7 “Nhưng hãy nghe điều ta nói cùng ngươi và toàn dân.
JER 28:8 Nầy Ha-na-nia, có nhiều nhà tiên tri trước chúng ta. Họ nói tiên tri rằng chiến tranh, đói kém, dịch lệ sẽ xảy đến cho nhiều dân, nhiều nước lớn.
JER 28:9 Nhưng nếu nhà tiên tri nào tiên tri rằng chúng ta sẽ có hòa bình và lời của người thành sự thật thì chúng ta biết tiên tri đó thực sự do CHÚA sai đến.”
JER 28:10 Rồi Ha-na-nia gỡ cái ách ra khỏi cổ Giê-rê-mi và bẻ nó đi.
JER 28:11 Trước mặt toàn dân, Ha-na-nia nói rằng, “CHÚA phán: ‘Ta cũng sẽ bẻ ách của Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn như thế nầy. Người đã đặt ách đó lên các dân trên thế giới nhưng ta sẽ bẻ nó trước cuối năm thứ hai.’” Sau khi Ha-na-nia nói như vậy thì Giê-rê-mi rời đền thờ.
JER 28:12 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi Ha-na-nia đã bẻ cái ách khỏi cổ nhà tiên tri Giê-rê-mi.
JER 28:13 CHÚA phán, “Hãy đi bảo Ha-na-nia, ‘CHÚA phán như sau: Ngươi đã bẻ cái ách bằng gỗ nhưng ta sẽ làm cái ách bằng sắt thế vào đó!
JER 28:14 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sẽ đặt cái ách bằng sắt lên cổ mọi dân tộc để bắt chúng phục vụ Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Chúng sẽ làm nô lệ cho người. Ta cũng ban quyền cho Nê-bu-cát-nết-xa cai trị loài dã thú nữa.’”
JER 28:15 Rồi nhà tiên tri Giê-rê-mi nói cùng Ha-na-nia, “Nầy, Ha-na-nia hãy nghe đây! CHÚA không có sai ngươi. Ngươi đã khiến cho dân Giu-đa tin vào chuyện dối gạt.
JER 28:16 Vì vậy CHÚA phán: ‘Ta sắp sửa cất mạng sống ngươi khỏi mặt đất. Năm nay ngươi sẽ chết vì ngươi dạy dân chúng chống nghịch lại CHÚA.’”
JER 28:17 Tháng bảy năm đó Ha-na-nia chết.
JER 29:1 Đây là bức thư nhà tiên tri Giê-rê-mi ở Giê-ru-sa-lem gởi cho các bô lão trong vòng các tù binh, các thầy tế lễ, và các nhà tiên tri. Ông cũng gởi đến cho tất cả các người bị Nê-bu-cát-nết-xa bắt làm tù binh đày từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn.
JER 29:2 Thư nầy gởi sau khi các người sau đây bị bắt đi: Giê-hô-gia-kin, vua và thái hậu; các sĩ quan và lãnh tụ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các thợ khéo và thợ đồng từ Giê-ru-sa-lem.
JER 29:3 Xê-đê-kia, vua Giu-đa, sai Ê-la-xa, con Sa-phan và Ghê-ma-ria, con Hinh-kia sang Ba-by-lôn để gặp Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Vì thế Giê-rê-mi trao thư nầy cho họ mang sang Ba-by-lôn:
JER 29:4 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en, phán cùng những người Ngài đã đày từ Giê-ru-sa-lem sang Ba-by-lôn như sau:
JER 29:5 “Hãy xây nhà và lập nghiệp trong xứ. Hãy trồng vườn tược và ăn hoa quả.
JER 29:6 Hãy kết hôn và sinh con trai con gái. Hãy cưới vợ cho con trai và gả chồng cho con gái để chúng nó sinh con cái. Hãy sinh sản ra thật đông tại Ba-by-lôn, đừng sinh ít.
JER 29:7 Ngoài ra thành nào mà ta đày ngươi đến thì hãy làm ích lợi cho thành đó. Hãy cầu nguyện cùng CHÚA cho thành các ngươi hiện đang cư ngụ, vì nếu thành đó hưởng được những ơn lành thì các ngươi cũng hưởng lây.”
JER 29:8 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Đừng để các nhà tiên tri và những kẻ làm ma thuật ở giữa các ngươi phỉnh các ngươi. Đừng nghe những mộng mị của chúng.
JER 29:9 Vì chúng nói tiên tri dối cùng ngươi, bảo rằng những lời đó đến từ ta. Nhưng ta không hề sai chúng nó,” CHÚA phán vậy.
JER 29:10 CHÚA phán: “Thật vậy, Ba-by-lôn sẽ cai trị ngươi trong bảy mươi năm. Sau đó ta sẽ đến thăm ngươi, giữ lời hứa cùng ngươi và mang ngươi về lại Giê-ru-sa-lem.
JER 29:11 Ta nói vậy là vì ta biết điều ta đã định cho ngươi,” CHÚA phán. “Ta có chương trình tốt đẹp cho các ngươi, không phải để hại các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi hi vọng và một tương lai tươi sáng.
JER 29:12 Rồi các ngươi sẽ kêu cầu danh ta. Các ngươi sẽ đến cùng ta, cầu nguyện cùng ta, ta sẽ nghe các ngươi.
JER 29:13 Các ngươi sẽ tìm ta và sẽ gặp được khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng!
JER 29:14 Ta sẽ để cho các ngươi tìm được ta,” CHÚA phán. “Ta sẽ mang các ngươi về từ chốn lưu đày. Ta đã đuổi các ngươi ra khỏi xứ nầy, nhưng ta sẽ gom các ngươi lại từ mọi dân, từ những nơi ta đã đày các ngươi,” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ mang các ngươi trở về nơi đây.”
JER 29:15 Các ngươi có thể nói, “CHÚA đã ban cho chúng ta các nhà tiên tri ngay tại Ba-by-lôn đây rồi.”
JER 29:16 Nhưng CHÚA phán như sau về vua hiện đang ngồi trên ngôi Đa-vít và các người khác hiện còn ở lại Giê-ru-sa-lem là thân nhân của các ngươi không bị đày sang Ba-by-lôn chung với các ngươi.
JER 29:17 CHÚA Toàn Năng phán: “Ta sắp sai chiến tranh, đói kém, và dịch lệ khủng khiếp đến cho những kẻ còn ở lại Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ khiến chúng nó như những trái vả hư thối không ăn được.
JER 29:18 Ta sẽ đánh đuổi chúng bằng chiến tranh, đói kém, và dịch lệ khủng khiếp. Ta sẽ khiến mọi dân tộc trên thế giới kinh hoàng vì chúng. Họ sẽ dùng chúng để nguyền rủa kẻ khác. Chúng sẽ trở thành một vật làm cho mọi người kinh tởm. Nơi nào ta đày chúng đến, chúng cũng sẽ là chứng tích ô nhục cho mọi người.
JER 29:19 Sở dĩ như thế là vì chúng không vâng lời ta,” CHÚA phán vậy. “Ta dùng các tôi tớ, các nhà tiên tri ta mang lời ta đến phán với chúng nhiều lần nhưng chúng không thèm nghe,” CHÚA phán vậy.
JER 29:20 Hỡi các ngươi là kẻ bị lưu đày, những kẻ ta đã đuổi ra khỏi Giê-ru-sa-lem đi sang Ba-by-lôn, hãy nghe lời CHÚA phán.
JER 29:21 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau về A-háp, con Cô-lai-gia, và về Xê-đê-kia, con Ma-a-sê-gia: “Hai người nầy đã nói tiên tri dối cho các ngươi, bảo rằng đó là lời của ta. Nhưng ta sắp giao chúng cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn; người sẽ giết chúng trước mặt các ngươi.
JER 29:22 Vì cớ chúng, tất cả các tù binh Giu-đa ở Ba-by-lôn sẽ dùng lời nguyền rủa nầy: ‘Nguyện CHÚA đối xử với ngươi như Xê-đê-kia và A-háp, mà vua Ba-by-lôn đã hỏa thiêu.’
JER 29:23 Chúng đã làm nhiều điều ác trong vòng dân Ít-ra-en, chúng đã phạm tội tà dâm với vợ của láng giềng mình. Chúng đã nói dối và bảo rằng những lời đó đến từ ta. Ta không hề bảo chúng làm như thế. Ta biết chúng làm điều gì; ta làm chứng cho việc đó,” CHÚA phán vậy.
JER 29:24 Ngoài ra cũng bảo với Sê-mai-gia, thuộc gia đình Nê-hê-lam như sau.
JER 29:25 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Hỡi Sê-mai-gia, ngươi nhân danh mình gởi thư cho toàn dân cư Giê-ru-sa-lem, cho thầy tế lễ Xô-phô-ni, con Ma-a-sê-gia, cùng tất cả các thầy tế lễ.
JER 29:26 Ngươi bảo Xô-phô-ni rằng, ‘CHÚA đã cử ngươi làm thầy tế lễ thế cho Giê-hô-gia-đa. Ngươi sẽ lo cho đền thờ CHÚA. Ngươi phải bắt giữ những kẻ khùng điên nào mà giả vờ làm nhà tiên tri. Hãy khóa tay và chân nó vào cùm gỗ và khóa cổ nó vào gông sắt.
JER 29:27 Còn Giê-rê-mi người A-na-thốt hành động như nhà tiên tri sao ngươi không bắt?
JER 29:28 Giê-rê-mi đã gởi thư sau đây cho chúng ta ở Ba-by-lôn: Các ngươi sẽ phải ở đó rất lâu cho nên hãy xây nhà và lập nghiệp đi. Hãy trồng vườn tược và ăn hoa quả của chúng.’”
JER 29:29 Thầy tế lễ Xô-phô-ni đọc thư cho nhà tiên tri Giê-rê-mi.
JER 29:30 Sau đó CHÚA phán như sau cho Giê-rê-mi:
JER 29:31 “Hãy nhắn với tất cả các tù binh ở Ba-by-lôn như sau: ‘Đây là điều CHÚA phán về Sê-mai-gia, người Nê-hê-lam: Sê-mai-gia đã nói tiên tri cho các ngươi nhưng ta không sai nó. Nó khiến cho các ngươi tin vào một điều giả dối.
JER 29:32 Cho nên CHÚA phán, Ta sắp trừng phạt Sê-mai-gia, người Nê-hê-lam và gia đình nó. Nó sẽ không thấy những việc tốt đẹp ta sẽ làm cho dân ta, CHÚA phán vậy. Không ai trong gia đình nó sẽ sống sót trong số dân ta vì nó đã dạy dân chúng chống nghịch ta.’”
JER 30:1 Sau đây là lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi.
JER 30:2 CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Hỡi Giê-rê-mi, hãy viết vào trong một quyển sách những lời ta nói cùng ngươi.”
JER 30:3 CHÚA phán, “Sẽ có ngày ta mang Ít-ra-en và Giu-đa về từ chốn tù đày. Ta sẽ trả chúng về lại xứ mà ta đã cấp cho tổ tiên chúng nó, và chúng nó sẽ nhận làm sản nghiệp!” CHÚA phán vậy.
JER 30:4 CHÚA phán như sau về dân Ít-ra-en và Giu-đa:
JER 30:5 CHÚA phán như sau: “Chúng ta nghe dân chúng khóc lóc vì sợ hãi. Họ khiếp sợ vì không có hòa bình.
JER 30:6 Hãy hỏi câu nầy, suy nghĩ cho kỹ: Đàn ông không thể sinh con. Vậy tại sao ta thấy mọi đàn ông khỏe mạnh ôm bụng đau đớn như đàn bà sắp đẻ? Tại sao mặt ai cũng tái ngắt lại như mặt người chết?
JER 30:7 Đó là ngày kinh khủng! Sẽ không có thời kỳ nào như vậy cả. Đó là thời kỳ vô cùng khốn đốn cho dân Gia-cốp, nhưng chúng sẽ được giải thoát khỏi thời kỳ ấy.”
JER 30:8 CHÚA Toàn Năng phán, “Lúc ấy ta sẽ bẻ cái ách khỏi cổ chúng và cắt đứt dây buộc chúng. Những dân ngoại quốc sẽ không còn bắt dân ta làm tôi mọi nữa.
JER 30:9 Chúng sẽ phục vụ CHÚA là Thượng Đế chúng và Đa-vít, vua chúng mà ta sẽ sai đến.
JER 30:10 Vậy hỡi dân Gia-cốp, kẻ tôi tớ ta, đừng sợ. Hỡi Ít-ra-en, đừng kinh hoảng,” CHÚA phán vậy. “Ta sắp giải cứu các ngươi khỏi xứ xa xôi mà các ngươi bị làm tù binh. Ta sẽ giải thoát gia đình các ngươi khỏi xứ đó. Dân Gia-cốp sẽ bình yên và được an ninh trở lại; Sẽ không còn kẻ thù nào đe dọa chúng.”
JER 30:11 CHÚA phán, “Ta sẽ ở cùng và giải cứu ngươi. Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt mọi nước mà ta phân tán ngươi đến, nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt ngươi. Ta sẽ trừng phạt ngươi một cách công bình, Nhưng ta vẫn phải trừng phạt ngươi.”
JER 30:12 CHÚA phán như sau: “Các ngươi bị một vết thương không thể chữa lành; vết thương ngươi sẽ không bao giờ lành.
JER 30:13 Sẽ không có ai biện hộ cho ngươi, không có thuốc chữa vết thương ngươi. Nên ngươi sẽ không thể nào được lành.
JER 30:14 Tất cả các dân trước kia vốn là bạn hữu ngươi đã quên ngươi. Chúng chẳng ngó ngàng gì đến ngươi. Ta đã làm thương tổn ngươi như kẻ thù vẫn làm. Ta đã trừng phạt ngươi nặng nề, vì tội ngươi quá lớn, lỗi ngươi quá nhiều.
JER 30:15 Tại sao ngươi kêu khóc thảm thiết về vết thương mình? Không có thuốc chữa cho nỗi đau của ngươi. Ta làm những điều nầy vì tội quá lớn, và lỗi quá nhiều của ngươi.
JER 30:16 Nhưng tất cả các dân tộc đã tiêu diệt ngươi nay sẽ bị tiêu diệt. Mọi kẻ thù ngươi sẽ làm tù binh trong các xứ khác. Những kẻ đánh cắp tài sản ngươi, sẽ bị đánh cắp lại. Những kẻ cướp đoạt của cải ngươi trong chiến tranh, sẽ bị cướp đoạt lại.
JER 30:17 Ta sẽ phục hồi sức khoẻ ngươi chữa lành các vết thương ngươi,” CHÚA phán vậy, “vì các dân khác đã đày ngươi đi. Chúng cho rằng các ngươi là đồ phế thải. Chúng nói, ‘Không ai ngó ngàng gì đến Giê-ru-sa-lem cả!’”
JER 30:18 CHÚA phán như sau: “Ta sắp phục hồi lại lều của dân cư Gia-cốp như trước, và ta sẽ thương hại nhà Ít-ra-en. Thành sẽ được xây lại trên đồi đổ nát của nó, và cung vua sẽ đứng trên chỗ cũ.
JER 30:19 Dân ở những nơi đó sẽ hát ca ngợi, sẽ có tiếng cười vui. Ta sẽ cho chúng có nhiều con, dân số chúng sẽ đông đảo. Ta sẽ mang vinh dự đến cho chúng, Sẽ không ai khinh dể chúng.
JER 30:20 Dòng dõi chúng sẽ giống như xưa. Ta sẽ lập chúng lên làm một dân hùng mạnh trước mặt ta, và ta sẽ trừng phạt các dân tộc đã làm tổn thương chúng.
JER 30:21 Một người trong chúng sẽ lãnh đạo chúng, quan cai trị chúng xuất thân từ giữa chúng. Người sẽ đến cùng ta khi ta gọi.
JER 30:22 Cho nên các ngươi sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Thượng Đế các ngươi.”
JER 30:23 Nầy! Có cơn bão từ CHÚA thổi đến! Ngài nổi giận và ra tay trừng phạt dân chúng. Cơn trừng phạt ào đến như vũ bão giáng trên mọi kẻ ác.
JER 30:24 CHÚA sẽ vẫn nổi giận cho đến khi Ngài trừng phạt chúng xong. Ngài sẽ vẫn còn giận, cho đến khi Ngài thi hành xong sự trừng phạt như Ngài đã định. Khi ngày đó đến, thì dân Giu-đa sẽ hiểu.
JER 31:1 CHÚA phán, “Lúc đó ta sẽ làm Thượng Đế cho cả dòng họ Ít-ra-en, họ sẽ làm dân ta.”
JER 31:2 CHÚA phán như sau: “Những người không bị giết bằng gươm của kẻ thù nhận được sự giúp đỡ trong sa mạc. Ta đến để ban cho Ít-ra-en sự nghỉ ngơi.”
JER 31:3 Và từ xa CHÚA hiện ra cùng dân Ngài và nói, “Ta yêu các ngươi bằng tình yêu còn đời đời. Vì thế ta đã luôn tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi.
JER 31:4 Hỡi dân Ít-ra-en, ta sẽ nâng đỡ các ngươi trở lại, ngươi sẽ được phục hưng. Ngươi sẽ lại cầm trống cơm và nhảy múa với những kẻ vui mừng.
JER 31:5 Ngươi sẽ lại trồng vườn nho trên các đồi quanh Xa-ma-ri. Các nông gia sẽ trồng nho và hưởng hoa quả.
JER 31:6 Sẽ đến lúc những lính canh trong vùng núi Ép-ra-im hô to như sau: ‘Chúng ta hãy lên Giê-ru-sa-lem để thờ lạy CHÚA là Thượng Đế chúng ta!’”
JER 31:7 Vì CHÚA phán như sau: “Hãy vui mừng xướng hát cho dân Gia-cốp. Hãy la to lên cho Ít-ra-en, dân tộc nổi danh nhất trên thế gian. Hãy hát bài ca ngợi và la to lên như sau: ‘CHÚA đã cứu dân Ngài, là những người còn sống sót trong quốc gia Ít-ra-en!’
JER 31:8 Nầy, ta sẽ mang Ít-ra-en về từ xứ miền Bắc, và gom họ lại từ các nơi xa xăm trên đất. Một số bị mù lòa và què quặt. Một số đàn bà đang mang thai, một số khác sắp sinh đẻ. Nhiều người sẽ trở về.
JER 31:9 Họ sẽ vừa về vừa khóc, nhưng họ sẽ cầu nguyện khi ta mang họ trở về. Ta sẽ dẫn dắt họ bên suối nước, trên đường bằng phẳng để họ không ngã té. Vì ta là cha của Ít-ra-en, và Ít-ra-en là con đầu lòng của ta.
JER 31:10 Hỡi các dân, hãy nghe lời CHÚA phán. Hãy thuật lại sứ điệp nầy trong các xứ duyên hải xa xôi. ‘Đấng phân tán dân Ít-ra-en sẽ mang họ trở về, và Ngài sẽ coi sóc dân Ngài như người chăn chiên.’
JER 31:11 Thật vậy, CHÚA sẽ chuộc lại dân Gia-cốp và sẽ mang họ về từ những dân mạnh hơn họ.
JER 31:12 Dân Ít-ra-en sẽ đến trên đỉnh núi Xi-ôn và la hét vui mừng. Gương mặt họ sẽ sáng rỡ lên với vẻ hớn hở về những ơn lành từ CHÚA: nào ngũ cốc, rượu mới, dầu, chiên con, và bò con. Họ sẽ như vườn nhiều nước, và sẽ không gặp khốn khó nữa.
JER 31:13 Lúc đó các thiếu nữ Ít-ra-en sẽ vui mừng nhảy múa, và các thanh niên cùng người già cả cũng vậy. Ta sẽ biến sự buồn bã của họ ra vui mừng, Ta sẽ ban cho họ niềm yên ủi và vui mừng thay vì sầu não.
JER 31:14 Các thầy tế lễ sẽ có dư dật của lễ, và dân ta sẽ đầy dẫy những vật tốt mà ta ban cho!” CHÚA phán vậy.
JER 31:15 CHÚA phán: “Có âm thanh vang lên từ Ra-ma, tiếng khóc thảm sầu cay đắng. Đó là tiếng Ra-chên khóc con cái mình. Nàng không khuây khỏa được, vì chúng nó chết rồi!”
JER 31:16 Nhưng CHÚA phán như sau: “Đừng khóc nữa; đừng để mắt ngươi đẫm lệ. Ngươi sẽ được đền bù công khó mình!” CHÚA phán vậy. “Dân chúng sẽ trở về từ xứ quân thù.
JER 31:17 Cho nên ngươi sẽ có hi vọng trong tương lai,” CHÚA phán vậy. “Con cái ngươi sẽ trở về xứ mình.
JER 31:18 Ta đã nghe Ít-ra-en than vãn: ‘Lạy CHÚA, Ngài trừng phạt tôi, và tôi đã học được bài học. Tôi như bò con chưa hề mang ách. Xin hãy mang tôi về để tôi có thể trở về nhà. Ngài thật là CHÚA và Thượng Đế tôi.
JER 31:19 Thật vậy, lạy CHÚA, sau khi đã lạc xa khỏi Ngài, tôi đã thay đổi lòng và nếp sống. Sau khi tôi đã hiểu, tôi đấm ngực ân hận. Tôi bị hổ nhục, vì tôi đã phải chịu khổ, do những điều dại dột tôi làm khi còn trẻ.’”
JER 31:20 “Các ngươi biết rằng Ít-ra-en là con yêu dấu của ta, đứa con ta yêu. Đành rằng ta thường nói nghịch cùng Ít-ra-en, nhưng ta vẫn hằng nhớ nó, ta rất yêu thương nó, muốn an ủi nó,” CHÚA phán vậy.
JER 31:21 “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy sửa lại các bảng chỉ đường. Hãy dựng bảng để chỉ đường về nhà. Hãy canh chừng đường đi. Hãy nhớ lại lối ngươi ra đi. Hỡi dân Ít-ra-en, hãy trở về, Hãy trở về thị trấn quê quán ngươi.
JER 31:22 Ngươi là đứa con gái hư hỏng. Ngươi sẽ đi lang thang bao lâu nữa trước khi trở về nhà? Vì CHÚA đã làm một điều mới lạ trong xứ: Đàn bà đi tìm đàn ông.”
JER 31:23 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ làm những điều tốt lành cho dân Giu-đa lần nữa. Lúc đó dân trong xứ Giu-đa và các thị trấn sẽ lại dùng những lời nầy: ‘Nguyện CHÚA ban phước cho ngươi, là nơi ở và núi thánh tốt đẹp.’
JER 31:24 Dân chúng sống trong các thành Giu-đa sẽ ở bình yên với nhau. Nông gia và dân du mục sẽ sống bình yên với nhau.
JER 31:25 Ta sẽ ban sự yên nghỉ và sức mạnh cho những kẻ yếu ớt và mệt mỏi.”
JER 31:26 Sau khi nghe như vậy, tôi, Giê-rê-mi, thức giấc và nhìn quanh quất. Giấc ngủ tôi rất ngon.
JER 31:27 CHÚA phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến ngày ta giúp các gia đình Ít-ra-en, Giu-đa cùng con cái và súc vật của chúng sinh sôi nẩy nở.
JER 31:28 Trước kia ta trông chừng Ít-ra-en và Giu-đa để nhổ lên và phá sập, để tiêu diệt và mang tai họa đến. Nhưng nay ta sẽ trông chừng chúng để xây lên và khiến chúng mạnh mẽ,” CHÚA phán vậy.
JER 31:29 Lúc đó người ta sẽ không còn nói: “Cha mẹ ăn trái nho chua mà con cháu phải buốt răng.”
JER 31:30 Nhưng mỗi người sẽ chết vì tội lỗi mình; ai ăn trái nho chua thì người đó bị buốt răng.
JER 31:31 CHÚA phán, “Nầy, sẽ đến lúc ta lập một giao ước mới với dân Ít-ra-en và dân Giu-đa.
JER 31:32 Không giống như giao ước ta đã lập với tổ tiên chúng khi ta dắt tay chúng ra khỏi Ai-cập. Lúc đó ta làm chồng chúng nó, nhưng chúng phá giao ước ấy,” CHÚA phán vậy.
JER 31:33 “Nhưng đây là giao ước ta sẽ lập với dân Ít-ra-en vào lúc đó,” CHÚA phán: “Ta sẽ để lời giáo huấn ta trong trí chúng, ghi tạc vào lòng chúng. Ta sẽ làm Thượng Đế chúng, và chúng sẽ làm dân ta.
JER 31:34 Người ta không cần phải dạy láng giềng hay thân nhân để biết CHÚA nữa, vì mọi người đều sẽ biết ta, từ người thấp kém nhất cho đến người sang trọng nhất,” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ tha thứ chúng vì những điều ác chúng làm, ta sẽ không nhớ đến tội lỗi chúng nữa.”
JER 31:35 CHÚA khiến mặt trời soi sáng ban ngày, mặt trăng và ngôi sao soi sáng ban đêm. Ngài khuấy động biển để các ngọn sóng đập vào bờ. Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng. CHÚA phán như sau:
JER 31:36 “Chỉ khi nào các luật thiên nhiên đó không hiệu nghiệm nữa, thì con cháu Ít-ra-en mới không còn là dân tộc trước mặt ta.” CHÚA phán vậy.
JER 31:37 CHÚA phán như sau: “Chỉ khi nào người ta có thể đo được bầu trời cao kia hay biết được những bí mật dưới đất nầy, thì ta mới gạt bỏ con cháu Ít-ra-en, về những điều chúng làm,” CHÚA phán vậy.
JER 31:38 CHÚA phán, “Ngươi phải biết rằng, sẽ đến lúc Giê-ru-sa-lem được xây lại cho ta; tất cả mọi thứ từ tháp Ha-na-nên cho đến Cổng Góc.
JER 31:39 Dây đo sẽ giăng từ Cổng Góc thẳng cho đến đồi Ga-rép. Rồi sẽ xoay qua một nơi gọi là Gô-a.
JER 31:40 Toàn thung lũng nơi người ta ném các xác chết và tro, cùng toàn vùng đất cao cho đến thung lũng Kít-rôn về phía Đông cho đến góc của Cổng Ngựa, tất cả vùng đó sẽ hóa thánh cho CHÚA. Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ bị phá sập hay tiêu hủy nữa.”
JER 32:1 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi vào năm thứ mười khi vua Xê-đê-kia làm vua Giu-đa, tức năm thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa.
JER 32:2 Lúc ấy đạo quân của vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem. Nhà tiên tri Giê-rê-mi bị giam trong sân của lính cận vệ, nơi cung vua Giu-đa.
JER 32:3 Xê-đê-kia, vua Giu-đa đã nhốt Giê-rê-mi ở đó. Xê-đê-kia hỏi, “Tại sao ngươi tiên tri như vậy?” Giê-rê-mi đã tuyên bố, CHÚA phán như sau: “Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua Ba-by-lôn, người sẽ chiếm lấy nó.
JER 32:4 Xê-đê-kia vua Giu-đa sẽ không thoát khỏi tay quân Ba-by-lôn, nhưng chắc chắn sẽ bị giao vào tay vua Ba-by-lôn. Người sẽ nói với vua Ba-by-lôn mặt đối mặt, và nhìn tận mắt người.
JER 32:5 Vua sẽ đày Xê-đê-kia sang Ba-by-lôn, người sẽ ở đó cho đến khi ta xử tội người xong,” CHÚA phán vậy. “Nếu ngươi đánh lại người Ba-by-lôn, ngươi sẽ không thắng nổi đâu.”
JER 32:6 Trong khi Giê-rê-mi đang ở trong tù ông nói, “CHÚA phán cùng ta:
JER 32:7 Bà con ngươi là Ha-na-mên, con trai Sa-lum chú ngươi, sắp đến thăm ngươi. Ha-na-mên sẽ nói cùng ngươi, ‘Anh Giê-rê-mi à, anh là bà con gần nhất của tôi, cho nên anh hãy mua miếng ruộng của tôi gần thành A-na-thốt đi. Vì đó là quyền lợi và bổn phận của anh.’”
JER 32:8 Rồi mọi việc xảy ra y như CHÚA phán. Ha-na-nên, bà con tôi đến thăm tôi trong sân của toán cận vệ và bảo tôi, “Anh hãy mua miếng ruộng của tôi gần A-na-thốt trong xứ Bên-gia-min đi. Đó là quyền lợi và bổn phận của anh; anh phải mua và làm chủ nó.” Vì thế tôi biết đây là sứ điệp đến từ CHÚA.
JER 32:9 Tôi liền mua thửa ruộng ở A-na-thốt từ Ha-na-mên, bà con tôi, trả cho người bảy lượng bạc.
JER 32:10 Tôi ký giấy mua, đóng ấn và tìm mấy người chứng. Tôi cũng cân bạc trên cân.
JER 32:11 Rồi tôi lấy hai bản giấy chuyển nhượng quyền sở hữu, tức giấy đã được đóng ấn liệt kê những điều kiện và giới hạn của chủ quyền, còn giấy kia không đóng ấn.
JER 32:12 Tôi trao các giấy tờ đó cho Ba-rúc, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Ha-na-mên, bà con tôi, các nhân chứng ký giấy tờ ghi việc chuyển nhượng sở hữu chủ, và nhiều người Giu-đa ngồi trong sân của toán cận vệ thấy tôi trao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc.
JER 32:13 Trong khi mọi người đang chứng kiến, tôi bảo Ba-rúc rằng,
JER 32:14 “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hãy lấy hai bản chuyển nhượng sở hữu chủ, một bản đóng ấn, và một bản không đóng ấn, bỏ vào trong một hũ bằng đất để giữ được lâu.
JER 32:15 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Trong tương lai dân ta sẽ lại mua sắm nhà cửa, ruộng nương, vườn nho trong xứ Ít-ra-en.”
JER 32:16 Sau khi tôi đã giao giấy chuyển nhượng cho Ba-rúc, con trai Nê-ria, thì tôi cầu nguyện cùng CHÚA rằng,
JER 32:17 Ôi, lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài đã tạo nên trời đất bằng quyền năng lớn lao của Ngài. Không có việc gì khó quá cho Ngài.
JER 32:18 Ngài tỏ lòng yêu thương và nhân từ cho hàng ngàn người, nhưng Ngài cũng mang trừng phạt đến cho con cháu vì tội lỗi của cha mẹ chúng. Lạy Thượng Đế cao cả và vĩ đại, danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
JER 32:19 Ngài dự liệu những việc lớn. Ngài biết hết mọi điều người ta làm, và thưởng cho họ tùy lối sống của họ và theo điều họ làm.
JER 32:20 Ngài làm nhiều phép lạ và những việc diệu kỳ trong xứ Ai-cập. Ngài vẫn còn làm những điều đó trong Ít-ra-en và trong các dân tộc khác cho đến hôm nay. Vì thế người ta biết đến Ngài.
JER 32:21 Ngài mang dân Ngài, tức dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập bằng những dấu kỳ, phép lạ, quyền năng lớn lao và sức mạnh Ngài. Ngài mang đến sự kinh hoàng cho mọi người.
JER 32:22 Ngài cho họ xứ nầy mà Ngài đã hứa cho tổ tiên họ từ trước, một vùng đất phì nhiêu.
JER 32:23 Họ đến trong xứ nầy và nhận nó làm sản nghiệp nhưng họ không vâng lời Ngài và đi theo lời giáo huấn Ngài. Họ không làm theo mọi điều Ngài truyền dặn. Cho nên Ngài khiến những điều kinh khiếp nầy xảy ra cho họ.
JER 32:24 “Kìa, kẻ thù đã bao vây thành phố và đắp đường lên đến chóp vách để chiếm nó. Vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao cho người Ba-by-lôn đang bao vây nó. Ngài bảo trước là những điều nầy sẽ xảy ra, bây giờ Ngài nhìn thấy nó đang xảy ra.
JER 32:25 Nhưng lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài bảo tôi, ‘Hãy dùng bạc mua miếng ruộng và gọi các nhân chứng đến.’ Ngài bảo tôi như thế nầy trong khi quân Ba-by-lôn sắp sửa chiếm thành.”
JER 32:26 Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi rằng:
JER 32:27 “Ta là CHÚA, Thượng Đế của mọi người trên đất. Không việc gì ta không làm được.
JER 32:28 Cho nên CHÚA phán: Ta sẽ trao thành Giê-ru-sa-lem vào tay quân Ba-by-lôn và Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm lấy thành.
JER 32:29 Quân Ba-by-lôn đang tấn công thành Giê-ru-sa-lem. Họ sắp vào thành và sẽ phóng hỏa đốt rụi thành phố luôn cả nhà cửa trong đó mà dân chúng Giê-ru-sa-lem đã dâng của lễ cho Ba-anh trên mái và đổ các của lễ uống cho các thần tượng khác để chọc giận ta.
JER 32:30 Từ khi còn trẻ, dân Ít-ra-en và Giu-đa đã làm những điều sái bậy. Chúng đã chọc giận ta bằng cách bái lạy các thần tượng do chính tay mình làm ra,” CHÚA phán vậy.
JER 32:31 “Từ ngày Giê-ru-sa-lem được xây cất cho đến nay, thành nầy đã chọc giận ta, đến nỗi ta muốn dẹp nó đi khỏi mắt ta.
JER 32:32 Ta sẽ tiêu hủy nó vì những điều ác dân Ít-ra-en và Giu-đa làm. Dân chúng, vua, các viên chức, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, toàn dân Giu-đa và dân Ít-ra-en đã chọc giận ta.
JER 32:33 Chúng đã xây lưng lại cùng ta, mà không xây mặt. Bao lần ta muốn dạy chúng nó nhưng chúng nó không nghe, cũng không chịu học.
JER 32:34 Chúng đã đặt những thần tượng gớm ghiếc ở nơi ta đã chọn để thờ phụng, khiến cho nơi ấy nhơ nhớp.
JER 32:35 Trong thung lũng Bên-Hin-nôm chúng đã xây những nơi thờ lạy Ba-anh để thiêu con trai con gái mình cho thần Mô-léc. Ta không bao giờ bảo chúng làm những điều gớm ghiếc như thế. Ta không bao giờ tưởng tượng nổi rằng chúng sẽ làm việc gớm ghiếc như vậy để khiến Giu-đa phạm tội.”
JER 32:36 Ngươi nói rằng, “Vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ, thành sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.” Nhưng CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau về Giê-ru-sa-lem:
JER 32:37 “Ta đuổi dân Ít-ra-en và Giu-đa ra khỏi xứ chúng vì ta nổi giận cùng chúng. Nhưng ngươi phải biết rằng ta sẽ sớm gom chúng lại từ mọi xứ mà ta đã đày chúng đến và mang chúng về lại tại xứ nầy để chúng sống bình yên.
JER 32:38 Dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Thượng Đế chúng.
JER 32:39 Ta sẽ khiến chúng mong muốn trở thành một dân tộc đoàn kết. Chúng sẽ thật lòng muốn thờ lạy ta suốt đời vì ích lợi cho chúng và cho con cháu chúng.
JER 32:40 Ta sẽ lập giao ước với chúng, giao ước đó sẽ còn đời đời. Ta sẽ không bao giờ quay mặt khỏi chúng; ta sẽ luôn luôn làm lợi cho chúng. Ta sẽ khiến chúng kính sợ ta thật lòng và không bao giờ xây bỏ ta.
JER 32:41 Ta sẽ vui thích mà làm lợi cho chúng. Ta sẽ hết lòng trồng chúng lại trong xứ nầy và khiến chúng mọc lên.”
JER 32:42 Vì CHÚA phán như sau: “Ta đã mang đại họa đến cho dân Ít-ra-en và Giu-đa. Cũng vậy ta sẽ mang những điều tốt lành mà ta đã hứa đến cho chúng.
JER 32:43 Các ngươi nói, ‘Đất nầy là sa mạc hoang vu, không người hay súc vật nào ở. Nó đã được trao cho người Ba-by-lôn.’ Nhưng trong tương lai, dân chúng sẽ lại mua ruộng trong xứ nầy.
JER 32:44 Họ sẽ dùng tiền để mua ruộng. Họ sẽ ký tên và đóng ấn các khế ước và gọi nhân chứng. Họ sẽ lại mua ruộng nương trong xứ Bên-gia-min, vùng quanh Giê-ru-sa-lem, các thành của Giu-đa và trong vùng núi, vùng đồi phía Tây và vùng Nam Giu-đa. Ta sẽ khiến mọi vật trở lại tốt đẹp cho chúng như xưa,” CHÚA phán vậy.
JER 33:1 Trong khi Giê-rê-mi đang bị giam trong sân của toán lính cận vệ thì CHÚA phán cùng ông lần thứ hai:
JER 33:2 Đây là lời CHÚA, Đấng dựng nên đất, uốn nắn nó, ban trật tự cho nó, danh Ngài là CHÚA:
JER 33:3 “Hỡi Giu-đa hãy cầu nguyện cùng ta, ta sẽ trả lời cho các ngươi. Ta sẽ cho ngươi biết những điều bí ẩn mà ngươi chưa hề nghe.
JER 33:4 Đây là điều CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán về các nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem và các cung điện vua ở Giu-đa: Kẻ thù sẽ phá sập các nhà cửa ấy. Chúng sẽ đắp mô lên đến tận chóp của vách thành. Chúng sẽ dùng gươm đánh giết mọi người trong thành.
JER 33:5 Dân cư Giê-ru-sa-lem đã làm nhiều điều ác. Ta nổi giận và nghịch cùng chúng cho nên ta sẽ đánh giết chúng. Người Ba-by-lôn sẽ đến tấn công Giê-ru-sa-lem. Thành phố sẽ đầy thây chết.
JER 33:6 Nhưng rồi ta sẽ mang sức khoẻ và chữa lành cho dân chúng ở đó. Ta sẽ chữa lành và cho chúng vui hưởng thái bình an ninh.
JER 33:7 Ta sẽ mang Giu-đa và Ít-ra-en trở về từ chốn lưu đày và làm cho xứ sở chúng hùng cường như trước.
JER 33:8 Chúng nó đã phạm tội cùng ta nhưng ta sẽ xóa tội lỗi đó. Chúng đã làm điều ác và quay khỏi ta nhưng ta sẽ tha thứ chúng.
JER 33:9 Rồi Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành một tên mang niềm vui trước mặt ta! Dân cư khắp các nước trên đất sẽ ca ngợi nó khi họ nghe những điều tốt lành ta làm cho nó. Họ sẽ sợ hãi và run rẩy về những điều tốt lành và về nền hòa bình ta mang đến cho Giê-ru-sa-lem.
JER 33:10 Các ngươi nói, ‘Xứ chúng tôi là một sa mạc hoang vu, không bóng người hay sinh vật.’ Nhưng CHÚA phán như sau: Đường phố Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa hiện nay im vắng, không bóng người hay súc vật, nhưng ít lâu nữa sẽ huyên náo!
JER 33:11 Sẽ có tiếng reo vui, tiếng của cô dâu chú rể vui mừng hớn hở. Sẽ có tiếng người mang của lễ cảm tạ CHÚA vào trong đền thờ Ngài. Họ sẽ nói, ‘Chúc tụng CHÚA Toàn Năng, vì Ngài nhân từ! Tình yêu Ngài còn đến đời đời!’ Họ sẽ nói như thế vì ta sẽ làm những điều tốt đẹp cho Giu-đa như lúc ban đầu,” CHÚA phán vậy.
JER 33:12 CHÚA Toàn Năng phán: “Nơi nầy hiện hoang vu, không bóng người hay súc vật nhưng sẽ có người chăn chiên trong tất cả các thị trấn Giu-đa và các đồng cỏ, nơi họ để cho bầy chiên mình nghỉ ngơi.
JER 33:13 Các kẻ chăn chiên sẽ lại đếm các chiên mình khi chúng đi qua trước mặt họ. Họ sẽ đếm chúng nó trong núi, trong các đồi phía Tây, vùng miền Nam Giu-đa và xứ Bên-gia-min, quanh Giê-ru-sa-lem và các thành khác của Giu-đa!” CHÚA phán vậy.
JER 33:14 CHÚA phán, “Sẽ đến lúc ta làm những điều tốt lành mà ta đã hứa cùng dân Ít-ra-en và Giu-đa.
JER 33:15 Trong những ngày và thời kỳ đó ta sẽ khiến một nhánh tốt mọc ra từ nhà Đa-vít. Người sẽ làm điều công bình và phải lẽ trong xứ.
JER 33:16 Lúc ấy Giu-đa sẽ được cứu, và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ sống an ninh. Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là: CHÚA ban sự công chính cho chúng ta.”
JER 33:17 CHÚA phán: “Từ gia đình Đa-vít sẽ luôn luôn có người ngồi trên ngôi của gia đình Ít-ra-en.
JER 33:18 Lúc nào cũng sẽ có thầy tế lễ từ gia đình Lê-vi. Họ sẽ luôn luôn đứng trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, của lễ chay cùng sinh tế cho ta.”
JER 33:19 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau:
JER 33:20 “CHÚA phán: Ta đã lập giao ước với ngày và đêm để chúng luôn luôn đến đúng kỳ. Nếu ngươi muốn thay đổi giao ước đó
JER 33:21 thì chỉ khi nào ngươi thay đổi giao ước của ta với Đa-vít và Lê-vi mới được. Chỉ lúc đó thì Đa-vít, tôi tớ ta mới không có người ngồi trên ngôi vua. Và cũng chỉ lúc đó thì gia đình Lê-vi mới không có người làm thầy tế lễ phục vụ ta trong đền thờ.
JER 33:22 Nhưng ta sẽ ban nhiều con cháu cho Đa-vít, tôi tớ ta và cho dòng họ Lê-vi là những người sẽ phục vụ ta trong đền thờ. Chúng sẽ đông như sao trên trời như cát bãi biển, không ai đếm được.”
JER 33:23 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau:
JER 33:24 “Nầy Giê-rê-mi, ngươi có nghe dân chúng nói không? Chúng nói: ‘CHÚA đã quay mặt khỏi hai gia đình Ít-ra-en và Giu-đa mà Ngài đã chọn lựa.’ Chúng khinh dể dân ta và không xem họ là một quốc gia nữa!”
JER 33:25 CHÚA phán: “Chỉ khi nào ta không còn giao ước với ngày và đêm, và chỉ khi nào không lập ra luật cho trời và đất, thì lúc đó ta mới quay mặt khỏi con cháu Gia-cốp.
JER 33:26 Và chỉ lúc đó ta mới không để cho con cháu của tôi tớ ta là Đa-vít trị vì con cháu Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Nhưng vì Đa-vít, kẻ tôi tớ ta cho nên ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng chúng và ban phúc lành cho chúng.”
JER 34:1 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong khi Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang đánh Giê-ru-sa-lem và các thị trấn quanh đó. Nê-bu-cát-nết-xa mang toàn quân lực mình và quân lực của các quốc gia và dân tộc dưới quyền thống trị của mình.
JER 34:2 CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Giê-rê-mi, ngươi hãy đi đến cùng Xê-đê-kia, vua Giu-đa và nói với người như sau: Ta sắp trao thành Giê-ru-sa-lem cho vua Ba-by-lôn. Người sẽ đốt nó cháy rụi!
JER 34:3 Ngươi sẽ không thoát khỏi tay vua Ba-by-lôn; ngươi chắc chắn sẽ bị bắt và trao vào tay người. Ngươi sẽ nhìn thấy vua Ba-by-lôn tận mắt, và người sẽ nói chuyện với ngươi, mặt đối mặt. Ngươi sẽ bị đày sang Ba-by-lôn.
JER 34:4 Nhưng hỡi Xê-đê-kia, vua Giu-đa, hãy nghe lời hứa của CHÚA. Ngài phán như sau về ngươi: Ngươi sẽ không bị gươm giết.
JER 34:5 Ngươi sẽ chết bình yên. Dân chúng đã đốt lửa mai táng để tôn kính các tổ tiên ngươi là các vua đã trị vì trước ngươi thể nào thì họ cũng sẽ đốt lửa mai táng để tôn kính ngươi như vậy. Họ sẽ than khóc ngươi và buồn bã kêu lên, ‘Ôi, chủ ơi!’ Chính ta hứa với ngươi như thế, CHÚA phán vậy.”
JER 34:6 Nên nhà tiên tri Giê-rê-mi thuật lại những lời đó cho Xê-đê-kia ở Giê-ru-sa-lem.
JER 34:7 Trong khi đó đạo quân của vua Ba-by-lôn đang tiến đánh Giê-ru-sa-lem và các thành Giu-đa chưa bị thất thủ như La-ki và A-xê-ka. Đó là các thành có vách kiên cố còn lại trong xứ Giu-đa.
JER 34:8 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi vua Xê-đê-kia lập ước cùng toàn dân cư Giê-ru-sa-lem để giải phóng tất cả tôi mọi người Hê-bơ-rơ.
JER 34:9 Ai cũng phải phóng thích các tôi mọi người Hê-bơ-rơ của mình, không phân biệt nam nữ. Không ai được phép giữ đồng bào Do-thái mình làm tôi mọi nữa.
JER 34:10 Tất cả các viên chức và dân chúng chấp thuận giao ước nầy; họ đồng ý phóng thích các nô lệ nam và nữ, không giữ họ làm tôi mọi nữa. Vì thế tất cả các tôi mọi đều được phóng thích.
JER 34:11 Nhưng sau đó một số người vốn có tôi mọi đổi ý. Họ bắt lại những người đã được họ trả tự do và bắt làm tôi mọi trở lại.
JER 34:12 Sau đó CHÚA phán như sau cho Giê-rê-mi:
JER 34:13 “CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta mang tổ tiên các ngươi ra khỏi Ai-cập nơi chúng làm nô lệ. Và ta lập giao ước với chúng.
JER 34:14 Ta nói cùng tổ tiên các ngươi: ‘Cuối mỗi bảy năm, mọi người trong các ngươi phải trả tự do cho các nô lệ người Hê-bơ-rơ của mình. Nếu một đồng bào Hê-bơ-rơ đã bán mình cho ngươi, ngươi phải phóng thích nó sau khi nó đã phục vụ ngươi sáu năm.’ Nhưng tổ tiên các ngươi không nghe cũng không để ý đến ta.
JER 34:15 Trước đây ít lâu các ngươi thay đổi lòng và làm điều thiện. Mỗi người trong các ngươi trả tự do cho đồng bào Hê-bơ-rơ của mình là những nô lệ. Các ngươi cũng đã lập ước trước mặt ta tại nơi ta đã chọn để thờ phụng ta.
JER 34:16 Nhưng nay các ngươi đổi ý. Các ngươi chứng tỏ không tôn kính ta. Ai nấy đều bắt lại các nô lệ nam và nữ mà các ngươi đã trả tự do, buộc họ làm nô lệ cho các ngươi trở lại.”
JER 34:17 Vì thế CHÚA phán: Các ngươi không vâng lời ta. Các ngươi không trả tự do cho đồng bào Hê-bơ-rơ, cùng thân nhân và bạn hữu mình. CHÚA phán, bây giờ ta sẽ cho chiến tranh, dịch lệ và đói kém tha hồ tự do hoành hành. Ta sẽ khiến cho các ngươi bị tất cả các quốc gia trên thế giới ghét bỏ.
JER 34:18 Ta sẽ trao cho kẻ thù những người phá giao ước ta, không giữ lời hứa cùng ta. Chúng đã xẻ đôi con bê trước mặt ta và đi qua giữa hai phần đó.
JER 34:19 Những người sau đây đã lập giao ước trước mặt ta bằng cách đi qua giữa hai phần của con bê bị xẻ: các lãnh tụ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các quần thần, các thầy tế lễ, và toàn dân trong xứ.
JER 34:20 Cho nên ta sẽ trao chúng nó cho kẻ thù và bất cứ những ai muốn giết chúng nó. Thây chúng nó sẽ làm thức ăn cho chim trời và dã thú trên đất.
JER 34:21 Ta sẽ trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa và các quần thần người cho kẻ thù chúng nó, và cho những ai muốn giết chúng nó, cho đạo quân của vua Ba-by-lôn, cho dù họ đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem.
JER 34:22 CHÚA phán, “ngươi phải biết rằng ta sẽ ra lệnh cho đạo quân Ba-by-lôn trở lại Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm nó, phóng hỏa, và thiêu rụi nó. Ta sẽ tiêu diệt các thị trấn trong Giu-đa để chúng trở thành điêu tàn không ai ở!”
JER 35:1 Đang khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa thì CHÚA phán cùng Giê-rê-mi như sau:
JER 35:2 “Hãy đi đến gia đình Rê-cáp. Mời họ vào trong một căn phòng kế bên đền thờ CHÚA, và mời họ uống rượu.”
JER 35:3 Cho nên tôi đi kiếm Gia-a-xa-nia, con Giê-rê-mi, cháu Ha-ba-xi-nia. Tôi họp tất cả anh em của Gia-a-xa-nia, các con trai và toàn thể gia đình Rê-cáp lại.
JER 35:4 Tôi đưa họ vào trong đền thờ CHÚA. Chúng tôi đi vào phòng của các con trai Ha-nan, con Ích-đa-lia, là người của Thượng Đế. Phòng đó kế cận phòng các viên chức cư ngụ và ở phía trên phòng Ma-a-sê-gia, con Sa-lum, người giữ cửa đền thờ.
JER 35:5 Rồi tôi để một số chén bát đầy rượu và một số ly trước mặt các người trong gia đình Rê-cáp. Tôi bảo họ, “Các anh dùng chút rượu đi.”
JER 35:6 Nhưng những người Rê-cáp đáp, “Chúng tôi không bao giờ uống rượu. Tổ tiên chúng tôi là Giô-na-đáp, con Rê-cáp, đã dặn chúng tôi như sau: ‘Ngươi và con cháu các ngươi không bao giờ được uống rượu.
JER 35:7 Ngoài ra các ngươi cũng không được cất nhà, gieo giống, trồng vườn nho hay làm những gì tương tự. Các ngươi chỉ được ở trong lều. Như thế các ngươi sẽ sống lâu trong đất mà các ngươi làm dân tạm cư.’
JER 35:8 Vì thế chúng tôi là những người Rê-cáp vâng theo những gì Giô-na-đáp, tổ tiên chúng tôi đã dặn. Chúng tôi, vợ, con trai con gái chúng tôi không bao giờ uống rượu.
JER 35:9 Chúng tôi chưa bao giờ xây nhà để ở, mua sắm ruộng nương, vườn nho hay trồng trọt hoa màu.
JER 35:10 Chúng tôi sống trong lều và vâng theo tất cả những gì tổ tiên chúng tôi là Giô-na-đáp truyền dặn.
JER 35:11 Nhưng khi Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn tấn công Giu-đa thì chúng tôi bảo nhau, ‘Nầy, chúng ta phải vào Giê-ru-sa-lem để thoát khỏi quân Ba-by-lôn và quân A-ram.’ Vì vậy chúng tôi đã ở lại Giê-ru-sa-lem.”
JER 35:12 Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi:
JER 35:13 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Giê-rê-mi, hãy đi bảo người Giu-đa và toàn dân cư Giê-ru-sa-lem như sau: ‘Các ngươi nên học một bài học và vâng lời ta,’” CHÚA phán.
JER 35:14 “Giô-na-đáp, con Rê-cáp truyền dặn con cháu mình đừng uống rượu thì chúng nó vâng theo. Cho đến ngày nay chúng vẫn vâng theo mệnh lệnh của tổ tiên mình và không uống rượu. Nhưng ta là CHÚA đã phán dặn các ngươi nhiều lần nhưng các ngươi vẫn không vâng lời ta.
JER 35:15 Ta đã sai các tôi tớ ta là các nhà tiên tri nhiều lần đến cùng các ngươi và bảo, ‘Mỗi người các ngươi phải thôi làm điều ác. Các ngươi phải thay đổi để trở nên tốt hơn. Đừng đi theo các thần khác mà phục vụ chúng. Nếu các ngươi vâng lời ta thì các ngươi sẽ được sống trong xứ mà ta đã ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi.’ Còn các ngươi chẳng thèm nghe ta, cũng không vâng lời ta.
JER 35:16 Thật thế, con cháu Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp vâng theo mệnh lệnh tổ tiên chúng truyền cho nhưng dân Giu-đa chẳng vâng lời ta.”
JER 35:17 “Cho nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Hãy chú ý, ta sắp mang mọi thảm họa mà ta đã tuyên bố đến trên Giu-đa và cho mọi người sống trong Giê-ru-sa-lem. Ta bảo chúng nhưng chúng chẳng thèm nghe. Ta kêu chúng, nhưng chúng không trả lời.’”
JER 35:18 Rồi Giê-rê-mi nói cùng con cháu Rê-cáp rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Các ngươi đã vâng theo lời dặn của tổ tiên mình là Giô-na-đáp và tuân theo mọi lời giáo huấn của người; các ngươi đã làm theo mọi điều người dặn biểu.’
JER 35:19 Cho nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Lúc nào cũng sẽ có người thuộc con cháu của Giô-na-đáp, con Rê-cáp phục vụ ta.’”
JER 36:1 CHÚA phán cùng Giê-rê-mi trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa:
JER 36:2 “Hãy lấy một cuộn giấy rồi viết trên đó những lời ta đã bảo ngươi về Ít-ra-en, Giu-đa và về tất cả các dân tộc. Hãy ghi lại mọi điều từ khi ta bắt đầu phán cùng ngươi, khi Giô-xia mới lên ngôi, cho đến bây giờ.
JER 36:3 May ra gia đình Giu-đa sẽ nghe những thảm họa ta dự định mang đến cho chúng để chúng thôi làm ác chăng. Như thế ta sẽ tha thứ những tội lỗi và điều ác mà chúng đã làm.”
JER 36:4 Vậy Giê-rê-mi gọi Ba-rúc, con Nê-ria. Giê-rê-mi nói những lời CHÚA đã phán dặn ông, rồi Ba-rúc ghi lại vào cuộn giấy.
JER 36:5 Sau đó Giê-rê-mi bảo Ba-rúc, “Ta bị cản trở, không thể đi vào đền thờ CHÚA được. Ta phải ở lại đây.
JER 36:6 Cho nên ta muốn ngươi đi vào đền thờ CHÚA vào ngày mà dân chúng cữ ăn. Đọc những lời trong cuộn sách cho dân Giu-đa từ các thị trấn đến Giê-ru-sa-lem. Hãy đọc những lời của CHÚA, là những lời ngươi viết trên cuộn giấy mà ta đã đọc cho ngươi.
JER 36:7 Có thể họ sẽ cầu xin CHÚA giúp mình. Có thể mọi người sẽ thôi làm điều ác vì CHÚA đã tuyên bố Ngài rất tức giận họ.”
JER 36:8 Vậy Ba-rúc, con Nê-ria làm mọi điều nhà tiên tri Giê-rê-mi dặn bảo. Ông đọc lớn những lời của CHÚA ghi trong cuộn giấy trong đền thờ CHÚA.
JER 36:9 Vào tháng chín năm thứ năm đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua, thì người ta loan báo một thời kỳ đặc biệt cữ ăn. Tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem và mọi người từ các thị trấn Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem đều cữ ăn để tôn kính CHÚA.
JER 36:10 Lúc đó Ba-rúc đọc cho mọi người ở đó nghe những lời của Giê-rê-mi trong cuộn sách. Ông đọc cuộn sách nơi đền thờ CHÚA trong phòng của Ghê-ma-ria, con Sa-phan, một bí thư hoàng gia. Phòng đó nằm trên sân ngay lối vào Cổng Mới của đền thờ.
JER 36:11 Mi-cai-gia, con Ghê-ma-ria, cháu Sa-phan nghe những lời của CHÚA ghi trong cuộn sách.
JER 36:12 Mi-cai-gia đi xuống phòng của bí thư hoàng gia trong cung vua nơi tất cả các viên chức đang ngồi: Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia; Đê-lai-gia, con Sê-mai-gia; Ên-na-than, con Ác-bo; Ghê-ma-ria, con Sa-phan; Xê-đê-kia con Ha-na-nia; và tất cả các viên chức khác.
JER 36:13 Mi-cai-gia thuật lại cho họ nghe mọi điều anh đã nghe Ba-rúc đọc cho dân chúng từ trong cuộn sách.
JER 36:14 Các viên chức đó liền sai một người tên Giê-hu-đi, con Nê-tha-nia đến cùng Ba-rúc. Nê-tha-nia là con Sê-lê-mia, cháu Cu-si. Giê-hu-đi bảo Ba-rúc, “Hãy mang cuộn sách mà anh đã đọc cho dân chúng rồi đi theo tôi.” Vậy Ba-rúc, con Nê-ria cầm cuộn sách đi theo Giê-hu-đi đến gặp các viên chức.
JER 36:15 Các viên chức bảo Ba-rúc, “Mời anh ngồi xuống và đọc cuộn sách cho chúng tôi nghe.” Vậy Ba-rúc đọc sách đó cho họ nghe.
JER 36:16 Sau khi các viên chức nghe tất cả lời trong sách thì họ đâm hoảng và nhìn nhau. Họ nói với Ba-rúc, “Chúng ta chắc chắn phải cho vua biết những lời nầy.”
JER 36:17 Rồi các viên chức hỏi Ba-rúc, “Anh làm ơn cho chúng tôi biết, anh lấy những lời ghi trong sách nầy ở đâu? Có phải anh viết lại những gì Giê-rê-mi bảo anh không?”
JER 36:18 Ba-rúc đáp, “Phải. Giê-rê-mi đã đọc tất cả những lời nầy cho tôi, và tôi dùng mực ghi xuống trong cuộn sách nầy.”
JER 36:19 Các viên chức liền bảo Ba-rúc, “Anh và Giê-rê-mi nên đi trốn, đừng cho ai biết mình ở đâu.”
JER 36:20 Các viên chức để cuộn sách trong phòng của Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia. Rồi họ đi vào gặp vua trong sân và thuật cho vua về cuộn sách.
JER 36:21 Vua Giê-hô-gia-kim liền sai Giê-hu-đi đi lấy cuộn sách. Giê-hu-đi mang cuộn sách từ phòng Ê-li-sa-ma, bí thư hoàng gia, rồi đọc sách ấy cho vua và quần thần đang đứng quanh vua.
JER 36:22 Lúc đó là tháng chín trong năm, nên vua Giê-hô-gia-kim đang ngồi trong căn gác mùa đông. Một chậu nhỏ có lửa đang cháy để sưởi ấm trước mặt vua.
JER 36:23 Sau khi Giê-hu-đi đọc được ba hay bốn cột trong sách thì vua lấy dao nhỏ cắt các cột đó khỏi cuộn giấy và ném vào chậu lửa. Cuối cùng nguyên cả cuộn giấy bị đốt tiêu trong lửa.
JER 36:24 Vua Giê-hô-gia-kim và các tôi tớ nghe đầy đủ mọi lời nhưng không tỏ dấu lo sợ! Họ không xé áo quần để tỏ dấu buồn rầu.
JER 36:25 Ngay cả khi Ên-na-than, Đê-lai-gia, và Ghê-ma-ria tìm cách khuyên vua Giê-hô-gia-kim đừng đốt cuộn sách nhưng vua vẫn không nghe.
JER 36:26 Ngược lại, vua ra lệnh cho Giê-ra-min, con trai vua, Sê-rai-gia, con A-ri-ên, và Sê-lê-mia, con Áp-đin lùng bắt thư ký Ba-rúc và nhà tiên tri Giê-rê-mi. Nhưng CHÚA giấu họ.
JER 36:27 Vậy vua Giê-hô-gia-kim đốt cuộn sách mà Ba-rúc đã ghi lại những lời Giê-rê-mi nói cùng mình. Sau đó CHÚA phán cùng Giê-rê-mi:
JER 36:28 “Hãy lấy một cuộn khác và ghi lại những gì trong cuộn sách đầu tiên mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa đã đốt.
JER 36:29 Ngoài ra cũng bảo Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa như sau: CHÚA phán: Ngươi đã đốt cuộn sách và nói, ‘Hỡi Giê-rê-mi, tại sao ngươi viết trong đó là vua Ba-by-lôn chắc chắn sẽ đến và tiêu hủy xứ nầy cùng người và súc vật trong đó?’”
JER 36:30 Cho nên CHÚA phán như sau về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa: “Con cháu Giê-hô-gia-kim sẽ không được ngồi trên ngôi Đa-vít. Khi Giê-hô-gia-kim qua đời, xác người sẽ bị quăng xuống đất. Nó sẽ bị phơi nắng nóng ban ngày và sương muối lạnh ban đêm.
JER 36:31 Ta sẽ trừng phạt Giê-hô-gia-kim, con cái và tôi tớ người, vì chúng đã làm ác. Ta sẽ giáng thảm họa trên chúng và toàn thể dân Giê-ru-sa-lem và Giu-đa tất cả những gì ta đã nói mà chúng không thèm nghe.”
JER 36:32 Vậy Giê-rê-mi lấy một cuộn sách khác đưa cho Ba-rúc, con Nê-ria, thư ký của ông. Trong khi Giê-rê-mi đọc thì Ba-rúc ghi lại trên cuộn sách những lời trên cuộn sách đầu tiên mà vua Giê-hô-gia-kim đã thiêu trong lửa. Trong cuộn thứ hai có thêm nhiều lời tương tự.
JER 37:1 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã chỉ định Xê-đê-kia, con Giô-xia làm vua Giu-đa. Xê-đê-kia thay thế Giê-hô-gia-kin, con trai Giê-hô-gia-kim.
JER 37:2 Nhưng Xê-đê-kia, các đầy tớ ông và dân Giu-đa không nghe lời CHÚA phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
JER 37:3 Lúc ấy vua Xê-đê-kia sai Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và thầy tế lễ Xô-phô-ni, con Ma-a-sê-gia, nhắn với nhà tiên tri Giê-rê-mi như sau: “Giê-rê-mi ơi, xin ông hãy cầu nguyện cùng CHÚA là Thượng Đế cho chúng tôi.”
JER 37:4 Lúc đó Giê-rê-mi chưa bị bỏ tù. Cho nên ông được tự do đi lại.
JER 37:5 Đạo quân của vua Ai-cập đã kéo lên từ Ai-cập tiến về phía Giu-đa. Lúc đó đạo quân Ba-by-lôn đã vây thành Giê-ru-sa-lem. Khi chúng nghe quân Ai-cập đang tiến về phía chúng thì liền bỏ đi khỏi Giê-ru-sa-lem.
JER 37:6 CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi rằng:
JER 37:7 “CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Hỡi Giê-hu-canh và Xô-phô-ni, ta biết Xê-đê-kia, vua Giu-đa sai các ngươi đến cầu xin ta giúp đỡ. Hãy bảo vua Xê-đê-kia như sau: ‘Hãy nghe kỹ đây: Đạo quân của vua Ai-cập kéo đến giúp ngươi nhưng chúng sẽ trở về Ai-cập.
JER 37:8 Sau đó, đạo quân Ba-by-lôn sẽ trở lại tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm nó và thiêu rụi nó.’”
JER 37:9 CHÚA phán: “Hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, chớ tự gạt mình. Đừng nói, ‘Quân Ba-by-lôn sẽ để chúng ta yên.’ Không đâu!
JER 37:10 Dù cho các ngươi đánh bại toàn đạo quân Ba-by-lôn đang tấn công các ngươi đến nỗi chỉ còn một số người bị thương còn sót lại trong lều, chúng sẽ từ lều mình đến và đốt tiêu Giê-ru-sa-lem!”
JER 37:11 Vậy quân Ba-by-lôn bỏ Giê-ru-sa-lem để đánh quân của vua Ai-cập.
JER 37:12 Lúc đó Giê-rê-mi tìm cách đi từ Giê-ru-sa-lem xuống xứ Bên-gia-min để nhận phần gia tài của mình.
JER 37:13 Khi ông đến Cổng Bên-gia-min ở Giê-ru-sa-lem, thì viên sĩ quan chỉ huy toán cận vệ bắt giữ ông. Tên viên sĩ quan đó là Y-ri-gia, con Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia. Y-ri-gia nói, “Anh định bỏ chúng tôi để theo quân Ba-by-lôn phải không?”
JER 37:14 Nhưng Giê-rê-mi bảo Y-ri-gia, “Không phải! Tôi không theo phe quân Ba-by-lôn.” Y-ri-gia không nghe Giê-rê-mi, nên bắt ông và giải đến các viên chức của Giê-ru-sa-lem.
JER 37:15 Các viên quan đó rất bất bình với Giê-rê-mi và đánh đập ông. Rồi họ nhốt ông trong nhà của Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nhà đó đã biến thành nhà tù.
JER 37:16 Vậy họ nhốt ông trong ngục tối. Giê-rê-mi bị giam trong đó lâu ngày.
JER 37:17 Sau đó vua Xê-đê-kia cho giải Giê-rê-mi đến cung vua. Xê-đê-kia hỏi riêng ông, “Có lời gì từ CHÚA không?” Giê-rê-mi đáp, “Thưa vua Xê-đê-kia, có. Vua sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.”
JER 37:18 Rồi Giê-rê-mi hỏi vua Xê-đê-kia, “Tôi đã làm điều gì phạm pháp nghịch vua, các quần thần hay dân cư Giê-ru-sa-lem? Tại sao vua tống giam tôi vào ngục?
JER 37:19 Còn các nhà tiên tri đã nói tiên tri như sau về vua: ‘Vua Ba-by-lôn sẽ không tấn công vua hay đất Giu-đa nầy’ đâu rồi?
JER 37:20 Nhưng bây giờ, thưa vua và chúa tôi, xin hãy nghe tôi, và làm theo điều tôi van xin. Xin đừng gởi tôi về nhà Giô-na-than, bí thư hoàng gia, nếu không tôi sẽ bỏ xác ở đó!”
JER 37:21 Vậy vua Xê-đê-kia ra lệnh canh giữ Giê-rê-mi trong sân của toán cận vệ, mỗi ngày được cấp bánh từ phố của thợ làm bánh cho đến khi trong thành không còn bánh nữa. Vậy Giê-rê-mi bị canh giữ trong sân của toán cận vệ.
JER 38:1 Sê-pha-tia, con Mát-tan, Ghê-đa-lia, con Ba-sua, Giê-hu-can, con Sê-lê-mia, và Ba-sua, con Manh-ki-gia nghe rằng Giê-rê-mi đã bảo toàn thể dân chúng:
JER 38:2 CHÚA phán như sau: “Ai ở lại Giê-ru-sa-lem sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, dịch lệ. Nhưng ai đầu hàng quân Ba-by-lôn sẽ sống. Họ sẽ thoát và được bảo toàn mạng sống như nhận được chiến lợi phẩm.”
JER 38:3 Và CHÚA phán như sau: “Thành Giê-ru-sa-lem nầy chắc chắn sẽ bị trao vào quân của vua Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm lấy thành nầy!”
JER 38:4 Sau đó các quần thần đề nghị với vua, “Phải xử tử Giê-rê-mi! Nó làm nản lòng quân sĩ đang ở trong thành và toàn dân bằng những lời tuyên bố mình. Nó chẳng muốn điều tốt cho chúng ta mà chỉ muốn hủy hoại chúng ta thôi.”
JER 38:5 Vua Xê-đê-kia bảo họ, “Nầy ông ta ở trong tay các ngươi. Ta không làm gì cản các ngươi đâu.”
JER 38:6 Vậy các viên chức bắt Giê-rê-mi quăng xuống giếng của Manh-ki-gia, con trai vua, nằm trong sân của toán cận vệ. Họ dùng dây thừng thả Giê-rê-mi xuống giếng. Giếng không có nước, chỉ có bùn nên Giê-rê-mi lún xuống bùn.
JER 38:7 Nhưng có Ê-bết Mê-léc, người Cút và là một tôi tớ trong cung điện, nghe các viên chức đã thả Giê-rê-mi xuống giếng. Trong khi vua Xê-đê-kia đang ngồi nơi cổng Bên-gia-min,
JER 38:8 thì Ê-bết Mê-léc rời cung đi đến gặp vua. Ê-bết Mê-léc thưa cùng vua rằng,
JER 38:9 “Thưa chúa và vua tôi ơi, các viên quan nầy hành động ác độc lắm. Họ đối xử với nhà tiên tri thật tệ bạc. Họ đã quăng ông vào giếng để ông chết trong đó! Khi trong thành không còn bánh nữa, ông ta cũng sẽ chết đói thôi.”
JER 38:10 Vua Xê-đê-kia liền ra lệnh cho Ê-bết Mê-léc người Cút, “Đem ba mươi người từ cung vua để kéo nhà tiên tri Giê-rê-mi ra khỏi giếng trước khi người chết.”
JER 38:11 Vậy Ê-bết Mê-léc mang những người đó cùng với mình vào phòng ngay dưới kho trong cung vua lấy giẻ và áo quần cũ. Rồi dùng dây thừng thòng các thứ đó xuống giếng cho Giê-rê-mi.
JER 38:12 Ê-bết Mê-léc người Cút bảo Giê-rê-mi, “Ông hãy quấn các áo quần và giẻ cũ quanh nách để làm đệm cho dây thừng.” Giê-rê-mi làm theo như vậy.
JER 38:13 Rồi họ kéo ông lên theo dây thừng và mang ông ra khỏi giếng. Giê-rê-mi bị giam trong sân của toán cận vệ.
JER 38:14 Sau đó vua Xê-đê-kia cho người giải Giê-rê-mi đến trước mặt mình nơi cổng thứ ba của đền thờ CHÚA. Vua bảo Giê-rê-mi, “Ta muốn hỏi ngươi một điều. Ngươi không được giấu ta điều gì, phải nói thật.”
JER 38:15 Giê-rê-mi thưa, “Nếu tôi nói cho vua câu trả lời, chắc chắn vua sẽ giết tôi. Còn nếu tôi khuyên vua thì vua cũng không thèm nghe.”
JER 38:16 Vua Xê-đê-kia hứa kín cùng Giê-rê-mi, “Ta lấy danh CHÚA hằng sống là Đấng ban cho chúng ta hơi thở và sự sống mà thề rằng ta sẽ không giết ngươi cũng không giao ngươi vào tay những viên chức muốn giết ngươi.”
JER 38:17 Vậy Giê-rê-mi nói cùng vua Xê-đê-kia rằng, “CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Nếu ngươi đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì mạng sống vua sẽ được bảo toàn. Giê-ru-sa-lem sẽ không bị hỏa thiêu, vua và gia đình vua sẽ sống.
JER 38:18 Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng các sĩ quan của vua Ba-by-lôn thì thành nầy sẽ bị trao vào tay quân Ba-by-lôn; chúng sẽ thiêu rụi thành, còn vua sẽ không thoát khỏi tay chúng.’”
JER 38:19 Vua Xê-đê-kia bảo Giê-rê-mi, “Ta sợ những người Giu-đa đã bỏ trốn theo người Canh-đê. Nếu người Ba-by-lôn trao ta vào tay chúng thì chúng sẽ hành hạ ta.”
JER 38:20 Nhưng Giê-rê-mi bảo đảm, “Quân Ba-by-lôn sẽ không trao vua vào tay người Do-thái đâu. Xin vua hãy vâng lời CHÚA đã phán qua tôi để vua được bình yên và bảo toàn mạng sống.
JER 38:21 Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng người Ba-by-lôn thì CHÚA cho tôi biết những gì sẽ xảy ra.
JER 38:22 Tất cả những người đàn bà còn lại trong cung vua Giu-đa sẽ bị mang ra trình diện các sĩ quan cao cấp của vua Ba-by-lôn. Họ sẽ chế nhạo vua bằng bài ca sau đây: ‘Các bạn vua đã giăng bẫy cho vua và mạnh hơn vua; Trong khi chân vua đã lún vào bùn, thì họ bỏ đi.’
JER 38:23 Tất cả các vợ và con của vua sẽ bị mang ra giao cho quân Ba-by-lôn. Vua sẽ không thoát khỏi tay họ mà sẽ bị vua Ba-by-lôn bắt, còn Giê-ru-sa-lem sẽ bị thiêu rụi.”
JER 38:24 Vua Xê-đê-kia liền bảo Giê-rê-mi, “Đừng cho ai biết ta đã nói chuyện với ngươi thì ngươi sẽ không chết.
JER 38:25 Nhưng nếu các viên chức nghe rằng ta đã nói chuyện với ngươi rồi họ đến bảo ngươi, ‘Hãy nói cho chúng ta biết ngươi đã nói với vua những gì và vua nói với ngươi ra sao. Nếu ngươi không chịu nói thì chúng ta sẽ giết ngươi.’
JER 38:26 Nếu họ hỏi thì ngươi phải trả lời với họ như sau, ‘Tôi đã van xin vua đừng đưa tôi trở về nhà Giô-na-than kẻo tôi chết ở đó.’”
JER 38:27 Sau đó các viên chức đến hỏi Giê-rê-mi. Ông thuật lại cho họ theo như vua dặn. Cho nên họ thôi không hỏi nữa vì không ai nghe được Giê-rê-mi và vua đã nói gì với nhau.
JER 38:28 Giê-rê-mi bị giam trong sân của toán cận vệ cho đến ngày thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm.
JER 39:1 Thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm như sau: Tháng mười, năm thứ chín đời Xê-đê-kia, vua Giu-đa, thì Nê-bu-cát-nết-xa vua Ba-by-lôn cùng toàn đạo quân kéo đến vây đánh Giê-ru-sa-lem.
JER 39:2 Cuộc vây hãm kéo dài đến ngày chín tháng tư năm thứ mười một, đời vua Xê-đê-kia, thì thành bị chọc thủng.
JER 39:3 Tất cả các sĩ quan sau đây của vua Ba-by-lôn tiến vào Giê-ru-sa-lem và đến ngồi ở Cổng Giữa: Nê-ganh Sa-rê-xe, Xam-ga Nê-bô, Xa-xê-kim, sĩ quan tư lệnh người Ráp-sa-ít, Nê-ganh Sa-rê-xe người Ráp-ma, cùng toàn thể các viên chức cao cấp khác.
JER 39:4 Khi Xê-đê-kia vua Giu-đa và các binh sĩ thấy họ thì bỏ trốn lúc ban đêm, chạy theo ngõ vườn vua, lẻn qua cổng giữa hai vách thành rồi trốn theo hướng thung lũng Giô-đanh.
JER 39:5 Nhưng quân Ba-by-lôn rượt theo và đuổi kịp vua Xê-đê-kia trong bình nguyên Giê-ri-cô. Sau khi bắt được vua, họ giải ông đến trước Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang ở thành Ríp-la trong xứ Ha-mát. Vua Ba-by-lôn kết án Xê-đê-kia ở đó.
JER 39:6 Rồi vua Ba-by-lôn giết các con trai Xê-đê-kia và các viên chức cao cấp của Giu-đa trước mắt vua ở Ríp-la.
JER 39:7 Họ móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải qua Ba-by-lôn.
JER 39:8 Sau đó quân Ba-by-lôn phóng hỏa cung vua cùng với nhà cửa của dân chúng và phá sập các vách thành quanh Giê-ru-sa-lem.
JER 39:9 Rồi Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ đặc biệt giải qua Ba-by-lôn tất cả dân chúng còn lại trong thành cùng những người trước đó đã đầu thú cùng với đám dân cư còn lại.
JER 39:10 Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ chỉ chừa lại trong xứ Giu-đa những người nghèo khổ, khố rách áo ôm, rồi ngày hôm đó cấp cho họ vườn nho và đồng ruộng để trồng trọt.
JER 39:11 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn ra lệnh cho Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ như sau về Giê-rê-mi:
JER 39:12 “Hãy tìm Giê-rê-mi và chăm sóc cẩn thận, không được làm hại người điều gì; nhưng hãy làm theo điều người yêu cầu.”
JER 39:13 Vậy Nê-bu-cát-nết-xa sai những người sau đây đi tìm Giê-rê-mi: Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ; Nê-bu-sa-ban, sĩ quan tư lệnh; Nê-ganh Sa-rê-xe, một viên chức cao cấp và tất cả các sĩ quan nòng cốt của vua Ba-by-lôn;
JER 39:14 Họ mang Giê-rê-mi từ sân của toán cận vệ rồi giao cho Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan là người nhận lệnh đưa ông về nhà. Vậy họ đưa ông về nhà và ông ở chung với dân chúng còn sót lại tại Giu-đa.
JER 39:15 Trong khi đó có lời CHÚA phán cùng Giê-rê-mi đang khi ông đang bị nhốt trong sân khám rằng:
JER 39:16 “Giê-rê-mi, hãy đi bảo Ê-bết-Mê-léc, người Cút rằng, CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau, ‘Ta sắp thực hiện những lời về Giê-ru-sa-lem bằng thảm họa chứ không bằng thái bình, thịnh vượng. Những lời đó sẽ thành sự thật trước mắt ngươi.
JER 39:17 Nhưng CHÚA phán, ta sẽ giải thoát ngươi trong ngày đó, ngươi sẽ không bị trao vào tay của những người mà ngươi sợ.
JER 39:18 Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi, hỡi Ê-bết-Mê-léc. Ngươi sẽ không bị gươm giết; ngươi sẽ thoát và được sống vì ngươi đã đặt niềm tin cậy nơi ta,’ CHÚA phán vậy.”
JER 40:1 Có lời của CHÚA phán cùng Giê-rê-mi sau khi Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán phòng vệ phóng thích ông ở Ra-ma. Ông tìm được Giê-rê-mi ở Ra-ma đang bị xiềng chung với đám tù binh Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sắp bị đày qua Ba-by-lôn.
JER 40:2 Khi Nê-bu-xa-ra-đan tìm được Giê-rê-mi thì nói cùng ông rằng, “CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã tuyên bố thảm họa sẽ xảy đến cho nơi nầy.
JER 40:3 Nay CHÚA đã thực hiện điều đó y như Ngài đã phán. Thảm họa nầy xảy đến vì dân Giu-đa phạm tội cùng CHÚA, không vâng lời Ngài.
JER 40:4 Nhưng bây giờ, ta đã tháo xiềng cho ngươi. Nếu ngươi muốn sang Ba-by-lôn với ta thì đi, ta sẽ lo cho ngươi, nhưng nếu ngươi không muốn đi thì thôi. Nầy, cả xứ đang ở trước mặt ngươi, ngươi muốn đi đâu tùy ý.”
JER 40:5 Khi Giê-rê-mi sắp sửa ra đi thì Nê-bu-xa-ra-đan bảo, “Hãy trở về với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan mà vua Ba-by-lôn đã đặt làm quan tổng trấn các thành Giu-đa cũng được. Hãy ở với người trong vòng dân tộc ngươi. Hay ngươi muốn đi đâu tùy ý.” Vậy Nê-bu-xa-ra-đan cấp cho Giê-rê-mi lương thực và một món quà rồi thả ông ra.
JER 40:6 Giê-rê-mi liền đi đến Mích-ba ở với Ghê-đa-lia, con A-hi-cam và giữa những dân còn lại trong xứ.
JER 40:7 Khi các viên chỉ huy và quân sĩ Giu-đa dưới quyền ở ngoài đồng nghe vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam làm tổng trấn trong xứ và giao cho ông quản trị đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng những người nghèo khổ trong xứ không bị đày sang Ba-by-lôn,
JER 40:8 thì họ đều đến gặp Ghê-đa-lia ở Mích-ba. Trong số đó có Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, Giô-ha-nan và Giô-na-than con của Ka-rê-a, Sê-rai-gia con Tan-hu-mết, các con trai của Ê-phai người Nê-tô-phát, và Giê-xa-nia, con Ma-a-ca. Họ và binh sĩ dưới quyền đều đến.
JER 40:9 Ghê-đa-lia, con của A-hi-cam, cháu Sa-phan hứa cùng họ rằng, “Đừng sợ phải phục vụ người Ba-by-lôn. Hãy cứ ở trong xứ và thần phục vua Ba-by-lôn thì mọi việc sẽ êm thấm.
JER 40:10 Còn về phần ta, các ngươi phải biết, ta sẽ vẫn cứ ở tại Mích-ba để đại diện các ngươi trước mặt người Ba-by-lôn đã đến với chúng ta. Hãy gom góp rượu, các hoa quả mùa hè, dầu và bỏ tất cả trong thùng chứa rồi cư ngụ trong các thành mà các ngươi kiểm soát.”
JER 40:11 Các người Giu-đa khác đang ở Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm và trong các xứ khác nghe rằng vua Ba-by-lôn đã để lại một số người ở Giu-đa và rằng vua đã lập Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan làm tổng trấn,
JER 40:12 thì họ đều từ những nơi họ chạy trốn trở về xứ Giu-đa, đến cùng Ghê-đa-lia ở Mích-ba, và thu gom rượu và hoa quả mùa hè nhiều vô số.
JER 40:13 Giô-ha-nan, con Ka-rê-a cùng tất cả các viên chỉ huy quân đội đang ở ngoài đồng đến cùng Ghê-đa-lia tại Mích-ba
JER 40:14 nói cùng ông rằng, “Ông có biết rằng Ba-a-li, vua dân Am-môn đã sai Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đến để ám sát ông không?” Nhưng Ghê-đa-lia, con A-hi-cam không tin họ.
JER 40:15 Sau đó Giô-ha-an con Ka-rê-a nói riêng với Ghê-đa-lia ở Mích-ba rằng, “Cho phép tôi đi giết Ích-ma-ên, con Mê-tha-nia mà không ai biết. Tại sao để nó giết ông để khiến cho tất cả người Do-thái đã quy tụ quanh ông phải tản lạc và những người còn sót lại trong Giu-đa bị tiêu diệt?”
JER 40:16 Nhưng Ghê-đa-lia, con A-hi-cam trả lời cùng Giô-ha-nan con Ka-ê-ra rằng, “Đừng giết Ích-ma-ên vì ngươi đã bịa đặt vu khống anh ta.”
JER 41:1 Đến tháng bảy, Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc dòng vua và là một trong các sĩ quan của vua Giu-đa cùng mười người nữa đến gặp Ghê-đa-lia, con A-hi-cam ở Mích-ba. Trong khi họ cùng ăn uống với nhau ở đó
JER 41:2 thì Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng mười người đi với mình đứng lên lấy gươm giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan, người mà vua Ba-by-lôn đã cử làm tổng trấn của xứ.
JER 41:3 Ích-ma-ên cũng giết tất cả những người Do-thái ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba cùng những quân lính Ba-by-lôn có mặt ở đó.
JER 41:4 Hai ngày sau khi Ghê-đa-lia bị giết, chưa ai hay chuyện đó
JER 41:5 thì có tám mươi người từ Sê-chem, Si-lô, và Xa-ma-ri đến Mích-ba mang của lễ và trầm hương đến đền thờ CHÚA. Họ cạo râu, xé rách quần áo, cắt da thịt mình.
JER 41:6 Ích-ma-ên con Nê-tha-nia từ Mích-ba ra đón họ, vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ hắn nói, “Mấy anh hãy cùng tôi đến gặp Ghê-đa-lia, con A-hi-cam.”
JER 41:7 Vậy họ đi đến Mích-ba rồi Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng thuộc hạ liền giết bảy mươi người trong đám họ và quăng thây xuống một giếng sâu.
JER 41:8 Nhưng mười người còn sống sót bảo Ích-ma-ên, “Đừng giết chúng tôi. Chúng tôi có rất nhiều lúa mì, lúa mạch, rượu và mật ong giấu trong ruộng.” Vì thế Ích-ma-ên không giết họ chung với những người kia.
JER 41:9 Cái giếng mà Ích-ma-ên quăng các xác chết xuống là chỗ vua A-sa đã đào để lấy nước cho thành phố và cũng để phòng thủ chống lại Ba-a-sa, vua Ít-ra-en. Nhưng Ích-ma-ên, con Na-tha-nia quăng các thây vào đó cho đến khi đầy giếng.
JER 41:10 Ích-ma-ên bắt tất cả các người khác ở Mích-ba: các con gái vua cùng những người còn sót tại đó. Họ là những người mà Na-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ chỉ định Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, chăm sóc. Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia bắt họ và lên đường băng qua xứ dân Am-môn.
JER 41:11 Giô-ha-nan con Ca-rê-a và các sĩ quan ở với ông nghe biết tất cả những điều ác Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã làm.
JER 41:12 Nên họ mang thuộc hạ đi đánh Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia và bắt được hắn gần hồ lớn ở Ghi-bê-ôn.
JER 41:13 Khi các tù binh mà Ích-ma-ên đã bắt thấy Giô-ha-nan và các sĩ quan thì vô cùng mừng rỡ.
JER 41:14 Cho nên tất cả mọi người bị Ích-ma-ên bắt làm tù binh từ Mích-ba quay lại và chạy đến Giô-ha-nan, con Ca-rê-a.
JER 41:15 Nhưng Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia cùng với tám người chạy thoát khỏi Giô-ha-nan trốn đến dân Am-môn.
JER 41:16 Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và các sĩ quan của ông cứu thoát các tù binh mà Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã bắt từ Mích-ba sau khi hắn giết Ghê-đa-lia, con A-hi-cam. Trong số những người còn sống sót có các binh sĩ, đàn bà, trẻ con và các sĩ quan trong cung vua. Giô-ha-nan mang họ trở về từ thành Ghi-bê-ôn.
JER 41:17 Giô-ha-nan và các sĩ quan khác sợ người Ba-by-lôn vì vua Ba-by-lôn đã cử Ghê-đa-lia, con A-hi-cam làm tổng trấn Giu-đa nhưng Ích-ma-ên, con Nê-tha-nia đã giết ông nên Giô-ha-nan sợ người Ba-by-lôn sẽ nổi giận. Họ định trốn qua Ai-cập. Trên đường đi họ ghé lại Ghê-rút Kim-ham, gần thành Bết-lê-hem.
JER 42:1 Trong khi ở đó, Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và Giê-xa-nia, con Hô-sai-gia đến viếng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Tất cả các sĩ quan và toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp đều đi theo.
JER 42:2 Họ nói với ông, “Giê-rê-mi, xin nghe điều chúng tôi yêu cầu. Hãy cầu xin CHÚA là Thượng Đế ông cho những người còn sống sót từ gia đình Giu-đa. Trước kia chúng tôi rất đông đảo nhưng nay như ông thấy, chúng tôi chỉ còn lại rất ít.
JER 42:3 Cho nên xin ông cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế ông xem chúng tôi nên đi đâu hay làm gì.”
JER 42:4 Nhà tiên tri Giê-rê-mi đáp, “Ta hiểu các ngươi muốn ta làm gì rồi. Ta sẽ cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế các ngươi theo như các ngươi yêu cầu rồi ta sẽ bảo cho các ngươi biết mọi điều Ngài phán, không giấu diếm các ngươi điều gì.”
JER 42:5 Dân chúng nói cùng Giê-rê-mi, “Nguyện CHÚA làm nhân chứng chân thật và trung tín nghịch lại chúng tôi nếu chúng tôi không làm mọi điều CHÚA là Thượng Đế ông sai ông bảo chúng tôi.
JER 42:6 Dù chúng tôi có thích nghe lời Ngài phán hay không cũng không sao. Chúng tôi sẽ vâng theo CHÚA là Thượng Đế chúng ta, Đấng mà chúng tôi nhờ ông khẩn cầu. Chúng tôi sẽ vâng theo lời Ngài phán để phúc lành sẽ đến trên chúng tôi.”
JER 42:7 Mười ngày sau CHÚA phán cùng Giê-rê-mi.
JER 42:8 Giê-rê-mi liền gọi Giô-ha-nan, con Ca-rê-a, các sĩ quan đi với ông cùng toàn thể dân chúng thuộc mọi tầng lớp.
JER 42:9 Ông nói với họ, “Các ngươi sai ta đi cầu hỏi CHÚA về điều mình muốn. Thượng Đế của Ít-ra-en phán như sau:
JER 42:10 ‘Nếu các ngươi ở lại Giu-đa, ta sẽ xây các ngươi lên chớ không phá đổ xuống. Ta sẽ trồng các ngươi chớ không nhổ lên vì ta rất buồn về thảm họa mà ta mang đến cho các ngươi.
JER 42:11 Bây giờ các ngươi sợ vua Ba-by-lôn nhưng đừng e sợ người nữa. Đừng sợ người,’ CHÚA phán, ‘vì ta ở với các ngươi. Ta sẽ giải cứu và giải thoát các ngươi khỏi quyền lực người.
JER 42:12 Ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi, và người cũng sẽ lấy lòng thương xót đối với các ngươi và để các ngươi sống trong xứ mình.’
JER 42:13 Nhưng nếu các ngươi nói, ‘Chúng tôi sẽ không ở trong xứ Giu-đa,’ tức là các ngươi không vâng lời CHÚA là Thượng Đế mình.
JER 42:14 Hay nếu các ngươi nói, ‘Không, chúng tôi sẽ đi xuống sống ở Ai-cập. Ở đó chúng tôi sẽ không thấy giặc giã, không nghe tiếng kèn trận, hay bị đói kém.’
JER 42:15 Nếu các ngươi nói như thế thì hãy nghe lời CHÚA phán cùng các ngươi là những người còn sống sót trong Giu-đa. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: ‘Nếu các ngươi nhất định đi xuống sống ở Ai-cập thì những việc sau đây sẽ xảy đến:
JER 42:16 Các ngươi sợ giặc giã nhưng giặc giã sẽ theo đuổi các ngươi ở xứ Ai-cập. Các ngươi lo bị đói kém nhưng đói kém sẽ theo ngươi xuống Ai-cập và các ngươi sẽ chết ở đó.
JER 42:17 Ai đi xuống Ai-cập đều sẽ chết vì chiến tranh, đói kém hay vì bệnh tật kinh khiếp. Không ai đi xuống Ai-cập mà còn sống; sẽ không ai thoát khỏi những tai họa khủng khiếp mà ta sẽ giáng trên chúng.’”
JER 42:18 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta đã tỏ cơn thịnh nộ ta nghịch cùng dân cư Giê-ru-sa-lem. Cũng vậy, ta sẽ tỏ cơn thịnh nộ ta cùng các ngươi khi các ngươi xuống Ai-cập. Các dân tộc khác sẽ nói xấu các ngươi. Họ sẽ sửng sốt khi thấy những tai họa xảy đến cho các ngươi. Ngươi sẽ thành một lời nguyền rủa và người ta sẽ sỉ nhục các ngươi. Các ngươi sẽ không còn được nhìn thấy xứ Giu-đa nữa.”
JER 42:19 “Hỡi các ngươi là những kẻ còn sống sót trong Giu-đa, CHÚA phán cùng các ngươi, ‘Chớ đi xuống Ai-cập.’ Các ngươi phải hiểu rõ điều đó; hôm nay ta cảnh cáo trước cho các ngươi rằng,
JER 42:20 các ngươi đã lầm lẫn và sự lầm lẫn đó đưa đến cái chết cho các ngươi. Vì các ngươi nhờ ta cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế mình rằng, ‘Hãy cầu hỏi CHÚA là Thượng Đế giùm cho chúng tôi. Xin hãy cho chúng tôi biết điều CHÚA là Thượng Đế chúng tôi phán thì chúng tôi sẽ làm theo.’
JER 42:21 Cho nên hôm nay ta đã bảo cho các ngươi biết, nhưng các ngươi không vâng theo lời CHÚA là Thượng Đế các ngươi là Đấng sai ta nói cho các ngươi biết.
JER 42:22 Vì các ngươi phải hiểu rõ điều nầy: Các ngươi sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, và dịch lệ ở xứ mà các ngươi muốn đi đến định cư.”
JER 43:1 Vậy Giê-rê-mi thuật lại cho họ hết mọi lời của CHÚA là Thượng Đế họ; ông thuật lại cho họ nghe mọi điều CHÚA là Thượng Đế họ phán dặn ông.
JER 43:2 A-xa-ria, con Hô-sai-gia, Giô-ha-nan con Ca-rê-a, và mấy người nữa rất tự phụ. Họ bảo Giê-rê-mi, “Ông nói dối! CHÚA không có sai ông để bảo rằng, ‘Các ngươi không được xuống sống ở Ai-cập.’
JER 43:3 Chính Ba-rúc, con Nê-ri-a xúi ông nghịch cùng chúng tôi. Hắn muốn trao chúng tôi vào tay người Ba-by-lôn để giết chúng tôi hay bắt chúng tôi đày sang Ba-by-lôn.”
JER 43:4 Vậy Giô-ha-nan, các sĩ quan và toàn thể dân chúng bất tuân mệnh lệnh CHÚA bảo phải ở lại Giu-đa.
JER 43:5 Giô-ha-nan, con Ca-rê-a và các sĩ quan mang các người còn sót ở Giu-đa đi. Họ là những người đã chạy trốn khỏi quân Ba-by-lôn sang các xứ khác nhưng đã trở về sống ở Giu-đa.
JER 43:6 Họ mang theo đàn ông, đàn bà, trẻ con, và các con gái vua. Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ đã đặt Ghê-đa-lia, con A-hi-cam, cháu Sa-phan cai trị họ. Giô-ha-nan cũng bắt nhà tiên tri Giê-rê-mi theo và Ba-rúc, con Nê-ri-a.
JER 43:7 Họ không nghe lời CHÚA. Cho nên tất cả đi xuống Ai-cập, đến thành Ta-phan-hết.
JER 43:8 Ở Ta-phan-hết CHÚA phán như sau với Giê-rê-mi:
JER 43:9 “Hãy lấy mấy tảng đá lớn. Chôn chúng vào đất sét nơi lề đường lát gạch trước cung vua Ai-cập ở Ta-phan-hết. Hãy làm trước mắt dân Do-thái.
JER 43:10 Rồi bảo họ, ‘CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Ta sắp sửa sai tôi tớ ta là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Ta sẽ đặt ngôi người trên các tảng đá nầy mà ta đã chôn, và người sẽ lấy lọng che trên chúng.
JER 43:11 Người sẽ đến tấn công Ai-cập. Người sẽ mang cái chết đến cho kẻ phải chết, cầm tù những kẻ phải bị cầm tù và mang chiến tranh đến cho những kẻ phải bị giết bằng gươm.
JER 43:12 Nê-bu-cát-nết-xa sẽ phóng hỏa các đền thờ của các thần Ai-cập và thiêu đốt chúng. Người sẽ cướp đi hết các thần tượng. Người dọn Ai-cập sạch sẽ như người chăn chiên gỡ hết các con rận ra khỏi áo lông của mình. Rồi người sẽ thong dong rời Ai-cập.
JER 43:13 Người sẽ tiêu hủy các trụ thờ trong đền thờ thần mặt trời ở Ai-cập và sẽ thiêu rụi đền thờ các thần của Ai-cập.’”
JER 44:1 Giê-rê-mi nhận được lời của CHÚA dành cho tất cả các người Giu-đa đang sống ở Ai-cập: trong các thành Mi-đôn, Ta-phan-hết, Mem-phít, và vùng nam Ai-cập. Lời đó như sau:
JER 44:2 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi đã thấy những điều khủng khiếp ta giáng trên Giê-ru-sa-lem và các thị trấn Giu-đa là những nơi hiện nay trở thành hoang tàn không ai ở
JER 44:3 vì dân chúng sống ở đó đã làm điều ác. Chúng chọc giận ta bằng cách đốt hương và bái lạy các thần khác mà chính chúng, các ngươi hay tổ tiên các ngươi chưa hề biết.
JER 44:4 Nhiều lần ta sai các tôi tớ ta, tức các nhà tiên tri đến với các ngươi. Ta phán qua họ rằng, ‘Chớ làm điều ghê tởm nầy mà ta ghét.’
JER 44:5 Nhưng chúng không nghe cũng không thèm để ý đến. Chúng vẫn cứ làm ác và dâng hương cho các thần khác.
JER 44:6 Cho nên ta tỏ cơn thịnh nộ ta trên chúng. Ta trút cơn giận ta trên các thị trấn Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem để những nơi đó thành chỗ đổ nát và đống đá vụn cho đến hôm nay.”
JER 44:7 Bây giờ CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Tại sao các ngươi tự chuốc họa vào thân như vậy? Các ngươi đã cắt đứt đàn ông, đàn bà, trẻ con và hài nhi khỏi Giu-đa, không chừa lại cho mình một người nào trong Giu-đa hết.
JER 44:8 Tại sao các ngươi muốn chọc giận ta bằng cách tạc tượng các tà thần? Tại sao các ngươi đốt hương cho các thần của Ai-cập nơi các ngươi sống? Các ngươi chỉ tự hủy hoại mình thôi. Các dân tộc khác sẽ nói xấu ngươi và chế giễu ngươi.
JER 44:9 Các ngươi đã quên những việc ác mà tổ tiên các ngươi làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác các vua và hoàng hậu Giu-đa làm rồi sao? Các ngươi đã quên điều ác ngươi và vợ các ngươi làm rồi sao? Những điều ác đó đã diễn ra trong xứ Giu-đa và trên các đường phố Giê-ru-sa-lem.
JER 44:10 Thậm chí cho đến ngày nay dân Giu-đa vẫn còn quá tự phụ. Chúng không chịu tôn kính ta hay vâng theo lời giáo huấn ta. Chúng không vâng giữ luật lệ ta ban cho các ngươi và tổ tiên các ngươi.”
JER 44:11 Vì thế nên CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Các ngươi phải biết rằng ta nhất quyết giáng thảm họa trên các ngươi. Ta sẽ tiêu diệt toàn thể gia đình Giu-đa.
JER 44:12 Một số ít dân còn sống sót của Giu-đa nhất định đi xuống định cư ở Ai-cập nhưng tất cả chúng nó đều sẽ chết ở đó. Chúng đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Từ sang đến hèn đều sẽ bị giết vì giặc giã hay chết vì đói kém. Các dân tộc khác sẽ nói xấu chúng. Người ta sẽ sửng sốt khi nhìn thấy số phận chúng. Chúng sẽ trở thành lời nguyền rủa, người ta sẽ sỉ nhục chúng.
JER 44:13 Ta sẽ trừng phạt những kẻ đi xuống sinh sống ở Ai-cập như ta đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm giáo, đói kém và dịch lệ.
JER 44:14 Sẽ không có ai trong số những kẻ còn sống sót của Giu-đa đã đi xuống sinh sống ở Ai-cập thoát khỏi sự trừng phạt của ta. Chúng sẽ muốn trở về Giu-đa và sinh sống nhưng sẽ không có một ai trở về ngoại trừ một số rất ít trốn thoát được.”
JER 44:15 Một số đông người Giu-đa sống ở miền Nam Ai-cập họp nhau lại. Trong đó có nhiều người đàn bà Giu-đa đã đốt hương cho các thần khác, và chồng họ biết chuyện ấy. Họ nói cùng Giê-rê-mi,
JER 44:16 “Chúng tôi sẽ không nghe lời CHÚA mà ông nói cùng chúng tôi.
JER 44:17 Chúng tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và chúng tôi chắc chắn sẽ thực hiện những điều chúng tôi đã hứa. Chúng tôi sẽ đốt hương và đổ của lễ uống ra để bái lạy nữ thần đó như chúng tôi, tổ tiên chúng tôi, các vua và các quan chức đã làm trước kia. Tất cả chúng tôi đã làm như thế trong các thị trấn Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Lúc chúng tôi thờ lạy Nữ vương trên trời thì chúng tôi có dư thực phẩm và thịnh vượng, không gặp điều chẳng lành nào.
JER 44:18 Nhưng từ khi chúng tôi ngưng dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và ngưng dâng của lễ uống cho Nữ vương thì chúng tôi gặp đủ thứ hoạn nạn. Dân cư chúng tôi bị chết vì giặc giã và đói kém.”
JER 44:19 Rồi các người đàn bà lên tiếng, “Chồng chúng tôi biết chuyện chúng tôi làm. Chúng tôi được phép của chồng mình để đốt hương cho Nữ vương trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng. Chồng chúng tôi biết chúng tôi làm bánh trông giống mặt nàng và đổ của lễ uống ra cho nàng.”
JER 44:20 Giê-rê-mi liền nói cùng tất cả dân chúng, cả đàn ông lẫn đàn bà là những người đã trả lời với ông.
JER 44:21 Ông bảo, “CHÚA nhớ lại rằng các ngươi và tổ tiên các ngươi, các vua và các quan chức cùng toàn dân trong xứ đã đốt hương trong các thị trấn Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem. Ngài nhớ lại và suy nghĩ về điều ấy.
JER 44:22 Và rồi Ngài không thể nhẫn nhục với các ngươi được nữa. Ngài gớm ghê những điều các ngươi làm cho nên Ngài biến xứ các ngươi thành sa mạc hoang vu không ai ở. Các dân khác nguyền rủa xứ đó. Ngày nay vẫn như thế.
JER 44:23 Những việc đó xảy đến vì các ngươi dâng hương cho các thần khác. Các ngươi phạm tội cùng CHÚA, không vâng lời Ngài, không giữ giao ước Ngài hay luật lệ Ngài ban cho các ngươi. Vì thế thảm họa nầy xảy đến cho các ngươi như các ngươi thấy ngày nay.”
JER 44:24 Rồi Giê-rê-mi nói cùng các người đàn ông và đàn bà đó rằng, “Hỡi dân Giu-đa hiện đang sống trong xứ Ai-cập, hãy nghe lời CHÚA:
JER 44:25 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: Các ngươi và vợ các ngươi đã làm điều mình nói. Các ngươi nói, ‘Chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa của chúng tôi. Chúng tôi đã hứa dâng sinh tế cho Nữ vương trên trời và đổ của lễ uống ra cho nàng.’ Cho nên hãy làm đi. Hãy làm điều các ngươi hứa và hãy giữ lời hứa đó.
JER 44:26 Nhưng hãy nghe lời CHÚA phán. ‘Hỡi các người Do thái hiện đang sống ở Ai-cập hãy nghe đây.’ CHÚA phán, ‘Ta đã nhân danh lớn của ta mà thề: Dân Giu-đa hiện đang sống ở Ai-cập sẽ không còn được dùng danh ta để hứa nguyện nữa. Tại Ai-cập họ sẽ không còn nói: Thật như CHÚA là Thượng Đế hằng sống …’
JER 44:27 Các ngươi phải biết rằng ta đang trông chừng chúng nó, không phải để chăm sóc chúng mà là để làm hại. Dân Do-thái ở Ai-cập sẽ bị chết bằng gươm giáo hay đói kém cho đến khi tất cả đều bị tiêu diệt.
JER 44:28 Một số ít thoát chết khỏi gươm giáo sẽ từ Ai-cập trở về Giu-đa. Rồi những người Giu-đa đã đến định cư tại Ai-cập, những kẻ còn sống sót sẽ biết rằng lời ta hay lời của chúng nó thành sự thật.”
JER 44:29 CHÚA phán, “Ta sẽ cho các ngươi một dấu hiệu để thấy ta sẽ trừng phạt các ngươi ở đây tại Ai-cập. Khi các ngươi thấy dấu hiệu đó thì sẽ biết những lời ta nghịch lại các ngươi chắc chắn sẽ thành sự thật.”
JER 44:30 CHÚA phán: “Hóp-ra, vua Ai-cập hiện có những kẻ thù muốn giết nó. Ta sắp trao nó vào tay các kẻ thù nó như ta đã trao Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào tay Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, là người muốn giết nó.”
JER 45:1 Vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa thì Giê-rê-mi bảo cho Ba-rúc, con Nê-ri-a những điều sau đây. Rồi Ba-rúc viết lại trên một cuộn giấy:
JER 45:2 “Hỡi Ba-rúc, đây là lời CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán cùng ngươi:
JER 45:3 Ngươi đã nói, ‘Khốn cho tôi! CHÚA đã giáng cho tôi sự buồn bã cùng với đau đớn! Tôi kiệt lực vì đau khổ và không được nghỉ ngơi.’”
JER 45:4 CHÚA phán, “Hãy bảo Ba-rúc như sau: ‘CHÚA nói: Các ngươi phải biết rằng ta sắp phá sập những gì mà ta đã dựng lên, và ta sẽ nhổ lên vật mà ta đã trồng khắp nơi trong Giu-đa.
JER 45:5 Hỡi Ba-rúc, ngươi đang tìm kiếm những việc lớn cho ngươi. Đừng tìm nữa vì ta sắp mang thảm hoạ trên toàn dân, CHÚA phán vậy. Ngươi sẽ đi nhiều nơi nhưng ta sẽ giúp ngươi bảo toàn mạng sống ở bất cứ nơi nào ngươi đi.’”
JER 46:1 CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về các dân tộc.
JER 46:2 Lời tiên tri về Ai-cập. Lời nầy dành cho quân đội của Nê-cô, vua Ai-cập là đạo quân bị Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đánh bại ở thành Cạt-kê-mít trên sông Ơ-phơ-rát. Việc đó xảy ra vào năm thứ tư khi Giê-hô-gia-kim, con Giô-xia làm vua Giu-đa. Lời CHÚA phán như sau cho Ai-cập:
JER 46:3 “Hãy chuẩn bị thuẫn lớn và nhỏ để xông ra mặt trận!
JER 46:4 Hãy thắng yên ngựa và leo lên lưng chúng! Hãy tiến vào vị trí ngươi để ra trận và đội nón sắt lên! Hãy đánh bóng gươm ngươi. Hãy mặc áo giáp vào!
JER 46:5 Tôi thấy gì? Tôi thấy đạo quân đang kinh hoàng, quân lính đang bỏ chạy. Các chiến sĩ chúng bị đánh bại. Chúng bỏ chạy nhanh không dám quay lại nhìn. Bên nào cũng thấy kinh hoàng!” CHÚA phán vậy.
JER 46:6 “Người chạy nhanh không thể trốn; các chiến sĩ mạnh dạn không thoát được. Chúng đều vấp té và ngã nhào ở hướng Bắc, gần bên sông Ơ-phơ-rát.
JER 46:7 Người nầy là ai mà nổi dậy như sông Nin, như các sông chảy cuồn cuộn?
JER 46:8 Ai-cập dậy lên như sông Nin, như các sông chảy cuồn cuộn. Ai-cập nói, ‘Ta sẽ nổi lên bao phủ khắp đất. Ta sẽ tiêu diệt các thành phố và dân cư trong đó!’
JER 46:9 Hỡi các lính cỡi ngựa, hãy xông ra trận! Hỡi các tài xế quân xa, hãy lái mạnh lên! Hỡi các chiến sĩ gan dạ, hãy tiến lên, tức các chiến sĩ từ các xứ Cút và Phút mang khiên, và các chiến sĩ từ Ly-đi dùng cung tên.
JER 46:10 Nhưng ngày đó thuộc về CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng. Lúc ấy Ngài sẽ trừng phạt các dân ấy, tương xứng với tội lỗi chúng. Gươm sẽ giết cho đến khi xong, cho đến khi nó hết say máu. Vì CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng sẽ dâng sinh tế trong xứ miền Bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
JER 46:11 Hỡi trinh nữ Ai-cập, hãy đi lên Ghi-lê-át lấy thuốc thơm! Các ngươi đã chuẩn bị nhiều thuốc thang, nhưng không hiệu nghiệm; ngươi sẽ không lành.
JER 46:12 Các dân đã nghe về sự sỉ nhục ngươi, và tiếng kêu la ngươi vang dậy đất. Chiến sĩ nầy chạy đâm đầu vào chiến sĩ kia; rồi cả hai cùng té nhào!”
JER 46:13 Sau đây là lời CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi về Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đang đến tấn công Ai-cập:
JER 46:14 “Hãy tuyên bố tin nầy trong Ai-cập, và giảng giải nó trong Mi-đôn. Rao nó ra trong các thành Mem-phít và Ta-phan-hết: ‘Hãy chuẩn bị chiến tranh, vì quanh ngươi toàn là mặt trận.’
JER 46:15 Hỡi Ai-cập, sao các chiến sĩ ngươi bị giết? Chúng không đứng vững được vì CHÚA đã xô chúng ngã.
JER 46:16 Chúng ngã tới ngã lui và ngã chồng lên nhau. Chúng bảo, ‘Hãy đứng dậy. Chúng ta hãy trở về cùng dân tộc và quê hương chúng ta. Chúng ta phải chạy tránh khỏi lưỡi gươm quân thù!’
JER 46:17 Trong quê hương chúng các chiến sĩ đó kêu to, ‘Vua Ai-cập chỉ là thùng rỗng. Người đã bỏ lỡ cơ hội nhận vinh hiển!’”
JER 46:18 Danh hiệu của Vua là CHÚA Toàn Năng. Ngài phán, “Thật như ta hằng sống, một lãnh tụ hùng mạnh mới sẽ đến. Người sẽ như núi Ta-bô trong vòng các núi, như núi Cạt-mên gần biển.
JER 46:19 Hỡi dân Ai-cập, hãy gói ghém hành trang để lên đường làm tù binh, vì Mem-phít sẽ bị tiêu diệt. Nó sẽ trở thành đống đổ nát, không ai ở.
JER 46:20 Ai-cập giống như bò cái tơ xinh đẹp, nhưng một con mòng bay đến từ phương Bắc chích nó.
JER 46:21 Các lính đánh thuê của đạo quân Ai-cập như bò con mập, cùng nhau quay lưng bỏ chạy; chúng không chống nổi cuộc tấn công. Vì thời kỳ hủy diệt của chúng đã đến; chúng sắp bị trừng phạt.
JER 46:22 Ai-cập như con rắn phun nọc, đang tìm cách trốn thoát. Kẻ thù càng lúc càng tiến gần như vũ bão. Chúng mang rìu nghịch lại Ai-cập như người ta đốn cây.
JER 46:23 Chúng sẽ đốn đạo quân Ai-cập như đốn một khu rừng lớn,” CHÚA phán vậy. “Lính của quân thù đông hơn cào cào; vô số không thể đếm được.
JER 46:24 Dân Ai-cập sẽ bị sỉ nhục. Chúng sẽ bị trao vào tay kẻ thù từ phương Bắc.”
JER 46:25 CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sắp trừng phạt A-môn, thần của thành Thê-be. Ta cũng sẽ trừng phạt Ai-cập, các vua, các thần nó và những ai trông cậy vào vua.
JER 46:26 Ta sẽ trao chúng cho kẻ thù là những kẻ muốn sát hại chúng. Ta sẽ trao chúng cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn và các sĩ quan người. Nhưng trong tương lai, Ai-cập sẽ sống an bình như thuở trước,” CHÚA phán vậy.
JER 46:27 “Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ; hỡi Ít-ra-en, đừng kinh hãi. Ta chắc chắn sẽ giải cứu ngươi từ những nơi xa xăm và giải thoát con cái ngươi khỏi những xứ mà chúng bị cầm tù. Dân Gia-cốp sẽ hưởng thái bình và an ninh trở lại, sẽ không ai khiến chúng sợ hãi nữa.
JER 46:28 Hỡi dân Gia-cốp, tôi tớ ta, đừng sợ, vì ta ở với các ngươi,” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt các dân tộc mà ta đã đày các ngươi đến. Nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt ngươi. Ta sẽ sửa phạt ngươi một cách công bằng, nhưng ta sẽ không để ngươi khỏi bị phạt.”
JER 47:1 Trước khi vua Ai-cập tấn công thành Ga-xa, CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri cho dân Phi-li-tin.
JER 47:2 CHÚA phán như sau: “Nầy, kẻ thù đang tập họp ở phía Bắc như nước dâng. Chúng sẽ như nước lũ tràn bờ bao phủ cả xứ như cơn lụt lội, luôn các thị trấn và dân cư sống trong đó. Ai sống trong xứ cũng kêu cứu; dân chúng sẽ kêu khóc thảm thương.
JER 47:3 Chúng sẽ nghe tiếng ngựa phi và tiếng quân xa ồn ào cùng tiếng bánh xe rầm rập. Cha mẹ không bảo vệ được con cái mình, vì họ cũng quá yếu ớt.
JER 47:4 Đã đến lúc toàn dân Phi-li-tin bị hủy diệt. Đã đến lúc tiêu diệt những ai còn sống sót là những kẻ có thể giúp đỡ hai thành Tia và Xi-đôn. CHÚA sắp sửa tiêu diệt dân Phi-li-tin, tức những kẻ còn sống sót trên đảo Cơ-rết.
JER 47:5 Dân cư thành Ga-xa sẽ buồn thảm và cạo đầu. Dân cư thành Ách-kê-lôn sẽ im lặng. Hỡi những kẻ còn sống sót trong thung lũng, các ngươi tự cắt thịt mình cho đến chừng nào?
JER 47:6 Các ngươi kêu, ‘Hỡi gươm của CHÚA, ngươi sẽ đánh cho đến bao giờ? Hãy tra vào vỏ trở lại. Hãy thôi và nằm yên đi.’
JER 47:7 Nhưng làm sao gươm Ngài nghỉ ngơi khi CHÚA đã ra lệnh cho nó? Ngài đã ra lệnh cho nó tấn công Ách-kê-lôn và vùng duyên hải.”
JER 48:1 Đây là lời tiên tri về xứ Mô-áp. CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Khốn cho núi Nê-bô, vì nó sẽ điêu tàn. Thành Ki-ri-át-tha-im sẽ bị sỉ nhục và bị chiếm lấy; thành kiên cố đó sẽ bị hổ nhục và tan tành.
JER 48:2 Mô-áp sẽ không được tán dương nữa. Các người trong thị trấn Hết-bôn đã dự định đánh bại Mô-áp. Chúng bảo, ‘Chúng ta hãy đến thanh toán quốc gia đó!’ Hỡi thành của những Kẻ Điên, ngươi cũng sẽ phải câm miệng. Gươm sẽ đuổi theo ngươi.
JER 48:3 Hãy nghe tiếng kêu khóc từ thị trấn Hô-rô-na-im, tiếng kêu hỗn độn và hủy phá lớn lao.
JER 48:4 Mô-áp sẽ bị tan vỡ. Con nhỏ của nó sẽ kêu cứu.
JER 48:5 Dân cư Mô-áp sẽ đi lên đường đến thị trấn Lu-hít, vừa đi vừa khóc thảm thiết. Trên con đường xuống Hô-rô-na-im người ta nghe tiếng khóc đau khổ.
JER 48:6 Hãy chạy đi! Hãy chạy cứu mạng! Hãy chạy đi như bụi gai khô bị gió thổi qua sa mạc.
JER 48:7 Các ngươi cậy vào việc mình làm và vào của cải mình, cho nên các ngươi sẽ bị bắt. Thần Kê-mốt sẽ bị đi đày cùng với các thầy tế lễ và viên chức của nó.
JER 48:8 Kẻ hủy diệt sẽ đến nghịch lại mỗi thành; không thành nào thoát khỏi. Thung lũng sẽ điêu tàn, và vùng cao nguyên sẽ bị tiêu diệt, như CHÚA đã phán.
JER 48:9 Hãy ban cánh cho Mô-áp, vì nó sẽ phải bỏ xứ mình. Các thành của Mô-áp sẽ hoang vu, không ai ở.
JER 48:10 Đáng rủa thay cho những kẻ lơ là khi làm việc CHÚA, Đáng rủa thay cho những kẻ không dùng gươm mình để giết.
JER 48:11 Dân Mô-áp chưa hề biết khốn khó. Chúng như rượu đang lắng đọng; chưa hề được đổ từ bình nầy sang bình khác. Chúng chưa hề bị bắt làm tù binh. Cho nên rượu chúng vẫn có vị như cũ, và mùi chúng không thay đổi.”
JER 48:12 CHÚA phán, “Các ngươi phải biết, sẽ đến lúc ta sai người để đổ các ngươi từ bình nầy sang bình khác. Họ sẽ trút hết các bình của Mô-áp và đập bể các hũ của nó.
JER 48:13 Dân Ít-ra-en tin vào thần của thành Bê-tên, và cảm thấy xấu hổ khi không được giúp đỡ. Cũng vậy, Mô-áp sẽ xấu hổ về thần Kê-mốt của mình.
JER 48:14 Các ngươi không thể nói, ‘Chúng ta là chiến sĩ! Chúng ta bạo dạn trong chiến trận!’
JER 48:15 Kẻ hủy diệt Mô-áp cùng các thành nó đã đến. Các thanh niên khoẻ mạnh nhất của nó sẽ bị giết!” Vua phán vậy, danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
JER 48:16 “Ngày tận cùng của Mô-áp gần kề rồi, nó sắp bị tiêu diệt.
JER 48:17 Hỡi các ngươi là kẻ sống quanh Mô-áp, hỡi các ngươi là kẻ biết đến nó, hãy than khóc cho nó đi. Hãy nói, ‘Quyền lực của kẻ cầm quyền bị bẻ gãy rồi; Quyền lực và vinh hiển của Mô-áp không còn nữa.’
JER 48:18 Các ngươi là kẻ sống trong thành Đi-bôn, hãy xuống khỏi ghế danh dự mình, mà ngồi trên đất khô, vì kẻ hủy diệt Mô-áp đã đến nghịch ngươi. Nó đã phá hủy các thành có vách kiên cố của ngươi.
JER 48:19 Các ngươi là những kẻ sống trong thành A-rô-e, hãy đứng bên đường mà nhìn. Thấy người đàn ông đang bỏ chạy và người đàn bà đang bỏ trốn. Hãy hỏi họ, ‘Có chuyện gì vậy?’
JER 48:20 Mô-áp nhục nhã vì nó bị điêu tàn rồi. Hỡi Mô-áp, hãy kêu khóc lên! Hãy loan báo nơi sông Ạc-nôn rằng: Mô-áp đã bị tiêu diệt rồi.
JER 48:21 Dân chúng trên vùng cao nguyên đã bị trừng phạt. Sự đoán phạt đã đến trên các thành sau đây: Hô-lôn, Gia-xa, và Mê-pha-át;
JER 48:22 Đi-bôn, Nê-bô, và Bết Đíp-la-tha-im;
JER 48:23 Ki-ri-át-tha-im, Bết-Ga-mun, và Bết-Mê-ôn;
JER 48:24 Kê-ri-ốt và Bốt-ra. Sự đoán phạt đã đến trên các thành của Mô-áp, gần và xa.
JER 48:25 Sức mạnh của Mô-áp đã bị cắt đứt, cánh tay nó đã bị bẻ gãy rồi!” CHÚA phán vậy.
JER 48:26 “Dân Mô-áp nghĩ mình lớn hơn CHÚA, cho nên hãy trừng phạt chúng cho đến khi chúng liểng xiểng như người say. Mô-áp sẽ ngã té và lăn vào chỗ chúng đã mửa, Mọi người sẽ chê cười chúng.
JER 48:27 Hỡi Mô-áp, ngươi đã chế giễu Ít-ra-en. Ít-ra-en bị kẹt giữa lũ ăn trộm, Nhưng khi nói về Ít-ra-en thì ngươi lắc đầu, như thể ngươi tốt hơn nó.
JER 48:28 Hỡi dân cư Mô-áp, hãy bỏ hoang các thị trấn ngươi và đến sống giữa các tảng đá. Hãy như chim cu đất làm tổ nơi cửa hang.
JER 48:29 Chúng ta đã nghe rằng dân Mô-áp rất tự phụ, vô cùng huênh hoang. Chúng vô cùng tự phụ và huênh hoang, trong lòng chúng rất hợm hĩnh.”
JER 48:30 CHÚA phán, “Ta biết tính kiêu căng của Mô-áp, nhưng tính ấy vô dụng. Tính huênh hoang của nó, cũng như việc nó làm đều giả dối.
JER 48:31 Cho nên ta khóc lóc buồn bã vì Mô-áp, vì mỗi người trong Mô-áp. Ta than vãn cho dân thành Kiệt Ha-sê-rết.
JER 48:32 Ta khóc lóc cho dân thành Gia-xe, cho các ngươi, hỡi các cây nho của thành Xíp-ma. Trước kia các dây nho ngươi vươn ra đến biển, chạy dài đến tận Gia-xe. Nhưng kẻ hủy diệt đã cướp lấy hoa quả và trái nho ngươi.
JER 48:33 Sự vui mừng và hạnh phúc đã biến mất khỏi các đồng ruộng bao la màu mỡ của Mô-áp. Ta đã chận không cho rượu chảy ra từ bàn ép rượu. Không ai còn đạp trái nho và reo hò vui vẻ nữa. Có tiếng reo hò, nhưng không phải reo hò vì vui vẻ.
JER 48:34 Tiếng kêu khóc của chúng có thể nghe được từ các thị trấn Mô-áp, từ Hết-bôn cho đến Ê-lê-a-lê và Gia-hát. Tiếng đó có thể nghe từ Xoa cho đến tận Hô-rô-na-im và Ết-lát Sê-li-si-gia. Thậm chí các nguồn nước của Nim-rim cũng đã khô cạn rồi.
JER 48:35 Ta sẽ ngăn không cho Mô-áp dâng của lễ thiêu nơi thờ phụng của chúng, không cho chúng đốt hương cho các thần của chúng,” CHÚA phán vậy.
JER 48:36 “Vì thế mà lòng ta khóc lóc thảm sầu cho Mô-áp như sáo thổi bản ai ca. Nó rên rỉ như tiếng sáo của dân Kiệt Ha-sê-rết. Sự giàu có mà chúng kiếm được đã bị cướp mất.
JER 48:37 Đầu nào cũng bị cạo trọc, râu đều bị cạo sạch. Tay nào cũng bị cắt, Ai cũng quấn vải sô quanh hông.
JER 48:38 Dân chúng than khóc trên mỗi mái nhà ở Mô-áp, trong chỗ công cộng. Không còn gì ngoài nỗi thảm sầu, vì ta đã đập bể Mô-áp như bình gốm không ai dùng nữa,” CHÚA phán vậy.
JER 48:39 “Mô-áp đã bể vụn rồi! Dân chúng đang than khóc! Mô-áp quay mặt đi vì xấu hổ! Dân cư quanh chúng chế giễu chúng. Bao nhiều điều xảy đến khiến chúng sợ hãi.”
JER 48:40 CHÚA phán như sau: “Kìa, có ai đang đến, như chim ó lao xuống vồ mồi từ trên không và giương cánh ra trên Mô-áp.
JER 48:41 Các thị trấn Mô-áp sẽ bị chiếm, còn các thành có vách kiên cố sẽ thất thủ. Lúc ấy các chiến sĩ Mô-áp sẽ kinh hoàng, như đàn bà sắp sinh con.
JER 48:42 Dân Mô-áp sẽ bị tiêu diệt, vì chúng nghĩ mình lớn hơn CHÚA.
JER 48:43 Sự kinh hãi, hố sâu, và cạm bẫy đang chờ đợi ngươi đó, hỡi dân cư Mô-áp,” CHÚA phán vậy.
JER 48:44 “Dân chúng sẽ bỏ chạy vì sợ hãi, nhưng sẽ rơi xuống hố. Ai trèo được ra khỏi hố sẽ rơi vào bẫy. Ta sẽ mang năm trừng phạt đến cho Mô-áp,” CHÚA phán vậy.
JER 48:45 “Dân chúng đã chạy khỏi kẻ thù hùng mạnh và trốn đến Hết-bôn để an thân. Nhưng lửa bốc cháy từ Hết-bôn; cơn hỏa hoạn lan ra từ quê quán của Si-hôn, vua Mô-áp. Nó thiêu đốt các lãnh tụ của Mô-áp hủy diệt những bọn tự phụ đó.
JER 48:46 Hỡi Mô-áp, khốn cho ngươi! Những kẻ thờ Kê-mốt đã bị hủy diệt. Vì con trai các ngươi đã bị bắt làm tù binh, con gái các ngươi bị đi đày.
JER 48:47 Nhưng trong những ngày sắp đến, ta sẽ phục hồi của cải cho Mô-áp,” CHÚA phán vậy. Đến đây chấm dứt sự đoán phạt cho Mô-áp.
JER 49:1 Sau đây là lời tiên tri về dân Am-môn. CHÚA phán: “Ngươi nghĩ rằng Ít-ra-en không có con cái sao? Ngươi cho rằng không có ai thừa kế đất đai khi cha mẹ qua đời sao? Nếu vậy tại sao Mô-léc chiếm lấy đất Gát và dân Mô-léc định cư trong các thành Gát?”
JER 49:2 CHÚA phán, “Đến lúc ta sẽ khiến dân cư ở Ráp-ba, thủ đô của Am-môn nghe tiếng chiến trận. Nó sẽ trở thành đồi gạch vụn điêu tàn, còn các thị trấn quanh nó sẽ bị thiêu đốt. Chúng đã đuổi dân Ít-ra-en ra khỏi xứ đó, nhưng nay Ít-ra-en sẽ đuổi chúng ra!” CHÚA phán vậy.
JER 49:3 “Hỡi dân thành Hết-bôn, hãy kêu khóc buồm thảm vì thành A-hi đã bị tiêu diệt rồi! Hỡi những kẻ sống ở Ráp-ba, hãy khóc lóc thảm thiết đi! Hãy mặc vải sô để bày tỏ nỗi buồn của mình và kêu khóc đi. Hãy chạy đây đó tìm nơi trú ẩn trong vách, vì Mô-léc sẽ bị bắt làm tù binh cùng với các thầy tế lễ và các viên chức nó.
JER 49:4 Ngươi khoe khoang về sức mạnh mình, nhưng sức lực ngươi đã tiêu hao rồi. Ngươi tin tưởng rằng của cải mình sẽ giải cứu mình. Ngươi tự nhủ, ‘Ai dám tấn công ta?’
JER 49:5 Ngươi phải biết rằng ta sắp mang kinh hoàng đến cho ngươi, từ mọi người sống quanh ngươi,” CHÚA Toàn Năng phán vậy. “Ngươi sẽ phải bỏ chạy, không ai gom ngươi lại.
JER 49:6 Dân Am-môn sẽ bị bắt làm tù binh. Nhưng đến thời điểm ta sẽ mang dân Am-môn về.” CHÚA phán vậy.
JER 49:7 Lời tiên tri về Ê-đôm. CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Trong thành Thê-man không còn sự khôn ngoan nữa hay sao? Những người khôn ngoan trong Ê-đôm không còn sáng kiến gì hay sao? Họ đã hết khôn ngoan rồi sao?
JER 49:8 Hỡi các ngươi là những kẻ sống trong thành Đê-đan, hãy chạy trốn trong các hang sâu, vì ta sẽ giáng đại họa lên dân Ê-sau. Đến lúc ta phải trừng phạt chúng.
JER 49:9 Ai hái trái nơi các dây nho ngươi cũng chừa lại một số. Nếu kẻ trộm đến ban đêm, chúng cũng chỉ đánh cắp đủ dùng.
JER 49:10 Nhưng ta sẽ lột trần Ê-đôm. Ta sẽ tìm ra hết những nơi trú ẩn của nó, để nó không thể trốn tránh khỏi ta. Con cái, thân nhân và láng giềng đều sẽ chết, Ê-đôm sẽ bị tuyệt diệt.
JER 49:11 Hãy để yên các trẻ mồ côi, ta sẽ chăm sóc chúng. Còn các người goá bụa của ngươi có thể tin cậy nơi ta.”
JER 49:12 CHÚA phán: “Ngươi phải biết rằng, có người không đáng bị trừng phạt mà vẫn phải uống chén đau khổ. Hỡi dân cư Ê-đôm, các ngươi đáng phạt, cho nên ngươi sẽ không tránh khỏi bị phạt. Ngươi chắc chắn phải uống chén đau khổ.”
JER 49:13 CHÚA phán, “Ta lấy danh ta mà thề rằng thành Bốt-ra sẽ thành đống gạch vụn! Người ta sẽ sửng sốt khi nhìn thấy cảnh đó. Họ sẽ sỉ nhục thành đó và nói xấu nó. Còn các thị trấn xung quanh đó sẽ bị điêu tàn đời đời.”
JER 49:14 Ta có lời phán của CHÚA. Một sứ giả được sai đến các dân với mệnh lệnh như sau, “Hãy tập họp quân đội ngươi và tấn công nó! Hãy sẵn sàng chiến đấu!”
JER 49:15 “Ta sắp biến ngươi thành dân tộc bé nhỏ nhất, mà ai cũng ghét.
JER 49:16 Hỡi Ê-đôm, ngươi đã làm các dân tộc khác kinh hoảng, nhưng sự kiêu căng ngươi đã gạt ngươi. Ngươi sống trong các hang hốc nơi ghềnh đá và kiểm soát các đồi cao. Dù cho ngươi xây nhà nơi cao như tổ chim ưng, ta cũng sẽ kéo ngươi xuống,” CHÚA phán vậy.
JER 49:17 “Ê-đôm sẽ bị tiêu diệt. Kẻ qua người lại sẽ sửng sốt khi nhìn thấy các thành bị tiêu hủy, và kinh ngạc về những vết thương nó.
JER 49:18 Ê-đôm sẽ bị hủy diệt như hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ và các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy. “Sẽ không ai ở đó! Không còn ai ở trong Ê-đôm nữa.”
JER 49:19 “Như sư tử từ bụi rậm gần sông Giô-đanh bước ra xông vào chuồng vững chắc để bắt chiên, ta sẽ bất thần đánh đuổi Ê-đôm ra khỏi xứ nó. Ai là người ta chọn để làm việc nầy? Không ai giống như ta, chẳng ai lôi ta ra tòa được. Không có lãnh tụ nào địch lại ta nổi.”
JER 49:20 Cho nên hãy nghe điều CHÚA dự định nghịch cùng Ê-đôm. Hãy nghe điều Ngài nhất quyết làm cho dân thành Thê-man. Ngài chắc chắn sẽ lôi các bọn trẻ của Ê-đôm đi. Quê quán chúng sẽ sửng sốt khi nhìn thấy số phận chúng.
JER 49:21 Nghe tiếng Ê-đôm sụp đổ, đất liền rung chuyển. Tiếng kêu khóc của chúng sẽ vang đến tận Hồng hải.
JER 49:22 CHÚA sẽ như chim ưng lao xuống vồ mồi, và giương cánh ra trên thành Bốt-ra. Lúc ấy các binh sĩ Ê-đôm sẽ đâm ra hoảng sợ, như đàn bà sắp sinh đẻ.
JER 49:23 Đây là lời tiên tri về thành Đa-mách: “Các thị trấn Ha-mát và Ác-bát bị sỉ nhục, vì chúng đã nghe tin chẳng lành. Chúng đâm ra hoảng sợ. Chúng bị xao xuyến như biển động.
JER 49:24 Thành Đa-mách đã suy yếu. Dân chúng muốn trốn chạy; Mọi người đâm ra hốt hoảng. Họ cảm thấy đau đớn và khổ sở, như đàn bà sắp sinh con.
JER 49:25 Đa-mách xưa là thành ta vui thích. Tại sao dân chúng chưa rời thành nổi tiếng ấy?
JER 49:26 Các trai tráng nó chắc chắn sẽ chết trong công viên, và tất cả các binh sĩ nó sẽ bị giết vào lúc đó,” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
JER 49:27 “Ta sẽ đốt các vách thành Đa-mách, lửa sẽ thiêu rụi các thành kiên cố của vua Bên-Ha-Đát.”
JER 49:28 Sau đây là lời tiên tri về chi tộc Kê-đa và các nước của Hát-xo mà Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã đánh bại. CHÚA phán: “Hãy đến tấn công dân Kê-đa, tiêu diệt dân miền Đông.
JER 49:29 Các lều và bầy súc vật của chúng sẽ bị cướp đoạt. Tài sản chúng sẽ bị mang đi: lều, của cải, và lạc đà. Người ta sẽ kêu chúng nghe rằng, ‘Kinh hoàng tứ phía!’
JER 49:30 Hãy chạy nhanh lên! Hỡi dân cư Hát-xo, hãy kiếm chỗ trốn đi!” CHÚA phán vậy. “Vì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã âm mưu nghịch ngươi, người muốn đánh bại ngươi.
JER 49:31 Hãy đứng dậy tấn công dân đang sống thoải mái, yên trí rằng không ai đánh thắng mình nổi,” CHÚA phán vậy. “Nó không có cổng hay rào để bảo vệ mình. Dân cư nó sống lẻ loi.
JER 49:32 Quân thù sẽ đánh cắp các lạc đà của chúng, cướp các bầy súc vật đông đảo của chúng làm chiến lợi phẩm. Ta sẽ phân tán dân cắt tóc ngắn ra khắp đất, và mang thảm họa cho chúng từ bốn phương,” CHÚA phán vậy.
JER 49:33 “Thành Hát-xo sẽ trở thành hang của chó rừng; nó sẽ biến thành sa mạc hoang vu đời đời. Sẽ không có ai ở đó, không ai trú trong thành đó.”
JER 49:34 Ít lâu sau khi Xê-đê-kia lên ngôi vua Giu-đa thì CHÚA phán cùng nhà tiên tri Giê-rê-mi. Đây là lời tiên tri nghịch cùng dân Ê-lam.
JER 49:35 CHÚA Toàn Năng phán: “Ta sắp bẻ gãy cây cung của Ê-lam, tức sức mạnh vô song của nó.
JER 49:36 Ta sẽ mang bốn gió nghịch lại Ê-lam từ bốn góc trời. Ta sẽ phân tán dân nó ra khắp bốn hướng gió; tù binh nó sẽ tản lạc khắp các nước.
JER 49:37 Ta sẽ khiến cho Ê-lam hoảng sợ trước mặt kẻ thù mình, là những kẻ muốn tiêu diệt chúng. Ta sẽ mang thảm họa đến cho Ê-lam để chứng tỏ cơn thịnh nộ ta!” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ sai gươm đuổi Ê-lam cho đến khi ta đã giết sạch chúng nó.
JER 49:38 Ta sẽ lập ngôi ta trong Ê-lam để chứng tỏ ta là vua, ta sẽ tiêu diệt vua và quần thần nó!” CHÚA phán vậy.
JER 49:39 “Nhưng trong tương lai ta sẽ phục hồi Ê-lam,” CHÚA phán vậy.
JER 50:1 Đây là lời tiên tri CHÚA phán nghịch cùng Ba-by-lôn và dân cư nó qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
JER 50:2 “Hãy loan báo điều nầy cho các dân. Hãy giương cờ lên và nói cho chúng biết. Hãy tuyên bố hết các lời nầy như sau: ‘Ba-by-lôn sẽ bị chiếm cứ. Thần Bên sẽ bị sỉ nhục, và thần Mạc-đúc sẽ hoảng sợ. Các thần của Ba-by-lôn sẽ bị sỉ nhục, và các thần tượng nó sẽ kinh hoàng!
JER 50:3 Vì một dân từ phương Bắc sẽ tấn công Ba-by-lôn biến nó thành sa mạc hoang vu. Không ai ở đó, cả người lẫn thú vật đều bỏ chạy.’”
JER 50:4 CHÚA phán, “Lúc ấy, dân Ít-ra-en và Giu-đa sẽ họp nhau lại. Họ sẽ kêu khóc và tìm kiếm CHÚA là Thượng Đế mình.
JER 50:5 Họ sẽ hỏi thăm lối đi đến Giê-ru-sa-lem rồi đi theo hướng đó. Họ sẽ cùng nhau họp lại cho CHÚA. Họ sẽ lập giao ước đời đời với Ngài, một giao ước sẽ không bao giờ bị quên lãng.
JER 50:6 Dân ta như chiên đi lạc. Các lãnh tụ chúng đã hướng dẫn chúng đi lầm lạc khiến chúng đi lang thang quanh các núi đồi. Chúng quên nơi nghỉ ngơi của mình.
JER 50:7 Ai thấy dân ta cũng làm hại chúng. Còn các kẻ thù thì bảo, ‘Chúng ta đâu có làm gì quấy. Vì dân ta đã phạm tội cùng CHÚA, nơi an nghỉ thật của chúng, là Thượng Đế mà tổ tiên chúng tin cậy.’
JER 50:8 Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn, ra khỏi xứ người Ba-by-lôn. Như dê dẫn bầy súc vật.
JER 50:9 Ta sắp mang các dân miền Bắc nghịch lại Ba-by-lôn. Chúng sẽ vào vị trí chuẩn bị tấn công nó, và nó sẽ bị các dân miền Bắc bắt đi. Các mũi tên nó như các binh sĩ tinh nhuệ chẳng khi nào từ mặt trận mà trở về tay không.
JER 50:10 Các kẻ thù sẽ chiếm đoạt tài sản của dân Ba-by-lôn. Chúng sẽ tha hồ lấy,” CHÚA phán vậy.
JER 50:11 “Hỡi Ba-by-lôn, ngươi thích thú và hớn hở, vì ngươi chiếm xứ ta. Ngươi nhảy múa như bò cái tơ nơi bồn lúa. Tiếng cười của ngươi như ngựa đực hí.
JER 50:12 Mẹ ngươi sẽ xấu hổ; người sinh ra ngươi sẽ bị sỉ nhục. Chẳng bao lâu nữa Ba-by-lôn sẽ trở thành dân thấp kém nhất trong các dân. Nó sẽ trở thành sa mạc hoang vu, khô cằn.
JER 50:13 Vì CHÚA nổi giận, cho nên không ai sống ở đó. Nó sẽ hoàn toàn bị hoang vu. Người qua kẻ lại nơi Ba-by-lôn sẽ sửng sốt. Họ sẽ lắc đầu khi nhìn thấy các vết thương nó.
JER 50:14 Hỡi các binh sĩ mang cung tên, hãy bước vào vị trí chiến đấu nghịch Ba-by-lôn. Hãy bắn tên các ngươi vào Ba-by-lôn! Đừng để dành lại gì cả, vì Ba-by-lôn đã phạm tội cùng CHÚA.
JER 50:15 Hỡi các binh sĩ quanh Ba-by-lôn, hãy reo tiếng chiến trận! Ba-by-lôn đã đầu hàng rồi, các tháp nó đã đổ xuống, các vách nó đã bị phá sập. CHÚA đã trừng phạt dân cư nó tương xứng với tội lỗi nó. Các dân hãy giáng cho nó điều nó đáng lãnh; Hãy làm cho nó như nó đã làm cho người khác.
JER 50:16 Đừng để dân Ba-by-lôn trồng trọt hay gặt hái. Vì các binh sĩ nó đã ngược đãi tù binh. Bây giờ hãy để mọi người trở về. Ai nấy hãy về xứ mình.
JER 50:17 Dân Ít-ra-en giống như bầy chiên tan lạc bị sư tử săn đuổi. Con sư tử đầu tiên ăn nuốt chúng là vua A-xy-ri. Con sư tử cuối cùng ngấu nghiến xương chúng là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.”
JER 50:18 Vì thế CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và xứ nó như ta đã trừng phạt A-xy-ri.
JER 50:19 Nhưng ta sẽ mang dân Ít-ra-en trở về đồng cỏ mình. Chúng sẽ ăn trên núi Cạt-mên và Ba-san. Chúng sẽ ăn no nê trên các đồi Ép-ra-im và Ghi-lê-át.”
JER 50:20 CHÚA phán, “Lúc ấy, người ta sẽ đi tìm tội của Ít-ra-en, nhưng không tìm được. Họ sẽ kiếm lỗi của Giu-đa, nhưng chẳng thấy đâu, vì ta sẽ chừa lại một số dân sống sót trong Ít-ra-en và Giu-đa và ta sẽ tha thứ tội lỗi chúng.
JER 50:21 Hãy tấn công xứ Mê-ra-tha-im. Hãy đánh dân sống ở Bê-cốt. Hãy rượt đuổi, đánh giết và tận diệt chúng. Hãy làm mọi điều ta truyền dặn các ngươi!” CHÚA phán vậy.
JER 50:22 “Tiếng chiến trận có thể nghe khắp xứ; đó là tiếng phá hủy khắp nơi.
JER 50:23 Ba-by-lôn trước kia là búa của cả đất, nhưng nay búa đó đã gãy cán. Xứ đó điêu tàn nhất trong các xứ.
JER 50:24 Hỡi Ba-by-lôn, ta đã giăng bẫy cho ngươi, ngươi sẽ bị sập bẫy trước khi ngươi biết. Ngươi chiến đấu chống CHÚA, nên ngươi bị khám phá và bị bắt làm tù binh.
JER 50:25 CHÚA đã mở kho Ngài và mang ra các vũ khí của cơn thịnh nộ Ngài, vì CHÚA Toàn Năng phải ra tay trong xứ dân Ba-by-lôn.
JER 50:26 Từ xa hãy đến đánh Ba-by-lôn. Hãy mở toang các kho ngũ cốc của nó. Hãy chất các xác chết nó như đống lúa. Hãy tận diệt Ba-by-lôn đừng để ai sống sót.
JER 50:27 Hãy giết tất cả các trai tráng trong Ba-by-lôn; hãy giết chúng như thú vật. Khốn thay cho chúng vì đến lúc chúng bị đánh bại; đến lúc chúng bị trừng phạt.
JER 50:28 Hãy lắng nghe tiếng người chạy thoát khỏi xứ Ba-by-lôn! Họ bảo cho Giê-ru-sa-lem biết CHÚA là Thượng Đế chúng ta đang trừng phạt Ba-by-lôn xứng đáng với tội phá hủy đền thờ Ngài.
JER 50:29 Hãy gọi các lính bắn cung đến chống nghịch Ba-by-lôn. Bảo họ vây thành đó, đừng để ai trốn thoát. Hãy báo trả nó về điều nó làm; Hãy làm cho nó như nó đã làm cho các dân khác. Vì Ba-by-lôn đã hành động kiêu căng nghịch lại CHÚA, Đấng thánh của Ít-ra-en.
JER 50:30 Cho nên các trai tráng nó sẽ bị giết trong các đường phố nó. Tất cả các chiến sĩ nó đều sẽ chết trong ngày đó,” CHÚA phán vậy.
JER 50:31 “Hỡi Ba-by-lôn, vì ngươi quá tự phụ cho nên ta nghịch ngươi,” CHÚA Toàn Năng phán vậy. “Ngươi phải biết rằng đến lúc ngươi phải bị trừng phạt,
JER 50:32 Ba-by-lôn kiêu ngạo sẽ vấp ngã, không ai đỡ dậy. Ta sẽ châm lửa trong các thành nó, thiêu hết mọi vật quanh nó.”
JER 50:33 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Dân Ít-ra-en và Giu-đa là tôi mọi. Kẻ thù bắt chúng làm tù binh, không chịu thả ra.
JER 50:34 Nhưng Thượng Đế rất mạnh nên sẽ chuộc chúng lại. Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng. Ngài chắc chắn sẽ dùng quyền năng mình bảo vệ chúng, để ban cho xứ sự an nghỉ. Nhưng Ngài sẽ không ban sự yên nghỉ cho những kẻ sống trong Ba-by-lôn.”
JER 50:35 CHÚA phán, “Hãy để gươm giết những kẻ sống trong Ba-by-lôn cùng các quan chức và các người khôn ngoan của nó!
JER 50:36 Hãy cho gươm giết các tiên tri giả của nó, để chúng trở nên ngu dại. Hãy để gươm giết các chiến sĩ nó, thì chúng sẽ kinh hoàng.
JER 50:37 Hãy để gươm giết ngựa và quân xa cùng các lính đánh thuê từ các nước khác. Rồi chúng sẽ kinh khiếp như đàn bà. Hãy để gươm tấn công các kho tàng nó, để người ta cướp chúng đi.
JER 50:38 Hãy để gươm tấn công các nguồn nước nó để chúng bị khô cạn. Nó là xứ của thần tượng, toàn dân bị điên dại vì chúng.
JER 50:39 Các thú rừng và các con linh cẩu sẽ sống ở đó, chim cú sẽ làm tổ nơi ấy, nhưng sẽ không có ai sống ở đó cả. Sẽ không bao giờ có ai ở đó nữa.
JER 50:40 CHÚA đã tiêu diệt hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thị trấn quanh đó,” CHÚA phán vậy. “Cũng vậy, sẽ không còn ai ở trong Ba-by-lôn, không một ai ở đó cả.
JER 50:41 Kìa! Một đạo quân đang kéo đến từ phương Bắc. Một dân tộc hùng mạnh và các vua đang nhóm họp tại từ khắp nơi trên thế giới.
JER 50:42 Các đạo quân ấy có cung và giáo. Các chiến sĩ rất hung bạo và không biết thương xót. Khi chúng cỡi ngựa đến, thì nghe như tiếng biển gầm thét. Chúng đứng vào vị thế sẵn sàng chiến đấu. Hỡi thành Ba-by-lôn, chúng sẵn sàng tấn công ngươi.
JER 50:43 Vua Ba-by-lôn nghe về những đạo quân đó, thì bủn rủn vì sợ. Cơn kinh khiếp chụp bắt người, Như sự đau đớn của người đàn bà sắp sinh nở.
JER 50:44 Như sư tử từ bụi rậm gần sông Giô-đanh bước ra xông vào chuồng vững chắc để bắt chiên, ta sẽ bất thần đánh đuổi Ba-by-lôn ra khỏi xứ chúng nó. Ai là người ta chọn để làm việc nầy? Không ai giống như ta, chẳng ai lôi ta ra tòa được. Không có lãnh tụ nào địch lại ta nổi.”
JER 50:45 Cho nên hãy nghe điều CHÚA dự định làm nghịch lại Ba-by-lôn. Hãy nghe điều Ngài đã quyết định làm cho dân thành Ba-by-lôn. Ngài chắc chắn sẽ lôi các trai tráng của Ba-by-lôn đi. Quê quán chúng nó sẽ kinh hoàng khi nhìn thấy số phận chúng nó.
JER 50:46 Khi nghe Ba-by-lôn bị chiếm, đất sẽ rung chuyển. Dân chúng các nước sẽ nghe tiếng kêu tuyệt vọng của Ba-by-lôn.
JER 51:1 CHÚA phán: “Ta sắp mang gió tiêu diệt thổi đến nghịch cùng dân Ba-by-lôn.
JER 51:2 Ta sẽ sai dân ngoại quốc đến tiêu diệt Ba-by-lôn như gió thổi trấu bay đi. Chúng sẽ tiêu diệt xứ, Các đạo quân sẽ vây thành khi ngày tai họa xảy đến cho chúng.
JER 51:3 Đừng cho quân lính Ba-by-lôn chuẩn bị cung tên để bắn. Đừng để chúng khoác áo giáp vào. Chớ tội nghiệp cho các trai tráng Ba-by-lôn, nhưng hãy tận diệt quân đội nó.
JER 51:4 Chúng sẽ bị giết trong xứ Ba-by-lôn và ngã chết trong các đường phố mình.
JER 51:5 CHÚA là Thượng Đế Toàn Năng không lìa bỏ Ít-ra-en và Giu-đa, mặc dù chúng hoàn toàn có tội trước mặt Đấng Thánh của Ít-ra-en.
JER 51:6 Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn để cứu mạng! Chớ nán lại mà bị giết oan vì tội lỗi của Ba-by-lôn. Đã đến lúc CHÚA trừng phạt Ba-by-lôn; Ngài sẽ trừng phạt nó tương xứng với tội lỗi nó.
JER 51:7 Ba-by-lôn như chén vàng trong tay CHÚA, chén đã khiến cả đất say sưa. Các dân tộc uống rượu của Ba-by-lôn và đi lạng quạng.
JER 51:8 Ba-by-lôn bị sụp đổ và bẻ gãy bất thần. Hãy kêu khóc cho nó! Hãy lấy dầu xức chỗ đau nó, may ra nó sẽ được lành.
JER 51:9 Các dân ngoại quốc ở Ba-by-lôn nói, ‘Chúng tôi tìm cách chữa trị Ba-by-lôn nhưng nó không thể lành được. Cho nên chúng tôi đành phải về xứ mình. Sự trừng phạt Ba-by-lôn thấu đến trời; lên đến tận mây.’
JER 51:10 Dân Giu-đa nói, ‘CHÚA chứng tỏ chúng ta đúng. Hãy đến Giê-ru-sa-lem thuật lại điều CHÚA là Thượng Đế chúng ta đã làm.’
JER 51:11 Hãy mài tên cho bén! Hãy nhấc thuẫn của ngươi lên! CHÚA đã giục giã các vua của Mê-đi, vì Ngài muốn tiêu diệt Ba-by-lôn. CHÚA sẽ trừng phạt chúng cho xứng với tội hủy phá đền thờ Ngài.
JER 51:12 Hãy giương cờ lên trên các vách thành Ba-by-lôn! Hãy mang thêm các lính gác. Hãy đặt lính gác vào vị trí, sẵn sàng đánh úp! CHÚA chắc chắn sẽ thi hành điều Ngài dự định và điều Ngài tuyên bố sẽ làm nghịch lại Ba-by-lôn.
JER 51:13 Hỡi dân Ba-by-lôn, các ngươi sống gần nước, và có lắm của cải, nhưng quốc gia các ngươi đã tận số rồi. Mạng sống ngươi bị cắt đứt.
JER 51:14 CHÚA Toàn Năng đã nhân danh mình mà thề rằng: ‘Hỡi Ba-by-lôn, ta sẽ khiến các binh sĩ thù nghịch tràn ngập ngươi, chúng đông như cào cào. Chúng sẽ đứng trên ngươi reo hò chiến thắng.’
JER 51:15 CHÚA đã dùng quyền năng Ngài dựng nên trái đất. Ngài dùng sự khôn ngoan mình tạo nên thế giới và dùng sự hiểu biết Ngài giăng các bầu trời ra.
JER 51:16 Khi Ngài gầm lên, các nguồn nước trên trời vang động. Ngài khiến sương mù bốc lên từ các góc đất. Ngài sai chớp đến với mưa và mang gió ra từ các kho chứa của Ngài.
JER 51:17 Dân chúng kém hiểu biết và ngu dại. Các thợ bạc xấu hổ vì các tượng chạm mình, bởi chúng chỉ là các thần giả, không có hơi thở.
JER 51:18 Chúng không có giá trị gì; người ta chế giễu chúng. Khi đem ra phân xử, chúng sẽ bị tiêu diệt.
JER 51:19 Nhưng Thượng Đế, Ngài là gia tài của Gia-cốp, không giống như các tượng chạm. Ngài làm nên mọi thứ, và chọn Ít-ra-en làm dân riêng cho mình. Danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
JER 51:20 Các ngươi là gậy chiến tranh của ta, là khí giới đánh giặc của ta. Ta dùng ngươi để đập nát các dân. Ta dùng ngươi để tiêu diệt các vương quốc.
JER 51:21 Ta dùng ngươi để đè bẹp ngựa và người cỡi. Ta dùng ngươi để chà nát quân xa và người điều khiển.
JER 51:22 Ta dùng ngươi để chà nát đàn ông, đàn bà, người già và người trẻ. Ta dùng ngươi để đè bẹp thanh niên, thiếu nữ.
JER 51:23 Ta dùng ngươi để chà nát kẻ chăn và bầy chiên. Ta dùng ngươi để chà đạp nông phu và trâu bò. Ta dùng ngươi để chà đạp các tổng trấn và các quan quyền.
JER 51:24 Nhưng ta sẽ báo trả Ba-by-lôn và tất cả dân cư nó về những điều ác chúng làm cho Giê-ru-sa-lem trước mắt ngươi,” CHÚA phán vậy.
JER 51:25 CHÚA phán, “Hỡi Ba-by-lôn, ngươi là hòn núi phá hủy, ta nghịch ngươi. Ngươi đã tiêu diệt cả xứ. Ta sẽ giơ tay ra nghịch ngươi. Ta sẽ xô ngươi xuống vực thẳm, và khiến ngươi trở thành một hòn núi bị cháy đen.
JER 51:26 Sẽ không ai tìm được trong Ba-by-lôn tảng đá nào đủ lớn để làm đá góc nhà nữa. Người ta sẽ không còn lấy đá từ Ba-by-lôn để làm nền nhà, vì thành của ngươi chỉ là một đống đổ nát đời đời,” CHÚA phán vậy.
JER 51:27 “Hãy giương cờ trên xứ! Hãy thổi kèn giữa các dân! Hãy chuẩn bị các dân để đánh Ba-by-lôn. Hãy gọi các nước A-ra-rát, Mi-ni, và Ách-kê-nát để đánh nó. Hãy chọn một viên tư lệnh chỉ huy đạo quân đánh Ba-by-lôn. Hãy đưa ngựa ra đông vô số như cào cào.
JER 51:28 Hãy chuẩn bị các dân đánh Ba-by-lôn: các vua Mê-đi, các quan tổng trấn và quần thần chúng, cùng mọi nước mà chúng thống trị.
JER 51:29 Đất rung chuyển và quằn quại đau đớn, vì CHÚA sẽ ra tay làm điều Ngài đã dự định cho Ba-by-lôn. Ngài sẽ biến Ba-by-lôn thành sa mạc hoang vu, không ai ở.
JER 51:30 Các chiến sĩ Ba-by-lôn đã ngưng đánh giặc. Chúng rút vào trong các thành kiên cố. Sức mạnh chúng không còn, Chúng hoảng hốt như đàn bà. Nhà cửa Ba-by-lôn đang bốc cháy. Các thanh cài cổng chúng đã gãy.
JER 51:31 Hết sứ giả nầy đến sứ giả khác; sứ giả nầy tiếp theo sứ giả kia. Chúng loan báo cho vua Ba-by-lôn biết rằng cả thành đã bị chiếm.
JER 51:32 Các chỗ băng qua sông đã bị chiếm, và các đầm lầy đang bốc cháy. Tất cả các chiến sĩ của Ba-by-lôn kinh hoảng.”
JER 51:33 Đây là điều CHÚA Toàn Năng, Thượng Đế của Ít-ra-en phán: “Thành Ba-by-lôn như sân đập lúa, nơi dân chúng đạp lúa lúc mùa gặt. Sắp đến kỳ gặt hái Ba-by-lôn rồi.
JER 51:34 Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn đã đánh bại và tiêu diệt chúng ta. Trước kia người bắt dân ta đi đày, chúng ta như bình trống không. Người như con trăn khổng lồ nuốt sống chúng ta. Người ăn no nê những vật tốt nhất của chúng ta, rồi nhả chúng ta ra.
JER 51:35 Ba-by-lôn đã làm những việc ghê gớm để hại chúng ta. Bây giờ hãy để Ba-by-lôn lãnh lại những việc đó,” dân cư Giê-ru-sa-lem nói vậy. “Dân Ba-by-lôn đã giết hại dân ta. Bây giờ hãy để chúng bị trừng phạt cho xứng với những điều chúng làm,” Giê-ru-sa-lem nói vậy.
JER 51:36 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Hỡi Giu-đa, ta sắp bảo vệ ngươi và chắc chắn trừng phạt Ba-by-lôn. Ta sẽ làm biển Ba-by-lôn khô cạn và các suối nước nó cạn khô.
JER 51:37 Ba-by-lôn sẽ trở thành đống đổ nát, nơi ở của chó rừng. Người ta sẽ kinh hoảng khi nhìn thấy điều đó. Sẽ không còn ai ở đó nữa.
JER 51:38 Dân chúng Ba-by-lôn gầm lên như sư tử tơ; chúng gầm gừ như sư tử con.
JER 51:39 Chúng hành động như sư tử hung hăng. Ta sẽ cho chúng ăn no nê và khiến chúng say sưa. Chúng sẽ la hét và cười đùa. Chúng sẽ an giấc ngàn thu, không bao giờ thức dậy nữa!” CHÚA phán vậy.
JER 51:40 “Ta sẽ khiến dân Ba-by-lôn bị giết. Chúng sẽ như chiên con, như chiên và dê sắp bị làm thịt.
JER 51:41 Hãy xem Sê-sắc đã bị thảm bại! Niềm kiêu căng của cả thế gian đã bị bắt làm tù binh. Dân chúng các quốc gia khác sửng sốt khi nhìn thấy số phận Ba-by-lôn, và những gì họ nhìn thấy khiến họ sợ hãi.
JER 51:42 Biển đã dậy lên trên Ba-by-lôn; các luồng sóng ầm ầm bao phủ nó.
JER 51:43 Các tỉnh thành của Ba-by-lôn đã bị điêu tàn và hoang vu. Nó đã trở thành xứ khô khan, hoang dại không ai ở. Người ta không thèm đi qua Ba-by-lôn nữa.
JER 51:44 Ta sẽ trừng phạt thần Bên của Ba-by-lôn. Ta sẽ khiến nó mửa ra điều nó đã ăn nuốt. Các dân sẽ không đến Ba-by-lôn nữa; ngay đến vách bao quanh thành cũng sẽ đổ xuống.
JER 51:45 Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy chạy cứu mạng! Hãy chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ CHÚA.
JER 51:46 Đừng nản lòng; sẽ có tiếng đồn ra khắp xứ, nhưng đừng sợ. Năm nay có tiếng đồn nầy, sang năm có tiếng đồn khác. Sẽ có tiếng đồn về cuộc đánh nhau khủng khiếp trong xứ, các quan quyền đánh lẫn nhau.
JER 51:47 Đến lúc ta chắc chắn trừng phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn, cả xứ sẽ bị sỉ nhục. Sẽ có vô số người chết nằm la liệt.
JER 51:48 Rồi trời và đất cùng mọi vật trên đất sẽ mừng rỡ về Ba-by-lôn. Chúng sẽ la lên vì đạo quân từ phương Bắc kéo đến để tiêu diệt Ba-by-lôn,” CHÚA phán vậy.
JER 51:49 “Ba-by-lôn phải đổ, vì nó giết dân Ít-ra-en. Nó giết mọi dân trên đất.
JER 51:50 Hỡi các ngươi là những kẻ thoát chết khỏi lưỡi gươm, hãy rời Ba-by-lôn ngay! Đừng chần chờ! Hãy nhớ lại CHÚA từ nơi xa xôi và hãy suy nghĩ về Giê-ru-sa-lem.”
JER 51:51 “Chúng ta là dân Giu-đa đã bị nhuốc nhơ, vì chúng ta đã bị sỉ nhục. Chúng ta đã bị xấu hổ, vì người lạ đã vào trong nơi thánh của đền thờ Chúa!”
JER 51:52 Vì thế CHÚA phán, “Sắp đến lúc ta sẽ trừng phạt các tượng chạm của Ba-by-lôn. Những kẻ bị thương sẽ kêu la khắp xứ đó.
JER 51:53 Dù cho Ba-by-lôn nổi lên cao đến tận trời, dù cho nó củng cố các thành phố cao nhất của nó, ta cũng sẽ sai người đến phá hủy nó,” CHÚA phán vậy.
JER 51:54 “Ở Ba-by-lôn người ta nghe tiếng kêu khóc. Tiếng của kẻ hủy diệt vang lên trong xứ dân Ba-by-lôn.
JER 51:55 Vì CHÚA đang tiêu diệt Ba-by-lôn và làm im bặt tiếng huyên náo của thành phố. Các kẻ thù gầm thét tiến đến như vũ bão. Tiếng gầm thét của chúng vang lên khắp nơi.
JER 51:56 Vì một đạo quân đã đến tiêu diệt Ba-by-lôn. Các binh sĩ nó đã bị bắt, cung tên nó đã bị gãy, vì CHÚA là Thượng Đế trừng phạt người làm điều ác. Ngài trừng phạt họ tương xứng với tội lỗi họ.
JER 51:57 Ta sẽ khiến các quan quyền và những kẻ khôn ngoan Ba-by-lôn say rượu, cùng với các quan tổng trấn, sĩ quan và các binh sĩ. Rồi chúng sẽ an giấc ngàn thu không bao giờ dậy nữa,” Vua phán vậy, danh Ngài là CHÚA Toàn Năng.
JER 51:58 CHÚA Toàn Năng phán: “Vách dầy của Ba-by-lôn sẽ hoàn toàn bị phá sập, các cổng cao của nó sẽ bị cháy tiêu. Người ta sẽ ra sức nhưng vô ích; công việc chúng chỉ như dầu thêm vào lửa!”
JER 51:59 Sau đây là lời nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với Sê-rai-gia, con Nê-ria, cháu Ma-a-sê-gia. Sê-rai-gia bị đày sang Ba-by-lôn cùng với Xê-đê-kia, vua Giu-đa vào năm thứ tư đời vua Xê-đê-kia, vua Giu-đa. Nhiệm vụ của ông là chuẩn bị thức ăn và nơi ở cho vua trong chuyến lưu đày đó.
JER 51:60 Giê-rê-mi đã ghi vào trong cuộn sách những việc kinh khiếp sẽ xảy đến cho Ba-by-lôn, tức tất cả những lời nầy về Ba-by-lôn.
JER 51:61 Giê-rê-mi bảo Sê-rai-gia, “Khi ngươi đến Ba-by-lôn hãy nhớ đọc những lời nầy cho mọi người đều nghe.
JER 51:62 Rồi nói rằng, ‘Lạy CHÚA, chính Ngài đã phán rằng Ngài sẽ tiêu diệt nơi nầy để không có người hay súc vật nào sống ở đó. Nó sẽ bị hoang vu đổ nát đời đời.’
JER 51:63 Sau khi đọc xong cuộn sách nầy thì hãy lấy một tảng đá buộc vào nó và ném xuống sông Ơ-phơ-rát.
JER 51:64 Rồi nói, ‘Cũng vậy, Ba-by-lôn sẽ bị chìm không nổi lên được vì những điều kinh khiếp ta khiến xảy ra cho nơi nầy. Dân cư nó sẽ tiêu tan.’” Đến đây chấm dứt lời của Giê-rê-mi.
JER 52:1 Xê-đê-kia được hai mươi mốt tuổi khi lên ngôi vua và trị vì mười một năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ ông tên Ha-mu-tan, con gái Giê-rê-mi, quê quán ở Líp-na.
JER 52:2 Xê-đê-kia làm điều ác trước mặt CHÚA, như Giê-hô-gia-kim đã làm.
JER 52:3 Những điều đó diễn ra ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đa vì CHÚA nổi thịnh nộ cùng họ. Cuối cùng Ngài ném họ ra khỏi mặt Ngài. Xê-đê-kia phản nghịch cùng vua Ba-by-lôn.
JER 52:4 Sau đó Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn kéo toàn quân đến Giê-ru-sa-lem. Chúng đóng quân và xây chiến lũy quanh thành để tấn công nó. Đó là ngày mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Xê-đê-kia.
JER 52:5 Thành bị vây hãm cho đến năm thứ mười một đời vua Xê-đê-kia.
JER 52:6 Đến ngày chín tháng tư, trong thành bị nạn đói khủng khiếp; không còn thực phẩm nữa.
JER 52:7 Rồi vách thành bị chọc thủng, toàn đạo quân Giu-đa thừa bóng đêm chạy trốn. Họ rời thành qua cổng nằm giữa hai vách gần vườn vua. Dù quân Ba-by-lôn đang vây thành, Xê-đê-kia và thuộc hạ chạy trốn về hướng thung lũng sông Giô-đanh.
JER 52:8 Nhưng đạo quân Ba-by-lôn đuổi theo vua Xê-đê-kia và bắt được ông ở đồng bằng Giê-ri-cô. Tất cả quân sĩ đều bỏ ông chạy tán loạn.
JER 52:9 Quân Ba-by-lôn bắt Xê-đê-kia giải đến vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-ba trong xứ Ha-mát. Rồi vua tuyên án Xê-đê-kia tại đó.
JER 52:10 Tại Ríp-la, Vua Ba-by-lôn giết các con trai vua Xê-đê-kia ngay trước mắt ông. Vua cũng giết tất cả các viên chức của Giu-đa.
JER 52:11 Rồi vua móc mắt Xê-đê-kia, lấy xiềng sắt xích ông lại và giải qua Ba-by-lôn. Vua nhốt Xê-đê-kia trong tù cho đến ngày ông qua đời.
JER 52:12 Nê-bu-xa-ra-đan, chỉ huy toán cận vệ và là tôi tớ của vua Ba-by-lôn kéo đến Giê-ru-sa-lem vào ngày mười tháng năm. Đó là vào năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.
JER 52:13 Nê-bu-xa-ra-đan phóng hỏa đền thờ CHÚA, đốt cung vua và tất cả mọi nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem; các dinh thự quan trọng đều bị thiêu đốt.
JER 52:14 Toàn đạo quân Ba-by-lôn dưới quyền chỉ huy của viên tư lệnh toán cận vệ đặc biệt của vua phá sập tất cả mọi thành lũy quanh Giê-ru-sa-lem.
JER 52:15 Nê-bu-xa-ra-đan, viên tư lệnh của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt làm tù binh một số người nghèo khổ nhất, những người còn sót lại Giê-ru-sa-lem, những kẻ đã ra đầu hàng vua Ba-by-lôn, và các thợ khéo còn lại tại Giê-ru-sa-lem.
JER 52:16 Nhưng ông chừa lại một số người nghèo khổ nhất trong xứ để chăm sóc vườn nho và đồng ruộng.
JER 52:17 Quân Ba-by-lôn đập nát các trụ đồng, đế đồng, và chậu đồng lớn còn gọi là cái Biển trong đền thờ CHÚA. Rồi họ mang các miếng đồng đó về Ba-by-lôn.
JER 52:18 Họ cũng mang các nồi, xẻng xúc, đồ hớt tim đèn, chén bát, dĩa, và các vật dụng bằng đồng dùng trong đền thờ.
JER 52:19 Viên tư lệnh của toán cận vệ đặc biệt của vua cũng mang đi các chén bát, chảo đựng than nóng, chậu lớn, nồi, chân đèn, chảo và các chén bát dùng trong của lễ uống. Ông cũng mang đi tất cả những gì làm bằng vàng hay bạc.
JER 52:20 Số lượng đồng quá nhiều đến nỗi không thể cân được: hai cây trụ, một chậu lớn bằng đồng gọi là cái Biển cùng với mười hai con bò đực đỡ bên dưới, các giá di động mà vua Sô-lô-môn đã làm cho đền thờ CHÚA.
JER 52:21 Mỗi một cây trụ cao chín thước, chu vi sáu thước, bên trong rỗng ruột. Bề dầy của mỗi trụ khoảng bảy phân.
JER 52:22 Chóp trụ của mỗi trụ cao khoảng một thước sáu. Phần nầy được trang trí bằng một màng lưới có các trái lựu đồng bao quanh. Trụ kia cũng có trái lựu và giống y như trụ thứ nhất.
JER 52:23 Có tất cả chín mươi sáu trái lựu bao quanh các trụ. Phía trên màng lưới có tất cả một trăm trái lựu.
JER 52:24 Viên chỉ huy của toán cận vệ đặc biệt của vua bắt Sê-rai-gia, thầy tế lễ cả, Xô-phô-ni, thầy tế lễ phụ tá và ba người giữ cửa.
JER 52:25 Ông cũng bắt mang đi khỏi thành phố viên sĩ quan lo về quân sĩ, bảy viên cố vấn vua, thư ký hoàng gia lo việc tuyển binh cho quân đội, và sáu mươi người nữa thuộc Giu-đa có mặt ở đó khi thành phố thất thủ.
JER 52:26 Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy bắt họ và giải đến trước vua Ba-by-lôn ở thành Ríp-la.
JER 52:27 Vua Ba-by-lôn giết họ và họ chết ở Ríp-la trong xứ Ha-mát. Vậy dân Giu-đa bị bắt làm tù binh và đày ra khỏi xứ mình.
JER 52:28 Sau đây là số tù binh Nê-bu-cát-nết-xa bắt mang đi: trong năm thứ bảy 3.023 người từ xứ Giu-đa.
JER 52:29 Năm thứ mười tám đời vua Nê-bu-cát-nết-xa: 832 người từ Giê-ru-sa-lem;
JER 52:30 trong năm thứ hai mươi ba đời Nê-bu-cát-nết-xa, Nê-bu-xa-ra-đan, viên chỉ huy toán cận vệ đặc biệt của vua bắt đi 745 người Do thái làm tù binh. Tổng cộng 4.600 người bị bắt làm tù binh.
JER 52:31 Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa bị giam trong ngục ở Ba-by-lôn suốt ba mươi bảy năm. Vào năm Ê-vinh Mê-rô-đác lên ngôi vua Ba-by-lôn thì ông thả Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa ra khỏi ngục. Ông trả tự do cho Giê-hô-gia-kin vào ngày hai mươi lăm tháng mười hai.
JER 52:32 Ê-vinh Mê-rô-đác lấy lời tử tế nói cùng Giê-hô-gia-kin và cho ông một chỗ danh dự cao hơn các vua khác có mặt tại đó với ông ở Ba-by-lôn.
JER 52:33 Nên Giê-hô-gia-kin cởi quần áo tù của mình ra và được ăn chung bàn vua suốt đời ông.
JER 52:34 Mỗi ngày vua Ba-by-lôn ban cho Giê-hô-gia-kin một phần lương thực. Giê-hô-gia-kin được hưởng trợ cấp như vậy cho đến ngày ông qua đời.
LAM 1:1 Giê-ru-sa-lem trước đây đông đảo dân cư, nhưng nay trở thành hoang vắng. Giê-ru-sa-lem xưa kia là một trong những thành phố lớn trên thế giới, nhưng nay nó chẳng khác nào đàn bà góa. Xưa kia nó là công chúa của các thành phố, nhưng nay nó chỉ là tôi mọi.
LAM 1:2 Ban đêm nó khóc than, nước mắt chảy đầm đìa xuống má. Chẳng ai an ủi nó; các người yêu nó không còn. Bạn bè đều phản nó trở thành thù nghịch nó.
LAM 1:3 Giu-đa đã bị bắt làm tù binh, nơi nó đang chịu lao khổ. Nó sống giữa các dân khác, nhưng không tìm được sự an nghỉ. Những kẻ đuổi theo đã bắt được nó đang khi nó gặp khốn đốn.
LAM 1:4 Đường sá dẫn đến Giê-ru-sa-lem rất quạnh hiu, vì không còn ai đến để dự lễ của nó. Chẳng thấy bóng ai qua lại các cổng nó. Các thầy tế lễ nó than vãn, Các gái tơ của nó đã bị bắt đi, khiến Giê-ru-sa-lem vô cùng sầu não.
LAM 1:5 Kẻ thù nó nay là chủ nhân ông nó. Chúng hưởng thụ những của cải cướp được. CHÚA đang trừng phạt nó vì tội nó. Con cái nó đã bị đày đi làm tù binh cho quân thù.
LAM 1:6 Vẻ đẹp của Giê-ru-sa-lem đã tan biến rồi. Các quan cai trị nó như nai tìm không ra cỏ. Chúng yếu ớt, không thể chạy thoát khỏi kẻ săn đuổi chúng.
LAM 1:7 Giê-ru-sa-lem chịu khốn khổ và không nhà cửa. Nó nhớ lại thời vàng son trước kia. Nay dân cư nó đã bị kẻ thù đánh bại, không ai cứu giúp nó. Khi kẻ thù nhìn thấy nó, liền nhạo cười vì nó điêu tàn rồi.
LAM 1:8 Giê-ru-sa-lem phạm tội quá lắm, nó không còn tinh sạch nữa. Những kẻ trước kia tôn trọng nó nay trở lại ghét bỏ nó, vì họ đã nhìn thấy sự trần truồng của nó. Nó than van và quay mặt đi.
LAM 1:9 Nó tự làm dơ bẩn vì tội lỗi mình và không biết số phận mình ra sao. Sự sụp đổ của nó thật đáng ngạc nhiên, không ai an ủi nó. Nó than, “CHÚA ôi, tôi đang đau khổ! Kẻ thù tôi đang thắng thế.”
LAM 1:10 Kẻ thù cướp lấy hết các của báu nó. Thậm chí nó nhìn thấy người ngoại quốc bước vào đền thờ mình. CHÚA đã cấm người ngoại quốc không bao giờ được bước chân vào nơi họp của dân Ngài.
LAM 1:11 Tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem than van, tìm kiếm thức ăn. Họ lấy những vật quí của mình đổi chác thức ăn để sống còn. Thành phố ấy nói, “Lạy CHÚA, xin hãy nhìn. Người ta ghét tôi.”
LAM 1:12 Giê-ru-sa-lem nói, “Các ngươi là kẻ qua lại trên đường mà không thèm để ý. Hãy đến nhìn tôi đây: Có ai chịu khốn khổ như tôi không? Có ai phải gánh chịu sự đau khổ mà Ngài đặt trên tôi không? Trong ngày thịnh nộ lớn của CHÚA, Ngài đã trừng phạt tôi.
LAM 1:13 Ngài sai lửa từ trời xuống, thiêu đốt xương cốt tôi. Ngài giăng lưới dưới chân tôi khiến tôi quay trở về. CHÚA khiến tôi buồn thảm và cô đơn đến nỗi tôi kiệt lực suốt ngày.
LAM 1:14 Ngài biết các tội lỗi tôi; tay Ngài bó chúng lại; chúng đeo quanh cổ tôi. Ngài biến sức lực tôi ra yếu ớt. Ngài trao tôi vào tay kẻ mạnh hơn tôi.
LAM 1:15 CHÚA đã gạt bỏ những người mạnh dạn trong vách thành tôi. Ngài đưa đạo quân đến chống nghịch tôi để tiêu diệt các trai tráng của tôi. CHÚA đã đè bẹp thủ đô của Giu-đa, như bàn ép rượu.
LAM 1:16 Tôi than van về những điều ấy; mắt tôi đẫm lệ. Nào ai gần gũi để an ủi tôi, chẳng ai phục hồi sức lực cho tôi. Con cái tôi như đất bỏ hoang, vì kẻ thù đã thắng thế.”
LAM 1:17 Giê-ru-sa-lem giơ tay ra, nhưng không ai an ủi nó. CHÚA đã truyền cho các kẻ thù của dân Gia-cốp vây hãm họ. Giê-ru-sa-lem hiện cũng ô dơ như những kẻ quanh mình.
LAM 1:18 Giê-ru-sa-lem nói, “CHÚA hành động rất đúng, nhưng tôi không vâng lời Ngài. Toàn dân, hãy nghe đây, hãy nhìn nỗi khốn khổ ta. Các thanh niên thiếu nữ ta đã bị bắt làm tù binh.
LAM 1:19 Ta kêu cứu cùng bạn ta, nhưng họ đều nghịch lại ta. Các thầy tế lễ và các bô lão ta đều đã chết trong thành trong lúc tìm thức ăn để sống còn.
LAM 1:20 Lạy Chúa, xin hãy nhìn tôi. Tôi lo lắng và vô cùng bối rối. Lòng tôi lo âu, vì tôi đã quá ngoan cố. Ngoài đường phố thì gươm giết; bên trong nhà thì chết chóc hoành hành.
LAM 1:21 Xin hãy nghe tiếng tôi than vãn, không ai an ủi tôi. Tất cả các kẻ thù tôi đều nghe biết sự khốn khổ tôi, chúng mừng rỡ vì Ngài đã làm điều ấy cho tôi. Ngài bảo rằng sẽ có thời kỳ trừng phạt, Ngài nói rằng Ngài sẽ trừng phạt kẻ thù tôi. Bây giờ xin hãy thực hiện lời CHÚA đã tuyên bố, rằng kẻ thù tôi sẽ gặp cảnh ngộ như tôi.
LAM 1:22 Xin hãy xem xét điều ác của chúng nó. Hãy làm cho chúng nó như Ngài đã làm cho tôi vì tội lỗi tôi. Tôi than vãn đi than vãn lại, lòng tôi đâm ra sợ hãi.”
LAM 2:1 Hãy xem Chúa đã làm nhục Giê-ru-sa-lem trong cơn thịnh nộ Ngài. Ngài đã ném sự cao trọng của Ít-ra-en từ trời xuống đất; Ngài không nhớ lại đền thờ là bệ chân Ngài nữa, trong ngày CHÚA nổi thịnh nộ.
LAM 2:2 Chúa đã tiêu diệt các nhà cửa của Gia-cốp, không thương tiếc; trong cơn giận, Ngài giật sập những nơi vững chắc của Giu-đa. Ngài ném quốc gia và các quan cai trị nó xuống đất để làm nhục nó.
LAM 2:3 Trong cơn giận Ngài đã phá hủy nhà cửa của Ít-ra-en, không chút thương tiếc. Trong cơn thịnh nộ Ngài ném nước Giu-đa và các lãnh tụ nó xuống đất.
LAM 2:4 Ngài nhắm cung tên như kẻ thù, tay Ngài nghịch lại chúng ta. Giống như kẻ thù, Ngài giết tất cả những trai tráng khoẻ mạnh; Ngài trút cơn giận ra như lửa đổ trên các lều trại của Giê-ru-sa-lem.
LAM 2:5 Chúa giống như kẻ thù; Ngài nuốt sống Ít-ra-en. Ngài tiêu diệt các cung điện nó và tiêu diệt các đồn lũy nó. Ngài gây ra thêm tiếng kêu than trong đất Giu-đa.
LAM 2:6 Ngài chặt đền thờ ra như mảnh vườn; Ngài dẹp phá nơi hội họp. CHÚA đã làm cho Giê-ru-sa-lem quên những ngày lễ định sẵn và ngày Sa-bát. Trong cơn thịnh nộ, Ngài gạt bỏ vua và thầy tế lễ.
LAM 2:7 Chúa cũng đã gạt bỏ bàn thờ và bỏ phế đền thờ Ngài. Ngài đã giao vách của các cung điện trong Giê-ru-sa-lem cho kẻ thù. Tiếng huyên náo trong đền thờ CHÚA nghe như tiếng liên hoan ăn mừng lễ lộc.
LAM 2:8 CHÚA dự định phá sập vách thành bao quanh Giê-ru-sa-lem. Ngài đã đo vách và nhất quyết phá sập nó. Ngài khiến các vách và hàng rào phòng thủ buồn thảm; tất cả đều ngã sập.
LAM 2:9 Các cổng thành Giê-ru-sa-lem sập xuống đất; Ngài đã tiêu diệt và bẻ gãy các thanh gài cổng nó. Vua và các hoàng tử nó lưu vong giữa các dân. Lời giáo huấn của CHÚA đã ngưng, và các tiên tri cũng không còn thấy dị tượng từ CHÚA nữa.
LAM 2:10 Các bô lão trong Giê-ru-sa-lem ngồi im lặng dưới đất. Họ phủ bụi trên đầu, và mặc quần áo bằng vải sô để chứng tỏ lòng buồn thảm. Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem đi cúi gầm mặt xuống đất rầu rĩ.
LAM 2:11 Mắt tôi không còn rơi lụy nữa, tôi đã ngấy lắm rồi. Tôi cảm thấy lòng trống rỗng, vì dân tôi đã bị tiêu diệt. Các trẻ thơ và hài nhi ngất xỉu trong đường phố.
LAM 2:12 Chúng hỏi mẹ chúng, “Cơm gạo và rượu đâu hả mẹ?” Chúng ngất xỉu như những binh sĩ bị thương trong các đường phố, rồi chết trong tay mẹ mình.
LAM 2:13 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta sẽ nói gì về ngươi? Ta sẽ so sánh ngươi với cái gì? Ngươi giống ai? Hỡi Giê-ru-sa-lem, làm sao ta an ủi ngươi được? Sự điêu tàn ngươi thật sâu hơn biển cả. Không ai chữa lành ngươi nổi.
LAM 2:14 Các nhà tiên tri ngươi đã thấy dị tượng, nhưng là dị tượng giả, không có giá trị gì. Các dị tượng đó không phơi bày tội lỗi ngươi, để giúp ngươi khỏi bị bắt. Mà chỉ là những điều giả dối hướng dẫn ngươi đi lầm lạc.
LAM 2:15 Ai đi qua lại trên đường đều vỗ tay trêu chọc ngươi; Chúng chế giễu Giê-ru-sa-lem và lắc đầu. Chúng hỏi nhau, “Đây có phải là nơi mà người ta gọi là thành phố đẹp nhất, nơi phúc hạnh nhất trên đất không?”
LAM 2:16 Tất cả các kẻ thù ngươi mở miệng chống nghịch ngươi. Chúng chế giễu và nghiến răng giận dữ. Chúng bảo, “Chúng ta đã nuốt sống ngươi. Đây là ngày chúng ta mong đợi! Rốt cuộc chúng ta thấy nó đã đến.”
LAM 2:17 CHÚA đã làm điều Ngài dự định; Ngài đã giữ lời hứa Ngài đã phán từ xưa. Ngài đã hủy phá không thương tiếc, Ngài đã để kẻ thù cười nhạo ngươi. Ngài thêm sức mạnh cho kẻ thù.
LAM 2:18 Dân chúng kêu la cùng CHÚA. Hỡi vách thành Giê-ru-sa-lem, Hãy để nước mắt ngươi chảy đầm đìa như sông cả ngày lẫn đêm. Đừng ngưng chảy cũng đừng cho mắt ngươi nghỉ ngơi.
LAM 2:19 Hãy đứng dậy, kêu la giữa đêm, ngay cả lúc màn đêm buông xuống. Hãy đổ lòng ra như nước mà khẩn cầu cùng CHÚA. Hãy giơ tay lên van xin Ngài cứu mạng sống con cái ngươi. Chúng đang ngất xỉu nơi mỗi góc phố vì đói.
LAM 2:20 Giê-ru-sa-lem nói, “Xin CHÚA hãy đoái nhìn, xem thử Ngài đã làm điều nầy cho ai. Mẹ ăn thịt con cái mình, tức những đứa bé mà chính mình chăm sóc. Các thầy tế lễ và nhà tiên tri bị giết trong đền thờ CHÚA.
LAM 2:21 Người trẻ và già đều nằm la liệt ngoài đường. Các thanh niên thiếu nữ của tôi đã bị gươm giết. Ngài giết chúng nó trong ngày CHÚA nổi giận; Ngài giết sạch không nương tay.
LAM 2:22 Ngài mang sự kinh hoàng vây tôi khắp bốn bên, giống như mời chúng đến dự tiệc. Không ai thoát khỏi hay sống sót trong ngày CHÚA nổi thịnh nộ. Kẻ thù tôi đã giết những kẻ tôi chăm sóc và nuôi nấng.”
LAM 3:1 Tôi là người đã nhìn thấy sự khốn khổ do cây roi thịnh nộ của CHÚA mang lại.
LAM 3:2 Ngài dẫn tôi vào bóng tối, không phải ánh sáng.
LAM 3:3 Ngài trở tay nghịch tôi, hết lần nầy đến lần khác, suốt ngày như vậy.
LAM 3:4 Ngài làm cho da thịt tôi mòn mỏi và bẻ gãy các xương cốt tôi.
LAM 3:5 Ngài lấy sự buồn thảm vây phủ tôi và lấy sầu não tấn công tôi.
LAM 3:6 Ngài khiến tôi ngồi trong bóng tối, giống như kẻ đã qua đời từ lâu.
LAM 3:7 Ngài nhốt tôi lại, không cho tôi thoát ra; lấy xiềng trói tôi lại.
LAM 3:8 Tôi kêu cứu, nhưng Ngài không đếm xỉa đến lời khẩn cầu tôi.
LAM 3:9 Ngài lấy vách đá chận đường tôi, khiến tôi đi lạc lối.
LAM 3:10 Ngài giống như con gấu sẵn sàng tấn công tôi, giống như sư tử rình rập.
LAM 3:11 Ngài dẫn tôi đi lạc rồi bỏ mặc tôi.
LAM 3:12 Ngài giương cung và chực bắn, dùng tôi làm đích cho các mũi tên Ngài.
LAM 3:13 Ngài bắn vào trái cật tôi bằng mũi tên trong bao Ngài.
LAM 3:14 Tôi trở thành trò cười cho dân tộc tôi, chúng ca hát chế giễu tôi suốt ngày.
LAM 3:15 CHÚA bắt tôi chịu khốn khổ trăm bề; Ngài cho tôi say sưa với đau khổ.
LAM 3:16 Ngài lấy sỏi bẻ gãy răng tôi và chà đạp tôi trong bụi đất.
LAM 3:17 Tôi không còn được an nghỉ nữa. Tôi không còn biết hạnh phúc là gì.
LAM 3:18 Tôi nói, “Sức mạnh tôi tiêu tan rồi, tôi không còn hi vọng gì nơi CHÚA nữa.”
LAM 3:19 Lạy CHÚA, xin hãy nhớ sự khốn khổ và cực nhọc của tôi, cùng sự buồn thảm và hoạn nạn tôi.
LAM 3:20 Xin hãy nhớ lại tôi và suy nghĩ đến tôi.
LAM 3:21 Nhưng tôi nuôi hi vọng khi tôi suy nghĩ về điều nầy:
LAM 3:22 Tình yêu CHÚA không bao giờ dứt; lòng nhân ái Ngài không hề ngưng.
LAM 3:23 Mỗi sáng chúng đều mới nguyên; Lạy CHÚA, sự thành tín Ngài rất lớn.
LAM 3:24 Tôi tự nhủ, “CHÚA thuộc về tôi, cho nên tôi tin cậy nơi Ngài.”
LAM 3:25 CHÚA rất nhân từ cùng những ai đặt hi vọng nơi Ngài, và những người tìm kiếm Ngài.
LAM 3:26 Nên im lặng chờ đợi CHÚA giải cứu.
LAM 3:27 Trong khi còn trẻ hãy cố gắng làm việc.
LAM 3:28 Hãy nên tịnh tâm và im lặng; CHÚA đã giao công việc cực nhọc cho người làm.
LAM 3:29 Người nên cúi xuống sát đất; vì may ra còn hi vọng.
LAM 3:30 Người nên để kẻ khác vả má mình; và nên biết liêm sỉ.
LAM 3:31 Đừng quên rằng CHÚA sẽ không vĩnh viễn gạt bỏ dân Ngài.
LAM 3:32 Dù Ngài mang sầu não đến, nhưng Ngài đầy lòng nhân ái và yêu thương lớn lao.
LAM 3:33 Ngài không thích trừng phạt con người hay khiến họ buồn rầu.
LAM 3:34 Ngài không muốn tù nhân nào trên đất bị đè bẹp;
LAM 3:35 Ngài cũng thấy kẻ bị đối xử bất công trước mặt Thượng Đế Tối Cao;
LAM 3:36 CHÚA nhìn thấy kẻ bị lường gạt trong vụ thưa kiện trước tòa.
LAM 3:37 Không ai có thể buông ra lời nào hay thực hiện nổi điều gì nếu CHÚA không cho phép.
LAM 3:38 Cả điều xấu lẫn điều tốt đều đến do mệnh lệnh của Thượng Đế Tối Cao.
LAM 3:39 Không ai nên phàn nàn khi bị trừng phạt vì tội lỗi mình.
LAM 3:40 Hãy tự xét mình xem đã làm gì và trở lại cùng CHÚA.
LAM 3:41 Chúng ta hãy giơ tay lên và cầu nguyện từ trong đáy lòng cùng Thượng Đế trên trời rằng:
LAM 3:42 Chúng tôi đã phạm tội và chống nghịch Ngài, và Ngài không tha thứ chúng tôi.
LAM 3:43 Ngài phủ mình bằng cơn giận và rượt đuổi chúng tôi; Ngài giết chúng tôi không thương xót.
LAM 3:44 Ngài phủ mình bằng đám mây, cho nên không có lời cầu nguyện nào thấu đến tai Ngài.
LAM 3:45 Ngài làm cho chúng tôi như cặn bã và rơm rác giữa các dân.
LAM 3:46 Tất cả các kẻ thù của chúng tôi mở miệng nói nghịch cùng chúng tôi.
LAM 3:47 Chúng tôi bị kinh hoàng và sợ sệt, bị điêu tàn và tiêu diệt.
LAM 3:48 Dòng lệ tuôn chảy từ mắt tôi, vì dân tôi đã bị tiêu diệt.
LAM 3:49 Nước mắt tôi hằng tuôn chảy, không ngưng,
LAM 3:50 cho đến khi CHÚA nhìn xuống và từ trời trông thấy.
LAM 3:51 Tôi buồn rầu khi nhìn thấy những việc xảy ra cho các phụ nữ trong thành tôi.
LAM 3:52 Những kẻ thù nghịch tôi vô cớ săn đuổi tôi như chim.
LAM 3:53 Chúng tìm cách giết tôi trong hố; chúng ném đá vào tôi.
LAM 3:54 Nước dâng lên ngập đầu tôi, và tôi thốt lên, “Tôi sắp chết rồi.”
LAM 3:55 Lạy CHÚA, tôi kêu cầu Ngài từ đáy hố.
LAM 3:56 Ngài nghe tôi kêu rằng, “Xin CHÚA đừng bịt tai và làm ngơ đối với lời nghẹn ngào và tiếng la hét tôi.”
LAM 3:57 Ngài đến gần khi tôi kêu; Ngài phán, “Đừng sợ.”
LAM 3:58 Lạy CHÚA, Ngài đã nhìn đến hoàn cảnh tôi và phục hồi sự sống cho tôi.
LAM 3:59 Lạy CHÚA, Ngài đã thấy tôi bị đối xử bất công ra sao. Xin hãy xét xử trường hợp tôi.
LAM 3:60 Ngài đã thấy kẻ nghịch tôi trả thù tôi và lập mưu ác chống tôi.
LAM 3:61 Lạy CHÚA, Ngài đã nghe lời sỉ nhục của chúng nó cùng những mưu ác chúng nghịch tôi.
LAM 3:62 Lời lẽ và ý tưởng của kẻ thù tôi luôn luôn chống nghịch tôi.
LAM 3:63 Kìa! Trong mọi điều chúng làm, chúng lấy bài ca chế giễu tôi.
LAM 3:64 Lạy CHÚA, xin hãy báo trả chúng nó về những điều chúng làm.
LAM 3:65 Xin hãy khiến chúng ngoan cố, và hãy nguyền rủa chúng.
LAM 3:66 Lạy CHÚA, xin đuổi theo chúng trong cơn giận Ngài, và diệt chúng khỏi dưới trời.
LAM 4:1 Hãy nhìn vàng đã mất vẻ bóng loáng, vàng ròng trở thành lu mờ! Các vật quí trong đền thờ đã bị phân tán ở mỗi góc phố.
LAM 4:2 Dân cư quí báu ở Giê-ru-sa-lem đáng giá hơn vàng, nhưng nay họ như bình đất sét do tay thợ gốm nặn ra.
LAM 4:3 Chó rừng còn biết cho con mình bú, nhưng dân ta hung dữ như chim đà điểu trong sa mạc.
LAM 4:4 Các trẻ thơ bị khát nước lưỡi chúng dính nơi vòm họng. Trẻ con đi xin bánh, nhưng chẳng ai cho.
LAM 4:5 Những kẻ trước đây ăn ngon nay chết đói nơi phố chợ. Những kẻ lớn lên ăn mặc sang trọng nay phải đi moi rác.
LAM 4:6 Dân ta đã bị trừng phạt nặng hơn Xô-đôm. Thành Xô-đôm bị tiêu hủy bất thần, không ai giơ tay ra cứu giúp.
LAM 4:7 Các nhà lãnh đạo của chúng ta tinh sạch hơn tuyết, và trắng hơn sữa. Thân thể họ đỏ hơn hồng ngọc; râu họ trông giống như bích ngọc.
LAM 4:8 Nhưng nay họ đen hơn than, không ai còn nhận ra họ ngoài đường nữa. Họ chỉ còn da bọc xương; khô queo như que củi.
LAM 4:9 Những kẻ bị giết trong chiến tranh còn may hơn những kẻ bị chết đói. Họ chết đói trong đau khổ, vì ruộng nương không sản xuất ra thực phẩm nữa.
LAM 4:10 Những người đàn bà nấu con cái mình. Chúng trở thành thức ăn khi dân ta bị tiêu diệt.
LAM 4:11 CHÚA đã đổ hết thịnh nộ Ngài; trút cơn giận lớn của Ngài ra. Ngài phóng hỏa Giê-ru-sa-lem, thiêu rụi nó đến tận nền.
LAM 4:12 Các vua trên đất và dân cư trên thế giới không tin rằng các kẻ thù nghịch có thể đặt chân vào cổng thành Giê-ru-sa-lem.
LAM 4:13 Điều đó xảy ra vì các nhà tiên tri phạm tội và các thầy tế lễ làm điều ác. Họ chém giết những người làm điều thiện trong thành.
LAM 4:14 Họ lang thang trong đường phố như thể bị mù lòa. Mình mẩy họ vấy máu, không ai dám đụng đến quần áo họ.
LAM 4:15 Dân chúng quát, “Hỡi những kẻ dơ bẩn, hãy đi chỗ khác!” “Đi nơi khác, đi đi! Đừng đụng đến chúng ta!” Vì thế họ chạy đi và lang thang. Thậm chí các dân khác cũng nói, “Không được ở đây.”
LAM 4:16 Chính CHÚA đã phân tán họ không còn lo cho họ nữa. Không ai tôn trọng các thầy tế lễ, hay kính nể các bô lão.
LAM 4:17 Ngoài ra, mắt chúng ta đã mòn mỏi, trông chờ vào một sự cứu giúp không bao giờ đến. Từ các vọng canh chúng ta trông chừng, mong có dân nào đến cứu chúng ta.
LAM 4:18 Các kẻ thù săn lùng chúng ta, nên chúng ta không thể đi trong đường phố. Kết cục của chúng ta đã gần kề. Thời gian của chúng ta hết rồi. Thời kỳ cuối cùng của chúng ta đã đến.
LAM 4:19 Những kẻ rượt đuổi chúng ta nhanh hơn chim ưng trên trời. Chúng đuổi chúng ta vào trong núi và phục kích chúng ta trong sa mạc.
LAM 4:20 Vua được CHÚA bổ nhiệm của chúng ta, tức hơi thở chúng ta, bị rơi vào bẫy của chúng. Chúng ta nói về vua ấy như sau, “Vua sẽ bảo vệ chúng ta, giữa các dân tộc.
LAM 4:21 Hỡi dân Ê-đôm và dân sống trong đất Út-xơ, hãy vui vẻ mừng rỡ, Chén thịnh nộ của Thượng Đế sẽ đến trên các ngươi; Rồi các ngươi sẽ say sưa và trần truồng.
LAM 4:22 Hỡi Giê-ru-sa-lem, sự trừng phạt ngươi đã xong rồi. Ngươi sẽ không bị bắt làm tù binh nữa. Nhưng CHÚA sẽ trừng phạt tội lỗi của ngươi, hỡi Ê-đôm; Ngài sẽ phơi bày điều ác ngươi ra.”
LAM 5:1 Lạy Chúa, xin hãy nhớ lại những điều chúng tôi đã gánh chịu. Xin hãy đoái nhìn sự sỉ nhục chúng tôi.
LAM 5:2 Xứ chúng tôi đã bị trao vào tay kẻ lạ; nhà cửa chúng tôi bị giao vào tay người ngoại quốc.
LAM 5:3 Chúng tôi như trẻ mồ côi không cha; mẹ chúng tôi như đàn bà góa.
LAM 5:4 Chúng tôi phải mua nước uống; phải trả tiền mua củi.
LAM 5:5 Những kẻ rượt đuổi chúng tôi muốn túm cổ chúng tôi. Chúng tôi mệt mỏi, không được nghỉ ngơi chút nào.
LAM 5:6 Chúng tôi lập ước với Ai-cập và với A-xy-ri để kiếm thức ăn.
LAM 5:7 Tổ tiên chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài, nhưng họ không còn nữa; nay chúng tôi phải chịu khổ vì tội lỗi họ.
LAM 5:8 Kẻ tôi mọi đã trở thành chủ nhân chúng tôi, không ai cứu tôi khỏi tay chúng.
LAM 5:9 Chúng tôi liều mạng để kiếm thức ăn; chúng tôi đối đầu với cái chết trong sa mạc.
LAM 5:10 Da thịt chúng tôi nóng như lò lửa; chúng tôi cháy vì chết đói.
LAM 5:11 Kẻ thù ngược đãi phụ nữ Giê-ru-sa-lem và các cô gái trong những thành phố Giu-đa.
LAM 5:12 Kẻ thù treo các quan trưởng chúng tôi trên cây. Chúng không kính nể các bô lão chúng tôi.
LAM 5:13 Chúng bắt các thanh niên chúng tôi xay bột bằng cối, còn các chàng trai ngã quỵ dưới các gánh củi nặng.
LAM 5:14 Các bô lão không còn ngồi nơi cửa thành; các thanh niên không còn ca hát nữa.
LAM 5:15 Lòng chúng tôi không còn niềm vui nào; điệu nhảy múa của chúng tôi trở thành buồn thảm.
LAM 5:16 Mão triều đã rơi khỏi đầu chúng tôi. Vì chúng tôi phạm tội nên hậu quả thật gớm ghê.
LAM 5:17 Vì lý do đó mà chúng tôi sợ hãi, mắt chúng tôi mờ.
LAM 5:18 Núi Xi-ôn hoang vắng, chỉ có chó rừng đi rông quanh nó.
LAM 5:19 Nhưng Lạy CHÚA, Ngài trị vì đời đời. Từ nay cho đến đời đời Ngài là Vua.
LAM 5:20 Sao Ngài quên chúng tôi lâu vậy? Ngài bỏ chúng tôi luôn sao?
LAM 5:21 Lạy CHÚA, xin hãy mang chúng tôi trở về cùng Ngài, thì chúng tôi sẽ trở về. Xin hãy làm cho chúng tôi được như ngày trước,
LAM 5:22 hay là Ngài đã từ bỏ chúng tôi đời đời rồi? Ngài vẫn còn giận dữ với chúng tôi sao?
EZE 1:1 Năm thứ ba mươi, ngày năm, tháng tư trong thời gian bị lưu đày, tôi đang ngồi bên mé sông Kê-ba ở giữa những người bị lưu đày thì trời mở ra, tôi thấy dị tượng về Thượng Đế.
EZE 1:2 Đó là vào ngày năm tháng tư, năm thứ năm sau khi vua Giê-hô-gia-kin bị lưu đày.
EZE 1:3 CHÚA phán cùng Ê-xê-chiên, thầy tế lễ, con Bu-xi trong xứ Ba-by-lôn bên bờ sông Kê-ba. Ông cảm biết quyền năng của CHÚA tại đó.
EZE 1:4 Khi nhìn thì tôi thấy một cơn bão thổi đến từ phương Bắc. Có một đám mây lớn xung quanh viền sáng có lửa lóe ra từ đám mây. Có vật gì giống như kim loại cháy đỏ nằm giữa đám lửa.
EZE 1:5 Bên trong đám mây có cái gì trông như bốn con thú, hình dạng giống như người ta,
EZE 1:6 nhưng mỗi con có bốn mặt và bốn cánh.
EZE 1:7 Các chân chúng nó thẳng đứng. Bàn chân chúng giống như móng bò và lóng lánh như đồng đánh bóng.
EZE 1:8 Ở dưới cánh các con thú có bàn tay người. Mỗi con thú đều có bốn mặt và bốn cánh,
EZE 1:9 các cánh chạm nhau. Khi các con thú đi thì không quay qua hướng nào cả mà cứ đi thẳng tới.
EZE 1:10 Mỗi con thú có bốn mặt: mặt người phía trước, mặt sư tử bên phải, và mặt bò đực bên trái. Mỗi con có một mặt giống như mặt chim ưng.
EZE 1:11 Mặt chúng giống như vậy. Cánh chúng nó xoè ra phía trên. Mỗi con có hai cánh tiếp xúc với một trong các con thú kia và hai cánh che thân.
EZE 1:12 Mỗi con đều đi thẳng trước mặt. Hễ nơi nào thần linh đi thì các con thú đi, không quay sang bên nào cả.
EZE 1:13 Các con thú giống như than cháy lửa đỏ hay đuốc sáng. Lửa loè tới lui giữa các con thú. Lửa đó rất sáng và có chớp lòe ra nữa.
EZE 1:14 Các con thú chạy đi chạy lại nhanh như tia chớp.
EZE 1:15 Khi tôi đang nhìn các con thú thì tôi thấy có một bánh xe trên đất bên cạnh các con thú có bốn mặt.
EZE 1:16 Các bánh xe và cách kiến trúc như sau: Chúng giống như bích ngọc lóng lánh. Bốn bánh xe đều giống nhau như bánh xe lồng trong bánh xe khác.
EZE 1:17 Khi di chuyển thì chúng đi theo một trong bốn hướng, không quay qua bên nào.
EZE 1:18 Viền của bánh xe rất cao, trông ghê sợ và xung quanh viền đều đầy những con mắt.
EZE 1:19 Khi các con thú di chuyển thì các bánh xe đi kề bên. Khi các con thú được nhấc lên khỏi đất thì các bánh xe cũng nhấc lên.
EZE 1:20 Nơi nào thần linh đi thì các con thú cũng đi. Các bánh xe đi kèm theo bên chúng vì thần của các con thú nằm trong các bánh xe.
EZE 1:21 Lúc các con thú di chuyển thì các bánh xe cũng lăn. Khi chúng dừng thì các bánh xe cũng dừng. Khi các con thú được nhấc lên khỏi đất thì các bánh xe cũng được nhấc lên kề bên chúng, vì thần của các con thú ở trong các bánh xe.
EZE 1:22 Phía trên đầu của các con thú có cái gì giống như cái vòm tròn lóng lánh như nước đá trông rất khủng khiếp.
EZE 1:23 Dưới cái vòm tròn thì các cánh của các con thú xoè ra thẳng với nhau. Mỗi con thú cũng có hai cánh che thân.
EZE 1:24 Tôi nghe tiếng cánh chúng giống như tiếng gầm của biển cả khi chúng vỗ cánh. Nghe giống như tiếng của Thượng Đế Toàn Năng, tiếng vang rền như tiếng của đạo quân ồn ào. Khi các con thú dừng lại thì các cánh rũ xuống.
EZE 1:25 Có tiếng từ vòm phía trên đầu các con thú. Khi các con thú dừng lại, thì các cánh rũ xuống.
EZE 1:26 Phía trên vòm có cái gì giống như cái ngai. Ngai đó như bích ngọc. Và trên ngai có ai giống như con người.
EZE 1:27 Rồi tôi nhận thấy từ hông trở lên hình dạng giống như kim loại cháy đỏ bên trong. Từ hông trở xuống giống như lửa, và xung quanh có ánh sáng bao phủ.
EZE 1:28 Ánh sáng chung quanh giống như cái mống trong mây vào một ngày mưa. Người giống như vinh quang của CHÚA. Khi thấy người thì tôi cúi sấp mặt xuống và nghe có tiếng phán.
EZE 2:1 Ngài phán cùng tôi, “Hỡi con người, hãy đứng thẳng lên để ta có thể nói chuyện với ngươi.”
EZE 2:2 Trong khi Ngài đang nói với tôi thì Thần Linh nhập vào tôi, khiến tôi đứng thẳng lên. Rồi tôi nghe tiếng CHÚA nói cùng tôi.
EZE 2:3 Ngài phán, “Hỡi con người, ta sai ngươi đến cùng dân Ít-ra-en. Dân đó đã chống nghịch ta và quay khỏi ta. Chúng và tổ tiên chúng đã phản loạn cùng ta cho đến ngày nay.
EZE 2:4 Ta sai ngươi đến cùng một thế hệ ương ngạnh, bất vâng phục. Ngươi sẽ nói cùng chúng, ‘Đây là lời phán của CHÚA, là Thượng Đế.’
EZE 2:5 Chúng có thể sẽ nghe hay không nghe ngươi vì chúng là một dân chống nghịch ta. Nhưng ít ra chúng cũng biết là có một nhà tiên tri ở giữa chúng.
EZE 2:6 Hỡi con người, ngươi chớ sợ chúng cũng như lời nói của chúng. Dù chúng giống như cành gai gốc quanh ngươi, dù cho ngươi cảm thấy như sống giữa các con bọ cạp, đừng sợ hãi. Đừng sợ lời chúng nói hay cái nhìn của chúng vì chúng là một dân chống nghịch ta.
EZE 2:7 Hãy thuật lại lời ta nói cùng chúng. Chúng có thể nghe hay không nghe vì chúng đã chống nghịch ta.
EZE 2:8 Nhưng ngươi, hỡi con người, hãy chú ý nghe lời ta phán cùng ngươi. Đừng chống nghịch ta như chúng nó. Hãy mở miệng ra và ăn nuốt điều ta sắp cho ngươi.”
EZE 2:9 Rồi tôi nhìn thì thấy có một bàn tay xoè ra cho tôi, trong đó có một cuộn giấy.
EZE 2:10 Người mở cuộn giấy trước mặt tôi. Trong đó có các bài ai ca, nhạc buồn, và những lời mô tả các điều khốn khổ ghi đầy từ mặt trước đến mặt sau.
EZE 3:1 Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Hỡi con người, hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuộn sách nầy. Rồi hãy đi ra nói cùng dân Ít-ra-en.”
EZE 3:2 Vậy tôi mở miệng và Ngài trao cho tôi cuộn sách để ăn.
EZE 3:3 Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, hãy ăn cuộn sách mà ta trao cho ngươi, cho thật đầy bụng. Vậy tôi ăn cuộn sách đó thì tôi thấy thật ngọt như mật ong trong miệng.”
EZE 3:4 Rồi Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, hãy đi đến cùng dân Ít-ra-en và thuật lại lời ta cho chúng.
EZE 3:5 Ta không sai ngươi đến cùng một dân nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu. Ngươi được sai đến cùng dân Ít-ra-en.
EZE 3:6 Ta không sai ngươi đến nhiều dân tộc nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu, chữ nghĩa ngươi không biết. Nếu ta sai ngươi đến các dân ấy, chắc chúng nó sẽ nghe ngươi.
EZE 3:7 Nhưng dân Ít-ra-en sẽ không chịu nghe ngươi vì chúng không chịu nghe ta. Thật vậy, tất cả dân Ít-ra-en đều ương ngạnh không vâng lời.
EZE 3:8 Thấy không, nay ta khiến ngươi trở nên ương ngạnh như chúng vậy.
EZE 3:9 Ta làm cho ngươi cứng như kim cương, cứng hơn đá. Đừng sợ cũng đừng kinh hãi chúng dù chúng là dân chống nghịch ta.”
EZE 3:10 Ngài cũng phán cùng tôi, “Hỡi con người, hãy tin mọi lời ta phán cùng ngươi, nghe cho thật cẩn thận.
EZE 3:11 Rồi hãy đi đến dân bị tù đày, tức dân tộc ngươi, bảo chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán thế nầy. Dù chúng nghe hay không, cứ bảo cho chúng biết.’”
EZE 3:12 Sau đó Thần Linh nhấc tôi lên, tôi nghe có tiếng vang động phía sau tôi và sự vinh hiển của CHÚA cất lên từ nơi ấy.
EZE 3:13 Tôi nghe tiếng đập cánh của các con thú và tiếng bánh xe chạy kế bên chúng. Đó là tiếng vang động.
EZE 3:14 Rồi thần linh nhấc tôi lên mang tôi đi. Tôi buồn bực trong lòng, rồi tôi cảm biết quyền lực lớn lao của CHÚA.
EZE 3:15 Tôi đi đến chỗ các tù binh bị đày của Giu-đa đang sống bên bờ sông Kê-ba ở Tên-A-bíp. Tôi ngồi ở đó với họ bảy ngày, trong lòng hoang mang.
EZE 3:16 Sau bảy ngày CHÚA lại phán cùng tôi như sau:
EZE 3:17 “Hỡi con người, nay ta đặt ngươi làm lính tuần canh cho Ít-ra-en. Hễ khi ngươi nghe lời nào từ miệng ta thì hãy cảnh cáo chúng nó.
EZE 3:18 Khi ta bảo kẻ ác rằng, ‘Ngươi chắc sẽ chết,’ thì ngươi phải cảnh cáo chúng để chúng sống. Còn nếu ngươi không cảnh cáo kẻ ác để chúng bỏ lối ác thì chúng sẽ chết trong tội lỗi mình nhưng ta sẽ bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của chúng.
EZE 3:19 Nhưng nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác mà chúng không từ bỏ điều ác hay lối ác của chúng thì chúng sẽ chết trong tội lỗi chúng nhưng ngươi cứu được mạng mình.
EZE 3:20 Ngoài ra, kẻ làm điều phải có thể lìa bỏ lẽ phải và làm điều ác. Nếu ta giáng điều chẳng lành đến cho chúng, chúng sẽ chết. Vì ngươi không cảnh cáo chúng, chúng sẽ chết trong tội lỗi mình, những điều lành mà chúng làm sẽ không được nhớ đến nữa. Nhưng ta bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của chúng.
EZE 3:21 Nhưng nếu ngươi đã cảnh cáo những người tốt ấy đừng phạm tội, rồi họ không phạm tội, thì họ được sống vì tin lời cảnh cáo của ngươi. Như thế ngươi sẽ cứu được mạng mình.”
EZE 3:22 Rồi tôi cảm biết quyền năng của CHÚA tại đó. Ngài phán cùng tôi, “Hãy đứng dậy đi ra thung lũng. Ta sẽ phán cùng ngươi ở đó.”
EZE 3:23 Vậy tôi đứng dậy đi ra đồng trống. Tôi thấy vinh quang CHÚA ở đó, giống như vinh quang tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt xuống đất.
EZE 3:24 Rồi Thần Linh nhập vào tôi, khiến tôi đứng lên. Ngài phán cùng tôi, “Hãy đi giam mình trong nhà ngươi.
EZE 3:25 Về phần ngươi, hỡi con người, họ sẽ lấy dây thừng trói ngươi lại để ngươi không có thể đi ra cùng chúng được.
EZE 3:26 Ngoài ra ta sẽ khiến cho lưỡi ngươi dính nơi vòm họng để ngươi không nói được. Ngươi sẽ không thể biện bác với chúng, mặc dù chúng chống nghịch ta.
EZE 3:27 Nhưng khi ta phán cùng ngươi, ta sẽ mở miệng ngươi ra, rồi ngươi sẽ bảo chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán thế nầy.’ Ai muốn nghe thì nghe. Ai không nghe thì mặc kệ vì chúng là dân chống nghịch ta.”
EZE 4:1 “Bây giờ, hỡi con người, hãy lấy một viên gạch đặt trước mặt ngươi và vẽ bản đồ Giê-ru-sa-lem lên đó.
EZE 4:2 Rồi dùng một đạo quân vây nó. Hãy xây hào lũy chống nó và đắp một con đường đất lên đến chóp vách thành. Hãy dựng trại quân quanh nó và đặt các khúc cây phá vách để phá sập các vách nó.
EZE 4:3 Rồi ngươi hãy lấy một miếng sắt dựng đứng lên như một vách giữa ngươi và thành. Hãy quay mặt ngươi về hướng thành phố làm như thể sắp tấn công xong rồi tấn công thật. Đó sẽ là dấu hiệu cho dân Ít-ra-en.
EZE 4:4 Rồi hãy nằm nghiêng bên trái và chất tội lỗi Ít-ra-en trên mình. Ngươi nằm bao lâu thì sẽ mang tội của chúng trên mình ngươi bấy lâu.
EZE 4:5 Ta ban cho ngươi số ngày bằng với số năm phạm tội của dân chúng. Vậy ngươi sẽ mang tội lỗi của Ít-ra-en trong 390 ngày.
EZE 4:6 Mãn 390 ngày thì hãy nằm xuống nghiêng bên phải. Ngươi sẽ mang tội lỗi của Giu-đa. Ta sẽ cho ngươi 40 ngày, mỗi ngày bằng một năm cho tội lỗi chúng.
EZE 4:7 Rồi ngươi sẽ hướng về Giê-ru-sa-lem là thành đang bị tấn công. Ngươi sẽ để trần tay áo và nói tiên tri nghịch cùng Giê-ru-sa-lem.
EZE 4:8 Ta sẽ buộc dây thừng quanh ngươi để ngươi không quay sang phía kia được cho đến khi ngươi đã hoàn tất xong số ngày ngươi tấn công Giê-ru-sa-lem.
EZE 4:9 Hãy lấy lúa mì, lúa mạch, đậu trái, đậu hột, và lúa đại mạch bỏ trong cối giã thành bột làm bánh mì cho ngươi. Ngươi sẽ ăn như thế trong ba trăm chín mươi ngày tức là thời gian mà ngươi phải nằm nghiêng một bên.
EZE 4:10 Ngươi sẽ ăn nửa cân thực phẩm mỗi ngày theo giờ định sẵn.
EZE 4:11 Ngươi sẽ uống khoảng nửa lít nước mỗi ngày vào giờ định sẵn.
EZE 4:12 Ăn thức đó như ăn bánh lúa mạch, nướng trên phân người để cho dân chúng đều thấy.”
EZE 4:13 Rồi CHÚA bảo, “Cũng vậy, dân Ít-ra-en sẽ ăn thức ăn không tinh sạch giữa các dân tức những nơi ta đày chúng đến.”
EZE 4:14 Nhưng tôi phản đối, “Không được, thưa CHÚA! Tôi chưa bao giờ tự làm cho mình ô dơ. Từ lúc tôi còn trẻ đến nay tôi chưa hề ăn món gì chết tự nhiên hay bị thú xé. Chưa hề có món ăn nào không sạch vào miệng tôi.”
EZE 4:15 CHÚA đáp, “Thôi được. Ta cho phép ngươi dùng phân bò thay vì phân người để làm lửa nướng bánh.”
EZE 4:16 Ngài cũng bảo tôi, “Hỡi con người, ta sẽ cắt đứt nguồn thực phẩm của Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ ăn bánh mì được người ta lường cho và sẽ vừa ăn vừa lo lắng. Chúng cũng sẽ lường nước mà uống và sẽ kinh hoàng khi uống.
EZE 4:17 Vì bánh và nước sẽ rất hiếm hoi. Dân chúng sẽ kinh hoàng khi nhìn nhau và sẽ trở nên yếu ớt vì tội lỗi mình.”
EZE 5:1 “Bây giờ, hỡi con người, hãy lấy một lưỡi gươm bén và dùng nó như lưỡi dao cạo của thợ hớt tóc cạo đầu và râu ngươi. Rồi lấy cân mà cân chúng và chia tóc ra.
EZE 5:2 Hãy đốt một phần ba tóc ở giữa thành sau khi những ngày tấn công Giê-ru-sa-lem kết thúc. Rồi lấy dao cắt một phần ba còn lại quanh thành. Và rải một phần ba theo gió. Ta sẽ dùng gươm đuổi theo chúng như thế.
EZE 5:3 Ngoài ra lấy một vài sợi tóc buộc trong chéo áo ngươi.
EZE 5:4 Lấy một vài sợi, ném vào lửa, đốt cháy. Từ đó lửa sẽ lan ra khắp nhà Ít-ra-en.”
EZE 5:5 CHÚA phán như sau: “Đây là Giê-ru-sa-lem. Ta đã đặt nó ở giữa các dân, xung quanh có các nước khác.
EZE 5:6 Nhưng nó đã không vâng giữ luật lệ ta và làm ác hơn các dân tộc khác. Nó không vâng theo các qui tắc ta, còn tệ hơn các dân tộc quanh nó. Dân cư Giê-ru-sa-lem đã gạt bỏ các luật lệ ta, không sống theo các qui tắc ta.
EZE 5:7 Vì thế CHÚA là Thượng Đế phán: Ta làm như thế nầy vì ngươi đã không vâng giữ qui tắc và luật lệ ta. Ngươi cũng không tuân theo luật lệ của các dân tộc quanh ngươi.
EZE 5:8 Vì thế CHÚA là Thượng Đế phán: Chính ta sẽ nghịch lại ngươi và sẽ trừng phạt ngươi trước mắt các dân tộc khác.
EZE 5:9 Ta sẽ làm cho các ngươi những điều mà ta chưa hề làm bao giờ và cũng sẽ không bao giờ làm nữa vì ngươi đã làm những điều ta ghét.
EZE 5:10 Cha mẹ sẽ ăn thịt con cái, và con cái sẽ ăn thịt cha mẹ. Ta sẽ trừng phạt ngươi và phân tán những kẻ còn sống sót khắp tứ phương.
EZE 5:11 CHÚA là Thượng Đế phán: Ngươi đã dùng những thần tượng gian ác và các hành vi gớm ghiếc làm ô dơ đền thờ ta. Cho nên ta nhân danh ta là Đấng hằng sống rằng ta sẽ tiêu diệt ngươi, không thương tiếc.
EZE 5:12 Một phần ba trong các ngươi sẽ chết vì dịch lệ hay chết đói bên trong vách thành ngươi. Một phần ba sẽ ngã chết vì gươm bên ngoài vách thành và một phần ba sẽ bị ta phân tán khắp tứ phương khi ta dùng gươm rượt đuổi.
EZE 5:13 Rồi ta sẽ nguôi giận. Ta sẽ trút đổ hết cơn giận ta, lúc đó ta mới mãn nguyện. Rồi chúng sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã phán những điều đó. Sau khi ta trút cơn giận ta trên chúng thì chúng sẽ biết ta tức giận đến mức nào.
EZE 5:14 Ta sẽ khiến ngươi bị tàn hại và trở thành một điều sỉ nhục giữa các dân quanh ngươi để cho ai nấy qua lại đều thấy.
EZE 5:15 Các dân tộc quanh ngươi sẽ sỉ nhục và chế giễu ngươi. Ngươi sẽ là một lời cảnh cáo khiến chúng kinh hoàng. Việc đó sẽ xảy ra khi ta đổ cơn thịnh nộ và trừng phạt ngươi. Ta, CHÚA, đã phán.
EZE 5:16 Ta sẽ sai thời kỳ đói kém đến để tiêu diệt ngươi, rồi ta sẽ bắn mũi tên đói kém bằng cách cắt đứt nguồn thực phẩm của ngươi.
EZE 5:17 Ta sẽ sai thời kỳ đói kém và thú dữ đến cùng ngươi, chúng sẽ giết các con cái ngươi. Dịch lệ và chết chóc sẽ càn quét ngươi và ta sẽ mang gươm giáo đến giết ngươi. Ta, CHÚA đã phán như vậy.”
EZE 6:1 CHÚA lại phán cùng tôi rằng:
EZE 6:2 “Hỡi con người, hãy nhìn về các núi non Ít-ra-en và nói tiên tri nghịch cùng chúng.
EZE 6:3 Hãy nói, Hỡi các núi non Ít-ra-en, hãy nghe lời CHÚA phán. CHÚA là Thượng Đế phán cùng các núi, đồi, hố sâu, và thung lũng rằng: Ta sẽ sai gươm đến cùng ngươi, ta sẽ hủy phá những nơi thờ tà thần của ngươi.
EZE 6:4 Các bàn thờ ngươi sẽ bị tiêu diệt và các bàn thờ dâng hương của ngươi sẽ bị phá sập. Dân chúng ngươi sẽ bị giết trước mặt các hình tượng ngươi.
EZE 6:5 Ta sẽ phơi bày những xác chết của dân Ít-ra-en trước mặt các thần tượng chúng và sẽ rải xương cốt ngươi quanh các bàn thờ ngươi.
EZE 6:6 Trong tất cả những nơi ngươi ở, các thành phố sẽ bị bỏ hoang. Các nơi thờ thần tượng sẽ bị điêu tàn; các bàn thờ ngươi sẽ thành đống gạch vụn trơ trọi. Các thần tượng ngươi sẽ bị phá sập không còn gì. Các bàn thờ xông hương ngươi sẽ bị phá sập, và những gì ngươi làm sẽ bị tiêu hủy.
EZE 6:7 Dân chúng ngươi sẽ bị giết và ngã chết ở giữa ngươi. Rồi ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 6:8 Nhưng ta sẽ chừa lại một số người sống sót; một số sẽ không bị các dân khác giết khi ngươi bị phân tán giữa các xứ ngoại quốc.
EZE 6:9 Rồi những kẻ sống sót sẽ nhớ lại ta, khi chúng sống giữa các dân mà chúng bị làm tù binh. Chúng sẽ nhớ lại ta đau lòng ra sao khi chúng bất trung với ta và quay lưng khỏi ta mà chỉ muốn thờ lạy các thần tượng mình. Chúng sẽ tự ghét mình vì đã làm những điều ta ghét.
EZE 6:10 Rồi chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA. Không phải ta chỉ dọa suông khi ta bảo rằng ta sẽ mang những thảm họa nầy đến trên chúng.
EZE 6:11 CHÚA phán như sau: ‘Hãy vỗ tay, dậm chân, và rên rỉ vì những điều gớm ghiếc và gian ác mà dân Ít-ra-en đã làm. Chúng sẽ chết vì chiến tranh, đói kém, và bệnh tật.
EZE 6:12 Người ở xa sẽ chết vì bệnh tật. Kẻ ở gần sẽ chết vì chiến tranh. Ai còn sống sót, thoát khỏi các điều đó sẽ chết vì đói kém. Ta sẽ trút cơn giận ta trên chúng như vậy.
EZE 6:13 Dân nó sẽ chết la liệt ở giữa các thần tượng và quanh các bàn thờ chúng, trên các đồi cao, các đỉnh núi, dưới mỗi cây xanh, và cây sồi rậm lá tất cả những nơi chúng đã dâng hương cho thần tượng mình. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 6:14 Ta sẽ dùng quyền năng ta mà nghịch lại chúng để biến xứ nầy ra hoang vu hơn sa mạc Đíp-la, hay bất cứ nơi nào chúng sống. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 7:1 CHÚA lại phán cùng tôi rằng:
EZE 7:2 “Hỡi con người, CHÚA là Thượng Đế phán như sau về xứ Ít-ra-en: Xong rồi! Cuối cùng đã đến khắp bốn phía.
EZE 7:3 Bây giờ cuối cùng đã đến trên ngươi! Ta sẽ tỏ ra cơn thịnh nộ ta. Ta sẽ xử phạt ngươi vì điều ác ngươi làm, và ta sẽ khiến ngươi trả giá về những điều kinh khủng mà ngươi làm.
EZE 7:4 Ta sẽ không thương hại hoặc tội nghiệp ngươi; Ta sẽ xử phạt ngươi vì điều ác ngươi làm. Ngươi đã làm những điều kinh khủng. Rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 7:5 CHÚA là Thượng Đế phán: “Thảm họa nầy chồng lên thảm họa khác.
EZE 7:6 Cuối cùng đã đến! Cuối cùng đã đến! Nó đã nổi lên nghịch ngươi! Kìa, nó đến rồi!
EZE 7:7 Thảm họa đến trên các ngươi là những kẻ sống trong xứ! Thời điểm đã đến; ngày hỗn loạn đã gần kề. Sẽ không còn có tiếng reo vui trên núi.
EZE 7:8 Ta sắp trút cơn thịnh nộ ta trên ngươi; ta sẽ trút cơn giận ta nghịch cùng ngươi. Ta sẽ xử phạt ngươi theo lối sống ngươi và khiến ngươi trả giá cho các việc ngươi làm mà ta ghét.
EZE 7:9 Ta sẽ không thương tiếc, không kiềm hãm sự trừng phạt ta. Ta sẽ trả cho ngươi theo lối sống ngươi và những hành động ngươi làm mà ta ghét. Rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA, Đấng trừng phạt.
EZE 7:10 Nầy, ngày đó đến rồi. Nó đến rồi. Thảm họa đã đến, sự bạo tàn đã nẩy nở, và sự kiêu căng nhiều hơn bao giờ hết.
EZE 7:11 Sự bạo tàn đã biến thành cái roi độc ác. Không ai trong dân chúng sống sót, sẽ không còn ai trong đám quần chúng đông đảo, không còn của cải, không còn vật có giá trị gì.
EZE 7:12 Thời giờ đã đến; ngày đã đến. Kẻ bán không nên vui, người mua cũng không nên tiếc vì cơn giận phừng của ta nghịch cùng toàn dân.
EZE 7:13 Những người đã bán tài sản sẽ không trở về đất mà họ đã bán trong khi họ còn sống vì viễn tượng nghịch dân chúng sẽ không thay đổi. Vì tội lỗi chúng, sẽ không một ai có thể bảo toàn mạng sống mình được.
EZE 7:14 Chúng đã thổi kèn, mọi việc đều sẵn sàng nhưng không ai ra trận vì cơn giận ta nghịch cùng toàn dân.
EZE 7:15 Gươm giáo bên ngoài, bệnh tật và đói kém bên trong. Ai ở ngoài đồng sẽ bị gươm giết. Ai ở trong thành sẽ bị tiêu diệt vì đói kém và dịch lệ.
EZE 7:16 Ai còn sống sót hay thoát được lên núi sẽ rên rỉ về tội lỗi mình như cu đất trong thung lũng.
EZE 7:17 Mọi tay đều run rẩy, mọi đầu gối đều bủn rủn như nước.
EZE 7:18 Chúng sẽ mặc áo quần bằng vải sô để tỏ sự buồn rầu. Chúng sẽ run rẩy vì sợ. Nét mặt chúng sẽ tỏ ra sự nhục nhã, và mọi đầu đều cạo trọc.
EZE 7:19 Dân chúng sẽ ném bạc ngoài đường phố, và vàng của chúng sẽ như rơm rác. Bạc và vàng của chúng sẽ không thể cứu chúng khỏi cơn thịnh nộ của CHÚA. Nó sẽ không làm cho chúng khỏi đói hay làm cho no bụng, vì nó sẽ khiến chúng rơi vào tội lỗi.
EZE 7:20 Chúng hãnh diện về những đồ trang sức đẹp đẽ của mình, dùng nó để tạc các thần và các tượng chạm độc ác mà ta ghét cho nên ta sẽ biến của cải chúng nó ra rơm rác.
EZE 7:21 Ta sẽ ban nó cho những dân ngoại quốc làm chiến lợi phẩm và cho những kẻ độc ác nhất trên thế giới làm của báu và chúng sẽ xem thường nó.
EZE 7:22 Ta cũng sẽ quay mặt khỏi dân Ít-ra-en, và chúng sẽ làm dơ bẩn kho báu của ta. Rồi bọn trộm cướp sẽ xông vào đất ta và giày xéo nó.
EZE 7:23 Hãy chuẩn bị xiềng cho tù binh vì xứ đầy dẫy tội ác đổ máu và thành đầy những vụ bạo động.
EZE 7:24 Cho nên ta sẽ mang những kẻ xấu xa nhất của các quốc gia đến để chiếm đoạt nhà cửa của dân chúng. Ta cũng sẽ dẹp sự tự phụ của kẻ mạnh bạo, còn các nơi thánh của nó sẽ bị sỉ nhục.
EZE 7:25 Khi dân chúng đang lâm khốn khổ thì họ sẽ tìm hòa bình, nhưng chẳng thấy đâu.
EZE 7:26 Thảm họa chồng lên thảm họa, tiếng đồn nầy thêm vào tin đồn khác. Rồi họ sẽ tìm sự hiện thấy từ nhà tiên tri; còn những lời dạy dỗ của Thượng Đế qua thầy tế lễ và lời khuyên bảo của các bô lão cũng không thấy đâu.
EZE 7:27 Vua sẽ khóc lóc cay đắng, quan trưởng tuyệt vọng, và tay chân của thường dân sẽ run rẩy vì sợ. Ta sẽ trừng phạt chúng vì lối sống của chúng. Ta sẽ phân xử chúng giống như cách chúng phân xử người khác. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 8:1 Ngày năm, tháng sáu, năm thứ sáu của thời kỳ chúng tôi bị lưu đày, tôi đang ngồi trong nhà có các bô lão Giu-đa khác đang ngồi trước mặt tôi thì tôi cảm biết quyền năng của Chúa là Thượng Đế.
EZE 8:2 Tôi thấy có vật gì giống thân người. Từ hông trở xuống giống như lửa, từ hông trở lên sáng như sắt nung đỏ.
EZE 8:3 Nó giơ ra vật gì giống như bàn tay và nắm lấy tóc tôi. Thần Linh nhấc bổng tôi lên giữa trời và đất. Qua sự hiện thấy của Thượng Đế, người đưa tôi đến Giê-ru-sa-lem, vào cổng phía Bắc nơi sân trong của đền thờ. Trong sân đó có một hình tượng khiến Thượng Đế ganh tức.
EZE 8:4 Tôi thấy vinh quang của Thượng Đế của Ít-ra-en ở đó giống như tôi đã thấy trong đồng trống.
EZE 8:5 Rồi người bảo tôi, “Hỡi con người, bây giờ hãy nhìn về phía Bắc.” Cho nên tôi nhìn về phía Bắc và nơi cổng Bắc của bàn thờ có một pho tượng khiến Thượng Đế ganh tức.
EZE 8:6 Người hỏi tôi, “Hỡi con người, ngươi có thấy chúng đang làm gì không? Ngươi có thấy bao nhiêu điều gớm ghiếc mà dân Ít-ra-en đang làm ở đây để xua đuổi ta đi xa khỏi đền thờ ta không? Nhưng ngươi sẽ còn thấy nhiều điều gớm ghiếc hơn thế nầy nữa.”
EZE 8:7 Rồi người mang tôi vào nơi lối vào của sân. Tôi nhìn thì thấy một lỗ hổng nơi vách.
EZE 8:8 Người bảo tôi, “Nầy con người, hãy đào qua vách.” Vậy tôi đào qua vách thì thấy một lỗ trống.
EZE 8:9 Người tiếp, “Hãy đi vào xem những điều gớm ghiếc mà chúng đang làm ở đây.”
EZE 8:10 Vậy tôi đi vào và nhìn thì thấy đủ loài bò sát và súc vật gớm ghiếc cùng mọi hình tượng của dân Ít-ra-en khắc tứ phía trên vách.
EZE 8:11 Đứng trước mặt các hình khắc và thần tượng đó là bảy mươi bô lão của Ít-ra-en cùng với Gia-a-xa-nia, con Sa-phan. Mỗi người cầm lư hương trong tay và khói thơm của trầm hương bay tỏa lên nghi ngút.
EZE 8:12 Rồi người bảo tôi, “Con người, ngươi thấy các bô lão Ít-ra-en đã làm gì trong bóng tối chưa? Ngươi có thấy mỗi người ở trong phòng riêng với thần tượng mình không? Chúng nói, ‘CHÚA không thấy chúng ta. CHÚA đã lìa bỏ xứ này rồi.’”
EZE 8:13 Người cũng bảo tôi, “Ngươi sẽ còn thấy nhiều điều gớm ghiếc hơn những điều chúng đang làm nữa.”
EZE 8:14 Rồi người mang tôi vào cổng Bắc của đền thờ CHÚA, ở đó tôi thấy các người đàn bà ngồi than khóc cho Tam-mu.
EZE 8:15 Người bảo tôi, “Hỡi con người, ngươi có thấy không? Ngươi sẽ còn thấy nhiều điều gớm ghiếc hơn thế nầy nữa.”
EZE 8:16 Rồi người mang tôi vào sân trong của đền thờ. Ở đó tôi thấy khoảng hai mươi lăm người đàn ông đang ngồi nơi cửa vào đền thờ CHÚA, ở giữa vòm cung và bàn thờ. Họ xây lưng vào đền thờ, mặt hướng về phía Đông và đang bái lạy mặt trời phía Đông.
EZE 8:17 Người hỏi tôi, “Hỡi con người, ngươi thấy chưa? Những điều gớm ghiếc mà dân Giu-đa đang làm so với điều chúng làm ở đây mà không quan trọng sao? Chúng làm cho xứ tràn ngập cảnh bạo động và cứ chọc giận ta. Xem đó, chúng tìm mọi cách để chọc giận ta.
EZE 8:18 Cho nên ta sẽ ra tay trong cơn thịnh nộ ta. Ta sẽ không thương tiếc. Cho dù chúng la lớn trước mặt ta, ta cũng chẳng thèm để ý.”
EZE 9:1 Rồi người hét vào lỗ tai tôi, “Hỡi các ngươi là người đã được chọn để trừng phạt thành nầy, hãy mang vũ khí đến gần đây.”
EZE 9:2 Liền có sáu người từ phía cổng trên, hướng về phía Bắc đi đến, tay mỗi người cầm vũ khí bén nhọn. Trong đám họ có một người mặc áo quần bằng vải gai mịn, bên hông đeo bộ bảng viết. Các người đó vào và đứng bên cạnh bàn thờ bằng đồng.
EZE 9:3 Rồi vinh quang của Thượng Đế Ít-ra-en cất lên phía trên các con thú có cánh, đến chỗ trong đền thờ nơi cửa mở ra. Người gọi người mặc áo quần bằng vải gai mịn có bộ bảng viết bên hông.
EZE 9:4 Người bảo người đó, “Hãy đi qua Giê-ru-sa-lem và đánh dấu lên trán những người đã than khóc về những điều gớm ghiếc đang diễn ra giữa chúng.”
EZE 9:5 Khi tôi đang nghe thì người bảo các người kia, “Hãy đi qua khắp thành sau lưng người mặc áo quần bằng vải gai mịn và chém giết. Đừng tội nghiệp hay thương hại ai cả.
EZE 9:6 Hãy giết và tiêu diệt ông già, bà cả, thanh niên, thiếu nữ, trẻ con, nhưng đừng đụng đến ai có dấu trên trán. Hãy bắt đầu từ đền thờ ta.” Vậy họ bắt đầu từ các bô lão đang đứng trước mặt đền thờ.
EZE 9:7 Rồi người bảo các người đó, “Hãy làm ô uế đền thờ và chất các xác chết đầy sân. Hãy ra đi!” Vậy họ ra đi và sát hại dân chúng trong thành.
EZE 9:8 Trong khi họ đang chém giết dân chúng thì tôi còn lại một mình. Tôi cúi sấp mặt xuống đất và kêu lên, “Ôi, CHÚA là Thượng Đế ôi! Ngài sẽ tiêu diệt hết mọi người còn sống sót trong Ít-ra-en khi Ngài đổ cơn thịnh nộ mình trên Giê-ru-sa-lem sao?”
EZE 9:9 Rồi người bảo tôi, “Tội lỗi của dân Ít-ra-en và Giu-đa lớn lắm. Đất đầy dẫy bọn sát nhân, thành đầy dẫy việc bất công. Dân chúng nói, ‘CHÚA đã lìa khỏi xứ nầy rồi, Ngài không còn thấy gì nữa cả.’
EZE 9:10 Nhưng ta sẽ không thương tiếc, không tỏ lòng tội nghiệp. Ta sẽ báo trả điều ác lên trên đầu chúng.”
EZE 9:11 Rồi người mặc quần áo bằng vải gai mịn có đeo bộ bảng viết bên hông báo cáo, “Tôi đã thi hành xong mệnh lệnh của ông.”
EZE 10:1 Rồi tôi nhìn thì thấy có một cái vòm trên đầu các con thú giống như bích ngọc tựa như một cái ngai.
EZE 10:2 CHÚA phán cùng người đang mặc áo vải gai mịn rằng, “Hãy đi đến khu giữa các bánh xe dưới các con thú, bụm tay đầy than lửa giữa các con thú và rải than lên khắp thành.” Trong khi tôi nhìn thì người mặc áo vải gai mịn đi vào.
EZE 10:3 Bấy giờ các con thú đang đứng ở phía Nam của thành khi người đó bước vào. Có một đám mây bao phủ sân trong của đền thờ.
EZE 10:4 Rồi vinh quang của CHÚA cất lên từ các con thú và dừng trên cửa đền thờ. Đền thờ đầy mây, còn sân cũng sáng rực vinh quang của CHÚA.
EZE 10:5 Tiếng đập cánh của các con thú vang xa tận bên sân ngoài. Âm thanh ấy giống như tiếng phán của Thượng Đế Toàn Năng.
EZE 10:6 Rồi CHÚA truyền cho người mặc áo gai mịn như sau, “Hãy lấy lửa từ giữa các bánh xe, giữa các con thú,” thì người đó đi vào đứng bên một trong các bánh xe.
EZE 10:7 Một con thú thò tay ra trên lửa ở giữa các con thú, lấy một ít và trao cho người mặc áo vải gai mịn. Người đó lấy lửa xong rồi đi ra.
EZE 10:8 Bên dưới cánh của các con thú có vật gì giống cánh tay người thò ra.
EZE 10:9 Tôi thấy bốn bánh xe bên cạnh các con thú, mỗi bánh bên cạnh mỗi con thú. Bánh xe sáng chói như hoàng ngọc.
EZE 10:10 Bốn bánh xe đều giống nhau: Mỗi bánh giống như bánh lồng vào trong bánh khác.
EZE 10:11 Khi các bánh xe di chuyển thì chúng đi theo hướng mà bốn con thú quay mặt. Các bánh xe không quay qua quay lại, và bốn con thú khi di chuyển cũng không quay mình.
EZE 10:12 Toàn thân, lưng, tay, cánh và các bánh xe đều đầy con mắt. Mỗi con thú có một bánh xe.
EZE 10:13 Tôi nghe các bánh xe đó gọi là “bánh xe quay tít.”
EZE 10:14 Mỗi con thú có bốn mặt. Mặt đầu tiên là mặt con thú có cánh. Mặt thứ nhì là mặt người, mặt thứ ba là mặt sư tử, và mặt thứ tư là mặt chim ưng.
EZE 10:15 Rồi các con thú bay lên. Đó chính là các con thú mà tôi thấy bên bờ sông Kê-ba.
EZE 10:16 Khi các con thú di chuyển thì các bánh xe cũng lăn kề bên. Khi các con thú cất cánh để bay lên khỏi đất thì các bánh xe cũng đi kề bên.
EZE 10:17 Khi các con thú dừng lại thì các bánh xe cũng dừng. Khi các con thú bay lên, thì các bánh xe cũng cất lên vì thần linh của các con thú ở trong các bánh xe.
EZE 10:18 Rồi vinh quang của CHÚA rời khỏi cửa đền thờ và dừng lại trên các con thú.
EZE 10:19 Trong khi tôi nhìn thì các con thú giương cánh bay lên khỏi đất, có các bánh xe kề bên. Chúng dừng nơi cổng Đông của đền thờ mở ra, và vinh hiển của Thượng Đế của Ít-ra-en ngự trên chúng.
EZE 10:20 Đó là các con thú mà tôi nhìn thấy bên dưới Thượng Đế của Ít-ra-en nơi bờ sông Kê-ba. Tôi biết các con thú đó gọi là chê-ru-bim.
EZE 10:21 Mỗi con có bốn mặt và bốn cánh, và dưới cánh của chúng có vật gì giống các bàn tay người thò ra.
EZE 10:22 Mặt của chúng giống như mặt tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba. Mỗi con thú đi thẳng trước mặt.
EZE 11:1 Thần Linh nhấc tôi lên và mang tôi đến cổng trước của đền thờ CHÚA, quay về hướng Đông. Tôi thấy hai mươi lăm người đứng nơi cổng vào, trong số đó có Gia-a-xa-nia, con A-xua, và Bê-la-tia, con Bê-nai-gia, là các lãnh tụ của dân chúng.
EZE 11:2 Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Hỡi con người, đây là những người manh tâm chuyện ác và đưa ra những ý kiến gian ác trong thành Giê-ru-sa-lem nầy.
EZE 11:3 Chúng nói, ‘Chưa đến lúc chúng ta cất nhà. Thành nầy giống như nồi nấu, còn chúng ta như thịt ngon nhất.’
EZE 11:4 Cho nên hãy nói tiên tri nghịch cùng chúng, hỡi con người, hãy nói tiên tri.”
EZE 11:5 Rồi Thần linh của CHÚA nhập vào tôi và bảo tôi nói như sau: “CHÚA phán: Hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi đã nói những điều đó nên ta biết ý nghĩ các ngươi.
EZE 11:6 Các ngươi đã giết nhiều người trong thành nầy, quăng xác chết la liệt trên đường phố.”
EZE 11:7 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Những người mà các ngươi đã giết và bỏ giữa thành phố như thịt ngon nhất, còn thành nầy như nồi nấu. Nhưng ta sẽ đuổi các ngươi ra khỏi thành nầy.
EZE 11:8 Các ngươi đã sợ gươm nhưng ta sẽ mang gươm đến cùng ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 11:9 Ta sẽ đuổi các ngươi ra khỏi thành và trao các ngươi vào tay kẻ lạ và trừng phạt các ngươi.
EZE 11:10 Các ngươi sẽ chết vì gươm. Ta sẽ trừng phạt các ngươi nơi biên giới Ít-ra-en để các ngươi biết ta là CHÚA.
EZE 11:11 Thành nầy sẽ không phải là nồi nấu của ngươi, và các ngươi sẽ không phải là miếng thịt ngon nhất nằm trong đó. Ta sẽ trừng phạt các ngươi nơi biên giới Ít-ra-en.
EZE 11:12 Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA. Các ngươi không sống theo qui tắc hay tuân theo luật lệ ta. Ngược lại, các ngươi làm y như các dân tộc xung quanh ngươi.”
EZE 11:13 Trong khi tôi đang nói tiên tri thì Bê-la-tia, con Bê-nai-gia chết. Tôi liền cúi sấp mặt xuống đất và kêu lớn, “Ôi, lạy CHÚA là Thượng Đế! Ngài sẽ hoàn toàn tiêu diệt những người Ít-ra-en còn sống sót sao?”
EZE 11:14 CHÚA phán cùng tôi,
EZE 11:15 “Hỡi con người, dân cư còn ở Giê-ru-sa-lem đã nói về thân nhân ngươi và những tù binh Ít-ra-en đang ở với ngươi như sau, ‘Chúng hiện quá xa CHÚA. Xứ nầy bây giờ đã được trao cho chúng ta làm tài sản.’
EZE 11:16 Cho nên hãy bảo, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Ta đã đày dân chúng đến các dân ở thật xa và phân tán chúng giữa các nước. Nhưng lâu nay ta là đền thờ cho chúng nó trong thời gian chúng bị đày ra các nước khác.’
EZE 11:17 Cho nên hãy nói: ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ gom các ngươi lại từ các dân và mang ngươi về từ các nước mà các ngươi bị phân tán. Rồi ta sẽ trả lại đất Ít-ra-en cho các ngươi.’
EZE 11:18 Khi chúng đến xứ nầy, chúng sẽ tháo bỏ các tượng chạm gian ác và các hình ảnh gớm ghiếc.
EZE 11:19 Ta sẽ ban cho chúng tấm lòng tôn kính ta hoàn toàn, và ta sẽ đặt vào lòng chúng tinh thần mới. Ta sẽ lấy lòng ương ngạnh bằng đá ra khỏi chúng mà ban cho chúng tấm lòng biết vâng phục bằng thịt.
EZE 11:20 Rồi chúng sẽ sống theo qui tắc và vâng giữ luật lệ ta. Chúng sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Thượng Đế chúng.
EZE 11:21 Nhưng những ai muốn phục vụ các hình tượng gian ác và các tượng chạm đáng ghê tởm thì ta sẽ báo trả chúng xứng với lối ác của chúng, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 11:22 Rồi các con thú nhấc cánh cùng với các bánh xe bên cạnh chúng. Vinh quang của Thượng Đế của Ít-ra-en ngự trên chúng.
EZE 11:23 Vinh quang của CHÚA cất lên từ bên trong Giê-ru-sa-lem và dừng lại trên ngọn đồi nằm về phía Đông của thành.
EZE 11:24 Thần linh nhấc tôi lên và mang tôi đến cùng các tù binh đã bị đày từ Giu-đa sang Ba-by-lôn. Việc đó xảy ra trong sự hiện thấy do Thần Linh của Thượng Đế, rồi sự hiện thấy mà tôi mục kích chấm dứt.
EZE 11:25 Tôi thuật lại cho các tù binh Giu-đa mọi điều CHÚA cho tôi thấy.
EZE 12:1 CHÚA lại phán cùng tôi rằng:
EZE 12:2 “Hỡi con người, ngươi đang sống giữa một dân bất vâng phục. Chúng có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe vì chúng là dân bất vâng phục.
EZE 12:3 Cho nên, hỡi con người, hãy gói ghém hành trang như thể ngươi sắp bị lưu đày, và ra đi giữa thanh thiên bạch nhật như người bị lưu đày để cho mọi người đều thấy. Hãy dọn từ chỗ ngươi ở đến một nơi khác trước sự chứng kiến của mọi người. Rất có thể chúng sẽ hiểu, dù rằng chúng là dân bất vâng phục.
EZE 12:4 Ban ngày trong khi mọi người đang nhìn thì hãy mang hành lý ra như thể bị đi đày. Đến chiều, khi mọi người đang nhìn thì rời khỏi chỗ ngươi ở như thể đang bị lưu đày khỏi xứ mình.
EZE 12:5 Trong khi chúng đang nhìn thì đào một cái lỗ qua vách rồi mang các hành trang ngươi qua đó.
EZE 12:6 Vác chúng lên vai trong khi dân chúng đang nhìn và mang chúng vào bóng tối. Hãy che mặt để ngươi không nhìn thấy đất vì ta đã dùng ngươi làm một dấu hiệu cho dân Ít-ra-en.”
EZE 12:7 Tôi làm y theo điều tôi được dặn bảo. Ban ngày tôi mang các thứ tôi đã gói ghém như thể sắp bị lưu đày. Rồi đến chiều tôi lấy tay khoét một lỗ qua vách. Tôi mang các món đồ đó trong bóng tối và vác lên vai trong khi dân chúng đang nhìn.
EZE 12:8 Đến buổi sáng CHÚA bảo tôi rằng:
EZE 12:9 “Hỡi con người, nếu dân Ít-ra-en, vốn bất vâng phục, hỏi ngươi, ‘Ông làm gì vậy?’
EZE 12:10 Thì hãy bảo chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Lời tiên tri nầy là về vua ở Giê-ru-sa-lem và toàn dân Ít-ra-en đang sống ở đó.’
EZE 12:11 Bảo chúng, Ta là dấu hiệu cho các ngươi. Những điều ta đã làm sẽ được làm cho dân chúng ở Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ bị bắt làm tù binh bị lưu đày khỏi xứ mình.
EZE 12:12 Vua của họ sẽ phải vác hành trang trên lưng mình trong bóng tối và lên đường ra đi. Dân chúng sẽ đào một cái lỗ để mang vua ra. Người sẽ che mặt mình để không nhìn thấy đất.
EZE 12:13 Nhưng ta sẽ bủa lưới ra trên người và bắt người trong bẫy ta. Rồi ta sẽ mang người đến Ba-by-lôn, trong xứ người Canh-đê. Người sẽ không nhìn thấy xứ đó nhưng sẽ qua đời tại đó.
EZE 12:14 Ta sẽ phân tán dân chúng của vua ra khắp các nước lân cận quanh Ít-ra-en. Ta sẽ phân tán quân đội người khắp các hướng gió. Quân thù sẽ đuổi theo họ.
EZE 12:15 Chúng sẽ biết ta là CHÚA khi ta phân tán chúng giữa các dân và trải chúng ra giữa các nước.
EZE 12:16 Nhưng ta sẽ cứu một số người trong vòng chúng khỏi lưỡi gươm, đói kém và dịch lệ. Rồi chúng sẽ kể lại những hành động đáng gớm ghiếc của mình nơi chúng đến. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 12:17 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 12:18 “Hỡi con người, hãy run rẩy khi ăn và run sợ khi ngươi uống nước.
EZE 12:19 Rồi hãy bảo dân chúng trong xứ rằng: ‘CHÚA phán như sau về dân cư Giê-ru-sa-lem trong xứ Ít-ra-en: Chúng nó sẽ ăn trong run sợ và uống trong kinh khiếp vì xứ chúng sẽ bị cướp lột trần trụi do sự hung bạo của dân sống trong xứ.
EZE 12:20 Các thành phố có dân cư sống sẽ trở thành hoang tàn, xứ sẽ hoang vu. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 12:21 CHÚA phán cùng tôi rằng,
EZE 12:22 “Hỡi con người, câu ngạn ngữ sau đây mà các ngươi hay nói trong xứ Ít-ra-en có nghĩa gì: ‘Ngày qua tháng lại mà các sự hiện thấy chẳng có gì linh ứng’?
EZE 12:23 Cho nên hãy bảo chúng, ‘Chúa là Thượng Đế phán như sau: Ta sẽ khiến chúng thôi không nói câu ấy nữa, không ai trong Ít-ra-en sẽ dùng câu ngạn ngữ nầy nữa.’ Nhưng hãy bảo chúng, ‘Gần đến lúc mà tất cả những sự hiện thấy sẽ thành sự thật.
EZE 12:24 Sẽ không có sự hiện thấy giả hay những lời tiên tri êm tai trong nhà Ít-ra-en,
EZE 12:25 nhưng ta, CHÚA, sẽ phán. Điều ta phán sẽ thành, không trì hoãn nữa. Các ngươi muốn bất vâng phục thì cứ việc nhưng trong thời các ngươi, ta sẽ phán và thực hiện điều đó, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 12:26 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 12:27 “Hỡi con người, dân Ít-ra-en nói, ‘Sự hiện thấy mà Ê-xê-chiên đã chứng kiến về một thời kỳ còn lâu lắm mới xảy ra. Ông ta tiên tri về một thời kỳ xa xăm trong tương lai.’
EZE 12:28 Cho nên hãy bảo chúng: ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Sẽ không có lời nào của ta bị trì hoãn nữa. Điều ta nói sẽ thành sự thật, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 13:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 13:2 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng các nhà tiên tri trong Ít-ra-en. Hãy bảo những kẻ bịa đặt lời tiên tri mình như sau: Hãy nghe lời CHÚA phán.
EZE 13:3 CHÚA là Thượng Đế phán: Khốn cho các nhà tiên tri ngu dại đi theo ý tưởng mình, không hề nhận được sự hiện thấy nào từ ta!
EZE 13:4 Hỡi dân Ít-ra-en, những nhà tiên tri của các ngươi như chó rừng đi săn mồi và ăn giữa các nơi hoang tàn.
EZE 13:5 Ít-ra-en như một căn nhà hoang phế, nhưng các ngươi không lên những nơi đổ nát hay sửa chữa vách lại. Thế thì làm sao Ít-ra-en chống lại được quân thù trong chiến trận vào ngày xét xử của Chúa?
EZE 13:6 Các nhà tiên tri của các ngươi chứng kiến những sự hiện thấy giả và nói tiên tri dối. Chúng nói, ‘CHÚA phán như sau,’ mà thật ra CHÚA không có sai chúng nó. Dù vậy chúng vẫn mong lời nói mình thành sự thật.
EZE 13:7 Chúng bảo ‘Đây là lời CHÚA phán,’ nhưng đó là sự hiện thấy giả. Những lời nhà tiên tri của các ngươi là điều bịa đặt, vì ta không hề phán.”
EZE 13:8 Vì thế CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Vì các ngươi nói những điều dối trá và thấy những việc bịa đặt cho nên ta nghịch lại các ngươi,” CHÚA phán vậy.
EZE 13:9 Ta sẽ trừng phạt các nhà tiên tri thấy các sự hiện thấy giả và nói tiên tri dối. Chúng không có chỗ đứng nào trong dân ta. Tên tuổi của chúng sẽ không được ghi vào danh sách của dân Ít-ra-en, chúng cũng sẽ không được vào trong xứ Ít-ra-en nữa. Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế.
EZE 13:10 Vì các ngươi đã dẫn dân ta đi lầm lạc bằng cách tuyên bố, “Hoà bình!” mà thật ra chẳng có hoà bình gì cả. Khi dân chúng xây một bức tường yếu ớt thì các nhà tiên tri quét vôi trắng lên để nó trông có vẻ vững chắc.
EZE 13:11 Vì thế hãy bảo những kẻ quét vôi trắng để che đậy bức tường yếu ớt rằng nó sẽ sụp đổ. Mưa trút xuống, mưa đá rơi, và gió bão sẽ xô nó sập xuống.
EZE 13:12 Khi vách đã sập thì dân chúng sẽ hỏi các ngươi, “Chớ lớp vôi trắng mà các ông quét lên tường đâu rồi?”
EZE 13:13 Cho nên CHÚA phán như sau: “Ta sẽ dùng gió bão phá vách đó. Trong cơn thịnh nộ mưa sẽ đổ xuống và mưa đá sẽ phá sập vách đó.
EZE 13:14 Ta sẽ phá sập vách mà ngươi đã quét vôi trắng phủ lên. Ta sẽ san bằng vách đó để cho dân chúng nhìn thấy nền của nó. Khi vách sập xuống thì các ngươi sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 13:15 Ta sẽ đổ cơn giận ta trên vách và trên những kẻ quét vôi trắng cho nó. Rồi ta sẽ bảo các ngươi, ‘Vách đã sập rồi, những kẻ quét vôi trắng cho nó cũng không còn.
EZE 13:16 Các nhà tiên tri trong Ít-ra-en nói tiên tri về Giê-ru-sa-lem và thấy sự hiện thấy về hoà bình cho thành, trong khi chẳng có hoà bình, cũng sẽ không còn, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 13:17 “Bây giờ, hỡi con người, hãy nhìn hướng về những người đàn bà trong dân chúng ngươi là kẻ bịa đặt lời tiên tri mình. Hãy nói tiên tri nghịch chúng.
EZE 13:18 Hãy nói, CHÚA là Thượng Đế phán: Khốn cho bọn đàn bà may bùa trên cổ tay mình và làm các bức màn che đủ loại để lường gạt người khác! Các ngươi tưởng rằng có thể đánh bẫy dân ta bằng sự dối gạt mà đời mình được an toàn sao?
EZE 13:19 Các ngươi đã làm nhục ta giữa vòng dân ta để đổi lấy một nhúm lúa mạch và mấy miếng bánh mì. Khi nói dối cùng dân ta là những kẻ chịu nghe điều dối trá, các ngươi đã giết những kẻ không đáng chết, và để cho sống những kẻ không đáng sống.”
EZE 13:20 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta nghịch lại các bùa chú của các ngươi mà các ngươi dùng để đánh bẫy người ta như chim. Ta sẽ giật các bùa chú đó khỏi tay các ngươi và giải thoát những kẻ sập bẫy của các ngươi.
EZE 13:21 Ta cũng sẽ xé màn che mặt các ngươi để giải thoát dân ta khỏi tay các ngươi. Họ sẽ không bị quyền lực của các ngươi bắt lấy nữa. Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 13:22 Các ngươi đã nói dối, khiến cho những kẻ làm điều thiện phải buồn rầu trong khi chính ta không làm cho họ buồn rầu. Ngươi đã xúc giục kẻ ác cứ tiếp tục làm ác vì nếu không thì chúng đã có thể cứu được mạng mình rồi.
EZE 13:23 Cho nên các ngươi sẽ không còn thấy sự hiện thấy giả và nói tiên tri nữa. Ta sẽ giải cứu dân ta khỏi quyền lực các ngươi để các ngươi biết rằng ta là CHÚA.”
EZE 14:1 Một số các bô lão trong Ít-ra-en đến gặp tôi và ngồi trước mặt tôi.
EZE 14:2 Rồi CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 14:3 “Hỡi con người, những người nầy muốn thờ thần tượng. Họ dựng lên những vật ác để xui giục dân chúng phạm tội. Ta có nên để chúng xin ta giúp đỡ không?
EZE 14:4 Cho nên hãy bảo chúng, ‘CHÚA phán như sau: Khi người nào trong Ít-ra-en muốn thờ thần tượng và dựng lên những vật ác để xui dân chúng phạm tội rồi đến gặp nhà tiên tri thì chính ta, CHÚA, sẽ đích thân trả lời cho nó về việc thờ thần tượng.
EZE 14:5 Ta làm như thế để mang dân Ít-ra-en ta, dân đã bỏ ta theo các thần tượng của chúng, trở về.’”
EZE 14:6 Cho nên hãy bảo dân Ít-ra-en, “CHÚA là Thượng Đế phán: Hãy thay đổi lòng và nếp sống, đừng thờ thần tượng nữa. Hãy thôi làm điều ta gớm ghiếc.
EZE 14:7 Người Ít-ra-en hay người ngoại quốc nào trong Ít-ra-en cũng có thể tách xa khỏi ta bằng cách thờ thần tượng hay dựng nên những điều khiến người khác phạm tội. Nếu chúng đến cùng nhà tiên tri để hỏi ý ta thì chính ta sẽ trả lời cho chúng.
EZE 14:8 Ta sẽ gạt bỏ chúng. Ta sẽ khiến chúng thành một dấu hiệu và một câu ngạn ngữ, và ta sẽ phân chia chúng ra khỏi dân ta. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 14:9 Nhưng nếu nhà tiên tri bị gạt để nói tiên tri là vì ta, CHÚA, đã gạt tiên tri đó để nói. Rồi ta sẽ dùng quyền năng ta nghịch lại nó và tiêu diệt nó khỏi dân Ít-ra-en ta.
EZE 14:10 Nhà tiên tri cũng có tội như kẻ đến xin tiên tri cứu giúp; cả hai đều mang lấy tội mình.
EZE 14:11 Rồi dân Ít-ra-en sẽ không rời bỏ ta nữa hay tự làm cho mình ra ô dơ do tội lỗi mình. Chúng sẽ làm dân ta, và ta sẽ là Thượng Đế chúng. CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 14:12 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 14:13 “Hỡi con người, nếu dân chúng trong một nước phạm tội bất trung cùng ta thì ta sẽ dùng quyền năng ta nghịch lại chúng. Ta sẽ cắt đứt nguồn thực phẩm của chúng, sai cơn đói kém đến để tiêu diệt người và thú vật.
EZE 14:14 Lúc đó dù trong xứ có ba vĩ nhân như Nô-ê, Đa-niên, và Gióp đi nữa thì sự công chính của họ cũng chỉ cứu được chính mạng mình mà thôi, CHÚA phán vậy.
EZE 14:15 Nếu ta sai thú dữ đến trong xứ khiến nó hoang vu, không ai ở, chẳng ai dám qua đó vì thú dữ.
EZE 14:16 Thật như ta hằng sống, CHÚA là Thượng Đế phán, dù trong xứ có Nô-ê, Đa-niên, và Gióp đi nữa thì họ cũng sẽ không cứu nổi con trai con gái mình. Họ chỉ có thể cứu chính mạng mình được thôi, còn xứ sẽ bị hoang vu.
EZE 14:17 Nếu ta mang giặc giã đến xứ đó. Nếu ta bảo, ‘Giặc giã hãy xảy đến trong xứ đi,’ để tiêu diệt người và súc vật.
EZE 14:18 CHÚA là Thượng Đế phán, thật như ta hằng sống, thì dù trong xứ có ba người đó thì họ cũng chẳng có thể cứu được con trai con gái mình. Họ chỉ có thể cứu được chính mình mà thôi.
EZE 14:19 Nếu ta sai dịch lệ đến trong xứ. Nếu ta đổ cơn thịnh nộ ta trên nó, tiêu diệt người và súc vật.
EZE 14:20 CHÚA là Thượng Đế phán, thật như ta hằng sống, thì dù cho trong xứ có Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp đi nữa, họ cũng không thể cứu con trai con gái mình. Họ chỉ có thể cứu được chính mạng mình mà thôi vì họ đã làm điều phải.”
EZE 14:21 CHÚA phán như sau: “Chương trình ta định cho Giê-ru-sa-lem còn tệ hơn vậy nữa! Ta sẽ sai bốn sự trừng phạt kinh khiếp của ta đến với nó: chiến tranh, đói kém, thú dữ, và dịch lệ để tiêu diệt dân cư nó và súc vật.
EZE 14:22 Nhưng một số người sẽ thoát được; một số con trai và con gái sẽ được dẫn ra. Chúng sẽ đi ra cùng ngươi và ngươi sẽ thấy số phận của những người sống theo lối đó. Rồi các ngươi sẽ được an ủi sau những thảm họa ta sai đến trên Giê-ru-sa-lem, sau những điều ta làm nghịch nó.
EZE 14:23 Ngươi sẽ được an ủi khi nhìn thấy số phận của chúng do lối sống của họ rồi vì ngươi sẽ hiểu lý do tại sao ta ra tay với Giê-ru-sa-lem, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 15:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 15:2 “Hỡi con người, gỗ của cây nho có tốt hơn gỗ của các cây khác trong rừng không?
EZE 15:3 Người ta có thể nào lấy gỗ cây nho dùng vào việc gì không? Ngươi có thể nào dùng gỗ đó để đóng cọc máng vật gì không?
EZE 15:4 Nếu cây nho bị ném vào lửa để chụm, và nếu lửa đốt cháy hai đầu của nó rồi sắp sửa đốt cháy khúc giữa thì nó có còn dùng vào việc gì không?
EZE 15:5 Khi thân cây nho còn nguyên thì nó đã không thể dùng được vào việc gì rồi huống hồ lúc nó đã bị cháy thì còn dùng vào việc gì nữa?”
EZE 15:6 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Trong số các cây cối trong rừng ta đã lấy gỗ cây nho dùng chụm lửa. Cũng vậy ta đã từ bỏ dân cư Giê-ru-sa-lem
EZE 15:7 và sẽ nghịch chúng. Dù chúng thoát khỏi một trận hỏa hoạn, lửa vẫn tiêu diệt chúng. Khi ta nghịch lại chúng thì các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 15:8 Cho nên ta sẽ khiến đất hoang vu vì dân nầy đã tỏ ra bất trung, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 16:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 16:2 “Hỡi con người, hãy cho Giê-ru-sa-lem biết những điều gớm ghiếc nó làm.
EZE 16:3 Hãy bảo, CHÚA là Thượng Đế phán cùng Giê-ru-sa-lem: Ban đầu tổ tiên các ngươi ở trong xứ Ca-na-an. Cha ngươi là người A-mô-rít, mẹ ngươi là người Hê-tít.
EZE 16:4 Ngày ngươi ra chào đời, rún ngươi chưa cắt. Người ta chưa tắm ngươi cho sạch. Ngươi chưa được xát muối hay quấn trong khăn.
EZE 16:5 Chẳng có ai tội nghiệp ngươi để làm những điều đó cho ngươi. Không, ngươi bị ném vào đồng trống vì từ khi ngươi sinh ra đã bị ghét bỏ rồi.
EZE 16:6 Khi ta đi ngang qua nhìn thấy ngươi quằn quại trong vũng máu ngươi thì ta bảo, ‘Hãy sống!’
EZE 16:7 Rồi ta khiến ngươi mọc lên như cây trong đồng. Ngươi lớn lên và trở nên như viên ngọc xinh đẹp. Vú ngươi dậy lên, tóc ngươi mọc ra, nhưng ngươi vẫn trần truồng không quần áo mặc.
EZE 16:8 Sau đó ta đi qua lại và nhìn ngươi thì thấy ngươi đã lớn và biết yêu đương. Cho nên ta phủ áo ta trên ngươi để che đậy sự trần truồng ngươi. Ta cũng hứa cùng ngươi và lập giao ước với ngươi để ngươi thuộc về ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 16:9 Rồi ta tắm ngươi, lau sạch máu khỏi ngươi và xức dầu cho ngươi.
EZE 16:10 Ta mặc cho ngươi áo quần thêu may thật đẹp, cho ngươi mang dép da thật tốt vào chân ngươi. Ta lấy vải gai mịn để quấn ngươi và dùng tơ lụa choàng lên ngươi.
EZE 16:11 Rồi ta đeo nữ trang vào cho ngươi: nào vòng tay, kiềng đeo cổ,
EZE 16:12 khoen đeo mũi, bông tai, nào mão triều đội trên đầu ngươi.
EZE 16:13 Vậy ngươi được trang sức bằng vàng và bạc. Áo quần ngươi may bằng vải gai mịn, tơ lụa và thêu đan thật đẹp. Ngươi ăn loại bột mịn, mật ong và dầu ô liu. Ngươi trở nên xinh đẹp và thành hoàng hậu.
EZE 16:14 Rồi ngươi nổi danh giữa các dân vì ngươi trở nên quá xinh đẹp. Vẻ đẹp của ngươi thật toàn hảo vì vinh hiển mà ta ban cho ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 16:15 “Nhưng ngươi ỷ lại vào nhan sắc mình. Ngươi trở thành gái điếm vì ngươi quá nổi tiếng. Ngươi ăn nằm với tất cả những ai qua lại.
EZE 16:16 Ngươi dùng một số quần áo để biến những nơi thờ phụng ngươi thêm màu mè rực rỡ. Rồi ngươi hành nghề mãi dâm ở những nơi ấy. Những việc như thế không nên làm, không nên diễn ra.
EZE 16:17 Ngươi cũng dùng những đồ trang sức xinh đẹp bằng vàng và bạc mà ta cho ngươi để làm tượng chạm hình đàn ông để làm điều dâm ô cùng nó.
EZE 16:18 Rồi ngươi dùng quần áo được thêu may thật đẹp phủ trên các thần tượng đó. Ngươi dùng dầu và trầm hương của ta làm của lễ cúng cho chúng.
EZE 16:19 Ngoài ra ngươi cũng dùng bánh mà ta cho ngươi, bột mịn, dầu, và mật ong ta cho ngươi ăn để dâng lên cho các tà thần ngươi làm của lễ có mùi thơm cho chúng nó. Chuyện xảy ra như vậy đó, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 16:20 Nhưng tội nhục dục của ngươi còn chưa đủ cho ngươi. Ngươi bắt con trai con gái mình là con cái của ta dâng làm của lễ thiêu để cúng tế các thần tượng ngươi.
EZE 16:21 Ngươi giết các con cái ta dâng lên làm của lễ thiêu để cúng cho các thần tượng.
EZE 16:22 Trong khi ngươi có những hành vi gớm ghiếc và phạm tội nhục dục thì ngươi không nhớ lại lúc ngươi còn trẻ khi ngươi còn trần truồng không quần áo mặc và bị bỏ bê trong vũng máu ngươi.
EZE 16:23 Khốn thay! Khốn thay cho ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán. Sau khi ngươi làm tất cả những điều ác đó,
EZE 16:24 thì ngươi xây cho mình một nơi thờ phụng tà thần. Ngươi xây nó ở mỗi góc đường.
EZE 16:25 Ngươi xây một nơi thờ phụng ở mỗi đầu phố. Ngươi biến nhan sắc mình ra điều gớm ghiếc, hiến thân mình để thỏa mãn nhục dục cho bất cứ ai qua lại cho nên tội dâm dục của ngươi càng ngày càng tệ hại.
EZE 16:26 Ngươi ăn nằm với người Ai-cập là láng giềng và bạn dâm đãng của ngươi. Tội dâm dục của ngươi càng ngày càng tệ hại khiến ta nổi thịnh nộ.
EZE 16:27 Vì thế ta dùng quyền lực ta nghịch lại ngươi và cướp đi một số đất đai ngươi. Ta để cho những kẻ ghét ngươi đánh bại ngươi, đó là các đàn bà Phi-li-tin là những kẻ cảm thấy xấu hổ về những hành động ác độc của ngươi.
EZE 16:28 Ngoài ra ngươi cũng ăn nằm với người A-xy-ri vì ngươi hoang dâm vô độ. Dù ngươi ăn nằm với chúng ngươi cũng chưa thỏa mãn.
EZE 16:29 Ngươi phạm tội nhục dục nhiều hơn nữa ở Ba-by-lôn, xứ của con buôn, dù vậy ngươi cũng chưa thoả mãn.
EZE 16:30 CHÚA là Thượng Đế phán, ý chí ngươi quả thật yếu ớt. Ngươi làm mọi điều y như một gái điếm ngoan cố.
EZE 16:31 Ngươi xây nơi thờ phụng tà thần ở mỗi đầu phố và dựng các nơi thờ phụng ở mỗi công viên. Nhưng ngươi không giống gái điếm vì ngươi không nhận thù lao.
EZE 16:32 Ngươi là người vợ ngoại tình. Ngươi thích người lạ thay vì chồng mình.
EZE 16:33 Đàn ông trả tiền thù lao cho gái điếm nhưng ngươi trả tiền cho các tình nhân để chúng đến với ngươi. Và chúng từ khắp nơi đến để hành lạc cùng ngươi.
EZE 16:34 Cho nên ngươi không giống các gái điếm khác. Không có đàn ông nào yêu cầu ngươi làm gái điếm. Ngươi trả tiền thay vì nhận thù lao. Ngươi quả không giống những gái điếm khác.
EZE 16:35 Cho nên, hỡi gái điếm, hãy nghe lời của CHÚA.
EZE 16:36 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ngươi phơi bày sự trần truồng của mình ra cho các nước khác. Ngươi phơi bày thân thể mình trong khi phạm tội nhục dục cùng các tình nhân và các hình tượng gớm ghiếc của mình. Ngươi giết con cái mình và dâng huyết chúng nó cho các thần tượng ngươi.
EZE 16:37 Cho nên ta sẽ gom tất cả các tình nhân mà ngươi ưa thích. Thật vậy, ta sẽ gom lại những kẻ ngươi yêu cũng như những người ngươi ghét. Ta sẽ gom chúng lại từ khắp các nơi để nghịch ngươi và ta sẽ lột truồng ngươi trước mặt chúng để chúng nhìn thấy sự trần truồng ngươi.
EZE 16:38 Ta sẽ trừng phạt ngươi như người đàn bà ngoại tình hay kẻ sát nhân bị trừng phạt. Ta sẽ giết ngươi vì ta nổi giận và ghen tương.
EZE 16:39 Ta cũng sẽ trao các ngươi cho các tình nhân ngươi. Chúng sẽ phá sập các nơi thờ phụng ngươi và tiêu hủy những nơi ngươi thờ phụng tà thần. Chúng sẽ lột quần áo ngươi, cướp đồ trang sức ngươi, để ngươi trần truồng trơ trọi.
EZE 16:40 Chúng sẽ đưa dân chúng lại chống nghịch ngươi, ném đá ngươi và dùng gươm chặt ngươi ra từng mảnh.
EZE 16:41 Chúng sẽ thiêu rụi nhà cửa ngươi và trừng phạt ngươi trước mặt các đàn bà khác. Ta sẽ chấm dứt tội nhục dục ngươi và ngươi sẽ không trả tiền cho tình nhân mình nữa.
EZE 16:42 Rồi ta sẽ thôi không còn nổi giận cùng ngươi, không ghen tương nữa. Ta sẽ im lặng và không còn nổi thịnh nộ nữa.
EZE 16:43 Vì ngươi không nhớ lúc mình còn trẻ, ngươi đã chọc giận ta bằng những hành động đó cho nên ta sẽ báo trả những điều ngươi làm, CHÚA là Thượng Đế phán vậy. Có phải ngươi đã thêm tội nhục dục vào những hành động khác mà ta gớm ghét không?
EZE 16:44 Ai dùng ngạn ngữ cũng sẽ nói như sau về ngươi: ‘Mẹ nào con nấy.’
EZE 16:45 Ngươi giống y như mẹ ngươi, ghét chồng và con mình. Ngươi cũng giống như chị em ngươi, ghét chồng và con mình. Mẹ ngươi là ngươi Hi-tít, cha ngươi là người A-mô-rít.
EZE 16:46 Chị ngươi là Xa-ma-ri, sống ở miền Bắc với các con gái nó; em gái ngươi là Xô-đôm, sống ở miền Nam với các con gái nó.
EZE 16:47 Không những ngươi đi theo đường lối chúng và làm y những điều gớm ghiếc chúng làm mà còn tệ hơn chúng nữa bằng các hành động ngươi.
EZE 16:48 CHÚA là Thượng Đế phán, thật như ta hằng sống, quả đúng như vậy. Em gái ngươi là Xô-đôm và các con gái nó chưa hề làm như ngươi và các con gái ngươi.
EZE 16:49 Tội của Xô-đôm, em gái ngươi như sau: Nó và các con gái nó kiêu căng, ăn uống no say dư dật, sống sung sướng mà không ra tay giúp đỡ kẻ bần cùng.
EZE 16:50 Xô-đôm và các con gái nó kiêu căng làm những điều ta ghét trước mắt ta. Cho nên ta diệt chúng nó khi ta nhìn thấy điều chúng làm.
EZE 16:51 Ngoài ra, Xa-ma-ri không phạm được phân nửa tội lỗi của ngươi. Ngươi phạm nhiều tội đáng gớm ghiếc hơn chúng nữa. Cho nên nếu đem so sánh những điều gớm ghiếc ngươi làm thì chị ngươi còn khá hơn.
EZE 16:52 Ngươi sẽ phải chịu sỉ nhục vì ngươi đã tạo ra cớ bào chữa cho chị ngươi. Chúng khá hơn ngươi. Tội lỗi ngươi còn ghê gớm hơn của chúng nó nữa. Hãy cảm thấy xấu hổ và nhục nhã đi, vì ngươi đã làm cho chị mình trông đỡ hơn.
EZE 16:53 Nhưng ta sẽ trả lại cho Xô-đôm và các con gái nó những vật tốt mà chúng có trước kia. Ta sẽ trả lại cho Xa-ma-ri và các con gái nó những vật tốt mà chúng có trước kia. Ngoài ra ta cũng sẽ trả lại cho ngươi những vật tốt mà ngươi có trước kia
EZE 16:54 để ngươi cảm thấy nhục nhã và xấu hổ về những điều ngươi làm. Ngươi có thể an ủi chị em mình về tội lỗi của chúng.
EZE 16:55 Hai chị em ngươi là Xô-đôm cùng các con gái nó, Xa-ma-ri và các con gái nó sẽ trở lại tình trạng như trước. Ngươi và các con gái ngươi cũng sẽ trở lại tình trạng như trước.
EZE 16:56 Ngươi đã sỉ nhục em gái mình là Xô-đôm khi ngươi tỏ ra hợm hĩnh,
EZE 16:57 trước khi sự gian ác ngươi bị lộ ra. Bây giờ các người đàn bà Ê-đôm và láng giềng sỉ nhục ngươi. Thậm chí đến các đàn bà Phi-li-tin cũng sỉ nhục ngươi. Những người sống quanh ngươi ghét bỏ ngươi.
EZE 16:58 Đó là hậu quả về những tội lỗi ghê gớm của ngươi và về những hành vi mà ta ghét, CHÚA phán vậy.”
EZE 16:59 “‘CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ta sẽ báo trả những điều ngươi đã làm. Ngươi ghét và phá giao ước mà ngươi hứa tôn trọng.
EZE 16:60 Nhưng ta sẽ nhớ lại giao ước ta lập cùng ngươi khi ngươi còn trẻ và ta sẽ lập giao ước còn lại đời đời cùng ngươi.
EZE 16:61 Rồi ngươi sẽ nhớ lại điều ngươi đã làm và cảm thấy xấu hổ khi ngươi tiếp nhận các chị em ngươi. Ta sẽ trao chúng nó cho ngươi như con gái nhưng không phải vì chúng dự phần vào giao ước giữa ta với ngươi.
EZE 16:62 Ta sẽ lập giao ước ta với ngươi, và rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 16:63 Ngươi sẽ nhớ lại điều mình đã làm và cảm thấy xấu hổ. Ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa vì xấu hổ, khi ta tha thứ ngươi tất cả mọi điều ngươi đã làm, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 17:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 17:2 “Hỡi con người, hãy ra câu đố và kể ngụ ngôn cho dân Ít-ra-en nghe.
EZE 17:3 Hãy nói, CHÚA là Thượng Đế phán như sau: ‘Có một con chim ưng khổng lồ cánh rộng và lông dài nhiều màu sắc sặc sỡ bay đến Li-băng đậu trên chóp một cây hương nam.
EZE 17:4 Nó bẻ nhánh trên cùng và mang đến xứ của các con buôn và trồng trong thành của các con buôn đó.
EZE 17:5 Con chim ưng lấy một ít hột giống trong xứ và trồng trong một ruộng tốt gần nước. Nó trồng để cây ấy lớn lên như cây liễu.
EZE 17:6 Cây đó nẩy mầm và trở thành một cây nho thấp phủ trên mặt đất. Nhánh nó hướng về phía con chim ưng nhưng rễ nó nằm dưới con chim ưng. Vậy hột giống trở thành cây nho, nhánh nó mọc ra lá sum suê.
EZE 17:7 Nhưng có một con chim ưng khổng lồ khác có cánh rộng và nhiều lông. Cây nho hướng các rễ nó về phía con chim ưng đó. Nó đâm nhánh ra từ chỗ nó được trồng, hướng về phía con chim ưng để con chim có thể tưới nó.
EZE 17:8 Nó được trồng trong một ruộng tốt gần nước để nó đâm chồi và ra trái. Đáng lẽ nó trở thành một cây nho tốt.’
EZE 17:9 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Cây nho đó không thể tiếp tục lớn lên nữa. Con chim ưng đầu tiên sẽ nhổ gốc cây nho và tuốt trái của nó. Rồi cây nho đó và các lá tươi của nó sẽ khô héo và chết đi. Không cần phải mạnh tay hay đông người mới nhổ bật gốc cây nho đó lên được.
EZE 17:10 Dù cho được trồng trở lại, nó cũng sẽ không thể nào lớn lên được. Nó sẽ hoàn toàn bị khô héo khi gió Đông thổi đến nơi nó mọc.’”
EZE 17:11 Rồi CHÚA bảo tôi rằng:
EZE 17:12 “Bây giờ hãy nói cùng dân bất vâng phục như sau: ‘Các ngươi có hiểu ý nghĩa những điều đó không?’ Hãy nói: ‘Vua Ba-by-lôn đến Giê-ru-sa-lem bắt vua và các quan quyền ở Giê-ru-sa-lem đày sang Ba-by-lôn.
EZE 17:13 Rồi người bắt một người thuộc hoàng tộc Giu-đa và lập ước với người, buộc người phải tuyên thệ. Vua cũng bắt các lãnh tụ của Giu-đa đi đày
EZE 17:14 để khiến cho nước trở thành yếu ớt, không vươn lên được. Rồi nước Giu-đa chỉ còn tồn tại bằng cách tôn trọng giao ước với vua Ba-by-lôn mà thôi.
EZE 17:15 Nhưng vua Giu-đa phản nghịch lại vua Ba-by-lôn bằng cách sai sứ sang Ai-cập để xin cung cấp ngựa và quân lính. Vua Giu-đa có thành công không? Người làm như vậy liệu có thoát được không? Người không thể phá giao ước mà bình yên vô sự được.’”
EZE 17:16 CHÚA phán, “Thật như ta hằng sống, người sẽ chết ở Ba-by-lôn, trong xứ của vua đã cử người làm vua Giu-đa. Vua Giu-đa ghét lời cam kết cùng vua Ba-by-lôn và phá giao ước đó.
EZE 17:17 Dù cho vua Ai-cập với đạo quân đông đảo hùng mạnh sẽ chẳng giúp được gì cho vua Giu-đa trong chiến tranh. Người Ba-by-lôn sẽ chế tạo máy móc để tấn công các thành phố và giết nhiều người.
EZE 17:18 Vua Giu-đa khinh thường lời cam kết ấy bằng cách phá giao ước. Người cam kết sẽ ủng hộ Ba-by-lôn nhưng lại làm những việc như vậy, cho nên người sẽ không thể nào thoát được.”
EZE 17:19 Vì vậy CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Thật như ta hằng sống, việc nầy sẽ xảy ra: Ta sẽ báo trả vua Giu-đa về tội khinh thường lời cam kết và phá giao ước ta.
EZE 17:20 Ta sẽ bủa lưới ra trên người, rồi người sẽ bị vướng vào bẫy ta. Sau đó ta sẽ mang người về Ba-by-lôn nơi ta sẽ trừng phạt người về những hành động bất trung chống nghịch ta.
EZE 17:21 Binh sĩ thiện chiến nào của người thoát được sẽ bị chết vì gươm, còn những kẻ sống sót sẽ bị phân tán ra bốn phương. Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã phán.”
EZE 17:22 CHÚA là Thượng Đế phán: “Chính ta sẽ lấy một cành non từ cây hương nam và trồng nó. Ta sẽ chặt một nhánh nhỏ khỏi ngọn của các nhánh non nơi cây đó và sẽ trồng nó trên một ngọn núi cao.
EZE 17:23 Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en. Rồi nó sẽ đâm nhánh, ra trái và trở thành một cây hương nam thật lớn. Chim trời đủ loại sẽ xây tổ trên nó và trú trong các cành nó.
EZE 17:24 Rồi cây cối trong đồng sẽ biết ta là CHÚA. Ta đốn hạ cây cao xuống và khiến cho cây thấp mọc cao lên. Ta làm cho cây xanh khô héo và làm cho cây khô mọc lại. Ta là CHÚA. Ta đã phán điều gì thì sẽ thực hiện điều đó.”
EZE 18:1 CHÚA phán cùng tôi như sau:
EZE 18:2 “Câu ngạn ngữ sau đây có ý nghĩa gì trong Ít-ra-en: ‘Cha mẹ ăn trái nho chua, mà con bị buốt răng’?
EZE 18:3 Thật như ta hằng sống, CHÚA phán, điều nầy sẽ xảy ra: Các ngươi sẽ không dùng câu ngạn ngữ đó trong Ít-ra-en nữa.
EZE 18:4 Mọi sinh linh đều thuộc về ta. Sự sống của cha mẹ thuộc về ta, và sự sống của con cái cũng vậy. Ai phạm tội thì người đó phải chết.
EZE 18:5 Giả sử có người nhân đức làm điều phải và đúng.
EZE 18:6 Người không ăn uống ở những nơi cao dùng để thờ phụng. Người không nhờ cậy các hình tượng của Ít-ra-en để xin cứu giúp. Người không ăn nằm với vợ của láng giềng mình hay với đàn bà đang có kinh nguyệt.
EZE 18:7 Người không ức hiếp ai nhưng trả lại của cầm thế cho người đi vay. Người không bóc lột kẻ khác. Người cho kẻ đói bánh ăn, áo quần cho người thiếu đồ che thân.
EZE 18:8 Người không cho vay ăn lời cắt cổ và giữ tay mình không làm quấy. Người phân xử công bình giữa người nầy với kẻ kia.
EZE 18:9 Người sống theo qui tắc ta và trung tín vâng giữ luật lệ ta. Ai làm những điều đó là người nhân đức và chắc chắn sẽ sống, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 18:10 Nhưng giả sử người đó có một đứa con hoang đàng, giết người và làm những điều sai quấy kia.
EZE 18:11 Nhưng cha nó không hề làm những điều ấy. Đứa con ăn ở những nơi cao dùng để thờ phụng. Nó ăn nằm với vợ người láng giềng mình.
EZE 18:12 Nó ức hiếp kẻ nghèo khó và khốn cùng. Nó ăn cắp và không trả lại vật cầm thế mặc dù nợ đã trả xong. Nó nhờ cậy các thần tượng và làm những điều ta ghét.
EZE 18:13 Nó cho vay ăn lời cắt cổ. Đứa con đó liệu có sống được không? Không, nó không thể sống được! Nó đã làm những điều đáng gớm ghiếc đó cho nên nó phải chết. Chính nó chịu trách nhiệm cho cái chết mình.
EZE 18:14 Bây giờ giả sử nó có một đứa con nhìn thấy các tội lỗi của cha nó. Sau đó nó không làm những việc như vậy.
EZE 18:15 Nó không ăn uống ở những nơi thờ phượng trên núi cao. Nó không trông cậy các thần tượng Ít-ra-en. Nó không ăn nằm với vợ của người láng giềng mình.
EZE 18:16 Nó không ức hiếp ai hay giữ luôn của cầm, cũng không ăn cắp. Nó biếu thức ăn cho kẻ đói và áo quần cho người rách rưới.
EZE 18:17 Nó giữ tay mình không làm điều sái bậy. Nó không cho vay ăn lời cắt cổ. Nó vâng giữ luật lệ ta và sống theo các qui tắc ta. Nó sẽ không chết vì tội lỗi của cha mình nhưng chắc chắn sẽ sống.
EZE 18:18 Nhưng cha nó lấy tiền của người khác một cách bất công, cướp giựt anh em mình và làm điều sái bậy giữa dân tộc mình cho nên nó sẽ chết vì tội mình.
EZE 18:19 Nhưng ngươi hỏi, ‘Tại sao đứa con không bị trừng phạt vì cha mình?’ Vì đứa con đã làm điều phải và công bình. Nó vâng giữ các qui tắc và luật lệ ta cho nên nó sẽ sống.
EZE 18:20 Ai phạm tội thì sẽ chết. Con không thể bị phạt vì tội của cha mẹ, cha mẹ cũng không thể bị phạt vì tội của con. Ai làm điều phải sẽ vui hưởng kết quả của điều lành mình làm; kẻ ác phải lãnh hậu quả của điều ác mình.
EZE 18:21 Nhưng nếu kẻ ác thôi phạm tội và trở lại vâng giữ tất cả các qui tắc ta và làm điều công bình và phải lẽ thì nó sẽ sống, không chết.
EZE 18:22 Mọi tội lỗi nó sẽ được tha. Vì nó đã làm điều phải cho nên nó sẽ sống.
EZE 18:23 Ta thật không muốn thấy kẻ ác chết, CHÚA là Thượng Đế phán vậy. Ta muốn nó bỏ lối ác và sống.
EZE 18:24 Nhưng nếu người công bình không làm điều công bình nữa mà lại làm những điều gớm ghiếc giống như kẻ ác làm thì liệu nó có sống không? Tất cả những điều lành nó làm đều sẽ bị quên lãng vì nó đã tỏ ra bất trung. Nó đã phạm tội cho nên nó sẽ chết vì tội lỗi mình.
EZE 18:25 Nhưng ngươi bảo, ‘Chúa không công bình.’ Hỡi dân Ít-ra-en, hãy nghe đây. Ta công bình. Chính các ngươi mới không công bình!
EZE 18:26 Khi người lành thôi không làm điều lành nữa mà làm điều quấy thì phải chết vì tội lỗi mình. Nó sẽ chết vì làm quấy.
EZE 18:27 Khi kẻ ác thôi làm ác và làm điều công bình và phải lẽ thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.
EZE 18:28 Vì nó đã suy nghĩ lại và thôi phản loạn cho nên chắc chắn nó sẽ được sống, không chết.
EZE 18:29 Nhưng dân Ít-ra-en vẫn cứ nói, ‘Điều CHÚA làm không công bằng tí nào.’ Hỡi dân Ít-ra-en, ta rất công bằng. Chính việc các ngươi làm mới không công bằng.
EZE 18:30 Cho nên hỡi dân Ít-ra-en, ta sẽ xét xử các ngươi: Ta sẽ xét xử mỗi người các ngươi theo việc làm của từng người. Hãy ăn năn, thôi phản loạn, đừng phạm tội nữa để các ngươi không bị tổn hại.
EZE 18:31 Hãy từ bỏ tất cả hành vi phản loạn của các ngươi, hãy nhận một tấm lòng mới và một lối suy nghĩ mới. Hỡi dân Ít-ra-en, tại sao các ngươi muốn chết?
EZE 18:32 CHÚA là Thượng Đế phán, ta không muốn ai chết cả cho nên hãy ăn năn để các ngươi được sống.”
EZE 19:1 “Hãy hát bài ai ca cho các lãnh tụ của Ít-ra-en như sau:
EZE 19:2 ‘Mẹ các ngươi như sư tử cái ở giữa các sư tử. Nó nằm giữa các sư tử tơ và nuôi con nó.
EZE 19:3 Nó nuôi một trong các sư tử con, con đó trở thành một sư tử mạnh dạn. Nó tập xé con mồi khi đi săn, nó ăn thịt người ta.
EZE 19:4 Các dân nghe về nó. Nó bị rơi vào bẫy của họ, Rồi người ta lấy móc kéo nó xuống xứ Ai-cập.
EZE 19:5 Mẹ nó chờ và thấy không còn hi vọng gì cho con mình, nên bắt một trong các sư tử con khác và nuôi cho nó lớn mạnh.
EZE 19:6 Con sư tử nầy đi ngao du giữa các sư tử khác. Bây giờ nó đã trở nên một con sư tử mạnh dạn. Nó cũng tập xé mồi khi đi săn thịt, nó cũng ăn người ta.
EZE 19:7 Nó phá sập những nơi kiên cố và tiêu diệt các thành của họ. Đất cùng mọi thứ trong đó đều kinh hoảng khi nghe tiếng gầm thét của nó.
EZE 19:8 Rồi dân từ các nơi xung quanh đến chống nghịch nó, bủa lưới ra trên nó. Nó bị rơi vào bẫy của họ.
EZE 19:9 Rồi họ móc hàm nó lại, bỏ vào chuồng và giải nó đến vua Ba-by-lôn. Họ nhốt nó vào ngục để không còn ai nghe tiếng gầm thét của nó trên các núi Ít-ra-en nữa.
EZE 19:10 Mẹ ngươi giống như cây nho trong vườn nho ngươi, trồng bên dòng nước. Cây nho ra nhiều nhánh và sai trái, vì gần nước.
EZE 19:11 Cây nho ra nhiều nhánh lớn mạnh, đủ để làm một cây trượng cho vua. Nó trở nên cao lớn giữa các nhánh rậm rạp. Ai cũng nhìn thấy vì nó cao lớn rậm rạp.
EZE 19:12 Nhưng trong cơn giận, nó bị nhổ bật gốc và bị ném xuống đất. Gió Đông khiến nó khô héo. Trái nó rơi rụng hết. Các nhánh nó bị bẻ gãy và đốt cháy.
EZE 19:13 Bây giờ nó bị trồng trong sa mạc, nơi khô khan không nước.
EZE 19:14 Lửa phát ra từ nhánh chính của nó đốt cháy hết các trái. Không còn nhánh nào của nó đủ lớn để làm cây trượng cả.’” Đó là lời than vãn đã trở thành bài ai ca.
EZE 20:1 Vào ngày mười, tháng năm, năm lưu đày thứ bảy, thì một số bô lão của Ít-ra-en đến ngồi trước mặt tôi để hỏi thăm về CHÚA.
EZE 20:2 CHÚA phán cùng tôi như sau:
EZE 20:3 “Hỡi con người, hãy nói cùng các bô lão Ít-ra-en rằng: ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Có phải các ngươi đến cầu hỏi ta không? Thật như ta hằng sống, ta chẳng để các ngươi hỏi đâu.’
EZE 20:4 Ngươi sẽ xét xử chúng không? Hỡi con người, ngươi sẽ xét xử chúng không? Hãy cho chúng biết những điều gớm ghiếc tổ tiên chúng nó làm.
EZE 20:5 Hãy bảo chúng: Chúa là Thượng Đế phán: Khi ta chọn Ít-ra-en, ta hứa cùng con cháu Gia-cốp. Ta tỏ mình ta ra cho chúng ở Ai-cập và hứa cùng chúng, ‘Ta là CHÚA và là Thượng Đế các ngươi.’
EZE 20:6 Lúc đó ta hứa sẽ mang chúng ra khỏi Ai-cập vào một xứ ta đã tìm được cho chúng, một xứ phì nhiêu, xứ tốt nhất trên thế giới.
EZE 20:7 Ta bảo chúng, ‘Mỗi người trong các ngươi phải ném bỏ các tượng chạm gớm ghiếc mà các ngươi đã thấy và thích. Đừng làm ô dơ mình bằng các thần giả của Ai-cập. Ta là CHÚA và là Thượng Đế các ngươi.’
EZE 20:8 Nhưng chúng phản nghịch ta, không thèm nghe ta. Chúng không chịu ném bỏ các tượng chạm gớm ghiếc mà chúng đã thấy và thích; chúng không từ bỏ các thần tượng của Ai-cập. Vì thế ta quyết định đổ cơn thịnh nộ ta trên chúng trong khi chúng còn ở Ai-cập.
EZE 20:9 Ta đã hành động bảo vệ danh ta để danh ta không bị nhục mạ trước các dân tộc mà Ít-ra-en sinh sống. Ta tỏ mình ta ra cho Ít-ra-en và hứa mang chúng ra khỏi xứ Ai-cập trước sự chứng kiến của các dân tộc khác.
EZE 20:10 Cho nên ta mang chúng ra khỏi Ai-cập và đưa chúng vào trong sa mạc.
EZE 20:11 Ta cho chúng các qui tắc và dạy chúng các luật lệ để ai vâng giữ thì được sống.
EZE 20:12 Ta cũng ban cho chúng ngày Sa-bát để làm dấu hiệu giữa chúng ta để chúng biết ta là CHÚA, Đấng khiến chúng ra thánh.
EZE 20:13 Nhưng trong sa mạc chúng phản nghịch ta, không vâng giữ các qui tắc, gạt bỏ các luật lệ ta là luật lệ mà ai vâng giữ thì sẽ sống. Chúng khinh thường ngày Sa-bát ta. Vì thế ta định đổ cơn giận ta trên chúng và tiêu diệt chúng trong sa mạc.
EZE 20:14 Nhưng ta đã hành động để bảo vệ danh ta để danh đó không bị xem thường giữa các dân đang chứng kiến khi ta mang Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
EZE 20:15 Trong sa mạc ta thề cùng dân Ít-ra-en rằng ta sẽ không mang chúng vào trong xứ mà ta đã ban cho chúng, một xứ phì nhiêu, tốt nhất trên thế giới
EZE 20:16 vì chúng đã gạt bỏ các luật lệ và không vâng giữ các qui tắc ta. Chúng khinh thường ngày Sa-bát ta và chỉ muốn thờ các hình tượng mình.
EZE 20:17 Nhưng ta thương hại chúng. Ta không tiêu diệt và thanh toán chúng trong sa mạc.
EZE 20:18 Ta nói cùng con cái chúng trong sa mạc, ‘Đừng sống theo các qui tắc của cha mẹ các ngươi hay vâng theo các luật lệ chúng. Đừng làm cho chính mình ô dơ vì các thần tượng của chúng.
EZE 20:19 Ta là CHÚA và Thượng Đế các ngươi. Hãy sống theo các qui tắc ta, vâng giữ các luật lệ ta, noi theo các luật lệ và qui tắc đó.
EZE 20:20 Hãy giữ ngày Sa-bát ta ra thánh thì chúng sẽ làm dấu hiệu giữa ta với các ngươi. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA và Thượng Đế ngươi.’
EZE 20:21 Nhưng con cháu chúng phản nghịch ta. Chúng không sống theo các qui tắc ta, không cẩn thận vâng giữ các luật lệ ta là luật lệ mà ai vâng giữ thì sẽ sống. Chúng khinh thường ngày Sa-bát cho nên ta định đổ cơn giận ta trên chúng trong sa mạc.
EZE 20:22 Nhưng ta nén giận. Ta hành động như vậy vì danh ta để danh đó không bị xem thường giữa các dân đang chứng kiến khi ta mang dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.
EZE 20:23 Trong sa mạc ta đã thề cùng dân Ít-ra-en rằng ta sẽ phân tán chúng ra khắp các dân và trải chúng ra khắp các nước,
EZE 20:24 vì chúng không vâng theo luật lệ ta. Chúng đã gạt bỏ các qui tắc và khinh thường các ngày Sa-bát ta và thờ phụng các thần tượng của cha mẹ chúng.
EZE 20:25 Ta cũng đã để chúng đi theo các qui tắc không tốt và các luật lệ mà chúng không thể nhờ đó mà sống.
EZE 20:26 Ta để cho dân Ít-ra-en tự làm ô dơ mình bằng những của lễ mà chúng dâng cho tà thần của chúng khi chúng thiêu các con đầu lòng mình trong lửa. Ta muốn làm cho chúng kinh hoảng để chúng biết rằng ta là CHÚA.
EZE 20:27 Vì vậy hỡi con người, hãy nói cùng dân Ít-ra-en rằng, CHÚA là Thượng Đế phán: Tổ tiên các ngươi đã nói phạm đến ta khi tỏ ra bất trung theo kiểu khác.
EZE 20:28 Lúc ta mang chúng vào trong xứ ta hứa thì chúng nhìn hết các ngọn đồi và các cây xanh rậm lá. Chúng dâng các của lễ cho những tà thần mình trên các nơi đó. Chúng mang của lễ để chọc giận ta, rồi đốt hương và đổ của lễ uống ra.
EZE 20:29 Ta hỏi chúng: ‘Đồi cao nầy mà các ngươi đến thờ phụng là gì?’ Ngày nay chỗ đó vẫn gọi là Đồi Cao.
EZE 20:30 Cho nên hãy bảo dân Ít-ra-en: CHÚA là Thượng Đế phán: Các ngươi sẽ tự làm ô uế bản thân như tổ tiên mình sao? Các ngươi sẽ bất trung và muốn thờ phụng các thần tượng đáng gớm ghiếc sao?
EZE 20:31 Khi các ngươi dâng con cái mình lên và thiêu chúng trong lửa, các ngươi tự làm ô uế bản thân cùng với các thần tượng mình, cho đến ngày nay cũng y như vậy. Cho nên hỡi dân Ít-ra-en, ta có nên cho phép các ngươi hỏi không? CHÚA là Thượng Đế phán, thật như ta hằng sống, ta sẽ không nhận bất cứ câu hỏi nào từ các ngươi đâu.
EZE 20:32 Những điều các ngươi muốn sẽ không thành sự thật. Các ngươi nói, ‘Chúng tôi muốn như các dân khác, như dân tộc của các xứ khác. Chúng tôi muốn thờ các tượng chạm bằng gỗ và bằng đá.
EZE 20:33 Thật như ta hằng sống, CHÚA là Thượng Đế phán, ta sẽ dùng quyền năng lớn lao, sức mạnh của cơn thịnh nộ ta để cai trị các ngươi.
EZE 20:34 Ta sẽ mang các ngươi ra khỏi các nước ngoại quốc. Ta sẽ dùng quyền năng lớn lao, sức mạnh và cơn thịnh nộ ta để gom các ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị phân tán.
EZE 20:35 Ta sẽ mang các ngươi ra nơi sa mạc không dân ở. Nơi đó ta sẽ phân xử các ngươi mặt đối mặt.
EZE 20:36 Ta sẽ trừng phạt các ngươi như ta đã trừng phạt tổ tiên các ngươi trong sa mạc của xứ Ai-cập, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 20:37 Ta sẽ đếm các ngươi như chiên và sẽ mang các ngươi vào trong giao ước ta.
EZE 20:38 Ta sẽ diệt hết những kẻ không vâng lời ta hay chống nghịch ta. Ta sẽ mang chúng ra khỏi xứ hiện đang sống nhưng chúng sẽ không bao giờ được vào xứ Ít-ra-en. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 20:39 CHÚA là Thượng Đế phán: “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đi thờ thần tượng của các ngươi đi. Nhưng sau nầy các ngươi sẽ nghe ta; các ngươi sẽ không còn khinh thường danh thánh của ta bằng các của lễ và tà thần của mình nữa.
EZE 20:40 Trên núi thánh ta, núi cao của Ít-ra-en, toàn dân Ít-ra-en sẽ phục vụ ta trong xứ, CHÚA là Thượng Đế phán vậy. Ta sẽ chấp nhận các ngươi ở đó. Ta sẽ chờ đợi các của lễ của các ngươi, của lễ đầu mùa gặt và của lễ thánh của các ngươi.
EZE 20:41 Ta sẽ chấp nhận các ngươi như mùi thơm của lễ khi ta mang các ngươi ra khỏi các xứ ngoại quốc và thu các ngươi về từ các xứ mà ngươi đã bị tản lạc. Rồi qua các ngươi ta sẽ tỏ ra cho mọi dân tộc khác thấy ta thánh khiết ra sao.
EZE 20:42 Khi ta mang các ngươi vào xứ Ít-ra-en, xứ mà ta đã hứa cùng tổ tiên các ngươi thì các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 20:43 Tại đó các ngươi sẽ nhớ lại mọi điều mình làm đã khiến mình ô dơ, và các ngươi sẽ tự ghét mình vì những điều ác mình đã làm.
EZE 20:44 Ta sẽ đối xử với các ngươi vì danh thánh ta, chẳng phải vì những hành vi ác độc hay việc làm dơ bẩn của các ngươi. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA, hỡi dân Ít-ra-en. CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 20:45 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 20:46 “Hỡi con người, hãy nhìn về phía Nam. Hãy nói tiên tri nghịch cùng phương Nam và khu rừng Nê-ghép.
EZE 20:47 Hãy nói cùng rừng rằng: ‘Hãy nghe lời CHÚA. CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẵn sàng châm lửa đốt ngươi và tiêu diệt mọi cây xanh và cây khô của ngươi. Sẽ không thể nào dập tắt đám lửa đó được. Mọi phía từ Nam đến Bắc sẽ cảm biết sức nóng của nó.
EZE 20:48 Rồi mọi người sẽ thấy rằng ta, CHÚA, đã châm lửa đó. Không ai dập tắt được.’”
EZE 20:49 Rồi tôi thưa, “Ôi, CHÚA là Thượng Đế! Dân chúng nói về tôi rằng, ‘Ông ta chỉ kể chuyện bịa đặt đó thôi.’”
EZE 21:1 Rồi CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 21:2 “Hỡi con người, hãy nhìn về hướng Giê-ru-sa-lem và nói tiên tri nghịch cùng nơi thánh. Hãy nói tiên tri nghịch cùng xứ Ít-ra-en.
EZE 21:3 Hãy nói cùng Ít-ra-en rằng: ‘CHÚA phán: Ta chống nghịch ngươi. Ta sẽ rút gươm ta ra khỏi vỏ và sẽ chém giết toàn thể các ngươi, người ác và người thiện.
EZE 21:4 Vì ta sẽ tiêu diệt kẻ ác lẫn người thiện, gươm ta sẽ rút ra khỏi vỏ và đánh giết mọi người từ Nam tới Bắc.
EZE 21:5 Rồi mọi người sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã rút gươm ra khỏi vỏ. Gươm ta sẽ không xỏ vào vỏ trở lại.’
EZE 21:6 Cho nên, hỡi con người, hãy than vãn với tấm lòng tan vỡ, hãy than khóc đắng cay. Hãy than khóc trước mắt dân chúng.
EZE 21:7 Khi chúng hỏi ngươi, ‘Tại sao ông than khóc?’ thì hãy trả lời, ‘Vì tôi đã nghe biết những điều sẽ xảy ra. Khi nó xảy ra thì lòng nào cũng sẽ tan chảy vì lo sợ, tay nào cũng bủn rủn. Ai cũng sợ hãi; đầu gối nào cũng yếu mềm như nước. Kìa, việc ấy đang đến, sẽ đến, CHÚA phán vậy.’”
EZE 21:8 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 21:9 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri rằng, CHÚA phán: Một lưỡi gươm, một lưỡi gươm, mài bén và đánh bóng.
EZE 21:10 Nó được mài bén để chém giết. Nó được đánh bóng để sáng loáng như chớp. Các ngươi không vui vì sự trừng phạt khủng khiếp bằng gươm như thế nầy sao? Nhưng Giu-đa, con trai ta, ngươi sẽ không thay đổi nếu chỉ bị đòn.
EZE 21:11 Phải đánh bóng lưỡi gươm. Gươm đó phải cầm trong tay. Nó được mài bén và đánh bóng, sẵn sàng trong tay của kẻ chém giết.
EZE 21:12 Hỡi con người, hãy kêu la lớn lên, vì gươm đó đã dành cho dân ta, cho những quan quyền của Ít-ra-en. Chúng sẽ bị gươm giết chung với dân ta. Cho nên hãy đấm ngực khóc than.
EZE 21:13 Cuộc trắc nghiệm sẽ đến. Còn Giu-đa vốn bị quân đội Ba-by-lôn ghét, sẽ không tồn tại lâu, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 21:14 Cho nên hỡi con người, hãy nói tiên tri và vỗ tay. Hãy đập gươm hai ba lần. Gươm đó dành để chém giết, để tàn sát thật nhiều. Lưỡi gươm nầy sẽ bao vây những kẻ sẽ bị giết.
EZE 21:15 Lòng chúng nó sẽ tan chảy vì sợ hãi, nhiều người sẽ chết. Ta đã đặt gươm chém giết nơi mỗi cửa thành. Ôi! Lưỡi gươm đã được đánh bóng sáng loáng như chớp. Nó được nắm trong tay, sẵn sàng chém giết.
EZE 21:16 Hỡi gươm, hãy chém bên phải; rồi chém bên trái. Lưỡi nó chém bên nào thì quay bên đó.
EZE 21:17 Ta cũng sẽ vỗ tay và trút hết cơn giận ta. Ta, CHÚA đã phán.”
EZE 21:18 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 21:19 “Hỡi con người, hãy đánh dấu hai con đường cho vua Ba-by-lôn và gươm người đi theo. Cả hai con đường đều khởi hành từ một xứ. Và hãy đánh dấu chỗ đường phân nhánh ra, một đường đi vào thành phố.
EZE 21:20 Hãy đánh dấu con đường để người có thể cầm gươm đi đến Ráp-ba trong xứ dân Am-môn. Hãy đánh dấu con đường kia dẫn đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, là thành có vách kiên cố bảo vệ.
EZE 21:21 Vua Ba-by-lôn đã đến nơi chỗ rẽ của hai con đường và người dùng ma thuật. Người dùng các mũi tên để bắt thăm và cầu vấn các thần tượng của gia đình mình. Người nhìn lá gan của con sinh tế để biết xem nên đi chỗ nào.
EZE 21:22 Thăm bên phải bảo người đi về Giê-ru-sa-lem. Nó bảo người phải dùng các khúc cây để phá các cửa thành, hò hét xung trận, ra lệnh chém giết, đắp đường lên đến vách và dùng ná lớn tấn công thành.
EZE 21:23 Dân Giê-ru-sa-lem đã lập ước với các dân khác để xin chúng yểm trợ đánh Ba-by-lôn. Cho nên chúng tin rằng lời tiên tri nầy sai lầm nhưng thật ra đó là bằng chứng của tội lỗi chúng nó. Chúng sẽ bị bắt.”
EZE 21:24 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Các ngươi chứng tỏ mình tội lỗi ra sao bằng cách nghịch lại CHÚA. Tội lỗi các ngươi nằm sờ sờ trong những điều các ngươi làm. Vì đó là bằng cớ nghịch các ngươi cho nên các ngươi sẽ bị kẻ thù bắt làm tù binh.
EZE 21:25 Hỡi lãnh tụ dơ bẩn và gian ác của Ít-ra-en, ngươi sẽ bị giết. Giờ trừng phạt ngươi đã đến.
EZE 21:26 CHÚA là Thượng Đế phán: Hãy tháo bỏ khăn vành nhà vua, lột vương miện đi. Mọi việc sẽ thay đổi. Kẻ sang sẽ trở nên hèn, và kẻ hèn trở nên sang.
EZE 21:27 Điêu tàn! Điêu tàn! Ta sẽ khiến nó điêu tàn! Nơi nầy sẽ không được xây lại cho đến khi Đấng có quyền làm vua đến. Rồi ta sẽ cho người quyền ấy.
EZE 21:28 Hỡi con người, hãy nói tiên tri như sau: “CHÚA là Thượng Đế phán về dân Am-môn và những lời nhục mạ của chúng: Một lưỡi gươm, một lưỡi gươm rút ra khỏi vỏ. Nó được đánh bóng để chém giết và hủy diệt, sáng loáng như chớp!
EZE 21:29 Các nhà tiên tri nhìn thấy các dị tượng giả về các ngươi và nói tiên tri dối về các ngươi. Gươm sẽ đặt trên cổ của những kẻ ô dơ và gian ác nầy. Ngày đoán phạt của chúng đã đến; giờ trừng phạt cuối cùng đã đến.
EZE 21:30 Hãy cho gươm vào vỏ. Hỡi Ba-by-lôn, ta sẽ đoán phạt ngươi nơi ngươi được tạo ra, trong xứ ngươi sinh trưởng.
EZE 21:31 Ta sẽ đổ cơn giận ta trên ngươi và dùng lửa thịnh nộ ta đốt cháy ngươi. Ta sẽ giao ngươi cho những kẻ hung bạo, chuyên nghề hủy diệt.
EZE 21:32 Ngươi sẽ làm mồi cho lửa, sẽ chết trong xứ. Sẽ không còn ai nhớ đến ngươi nữa, vì ta, CHÚA, đã phán.”
EZE 22:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 22:2 “Còn ngươi, hỡi con người, ngươi sẽ xét xử chứ? Ngươi có xét xử thành gồm những kẻ sát nhân không? Hãy cho nó biết những hành vi gớm ghiếc của nó.
EZE 22:3 Ngươi phải nói: CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Ngươi là thành giết dân chúng và đổ máu họ ra giữa chỗ công cộng, do đó ngươi sẽ chuốc lấy hình phạt cho mình.
EZE 22:4 Ngươi đã phạm tội giết người và trở nên ô dơ bằng những tượng chạm mà ngươi đã làm. Vì thế cho nên ngươi đã kéo thì giờ trừng phạt lại gần; và ngươi đã đến gần các năm cuối cùng của mình rồi. Vì thế ta đã dùng ngươi làm một sự sỉ nhục cho các dân và do đó mà các xứ chê cười ngươi.
EZE 22:5 Những kẻ ở gần và xa đã bêu xấu nhạo cười ngươi, thành ngươi đầy hỗn loạn.
EZE 22:6 Hỡi Giê-ru-sa-lem, tất cả các quan cai trị của Ít-ra-en, mỗi người trong các ngươi đều tìm cách giết dân chúng để thủ lợi cho mình.
EZE 22:7 Dân ngươi ghét cha mẹ mình. Chúng ngược đãi ngoại kiều và ức hiếp kẻ mồ côi và người goá bụa.
EZE 22:8 Các ngươi ghét những vật thánh của ta và khinh thường ngày Sa-bát ta.
EZE 22:9 Trong các ngươi có những người nói dối khiến người khác phải chết. Trong các ngươi có những người dùng thức ăn cúng cho thần tượng trên các nơi cao, và phạm tội nhục dục.
EZE 22:10 Trong các ngươi có những người ăn nằm với vợ của cha mình và với đàn bà không tinh sạch đang kỳ kinh nguyệt.
EZE 22:11 Trong các ngươi có người làm điều nhơ nhuốc với vợ của láng giềng mình, trong khi kẻ khác phạm tội nhục dục với con dâu mình, làm ô uế nó. Còn kẻ khác cưỡng hiếp chị em kế của mình.
EZE 22:12 Trong các ngươi có những người nhận tiền để giết kẻ khác. Ngươi cho vay cắt cổ và thủ lợi bằng cách ức hiếp láng giềng mình. Ngươi đã quên ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 22:13 “Cho nên, hỡi Giê-ru-sa-lem, ta sẽ giơ nắm tay ta lên nghịch ngươi là kẻ ăn cắp tiền và giết người.
EZE 22:14 Khi ta trừng phạt thì liệu ngươi có còn can đảm và mạnh bạo không? Ta, CHÚA, đã phán, ta sẽ hành động.
EZE 22:15 Ta sẽ phân tán các ngươi ra giữa các dân và trải ngươi ra giữa mọi nước. Như thế ta mới tẩy sạch mọi thứ dơ bẩn ra khỏi ngươi được.
EZE 22:16 Nhưng chính các ngươi sẽ bị xem thường giữa các dân. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 22:17 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 22:18 “Hỡi con người, dân Ít-ra-en đã trở thành cặn bã vô dụng cho ta. Chúng như đồng, thiếc, sắt, và chì còn lại trong lò đúc sau khi bạc đã được luyện rồi.
EZE 22:19 Vì thế CHÚA là Thượng Đế phán: Vì các ngươi đã trở nên vô dụng như cặn bã cho nên ta sẽ gom các ngươi lại bên trong Giê-ru-sa-lem.
EZE 22:20 Người ta trộn bạc, đồng, sắt, chì, và thiếc với nhau trong lò đúc rồi dùng lửa nóng nấu chảy ra. Cũng vậy, ta sẽ gom các ngươi lại trong cơn thịnh nộ phừng phừng của ta và đặt các ngươi trong Giê-ru-sa-lem để nấu chảy các ngươi.
EZE 22:21 Ta sẽ đặt chung các ngươi lại khiến các ngươi cảm biết sức nóng của cơn giận ta. Các ngươi sẽ bị nấu chảy bên trong Giê-ru-sa-lem.
EZE 22:22 Bạc bị nung chảy trong lò đúc thế nào, các ngươi cũng sẽ bị nung chảy trong thành như thế. Rồi các ngươi sẽ biết ta, CHÚA, đã trút cơn giận ta trên các ngươi.”
EZE 22:23 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 22:24 “Hỡi con người, hãy nói cùng xứ, ‘Ngươi là đất chưa được tẩy sạch, đất chưa bị lụt trong ngày Thượng Đế nổi giận.’
EZE 22:25 Giống như sư tử gầm thét khi xé con mồi nó bắt được, các nhà tiên tri của Ít-ra-en cũng âm mưu ác như vậy. Chúng đã giết nhiều nhân mạng, cướp đoạt nhiều của báu. Chúng đã khiến nhiều đàn bà trở nên góa bụa.
EZE 22:26 Các thầy tế lễ Ít-ra-en đã làm nhiều việc ác, vi phạm những điều giáo huấn của ta, không tôn kính những vật thánh của ta. Chúng không phân biệt giữa vật thánh và vật không thánh, và không dạy cho dân biết giữa cái sạch và không sạch khác nhau xa. Chúng không nhớ ngày Sa-bát ta, cho nên chúng làm cho ta không được tôn trọng.
EZE 22:27 Giống như chó sói xé con mồi đã chết, các lãnh tụ Giê-ru-sa-lem đã giết dân chúng để thủ lợi.
EZE 22:28 Rồi các nhà tiên tri đã che đậy sự thật bằng lớp vôi trắng. Chúng bịa đặt ra các sự hiện thấy giả và dùng ma thuật để đặt ra các điều dối trá. Chúng bảo, ‘CHÚA là Thượng Đế phán như thế nầy,’ trong khi CHÚA không hề phán.
EZE 22:29 Dân trong xứ cướp tiền bạc và ăn cắp. Chúng làm hại những người nghèo khó khốn cùng. Chúng lường gạt ngoại kiều, khiến họ không biết xoay xở ra sao để tìm công lý.
EZE 22:30 Ta tìm kiếm người nào có thể xây lại vách thành, đứng trước mặt ta nơi vách đổ xuống và bênh vực thành ấy nhưng ta chẳng tìm được ai.
EZE 22:31 Cho nên ta cho chúng thấy cơn thịnh nộ ta. Ta tiêu diệt chúng trong cơn giận phừng như lửa vì những điều chúng làm, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 23:1 CHÚA phán cùng tôi rằng,
EZE 23:2 “Hỡi con người, người đàn bà nọ có hai con gái.
EZE 23:3 Trong khi còn trẻ, chúng đi xuống Ai-cập hành nghề mãi dâm. Chúng để cho đàn ông sờ và bóp vú chúng nó.
EZE 23:4 Đứa chị tên Ô-hô-la, đứa em tên Ô-hô-li-ba. Chúng trở thành vợ ta và sinh ra con trai con gái. Ô-hô-la là Xa-ma-ri, và Ô-hô-li-ba là Giê-ru-sa-lem.
EZE 23:5 Trong khi làm vợ ta, Xa-ma-ri ăn nằm với các đàn ông khác. Nó thèm muốn nhục dục với các tình nhân nó tức những người A-xy-ri. Các người A-xy-ri là các chiến sĩ
EZE 23:6 mặc đồng phục xanh. Chúng đều là các tay chỉ huy cao ráo trẻ trung và sĩ quan cỡi ngựa.
EZE 23:7 Xa-ma-ri làm điếm cho tất cả những kẻ cao sang của A-xy-ri và làm ô dơ mình với những hình tượng của bất cứ người nào nó muốn.
EZE 23:8 Nó tiếp tục hành nghề mãi dâm mà nó đã bắt đầu ở Ai-cập. Khi còn trẻ, nó ngủ với nhiều người, chúng bóp vú nó và ăn nằm với nó.
EZE 23:9 Cho nên ta giao nó cho các tình nhân nó là người A-xy-ri mà nó khao khát.
EZE 23:10 Chúng lột truồng nó, cướp con trai con gái nó đi. Rồi lấy gươm giết nó. Đàn bà khắp nơi bắt đầu kể lại chuyện nó bị trừng phạt ra sao.
EZE 23:11 Em gái nó là Giê-ru-sa-lem thấy vậy nhưng lại còn hành động tệ hại hơn chị nó trong chuyện ham muốn nhục dục và hành dâm.
EZE 23:12 Nó cũng ham muốn người A-xy-ri là những chiến sĩ ăn mặc đồng phục xinh đẹp, những chỉ huy trẻ trung, cao ráo, và các sĩ quan cỡi ngựa.
EZE 23:13 Ta thấy hai đứa đó y như nhau; cả hai đều là gái điếm.
EZE 23:14 Nhưng Giê-ru-sa-lem còn đi xa hơn. Nó thấy những hình tạc người Ba-by-lôn trên vách. Chúng mặc y phục đỏ
EZE 23:15 và đeo đai quanh hông, quấn khăn vành trên đầu. Chúng đều giống như các người Ba-by-lôn, quê quán ở Canh-đê.
EZE 23:16 Khi nhìn thấy chúng, nó muốn ăn nằm với chúng cho nên sai sứ giả đến với chúng ở Ba-by-lôn.
EZE 23:17 Vì thế các người Ba-by-lôn đến và ăn nằm cùng nó, làm cho nó ô dơ. Sau đó, nó đâm chán chúng nó.
EZE 23:18 Nhưng nó tiếp tục nghề mãi dâm công khai đến nỗi ai cũng biết. Sau cùng ta đâm ra chán nó như ta đã chán chị nó.
EZE 23:19 Nhưng nó nhớ lại trước kia nó là gái điếm trẻ ở Ai-cập cho nên nó lại còn hành nghề mãi dâm hơn nữa.
EZE 23:20 Nó ham muốn đàn ông, thèm muốn nhục dục như thú vật.
EZE 23:21 Các ngươi cũng vậy, các ngươi muốn làm những điều tội lỗi như đã làm ở Ai-cập. Ở đó đàn ông bóp vú non của các ngươi.
EZE 23:22 Cho nên, hỡi Giê-ru-sa-lem, CHÚA là Thượng Đế phán như sau: ‘Ngươi đã chán ngấy các tình nhân mình. Nên ta sẽ khiến chúng nổi giận cùng ngươi và tấn công ngươi tứ phía.
EZE 23:23 Những người từ Ba-by-lôn và vùng Ba-by-lôn, từ Bê-cốt, Sô-a, và Cô-a sẽ tấn công ngươi. Tất cả người A-xy-ri sẽ tấn công ngươi: những viên chỉ huy trẻ trung cao ráo, các sĩ quan, đều là những kẻ quyền cao chức trọng và đều cỡi ngựa.
EZE 23:24 Chúng sẽ kéo đại quân đến mang vũ khí, quân xa và xe ngựa tấn công ngươi. Chúng sẽ dùng thuẫn lớn và nhỏ, cùng mũ sắt vây quanh ngươi. Ta sẽ cho quyền chúng nó trừng phạt ngươi, và chúng sẽ tha hồ trừng phạt ngươi theo ý muốn.
EZE 23:25 Rồi ngươi sẽ biết cơn thịnh nộ của ta mạnh đến mức nào. Chúng sẽ nổi thịnh nộ và trừng trị ngươi. Chúng sẽ xẻo mũi và vành tai ngươi. Chúng sẽ bắt con trai con gái ngươi đi, còn những ai sót lại sẽ bị thiêu.
EZE 23:26 Chúng sẽ cởi áo quần ngươi ra và lột hết nữ trang ngươi.
EZE 23:27 Ta sẽ chấm dứt cuộc đời tội lỗi mà ngươi bắt đầu khi ngươi còn ở Ai-cập để ngươi không còn ham muốn hay nhớ lại Ai-cập nữa.
EZE 23:28 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ngươi đã chán các tình nhân ngươi, nhưng ta sẽ giao ngươi cho những kẻ mà ngươi hiện ghét.
EZE 23:29 Chúng sẽ ghét ngươi và lấy tất cả những gì ngươi làm ra, để ngươi còn tay không và trần truồng. Mọi người sẽ biết những điều tội lỗi ngươi làm. Những tội lỗi nhục dục ngươi
EZE 23:30 đã mang đến cho chính mình. Ngươi ăn nằm với các dân và làm cho mình ra ô dơ bằng cách bái lạy các thần tượng chúng nó.
EZE 23:31 Ngươi làm y như chị ngươi, cho nên ngươi cũng sẽ lãnh hình phạt y như thế, như ly đắng phải uống.’”
EZE 23:32 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Ngươi sẽ phải uống cùng ly như chị ngươi, ly đó sâu và rộng. Ai cũng chế diễu ngươi, vì ly đó đầy.
EZE 23:33 Ta sẽ khiến ngươi khốn khổ và say sưa. Đó là ly sợ hãi và điêu tàn. Đó là ly của Xa-ma-ri, chị ngươi.
EZE 23:34 Ngươi sẽ uống cạn ly đó, rồi đập bể nó và cắt vú mình. Ta đã phán, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 23:35 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: “Ngươi đã quên ta và quay mặt khỏi ta. Cho nên ngươi sẽ bị trừng phạt vì tội nhục dục của mình.”
EZE 23:36 CHÚA phán cùng tôi: “Hỡi con người, ngươi sẽ xét xử Xa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem, phơi bày những hành vi gớm ghiếc của chúng ra chứ?
EZE 23:37 Chúng phạm tội ngoại tình và giết người. Chúng đã ngoại tình với các thần tượng chúng. Thậm chí chúng thiêu con cái mình, dâng làm thức ăn cho các thần đó.
EZE 23:38 Chúng cũng làm như sau đối với ta: Chúng làm ô uế đền thờ ta, đồng thời chúng khinh thường ngày Sa-bát ta.
EZE 23:39 Chúng giết con cái mình để tế thần. Rồi chúng vào đền thờ ta, đồng thời chúng làm ô nhục đền thờ ấy. Đó là điều chúng làm bên trong đền thờ ta!
EZE 23:40 Chúng còn sai sứ đi mời những người ở xa xăm đến. Hai chị em tắm rửa sạch sẽ để tiếp đón chúng, vẽ mắt, và đeo trang sức vào.
EZE 23:41 Chúng ngồi trên giường sang trọng, bên cạnh có cái bàn, trên đó chúng để trầm hương và dầu của ta.
EZE 23:42 Có tiếng của đám đông ồn ào đang tiệc tùng. Dân chúng họp lại, những kẻ say sưa được mang đến từ sa mạc. Chúng đeo vòng xuyến vào tay của hai chị em và đội vương miện xinh đẹp lên đầu chúng nó.
EZE 23:43 Rồi ta nói về người đã chán ngấy chuyện ngoại tình của nó rằng, ‘Chẳng lẽ chúng cứ mãi ngoại tình và hành nghề mãi dâm sao?’
EZE 23:44 Chúng tiếp tục đi lại với nó như đi thăm gái điếm. Vậy chúng tiếp tục đi đến Xa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem, tức hai con đàn bà vô liêm sỉ đó.
EZE 23:45 Nhưng những người làm điều thiện sẽ trừng phạt chúng theo cách người ta trừng phạt các đàn bà phạm tội tà dâm hay kẻ giết người vì chúng quả thật đã phạm tội tà dâm và giết người.
EZE 23:46 CHÚA là Thượng Đế phán: Hãy kéo một đám đông đến nghịch Xa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem, trao chúng cho đám đông để bị đe doạ và cướp bóc.
EZE 23:47 Hãy để đám quần chúng ném đá chúng chết và lấy gươm giết chúng. Hãy để họ giết các con trai con gái chúng và thiêu rụi nhà cửa chúng.
EZE 23:48 Như thế ta sẽ dẹp những tội nhục dục trong xứ. Tất cả đàn bà sẽ bị cảnh cáo và họ sẽ không còn phạm tội nhục dục như ngươi đã làm.
EZE 23:49 Các ngươi sẽ bị trừng phạt vì tội nhục dục mình và tội bái lạy tà thần. Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế.”
EZE 24:1 Vào ngày mười tháng mười, năm thứ chín của thời kỳ chúng tôi bị lưu đày, CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 24:2 “Hỡi con người, hãy ghi lại ngày hôm nay, chính hôm nay. Vua Ba-by-lôn đã vây hãm Giê-ru-sa-lem đúng hôm nay.
EZE 24:3 Rồi kể lại cho những kẻ không vâng lời ta. Hãy nói cùng chúng rằng: CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Hãy bắc cái nồi lên, đổ nước vào.
EZE 24:4 Bỏ vào đó mấy miếng thịt, thịt thật ngon tức thịt đùi và thịt vai. Bỏ đầy vào đó các xương tốt nhất.
EZE 24:5 Chọn con thú tốt nhất trong bầy, rồi chất củi bên dưới nồi. Hãy nấu các miếng thịt cho đến khi xương chín.
EZE 24:6 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: ‘Khốn cho thành của những kẻ sát nhân! Khốn cho nồi rỉ sét và sét không tróc ra! Hãy lấy thịt ra từng miếng khỏi nồi. Đừng chọn miếng nào đặc biệt.
EZE 24:7 Thành ấy như nồi rỉ sét vì máu sát nhân của nó vẫn còn trong thành. Nó đổ máu trên đá trơ trọi, chớ không đổ ra trên đất để bụi che lấp.
EZE 24:8 Ta đổ máu nó ra trên đá trơ trọi, không có gì che lấp.’ Ta làm như thế để dân chúng nổi giận và trừng phạt nó vì nó đã giết người vô tội.
EZE 24:9 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: ‘Khốn cho thành của những kẻ sát nhân! Ta sẽ chất củi lên thật cao để đốt.
EZE 24:10 Hãy chất củi và châm lửa. Hãy nấu cho xong thịt đi. Hãy trộn gia vị và để xương cháy khét.
EZE 24:11 Rồi để nồi không trên than cho nó nóng để đồng hai bên cháy đỏ lên. Chất cáu cặn bên trong sẽ tan chảy thiêu đốt rỉ sét.
EZE 24:12 Nhưng cố gắng làm sạch cái nồi đã không có kết quả. Rỉ sét đậm quá nên dù đốt bằng lửa cũng không làm tróc ra được.
EZE 24:13 Các ngươi đã bị ô dơ vì những hành vi tội lỗi mình. Ta muốn rửa sạch các ngươi nhưng các ngươi vẫn không sạch được. Các ngươi sẽ không bao giờ sạch được tội lỗi mình cho đến khi hả cơn giận của ta nghịch cùng ngươi.
EZE 24:14 Ta, CHÚA, có phán. Đã đến lúc ta hành động. Ta sẽ không kiềm hãm sự trừng phạt, thương hại hay đổi ý. Ta sẽ trừng phạt các ngươi do đường lối và việc làm các ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 24:15 Rồi CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 24:16 “Hỡi con người, ta sẽ cất vợ ngươi đi khỏi ngươi, người mà ngươi nhìn với lòng trìu mến. Nàng sẽ chết bất thần nhưng ngươi không được buồn bã hay than khóc cho nàng.
EZE 24:17 Hãy âm thầm than khóc; đừng than khóc lớn tiếng. Hãy buộc khăn vành, mang dép vào chân. Đừng che mặt, đừng dùng thức ăn khi than khóc người chết.”
EZE 24:18 Cho nên tôi nói cùng dân chúng vào buổi sáng thì đến chiều vợ tôi chết. Sáng hôm sau tôi làm y theo điều tôi được dặn bảo.
EZE 24:19 Dân chúng hỏi tôi, “Hãy cho chúng tôi biết, những điều ông làm có ý nghĩa gì cho chúng tôi?”
EZE 24:20 Tôi đáp, CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 24:21 “Hãy bảo dân Ít-ra-en, CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ta sẽ làm nhục đền thờ ta. Các ngươi nghĩ rằng đền thờ thêm sức mạnh cho các ngươi. Các ngươi hãnh diện về nó, các ngươi nhìn nó với vẻ yêu thương trìu mến. Nhưng con trai con gái mà các ngươi bỏ lại ở Giê-ru-sa-lem sẽ ngã chết vì gươm.
EZE 24:22 Khi việc đó xảy đến thì các ngươi phải làm như ta làm: không được che mặt, không được ăn thức ăn đám ma.
EZE 24:23 Phải vấn khăn vành trên đầu, mang dép vào chân. Các ngươi không được khóc lóc thảm thiết, nhưng các ngươi sẽ bị suy yếu vì tội lỗi mình và rồi sẽ nhìn nhau mà than khóc.
EZE 24:24 Vậy Ê-xê-chiên sẽ làm gương cho các ngươi. Các ngươi phải làm y như người làm. Khi những điều đó xảy ra, các ngươi biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế.
EZE 24:25 Con về phần ngươi, hỡi con người, sự việc sẽ diễn ra như sau. Ta sẽ dẹp đền thờ đã ban cho chúng sức lực và niềm vui, khiến chúng kiêu hãnh. Chúng nhìn nó với lòng trìu mến, nó khiến chúng vui mừng. Ta cũng sẽ mang con trai con gái chúng đi.
EZE 24:26 Lúc đó ai thoát được sẽ đến báo tin cho ngươi hay.
EZE 24:27 Lúc đó miệng ngươi sẽ được mở ra. Ngươi sẽ nói được, không bị câm nữa. Cho nên ngươi sẽ làm dấu hiệu cho chúng, và chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 25:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 25:2 “Hỡi con người, hãy nhìn về phía dân Am-môn và nói tiên tri nghịch chúng.
EZE 25:3 Hãy bảo chúng, ‘Hãy nghe lời CHÚA là Thượng Đế. CHÚA phán như sau: Ngươi vui mừng khi đền thờ ta bị làm nhục, khi đất Ít-ra-en điêu tàn, khi dân Giu-đa bị bắt đi lưu đày.
EZE 25:4 Cho nên ta sẽ giao ngươi cho dân miền Đông. Chúng sẽ dựng doanh trại và làm nhà giữa ngươi. Chúng sẽ ăn hoa quả ngươi và uống sữa của ngươi.
EZE 25:5 Ta sẽ khiến thành Ráp-ba trở nên đồng cỏ cho lạc đà và xứ Am-môn làm chỗ nghỉ ngơi cho chiên. Rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 25:6 CHÚA là Thượng Đế phán: Ngươi đã vỗ tay và dậm chân; ngươi vui mừng về sự tàn phá xứ Ít-ra-en vì ngươi ghét xứ ấy.
EZE 25:7 Cho nên ta sẽ dùng quyền năng ta chống nghịch ngươi. Ta sẽ trao ngươi cho các dân làm chiến lợi phẩm. Ta sẽ quét sạch ngươi khỏi xứ để ngươi không còn là một dân tộc nữa. Ta sẽ tiêu diệt ngươi rồi ngươi sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 25:8 CHÚA phán như sau: “Mô-áp và Ê-đôm nói, ‘Dân Giu-đa cũng như các dân khác.’
EZE 25:9 Cho nên ta sẽ lấy các thành phòng vệ biên giới Mô-áp, tức những thành tốt nhất trong xứ đó: Bết Giê-si-mốt, Ba-anh Mê-ôn, và Ki-ri-át-tha-im.
EZE 25:10 Rồi ta sẽ trao Mô-áp, cùng với dân Am-môn cho dân miền Đông làm tài sản. Mô-áp cùng với Am-môn sẽ không còn là một dân tộc nữa.
EZE 25:11 Ta sẽ trừng phạt Mô-áp, rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 25:12 CHÚA phán như sau: “Ê-đôm trả thù dân Giu-đa nên dân Ê-đôm mắc tội.
EZE 25:13 Vì vậy, CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ta sẽ dùng quyền năng ta nghịch lại Ê-đôm, giết tất cả người và súc vật. Ta sẽ tiêu diệt Ê-đôm suốt từ Thê-man cho đến Đê-đan khiến chúng ngã chết trong chiến trận.
EZE 25:14 Ta sẽ dùng dân Ít-ra-en báo thù Ê-đôm. Dân Ít-ra-en ta sẽ thi hành điều mà cơn giận phừng của ta đòi hỏi. Rồi dân Ê-đôm sẽ biết sự báo thù của ta ra sao, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 25:15 CHÚA là Thượng Đế phán: “Dân Phi-li-tin đã báo thù do lòng ganh ghét. Vì lòng chúng đầy sự khinh khi nên chúng tìm cách tiêu diệt Giu-đa.
EZE 25:16 CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ dùng quyền năng ta nghịch lại dân Phi-li-tin. Ta sẽ giết người Kê-rê-thít, tiêu diệt những kẻ còn sống sót trên vùng bờ biển Địa-trung-hải.
EZE 25:17 Ta sẽ trừng phạt chúng trong cơn giận ta và báo thù chúng toàn diện. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA khi ta báo thù.”
EZE 26:1 Vào ngày đầu tháng, năm lưu đày thứ mười một của chúng tôi, CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 26:2 “Hỡi con người, thành Tia đã nói nghịch cùng Giê-ru-sa-lem như sau: ‘Cái thành vốn là cửa ngõ cho các dân, nay đã sụp đổ rồi. Chúng ta hãy chiếm chỗ của nó. Vì thành Giê-ru-sa-lem điêu tàn rồi cho nên chúng ta có thể làm ra nhiều tiền.’
EZE 26:3 Vì thế CHÚA là Thượng Đế phán: Hỡi Tia, ta nghịch ngươi. Ta sẽ mang nhiều dân tộc lại chống nghịch ngươi như sóng biển đập vào các bờ hải đảo ngươi.
EZE 26:4 Chúng sẽ tiêu hủy các vách của Tia, và phá sập các tháp cao nó. Ta cũng sẽ cào sạch các đống đổ nát của nó, biến nó thành đá trơ trọi.
EZE 26:5 Tia sẽ như hải đảo nơi các dân đánh cá phơi lưới. Ta đã phán, Chúa là Thượng Đế đã nói. Các dân sẽ đánh cắp các của báu của Tia.
EZE 26:6 Ngoài ra chiến tranh sẽ tiêu hủy các làng mạc trên bờ biển đối diện hải đảo. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 26:7 CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta sẽ mang một vị vua từ phương Bắc đến để nghịch lại Tia. Người là Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, vua lớn nhất, cùng với ngựa, quân xa, lính cỡi ngựa, và một đạo quân đông đảo của người.
EZE 26:8 Người sẽ mở trận đánh và tiêu diệt làng mạc ngươi trên bờ biển đối diện hải đảo. Người sẽ xây tháp, đắp ụ đến chóp vách thành để tấn công ngươi.
EZE 26:9 Người sẽ mang những khúc gỗ lớn để chọc thủng các vách thành ngươi, và dùng thanh sắt phá sập các tháp ngươi.
EZE 26:10 Ngựa của người nhiều vô số đến nỗi bụi của chúng bao phủ ngươi. Vách ngươi sẽ lung lay vì tiếng của người cỡi ngựa, xe ngựa và quân xa. Vua Ba-by-lôn sẽ vào cửa thành ngươi như người ta vào thành nơi vách bị chọc thủng.
EZE 26:11 Vó ngựa của người sẽ chạy rầm rập trên đường phố ngươi. Người sẽ dùng gươm giết quân đội ngươi, và các trụ cột vững chắc của ngươi sẽ ngã sập xuống đất.
EZE 26:12 Ngoài ra, quân lính người sẽ cướp đi của cải và đánh cắp những gì ngươi bán ra. Chúng sẽ phá sập các vách thành ngươi và tiêu hủy các nhà cửa khang trang của ngươi. Rồi chúng sẽ ném đá, gỗ, và rơm rác của ngươi xuống biển.
EZE 26:13 Cho nên thôi đừng hát nữa; sẽ không còn ai nghe nhạc đờn cầm của ngươi nữa đâu.
EZE 26:14 Ta sẽ khiến ngươi thành đá trơ trọi, ngươi sẽ trở thành chỗ phơi lưới cá. Ngươi sẽ không được xây lại nữa vì ta, CHÚA đã tuyên bố, Ngài phán vậy.”
EZE 26:15 CHÚA là Thượng Đế phán như sau về Tia: “Các dân sống dọc theo bờ biển sẽ run sợ khi nghe tiếng ngươi sụp đổ và tiếng của những kẻ bị thương đang hấp hối rên rỉ của ngươi.
EZE 26:16 Rồi các lãnh tụ của vùng bờ biển sẽ xuống khỏi ngai, cởi bỏ quần áo thêu xinh đẹp, và tỏ ra run sợ. Chúng sẽ ngồi bệt xuống đất và lúc nào cũng run rẩy. Khi chúng nhìn thấy ngươi chúng sẽ sửng sốt.
EZE 26:17 Rồi chúng sẽ hát bài ai ca về ngươi như sau: ‘Ôi thành Tia, ngươi là thành danh tiếng nay đã bị tiêu diệt rồi! Ngươi đã mất thế lực trên biển cả! Ngươi và dân ngươi trước kia hoành hành trên các đại dương. Khiến mọi người quanh ngươi sợ hãi ngươi.
EZE 26:18 Nay dân sống ở vùng bờ biển run sợ, bây giờ ngươi đã ngã xuống. Các hải đảo run sợ vì ngươi đã bị thảm bại.’”
EZE 26:19 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: “Ta sẽ khiến ngươi ra thành phố hoang vu, không ai ở. Ta sẽ mang nước từ biển sâu vùi lấp ngươi, Địa-trung-hải sẽ bao phủ ngươi.
EZE 26:20 Lúc ấy ta sẽ sai ngươi xuống chỗ người chết để nhập cùng những kẻ đã qua đời từ lâu. Ta sẽ khiến cho ngươi sống với những người chết nơi âm phủ, ở những nơi đổ nát. Ngươi sẽ không sống lại từ đó hay có chỗ đứng nào trong thế giới của người sống nữa.
EZE 26:21 Các người khác sẽ hoảng sợ khi chứng kiến những gì xảy đến cho ngươi. Và như thế là xong đời ngươi rồi. Người ta sẽ tìm ngươi nhưng không gặp được, Chúa là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 27:1 Chúa phán cùng tôi như sau:
EZE 27:2 “Hỡi con người, hãy hát bài ai ca về thành Tia.
EZE 27:3 Hãy nói với Tia, là thành có các bến tàu nằm trên Địa-trung-hải và là trung tâm buôn bán của các dân sống dọc theo duyên hải. Chúa là Thượng Đế phán như sau: Hỡi Tia, ngươi đã nói, ‘Ta như chiếc tàu xinh đẹp.’
EZE 27:4 Ngươi thong dong lượn trên biển khơi. Những kẻ đóng tàu của ngươi biến vẻ đẹp ngươi thật hoàn hảo.
EZE 27:5 Chúng dùng các cây thông từ núi Hẹt-môn làm ván đóng tàu cho ngươi. Chúng lấy cây hương nam từ Li-băng để đóng cột buồm cho ngươi.
EZE 27:6 Chúng làm các mái chèo của ngươi bằng gỗ sồi từ Ba-san. Chúng đóng sàn tàu ngươi bằng gỗ thông từ bờ biển của đảo Chíp, rồi cẩn ngà voi vào đó.
EZE 27:7 Buồm ngươi làm bằng vải gai mịn thêu đủ kiểu từ Ai-cập và buồm đó làm cờ cho ngươi. Vải che sàn tàu của ngươi màu xanh và màu tím mua từ đảo Chíp.
EZE 27:8 Những thủy thủ từ Xi-đôn và Ạc-vát dùng mái chèo để chèo ngươi. Hỡi Tia, những tay thợ khéo của ngươi đều là thủy thủ trên sàn tàu ngươi.
EZE 27:9 Các nhân công của Bi-bờ-lốt làm việc cho ngươi, chúng trét nhựa thông trên các kẽ ván tàu. Các tàu bè trên biển và các thủy thủ đều cập bên hông tàu để buôn bán với ngươi.
EZE 27:10 Những người từ Ba-tư, Ly-đia, và Phút làm các chiến sĩ cho hải quân ngươi. Chúng treo các thuẫn và mũ sắt bên hông ngươi. Chúng làm cho ngươi thật xinh xắn.
EZE 27:11 Các dân Ạc-vát và Xi-li-xia canh phòng quanh các vách thành ngươi. Những người Gam-mát canh phòng các tháp canh ngươi và treo thuẫn quanh các vách ngươi. Chúng làm cho vẻ đẹp ngươi thêm hoàn mỹ.
EZE 27:12 Vì ngươi giàu có cho nên người Tạt-si buôn bán với ngươi. Chúng đánh đổi hàng hóa của ngươi để lấy bạc, sắt, thiếc và chì.
EZE 27:13 Những người Hi-lạp, Tu-banh, và Mê-séc làm con buôn cho ngươi. Chúng đánh đổi hàng hóa ngươi lấy tôi mọi và đồ bằng đồng.
EZE 27:14 Dân cư Bết Tô-ga-ma đánh đổi hàng hóa của ngươi để lấy ngựa kéo xe, ngựa đánh trận và con la.
EZE 27:15 Dân cư ở Rốt làm con buôn cho ngươi, bán hàng hóa ngươi ở nhiều vùng duyên hải. Chúng mang về ngà voi, và vô số gỗ mun để trả thù lao cho ngươi.
EZE 27:16 Dân A-ram làm con buôn cho ngươi vì ngươi có nhiều hàng hóa tốt để bán. Chúng đánh đổi hàng hóa ngươi để lấy bích ngọc, vải tím, vải thêu, vải gai mịn, san hô, và hồng ngọc.
EZE 27:17 Dân Giu-đa và Ít-ra-en làm con buôn cho ngươi. Chúng đánh đổi hàng hóa ngươi lấy lúa mì từ Min-nia, trái vả đầu mùa, mật ong, dầu ô-liu, và thuốc thơm.
EZE 27:18 Dân Đa-mách làm con buôn cho ngươi vì ngươi có nhiều hàng hóa tốt và giàu có. Chúng đánh đổi hàng hóa ngươi lấy rượu từ Hên-bôn, len từ Xa-ha, và các thùng rượu từ Y-xanh. Chúng nhận trả tiền cho những hàng hóa ngươi bằng sắt uốn, nhục quế và mía.
EZE 27:20 Dân Đê-đan làm con buôn cho ngươi, đổi chác đệm trải yên ngựa để được cỡi ngựa.
EZE 27:21 Dân Ả-rập và các quan quyền của Kê-đa làm con buôn cho ngươi. Chúng nhận trả tiền bằng chiên con, chiên đực và dê.
EZE 27:22 Các thương gia từ Sê-ba và Ra-a-ma làm con buôn cho ngươi. Chúng đổi chác hàng hóa ngươi để lấy các gia vị tốt nhất, ngọc, và vàng quí nhất.
EZE 27:23 Dân Ha-ran, Ca-ne, Ê-đen, và các con buôn của Sê-ba, Át-sua, và Kinh-mát làm con buôn cho ngươi.
EZE 27:24 Chúng được trả bằng những áo quần tốt nhất, vải xanh, vải thêu, thảm trải sàn nhà nhiều màu làm bằng các dây thừng quấn và thắt nút.
EZE 27:25 Các tàu buôn chở những hàng hóa ngươi bán. Ngươi như tàu chở đầy hàng nặng trĩu, ở giữa biển.
EZE 27:26 Những tay chèo mang ngươi ra biển khơi, nhưng gió Đông đánh ngươi tan tành giữa biển.
EZE 27:27 Của cải, thực phẩm, hàng hóa, người đi biển, thủy thủ, các công nhân, các lái buôn, các chiến sĩ ngươi cùng mọi người khác trên tàu đều chìm xuống biển lúc tàu ngươi chìm.
EZE 27:28 Những người đứng trên bờ run sợ khi các thủy thủ kêu cứu.
EZE 27:29 Những tay chèo đều bỏ tàu; tất cả các kẻ đi biển và thủy thủ của các tàu khác đều đứng trên bờ.
EZE 27:30 Chúng kêu la về ngươi; chúng ráng sức kêu. Chúng phủ bụi trên đầu và lăn trong tro để tỏ sự buồn thảm.
EZE 27:31 Chúng cạo đầu vì ngươi, và mặc áo vài sô để tỏ sự buồn rầu. Chúng than khóc cho ngươi; khóc lóc thảm thiết.
EZE 27:32 Và trong khi kêu khóc chúng hát bài ai ca cho ngươi như sau: ‘Chưa có ai từng bị tiêu diệt như thành Tia, bị biển cả bao trùm.’
EZE 27:33 Khi những hàng hóa ngươi trao đổi qua các biển, ngươi đáp ứng nhu cầu của nhiều dân. Nhờ sự giàu có tột độ và hàng hóa ngươi, Ngươi làm cho nhiều vua trên đất giàu có.
EZE 27:34 Nhưng nay ngươi bị biển cả làm cho tan vỡ, và chìm xuống đáy. Tất cả hàng hóa và người trên tàu cũng chìm xuống đáy biển với ngươi.
EZE 27:35 Mọi người sống dọc theo bờ biển, sửng sốt vì số phận ngươi. Các vua chúa của chúng hoảng hốt, và mặt họ nhăn nhó.
EZE 27:36 Các con buôn thuộc các nước phỉ nhổ ngươi. Ngươi đã đến bước đường cùng, rồi biến mất, không còn nữa.”
EZE 28:1 Chúa phán cùng tôi rằng:
EZE 28:2 “Hỡi con người, hãy bảo quan cai trị thành Tia: Chúa phán như sau: Vì ngươi kiêu căng, Ngươi bảo rằng, ‘Ta là thần. Ta ngồi trên ngôi của thần giữa các biển.’ Ngươi cho mình khôn ngoan như thần, Nhưng ngươi chỉ là người phàm, không phải thần thánh.
EZE 28:3 Ngươi nghĩ mình khôn ngoan hơn Đa-niên. Ngươi cho mình có thể khám phá hết mọi điều bí mật.
EZE 28:4 Nhờ sự khôn ngoan và thông sáng ngươi, ngươi đã tự làm giàu. Ngươi thu được nhiều vàng bạc chứa trong kho ngươi.
EZE 28:5 Nhờ khéo léo kinh doanh, ngươi gia tăng của cải. Ngươi quá tự phụ vì của cải mình.”
EZE 28:6 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: “Ngươi cho mình khôn ngoan như thần,
EZE 28:7 nhưng ta sẽ mang dân ngoại quốc đến nghịch ngươi, một dân hung bạo nhất. Chúng sẽ rút gươm tiêu hủy những gì mà sự khôn ngoan ngươi đã xây lên, chúng sẽ làm nhục uy danh ngươi.
EZE 28:8 Chúng sẽ giết ngươi; ngươi sẽ phải chết một cách thảm khốc như kẻ bỏ mạng ngoài biển khơi.
EZE 28:9 Trong khi chúng giết ngươi, thì ngươi không còn nói được nữa rằng, ‘Ta là thần.’ Ngươi sẽ chỉ là người phàm, không phải thần thánh, khi những kẻ sát nhân giết ngươi.
EZE 28:10 Ngươi sẽ chết như người ô dơ, người ngoại quốc sẽ giết ngươi. Ta đã tuyên bố, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 28:11 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 28:12 “Hỡi con người, hãy hát bài ai ca cho vua Tia. Hãy nói cùng người rằng: CHÚA là Thượng Đế phán: Trước kia ngươi là một tấm gương của sự toàn mỹ, đầy khôn ngoan và đẹp toàn hảo.
EZE 28:13 Đời sống ngươi thật tuyệt diệu, như đang sống trong vườn Ê-đen, là vườn của Thượng Đế. Ngươi mang đầy châu ngọc: Hồng ngọc, hoàng ngọc, bích ngọc, thanh ngọc, chàm ngọc, lục ngọc, biếc ngọc, và thông ngọc. Đồ trang sức ngươi toàn bằng vàng. Chúng được làm ra vào ngày ngươi được tạo nên.
EZE 28:14 Ta đã chỉ định một thiên sứ trông nom ngươi. Ta đặt ngươi trên núi thánh của Thượng Đế. Ngươi đi giữa ngọc quí sáng chói như lửa.
EZE 28:15 Đời ngươi thật tốt lành từ ngày ngươi mới được tạo nên, cho đến ngày điều ác trong ngươi bị phát giác.
EZE 28:16 Vì ngươi buôn bán với các xứ xa xôi, ngươi học đòi hung bạo, và ngươi đã phạm tội. Cho nên ta ném ngươi xuống khỏi núi của Thượng Đế một cách nhục nhã. Thiên sứ trông nom ngươi cũng đuổi ngươi ra khỏi các ngọc quí sáng như lửa.
EZE 28:17 Ngươi quá tự phụ vì vẻ đẹp của mình. Ngươi làm hư hỏng sự khôn ngoan mình vì uy danh ngươi. Ta ném ngươi xuống đất. Ngươi trở thành bài học cho các vua khác.
EZE 28:18 Ngươi khinh thường những nơi thờ phụng của mình vì ngươi phạm tội quá nhiều và buôn bán bất lương. Cho nên ta phóng hỏa nơi ngươi ở, lửa thiêu đốt ngươi. Ta biến ngươi thành tro trên đất để mọi người đều thấy.
EZE 28:19 Các dân biết ngươi cũng sửng sốt vì ngươi. Sự trừng phạt ngươi quá khủng khiếp, Ngươi sẽ biến mất, không còn nữa.”
EZE 28:20 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 28:21 “Hỡi con người, hãy hướng về thành Xi-đôn và nói tiên tri nghịch cùng nó.
EZE 28:22 Hãy nói: CHÚA là Thượng-Đế phán: ‘Nầy Xi-đôn, ta nghịch ngươi, Ta sẽ tỏ ra vinh hiển ta giữa ngươi. Muôn dân sẽ biết ta là CHÚA khi ta trừng phạt Xi-đôn; Ta sẽ phơi bày sự thánh khiết ta khi ta đánh bại nó.
EZE 28:23 Ta sẽ sai bệnh tật đến Xi-đôn, và máu sẽ chảy ròng ròng trong các đường phố nó. Những kẻ bị thương trong Xi-đôn sẽ ngã chết, bị tấn công tứ phía. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.’
EZE 28:24 Các quốc gia láng giềng của Ít-ra-en sẽ không là gai nhọn hay cỏ ngứa chích vào Ít-ra-en nữa. Chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế.”
EZE 28:25 CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta sẽ gom dân Ít-ra-en lại từ các quốc gia mà ta đã phân tán chúng. Ta sẽ tỏ sự thánh khiết ta khi các dân chứng kiến điều ta làm cho dân ta. Rồi chúng sẽ trở về sống trong quê hương mình—là xứ mà ta đã ban cho Gia-cốp, tôi tớ ta.
EZE 28:26 Chúng sẽ sống bình yên trong xứ, chúng sẽ xây nhà và trồng vườn nho. Chúng sẽ sống bình yên sau khi ta đã trừng phạt các dân chung quanh vốn ghét chúng. Rồi chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế.”
EZE 29:1 Vào ngày mười hai tháng mười, năm lưu đày thứ mười của chúng tôi thì CHÚA phán cùng tôi như sau:
EZE 29:2 “Hỡi con người, hãy nhìn về phía vua Ai-cập và nói tiên tri nghịch cùng người và toàn xứ Ai-cập.
EZE 29:3 Hãy nói rằng: CHÚA là Thượng-Đế phán như sau: Nầy vua Ai-cập, ta nghịch ngươi. Ngươi như con quái vật khổng lồ nằm trong sông Nin. Ngươi nói, ‘Sông Nin là của ta; Ta đã tạo nó cho ta dùng.’
EZE 29:4 Nhưng ta sẽ móc hàm ngươi, và khiến cá trong sông Nin bám vào hông ngươi. Ta sẽ kéo ngươi ra khỏi sông, cùng với cá bám vào hông ngươi.
EZE 29:5 Ta sẽ bỏ ngươi vào sa mạc, ngươi cùng với tất cả cá trong sông ngòi ngươi. Ngươi sẽ ngã xuống đất; sẽ không ai đỡ ngươi lên hay chôn cất ngươi. Ta đã dùng ngươi làm thức ăn cho dã thú và chim trời.
EZE 29:6 Rồi mọi người sống trong Ai-cập sẽ biết ta là CHÚA. Ít-ra-en trước đây trông cậy vào ngươi để được giúp đỡ, nhưng ngươi chỉ là cây nạng bằng lau sậy yếu ớt.
EZE 29:7 Khi tay chúng bám lấy ngươi, thì ngươi bể ra và xé vai chúng. Khi chúng tì vào ngươi, thì ngươi gãy làm ẹo xương sống chúng.
EZE 29:8 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ khiến một kẻ thù tấn công ngươi, giết dân chúng và súc vật ngươi.
EZE 29:9 Ai-cập sẽ trở thành sa mạc hoang vu. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA. Vì ngươi nói, ‘Sông Nin là của ta, ta đã tạo ra nó,’
EZE 29:10 cho nên ta nghịch ngươi và các sông ngòi ngươi. Ta sẽ tiêu diệt xứ Ai-cập và biến nó thành sa mạc hoang vu từ Mi-đôn về phía Bắc cho đến A-xoan về phía Nam, đến tận biên giới Cút.
EZE 29:11 Sẽ không có người hay thú vật nào đi ngang đó, sẽ không có ai cư ngụ ở Ai-cập suốt bốn mươi năm.
EZE 29:12 Ta sẽ biến đất Ai-cập thành ra xứ hoang vu nhất. Các thành phố nó sẽ bị hoang vắng nhất trong các thành phố điêu tàn trong bốn mươi năm. Ta sẽ phân tán người Ai-cập ra khắp các dân, trải chúng ra khắp các nước.”
EZE 29:13 CHÚA là Thượng Đế phán: “Sau bốn mươi năm, ta sẽ gom Ai-cập lại từ các dân mà ta đã phân tán chúng.
EZE 29:14 Ta sẽ mang các tù binh Ai-cập về và khiến chúng đi về miền Nam Ai-cập tức nguyên quán của chúng. Chúng sẽ trở thành một vương quốc yếu ớt nơi đó.
EZE 29:15 Chúng sẽ làm vương quốc yếu nhất, không bao giờ cai trị được nước nào khác. Ta sẽ làm cho nó yếu đến nỗi nó sẽ không bao giờ cai trị dân nào khác.
EZE 29:16 Dân Ít-ra-en sẽ không còn bao giờ trông cậy vào Ai-cập nữa. Ngược lại, sự trừng phạt của Ai-cập sẽ nhắc nhở dân Ít-ra-en về tội lỗi chúng vì chúng đã quay sang cầu cứu Ai-cập. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA, là Thượng Đế.”
EZE 29:17 Ngày đầu tháng giêng năm lưu đày thứ hai mươi bảy, thì CHÚA phán cùng tôi:
EZE 29:18 “Hỡi con người, Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn, xua quân đánh Tia mãnh liệt. Đầu các binh sĩ đều bị cạo trọc, mọi vai đều sưng mà Nê-bu-cát-nết-xa và đạo quân người vẫn chưa nhận được lợi ích nào từ việc đánh Tia.
EZE 29:19 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ trao đất Ai-cập cho Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn. Người sẽ đày dân Ai-cập và lấy của cải cùng châu báu nó để thưởng công cho binh sĩ mình.
EZE 29:20 Ta sẽ trao đất Ai-cập cho Nê-bu-cát-nết-xa để thưởng công cho người vì đã hết sức làm việc cho ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 29:21 Lúc đó ta sẽ làm cho dân Ít-ra-en mạnh trở lại và ta sẽ để ngươi, Ê-xê-chiên nói cùng chúng. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 30:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 30:2 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri rằng, CHÚA là Thượng Đế phán: Hãy khóc than như sau, ‘Ngày kinh khiếp sắp đến.’
EZE 30:3 Ngày đó gần kề, ngày xét xử của CHÚA sắp đến. Đó là ngày u ám lúc mọi dân sẽ bị xét xử.
EZE 30:4 Một kẻ thù sẽ tấn công Ai-cập, và Cút sẽ run sợ. Khi cuộc chém giết bắt đầu ở Ai-cập, thì của cải nó sẽ bị cướp đi, và các nền của nó sẽ bị phá sập.
EZE 30:5 Cút, Phút, Ly-đia, Á-rập, Ly-bi, và một số dân Ít-ra-en đã lập ước với Ai-cập sẽ ngã chết trong chiến trận.”
EZE 30:6 CHÚA phán như sau: “Những kẻ chiến đấu cho Ai-cập sẽ ngã xuống. Quyền lực mà nó hãnh diện sẽ biến mất. Dân Ai-cập sẽ ngã chết trong chiến tranh, từ Mi-đôn về phía Bắc cho đến A-xoan về phía Nam, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 30:7 Xứ chúng sẽ là vùng đất hoang vu nhất. Các thành phố Ai-cập sẽ là những thành phố điêu tàn tồi tệ nhất.
EZE 30:8 Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA khi ta phóng hỏa Ai-cập và khi các dân theo nó bị đè bẹp.
EZE 30:9 Lúc đó ta sẽ sai sứ giả đến bằng tàu để khiến Cút hoảng sợ. Hiện nay chúng cảm thấy an toàn. Dân Cút sẽ run sợ khi Ai-cập bị trừng phạt. Thời kỳ đó chắc chắn sẽ đến.”
EZE 30:10 CHÚA là Thượng-Đế phán: “Ta sẽ tiêu diệt một số lớn dân cư Ai-cập, dùng quyền lực của Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn.
EZE 30:11 Nê-bu-cát-nết-xa và đạo quân người, đạo quân hung bạo nhất của các dân, sẽ được mang đến để tiêu diệt xứ. Chúng sẽ rút gươm nghịch lại Ai-cập, thây chết chật đất.
EZE 30:12 Ta sẽ khiến các suối của sông Nin thành đất khô, rồi bán đất ấy cho kẻ ác. Ta sẽ dùng quyền lực của dân ngoại quốc tiêu diệt đất cùng mọi thứ trong đó. Ta, CHÚA phán vậy.”
EZE 30:13 CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta sẽ tiêu diệt các thần tượng và dẹp các tượng thờ khỏi thành Mem-phít. Sẽ không còn lãnh tụ nào trong Ai-cập, Ta sẽ rải sự kinh hoàng trên khắp xứ Ai-cập.
EZE 30:14 Ta sẽ biến vùng Nam Ai-cập ra hoang vu cho lửa phát cháy từ Xoan và trừng phạt Thê-be.
EZE 30:15 Ta sẽ trút cơn giận ta lên Bê-lu-xi-um, nơi kiên cố của Ai-cập. Ta sẽ tiêu diệt nhiều người ở Thê-be.
EZE 30:16 Ta sẽ châm lửa đốt Ai-cập, Bê-lu-xi-um sẽ đau khổ. Các vách thành Thê-be sẽ bị sập tan hoang, và hằng ngày Mem-phít sẽ khốn đốn.
EZE 30:17 Các thanh niên của Hê-li-ô-bô-li và Bu-bát-ti sẽ ngã chết trong chiến trận, và dân chúng sẽ bị bắt làm tù đày.
EZE 30:18 Ngày sẽ trở nên đen tối ở Ta-ban-he khi ta bẻ gãy quyền lực của Ai-cập. Rồi nó sẽ không còn tự phụ về quyền lực mình nữa. Một đám mây sẽ phủ trên Ai-cập, và làng mạc nó sẽ bị chiếm và bắt đi lưu đày.
EZE 30:19 Cho nên ta sẽ trừng phạt Ai-cập, và chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 30:20 Ngày bảy tháng giêng, năm lưu đày thứ mười một thì CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 30:21 “Hỡi con người, ta đã bẻ gãy cánh tay hùng mạnh của vua Ai-cập. Nó không được băng bó cho nên sẽ không thể nào lành được. Nó không được băng cho nên không thể nào đủ mạnh để cầm gươm đánh trận.
EZE 30:22 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Ta nghịch lại vua Ai-cập. Ta sẽ bẻ gãy các cánh tay nó, cả tay lành lẫn tay gãy, rồi ta sẽ khiến gươm rơi khỏi tay nó.
EZE 30:23 Ta sẽ phân tán người Ai-cập ra khắp các dân, trải chúng ra giữa mọi nước.
EZE 30:24 Ta sẽ làm cho các cánh tay vua Ba-by-lôn thêm mạnh, đặt gươm ta vào tay người. Nhưng ta sẽ bẻ gãy cánh tay của vua Ai-cập. Cho nên khi người đối đầu với vua Ba-by-lôn, người sẽ kêu la đau đớn như người hấp hối.
EZE 30:25 Ta sẽ khiến tay vua Ba-by-lôn thêm mạnh, nhưng tay vua Ai-cập sẽ buông xuôi. Rồi mọi người sẽ biết ta là CHÚA khi ta đặt gươm ta vào tay vua Ba-by-lôn để người dùng nó chiến đấu với vua Ai-cập.
EZE 30:26 Ta sẽ phân tán người Ai-cập ra khắp các dân, rải chúng ra giữa mọi nước. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 31:1 Vào ngày một tháng ba, năm lưu đày thứ mười một CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 31:2 “Hỡi con người, hãy nói cùng vua Ai-cập và dân chúng người rằng: ‘Không ai cao trọng bằng ngươi.
EZE 31:3 A-xy-ri trước kia như cây hương nam ở Li-băng, nhành lá xinh đẹp che rợp cánh rừng. Nó rất cao lớn; chóp nó lên đến tận mây.
EZE 31:4 Nước nhiều làm cho nó nẩy nở; và các mạch nước sâu làm cho nó cao lớn. Các sông chảy quanh gốc nó và các phụ lưu chảy đến các cây khác trong vùng thôn quê.
EZE 31:5 Vì thế nó cao hơn các cây khác trong vùng quê. Nhánh nó dài và to vì được tưới nước.
EZE 31:6 Chim trời làm tổ trong các nhánh nó. Muông thú sinh sản dưới các cành nó. Các dân tộc hùng mạnh cư ngụ dưới bóng rợp của nó.
EZE 31:7 Cây đó lớn lên và xinh đẹp, có các nhánh dài, vì rễ nó đâm xuống đến nước.
EZE 31:8 Nó cao hơn tất cả các cây hương nam trong vườn của Thượng Đế. Nó có nhiều nhánh hơn tất cả các cây thông và cây tùng. Không có cây nào trong vườn của Thượng Đế đẹp bằng nó cả.
EZE 31:9 Ta làm cho nó xinh đẹp bằng các nhánh của nó, tất cả các cây trong vườn Ê-đen của Thượng Đế đều muốn được như nó.’”
EZE 31:10 Nên CHÚA là Thượng Đế phán: Cây đó cao lớn. Chóp nó lên đến tận mây, nó đâm ra kiêu căng vì mình cao lớn.
EZE 31:11 Cho nên ta giao nó cho một quan cai trị hùng mạnh của các dân để trừng phạt nó. Vì nó gian ác nên ta diệt nó.
EZE 31:12 Một dân ngoại quốc hung bạo nhất chặt nó xuống và bỏ nó. Các nhánh nó rơi trên núi và phủ đầy thung lũng, các nhánh gãy của nó nằm la liệt trong các hố sâu của xứ. Các quốc gia trên đất rời bỏ bóng mát của nó.
EZE 31:13 Chim trời sinh sống trên thân cây đã bị đốn ngã của nó. Thú rừng sống ở giữa các nhánh gãy của nó.
EZE 31:14 “Cho nên các cây sống gần nước không còn kiêu căng vì cao lớn; chóp nó không lên đến mây. Không có cây nào được tưới nước mà cao đến như vậy vì tất cả mọi cây đều phải chết và tan nát trong đất. Chúng sẽ xuống lòng đất và ở chung với những người đã chết.”
EZE 31:15 CHÚA là Thượng Đế phán: Vào ngày cây đó đi xuống âm phủ, ta sẽ khiến các suối nước sâu kêu khóc thảm thiết. Ta sẽ che chúng và ngăn các dòng nước chúng, các suối nước sẽ ngưng chảy. Ta sẽ cho Li-băng mặc đồ đen để than khóc về cây lớn đó, các cây khác trong vùng quê cũng buồn bã vì nó.
EZE 31:16 Ta khiến các dân run sợ khi nghe tiếng cây đó ngã rầm lúc ta mang nó xuống âm phủ. Nó xuống đó để nhập chung với những kẻ đã xuống huyệt. Rồi tất cả các cây trong vườn Ê-đen và những cây tốt nhất của Li-băng, những cây được tưới nước đầy đủ, sẽ được an ủi nơi âm phủ dưới đất.
EZE 31:17 Các cây nầy cũng đã đi xuống chung với chỗ cây lớn nơi âm phủ. Chúng nhập chung với những kẻ đã bị giết trong chiến tranh và với những dân đã sống dưới bóng cây lớn ấy.
EZE 31:18 Cho nên, hỡi Ai-cập, không có cây nào trong vườn Ê-đen bằng ngươi về uy nghiêm và danh vọng, nhưng ngươi sẽ nhập chung với các cây khác trong vườn Ê-đen dưới âm phủ. Ngươi sẽ nằm chung với những người ngoại quốc, cùng với những người bị giết trong chiến tranh. Đó là nói về vua Ai-cập và toàn dân người, CHÚA phán vậy.
EZE 32:1 Vào ngày một tháng mười hai năm lưu đày thứ mười hai, CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 32:2 “Hỡi con người, hãy hát một bài ai ca về vua Ai-cập như sau: ‘Ngươi tưởng mình như sư tử tơ nằm giữa các dân. Nhưng thật ra ngươi chẳng khác nào con cá sấu trong hồ. Ngươi đập nước tung toé trong các suối, và lấy chân khuấy nước, quậy bùn.’”
EZE 32:3 CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta sẽ bủa lưới ta trên ngươi, và dùng một đám đông lôi ngươi lên trong lưới ta.
EZE 32:4 Rồi ta sẽ ném ngươi ra trên đất, quăng ngươi xuống đất. Ta sẽ để cho chim trời đậu trên ngươi và muông thú trên đất sẽ ăn thịt ngươi no nê.
EZE 32:5 Ta sẽ trải thịt ngươi ra trên núi và thịt còn dư ta sẽ đổ vào thung lũng.
EZE 32:6 Ta sẽ làm cho đất đẫm máu ngươi, chạy dài đến tận các núi, và các hố sâu sẽ đầy thịt ngươi.
EZE 32:7 Khi ta khiến ngươi biến mất, ta sẽ che phủ bầu trời và làm tối sầm các ngôi sao lại. Ta sẽ lấy mây che mặt trời, mặt trăng sẽ không chiếu sáng nữa.
EZE 32:8 Ta sẽ khiến các ngọn đèn trên trời trở nên tối tăm trên ngươi. Ta sẽ mang sự tối tăm đến trên xứ ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 32:9 Ta sẽ khiến nhiều người lo sợ khi ta bắt ngươi làm tù đày trong các xứ khác, đến những xứ ngươi chưa hề biết.
EZE 32:10 Ta sẽ khiến nhiều người sửng sốt vì ngươi. Các vua sẽ run sợ vì ngươi khi ta múa gươm trước mắt chúng. Chúng sẽ run rẩy vào ngày ngươi ngã xuống; Vua nào cũng đều lo sợ cho tính mạng mình.
EZE 32:11 Nên CHÚA là Thượng Đế phán: Gươm của vua Ba-by-lôn sẽ tấn công ngươi.
EZE 32:12 Ta sẽ làm cho dân ngươi ngã chết bằng lưỡi gươm của các chiến sĩ anh dũng, những kẻ đáng sợ nhất trên thế giới. Chúng sẽ tiêu diệt sự kiêu căng của Ai-cập cùng dân chúng nó.
EZE 32:13 Ta cũng sẽ tiêu diệt tất cả gia súc của Ai-cập đang sống gần nước. Sẽ không có bàn chân nào khuấy động nước, và các móng chân súc vật sẽ không khuấy bùn lên nữa.
EZE 32:14 Cho nên ta sẽ khiến nước của Ai-cập trở nên trong vắt. Ta sẽ khiến các sông nó chảy êm xuôi như dầu ô liu, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 32:15 Khi ta khiến đất Ai-cập trở nên hoang vu và cướp đi mọi thứ trong xứ, khi ta tiêu diệt mọi người sống trong Ai-cập, thì chúng sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 32:16 “Đây là bài ai ca mà người ta hát cho Ai-cập. Các người đàn bà của mọi dân sẽ hát bài đó, họ sẽ hát bài ai ca cho Ai-cập và dân chúng nó, CHÚA phán vậy.”
EZE 32:17 Vào ngày mười lăm của tháng, năm tù đày thứ mười hai thì CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 32:18 “Hỡi con người, hãy khóc cho dân Ai-cập. Hãy lôi Ai-cập xuống, cùng với đàn bà của các dân tộc hùng mạnh, hãy lôi chúng xuống âm phủ dưới đất để nhập chung với những kẻ đã đi xuống đó.
EZE 32:19 Hãy bảo chúng, ‘Các ngươi có đẹp hơn các người khác không? Hãy xuống chết chung với những kẻ không được cắt dương bì đi.’
EZE 32:20 Các người Ai-cập sẽ ngã chết trong đám những kẻ bị giết trong chiến tranh. Gươm đã sẵn sàng rồi; quân thù sẽ lôi Ai-cập và dân chúng nó đi.
EZE 32:21 Từ âm phủ các lãnh tụ của những kẻ mạnh dạn sẽ nói về vua Ai-cập và các dân tộc đã giúp đỡ người như sau: ‘Những kẻ không tinh sạch, những kẻ bị giết trong chiến tranh đều đã xuống đây nằm chết.’
EZE 32:22 A-xy-ri và đạo quân nó nằm chết ở đó. Mồ mả của các binh sĩ nó nằm la liệt quanh đây. Tất cả đều đã bị giết trong chiến tranh,
EZE 32:23 tất cả mồ mả của chúng nằm tận đáy âm phủ. Đạo quân A-xy-ri nằm quanh mồ mả nó. Khi chúng còn sống trên đất, chúng đã gieo kinh hoàng cho người ta, nhưng nay tất cả chúng nó đều đã bị giết trong chiến tranh.
EZE 32:24 Nước Ê-lam có ở đó cùng với quân đội đóng quanh mồ mả nó. Tất cả đều bị giết trong chiến tranh. Trước kia chúng đã gieo kinh hoàng cho những kẻ sống trên đất, và chúng là những kẻ không cắt dương bì cho nên chúng xuống đến đáy âm phủ. Chúng phải mang lấy sỉ nhục mình cùng với những kẻ đã xuống âm phủ.
EZE 32:25 Một cái giường đã làm sẵn cho Ê-lam ở giữa những kẻ bị giết trong chiến tranh. Tất cả người Ê-lam bị giết trong chiến tranh đều không được cắt dương bì. Khi còn sống chúng đã gieo kinh hoàng cho người khác, nhưng nay chúng phải mang nhuốc nhơ mình cùng với những kẻ đã xuống âm phủ. Mồ mả chúng nằm chung với những kẻ đã bị giết.
EZE 32:26 Mê-séc và Tu-banh nằm trong mồ ở dưới đó cùng với các binh sĩ quanh chúng. Tất cả bọn chúng không được cắt dương bì và đều bị giết trong chiến tranh. Khi còn sống chúng cũng đã gieo kinh hoàng cho người khác.
EZE 32:27 Nhưng chúng được ngã chết cùng với các chiến sĩ không được cắt dương bì bị giết trong chiến trận từ xưa, đã xuống âm phủ và được chôn cùng với vũ khí mình. Các lưỡi gươm kê dưới đầu chúng nhưng tội lỗi chúng thì nằm trên xương cốt chúng vì khi còn sống chúng đã từng gieo kinh hoàng cho người ta.
EZE 32:28 Còn ngươi, hỡi vua Ai-cập, ngươi sẽ bị bẻ gãy và nằm chung với những kẻ không được cắt dương bì bị giết trong chiến tranh.
EZE 32:29 Ê-đôm cũng sẽ ở đó cùng với các vua và lãnh tụ nó. Chúng trước đây rất hùng mạnh nhưng nay nằm chết cùng với những kẻ bị giết trong chiến tranh và cùng đi xuống âm phủ.
EZE 32:30 Tất cả các lãnh tụ miền Bắc và tất cả các người Xi-đôn đều ở đó. Sức mạnh của chúng đã khiến kẻ khác hoảng sợ, nhưng chúng đã mang nhuốc nhơ đi xuống cùng với những kẻ bị giết. Chúng đều không được cắt dương bì, nằm chung với những kẻ bị giết trong chiến tranh. Chúng mang nhuốc nhơ mình cùng với những kẻ đã đi xuống âm phủ.
EZE 32:31 Vua Ai-cập cùng đạo quân người sẽ thấy những kẻ đã bị giết trong chiến tranh. Rồi người sẽ được an ủi vì những binh sĩ của mình đã bị giết trong chiến tranh, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 32:32 Khi vua Ai-cập còn sống, ta khiến mọi người khiếp sợ nó. Nhưng nó và toàn dân nó sẽ nằm chết giữa những kẻ không được cắt dương bì, những kẻ bị giết trong chiến tranh, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 33:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 33:2 “Hỡi con người, hãy nói cùng dân chúng ngươi rằng: ‘Nếu ta mang chiến tranh đến trong một xứ thì dân xứ đó có thể chọn một người làm lính gác.
EZE 33:3 Khi nó thấy kẻ thù kéo đến tấn công xứ thì sẽ thổi kèn báo động cho dân chúng.
EZE 33:4 Nếu chúng nghe tiếng kèn mà không chuẩn bị gì cả thì kẻ thù sẽ kéo đến giết chúng. Chúng sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của mình.
EZE 33:5 Vì chúng đã nghe tiếng kèn mà không làm gì cả cho nên chúng phải chịu trách nhiệm về cái chết mình. Nếu chúng đã chuẩn bị thì chắc hẳn đã cứu được mạng sống mình.
EZE 33:6 Nhưng nếu nó thấy quân thù đến tấn công mà không thổi kèn, dân chúng không được cảnh cáo trước cho nên nếu quân thù đến giết ai thì họ sẽ chết vì tội lỗi mình nhưng ta sẽ bắt người lính gác chịu trách nhiệm về cái chết ấy.’
EZE 33:7 Cho nên, hỡi con người, ta đã đặt ngươi làm người lính gác cho Ít-ra-en. Nếu ngươi nghe lời từ miệng ta, ngươi phải cảnh cáo chúng cho ta.
EZE 33:8 Nếu ta bảo kẻ ác rằng: ‘Hỡi kẻ ác, ngươi chắc chắn sẽ chết,’ nhưng ngươi lại không nói gì cả để cảnh cáo nó đừng làm ác nữa. Như thế nó sẽ chết vì tội lỗi nó nhưng ta sẽ bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của nó.
EZE 33:9 Nhưng nếu ngươi đã cảnh cáo kẻ ác để đừng làm ác nữa mà nó vẫn cứ làm ác thì nó sẽ chết vì tội lỗi mình nhưng ngươi thì cứu được mạng mình.
EZE 33:10 Cho nên, hỡi con người, ngươi hãy bảo dân Ít-ra-en rằng: ‘Các ngươi đã nói: Dĩ nhiên chúng tôi biết những vi phạm luật lệ và tội lỗi làm tổn hại chúng tôi. Chúng sẽ giết chúng tôi nhưng chúng tôi phải làm thế nào để được sống?’
EZE 33:11 Hãy bảo chúng rằng: ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Thật như ta hằng sống, ta không muốn thấy kẻ ác nào chết cả. Ta muốn chúng thôi làm ác và được sống. Thôi, hãy ngưng việc ác của các ngươi đi! Hỡi Ít-ra-en, các ngươi không muốn chết phải không?’
EZE 33:12 Hỡi con người, hãy bảo dân ngươi rằng: ‘Những điều tốt của những kẻ làm phải sẽ không cứu chúng được khi chúng phạm tội. Những điều ác của kẻ ác sẽ không khiến chúng bị phạt khi chúng thôi làm điều ác. Nếu người lành phạm tội thì việc lành nó làm trước kia cũng không cứu nó được.’
EZE 33:13 Nếu ta bảo người tốt rằng, ‘Ngươi chắc chắn sẽ sống,’ chúng sẽ nghĩ rằng chúng đã đủ tốt rồi cho nên sẽ làm điều ác. Như thế thì chẳng có điều tốt gì chúng làm mà được ghi nhớ cả. Chúng sẽ chết vì điều ác mình.
EZE 33:14 Hay nếu ta bảo kẻ ác rằng, ‘Ngươi chắc chắn sẽ chết,’ nó nghe vậy nên không làm điều ác nữa mà làm điều ngay thẳng lương thiện.
EZE 33:15 Chẳng hạn nó trả lại vật cầm thế hay trả lại vật nó đã ăn cắp. Nếu nó sống theo qui tắc và không phạm tội nữa thì nó chắc chắn sẽ sống, không chết.
EZE 33:16 Nó sẽ không bị trừng phạt gì về những tội lỗi nó cả. Nay nó đã làm điều ngay thằng công bình cho nên chắc chắn nó sẽ sống.
EZE 33:17 Dân chúng ngươi nói: ‘Đường lối Chúa không công bình.’ Nhưng chính đường lối chúng nó mới không công bình.
EZE 33:18 Nếu người tốt thôi làm điều thiện mà làm điều ác thì sẽ chết vì điều ác mình.
EZE 33:19 Nhưng nếu kẻ ác thôi làm chuyện ác mà làm điều phải lẽ và công bằng thì sẽ sống.
EZE 33:20 Các ngươi sẽ vẫn nói: ‘Đường lối Chúa không công bằng.’ Hỡi Ít-ra-en, ta sẽ xét xử các ngươi theo đường lối của các ngươi.”
EZE 33:21 Sự việc xảy ra vào ngày năm tháng mười, năm lưu đày thứ mười hai của chúng tôi. Có một người vừa thoát khỏi Giê-ru-sa-lem đến gặp tôi báo cáo, “Thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm rồi.”
EZE 33:22 Tôi cảm biết quyền năng CHÚA trên tôi từ tối hôm trước. Ngài đã cho tôi nói trở lại trước khi người đó đến. Tôi nói được, không bị câm nữa.
EZE 33:23 Rồi CHÚA phán cùng tôi:
EZE 33:24 “Hỡi con người, dân chúng sống ở những nơi đổ nát trong xứ Ít-ra-en nói rằng: ‘Áp-ra-ham chỉ có một người thôi mà ông ta được cấp toàn xứ làm tài sản. Dĩ nhiên vì chúng ta đông cho nên xứ cũng được cấp cho chúng ta làm tài sản.’
EZE 33:25 Vì thế hãy bảo chúng: ‘Chúa là Thượng Đế phán: Các ngươi ăn thịt còn dính máu, các ngươi xin thần tượng giúp mình, các ngươi giết người. Như vậy mà các ngươi muốn lấy xứ làm tài sản sao?
EZE 33:26 Các ngươi trông cậy vào gươm và làm những điều ta ghét. Ai nấy trong các ngươi cũng ăn nằm với vợ của người láng giềng mình. Vậy mà các ngươi đòi xứ sao?’
EZE 33:27 Hãy bảo chúng: CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Thật như ta hằng sống, những kẻ sống trong các thành đổ nát trong Ít-ra-en sẽ chết vì chiến tranh. Còn những kẻ sống trong vùng quê thì ta sẽ cho thú dữ ăn thịt. Ai trốn trong mật khu và hang hốc sẽ chết vì bệnh tật.
EZE 33:28 Ta sẽ khiến đất trở thành sa mạc hoang vu. Sự kiêu hãnh của dân chúng vì quyền lực của đất đai sẽ không còn. Núi non của Ít-ra-en sẽ hoang vắng đến nỗi không ai qua lại cả.
EZE 33:29 Rồi chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA khi ta biến xứ ra sa mạc hoang vu vì chúng làm những điều mà ta ghét.’
EZE 33:30 Nhưng còn về phần ngươi, hỡi con người, dân chúng ngươi bàn tán về ngươi bên vách và nơi mỗi cửa nhà. Chúng bảo nhau: ‘Chúng ta hãy đến nghe lời CHÚA.’
EZE 33:31 Vì thế chúng kéo nhau đông đảo đến với ngươi làm như thể muốn nghe lắm. Chúng ngồi trước mặt ngươi như thể chúng là dân ta và muốn nghe lời ngươi nhưng chúng đâu có chịu vâng theo. Miệng chúng nói yêu thương ta nhưng lòng thì chỉ nghĩ đến tư lợi.
EZE 33:32 Đối với dân chúng ngươi thì ngươi chỉ như ca sĩ hát bài tình ca, có giọng hay, chơi đờn giỏi. Chúng nghe lời ngươi nói nhưng không làm theo.
EZE 33:33 Khi việc đó xảy ra, mà chắc chắn sẽ xảy ra, thì dân chúng sẽ biết rằng có một nhà tiên tri ở giữa họ.”
EZE 34:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 34:2 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng những kẻ chăn chiên là các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en. Hãy nói tiên tri và bảo chúng rằng: Khốn cho các kẻ chăn chiên trong Ít-ra-en chỉ lo nuôi mình! Tại sao kẻ chăn chiên không lo nuôi bầy chiên?
EZE 34:3 Các ngươi ăn bơ sữa, mặc áo len ấm áp. Các ngươi giết những con chiên mập nhất nhưng không cho bầy chiên ăn.
EZE 34:4 Các ngươi không nuôi dưỡng cho các con chiên yếu được mạnh. Các ngươi không chữa lành các con chiên đau hay băng bó các con bị thương. Các ngươi không mang về những con đi lạc hay tìm kiếm những con bị mất. Nhưng các ngươi dùng vũ lực cai trị bầy chiên mình.
EZE 34:5 Các con chiên bị tản lạc vì không có người chăn, chúng làm mồi cho thú dữ.
EZE 34:6 Bầy chiên ta tản lạc khắp các núi và trên mỗi đồi cao. Chúng bị tản lạc khắp đất, không ai tìm hay kiếm chúng nó.
EZE 34:7 Cho nên hỡi các ngươi là người chăn, hãy nghe lời CHÚA phán. Ngài phán như sau:
EZE 34:8 Thật như ta hằng sống, bầy chiên ta đã bị thú dữ bắt và ăn thịt vì không có người chăn. Người chăn không tìm kiếm bầy mình. Trái lại chúng chỉ nuôi mình cho mập thây mà không nuôi dưỡng bầy chiên ta.
EZE 34:9 Cho nên, hỡi các ngươi là người chăn, hãy nghe lời CHÚA phán.
EZE 34:10 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Ta nghịch lại các kẻ chăn. Ta bắt chúng chịu trách nhiệm về số phận của các con chiên ta. Ta sẽ không cho chúng chăn bầy nữa. Các kẻ chăn sẽ không còn nuôi mập mình nữa. Ta sẽ rứt bầy chiên ra khỏi miệng chúng để không còn làm thức ăn cho chúng nữa.
EZE 34:11 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Chính ta sẽ tìm kiếm chiên ta và chăm sóc chúng nó.
EZE 34:12 Như người chăn lo cho bầy chiên tản lạc của mình ra sao khi tìm được chúng thì ta cũng sẽ chăm sóc bầy chiên ta như vậy. Ta sẽ cứu chúng ra khỏi những nơi mà chúng bị tản lạc trong ngày u tối ảm đạm.
EZE 34:13 Ta sẽ mang chúng về từ các dân và gom chúng lại từ mọi nước. Ta sẽ mang chúng về lại trong xứ mình và sẽ cho chúng ăn trong đồng cỏ trên các núi của Ít-ra-en, trong các hố, và trong những nơi có người ở trong xứ.
EZE 34:14 Ta sẽ cho chúng ăn trong các đồng cỏ xanh tốt, chúng sẽ ăn cỏ trên các núi Ít-ra-en. Chúng sẽ nằm xuống nơi chúng ăn cỏ, chúng sẽ ăn nơi đồng cỏ tốt trong các núi non của Ít-ra-en.
EZE 34:15 Ta sẽ nuôi dưỡng bầy chiên ta, đưa chúng đến chỗ an nghỉ, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 34:16 Ta sẽ tìm chiên bị mất, mang về những con đi lạc, băng bó những con bị thương, và làm cho những con yếu được mạnh lại, nhưng ta sẽ tiêu diệt những con mập mạnh. Ta sẽ chăn chiên ta trong sự công bình.
EZE 34:17 CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Còn về phần các ngươi, hỡi bầy chiên ta, ta sẽ phân xử giữa chiên nầy với chiên kia, giữa chiên đực và dê đực.
EZE 34:18 Các ngươi ăn cỏ trên đất tốt chưa đủ sao? Sao các ngươi còn dẫm đạp lên cỏ? Các ngươi uống nước trong chưa đủ sao? Sao các ngươi còn lấy chân khuấy bùn lên?
EZE 34:19 Bầy chiên ta phải ăn thứ các ngươi đạp lên hay uống nước bùn mà các ngươi quậy lên sao?
EZE 34:20 Nên Chúa là Thượng Đế phán như sau về chúng nó: Chính ta sẽ phân xử giữa các chiên mập và chiên ốm.
EZE 34:21 Các ngươi dùng vai, hông và sừng húc đẩy những con chiên ốm té nhào cho đến khi các ngươi trục xuất chúng nó đi.
EZE 34:22 Cho nên ta sẽ cứu bầy chiên ta; chúng sẽ không còn bị tổn hại nữa. Ta sẽ xử đoán giữa chiên nầy với chiên kia.
EZE 34:23 Rồi ta sẽ đặt một kẻ chăn chiên lo cho chúng, tức Đa-vít, tôi tớ ta. Người sẽ nuôi dưỡng chúng và làm người chăn chúng.
EZE 34:24 Rồi ta, CHÚA, sẽ làm Thượng Đế chúng, và Đa-vít tôi tớ ta sẽ cai trị chúng. Ta, CHÚA, đã phán.
EZE 34:25 Ta sẽ lập giao ước hoà bình với các con chiên ta, ta sẽ dẹp những con thú có hại ra khỏi xứ. Rồi chiên sẽ sống bình yên trong sa mạc và ngủ trong rừng.
EZE 34:26 Ta sẽ ban phước cho chúng và để chúng sống quanh đồi ta. Ta sẽ cho mưa xuống đúng mùa; sẽ có mưa rào xuống phước cho chúng.
EZE 34:27 Rồi các cây cối trong vùng quê sẽ sinh trái, đất sinh sản hoa màu. Các con chiên sẽ sống bình yên trong xứ. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA khi ta bẻ ách tù đày của chúng, cứu chúng khỏi quyền lực của những kẻ đã bắt chúng làm tôi mọi.
EZE 34:28 Chúng sẽ không làm mồi cho các dân. Thú dữ sẽ không cắn xé chúng nhưng chúng sẽ sống bình yên, không còn ai làm chúng sợ hãi nữa.
EZE 34:29 Ta sẽ ban cho chúng một nơi nổi tiếng sinh hoa màu tốt, chúng sẽ không còn bị đói kém trong xứ nữa. Chúng cũng sẽ không còn bị các dân tộc khác sỉ nhục nữa.
EZE 34:30 Rồi chúng sẽ biết rằng ta, CHÚA, là Thượng Đế chúng ở với chúng. Dân Ít-ra-en sẽ biết rằng chúng là dân ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 34:31 Các ngươi là chiên mà ta chăm sóc, ta là Thượng Đế các ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 35:1 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 35:2 “Hỡi con người, hãy nhìn về hướng Ê-đôm và nói tiên tri nghịch nó.
EZE 35:3 Hãy nói rằng: CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Hỡi Ê-đôm, ta nghịch ngươi. Ta sẽ giơ tay ra nghịch ngươi và biến ngươi thành sa mạc mông quạnh.
EZE 35:4 Ta sẽ tiêu diệt các thành phố ngươi, ngươi sẽ trở nên hoang vu. Rồi ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 35:5 Xưa nay ngươi vốn là thù nghịch của Ít-ra-en. Ngươi bỏ mặc chúng bị gươm giết khi chúng gặp khốn đốn và lúc chúng bị đoán phạt lần cuối.’”
EZE 35:6 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: “Thật như ta hằng sống, ta sẽ để cho ngươi bị giết. Sự giết chóc sẽ theo đuổi ngươi. Vì ngươi không ghét những kẻ giết người cho nên sự chết chóc sẽ theo đuổi ngươi.
EZE 35:7 Ta sẽ biến Ê-đôm ra nơi điêu tàn hoang vu và tiêu diệt hết những ai ra vào nơi đó.
EZE 35:8 Ta sẽ khiến núi non nó đầy dẫy xác chết. Ai bị giết vì chiến tranh sẽ ngã chết trên đồi núi, trong thung lũng và trong các hố sâu của ngươi.
EZE 35:9 Ta sẽ khiến ngươi thành nơi đổ nát đời đời; sẽ không còn ai ở trong các thành phố ngươi nữa. Rồi ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA.
EZE 35:10 Ngươi nói, ‘Hai dân tộc Ít-ra-en và Giu-đa, hai xứ nầy sẽ thuộc về ta. Ta sẽ lấy chúng làm tài sản.’ Nhưng CHÚA có ở đó.
EZE 35:11 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Thật như ta hằng sống, ta sẽ đối xử với ngươi như ngươi đã đối xử với chúng. Ngươi tức giận và ganh tị vì ngươi ghét chúng. Cho nên ta sẽ trừng phạt ngươi để cho dân Ít-ra-en thấy rằng ta là ai.
EZE 35:12 Rồi ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã nghe tất cả những điều sỉ nhục ngươi về các núi non của Ít-ra-en.’ Ngươi nói, ‘Chúng đã bị điêu tàn rồi. Chúng đã trở thành mồi ngon cho chúng ta.’
EZE 35:13 Ngươi không ngưng nói lời kiêu căng nghịch lại ta. Ta đã nghe ngươi nói.
EZE 35:14 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Khắp đất sẽ vui mừng khi ta biến ngươi thành nơi điêu tàn hiu quạnh.
EZE 35:15 Ngươi đã vui mừng khi xứ Ít-ra-en bị tiêu hủy, nhưng ta cũng sẽ khiến cho ngươi cùng chung số phận. Hỡi núi Sê-ia và toàn xứ Ê-đôm, các ngươi sẽ trở thành nơi điêu tàn hiu quạnh. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.”
EZE 36:1 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri về các núi Ít-ra-en: Hỡi các núi non Ít-ra-en, hãy nghe lời phán của CHÚA.
EZE 36:2 CHÚA là Thượng Đế phán: Kẻ thù đã nói về ngươi, ‘A ha! Nay những núi non cổ xưa đã thuộc về chúng ta.’
EZE 36:3 Cho nên hãy nói tiên tri như sau: CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Chúng đã biến ngươi thành chỗ đổ nát hiu quạnh, và đè bẹp ngươi tứ phía. Ngươi trở thành tài sản của các dân khác. Người ta đã xì xào nói xấu ngươi.
EZE 36:4 Cho nên hỡi các núi Ít-ra-en, hãy nghe lời phán của CHÚA là Thượng Đế. CHÚA là Thượng Đế phán cùng các núi, đồi, thung lũng, dòng suối, các nơi đổ nát hiu quạnh, các thành bị bỏ hoang và đã bị các dân khác cướp bóc và chê cười.’
EZE 36:5 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Ta giận phừng khi ta nói nghịch cùng các dân khác. Ta nghịch cùng dân Ê-đôm là dân chiếm xứ ta cho mình mà hớn hở và trong lòng đầy ganh ghét. Chúng đuổi dân ta ra và chiếm lấy đồng cỏ xanh tươi cho mình.’
EZE 36:6 Cho nên hãy nói tiên tri về xứ Ít-ra-en và nói cùng các núi, đồi, dòng suối, và thung lũng rằng: CHÚA là Thượng Đế phán: Ta phán trong cơn giận dữ và ganh tức của ta vì các ngươi đã bị các dân khác sỉ nhục.
EZE 36:7 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Ta đoan chắc rằng các dân quanh ngươi cũng sẽ phải bị sỉ nhục.
EZE 36:8 Nhưng hỡi các ngươi là núi của Ít-ra-en, các ngươi sẽ đâm nhánh và ra trái cho dân ta vì chúng sắp hồi hương.
EZE 36:9 Ta lo cho các ngươi; ta đứng về phía các ngươi. Các ngươi sẽ được cày bừa, và người ta sẽ gieo hạt giống trong các ngươi.
EZE 36:10 Ta sẽ tăng số dân đang sống trong các ngươi, toàn dân Ít-ra-en. Các thành phố sẽ có người ở, và các nơi đổ nát sẽ được xây cất lại.
EZE 36:11 Ta sẽ gia tăng số người và súc vật đang sống giữa ngươi. Chúng sẽ gia tăng và sinh sản thêm nhiều. Các ngươi sẽ có nhiều người ở như trước kia, và ta sẽ khiến cho ngươi sung túc hơn lúc đầu nữa. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 36:12 Ta sẽ khiến dân Ít-ra-en bước đi trên ngươi và làm chủ ngươi, còn ngươi sẽ thuộc về chúng. Ngươi sẽ không bao giờ bắt con cái chúng đi nữa.
EZE 36:13 CHÚA là Thượng Đế phán: Người ta nói về ngươi, ‘Ngươi ăn nuốt dân chúng và bắt các con cái khỏi dân tộc mình.’
EZE 36:14 Nhưng ngươi sẽ không ăn nuốt dân hay bắt con cái chúng nữa, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 36:15 Ta sẽ không khiến ngươi nghe những lời sỉ nhục từ các dân nữa; ngươi sẽ không chịu nhục vì chúng nó nữa. Ngươi sẽ không khiến cho dân tộc mình thua kém nữa, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 36:16 CHÚA phán cùng tôi rằng:
EZE 36:17 “Hỡi con người, khi dân Ít-ra-en còn sống trong xứ, chúng làm nó ô dơ vì những hành động của chúng. Hành vi chúng dơ bẩn giống như khi đàn bà có kinh nguyệt.
EZE 36:18 Cho nên ta trút cơn giận ta trên chúng vì máu mà chúng đổ ra trên đất và vì chúng đã làm ô dơ đất do các hình tượng của chúng.
EZE 36:19 Ta phân tán chúng ra khắp các dân và trải chúng ra khắp mọi nước. Ta trừng phạt chúng vì lối sống và hành vi của chúng.
EZE 36:20 Chúng làm dơ bẩn danh thánh ta trong các nước mà chúng bị đày đến. Các dân tộc nói về chúng nó như sau: ‘Đây là dân của CHÚA nhưng chúng phải bỏ xứ mà Ngài ban cho chúng.’
EZE 36:21 Nhưng ta quan tâm đến danh thánh ta mà dân Ít-ra-en đã làm ô dơ trong các nước mà chúng bị đày đến.
EZE 36:22 Cho nên hãy bảo dân Ít-ra-en, Chúa là Thượng Đế phán: ‘Hỡi Ít-ra-en, ta sẽ ra tay hành động nhưng không phải vì các ngươi. Ta sẽ ra tay hành động vì danh thánh ta mà các ngươi đã làm ô dơ trong các nước mà các ngươi bị đày đến.
EZE 36:23 Ta sẽ chứng tỏ sự thánh khiết của danh lớn ta, tức danh đã bị khinh thường giữa các nước. Các ngươi đã làm ô dơ danh ấy giữa các dân tộc, nhưng chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA khi ta tỏ mình ra thánh trước mắt chúng, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.’”
EZE 36:24 “Ta sẽ rút các ngươi ra từ các dân và gom các ngươi lại từ các nước và mang các ngươi về xứ mình.
EZE 36:25 Rồi ta sẽ rưới nước tinh sạch lên các ngươi, thì các ngươi sẽ được sạch. Ta sẽ tẩy sạch mọi điều ô uế và các thần tượng của các ngươi.
EZE 36:26 Ngoài ra ta cũng sẽ dạy các ngươi tôn kính ta hoàn toàn, và ta sẽ đặt một lối suy nghĩ mới vào trong lòng các ngươi. Ta sẽ lấy lòng ương ngạnh bằng đá ra khỏi các ngươi và ban cho các ngươi lòng vâng phục bằng thịt.
EZE 36:27 Ta sẽ đặt Thần Linh ta vào trong các ngươi và giúp các ngươi sống bằng qui tắc và vâng theo luật lệ ta hoàn toàn.
EZE 36:28 Các ngươi sẽ sống trong xứ mà ta đã cấp cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Thượng Đế các ngươi.
EZE 36:29 Như thế ta sẽ tẩy sạch mọi ô uế nơi các ngươi. Ta sẽ khiến lúa thóc đến và mọc lên, ta sẽ không sai thời kỳ đói kém đến để làm hại các ngươi nữa.
EZE 36:30 Ta sẽ gia tăng mùa màng của ruộng vườn các ngươi để các ngươi sẽ không còn bị sỉ nhục giữa các dân vì đói kém nữa.
EZE 36:31 Rồi các ngươi sẽ nhớ lại những đường lối và hành vi ác của mình, thấy rằng chúng không tốt đẹp, các ngươi sẽ tự ghét mình vì những tội lỗi và các hành vi ghê tởm của mình mà ta ghét.
EZE 36:32 Ta muốn các ngươi biết rằng không phải ta sắp làm những điều đó vì các ngươi đâu, Chúa là Thượng Đế phán vậy. Hỡi Ít-ra-en, hãy xấu hổ vì lối sống của mình.
EZE 36:33 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán như sau: ‘Trong ngày ta làm sạch tội các ngươi thì ta sẽ làm cho các thành phố có dân cư trú ngụ trở lại, và những nơi bị hủy phá sẽ được xây cất lại.
EZE 36:34 Đất hoang vu sẽ được cày bừa trở lại để không còn tiêu điều mà ai đi qua lại cũng thấy.’
EZE 36:35 Họ sẽ bảo, ‘Xứ nầy trước kia tiêu điều nhưng nay trở nên như vườn Ê-đen. Các thành phố trước kia bị tiêu hủy, hoang tàn, nhưng nay được phòng vệ và có dân ở.’
EZE 36:36 Rồi các dân tộc còn sống quanh ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã xây lại những gì đã bị phá hủy và trồng lại những nơi hoang vu. Ta, CHÚA, đã phán, ta sẽ thực hiện điều đó.”
EZE 36:37 CHÚA là Thượng Đế phán: “Ta sẽ để cho dân Ít-ra-en cầu xin ta làm lại điều nầy cho chúng: Ta sẽ khiến dân cư chúng gia tăng như bầy chiên.
EZE 36:38 Chúng sẽ đông như bầy chiên được mang đến Giê-ru-sa-lem trong những ngày lễ thánh. Các thành phố điêu tàn của nó sẽ đông đúc người. Rồi chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA.”
EZE 37:1 Tôi cảm biết quyền năng CHÚA trên tôi và Thần Linh CHÚA mang tôi đi rồi đặt tôi xuống giữa một thung lũng. Ở đó đầy xương người.
EZE 37:2 Ngài dẫn tôi đi giữa đống xương, tôi thấy vô số xương, tất cả đều khô lắm.
EZE 37:3 Rồi Ngài hỏi tôi, “Hỡi con người, các xương nầy có sống được không?” Tôi thưa, “Chúa ơi, chỉ một mình Ngài biết điều đó.”
EZE 37:4 Ngài bảo tôi, “Hãy nói tiên tri cùng các xương nầy và bảo chúng, ‘Hỡi các xương khô, hãy nghe lời phán của CHÚA.
EZE 37:5 CHÚA là Thượng Đế phán cùng các ngươi: Ta sẽ cho hơi sống vào trong các ngươi để các ngươi sống lại.
EZE 37:6 Ta sẽ đặt các bắp thịt và thịt vào các ngươi và lấy da bọc các ngươi. Sau đó ta sẽ thở hơi vào để các ngươi sống lại. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 37:7 Vì vậy tôi nói tiên tri theo như CHÚA đã dặn. Trong khi tôi đang nói tiên tri thì có tiếng lọc cọc. Các xương cốt nhập lại với nhau.
EZE 37:8 Tôi nhìn thì thấy các bắp thịt gắn vào xương, thịt mọc lên, và da bọc lấy xương nhưng không có hơi thở trong các xương đó.
EZE 37:9 Rồi Ngài bảo tôi, “Hãy nói tiên tri cùng gió. Hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng gió rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Hỡi gió, hãy đến từ bốn phương và thổi trên những kẻ bị giết nầy để chúng sống lại.’”
EZE 37:10 Nên tôi nói tiên tri theo như CHÚA truyền. Rồi hơi sống thổi vào, chúng sống lại, đứng lên và trở thành một đạo quân rất đông.
EZE 37:11 Rồi Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, các xương nầy giống như dân Ít-ra-en. Chúng bảo, ‘Xương cốt chúng tôi khô, hi vọng chúng tôi không còn. Chúng tôi bị tiêu diệt rồi.’
EZE 37:12 Cho nên hãy nói tiên tri cùng chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Hỡi dân ta, ta sẽ mở mồ mả các ngươi và khiến các ngươi bước ra khỏi mồ mả mình. Rồi ta sẽ mang các ngươi về xứ Ít-ra-en.
EZE 37:13 Hỡi dân ta, các ngươi sẽ biết rằng ta là CHÚA khi ta mở cửa mả các ngươi và khiến các ngươi bước ra khỏi đó.
EZE 37:14 Ta sẽ đặt Thần Linh ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ sống lại. Ta sẽ đặt các ngươi vào xứ mình. Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã phán và thực hiện điều đó, CHÚA phán vậy.’”
EZE 37:15 CHÚA phán cùng tôi rằng,
EZE 37:16 “Hỡi con người, hãy lấy một cây gậy và ghi trên đó, ‘Dành cho Giu-đa và toàn dân Ít-ra-en.’ Rồi lấy một cây gậy khác và ghi trên đó, ‘Gậy của Ép-ra-im, dành cho Giô-xép và toàn dân Ít-ra-en cùng với người.’
EZE 37:17 Rồi nhập hai cây gậy lại với nhau làm một để trong tay ngươi chỉ cầm một cây gậy mà thôi.
EZE 37:18 Khi dân ngươi yêu cầu, ‘Xin hãy giải thích điều ông làm,’
EZE 37:19 thì hãy bảo chúng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ lấy cây gậy dành cho Giô-xép và các chi tộc Ít-ra-en cùng với người, tức gậy trong tay Ép-ra-im và ta sẽ để gậy đó chung với gậy của Giu-đa. Ta sẽ nhập hai cây gậy làm một, trong tay ta chỉ có một cây gậy thôi.’
EZE 37:20 Hãy cầm các cây gậy mà ngươi đã ghi các tên đó trong tay ngươi để dân chúng nhìn thấy.
EZE 37:21 Hãy nói cùng dân chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Ta sẽ rút dân Ít-ra-en ra khỏi các dân mà chúng bị lưu đày. Ta sẽ gom chúng lại từ khắp mọi nơi và mang chúng về trong xứ mình.
EZE 37:22 Ta sẽ khiến chúng trở thành một dân trong xứ, trên các núi của Ít-ra-en. Một vị vua sẽ cai trị chúng. Chúng sẽ không còn là hai dân tộc nữa; không còn chia làm hai nước nữa.
EZE 37:23 Chúng sẽ không còn làm ô uế chính mình bằng những tượng chạm, các hình tượng mà ta ghét, hay bằng các tội lỗi chúng. Ta sẽ giải cứu chúng ra khỏi mọi cách chúng phạm tội và chống nghịch ta, ta sẽ tẩy sạch chúng. Rồi chúng sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Thượng Đế chúng.’
EZE 37:24 Đa-vít, tôi tớ ta sẽ làm vua trên chúng, và chúng sẽ chỉ có một người chăn mà thôi. Chúng sẽ sống theo qui tắc và vâng theo luật lệ ta.
EZE 37:25 Chúng sẽ sống trong xứ mà ta ban cho Gia-cốp, tôi tớ ta, xứ mà tổ tiên chúng đã sống. Chúng sẽ sống trong xứ đó đời đời: từ chúng cho đến con cháu chúng. Đa-vít, kẻ tôi tớ ta sẽ làm vua trên chúng đời đời.
EZE 37:26 Ta sẽ lập giao ước hoà bình với chúng, một giao ước còn đời đời. Ta sẽ đặt chúng vào trong xứ và khiến dân số chúng gia tăng. Rồi ta sẽ đặt đền thờ ta ở giữa chúng đời đời.
EZE 37:27 Ta sẽ ở giữa chúng. Ta sẽ làm Thượng Đế chúng, còn chúng sẽ làm dân ta.
EZE 37:28 Khi đền thờ ta ở giữa chúng đời đời thì các dân sẽ biết rằng ta, CHÚA, đã khiến cho Ít-ra-en ra thánh.”
EZE 38:1 CHÚA phán cùng tôi rằng,
EZE 38:2 “Hỡi con người, hãy hướng về Gót, xứ của Ma-gót, quan trưởng của các dân Mê-séc và Tu-banh. Hãy nói tiên tri nghịch cùng nó
EZE 38:3 như sau, CHÚA phán: ‘Hỡi Gót, quan trưởng của Mê-séc và Tu-banh, ta nghịch ngươi.
EZE 38:4 Ta sẽ xoay ngươi lại và đặt móc vào hàm ngươi. Ta sẽ mang ngươi ra cùng với toàn đạo quân ngươi, ngựa, người cỡi ngựa, tất cả đều mặc quân phục bảnh bao. Đó là một đạo quân đông có thuẫn lớn và nhỏ cùng gươm giáo.
EZE 38:5 Ba-tư, Cút, và Phút sẽ cùng ra với chúng, tất cả đều mang thuẫn và nón sắt.
EZE 38:6 Ngoài ra cũng sẽ có Gô-me cùng toàn đạo quân nó, dân Tô-ga-ma từ miền cực Bắc cùng toàn đạo quân nó, tức nhiều dân tộc cùng đi với ngươi.
EZE 38:7 Hãy chuẩn bị. Ngươi và toàn thể các đạo quân đã đến cử ngươi làm tư lệnh cho chúng, hãy chuẩn bị.
EZE 38:8 Sau một thời gian lâu ngươi sẽ được kêu ra phục vụ. Sau các năm đó các ngươi sẽ đến trong xứ đã được xây dựng lại từ chiến tranh. Dân trong xứ sẽ họp lại từ nhiều nước đến các núi của Ít-ra-en, vốn hoang vu trong một thời gian khá lâu. Các dân đó đã được lấy ra từ nhiều nước, và chúng đều sẽ sống yên ổn.
EZE 38:9 Ngươi sẽ đến như vũ bão. Ngươi, toàn quân, và nhiều quốc gia cùng với ngươi sẽ như mây phủ đầy xứ.’
EZE 38:10 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Lúc đó sẽ có những ý nghĩ trong đầu ngươi, rồi ngươi sẽ nghĩ ra mưu ác.’
EZE 38:11 Ngươi sẽ nói, ‘Ta sẽ đi nghịch lại xứ có thành không vách. Ta sẽ tấn công những kẻ đang sống an lành. Tất cả đều sống trong thành không vách, không cửa hay thanh cài.
EZE 38:12 Ta sẽ chiếm của báu và đoạt chiến lợi phẩm. Ta sẽ ra sức chống nghịch các nơi đổ nát đã được xây lại mà bây giờ có dân cư sống. Ta sẽ tấn công chúng là những kẻ đã được gom lại từ nhiều dân, tức những người đã trở nên giàu có vì có đông gia súc, của cải, là những người sống ở trung tâm thế giới.’
EZE 38:13 Sê-ba, Đê-đan, các con buôn ở Tạt-si, cùng các làng mạc nó sẽ bảo các ngươi, ‘Các ngươi đến để chiếm của báu phải không? Các ngươi kéo quân đến để đoạt chiến lợi phẩm phải không? Có phải các ngươi mang quân đến để cướp đoạt vàng, bạc, gia súc và của cải không?’
EZE 38:14 Cho nên, hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng Gót rằng, CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Nay dân Ít-ra-en ta đã sống yên ổn, ngươi sẽ biết điều đó.
EZE 38:15 Ngươi và nhiều người từ xứ ngươi nơi miền cực Bắc sẽ kéo đến. Ngươi sẽ kéo một đội quân đông theo ngươi, một đội quân hùng mạnh, ai nấy đều cỡi ngựa.
EZE 38:16 Ngươi sẽ tấn công dân Ít-ra-en ta như mây phủ kín đất. Việc nầy sẽ xảy ra vào những ngày sắp đến khi ta đưa ngươi nghịch lại xứ ta. Hỡi Gót, lúc đó các dân sẽ biết ta khi chúng nhìn thấy ta tỏ sự thánh khiết của ta khi ta thực hiện mọi điều qua ngươi.’
EZE 38:17 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Ngươi là người mà ta đã nói đến trước kia. Ta phán qua các tôi tớ ta, tức các nhà tiên tri trong Ít-ra-en là những người đã nói tiên tri trong nhiều năm rằng ta sẽ đưa ngươi nghịch lại chúng.
EZE 38:18 Sự việc sẽ xảy ra như sau: Vào ngày Gót tấn công xứ Ít-ra-en, ta sẽ nổi thịnh nộ, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 38:19 Trong cơn ganh tức và giận dữ, ta nói với ngươi rằng sẽ có động đất mạnh trong Ít-ra-en.
EZE 38:20 Cá biển, chim trời, dã thú, côn trùng bò trên đất, và mọi dân trên thế giới sẽ run sợ trước mặt ta. Ngoài ra núi non cũng sẽ bị ném xuống, các ghềnh đá sẽ ngã xuống, và mọi vách đều sẽ sập xuống đất.
EZE 38:21 Rồi ta sẽ kêu gọi một cuộc chiến tranh nghịch cùng Gót trên các núi của ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy. Mọi người sẽ dùng gươm chém giết quân lính cạnh mình.
EZE 38:22 Ta sẽ trừng phạt Gót bằng bệnh tật và chết chóc. Ta sẽ sai mưa lũ, mưa đá, và diêm sinh cháy trên Gót, quân đội nó, và những quốc gia theo nó.
EZE 38:23 Rồi ta sẽ tỏ cho chúng biết ta cao cả như thế nào. Ta sẽ tỏ ra sự thánh khiết ta. Ta sẽ tỏ mình ta cho nhiều dân tộc thấy. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.’”
EZE 39:1 “Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng Gót như sau, ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Hỡi Gót, ta nghịch ngươi là quan trưởng của Mê-séc và Tu-banh.
EZE 39:2 Ta sẽ xoay ngươi lại và dắt ngươi đi. Ta sẽ mang ngươi từ xứ cực Bắc, đưa ngươi đến tấn công các núi của Ít-ra-en.
EZE 39:3 Ta sẽ hất dây cung của ngươi khỏi tay trái ngươi và ném xuống đất các mũi tên khỏi tay phải ngươi.
EZE 39:4 Ngươi, toàn thể quân lính ngươi và các dân đi theo ngươi sẽ ngã chết trên các núi của Ít-ra-en. Ta sẽ cho chim trời và dã thú ăn thịt ngươi.
EZE 39:5 Ngươi sẽ ngã xuống đất vì ta đã phán, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 39:6 Ta sẽ sai lửa đến trên Ma-gót và những kẻ sống bình yên ở các vùng duyên hải. Rồi chúng sẽ biết ta là CHÚA.
EZE 39:7 Ta sẽ tỏ cho mọi người trong Ít-ra-en biết ta, ta sẽ không để danh ta bị làm ô dơ nữa. Rồi các dân sẽ biết ta là CHÚA, Đấng Thánh của Ít-ra-en.
EZE 39:8 Ngày đó đang đến! Nó sẽ đến, CHÚA là Thượng Đế phán vậy. Thời kỳ mà ta nói đang đến.
EZE 39:9 Rồi những kẻ sống trong các thành phố của Ít-ra-en sẽ kéo ra thiêu đốt các vũ khí của quân thù. Chúng sẽ đốt sạch các thuẫn lớn và nhỏ, cung và tên, gậy gộc, và gươm giáo. Chúng sẽ dùng các vũ khí để chụm lửa trong bảy năm.
EZE 39:10 Chúng sẽ không cần lấy cây trong đồng hay chặt củi trong rừng vì chúng sẽ dùng vũ khí làm củi. Như thế chúng sẽ cướp lại của báu của những kẻ đã cướp của báu chúng, và đoạt lại chiến lợi phẩm của những kẻ đã đoạt chiến lợi phẩm của chúng, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 39:11 Lúc đó ta sẽ cho Gót một nơi chôn cất trong Ít-ra-en, trong Thung lũng của Lữ khách, về phía Đông Biển Chết. Nó sẽ nằm chận đường của lữ khách. Gót và toàn quân nó sẽ được chôn cất ở đó cho nên người ta gọi đó là Thung lũng của đạo quân Gót.
EZE 39:12 Dân Ít-ra-en sẽ chôn cất chúng trong bảy tháng để dọn dẹp đất cho sạch.
EZE 39:13 Toàn dân trong xứ sẽ chôn cất chúng, và chúng sẽ được tôn trọng trong ngày chiến thắng của ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 39:14 Dân Ít-ra-en sẽ chọn những người dọn sạch đất. Cùng với nhiều người khác, họ sẽ chôn cất các lính của Gót đang còn nằm chết trên đất. Sau bảy tháng, chúng vẫn còn tìm các xác chết.
EZE 39:15 Khi đi qua xứ, ai thấy xương người thì sẽ đánh dấu ngay đó. Dấu sẽ ở đó cho đến khi những kẻ đào mồ chôn xương cốt đến đem về chôn trong Thung lũng của Đạo quân Gót.
EZE 39:16 Sẽ có một thành ở đó mang tên Ha-mô-na. Vậy chúng sẽ dọn sạch đất trở lại.’”
EZE 39:17 “Hỡi con người, CHÚA là Thượng Đế phán: Hãy nói cùng mọi loài chim trời và dã thú: ‘Bay hãy đến, hãy tụ tập lại! Từ bốn phương hãy tụ họp quanh của lễ ta, một của lễ lớn mà ta sẽ dọn cho các ngươi trên các núi của Ít-ra-en. Hãy ăn thịt và uống máu đi!
EZE 39:18 Bay hãy ăn thịt của những kẻ mạnh dạn và uống máu của các nhà cầm quyền trên đất như thể ăn thú vật mập béo từ Ba-san: chiên đực, chiên con, dê, và bò đực.
EZE 39:19 Bay hãy ăn và uống của lễ mà ta đã dọn cho bay, hãy ăn mỡ cho đến khi no và uống máu cho đến khi say.
EZE 39:20 Tại bàn tiệc ta bay hãy ăn cho đến khi no nê ngựa, và người cỡi, các người mạnh dạn và các binh sĩ,’ CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 39:21 Ta sẽ tỏ ra vinh hiển ta giữa các dân. Các dân tộc sẽ thấy quyền lực ta khi ta trừng phạt chúng.
EZE 39:22 Từ lúc đó trở đi dân Ít-ra-en sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế của chúng.
EZE 39:23 Các dân sẽ biết rằng lý do Ít-ra-en bị bắt làm tù đày là vì chống nghịch ta. Vì vậy ta quay mặt khỏi chúng và giao chúng cho các kẻ thù cho đến khi tất cả đều đã chết trong chiến tranh.
EZE 39:24 Vì chúng không tinh sạch và phạm tội cho nên ta trừng phạt chúng và quay mặt khỏi chúng.
EZE 39:25 Nên CHÚA là Thượng Đế phán: Bây giờ ta sẽ mang dân Gia-cốp trở về từ chốn lưu đày và ta sẽ tỏ lòng nhân ái trên toàn dân Ít-ra-en. Vì ta sẽ phục hồi danh thánh ta.
EZE 39:26 Chúng sẽ quên sự sỉ nhục mình và không còn nhớ chúng đã từ bỏ ta khi chúng đang sống an ninh trong xứ mình mà không bị ai làm cho lo sợ.
EZE 39:27 Ta sẽ mang chúng trở về từ các xứ khác và gom chúng lại từ xứ của các kẻ thù chúng. Ta sẽ dùng dân ta để chứng tỏ cho các dân tộc khác biết rằng ta là Đấng Thánh.
EZE 39:28 Rồi dân ta sẽ biết rằng ta là CHÚA, là Thượng Đế của chúng vì ta đã đày chúng đến các nước, nhưng rồi ta mang chúng về xứ mình, không chừa lại một ai.
EZE 39:29 Ta sẽ không quay mặt khỏi chúng nữa vì ta sẽ đặt Thần Linh ta vào trong lòng dân Ít-ra-en, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 40:1 Lúc đó là đầu năm, vào ngày mười trong tháng, năm tù đày thứ hai mươi lăm, tức năm thứ mười bốn sau khi Giê-ru-sa-lem bị chiếm. Hôm đó tôi cảm biết quyền năng của CHÚA, Ngài mang tôi đến Giê-ru-sa-lem.
EZE 40:2 Trong sự hiện thấy của Thượng Đế, Ngài mang tôi đến đất Ít-ra-en và đặt tôi xuống một hòn núi rất cao. Về phía Nam của núi có nhiều toà nhà trông giống như một thành phố.
EZE 40:3 Ngài mang tôi đến gần các toà nhà đó thì tôi thấy một người giống như làm bằng đồng đứng nơi cổng. Trong tay người cầm một sợi dây vải và một cây thước, cả hai dùng để đo.
EZE 40:4 Người bảo tôi rằng, “Hỡi con người, hãy lấy mắt mà nhìn, lấy tai mà nghe. Hãy để ý đến những điều ta sẽ chỉ cho ngươi vì đó là lý do khiến ngươi được mang đến đây. Hãy thuật lại cho Ít-ra-en tất cả những gì ngươi thấy.”
EZE 40:5 Tôi thấy có một vách bao quanh khu vực đền thờ. Thước đo trong tay người đó dài ba thước. Vậy người đo vách thì thấy dầy ba thước và cao ba thước.
EZE 40:6 Rồi người đi đến cửa Đông. Người bước lên các bậc thềm và đo khoảng trống của cửa vào thì thấy sâu ba thước.
EZE 40:7 Các phòng của những người gác đền thờ đều dài ba thước và ngang cũng ba thước. Vách nhô ra giữa các phòng của các người gác dầy khoảng gần ba thước. Khoảng trống của cửa kế cận vòm cung đối diện đền thờ là ba thước.
EZE 40:8 Rồi người đo vòm cửa.
EZE 40:9 Vòm đó sâu khoảng bốn thước, các vách hông của nó dầy ba thước. Vòm cửa hướng về phía đền thờ.
EZE 40:10 Ở mỗi bên của cửa Đông có ba phòng, ngang và dài đều bằng nhau. Vách ngăn mỗi phòng đều dầy bằng nhau.
EZE 40:11 Người đo chiều ngang của lối vào cửa thì thấy rộng năm thước. Chiều rộng của cửa vào khoảng sáu thước rưỡi.
EZE 40:12 Trước mỗi phòng có một vách thấp có chiều cao khoảng nửa thước. Cạnh của các phòng đều ba thước.
EZE 40:13 Người đo cửa vào từ mái của phòng nầy cho đến mái của phòng kế cận thì thấy chiều dài từ cửa nầy đến cửa đối diện là mười ba thước.
EZE 40:14 Người cũng do vòm cửa thì thấy rộng khoảng mười hai thước. Sân bao quanh vòm cửa.
EZE 40:15 Từ phía trước của phía ngoài cửa cho đến phía trước của vòm cửa phía trong là hai mươi sáu thước.
EZE 40:16 Hai bên các phòng và vòm cửa đều có các cửa sổ nhỏ. Cửa sổ của phía đối diện cửa hẹp hơn. Mỗi vách của phòng đều có khắc hình cây chà là.
EZE 40:17 Rồi người mang tôi vào sân ngoài thì tôi thấy các phòng và một lối đi bằng đá quanh sân. Quanh lối đi có ba mươi phòng.
EZE 40:18 Lối đi chạy dọc theo cửa và chiều ngang lối đi bằng chiều ngang của cửa. Đó là lối đi bên dưới.
EZE 40:19 Rồi người đo từ vách ngoài vào vách trong. Sân ngoài giữa hai vách đó là năm mươi thước về phía Đông và phía Bắc.
EZE 40:20 Người đo chiều dài và chiều ngang của cửa Bắc dẫn tới sân ngoài.
EZE 40:21 Kích thước của ba phòng mỗi bên, vách trong, và các vòm cửa đều bằng với cửa đầu tiên. Kích thước đó dài hai mươi lăm thước và rộng mười hai thước rưỡi.
EZE 40:22 Các cửa sổ, vòm cửa, và các hình chạm cây chà là đều có kích thước bằng với cửa Đông. Có bảy bậc thềm đi lên cửa, còn vòm cửa thì nằm phía đầu trong.
EZE 40:23 Sân trong có một cửa đi ngang từ cửa Bắc giống như cửa Đông. Người đo thì thấy năm mươi thước từ cửa trong cho đến cửa ngoài.
EZE 40:24 Rồi người dẫn tôi đi về phía Nam nơi tôi thấy một cửa quay về phía Nam. Người đo vách trong và vòm cửa của nó thì thấy giống y kích thước của các cửa kia.
EZE 40:25 Cửa và vòm cửa có cửa sổ bao quanh giống như các cửa kia. Kích thước chúng là hai mươi lăm thước chiều dài và mười hai thước rưỡi chiều ngang.
EZE 40:26 Có bảy bậc thềm dẫn đến cửa nầy. Vòm cửa của nó nằm phía đầu trong và các vách trong của nó đều chạm hình cây chà là.
EZE 40:27 Sân trong có một cửa về phía Nam. Người đo từ cửa nầy đến cửa kia về phía Nam thì thấy năm mươi thước.
EZE 40:28 Rồi người mang tôi qua cửa Nam vào sân trong. Cửa vào sân trong có kích thước y như các cửa của vách ngoài.
EZE 40:29 Các phòng của cửa sân phía Nam, các vách trong, và vòm cửa đều có kích thước y như các cửa vào của vách ngoài. Cửa vào và vòm cửa có các cửa sổ bao quanh. Chiều dài cửa vào là hai mươi lăm thước và ngang mười hai thước rưỡi.
EZE 40:30 Chiều dài của mỗi vòm cửa của mỗi cửa trong là mười hai thước rưỡi, ngang khoảng hai thước rưỡi.
EZE 40:31 Vòm cửa bên trong phía Nam đối diện sân ngoài. Các vách hông đều có chạm hình cây chà là và có cầu thang gồm tám bậc.
EZE 40:32 Người mang tôi vào sân trong về phía Đông. Người đo cổng Đông bên trong thì thấy nó cùng kích thước như các cổng vào khác.
EZE 40:33 Các phòng của cổng Đông, các vách trong, vòm cửa đều có cùng kích thước như các cổng vào khác. Có các cửa sổ bao quanh cổng vào và vòm cửa. Cổng Đông bên trong dài hai mươi lăm thước, ngang mười hai thước rưỡi.
EZE 40:34 Vòm cửa nằm đối diện sân ngoài. Có các hình khắc cây chà là trên vách trong của mỗi phía, còn cầu thang có tám bậc.
EZE 40:35 Rồi người mang tôi đến cửa Bắc bên trong. Người đo cửa thì thấy cùng một kích thước như các cửa vào kia.
EZE 40:36 Các phòng, vách trong, và vòm cửa đều có cùng kích thước như các cửa vào khác. Quanh cửa vào có các cửa sổ. Cửa vào dài hai mươi lăm thước và ngang mười hai thước rưỡi.
EZE 40:37 Vòm cửa nằm đối diện sân ngoài. Có các hình khắc cây chà là trên các vách trong ở mỗi bên, cầu thang có tám bậc.
EZE 40:38 Có một phòng có cửa mở ra phía vòm cửa của cửa phía Bắc bên trong. Trong phòng nầy các thầy tế lễ rửa các con thú dùng làm của lễ thiêu.
EZE 40:39 Mỗi bên của vòm có hai cái bàn trên đó người ta giết các con thú để làm của lễ thiêu, của lễ tẩy sạch và của lễ chuộc lỗi.
EZE 40:40 Bên ngoài, gần mỗi vách hông của vòm cửa, nơi cửa Bắc, có hai cái bàn nữa.
EZE 40:41 Vậy có bốn cái bàn bên trong cửa vào, và bốn cái bàn bên ngoài. Tổng cộng có tám cái bàn để cho các thầy tế lễ giết các con thú làm của lễ.
EZE 40:42 Có bốn cái bàn làm bằng đá đẽo dùng cho của lễ thiêu. Các bàn nầy dài khoảng tám tấc, rộng tám tấc, và cao sáu tấc. Trên các bàn đó thầy tế lễ để những đồ dùng giết các con thú để làm của lễ thiêu và các của lễ khác.
EZE 40:43 Có các móc máng thịt dài khoảng một tấc gắn vào trong tất cả các vách. Thịt dùng cho các của lễ được đặt trên bàn.
EZE 40:44 Có hai phòng bên sân trong. Một phòng nằm cạnh cửa Bắc và quay về phía Nam. Phòng kia bên cạnh cửa Nam quay về phía Bắc.
EZE 40:45 Người bảo tôi, “Phòng quay về phía Nam dành cho các thầy tế lễ phục vụ trong khu vực đền thờ,
EZE 40:46 còn phòng quay về phía Bắc dành cho các thầy tế lễ phục vụ nơi bàn thờ. Nhóm thầy tế lễ thứ hai nầy là con cháu Xa-đốc, tức con cháu Lê-vi duy nhất có thể đến gần CHÚA để phục vụ Ngài.”
EZE 40:47 Người đo sân trong. Sân đó hình vuông, mỗi cạnh dài năm mươi thước. Bàn thờ nằm phía trước của đền thờ.
EZE 40:48 Người mang tôi đến vòm cửa của đền thờ và đo mỗi vách hông của vòm. Vách dầy khoảng một thước rưỡi. Cửa vào rộng bảy thước. Các vòm cửa vào rộng khoảng bảy thước.
EZE 40:49 Vòm cửa dài mười thước, rộng sáu thước, có mười bậc thang đi lên. Các cột nằm cạnh các vách hông, hai bên của cổng vào.
EZE 41:1 Người mang tôi đến nơi thánh và đo các vách hông, vách dầy ba thước.
EZE 41:2 Cổng vào rộng năm thước. Các vách dọc theo cửa vào rộng hai thước rưỡi. Người đo Nơi Thánh thì thấy dài hai mươi thước, ngang mười thước.
EZE 41:3 Rồi người đi vào trong đo vách hông của cửa vào kế tiếp. Mỗi cái dầy một thước. Cửa rộng ba thước, và mỗi vách kế bên dầy hơn ba thước rưỡi.
EZE 41:4 Người đo phòng ở cuối Nơi Thánh. Phòng dài mười thước và ngang mười thước. Người bảo tôi, “Đây là Nơi Chí Thánh.”
EZE 41:5 Rồi người đo vách của đền thờ. Vách đó dày ba thước. Quanh đền thờ có các phòng bên cạnh rộng hai thước.
EZE 41:6 Các phòng bên cạnh nằm trên ba từng liên tiếp nhau, mỗi từng có ba mươi phòng. Quanh các vách đền thờ có các mé nhô ra cho các phòng bên. Các phòng trên nằm trên các mé nhưng không gắn liền vào các vách đền thờ.
EZE 41:7 Các phòng bên hông quanh đền thờ càng đi lên tầng cao càng rộng ra, phòng của tầng trên cùng rộng hơn tầng dưới. Có một cầu thang từ tầng trệt đi lên tầng trên cùng qua tầng giữa.
EZE 41:8 Tôi cũng thấy đền thờ có một đế cao bao quanh. Viền của đế là nền của các phòng bên hông, viền đó dầy ba thước.
EZE 41:9 Vách của các phòng bên hông dầy khoảng hai thước rưỡi. Có một khu trống giữa các phòng bên hông của đền thờ
EZE 41:10 và một số phòng khác. Khu đó rộng mười thước bao quanh đền thờ.
EZE 41:11 Các phòng bên hông có cửa dẫn tới khu trống quanh phía ngoài đền thờ. Một cửa quay về phía Bắc, cửa kia quay về phía Nam. Khu trống đều rộng khoảng hai thước rưỡi.
EZE 41:12 Tòa nhà đối diện khu riêng về phía Tây rộng ba mươi sáu thước. Vách bao quanh đền thờ dầy khoảng hai thước rưỡi và dài năm mươi thước.
EZE 41:13 Rồi người đo đền thờ. Đền thờ dài năm mươi thước. Khu riêng gồm toà nhà và các vách đều nằm trong chiều dài năm mươi thước.
EZE 41:14 Ngoài ra phía trước đền thờ và khu riêng về phía Đông rộng năm mươi thước.
EZE 41:15 Người đo chiều dài của toà nhà đối diện khu riêng về phía Tây thì thấy khoảng cách từ vách nầy đến vách kia là năm mươi thước. Nơi Thánh, Nơi Chí Thánh, và vòm cửa ngoài
EZE 41:16 đều có vách gỗ. Gần nơi cửa vào, đền thờ có vách bằng gỗ. Gỗ bọc các vách từ sàn lên đến cửa sổ,
EZE 41:17 cho đến phần của vách phía trên cửa vào. Các vách bên trong Nơi Chí Thánh và Nơi Thánh, bên ngoài, trong vòm cửa
EZE 41:18 đều có khắc hình các con thú có cánh và cây chà là. Giữa hai con thú chạm là một cây chà là, mỗi con thú có hai mặt.
EZE 41:19 Một mặt là mặt người quay về phía cây chà là bên nầy. Mặt kia là mặt sư tử quay về phía cây chà là bên kia. Tất cả đều chạm quanh các vách của đền thờ.
EZE 41:20 Từ sàn nhà lên đến phía trên cửa vào có khắc cây chà là và thú có cánh. Các vách của Nơi Thánh
EZE 41:21 có các ngạch cửa vuông. Trước Nơi Chí Thánh có vật gì giống như
EZE 41:22 bàn thờ bằng gỗ. Cao hơn một thước rưỡi và rộng một thước. Các góc, đế, và cạnh đều làm bằng gỗ. Người bảo tôi, “Đây là cái bàn đặt trước mặt CHÚA.”
EZE 41:23 Cả Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh đều có cửa đôi.
EZE 41:24 Mỗi cửa có hai cánh mở ra.
EZE 41:25 Trên các cánh cửa của Nơi thánh có chạm hình cây chà là và các con thú có cánh giống như các hình chạm trên vách. Ngoài ra có một mái che bằng gỗ bên trên vòm cửa đền thờ.
EZE 41:26 Hai bên vách vòm cửa có các cửa sổ và cây chà là. Các phòng bên hông của đền thờ cũng có mái che phía trên cầu thang.
EZE 42:1 Rồi người dẫn tôi đi về phía Bắc vào trong sân ngoài đến các phòng đối diện khu riêng và toà nhà.
EZE 42:2 Các phòng nầy nằm về phía Bắc, dài năm mươi thước, ngang hai mươi lăm thước.
EZE 42:3 Sân trong phân cách các phòng nầy và đền thờ rộng mười thước. Phía bên kia các phòng quay về hướng thềm đá của sân ngoài. Các phòng được xây ba từng như các bậc thang, và có hành lang.
EZE 42:4 Có một lối đi về phía Bắc của các phòng, rộng năm thước, dài năm mươi thước. Từ lối đi nầy có các cửa dẫn đến các phòng.
EZE 42:5 Những phòng trên cùng hẹp hơn vì các hành lang choán chỗ nhiều hơn. Các phòng của tầng thứ nhất và thứ hai của toà nhà rộng hơn.
EZE 42:6 Các phòng xây trên ba từng. Chúng không có các cột chống như các cột của sân. Vì thế các phòng trên cùng thụt vào hơn các phòng trên tầng thứ nhất và tầng thứ hai.
EZE 42:7 Có một vách ngoài song song với các phòng và sân ngoài. Vách đó chạy phía trước các phòng và dài hai mươi lăm thước.
EZE 42:8 Dãy phòng dọc theo sân ngoài dài hai mươi lăm thước, và các phòng đối diện đền thờ dài năm mươi thước.
EZE 42:9 Các phòng dưới có một lối vào về phía Đông để ai đi từ sân ngoài đều vào được,
EZE 42:10 bắt đầu từ vách cạnh sân. Phía Nam có các phòng đối diện khu riêng và toà nhà.
EZE 42:11 Phía trước các phòng nầy có một lối đi. Các phòng nầy giống như các phòng phía Bắc, kích thước và cửa nẻo đều y như nhau.
EZE 42:12 Các phòng phía Nam có cửa giống như các phòng phía Bắc. Có lối vào nơi đầu trống của lối đi bên vách cho nên ai muốn vào từ phía Đông cũng được.
EZE 42:13 Người bảo tôi, “Các phòng phía Bắc và phía Nam đối ngang khu riêng là các phòng thánh. Đó là nơi các thầy tế lễ đến gần CHÚA để ăn các của dâng cực thánh. Họ cũng để các của dâng cực thánh ở đó như của lễ chay, của lễ tẩy sạch, của lễ chuộc lỗi vì đó là nơi thánh.
EZE 42:14 Các thầy tế lễ đi vào Nơi Thánh phải để lại những áo quần dùng phục vụ trong đền thờ tại đó trước khi đi ra sân ngoài vì đó là các áo quần thánh. Sau khi họ mặc áo quần khác thì họ có thể đi vào khu vực trong đền thờ dành cho dân chúng.”
EZE 42:15 Sau khi người đã đo xong khu vực bên trong đền thờ, người mang tôi ra ngoài qua cổng Đông. Người đo toàn thể khu vực đó.
EZE 42:16 Người dùng thước đo phía Đông thì thấy dài hai trăm năm mươi thước.
EZE 42:17 Người đo phía Bắc thì thấy hai trăm năm mươi thước.
EZE 42:18 Người đo phía Nam thì thấy hai trăm năm mươi thước.
EZE 42:19 Rồi người đi vòng quanh qua phía Tây để đo thì thấy hai trăm năm mươi thước.
EZE 42:20 Vậy người đo bốn phía đền thờ. Khu vực đền thờ có một vách bao quanh dài hai trăm năm mươi thước rộng hai trăm năm mươi thước. Vách đó ngăn cách khu vực thánh và không thánh.
EZE 43:1 Rồi người dẫn tôi đi ra cổng Đông bên ngoài,
EZE 43:2 thì tôi thấy vinh quang Thượng Đế của Ít-ra-en từ phía Đông kéo đến. Âm thanh của vinh quang ấy nghe như tiếng nước chảy ào ào, khiến cả mặt đất chói sáng.
EZE 43:3 Dị tượng nầy giống như dị tượng tôi thấy trước đây khi CHÚA đến tiêu diệt thành phố và cũng giống như dị tượng tôi thấy bên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt xuống đất.
EZE 43:4 Vinh quang của CHÚA ngự xuống khu vực đền thờ qua cổng Đông.
EZE 43:5 Rồi Thần Linh của CHÚA mang tôi lên đến sân trong. Tại đó tôi thấy vinh quang Chúa phủ đầy đền thờ.
EZE 43:6 Có một người đứng cạnh tôi và tôi nghe có tiếng nói cùng tôi từ trong đền thờ.
EZE 43:7 Tiếng từ trong đền thờ bảo tôi, “Hỡi con người, đây là ngôi và bệ chân ta. Ta sẽ ở đây đời đời với dân Ít-ra-en ta. Dân Ít-ra-en sẽ không còn làm ô dơ danh ta nữa. Chúng và các vua chúng sẽ không còn làm ô dơ danh ta vì tội nhục dục hay các xác chết của vua chúa chúng nó nữa.
EZE 43:8 Các vua trước đây đã làm ô dơ danh ta bằng cách xây cửa của chúng kế cận cửa ta, và cột cửa của chúng kế cột cửa ta, chỉ có một vách ngăn giữa ta với chúng. Chúng làm những điều ta ghét khiến danh ta bị ô dơ cho nên ta nổi giận tiêu diệt chúng.
EZE 43:9 Bây giờ chúng hãy ngưng phạm tội nhục dục và lấy các xác chết của các vua chúng khỏi mặt ta thì ta sẽ ở giữa chúng đời đời.
EZE 43:10 Hỡi con người, hãy bảo cho dân Ít-ra-en biết về đền thờ để chúng xấu hổ về tội lỗi mình. Hãy để chúng suy nghĩ về đồ án của đền thờ.
EZE 43:11 Nếu chúng xấu hổ về những điều mình làm thì cho chúng thấy đồ án và cách kiến trúc của đền thờ. Cho chúng thấy các cổng ra vào, các kiểu, các qui tắc và những điều giáo huấn. Hãy viết các qui tắc nầy trước mắt chúng để chúng vâng theo các lời giáo huấn và qui tắc của đền thờ.
EZE 43:12 Đây là lời giáo huấn về đền thờ: Toàn khu vực xung quanh đỉnh núi là vùng cực thánh. Lời giáo huấn về đền thờ là như thế.”
EZE 43:13 “Sau đây là kích thước của bàn thờ, theo thước đo. Đáy của bàn thờ dài nửa thước, viền cao khoảng hai tấc rưỡi. Bàn thờ cao như sau:
EZE 43:14 Từ mặt đất lên đến viền nhô ra bên dưới cao một thước, rộng một thước. Từ viền nhỏ nhô ra cho đến viền lớn nhô ra là hai thước, rộng một thước.
EZE 43:15 Nơi đốt của lễ thiêu trên bàn thờ cao hai thước bốn góc có hình giống như cái sừng nhô lên.
EZE 43:16 Bàn thờ hình vuông, dài sáu thước, rộng sáu thước.
EZE 43:17 Viền nhô ra phía trên cũng vuông, dài bảy thước, ngang bảy thước. Viền quanh bàn thờ rộng hai tấc rưỡi, rãnh xung quanh rộng hai tấc rưỡi. Các bậc thang đi lên quay về phía Đông.”
EZE 43:18 Rồi người bảo tôi, “Hỡi con người, CHÚA là Thượng Đế phán như sau: Đây là các qui tắc về bàn thờ. Khi xây thì hãy dùng các qui tắc nầy để dâng của lễ thiêu và rưới huyết trên đó.
EZE 43:19 Ngươi phải dâng một con bò đực tơ làm của lễ tẩy sạch cho các thầy tế lễ, người Lê-vi thuộc gia tộc Xa-đốc là những người đến gần để phục vụ ta, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 43:20 Hãy lấy một ít huyết bò tơ bôi lên bốn góc bàn thờ, bốn góc viền nhô ra, và quanh viền. Đó là cách các ngươi làm cho bàn thờ tinh sạch sẵn sàng phục vụ Thượng Đế.
EZE 43:21 Rồi bắt con bò đực làm của lễ tẩy sạch và dâng lên nơi được chỉ định trong khu vực đền thờ, bên ngoài toà nhà của đền thờ.
EZE 43:22 Vào ngày thứ nhì hãy dâng một con dê đực không tật nguyền làm của lễ tẩy sạch. Thầy tế lễ sẽ làm cho bàn thờ tinh sạch sẵn sàng phục vụ Thượng Đế theo như cách đã làm cho con bò tơ đực.
EZE 43:23 Khi ngươi đã làm cho bàn thờ tinh sạch và sẵn sàng thì hãy dâng một con bò tơ đực và một con chiên đực bắt từ bầy. Các con thú đó không được có tật nguyền.
EZE 43:24 Ngươi phải dâng chúng lên trước mặt CHÚA. Thầy tế lễ sẽ rắc muối lên và dâng chúng làm của lễ thiêu cho CHÚA.
EZE 43:25 Suốt bảy ngày, mỗi ngày các ngươi phải dâng một con dê làm của lễ tẩy sạch. Ngoài ra các thầy tế lễ phải chuẩn bị một con bò tơ đực và một con chiên đực bắt từ bầy. Các con thú đó không được có tật nguyền.
EZE 43:26 Trong bảy ngày các thầy tế lễ phải làm cho bàn thờ tinh sạch và sẵn sàng phục vụ Thượng Đế. Rồi họ sẽ dâng bàn thờ lên cho Ngài.
EZE 43:27 Cuối bảy ngày ấy, đến ngày thứ tám và tiếp theo, các thầy tế lễ phải dâng trên bàn thờ của lễ thiêu và của lễ thân hữu của họ. Rồi ta sẽ chấp nhận các ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 44:1 Rồi người đưa tôi vào cửa Đông bên ngoài của khu vực đền thờ nhưng cửa đó bị đóng chặt.
EZE 44:2 CHÚA bảo tôi, “Cửa nầy sẽ đóng luôn luôn, không bao giờ mở ra. Không ai được phép đi qua vì CHÚA là Thượng Đế của Ít-ra-en đã đi qua đó cho nên phải đóng lại.
EZE 44:3 Chỉ có quan trưởng mới có thể ngồi nơi cửa và ăn trước mặt CHÚA. Người phải đi vào qua vòm cửa và ra cũng qua lối đó.”
EZE 44:4 Rồi người mang tôi qua cổng Bắc bên ngoài đến phía trước đền thờ. Khi tôi đang nhìn thì thấy vinh quang CHÚA đầy khắp đền thờ, nên tôi cúi sát xuống đất.
EZE 44:5 CHÚA bảo tôi, “Hỡi con người, hãy để ý đây. Hãy lấy mắt mà nhìn, lấy tai mà nghe. Hãy nghe thấy mọi điều ta bảo ngươi về các qui tắc và giáo huấn về đền thờ CHÚA. Hãy để ý đến cửa vào đền thờ và các cửa ra khỏi khu vực đền thờ.
EZE 44:6 Rồi hãy nói cho những kẻ không chịu vâng lời. Hãy bảo dân Ít-ra-en: CHÚA là Thượng Đế phán: Hỡi Ít-ra-en, hãy ngưng các hành vi ta ghét!
EZE 44:7 Các ngươi mang những người ngoại quốc chưa được cắt dương bì về thân xác và tấm lòng vào Nơi Thánh ta. Các ngươi làm ô uế đền thờ ta khi dâng cho ta thức ăn, mỡ, và huyết. Các ngươi phá giao ước ta bằng những hành vi mà ta ghét.
EZE 44:8 Các ngươi tự mình không chăm lo những vật thánh ta mà lại để những người ngoại quốc lo cho đền thờ ta.
EZE 44:9 Cho nên CHÚA là Thượng Đế phán: Những người ngoại quốc chưa được cắt dương bì về thân xác và tấm lòng không được phép vào đền thờ ta. Không có một người ngoại quốc nào sống ở giữa dân Ít-ra-en có thể vào đền thờ ta cả.
EZE 44:10 Nhưng những người Lê-vi không vâng lời ta khi Ít-ra-en bỏ ta đi theo các thần tượng nên phải bị trừng phạt vì tội lỗi mình.
EZE 44:11 Những người Lê-vi đó sẽ làm tôi tớ phục vụ trong Nơi Thánh ta. Họ phải canh các cửa của đền thờ và phục vụ trong khu vực đền thờ. Họ được phép giết các con thú dùng cho của lễ thiêu và các sinh tế cho dân chúng. Họ được phép đứng trước mặt dân chúng để phục vụ họ.
EZE 44:12 Còn về phần những người Lê-vi nào đã giúp dân chúng bái lạy các thần tượng và xui cho dân Ít-ra-en phạm tội thì ta cam kết như sau: Họ sẽ bị trừng phạt vì tội lỗi mình, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 44:13 Họ sẽ không được phép đến gần ta để làm thầy tế lễ hay đến gần bất cứ vật thánh hay các của lễ chí thánh nào của ta. Họ sẽ mang sự sỉ nhục mình về những điều gớm ghiếc họ làm.
EZE 44:14 Ta sẽ để cho chúng lo khu vực đền thờ và mọi việc phải làm trong khu vực đó.
EZE 44:15 Nhưng các thầy tế lễ và người Lê-vi cùng con cháu Xa-đốc đã phục vụ Nơi Thánh ta khi dân Ít-ra-en từ bỏ ta thì được phép đến gần phục vụ ta. Họ được phép đứng trước mặt ta để dâng cho ta mỡ và huyết.” CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 44:16 Chỉ có họ là những người được phép vào Nơi Thánh ta. Chỉ có họ mới được đến gần bàn phục vụ ta và làm những việc ta giao cho.
EZE 44:17 Khi vào các cổng của sân trong, họ phải mặc áo dài bằng vải gai mịn. Họ không nên mặc đồ bằng len khi phục vụ nơi cổng của sân trong hay trong đền thờ.
EZE 44:18 Họ phải vấn khăn vành trên đầu và mặc áo lót bằng vải. Họ không nên mặc loại gì làm đổ mồ hôi.
EZE 44:19 Khi đi vào sân ngoài gặp gỡ dân, họ phải cởi y phục thánh ra trước khi đi. Họ phải để các y phục ấy trong phòng thánh và mặc y phục khác. Như thế họ sẽ không vô tình thánh hóa người nào trong dân chúng vì y phục thánh chạm vào họ.
EZE 44:20 Họ không được cạo đầu hay để tóc dài nhưng phải cắt tóc cho gọn gàng sạch sẽ.
EZE 44:21 Khi đi vào sân trong các thầy tế lễ không được uống rượu.
EZE 44:22 Các thầy tế lễ không được lấy góa phụ hay đàn bà ly dị làm vợ. Họ chỉ được lấy trinh nữ từ trong dân Ít-ra-en hay góa phụ của các thầy tế lễ khác mà thôi.
EZE 44:23 Họ phải dạy cho dân phân biệt điều thánh và điều không thánh. Phải giúp cho dân ta biết điều tinh sạch và không tinh sạch.
EZE 44:24 Họ sẽ đóng vai quan án ở toà. Khi xét xử, họ phải theo lời giáo huấn ta. Họ phải vâng theo luật lệ và qui tắc ta vào những kỳ lễ đặc biệt, và phải giữ ngày Sa-bát ra thánh.
EZE 44:25 Họ không được lại gần xác chết mà khiến cho mình bị ô dơ. Nhưng họ có thể để mình bị ô dơ nếu người chết là cha, mẹ, con trai, con gái, anh chị em của mình chưa lập gia đình.
EZE 44:26 Sau khi thầy tế lễ đã dọn mình cho tinh sạch rồi thì phải chờ bảy ngày.
EZE 44:27 Khi người đi vào sân trong của nơi thánh thì người phải dâng một của lễ tẩy sạch cho mình, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 44:28 Đó là những qui tắc về các thầy tế lễ và tài sản họ. Ngươi sẽ không cấp đất nào trong Ít-ra-en cho họ làm tài sản; chính ta là tài sản của họ.
EZE 44:29 Họ sẽ ăn của lễ chay, của lễ tẩy sạch, và của lễ chuộc lỗi. Mọi thứ mà dân Ít-ra-en dâng cho ta sẽ thuộc về họ.
EZE 44:30 Những hoa quả đầu mùa tốt nhất và mọi của dâng hiến đặc biệt dâng cho ta sẽ thuộc về các thầy tế lễ. Ngươi cũng sẽ cấp cho họ phần đầu tiên của đống bột khi ngươi làm bánh mì để gia đình ngươi được phước.
EZE 44:31 Các thầy tế lễ không được phép ăn chim hay thú vật nào chết tự nhiên hay bị thú dữ xé.
EZE 45:1 “Khi ngươi bắt thăm chia đất cho các chi tộc Ít-ra-en, ngươi phải dành một phần đất cho CHÚA. Phần đất đó sẽ dài khoảng mười ba cây số, rộng mười cây số; toàn khu đất ấy sẽ được xem như thánh.
EZE 45:2 Từ miếng đất ấy, sẽ dành một khu rộng hai trăm năm mươi thước, ngang hai trăm năm mươi thước cho đền thờ. Hãy để một khu đất trống quanh đền thờ rộng khoảng hai mươi lăm thước,
EZE 45:3 Trong khu vực thánh ngươi sẽ đo một miếng đất dài mười hai cây số, rộng năm cây số để làm nơi Thánh và Nơi Chí Thánh.
EZE 45:4 Phần đất thánh nầy sẽ dành cho các thầy tế lễ phục vụ trong đền thờ, là những người đến gần CHÚA để phục vụ Ngài. Trên đất đó sẽ xây nhà cho các thầy tế lễ và đền thờ.
EZE 45:5 Một khu khác dài mười hai cây số, rộng năm cây số sẽ dành cho người Lê-vi phục vụ trong đền thờ. Các người Lê-vi sẽ xây thành để ở trong khu thuộc về họ.
EZE 45:6 Ngươi phải cấp một miếng đất dọc theo khu vực thánh dài khoảng mười hai cây số, ngang khoảng ba cây số để xây thành phố. Thành đó sẽ thuộc về toàn dân Ít-ra-en.
EZE 45:7 Quan trưởng sẽ có miếng đất nằm hai bên khu vực thánh và thành phố. Về phía Tây của khu vực thánh, đất người sẽ chạy dài đến phía Tây. Về phía Đông khu vực thánh, đất người sẽ chạy dài đến phía Đông. Chiều dài cũng bằng các phần đất khác giữa các ranh giới phía Đông và phía Tây đã được cấp cho các chi tộc.
EZE 45:8 Chỉ có miếng đất đó là tài sản của quan trưởng cai trị trên Ít-ra-en. Như thế các quan trưởng sẽ không còn bạo ngược đối với dân ta nữa nhưng họ sẽ để cho mỗi chi tộc trong dân Ít-ra-en nhận phần đất thuộc về mình.
EZE 45:9 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Hỡi các quan trưởng cai trị trên Ít-ra-en, các ngươi quá lắm! Thôi đừng bạo ngược và làm hại dân ta nữa. Hãy làm điều công bằng chính trực. Không được đuổi dân ta ra khỏi nhà cửa chúng nữa, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 45:10 Các ngươi phải dùng cân đúng, lường chân thật và lít đo chính xác.
EZE 45:11 Ê-pha và bát phải bằng nhau: Một bát phải bằng một phần mười ô-me chất lỏng, còn một ê-pha phải bằng một phần mười ô-me chất khô.
EZE 45:12 Sê-ken sẽ trị giá hai mươi ghê-ra, và một mi-na trị giá sáu mươi sê-ken.
EZE 45:13 Đây là của lễ ngươi phải dâng: mỗi ô-me lúa mì trích ra một phần sáu ê-pha, mỗi ô-me lúa mạch trích ra một phần sáu ê-pha.
EZE 45:14 Mỗi một co dầu trích ra một phần mười bát để dâng. (Một co cũng như ô-me, bằng mười bát)
EZE 45:15 Trong một bầy hai trăm con chiên thì dâng một con từ chỗ chúng uống nước trong Ít-ra-en. Tất cả những thứ đó phải dâng làm của lễ thiêu, của lễ thân hữu để chuộc lỗi cho các ngươi, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.
EZE 45:16 Tất cả dân trong xứ phải dâng của lễ đặc biệt nầy cho quan trưởng cai trị trên Ít-ra-en.
EZE 45:17 Quan trưởng có trách nhiệm cung cấp của lễ thiêu, của lễ chay, và của lễ uống. Các của lễ nầy phải dâng vào các dịp lễ, ngày Trăng Mới, ngày Sa-bát, và các dịp lễ khác của Ít-ra-en. Quan trưởng phải cung cấp của lễ tẩy sạch, của lễ chay, và của lễ thân hữu để chuộc tội cho dân Ít-ra-en.’
EZE 45:18 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Vào ngày đầu tháng giêng, bắt một con bò tơ đực không tật nguyền, dùng nó để tẩy sạch đền thờ.
EZE 45:19 Thầy tế lễ sẽ lấy một ít huyết nơi của lễ tẩy sạch nầy và xức lên các cột cửa của đền thờ, bốn góc nhô ra của bàn thờ, và các cột của cổng vào sân trong.
EZE 45:20 Ngươi phải làm như thế vào ngày thứ bảy của tháng cho ai vô ý phạm tội mà không biết. Đó là cách các ngươi làm cho đền thờ tinh sạch.’
EZE 45:21 Vào ngày mười bốn tháng giêng các ngươi sẽ kỷ niệm Lễ Vượt Qua. Lễ đó kéo dài bảy ngày, trong thời gian đó các ngươi sẽ ăn bánh mì không men.
EZE 45:22 Vào ngày đó quan trưởng phải dâng một con bò đực cho chính mình và cho toàn dân để làm của lễ tẩy sạch.
EZE 45:23 Trong bảy ngày lễ người phải dâng bảy con bò đực và bảy con chiên con không tật nguyền. Chúng sẽ dùng làm của lễ thiêu cho CHÚA mà quan trưởng phải dâng hàng ngày trong suốt bảy ngày. Người cũng phải dâng một con dê đực mỗi ngày làm của lễ tẩy sạch.
EZE 45:24 Quan trưởng phải dâng nửa thùng ngũ cốc cho mỗi con bò và nửa thùng ngũ cốc cho mỗi con chiên để làm của lễ chay. Cứ mỗi nửa thùng ngũ cốc thì người phải dâng một hin dầu ô liu.
EZE 45:25 Bắt đầu vào ngày mười lăm tháng bảy khi ngươi kỷ niệm Lễ Lều Tạm thì mỗi ngày quan trưởng phải cung cấp những thứ sau đây trong bảy ngày: của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, của lễ chay, và dầu ô liu.”
EZE 46:1 “CHÚA là Thượng Đế phán: Cửa Đông của sân trong sẽ đóng luôn trong sáu ngày làm việc, nhưng đến ngày Sa-bát và ngày Trăng Mới sẽ mở ra.
EZE 46:2 Quan trưởng sẽ từ bên ngoài đi vào qua vòm cổng và đứng bên cột cửa, trong khi các thầy tế lễ thay cho quan trưởng dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu. Quan trưởng phải bái lạy nơi cổng vào rồi đi ra. Nhưng cổng sẽ mở cho đến chiều.
EZE 46:3 Dân chúng trong xứ sẽ bái lạy cung kính nơi cổng vào trước mặt CHÚA vào ngày Sa-bát và ngày Trăng Mới.
EZE 46:4 Sau đây là của lễ thiêu mà quan trưởng phải dâng cho CHÚA vào ngày Sa-bát: sáu con chiên con đực không tật nguyền, một con chiên đực không tật nguyền.
EZE 46:5 Cứ mỗi con chiên đực người phải dâng nửa thùng ngũ cốc, nhưng người muốn dâng bao nhiêu ngũ cốc kèm theo con chiên tùy ý. Người cũng phải dâng ba lít rưỡi dầu ô-liu cho mỗi nửa thùng ngũ cốc.
EZE 46:6 Vào ngày Trăng Mới người phải dâng một con bò tơ đực không tật nguyền. Người cũng phải dâng sáu con chiên con và một con chiên đực không tật nguyền.
EZE 46:7 Quan trưởng phải dâng nửa thùng ngũ cốc kèm theo mỗi con bò đực và nửa thùng ngũ cốc cho mỗi con chiên đực. Người có thể dâng ngũ cốc cùng với các con chiên con càng nhiều càng tốt theo khả năng. Nhưng người phải dâng ba lít rưỡi dầu ô-liu cho mỗi nửa thùng ngũ cốc.
EZE 46:8 Khi quan trưởng vào thì phải đi qua vòm cửa nơi cổng vào và đi ra cũng qua cổng ấy.
EZE 46:9 Khi dân chúng trong xứ đến ra mắt CHÚA vào các dịp lễ thì ai đi vào qua cửa Bắc sẽ ra bằng cửa Nam. Ai vào bằng cửa Nam sẽ ra bằng cửa Bắc. Không được ra vào cùng một cửa; mỗi người phải ra thẳng trước mặt.
EZE 46:10 Quan trưởng sẽ đi vào cùng với dân chúng và cũng đi ra cùng với họ.
EZE 46:11 Vào các kỳ lễ và các ngày thánh thì phải dâng nửa thùng ngũ cốc kèm theo mỗi con bò tơ đực, nửa thùng ngũ cốc kèm theo mỗi con chiên đực. Nhưng về các con chiên con thì quan trưởng phải dâng càng nhiều càng tốt theo khả năng. Cứ mỗi nửa thùng ngũ cốc người phải dâng ba lít rưỡi dầu ô-liu.
EZE 46:12 Quan trưởng có thể dâng của lễ tự nguyện cho CHÚA; món đó có thể là của lễ thiêu hay của lễ thân hữu. Khi người dâng cho CHÚA thì người ta phải mở cửa Đông cho người. Người phải dâng của lễ thiêu hay của lễ thân hữu như trong ngày Sa-bát. Sau khi người đi ra thì đóng cửa lại.
EZE 46:13 Mỗi ngày các ngươi phải dâng một con chiên con một tuổi không tật nguyền làm của lễ thiêu cho CHÚA. Phải dâng vào mỗi sáng.
EZE 46:14 Ngoài ra, mỗi sáng các ngươi cũng phải dâng của lễ chay cùng với chiên con. Kèm theo của lễ đó các ngươi phải dâng ba lít một phần ba ngũ cốc, và một lít một phần ba dầu ô-liu để tẩm bột mịn làm của lễ chay cho CHÚA. Đó là một qui tắc từ nay về sau phải giữ.
EZE 46:15 Các ngươi phải luôn luôn dâng chiên con cùng với của lễ chay và dầu ô liu vào mỗi sáng để làm của lễ thiêu.
EZE 46:16 CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Nếu quan trưởng cấp đất cho con trai nào của mình thì đất sẽ thuộc về đứa con và con cháu nó. Đó là tài sản lưu truyền trong gia đình.
EZE 46:17 Nhưng nếu quan trưởng cấp đất mình cho đầy tớ nào thì đất đó chỉ thuộc về nó đó cho đến năm Hoan hỉ thôi. Rồi đất đó sẽ trở về quan trưởng. Chỉ có con trai của quan trưởng mới được giữ đất cho mình từ người.
EZE 46:18 Quan trưởng không được đuổi dân ra khỏi đất để chiếm đất họ. Người phải cấp cho các con trai mình một số đất của riêng người để dân ta không bị phân tán khỏi đất chúng.’”
EZE 46:19 Người dẫn tôi đi qua cổng vào kế bên cửa vào các phòng thánh của những thầy tế lễ, các phòng nầy quay về phía Bắc. Ở đó tôi thấy một nơi nằm cuối phía Tây.
EZE 46:20 Người bảo tôi, “Đây là nơi các thầy tế lễ nấu thịt của lễ tẩy sạch, của lễ chuộc tội và nướng của lễ chay. Do đó họ không cần phải mang các của lễ thánh nầy ra sân ngoài nữa vì dân chúng có thể vô tình bị thánh hóa và bị hại.”
EZE 46:21 Rồi người mang tôi đi ra sân ngoài và dẫn tôi thăm bốn góc. Nơi mỗi góc sân lại có một sân nhỏ khác.
EZE 46:22 Các sân nhỏ nằm ở bốn góc sân. Các sân nhỏ đều bằng nhau, dài hai mươi thước, ngang mười lăm thước.
EZE 46:23 Có một vách đá bao quanh mỗi sân nhỏ, và có chỗ nấu nướng được xây vào trong mỗi vách đá.
EZE 46:24 Người bảo tôi, “Đây là các nhà bếp nơi những người làm việc trong đền thờ sẽ nấu các của lễ thân hữu do dân chúng dâng hiến.”
EZE 47:1 Người dẫn tôi trở lại cửa đền thờ thì tôi thấy nước rỉ ra từ dưới ngạch cửa và chảy về phía Đông. Đền thờ quay về hướng Đông. Nước rỉ xuống từ vách phía Nam của đền thờ và chảy về phía Nam của bàn thờ.
EZE 47:2 Người mang tôi qua bên ngoài cửa Bắc và dẫn tôi đi quanh bên ngoài cho đến bên ngoài cửa Đông. Tôi thấy nước rỉ ra từ phía Nam của cửa.
EZE 47:3 Người đi về phía Đông, trong tay cầm dây và đo năm trăm thước. Rồi người dẫn tôi đi qua nước, mực nước lên đến mắt cá tôi.
EZE 47:4 Người đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước. Nước lên đến đầu gối tôi. Người đo năm trăm thước nữa, rồi dẫn tôi qua nước, thì nước lên đến hông tôi.
EZE 47:5 Người đo năm trăm thước nữa thì lúc đó là một con sông tôi không thể nào băng qua được. Nước lên quá cao; chỉ có thể bơi thôi. Đó là một con sông không ai băng qua được.
EZE 47:6 Người hỏi tôi, “Hỡi con người, ngươi có thấy điều nầy không?” Rồi người dẫn tôi trở lại bờ sông.
EZE 47:7 Khi tôi trở lại thì thấy hai bên bờ có nhiều cây mọc.
EZE 47:8 Người bảo tôi, “Nước sông nầy sẽ chảy về hướng Đông đi xuống thung lũng sông Giô-đanh. Khi nó chảy vào Biển Chết thì nước sẽ trở nên ngọt.
EZE 47:9 Nơi nào sông chảy đến có rất nhiều cá. Chỗ nào nước nầy chảy vào Biển Chết thì nước sẽ hóa ngọt, cho nên hễ nơi nào sông nầy chảy đến đều có nhiều sinh vật trong đó.
EZE 47:10 Các người đánh cá đứng bên Biển Chết. Từ Ên-ghê-đi suốt cho tới Ên-Ghê-lam sẽ có nhiều chỗ quăng lưới. Sẽ có rất nhiều cá trong Biển Chết như ở Địa-trung-hải vậy.
EZE 47:11 Nhưng các đầm lầy sẽ không hóa ngọt; chúng sẽ để dành cho muối.
EZE 47:12 Tất cả các loại cây ăn trái sẽ mọc hai bên bờ sông, lá của chúng sẽ không khô héo. Các cây sẽ ra trái mỗi tháng vì nước từ đền thờ chảy ra tưới chúng. Trái cây sẽ dùng làm thức ăn, còn lá thì dùng làm thuốc chữa bệnh.”
EZE 47:13 CHÚA là Thượng Đế phán: “Đây là ranh giới của xứ được chia ra cho mười hai chi tộc của Ít-ra-en. Giô-xép sẽ được hai phần đất.
EZE 47:14 Ngươi phải chia đất cho đồng đều. Ta đã hứa cấp đất đó cho các tổ tiên ngươi cho nên đất nầy sẽ thuộc về ngươi để làm tài sản gia đình.
EZE 47:15 Đây sẽ là ranh giới của xứ: Về phía Bắc từ Địa-trung-hải chạy dài đến Hết-lôn, hướng về Lê-bô Ha-mát và trải dài đến các thị trấn Xê-bát,
EZE 47:16 Bê-rô-tha, và Xíp-ra-im trên ranh giới giữa Đa-mách và Ha-mát. Rồi nó sẽ tiếp tục chạy đến thị trấn Ha-xe Hát-ti-côn trên ranh giới của xứ Hau-ran.
EZE 47:17 Như vậy ranh giới sẽ chạy từ Địa-trung-hải cho đến thị trấn Ha-xa Ê-nan, thuộc Đa-mách và Ha-mát nằm trên phía Bắc. Đó là mạn Bắc của xứ.
EZE 47:18 Về phía Đông ranh giới chạy về phía Nam từ một điểm giữa Hau-ran và Đa-mách. Nó chạy dọc theo sông Giô-đanh giữa Ghi-lê-át và xứ Ít-ra-en rồi tiếp tục chạy đến thị trấn Ta-ma trên Biển Chết. Đó là mạn Đông của xứ.
EZE 47:19 Về phía Nam ranh giới sẽ chạy về hướng Đông từ Ta-ma suốt cho đến các suối nước của Mê-ri-ba Ka-đe. Rồi nó sẽ chạy dọc theo suối Ai-cập đến Địa-trung-hải. Đó sẽ là mạn Nam của xứ.
EZE 47:20 Về phía Tây thì Địa-trung-hải sẽ làm ranh giới cho đến một nơi đối ngang Lê-bô Ha-mát. Đó sẽ là mạn Tây của xứ các ngươi.
EZE 47:21 Ngươi sẽ chia xứ nầy cho các chi tộc Ít-ra-en.
EZE 47:22 Ngươi sẽ chia nó làm tài sản gia đình cho các ngươi và cho các người ngoại quốc sinh sống và có con cái giữa các ngươi. Ngươi phải đối xử với họ như những người sinh trưởng trong Ít-ra-en; họ cũng phải được chia đất cùng với các chi tộc Ít-ra-en.
EZE 47:23 Trong bất cứ vùng đất nào có người ngoại quốc cư ngụ thì ngươi phải cấp phần đất ấy cho họ, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 48:1 “Đây là các vùng thuộc những chi tộc có tên sau đây: Đan sẽ nhận một phần thuộc ranh giới phía Bắc. Nó sẽ chạy từ biển qua Hết-lôn đến Lê-bô Ha-mát, suốt đến Ha-xa Ê-nan tức phía Bắc Đa-mách. Rồi nó sẽ dừng ở đó kế cận Ha-mát. Đó sẽ là ranh giới phía Bắc của Đan chạy từ Đông sang Tây cho đến Địa-trung-hải.
EZE 48:2 A-se sẽ nhận phần đất mình về phía Nam của ranh giới Đan. Phần đó sẽ chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:3 Phần của Nép-ta-li nằm về phía Nam ranh giới A-se. Phần đó sẽ chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:4 Phần của Ma-na-xe nằm về phía Nam ranh giới Nép-ta-li. Phần đó sẽ chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:5 Phần của Ép-ra-im nằm về phía Nam của ranh giới Ma-na-xe. Phần đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:6 Phần của Ru-bên nằm về phía Nam của ranh giới Ép-ra-im. Phần đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:7 Phần của Giu-đa nằm về phía Nam của ranh giới Ru-bên. Phần đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:8 Phía Nam ranh giới Giu-đa sẽ là khu vực thánh ngươi phải biệt riêng ra. Khu vực đó rộng khoảng mười hai cây số, chiều dài và rộng tương đương với một phần đất của các chi tộc. Nó sẽ chạy từ Đông sang Tây. Đền thờ sẽ nằm chính giữa khu vực đó.
EZE 48:9 Phần đất mà ngươi biệt riêng cho CHÚA sẽ dài khoảng mười hai cây số, ngang năm cây số.
EZE 48:10 Phần đất thánh sẽ được chia cho các người sau đây. Các thầy tế lễ sẽ được miếng đất dài khoảng mười hai cây số chạy theo hướng Bắc Nam, rộng năm cây số theo hướng Đông Tây. Đền thờ sẽ nằm chính giữa khu đất đó.
EZE 48:11 Phần đất ấy dành cho các thầy tế lễ có nhiệm vụ thánh phục vụ CHÚA. Chúng là các con cháu Xa-đốc đã phục vụ và không bỏ ta khi dân Ít-ra-en lầm lạc đi theo người Lê-vi.
EZE 48:12 Chúng sẽ nhận được phần đất mình là phần đất thánh của miếng đất thánh trong xứ. Phần đó nằm kế cận đất của người Lê-vi.
EZE 48:13 Dọc theo vùng đất dành cho các thầy tế lễ thì người Lê-vi sẽ có một phần dài khoảng mười hai cây số, rộng năm cây số. Chiều dài nguyên của nó sẽ là mười hai cây số, và chiều ngang nguyên là năm cây số.
EZE 48:14 Người Lê-vi không được bán hay đổi chác đất đó. Họ không được để ai khác làm chủ phần đất tốt nhất đó vốn đã được thánh hóa cho CHÚA.
EZE 48:15 Phần đất còn lại rộng khoảng hai cây số, dài mười hai cây số. Phần nầy không phải là đất thánh nhưng thuộc về thành phố và được dùng để cất nhà và làm đồng cỏ. Thành phố sẽ tọa lạc ngay giữa khu đất đó.
EZE 48:16 Sau đây là kích thước của thành: cạnh Bắc khoảng hai cây số, cạnh Nam khoảng hai cây số, cạnh Đông khoảng hai cây số, và cạnh Tây khoảng hai cây số.
EZE 48:17 Đất của thành dùng làm đồng cỏ sẽ rộng khoảng một trăm hai mươi lăm thước về mặt Bắc, một trăm hai mươi lăm thước về mặt Nam, một trăm hai mươi lăm thước về mặt Đông, và một trăm hai mươi lăm thước về mặt Tây.
EZE 48:18 Dọc theo khu vực thánh phải chừa khoảng trống năm cây số về phía Đông, và năm cây số về phía Tây. Phần đó sẽ dùng làm nơi trồng trọt cung cấp thức ăn cho nhân viên của thành.
EZE 48:19 Nhân viên của thành từ tất cả các chi tộc sẽ trồng tỉa trên đất đó.
EZE 48:20 Toàn vùng đất đó hình vuông, mỗi bề mười hai cây số. Ngươi phải dâng cho CHÚA phần thánh cùng với tài sản của thành.
EZE 48:21 Đất còn lại hai bên của khu vực thánh và tài sản của thành thì thuộc về quan trưởng. Đất đó sẽ chạy dài quá phía Đông của khu vực thánh tới ranh giới phía Đông và Tây của khu vực đó suốt đến Địa-trung-hải. Cả hai khu nầy chạy dọc theo đất của các chi tộc, và thuộc về quan trưởng. Khu đất thánh để xây Nơi Thánh của đền thờ nằm ở giữa khu đất đó.
EZE 48:22 Đất của người Lê-vi và tài sản thành phố sẽ nằm giữa các khu đất thuộc về quan trưởng. Các khu đất đó sẽ nằm giữa ranh giới Giu-đa và Bên-gia-min.
EZE 48:23 Sau đây là phần các chi tộc còn lại sẽ nhận: Bên-gia-min được một phần. Phần đó chạy từ Đông cho đến Địa-trung-hải về phía Tây.
EZE 48:24 Về phía Nam vùng đất của Bên-gia-min thì Xi-mê-ôn sẽ nhận một phần. Đất đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:25 Về phía Nam vùng đất của Xi-mê-ôn thì Y-xa-ca sẽ nhận một phần. Đất đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:26 Về phía Nam vùng đất của Y-xa-ca thì Xê-bu-lôn sẽ nhận một phần. Đất đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:27 Về phía Nam vùng đất của Xê-bu-lôn thì Gát sẽ nhận một phần. Đất đó chạy từ Đông sang Tây.
EZE 48:28 Ranh giới phía Nam vùng đất của Gát chạy về phía Đông từ Ta-ma trên Biển Chết cho đến các suối Mê-ri-ba Ka-đe. Rồi nó sẽ chạy dọc theo suối Ai-cập cho đến Địa-trung-hải.
EZE 48:29 Đó là đất mà ngươi phải phân chia cho các chi tộc của Ít-ra-en để làm tài sản, CHÚA là Thượng Đế phán vậy.”
EZE 48:30 “Sau đây là ranh giới bên ngoài thành: Cạnh Bắc sẽ dài hai cây số.
EZE 48:31 Sẽ có ba cổng quay về hướng Bắc: Cổng Ru-bên, cổng Giu-đa, và cổng Lê-vi, đặt theo tên các chi tộc Ít-ra-en.
EZE 48:32 Cạnh Đông sẽ dài hai cây số. Sẽ có ba cổng quay về hướng Đông: Cổng Giô-xép, cổng Bên-gia-min, và cổng Đan.
EZE 48:33 Cạnh Nam sẽ dài hai cây số. Sẽ có ba cổng quay về hướng Nam: Cổng Xi-mê-ôn, cổng Y-xa-ca, và cổng Xê-bu-lôn.
EZE 48:34 Cạnh Tây sẽ dài hai cây số. Sẽ có ba cổng quay về hướng Tây: Cổng Gát, cổng A-se, và cổng Nép-ta-li.
EZE 48:35 Chu vi của thành là khoảng mười cây số. Từ đó về sau thành sẽ mang tên là CHÚA Có Ở Đó.”
DAN 1:1 Vào năm thứ ba đời Giê-hô-gia-kim vua Giu-đa thì Nê-bu-cát-nết-xa, vua Ba-by-lôn kéo quân đến vây Giê-ru-sa-lem.
DAN 1:2 CHÚA cho phép Nê-bu-cát-nết-xa bắt được Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa. Nê-bu-cát-nết-xa cũng lấy một số đồ dùng trong đền thờ của Thượng Đế mang sang Ba-by-lôn và đặt trong đền thờ của các thần mình.
DAN 1:3 Sau đó vua Nê-bu-cát-nết-xa ra lệnh cho Át-phê-na, tể tướng mình, tuyển lựa một số người Ít-ra-en vào cung. Vua muốn chọn họ từ những gia đình quyền quí, kể cả gia đình hoàng tộc của Giu-đa.
DAN 1:4 Vua Nê-bu-cát-nết-xa chỉ muốn chọn những thanh niên Ít-ra-en tốt tướng, trắng trẻo, học thức, có khả năng hấp thụ kiến thức để có thể phục vụ trong đền vua. Át-phê-na phải dạy họ nói và viết ngôn ngữ Ba-by-lôn.
DAN 1:5 Vua cấp cho các thanh niên ấy lương thực và rượu mỗi ngày là những thứ vua dùng. Họ được huấn luyện trong ba năm rồi sau đó sẽ phục vụ vua Ba-by-lôn.
DAN 1:6 Trong số các thanh niên đó có Đa-niên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria thuộc dân Giu-đa.
DAN 1:7 Át-phê-na, quan tể tướng đặt tên Ba-by-lôn cho họ. Đa-niên mang tên Bên-tơ-sát-xa, Ha-na-nia tên Sa-đơ-rắc, Mi-sa-ên tên Mê-sác, và A-xa-ria tên A-bết-nê-gô.
DAN 1:8 Đa-niên nhất định không để thực phẩm và rượu của vua làm ô uế mình cho nên ông xin Át-phê-na miễn cho ông khỏi dùng các thức ăn ấy.
DAN 1:9 Thượng Đế khiến cho Át-phê-na, quan tể tướng tỏ lòng nhân từ và tử tế đối với Đa-niên.
DAN 1:10 Tuy nhiên Át-phê-na bảo Đa-niên, “Tôi sợ vua, chủ tôi. Ngài ra lệnh cho tôi cấp cho anh phần thức ăn và rượu nầy. Nếu anh bắt đầu trông tiều tụy hơn những thanh niên khác đồng tuổi thì vua sẽ thấy ngay. Như thế hóa ra vì anh mà vua sẽ chém đầu tôi à?”
DAN 1:11 Át-phê-na giao cho một viên sĩ quan trông nom Đa-niên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria.
DAN 1:12 Đa-niên bảo viên sĩ quan trông nom mình rằng, “Xin thử như thế nầy trong mười ngày: Đừng cho chúng tôi thứ gì khác để ăn ngoài rau và nước uống.
DAN 1:13 Sau mười ngày ông sẽ so diện mạo chúng tôi với những thanh niên khác đã dùng thức ăn và đồ uống của vua xem sao. Ông sẽ thấy rồi quyết định phải đối xử với chúng tôi, kẻ tôi tớ ông, như thế nào.”
DAN 1:14 Vì thế viên sĩ quan ấy đồng ý thử họ trong mười ngày.
DAN 1:15 Sau mười ngày thì thấy họ trông khỏe mạnh và tráng kiện hơn những thanh niên ăn đồ của vua.
DAN 1:16 Nên viên sĩ quan dẹp phần thực phẩm và rượu đặc biệt của vua dành cho họ và cho họ ăn rau thôi.
DAN 1:17 Thượng Đế ban cho bốn thanh niên ấy sự khôn ngoan và khả năng học hỏi nhiều điều. Đa-niên còn biết giải những dị tượng và chiêm bao.
DAN 1:18 Cuối thời gian vua ấn định, Át-phê-na đưa tất cả các thanh niên trình diện vua Nê-bu-cát-nết-xa.
DAN 1:19 Vua nói chuyện với họ và nhận thấy trong tất cả các thanh niên không ai xuất sắc bằng Đa-niên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria. Vậy bốn thanh niên đó phục vụ nhà vua.
DAN 1:20 Mỗi khi vua hỏi ý kiến họ về vấn đề gì quan trọng thì họ tỏ ra rất khôn ngoan và thông sáng. Họ giỏi gấp mười lần các nhà tướng số và thuật sĩ trong toàn vương quốc!
DAN 1:21 Đa-niên tiếp tục phục vụ cho nhà vua cho đến năm đầu tiên của triều đại vua Xi-ru.
DAN 2:1 Vào năm thứ nhì triều đại Nê-bu-cát-nết-xa, vua thấy một giấc mộng khiến vua bực dọc và thao thức suốt đêm.
DAN 2:2 Nên vua gọi các nhà tướng số, thuật sĩ, phù thủy, và các người thông thái đến giải thích chiêm bao cho mình. Tất cả đến trình diện trước mặt vua.
DAN 2:3 Rồi vua bảo, “Ta có một chiêm bao làm ta băn khoăn lắm. Ta muốn biết ý nghĩa của nó.”
DAN 2:4 Các nhà thông thái thưa với vua bằng tiếng A-ram, “Thưa vua vạn tuế! Xin thuật lại cho chúng tôi, kẻ tôi tớ vua điềm chiêm bao đó rồi chúng tôi sẽ giải thích ý nghĩa của nó.”
DAN 2:5 Vua Nê-bu-cát-nết-xa bảo họ, “Ta đã bảo các ngươi rồi. Các ngươi phải thuật lại cho ta điềm chiêm bao đó và giải thích ý nghĩa. Nếu không ta sẽ phanh thây các ngươi và biến nhà cửa các ngươi ra đống gạch vụn.
DAN 2:6 Nhưng nếu các ngươi thuật được chiêm bao và giải thích ý nghĩa thì ta sẽ tưởng thưởng và ban vinh dự cho các ngươi. Vậy bây giờ hãy thuật cho ta chiêm bao đó và giải thích ý nghĩa của nó.”
DAN 2:7 Các người thông thái thưa với vua lần nữa, “Xin vua hãy thuật lại cho các tôi tớ vua chiêm bao rồi chúng tôi sẽ giải thích ý nghĩa của nó.”
DAN 2:8 Vua Nê-bu-cát-nết-xa trả lời, “Ta biết các ngươi tìm cách kéo dài thì giờ vì các ngươi biết ta đã nói là làm.
DAN 2:9 Nếu các ngươi không thuật được chiêm bao đó thì các ngươi sẽ bị hình phạt. Các ngươi đã toa rập để giải thích láo và bịa đặt chuyện gian ác, hi vọng tình thế sẽ thay đổi. Bây giờ hãy cho ta biết chiêm bao thì ta sẽ biết rằng các ngươi có thể giải thích ý nghĩa của chiêm bao ấy cho ta!”
DAN 2:10 Các người thông thái thưa với vua, “Trên trời đất nầy không ai có thể làm được điều vua đòi cả! Không có đại vương hùng cường nào lại bảo đồng bóng, thuật sĩ, nhà thông thái làm chuyện như thế
DAN 2:11 vì điều vua đòi hỏi quá khó. Chỉ có các vị thần không sống giữa con người mới làm được thôi.”
DAN 2:12 Khi vua nghe họ đáp như vậy thì nổi xung thiên. Vua liền ra lệnh xử tử tất cả các nhà thông thái trong toàn nước Ba-by-lôn.
DAN 2:13 Khi lệnh xử tử các nhà thông thái của vua Nê-bu-cát-nết-xa được ban ra thì người ta đi tìm Đa-niên và các bạn hữu ông để giết luôn.
DAN 2:14 A-ri-ốc, viên chỉ huy toán cận vệ vua là người sắp thi hành lệnh xử tử các nhà thông thái nước Ba-by-lôn. Nhưng Đa-niên dùng lời khôn khéo nói chuyện với ông ta.
DAN 2:15 Đa-niên hỏi, “Tại sao vua ra một lệnh tàn ác như thế?” A-ri-ốc liền thuật lại cho Đa-niên nghe đầu đuôi câu chuyện.
DAN 2:16 Đa-niên liền vào gặp vua Nê-bu-cát-nết-xa và xin thêm một thời gian nữa để ông có thể giải thích chiêm bao của vua.
DAN 2:17 Rồi Đa-niên trở về nhà thuật lại mọi chuyện cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria.
DAN 2:18 Đa-niên yêu cầu các bạn mình cầu nguyện Thượng Đế trên trời tỏ lòng từ bi giúp họ hiểu điều huyền bí nầy để họ khỏi bị chết chung với các nhà thông thái khác của Ba-by-lôn.
DAN 2:19 Đêm đó Thượng Đế giải thích điều huyền bí cho Đa-niên trong một dị tượng. Đa-niên liền ca ngợi Thượng Đế trên trời.
DAN 2:20 Đa-niên nói: “Đáng ca ngợi Thượng Đế muôn đời, vì Ngài đầy khôn ngoan và quyền năng.
DAN 2:21 Ngài thay đổi thì giờ và mùa trong năm. Ngài cất lấy quyền lực vua nầy và ban quyền đó cho vua khác. Ngài ban sự khôn ngoan cho người khôn và hiểu biết cho người thông sáng.
DAN 2:22 Ngài bày tỏ những điều huyền bí thẳm sâu; Ngài biết những điều ẩn nấp trong bóng tối và chung quanh Ngài toàn là ánh sáng.
DAN 2:23 Tôi cảm tạ và ca ngợi Ngài là Thượng Đế của tổ tiên tôi vì Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan và quyền năng. Ngài cho tôi điều tôi xin; và cho chúng tôi biết chiêm bao của vua.”
DAN 2:24 Rồi Đa-niên đi đến A-ri-ốc, người mà vua Nê-bu-cát-nết-xa chọn để xử tử các nhà thông thái của Ba-by-lôn, bảo rằng, “Đừng xử tử các nhà thông thái Ba-by-lôn. Đưa tôi vào gặp vua, tôi sẽ thuật cho vua ý nghĩa chiêm bao của vua.”
DAN 2:25 A-ri-ốc vội vàng đưa Đa-niên vào gặp vua và thưa, “Tôi đã tìm được một người trong các tù binh từ Giu-đa. Anh ta có thể giải thích ý nghĩa chiêm bao của vua.”
DAN 2:26 Vua liền hỏi Đa-niên, cũng có tên là Bên-tơ-sát-xa, “Anh có thể thuật lại chiêm bao của ta và giải thích ý nghĩa của nó à?”
DAN 2:27 Đa-niên thưa, “Không có nhà thông thái, thuật sĩ, tướng số nào có thể giải thích cho vua điều huyền bí mà vua hỏi cả.
DAN 2:28 Nhưng có một Thượng Đế trên trời có thể giải thích các điều bí mật và Ngài đã tỏ cho vua thấy sự việc sẽ xảy đến trong tương lai. Sau đây là chiêm bao, và dị tượng vua thấy đang khi nằm trên giường:
DAN 2:29 Thưa vua, đang khi vua nằm thì suy tư về những việc sẽ đến. Thượng Đế, Đấng có thể cho con người biết những điều bí mật, tỏ cho vua việc sẽ xảy đến trong tương lai.
DAN 2:30 Thượng Đế tỏ cho tôi biết điều huyền bí nầy không phải vì tôi khôn ngoan hơn ai nhưng để vua biết ý nghĩa của nó. Do đó vua sẽ hiểu những gì trong trí vua.
DAN 2:31 Thưa vua, trong giấc mộng vua thấy một pho tượng khổng lồ, sáng loáng đáng sợ đứng sừng sững trước mặt vua.
DAN 2:32 Đầu của tượng làm bằng vàng ròng. Ngực và cánh tay bằng bạc. Bụng và bắp vế làm bằng đồng.
DAN 2:33 Bắp chuối làm bằng sắt, còn bàn chân thì một phần làm bằng sắt, một phần bằng đất sét.
DAN 2:34 Trong khi đang mải nhìn pho tượng thì vua thấy một tảng đá không do tay người đục ra. Nó bay đến đập vào hai chân bằng sắt và đất sét, khiến pho tượng ấy bể vụn.
DAN 2:35 Rồi sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều tan nát cả. Chúng hóa ra như trấu trên sân đập lúa lúc mùa hè; gió thổi bay đi tứ tung, chẳng còn gì sót lại. Còn tảng đá đã đập vào pho tượng đó trở thành một hòn núi lớn bao trùm cả đất.
DAN 2:36 Đó là chiêm bao của vua. Bây giờ tôi sẽ giải thích ý nghĩa.
DAN 2:37 Thưa vua, ngài là vì vua cao cả nhất. Thượng Đế trên trời đã ban cho vua vương quốc, quyền lực, sức mạnh, và vinh quang.
DAN 2:38 Nơi nào có người, muông thú, chim chóc sống thì Thượng Đế giao cho vua quản trị. Thưa vua Nê-bu-cát-nết-xa, vua là cái đầu của pho tượng ấy.
DAN 2:39 Nhưng sẽ có một nước khác đến sau vua, không lớn bằng nước vua. Sau đó có một nước thứ ba, tức phần bằng đồng, sẽ đến cai trị khắp đất.
DAN 2:40 Rồi sẽ có một nước thứ tư, mạnh như sắt. Sắt đè bẹp và nghiền nát mọi vật ra sao thì nước thứ tư cũng nghiền nát và đè bẹp các nước khác như thế.
DAN 2:41 Vua thấy bàn chân của pho tượng một phần làm bằng đất sét, một phần bằng sắt. Như thế nghĩa là nước thứ tư sẽ bị chia ra. Nó vẫn còn đôi chút sức lực của sắt trong đó, như vua thấy sắt trộn lẫn với đất sét.
DAN 2:42 Các ngón chân của pho tượng làm vừa bằng sắt, vừa bằng đất sét. Vương quốc thứ tư cũng vừa mạnh như sắt, cũng vừa dòn như đất sét.
DAN 2:43 Vua thấy sắt trộn với đất sét nhưng sắt và đất sét không thể kết hợp với nhau. Cũng vậy, dân chúng của nước thứ tư sẽ hỗn tạp, không đoàn kết như một dân.
DAN 2:44 Trong thời các vua ấy, Thượng Đế trên trời sẽ lập một nước không bao giờ bị tiêu diệt hay bị trao vào tay một dân khác. Nước ấy sẽ tồn tại mãi mãi sau khi đè bẹp và tiêu diệt các nước khác.
DAN 2:45 Thưa vua Nê-bu-cát-nết-xa, vua thấy một tảng đá đục ra từ núi nhưng không phải do tay người, đập nát pho tượng. Tảng đá đập bể sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng thành từng mảnh. Thượng Đế Tối Cao đã tiết lộ cho vua biết những biến chuyển sẽ xảy ra. Điềm chiêm bao là thật và vua có thể tin vào lời giải thích nầy.”
DAN 2:46 Vua Nê-bu-cát-nết-xa liền sấp mình xuống đất trước mặt Đa-niên tỏ lòng tôn kính ông. Vua ra lệnh dâng của lễ cùng trầm hương cho Đa-niên.
DAN 2:47 Rồi vua bảo Đa-niên, “Thật ta biết Thượng Đế ngươi lớn hơn tất cả các thần, Ngài là CHÚA của các vua. Ngài cho người ta biết những điều họ không thể biết. Ta biết đúng vậy vì ngươi có thể cho ta biết những điều huyền bí nầy.”
DAN 2:48 Sau đó vua ban thưởng cho Đa-niên đồng thời giao cho ông một chức vụ quan trọng trong nước mình. Vua đặt ông cai quản toàn vùng Ba-by-lôn và cắt cử ông đứng đầu mọi nhà thông thái ở Ba-by-lôn.
DAN 2:49 Đa-niên xin vua cử Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô làm quan vùng Ba-by-lôn, nhà vua bằng lòng làm theo điều Đa-niên yêu cầu. Còn Đa-niên thì trở nên một trong những cận thần trong cung vua.
DAN 3:1 Vua Nê-bu-cát-nết-xa đúc một tượng vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước và dựng trong đồng bằng Đu-ra, thuộc vùng Ba-by-lôn.
DAN 3:2 Rồi vua gọi các lãnh tụ: các tổng đốc, phụ tá tổng đốc, sĩ quan chỉ huy quân đội, các cố vấn hoàng gia, các thủ quỹ ngân khố, thẩm phán, quan cai trị, và tất cả các viên chức trong nước. Vua muốn họ đến tham dự lễ đặc biệt cung hiến pho tượng mà vua đã dựng nên.
DAN 3:3 Tất cả mọi người đều đến dự buổi lễ đặc biệt đó và đứng trước mặt pho tượng vua Nê-bu-cát-nết-xa đã dựng.
DAN 3:4 Rồi viên chức truyền lệnh của vua dõng dạc tuyên bố, “Hỡi các dân, các quốc gia, các thứ tiếng, các ngươi phải làm như sau:
DAN 3:5 Khi các ngươi nghe tiếng loa, sáo, đờn sắt, đờn thập lục, đờn cầm, ống quyển, và các nhạc khí khác thì phải quì xuống bái lạy tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-xa đã dựng lên.
DAN 3:6 Ai không cúi xuống bái lạy sẽ lập tức bị ném vào lò lửa hừng.”
DAN 3:7 Bấy giờ các dân, các quốc gia, các người nói đủ mọi thứ tiếng có mặt ở đó. Khi nghe tiếng loa, sáo, đờn sắt, đờn thập lục, đờn cầm, ống quyển, và các nhạc khí khác, tất cả đều cúi xuống bái lạy tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-xa đã dựng.
DAN 3:8 Tuy nhiên có mấy người Ba-by-lôn đến cùng vua và tố cáo mấy người Giu-đa.
DAN 3:9 Họ tâu cùng vua Nê-bu-cát-nết-xa, “Tâu vua, chúc vua vạn tuế!
DAN 3:10 Thưa vua, ngài đã ra lệnh rằng khi nghe tiếng loa, sáo, đờn sắt, đờn thập lục, đờn cầm, ống quyển, và các nhạc khí khác thì mọi người phải cúi xuống bái lạy tượng vàng.
DAN 3:11 Ai bất tuân sẽ bị ném vào lò lửa hừng.
DAN 3:12 Thưa vua, có mấy người Giu-đa mà vua tiến cử làm quan cai trị vùng Ba-by-lôn không thèm đến xỉa đến lệnh vua. Bọn đó là Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô. Chúng không thờ các thần của vua cũng không bái lạy tượng vàng vua đã dựng.”
DAN 3:13 Vua Nê-bu-cát-nết-xa nổi lôi đình và cho triệu Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô đến. Khi họ bị điệu đến trước mặt vua,
DAN 3:14 thì Nê-bu-cát-nết-xa liền hỏi, “Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô, có đúng là các anh không phục vụ các thần của ta và không chịu bái lạy tượng vàng ta đã dựng không?
DAN 3:15 Lát nữa đây các anh lại sẽ nghe tiếng loa, sáo, đờn sắt, đờn thập lục, đờn cầm, ống quyển, và các nhạc khí khác. Lúc ấy nếu các anh chịu cúi lạy tượng ta dựng thì tốt, bằng không các anh sẽ bị ném ngay vào lò lửa hừng. Rồi xem thử thần nào sẽ cứu các anh khỏi tay ta nhé?”
DAN 3:16 Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô thưa với vua rằng, “Thưa vua Nê-bu-cát-nết-xa, chúng tôi không cần phải tự bênh vực mình trước mặt vua.
DAN 3:17 Nếu vua ném chúng tôi vào lò lửa thì Thượng Đế mà chúng tôi phục vụ sẽ có thể giải cứu chúng tôi khỏi lò lửa hừng. Ngài cũng sẽ cứu chúng tôi khỏi quyền lực của vua.
DAN 3:18 Mà dù cho Thượng Đế không giải cứu chúng tôi đi nữa thì chúng tôi muốn vua biết rằng: Chúng tôi sẽ không phục vụ các thần của vua hay bái lạy tượng vàng vua đã dựng.”
DAN 3:19 Vua Nê-bu-cát-nết-xa nổi trận lôi đình và đổi thái độ đối với Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô. Vua ra lệnh đốt lò lửa nóng gấp bảy lần hơn bình thường.
DAN 3:20 Rồi vua ra lệnh các binh sĩ lực lưỡng nhất của mình trói Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô lại và ném họ vào lò lửa hừng.
DAN 3:21 Vậy Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô bị trói và bị quăng vào lò lửa hừng trong khi vẫn còn mặc áo, quần, khăn vành và các y phục khác.
DAN 3:22 Lệnh vua nghiêm nhặt và lò lửa nóng đến nỗi sức nóng thiêu cháy các binh sĩ lực lưỡng đã ném Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô vào lò.
DAN 3:23 Bị trói chặt, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô, rơi vào lò lửa hừng.
DAN 3:24 Nhưng vua Nê-bu-cát-nết-xa vô cùng ngạc nhiên đến nỗi vua vùng đứng lên. Vua hỏi mấy cố vấn, “Có phải chúng ta trói ba người ném vào lửa không?” Họ thưa, “Dạ phải.”
DAN 3:25 Nhà vua bảo, “Xem kìa! Ta thấy bốn người đang đi trong lửa. Họ không bị trói cũng không bị phỏng. Người thứ tư giống như con trai của các thần.”
DAN 3:26 Vua Nê-bu-cát-nết-xa liền tiến đến miệng lò kêu lớn, “Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô ơi, hãy bước ra! Tôi tớ của Thượng Đế Chí Cao, hãy đến đây!” Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô liền từ đám lửa đi ra.
DAN 3:27 Khi họ bước ra thì các thống đốc, các phụ tá, các viên sĩ quan chỉ huy quân đội, các cố vấn hoàng gia vây quanh họ và thấy rằng lửa không làm gì hại đến thân thể họ. Tóc họ không bị sém, áo quần không bị cháy, và họ cũng chẳng có mùi khói nữa!
DAN 3:28 Vua Nê-bu-cát-nết-xa tuyên bố, “Đáng ca ngợi Thượng Đế của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô. Ngài đã sai thiên sứ giải cứu tôi tớ Ngài khỏi ngọn lửa! Ba người nầy tin cậy Thượng Đế mình, dám cãi lệnh ta. Họ chẳng thà chịu chết hơn phục vụ hay bái lạy thần nào khác ngoài Thượng Đế của mình.
DAN 3:29 Cho nên ta ra lệnh nầy: Bất cứ ai thuộc dân tộc hay ngôn ngữ nào nói phạm đến Thượng Đế của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô sẽ bị phanh thây, và nhà nó sẽ biến thành đống gạch vụn. Không có thần nào có thể giải cứu như thế nầy được.”
DAN 3:30 Rồi vua thăng chức cho Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô trong vùng Ba-by-lôn.
DAN 4:1 Vua Nê-bu-cát-nết-xa gởi văn thư sau đây cho các dân tộc, quốc gia, các người nói mọi thứ tiếng trên thế giới: “Ta chúc các ngươi bình yên và thịnh vượng!
DAN 4:2 Thượng Đế Chí Cao đã làm nhiều phép lạ và điều kỳ diệu cho ta mà ta rất vui thuật cho các ngươi biết.
DAN 4:3 Việc làm của Ngài thật lớn lao, phép lạ Ngài quyền năng. Nước Ngài còn mãi mãi, quyền lực Ngài không bao giờ dứt.
DAN 4:4 Ta, Nê-bu-cát-nết-xa, rất vui và thành công trong cung điện ta,
DAN 4:5 nhưng ta có một chiêm bao khiến ta hoang mang. Trong khi ta đang nằm trên giường, ta thấy những hình ảnh và dị tượng trong trí ta làm ta kinh hoảng.
DAN 4:6 Cho nên ta ra lệnh triệu những nhà thông thái của Ba-by-lôn đến để nói cho ta biết ý nghĩa của điềm chiêm bao đó.
DAN 4:7 Các nhà tướng số, thuật sĩ, và thông thái đến, rồi ta thuật cho họ nghe chiêm bao ta nhưng họ không thể giải thích được.
DAN 4:8 Sau cùng có Đa-niên đến gặp ta. Ta gọi người là Bên-tơ-sát-xa để tỏ lòng tôn kính các thần của ta vì linh của các thánh thần ở trong người. Ta thuật cho người nghe điềm chiêm bao ta.
DAN 4:9 Ta bảo, ‘Bên-tơ-sát-xa ơi, anh là nhà tướng số tài giỏi nhất. Ta biết linh của các thần ở trong anh cho nên không có điều huyền bí nào quá khó mà anh không hiểu nổi. Đây là điềm chiêm bao của ta, anh hãy giải thích ý nghĩa của nó.
DAN 4:10 Sau đây là các dị tượng ta thấy trong khi ta đang nằm trên giường: Ta nhìn thì thấy trước mặt ta có một cây đứng sừng sững giữa trời. Cây ấy rất cao lớn.
DAN 4:11 Nó lớn mạnh. Ngọn nó đụng đến trời và bất cứ chỗ nào trên đất đều có thể nhìn thấy ngọn nó được.
DAN 4:12 Lá nó đẹp, trái thì sai và rất ngon, đủ cho mọi người ăn. Muông thú núp duới tàng nó, và chim chóc làm tổ trên các nhánh nó. Tất cả các thú vật đều sống nhờ nó.
DAN 4:13 Đang khi mải nhìn những điều đó trong dị tượng khi ta đang nằm trên giường thì ta thấy một vị canh giữ, một thiên sứ thánh từ trời xuống.
DAN 4:14 Người la lớn: Hãy đốn cây và chặt nhánh nó đi. Hãy tuốt hết lá nó và phân tán trái nó. Hãy để muông thú núp dưới tàng nó chạy thoát đi và các chim chóc trong nhánh nó bay đi chỗ khác.
DAN 4:15 Nhưng hãy chừa lại gốc và rễ nó dưới đất lấy xiềng sắt và đồng buộc quanh gốc nó; hãy để nó ở trong đồng cùng với cỏ mọc xung quanh. Hãy để nó dầm sương và sống chung với muông thú và cây cối trên đất.
DAN 4:16 Đừng cho nó suy nghĩ như con người nữa mà ban cho nó trí óc của loài thú trong bảy năm.
DAN 4:17 Các vị canh giữ ra lệnh đó; các đấng thánh tuyên án. Như thế để cho muôn dân biết rằng Thượng Đế Chí Cao trị vì các nước trên thế giới. Ngài ban nước cho người nào Ngài muốn, và Ngài chọn những người cai trị họ là những người khiêm tốn.
DAN 4:18 Đó là điều ta, vua Nê-bu-cát-nết-xa thấy trong chiêm bao. Bây giờ, Bên-tơ-sát-xa, hãy giải thích cho ta biết ý nghĩa chiêm bao đó. Không có học giả nào trong nước ta có thể giải thích cho ta, nhưng anh có thể giải thích được vì linh của các thánh thần ở trong anh.’”
DAN 4:19 Lúc đó Đa-niên, cũng gọi là Bên-tơ-sát-xa, đứng im lặng khá lâu vì ý nghĩa chiêm bao khiến ông hoảng sợ. Vua liền bảo ông, “Bên-tơ-sát-xa ơi, đừng để chiêm bao hay ý nghĩa của nó làm anh lo sợ.” Bên-tơ-sát-xa liền thưa, “Thưa ngài, nguyền chiêm bao của ngài xảy đến cho các kẻ thù ngài và ý nghĩa của nó dành cho những kẻ chống nghịch ngài!
DAN 4:20 Trong chiêm bao vua nhìn thấy một cây mọc lên cao lớn. Ngọn nó chấm đến trời, dưới đất nơi nào cũng thấy.
DAN 4:21 Lá nó đẹp, trái thì sai đủ cho mọi người ăn. Nó là nơi trú ẩn cho muông thú, nhánh nó là chỗ cho chim chóc làm tổ.
DAN 4:22 Tâu vua, ngài là cây đó! Ngài trở nên hùng mạnh như cây lớn đó cao vút đến tận trời. Quyền lực của ngài lan đến những nơi xa xăm trên đất.
DAN 4:23 Tâu vua, ngài nhìn thấy một người canh giữ, một thiên sứ thánh từ trời xuống bảo, ‘Hãy đốn cây và tiêu diệt nó đi. Nhưng hãy chừa gốc và rễ nó dưới đất bằng xích sắt và đồng buộc quanh nó; để nó trong đồng với cây cỏ. Hãy để nó dầm sương và sống như muông thú trong bảy năm.’
DAN 4:24 Tâu vua, đây là ý nghĩa của chiêm bao đó. Thượng Đế Chí Cao đã truyền rằng những điều sau đây sẽ xảy ra cho vua, là chủ tôi:
DAN 4:25 Vua sẽ bị đuổi khỏi loài người và sống giữa muông thú. Người ta sẽ cho vua ăn cỏ như bò, vua sẽ dầm sương trời. Sau bảy năm vua sẽ học được bài nầy: Thượng Đế Chí Cao cai trị mọi nước trên đất và Ngài có quyền ban nước cho ai tùy ý Ngài muốn.
DAN 4:26 Vì còn gốc cây và rễ trong đất, nước của vua sẽ phục hồi lại cho vua sau khi vua hiểu ra rằng Đấng ngự trên trời cai quản nước của vua.
DAN 4:27 Cho nên, thưa vua, hãy nghe lời tôi khuyên. Đừng phạm tội và hãy làm điều thiện. Hãy thôi làm điều ác và tỏ ra nhân từ đối với kẻ nghèo thì vua sẽ mãi thành công.”
DAN 4:28 Tất cả những lời tiên đoán đó xảy ra cho vua Nê-bu-cát-nết-xa.
DAN 4:29 Mười hai tháng sau đó khi vua đang đi dạo trên nóc cung điện mình ở Ba-by-lôn,
DAN 4:30 vua bảo, “Tay ta đã xây thành lớn Ba-by-lôn nầy để làm nơi ở của ta. Ta đã dùng quyền năng ta xây nên nó để tỏ ra vinh quang và oai nghi ta.”
DAN 4:31 Lời còn đang ở trong miệng vua thì có tiếng từ trời vọng xuống rằng, “Hỡi vua Nê-bu-cát-nết-xa, những điều sau đây sẽ xảy ra cho ngươi: Ngươi đã bị tước hết quyền lực.
DAN 4:32 Ngươi sẽ bị đuổi khỏi loài người. Ngươi sẽ sống chung với muông thú và ăn cỏ như bò. Sau bảy năm ngươi sẽ học được bài sau đây: Thượng Đế Chí Cao cai trị mọi nước trên thế gian. Ngài ban nước cho ai tùy ý Ngài chọn.”
DAN 4:33 Lập tức những lời đó thành sự thật. Vua Nê-bu-cát-nết-xa bị đuổi ra khỏi giữa loài người và bắt đầu ăn cỏ như bò. Thân thể vua dầm sương. Tóc vua mọc dài ra như lông chim ưng, móng tay và móng chân mọc ra như móng chim.
DAN 4:34 “Cuối thời kỳ đó, ta, Nê-bu-cát-nết-xa, ngước lên trời và trí khôn bắt đầu phục hồi lại! Rồi ta ca ngợi Thượng Đế Chí Cao; ta dâng sự tôn trọng và vinh hiển cho Đấng sống đời đời. Quyền cai trị của Thượng Đế còn mãi mãi, và nước Ngài kéo dài vô tận.
DAN 4:35 Dân cư trên đất không quan trọng gì. Thượng Đế tự ý hành động qua quyền lực của thiên đàng và con người dưới đất. Không ai có thể ngăn chận tay quyền năng Ngài hay hạch hỏi điều Ngài làm.
DAN 4:36 Lúc đó ta có thể suy nghĩ bình thường trở lại, Thượng Đế phục hồi danh dự và quyền lực cao cả lại cho ta và trả lại vinh hiển cho nước ta. Những cố vấn của ta và các người quí tộc trở lại phục vụ ta như trước. Ta lại làm vua và còn cao trọng quyền uy hơn trước.
DAN 4:37 Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-xa, ca ngợi và tôn trọng cùng dâng vinh hiển lên cho Vua trên trời. Mọi việc Ngài làm đều đúng và công bằng, và Ngài có thể hạ kẻ kiêu căng xuống.”
DAN 5:1 Vua Bên-sát-xa mở một đại tiệc thết đãi một ngàn quan khách và uống rượu với họ.
DAN 5:2 Trong khi đang uống rượu thì vua Bên-sát-xa ra lệnh mang các ly chén bằng vàng và bạc mà cha ông mình là Nê-bu-cát-nết-xa đã lấy từ đền thờ tại Giê-ru-sa-lem để vua, các quan khách, các bà vợ và các hầu thiếp dùng uống rượu.
DAN 5:3 Cho nên họ mang các ly chén bằng vàng đã lấy từ trong đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem. Vua, các quan khách hoàng gia, các bà vợ, và các hầu thiếp dùng các ly chén đó để uống rượu.
DAN 5:4 Trong khi đang uống thì họ ca ngợi các thần của mình là các thần bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ, và đá.
DAN 5:5 Bỗng nhiên có các ngón tay của bàn tay người xuất hiện viết trên vách tường, gần chân đèn trong cung điện. Nhà vua chăm chú nhìn bàn tay đang viết.
DAN 5:6 Vua Bên-sát-xa đâm ra kinh hoàng. Mặt vua tái xanh, các đầu gối chạm vào nhau, vua đứng lên không nổi vì hai chân đã bủn rủn.
DAN 5:7 Vua gọi các thuật sĩ, học giả, các phù thủy của Ba-by-lôn lại bảo, “Ai có thể đọc và giải thích những chữ nầy sẽ được mặc áo vải tím dành cho vua và được mang vòng vàng vào cổ. Ta sẽ phong cho người đó làm quan lớn thứ ba trong nước.”
DAN 5:8 Các nhà thông thái của vua vào nhưng họ không thể đọc được hay giải nghĩa dòng chữ đó.
DAN 5:9 Vua Bên-sát-xa càng đâm ra sợ hãi, mặt vua càng biến sắc. Các quan khách của hoàng gia cũng hoang mang.
DAN 5:10 Lúc đó bà thái hậu tức mẹ vua nghe tiếng của vua và các khách hoàng gia nên bước vào phòng tiệc. Bà bảo, “Vua vạn tuế! Đừng sợ, xin đừng tái mặt vì hoảng hốt!
DAN 5:11 Có một người trong nước vua đầy dẫy linh của các thánh thần. Trong thời cha vua, người nầy tỏ ra thông sáng, hiểu biết, và khôn ngoan như các thần. Cha vua, tức Nê-bu-cát-nết-xa, đã đặt người cai quản các nhà thông thái, tướng số, thuật sĩ, và phù thủy.
DAN 5:12 Người mà tôi nói là Đa-niên mà vua cha đặt cho tên Bên-tơ-sát-xa. Người rất thông minh, đầy hiểu biết và thông sáng. Người có thể giải thích chiêm bao cùng các điều huyền bí đồng thời có thể trả lời những vấn đề giải. Hãy gọi Đa-niên, người sẽ giải thích cho vua ý nghĩa của dòng chữ trên vách.”
DAN 5:13 Vậy người ta đưa Đa-niên vào gặp nhà vua. Vua hỏi, “Ngươi có phải là Đa-niên không? Ngươi có phải là một trong những tù binh mà cha ta mang từ xứ Giu-đa không?
DAN 5:14 Ta đã nghe rằng linh của các thần ở trong ngươi và rằng ngươi rất thông minh, đầy hiểu biết và thông sáng phi thường.
DAN 5:15 Các nhà thông thái và thuật sĩ được đưa vào đây để đọc dòng chữ nầy và giải thích ý nghĩa nhưng họ không giải nghĩa được.
DAN 5:16 Ta nghe rằng ngươi có thể giải nghĩa mọi điều và biết giải pháp cho các vấn đề khó khăn. Hãy đọc dòng chữ nầy và giải nghĩa cho ta. Nếu làm được, ta sẽ ban cho ngươi áo tím dành cho vua, và vòng vàng đeo cổ. Ngươi sẽ trở thành quan lớn thứ ba trong triều.”
DAN 5:17 Đa-niên tâu với vua, “Xin vua hãy giữ các phần thưởng đó cho mình hay cho người khác. Nhưng tôi sẽ đọc và giải nghĩa hàng chữ viết trên tường cho vua biết.
DAN 5:18 Tâu vua, Thượng Đế Chí Cao đã khiến Nê-bu-cát-nết-xa, cha vua thành một hoàng đế cao cả, oai nghi và hùng cường.
DAN 5:19 Vì Thượng Đế đã khiến người cao trọng nên các dân tộc, các quốc gia, các người nói mọi thứ tiếng đều sợ Nê-bu-cát-nết-xa. Người muốn giết ai thì giết, muốn để ai sống thì để. Người muốn tiến cử ai thì tiến cử, muốn hạ bệ ai thì hạ bệ.
DAN 5:20 Nhưng vua Nê-bu-cát-nết-xa đâm ra quá tự phụ và ương ngạnh cho nên người bị tước ngôi báu. Sự vinh hiển của người bị lấy đi.
DAN 5:21 Người bị đuổi khỏi loài người, trí khôn người trở nên như trí loài vật. Người sống giữa các con lừa hoang và ăn cỏ như bò và thân bị dầm sương. Người ở trong trạng thái đó cho đến khi hiểu ra rằng: Thượng Đế Chí Cao cai trị mọi nước trên đất, và Ngài muốn đặt để ai cai trị các nước theo ý mình.
DAN 5:22 Tâu vua Bên-sát-xa, vua đã biết những chuyện ấy vì vua là con cháu Nê-bu-cát-nết-xa nhưng vua không chịu khiêm nhường và hạ mình.
DAN 5:23 Trái lại vua đã chống nghịch CHÚA trên trời. Vua ra lệnh mang các ly chén lấy từ đền thờ của CHÚA đến cho vua. Rồi vua, các quan khách hoàng gia, các bà vợ và các hầu thiếp dùng để uống. Vua ca ngợi các thần bằng bạc, vàng, đồng, sắt, gỗ, và đá là những thần không phải là thần; chúng không thấy, không nghe, không hiểu biết gì cả. Vua không tôn trọng Thượng Đế là Đấng có quyền trên mạng sống và mọi hành động của vua.
DAN 5:24 Cho nên Thượng Đế đã sai bàn tay viết trên vách.
DAN 5:25 Những chữ viết trên vách như sau: ‘mê-nê, mê-nê, tê-ken, và u-phác-xin.’
DAN 5:26 Ý nghĩa như sau: Mê-nê: Thượng Đế đã đếm các ngày cho đến điểm kết thúc của nước vua.
DAN 5:27 Tê-ken: Vua được để trên cân và thấy quá nhẹ.
DAN 5:28 U-phác-xin: Nước vua đang bị lấy đi và sẽ bị chia ra và trao cho người Mê-đi và người Ba-tư.”
DAN 5:29 Vua Bên-sát-xa liền ra lệnh mặc áo tím cho Đa-niên, mang vòng vàng vào cổ và tuyên bố rằng Đa-niên được thăng làm quan lớn thứ ba trong triều đình.
DAN 5:30 Đêm ấy Bên-sát-xa, vua Ba-by-lôn bị giết.
DAN 5:31 Đa-ri-út người Mê-đi lên ngôi vua lúc được sáu mươi hai tuổi.
DAN 6:1 Vua Đa-ri-út nghĩ nên chọn một trăm hai mươi thống đốc để cai trị toàn vương quốc mình.
DAN 6:2 Vua chọn ba quan để giám sát các thống đốc, và Đa-niên là một trong ba quan đó. Nhiệm vụ của quan giám sát là để cho các thống đốc không lường gạt nhà vua.
DAN 6:3 Đa-niên chứng tỏ mình có thể làm hơn các quan giám sát và thống đốc cho nên vua dự định đề cử Đa-niên cai quản cả xứ.
DAN 6:4 Vì thế các quan giám sát và thống đốc kia tìm cách tố cáo Đa-niên trong công vụ nhưng họ không tìm được khuyết điểm hay lý do gì để tố cáo ông vì Đa-niên rất đáng tin, không lười biếng hay bất lương.
DAN 6:5 Sau cùng họ bảo nhau, “Chúng ta sẽ không bao giờ tìm được lý do gì để tố cáo Đa-niên ngoại trừ lý do liên quan đến luật lệ của Thượng Đế nó.”
DAN 6:6 Nên các quan giám sát và thống đốc họp nhau đi đến yết kiến vua và tâu: “Chúc vua Đa-ri-út vạn tuế!
DAN 6:7 Các quan giám sát, phụ tá thống đốc, các thống đốc, cố vấn vua, và sĩ quan chỉ huy quân đội đều đồng ý rằng vua nên ra một luật mới cho mọi người tuân theo: Trong vòng ba mươi ngày tới đây không ai được phép cầu nguyện cùng thần nào khác ngoài vua. Ai vi phạm sẽ bị ném vào hang sư tử.
DAN 6:8 Bây giờ xin vua ra luật đó và ký vào để không thể thay đổi được vì là luật của người Mê-đi và Ba-tư, không thể hủy bỏ.”
DAN 6:9 Thế là vua Đa-ri-út ký đạo luật ấy.
DAN 6:10 Sau khi Đa-niên biết rằng luật mới đã ký, ông vẫn lên lầu nhà mình cầu nguyện, các cửa sổ lầu mở về hướng Giê-ru-sa-lem. Mỗi ngày ba lần Đa-niên quì gối xuống cầu nguyện và cảm tạ Thượng Đế như vẫn làm từ trước.
DAN 6:11 Bọn đó thấy Đa-niên cầu nguyện xin Thượng Đế giúp đỡ.
DAN 6:12 Chúng liền đến trình với vua về luật mới mà vua ban hành. Chúng tâu, “Thưa vua, có phải vua ban hành luật qui định rằng không ai được phép cầu nguyện với thần hay người nào khác ngoài vua không? Có phải luật đó nói rằng trong ba mươi ngày sắp đến ai bất tuân sẽ bị ném vào hang sư tử không?” Vua đáp, “Đúng, đó là luật của người Mê-đi và Ba-tư không thể hủy bỏ được.”
DAN 6:13 Bọn chúng liền tâu với vua, “Thưa vua, Đa-niên, một trong những tù binh Giu-đa, không thèm đếm xỉa đến vua hay luật vua đã ký. Nó vẫn cứ cầu nguyện cùng Thượng Đế mỗi ngày ba lần.”
DAN 6:14 Khi nghe vậy vua rất lấy làm bực dọc. Vua muốn cứu Đa-niên nên cố gắng cho đến chiều tối tìm mọi cách cứu ông.
DAN 6:15 Bọn chúng họp lại cùng đi gặp vua. Chúng bảo, “Xin vua nhớ cho rằng luật của người Mê-đi và Ba-tư qui định rằng một khi luật hay mệnh lệnh vua ban ra thì không thể thay đổi được.”
DAN 6:16 Nên vua Đa-ri-út buộc lòng ra lệnh bắt Đa-niên ném vào hang sư tử. Vua bảo Đa-niên, “Nguyện Thượng Đế mà ngươi hằng phục vụ giải cứu ngươi!”
DAN 6:17 Người ta lấy một tảng đá lớn chận miệng hang. Rồi vua đóng ấn và ấn của các sĩ quan hoàng gia trên tảng đá để không ai có thể dời tảng đá mà mang Đa-niên ra.
DAN 6:18 Sau đó vua Đa-ri-út trở về cung. Đêm đó vua không ăn cũng không cho ban nhạc đến giải trí. Vua cũng không ngủ được.
DAN 6:19 Sáng hôm sau vua Đa-ri-út dậy sớm vội vàng đi đến hang sư tử.
DAN 6:20 Khi đến gần hang, vua rất lo ngại. Vua kêu lớn cùng Đa-niên, “Đa-niên, tôi tớ của Thượng Đế hằng sống ơi! Thượng Đế mà ngươi luôn luôn thờ phụng có giải cứu ngươi khỏi sư tử không?”
DAN 6:21 Đa-niên đáp, “Vua vạn tuế!
DAN 6:22 Thượng Đế tôi đã sai thiên sứ Ngài bịt mồm sư tử cho nên chúng nó không làm hại tôi vì Ngài biết tôi vô tội. Thưa vua, tôi không có làm gì thiệt hại cho vua.”
DAN 6:23 Vua Đa-ri-út vô cùng mừng rỡ và ra lệnh cho các tôi tớ đưa Đa-niên ra khỏi hang. Họ mang ông ra khỏi hang và nhận thấy ông không bị thương tích gì vì Đa-niên tin cậy Thượng Đế mình.
DAN 6:24 Rồi vua liền truyền lệnh ném những kẻ đã tố cáo Đa-niên vào hang sư tử. Bọn đó, vợ con chúng đều bị ném vào hang. Trước khi chúng rơi đến đáy hang thì sư tử vồ lấy xé nát xương chúng.
DAN 6:25 Rồi Đa-ri-út viết một văn thư gởi các dân tộc, các quốc gia, các người nói mọi thứ ngôn ngữ trên thế giới: “Ta chúc bình an và thịnh vượng cho các ngươi.
DAN 6:26 Ta nay ban hành một luật mới cho các dân sống trong vương quốc ta. Tất cả các ngươi phải kính sợ Thượng Đế của Đa-niên. Thượng Đế của Đa-niên là Thượng Đế hằng sống; Ngài sống mãi mãi. Nước Ngài không bao giờ bị tiêu diệt, quyền cai trị của Ngài không bao giờ chấm dứt.
DAN 6:27 Ngài giải cứu mọi dân và làm nhiều phép lạ lớn lao trên trời và dưới đất. Ngài là Đấng giải cứu Đa-niên khỏi mãnh lực sư tử.”
DAN 6:28 Đa-niên được trọng vọng suốt triều đại Đa-ri-út và Xi-ru của Ba-tư.
DAN 7:1 Trong năm đầu tiên của triều đại Bên-sát-xa, vua Ba-by-lôn, Đa-niên nằm chiêm bao. Đang khi nằm trên giường ông thấy một dị tượng và ghi lại điều mình thấy.
DAN 7:2 Đa-niên thuật, “Ban đêm tôi thấy một dị tượng. Trong đó tôi thấy gió thổi từ bốn phía khiến biển động mạnh.
DAN 7:3 Tôi thấy bốn con thú khổng lồ từ dưới biển lên, không con nào giống con nào.
DAN 7:4 Con thú thứ nhất giống như sư tử nhưng có cánh như chim ưng. Tôi nhìn nó cho đến khi cánh nó bị rớt ra. Nó được nhấc bổng lên khỏi đất và đứng hai chân như người, rồi nó được ban cho trí óc con người.
DAN 7:5 Rồi tôi thấy con thú thứ hai đứng trước mặt tôi, trông giống như con gấu. Nó được dựng đứng một bên và trong miệng nó, giữa các răng có ba cái xương sườn. Có tiếng bảo nó, ‘Hãy ngồi dậy muốn ăn thịt bao nhiều mặc ý!’
DAN 7:6 Sau đó, tôi nhìn, trước mặt tôi có một con thú khác. Con nầy giống như con beo, có bốn cánh trên lưng như cánh chim. Nó có bốn đầu và được ban cho quyền cai trị.
DAN 7:7 Sau đó, trong dị tượng ban đêm tôi thấy con thú thứ tư trước mặt tôi. Nó trông hung hăng, dữ tợn, và dũng mãnh. Nó có răng bằng sắt rất to. Nó nghiền nát và ăn những gì nó giết được và dẫm lên trên vật gì còn lại. Con thú thứ tư nầy khác hẳn với mấy con thú mà tôi thấy trước, nó có mười sừng.
DAN 7:8 Trong khi tôi đang suy nghĩ về các sừng thì có một sừng khác mọc lên giữa các sừng trước. Sừng mới nầy nhỏ nhưng có con mắt giống mắt người. Nó cũng có miệng khoe khoang khoác lác. Sừng nhỏ đó nhổ ba cái sừng kia.
DAN 7:9 Đang khi tôi nhìn, thì thấy các ngôi đặt nơi chúng nó đứng, và Thượng Đế là Đấng Thượng Cổ, ngồi trên ngôi Ngài. Áo Ngài trắng như tuyết, tóc trên đầu Ngài trắng như lông chiên. Ngôi Ngài làm bằng lửa, và các bánh xe của ngôi có lửa sáng rực.
DAN 7:10 Một dòng sông lửa chảy ra từ trước mặt Ngài. Hàng ngàn thiên sứ phục vụ Ngài, hàng triệu thiên sứ khác đứng trước mặt Ngài. Phiên tòa sắp khai mạc, các sách đều mở ra.
DAN 7:11 Tôi mải nhìn vì cái sừng nhỏ đang khoe khoang. Tôi nhìn cho đến khi con thú thứ tư bị giết. Thân nó bị tiêu hủy và bị ném vào trong lửa cháy bừng.
DAN 7:12 Quyền thế của các con thú kia cũng bị tước đoạt khỏi chúng nhưng chúng được phép sống thêm một thời gian nữa.
DAN 7:13 Trong dị tượng ban đêm tôi thấy trước mặt tôi có ai giống như con người đang từ trên mây đi xuống. Người đó đến gần Thượng Đế là Đấng Thượng Cổ, và được đưa đến cùng Thượng Đế.
DAN 7:14 Người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và quyền lực của vua. Dân chúng từ các chi tộc, các quốc gia, các ngôn ngữ sẽ phục vụ người. Quyền cai trị của người sẽ còn đến mãi mãi, nước người không bao giờ bị tiêu diệt.
DAN 7:15 Tôi, Đa-niên, rất băn khoăn. Sự hiện thấy đi qua trí tôi khiến tôi lo sợ.
DAN 7:16 Tôi đến gần một trong những vị đứng đó và hỏi thăm về ý nghĩa của hiện tượng. Người liền giải thích cho tôi như sau:
DAN 7:17 ‘Bốn con thú khổng lồ là bốn đế quốc cai trị trên đất.
DAN 7:18 Nhưng những người thánh thuộc về Thượng Đế Chí Cao sẽ nhận quyền cai trị và sẽ trị vì đời đời, từ nay về sau.’
DAN 7:19 Tuy nhiên tôi muốn biết con thú thứ tư có ý nghĩa gì vì nó không giống các con thú khác. Nó trông rất ghê sợ, có răng bằng sắt, móng bằng đồng. Nó là con thú nghiền và ăn những gì nó giết, rồi chà đạp lên những gì còn lại.
DAN 7:20 Tôi cũng muốn biết về mười cái sừng trên đầu nó và về cái sừng nhỏ mọc ở giữa. Sừng nhỏ đó nhổ ba cái sừng kia và trông oai nghi hơn các cái kia. Nó có mắt và miệng nói những lời huênh hoang.
DAN 7:21 Trong khi tôi đang nhìn thì cái sừng nhỏ bắt đầu gây chiến với dân thánh của Thượng Đế và thắng họ
DAN 7:22 cho tới khi Thượng Đế, Đấng sống đời đời đến. Ngài phân xử phần thắng về dân thánh thuộc về Thượng Đế Chí Cao; rồi đến lúc họ nhận quyền cai trị.
DAN 7:23 Người giải thích cho tôi như sau: ‘Con thú thứ tư là nước thứ tư sẽ đến trên đất. Nước nó không giống các nước khác và sẽ tiêu diệt dân cư khắp thế gian. Nó sẽ dẫm lên và chà đạp cả thế gian.
DAN 7:24 Mười cái sừng là mười vua sẽ đến sau nước thứ tư đó. Sau khi mười vua không còn nữa thì một vua khác sẽ đến. Vua nầy khác hẳn các vua cai trị trước mình, và người sẽ đánh bại ba trong số các vua kia.
DAN 7:25 Vua nầy sẽ nói phạm đến Thượng Đế Chí Cao. Người sẽ giết hại dân thánh của Thượng Đế và tìm cách thay đổi thời kỳ cùng luật lệ đã được qui định. Dân thánh thuộc về Thượng Đế sẽ ở dưới quyền vua đó trong ba năm rưỡi.
DAN 7:26 Nhưng toà án sẽ quyết định tình thế. Quyền của vua đó sẽ bị tước đoạt, và nước của người cũng hoàn toàn bị tiêu diệt.
DAN 7:27 Rồi dân thánh của Thượng Đế Chí Cao sẽ nhận quyền cai trị. Họ sẽ cai trị trên mọi nước dưới trời bằng quyền uy và oai nghi. Quyền cai trị của họ sẽ còn đời đời. Dân chúng của các nước kia sẽ kính sợ và thần phục họ.’
DAN 7:28 Đến đó là kết thúc chiêm bao. Tôi, Đa-niên, rất lo sợ. Mặt tôi tái nhợt vì sợ, nhưng tôi giữ các điều ấy trong lòng tôi.”
DAN 8:1 Trong năm thứ ba triều đại Bên-sát-xa, tôi, Đa-niên thấy một hiện tượng khác, giống như hiện tượng trước.
DAN 8:2 Trong hiện tượng nầy tôi thấy mình ở trong khu vực lâu đài tại kinh đô Su-sơ, thuộc vùng Ê lam. Tôi đang đứng bên kênh đào U-lai.
DAN 8:3 Khi tôi nhìn lên thì thấy một con chiên đực đang đứng cạnh kênh đào. Nó có hai sừng dài, nhưng một sừng thì dài và mới hơn sừng kia.
DAN 8:4 Tôi nhìn con chiên húc sừng về phía Tây, Bắc, và Nam. Không có con thú nào chống lại nó được, và không có ai có thể cứu con thú nào khỏi nó được. Nó muốn làm gì thì làm và trở nên rất dũng mãnh.
DAN 8:5 Trong khi tôi đang nhìn thì thấy một con dê đực từ phương tây đến. Nó có một cái sừng lớn lồ lộ giữa hai mắt. Nó vượt qua khắp đất nhanh đến nỗi chân không chạm đất.
DAN 8:6 Nó hùng hổ húc con chiên có hai sừng mà tôi thấy đứng cạnh kênh đào.
DAN 8:7 Tôi nhìn con dê hùng hổ húc con chiên và bẻ gãy hai sừng của nó. Con chiên không đủ sức chống lại. Con dê húc con chiên té xuống đất rồi dẫm lên. Không ai cứu nổi con chiên khỏi con dê,
DAN 8:8 vì thế con dê trở nên dũng mãnh. Nhưng khi nó trở nên hùng mạnh thì cái sừng lớn của nó rớt ra, rồi bốn cái sừng khác mọc thế chỗ đó. Bốn cái sừng mới chĩa về bốn hướng.
DAN 8:9 Rồi có một cái sừng nhỏ mọc từ bốn cái sừng kia, và trở nên to lớn. Nó mọc về hướng Nam, Tây, và về hướng đất tươi đẹp của Giu-đa.
DAN 8:10 Cái sừng nhỏ tiếp tục mọc cho đến tận trời. Thậm chí cái sừng đó húc một số đạo quân trên trời xuống đất rồi dẫm lên trên.
DAN 8:11 Cái sừng nhỏ đó sẽ nâng mình lên bằng Thượng Đế, tổng tư lệnh của các đạo quân trên trời. Nó ngăn không cho người ta dâng của lễ hằng ngày cho Thượng Đế, còn đền thờ, nơi người ta thờ phụng Ngài thì bị giật sập xuống.
DAN 8:12 Vì người ta từ bỏ Thượng Đế cho nên họ không dâng của lễ hằng ngày nữa. Chân lý bị chà đạp xuống đất, và sừng đó làm việc gì cũng thành công.
DAN 8:13 Rồi tôi nghe một thiên sứ thánh nói. Có một thiên sứ khác hỏi thiên sứ thứ nhất như sau, “Những điều trong hiện tượng liên quan đến những của lễ hằng ngày, việc lìa bỏ Thượng Đế dẫn đưa đến việc hủy hoại, đền thờ bị giật sập, và đạo quân trên trời bị chà đạp sẽ kéo dài trong bao lâu?”
DAN 8:14 Thiên sứ nói với tôi, “Điều nầy sẽ xảy ra trong hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai. Sau đó nơi thánh sẽ được sửa chữa.”
DAN 8:15 Tôi, Đa-niên, nhìn thấy dị tượng nầy và cố gắng tìm hiểu ý nghĩa nó. Trong dị tượng đó tôi thấy có ai giống như một người đứng cạnh tôi.
DAN 8:16 Rồi tôi nghe có tiếng người gọi từ kênh U-lai: “Gáp-ri-ên ơi, hãy giải thích ý nghĩa của dị tượng cho người nầy.”
DAN 8:17 Gáp-ri-ên bước đến chỗ tôi đang đứng. Khi người đến gần thì tôi rất run sợ nên quì sấp mặt xuống đất. Nhưng Gáp-ri-ên nói với tôi, “Nầy con người! Dị tượng nầy nói về thời tận thế.”
DAN 8:18 Trong khi Gáp-ri-ên đang nói thì tôi úp mặt xuống đất mê man. Nhưng người đụng đến tôi và đỡ tôi dậy.
DAN 8:19 Người nói, “Bây giờ ta sẽ giải thích cho ngươi biết khi Thượng Đế nổi thịnh nộ thì sẽ ra sao. Hiện tượng ngươi thấy là về thời tận thế đã được ấn định.
DAN 8:20 Ngươi thấy con dê đực có hai sừng, đó là hai vua Mê-đi và Ba-tư.
DAN 8:21 Con dê đực là vua Hi-lạp, và cái sừng giữa hai mắt là vua thứ nhất.
DAN 8:22 Bốn cái sừng mọc vào chỗ cái sừng bị gãy là bốn nước. Bốn nước đó xuất xứ từ nước của vua thứ nhất nhưng họ sẽ không mạnh bằng vua thứ nhất.
DAN 8:23 Khi đến thời kỳ cuối cùng của các nước đó thì một vị vua hùng mạnh và hung tợn, chuyên nói dối sẽ đến. Việc nầy xảy ra khi nhiều người chống nghịch Thượng Đế.
DAN 8:24 Vua nầy sẽ rất hùng mạnh nhưng không phải tự mình có quyền gì. Người sẽ gây thảm họa. Việc gì người làm cũng thành công. Người sẽ tiêu diệt những kẻ hùng mạnh, thậm chí tiêu diệt cả dân thánh của Thượng Đế nữa.
DAN 8:25 Vua nầy sẽ thành công nhờ dối trá và sức mạnh. Người sẽ tự cao tự đại và bất chợt giết hại nhiều người; người tìm cách chiến đấu với thống lãnh của các thống lãnh! Nhưng vua hung ác đó sẽ bị tiêu diệt, nhưng không phải do quyền lực của loài người.
DAN 8:26 Hiện tượng mà ngươi thấy về buổi chiều và buổi mai là thật. Nhưng hãy niêm phong dị tượng ấy vì còn lâu những điều đó mới xảy ra.”
DAN 8:27 Tôi, Đa-niên, cảm thấy bủn rủn và đau ốm trong nhiều ngày sau khi thấy dị tượng đó. Rồi tôi đứng dậy phục vụ vua nhưng tôi rất bực bội về dị tượng ấy vì tôi không hiểu nó có ý nghĩa gì.
DAN 9:1 Sau đây là những biến chuyển xảy ra trong năm đầu tiên đời Đa-ri-út, con Xét-xe, vua Ba-by-lôn. Ông là dòng dõi người Mê-đi.
DAN 9:2 Trong năm đầu tiên của triều đại Đa-ri-út, tôi, Đa-niên, đang đọc các sách thánh. Tôi thấy rằng CHÚA cho Giê-rê-mi biết là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị bỏ hoang trong bảy mươi năm.
DAN 9:3 Rồi tôi quay về cùng CHÚA là Thượng Đế và cầu nguyện xin Ngài giúp đỡ. Tôi cữ ăn, mặc áo vải sô và ngồi trong tro để tỏ lòng buồn thảm.
DAN 9:4 Tôi cầu nguyện cùng CHÚA là Thượng Đế tôi, xưng tội của chúng tôi. Tôi thưa, “Lạy CHÚA, Ngài là Thượng Đế cao cả đáng sợ và lạ lùng. Ngài giữ giao ước yêu thương đối với người yêu mến Ngài và vâng giữ mệnh lệnh Ngài.
DAN 9:5 Nhưng chúng tôi đã phạm tội và làm quấy. Chúng tôi đã làm điều ác và chống nghịch Ngài, cùng mệnh lệnh và luật lệ Ngài.
DAN 9:6 Chúng tôi không nghe tôi tớ Ngài, các nhà tiên tri là những người đại diện Ngài để khuyên bảo các vua, các lãnh tụ, các tổ tiên chúng tôi và toàn dân trong xứ.
DAN 9:7 Lạy CHÚA, Ngài nhân từ và công chính, nhưng ngày nay chúng tôi bị hổ nhục. Chúng tôi là dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, toàn dân Ít-ra-en, những kẻ ở gần và ở xa mà Ngài đã phân tán giữa các dân vì họ không trung tín với Ngài.
DAN 9:8 Lạy CHÚA, chúng tôi đều chịu xấu hổ kể cả các vua, lãnh tụ và cha ông chúng tôi vì chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài.
DAN 9:9 Nhưng CHÚA là Thượng Đế chúng tôi ơi, Ngài đã tỏ lòng từ bi và tha thứ chúng tôi mặc dù chúng tôi chống nghịch Ngài.
DAN 9:10 Chúng tôi đã không vâng lời CHÚA là Thượng Đế chúng tôi và lời giáo huấn Ngài ban cho chúng tôi qua các tôi tớ Ngài là các nhà tiên tri.
DAN 9:11 Tất cả dân Ít-ra-en đã không vâng theo lời giáo huấn Ngài, quay lưng đi, không chịu vâng phục Ngài. Cho nên Ngài mang đến cho chúng tôi những sự nguyền rủa và lời hứa ghi trong Sách Giáo Huấn của Mô-se, tôi tớ của Thượng Đế, vì chúng tôi đã phạm tội cùng Ngài.
DAN 9:12 Ngài bảo trước là những điều đó sẽ xảy đến cho chúng tôi và cho các lãnh tụ, và Ngài đã thực hiện những điều ấy. Trên đất chưa hề có biến cố nào xảy ra như đã xảy ra cho Giê-ru-sa-lem.
DAN 9:13 Tất cả những thảm họa đó xảy đến cho chúng tôi y theo Sách Giáo Huấn của Mô-se đã ghi. Nhưng chúng tôi không mềm lòng trước mặt CHÚA là Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi cứ mãi phạm tội và không đếm xỉa đến chân lý Ngài.
DAN 9:14 CHÚA đã sẵn sàng giáng thảm họa trên chúng tôi, và Ngài đã làm điều đó vì CHÚA, Thượng Đế là Đấng công chính trong mọi điều Ngài làm. Vậy mà chúng tôi vẫn không vâng phục Ngài.
DAN 9:15 Lạy CHÚA là Thượng Đế, Ngài đã dùng quyền năng Ngài mang chúng tôi ra khỏi Ai-cập. Vì lẽ đó mà danh Ngài được biết đến hôm nay. Nhưng chúng tôi đã phạm tội và làm quấy.
DAN 9:16 Lạy CHÚA, vì Ngài luôn luôn làm điều phải, xin Ngài đừng nổi giận cùng Giê-ru-sa-lem nữa. Đó là thành phố nằm trên núi thánh Ngài. Vì tội lỗi chúng tôi và những điều ác tổ tiên chúng tôi làm, dân cư chung quanh sỉ nhục và chế giễu Giê-ru-sa-lem và dân của Ngài.
DAN 9:17 Bây giờ, lạy Thượng Đế, xin hãy nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài. Xin hãy lắng nghe lời cầu nguyện của tôi và vì cớ Ngài, hãy tỏ lòng nhân từ cho nơi thánh Ngài đang đổ nát.
DAN 9:18 Lạy Thượng Đế, xin hãy chú ý và nghe tiếng tôi. Xin mở mắt và nhìn những thảm cảnh xảy đến cho chúng tôi. Hãy xem đời sống chúng tôi bị tàn hại ra sao và những gì đã xảy ra cho thành phố mang danh Ngài. Chúng tôi cầu xin những điều nầy không phải vì chúng tôi nhân đức, nhưng chúng tôi kêu gọi lòng từ bi của Ngài.
DAN 9:19 Lạy CHÚA xin hãy lắng nghe! Lạy Chúa, xin hãy tha thứ! Lạy Chúa xin nghe chúng tôi và can thiệp! Vì danh Ngài xin đừng chậm trễ vì thành và vì dân được gọi bằng danh Ngài.”
DAN 9:20 Trong khi tôi đang dâng những lời cầu xin trên đây lên cho CHÚA là Thượng Đế tôi, xưng tội mình và tội của dân Ít-ra-en đồng thời cầu nguyện cho núi thánh của Thượng Đế,
DAN 9:21 thì Gáp-ri-ên đến với tôi, người mà tôi đã gặp trong dị tượng trước. Người bay nhanh đến tôi vào giờ dâng của lễ buổi chiều, trong khi tôi vẫn đang cầu nguyện.
DAN 9:22 Người dạy tôi và bảo tôi, “Đa-niên ơi, ta đến để ban cho ngươi sự khôn ngoan và giúp ngươi hiểu.
DAN 9:23 Khi ngươi mới cầu nguyện lần đầu tiên thì lời đó đã được nghe. Ta đến để cho ngươi biết vì Thượng Đế rất yêu thương ngươi. Cho nên hãy suy nghĩ về lời nầy và cố gắng hiểu ý nghĩa của hiện tượng.
DAN 9:24 Thượng Đế đã định bốn trăm chín mươi năm cho dân ngươi và thành thánh vì những lý do sau: để ngăn không cho người ta chống nghịch Ngài; để chấm dứt tội lỗi; để cất điều ác đi; để mang đến sự nhân từ sẽ còn đời đời; để thi hành dị tượng và lời tiên tri; và để xức dầu nơi chí thánh khiến nó hóa thánh trở lại.
DAN 9:25 Hãy học và hiểu những điều nầy. Sẽ có lệnh xây lại thành Giê-ru-sa-lem. Thời gian từ lúc ban hành lệnh nầy cho đến khi một lãnh tụ được chỉ định là bốn mươi chín năm và bốn trăm ba mươi bốn năm. Giê-ru-sa-lem sẽ được xây lại có phố xá và mương rãnh đầy nước bao quanh, nhưng thành đó sẽ được xây trong thời kỳ khó khăn.
DAN 9:26 Sau bốn trăm ba mươi bốn năm thì vị lãnh tụ được chỉ định sẽ bị giết; người sẽ không còn gì cả. Dân cư của vị lãnh tụ mới sẽ đến tiêu hủy thành và nơi thánh. Đoạn kết của thành sẽ đến như trận lụt, và chiến tranh sẽ kéo dài cho đến cuối cùng. Thượng Đế đã định rằng nơi đó sẽ hoàn toàn bị tiêu hủy.
DAN 9:27 Vị lãnh tụ đó sẽ kết ước với nhiều người trong bảy năm. Người sẽ ngăn cản việc dâng của lễ và sinh tế sau ba năm rưỡi. Một kẻ hủy hoại sẽ làm những điều tàn ác cho đến khi Thượng Đế khiến nó hoàn toàn bị tiêu diệt.”
DAN 10:1 Trong năm thứ ba triều đại vua Xi-ru vua Ba-tư, Đa-niên, cũng có tên là Bên-tơ-sát-xa, thấy một hiện tượng về một cuộc đại chiến. Điều nầy Đa-niên hiểu được.
DAN 10:2 “Lúc đó, tôi, Đa-niên, đã buồn rầu trong ba tuần.
DAN 10:3 Tôi không dùng thức ăn hay thịt ngon, uống rượu hay xức nước hoa trong ba tuần.
DAN 10:4 Vào ngày hai mươi bốn tháng giêng, tôi đang đứng bên bờ sông lớn Ti-gờ-rít.
DAN 10:5 Trong khi đang đứng đó nhìn lên thì tôi thấy một người mặc áo bằng vải gai, có đai vàng ròng thắt ngang hông.
DAN 10:6 Thân thể người lóng lánh như hoàng ngọc. Mặt người sáng như chớp, mắt người như ngọn lửa. Hai tay và chân người như đồng đánh bóng, và tiếng người vang lên như tiếng hò hét của đám đông.
DAN 10:7 Tôi, Đa-niên, là người duy nhất trông thấy hiện tượng ấy. Những người ở với tôi không nhìn thấy gì cả nhưng vì họ quá hoảng sợ nên chạy trốn hết.
DAN 10:8 Còn lại một mình, tôi nhìn dị tượng vĩ đại nầy. Tôi đuối sức, mặt tôi tái xanh như người chết, và tôi hoàn toàn kiệt sức.
DAN 10:9 Rồi tôi nghe tiếng người trong dị tượng nói. Đang khi nghe, tôi sấp mặt xuống đất mê man.
DAN 10:10 Có một bàn tay chạm vào tôi đỡ tôi dậy. Tôi sợ hãi đến nỗi run lẩy bẩy.
DAN 10:11 Người trong dị tượng bảo tôi, ‘Đa-niên ơi, Thượng Đế yêu ngươi lắm. Hãy suy nghĩ cho kỹ những lời ta sẽ nói với ngươi, hãy đứng dậy, vì ta được sai đến với ngươi.’ Khi người nói như vậy, tôi liền đứng lên nhưng vẫn còn run.
DAN 10:12 Người ấy bảo tôi, ‘Đa-niên ơi, đừng sợ. Trước đây khi ngươi muốn hiểu biết và hạ mình trước mặt Thượng Đế thì Ngài nghe lời của ngươi, và ta được sai đến vì lời cầu nguyện ngươi.
DAN 10:13 Nhưng quan trưởng Ba-tư đã tranh chiến với ta trong hai mươi mốt ngày. Rồi Mi-chen, một trong những thiên sứ cao cấp đến giúp ta, còn ta bị để lại đó để chiến đấu với vua Ba-tư.
DAN 10:14 Bây giờ ta đã đến để giải thích cho ngươi những gì sẽ xảy ra cho dân tộc ngươi, vì hiện tượng nầy là về thời tương lai.’
DAN 10:15 Trong khi người nói với tôi thì tôi gục đầu xuống cấm khẩu.
DAN 10:16 Rồi có ai giống như con người sờ vào môi tôi nên tôi mở miệng nói. Tôi nói với người đứng trước mặt tôi, ‘Thưa thầy, tôi rất băn khoăn và lo sợ vì dị tượng nầy. Tôi cảm thấy đuối sức.
DAN 10:17 Thưa thầy, làm thế nào tôi, kẻ tôi tớ thầy, có thể thưa chuyện cùng thầy? Tôi không còn sức lực, và thở không ra hơi nữa.’
DAN 10:18 Rồi vị giống như con người sờ vào tôi và phục hồi sức lực cho tôi.
DAN 10:19 Người nói, ‘Đa-niên ơi, đừng sợ. Thượng Đế yêu ngươi lắm. Cầu cho ngươi được an lành. Hãy mạnh bạo và can đảm lên.’ Khi người nói với tôi thì tôi cảm thấy mạnh thêm, nên tôi thưa cùng người, ‘Thưa thầy, xin hãy nói, vì thầy đã thêm sức cho tôi.’
DAN 10:20 Rồi người bảo, ‘Đa-niên ơi, ngươi có biết tại sao ta đến với ngươi không? Ít lâu nữa đây ta sẽ trở lại chiến đấu chống quan tướng Ba-tư. Khi ta đi thì quan tướng Hi-lạp sẽ đến,
DAN 10:21 nhưng ta phải bảo trước cho ngươi biết những điều ghi chép trong Sách Chân lý. Không ai giúp ta chống các kẻ thù nầy ngoại trừ Mi-chen, vị thiên sứ cai quản dân chúng của ngươi.’”
DAN 11:1 Trong năm đầu tiên triều đại Đa-ri-út, người Mê-đi, ta đứng lên yểm trợ Mi-chen chống lại quan tướng Ba-tư.
DAN 11:2 “Bây giờ, Đa-niên ơi, ta bảo thật: Ba vua nữa sẽ cai trị Ba-tư, rồi một vua thứ tư sẽ đến. Vua ấy giàu sang hơn các vua Ba-tư trước người và sẽ dùng sự giàu có mình để củng cố quyền lực. Người sẽ xúi giục mọi người chống lại nước Hi-lạp.
DAN 11:3 Rồi một vua hùng mạnh sẽ đến và dùng oai quyền cai trị và tự do hành động.
DAN 11:4 Sau khi vua đó đến thì vương quốc của người sẽ bị phân chia ra bốn góc đất. Nước của người sẽ không vào tay con cháu người, và cũng không còn thế lực trước kia, vì nước đó sẽ bị cướp mất và ban cho người khác.
DAN 11:5 Vua của miền Nam sẽ trở nên hùng mạnh, nhưng một trong các tướng lãnh của người sẽ hùng mạnh hơn các tướng lãnh khác. Tướng lãnh đó sẽ bắt đầu dùng oai quyền cai trị nước mình.
DAN 11:6 Sau vài năm thì một liên minh mới sẽ xuất hiện. Con gái của vua miền Nam sẽ kết hôn với vua miền Bắc để duy trì sợi dây hoà bình. Nhưng nàng sẽ không nắm giữ quyền hành, và gia đình nàng sẽ không lâu bền. Nàng, chồng nàng, con nàng, và những ngươi đưa nàng đến nước đó sẽ bị giết.
DAN 11:7 Nhưng một người trong gia đình nàng sẽ lên ngôi vua miền Nam và sẽ tấn công các đạo quân của vua miền Bắc. Người sẽ xông vào thành vững chắc, có vách cao của vua đó để chiến đấu và sẽ đắc thắng.
DAN 11:8 Ngươi sẽ cướp lấy các thần, các tượng chạm, và các bửu vật bằng bạc và vàng mang về Ai-cập. Rồi người sẽ để vua miền Bắc yên ổn trong vài năm.
DAN 11:9 Sau đó, vua miền Bắc sẽ tấn công vua miền Nam nhưng sẽ bị đánh đuổi về xứ mình.
DAN 11:10 Các con trai của vua miền Bắc sẽ chuẩn bị chiến tranh. Chúng sẽ triệu tập một đạo quân đông đảo và nhanh chóng xông qua xứ như thác lũ. Sau đó đạo quân nầy sẽ trở lại đánh cho tới tận thành kiên cố có vách của vua miền Nam.
DAN 11:11 Vua miền Nam sẽ tức giận và kéo quân ra đánh vua miền Bắc. Tuy có quân lực đông đảo nhưng vua miền Bắc sẽ thua trận,
DAN 11:12 và binh sĩ người sẽ bị bắt giải đi. Vua miền Nam sẽ đâm ra tự phụ và sẽ giết hàng ngàn binh sĩ của đạo quân miền Bắc nhưng người sẽ không mãi thắng thế.
DAN 11:13 Vua miền Bắc sẽ tập họp một đạo quân đông đảo, lớn hơn đạo quân trước. Sau nhiều năm vua đó sẽ dùng đại quân trang bị đầy đủ để tấn công.
DAN 11:14 Trong thời kỳ đó nhiều người sẽ nghịch lại vua miền Nam. Một số dân cư của ngươi là những người hiếu chiến sẽ chống lại vua miền Nam, cho rằng thời điểm của lời hứa Thượng Đế đã đến rồi. Nhưng họ sẽ thất bại.
DAN 11:15 Rồi vua miền Bắc sẽ đến. Người sẽ đắp một lối đi lên đến chóp của các vách thành và sẽ chiếm được thành kiên cố có vách đó. Quân miền Nam sẽ không đủ sức chống lại; thậm chí đến binh sĩ thiện chiến nhất của họ cũng không đủ sức ngăn chận đạo quân miền Bắc.
DAN 11:16 Nên vua miền Bắc tha hồ tung hoành; không ai chống lại người nổi. Người sẽ củng cố quyền hành và kiểm soát vùng đất xinh đẹp của Ít-ra-en và có quyền tiêu hủy đất đó.
DAN 11:17 Vua miền Bắc sẽ định tâm dùng mọi quyền lực mình để đánh vua miền Nam, nhưng người sẽ lập hòa ước với vua miền Nam. Vua miền Bắc sẽ gả một trong các con gái của mình cho vua miền Nam để đánh bại vua đó. Nhưng mưu mô đó bất thành.
DAN 11:18 Rồi vua miền Bắc sẽ chuyển hướng sang các thành phố dọc theo bờ biển Địa-trung-hải và chiếm lấy các thành phố đó. Nhưng một quan tướng sẽ ngăn chận lòng tự phụ của vua miền Bắc, khiến vua ấy hết dám kiêu căng.
DAN 11:19 Sau việc đó vua miền Bắc sẽ trở lại các thành phố vững chắc, có vách bao bọc trong xứ mình, nhưng người sẽ mất hết quyền lực và thế là kết thúc đời người.
DAN 11:20 Vua kế tiếp của miền Bắc sẽ sai một người thu thuế để thu thật nhiều tiền. Sau vài năm vị quan đó sẽ bị tiêu diệt nhưng không phải do chiến trận.
DAN 11:21 Sau quan đó sẽ có một tên hung tàn và bạo ngược, hắn không được vinh dự xuất thân từ hoàng gia. Hắn sẽ tấn công vương quốc khi mọi người đang cảm thấy yên ổn, và sẽ chiếm quyền bằng cách dối gạt dân chúng.
DAN 11:22 Hắn sẽ càn quét và đánh bại những đạo quân đông đảo và hùng mạnh, đến nỗi đánh bại luôn quan tướng của giao ước.
DAN 11:23 Nhiều dân tộc sẽ lập ước với tên hung bạo đó nhưng hắn sẽ dối gạt họ. Hắn sẽ chiếm nhiều quyền hành, nhưng chỉ có một số ít người ủng hộ hắn mà thôi.
DAN 11:24 Những vùng giàu có nhất sẽ cảm thấy an ninh, nhưng tên hung bạo ấy sẽ tấn công các vùng đó. Hắn sẽ thành công hơn tổ tiên mình. Hắn sẽ cướp bóc các quốc gia mà hắn đánh bại và ban chiến lợi phẩm cho các kẻ theo hắn. Hắn sẽ dự định đánh và phá hủy các thành kiên cố, nhưng hắn chỉ thành công nhất thời.
DAN 11:25 Tên hung bạo đó sẽ có một đạo quân đông đảo để củng cố lực lượng và tăng thêm can đảm. Hắn sẽ tấn công vua miền Nam. Vua miền Nam sẽ triệu tập một đạo quân đông đảo và hùng mạnh và chuẩn bị chiến tranh. Nhưng những kẻ chống lại người sẽ có một kế hoạch bí mật, và rồi vua miền Nam sẽ bị đánh bại.
DAN 11:26 Những người đáng lẽ ra là bạn tốt của vua đó sẽ tìm cách tiêu diệt người. Đạo quân vua đó sẽ bị thảm bại; nhiều binh sĩ bị giết trong chiến trận.
DAN 11:27 Hai vua đó nhất quyết làm hại lẫn nhau. Cả hai ngồi cùng bàn nhưng dối gạt nhau, tuy nhiên sẽ chẳng đi đến đâu vì Thượng Đế đã định kỳ tận số cho họ.
DAN 11:28 Vua miền Bắc sẽ trở về xứ mình mang theo nhiều của cải. Rồi người sẽ quyết định phá giao ước thánh. Người sẽ ra tay hành động theo ý mình rồi trở về xứ.
DAN 11:29 Đến đúng kỳ vua miền Bắc sẽ tấn công vua miền Nam lần nữa, nhưng lần nầy người sẽ không thành công như lần trước.
DAN 11:30 Các tàu bè từ phương Tây sẽ đến đánh bại vua miền Bắc, nên người đâm ra lo sợ. Rồi người sẽ trở về và tỏ sự bực tức của mình đối với giao ước thánh. Người sẽ tỏ lòng tốt đối với những ai không vâng theo giao ước thánh.
DAN 11:31 Vua miền Bắc sẽ sai quân đội mình đến làm ô uế đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ cấm dân chúng dâng của lễ hàng ngày, và gây nên cảnh tàn phá khủng khiếp.
DAN 11:32 Vua miền Bắc sẽ nói dối và khiến cho những ai không vâng lời Thượng Đế bị tàn hại. Nhưng ai biết Thượng Đế và vâng lời Ngài sẽ mạnh dạn và chống trả lại.
DAN 11:33 Những ai khôn ngoan sẽ giúp kẻ khác hiểu biết các biến chuyển. Nhưng họ sẽ bị gươm giết, bị thiêu đốt, bị bắt làm tù binh, hay bị tước đoạt tài sản và nhà cửa. Tình trạng nầy sẽ kéo dài trong nhiều ngày.
DAN 11:34 Khi những người khôn ngoan bị trừng phạt thì họ được nâng đỡ đôi chút, nhưng một số sẽ giả vờ nhập bọn với người khôn ngoan.
DAN 11:35 Một số người khôn ngoan sẽ bị giết. Nhưng thời kỳ khốn khó phải đến để họ thêm mạnh dạn, tinh sạch và toàn thiện cho đến cuối cùng. Lúc đó, đúng thời điểm, sẽ là tận thế.
DAN 11:36 Vua miền Bắc sẽ tha hồ tung hoành. Người sẽ tự khoe khoang và ca ngợi mình, tự cho mình còn hơn thần thánh nữa. Người sẽ nói những lời phạm thượng nghịch lại Thượng Đế của các thần, điều mà người ta chưa bao giờ nghe. Người sẽ thành công cho đến khi cơn giận đã nguôi. Rồi những gì Thượng Đế đã định sẽ xảy đến.
DAN 11:37 Vua miền Bắc sẽ không đếm xỉa đến các thần mà tổ tiên mình thờ phụng, hay thần mà nữ giới sùng bái. Người không đếm xỉa đến bất cứ thần nào. Người sẽ tự cất nhắc mình lên hàng thần thánh.
DAN 11:38 Vua miền Bắc sẽ tôn thờ quyền năng và sức mạnh, điều mà tổ tiên người không hề thờ. Người sẽ tôn thờ thần quyền năng bằng vàng, bạc, đồ trang sức quí giá.
DAN 11:39 Vua đó sẽ tấn công các thành vững chắc có vách bao quanh nhờ vào một thần ngoại quốc. Người sẽ tôn trọng những kẻ nhập bọn với mình, cắt cử họ làm quan cai trị nhiều người khác. Người cũng sẽ buộc họ đóng tiền triều cống cho vùng đất họ cai quản.
DAN 11:40 Đến cuối cùng, vua miền Nam sẽ mở một trận chiến cùng vua miền Bắc. Vua miền Bắc sẽ tấn công bằng quân xa, lính kỵ mã, và tàu bè lớn. Người sẽ xâm lăng nhiều quốc gia và càn quét qua xứ như thác lũ.
DAN 11:41 Vua miền Bắc sẽ tấn công đất đai xinh đẹp của Giu-đa. Người sẽ chiến thắng nhiều quốc gia nhưng Ê-đôm, Mô-áp, và các lãnh tụ của Am-môn sẽ thoát khỏi tay người.
DAN 11:42 Vua miền Bắc sẽ chứng tỏ uy quyền của mình trong nhiều nước; và Ai-cập sẽ không thoát khỏi.
DAN 11:43 Vua miền Bắc sẽ cướp lấy vàng, bạc và các của cải của Ai-cập. Dân Li-bi và Nu-bi sẽ thần phục người.
DAN 11:44 Nhưng vua miền Bắc sẽ nghe tin tức về miền Đông và Bắc khiến người lo ngại. Rồi người sẽ đi tiêu diệt nhiều nước.
DAN 11:45 Người sẽ dựng lều hoàng gia nằm giữa khoảng biển và núi thánh. Nhưng, sau cùng, thời vận của người kết thúc, không ai đến giúp người cả.”
DAN 12:1 “Lúc đó Mi-chen, quan trưởng cao cả đã bảo vệ dân sự ngươi sẽ đứng lên. Sẽ có thời kỳ khó khăn, tệ hại đến nỗi từ khi có các quốc gia trên đất chưa hề có như vậy, nhưng dân chúng ngươi sẽ được giải cứu. Ai có tên trong sách của Thượng Đế sẽ được giải cứu.
DAN 12:2 Nhiều người đã chết và được chôn. Một số sẽ sống lại. Một số thức dậy để được sống mãi mãi, nhưng một số thức dậy để chịu hổ nhục đời đời.
DAN 12:3 Các người khôn ngoan sẽ chói sáng như bầu trời. Còn ai dạy người khác sống trong sự công chính sẽ chiếu sáng như các ngôi sao còn mãi mãi.
DAN 12:4 Nhưng Đa-niên ơi, ngươi hãy đóng sách lại và niêm phong nó. Những điều nầy sẽ xảy ra vào thời tận thế. Nhiều người đi đây đi đó để tìm sự hiểu biết thật.”
DAN 12:5 Sau đó, tôi, Đa-niên nhìn và thấy hai người khác. Một người đang đứng cạnh tôi nơi bờ sông, còn người kia đứng ở bờ bên kia.
DAN 12:6 Người mặc vải gai đang đứng giữa sông. Một trong hai người hỏi người đứng giữa sông như sau, “Còn bao lâu nữa thì những việc kỳ diệu nầy sẽ xảy ra?”
DAN 12:7 Người mặc vải gai đứng giữa sông giơ tay lên trời. Tôi nghe người nhân danh Thượng Đế là Đấng sống đời đời thề rằng, “Còn ba năm rưỡi nữa. Quyền lực của dân thánh sau cùng sẽ bị bẻ gãy, và mọi điều nầy sẽ xảy ra.”
DAN 12:8 Tôi nghe tiếng trả lời nhưng không hiểu lắm cho nên tôi hỏi, “Thưa thầy, sau các việc nầy xảy ra rồi sao nữa?”
DAN 12:9 Người đáp, “Đa-niên ơi, hãy đi đi. Lời nầy đã được đóng kín và niêm phong cho đến tận thế.
DAN 12:10 Nhiều người sẽ được tinh sạch, không vết nhơ nhưng kẻ ác sẽ cứ vẫn làm ác. Kẻ ác sẽ không am hiểu những điều nầy, nhưng người khôn ngoan thì hiểu.
DAN 12:11 Người ta sẽ thôi dâng của lễ hằng ngày. Và 1290 ngày sau đó thì cơn tàn phá khủng khiếp sẽ đến.
DAN 12:12 Ai chờ đợi đến cuối 1335 ngày sẽ vui mừng.
DAN 12:13 Còn như ngươi, Đa-niên, hãy đi làm nhiệm vụ mình cho đến hết đời. Ngươi sẽ được an nghỉ và cuối cùng sẽ sống lại để nhận phần thưởng.”
HOS 1:1 CHÚA phán cùng Ô-sê, con trai Bê-ê-ri trong đời Ô-xia, Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia làm vua Giu-đa và Giê-rô-bô-am con trai Giô-ách làm vua Ít-ra-en.
HOS 1:2 Đây là lời phán đầu tiên của CHÚA cho Ô-sê, “Hãy đi lấy một người đàn bà bất chính để sinh con bất chính vì dân xứ nầy đã hoàn toàn bất chính cùng CHÚA.”
HOS 1:3 Vậy Ô-sê đi lấy Gô-me, con gái Đíp-la-im. Nàng thụ thai và sinh ra một con trai cho Ô-sê.
HOS 1:4 CHÚA bảo Ô-sê, “Hãy đặt tên nó là Ghít-rê-ên vì chẳng bao lâu nữa ta sẽ trừng phạt gia đình Giê-hu vì những người nó giết tại Ghít-rê-ên. Trong tương lai ta sẽ chấm dứt nước Ít-ra-en
HOS 1:5 và bẻ gãy cung của nó trong thung lũng Ghít-rê-ên.”
HOS 1:6 Gô-me lại mang thai nữa và sinh ra một con gái. CHÚA bảo Ô-sê, “Hãy đặt tên nó là Lô-ru-ha-ma, vì ta sẽ không tội nghiệp Ít-ra-en, nhất định không tha thứ nó nữa.
HOS 1:7 Nhưng ta sẽ thương xót dân Giu-đa. Ta sẽ giải cứu họ, không phải bằng cung tên, gươm giáo, ngựa, người cỡi ngựa, hay vũ khí chiến tranh. Chính ta, CHÚA và là Thượng-Đế sẽ giải cứu họ bằng quyền năng của ta.”
HOS 1:8 Sau khi Gô-me dứt sữa Lô-ru-ha-ma thì nàng lại thụ thai và sinh ra một trai nữa.
HOS 1:9 CHÚA phán, “Hãy đặt tên nó là Lô-Am-mi, vì các ngươi không phải là dân ta, ta cũng không phải là Thượng-Đế của các ngươi.
HOS 1:10 Nhưng số dân Ít-ra-en sẽ đông như cát bãi biển, không ai đếm được. Họ trước kia được gọi, ‘Không phải dân ta,’ nhưng về sau họ sẽ được gọi là ‘con cái của Thượng-Đế hằng sống.’
HOS 1:11 Dân Giu-đa và Ít-ra-en sẽ họp nhau lại và đồng chọn một vị lãnh tụ cho mình. Họ sẽ từ xứ mình đi lên vì ngày của Ghít-rê-ên quả thật trọng đại.”
HOS 2:1 “Các ngươi hãy gọi anh em mình là, ‘dân ta,’ và chị em mình là, ‘ngươi được ta thương xót.’
HOS 2:2 Hãy trách móc mẹ ngươi. Hãy tố cáo nó, vì nó không còn là vợ ta, ta cũng không phải chồng nó nữa. Hãy bảo nó thôi đừng ăn ở như điếm đĩ nữa, hãy thôi sống như người vợ bất chính.
HOS 2:3 Nếu nó không chịu nghe, ta sẽ lột truồng nó, làm cho nó giống như ngày nó mới chào đời. Ta sẽ khiến nó khô khan như sa mạc, như đất hạn hán, Ta sẽ cho nó chết khát.
HOS 2:4 Ta sẽ không thương hại con cái nó, vì chúng là con của gái điếm.
HOS 2:5 Mẹ chúng nó đã hành động như gái điếm; người mang thai chúng hành động nhơ nhuốc. Nó bảo, ‘Ta sẽ theo đuổi các tình nhân ta, là những người cho ta thức ăn và đồ uống, len, vải đay, rượu và dầu.’
HOS 2:6 Cho nên ta sẽ dùng các bụi gai cản lối nó đi; Ta sẽ xây tường quanh nó để nó lạc lối.
HOS 2:7 Nó sẽ đuổi theo các tình nhân nó, nhưng không bắt được ai. Nó sẽ tìm các nhân tình mình, nhưng chẳng kiếm được người nào. Rồi nó sẽ bảo, ‘Ta sẽ về với chồng cũ ta, vì cuộc đời ta lúc trước khá hơn bây giờ.’
HOS 2:8 Nhưng nó không biết rằng chính ta là người ban cho nó lúa thóc, rượu mới, và dầu. Ta đã cho nó rất nhiều vàng bạc, nhưng nó dùng để cúng cho Ba-anh.
HOS 2:9 Cho nên ta sẽ trở về lấy lại lúa thóc ta lúc sẵn sàng để gặt, và lấy lại rượu mới ta khi trái nho đã sẵn sàng để làm rượu. Ta sẽ lấy lại len và vải gai mà nó đã dùng để che sự trần truồng nó.
HOS 2:10 Ta sẽ phơi bày sự trần truồng nó cho các tình nhân nó, không ai có thể giải thoát nó khỏi tay ta.
HOS 2:11 Ta sẽ chấm dứt mọi cuộc liên hoan của nó, các ngày lễ hằng năm, các lễ Trăng Mới và các ngày Sa-bát của nó. Ta sẽ chấm dứt các lễ lạc đặc biệt của nó.
HOS 2:12 Ta sẽ tiêu hủy các cây nho và cây vả của nó, mà nó bảo là của các tình nhân trả công cho nó. Ta sẽ biến chúng thành rừng rú, và các dã thú sẽ ăn nuốt chúng.
HOS 2:13 Ta sẽ trừng phạt nó về những lúc nó đốt hương cho Ba-anh. Nó mang nhẫn và đồ trang sức vào rồi đuổi theo các tình nhân nó, Nhưng nó chẳng nhớ đến ta!” CHÚA phán vậy.
HOS 2:14 “Cho nên ta sẽ tìm cách quyến rũ nó; Ta sẽ dẫn nó vào sa mạc và nói ngọt dịu với nó.
HOS 2:15 Ở đó ta sẽ trả lại vườn nho cho nó, và ta sẽ biến Thung Lũng Quấy Rối thành cửa hi vọng. Nơi đó nó sẽ đáp lời ta như khi nó còn trẻ, như lúc nó mới ra khỏi Ai-cập.”
HOS 2:16 CHÚA phán, “Trong tương lai nó sẽ gọi ta là ‘chồng tôi.’ Nó sẽ không còn gọi ta là ‘Ba-anh của tôi’ nữa.
HOS 2:17 Ta sẽ không bao giờ để nó gọi tên Ba-anh; và dân chúng sẽ không bao giờ dùng tên đó nữa.
HOS 2:18 Lúc đó ta sẽ lập giao ước với chúng nó, với các dã thú, chim chóc và các loài bò sát. Ta sẽ đập nát khỏi xứ cung tên, gươm giáo và các vũ khí chiến tranh, để cho dân ta sống trong hòa bình.
HOS 2:19 Ta sẽ khiến ngươi trở thành cô dâu hứa của ta đời đời. Ta sẽ nhân từ và công bằng; Ta sẽ tỏ tình yêu ta và lòng nhân ái ta đối với ngươi.
HOS 2:20 Ta sẽ đối chân thật cùng ngươi vì ngươi là cô dâu của ta, ngươi sẽ nhìn biết CHÚA.”
HOS 2:21 CHÚA phán, “Lúc đó ta sẽ nói cùng ngươi, Ta sẽ bảo trời làm mưa xuống đất.
HOS 2:22 Đất sẽ sinh sản ngũ cốc, rượu mới, và dầu; mùa màng sẽ trúng vì dân ta được gọi là Ghít-rê-ên.
HOS 2:23 Ta sẽ trồng dân ta trong xứ, ta sẽ tỏ lòng nhân từ cho kẻ trước đây ta gọi là ‘không thương được,’ Ta sẽ bảo, ‘Các ngươi là dân ta’ cho những kẻ ta đã gọi là ‘không phải dân ta.’ Và họ sẽ gọi ta, ‘Ngài là Thượng-Đế chúng tôi.’”
HOS 3:1 CHÚA lại phán cùng ta, “Hãy đi yêu một người đàn bà đã có người yêu, người đàn bà đã bất chính cùng ngươi. Cũng vậy, CHÚA yêu dân Ít-ra-en nhưng chúng nó thờ lạy các thần khác và thích ăn bánh trái nho khô.”
HOS 3:2 Vậy tôi mua nàng bằng sáu lượng bạc và mười thùng lúa mạch.
HOS 3:3 Rồi tôi bảo nàng, “Ngươi phải chờ đợi ta khá lâu. Không được hành nghề mãi dâm, không được ăn nằm với đàn ông nào khác. Ta cũng sẽ đối với ngươi như vậy.”
HOS 3:4 Cũng thế, dân Ít-ra-en sẽ trải qua một thời gian khá dài không có vua hay lãnh tụ, không có sinh tế hay các trụ thánh bằng đá, cũng không có áo ngắn thánh hay hình tượng nào.
HOS 3:5 Sau đó, dân Ít-ra-en sẽ trở về cùng CHÚA là Thượng-Đế họ, đi theo Ngài cùng vua thuộc dòng họ Đa-vít. Trong những ngày cuối cùng họ sẽ kính sợ quay trở về cùng CHÚA, và Ngài sẽ ban phước cho họ.
HOS 4:1 Hỡi dân Ít-ra-en hãy nghe lời CHÚA phán. CHÚA có điều nầy nghịch cùng các ngươi là kẻ sống trong xứ: “Dân chúng không chân thành, không trung tín cùng Thượng-Đế, những người sống trong xứ không thèm nhìn nhận Ngài.
HOS 4:2 Ta thấy tiếng chửi rủa, giết chóc, trộm cắp và gian dâm khắp nơi. Vụ giết người nầy tiếp theo vụ giết người khác.
HOS 4:3 Vì vậy mà đất nầy đã khô cằn, dân chúng đang chết dần mòn. Thậm chí các dã thú và chim trời, cá dưới biển cũng chết dần.
HOS 4:4 Không ai được phép tố cáo hay trách cứ người khác, Hỡi các ngươi là thầy tế lễ, đừng đổ lỗi cho dân chúng, khi họ gây gổ với các ngươi.
HOS 4:5 Các ngươi sẽ bị tàn hại trong ngày, và các nhà tiên tri của ngươi cũng bị tàn hại trong đêm. Ta cũng sẽ tiêu diệt mẹ ngươi.
HOS 4:6 Dân ta sẽ bị tiêu diệt, vì không hiểu biết. Các ngươi không chịu học, nên ta sẽ không để các ngươi làm thầy tế lễ cho ta nữa. Các ngươi đã quên lời giáo huấn của Thượng-Đế ngươi, nên ta cũng sẽ quên con cái ngươi.
HOS 4:7 Càng có nhiều thầy tế lễ, càng có nhiều tội nghịch cùng ta. Ta sẽ cất vinh dự của chúng nó và mang sỉ nhục đến cho chúng nó.
HOS 4:8 Vì các thầy tế lễ sống bằng các của lễ chuộc tội của dân chúng, nên họ mong dân chúng càng phạm tội thêm càng tốt.
HOS 4:9 Các thầy tế lễ cũng làm quấy y như dân chúng, cho nên ta sẽ trừng phạt cả hai vì điều chúng làm. Ta sẽ báo trả chúng nó vì điều ác chúng làm.
HOS 4:10 Chúng sẽ ăn nhưng không no; chúng sẽ hành lạc cùng gái điếm, nhưng sẽ không sinh con cái nào, vì chúng đã từ bỏ CHÚA và hiến thân
HOS 4:11 vào chuyện điếm đàng, rượu cũ và rượu mới, khiến chúng không còn khả năng hiểu biết nữa.
HOS 4:12 Dân ta hỏi ý các thần bằng gỗ; chúng nó xin que củi chỉ bảo mình! Chúng chạy theo các thần khác, giống như các gái điếm, chúng lìa bỏ Thượng-Đế mình.
HOS 4:13 Chúng dâng sinh tế trên các đỉnh núi. Chúng đốt của lễ thiêu trên các đồi, Dưới các cây sồi, cây dương, và các cây khác, vì bóng rợp của các cây đó dễ chịu. Nên con gái các ngươi sẽ làm điếm, và con dâu các ngươi sẽ phạm tội ngoại tình.
HOS 4:14 Ta sẽ không trách con gái các ngươi về tội làm điếm, cũng không trừng phạt con dâu các ngươi về tội ngoại tình. Ta sẽ không trừng phạt chúng nó, vì chính đàn ông các ngươi ăn nằm với gái điếm và dâng của lễ cùng với các gái điếm trong đền thờ. Đó là cách mà dân ngu dại tự hủy mình.
HOS 4:15 Hỡi Ít-ra-en, ngươi đã hành động như điếm đĩ, nhưng đừng cảm thấy tội lỗi đối với CHÚA. Đừng đi đến Ghinh-ganh, hay đi lên Bết A-ven. Đừng hứa hẹn gì bằng cách tuyên bố, ‘Thật như CHÚA hằng sống …’
HOS 4:16 Dân Ít-ra-en rất ương ngạnh giống như bò cái tơ dở chứng. Bây giờ CHÚA sẽ cho chúng ăn như chiên con trong đồng cỏ.
HOS 4:17 Dân Ít-ra-en thích bái lạy các thần tượng, cho nên hãy để mặc chúng.
HOS 4:18 Khi chúng uống rượu xong, chúng sẽ tự hiến thân vào chuyện điếm đĩ; chúng thích những lối sỉ nhục.
HOS 4:19 Chúng sẽ bị gió lốc cuốn đi, và các sinh tế của chúng chỉ mang đến sỉ nhục thôi.”
HOS 5:1 “Hỡi các ngươi là thầy tế lễ, hãy nghe đây. Hỡi dân Ít-ra-en, hãy chú ý. Hỡi gia đình nhà vua, hãy lắng tai, vì tất cả các ngươi đều sẽ bị xét xử. Các ngươi như cái bẫy ở Mích-ba như lưới giăng ra ở núi Ta-bo.
HOS 5:2 Các ngươi đã phạm lắm điều ác, nên ta sẽ trừng phạt tất cả các ngươi.
HOS 5:3 Ta biết hết về dân Ít-ra-en; những gì chúng làm không che giấu được ta. Ít-ra-en đã hành động như gái điếm, tự làm cho mình nhuốc nhơ.
HOS 5:4 Nó không chịu từ bỏ các hành vi xấu xa, để trở về cùng Thượng-Đế mình. Chúng nó nhất định bất chính đối với ta; không thèm biết đến CHÚA.
HOS 5:5 Lòng kiêu căng của Ít-ra-en đã làm chứng nghịch lại chúng. Dân Ít-ra-en đã vấp ngã vì tội lỗi mình, còn dân Giu-đa cũng vấp ngã chung với chúng.
HOS 5:6 Chúng sẽ đến thờ lạy CHÚA, mang theo các bầy súc vật, nhưng sẽ không tìm được Ngài, vì Ngài đã từ bỏ chúng.
HOS 5:7 Chúng đã không chân thành cùng CHÚA; chúng không phải là con cái Ngài. Cho nên sự thờ phụng giả tạo của chúng sẽ tiêu diệt chúng và đất đai chúng
HOS 5:8 Hãy thổi còi trong Ghi-bê-a và thổi kèn trong Ra-ma. Hãy lên tiếng cảnh cáo ở Bết A-ven, Hỡi dân Bên-gia-min, hãy lâm chiến đầu tiên.
HOS 5:9 Ít-ra-en sẽ bị điêu tàn trong ngày trừng phạt. Ta bảo thật cùng các chi tộc Ít-ra-en.
HOS 5:10 Các lãnh tụ Giu-đa giống như những kẻ ăn cắp đất người khác. Ta sẽ trút sự trừng phạt ta trên chúng nó như trút nước.
HOS 5:11 Ít-ra-en bị trừng phạt đè bẹp, vì chúng nhất định đi theo các thần tượng.
HOS 5:12 Ta giống như mối mọt cho Ít-ra-en, giống như đồ mục cho dân Giu-đa.
HOS 5:13 Khi Ít-ra-en thấy bệnh tật mình và Giu-đa thấy các vết thương mình, thì Ít-ra-en đi đến A-xy-ri cầu cứu và đến cầu cạnh vua A-xy-ri vĩ đại. Nhưng nó không thể chữa lành ngươi hay trị liệu các vết thương ngươi.
HOS 5:14 Ta sẽ giống như sư tử đối với Ít-ra-en, giống như sư tử tơ cho Giu-đa. Ta sẽ tấn công chúng, phân thây chúng. Ta sẽ lôi chúng đi, không ai cứu được.
HOS 5:15 Rồi ta sẽ trở về nơi ta ở, cho đến khi chúng chịu khổ sở vì tội lỗi mình và trở về cùng ta. Trong cơn khốn khó chúng sẽ tìm ta.”
HOS 6:1 “Nầy, chúng ta hãy trở về cùng CHÚA. Ngài đã đánh chúng ta, nhưng sẽ chữa lành chúng ta. Ngài đã làm chúng ta bị thương, nhưng sẽ băng bó các vết thương chúng ta.
HOS 6:2 Trong hai ngày, Ngài sẽ đặt sự sống mới trong chúng ta; đến ngày thứ ba Ngài sẽ khiến chúng ta sống lại để chúng ta sống trong sự hiện diện Ngài
HOS 6:3 và nhìn biết Ngài. Chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu về CHÚA; Ngài chắc chắn sẽ đến cùng chúng ta như bình minh đến vậy. Ngài sẽ đến cùng chúng ta như mưa, Như mưa xuân nhuần tưới đất.”
HOS 6:4 CHÚA phán, “Hỡi Ít-ra-en, ta phải đối với ngươi ra sao? Hỡi Giu-đa, ta phải làm gì cho ngươi? Sự thành tín ngươi như sương mai, như sương sa biến mất vào sáng sớm.
HOS 6:5 Ta đã dùng các nhà tiên tri ta cảnh cáo các ngươi, rằng ta sẽ giết và tiêu diệt các ngươi. Công lý ta sẽ xuất hiện như ánh sáng chói lọi.
HOS 6:6 Ta muốn tình yêu trung thành hơn các sinh tế. Ta muốn mọi người nhìn biết ta hơn của lễ thiêu.
HOS 6:7 Nhưng họ đã phá giao ước như A-đam đã làm; chúng đã không trung thành với ta.
HOS 6:8 Ghi-lê-át là thành của dân chuyên làm ác; các dấu chân chúng nó dính đầy máu.
HOS 6:9 Các thầy tế lễ giống như những tên cướp rình tấn công người ta; chúng giết người ta trên đường đi đến Sê-chem và làm chuyện độc ác.
HOS 6:10 Ta đã thấy những việc kinh khủng trong dân Ít-ra-en. Hãy nhìn tình trạng mãi dâm trong Ít-ra-en; Ít-ra-en đã trở nên nhơ nhớp.
HOS 6:11 Hỡi Giu-đa, ta đã định thời gian gặt hái cho ngươi khi ta sẽ mang dân ta từ chốn lưu đày trở về.”
HOS 7:1 “Khi ta chữa lành Ít-ra-en, thì tội lỗi nó sẽ được bôi xóa, và sự gian ác của Xa-ma-ri cũng vậy. Chúng nó lường gạt quá nhiều! Trộm cắp lẻn vào nhà, và cướp bóc đầy trên đường phố.
HOS 7:2 Chúng không hề nghĩ rằng ta ghi nhớ những hành vi độc ác của chúng. Những điều xấu chúng làm đầy dẫy quanh chúng; ngay trước mắt ta.
HOS 7:3 Những việc gian ác của chúng khiến vua chúng vui mừng; các quan cai trị hớn hở với những lời dối trá của chúng.
HOS 7:4 Nhưng tất cả chúng nó đều là những kẻ phản động. Chúng giống như lò nướng do thợ làm bánh đốt lên. Trong khi thợ nhồi bột, thì không cần nung lửa nóng.
HOS 7:5 Các vua say sưa đến nỗi ngày nào cũng phát bệnh. Các quan trưởng điên cuồng vì rượu; chúng kết ước với những kẻ không biết Thượng Đế thật.
HOS 7:6 Chúng cháy như lò nướng; lòng chúng nóng sốt. Ban đêm thì cơn giận chúng nguôi bớt, nhưng khi bình minh đến thì chúng đâm ra nóng nảy như lửa.
HOS 7:7 Tất cả những người đó nóng như lò nướng; thiêu đốt các quan cai trị mình. Các vua đều bị lật đổ, không ai kêu cầu ta.
HOS 7:8 Ít-ra-en đã pha trộn với các dân khác; nó giống như bánh chiên chỉ chín có một mặt.
HOS 7:9 Các dân ngoại quốc đã ăn nuốt sức mạnh của nó, mà nó không biết. Ít-ra-en yếu ớt như người già cả, nhưng nó không hay.
HOS 7:10 Tính kiêu căng của Ít-ra-en khiến chúng nó thua trận; chúng nó sẽ không trở về cùng CHÚA là Thượng-Đế chúng nó hay hướng về Ngài xin giúp đỡ.
HOS 7:11 Ít-ra-en giống như chim bồ câu: dễ bị gạt và ngờ nghệch. Ban đầu chúng kêu Ai-cập giúp đỡ. Rồi chúng quay sang A-xy-ri.
HOS 7:12 Khi chúng đi, ta sẽ quăng lưới bắt chúng, ta sẽ lôi chúng xuống như chim trời; Ta sẽ trừng phạt chúng nhiều lần về điều ác chúng làm.
HOS 7:13 Khốn cho chúng vì đã rời bỏ ta! Chúng sẽ bị tiêu diệt vì đã chống nghịch ta. Ta muốn cứu chúng, nhưng chúng đã đặt điều dối trá chống ta.
HOS 7:14 Chúng không gọi ta từ trong lòng. Chúng chỉ nằm dài trên giường rồi kêu khóc. Chúng xúm nhau lại xin thóc lúa và rượu mới, Nhưng thật ra chúng quay khỏi ta.
HOS 7:15 Dù ta đã huấn luyện và thêm sức cho chúng, chúng lại lập mưu ác nghịch ta.
HOS 7:16 Chúng không trở về cùng Thượng Đế Chí Cao. Chúng giống như cây cung đã chùng không thể bắn thẳng được. Vì các lãnh tụ chúng khoe khoang về sức lực mình, chúng sẽ bị gươm giết, và dân Ai-cập sẽ cười nhạo chúng.”
HOS 8:1 “Hãy đặt kèn lên môi và thổi tiếng báo động! Kẻ thù vồ dân CHÚA như chim ưng. Dân Ít-ra-en đã phá giao ước và chống lại lời giáo huấn ta.
HOS 8:2 Chúng kêu la cùng ta, ‘Lạy Thượng-Đế chúng tôi ơi, chúng tôi trong Ít-ra-en nhìn biết Ngài!’
HOS 8:3 Nhưng Ít-ra-en đã từ bỏ điều thiện, nên kẻ thù sẽ rượt đuổi chúng nó.
HOS 8:4 Chúng tự chọn vua lấy cho mình, không thèm xin phép ta. Chúng tự chọn các lãnh tụ mình, những người ta không hề biết. Chúng lấy bạc vàng tạc thành tượng chạm, vì vậy mà chúng sẽ bị tiêu diệt.
HOS 8:5 Ta ghét tượng bò con trong Ít-ra-en! Ta rất tức giận dân chúng. Chúng sẽ bị nhơ nhớp cho đến bao giờ?
HOS 8:6 Tượng chạm là vật do thợ làm ra; không phải là thần. Tượng bò con của Ít-ra-en sẽ bị đập bể vụn.
HOS 8:7 Dân Ít-ra-en làm điều ngu dại, giống như gieo gió, nhưng chúng sẽ gặt bão. Giống như cọng lúa không hột, nó chẳng tạo ra được gì. Dù cho nó tạo ra được gì đi nữa, thì các dân khác sẽ ăn nó.
HOS 8:8 Ít-ra-en bị ăn nuốt; dân ta trà trộn với các dân khác và trở thành vô ích cho ta.
HOS 8:9 Ít-ra-en giống như con lừa hoang đi rông. Nó chạy đến A-xy-ri; Nó đã thuê các dân khác bảo vệ mình.
HOS 8:10 Dù cho Ít-ra-en đã trà trộn với các dân khác, ta sẽ gom chúng nó về. Chúng sẽ càng ngày càng yếu khi chúng chịu khổ dưới tay vua A-xy-ri vĩ đại.
HOS 8:11 Dù Ít-ra-en đã xây nhiều bàn thờ hơn để chuộc tội, nhưng lại đã dùng bàn thờ để phạm tội.
HOS 8:12 Ta đã ghi lại nhiều lời dạy dỗ cho chúng, nhưng chúng cho rằng đó là những lời giáo huấn xa lạ.
HOS 8:13 Dân Ít-ra-en dâng sinh tế cho ta rồi ăn thịt, nhưng CHÚA không hài lòng về những sinh tế đó. Ngài nhớ lại các điều ác chúng làm, và Ngài sẽ trừng phạt tội lỗi chúng. Chúng sẽ phải làm tôi mọi trở lại như thuở còn ở Ai-cập.
HOS 8:14 Ít-ra-en đã quên Đấng Tạo Hóa mình và xây cung điện; Giu-đa đã xây nhiều thành có vách kiên cố. Nhưng ta sẽ sai lửa đến trên các thành đó và tiêu diệt các toà nhà vững chắc của chúng.”
HOS 9:1 Hỡi Ít-ra-en, đừng hớn hở; đừng reo vui như các dân khác. Ngươi như gái điếm nghịch lại Thượng-Đế ngươi. Ngươi nhận thù lao cho nghề mãi dâm trên mỗi sàn đạp lúa.
HOS 9:2 Nhưng sàn đạp lúa và bàn ép rượu không nuôi sống người ta được, và rượu mới cũng sẽ không đủ.
HOS 9:3 Dân cư sẽ không ở trong xứ của CHÚA. Ít-ra-en sẽ trở lại làm tù binh như thuở còn ở Ai-cập, và chúng sẽ ăn những món bị cấm ăn ở A-xy-ri.
HOS 9:4 Dân Ít-ra-en sẽ không dâng của lễ bằng rượu cho CHÚA; chúng sẽ không dâng sinh tế cho Ngài. Sinh tế của chúng sẽ giống như thức ăn nơi đám ma; Thức ăn đó nhơ nhớp, ai ăn nó cũng sẽ bị nhơ nhớp. Thức ăn của chúng chỉ dùng cho đỡ đói thôi; không thể dâng làm sinh tế trong đền thờ.
HOS 9:5 Vậy đến các ngày lễ kỷ niệm và ngày lễ của CHÚA thì các ngươi phải làm sao?
HOS 9:6 Dù dân chúng không bị tiêu diệt, Ai-cập cũng bắt chúng. Mem-phít sẽ chôn sống chúng. Cỏ dại sẽ phủ lấp các kho báu bằng bạc của chúng, và gai gốc sẽ xua đuổi chúng ra khỏi lều mình.
HOS 9:7 Thời kỳ trừng phạt đã đến, thời kỳ đền tội. Ít-ra-en hãy biết điều nầy: Các ngươi cho rằng nhà tiên tri là người ngu ngốc, và kẻ thiêng liêng là điên dại. Ngươi phạm lắm tội, và lòng ghen ghét của ngươi quá lớn.
HOS 9:8 Ít-ra-en có phải là lính gác không? Dân cư của Thượng-Đế có phải là các nhà tiên tri không? Nơi nào Ít-ra-en đi cũng đều vướng bẫy. Chúng là kẻ thù trong nhà Thượng-Đế.
HOS 9:9 Dân Ít-ra-en đã ngụp lặn trong tội lỗi, như dân Ghi-bê-a. CHÚA sẽ nhớ lại điều ác chúng làm, và Ngài sẽ trừng phạt tội chúng.
HOS 9:10 “Khi ta tìm được Ít-ra-en, giống như tìm được nho trong sa mạc. Các tổ tiên ngươi giống như trái vả đầu tiên trên cây. Nhưng khi chúng đến Ba-anh Phê-ô, thì bắt đầu cúng lạy thần tượng, Chúng trở thành gớm ghiếc như những vật chúng thờ.
HOS 9:11 Ít-ra-en sẽ bay đi như chim; sẽ không ai mang thai, không ai sinh sản, không ai chịu thai nghén nữa.
HOS 9:12 Nhưng dù cho Ít-ra-en nuôi dưỡng con cái, ta cũng sẽ bắt chúng nó đi. Khốn cho chúng nó khi ta từ bỏ chúng!
HOS 9:13 Ta đã thấy Ít-ra-en, giống như thành Tia, được ban cho một nơi thoải mái. Nhưng chẳng bao lâu nữa dân Ít-ra-en sẽ mang con cái mình ra để bị giết.”
HOS 9:14 Lạy CHÚA, xin hãy ban cho chúng điều chúng đáng lãnh. Ngài sẽ ban gì cho chúng? Xin hãy làm cho các đàn bà của chúng không sinh sản được; Xin cho họ vú cạn sữa, để không thể cho con bú được.
HOS 9:15 “Tất cả những điều ác của chúng đều ở Ghinh-ganh, Ta ghét chúng nơi đó. Vì những tội lỗi chúng phạm, Ta sẽ đuổi chúng ra khỏi xứ ta. Ta sẽ không còn yêu chúng nữa; các lãnh tụ chúng đã chống nghịch ta.
HOS 9:16 Ít-ra-en đã bị đánh ngã; rễ của nó khô héo, cây nó không sinh trái. Dù nó có thêm con cái, Ta sẽ giết các con mà chúng yêu.”
HOS 9:17 Thượng-Đế sẽ gạt bỏ chúng, vì chúng không vâng lời Ngài; chúng sẽ lưu lạc giữa các dân.
HOS 10:1 Ít-ra-en giống như cây nho lớn sinh ra nhiều trái. Khi dân cư trở nên giàu có hơn, liền xây thêm nhiều bàn thờ cho các thần tượng. Khi xứ trở nên phì nhiêu hơn, chúng liền dựng thêm nhiều trụ đá đẹp hơn để cúng các thần.
HOS 10:2 Lòng chúng nó giả dối, bây giờ chúng phải trả giá cho tội lỗi mình. CHÚA sẽ phá sập các bàn thờ chúng; Ngài sẽ tiêu hủy các trụ đá thánh của chúng.
HOS 10:3 Rồi chúng sẽ bảo, “Chúng tôi không có vua, vì chúng tôi không kính sợ CHÚA. Còn vua thì chẳng làm được gì cho chúng tôi.”
HOS 10:4 Chúng hứa dối, và lập giao ước mà chúng không giữ. Cho nên dân chúng sẽ thưa kiện nhau trước tòa; Chúng giống như cỏ dại độc mọc trong ruộng đã cày.
HOS 10:5 Dân Ít-ra-en lo lắng về tượng bò con ở Bết A-ven. Dân chúng sẽ than khóc về nó, và các thầy tế lễ cũng sẽ kêu khóc về nó. Chúng thường reo vui về vinh hiển của thần tượng đó,
HOS 10:6 nhưng nó sẽ bị đày qua A-xy-ri để làm quà cho vua lớn. Dân Ít-ra-en sẽ bị sỉ nhục, và dân chúng sẽ xấu hổ vì không vâng lời.
HOS 10:7 Ít-ra-en sẽ bị tiêu diệt; vua của nó sẽ giống như mảnh gỗ nổi lềnh bềnh trên nước.
HOS 10:8 Những nơi thờ phụng giả dối sẽ bị phá hủy, là những nơi mà Ít-ra-en phạm tội. Gai gốc và cỏ dại sẽ phủ kín các bàn thờ chúng. Rồi chúng sẽ bảo cùng núi rằng, “Hãy che lấp chúng ta đi!” và nói cùng các đồi rằng, “Hãy rơi trên chúng ta!”
HOS 10:9 “Hỡi Ít-ra-en, ngươi đã phạm tội từ thời Ghi-bê-a, và dân chúng đã tiếp tục phạm tội ở đó. Nhưng chiến tranh chắc chắn sẽ bao trùm chúng ở Ghi-bê-a, vì những điều ác chúng làm nơi đó.
HOS 10:10 Khi ta sẵn sàng, ta sẽ đến trừng phạt chúng. Các dân sẽ đến nghịch lại chúng, chúng sẽ bị trừng phạt vì tội lỗi tràn đầy của mình.
HOS 10:11 Ít-ra-en giống như con bò tơ cái thuần thục, thích đạp lúa. Ta sẽ đặt ách lên cổ nó bắt nó làm việc cực nhọc ngoài đồng áng. Ít-ra-en sẽ cày, Giu-đa sẽ vỡ đất.
HOS 10:12 Ta bảo, ‘Hãy gieo sự nhân từ, gặt bông trái của sự thành tín, hãy cày đất mới cho sự hiểu biết. Hãy trông đợi CHÚA cho tới lúc Ngài đến đổ nhân từ Ngài trên các ngươi như nước.’
HOS 10:13 Nhưng các ngươi đã cày sự gian ác, gặt hái chuyện lôi thôi; các ngươi đã ăn hoa quả của sự dối gạt. Vì các ngươi cậy sức riêng mình, ỷ vào quân số đông đảo của các ngươi,
HOS 10:14 dân ngươi sẽ nghe tiếng chiến trận, tất cả các thành có vách kiên cố của ngươi sẽ bị tiêu diệt. Giống như khi vua Sanh-man tiêu diệt Bết Ạc-bên trong chiến trận, khi mẹ và con đều bị đập chết.
HOS 10:15 Hỡi dân Bê-tên, chuyện đó cũng sẽ xảy đến cho ngươi, vì ngươi làm ác quá lắm. Khi mặt trời mọc lên, vua Ít-ra-en sẽ chết.”
HOS 11:1 “Khi Ít-ra-en còn thơ ấu, ta rất yêu nó, ta đem con ta ra khỏi Ai-cập.
HOS 11:2 Nhưng khi ta càng gọi dân Ít-ra-en ta, thì chúng càng bỏ đi. Chúng cúng sinh tế cho Ba-anh và đốt hương cho các tượng chạm.
HOS 11:3 Chính ta dạy cho Ít-ra-en biết đi, chính ta nắm tay dẫn dắt chúng, nhưng nó không biết ta đã chữa lành cho chúng.
HOS 11:4 Ta dẫn dắt chúng bằng dây nhân từ, bằng dây thừng yêu thương. Ta đã tháo bỏ ách khỏi cổ chúng, cúi xuống cho chúng ăn.
HOS 11:5 Dân Ít-ra-en sẽ bị làm tù binh trở lại như thuở ở Ai-cập, A-xy-ri sẽ làm vua chúng, vì chúng không chịu trở về cùng Thượng-Đế.
HOS 11:6 Chiến tranh sẽ chui vào các thành phố chúng và tiêu diệt chúng, chiến tranh sẽ giết chúng vì những âm mưu độc ác của chúng.
HOS 11:7 Dân ta đã nhất quyết quay khỏi ta. Các nhà tiên tri kêu gọi chúng trở về cùng ta, nhưng chẳng có ai tôn kính ta cả.
HOS 11:8 Hỡi Ít-ra-en, làm sao ta bỏ ngươi được? Ít-ra-en ơi, ta đâu thể nào giao ngươi cho kẻ khác? Ta không muốn làm cho ngươi giống như Ách-ma hay đối với ngươi như Xê-bôi-im. Lòng ta cảm động vì ngươi, tình yêu ta cho ngươi khiến ta tội nghiệp ngươi.
HOS 11:9 Ta sẽ không trừng phạt ngươi đang khi ta nóng giận ta sẽ không còn tiêu diệt Ít-ra-en nữa. Ta là Thượng-Đế, không phải là người. Ta là Đấng Thánh, ngự giữa ngươi. Ta sẽ không nghịch ngươi trong cơn nóng giận nữa.
HOS 11:10 Chúng sẽ tìm CHÚA, Ngài sẽ gầm lên như sư tử. Khi Ngài gầm lên, thì từ phương Tây con cái Ngài sẽ chạy lại.
HOS 11:11 Chúng sẽ chạy ào lại như chim bay đến từ Ai-cập chẳng khác nào bồ câu từ A-xy-ri. Ta sẽ lại đặt chúng vào ở trong nhà chúng nó,” CHÚA phán vậy.
HOS 11:12 Ít-ra-en vây ta bằng những lời nói dối; dân chúng đã lập mưu ác. Giu-đa đã nghịch lại Thượng-Đế, Đấng Thánh của mình.
HOS 12:1 Việc làm của Ít-ra-en hoàn toàn vô ích chẳng khác nào đuổi theo mây gió; chạy theo gió Đông suốt ngày. Chúng càng ngày càng nói dối càng ngày càng làm chuyện hung ác. Chúng kết ước với A-xy-ri, gởi dầu ô-liu biếu Ai-cập.
HOS 12:2 CHÚA có mấy điều nghịch lại Giu-đa. Ngài sẽ trừng phạt Ít-ra-en vì hành động của chúng; Ngài sẽ giáng cho chúng điều chúng đáng lãnh.
HOS 12:3 Gia-cốp, tổ tiên chúng, nắm gót anh mình khi hai anh em ra đời. Khi lớn lên, nó vật lộn cùng Thượng-Đế.
HOS 12:4 Lúc Gia-cốp vật lộn cùng thiên sứ và thắng rồi thì đòi thiên sứ chúc phước cho mình. Sau đó, Thượng-Đế gặp người ở Bê-tên và nói chuyện với người.
HOS 12:5 Ngài là Thượng-Đế Toàn Năng; danh lớn của Ngài là CHÚA.
HOS 12:6 Các ngươi phải trở về cùng Thượng-Đế; hãy yêu mến Ngài, làm điều phải, luôn luôn tin cậy vào Thượng-Đế mình.
HOS 12:7 Các con buôn dùng cân giả; để lường gạt khách hàng.
HOS 12:8 Ít-ra-en nói rằng, “Ta giàu có rồi! Ta có thế lực rồi!” Tiền bạc chúng thật vô dụng so với những tội lỗi chúng phạm.
HOS 12:9 “Nhưng ta vẫn là CHÚA, Thượng-Đế ngươi, Đấng ở cùng ngươi khi ngươi ra khỏi Ai-cập. Ta sẽ khiến ngươi ở trong lều trại như thời kỳ ngươi kỷ niệm Lễ Chòi Lá.
HOS 12:10 Ta phán cùng các nhà tiên tri, ban cho họ nhiều sự hiện thấy; qua những điều đó, ta dạy ngươi học.”
HOS 12:11 Dân Ghi-lê-át rất độc ác, không ra gì hết. Dù chúng dâng bò đực ở Ghinh-ganh, đền thờ chúng giống như đống đá vụn trong ruộng đã cày rồi.
HOS 12:12 Gia-cốp, tổ tiên các ngươi chạy trốn sang vùng Tây Bắc Mê-sô-bô-ta-mi nơi người làm việc cực nhọc để cưới vợ; làm nghề chăn chiên để lấy nàng.
HOS 12:13 Sau đó CHÚA dùng một nhà tiên tri, mang con cháu Gia-cốp ra khỏi Ai-cập; Ngài dùng một nhà tiên tri để lo cho dân Ít-ra-en.
HOS 12:14 Nhưng Ít-ra-en chọc giận Chúa khi chúng giết kẻ khác, chúng đáng chết vì tội ác mình. Chúa sẽ bắt chúng đền tội về những điều hổ nhục chúng làm.
HOS 13:1 “Mọi người thường sợ chi tộc Ép-ra-im; đó là đám dân quan trọng trong Ít-ra-en. Nhưng chúng phạm tội vì thờ Ba-anh, nên chúng phải chết.
HOS 13:2 Vậy mà chúng vẫn tiếp tục phạm tội thêm. Chúng tạc tượng bằng bạc, những tượng mà chúng tạc thật tài, kỳ công của thợ khéo. Rồi dân Ít-ra-en bảo nhau, ‘Hãy hôn các tượng bò con đó và dâng sinh tế cho chúng.’
HOS 13:3 Vì thế dân chúng sẽ giống như sương mai; tan biến như sương buổi sáng. Chúng sẽ như trấu thổi bay từ sàn đạp lúa, như khói bay ra khỏi cửa sổ.
HOS 13:4 Ta, CHÚA, đã là Thượng-Đế ngươi, từ khi ngươi ở trong xứ Ai-cập. Ngươi không được phép biết đến Thượng-Đế nào khác ngoài ta. Chỉ ta là Đấng cứu ngươi.
HOS 13:5 Ta lo cho chúng trong sa mạc nơi nóng nực khô khan.
HOS 13:6 Ta ban cho chúng thức ăn no nê. Nhưng chúng đâm ra tự phụ và quên ta.
HOS 13:7 Vì thế ta sẽ đối với chúng như sư tử, như cọp beo rình bên đường.
HOS 13:8 Ta sẽ tấn công chúng như gấu bị cướp con, phanh thây chúng ra. Ta sẽ ăn nuốt chúng như sư tử, xé xác chúng như dã thú.
HOS 13:9 Hỡi Ít-ra-en, ta sẽ tiêu diệt ngươi. Ai sẽ đến cứu giúp ngươi đây?
HOS 13:10 Vua ngươi có ích gì? Người có giải cứu ngươi trong các thị trấn nào của ngươi không? Các lãnh tụ ngươi giỏi giang gì? Ngươi bảo, ‘Hãy cho chúng tôi một vua và các lãnh tụ.’
HOS 13:11 Vậy ta ban cho ngươi một vua trong cơn giận ta, rồi cũng trong cơn giận, ta dẹp bỏ vua ấy.
HOS 13:12 Tội lỗi của Ít-ra-en đã được ghi chép, lưu trữ chờ cơn trừng phạt.
HOS 13:13 Cơn đau đẻ sẽ đến với nó, nhưng nó như đứa bé khờ khạo không chịu chui ra khỏi lòng mẹ.
HOS 13:14 Ta sẽ giải cứu chúng nó khỏi âm phủ chăng? Ta sẽ giải thoát chúng nó khỏi chết chăng? Hỡi sự chết, bệnh tật ngươi đâu? Hỡi âm phủ, quyền lực ngươi đâu? Ta sẽ không tỏ lòng nhân ái cùng chúng.
HOS 13:15 Ít-ra-en được thịnh vượng giữa các dân, nhưng CHÚA sẽ sai gió Đông đến, thổi từ sa mạc, làm khô cạn các suối và giếng nước. Ngài sẽ tiêu hủy những gì đáng giá trong các nhà sang trọng của chúng.
HOS 13:16 Dân Ít-ra-en sẽ bị hoang tàn, vì nó chống lại Thượng-Đế mình. Dân Ít-ra-en sẽ ngã chết trong chiến tranh; con cái nó sẽ bị phân thây, các đàn bà chửa của nó sẽ bị mổ bụng.”
HOS 14:1 Ít-ra-en ơi, hãy trở về cùng CHÚA là Thượng-Đế ngươi, vì tội lỗi ngươi khiến ngươi vấp ngã.
HOS 14:2 Hãy trở về cùng CHÚA và thưa với Ngài rằng: “Xin hãy xóa tội lỗi chúng tôi và lấy lòng nhân từ đón nhận chúng tôi, thì chúng tôi sẽ giữ lời hứa cùng Ngài.
HOS 14:3 A-xy-ri không thể cứu chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ không cậy vào ngựa. Chúng tôi cũng sẽ không nói cùng những vật tay mình làm ra rằng, ‘Ngươi là thần của ta,’ Vì Ngài là Đấng tỏ lòng thương xót các trẻ mồ côi.”
HOS 14:4 CHÚA phán, “Ta sẽ tha thứ cho chúng về tội lìa bỏ ta, ta sẽ lấy lòng rộng rãi yêu thương chúng, ta sẽ không còn nổi giận cùng chúng nữa.
HOS 14:5 Ta sẽ như sương cho Ít-ra-en, chúng sẽ nẩy nở như hoa huệ. Rễ chúng sẽ vững chắc, như cây hương nam ở Li-băng.
HOS 14:6 Chúng sẽ giống như nhánh vươn ra, như cây ô-liu xinh tươi, như cây hương nam thơm phức ở Li-băng.
HOS 14:7 Dân Ít-ra-en sẽ lại ở dưới sự bảo vệ của ta. Chúng sẽ mọc lên như ngũ cốc, nẩy nở như dây nho, chúng sẽ nổi danh như rượu của Li-băng.
HOS 14:8 Ít-ra-en ơi, hãy xa lánh các thần tượng đi. Ta, CHÚA ngươi, là Đấng trả lời các điều khẩn nguyện ngươi và trông nom ngươi. Ta như cây thông xanh tươi; Nguồn phước hạnh của ngươi do ta mà đến.
HOS 14:9 Người khôn ngoan sẽ hiểu biết những điều nầy, kẻ thông sáng sẽ ghi tạc chúng vào lòng. Các đường lối CHÚA đều đúng. Người nhân đức nhờ theo đó mà sống, còn kẻ chống nghịch Thượng-Đế cũng sẽ vì chúng mà chết.”
JOE 1:1 CHÚA phán cùng Giô-ên, con trai Bê-tu-ên rằng:
JOE 1:2 Hỡi các bô lão, hãy nghe đây. Hỡi dân cư trong xứ, hãy để ý nghe ta. Từ xưa đến nay trong đời các ngươi, chưa hề có chuyện nầy hay cả trong đời tổ tiên các ngươi cũng vậy.
JOE 1:3 Hãy thuật lại cho con cái các ngươi những chuyện nầy, để chúng nó kể lại cho con cái mình, và cho cháu các ngươi thuật lại cho dòng dõi tiếp theo.
JOE 1:4 Món gì bầy cào cào cắn phá chừa lại, thì bọ rầy ăn; món gì bọ rầy chừa lại, thì châu chấu ăn, và món gì châu chấu chừa lại, thì sâu bọ ăn.
JOE 1:5 Hỡi những kẻ say sưa, hãy tỉnh rượu và than khóc đi! Hỡi các ngươi là kẻ uống rượu, hãy than vãn! Hãy than khóc vì rượu đã bị cất lấy khỏi miệng các ngươi rồi.
JOE 1:6 Có một quốc gia hùng mạnh tiến vào xứ ta quân lính đông vô số. Răng chúng nó như răng sư tử, Hàm chúng nó như hàm sư tử cái.
JOE 1:7 Nó đã hủy hoại cây nho ta. Cây nho đã trở nên khô héo và chết đi. Nó phá hoại cây vả ta, lột hết vỏ của cây ấy và ném đi.
JOE 1:8 Hãy than khóc như gái trẻ khóc than vì chồng sắp cưới của mình đã qua đời.
JOE 1:9 Sẽ không còn của lễ chay hay của lễ uống để dâng lên trong đền thờ CHÚA nữa. Vì thế cho nên các thầy tế lễ, tức tôi tớ của CHÚA buồn rầu.
JOE 1:10 Đồng ruộng đã bị tiêu hủy; đất đai khô cằn. Ngũ cốc bị hư hại, rượu mới cạn hết, dầu ô-liu cũng chẳng còn.
JOE 1:11 Hỡi các nông gia, hãy thảm sầu. Hỡi những kẻ trồng nho, hãy khóc lóc thảm thiết đi. Hãy than khóc cho lúa mì và lúa mạch. Hãy than khóc vì mùa màng bị mất rồi.
JOE 1:12 Các dây nho đã khô, và cây vả cũng héo. Những cây lựu, cây chà là, cây táo, và tất cả các cây khác trong đồng đều chết. Hạnh phúc của dân chúng cũng không còn.
JOE 1:13 Hỡi các thầy tế lễ, hãy mặc vải sô để bày tỏ lòng buồn thảm. Hỡi các kẻ phục vụ nơi bàn thờ, hãy kêu khóc. Hỡi các tôi tớ của Thượng-Đế ta, Hãy mặc quần áo vải sô trọn đêm để tỏ lòng buồn thảm của các ngươi. Hãy kêu khóc vì không còn của lễ chay, hay của lễ uống dâng lên trong đền thờ của Thượng Đế các ngươi nữa.
JOE 1:14 Hãy công bố ngày cữ ăn! Bảo mọi người hãy ngưng làm việc! Hãy mang các bô lão và những ai sống trong xứ đến đền thờ của CHÚA là Thượng-Đế các ngươi, để kêu xin cùng CHÚA.
JOE 1:15 Vì đó là ngày kinh khiếp! Ngày xét xử của CHÚA gần đến rồi. Sự trừng phạt sẽ đến như cuộc tấn công hủy diệt của Đấng Toàn Năng.
JOE 1:16 Thức ăn chúng ta đã bị cướp đi trước mắt chúng ta. Niềm vui và hạnh phúc không còn thấy trong đền thờ Thượng Đế ta.
JOE 1:17 Dù chúng ta trồng hột cây vả, chúng sẽ nằm chết khô trong đất. Các kho chứa trống không và đổ nát. Các vựa trữ thóc đã sập đổ rồi, vì ngũ cốc đều đã khô héo.
JOE 1:18 Thú vật rên rỉ! Các bầy súc vật đi lang thang và hoang mang, vì không còn cỏ để ăn; thậm chí đến bầy chiên cũng bị tổn hại.
JOE 1:19 Lạy CHÚA, tôi kêu xin Ngài giúp đỡ, vì lửa đã thiêu đốt các đồng cỏ, và các ngọn lửa đã thiêu đốt hết các cây trong vườn.
JOE 1:20 Các muông thú cũng cần Ngài cứu giúp. Các suối nước đều cạn khô, lửa đã thiêu rụi các đồng cỏ, biến chúng ra sa mạc.
JOE 2:1 Hãy thổi kèn trong Giê-ru-sa-lem; báo động trên núi thánh ta. Dân chúng sống trong xứ nên run sợ, vì ngày xét xử của CHÚA sắp đến; ngày ấy gần kề rồi.
JOE 2:2 Đó là một ngày u ám, ảm đạm, mây mù che phủ và tối đen. Giống như ánh sáng ban mai, một đạo quân đông đảo sẽ trải dài trên các núi. Từ trước đến nay chưa từng có như vậy, và sau nầy cũng sẽ không bao giờ có nữa.
JOE 2:3 Trước mặt họ là đám lửa thiêu đốt; sau lưng họ là ngọn lửa cháy bừng. Vùng đất trước mặt họ như vườn Ê-đen; Còn vùng đất sau lưng họ như sa mạc hoang vu. Không ai thoát khỏi được.
JOE 2:4 Chúng giống như ngựa, phi như ngựa chiến đấu.
JOE 2:5 Giống như tiếng ồn ào của quân xa vang rền trên đỉnh núi, giống như tiếng cháy phừng phừng của lửa thiêu đốt cọng rạ khô. Chúng giống như một đạo quân hùng mạnh sẵn sàng ra trận.
JOE 2:6 Khi thấy chúng, các dân tộc sẽ run sợ, mặt ai nấy đều tái xanh.
JOE 2:7 Chúng lao đến như lính chiến; chúng trèo qua tường như chiến sĩ. Chúng tiến thẳng tới không hề lệch hướng.
JOE 2:8 Chúng không hề đâm vào nhau, vì ai cũng đi thẳng hướng. Chúng phá đổ những chướng ngại vật và cứ thế mà tiến tới.
JOE 2:9 Chúng xông vào thành phố. Chúng chạy đến vách và trèo vào nhà, leo qua cửa sổ như kẻ trộm.
JOE 2:10 Đất và trời rung chuyển trước mặt chúng. Mặt trời và mặt trăng tối sầm lại, các ngôi sao không còn chiếu sáng nữa.
JOE 2:11 CHÚA hô lệnh cho đạo quân Ngài. Đạo quân Ngài rất đông đảo! Những kẻ vâng phục Ngài rất mạnh! Ngày phán xử của CHÚA là ngày kinh khiếp và rùng rợn. Không ai đứng nổi trong ngày ấy!
JOE 2:12 CHÚA phán, “Bây giờ, hãy hết lòng trở lại cùng ta. Hãy cữ ăn, khóc lóc và buồn thảm.
JOE 2:13 Đừng xé quần áo các ngươi mà hãy xé lòng các ngươi. Hãy trở lại cùng CHÚA là Thượng-Đế ngươi, vì Ngài rất nhân từ, đầy lòng thương xót. Ngài nén giận và có tình yêu lớn. Ngài có thể đổi ý về việc trừng phạt.
JOE 2:14 Biết đâu Ngài sẽ trở lại cùng các ngươi và ban phúc lành cho các ngươi? Của lễ chay và của lễ uống thuộc về CHÚA là Thượng-Đế các ngươi.
JOE 2:15 Hãy thổi kèn trong Giê-ru-sa-lem; công bố ngày cữ ăn. Hãy bảo mọi người tạm nghỉ việc.
JOE 2:16 Hãy nhóm họp mọi người lại và khiến buổi họp nên thánh cho CHÚA. Hãy triệu tập các bô lão lại, cùng với các con trẻ, luôn cả các hài nhi còn đang bú vú mẹ. Chàng rể cũng hãy từ phòng mình bước đến, cô dâu cũng hãy từ phòng ngủ mình đi ra.
JOE 2:17 Các thầy tế lễ, tôi tớ của CHÚA, hãy than khóc giữa bàn thờ và vòm cửa vào đền thờ. Hãy để họ nói, ‘Lạy CHÚA, xin thương xót con dân Ngài. Đừng để họ bị sỉ nhục; đừng để các dân khác chế giễu họ. Xin chớ để các dân khác hỏi, Thượng-Đế họ đâu?’”
JOE 2:18 Rồi sau đó CHÚA lo lắng cho xứ Ngài và tội nghiệp cho dân sự Ngài.
JOE 2:19 Ngài bảo họ: “Ta sẽ mang đến cho các ngươi ngũ cốc, rượu mới, và dầu ô-liu, để các ngươi có thừa thãi. Ta sẽ không làm cho các ngươi bị sỉ nhục giữa các dân nữa.
JOE 2:20 Ta sẽ khiến đạo quân từ phương Bắc ra khỏi xứ ngươi và đi vào một vùng đất khô khan, hoang vắng. Các binh sĩ đi hàng đầu của chúng sẽ bị xô xuống Hồng hải. Còn những quân đi phía sau, sẽ rơi xuống Địa-trung-hải. Thây của chúng sẽ mục nát và hôi thối. CHÚA hẳn đã làm một điều kỳ diệu!
JOE 2:21 Hỡi đất, đừng sợ; hãy vui mừng hớn hở, vì CHÚA đã làm một điều kỳ diệu.
JOE 2:22 Hỡi muông thú, đừng kinh hãi, vì đồng cỏ đã mọc lại. Cây cối đã ra trái; cây vả và dây nho đã sai trái.
JOE 2:23 Hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy vui mừng; hãy hớn hở trong CHÚA là Thượng-Đế các ngươi. Vì Ngài luôn luôn làm điều phải, Ngài đã ban mưa xuống cho các ngươi; Ngài đã sai mưa thu và mưa xuân đến cho các ngươi, như trước kia.
JOE 2:24 Và các sân đập lúa sẽ đầy ngũ cốc trở lại; các thùng sẽ đầy tràn rượu mới và dầu ô-liu.
JOE 2:25 Dù ta sai một đạo quân đông đảo đến với các ngươi, tức bầy cào cào và rầy, châu chấu và sâu bọ, ta sẽ đền bù những năm khốn khó cho các ngươi.
JOE 2:26 Rồi các ngươi sẽ dư thừa thức ăn. Các ngươi sẽ ca ngợi danh CHÚA là Thượng-Đế ngươi, Đấng đã làm nhiều phép lạ cho ngươi. Dân ta sẽ không còn bị hổ nhục nữa.
JOE 2:27 Rồi các ngươi sẽ biết ta ở giữa dân Ít-ra-en, rằng ta là CHÚA, Thượng-Đế ngươi, không có Thượng-Đế nào khác. Dân ta sẽ không còn bị hổ nhục nữa.
JOE 2:28 Sau đó, ta sẽ đổ Thần-linh ta trên mọi người. Các con trai con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, người già sẽ thấy chiêm bao, còn người trẻ sẽ thấy dị tượng.
JOE 2:29 Lúc đó ta sẽ đổ Thần-linh ta trên tôi trai tớ gái các ngươi.
JOE 2:30 Ta sẽ làm phép lạ trên trời và dưới đất: tức là máu, lửa, và khói đen.
JOE 2:31 Mặt trời sẽ tối sầm lại, mặt trăng sẽ đỏ như máu, trước khi ngày kinh khiếp và hãi hùng của CHÚA đến.
JOE 2:32 Rồi ai kêu cầu danh CHÚA thì sẽ được cứu, vì trên núi Xi-ôn và trong Giê-ru-sa-lem sẽ có người được cứu, như CHÚA đã phán. Những kẻ còn sống sót sau ngày đoán phạt là những người đã được CHÚA gọi.”
JOE 3:1 “Trong những ngày và thời kỳ đó, lúc ta làm mới lại mọi vật cho Giu-đa và Ít-ra-en,
JOE 3:2 ta sẽ gom các dân lại và mang chúng xuống thung lũng, nơi CHÚA sẽ xét xử. Ở đó ta sẽ xét xử chúng, vì chúng đã phân tán dân Ít-ra-en ta, bắt họ sống lưu vong ở các xứ khác. Chúng phân chia xứ của ta ra
JOE 3:3 và bắt thăm dân ta. Chúng dùng con trai đổi lấy điếm đĩ, và bán con gái để mua rượu uống.
JOE 3:4 Hỡi Tia, Xi-đôn và các miền trong Phi-li-tin! Các ngươi có điều gì nghịch ta? Có phải các ngươi trừng phạt ta về điều ta làm? Nếu các ngươi nghĩ rằng các ngươi đang trừng phạt ta thì chính ta sẽ nhanh chóng trừng phạt các ngươi.
JOE 3:5 Các ngươi lấy bạc vàng, và để những của báu ta trong đền thờ các ngươi.
JOE 3:6 Các ngươi bán dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem cho người Hi-lạp để đày họ đi ra khỏi xứ.
JOE 3:7 Các ngươi đày dân ta đến nơi thật xa, nhưng ta sẽ kiếm và mang họ trở về, rồi ta sẽ báo trả các ngươi về điều các ngươi đã làm cho họ.
JOE 3:8 Ta sẽ đày con trai con gái các ngươi sang dân Giu-đa để họ bán chúng nó cho dân Sa-ban ở xa.” CHÚA phán vậy.
JOE 3:9 “Hãy rao tin nầy giữa các dân: Hãy chuẩn bị chiến tranh! Hãy đánh thức quân sĩ! Những chiến sĩ hãy đến gần và tấn công.
JOE 3:10 Hãy lấy lưỡi cày làm gươm, và lấy lưỡi dao tỉa cây làm giáo. Dù cho người yếu cũng hãy nói, ‘Ta là chiến sĩ.’
JOE 3:11 Hỡi các dân, hãy nhanh lên, đến tụ tập nơi đó. Lạy Chúa, xin hãy sai các chiến sĩ Ngài đến thu gom các dân.
JOE 3:12 Hỡi các dân, hãy thức dậy, hãy đến tấn công trong thung lũng, nơi CHÚA phán xử. Nơi đó ta sẽ ngồi phán xử muôn dân bốn bề.
JOE 3:13 Hãy vung lưỡi hái lên, vì mùa gặt đã chín. Hãy đến, bước trên chúng, như các ngươi đạp lên trái nho để lấy nước, vì bàn ép rượu đã đầy và các thùng đầy tràn, vì dân nầy quá gian ác!
JOE 3:14 Có vô số người ở trong Thung lũng Quyết Định, vì ngày phán xử của Chúa gần đến trong Thung lũng Quyết Định.
JOE 3:15 Mặt trời và mặt trăng sẽ tối sầm lại, các ngôi sao không chiếu sáng nữa.
JOE 3:16 Từ Giê-ru-sa-lem CHÚA sẽ gầm lên như sư tử; tiếng gầm của Ngài sẽ vang lên từ thành đó, trời đất sẽ rung chuyển. Nhưng CHÚA sẽ là nơi trú ẩn an toàn cho dân Ngài, một chỗ an ninh vững vàng cho dân Ít-ra-en.
JOE 3:17 Rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, CHÚA và Thượng-Đế các ngươi, sống ở núi thánh Xi-ôn. Giê-ru-sa-lem sẽ là nơi thánh, và người ngoại quốc sẽ không bao giờ được bước qua đó nữa.
JOE 3:18 Trong ngày đó rượu sẽ nhỏ từ các núi, sữa sẽ chảy từ các đồi, và nước sẽ chảy qua khắp các hố của Giu-đa. Một ngọn suối sẽ chảy ra từ đền thờ CHÚA, tưới khắp thung lũng cây keo.
JOE 3:19 Nhưng Ai-cập sẽ trở nên hoang vu, còn Ê-đôm sẽ thành sa mạc tiêu điều, vì chúng đã độc ác đối với dân Giu-đa. Chúng giết những người vô tội trong đất chúng.
JOE 3:20 Nhưng sẽ luôn luôn có dân cư sống trong Giu-đa, và từ nay về sau sẽ có người ở Giê-ru-sa-lem.
JOE 3:21 Ai-cập và Ê-đôm đã giết hại dân ta, nên ta chắc chắn trừng phạt chúng nó.” CHÚA ngự ở Giê-ru-sa-lem!
AMO 1:1 Sau đây là lời của A-mốt, một trong những kẻ chăn chiên ở thị trấn Tê-cô-a. Ông nhìn thấy dị tượng về Ít-ra-en hai năm trước cơn động đất khi Ô-xia làm vua Giu-đa và Giê-rô-bô-am, con Giô-ách làm vua Ít-ra-en.
AMO 1:2 A-mốt nói, “CHÚA sẽ gầm lên từ Giê-ru-sa-lem; Ngài sẽ lên tiếng từ Giê-ru-sa-lem. Các đồng cỏ của kẻ chăn chiên sẽ khô héo, đến nỗi đỉnh núi Cạt-mên cũng sẽ khô cằn.”
AMO 1:3 CHÚA phán: “Vì Đa-mách phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt nó. Chúng nó đè bẹp dân Ghi-lê-át bằng ván đạp lúa có răng sắt.
AMO 1:4 Nên ta sẽ sai lửa xuống trên nhà Ha-xa-ên để phá sập các tháp cao của Bên Ha-đát.
AMO 1:5 Ta sẽ tiêu hủy thanh cài cửa của Đa-mách, và tiêu diệt vua ngự trị trong thung lũng A-ven, cũng như lãnh tụ của Bết Ê-đen. Dân A-ram sẽ bị bắt làm tù binh đến xứ Kia,” CHÚA phán vậy.
AMO 1:6 CHÚA phán: “Vì Ga-xa phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Chúng bán toàn dân để làm tôi mọi cho Ê-đôm.
AMO 1:7 Nên ta sẽ sai lửa xuống vách thành Ga-xa để tiêu hủy các toà nhà kiên cố của nó.
AMO 1:8 Ta sẽ tiêu diệt lãnh tụ thành Ách-đốt, cùng thủ lãnh của Ách-kê-lôn. Rồi ta sẽ nghịch lại dân thành Éc-rôn, và người cuối cùng của Phi-li-tin sẽ chết,” CHÚA là Thượng-Đế phán vậy.
AMO 1:9 CHÚA phán: “Vì Tia phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Chúng bán toàn dân để làm tôi mọi cho Ê-đôm, Chúng quên giao ước thân hữu lập với Ít-ra-en.
AMO 1:10 Cho nên ta sẽ sai lửa xuống vách thành Tia để thiêu đốt các toà nhà kiên cố của nó.”
AMO 1:11 CHÚA phán: “Vì Ê-đôm phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Chúng săn lùng thân nhân mình tức người Ít-ra-en bằng gươm, không chút thương xót. Chúng luôn luôn tức giận và trong lòng nóng nảy không thôi.
AMO 1:12 Cho nên ta sẽ sai lửa đến trên thành Thê-man để thiêu rụi các toà nhà kiên cố của Bốt-ra.”
AMO 1:13 CHÚA phán: “Vì Am-môn phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Chúng mổ bụng đàn bà chửa trong Ghi-lê-át, để bành trướng lãnh thổ mình.
AMO 1:14 Cho nên ta sẽ sai lửa xuống vách thành Ráp-ba để thiêu đốt các toà nhà kiên cố của chúng. Điều đó sẽ đến trong ngày chiến trận, trong cơn gió lốc.
AMO 1:15 Rồi vua và các lãnh tụ nó sẽ bị bắt làm tù binh; tất cả đều sẽ bị lưu đày,” CHÚA phán vậy.
AMO 2:1 CHÚA phán: “Vì Mô-áp phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Nó thiêu xương cốt của vua Ê-đôm thành vôi.
AMO 2:2 Cho nên ta sẽ sai lửa xuống trên Mô-áp, thiêu đốt các toà nhà kiên cố của thành Kê-ri-ốt. Dân Mô-áp sẽ chết, giữa những tiếng reo hò trong chiến trận và tiếng kèn thổi vang.
AMO 2:3 Ta sẽ kết liễu cuộc đời của các vua Mô-áp, và sẽ giết tất cả các lãnh tụ thành phố cùng với nó,” CHÚA phán vậy.
AMO 2:4 CHÚA phán: “Vì Giu-đa phạm nhiều tội, nên ta chắc chắn sẽ trừng phạt chúng. Chúng ném bỏ lời dạy của CHÚA, không thèm giữ mệnh lệnh Ngài; chúng đi theo các thần giả mà tổ tiên chúng đã theo.
AMO 2:5 Cho nên ta sẽ sai lửa xuống trên Giu-đa, thiêu đốt các toà nhà kiên cố của Giê-ru-sa-lem.”
AMO 2:6 CHÚA phán như sau: “Vì Ít-ra-en phạm nhiều tội, nên ta sẽ trừng phạt chúng. Vì bạc mà chúng bán dân vô tội; chúng bán kẻ nghèo để lấy tiền mua đôi dép.
AMO 2:7 Chúng chà đạp kẻ nghèo như dẫm lên đất, chúng không đối xử công bằng với kẻ cùng khổ. Cả cha và con ăn nằm cùng một người đàn bà, làm nhơ nhuốc danh thánh ta.
AMO 2:8 Trong khi chúng thờ lạy nơi bàn thờ, chúng nằm trên áo quần cướp giật từ kẻ nghèo. Chúng cho người nghèo vay tiền, rồi lấy áo quần của họ để cầm thế. Chúng bắt họ nộp tiền phạt rồi dùng nó mua rượu để say sưa trong đền thờ của thần chúng.
AMO 2:9 Nhưng chính ta là Đấng đã hủy diệt người A-mô-rít trước mặt chúng, là những kẻ cao như cây hương nam, và mạnh như cây sồi. Nhưng ta sẽ diệt trái ở trên và rễ ở dưới. Ta tuyệt diệt chúng.
AMO 2:10 Chính ta là Đấng mang các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập và dẫn dắt các ngươi suốt bốn mươi năm trong sa mạc để cấp cho các ngươi đất của dân A-mô-rít.
AMO 2:11 Ta đã biến một số con cái các ngươi làm nhà tiên tri, một số trai tráng trong các ngươi làm người Na-xi-rê. Hỡi dân Ít-ra-en, có phải đúng vậy không? CHÚA phán vậy.
AMO 2:12 Nhưng các ngươi bắt người Na-xi-rê uống rượu và bảo các nhà tiên tri đừng nói tiên tri nữa.
AMO 2:13 Bây giờ ta sẽ làm cho các ngươi mắc kẹt như xe chở đầy ngũ cốc lún bùn.
AMO 2:14 Không ai thoát, kể cả kẻ chạy nhanh nhất cũng vậy. Người mạnh cũng chưa đủ mạnh; Các chiến sĩ cũng không thể tự cứu.
AMO 2:15 Các chiến sĩ mang cung tên cũng không đứng dậy nổi để chiến đấu, kẻ chạy nhanh nhất cũng không thoát được; các lính cỡi ngựa cũng không thoát chết.
AMO 2:16 Lúc đó dù cho chiến sĩ gan dạ nhất cũng chạy trốn, quăng lại áo giáp,” CHÚA phán vậy.
AMO 3:1 Hỡi dân Ít-ra-en hãy nghe lời CHÚA phán nghịch cùng các ngươi, nghịch lại cùng toàn thể gia đình Ngài đã mang ra khỏi Ai-cập.
AMO 3:2 “Ta đã chọn một mình ngươi từ các gia đình trên đất, cho nên ta sẽ trừng phạt ngươi vì tội lỗi ngươi.”
AMO 3:3 Hai người không thể đi chung nhau được nếu không đồng ý với nhau.
AMO 3:4 Sư tử trong rừng không gầm thét trừ khi nó bắt được mồi; nó không gầm gừ trong hang nếu nó không bắt được gì.
AMO 3:5 Chim không sa vào bẫy nếu không có mồi nhử nó; bẫy cũng không sập nếu không có gì để bắt.
AMO 3:6 Khi kèn thổi báo động trong thành, dân chúng run sợ. Khi tai họa đến cùng một thành nào, là do CHÚA khiến.
AMO 3:7 Trước khi CHÚA làm điều gì, Ngài cũng cho các tôi tớ Ngài, là các nhà tiên tri biết chương trình của Ngài.
AMO 3:8 Sư tử đã gầm thét! Ai mà không sợ? CHÚA đã phán, Ai mà không nói tiên tri?
AMO 3:9 Hãy loan báo điều nầy cho các toà nhà kiên cố của Ách-đốt, cho các dinh thự vững chắc của Ai-cập: “Hãy đến núi Xa-ma-ri, nơi ngươi sẽ thấy cảnh hỗn loạn, và cảnh người ta hại nhau.”
AMO 3:10 “Dân chúng không biết làm điều phải,” CHÚA phán vậy. “Những toà nhà kiên cố của chúng đầy dẫy của cướp đoạt của kẻ khác.”
AMO 3:11 Nên CHÚA phán như sau: “Một kẻ thù sẽ chiếm đất và kéo sập đồn lũy ngươi; nó sẽ cướp của báu từ các toà nhà kiên cố ngươi.”
AMO 3:12 CHÚA phán như sau: “Người chăn chiên chỉ giật lại được khỏi hàm sư tử hai cái xương chân và một mảnh lỗ tai của chiên mình. Cũng vậy, chỉ có một số rất ít dân Ít-ra-en ở Xa-ma-ri được giải cứu, tức những người hiện ngồi trên giường và trên ghế dài.”
AMO 3:13 CHÚA là Thượng-Đế, Đấng Toàn Năng phán, “Hãy lắng nghe và làm nhân chứng nghịch cùng gia đình Gia-cốp.”
AMO 3:14 “Khi ta trừng phạt tội lỗi Ít-ra-en, ta cũng sẽ tiêu hủy bàn thờ ở Bê-tên. Các góc bàn thờ sẽ bị cắt xén, Chúng sẽ rơi xuống đất.
AMO 3:15 Ta sẽ phá sập nhà nghỉ mùa đông, cùng nhà nghỉ mùa hè. Các nhà cửa trang hoàng bằng ngà voi sẽ bị tiêu hủy, và các nhà cửa rộng lớn sẽ không còn,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:1 Hỡi các bò cái Ba-san trên núi Xa-ma-ri hãy nghe lời nầy. Các ngươi cướp đoạt của người nghèo và chà đạp kẻ khốn cùng. Rồi ngươi bảo chồng mình, “Mang cái gì đến cho tôi uống!”
AMO 4:2 CHÚA hứa như sau: “Thật như ta hằng sống, sẽ đến lúc ngươi sẽ bị móc kéo đi, và những gì còn lại của ngươi sẽ bị mang đi bằng lưỡi câu.
AMO 4:3 Ngươi sẽ đi thẳng ra ngoài thành qua các lỗ hổng trong tường, rồi ngươi sẽ bị ném vào đống xác chết,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:4 Hãy đến thành Bê-tên mà phạm tội; hãy kéo nhau đến Ghinh-ganh mà phạm tội thêm nữa. Hãy dâng sinh tế ngươi mỗi sáng, và cứ mỗi ba ngày lại mang đến phần mười mùa màng của ngươi.
AMO 4:5 Hãy dâng bánh mì có men làm của lễ cảm tạ, và khoe khoang về của lễ tự nguyện mình mang đến. Vì hỡi Ít-ra-en, đó là điều ngươi thích làm, CHÚA là Thượng-Đế phán vậy.
AMO 4:6 “Ta mang đói kém đến trong các thành ngươi, và các thị trấn ngươi không đủ ăn, nhưng ngươi không trở lại cùng ta,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:7 “Ta ngăn không cho mưa xuống ba tháng trước mùa gặt. Rồi ta cho mưa xuống thành nầy, còn thành khác thì khô ráo. Mưa xuống ruộng nầy, còn ruộng kia thì bị khô héo cằn cỗi.
AMO 4:8 Dân chúng kiệt quệ vì khát nước, đi từ thành nầy sang thành khác tìm nước, nhưng không tìm đủ nước uống. Thế mà các ngươi cũng vẫn không trở lại cùng ta,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:9 “Ta khiến cho ngươi thất mùa vì sâu và meo mốc. Khi ruộng nương và vườn nho ngươi phát triển, thì cào cào cắn phá cây vả và cây ô-liu ngươi. Vậy mà ngươi vẫn không trở về cùng ta,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:10 “Ta sai đại nạn đến cho ngươi như ta đã làm ở Ai-cập. Ta dùng gươm giết các kẻ trai trẻ ngươi, và cướp ngựa khỏi tay ngươi. Ta khiến cho xứ ngươi hôi thối vì xác chết. Nhưng ngươi vẫn không trở lại cùng ta,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:11 “Ta tiêu diệt một số các ngươi, như tiêu diệt Xô-đôm và Gô-mô-rơ. Ngươi như que củi đang cháy được rút ra khỏi lửa, Nhưng ngươi cũng không chịu trở về cùng ta,” CHÚA phán vậy.
AMO 4:12 “Cho nên, hỡi Ít-ra-en, đây là điều ta chắc chắn sẽ làm cho ngươi: nên hỡi Ít-ra-en, hãy chuẩn bị mà gặp Thượng-Đế ngươi.”
AMO 4:13 Ngài là Đấng tạo ra núi, làm ra gió, và bày tỏ ý tưởng Ngài cho người ta biết. Ngài biến bình minh ra bóng tối, bước đi trên các núi non của đất. Danh Ngài là Thượng-Đế Toàn-Năng.
AMO 5:1 Hỡi Ít-ra-en hãy nghe bài ai ca ta hát về ngươi.
AMO 5:2 “Trinh nữ Ít-ra-en đã ngã xuống, sẽ không ngồi dậy nữa. Nó còn lại trong xứ một mình, không ai đỡ dậy.”
AMO 5:3 CHÚA phán như sau: “Một ngàn người rời khỏi thành, nhưng chỉ có một trăm người trở về.”
AMO 5:4 Sau đây là lời CHÚA phán về dân Ít-ra-en: “Hãy trở lại cùng ta để được sống,
AMO 5:5 Đừng nhìn về Bê-tên, hay đi đến Ghinh-ganh, cũng đừng xuống Bê-e-sê-ba. Dân Ghinh-ganh sẽ bị bắt làm tù binh, Bê-tên sẽ không còn gì.”
AMO 5:6 Hãy đến cùng CHÚA để được sống, nếu không Ngài sẽ ra tay như lửa ào đến nhà Giô-xép. Lửa sẽ thiêu đốt Bê-tên, không ai dập tắt.
AMO 5:7 Ngươi làm đảo lộn công lý, và ném lẽ phải xuống đất.
AMO 5:8 Thượng-Đế là Đấng tạo nên các chòm sao, Sao Cày và Sao Rua; Ngài biến đêm tối ra bình minh tươi sáng, và biến ngày ra đêm tối. Ngài gọi nước biển đến xối trên đất. Danh Ngài là CHÚA.
AMO 5:9 Ngài giữ gìn thành lớn nầy, Ngài để cho thành lớn kia bị tiêu diệt. Ngươi đổi điều thiện ra thuốc độc. Ngươi diệt công lý, ném nó xuống đất.
AMO 5:10 Ngươi ghét những kẻ làm chứng trước toà nghịch lại điều ác, Ngươi không chịu nổi kẻ nói sự thật.
AMO 5:11 Ngươi chà đạp kẻ nghèo, bắt họ trao thóc gạo cho ngươi. Ngươi xây nhà sang trọng bằng đá đẽo, nhưng sẽ không được ở trong đó. Ngươi trồng nhiều vườn nho xinh tốt, nhưng sẽ không được uống rượu từ chúng.
AMO 5:12 Ngươi biết những tội ác mình, những tội lỗi ghê gớm của mình. Ngươi làm hại người làm lành, và nhận tiền hối lộ để làm bậy, Ngươi ngăn không cho kẻ nghèo có được công lý.
AMO 5:13 Trong khi đó kẻ khôn ngoan im lặng, vì không phải lúc để nói.
AMO 5:14 Hãy làm lành, tránh ác để được sống, thì CHÚA Toàn Năng sẽ ở cùng ngươi, như ngươi nói.
AMO 5:15 Hãy ghét điều ác, mến điều thiện; hãy tỏ ra công bằng trước toà án. Nguyện CHÚA là Thượng-Đế Toàn-Năng tỏ lòng nhân từ cùng dân cư còn sống sót của Giô-xép.
AMO 5:16 Sau đây là lời CHÚA, Thượng-Đế Toàn Năng phán: “Người ta sẽ kêu khóc trong đường phố; họ sẽ kêu lên nơi công cộng, ‘Ôi, còn nữa sao!’ Họ sẽ gọi các nông gia đến mà than khóc, và thuê những kẻ khóc mướn.
AMO 5:17 Dân chúng sẽ than khóc về vườn nho, vì ta sẽ đi qua giữa các ngươi để trừng phạt các ngươi,” CHÚA phán vậy.
AMO 5:18 Khốn cho các ngươi là kẻ mong ngày phán xử của CHÚA đến. Sao các ngươi mong ngày ấy đến làm gì? Nó sẽ mang bóng tối đến, không phải ánh sáng đâu.
AMO 5:19 Ngày đó sẽ giống như kẻ chạy trốn khỏi sư tử nhưng lại đụng đầu với gấu, hay kẻ đi vào nhà đặt tay lên vách nhưng bị rắn cắn.
AMO 5:20 Nên ngày phán xử của CHÚA sẽ mang bóng tối đến, không phải ánh sáng; bóng tối mịt, không có chút sáng nào.
AMO 5:21 CHÚA phán, “Ta rất ghét ngày lễ của các ngươi; ta không chịu nổi các buổi họp đạo của các ngươi.
AMO 5:22 Khi các ngươi dâng của lễ thiêu hay của lễ chay cho ta, ta không chấp nhận. Ngươi mang đến của lễ thân hữu bằng gia súc mập béo nhất nhưng ta không đếm xỉa tới.
AMO 5:23 Hãy dẹp các bài hát ồn ào của các ngươi khỏi ta đi! Ta không muốn nghe tiếng đờn cầm của ngươi nữa.
AMO 5:24 Hãy để công lý chảy cuồn cuộn như sông, hãy làm cho lòng nhân từ chảy như suối không ngưng.
AMO 5:25 Hỡi Ít-ra-en, các ngươi đâu có dâng sinh tế và của lễ cho ta khi ngươi lang thang trong sa mạc suốt bốn mươi năm.
AMO 5:26 Mà ngươi mang theo mình vua của các ngươi, thần Xa-cúc, và thần Cai-quan, cùng các thần tinh tú mà ngươi đã làm.
AMO 5:27 Cho nên ta sẽ khiến các ngươi bị bắt làm tù binh, và bị lưu đày đến mãi tận Đa-mách,” CHÚA phán vậy. Danh Ngài là Thượng-Đế Toàn-Năng.
AMO 6:1 Khốn cho những kẻ sống an cư trong Giê-ru-sa-lem, những kẻ cảm thấy bình yên trên núi Xa-ma-ri. Ngươi nghĩ mình là kẻ có chức trọng quyền cao của quốc gia hùng cường nhất trên thế giới; Dân Ít-ra-en đến cầu cạnh ngươi giúp đỡ,
AMO 6:2 Hãy đi nhìn thành Canh-nê, từ đó đi đến thành lớn Ha-mát; rồi đi xuống Gát của dân Phi-li-tin. Ngươi không khá hơn các nước đó đâu. Xứ ngươi cũng chẳng lớn hơn xứ chúng.
AMO 6:3 Ngươi trì hoãn ngày trừng phạt, nhưng rút ngắn lại cái ngày mà ngươi có thể làm hại kẻ khác.
AMO 6:4 Ngươi nằm trên giường cẩn ngà voi và duỗi người trên ghế dài mình. Ngươi ăn thịt chiên con mềm, và gia súc mập béo.
AMO 6:5 Ngươi sáng tác bài ca cho đờn cầm, và sử dụng nhạc khí như Đa-vít làm.
AMO 6:6 Ngươi uống rượu như hũ chìm, và dùng nước hoa thượng hạng. Nhưng ngươi không than khóc về cảnh điêu tàn của Ít-ra-en,
AMO 6:7 nên ngươi sẽ là những kẻ đầu tiên bị bắt làm tù binh. Các ngươi đang nằm duỗi dài trên ghế, nhưng thời kỳ thoải mái ấy của ngươi sẽ chấm dứt.
AMO 6:8 CHÚA là Thượng-Đế đã hứa điều đó, CHÚA Toàn Năng phán: “Ta ghét lòng kiêu căng của Ít-ra-en, ta ghê tởm những toà nhà kiên cố của chúng, nên ta sẽ để cho kẻ thù chiếm lấy thành và cướp bóc mọi thứ trong đó.
AMO 6:9 Lúc đó chỉ sẽ còn có mười người sống sót trong một nhà, nhưng rồi cũng chết.
AMO 6:10 Khi thân nhân đến lấy xác mang ra ngoài, người nầy sẽ gọi hỏi người kia, ‘Anh còn có xác chết nào nữa không?’ Người kia sẽ đáp, ‘Không …’ Rồi kẻ hỏi sẽ bảo, ‘Suỵt! Chúng ta không được nói đến danh CHÚA.’”
AMO 6:11 CHÚA truyền lệnh nầy; nhà cửa to lớn sẽ bị đổ nát, còn nhà nhỏ cũng tan tành.
AMO 6:12 Ngựa không phi trên tảng đá, cũng không ai dùng bò cày đá cục. Nhưng ngươi đã biến công bình ra thuốc độc; biến lẽ phải ra mật đắng.
AMO 6:13 Ngươi mừng rỡ vì thành Lô Đê-ba bị chiếm, và ngươi bảo, “Chúng ta đã lấy sức mình chiếm thành Cạc-na-im.”
AMO 6:14 CHÚA Toàn-Năng phán, “Hỡi Ít-ra-en, ta sẽ mang đến một dân nghịch ngươi để tạo khổ sở cho dân ngươi từ Lê-bô Ha-Mát, ở miền Bắc cho đến thung lũng của Biển Chết ở miền Nam.”
AMO 7:1 CHÚA là Thượng-Đế cho ta thấy việc sau đây: Ngài tạo ra một bầy cào cào, sau khi vua đã thu phần mùa màng đầu tiên của mình và mùa màng thứ hai bắt đầu mọc.
AMO 7:2 Khi cào cào ăn hết mùa màng trong xứ, tôi thưa, “CHÚA ôi, xin tha tội cho chúng tôi. Làm sao dân Ít-ra-en sống nổi qua cảnh nầy được? Dân đó đã quá nhỏ bé rồi!”
AMO 7:3 Nên CHÚA đổi ý về việc nầy. CHÚA phán, “Chuyện đó sẽ không xảy ra.”
AMO 7:4 CHÚA cho ta thấy việc nầy: Ngài gọi lửa từ trời xuống như mưa, thiêu đốt nước sâu và sắp sửa thiêu đốt đất.
AMO 7:5 Tôi vội vàng kêu lên, “Xin ngưng tay, CHÚA ôi! Làm sao Ít-ra-en sống qua cảnh nầy được? Dân nó đã quá nhỏ bé rồi.”
AMO 7:6 Nên CHÚA đổi ý về việc nầy. CHÚA phán, “Chuyện đó sẽ không xảy ra.”
AMO 7:7 CHÚA cho ta thấy việc nầy: Ngài đứng bên cạnh một bức tường thẳng đứng, trong tay cầm dây thước thợ.
AMO 7:8 CHÚA hỏi, “A-mốt, ngươi thấy gì?” Tôi đáp, “Một dây thước thợ.” CHÚA liền bảo, “Thấy không, ta sẽ dùng dây thước thợ trong dân Ít-ra-en để cho thấy chúng cong vẹo như thế nào. Ta sẽ không thể nào làm ngơ được nữa.
AMO 7:9 Những nơi con cháu Y-sác thờ lạy sẽ bị hủy diệt, các nơi thánh của Ít-ra-en sẽ bị phá hủy, ta sẽ dùng gươm tấn công gia đình Giê-rô-bô-am.”
AMO 7:10 A-ma-xia, thầy tế lễ ở Bê-tên, trình với Giê-rô-bô-am, vua Ít-ra-en như sau: “A-mốt đang lập mưu ác nghịch vua và dân Ít-ra-en. Ông ta nói quá nhiều đến nỗi đất nầy không chịu nổi nữa.
AMO 7:11 A-mốt nói như sau: ‘Giê-rô-bô-am sẽ chết vì lưỡi gươm, còn dân Ít-ra-en sẽ bị bắt làm tù-binh, bị đày ra khỏi xứ mình.’”
AMO 7:12 Rồi A-ma-xia bảo A-mốt, “Ê nhà tiên kiến, hãy trở về Giu-đa ngay. Về đó mà nói tiên tri và kiếm ăn đi,
AMO 7:13 nhưng đừng nói tiên tri ở Bê-tên đây nữa. Chỗ nầy là nơi thánh của vua, nơi có đền thờ quốc gia.”
AMO 7:14 A-mốt trả lời với A-ma-xia, “Tôi không kiếm ăn bằng nghề nói tiên tri cũng chẳng thuộc vào nhóm các nhà tiên tri. Tôi sinh sống bằng nghề chăn chiên, và chăm sóc các cây sung.
AMO 7:15 Nhưng CHÚA rút tôi ra khỏi nghề chăn chiên và bảo tôi, ‘Hãy đi nói tiên tri cùng dân Ít-ra-en ta.’
AMO 7:16 Cho nên hãy nghe lời CHÚA phán. Ngươi bảo ta, ‘Đừng nói tiên tri nghịch cùng Ít-ra-en, hãy thôi nói tiên tri nghịch cùng con cháu Y-sác.’
AMO 7:17 Vì ngươi đã nói vậy nên CHÚA phán: ‘Vợ ngươi sẽ làm điếm trong thành, con trai con gái ngươi sẽ bị gươm giết. Người khác sẽ đo ruộng đất ngươi và chia chác với nhau; còn ngươi sẽ bỏ xác nơi xứ người. Dân Ít-ra-en chắc chắn sẽ bị bắt làm tù binh và bị lưu đày ra khỏi quê hương mình.’”
AMO 8:1 CHÚA cho tôi thấy việc sau: Một giỏ đựng trái cây mùa hè.
AMO 8:2 Ngài hỏi, “A-mốt, ngươi thấy gì?” Tôi thưa, “Một cái giỏ đựng trái cây mùa hè.” Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Dân Ít-ra-en ta đã đến hồi diệt vong, vì ta không thể nào làm ngơ trước tội lỗi chúng nó được nữa.
AMO 8:3 Trong ngày đó, những bài ca trong đền đài sẽ biến thành nhạc đưa ma,” CHÚA phán vậy. “Người ta lặng lẽ mang xác chết chất thành đống.”
AMO 8:4 Hãy nghe đây, hỡi các ngươi là kẻ dẫm lên người khốn cùng kẻ tìm cách tiêu diệt người nghèo khó, rồi bảo rằng,
AMO 8:5 “Chừng nào thì lễ Trăng Mới chấm dứt để ta có thể bán thóc lúa? Chúng ta có thể tính thêm tiền mà giao hàng ít lại, chúng ta sẽ thay đổi cân để lường gạt người khác.
AMO 8:6 Chúng ta sẽ lấy bạc mua người nghèo, và trả giá kẻ khốn cùng bằng một đôi dép. Thậm chí chúng ta cũng có thể bán lúa mì đã bị quét khỏi sàng.”
AMO 8:7 CHÚA đã lấy danh Ngài là niềm kiêu hãnh của Gia-cốp mà thề, “Ta không bao giờ quên điều dân nầy làm.
AMO 8:8 Cả xứ sẽ rúng động vì chuyện đó, và ai sống trong xứ sẽ than khóc kẻ quá cố. Cả xứ sẽ dâng lên như sông Nin; Nó sẽ bị rúng động và sẽ sụp xuống như sông Nin của Ai-cập.”
AMO 8:9 CHÚA phán, “Lúc ấy ta sẽ khiến mặt trời lặn lúc giữa trưa và trời đất sẽ tối tăm giữa ban ngày sáng chói.
AMO 8:10 Ta sẽ biến các ngày lễ lộc của các ngươi thành ra ngày than khóc, các bài hát ngươi thành bài ai ca. Ta sẽ khiến các ngươi mặc vải sô; Làm cho ngươi phải cạo đầu. Ta sẽ khiến nó phải than khóc như mất đứa con một, và ngày tận số của nó sẽ vô cùng khủng khiếp.”
AMO 8:11 CHÚA phán: “Sẽ có ngày ta tạo đói kém trong xứ. Dân chúng sẽ không đói vì bánh cũng không khát vì nước, Nhưng sẽ đói khát lời CHÚA.
AMO 8:12 Chúng sẽ đi lang thang từ Địa-trung-hải cho đến Biển Chết, từ Bắc tới Đông. Chúng sẽ tìm kiếm lời CHÚA nhưng không tìm được.
AMO 8:13 Lúc đó các thiếu nữ và thanh niên xinh đẹp sẽ yếu mòn vì khát.
AMO 8:14 Chúng sẽ hứa nguyện bên thần mình ở Xa-ma-ri rằng, ‘Thật như thần của Đan hằng sống …’ và ‘Thật như thần của Bê-e-sê-ba hằng sống …’ Chúng sẽ té ngã không bao giờ ngồi dậy được.”
AMO 9:1 Tôi thấy CHÚA đứng cạnh bàn thờ. Ngài nói: “Hãy đập bể đầu của các trụ để cho ngạch cửa phải rúng động. Hãy làm cho các trụ rơi trên đầu dân chúng; Ai còn sống sót sẽ bị gươm giết. Không ai trốn được, không ai chạy thoát.
AMO 9:2 Nếu chúng đào sâu đến âm phủ, ta cũng sẽ móc chúng lên. Nếu chúng trèo lên đến tận trời, Ta cũng sẽ lôi chúng xuống.
AMO 9:3 Nếu chúng trốn trên đỉnh núi Cạt-mên, ta cũng tìm ra kéo chúng đi. Nếu chúng trốn tránh mặt ta dưới đáy biển, ta cũng sai rắn cắn chúng nó.
AMO 9:4 Nếu chúng bị kẻ thù bắt làm tù binh và đày đi, ta cũng sẽ sai gươm giết chúng nó. Ta sẽ trông chừng chúng nó, Nhưng trông chừng để mang họa cho chúng chớ không phải mang phúc.”
AMO 9:5 CHÚA là Thượng-Đế chạm đến đất, đất liền rung chuyển. Mọi người sống trong đất than khóc người chết. Cả xứ dâng lên như sông Nin, và sụp xuống như sông Ai-cập.
AMO 9:6 CHÚA xây các phòng cao Ngài trên các từng trời; Ngài đặt móng trên đất. Ngài gọi nước biển để chúng tràn trên đất. Danh Ngài là CHÚA.
AMO 9:7 CHÚA phán, “Hỡi Ít-ra-en, đối với ta ngươi không khác gì dân Cút, Ta mang Ít-ra-en ra khỏi xứ Ai-cập, và dân Phi-li-tin ra khỏi xứ Cơ-rết, người A-ram ra khỏi xứ Kia.
AMO 9:8 Ta, CHÚA là Thượng-Đế, đang trông chừng nước Ít-ra-en đầy tội lỗi. Ta sẽ diệt nó khỏi đất, nhưng ta sẽ không hoàn toàn tiêu diệt dòng dõi Gia-cốp,” CHÚA phán vậy.
AMO 9:9 “Ta đã truyền lệnh nầy để phân tán dân Ít-ra-en ra khắp mặt đất. Giống như người sàng lúa, nhưng chẳng phải hột lúa nhỏ nào cũng lọt qua sàng.
AMO 9:10 Tất cả các kẻ phạm tội trong dân ta sẽ chết vì gươm, đó là những kẻ bảo, ‘Chúng ta sẽ chẳng gặp chuyện không may nào.’”
AMO 9:11 “Lều của Đa-vít đã sập, nhưng trong ngày đó ta sẽ dựng nó lại, và chữa những nơi sụp đổ của nó. Ta sẽ xây lại nơi hư nát của nó, và phục hồi nó lại y như cũ.
AMO 9:12 Rồi Ít-ra-en sẽ chiếm được những gì còn sót lại của Ê-đôm và của các quốc gia khác vốn thuộc về ta,” CHÚA phán vậy. Ngài là Đấng làm thành chuyện ấy.
AMO 9:13 CHÚA phán, “Sẽ đến thời kỳ thức ăn dư dật. Đang lúc gặt hái mà đã cày cấy lại. Đang lúc ép nho mà đã trồng nho lại. Rượu sẽ nhễu ra từ các núi, và chảy ròng ròng từ các đồi.
AMO 9:14 Ta sẽ mang những tù binh Ít-ra-en về; họ sẽ xây lại những thành phố đổ nát, rồi vào cư ngụ trong đó. Họ sẽ trồng vườn nho và uống rượu từ nó; Họ sẽ trồng vườn cây và ăn hoa quả từ nó.
AMO 9:15 Ta sẽ trồng dân ta trên đất, họ sẽ không còn bị bứng đi khỏi đất mà ta ban cho họ nữa,” CHÚA là Thượng-Đế các ngươi phán vậy.
OBA 1:1 Đây là sự hiện thấy của Áp-đia. CHÚA phán về Ê-đôm như sau: “Chúng ta đã nghe lời CHÚA phán. Một sứ giả đã được sai đến các dân và loan báo rằng, ‘Hãy tiến đánh! Hãy tấn công Ê-đôm!’
OBA 1:2 Chẳng bao lâu nữa ta sẽ khiến ngươi trở thành dân nhỏ bé nhất trong các dân. Ngươi sẽ bị mọi người ghét bỏ.
OBA 1:3 Sự kiêu căng ngươi đã phỉnh gạt ngươi, hỡi những kẻ sống trong các bộng đá. Nhà cửa ngươi cất trên cao, Ngươi là kẻ tự nhủ, ‘Không ai có thể lôi ta xuống đất được.’
OBA 1:4 Dù cho ngươi bay cao vút như chim ưng làm tổ ngươi giữa các ngôi sao, Ta cũng sẽ kéo ngươi xuống từ đó,” CHÚA phán vậy.
OBA 1:5 “Ngươi sẽ bị tàn hại! Nếu kẻ trộm đến cùng ngươi, hay kẻ cướp đến ban đêm, chúng cũng chỉ lấy đủ dùng mà thôi. Nếu người làm công đến hái nho trên dây nho ngươi, Họ cũng chừa lại một số.
OBA 1:6 Nhưng hỡi Ê-đôm, ngươi sẽ mất tất cả! Người ta sẽ tìm ra những kho báu của ngươi!
OBA 1:7 Tất cả những ai hiện là bạn hữu ngươi sẽ đuổi ngươi ra khỏi xứ. Những người hiện sống hòa bình với ngươi sẽ lường gạt và đánh bại ngươi. Những ai hiện ăn bánh với ngươi, đang âm mưu đánh bẫy ngươi, mà ngươi không hay biết.”
OBA 1:8 CHÚA phán, “Trong ngày đó ta chắc chắn sẽ tiêu diệt những kẻ khôn ngoan trong Ê-đôm, và những người hiểu biết từ các núi Ê-đôm.
OBA 1:9 Rồi hỡi thành Thê-man, các chiến sĩ anh dũng nhất của ngươi sẽ hoảng sợ, và mọi người từ các núi Ê-đôm sẽ bị giết.
OBA 1:10 Ngươi đã tỏ ra hung bạo đối với thân nhân mình là người Ít-ra-en, cho nên ngươi sẽ bị sự sỉ nhục bao trùm và hủy diệt đời đời.
OBA 1:11 Ngươi đứng một bên nhìn mà không ra tay giúp đỡ khi bọn lạ mặt mang kho báu của dân Ít-ra-en đi. Khi bọn người ngoại quốc vào cổng thành Ít-ra-en và bắt thăm để chia phần trong Giê-ru-sa-lem thì ngươi cũng giống như chúng nó.
OBA 1:12 Hỡi Ê-đôm, chớ cười nhạo anh em Ít-ra-en mình trong khi chúng gặp khốn đốn hay mừng rỡ khi dân Giu-đa bị tiêu diệt. Đừng huênh hoang khi chúng gặp những chuyện chẳng lành.
OBA 1:13 Chớ vào cổng thành của dân ta trong khi chúng gặp nguy khốn hay cười giễu khi chúng lâm cảnh nguy biến. Đừng cướp của cải chúng trong khi chúng lâm cảnh bất hạnh.
OBA 1:14 Chớ đứng nơi ngã tư chực tiêu diệt những ai tìm cách trốn thoát. Đừng bắt sống những ai đang chạy trốn mà giao cho kẻ thù trong khi chúng gặp hiểm nghèo.
OBA 1:15 Ngày Chúa phán xử các dân sắp đến rồi. Điều ác mà các ngươi làm cho người khác sẽ xảy đến cho ngươi; chúng sẽ đổ trên đầu ngươi.
OBA 1:16 Vì ngươi uống rượu trong đền thờ ta, cho nên các dân nhìn theo đó mà uống lấy uống để. Chúng sẽ uống mãi cho đến khi biến mất.
OBA 1:17 Nhưng trên núi Xi-ôn sẽ có một số người sống sót. Họ sẽ là dân ta. Dân cư Gia-cốp sẽ lấy lại cho Xi-ôn những gì đã bị cướp đoạt.
OBA 1:18 Dân cư Gia-cốp sẽ giống như lửa và dân cư Giô-xép sẽ giống như ngọn lửa. Nhưng dân cư Ê-sau sẽ giống như cọng rạ khô. Dân Gia-cốp sẽ châm lửa và thiêu đốt chúng. Trong dân Ê-sau sẽ không còn sót ai.” Việc đó sẽ xảy ra vì CHÚA đã phán vậy.
OBA 1:19 “Rồi những kẻ ở vùng sa mạc Nê-ghép sẽ chiếm lại các núi của Ê-sau. Họ sẽ đoạt lại các ngọn đồi phía Tây khỏi tay quân Phi-li-tin. Họ cũng sẽ lấy lại đất Ép-ra-im và Xa-ma-ri, còn Bên-gia-min sẽ chiếm Ghi-lê-át.
OBA 1:20 Dân Ít-ra-en trước đây bị đuổi khỏi nhà cửa mình, nay sẽ chiếm đất của dân Ca-na-an, chạy dài cho đến Xê-pha-rát. Dân Giu-đa trước kia bị đuổi khỏi Giê-ru-sa-lem và sống lưu vong trong Xê-pha-rát, sẽ lấy lại các thành phố miền Nam Giu-đa.
OBA 1:21 Các chiến sĩ hùng mạnh sẽ tiến lên núi Xi-ôn, nơi họ sẽ cai trị các dân sống trong các núi Ê-đôm. Và nước sẽ thuộc về CHÚA.”
JON 1:1 Lời CHÚA phán với Giô-na, con trai A-mi-tai như sau:
JON 1:2 “Hãy dậy đi xuống thành lớn Ni-ni-ve, thuyết giảng nghịch lại nó, vì ta thấy nhiều điều ác nó làm.”
JON 1:3 Nhưng Giô-na đứng dậy trốn qua Tạt-si để tránh mặt CHÚA. Ông đến Gióp-ba thấy một chiếc thuyền sắp nhổ neo đi Tạt-si. Giô-na trả tiền và lên tàu dự định đi Tạt-si để trốn khỏi mặt CHÚA.
JON 1:4 Nhưng CHÚA khiến một cơn gió mạnh thổi trên biển, gây nên bão tố dữ dội đến nỗi chiếc thuyền sắp tan tành.
JON 1:5 Các thủy thủ hoảng sợ, ai nấy đều cầu cứu thần của mình. Họ bắt đầu ném hàng hoá trên tàu xuống biển để làm nhẹ tàu. Còn Giô-na đi xuống bên dưới hầm thuyền ngủ thiếp đi.
JON 1:6 Viên thuyền trưởng đến đánh thức ông dậy nói, “Sao anh ngủ? Hãy dậy kêu cầu thần của anh đi! May ra thần anh sẽ lo tưởng đến chúng ta để chúng ta khỏi chết!”
JON 1:7 Họ bảo nhau, “Chúng ta hãy bắt thăm xem ai mang tai họa nầy đến cho chúng ta.” Sau khi họ bắt thăm thì thăm trúng Giô-na.
JON 1:8 Họ liền hỏi ông, “Anh hãy cho chúng ta biết, ai mang tai hoạ nầy đến cho chúng ta đây? Anh làm nghề gì? Anh từ đâu đến? Anh người nước nào? Dân tộc anh là ai?”
JON 1:9 Giô-na bảo họ, “Tôi là người Hê-bơ-rơ. Tôi kính sợ CHÚA, Thượng-Đế của các từng trời, Đấng tạo nên biển và đất.”
JON 1:10 Mấy người đó đâm hoảng. Họ hỏi Giô-na, “Vậy anh đã làm điều ác gì?” Họ biết ông đang chạy trốn khỏi CHÚA vì ông đã khai thật với họ.
JON 1:11 Gió và sóng biển mỗi lúc một mãnh liệt thêm cho nên họ hỏi ông, “Vậy chúng ta phải xử trí với anh ra sao để biển yên lặng cho chúng ta?”
JON 1:12 Giô-na bảo họ, “Hãy bắt tôi quăng xuống biển thì biển sẽ yên lặng. Tôi biết lỗi tại tôi mà trận bão nầy xảy đến cho các anh.”
JON 1:13 Thay vì làm theo lời ông bảo, họ tìm cách chèo thuyền vào đất liền nhưng không được vì biển càng ngày càng dữ dội hơn.
JON 1:14 Cho nên họ kêu cầu cùng CHÚA, “CHÚA ơi, xin đừng để chúng tôi phải chết vì mạng sống người nầy; xin đừng buộc tội chúng tôi vì giết oan một người vô tội. Lạy CHÚA, Ngài đã đưa chuyện nầy đến vì đó là ý muốn của Ngài.”
JON 1:15 Rồi họ bắt Giô-na quăng xuống biển, biển lập tức yên lặng.
JON 1:16 Họ bắt đầu kính sợ CHÚA vô cùng; họ dâng sinh tế cho CHÚA và hứa nguyện cùng Ngài.
JON 1:17 CHÚA đã chuẩn bị một con cá lớn nuốt Giô-na. Ông ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.
JON 2:1 Khi đang ở trong bụng cá, Giô-na cầu nguyện cùng CHÚA là Thượng-Đế như sau,
JON 2:2 “Lúc gặp nguy biến, tôi kêu cầu cùng CHÚA, thì Ngài trả lời tôi. Tôi sắp chết nên tôi kêu xin cùng Ngài, Ngài liền nghe tiếng tôi.
JON 2:3 Ngài ném tôi vào biển cả, vào biển sâu thẳm. Nước bao phủ tôi, các lượn sóng dữ dội của Ngài ào ạt trùm qua tôi.
JON 2:4 Tôi thưa, ‘Tôi bị đuổi khỏi trước mặt CHÚA, nhưng tôi vẫn hi vọng lại được nhìn Đền Thánh Ngài.’
JON 2:5 Nước biển ngập lên đến cổ họng tôi. Biển sâu bao trùm tôi; các rong biển quấn trên đầu tôi.
JON 2:6 Tôi đi xuống đáy biển, nơi nền của các núi. Tôi tưởng sẽ bị nhốt trong ngục nầy mãi mãi, nhưng Ngài cứu tôi ra khỏi hố sự chết, lạy CHÚA là Thượng-Đế tôi.
JON 2:7 Khi đời tôi sắp tàn, thì tôi nhớ lại CHÚA. Tôi cầu nguyện cùng Ngài, Ngài nghe tiếng tôi từ Đền Thánh Ngài.
JON 2:8 Những kẻ thờ lạy các thần tượng vô ích quay mặt khỏi Đấng đã tỏ lòng nhân từ đối với họ.
JON 2:9 Nhưng tôi sẽ ca ngợi và cảm tạ Ngài trong khi dâng của lễ cho Ngài. Tôi sẽ giữ trọn lời hứa tôi cùng Ngài. Sự cứu rỗi đến từ CHÚA!”
JON 2:10 Sau đó CHÚA phán cùng con cá, nó liền mửa Giô-na ra trên đất khô.
JON 3:1 Lời CHÚA lại phán cùng Giô-na lần nữa,
JON 3:2 “Hãy dậy đi xuống thành lớn Ni-ni-ve, giảng cho nó như ta đã bảo.”
JON 3:3 Vậy Giô-na vâng lời CHÚA, lên đường đi đến Ni-ni-ve. Thành phố đó rất lớn, phải mất ba ngày mới băng qua hết thành.
JON 3:4 Sau khi Giô-na vào thành và đi được một ngày, ông giảng cho dân chúng như sau, “Bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị tiêu diệt!”
JON 3:5 Dân chúng Ni-ni-ve tin Thượng-Đế. Họ tuyên bố cữ ăn, mặc vải sô để tỏ sự buồn thảm. Tất cả dân trong thành đều làm như thế, từ sang đến hèn.
JON 3:6 Khi vua Ni-ni-ve nghe tin ấy cũng đứng dậy khỏi ngai, cởi áo bào, mặc vải sô và ngồi trong tro để tỏ lòng buồn bực.
JON 3:7 Vua ra chỉ thị nầy cho cả thành Ni-ni-ve: “Đây là lệnh vua và các quần thần: Không ai được nếm món gì, từ người cho đến thú vật. Không ai được ăn uống gì cả.
JON 3:8 Nhưng từ người đến thú vật phải mặc vải sô, kêu xin lớn tiếng cùng Thượng-Đế. Ai nấy phải từ bỏ nếp sống gian ác và làm hại người khác.
JON 3:9 Biết đâu Thượng Đế sẽ đổi ý. Ngài sẽ nguôi giận để chúng ta sẽ khỏi chết.”
JON 3:10 Khi Thượng-Đế thấy điều họ làm, là từ bỏ việc ác, thì Ngài đổi ý không thực hiện điều Ngài đã cảnh cáo và không trừng phạt họ.
JON 4:1 Nhưng Giô-na rất bất bình về điều ấy. Ông tức giận.
JON 4:2 Ông cầu nguyện như sau cùng CHÚA, “Khi còn ở xứ tôi, đây chính là điều tôi đã nói trước cho nên tôi vội trốn sang Ta-rê-si. Tôi biết Ngài là Thượng-Đế nhân từ và thương xót, chậm giận, và có tình yêu lớn. Ngài không muốn gây hại cho ai.
JON 4:3 Cho nên, CHÚA ơi, tôi xin Ngài cất mạng sống tôi đi. Vì tôi thà chết còn hơn sống.”
JON 4:4 CHÚA liền hỏi ông, “Ngươi bất bình có hợp lý không?”
JON 4:5 Giô-na đi ra ngồi ở phía Đông thành phố. Ông dựng một cái chòi cho mình rồi ngồi dưới bóng mát để xem việc gì sẽ xảy ra cho thành phố đó.
JON 4:6 CHÚA là Thượng Đế làm một dây leo phía trên Giô-na, cho ông bóng mát, khiến ông cảm thấy thoải mái. Giô-na rất thích dây leo đó.
JON 4:7 Nhưng sáng hôm sau khi mặt trời mọc lên, Thượng-Đế sai một con sâu đến cắn dây leo ấy nên nó chết héo.
JON 4:8 Khi mặt trời lên cao, Thượng-Đế sai một cơn gió nóng thổi đến và mặt trời dọi nóng trên đầu Giô-na đến nỗi ông mệt lả và mong chết. Ông thưa, “Tôi thà chết còn hơn sống.”
JON 4:9 Nhưng Thượng-Đế hỏi Giô-na, “Ngươi nổi giận vì dây leo đó có hợp lý không?” Giô-na đáp, “Tôi bất bình là phải! Tôi tức giận đến nỗi muốn chết cho rồi!”
JON 4:10 CHÚA bảo, “Ngươi lo cho một dây leo không do ngươi trồng. Hôm trước nó mọc lên, hôm sau đã chết rồi.
JON 4:11 Còn ta lại không lo cho thành lớn Ni-ni-ve trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không biết phải trái, và vô số gia súc hay sao?”
MIC 1:1 Trong đời Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia làm vua Giu-đa, có lời của Thượng-Đế phán cùng Mi-ca, quê ở Mô-rê-sết. Ông thấy các dị tượng sau đây về Xa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem.
MIC 1:2 Hỡi các dân, hãy nghe đây; hỡi đất và các dân sống trên đất, hãy lắng tai. CHÚA là Thượng-Đế sẽ làm chứng nghịch các ngươi, Chúa từ nơi đền thánh Ngài.
MIC 1:3 Kìa! CHÚA đang từ nơi ngự Ngài đi ra; Ngài xuống để bước đi trên các đỉnh núi.
MIC 1:4 Các núi sẽ tan chảy dưới chân Ngài, và các thung lũng sẽ nứt ra, như sáp đặt gần lửa, như nước chảy xuống sườn đồi.
MIC 1:5 Tất cả những điều đó xảy ra vì tội lỗi của Gia-cốp, và tội lỗi của dân Ít-ra-en. Gia-cốp phạm tội nơi nào? Có phải tại Xa-ma-ri không? Giu-đa thờ thần tượng ở đâu? Có phải tại Giê-ru-sa-lem không?
MIC 1:6 “Cho nên ta sẽ biến Xa-ma-ri ra đống đổ nát giữa đồng trống, một nơi để trồng vườn nho. Ta sẽ đổ đá của nó xuống thung lũng và lột trần nó đến tận nền.
MIC 1:7 Tất cả các hình tượng nó sẽ bị đập nát; và các của lễ nó dâng cho thần tượng nó sẽ bị lửa thiêu đốt. Ta sẽ tiêu hủy hết các thần tượng nó, vì Xa-ma-ri đã kiếm tiền bằng cách bất trung đối với ta, nên tiền thù lao đó sẽ bị cướp đi bởi những kẻ bất trung cùng ta.”
MIC 1:8 Tôi sẽ rên rỉ và khóc than vì điều ác nầy, tôi đi chân đất và trần truồng. Tôi sẽ rú lên như chó hoang và rên rỉ như chim cú
MIC 1:9 vì vết thương Xa-ma-ri không thể được chữa lành. Nó sẽ lan đến Giu-đa; tới tận cổng thành của dân tôi, suốt cho đến Giê-ru-sa-lem.
MIC 1:10 Đừng thuật tin ấy trong Gát. Đừng than khóc trong Ạc-cô. Hãy lăn trong bụi đất ở Bết Ốp-ra.
MIC 1:11 Hỡi những kẻ sống trong Sa-phia, hãy đi đi, trần truồng và xấu hổ. Những người sống trong Xa-a-nan sẽ không bước ra. Dân cư Bết Ê-xên sẽ than khóc, nhưng họ sẽ chẳng giúp gì được cho ngươi.
MIC 1:12 Những kẻ sống trong Ma-rốt sẽ nóng lòng chờ tin vui, vì sự khốn khó đến từ CHÚA, tới tận cổng thành Giê-ru-sa-lem.
MIC 1:13 Các ngươi là kẻ sống trong La-kích, hãy thắng ngựa chạy nhanh nhất vào quân xa. Tội lỗi của Xi-ôn từ ngươi mà ra; Thật vậy, người ta tìm thấy tội lỗi của Ít-ra-en trong ngươi.
MIC 1:14 Cho nên ngươi hãy biếu quà từ biệt cho Mô-rê-sết trong Gát. Nhà cửa trong Ạc-xíp chỉ là những nơi yểm trợ giả tạo cho các vua Ít-ra-en.
MIC 1:15 Ta sẽ mang đến những dân chống nghịch ngươi để chiếm đất ngươi, hỡi những dân cư trong Ma-rê-sa. Vinh hiển của Ít-ra-en sẽ đi xuống A-đu-lam.
MIC 1:16 Hãy cạo đầu để chứng tỏ ngươi buồn thảm về con cái yêu dấu của mình. Hãy cạo trọc như chim ưng, vì con cái ngươi sẽ bị bắt đày đến một xứ xa lạ.
MIC 2:1 Khốn cho các ngươi là những kẻ âm mưu ác, những kẻ nằm trên giường suy nghĩ những mưu thâm độc. Khi bình minh đến, thì chúng thi hành chương trình dự định, vì chúng có quyền làm chuyện đó.
MIC 2:2 Chúng tham muốn ruộng nương, nên ra tay chiếm đoạt ruộng; chúng tham muốn nhà cửa, nên chúng sang đoạt nhà cửa. Chúng lường gạt kẻ khác để chiếm nhà họ; chiếm luôn tài sản của họ.
MIC 2:3 Vì thế nên CHÚA phán: “Ta dự định gây khốn khó cho gia đình nầy, các ngươi không thể tự cứu được đâu. Ngươi sẽ không còn bước đi hiên ngang nữa, vì đó là thời kỳ hãi hùng.
MIC 2:4 Lúc đó dân chúng sẽ chế giễu ngươi và hát bài ai ca nầy về ngươi: ‘Chúng ta hoàn toàn bị hủy hoại rồi; CHÚA đã cướp đất của dân ta. Thật vậy, Ngài đã lấy đất khỏi tôi và chia ruộng nương chúng ta cho các kẻ thù chúng ta!’
MIC 2:5 Cho nên các ngươi không còn ai trong hội chúng của CHÚA để bắt thăm chia đất nữa.”
MIC 2:6 Các nhà tiên tri nói, “Xin đừng nói tiên tri cho chúng ta nữa! Đừng nói tiên tri về những chuyện nầy! Không có chuyện xấu xảy đến cho chúng ta đâu!”
MIC 2:7 Nhưng hỡi dân cư Gia-cốp, ta phải bảo điều nầy: “CHÚA nổi giận vì điều các ngươi làm. Lời ta không được người ngay thẳng đón nhận.
MIC 2:8 Nhưng ngươi chống lại dân ta như kẻ thù. Các ngươi giật áo của kẻ qua đường; khiến họ không còn cảm thấy an ninh nữa; các ngươi âm mưu chiến tranh.
MIC 2:9 Các ngươi đuổi những người đàn bà trong dân ta ra khỏi nhà cửa tốt đẹp của họ; Các ngươi cất vinh hiển ta khỏi con cái họ đời đời.
MIC 2:10 Hãy đứng dậy đi đi. Đây không phải là nơi nghỉ chân của các ngươi. Các ngươi đã biến nơi nầy thành nhơ nhớp, để dành cho sự hủy hoại.
MIC 2:11 Nhưng các ngươi chỉ muốn một nhà tiên tri giả nói cho các ngươi toàn chuyện dối trá thôi. Các ngươi muốn có người nói tiên tri về những việc tốt cho các ngươi, nếu các ngươi cho người ấy rượu và bia. Các ngươi muốn một nhà tiên tri như thế đó.
MIC 2:12 Thật vậy, hỡi dân cư Gia-cốp, ta sẽ gom các ngươi lại; Ta sẽ gom lại những kẻ còn sống sót trong Ít-ra-en. Ta sẽ gom họ lại như chiên trong ràn, như bầy súc vật trong đồng cỏ; nơi đó sẽ đông nghẹt người.
MIC 2:13 Sẽ có người mở cửa và dẫn dân chúng ra. Dân chúng sẽ phá cổng và ra khỏi thành, nơi họ bị cầm tù. Vua sẽ đi ra trước họ, và CHÚA sẽ dẫn dắt họ.”
MIC 3:1 Rồi tôi nói, “Hãy nghe, hỡi các lãnh tụ của dân Gia-cốp; hãy lắng tai, hỡi các quan cai trị của dân Ít-ra-en. Các ngươi phải biết xử lẽ công bằng,
MIC 3:2 nhưng các ngươi ghét điều thiện mà thích điều ác. Các ngươi bóc lột dân ta đến tận xương tủy.
MIC 3:3 Các ngươi ăn thịt dân ta và lột da, bẻ gãy xương họ; các ngươi bằm họ ra như bằm thịt để nấu, như thịt trong nồi nấu.
MIC 3:4 Họ kêu la cùng CHÚA, nhưng Ngài chẳng trả lời. Lúc đó Ngài sẽ ẩn mặt khỏi họ, vì họ đã làm ác.”
MIC 3:5 CHÚA phán như sau về các nhà tiên tri dạy dân chúng sống bậy bạ: “Nếu các nhà tiên tri đó được cho ăn no, thì họ kêu lớn, ‘Hoà bình!’ Còn nếu ai không cho họ điều họ muốn, thì họ mở cuộc thánh chiến chống kẻ đó.
MIC 3:6 Cho nên họ sẽ như kẻ đi trong đêm tối, không thấy ảnh tượng gì. Như đêm tối mịt, không biết tương lai ra sao. Mặt trời sẽ lặn trên các nhà tiên tri, ngày của họ sẽ biến ra bóng đêm.
MIC 3:7 Các nhà tiên kiến sẽ xấu hổ; kẻ bói toán sẽ ngượng ngùng. Thật vậy, tất cả bọn họ sẽ che miệng, vì sẽ không có lời đáp nào từ Thượng-Đế cả.”
MIC 3:8 Nhưng tôi nhận đầy quyền năng, đầy Thần-linh CHÚA, cùng với sự công chính và sức mạnh, để bảo cho dân Gia-cốp biết, họ đã chống nghịch Thượng-Đế như thế nào, và cho dân Ít-ra-en rõ họ đã phạm tội ra sao.
MIC 3:9 Hỡi các lãnh tụ của Gia-cốp và các quan cai trị Ít-ra-en hãy nghe tôi nói, các ngươi ghét sự công bằng và bóp méo lẽ phải.
MIC 3:10 Các ngươi xây Xi-ôn trên xương máu dân chúng; các ngươi dựng Giê-ru-sa-lem trên điều ác.
MIC 3:11 Các quan án của nó nhận tiền để định trước ai sẽ thắng kiện. Các thầy tế lễ của nó chỉ dạy vì tiền, và các nhà tiên tri nó chỉ nói tiên tri vì tiền. Nhưng chúng vẫn dựa vào CHÚA và tuyên bố, “CHÚA hiện diện đây với chúng ta, cho nên sẽ không có điều bất hạnh nào xảy ra cho chúng ta đâu.”
MIC 3:12 Vì các ngươi, mà Xi-ôn sẽ bị cày như ruộng. Giê-ru-sa-lem sẽ chỉ như đống đá vụn, và ngọn đồi mà đền thờ được xây lên sẽ đầy bụi rậm bao phủ.
MIC 4:1 Trong ngày cuối cùng, núi của đền thờ Chúa sẽ cao hơn các núi, cao hơn các đồi; mọi dân sẽ đổ về đó.
MIC 4:2 Các dân sẽ đến nói rằng, “Chúng ta hãy lên núi của CHÚA, đến đền thờ Thượng-Đế của Gia-cốp, để Ngài dạy cho chúng ta đường lối Ngài, để chúng ta vâng theo lời giáo huấn Ngài.” Những lời giáo huấn Ngài sẽ phát ra từ Xi-ôn, lời của CHÚA sẽ phát ra từ thành Giê-ru-sa-lem.
MIC 4:3 Chúa sẽ xét xử các dân tộc; Ngài sẽ quyết định về các dân tộc hùng mạnh xa xôi. Họ sẽ đập gươm thành ra lưỡi cày, biến giáo thành lưỡi hái. Dân nầy không còn vung gươm lên nghịch dân khác; họ sẽ không còn tập tành chiến tranh nữa.
MIC 4:4 Ai nấy sẽ ngồi dưới cây nho và cây vả mình, không ai khiến họ sợ hãi, vì CHÚA Toàn Năng phán vậy.
MIC 4:5 Các dân tộc khác muốn theo thần của họ thì theo, nhưng chúng ta sẽ theo CHÚA là Thượng-Đế chúng ta cho đến đời đời.
MIC 4:6 CHÚA phán, “Lúc đó, ta sẽ nhóm họp những kẻ què; ta sẽ gom góp những kẻ bị hất hủi, và những kẻ mà ta đã gây thảm họa.
MIC 4:7 Ta sẽ khiến những kẻ què quặt được sống, và ta sẽ biến những kẻ bị hất hủi, thành một dân tộc hùng mạnh. CHÚA sẽ làm vua của họ trên núi Xi-ôn từ nay cho đến đời đời.
MIC 4:8 Còn ngươi, là tháp canh bầy súc vật, đồi của Xi-ôn, nước sẽ đến với ngươi như trước kia. Hỡi Giê-ru-sa-lem, quyền cai trị sẽ trở lại cùng ngươi.”
MIC 4:9 Nầy, tại sao ngươi khóc thảm thiết như vậy? Vua ngươi chết rồi sao? Có phải ngươi mất một tay trợ lực, đến nỗi ngươi đau đớn như đàn bà sắp sinh con?
MIC 4:10 Hỡi dân cư Xi-ôn, hãy ráng sức và chịu đau đớn. Hãy như đàn bà rặn đẻ, vì nay ngươi phải rời thành và sống trong đồng. Ngươi sẽ phải bị đày qua Ba-by-lôn, nhưng ở đó ngươi sẽ được an toàn. CHÚA sẽ đi đến đó để chuộc ngươi về khỏi tay kẻ thù ngươi.
MIC 4:11 Nhưng nay nhiều dân tộc đã đến đánh ngươi, bảo rằng, “Chúng ta hãy tiêu diệt Xi-ôn. Chúng ta sẽ nhìn nó và hớn hở vì đã đánh thắng nó.”
MIC 4:12 Nhưng chúng không biết CHÚA nghĩ gì; chúng không hiểu chương trình Ngài. Ngài đã gom góp chúng lại như những bó lúa mang đến sàn đạp lúa.
MIC 4:13 “Hỡi dân cư Xi-ôn, hãy dậy mà đập lúa. Ta sẽ khiến các ngươi mạnh như thể các ngươi có sừng bằng sắt, vó bằng đồng. Các ngươi sẽ đập nhiều dân thành những mảnh vụn và dâng của cải chúng cho CHÚA, dâng kho báu chúng cho CHÚA của toàn thế gian.”
MIC 5:1 Cho nên, hỡi thành vững mạnh, hãy triệu tập các quân sĩ ngươi lại, vì chúng ta đã bị bao vây và bị tấn công. Chúng sẽ dùng gậy đánh vào mặt lãnh tụ Ít-ra-en.
MIC 5:2 “Còn ngươi, hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-tha, dù ngươi nhỏ bé nhất giữa các thành Giu-đa, nhưng từ ngươi sẽ xuất hiện một lãnh tụ dân Ít-ra-en cho ta. Gốc tích Ngài từ xưa, xưa lắm.”
MIC 5:3 CHÚA sẽ không để dân Ngài bị đánh bại, cho đến khi đàn bà đã sinh con, vua mà Ngài đã hứa, rồi các anh em của vua ấy sẽ trở lại, nhập chung với dân Ít-ra-en.
MIC 5:4 Trong lúc đó vua sẽ cai trị dân Ít-ra-en, trong quyền năng của CHÚA và trong danh CHÚA là Thượng Đế, Ngài sẽ dẫn dắt dân Ngài. Họ sẽ sống trong an ninh, vì uy danh Ngài sẽ lan tràn khắp đất.
MIC 5:5 Ngài sẽ mang lại hòa bình. A-xy-ri chắc chắn sẽ đến trong xứ chúng ta và dẫm lên các tòa nhà lớn. Chúng ta sẽ cử ra bảy người chăn chiên, tám lãnh tụ của dân chúng.
MIC 5:6 Họ sẽ dùng gươm tiêu diệt người A-xy-ri; họ sẽ chiến thắng đất của Nim-Rốt Họ sẽ giải cứu chúng ta khỏi người A-xy-ri, khi chúng tiến vào xứ chúng ta, lúc chúng bước qua biên giới chúng ta.
MIC 5:7 Rồi dân còn sót lại của Gia-cốp sẽ như sương xuống từ CHÚA hay mưa rơi trên cỏ, cho các dân tộc khác. Nó không đợi người nào; Không dừng lại chờ ai cả.
MIC 5:8 Dân còn sót lại của Gia-cốp sẽ bị phân tán khắp các dân tộc. Họ sẽ như sư tử ở giữa muông thú trong rừng, như sư tử tơ ở giữa bầy chiên; Khi đi, nó lao vào chúng và xé nát chúng ra, không ai cứu được.
MIC 5:9 Cho nên ngươi sẽ giơ tay tỏ dấu đắc thắng trên quân thù, và mọi kẻ thù ngươi sẽ bị tiêu diệt.
MIC 5:10 CHÚA phán, “Lúc ấy ta sẽ cướp ngựa của ngươi và tiêu hủy các quân xa ngươi.
MIC 5:11 Ta sẽ tiêu diệt các thành phố trong xứ ngươi và phá sập các tuyến phòng thủ của ngươi.
MIC 5:12 Ta sẽ dẹp bỏ bùa phép mà ngươi dùng để ngươi không còn thầy bói nào nữa.
MIC 5:13 Ta sẽ tiêu diệt các thần tượng ngươi và các trụ thờ mà ngươi dựng lên để ngươi không còn bái lạy vật tay mình làm ra nữa.
MIC 5:14 Ta sẽ phá sập tượng A-sê-ra khỏi ngươi và tiêu diệt các thành phố ngươi.
MIC 5:15 Trong cơn thịnh nộ của ta, Ta sẽ báo trả các dân không chịu nghe ta.”
MIC 6:1 Bây giờ hãy nghe lời CHÚA phán: “Hãy đứng lên; biện bạch lý lẽ ngươi trước các núi; để cho các đồi nghe tiếng ngươi.
MIC 6:2 Hỡi các núi, hãy lắng nghe lý đoán của Chúa. Hỡi các nền của đất, hãy lắng tai. CHÚA có lý đoán nghịch dân Ngài, Ngài sẽ truy tố Ít-ra-en.”
MIC 6:3 Ngài phán, “Hỡi dân ta, ta đã làm gì cho các ngươi? Ta làm gì mà các ngươi chán ta? Hãy cho ta biết đi.
MIC 6:4 Ta đã mang các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập giải thoát các ngươi khỏi gông cùm nô lệ; Ta sai Mô-se, A-rôn, và Mi-ri-am đến cùng các ngươi.
MIC 6:5 Hỡi dân ta, hãy nhớ lại âm mưu ác độc mà Ba-lác, vua Mô-áp và Ba-la-am, con trai Bê-ô bày cho Ba-lác. Hãy hồi tưởng lại chuyện xảy ra từ vùng cây Si-tim cho đến Ghinh-ganh để các ngươi biết rằng CHÚA làm điều phải.”
MIC 6:6 Các ngươi nói, “Tôi sẽ mang theo của lễ gì khi tôi ra mắt CHÚA, khi tôi quì lạy trước Thượng-Đế trên cao? Tôi có nên mang của lễ thiêu cho Ngài, với bò con giáp năm không?
MIC 6:7 Liệu CHÚA có hài lòng với một ngàn chiên đực không? Hay là Ngài sẽ hài lòng với hằng vạn sông dầu không? Tôi có nên dâng con đầu lòng vì điều ác tôi đã làm không? Tôi có nên dâng chính con tôi để đền bù tội lỗi tôi không?”
MIC 6:8 CHÚA đã cho ngươi, là con người, biết điều thiện; Ngài cho ngươi biết điều Ngài muốn từ ngươi: Là đối xử phải chăng với mọi người, nhân từ với kẻ khác, sống khiêm nhường, vâng theo Thượng-Đế ngươi.
MIC 6:9 Tiếng của CHÚA gọi vào thành, người khôn ngoan tôn trọng danh Ngài, Cho nên các ngươi là các chi tộc đang nhóm họp trong thành, hãy để ý;
MIC 6:10 Trong nhà của kẻ gian ác vẫn còn có của báu gian ác và cân giả đáng nguyền rủa hay sao?
MIC 6:11 Làm sao mà ta có thể tha thứ cho kẻ lường gạt người khác bằng cách dùng trái cân và cái cân giả được?
MIC 6:12 Kẻ giàu trong thành phố làm chuyện hung ác. Dân trong thành nói dối; không nói thật.
MIC 6:13 Còn về phần ta, ta sẽ khiến các ngươi đau ốm. Ta sẽ đánh các ngươi, tàn hại các ngươi vì tội lỗi các ngươi.
MIC 6:14 Các ngươi ăn, nhưng không no; các ngươi sẽ vẫn đói và bụng trống. Các ngươi sẽ tích trữ mà chẳng có gì, và những gì các ngươi chất chứa sẽ bị gươm dao tiêu hủy.
MIC 6:15 Các ngươi sẽ trồng nhưng không gặt hái được. Các ngươi sẽ đạp lên trái ô liu, nhưng sẽ không lấy được dầu. Các ngươi sẽ đạp lên trái nho, nhưng sẽ không được uống rượu mới.
MIC 6:16 Vì các ngươi tuân theo luật lệ của vua Ôm-ri và làm những điều giống như gia đình A-háp; các ngươi nghe theo lời khuyên của chúng. Cho nên ta sẽ để các ngươi bị tiêu diệt. Dân cư trong thành sẽ bị nhạo cười, và các dân khác sẽ chế giễu ngươi.
MIC 7:1 Khốn nạn cho tôi! Tôi như người đói, vì tất cả trái cây mùa hạ đã được hái rồi, đâu còn trái nho mà ăn, trái vả đầu mùa tôi ưa thích cũng không thấy.
MIC 7:2 Tất cả những người trung thành đều đã biến mất; trên đất nầy không còn lấy một người nhân đức. Ai nấy đều chực giết hại người khác; Ai cũng lăm le đánh bẫy kẻ khác.
MIC 7:3 Chúng dùng cả hai tay làm điều ác. Quan cai trị thì sách nhiễu đòi tiền bạc, còn những phán quyết của quan án cũng có giá mua được. Kẻ giàu cho biết họ muốn gì, và có được điều họ muốn.
MIC 7:4 Người tốt nhất của họ cũng chỉ như bụi gai; kẻ lương thiện nhất của họ còn xấu hơn cây gai, Cái ngày mà người tuần canh cảnh cáo các ngươi đã đến. Bây giờ họ sẽ bị bối rối.
MIC 7:5 Đừng tin người láng giềng, hay tin cậy bạn bè. Đừng nói gì cả, dù với vợ mình cũng vậy.
MIC 7:6 Con trai không còn tôn kính cha mình, con gái cũng chống nghịch lại mẹ mình, con dâu chống lại mẹ chồng; và ai nấy đều có kẻ thù là người nhà mình.
MIC 7:7 Ít-ra-en nói, “Ta sẽ hướng lòng, trông đợi CHÚA cứu giúp. Ta sẽ chờ đợi Thượng-Đế giải cứu ta; Ngài sẽ nghe tiếng ta.
MIC 7:8 Hỡi kẻ thù, đừng cười nhạo ta. Ta ngã té, nhưng sẽ đứng dậy. Ta hiện ngồi trong tối tăm khốn khó, Nhưng CHÚA sẽ làm ngọn đèn cho ta.
MIC 7:9 Ta đã phạm tội cùng CHÚA, nên Ngài nổi giận cùng ta, nhưng Ngài sẽ bênh vực ta trước tòa. Ngài sẽ mang đến cho ta lẽ công bằng. Rồi Ngài sẽ mang ta ra ánh sáng, và ta sẽ thấy Ngài làm đúng mọi việc.
MIC 7:10 Sau đó kẻ thù ta sẽ trông thấy điều đó, chúng sẽ xấu hổ; những kẻ nói cùng ta, ‘CHÚA là Thượng-Đế ngươi đâu?’ Ta sẽ cười nhạo chúng. Chúng sẽ bị người ta dẫm lên, như bùn ngoài đường.”
MIC 7:11 Sẽ đến thời kỳ mà các vách thành ngươi được xây lại, khi đất nước ngươi bành trướng.
MIC 7:12 Lúc đó dân chúng ngươi sẽ trở về cùng ngươi từ A-xy-ri và các thành phố Ai-cập, và từ Ai-cập cho đến sông Ơ-phơ-rát, từ biển nầy đến biển kia, từ núi nầy đến núi nọ.
MIC 7:13 Đất sẽ bị tiêu hao vì dân sống trong đó và vì những điều họ làm.
MIC 7:14 Vậy hãy chăn chiên bằng gậy mình; hãy chăn những người thuộc về ngươi. Bầy chiên đó hiện sống cô độc trong rừng ở giữa mảnh đất làm vườn. Hãy để họ ăn cỏ trong Ba-san và Ghi-lê-át như xưa kia.
MIC 7:15 “Như lúc ta mang các ngươi ra khỏi Ai-cập, ta sẽ cho họ thấy phép lạ.”
MIC 7:16 Khi các dân nhìn thấy các phép lạ đó, họ sẽ không còn huênh hoang về thế lực mình nữa. Họ sẽ lấy tay che miệng, không chịu nghe.
MIC 7:17 Họ sẽ bò trong bụi cát như rắn, như côn trùng bò trên đất. Họ sẽ từ trong lỗ bò ra run rẩy, đến cùng CHÚA là Thượng-Đế chúng ta và sẽ run sợ trước mặt ngươi.
MIC 7:18 Không có Thượng-Đế nào giống như Ngài. Ngài tha thứ những kẻ phạm tội; Ngài không nhìn vào tội lỗi của dân Ngài là dân sống sót. Ngài không căm giận mãi mãi, vì Ngài đầy lòng nhân từ.
MIC 7:19 Ngài sẽ lại thương xót chúng tôi; Ngài sẽ chiến thắng tội lỗi chúng tôi. Ngài sẽ ném tội lỗi chúng tôi vào trong nơi sâu thẳm của biển.
MIC 7:20 Lạy Thượng Đế, xin hãy chân thật cùng dân cư Gia-cốp, và nhân từ đối cùng con cháu Áp-ra-ham như Ngài đã hứa từ xưa cùng tổ tiên chúng tôi.
NAH 1:1 Đây là sứ điệp cho thành Ni-ni-ve. Đây cũng là sách ghi lại sự hiện thấy của Na-hâm, quê ở Ên-cốt.
NAH 1:2 CHÚA là Thượng-Đế ganh tị, Ngài trừng phạt; CHÚA trừng phạt và đầy thịnh nộ. Ngài trừng phạt những kẻ chống nghịch Ngài, và nổi giận cùng kẻ thù Ngài.
NAH 1:3 CHÚA rất chậm giận, quyền năng Ngài lớn lao. CHÚA sẽ không để kẻ có tội thoát khỏi trừng phạt. Nơi nào CHÚA đi, đều có gió lốc và giông bão, còn các đám mây là bụi phủ dưới chân Ngài.
NAH 1:4 Ngài quở trách biển thì nó liền khô; Ngài khiến các sông ngòi khô cạn. Các vùng Ba-san và Cạt-mên khô khan, các bông hoa của Li-băng khô héo.
NAH 1:5 Các núi rung chuyển trước mặt Ngài, còn các đồi tan chảy. Khi Ngài ngự đến, thì đất rung chuyển; Thế gian và mọi loài sống trong đó liền run sợ.
NAH 1:6 Khi CHÚA tức giận thì không ai sống nổi; chẳng ai sống sót qua cơn thịnh nộ Ngài. Cơn giận Ngài trút ra như lửa; các tảng đá bị Ngài đập nát.
NAH 1:7 Chúa rất nhân từ, ra tay bảo bọc trong lúc khốn khó. Ngài biết những ai tin cậy nơi Ngài.
NAH 1:8 Nhưng Ngài sẽ hoàn toàn tiêu diệt kẻ thù Ngài, như nước lụt tràn đến; Ngài sẽ rượt theo kẻ thù cho đến khi giết được chúng.
NAH 1:9 Sao các ngươi lập mưu chống CHÚA? Ngài sẽ mang đến sự hủy diệt để ngươi không còn gây rối nữa.
NAH 1:10 Chúng nó sẽ như gai gốc vướng víu hay như kẻ say vì rượu mình uống; chúng sẽ cháy rụi nhanh chóng như cỏ khô.
NAH 1:11 Có kẻ đến từ Ni-ni-ve, âm mưu ác nghịch lại CHÚA và xúi giục bậy bạ.
NAH 1:12 Vì thế nên CHÚA phán: “Dù cho A-xy-ri hùng mạnh và đông dân, nó sẽ bị đánh bại và đến đường cùng. Dù ta đã làm cho ngươi khốn khổ, hỡi Giu-đa, ta sẽ không còn làm ngươi khổ sở nữa.
NAH 1:13 Nay ta sẽ giải thoát ngươi khỏi vòng kiềm tỏa của chúng và cắt đứt dây xích ngươi.”
NAH 1:14 Hỡi Ni-ni-ve, CHÚA ra mệnh lệnh nầy cho ngươi: “Ngươi sẽ không còn con cháu để lưu danh nữa. Ta sẽ tiêu diệt tượng chạm và các hình tượng bằng sắt ở trong đền thờ của các thần ngươi. Ta sẽ đào mộ cho ngươi, vì ngươi gian ác.”
NAH 1:15 Kìa, hãy nhìn lên đồi, có kẻ đang báo tin mừng! Nó loan tin hoà bình! Hỡi dân Giu-đa, hãy kỷ niệm các lễ lộc ngươi, và dâng sinh tế mà ngươi đã hứa nguyện cho Thượng Đế. Kẻ ác sẽ không còn đến tấn công ngươi nữa; vì chúng nó đã hoàn toàn bị tận diệt rồi.
NAH 2:1 Hỡi Ni-ni-ve, kẻ hủy diệt đang đến tấn công ngươi. Hãy đề phòng cẩn thận. Canh chừng đường cái. Hãy sẵn sàng. Hãy dồn hết sức mạnh ngươi lại!
NAH 2:2 Những kẻ hủy diệt đã tiêu diệt dân của Thượng-Đế, phá hoại các dây nho họ, nhưng CHÚA sẽ phục hồi niềm kiêu hãnh của Gia-cốp, giống như niềm kiêu hãnh của Ít-ra-en.
NAH 2:3 Các thuẫn của binh sĩ Ngài màu đỏ; đạo quân Ngài mặc đồng phục đỏ. Các quân xa sáng loáng như lửa, chúng xếp hàng sẵn sàng lâm trận; các con ngựa của chúng dậm chân sốt ruột.
NAH 2:4 Các quân xa phóng nhanh qua các đường phố chạy qua chạy lại trong khu công cộng. Chúng giống như đuốc; lướt nhanh như chớp.
NAH 2:5 Các kẻ thù triệu tập các binh sĩ thiện chiến, nhưng chúng vấp ngã đang khi tiến quân. Chúng chạy đến vách thành, và giàn các khiên chống lại cây đà tấn công.
NAH 2:6 Các cửa sông mở toang ra, và cung điện vua đã bị tiêu hủy.
NAH 2:7 Người ta loan báo rằng dân Ni-ni-ve sẽ bị bắt mang đi. Các tớ gái rên rỉ như bồ câu, đấm ngực vì rầu rĩ.
NAH 2:8 Ni-ni-ve như cái hồ, nay đã cạn nước. Dân chúng kêu, “Hãy dừng lại, đứng lại!” Nhưng không ai quay lại.
NAH 2:9 Hãy lấy bạc! Hãy cướp vàng! Của báu nhiều vô số, Hàng đống của cải đủ loại chồng chất.
NAH 2:10 Ni-ni-ve đã bị cướp bóc, tàn hại và tiêu diệt. Dân chúng mất hết can đảm, các đầu gối đụng nhau. Bụng thì đau, và mặt ai nấy đều tái xanh.
NAH 2:11 Hang sư tử đâu rồi? Sư tử đực và sư tử cái ở đó. Sư tử con không sợ.
NAH 2:12 Sư tử đực giết đủ mồi cho các sư tử con, và sư tử cái. Nó kéo các con thú nó giết được vào đầy hang; nó chất đầy hang thịt nó đã hạ.
NAH 2:13 “Hỡi Ni-ni-ve, ta nghịch ngươi,” CHÚA Toàn-Năng phán. “Ta sẽ thiêu đốt quân xa ngươi ra mây khói, và gươm sẽ giết các sư tử tơ của ngươi. Ta sẽ ngăn không cho ngươi truy lùng kẻ khác trên đất, và sẽ không còn ai nghe tiếng của sứ giả ngươi nữa.”
NAH 3:1 Khốn cho thành đã giết nhiều người. Nó đầy dẫy lời dối gạt và của cải cướp được từ các nước khác. Lúc nào nó cũng giết người.
NAH 3:2 Hãy nghe tiếng roi quất vun vút của nó, và tiếng bánh xe chạy rầm rập. Hãy nghe tiếng vó ngựa phi và tiếng quân xa nhún nhảy từng nhịp!
NAH 3:3 Ngựa đang phi nhanh, các lưỡi gươm sáng loáng, các lưỡi giáo bóng lộn! Nhiều người ngã chết; Thây chất thành đống, đếm không hết. Người ta đi đâu cũng vấp phải xác chết.
NAH 3:4 Thành phố đó như con điếm; thật hấp dẫn và ưa thích ma thuật. Nó dùng thuật điếm đàng và bùa ếm của nó để bắt các dân làm nô lệ.
NAH 3:5 CHÚA Toàn Năng phán, “Hỡi Ni-ni-ve! Ta nghịch ngươi!” “Ta sẽ vén áo lên phủ mặt ngươi để cho các dân thấy sự trần truồng ngươi và các nước nhìn sự hổ nhục ngươi.
NAH 3:6 Ta sẽ ném rác vào mặt ngươi khiến ngươi thành trò hề. Ta sẽ khiến mọi người chăm chăm nhìn ngươi.
NAH 3:7 Ai thấy ngươi cũng bỏ chạy và nói, ‘Ni-ni-ve điêu tàn rồi. Ai mà than khóc cho nó?’ Hỡi Ni-ni-ve, ta tìm đâu ra người để an ủi ngươi?”
NAH 3:8 Ngươi chẳng khá gì hơn Thê-be, nó ngồi cạnh sông Nin, chung quanh có nước phủ. Sông đó là hàng rào bảo vệ nó; nước là vách bao quanh nó.
NAH 3:9 Cút và Ai-cập đã ban cho nó sức mạnh vô song; Dân Bút và Li-bi yểm trợ nó.
NAH 3:10 Nhưng Thê-be bị bắt cầm tù. Con cái nó bị đánh chết ở mỗi góc đường. Người ta bắt thăm để lấy những kẻ chức tước của nó, và tất cả những lãnh tụ nó đều bị xiềng.
NAH 3:11 Hỡi Ni-ni-ve, ngươi cũng sẽ bị say rượu. Ngươi sẽ trốn tránh; kiếm chỗ an toàn núp khỏi kẻ thù.
NAH 3:12 Tất cả những tuyến phòng thủ ngươi như cây vả đầy trái chín. Khi rung cây, thì trái rơi vào miệng kẻ ăn.
NAH 3:13 Hãy nhìn các binh sĩ ngươi. Chúng nó toàn là đàn bà! Các cổng của xứ ngươi mở toang đón tiếp quân thù; lửa đã thiêu đốt các thanh chận cổng.
NAH 3:14 Hãy trữ nước cho đủ trước khi cuộc chiến tranh dai dẳng bắt đầu. Hãy củng cố tuyến phòng thủ! Hãy kiếm bùn, trộn đất sét, làm gạch!
NAH 3:15 Lửa sẽ thiêu đốt ngươi ở đó. Gươm sẽ giết ngươi; như cào cào cắn phá mùa màng, chiến tranh sẽ hoàn toàn tiêu diệt ngươi. Hãy gia tăng dân số như châu chấu; Hãy gia tăng dân số như cào cào hàng đàn hàng lũ!
NAH 3:16 Các lái buôn ngươi đông hơn sao trên trời, nhưng chúng bóc lột đất đai và biến đi như cào cào.
NAH 3:17 Các lính canh ngươi như cào cào. Các sĩ quan ngươi như bầy châu chấu bám vào vách trong một ngày lạnh giá. Khi mặt rời mọc lên chúng liền bay mất, chẳng ai biết chúng bay đi đâu.
NAH 3:18 Hỡi vua A-xy-ri, các quan cai trị ngươi đang mê ngủ; các kẻ chức tước ngươi đang nằm nghỉ. Dân cư ngươi đang bị phân tán trên các núi, Không ai mang họ trở về.
NAH 3:19 Không có gì chữa lành vết thương ngươi được; vết thương ngươi sẽ không bao giờ lành. Ai nghe những chuyện ấy cũng sẽ sung sướng vỗ tay. Vì ai nấy đều đã nếm sự tàn bạo vô song của ngươi.
HAB 1:1 Đây là sứ điệp mà Ha-ba-cúc, nhà tiên tri nhận được.
HAB 1:2 Lạy Chúa, tôi xin Ngài cứu giúp, đến khi nào Ngài mới đáp lời tôi? Tôi kêu la cùng Ngài về những sự bạo ngược, nhưng Ngài chẳng giải cứu chúng tôi!
HAB 1:3 Sao Ngài bắt tôi nhìn điều dữ và buộc tôi phải chứng kiến cảnh khốn khổ? Người ta hủy phá mọi thứ và làm hại nhau trước mắt tôi; Họ cãi nhau và đánh nhau.
HAB 1:4 Cho nên những lời giáo huấn thật vô ích, công lý không bao giờ đến. Kẻ ác thắng thế trong khi người nhân đức thất thế; các quan án không phân xử công bình nữa.
HAB 1:5 “Hãy nhìn các dân! Hãy nhìn họ mà kinh ngạc và sửng sốt. Trong đời ngươi ta sẽ làm một điều mà ngươi không tin nổi, dù cho được nghe kể lại cũng vậy.
HAB 1:6 Ta sẽ dùng người Ba-by-lôn, những kẻ hung bạo và dã man tràn qua mặt đất, chiếm đoạt đất không thuộc về mình.
HAB 1:7 Chúng khiến kẻ khác hoảng sợ. Chúng muốn làm gì thì làm, miễn có lợi cho chúng là được.
HAB 1:8 Ngựa của chúng phi nhanh hơn cọp beo, nguy hiểm hơn chó sói lúc chiều tà. Các lính cỡi ngựa của chúng tấn công chớp nhoáng; chúng đến từ nơi xa xăm. Chúng tấn công chớp nhoáng, như chim ưng vồ mồi.
HAB 1:9 Chúng kéo nhau lại để đánh. Không gì ngăn bước chúng được. Tù binh chúng nhiều như cát.
HAB 1:10 Chúng cười nhạo các vua, chế giễu các quan quyền. Chúng xem thường các thành có vách kiên cố và đắp đất lên đến đỉnh vách để chiếm lấy các thành ấy.
HAB 1:11 Sau đó chúng bỏ đi như gió, tiến đến nơi khác gây thêm tội lỗi. Chúng chỉ thờ lạy sức mạnh của mình mà thôi.”
HAB 1:12 Lạy CHÚA, Ngài sống đời đời, lạy Thượng-Đế, Thượng-Đế chí thánh của tôi. Ngài sẽ không bao giờ chết. Lạy CHÚA, Ngài đã chọn người Ba-by-lôn để trừng phạt các dân; Lạy Khối Đá chúng tôi, Ngài dùng chúng để trừng phạt.
HAB 1:13 Mắt Chúa quá thánh khiết, không thể nhìn điều ác; Ngài không chịu nổi khi thấy kẻ làm điều quấy. Vậy sao Ngài để cho những điều ác đó xảy ra? Sao Ngài im lặng khi kẻ ác ăn nuốt người tốt hơn chúng?
HAB 1:14 Ngài đối với con người như cá trong biển, như sinh vật giữa đại dương không có kẻ dẫn đầu.
HAB 1:15 Kẻ thù dùng móc lôi chúng vào, Nó bắt chúng trong lưới và kéo chúng vào trong lưới mình. Vì thế nó sung sướng reo mừng.
HAB 1:16 Kẻ thù dâng sinh tế cho lưới nó và đốt hương thờ phụng nó, vì nhờ lưới mà đời nó sung túc và hưởng cao lương mỹ vị.
HAB 1:17 Kẻ thù sẽ mãi thu của cải bằng lưới mình sao? Nó sẽ tiếp tục tiêu diệt dân chúng mà không tỏ chút thương hại sao?
HAB 2:1 Tôi sẽ đứng chờ nơi vọng canh. Trông đợi điều Ngài sẽ phán cùng tôi; Tôi sẽ chờ xem Thượng-Đế trả lời tôi ra sao về lời than phiền của tôi.
HAB 2:2 CHÚA đáp lời tôi như sau: “Hãy ghi lại dị tượng; viết rõ ràng trên bảng đá để cho ai đọc thì chạy đến báo cho kẻ khác.
HAB 2:3 Chưa đến thời kỳ mà sứ điệp ta được thành tựu, nhưng thời kỳ ấy cũng sắp đến rồi; sứ điệp ta sắp thành tựu. Trông có vẻ quá lâu, nhưng hãy kiên nhẫn chờ đợi, vì chắc chắn nó sẽ đến, không trì hoãn đâu.
HAB 2:4 Nó huênh hoang; ao ước của nó không chính đáng. Nhưng người công chính sẽ sống bằng đức tin.
HAB 2:5 Như rượu có thể phỉnh con người, những kẻ tự phụ sẽ không sống lâu, vì sự ao ước chúng nó như huyệt mả mong ước cái chết, và như thần chết tham lam. Chúng thu gom các dân khác về cho mình và thu các nước khác về với mình.
HAB 2:6 Nhưng các dân nào đã bị người Ba-by-lôn làm hại sẽ cười chúng. Họ sẽ chế giễu người Ba-by-lôn và bảo, ‘Khốn cho kẻ ăn cắp nhiều thứ bắt người khác đóng góp cho mình để làm giàu, Tình trạng nầy sẽ kéo dài bao lâu nữa?’
HAB 2:7 Một ngày nào đó các chủ nợ sẽ đứng lên nghịch ngươi. Họ sẽ biết rõ đầu đuôi và sẽ khiến ngươi run sợ. Họ sẽ chiếm đoạt hết tài sản ngươi.
HAB 2:8 Vì ngươi đã đánh cắp của nhiều dân, nên những kẻ còn sót lại sẽ chiếm của cải ngươi. Vì ngươi đã giết hại nhiều người, tiêu hủy nhiều nước, đô thị và cư dân trong đó.
HAB 2:9 Khốn cho dân làm giàu bất chính, nghĩ rằng mình sẽ an toàn không gặp tai biến gì.
HAB 2:10 Vì ngươi đã âm mưu gian ác, làm những điều nhơ nhuốc, khiến cho gia đình ngươi xấu hổ về ngươi. Cho nên chính ngươi sẽ mất mạng.
HAB 2:11 Các tảng đá trong vách thành sẽ kêu la nghịch ngươi, thậm chí các cây đà đỡ trần nhà cũng nhìn nhận ngươi có tội.
HAB 2:12 Khốn cho dân giết người để xây thành, làm hại người khác để xây thị trấn.
HAB 2:13 CHÚA Toàn Năng sẽ sai lửa xuống thiêu hủy những gì chúng xây nên; những kỳ công chúng nó làm đều trở thành vô ích.
HAB 2:14 Rồi như nước bao phủ biển, dân chúng các nơi sẽ biết sự vinh hiển của Chúa.
HAB 2:15 Khốn cho kẻ phục rượu người láng giềng mình, rót rượu từ trong bình ra cho họ uống cho đến khi họ say sưa để nó nhìn sự trần truồng của họ.
HAB 2:16 Dân Ba-by-lôn các ngươi phải hổ nhục, không được tôn kính đâu. Đến phiên các ngươi uống rượu té xuống đất như người say. Ly thịnh nộ trên tay phải CHÚA đang đến trên ngươi. Nầy quan trưởng gian ác, ngươi sẽ uống ly ấy, ngươi sẽ bị sỉ nhục chứ không được tôn kính đâu.
HAB 2:17 Ngươi đã làm hại lắm người trong Li-băng, nhưng nay đến phiên ngươi sẽ bị tổn hại. Ngươi giết hại vô số súc vật nơi đó, nên bây giờ ngươi đâm ra sợ hãi vì điều mình làm cho xứ, các đô thị, và dân sống trong đó.
HAB 2:18 Thần tượng thật vô ích vì do tay người làm ra; nó chỉ là bức tượng dạy điều dối trá. Kẻ làm ra nó mong việc tay mình làm ra sẽ giúp mình. Nhưng nó làm ra tượng không biết nói!
HAB 2:19 Khốn cho kẻ nói cùng tượng gỗ rằng, ‘Hãy sống dậy!’ Khốn cho kẻ bảo tượng đá trơ trơ rằng, ‘Hãy đứng lên!’ Tượng đó đâu có biết bảo ngươi làm gì. Nó chỉ là tượng bọc vàng thếp bạc; làm gì có sự sống.
HAB 2:20 CHÚA ngự trong đền thờ thánh Ngài; cả thế gian hãy im lặng trước mặt Ngài.”
HAB 3:1 Sau đây là lời cầu nguyện của Ha-ba-cúc theo điệu Si-ghi-ô-nốt.
HAB 3:2 Lạy CHÚA, tôi đã nghe uy danh Ngài; Tôi kinh ngạc về những điều Ngài làm. Lạy CHÚA, xin hãy làm những việc lớn lao lần nữa trong đời chúng tôi; Xin thực hiện những điều đó lần nữa trong đời chúng tôi. Dù cho khi Ngài nổi giận, xin nhớ tỏ lòng nhân từ.
HAB 3:3 Thượng-Đế đến từ Thê-man; Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao trùm bầu trời, và tiếng ca ngợi Ngài phủ cả đất.
HAB 3:4 Ngài như ánh sáng chói lọi. Tay Ngài chiếu ra tia sáng, và Ngài giấu quyền lực mình trong đó.
HAB 3:5 Bệnh tật đi trước mặt Ngài, và đau ốm đi theo sau Ngài.
HAB 3:6 Ngài đứng và làm rung chuyển đất. Ngài nhìn thì các dân run sợ. Các núi vốn vững bền từ lâu, bỗng nhiên tan vỡ; Các đồi xưa sụp đổ, vì Thượng Đế làm điều ấy.
HAB 3:7 Tôi thấy các lều của người Cút đang gặp khốn khó và lều của người Mi-đi-an run rẩy.
HAB 3:8 Lạy CHÚA, Ngài nổi giận cùng sông ngòi hay nổi giận cùng suối nước? Có phải Ngài nổi thịnh nộ cùng biển cả khi Ngài cỡi ngựa và quân xa đi đến chiến thắng chăng?
HAB 3:9 Ngài lấy cung ra khỏi bao và bảo mang thật nhiều mũi tên đến cho Ngài. Xê-la Ngài dùng sông chia đất ra.
HAB 3:10 Các núi trông thấy Ngài liền run sợ. Dòng nước ào ào chảy. Biển gầm thét ồn ào, và dợn sóng lên cao.
HAB 3:11 Mặt trời và mặt trăng đứng yên trong bầu trời; chúng dừng lại khi nhìn lằn chớp của Ngài xẹt ngang. Lằn chớp ấy như mũi tên và lưỡi giáo Ngài bắn qua bầu trời.
HAB 3:12 Ngài dẫm qua đất trong cơn giận mình; Ngài trừng phạt các dân trong cơn thịnh nộ.
HAB 3:13 Chúa bước ra để giải cứu dân Ngài, để cứu kẻ được Ngài chọn. Ngài chà đạp lãnh tụ của những kẻ ác và cướp hết những gì nó có, từ đầu đến chân. Xê-la
HAB 3:14 Ngài dùng gươm của chính kẻ thù mà đâm kẻ chỉ huy quân đội chúng. Binh sĩ nó túa ra như vũ bão để phân tán chúng tôi. Chúng hớn hở khi bóc lột người nghèo một cách kín đáo.
HAB 3:15 Nhưng lạy CHÚA, Ngài bước qua biển cùng với ngựa của Ngài, quấy động các dòng cuồng lưu.
HAB 3:16 Tôi nghe những điều ấy, lòng tôi liền run rẩy; môi tôi run khi tôi nghe tiếng. Xương cốt tôi bủn rủn, chân tôi run. Nhưng tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi ngày thảm họa xảy đến cho kẻ tấn công chúng tôi.
HAB 3:17 Cây vả sẽ không ra trái, sẽ không còn trái trên dây nho. Cây ô liu không mọc nữa, ruộng nương không sinh sản. Sẽ không còn chiên trong ràn hay gia súc trong chuồng.
HAB 3:18 Nhưng tôi sẽ vẫn vui mừng trong CHÚA; Tôi sẽ hớn hở trong Thượng-Đế là Đấng Cứu Rỗi tôi.
HAB 3:19 Thượng-Đế, CHÚA tôi, ban sức mạnh của tôi. Ngài khiến tôi chạy nhanh như nai. Ngài dẫn tôi an toàn trên các ngọn núi. Soạn cho nhạc trưởng để dùng với nhạc khí bằng dây của tôi.
ZEP 1:1 Đây là lời CHÚA phán cùng Xô-phô-ni trong đời Giô-xia, con Am-môn làm vua Giu-đa. Xô-phô-ni là con Cu-si, cháu Ghê-đa-lia. Ghê-đa-lia là con A-ma-ria, cháu Ê-xê-chia.
ZEP 1:2 CHÚA phán, “Ta sẽ quét sạch mọi thứ trên đất,”
ZEP 1:3 “Ta sẽ quét sạch người và súc vật; Ta sẽ tiêu diệt chim trời, cá biển. Ta sẽ tàn hại kẻ ác và tội lỗi của nó, và sẽ diệt loài người khỏi mặt đất,” CHÚA phán vậy.
ZEP 1:4 “Ta sẽ trừng phạt Giu-đa và mọi người sống trong Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ cất khỏi nơi đây mọi dấu vết về Ba-anh, các thầy tế lễ giả, và các thầy tế lễ khác.
ZEP 1:5 Ta sẽ tiêu diệt những kẻ lên mái nhà để bái lạy các ngôi sao, cùng những kẻ thờ phụng và thề thốt trong danh CHÚA lẫn thần Mô-léc,
ZEP 1:6 những kẻ quay bỏ CHÚA, những kẻ không theo Ngài hoặc cầu xin Ngài hướng dẫn.
ZEP 1:7 Hãy im lặng trước mặt CHÚA là Thượng-Đế, vì ngày Chúa phán xử dân chúng sắp đến. CHÚA đã chuẩn bị sinh tế; và đã thánh hoá các khách được mời.
ZEP 1:8 Vào ngày dâng sinh tế cho CHÚA, ta, CHÚA, sẽ trừng phạt các hoàng thân và hoàng tử cùng những kẻ ăn mặc y phục ngoại quốc.
ZEP 1:9 Trong ngày đó ta sẽ trừng phạt những kẻ theo thói tục dị đoan ngoại quốc, những kẻ mang sự hung bạo và lường gạt vào nhà của chủ mình.”
ZEP 1:10 CHÚA phán, “Trong ngày đó, sẽ có tiếng kêu khóc từ Cổng Cá. Tiếng than vãn sẽ phát ra từ khu mới của thành phố, và sẽ có tiếng đổ ầm vang dội từ các đồi.
ZEP 1:11 Hỡi các ngươi là những kẻ ở nơi phố chợ, hãy kêu khóc, vì mọi thương gia sẽ chết; các lái buôn bạc sẽ không còn.
ZEP 1:12 Vào lúc đó, ta, CHÚA sẽ lấy đèn rọi kiếm trong Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ trừng phạt những kẻ tự mãn, những kẻ cho rằng, ‘CHÚA sẽ không giúp chúng ta, hay trừng phạt chúng ta đâu.’
ZEP 1:13 Tài sản chúng nó sẽ bị đánh cắp, nhà cửa chúng nó sẽ bị tiêu diệt. Chúng sẽ xây nhà, nhưng không được ở trong đó. Chúng sẽ trồng vườn nho, nhưng không được uống rượu từ vườn nho mình.”
ZEP 1:14 Ngày Chúa xét xử sắp đến rồi; ngày ấy sẽ đến mau chóng. Sẽ có tiếng khóc thảm sầu vào ngày của CHÚA; ngay đến chiến sĩ cũng than khóc.
ZEP 1:15 Vì đó là ngày thịnh nộ, ngày kinh hoàng và khốn khó, ngày hủy diệt và điêu tàn, ngày đen tối ảm đạm, ngày mây mù và âm u,
ZEP 1:16 giống như thời chiến tranh, khi dân chúng nghe kèn và tù và, thổi lên trong các thành có vách kiên cố!
ZEP 1:17 Chúa phán, “Ta sẽ khiến đời sống dân chúng ra cơ cực; họ sẽ lần mò như kẻ mù, vì họ đã phạm tội cùng CHÚA. Huyết họ sẽ đổ ra như bụi đất, còn ruột gan họ sẽ bị ném bỏ như rác rưởi.
ZEP 1:18 Vào ngày đó, Thượng-Đế sẽ tỏ ra cơn thịnh nộ Ngài, dù vàng hay bạc cũng không cứu được họ. Cơn thịnh nộ Chúa như lửa; Ngài sẽ tiêu diệt mọi người trên đất.”
ZEP 2:1 Hãy nhóm lại, tập họp lại, tất cả các ngươi là dân tộc mà Thượng Đế không thích.
ZEP 2:2 Hãy nhóm lại trước khi quá trễ, trước khi các ngươi bị thổi bay tứ tung như trấu, trước khi cơn thịnh nộ ghê gớm của Chúa đến cùng các ngươi, trước ngày giận dữ của Ngài đến cùng các ngươi.
ZEP 2:3 Hỡi tất cả các ngươi là kẻ khiêm nhường, hãy đến cùng CHÚA, những ai vâng luật lệ Ngài. Hãy làm điều phải. Học tập đức khiêm nhường. May ra các ngươi sẽ thoát chết trong ngày CHÚA nổi thịnh nộ.
ZEP 2:4 Sẽ không còn ai sống sót trong thành Ga-xa, thành Ách-kê-lôn sẽ bị tiêu diệt. Đến trưa thì Ách-đốt sẽ hoang vắng, còn dân cư Éc-rôn sẽ bị đuổi đi.
ZEP 2:5 Khốn cho các ngươi là kẻ sống bên bờ Địa-trung-hải, hỡi các ngươi là người Phi-li-tin! Lời CHÚA phán nghịch các ngươi, hỡi Ca-na-an, xứ của dân Phi-li-tin. “Ta sẽ tiêu diệt các ngươi đến nỗi không còn ai sống sót.”
ZEP 2:6 Vùng đất dọc theo Địa-trung-hải nơi các ngươi sinh sống, sẽ trở thành đồng cỏ, ruộng nương cho kẻ chăn chiên.
ZEP 2:7 Nó sẽ thuộc về con cháu Giu-đa là kẻ còn sống sót. Họ sẽ thả chiên mình ăn cỏ ở đó, và ngủ đêm trong các nhà cửa của Ách-kê-lôn. CHÚA là Thượng-Đế của họ sẽ chăm sóc họ và phục hồi đời sống của họ.
ZEP 2:8 Ta đã nghe lời nhục mạ đến từ xứ Mô-áp và những tiếng đe dọa của dân Am-môn. Chúng đã sỉ nhục dân ta và hăm dọa chiếm xứ của dân ta.
ZEP 2:9 Vì thế Đấng Toàn Năng, Thượng-Đế của Ít-ra-en phán, “Thật như ta hằng sống, Mô-áp sẽ bị tiêu diệt như Xô-đôm, còn Am-môn sẽ như Gô-mô-rơ— chỉ còn lại một đống cỏ dại, một hầm muối, một nơi đổ nát đời đời. Những dân còn sống sót của ta sẽ chiếm đoạt những gì họ muốn từ chúng nó; dân còn sót lại của ta sẽ chiếm xứ chúng nó.”
ZEP 2:10 Đó là giá mà Mô-áp và Am-môn phải trả về tội tự phụ, vì chúng đã sỉ nhục và chế giễu dân tộc của CHÚA Toàn Năng.
ZEP 2:11 CHÚA sẽ khiến chúng hoảng sợ, vì Ngài sẽ tiêu diệt các thần trên đất. Rồi mọi người ở những nơi xa xôi sẽ đều thờ phụng Ngài.
ZEP 2:12 “Các ngươi là dân Cút sẽ bị gươm ta giết.”
ZEP 2:13 Rồi CHÚA sẽ quay nghịch phương Bắc và tiêu diệt A-xy-ri. Ngài sẽ biến Ni-ni-ve trở thành hoang tàn và khô khan như sa mạc.
ZEP 2:14 Các bầy súc vật sẽ nằm nghỉ ngơi nơi đó, cùng với các dã thú. Chim cú và quạ sẽ đậu trên các trụ đá. Chim cú sẽ kêu lên qua cửa sổ, Quạ sẽ đậu trên các ngạch cửa chính, Chúng sẽ mổ và phá hư các đồ trang hoàng trên những tấm vách gỗ của các toà nhà.
ZEP 2:15 Nó từng là thành nhộn nhịp và vui vẻ. Mọi người tưởng rằng mình an toàn. Chúng cho rằng Ni-ni-ve là thành lớn nhất thế giới, nhưng nó sẽ bị tiêu hủy, trở thành nơi ở cho muông thú. Người qua kẻ lại đều huýt sáo, lắc đầu chế giễu nó, khi nhìn thấy nó bị tiêu điều.
ZEP 3:1 Khốn cho thành Giê-ru-sa-lem độc ác, ương ngạnh, là thành tự hại dân cư mình.
ZEP 3:2 Nó không chịu vâng lời ai; không ai dạy nó làm điều phải được. Nó không tin cậy CHÚA; cũng chẳng thờ phụng Thượng Đế mình.
ZEP 3:3 Các viên chức nó như sư tử gầm thét. Các quan quyền nó như chó sói đói hung hăng tấn công vào chiều tà, và đến sáng hôm sau chẳng chừa lại món gì.
ZEP 3:4 Các nhà tiên tri nó kiêu căng; họ là những kẻ không thể tin cậy được. Các thầy tế lễ nó không tôn kính những vật thánh; Cố tình xuyên tạc lời giáo huấn của Thượng-Đế.
ZEP 3:5 Nhưng CHÚA là Đấng công bằng, Ngài đang ngự trong thành đó. Ngài không làm điều quấy. Mỗi sáng Ngài cai trị dân chúng một cách công minh; Ngày nào CHÚA cũng xét xử công bằng. Nhưng kẻ ác không biết xấu hổ về điều mình làm.
ZEP 3:6 Ta đã tiêu diệt các dân; các tháp canh nó đã bị sụp đổ rồi. Ta khiến cho phố xá nó vắng tanh để không còn ai đi lại nơi đó nữa. Các thành phố của chúng nó điêu tàn; không còn ai ở.
ZEP 3:7 Ta nói điều nầy để các ngươi kính nể ta và nghe lời dạy dỗ của ta. Nếu các ngươi học bài học ấy thì các ngươi sẽ không bị tiêu diệt. Nhưng chúng vẫn cứ hăm hở làm chuyện ác.
ZEP 3:8 CHÚA phán, “Hãy chờ đó. Một ngày nào ta sẽ đứng lên làm nhân chứng. Ta đã quyết định thu gom các dân và tập họp các nước. Ta sẽ trút cơn giận ta trên chúng nó, trút hết cơn thịnh nộ ta. Cơn thịnh nộ ta sẽ như lửa đốt cháy cả thế gian.
ZEP 3:9 Rồi ta sẽ khiến các dân tộc khác nói ngôn ngữ rõ ràng, và kêu cầu danh CHÚA. Chúng sẽ cùng nhau thờ phụng ta, vai sánh vai như một đoàn dân.
ZEP 3:10 Dân chúng sẽ đổ về từ nguồn sông Nin; dân tản mác của ta sẽ mang lễ vật đến cho ta.
ZEP 3:11 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ngươi sẽ không còn bị xấu hổ về những điều ngươi làm nghịch lại ta, vì ta sẽ loại bỏ giữa ngươi những kẻ huênh hoang; sẽ chẳng còn có kẻ kiêu căng nữa trên núi thánh ta.
ZEP 3:12 Nhưng ta sẽ để lại trong thành ngươi những kẻ hiền từ và khiêm nhường, tất cả đều sẽ tin cậy CHÚA.
ZEP 3:13 Những kẻ còn sống sót trong Ít-ra-en sẽ không làm quấy và nói dối nữa; sẽ không dùng miệng mình gạt dân chúng. Họ sẽ ăn ngủ bình yên, Không còn ai làm cho họ sợ hãi.”
ZEP 3:14 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy hát lên. Ít-ra-en ơi, hãy lớn tiếng reo vui! Giê-ru-sa-lem ơi, hãy hớn hở và hết lòng mừng rỡ.
ZEP 3:15 CHÚA đã thôi trừng phạt ngươi; Ngài đã đuổi kẻ thù ngươi đi rồi. CHÚA là Vua của Ít-ra-en, ở cùng ngươi. Ngươi sẽ không còn lo sợ bị hãm hại nữa.
ZEP 3:16 Trong ngày đó, Giê-ru-sa-lem sẽ được khuyên bảo, “Hỡi thành Giê-ru-sa-lem, đừng sợ. Đừng buông xuôi.
ZEP 3:17 CHÚA là Thượng-Đế đang ở cùng ngươi; Đấng Toàn Năng sẽ giải cứu ngươi. Ngài sẽ vui về ngươi. Ngươi sẽ an nghỉ trong tình yêu Ngài; Ngài sẽ hát và hớn hở về ngươi.”
ZEP 3:18 “Ta sẽ cất sự buồn rầu đã dành cho ngươi, là điều khiến ngươi xấu hổ.
ZEP 3:19 Lúc đó ta sẽ trừng phạt những kẻ đã làm hại ngươi. Ta sẽ giải cứu dân ta là kẻ què quặt, và thu nhóm dân ta là kẻ đã bị ruồng rẫy. Ta sẽ ban cho họ lời ca ngợi và sự tôn trọng ở những nơi nào họ đã bị làm nhục.
ZEP 3:20 Lúc đó ta sẽ triệu tập ngươi lại; và sẽ mang ngươi trở về nhà. Ta sẽ ban cho ngươi những lời ca tụng và sự tôn trọng từ khắp mọi dân khi ta khiến ngươi sung túc trở lại, trước mắt các dân,” CHÚA phán vậy.
HAG 1:1 Nhà tiên tri A-gai thuật lại lời của CHÚA cho Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, tổng trấn Giu-đa, và cho Giô-suê, con Giê-hô-xa-đác, thầy tế lễ tối cao. Sứ điệp nầy đến vào năm thứ hai đời vua Đa-ri-út, vào ngày đầu tiên của tháng sáu:
HAG 1:2 “Chúa Toàn Năng phán như sau: ‘Dân chúng nói rằng chưa phải lúc để xây lại đền thờ CHÚA.’”
HAG 1:3 Sau đó nhà tiên tri A-gai thuật lại lời CHÚA phán:
HAG 1:4 “Trong khi các ngươi ở nhà cao cửa rộng mà đền thờ nầy bị điêu tàn thì có hợp lý không?”
HAG 1:5 Bây giờ Chúa Toàn Năng phán: “Hãy suy nghĩ đến điều các ngươi làm.
HAG 1:6 Các ngươi trồng nhiều mà gặt ít, ăn mà không no, uống mà chưa say. Ngươi mặc áo quần mà vẫn không thấy ấm. Các ngươi kiếm tiền mà không giữ được như bỏ vào túi lủng.”
HAG 1:7 Chúa Toàn Năng phán: “Hãy suy nghĩ về những điều các ngươi làm.
HAG 1:8 Hãy lên núi, đốn gỗ về xây đền thờ. Bấy giờ ta sẽ hài lòng và được tôn trọng,” CHÚA phán vậy.
HAG 1:9 “Các ngươi tìm nhiều mà kiếm được chẳng bao nhiêu. Khi các ngươi mang các đồ ấy về nhà thì ta tiêu hủy chúng. Tại sao?” CHÚA Toàn Năng hỏi. “Tại vì các ngươi chỉ làm lụng cực khổ để lo cho nhà mình còn nhà của ta thì điêu tàn!
HAG 1:10 Tại các ngươi làm vậy cho nên trời giữ nước mưa lại, và đất không sinh sản mùa màng.
HAG 1:11 Ta đã định kỳ hạn hán trên xứ, trên núi non, ngũ cốc, rượu mới, dầu ô liu, trên các cây mà đất sinh sản, trên người, trên gia súc, và trên tất cả công việc do tay các ngươi làm.”
HAG 1:12 Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên và Giô-suê, con Giê-hô-xa-đác, thầy tế lễ tối cao, và tất cả dân sống sót lại vâng lời CHÚA là Thượng-Đế của họ cùng sứ điệp từ A-gai, nhà tiên tri, vì CHÚA là Thượng-Đế họ đã sai ông đến. Còn dân chúng thì kính sợ CHÚA.
HAG 1:13 A-gai, sứ giả của Chúa, truyền sứ điệp của Ngài cho dân chúng rằng, “CHÚA phán, ‘Ta ở cùng các ngươi.’”
HAG 1:14 CHÚA giục lòng Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, tổng trấn xứ Giu-đa, và Giô-suê, con Giê-hô-xa-đác, thầy tế lễ tối cao, cùng tất cả dân sống sót. Nên họ cùng nhau đến xây lại đền thờ Thượng-Đế mình, tức CHÚA Toàn Năng.
HAG 1:15 Họ khởi công vào ngày hai mươi bốn tháng sáu, vào năm thứ hai triều đại vua Đa-ri-út.
HAG 2:1 Vào ngày hai mươi mốt tháng bảy, CHÚA phán như sau qua A-gai, nhà tiên tri rằng,
HAG 2:2 “Hãy nói cùng Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, tổng trấn Giu-đa, và cùng Giô-suê, con Giê-hô-xa-đác, thầy tế lễ tối cao, cùng tất cả dân sống sót như sau,
HAG 2:3 ‘Có ai trong các ngươi còn nhớ vẻ oai nghi của đền thờ trước khi bị tiêu hủy không? Bây giờ thì đền thờ trông như thế nào? Có phải nó trông không ra gì đối so với đền thờ trước không?’
HAG 2:4 Nhưng CHÚA phán, ‘Hỡi Xê-ru-ba-bên, hãy can đảm. Ngoài ra, hỡi Giô-suê, con Giê-hô-xa-đác, là thầy tế lễ tối cao và toàn dân trong xứ, hãy mạnh dạn lên,’ CHÚA phán. ‘Hãy thi hành công tác, vì ta ở cùng các ngươi,’ CHÚA Toàn Năng phán vậy.
HAG 2:5 ‘Khi các ngươi ra khỏi Ai-cập ta đã hứa cùng các ngươi, và bây giờ Thần linh ta cũng ở giữa các ngươi, cho nên đừng sợ.’
HAG 2:6 CHÚA Toàn Năng phán: ‘Ít lâu nữa, ta sẽ lại làm rung chuyển trời và đất, biển cùng đất khô.
HAG 2:7 Ta sẽ làm rúng động các dân, và họ sẽ mang của cải lại. Rồi ta sẽ làm cho đền thờ nầy đầy vinh hiển,’ CHÚA Toàn Năng phán vậy.
HAG 2:8 CHÚA Toàn Năng phán, ‘Bạc là của ta, vàng cũng là của ta,’
HAG 2:9 ‘Vinh quang của đền thờ mới sẽ rực rỡ hơn vinh quang của đền thờ cũ,’ CHÚA Toàn Năng phán. ‘Và ta sẽ ban hòa bình nơi nầy,’ CHÚA Toàn Năng phán.”
HAG 2:10 Vào ngày hai mươi bốn tháng chín năm thứ hai triều đại Đa-ri-út, thì CHÚA phán cùng A-gai, nhà tiên tri rằng,
HAG 2:11 “CHÚA Toàn Năng phán như sau: ‘Hãy hỏi các thầy tế lễ điều giáo huấn sau.
HAG 2:12 Giả sử có người mang trong chéo áo một số thịt đã được biệt ra thánh cho CHÚA. Nếu chéo áo đó đụng đến bánh mì, thức ăn đã nấu, rượu, dầu ô liu, hay bất cứ thức ăn nào khác thì các món đó có hóa thánh hay không?’” Các thầy tế lễ trả lời, “Không.”
HAG 2:13 A-gai tiếp, “Ai đụng đến xác chết sẽ bị nhơ nhớp. Nếu người đó đụng đến bất cứ thức ăn nào vừa nói thì thức ăn đó có bị nhơ nhớp không?” Các thầy tế lễ đáp, “Có, món đó sẽ bị nhơ nhớp.”
HAG 2:14 Rồi A-gai nói, “CHÚA phán, ‘Dân xứ nầy cũng như vậy. Họ bị nhơ nhớp, và những gì do tay họ làm đều nhơ nhớp đối với ta. Những gì họ dâng ở bàn thờ cũng đều nhơ nhớp.
HAG 2:15 Từ nay về sau hãy suy nghĩ về điều ấy! Hãy suy nghĩ trước khi các ngươi bắt đầu đặt viên đá nầy lên viên đá khác để xây đền thờ CHÚA.
HAG 2:16 Có người đi đến một đống lúa mong tìm được hai mươi thùng đầy nhưng chỉ được có mười thùng hoặc ai đến vạc rượu để lấy ra năm mươi chai rượu đầy mà chỉ còn có hai mươi chai.
HAG 2:17 Ta đã dùng bệnh tật, mốc meo, và mưa đá làm hư hỏng công việc tay các ngươi làm nhưng các ngươi vẫn không trở lại cùng ta,’ CHÚA phán.
HAG 2:18 ‘Vào ngày hai mươi bốn tháng chín, ngày mà dân chúng hoàn tất việc đặt nền cho đền thờ CHÚA. Từ nay về sau hãy suy nghĩ các điều nầy:
HAG 2:19 Trong kho các ngươi có còn hột giống cho mùa màng không? Dây nho, cây vả, cây lựu, và cây ô liu chưa ra trái. Nhưng từ nay về sau ta sẽ ban phước cho các ngươi!’”
HAG 2:20 Rồi CHÚA phán cùng A-gai một lần nữa vào ngày hai mươi bốn tháng ấy. Ngài bảo,
HAG 2:21 “Hãy nói cùng Xê-ru-ba-bên, tổng trấn Giu-đa rằng, ‘Ta sẽ làm rúng động trời và đất.
HAG 2:22 Ta sẽ tiêu diệt các quốc gia ngoại quốc và tước đoạt quyền lực của các dân. Ta sẽ tiêu diệt các quân xa và người điều khiển. Ngựa cùng người cỡi đều sẽ ngã nhào, vì người ta sẽ dùng gươm chém giết nhau.’
HAG 2:23 CHÚA Toàn Năng phán, ‘Trong ngày đó, ta sẽ nhận ngươi, Xê-ru-ba-bên, con Sê-anh-tiên, tôi tớ ta,’ CHÚA phán, ‘Và ta sẽ khiến ngươi trở nên quan trọng như nhẫn đóng ấn của ta vì ta đã chọn ngươi!’” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
ZEC 1:1 Vào năm thứ hai, tháng tám triều đại vua Đa-ri-út, CHÚA phán cùng nhà tiên tri Xa-cha-ri, con trai Bê-rê-kia, cháu Y-đô, như sau,
ZEC 1:2 “CHÚA rất bất bình với tổ tiên các ngươi.
ZEC 1:3 Cho nên hãy bảo dân chúng: CHÚA Toàn Năng phán như sau: ‘Hãy trở lại cùng ta thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi,’ CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
ZEC 1:4 Đừng như tổ tiên các ngươi. Xưa kia các nhà tiên tri khuyên họ: Hãy nghe lời CHÚA Toàn Năng phán: ‘Hãy từ bỏ nếp sống và hành vi gian ác của các ngươi.’ Nhưng họ không thèm nghe hay để ý lời ta nói, CHÚA phán vậy.
ZEC 1:5 Tổ tiên các ngươi chết hết rồi, còn các nhà tiên tri cũng chẳng sống mãi mãi.
ZEC 1:6 Ta ban mệnh lệnh và luật lệ ta cho các nhà tiên tri là tôi tớ ta, họ giảng cho các tổ tiên ngươi là những người bằng lòng trở lại cùng ta. Họ bảo, ‘CHÚA Toàn Năng đã làm y như điều Ngài nói. Ngài trừng phạt chúng ta vì lối sống và hành động của chúng ta.’”
ZEC 1:7 Ngày hai mươi bốn tháng mười một tức tháng Sê-bát, vào năm thứ hai triều đại vua Đa-ri-út, CHÚA phán với nhà tiên tri Xa-cha-ri, con trai Bê-rê-kia, cháu Y-đô.
ZEC 1:8 Ban đêm tôi thấy một người cỡi ngựa hồng. Người đứng giữa các cây sim trong một cái hố, phía sau người có các con ngựa hồng, nâu và bạch.
ZEC 1:9 Tôi hỏi, “Thưa ông, các con ngựa nầy là gì?” Thiên sứ đang nói với tôi đáp, “Ta sẽ cho ngươi biết chúng là gì.”
ZEC 1:10 Rồi người đứng giữa các cây sim giải thích, “Chúng là những sứ giả CHÚA sai đi khắp đất.”
ZEC 1:11 Chúng nói cùng thiên sứ của CHÚA, là người đang đứng giữa các cây sim như sau, “Chúng tôi đã đi khắp thế gian, thấy mọi việc đều yên tĩnh.”
ZEC 1:12 Rồi thiên sứ của CHÚA hỏi, “Lạy CHÚA Toàn Năng, chừng nào Ngài mới tỏ lòng từ bi đối với Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa? Ngài giận họ đã bảy mươi năm nay.”
ZEC 1:13 CHÚA đáp cùng thiên sứ đang nói chuyện với tôi, và lời Ngài thật phấn khởi dịu dàng.
ZEC 1:14 Rồi thiên sứ đang nói với tôi bảo tôi, “Hãy loan báo điều nầy: CHÚA Toàn Năng phán như sau: ‘Ta quá yêu Giê-ru-sa-lem và núi Xi-ôn.
ZEC 1:15 Ta rất tức giận các dân tộc cảm thấy an ninh. Ta chỉ hơi bực mình và dùng chúng để trừng phạt dân ta. Nhưng chúng gây ra quá nhiều tổn hại.’
ZEC 1:16 Cho nên CHÚA phán: ‘Ta sẽ tỏ lòng từ bi trở lại với Giê-ru-sa-lem và an ủi nó. Giê-ru-sa-lem sẽ được xây lại,’ CHÚA Toàn Năng phán, ‘và nhà ta sẽ được tái thiết ở đó.’
ZEC 1:17 Thiên sứ cũng nói: CHÚA Toàn Năng phán như sau: ‘Các thị trấn của ta sẽ sung túc trở lại. CHÚA sẽ lại an ủi Xi-ôn, và Ngài cũng sẽ lại chọn Giê-ru-sa-lem làm thành phố đặc biệt cho mình.’”
ZEC 1:18 Rồi tôi ngước lên nhìn thì thấy bốn cái sừng súc vật.
ZEC 1:19 Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi, “Những vật nầy để làm gì?” Người đáp, “Đây là các sừng để phân tán dân Giu-đa, Ít-ra-en, và Giê-ru-sa-lem.”
ZEC 1:20 Rồi CHÚA chỉ cho tôi thấy bốn tay thợ khéo.
ZEC 1:21 Tôi hỏi, “Họ đến đây để làm gì?” Người đáp, “Họ đến để đe dọa và ném các sừng xuống đất. Các sừng nầy đã phân tán dân Giu-đa ra các xứ ngoại quốc. Chúng chẳng thương xót ai. Nhưng bốn người nầy đến để doạ nạt chúng và ném bỏ chúng đi.”
ZEC 2:1 Rồi tôi ngước lên thấy một người cầm một thước đo.
ZEC 2:2 Tôi hỏi người, “Ông đi đâu vậy?” Người đáp, “Ta sắp đi đo Giê-ru-sa-lem để biết chiều rộng và chiều dài của nó.”
ZEC 2:3 Sau đó thiên sứ đang nói với tôi ra đi, rồi một thiên sứ khác ra gặp người.
ZEC 2:4 Thiên sứ thứ nhì nói với người, “Hãy chạy bảo chàng thanh niên kia, ‘Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên một thành không vách, vì có quá nhiều người và súc vật trong đó.’
ZEC 2:5 CHÚA phán, ‘Ta sẽ làm vách bằng lửa bao quanh nó và vinh hiển bên trong nó.’”
ZEC 2:6 CHÚA phán, “Nầy! Hãy chạy trốn khỏi Ba-by-lôn vì ta đã phân tán các ngươi khắp bốn phương.
ZEC 2:7 Giê-ru-sa-lem ơi! Hãy bỏ chạy đi, tất cả các ngươi đang sống trong xứ Ba-by-lôn.”
ZEC 2:8 CHÚA Toàn Năng phán thế nầy, “Sau đó ta sai ngươi đi đến các dân đã cướp đoạt tài sản ngươi. Ai đụng đến các ngươi tức đụng đến con ngươi của mắt ta.
ZEC 2:9 Ta sẽ vung tay nghịch lại chúng để cho bọn nô lệ của chúng tước đoạt chúng.” Rồi các ngươi sẽ biết rằng CHÚA Toàn Năng đã sai ta.
ZEC 2:10 CHÚA bảo, “Hỡi Xi-ôn, hãy reo vui. Ta đang đến, và ta sẽ sống giữa ngươi.
ZEC 2:11 Lúc ấy, các dân trên đất sẽ trung thành cùng CHÚA và trở nên dân Ngài. Rồi Ngài sẽ sống giữa ngươi, và ngươi sẽ biết rằng CHÚA Toàn Năng đã sai ta đến cùng ngươi.
ZEC 2:12 CHÚA sẽ chọn Giu-đa làm của riêng mình trong đất thánh, và Giê-ru-sa-lem sẽ là thành được Ngài chọn trở lại.
ZEC 2:13 Mọi người hãy im lặng trước mặt CHÚA. Ngài đang đến từ nơi thánh là nơi Ngài ngự.”
ZEC 3:1 Rồi Ngài cho tôi thấy Giô-suê, thầy tế lễ cả đứng trước mặt thiên sứ của CHÚA. Còn Kẻ Kiện Cáo đứng bên tay phải người để tố cáo người.
ZEC 3:2 Thiên sứ CHÚA hỏi kẻ Kiện cáo, “Nầy kẻ Kiện Cáo, cầu CHÚA quở trách ngươi! Cầu CHÚA là Đấng đã chọn Giê-ru-sa-lem quở trách ngươi! Người nầy như que đuốc cháy rút ra từ đám lửa.”
ZEC 3:3 Giô-suê đang mặc áo quần dơ bẩn đứng trước mặt thiên sứ.
ZEC 3:4 Thiên sứ bảo những kẻ đứng trước mặt người, “Hãy cởi quần áo dơ bẩn của người ra.” Rồi thiên sứ bảo Giô-suê, “Nầy, ta đã cất tội lỗi ra khỏi ngươi và ban cho ngươi áo quần xinh đẹp.”
ZEC 3:5 Rồi tôi nói, “Hãy đội một khăn vành sạch lên đầu người.” Vậy người ta đội một khăn vành sạch lên đầu người và mặc áo quần cho người trong khi thiên sứ của CHÚA đứng đó.
ZEC 3:6 Rồi thiên sứ của CHÚA dặn Giô-suê,
ZEC 3:7 “CHÚA Toàn Năng phán như sau: ‘Nếu ngươi làm theo điều ta bảo và phục vụ ta thì ngươi sẽ được phụ trách Đền thờ và sân họp của ta. Ta sẽ cho ngươi được phép tiếp xúc với các thiên sứ đang đứng đây.
ZEC 3:8 Nầy, Giô-suê, thầy tế lễ cả cùng các bạn hữu đang ngồi trước mặt ngươi, hãy nghe đây. Họ là hình ảnh của những điều sẽ xảy ra. Ta sẽ mang tôi tớ của ta đến. Người có tên là Nhánh.
ZEC 3:9 Xem nầy, ta đặt trước mặt Giô-suê một tảng đá có bảy mặt. Ta sẽ khắc một câu trên đó,’ CHÚA Toàn Năng phán. ‘Và trong một ngày, ta sẽ cất tội lỗi của đất nầy.’
ZEC 3:10 CHÚA Toàn-Năng phán, ‘Trong ngày đó, mỗi người trong các ngươi sẽ mời láng giềng mình ngồi dưới cây nho và cây vả mình.’”
ZEC 4:1 Rồi thiên sứ đang nói với tôi trở lại đánh thức tôi. Tôi như người thức giấc.
ZEC 4:2 Người hỏi tôi, “Ngươi thấy gì?” Tôi đáp, “Tôi thấy một chân đèn bằng vàng khối, và một cái chậu nằm phía trên. Cái chậu cũng có bảy tim đèn.
ZEC 4:3 Bên cạnh có hai cây ô liu, một cây bên phải và một cây bên trái cái chậu.”
ZEC 4:4 Tôi hỏi thiên sứ nói chuyện với tôi, “Thưa ông, những vật nầy có nghĩa gì?”
ZEC 4:5 Thiên sứ đang đứng với tôi trả lời, “Ngươi không hiểu nghĩa là gì à?” Tôi đáp, “Dạ, không.”
ZEC 4:6 Người liền giải thích, “Đây là lời CHÚA phán cho Xê-ru-ba-bên: ‘Ngươi sẽ không làm gì được do tài sức ngươi mà do Thần linh ta,’” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
ZEC 4:7 “Ngươi là ai, hỡi hòn núi lớn? Trước mặt Xê-ru-ba-bên ngươi như đất phẳng. Người sẽ mang tảng đá ra và dân chúng sẽ kêu lên rằng, ‘Tuyệt đẹp, tuyệt đẹp!’”
ZEC 4:8 Rồi CHÚA phán với tôi như sau,
ZEC 4:9 “Xê-ru-ba-bên đã đặt nền móng cho Đền thờ nầy và người sẽ hoàn tất việc xây cất đền thờ đó. Rồi ngươi sẽ biết rằng CHÚA Toàn Năng sai ta đến với ngươi.
ZEC 4:10 Dân chúng tưởng rằng những khởi điểm nhỏ không quan trọng nhưng họ sẽ vui mừng khi thấy Xê-ru-ba-bên mang các dụng cụ đến xây cất đền thờ.” “(Đó là bảy con mắt của CHÚA, nhìn qua nhìn lại khắp đất.)”
ZEC 4:11 Rồi tôi hỏi thiên sứ, “Hai cây ô liu bên phải và bên trái chân đèn nghĩa là gì?”
ZEC 4:12 Tôi cũng hỏi thêm, “Còn hai cây ô liu bên cạnh hai ống dẫn bằng vàng để cho dầu chảy vào đèn là nghĩa gì?”
ZEC 4:13 Người đáp, “Ngươi không hiểu chúng có nghĩa gì à?” Tôi đáp, “Dạ, không!”
ZEC 4:14 Người liền giải thích, “Chúng tượng trưng cho hai người đã được chỉ định phục vụ CHÚA trên khắp đất.”
ZEC 5:1 Tôi nhìn lên lần nữa và thấy một cuộn sách bay.
ZEC 5:2 Thiên sứ hỏi tôi, “Ngươi thấy gì?” Tôi đáp, “Tôi thấy một cuộn sách bay, dài chín thước, rộng bốn thước.”
ZEC 5:3 Người bảo tôi, “Đây là điều nguyền rủa cho khắp xứ. Một mặt sách nói rằng mọi kẻ trộm cắp sẽ bị diệt đi. Mặt kia nói rằng những ai hứa dối cũng sẽ bị diệt.
ZEC 5:4 CHÚA Toàn Năng phán, ‘Ta sẽ sai điều nguyền rủa đến cho nhà các kẻ trộm và cho những ai nhân danh ta mà thề dối. Cuộn sách sẽ nằm trong nhà những kẻ ấy, tiêu diệt các nhà đó, từ gỗ cho đến đá.’”
ZEC 5:5 Rồi thiên sứ đang nói với tôi bước đến bảo tôi, “Hãy ngước lên nhìn xem có vật gì đang đi ra.”
ZEC 5:6 Tôi hỏi, “Vật gì vậy?” Người đáp, “Đó là một cái thùng đo lường.” Người tiếp, “Nó dùng để đo lường tội lỗi của dân chúng trong xứ nầy.”
ZEC 5:7 Rồi một cái nắp bằng chì được mở lên, và có người đàn bà ngồi trong cái giỏ.
ZEC 5:8 Thiên sứ bảo, “Người đàn bà tượng trưng cho điều ác.” Rồi người đẩy người đàn bà vào trong giỏ và đóng nắp chì lại.
ZEC 5:9 Khi tôi nhìn lên thì thấy hai người đàn bà đi ra cùng với gió trên cánh họ. Cánh họ giống như cánh cò, rồi họ nhấc cái giỏ lên giữa trời và đất.
ZEC 5:10 Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi, “Họ mang cái giỏ đi đâu vậy?”
ZEC 5:11 Người đáp, “Họ mang cái giỏ đi qua Ba-by-lôn để xây một cái miếu cho nó. Khi xây xong, họ sẽ đặt cái giỏ vào đó.”
ZEC 6:1 Tôi nhìn lên nữa thì thấy bốn chiếc xe đi ra giữa hai ngọn núi bằng đồng.
ZEC 6:2 Chiếc xe thứ nhất do các con ngựa hồng kéo. Chiếc xe thứ hai do các con ngựa ô kéo.
ZEC 6:3 Chiếc xe thứ ba do các con ngựa bạch kéo, và chiếc xe thứ tư do các con ngựa lực lưỡng có đốm đen kéo. Tất cả các con ngựa đều lực lưỡng.
ZEC 6:4 Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi, “Thưa ông, những điều nầy có nghĩa gì?”
ZEC 6:5 Người đáp, “Đây là bốn thần linh của trời. Các vị thần đó vừa mới ra đi sau khi gặp mặt CHÚA của cả thế gian.
ZEC 6:6 Cỗ xe do các con ngựa ô kéo sẽ đi đến xứ phương Bắc. Các con ngựa bạch sẽ đi đến xứ phía Tây, con các con ngựa có đốm đen sẽ đi đến xứ phía Nam.”
ZEC 6:7 Khi các con ngựa hùng hổ đi ra thì chúng nóng lòng muốn đi khắp đất. Cho nên người bảo, “Hãy đi khắp đất đi,” thì chúng liền đi.
ZEC 6:8 Rồi người gọi tôi, “Xem kìa, các con ngựa đi về miền Bắc đã khiến cho thần linh ta nghỉ ngơi trong xứ miền Bắc.”
ZEC 6:9 CHÚA phán cùng tôi như sau,
ZEC 6:10 “Hãy lấy bạc và vàng của Hên-đai, Tô-bi-gia, và Giê-đai-gia là các tù binh mới về từ Ba-by-lôn. Cùng hôm ấy hãy đi đến nhà Giô-xia, con trai Xô-phô-ni.
ZEC 6:11 Hãy lấy vàng và bạc đó làm một mão triều đội lên đầu Giô-suê, con trai Giê-hô-xa-đác, thầy tế lễ cả.
ZEC 6:12 Hãy nói với người rằng CHÚA Toàn Năng phán: ‘Có một người gọi là Nhánh sẽ mọc lên từ nơi người đang đứng. Người sẽ xây đền thờ cho CHÚA.
ZEC 6:13 Người sẽ xây đền thờ cho CHÚA, và người kia sẽ nhận vinh dự. Người sẽ ngồi trên ngôi cai trị, và cũng sẽ làm thầy tế lễ trên ngôi. Hai chức vụ sẽ hoà hợp với nhau.’
ZEC 6:14 Mão triều sẽ được giữ trong đền thờ của CHÚA để nhớ lại Hên-đai, Tô-bi-gia, Giê-đai-gia, và Giô-xia, con trai Xô-phô-ni.
ZEC 6:15 Dân chúng từ nơi xa sẽ đến và xây đền thờ CHÚA. Rồi ngươi sẽ biết rằng CHÚA Toàn Năng sai ta đến với ngươi. Việc nầy chỉ xảy đến nếu ngươi hoàn toàn vâng theo CHÚA là Thượng-Đế ngươi.”
ZEC 7:1 Trong năm thứ tư đời vua Đa-ri-út, vào ngày bốn tháng chín, gọi là tháng Kích-lê, CHÚA phán cùng Xa-cha-ri.
ZEC 7:2 Thành Bê-tên sai Sa-rê-xe, Rê-gem Mê-léc, và những người khác đến hỏi CHÚA một việc.
ZEC 7:3 Họ đi đến các nhà tiên tri và các thầy tế lễ phục vụ trong đền thờ CHÚA Toàn Năng. Họ hỏi, “Suốt nhiều năm qua cứ đến tháng năm mỗi năm chúng tôi cữ ăn và buồn rầu. Chúng tôi có nên tiếp tục làm như thế nữa hay không?”
ZEC 7:4 CHÚA Toàn Năng phán với tôi như sau,
ZEC 7:5 “Hãy bảo các thầy tế lễ và toàn dân trong xứ: ‘Trong suốt bảy mươi năm qua các ngươi cữ ăn và khóc lóc trong tháng năm và tháng bảy mỗi năm nhưng có phải các ngươi làm những điều ấy chỉ riêng cho ta sao?
ZEC 7:6 Các ngươi ăn uống là vì chính mình thôi.
ZEC 7:7 CHÚA đã dùng các nhà tiên tri trước đây để phán những lời như thế, khi Giê-ru-sa-lem và các thị trấn chung quanh đang hoà bình và thịnh vượng, lúc dân chúng sống trong vùng miền Nam và miền đồi núi phía Tây.’”
ZEC 7:8 CHÚA lại phán như sau cho Xa-cha-ri,
ZEC 7:9 “CHÚA Toàn Năng phán: ‘Hãy làm điều phải và chân thật. Hãy tỏ lòng nhân từ đối với nhau.
ZEC 7:10 Đừng làm hại cô nhi quả phụ, khách ngoại kiều và người nghèo khó; đừng tính chuyện ác cho người khác.
ZEC 7:11 Nhưng họ không thèm nghe; họ ương ngạnh và không muốn nghe nữa.
ZEC 7:12 Họ cứng lòng như đá và không muốn nghe lời giáo huấn của CHÚA Toàn Năng. Họ không muốn nghe lời Ngài phán qua Thánh Linh, qua các nhà tiên tri thời xưa. Vì thế CHÚA Toàn Năng rất tức giận.
ZEC 7:13 Khi ta gọi, họ không thèm trả lời, cho nên khi họ kêu ta cũng chẳng thèm nghe,’ CHÚA Toàn Năng phán vậy.
ZEC 7:14 ‘Ta phân tán họ ra như giông bão đến các xứ mà họ không hề biết. Mảnh đất xinh đẹp của họ điêu tàn đến nỗi không có ai ở. Họ đã khiến đất tốt đẹp ra điêu tàn.’”
ZEC 8:1 CHÚA Toàn Năng phán như sau,
ZEC 8:2 Đây là lời của CHÚA Toàn Năng, “Ta rất yêu Xi-ôn. Tình yêu của ta đối với nó như lửa nung nấu trong lòng ta.”
ZEC 8:3 CHÚA phán: “Ta sẽ trở lại Xi-ôn và cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem. Thành ấy sẽ được gọi là Thành Chân thật, và núi của CHÚA Toàn Năng sẽ gọi là Núi Thánh.”
ZEC 8:4 Đây là lời CHÚA Toàn Năng phán: “Những ông già bà cả sẽ lại ngồi dọc theo các đường phố Giê-ru-sa-lem, mỗi người mang theo một cây gậy để chống đi vì già nua.
ZEC 8:5 Phố xá sẽ đầy dẫy các trẻ nhỏ, cả trai lẫn gái, nô đùa vui chơi. Đường phố sẽ vang tiếng cười đùa.”
ZEC 8:6 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Những người còn sống sót sẽ cho rằng việc đó khó có thể xảy ra, nhưng đối với ta không có điều gì khó cả,” CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
ZEC 8:7 Đây là lời CHÚA Toàn Năng phán, “Ta sẽ giải cứu dân ta từ các nước Đông và Tây.
ZEC 8:8 Ta sẽ mang họ trở về sống tại Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ làm dân ta, còn ta sẽ làm Thượng-Đế, trung tín và công bình với họ.”
ZEC 8:9 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Hãy chịu khó làm việc, hỡi các ngươi là những người nghe lời nầy hôm nay từ miệng các nhà tiên tri khi nền của nhà CHÚA Toàn Năng được đặt.
ZEC 8:10 Trước thời điểm đó, dân chúng không có tiền thuê người hay thú vật. Người ta không thể đi lại an toàn. Ta đã khiến cho các láng giềng thù nghịch nhau.
ZEC 8:11 Nhưng nay thì khác. Các dân còn sót lại sẽ không gặp cảnh ấy nữa” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
ZEC 8:12 “Họ sẽ gieo hột, và hột sẽ nẩy nở mạnh; dây nho sẽ ra trái, đất sẽ sinh sản hoa màu, và mưa sẽ rơi xuống. Ta sẽ ban những điều đó cho dân còn sót lại.
ZEC 8:13 Hỡi Giu-đa và Ít-ra-en, tên ngươi trước kia đã được dùng làm lời nguyền rủa giữa các dân tộc khác. Nhưng ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ trở thành nguồn phước. Cho nên đừng sợ, hãy cần cù.”
ZEC 8:14 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Khi tổ tiên các ngươi chọc giận ta, ta định trừng phạt các ngươi. Ta không đổi ý,” CHÚA Toàn Năng phán.
ZEC 8:15 “Nhưng nay ta sẽ làm khác. Ta sẽ tỏ lòng nhân từ cùng Giê-ru-sa-lem và Giu-đa. Cho nên ngươi đừng sợ.
ZEC 8:16 Đây là những điều ngươi phải làm: Hãy nói chân thật cùng nhau. Nơi toà án hãy dùng sự chân thật và lẽ công bằng mà phân xử.
ZEC 8:17 Đừng âm mưu hại người láng giềng mình và cũng đừng hứa dối. Ta ghét những điều đó,” CHÚA phán vậy.
ZEC 8:18 Rồi CHÚA Toàn Năng phán với ta lần nữa.
ZEC 8:19 Đây là điều CHÚA Toàn Năng phán: “Những ngày đặc biệt mà ngươi cữ ăn trong tháng tư, tháng năm, tháng bảy và tháng mười sẽ trở nên những ngày lễ hân hoan, vui mừng trong Giu-đa. Nhưng ngươi phải yêu mến chân lý và hoà bình.”
ZEC 8:20 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Dân chúng từ nhiều thành phố sẽ lại đổ về Giê-ru-sa-lem.
ZEC 8:21 Dân thành nầy sẽ bảo dân thành nọ, ‘Chúng ta sẽ cầu nguyện cùng CHÚA và xin CHÚA Toàn Năng cứu giúp. Hãy đến và đi chung với chúng tôi.’
ZEC 8:22 Nhiều người và nhiều dân tộc hùng cường sẽ đến thờ lạy CHÚA Toàn Năng ở Giê-ru-sa-lem và cầu nguyện cùng Ngài.”
ZEC 8:23 CHÚA Toàn Năng phán như sau: “Lúc ấy mười người đàn ông sẽ đến níu áo một người Giu-đa bảo rằng, ‘Hãy cho chúng tôi đi với anh vì chúng tôi nghe Thượng-Đế ở cùng anh.’”
ZEC 9:1 Đây là lời CHÚA phán. Lời CHÚA nghịch cùng đất Ha-đơ-rắc và thủ đô Đa-mách của nó. “Không phải chỉ có các chi tộc Ít-ra-en là biết Thượng Đế mà thôi đâu. Mọi người đều hướng về Ngài để xin giúp đỡ.
ZEC 9:2 Lời nầy cũng nghịch lại thành Ha-mát, trên biên giới của Ha-đơ-rắc, và nghịch lại thành Tia và Xi-đôn dù dân cư các thành ấy giỏi giang đi nữa.
ZEC 9:3 Thành Tia đã xây tường vững chắc cho mình. Nó thu bạc nhiều như bụi cát và vàng nhiều như bùn ngoài đường.
ZEC 9:4 Nhưng CHÚA sẽ tước đoạt những gì nó có và ném tài sản của nó xuống biển. Thành đó sẽ bị lửa tiêu hủy.
ZEC 9:5 Dân thành Ách-kê-lôn sẽ nhìn thấy và đâm ra sợ. Thành Ga-xa cũng run rẩy, và dân Éc-rôn sẽ hết hi vọng. Sẽ không có vua nào còn sót lại trong Ga-xa, và sẽ không còn dân cư trong Ách-kê-lôn nữa.
ZEC 9:6 Dân Ách-đốt sẽ không biết cha mình là ai. Ta sẽ tiêu diệt người Phi-li-tin kiêu căng.
ZEC 9:7 Ta sẽ ngăn không cho chúng ăn thịt cùng với máu hay dùng thức ăn bị cấm. Những kẻ còn sống sót sẽ thuộc về Thượng-Đế. Họ sẽ làm các lãnh tụ trong Giu-đa, và Éc-rôn sẽ như dân Giê-bu-sít.
ZEC 9:8 Ta sẽ bảo vệ đền thờ ta không cho đạo quân nào vào ra. Không ai làm hại dân ta nữa, Vì nay ta đang trông chừng họ.
ZEC 9:9 Hãy vui lên, hỡi dân cư Xi-ôn! Hãy reo mừng lên, hỡi dân Giê-ru-sa-lem! Vì vua ngươi đang đến cùng ngươi. Ngài làm điều công chính và là Đấng giải cứu. Ngài hiền hoà và cỡi lừa, trên lưng lừa con của lừa cái.
ZEC 9:10 Ta sẽ cướp lấy xe cộ khỏi Ép-ra-im, và ngựa khỏi Giê-ru-sa-lem. Những cây cung dùng trong chiến tranh sẽ bị bẻ gãy. Vua sẽ nói với các dân về hòa bình. Nước Ngài sẽ chạy từ biển nầy sang biển kia, và từ sông Ơ-phơ-rát đến tận cùng quả đất.
ZEC 9:11 Còn như ngươi, Xi-ôn, vì huyết của giao ước với ngươi, ta sẽ giải thoát các tù nhân ngươi ra khỏi hầm nước.
ZEC 9:12 Các tù nhân ngươi có hi vọng, và sẽ an toàn trở về nơi ngươi. Hôm nay ta bảo ngươi rằng, ta sẽ trở lại cùng ngươi.
ZEC 9:13 Ta sẽ dùng Giu-đa như cung và Ép-ra-im như tên. Hỡi Xi-ôn, ta sẽ dùng các ngươi để đánh người Hi-lạp. Ta sẽ dùng ngươi như gươm của chiến sĩ.
ZEC 9:14 Rồi CHÚA sẽ hiện ra trên họ, Ngài bắn tên như chớp. CHÚA là Thượng Đế sẽ thổi kèn, và Ngài sẽ đi ra trong cơn giông tố của miền Nam.
ZEC 9:15 CHÚA Toàn Năng sẽ bảo vệ họ; họ sẽ dùng ná tiêu diệt kẻ thù. Họ sẽ uống máu và la lối như kẻ say rượu. Họ sẽ no nê như cái chén dùng để rưới huyết nơi các góc bàn thờ.
ZEC 9:16 Trong ngày đó CHÚA là Thượng-Đế sẽ giải cứu họ như người chăn cứu đàn chiên mình. Họ sẽ chói sáng trong đất mình như những hạt kim cương đính trên mão triều.
ZEC 9:17 Họ sẽ vô cùng xinh đẹp. Các thanh niên sẽ sung sức nhờ ngũ cốc và các thiếu nữ mạnh dạn nhờ rượu mới.”
ZEC 10:1 Hãy xin CHÚA ban mưa trong mùa xuân. CHÚA là Đấng làm ra sấm sét. Ngài sai mưa rào và ban đồng ruộng xanh tươi cho mỗi người.
ZEC 10:2 Các tượng chạm nói dối; các thầy bói thấy dị tượng giả, và thuật lại chiêm bao bịa đặt. Niềm an ủi của chúng không có giá trị gì. Cho nên dân chúng như chiên lạc. Họ bị ức hiếp, vì không có kẻ chăn.
ZEC 10:3 CHÚA phán, “Ta rất bất bình về các người chăn, ta sẽ trừng phạt các lãnh tụ. Ta, CHÚA Toàn Năng, lo cho bầy chiên ta tức dân Giu-đa. Ta sẽ khiến họ như những con ngựa thiện chiến kiêu hãnh của ta.
ZEC 10:4 Từ Giu-đa sẽ xuất hiện một viên đá nền, một cây cọc lều, một cây cung chiến trận, và mọi quan cai trị.
ZEC 10:5 Họ sẽ cùng nhau ra trận như các chiến sĩ xung phong qua các phố phường lầy lội. CHÚA sẽ ở với họ, cho nên họ sẽ đánh thắng các lính cỡi ngựa.
ZEC 10:6 Ta sẽ thêm sức cho dân Giu-đa và giải cứu dân Giô-xép. Ta sẽ mang họ trở về, vì ta lo lắng cho họ. Ta sẽ đối với họ như thể ta chưa hề rời bỏ họ, vì ta là CHÚA, Thượng-Đế của họ, ta sẽ đáp lời họ.
ZEC 10:7 Dân Ép-ra-im sẽ mạnh mẽ như các chiến sĩ; họ sẽ vui mừng như sau khi uống rượu. Các con cái họ sẽ thấy và hớn hở; chúng sẽ vui vẻ trong CHÚA.
ZEC 10:8 Ta sẽ gọi dân ta nhóm họp họ lại. Ta sẽ giải cứu họ, họ sẽ gia tăng dân số như trước kia.
ZEC 10:9 Ta đã phân tán họ giữa các dân, nhưng họ sẽ nhớ đến ta từ những xứ xa xôi đó. Họ và con cháu họ sẽ sống và hồi hương.
ZEC 10:10 Ta sẽ mang họ về từ xứ Ai-cập và gom họ lại từ A-xy-ri. Nhưng vì không đủ chỗ nên ta sẽ mang họ đến Ghi-lê-át và Li-băng.
ZEC 10:11 Họ sẽ đi qua biển khốn khổ. Ta sẽ dẹp yên các lượn sóng biển, sông Nin sẽ khô nước. Ngài sẽ triệt hạ lòng kiêu căng của A-xy-ri và tiêu diệt quyền lực của Ai-cập đối với các quốc gia khác.
ZEC 10:12 Ta sẽ khiến dân ta thêm mạnh, và họ sẽ sống theo như lời ta phán,” CHÚA phán vậy.
ZEC 11:1 Hỡi Li-băng, hãy mở toang các cửa ngươi ra để lửa thiêu đốt các cây hương nam của ngươi.
ZEC 11:2 Hỡi các cây thông, hãy khóc đi, vì cây hương nam đã ngã xuống, vì các cây cao lớn đã chặt bỏ rồi. Hãy khóc đi, hỡi các cây sồi Ba-san, vì đám rừng vĩ đại đã bị đốn xuống.
ZEC 11:3 Hãy nghe tiếng khóc của các kẻ chăn chiên vì những đồng cỏ xanh tốt của họ đã bị tiêu hủy rồi. Hãy nghe tiếng sư tử gầm thét vì đất xinh tốt của sông Giô-đanh đã bị tiêu hủy rồi.
ZEC 11:4 Nầy là lời của CHÚA là Thượng-Đế của ta phán: “Hãy nuôi dưỡng bầy chiên sắp bị giết.
ZEC 11:5 Những người mua bầy chiên giết hại con chiên mà không bị trừng phạt. Những kẻ bán chiên bảo, ‘Cám ơn CHÚA vì tôi được giàu rồi.’ Thậm chí kẻ chăn không hề tội nghiệp cho chiên mình.
ZEC 11:6 CHÚA phán, ‘Ta không còn thương hại cho dân cư xứ nầy nữa. Ta sẽ để cho mọi người đều nằm dưới quyền của láng giềng và vua mình. Chúng sẽ hủy hoại xứ. Ta sẽ không giải cứu một người nào trong vòng họ hết.’
ZEC 11:7 Cho nên ta nuôi đàn chiên sắp bị giết, đặc biệt là các con ốm yếu nhất. Rồi ta lấy hai cây gậy; một cây ta đặt tên là Ân huệ, cây kia tên Đoàn kết, rồi ta nuôi đàn chiên ta.
ZEC 11:8 Trong vòng một tháng ta dẹp ba người chăn. Chúng ghét ta cho nên ta bất bình vì chúng.
ZEC 11:9 Ta bảo, ‘Ta sẽ không chăm sóc các ngươi như người chăn nữa. Con nào chết thì chết đi, còn nào bị diệt thì diệt đi. Con nào còn sống sót thì ăn thịt lẫn nhau.’
ZEC 11:10 Rồi ta sẽ bẻ gãy cây gậy mang tên Ân-huệ để hủy giao ước mà Thượng Đế lập với dân Ngài.
ZEC 11:11 Ngày đó giao ước bị phá bỏ. Con nào yếu nhất trong bầy đang nhìn ta thì biết rằng những lời nầy từ CHÚA mà đến.
ZEC 11:12 Rồi ta bảo, ‘Nếu các ngươi muốn trả công cho ta thì trả, còn không muốn cũng chẳng sao.’ Vậy chúng trả cho ta ba mươi miếng bạc.
ZEC 11:13 CHÚA phán cùng ta, ‘Hãy ném bạc đó cho thợ gốm.’ Đó là trị giá mà chúng đánh trên ta. Cho nên ta lấy ba mươi miếng bạc và ném cho thợ gốm trong Đền thờ CHÚA.
ZEC 11:14 Rồi ta bẻ gãy cây gậy thứ nhì, gọi là Đoàn Kết, để phá bỏ tình huynh đệ giữa Giu-đa và Ít-ra-en.”
ZEC 11:15 Rồi CHÚA bảo ta, “Hãy lấy những đồ dùng của kẻ chăn chiên ngu dại lần nữa,
ZEC 11:16 vì ta sẽ kiếm một người chăn chiên mới cho xứ. Người sẽ không lo cho các con chiên sắp chết, không đi tìm các chiên con, cũng không chữa lành những con bị thương hay cho các con chiên mạnh khoẻ ăn. Nhưng người sẽ ăn thịt các con chiên tốt nhất và tuốt móng chúng nó.
ZEC 11:17 Khốn cho người chăn vô dụng bỏ rơi bầy chiên mình. Gươm sẽ chém tay nó và đâm qua mắt phải của nó. Cánh tay nó sẽ không còn sức lực, và mắt phải nó sẽ bị mù.”
ZEC 12:1 Đây là lời của CHÚA dành cho dân Ít-ra-en. CHÚA là Đấng trải các bầu trời ra, và đặt nền trái đất, tạo thần linh cho loài người, phán như sau:
ZEC 12:2 “Ta sẽ biến Giê-ru-sa-lem thành một cái chén khiến các dân tộc sống quanh nó đi lạng quạng. Giê-ru-sa-lem và Giu-đa sẽ bị kẻ thù tấn công.
ZEC 12:3 Trong cùng một ngày mọi dân trên đất sẽ họp nhau lại tấn công Giê-ru-sa-lem, nhưng ta sẽ biến nó ra như tảng đá nặng; ai xô nó đi sẽ bị thương tích.
ZEC 12:4 Trong lúc đó ta sẽ làm cho mỗi con ngựa luống cuống và người cỡi hoang mang,” CHÚA phán vậy. “Ta sẽ trông chừng Giu-đa, nhưng ta sẽ khiến cho các con ngựa của kẻ thù bị mù lòa.
ZEC 12:5 Rồi các lãnh tụ Giu-đa sẽ bảo nhau, ‘Dân Giê-ru-sa-lem quá mạnh, vì CHÚA Toàn Năng là Thượng-Đế của họ.’
ZEC 12:6 Trong lúc đó ta sẽ khiến các lãnh tụ Giu-đa như lửa đốt củi, hay lửa thiêu rơm rạ. Họ sẽ tiêu diệt những dân tộc quanh mình, cả tả lẫn hữu. Nhưng dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ bình yên.
ZEC 12:7 CHÚA sẽ giải cứu dân cư Giu-đa trước để dân cư Giê-ru-sa-lem không khoe khoang. Nhà Đa-vít cùng những người sống ở Giê-ru-sa-lem không khoe rằng mình tốt hơn người Giu-đa.
ZEC 12:8 CHÚA sẽ bảo vệ dân cư Giê-ru-sa-lem cho đến nỗi kẻ yếu đuối nhất cũng mạnh mẽ như Đa-vít. Nhà Đa-vít sẽ như Thượng-Đế, giống như thiên sứ của CHÚA trước mặt họ.
ZEC 12:9 Lúc đó ta sẽ đến tiêu diệt tất cả các dân tộc đã tấn công Giê-ru-sa-lem.
ZEC 12:10 Ta sẽ đổ thần linh nhân từ và thương xót lên nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ nhìn ta, người mà chúng đã đâm, và sẽ than khóc như thể đứa con một của mình chết. Chúng sẽ buồn thảm như mất con trai đầu lòng.
ZEC 12:11 Lúc đó sẽ có tiếng than khóc ồn ào trong Giê-ru-sa-lem như tiếng khóc cho Ha-đát Rim-môn trong bình nguyên Mê-ghi-đô.
ZEC 12:12 Cả xứ sẽ than khóc, gia đình nào cũng vậy: Gia đình Đa-vít và các bà vợ khóc riêng cho mình, gia đình Na-than và các bà vợ khóc riêng cho mình,
ZEC 12:13 gia đình Lê-vi cùng các bà vợ khóc riêng, gia đình Si-mê-i và các bà vợ khóc riêng,
ZEC 12:14 và tất cả các gia đình còn lại cùng các bà vợ khóc riêng cho mình.”
ZEC 13:1 “Lúc đó sẽ có một suối nước chảy ra cho con cháu Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem để tẩy sạch tội lỗi nhơ nhớp của họ.”
ZEC 13:2 CHÚA Toàn Năng phán, “Lúc đó ta sẽ tiêu diệt tên của các tượng chạm ra khỏi xứ; không ai nhớ đến chúng nữa. Ta cũng sẽ trừ khử các nhà tiên tri và các tà thần ra khỏi xứ.
ZEC 13:3 Nếu ai còn tiếp tục nói tiên tri thì cha mẹ là người sinh ra nó sẽ bảo nó, ‘Mầy đã nhân danh CHÚA mà nói dối, cho nên mầy phải chết.’ Khi nó nói tiên tri thì cha mẹ đã sinh ra nó phải đâm nó chết.
ZEC 13:4 Lúc ấy các nhà tiên tri sẽ ngượng ngùng về những sự hiện thấy và lời tiên tri mình. Họ sẽ không mặc áo quần của nhà tiên tri bằng da thú để gạt dân chúng nữa.
ZEC 13:5 Mỗi người trong chúng nó sẽ bảo, ‘Tôi không phải là nhà tiên tri. Tôi là nhà nông và hành nghề nầy từ khi còn nhỏ.’
ZEC 13:6 Nhưng có người sẽ hỏi, ‘Chớ còn vết cắt sâu trên thân ngươi là gì?’ Rồi mỗi người sẽ đáp, ‘Tôi bị thương nơi nhà bạn tôi.’”
ZEC 13:7 “Hỡi gươm, hãy chém kẻ chăn chiên. Hãy tấn công bạn ta,” CHÚA Toàn Năng phán. “Hãy giết kẻ chăn thì bầy chiên sẽ chạy tản lạc, rồi ta sẽ trừng phạt những con chiên con.”
ZEC 13:8 CHÚA phán, “Hai phần ba dân cư trong xứ sẽ bị tổn hại và chết. Chúng sẽ bị tiêu diệt, chỉ còn lại một phần ba mà thôi.
ZEC 13:9 Ta sẽ ném một phần ba còn lại vào lửa, luyện lọc họ như luyện bạc, thử họ như thử vàng. Rồi họ sẽ kêu cầu ta, ta sẽ đáp lời họ. Ta sẽ bảo, ‘Các ngươi là dân ta,’ và họ sẽ bảo, ‘CHÚA là Thượng-Đế của chúng tôi.’”
ZEC 14:1 Ngày đoán phạt của CHÚA sắp đến khi tài sản mà ngươi chiếm đoạt sẽ bị phân chia giữa các ngươi.
ZEC 14:2 Ta sẽ mang các dân lại đánh Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ chiếm thành, cướp bóc nhà cửa và hãm hiếp đàn bà. Phân nửa dân cư sẽ bị bắt làm tù binh, nhưng dân cư còn lại sẽ không bị bắt đi khỏi thành.
ZEC 14:3 Rồi CHÚA sẽ đến tranh chiến với các dân tộc ấy. Đó là trận chiến thực sự.
ZEC 14:4 Trong ngày ấy Ngài sẽ đứng trên núi Ô-liu, phía Đông Giê-ru-sa-lem. Núi Ô-liu sẽ bị tách ra làm hai, có một hố sâu chạy từ Tây sang Đông. Phân nửa núi sẽ dời về hướng Bắc, phân nửa dời về hướng Nam.
ZEC 14:5 Ngươi sẽ chạy qua thung lũng nầy để đến bên kia, như khi ngươi chạy trốn cơn động đất trong thời Ô-xia làm vua Giu-đa. Rồi CHÚA là Thượng-Đế ta sẽ đến cùng với các người thánh của Ngài.
ZEC 14:6 Trong ngày đó sẽ không có ánh sáng, lạnh hay băng giá nữa.
ZEC 14:7 Sẽ không có ngày nào giống như thế, và CHÚA biết lúc nào ngày đó đến. Sẽ không còn ngày hay đêm nữa, vì dù cho chiều tối vẫn có ánh sáng.
ZEC 14:8 Lúc đó nước ngọt sẽ chảy ra từ Giê-ru-sa-lem. Phân nửa sẽ chảy về phía Đông đến Biển Chết, phân nửa chảy về phía Tây đến Địa-trung-hải. Nó sẽ chảy vào mùa hạ và mùa đông.
ZEC 14:9 Rồi CHÚA sẽ làm vua trên cả thế gian. Lúc đó sẽ chỉ có một mình CHÚA, và danh Ngài là danh duy nhất.
ZEC 14:10 Tất cả các đất miền Nam Giê-ru-sa-lem, từ Ghê-ba cho đến Rim-môn sẽ biến thành bình nguyên. Giê-ru-sa-lem sẽ được nâng cao lên tại chỗ cũ. Thành sẽ chạy từ Cổng Bên-gia-min đến Cổng Đầu tiên và Cổng Góc thành, và từ Tháp Ha-na-nên cho đến bàn ép rượu của vua.
ZEC 14:11 Dân chúng sẽ sống ở đó, và thành đó sẽ không bao giờ bị phá hủy nữa. Giê-ru-sa-lem sẽ được an toàn.
ZEC 14:12 Nhưng CHÚA sẽ mang một bệnh khủng khiếp đến cho các dân tộc đã đánh Giê-ru-sa-lem. Thịt chúng nó sẽ bị mục nát khi chúng đang đứng. Mắt chúng sẽ mục trong hốc mắt, và lưỡi mục trong miệng.
ZEC 14:13 Lúc đó CHÚA sẽ gieo kinh hoàng. Ai nầy đều túm lấy người láng giềng mình và đánh lẫn nhau.
ZEC 14:14 Dân Giu-đa sẽ đánh nhau trong Giê-ru-sa-lem. Và của cải của các dân tộc quanh họ sẽ được thu gom lại với vô số vàng, bạc, và quần áo.
ZEC 14:15 Bệnh dịch cũng sẽ đến trên ngựa, la, lạc đà, lừa, và tất cả các súc vật trong trại.
ZEC 14:16 Những kẻ sống sót trong số các dân đến tấn công Giê-ru-sa-lem sẽ trở lại Giê-ru-sa-lem hằng năm để thờ lạy Vua, CHÚA Toàn Năng, và kỷ niệm Lễ Chòi Lá.
ZEC 14:17 Ai trong những dân tộc không đến Giê-ru-sa-lem để thờ lạy Vua, CHÚA Toàn Năng, sẽ không có mưa tưới trên đất mình.
ZEC 14:18 Nếu người Ai-cập không đến Giê-ru-sa-lem, chúng sẽ không có mưa. Rồi CHÚA sẽ sai bệnh tật khủng khiếp đến với chúng như Ngài đã sai đến trên các dân tộc không kỷ niệm Lễ Chòi Lá.
ZEC 14:19 Đó là sự trừng phạt dành cho Ai-cập và cho quốc gia nào không đi đến kỷ niệm Lễ Chòi Lá.
ZEC 14:20 Trong lúc đó các lục lạc đeo nơi cổ ngựa sẽ khắc hàng chữ: thánh cho chúa. Những nồi niêu trong đền thờ CHÚA sẽ như những chén bát thánh nơi bàn thờ.
ZEC 14:21 Các nồi niêu trong Giê-ru-sa-lem và Giu-đa sẽ được biệt ra thánh cho CHÚA Toàn-Năng, và mọi người dâng của lễ sẽ lấy thức ăn rồi nấu trong các nồi đó. Lúc đó sẽ không còn có người mua kẻ bán trong đền thờ của CHÚA Toàn Năng nữa.
MAL 1:1 Sau đây là lời Chúa phán cùng Ít-ra-en qua Ma-la-chi.
MAL 1:2 CHÚA phán, “Ta đã yêu ngươi.” Nhưng ngươi hỏi, “CHÚA yêu chúng tôi như thế nào?” CHÚA phán, “Ê-sau là anh Gia-cốp phải không? Nhưng ta yêu Gia-cốp,
MAL 1:3 mà ghét Ê-sau. Ta đã tiêu diệt vùng núi non của nó và giao đất nó cho chó rừng ở sa mạc.”
MAL 1:4 Nếu dân Ê-đôm bảo, “Dù chúng ta bị tiêu diệt nhưng chúng ta sẽ trở về tái thiết từ chỗ đổ nát” thì CHÚA Toàn Năng phán: “Chúng muốn xây lại thì xây nhưng ta sẽ phá sập. Người ta sẽ bảo, ‘Ê-đôm là đất gian ác. CHÚA luôn luôn nổi giận cùng dân Ê-đôm.’
MAL 1:5 Chính mắt ngươi sẽ thấy những điều đó và thốt lên, ‘CHÚA thật cao cả—sự cao cả của Ngài vượt ra ngoài ranh giới Ít-ra-en.’”
MAL 1:6 CHÚA Toàn Năng phán “Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn trọng chủ mình. Nếu ta là cha, thì lòng tôn kính dành cho ta ở đâu? Nếu ta là chủ, thì các ngươi tôn trọng ta ở chỗ nào? Các ngươi, những thầy tế lễ, chính các ngươi là kẻ khinh dể danh ta. Nhưng các ngươi hỏi, ‘Chúng tôi khinh thường danh Ngài như thế nào?’
MAL 1:7 Các ngươi mang của lễ nhơ nhớp đến bàn thờ ta. Nhưng các ngươi hỏi, ‘Chúng tôi làm nhơ nhớp danh Chúa như thế nào?’ Các ngươi làm nhơ nhớp danh ta khi các ngươi bảo rằng ‘Đừng tôn kính bàn thờ Chúa.’
MAL 1:8 Khi các ngươi đem dâng các con thú mù là các ngươi đã làm quấy. Khi đem dâng các con thú què quặt và bệnh hoạn, các ngươi đã làm bậy. Hãy thử dâng các con thú đó cho quan tổng đốc ngươi xem người có vừa lòng không? Xem người có chịu nhận lễ vật ấy không?” CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
MAL 1:9 CHÚA Toàn Năng phán “Bây giờ hãy van xin Thượng Đế tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi, nhưng Ngài sẽ không chấp nhận các ngươi nếu các ngươi mang đến của lễ như thế.”
MAL 1:10 “Ôi ước gì một người trong các ngươi đóng các cửa đền thờ lại để các ngươi không đốt lửa một cách vô ích trên bàn thờ ta nữa! Vì ta không hài lòng về các ngươi, sẽ không nhận lễ vật từ các ngươi dâng lên nữa.” CHÚA Toàn Năng phán như vậy
MAL 1:11 “Danh ta sẽ được tôn trọng trong mọi dân, từ Đông sang Tây. Nơi nào cũng có đốt hương và của lễ tinh sạch dâng lên để tôn kính ta, vì ta được tôn trọng trong mọi dân.” CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
MAL 1:12 “Nhưng các ngươi không tôn kính ta. Ngươi nói về bàn thờ của CHÚA rằng, ‘Bàn thờ đó bị nhơ nhớp rồi và thức ăn không đáng giá gì.’
MAL 1:13 Ngươi bảo, ‘Chúng tôi đã mệt mỏi về chuyện nầy’ rồi ngươi khịt mũi chê bai thức ăn ấy,” CHÚA Toàn Năng phán vậy. CHÚA hỏi, “Khi ngươi mang các con thú bị thương tích, què quặt, bệnh hoạn dâng lên làm của lễ, thì ta không chấp nhận.”
MAL 1:14 “Đáng rủa thay cho kẻ lường gạt. Nó có con dê đực tốt trong bầy, hứa dâng nó mà trái lại mang con dê tật nguyền đến cho CHÚA. Ta là một vì vua lớn,” CHÚA Toàn Năng phán, “danh ta được kính sợ giữa muôn dân.”
MAL 2:1 “Còn về các ngươi là thầy tế lễ, sau đây là mệnh lệnh cho các ngươi.
MAL 2:2 Hãy nghe đây. Hãy để ý điều ta nói. Hãy tôn kính danh ta, nếu không,” CHÚA Toàn Năng phán, “Ta sẽ nguyền rủa ngươi, ta sẽ biến các phúc lành của các ngươi ra điều nguyền rủa. Ta đã nguyền rủa vì các ngươi không tôn kính ta.
MAL 2:3 Ta sẽ trừng phạt dòng dõi ngươi; ta sẽ bôi phân thú vật dâng từ các của lễ lên mặt ngươi và ngươi sẽ bị ném đi cùng với những thứ dư thừa ấy.
MAL 2:4 Ngươi sẽ biết rằng ta đã đưa mệnh lệnh nầy đến cho ngươi để giao ước giữa ta với nhà Lê-vi sẽ được tiếp tục,” CHÚA Toàn Năng phán như vậy.
MAL 2:5 “Ta lập giao ước với nhà Lê-vi. Ta hứa ban sự sống và bình an cho họ để họ tôn kính ta. Và họ đã kính sợ ta.
MAL 2:6 Họ dạy những điều giáo huấn chân thật, không có lời giả dối. Họ làm theo ý ta trong hoà bình, chân thật và giữ cho nhiều người khỏi phạm tội.
MAL 2:7 Thầy tế lễ phải dạy điều mình biết, và dân chúng học những điều người dạy vì người là sứ giả của CHÚA Toàn Năng.
MAL 2:8 Nhưng các ngươi là thầy tế lễ đã không vâng phục ta và ngươi dạy người ta làm bậy. Ngươi đã vi phạm giao ước với chi tộc Lê-vi!” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
MAL 2:9 “Vì ngươi không cẩn thận đi theo đường lối ta và tỏ ra thiên vị khi phân xử nên ta khiến ngươi bị ghét bỏ và sỉ nhục trước mọi người,”
MAL 2:10 Tất cả chúng ta đều có chung một Cha; cùng một Thượng-Đế tạo nên chúng ta. Thế tại sao dân chúng thất hứa với nhau và xem thường giao ước mà cha ông chúng ta đã lập cùng Thượng-Đế?
MAL 2:11 Dân Giu-đa đã thất hứa. Chúng đã làm điều CHÚA ghê tởm trong Ít-ra-en và Giê-ru-sa-lem: Dân Giu-đa không tôn trọng đền thờ mà CHÚA yêu thích; người Giu-đa lấy các đàn bà thờ thần ngoại lai.
MAL 2:12 Ai làm điều ấy, dù nó mang của lễ đến cho CHÚA Toàn Năng đi nữa, thì nó cũng bị loại ra khỏi cộng đồng Ít-ra-en.
MAL 2:13 Ngươi còn làm điều nầy nữa: Ngươi tưới ướt bàn thờ CHÚA bằng nước mắt. Ngươi than khóc vì Ngài không vui lòng nhận của lễ ngươi.
MAL 2:14 Ngươi hỏi, “Tại sao vậy?” Vì CHÚA thấy cách ngươi đối xử với vợ ngươi lấy lúc còn trẻ. Ngươi đã bội ước cùng nàng dù nàng là vợ ngươi, và là người có lập hôn ước với ngươi.
MAL 2:15 Thượng-Đế đã khiến vợ chồng trở thành một thân, một tâm linh để thực hiện mục đích của Ngài là sinh con đẻ cái để chúng trung thành cùng Thượng-Đế. Cho nên hãy cẩn thận, đừng bội ước với vợ mình cưới lúc còn thanh xuân.
MAL 2:16 CHÚA là Thượng-Đế của Ít-ra-en phán, “Ta ghét chuyện ly dị. Ta cũng ghét những kẻ làm điều hung bạo, coi việc đó dễ dàng như mặc áo quần,” CHÚA Toàn Năng phán vậy. Cho nên hãy cẩn thận. Đừng làm mất lòng tin.
MAL 2:17 Ngươi đã dạy những điều sai lầm làm buồn lòng CHÚA. Ngươi hỏi, “Chúng tôi làm buồn lòng CHÚA ra sao?” Ngươi làm buồn lòng Ngài khi ngươi bảo, “Ai làm ác là vừa lòng Chúa. Ngươi còn nói Thượng Đế không trừng phạt con người về những điều ác họ làm.”
MAL 3:1 CHÚA Toàn Năng phán, “Ta sẽ sai sứ giả của ta đi trước chuẩn bị đường cho ta. Bỗng nhiên CHÚA là Đấng ngươi đang tìm kiếm sẽ ngự đến trong đền thờ Ngài; sứ giả của giao ước mà ngươi mong mỏi, sẽ đến.”
MAL 3:2 Không ai có thể chịu nổi những ngày ấy; không ai sống sót lúc Ngài đến. Ngài sẽ như lửa luyện lọc và như thuốc tẩy sạch.
MAL 3:3 Như người thợ nung và luyện bạc, Ngài cũng sẽ luyện lọc người Lê-vi và khiến họ tinh khiết như vàng và bạc. Rồi họ sẽ mang của lễ thích nghi đến cho CHÚA.
MAL 3:4 Rồi CHÚA sẽ nhậm của lễ từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem như trước.
MAL 3:5 CHÚA Toàn Năng phán, “Ta sẽ đến phân xử ngươi. Ta sẽ nhanh chóng làm chứng nghịch cùng những kẻ dùng tà thuật, ngoại tình, thề dối, lường công của người làm, gạt cô nhi quả phụ, những kẻ bất công với khách ngoại kiều và những kẻ không tôn kính ta.”
MAL 3:6 “Vì ta là CHÚA không hề thay đổi cho nên các ngươi là con cháu Gia-cốp chưa bị tiêu diệt.
MAL 3:7 Từ thời các tổ tiên ngươi đến nay, ngươi đã bất tuân các luật lệ ta, không chịu vâng giữ. Hãy trở lại với ta, ta sẽ trở lại với ngươi.” CHÚA Toàn Năng phán vậy. Nhưng ngươi hỏi, “Chúng tôi trở lại cách nào?”
MAL 3:8 “Có ai ăn trộm Thượng Đế được không? Nhưng các ngươi đã ăn trộm ta.” Ngươi hỏi, “Chúng tôi ăn trộm CHÚA ra sao?” Ngươi ăn trộm ta trong các của lễ và trong các phần mười về sản vật ngươi.
MAL 3:9 Cho nên ngươi bị nguyền rủa, vì cả nước đã ăn trộm ta.
MAL 3:10 Hãy thử ta bằng cách mang hết phần mười của công khó ngươi vào kho ta để nhà ta có lương thực. CHÚA Toàn Năng phán, “Ta sẽ mở các cửa sổ trên trời đổ tràn phước xuống trên ngươi.
MAL 3:11 Ta sẽ ngăn không cho cào cào phá hại mùa màng ngươi. Trái nho sẽ không rơi sớm khỏi cành trước khi ngươi hái,” CHÚA Toàn Năng phán.
MAL 3:12 “Mọi dân tộc sẽ bảo ngươi có phước vì xứ ngươi là xứ thần tiên,” CHÚA Toàn Năng phán như thế.
MAL 3:13 CHÚA phán, “Ngươi đã thốt những lời xấu xa về ta.” Nhưng ngươi hỏi, “Chúng tôi nói gì về Ngài?”
MAL 3:14 Ngươi nói, “Phục vụ Thượng-Đế là vô ích. Vâng theo luật lệ Ngài và tỏ ra hối hận về hành động mình với Đấng Toàn Năng chẳng có lợi gì.
MAL 3:15 Cho nên chúng tôi nói rằng kẻ tự phụ là sung sướng. Bọn làm ác hay thành công. Chúng thách thức Thượng-Đế mà không sao cả.”
MAL 3:16 Lúc bấy giờ những kẻ tôn kính CHÚA nói với nhau, và CHÚA để ý nghe họ. Tên của những kẻ tôn kính CHÚA được ghi vào sách trước mặt Ngài để được ghi nhớ.
MAL 3:17 CHÚA Toàn Năng phán, “Họ thuộc về ta; trong ngày đó họ sẽ là của riêng ta. Như người cha tỏ lòng từ bi với đứa con phục vụ mình, ta cũng sẽ tỏ lòng từ bi đối với dân ta.
MAL 3:18 Ngươi sẽ lại thấy sự khác biệt giữa người thiện và người ác, giữa những kẻ phục vụ Thượng-Đế và kẻ không thèm phục vụ Ngài.”
MAL 4:1 “Sẽ có một ngày cháy như lửa hừng, và mọi kẻ kiêu căng và gian ác sẽ như rơm rạ. Trong ngày đó chúng sẽ cháy rụi đến nỗi không còn sót rễ hay nhánh,” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
MAL 4:2 “Nhưng đối với ngươi là những kẻ tôn kính ta, sự nhân từ sẽ chói lói trên ngươi như mặt trời, mang tia sáng chữa bệnh. Ngươi sẽ nhảy nhót như bò con vừa mới được thả ra khỏi chuồng.
MAL 4:3 Rồi ngươi sẽ chà đạp kẻ ác dưới chân như tro trong ngày ta làm điều ấy,” CHÚA Toàn Năng phán vậy.
MAL 4:4 “Hãy nhớ lời giáo huấn của Mô-se, kẻ tôi tớ ta, cùng những luật lệ và qui tắc mà ta trao cho người trên núi Hô-rếp, cho tất cả dân Ít-ra-en.
MAL 4:5 Nhưng ta sẽ sai tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trong ngày lớn và kinh hoàng của CHÚA.
MAL 4:6 Ê-li sẽ làm cho cha mẹ yêu thương con, con yêu cha mẹ. Nếu không ta sẽ đến nguyền rủa đất.”
MAT 1:1 Đây là gia phổ của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài xuất thân từ dòng họ Đa-vít, Đa-vít xuất thân từ dòng họ Áp-ra-ham.
MAT 1:2 Áp-ra-ham sinh Y-sác. Y-sác sinh Gia-cốp. Gia-cốp sinh Giu-đa và các anh em.
MAT 1:3 Giu-đa sinh Phê-rê và Xê-ra. (Mẹ của hai người nầy là Ta-ma.) Phê-rê sinh Hết-rôn. Hết-rôn sinh Ram.
MAT 1:4 Ram sinh A-bi-na-đáp. A-bi-na-đáp sinh Nát-son. Nát-son sinh Xanh-môn.
MAT 1:5 Xanh-môn sinh Bô-ô. (Mẹ của Bô-ô là Ra-háp.) Bô-ô sinh Ô-bết. (Mẹ của Ô-bết là Ru-tơ.) Ô-bết sinh Gie-xê.
MAT 1:6 Gie-xê sinh vua Đa-vít. Đa-vít sinh Sô-lô-môn. (Mẹ Sô-lô-môn trước kia là vợ của U-ri.)
MAT 1:7 Sô-lô-môn sinh Rô-bô-am. Rô-bô-am sinh A-bi-gia. A-bi-gia sinh A-xa.
MAT 1:8 A-xa sinh Giê-hô-sa-phát. Giê-hô-sa-phát sinh Giê-hô-ram. Giê-hô-ram là ông tổ của U-xia.
MAT 1:9 U-xia sinh Giô-tham. Giô-tham sinh A-háp. A-háp sinh Ê-xê-chia.
MAT 1:10 Ê-xê-chia sinh Ma-na-xe. Ma-na-xe sinh Am-môn. A-môn sinh Giô-xia.
MAT 1:11 Giô-xia sinh Giê-cô-nia và các anh em ông. (Đây là nói về thời kỳ trước khi bị đày qua Ba-by-lôn.)
MAT 1:12 Sau khi bị đày qua Ba-by-lôn: Giê-hô-gia-kim sinh Sát-tiên. Sát-tiên là ông nội của Xê-ru-ba-bên.
MAT 1:13 Xê-ru-ba-bên sinh A-bi-út. A-bi-út sinh Ê-li-a-kim. Ê-li-a-kim sinh A-xo.
MAT 1:14 A-xo sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh A-kim. A-kim sinh Ê-li-út.
MAT 1:15 Ê-li-út sinh Ê-li-a-xa. Ê-li-a-xa sinh Ma-than. Ma-than sinh Gia-cốp.
MAT 1:16 Gia-cốp sinh Giô-xép. Giô-xép là chồng Ma-ri, còn Ma-ri là mẹ Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu được gọi là Đấng Cứu Thế.
MAT 1:17 Như vậy, tính từ Áp-ra-ham đến Đa-vít có mười bốn đời. Từ Đa-vít cho đến khi dân chúng bị đày qua Ba-by-lôn có mười bốn đời. Và từ khi bị đày qua Ba-by-lôn cho đến khi Đấng Cứu Thế ra đời cũng có mười bốn đời.
MAT 1:18 Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu diễn ra như sau: Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa hôn với Giô-xép, nhưng trước khi thành hôn, Ma-ri biết mình đã mang thai bởi quyền năng của Thánh Linh.
MAT 1:19 Giô-xép, chồng Ma-ri là người đức hạnh, không muốn công khai bêu xấu Ma-ri nên dự định âm thầm ly dị nàng.
MAT 1:20 Trong khi Giô-xép đang suy tính chuyện ấy thì một thiên sứ hiện đến cùng ông trong chiêm bao và bảo rằng, “Giô-xép, con cháu Đa-vít ơi, đừng e ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì thai nhi trong bụng nàng là do Thánh Linh.
MAT 1:21 Nàng sẽ sinh một trai, ông hãy đặt tên là Giê-xu, vì con ấy sẽ giải cứu dân ta ra khỏi tội.”
MAT 1:22 Việc nầy xảy ra để lời Chúa đã phán với nhà tiên tri trở thành sự thật:
MAT 1:23 “Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một trai. Người ta sẽ gọi Ngài là Em-ma-nu-ên,” nghĩa là “Thượng Đế ở với chúng ta.”
MAT 1:24 Khi Giô-xép thức dậy liền làm theo lời thiên sứ Chúa đã dặn bảo. Ông cưới Ma-ri làm vợ
MAT 1:25 nhưng không ăn nằm với cô cho đến khi cô sinh một trai. Rồi Giô-xép đặt tên em bé ấy là Giê-xu.
MAT 2:1 Chúa Giê-xu sinh ra tại thành Bết-lê-hem xứ Giu-đia trong thời kỳ Hê-rốt trị vì. Lúc ấy có mấy học giả từ Đông phương đến Giê-ru-sa-lem
MAT 2:2 hỏi rằng, “Vua dân Do-thái mới sinh ở đâu? Chúng tôi thấy ngôi sao Ngài từ Đông phương nên đến đây để thờ lạy Ngài.”
MAT 2:3 Khi nghe tin ấy thì vua Hê-rốt và cả dân chúng Giê-ru-sa-lem đều xôn xao.
MAT 2:4 Vua cho triệu tập tất cả các trưởng tế và các giáo sư luật lại để hỏi xem Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra tại đâu.
MAT 2:5 Họ thưa, “Tại thành Bết-lê-hem xứ Giu-đia. Vì nhà tiên tri đã viết về chuyện nầy trong Thánh Kinh như sau:
MAT 2:6 ‘Còn ngươi, Bết-lê-hem, đất Giu-đia, ngươi sẽ rất quan trọng dưới mắt các lãnh tụ Giu-đa. Từ ngươi sẽ xuất hiện một nhà lãnh đạo, làm người chăn dắt dân Ít-ra-en của ta.’”
MAT 2:7 Rồi Hê-rốt liền họp kín với các học giả để hỏi xem họ thấy ngôi sao lần đầu tiên đúng vào lúc nào.
MAT 2:8 Vua sai các học giả đến Bết-lê-hem và dặn, “Các ông hãy đi tìm em bé đó cho thật kỹ. Khi tìm được rồi, cho ta biết để ta cũng đến thờ phụng Ngài.”
MAT 2:9 Sau khi nghe vua dặn xong, họ liền lên đường. Ngôi sao mà họ đã thấy từ Đông phương đi trước mặt họ đến ngay chỗ em bé ở thì dừng lại.
MAT 2:10 Nhìn thấy ngôi sao, các học giả mừng quá sức.
MAT 2:11 Khi bước vào nhà họ thấy em bé và Ma-ri, mẹ Ngài, thì cúi xuống thờ lạy Ngài. Rồi họ mở hộp châu báu ra dâng cho Ngài các vật quí gồm có vàng, trầm hương, và nhựa thơm.
MAT 2:12 Rồi qua chiêm bao, Thượng Đế dặn các học giả đừng trở lại với Hê-rốt, nên họ về nước bằng đường khác.
MAT 2:13 Khi các học giả đi rồi, một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-xép trong mộng bảo rằng, “Hãy thức dậy, mang em bé và mẹ Ngài trốn qua Ai-cập vì Hê-rốt sắp tìm em bé ấy để giết. Cứ ở đó cho đến khi nào tôi bảo thì trở về.”
MAT 2:14 Nên Giô-xép thức dậy và đang đêm mang em bé và mẹ Ngài trốn qua Ai-cập.
MAT 2:15 Giô-xép ở Ai-cập cho đến khi Hê-rốt qua đời. Việc nầy xảy ra để lời Chúa phán qua nhà tiên tri trở thành sự thật: “Ta đã gọi con ta ra khỏi Ai-cập.”
MAT 2:16 Thấy các học giả gạt mình, vua Hê-rốt vô cùng tức giận. Ông ra lệnh giết tất cả các bé trai từ hai tuổi trở xuống thuộc Bết-lê-hem và toàn vùng phụ cận. Đó là khoảng xấp xỉ tuổi trẻ sơ sinh, căn cứ theo thời gian mà các học giả cho vua biết.
MAT 2:17 Biến cố xảy ra nầy cũng để cho lời Thượng Đế phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi trở thành sự thật:
MAT 2:18 “Người ta nghe tiếng than khóc ở Ra-ma. Đó là tiếng Ra-chên khóc than cho các con mình. Nàng không chịu an ủi, vì chúng nó không còn nữa.”
MAT 2:19 Sau khi Hê-rốt qua đời thì một thiên sứ của Chúa hiện đến báo mộng cho Giô-xép đang ở Ai-cập,
MAT 2:20 và bảo, “Hãy thức dậy, đem em bé và mẹ Ngài trở về nước, vì những người tìm giết em bé ấy đã chết rồi.”
MAT 2:21 Nên Giô-xép mang em bé và mẹ Ngài trở về xứ Do-thái.
MAT 2:22 Nhưng khi nghe vua A-chê-lâu nối ngôi cha cai trị xứ Giu-đa sau khi Hê-rốt qua đời, thì Giô-xép sợ không dám trở về vùng ấy. Cho nên sau khi được báo mộng, ông đi về miền Ga-li-lê,
MAT 2:23 đến định cư tại một thị trấn gọi là Na-xa-rét. Lời Thượng Đế đã phán qua các nhà tiên tri lại được thực hiện: “Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét.”
MAT 3:1 Khoảng thời gian ấy, Giăng Báp-tít bắt đầu truyền giảng trong vùng sa mạc xứ Giu-đia.
MAT 3:2 Giăng khuyên, “Các ông bà hãy ăn năn vì nước thiên đàng gần đến rồi.”
MAT 3:3 Giăng Báp-tít là người mà nhà tiên tri Ê-sai đã viết: “Có tiếng người kêu trong sa mạc: ‘Hãy chuẩn bị đường cho Chúa. San phẳng lối đi cho Ngài.’”
MAT 3:4 Giăng mặc áo quần làm bằng lông lạc đà, thắt đai da ngang hông, ăn châu chấu và mật ong rừng.
MAT 3:5 Nhiều người đến từ Giê-ru-sa-lem, Giu-đia, và khắp vùng quanh sông Giô-đanh để nghe Giăng giảng thuyết.
MAT 3:6 Họ xưng tội và được Giăng làm lễ báp-têm dưới sông Giô-đanh.
MAT 3:7 Nhiều người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê cũng đến nơi Giăng làm báp-têm cho dân chúng. Khi thấy họ, Giăng bảo, “Các anh là loài rắn! Ai đã cảnh cáo để các anh tránh khỏi cơn trừng phạt sắp đến của Thượng Đế?
MAT 3:8 Hãy chứng tỏ bằng việc làm cho thấy mình đã thực sự ăn năn.
MAT 3:9 Đừng tự gạt mà bảo rằng, ‘Áp-ra-ham là ông tổ chúng tôi.’ Tôi cho các anh biết là Thượng Đế có thể biến những viên đá nầy ra con cháu Áp-ra-ham được đó.
MAT 3:10 Cái rìu bây giờ đã sẵn sàng để đốn. Cây nào không sinh trái tốt đều sẽ bị chặt hết để chụm lửa.
MAT 3:11 Tôi làm báp-têm cho các anh bằng nước để chứng tỏ các anh đã ăn năn. Nhưng có một Đấng đến sau tôi còn lớn hơn tôi nữa. Tôi không đáng xách dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các anh bằng Thánh Linh và bằng lửa.
MAT 3:12 Ngài sẽ sàng lúa, tách lúa và trấu ra. Ngài chứa lúa vào kho, còn trấu thì đốt hết trong lửa không bao giờ tắt.”
MAT 3:13 Lúc ấy, Chúa Giê-xu từ miền Ga-li-lê đến sông Giô-đanh để Giăng làm báp-têm.
MAT 3:14 Nhưng Giăng từ chối, bảo rằng, “Tại sao Ngài lại đến cùng tôi để chịu báp-têm? Đáng lẽ tôi phải được Ngài làm báp-têm mới đúng!”
MAT 3:15 Chúa Giê-xu đáp, “Bây giờ cứ làm theo lời tôi yêu cầu đi, vì chúng ta cần làm theo ý muốn Thượng Đế.” Cho nên Giăng bằng lòng làm báp-têm cho Ngài.
MAT 3:16 Vừa khi Chúa Giê-xu chịu lễ báp-têm và lên khỏi nước, thì thiên đàng mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Thượng Đế lấy dạng bồ câu hiện xuống đậu trên Ngài.
MAT 3:17 Rồi có tiếng từ thiên đàng vọng xuống rằng, “Đây là con yêu dấu của ta. Ta rất vừa lòng về người.”
MAT 4:1 Sau đó Thánh Linh đưa Chúa Giê-xu vào đồng hoang để chịu ma quỉ cám dỗ.
MAT 4:2 Ngài đã cữ ăn suốt bốn mươi ngày và bốn mươi đêm nên Ngài đói lả.
MAT 4:3 Ma quỉ đến cám dỗ Ngài rằng, “Nếu ngươi là Con Thượng Đế thì hãy biến những viên đá nầy thành bánh đi.”
MAT 4:4 Chúa Giê-xu đáp, “Thánh Kinh chép, ‘Người ta không phải chỉ sống nhờ bánh mà thôi đâu mà còn nhờ vào những lời phán của Thượng Đế.’”
MAT 4:5 Rồi ma quỉ đưa Ngài vào thành thánh Giê-ru-sa-lem và đặt Ngài lên một đỉnh cao của đền thờ.
MAT 4:6 Nó nói với Ngài, “Nếu anh là Con Thượng Đế thì hãy nhảy xuống đi, vì Thánh Kinh có chép: ‘Ngài sẽ sai thiên sứ bảo vệ ngươi. Các thiên sứ ấy sẽ giữ ngươi trong tay để chân ngươi khỏi vấp nhằm đá.’”
MAT 4:7 Chúa Giê-xu đáp, “Cũng có lời Thánh Kinh viết, ‘Ngươi chớ nên thách thức Chúa là Thượng Đế ngươi.’”
MAT 4:8 Sau đó ma quỉ đưa Ngài lên một đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy hết mọi quốc gia trên thế giới cùng mọi vẻ huy hoàng của các nước ấy.
MAT 4:9 Ma quỉ nói, “Nếu ngươi cúi đầu bái lạy ta, ta sẽ cho ngươi tất cả các quốc gia nầy.”
MAT 4:10 Chúa Giê-xu mắng nó, “Nầy Sa-tăng, hãy đi cho khuất mắt ta! Có lời Thánh Kinh viết, ‘Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thượng Đế ngươi và chỉ phục vụ một mình Ngài mà thôi.’”
MAT 4:11 Ma quỉ bỏ đi, liền có thiên sứ đến chăm sóc Ngài.
MAT 4:12 Khi Chúa Giê-xu nghe tin Giăng bị tù thì Ngài trở về vùng Ga-li-lê.
MAT 4:13 Ngài rời thành Na-xa-rét và đến cư ngụ tại Ca-bê-nâm, một thị trấn gần hồ Ga-li-lê, bên cạnh vùng Xê-bu-lôn và Nép-ta-li.
MAT 4:14 Ngài làm như thế để thực hiện lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói:
MAT 4:15 “Đất Xê-bu-lôn và Nép-ta-li dọc con đường đi đến biển, phía tây sông Giô-đanh. Đó là miền Ga-li-lê nơi dân ngoại quốc sinh sống.
MAT 4:16 Các dân ấy sống trong bóng tối nhưng đã thấy ánh sáng lớn. Những người ở nơi bóng chết che phủ đã được ánh sáng chiếu vào.”
MAT 4:17 Từ lúc ấy, Chúa Giê-xu bắt đầu giảng dạy, “Hãy ăn năn vì nước thiên đàng gần đến rồi.”
MAT 4:18 Trong khi đang đi dọc theo hồ Ga-li-lê, Ngài thấy hai anh em: Xi-môn còn gọi là Phia-rơ và em là Anh-rê. Hai người đang quăng lưới xuống hồ, vì họ làm nghề đánh cá.
MAT 4:19 Chúa Giê-xu gọi họ, “Hãy theo ta, ta sẽ biến các anh thành những tay đánh lưới người.”
MAT 4:20 Xi-môn và Anh-rê liền bỏ lưới đi theo Ngài.
MAT 4:21 Ngài tiếp tục đi dọc theo bờ hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em khác nữa là Gia-cơ và Giăng, con Xê-bê-đê. Hai người đang ngồi trong thuyền vá lưới với Xê-bê-đê, cha mình. Chúa Giê-xu gọi họ.
MAT 4:22 Họ liền bỏ thuyền và cha mình lại rồi đi theo Chúa Giê-xu.
MAT 4:23 Chúa Giê-xu đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng về Nước Trời, chữa lành dân chúng khỏi các bệnh tật.
MAT 4:24 Tiếng đồn về Ngài loan ra khắp xứ Xy-ri nên dân chúng mang tất cả những người bệnh đến với Ngài. Họ mắc đủ thứ bệnh. Người thì bị đau đớn, kẻ bị quỉ ám, người bị động kinh, kẻ bị bại liệt. Chúa Giê-xu chữa lành cho tất cả.
MAT 4:25 Nhiều người từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, Giê-ru-sa-lem, Giu-đia và vùng đất phía tây sông Giô-đanh đi theo Ngài.
MAT 5:1 Khi Chúa Giê-xu nhìn thấy đám đông thì Ngài lên ngồi trên một ngọn đồi. Các môn đệ đến với Ngài,
MAT 5:2 rồi Ngài bắt đầu dạy dỗ:
MAT 5:3 “Phúc cho những ai đang nghèo khó về tâm linh, vì nước thiên đàng thuộc về họ.
MAT 5:4 Phúc cho những ai đang buồn bã, vì Thượng Đế sẽ an ủi họ.
MAT 5:5 Phúc cho những ai khiêm nhường, vì họ sẽ nhận được đất.
MAT 5:6 Phúc cho những ai lúc nào cũng cố gắng làm điều phải, vì Thượng Đế sẽ thỏa mãn họ.
MAT 5:7 Phúc cho những ai tỏ lòng nhân ái đối với kẻ khác, vì Thượng Đế cũng sẽ tỏ lòng nhân ái đối với họ.
MAT 5:8 Phúc cho những ai có tư tưởng trong sạch, vì sẽ được ở với Thượng Đế.
MAT 5:9 Phúc cho những ai mang lại hòa thuận, vì Thượng Đế sẽ gọi họ là con cái Ngài.
MAT 5:10 Phúc cho những ai bị ngược đãi vì làm điều phải, vì nước thiên đàng là của họ.
MAT 5:11 Người ta sẽ nhục mạ và làm tổn thương các con. Họ sẽ lấy mọi điều xấu vu cáo các con vì các con theo ta. Nhưng khi họ làm như thế thì các con có phúc.
MAT 5:12 Hãy hớn hở vui mừng lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên thiên đàng. Vì họ cũng đã ngược đãi các nhà tiên tri sống trước các con như vậy.”
MAT 5:13 “Các con là muối của đất. Nhưng nếu muối mất vị mặn thì sẽ không thể nào làm cho mặn lại được. Muối đó hoàn toàn vô dụng, chỉ có thể ném bỏ để người ta dẫm lên thôi.
MAT 5:14 Các con là ánh sáng chiếu cho thế giới. Các con là cái thành xây trên núi, không thể bị che khuất được.
MAT 5:15 Không ai thắp đèn rồi đem giấu dưới cái chậu, nhưng người ta đặt trên chân đèn, để nó chiếu sáng mọi người trong nhà.
MAT 5:16 Cũng thế, các con phải làm ánh sáng cho người khác. Hãy sống cách nào để người ta thấy những việc phúc đức các con làm mà ca ngợi Cha các con trên trời.
MAT 5:17 Đừng tưởng rằng ta đến để phá luật pháp Mô-se và lời dạy của các nhà tiên tri. Ta đến không phải để phá, mà để hoàn thành những gì luật pháp và các nhà tiên tri nói.
MAT 5:18 Ta bảo thật, sẽ không có một điều gì trong luật pháp biến mất đi cho đến khi không còn trời đất nữa. Dù một chấm một nét cũng không bay mất, cho đến khi mọi việc được hoàn thành.
MAT 5:19 Ai không tuân giữ điều nhỏ nhất trong luật pháp và dạy người ta như thế sẽ là người thấp kém nhất trong nước thiên đàng. Còn ai vâng giữ luật pháp và dạy người ta vâng theo sẽ được tôn trọng trong nước thiên đàng.
MAT 5:20 Ta bảo các con phải sống tốt hơn những người Pha-ri-xi và các giáo sư luật, nếu không các con không thể nào vào nước thiên đàng được đâu.
MAT 5:21 Các con có nghe người ta dạy dân chúng từ xưa, ‘Ngươi không được giết người. Ai giết người sẽ bị xét xử.’
MAT 5:22 Nhưng ta bảo các con, ai tức giận anh chị em mình sẽ bị xét xử. Ai nói xấu anh chị em mình phải bị hội đồng cao cấp Do-thái xét xử. Còn ai gọi người khác là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục trừng phạt.
MAT 5:23 Khi các con dâng của lễ cho Thượng Đế nơi bàn thờ, mà nhớ lại rằng anh chị em mình còn có điều gì nghịch với mình,
MAT 5:24 thì hãy để của lễ nơi bàn thờ, trở về giảng hòa cùng anh chị em mình trước đã, rồi sau đó hãy dâng của lễ.
MAT 5:25 Nếu kẻ thù lôi các con ra tòa, hãy làm hòa với họ ngay trước khi đến tòa. Nếu không, kẻ thù các con sẽ giao các con cho quan tòa, quan tòa giao cho người cai ngục tống giam các con.
MAT 5:26 Ta bảo thật, chừng nào chưa trả hết đồng tiền cuối cùng, thì các con không thể bước chân ra khỏi tù được đâu.
MAT 5:27 Các con có nghe nói, ‘Ngươi không được phạm tội ngoại tình.’
MAT 5:28 Nhưng ta bảo các con, ai nhìn đàn bà mà động lòng dục với người ấy thì trong tâm trí xem như đã phạm tội ngoại tình với người đàn bà ấy rồi.
MAT 5:29 Nếu mắt phải của các con xui khiến các con phạm tội, thì hãy móc và ném nó đi. Chẳng thà thiếu mất một phần cơ thể, còn hơn toàn thân thể bị ném vào hỏa ngục.
MAT 5:30 Nếu tay phải các con xui khiến các con phạm tội, hãy chặt nó và ném bỏ đi. Chẳng thà thiếu mất một phần cơ thể, còn hơn cả thân thể đi vào hỏa ngục.
MAT 5:31 Có lời viết, ‘Ai ly dị vợ mình thì phải cho người ấy giấy ly hôn.’
MAT 5:32 Nhưng ta bảo các con: Ai ly dị vợ mình là làm cho người đàn bà ấy phạm tội ngoại tình. Chỉ có một nguyên nhân duy nhất để ly dị vợ là nếu nàng ăn nằm với một người đàn ông khác. Còn ai cưới người đàn bà bị ly dị ấy cũng phạm tội ngoại tình.
MAT 5:33 Các con có nghe người thời xưa nói, ‘Không được trái lời thề, mà phải giữ lời thề đối với Chúa.’
MAT 5:34 Nhưng ta bảo các con, đừng thề thốt gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngôi của Thượng Đế.
MAT 5:35 Cũng đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân Ngài. Đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua Lớn.
MAT 5:36 Cũng đừng chỉ đầu mình mà thề, vì tự các con không thể làm một sợi tóc trên đầu ra trắng hay đen được.
MAT 5:37 Điều gì phải thì nói phải, không thì nói không. Còn nếu ai nói gì ngoài hai cách ấy, đều do Kẻ Ác mà ra.
MAT 5:38 Các con có nghe nói, ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’
MAT 5:39 Nhưng ta bảo các con: Đừng chống trả kẻ ác. Nếu ai tát má bên mặt, đưa luôn má bên trái cho họ.
MAT 5:40 Nếu ai kiện các con ở tòa để lấy áo trong, hãy cho họ lấy luôn áo ngoài.
MAT 5:41 Nếu ai ép các con đi một dặm với họ, đi luôn hai dặm.
MAT 5:42 Ai xin gì thì hãy cho họ. Ai muốn mượn gì thì đừng từ chối.
MAT 5:43 Các con có nghe, ‘Hãy yêu người láng giềng và hãy ghét kẻ thù mình.’
MAT 5:44 Nhưng ta bảo các con, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ làm tổn thương mình.
MAT 5:45 Làm như thế thì các con mới chứng tỏ mình là con cái thật của Thượng Đế. Vì Ngài khiến mặt trời mọc lên cho người thiện cùng người ác, làm mưa cho người làm phải cũng như cho người làm quấy.
MAT 5:46 Nếu các con chỉ yêu người yêu mình thì có được thưởng gì đâu? Bọn thu thuế cũng làm được như vậy.
MAT 5:47 Nếu các con chỉ tốt với bạn, thì các con chẳng khá hơn kẻ khác đâu. Những người không biết Thượng Đế cũng tốt với bạn.
MAT 5:48 Cho nên các con phải toàn vẹn giống như Cha các con trên thiên đàng là toàn vẹn.”
MAT 6:1 “Phải thận trọng khi làm việc phúc đức, đừng cho mọi người thấy. Nếu không các con sẽ chẳng nhận được phần thưởng gì từ Cha các con trên thiên đàng đâu.
MAT 6:2 Khi biếu cho kẻ nghèo, đừng làm như bọn đạo đức giả. Họ thổi kèn trong các hội đường và phố chợ để mọi người thấy và kính nể họ. Ta bảo thật, họ đã nhận được đầy đủ phần thưởng của họ rồi.
MAT 6:3 Cho nên khi các con biếu kẻ nghèo, đừng để người khác biết.
MAT 6:4 Hãy biếu cách kín đáo. Cha các con là Đấng thấy những hành vi kín đáo sẽ thưởng cho các con.
MAT 6:5 Khi các con cầu nguyện, đừng làm như những kẻ đạo đức giả. Họ thích đứng trong hội đường và các góc đường rồi cầu nguyện để mọi người thấy. Ta bảo thật, họ đã nhận được phần thưởng của mình rồi.
MAT 6:6 Nhưng khi cầu nguyện, các con hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại rồi cầu nguyện với Cha các con là Đấng không ai thấy. Cha các con là Đấng thấy những việc kín đáo, sẽ thưởng cho các con.
MAT 6:7 Còn khi cầu nguyện, đừng làm như kẻ không biết Thượng Đế. Họ lải nhải những điều vô nghĩa, tưởng rằng Thượng Đế sẽ nghe họ vì nói nhiều.
MAT 6:8 Đừng làm như họ, vì Cha các con biết các con cần gì trước khi các con xin Ngài rồi.
MAT 6:9 Khi cầu nguyện, hãy nói như sau: ‘Lạy Cha trên thiên đàng, nguyền xin danh Cha luôn được tôn thánh.
MAT 6:10 Nguyền nước Cha mau đến và những ý muốn Cha đều thành tựu ở dưới đất nầy cũng như trên thiên đàng.
MAT 6:11 Xin cho chúng con đủ thức ăn hôm nay.
MAT 6:12 Xin tha tội chúng con, như chúng con đã tha cho những kẻ phạm tội cùng chúng con.
MAT 6:13 Xin đừng đưa chúng con vào sự cám dỗ, mà cứu chúng con khỏi Kẻ Ác.’
MAT 6:14 Thật vậy, nếu các con tha tội kẻ khác, thì Cha các con trên thiên đàng cũng sẽ tha tội cho các con.
MAT 6:15 Nhưng nếu các con không tha tội kẻ khác, thì Cha các con trên thiên đàng cũng sẽ không tha tội cho các con.
MAT 6:16 Khi các con cữ ăn, đừng làm ra vẻ buồn rầu như bọn đạo đức giả. Họ làm như thế để người khác biết họ nhịn ăn. Ta bảo thật, những kẻ ấy đã nhận được đầy đủ phần thưởng của mình rồi.
MAT 6:17 Nên khi các con cữ ăn hãy chải đầu, rửa mặt.
MAT 6:18 Như thế sẽ không ai biết các con đang cữ ăn, nhưng Cha các con, Đấng mà các con không thấy được, sẽ nhìn thấy. Ngài thấy những hành vi kín đáo và sẽ thưởng cho các con.
MAT 6:19 Các con đừng thu chứa của báu trên đất nầy là nơi có mối mọt, rỉ sét hủy hoại và kẻ trộm lẻn vào đánh cắp.
MAT 6:20 Nhưng hãy thu chứa của báu trên thiên đàng; là nơi không có mối mọt, rỉ sét hủy hoại hoặc kẻ trộm đánh cắp.
MAT 6:21 Của đâu thì lòng đó.
MAT 6:22 Mắt phản ảnh toàn thể con người. Mắt tốt sẽ chiếu sáng toàn thân,
MAT 6:23 nhưng nếu mắt xấu sẽ tạo ra tối tăm cho toàn thân. Nếu ánh sáng mà các con có chỉ là bóng tối thì bóng đó sẽ tối tăm biết bao nhiêu.
MAT 6:24 Không ai có thể làm tôi hai chủ; vì sẽ yêu chủ nầy, ghét chủ kia, hoặc theo chủ nầy, bỏ chủ kia. Các con không thể vừa phục vụ Thượng Đế lại vừa phục vụ của cải trần gian.
MAT 6:25 Ta bảo các con, đừng lo âu rằng mình phải ăn gì, uống gì để sống, phải mặc áo quần gì để che thân. Mạng sống quí hơn thức ăn, thân thể quí hơn quần áo.
MAT 6:26 Hãy xem loài chim trời! Chúng nó chẳng trồng trọt, gặt hái hay thu chứa thực phẩm trong kho, mà Cha các con trên trời còn nuôi chúng. Các con quí hơn chim chóc nhiều.
MAT 6:27 Các con không thể lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm giây phút nào.
MAT 6:28 Còn tại sao các con lo lắng về quần áo? Hãy xem hoa huệ ngoài đồng! Chúng chẳng làm lụng, cũng không may mặc gì.
MAT 6:29 Nhưng ta cho các con biết là dù vua Sô-lô-môn giàu sang đến đâu cũng chưa được mặc đẹp bằng một trong những đóa hoa huệ ấy.
MAT 6:30 Thượng Đế còn mặc đẹp cho loài hoa cỏ ngoài đồng, là loài nay sống mai bị chụm lửa, huống hồ là các con. Đừng quá ít đức tin như thế!
MAT 6:31 Đừng quá lo âu rồi nói, ‘Chúng ta sẽ ăn gì?’ ‘uống gì?’ hay ‘Chúng ta sẽ mặc gì?’
MAT 6:32 Những người không biết Thượng Đế cũng tìm kiếm các thứ ấy, và Cha các con trên trời cũng biết các con cần những thứ ấy rồi.
MAT 6:33 Việc các con cần tìm hơn cả là Nước Trời và ý muốn Thượng Đế. Rồi tất cả những nhu cầu ấy sẽ đương nhiên được ban cho các con.
MAT 6:34 Cho nên, đừng lo lắng gì về ngày mai, vì ngày mai có những việc khác cần phải lo. Mỗi ngày có đủ việc để lo rồi.”
MAT 7:1 “Đừng phê phán người khác để mình khỏi bị phê phán.
MAT 7:2 Mình phê phán người khác ra sao thì họ cũng phê phán mình như thế; mình đối với kẻ khác như thế nào thì họ cũng sẽ đối với mình giống như vậy.
MAT 7:3 Sao các con thấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt bạn mình mà không thấy khúc gỗ lớn trong mắt mình?
MAT 7:4 Sao các con dám nói với bạn mình rằng, ‘Bạn ơi, để tôi lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn’? Hãy nhìn lại mình! Mắt mình vẫn còn khúc gỗ lớn.
MAT 7:5 Nầy, kẻ giả đạo đức! Hãy lấy khúc gỗ ra khỏi mắt mình trước, rồi mới thấy rõ mà lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn mình được.
MAT 7:6 Đừng cho chó những đồ thánh và chớ nên ném ngọc trai trước mặt heo. Heo sẽ đạp lên còn chó sẽ quay lại cắn xé các con.
MAT 7:7 Hãy xin, Thượng Đế sẽ cho các con. Hãy tìm, các con sẽ gặp. Hãy gõ, cửa sẽ mở ra cho các con.
MAT 7:8 Đúng vậy, ai xin thì được. Ai tìm thì gặp, ai gõ thì cửa mở cho.
MAT 7:9 Nếu con cái các con xin bánh, có ai trong các con lấy đá cho chúng nó không?
MAT 7:10 Hay nếu con cái xin cá mà lại cho rắn không?
MAT 7:11 Tuy các con vốn xấu mà còn biết cho con cái mình những thứ tốt, thì huống gì Cha các con trên trời lại không ban những điều tốt cho những người xin Ngài sao?
MAT 7:12 Các con muốn người ta làm điều gì cho mình, thì hãy làm điều ấy cho họ. Đó là ý nghĩa của luật pháp Mô-se và lời dạy của các nhà tiên tri.
MAT 7:13 Hãy cố gắng vào cổng hẹp. Vì cổng và đường dẫn đến hỏa ngục thì rộng thênh thang, người đi vào đường ấy rất đông.
MAT 7:14 Nhưng cổng chật và đường hẹp, khó đi, dẫn đến sự sống thật, thì chỉ có một số ít người tìm được thôi.
MAT 7:15 Hãy thận trọng về những người tiên tri giả. Họ đến với các con trông hiền hoà như chiên nhưng thật ra nguy hiểm như muông sói.
MAT 7:16 Các con nhận ra họ bằng hành động của họ. Trái nho không mọc ra từ bụi gai, trái vả cũng không xuất phát từ cỏ gai dại.
MAT 7:17 Hễ cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu.
MAT 7:18 Cây tốt không thể sinh trái xấu, mà cây xấu cũng không sinh được trái tốt.
MAT 7:19 Cây nào không sinh trái tốt thì bị đốn và ném vào lửa để chụm.
MAT 7:20 Vì thế các con nhận ra những người tiên tri giả ấy qua việc làm của họ.
MAT 7:21 Không phải hễ ai gọi ta là Chúa đều sẽ được vào Nước Trời đâu. Người vào Nước Trời là những người làm theo ý muốn của Cha ta trên thiên đàng.
MAT 7:22 Đến ngày cuối cùng, nhiều người sẽ nói với ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng con đã nhân danh Ngài truyền bá đạo Chúa, đuổi quỉ và làm nhiều phép lạ.’
MAT 7:23 Nhưng ta sẽ tuyên bố rõ ràng với họ, ‘Nầy những kẻ làm ác, hãy đi cho khuất mắt ta! Ta chưa hề biết đến các ngươi.’
MAT 7:24 Ai nghe lời ta và làm theo, thì giống như người khôn, xây nhà mình trên khối đá.
MAT 7:25 Mưa lũ xuống, nước lụt tràn đến, gió thổi ào ào vào căn nhà ấy nhưng không sao cả, vì nhà được xây trên khối đá.
MAT 7:26 Còn ai nghe lời ta mà không làm theo thì giống như người dại dột xây nhà trên cát.
MAT 7:27 Mưa lũ xuống, nước lụt tràn đến, gió thổi ào ào vào căn nhà đó, thì nó bị sập tan tành liền.”
MAT 7:28 Chúa Giê-xu dạy xong thì dân chúng rất ngạc nhiên về lối dạy của Ngài.
MAT 7:29 Vì Ngài dạy như người có quyền năng, chứ không giống như các giáo sư luật của họ.
MAT 8:1 Lúc Chúa Giê-xu từ trên núi xuống thì có đoàn dân rất đông đi theo Ngài.
MAT 8:2 Có một người mắc bệnh cùi đến cùng Ngài. Anh ta bái lạy Ngài và van xin, “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Ngài có thể chữa lành cho con được.”
MAT 8:3 Chúa Giê-xu đưa tay rờ anh và nói, “Ta muốn. Hãy lành bệnh đi!” Tức thì anh được lành bệnh.
MAT 8:4 Rồi Ngài căn dặn, “Đừng cho ai biết chuyện nầy. Nhưng hãy đi trình diện thầy tế lễ và dâng của lễ, theo như Mô-se qui định cho những ai được lành bệnh, để làm chứng cho mọi người.”
MAT 8:5 Khi Chúa Giê-xu vào thành Ca-bê-nâm, có một sĩ quan đến van xin Ngài giúp đỡ.
MAT 8:6 Ông ta nài nỉ, “Lạy Chúa, đứa đầy tớ tôi đang nằm ở nhà đau đớn lắm, không cử động được.”
MAT 8:7 Chúa Giê-xu bảo ông, “Ta sẽ đến chữa lành cho nó.”
MAT 8:8 Viên sĩ quan thưa, “Lạy Chúa, tôi không xứng đáng rước Chúa vào nhà. Ngài chỉ cần truyền lệnh thì đứa đầy tớ của tôi sẽ lành.
MAT 8:9 Vì tôi ở dưới quyền người khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền. Tôi bảo người lính nầy rằng, ‘Đi,’ thì nó đi. Tôi bảo người lính khác, ‘Đến,’ thì nó đến. Tôi biểu đầy tớ rằng, ‘Làm cái nầy,’ thì nó làm.”
MAT 8:10 Nghe xong, Chúa Giê-xu rất ngạc nhiên. Ngài nói với những người đi theo, “Ta bảo thật, trong cả nước Ít-ra-en, ta chưa hề thấy đức tin ai lớn như thế nầy.
MAT 8:11 Nhiều người sẽ đến từ phương Đông, phương Tây ngồi dự tiệc với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trong Nước Trời.
MAT 8:12 Còn những người đáng lẽ được vào thiên đàng thì lại bị ném ra ngoài chỗ tối tăm, nơi có khóc lóc nghiến răng vì đau đớn.”
MAT 8:13 Rồi Chúa Giê-xu bảo viên sĩ quan, “Thôi anh về đi. Đầy tớ anh sẽ lành theo như điều anh tin.” Người đầy tớ liền được lành đúng vào giờ ấy.
MAT 8:14 Khi Chúa Giê-xu đến nhà Phia-rơ thì Ngài thấy bà mẹ vợ ông đang lên cơn sốt.
MAT 8:15 Ngài cầm tay bà, cơn sốt dứt ngay. Bà liền đứng dậy và bắt đầu phục vụ Chúa Giê-xu.
MAT 8:16 Chiều hôm ấy, người ta mang đến cho Ngài nhiều người bị quỉ ám. Ngài đuổi quỉ và chữa lành mọi người bệnh.
MAT 8:17 Ngài làm những điều nầy để những lời mà nhà tiên tri Ê-sai đã nói trở thành sự thật: “Ngài gánh chịu những đau đớn của chúng ta, mang những bệnh tật của chúng ta.”
MAT 8:18 Khi thấy đám đông vây quanh, Chúa Giê-xu liền bảo các môn đệ đi qua bờ hồ bên kia.
MAT 8:19 Lúc ấy có một giáo sư luật đến thưa với Ngài, “Thưa thầy, thầy đi đâu tôi sẽ theo đó.”
MAT 8:20 Chúa Giê-xu bảo ông, “Chồn cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.”
MAT 8:21 Rồi người khác, một trong những môn đệ Chúa Giê-xu, thưa với Ngài, “Lạy Chúa, xin cho tôi chôn cha tôi trước đã.”
MAT 8:22 Nhưng Chúa Giê-xu bảo anh, “Hãy theo ta, để kẻ chết chôn kẻ chết.”
MAT 8:23 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ bước vào thuyền.
MAT 8:24 Bỗng có cơn bão lớn nổi lên trên mặt hồ, sóng ào ạt tràn ngập thuyền nhưng Chúa Giê-xu đang ngủ.
MAT 8:25 Các môn đệ đến đánh thức Ngài dậy mà rằng, “Chúa ơi, cứu chúng con. Chúng ta sắp chết đuối hết!”
MAT 8:26 Chúa Giê-xu bảo họ, “Sao các con sợ? Các con kém đức tin quá!” Ngài liền đứng dậy ra lệnh cho sóng và gió. Mặt hồ lại trở nên yên lặng như tờ.
MAT 8:27 Các môn đệ vô cùng kinh ngạc bảo nhau, “Người nầy là ai mà đến sóng và gió cũng vâng lệnh?”
MAT 8:28 Khi Chúa Giê-xu đến phía bờ hồ bên kia thuộc địa phận của dân Ga-đa-ren, có hai người bị quỉ ám đến gặp Ngài. Hai anh nầy ở trong các hang chôn người chết và rất nguy hiểm, nên không ai dám đi qua đường gần các hang ấy.
MAT 8:29 Họ la lớn, “Con Thượng Đế ơi, Ngài muốn làm gì chúng tôi đây? Có phải Ngài đến để hành hạ chúng tôi trước kỳ định không?”
MAT 8:30 Gần đó có một bầy heo đông đang ăn.
MAT 8:31 Bọn quỉ van xin Chúa Giê-xu, “Nếu Ngài đuổi chúng tôi ra khỏi mấy người nầy, xin cho chúng tôi nhập vào bầy heo đi.”
MAT 8:32 Chúa Giê-xu ra lệnh, “Đi đi!” Lũ quỉ ra khỏi hai người và nhập vào bầy heo. Cả bầy lao xuống đồi, nhào xuống hồ chết đuối hết.
MAT 8:33 Mấy chú chăn heo bỏ chạy vào thành, thuật lại chuyện bầy heo và hai người bị quỉ ám cho mọi người nghe.
MAT 8:34 Thế là cả thành kéo ra gặp Chúa Giê-xu. Khi thấy Ngài, họ liền yêu cầu Ngài rời khỏi địa phận của họ.
MAT 9:1 Chúa Giê-xu bước xuống thuyền, qua bờ bên kia trở về thành của Ngài.
MAT 9:2 Có mấy người mang đến cho Ngài một người bại nằm trên cáng. Khi Chúa Giê-xu thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại, “Anh ơi, hãy vững lòng! Tội anh được tha rồi.”
MAT 9:3 Vài giáo sư luật ở đó nghĩ thầm, “Ông nầy ăn nói như thể mình là Trời vậy. Thật là phạm thượng!”
MAT 9:4 Biết ý nghĩ họ, Ngài bảo, “Sao các ông có ác tưởng đó?
MAT 9:5 Hai điều nầy, điều nào dễ hơn, ‘Tội ngươi được tha rồi,’ hay là bảo anh ta, ‘Hãy đứng dậy, bước đi’?
MAT 9:6 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông thấy tôi có quyền tha tội trên đất.” Chúa Giê-xu liền bảo người bại, “Anh hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu về nhà đi.”
MAT 9:7 Người bại liền đứng phắt dậy đi về nhà.
MAT 9:8 Dân chúng chứng kiến sự việc, vô cùng sửng sốt và ca ngợi Thượng Đế đã ban quyền phép ấy cho con người.
MAT 9:9 Vừa rời nơi ấy, Chúa Giê-xu thấy một người tên Ma-thi-ơ đang ngồi nơi trạm thu thuế. Ngài bảo ông, “Hãy theo ta.” Ma-thi-ơ liền đứng dậy đi theo Ngài.
MAT 9:10 Trong khi Chúa Giê-xu đang dùng bữa tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều nhân viên thu thuế và những kẻ xấu xa đến ăn chung với Ngài và các môn đệ.
MAT 9:11 Người Pha-ri-xi thấy vậy mới hỏi các môn đệ Ngài, “Tại sao thầy của mấy anh ăn chung với bọn thu thuế và kẻ bất lương như thế?”
MAT 9:12 Nghe vậy, Ngài bảo họ, “Người khỏe mạnh đâu cần bác sĩ, mà là người bệnh.
MAT 9:13 Hãy đi học ý nghĩa câu nầy: ‘Ta muốn lòng nhân từ hơn sinh tế.’ Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà để kêu gọi tội nhân.”
MAT 9:14 Lúc ấy có mấy môn đệ của Giăng đến hỏi Chúa Giê-xu “Tại sao chúng tôi và người Pha-ri-xi thường cữ ăn còn các môn đệ thầy thì không?”
MAT 9:15 Chúa Giê-xu đáp, “Bạn của chú rể không thể buồn rầu trong khi chú rể còn ở với họ. Nhưng khi nào chú rể được rước đi khỏi họ thì lúc ấy họ mới cữ ăn.
MAT 9:16 Không ai dùng một miếng vải chưa bị co để vá một lỗ rách của cái áo cũ. Làm như thế miếng vá sẽ rút lại, xé lỗ rách thêm.
MAT 9:17 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Vì bầu sẽ nứt, rượu đổ ra hết, bầu cũng không còn. Người ta đổ rượu mới vào bình mới để giữ được cả hai.”
MAT 9:18 Trong khi Chúa Giê-xu đang nói thì có một người chủ hội đường đến gặp Ngài. Ông ta quì xuống trước mặt Ngài van xin, “Con gái tôi mới chết. Xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó sống lại.”
MAT 9:19 Chúa Giê-xu và các môn đệ đứng dậy cùng đi với ông chủ hội đường.
MAT 9:20 Bấy giờ có một thiếu phụ mắc bệnh xuất huyết đã mười hai năm đến phía sau Chúa Giê-xu và rờ ve áo của Ngài.
MAT 9:21 Chị nghĩ thầm, “Nếu tôi chỉ cần rờ áo Ngài, chắc chắn tôi sẽ được lành.”
MAT 9:22 Chúa Giê-xu quay lại thấy thiếu phụ liền bảo, “Chị ơi, hãy vững lòng. Chị được lành vì chị có lòng tin.” Ngay lúc đó thiếu phụ lành bệnh.
MAT 9:23 Chúa Giê-xu tiếp tục đi với người chủ hội đường, vào nhà ông ta. Đến nơi, Ngài thấy đoàn thợ kèn và nhiều người đang khóc lóc thảm thiết.
MAT 9:24 Ngài bảo, “Tránh ra chỗ khác. Em bé gái nầy không phải chết đâu, nó chỉ ngủ thôi.” Nhưng họ nhạo cười Ngài.
MAT 9:25 Sau khi đuổi mọi người ra khỏi nhà thì Chúa Giê-xu đi vào phòng em bé gái, cầm tay em thì em liền ngồi dậy.
MAT 9:26 Tin nầy được đồn ra khắp vùng ấy.
MAT 9:27 Ngài đang rời nơi ấy thì có hai người mù theo sau. Họ kêu xin, “Con cháu Đa-vít ơi, xin thương xót chúng tôi!”
MAT 9:28 Sau khi Ngài vào nhà thì hai người mù cùng vào. Ngài hỏi họ, “Mấy anh tin rằng tôi có thể làm cho mấy anh sáng mắt phải không?” Họ đáp, “Thưa Chúa, dạ phải.”
MAT 9:29 Ngài liền rờ mắt họ và nói, “Vì hai anh tin ta có thể khiến các anh sáng mắt, nên điều đó sẽ thành sự thật.”
MAT 9:30 Hai người mù liền được sáng mắt. Chúa Giê-xu nghiêm cấm họ, “Không được nói cho ai biết chuyện nầy.”
MAT 9:31 Nhưng hai người mù đi ra đồn tin về Chúa Giê-xu khắp cả miền ấy.
MAT 9:32 Khi hai người vừa ra đi thì người ta mang đến cho Ngài một người khác. Người nầy câm vì bị quỉ ám.
MAT 9:33 Sau khi Chúa Giê-xu đuổi quỉ ra thì anh nói được. Quần chúng rất kinh ngạc bảo nhau rằng, “Chúng ta chưa hề thấy phép lạ như thế nầy trong Ít-ra-en.”
MAT 9:34 Nhưng người Pha-ri-xi bảo, “Chúa quỉ ban quyền cho ông ta để đuổi quỉ đó thôi.”
MAT 9:35 Chúa Giê-xu đi qua các thị trấn, làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng về Nước Trời và chữa lành mọi thứ tật bệnh.
MAT 9:36 Khi thấy quần chúng, Ngài cảm thương họ vì họ hoang mang, bối rối, yếu đuối như chiên thiếu người chăn.
MAT 9:37 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Đồng lúa rất được mùa mà thợ gặt thì thiếu.
MAT 9:38 Hãy cầu xin Chúa là chủ mùa gặt sai thêm người đến tiếp tay gặt hái.”
MAT 10:1 Chúa Giê-xu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho quyền đuổi tà ma và chữa lành mọi thứ tật bệnh.
MAT 10:2 Đây là tên mười hai sứ đồ ấy: Xi-môn còn gọi là Phia-rơ, em là Anh-rê; Gia-cơ con trai Xê-bê-đê, em là Giăng;
MAT 10:3 Phi-líp và Ba-thê-lê-mi; Thô-ma và Ma-thi-ơ, nhân viên thu thuế; Gia-cơ con A-phê, và Tha-đê;
MAT 10:4 Xi-môn thuộc đảng Quá khích và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người về sau phản bội Chúa Giê-xu.
MAT 10:5 Chúa Giê-xu sai mười hai người ấy ra đi và dặn, “Đừng đến với dân ngoại quốc hay thành nào của dân Xa-ma-ri
MAT 10:6 nhưng chỉ đi đến với dân Ít-ra-en mà thôi, vì họ như chiên đi lạc.
MAT 10:7 Khi đi ra hãy rao giảng như sau, ‘Nước thiên đàng gần đến rồi.’
MAT 10:8 Hãy chữa lành người đau, khiến kẻ chết sống lại, chữa trị cho những ai mắc bệnh ngoài da và đuổi quỉ ra khỏi kẻ bị ám. Ta đã cho không các con quyền nầy thì các con cũng hãy giúp không cho người khác.
MAT 10:9 Đừng mang tiền theo, dù vàng, bạc hay đồng.
MAT 10:10 Đừng mang bao, áo quần dư, dép hoặc gậy. Người làm việc đáng được tiền công.
MAT 10:11 Khi các con vào thành hay thị trấn nào thì hãy tìm người hiếu khách mà cư ngụ cho đến khi ra đi.
MAT 10:12 Khi bước vào nhà họ thì nói, ‘Cầu bình an cho nhà nầy.’
MAT 10:13 Nếu chủ nhân nhà ấy tiếp đón các con, thì sự bình an sẽ ở lại trong nhà đó. Còn nếu họ không chịu tiếp đón, thì hãy lấy lại lời chúc.
MAT 10:14 Nếu nhà hoặc thành nào từ chối không chịu tiếp đón hoặc nghe các con, thì hãy rời nơi ấy và phủi bụi dính nơi chân mình.
MAT 10:15 Ta bảo thật, đến Ngày Xét Xử, hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu phạt nhẹ hơn thành ấy.
MAT 10:16 Các con nghe đây! Ta sai các con ra đi chẳng khác nào chiên vào giữa bầy muông sói. Vì vậy, hãy khôn khéo như rắn và hiền hòa như chim bồ câu.
MAT 10:17 Hãy thận trọng về người ta, vì họ sẽ bắt và giải các con đến trước tòa án, đánh đòn các con trong các hội đường.
MAT 10:18 Vì ta mà các con sẽ bị đưa ra trước các quan tổng đốc, các vua, để làm chứng về ta trước mặt họ và các dân ngoại quốc.
MAT 10:19 Khi các con bị bắt, đừng lo sẽ phải nói gì hoặc nói thế nào. Lúc ấy những gì cần phải nói sẽ được ban cho các con.
MAT 10:20 Thật ra không phải các con nói nữa, mà Thánh Linh của Cha nói qua các con.
MAT 10:21 Anh sẽ khiến cho em bị giết, cha mẹ sẽ chống nghịch con cái và làm cho chúng bị giết. Con cái sẽ chống nghịch cha mẹ làm cho cha mẹ phải chết.
MAT 10:22 Mọi người sẽ ghét các con vì các con theo ta; nhưng ai giữ vững đức tin cho đến cuối cùng sẽ được cứu.
MAT 10:23 Khi các con bị ngược đãi ở một thành nào, thì hãy trốn qua thành khác. Ta bảo thật, trước khi các con đi qua hết các thị trấn Ít-ra-en thì Con Người đã đến rồi.
MAT 10:24 Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.
MAT 10:25 Trò được như thầy, tớ được như chủ là đủ tốt rồi. Nếu chủ nhà mà còn bị gọi là Bê-ên-xê-bun thì huống hồ những người khác trong gia đình còn bị gọi là gì nữa!
MAT 10:26 Cho nên đừng sợ người ta, vì chẳng có gì giấu kín mà không bị phơi bày. Mọi việc kín đáo rồi cũng bị lộ ra hết.
MAT 10:27 Ta bảo các con những điều nầy trong bóng tối, nhưng ta muốn các con nói ra trong ánh sáng. Những gì các con nghe thì thầm bên tai, hãy rao to trên nóc nhà.
MAT 10:28 Đừng sợ kẻ giết thể xác mà không thể giết linh hồn. Các con chỉ nên sợ Đấng có thể tiêu hủy cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.
MAT 10:29 Hai con chim sẻ chỉ đáng giá một xu, vậy mà chẳng một con nào rơi xuống đất nếu Cha các con không cho phép.
MAT 10:30 Thượng Đế còn biết trên đầu các con có bao nhiêu sợi tóc.
MAT 10:31 Cho nên, đừng sợ! Các con quí giá hơn chim sẻ nhiều.
MAT 10:32 Ai công khai xưng nhận rằng họ tin ta trước mặt người khác, thì ta cũng sẽ công khai nhận người đó thuộc về ta trước mặt Cha ta trên trời.
MAT 10:33 Nhưng ai đứng trước mặt người khác mà bảo rằng họ không tin ta, thì trước mặt Cha ta trên trời ta cũng sẽ bảo rằng người đó không thuộc về ta.
MAT 10:34 Đừng tưởng ta đến để mang hòa bình cho thế gian. Ta đến không phải để mang hòa bình mà là mang gươm giáo.
MAT 10:35 Ta đến để làm cho ‘con trai nghịch cha, con gái nghịch mẹ, con dâu nghịch mẹ chồng.
MAT 10:36 Người ta có kẻ thù là thân nhân trong nhà.’
MAT 10:37 Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không xứng đáng làm môn đệ ta. Ai yêu con trai con gái hơn ta cũng không đáng làm môn đệ ta.
MAT 10:38 Ai không bằng lòng vác cây thập tự theo ta cũng không xứng đáng cho ta.
MAT 10:39 Ai cố bám lấy sự sống, sẽ đánh mất sự sống thật. Nhưng ai hi sinh mạng sống vì ta sẽ nhận được sự sống thật.
MAT 10:40 Ai tiếp các con tức là tiếp ta, còn ai tiếp ta tức là tiếp Đấng đã sai ta đến.
MAT 10:41 Ai gặp và tiếp đón một nhà tiên tri, vì người ấy nói thay cho Chúa, sẽ nhận được cùng phần thưởng như nhà tiên tri. Còn ai đón tiếp người nhân đức, vì người ấy đại diện cho Chúa, sẽ được phần thưởng của người nhân đức.
MAT 10:42 Ai cho một trong những trẻ nhỏ nầy một ly nước lạnh, vì chúng là môn đệ ta, sẽ nhận được phần thưởng.”
MAT 11:1 Sau khi dạy dỗ xong những điều ấy cho mười hai môn đệ, Chúa Giê-xu rời nơi đó đi đến các thị trấn miền Ga-li-lê để giảng dạy.
MAT 11:2 Giăng Báp-tít đang ngồi tù. Khi nghe thuật lại những gì Chúa Giê-xu làm, ông liền sai mấy môn đệ đến hỏi Ngài,
MAT 11:3 “Thầy có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi phải chờ Đấng khác?”
MAT 11:4 Chúa Giê-xu bảo họ, “Về thuật lại cho Giăng những gì các anh nghe và thấy:
MAT 11:5 Kẻ mù được sáng mắt, kẻ què đi được, người mắc bệnh cùi được chữa lành. Kẻ điếc nghe được, người chết sống lại và Tin Mừng được giảng ra cho kẻ nghèo.
MAT 11:6 Phúc cho người nào không nao núng trong đức tin vì ta.”
MAT 11:7 Khi các môn đệ Giăng vừa ra về, thì Chúa Giê-xu bắt đầu nói chuyện với dân chúng về Giăng. Ngài hỏi, “Các ông bà đi ra đồng hoang để xem gì? Có phải xem cọng sậy bị gió thổi không?
MAT 11:8 Các ông bà còn xem gì nữa? Có phải xem người mặc áo quần sang trọng không?—Không, vì những người mặc áo quần sang trọng thì ở trong cung vua.
MAT 11:9 Vậy tại sao các ông bà đi ra xem? Có phải xem nhà tiên tri không? Đúng vậy, tôi bảo cho các ông bà biết rằng vai trò của Giăng còn lớn hơn nhà tiên tri nữa.
MAT 11:10 Chính về người ấy mà có lời viết: ‘Ta sẽ sai sứ giả đi trước con, để chuẩn bị đường cho con.’
MAT 11:11 Ta bảo thật, trong số những người sinh ra trên đời chưa có ai lớn hơn Giăng Báp-tít, nhưng trên Nước Trời, người thấp kém nhất còn lớn hơn cả Giăng nữa.
MAT 11:12 Từ khi Giăng đến cho tới bây giờ, nước thiên đàng phát triển mạnh nên nhiều người tìm cách dùng bạo lực chiếm lấy.
MAT 11:13 Tất cả những lời tiên tri và luật pháp Mô-se đều ghi chép những sự việc xảy ra cho tới khi Giăng đến.
MAT 11:14 Nếu các ông bà tin lời các vị ấy, thì Giăng chính là Ê-li, người mà họ nói là sẽ đến.
MAT 11:15 Ai nghe được, hãy lắng nghe cho kỹ.
MAT 11:16 Ta phải mô tả thế nào về những người ở thời đại nầy? Họ giống ai? Họ giống mấy đứa trẻ ngồi nơi phố chợ gọi nhau rằng,
MAT 11:17 ‘Chúng tao đã chơi nhạc mà chúng bay không chịu nhảy múa; chúng tao đã hát bài ai ca mà chúng bay không chịu than khóc.’
MAT 11:18 Giăng đến, không ăn uống như những người khác thì người ta bảo, ‘Ông ta bị quỉ ám.’
MAT 11:19 Con Người đến, ăn và uống thì người ta nói, ‘Xem kìa! Ông ta ăn nhậu quá mức lại còn kết bạn với bọn thu thuế và kẻ xấu xa.’ Nhưng sự khôn ngoan phải được minh chứng rằng đúng bằng việc làm của nó.”
MAT 11:20 Rồi Chúa Giê-xu quở trách những thành mà Ngài đã làm phép lạ nhiều nhất vì họ không ăn năn hoặc từ bỏ tội lỗi.
MAT 11:21 Ngài quở, “Khốn cho ngươi, thành Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, thành Bết-xai-đa! Vì nếu những phép lạ ta đã làm giữa các ngươi mà được làm ở các thành Tia và Xi-đôn thì dân cư ở đó đã ăn năn từ lâu rồi. Họ chắc chắn đã mặc vải sô và rắc tro lên người để chứng tỏ thực sự hối hận.
MAT 11:22 Ta bảo ngươi, đến Ngày Xét Xử, hai thành Tia và Xi-đôn sẽ chịu phạt nhẹ hơn ngươi.
MAT 11:23 Còn ngươi, thành Ca-bê-nâm, ngươi được nâng lên đến tận trời sao?—Không! Ngươi sẽ bị ném xuống âm phủ. Nếu những phép lạ ta đã làm giữa ngươi mà được đem làm ở Xô-đôm thì dân chúng ở đó chắc chắn đã từ bỏ tội lỗi và có lẽ thành ấy vẫn còn đến ngày nay.
MAT 11:24 Ta bảo cho ngươi biết, đến Ngày Xét Xử, thành Xô-đôm còn chịu phạt nhẹ hơn ngươi.”
MAT 11:25 Lúc đó Chúa Giê-xu nói, “Lạy Cha là Chúa của trời đất, con tạ ơn Cha vì Ngài đã giấu những điều nầy khỏi những người khôn ngoan thông sáng mà tỏ ra cho những kẻ có lòng đơn sơ như trẻ thơ.
MAT 11:26 Thưa Cha, đó là điều Cha muốn.
MAT 11:27 Cha đã giao mọi sự cho Con. Không ai biết Con ngoại trừ Cha, cũng không ai biết Cha ngoại trừ Con và những người nào Con muốn cho biết.
MAT 11:28 Hỡi những ai mệt mỏi và nặng gánh, hãy đến cùng ta. Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi.
MAT 11:29 Hãy nhận lời dạy dỗ của ta và học theo ta vì ta hiền hòa và khiêm nhường, các ngươi sẽ tìm được sự thảnh thơi cho đời sống.
MAT 11:30 Lời dạy của ta dễ chấp nhận; gánh ta giao cho các ngươi rất nhẹ nhàng.”
MAT 12:1 Lúc ấy vào ngày Sa-bát Chúa Giê-xu đang đi ngang qua một đồng lúa. Các môn đệ Ngài đói nên hái bông lúa vò đi mà ăn.
MAT 12:2 Những người Pha-ri-xi thấy vậy mới nói với Ngài rằng, “Xem kìa! Các môn đệ thầy làm điều trái phép trong ngày Sa-bát.”
MAT 12:3 Chúa Giê-xu đáp, “Vậy là các ông chưa đọc về chuyện vua Đa-vít và những bạn đồng hành làm khi bị đói sao?
MAT 12:4 Vua vào đền thờ Thượng Đế cùng với mấy bạn đồng hành, lấy bánh thánh đã dâng cho Chúa mà ăn, loại bánh mà chỉ có các thầy tế lễ mới được phép ăn thôi.
MAT 12:5 Còn các ông chắc cũng chưa đọc về luật Mô-se nói rằng vào ngày Sa-bát, các thầy tế lễ tuy phục vụ trong đền thờ, tức là phạm luật của ngày ấy, nhưng không phải tội sao?
MAT 12:6 Ta bảo cho các ông biết là ở đây có một Đấng lớn hơn đền thờ.
MAT 12:7 Thánh Kinh viết, ‘Ta muốn lòng nhân từ hơn sinh tế.’ Các ông chẳng hiểu những lời nầy nghĩa là gì. Nếu các ông hiểu ý nghĩa câu ấy thì các ông sẽ không lên án những kẻ không làm điều gì sai.
MAT 12:8 Vì Con Người là Chúa của ngày Sa-bát.”
MAT 12:9 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi vào hội đường.
MAT 12:10 Ở đó có một người bị liệt tay. Một số người Do-thái muốn tìm dịp để tố cáo Ngài nên họ hỏi, “Có được phép chữa bệnh trong ngày Sa-bát không?”
MAT 12:11 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu các ông có một con chiên rơi xuống hố trong ngày Sa-bát thì các ông có kéo nó lên liền không?
MAT 12:12 Dĩ nhiên con người quí hơn chiên nhiều, cho nên trong ngày Sa-bát được phép làm việc thiện.”
MAT 12:13 Rồi Ngài bảo người liệt tay, “Giơ tay anh ra.” Anh ta giơ tay ra thì tay được lành lặn giống như tay kia.
MAT 12:14 Nhưng các người Pha-ri-xi đi ra bàn mưu giết Chúa Giê-xu.
MAT 12:15 Biết âm mưu của người Pha-ri-xi nên Ngài rời nơi ấy. Nhiều người đi theo và Ngài chữa lành cho những người bệnh.
MAT 12:16 Nhưng Ngài không cho phép họ nói với người khác biết Ngài là ai.
MAT 12:17 Ngài làm như thế để những lời mà nhà tiên tri Ê-sai đã viết, trở thành sự thật:
MAT 12:18 “Nầy đầy tớ ta là kẻ ta đã chọn. Ta yêu người và rất vừa lòng về người. Ta sẽ đặt thần ta trên người, người sẽ rao công lý ta cho muôn dân.
MAT 12:19 Người không biện luận, cũng không kêu la; không ai nghe tiếng người ngoài phố.
MAT 12:20 Người sẽ không bẻ cọng sậy bị dập hoặc thổi tắt ngọn đèn leo lét, cho đến khi người khiến công lý được đắc thắng.
MAT 12:21 Các dân ngoại quốc sẽ tìm được hi vọng trong người.”
MAT 12:22 Lúc ấy người ta mang đến cho Ngài một người vừa mù vừa câm vì bị tà ma ám. Chúa Giê-xu chữa lành khiến anh ta thấy và nói được.
MAT 12:23 Dân chúng vô cùng kinh ngạc bảo nhau, “Rất có thể người nầy là Con Đa-vít không chừng!”
MAT 12:24 Các người Pha-ri-xi nghe vậy mới bảo, “Ông Giê-xu chỉ giỏi lấy quyền Sa-tăng là chúa quỉ mà đuổi quỉ đó thôi.”
MAT 12:25 Biết ý nghĩ của họ nên Ngài nói, “Nước nào tự chia rẽ sẽ bị tiêu diệt. Thành nào hoặc gia đình nào tự phân hóa thì không thể tồn tại được.
MAT 12:26 Nếu Sa-tăng đuổi quỉ Sa-tăng tức nó tự chia xé, nước nó không thể nào còn được.
MAT 12:27 Các ngươi bảo ta dùng quyền của Bê-ên-xê-bun để đuổi quỉ. Nếu thế thì những người trong các ngươi dùng quyền gì để đuổi quỉ? Cho nên họ sẽ kết án các ngươi.
MAT 12:28 Nhưng nếu ta dùng quyền Thánh Linh của Thượng Đế để đuổi quỉ thì Nước Trời đã đến cùng các ngươi.
MAT 12:29 Ai muốn ập vào nhà một người lực lưỡng để đoạt của thì trước hết phải trói người đó lại đã. Sau mới cướp của trong nhà được.
MAT 12:30 Ai không đứng về phía ta là nghịch với ta. Ai không hợp tác với ta là chống lại ta.
MAT 12:31 Ta bảo cho các ngươi biết, ai phạm tội với Thượng Đế thì có thể được tha thứ nhưng ai phạm tội hay sỉ nhục Thánh Linh sẽ không bao giờ được tha đâu.
MAT 12:32 Ai nói phạm đến Con Người thì có thể được tha nhưng ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không bao giờ được tha, dù đời nầy cho đến đời sau cũng vậy.
MAT 12:33 Nếu muốn có trái tốt phải có cây tốt. Cây xấu sinh trái xấu. Xem trái thì biết cây.
MAT 12:34 Nầy dòng dõi rắn độc kia! Các ngươi vốn ác làm sao nói được điều tốt? Miệng nói ra những điều chất chứa trong lòng.
MAT 12:35 Người thiện chứa điều thiện trong lòng nên nói ra điều thiện. Nhưng kẻ ác chứa điều ác trong lòng nên nói ra điều ác.
MAT 12:36 Ta bảo cho các ngươi biết là đến Ngày Xét Xử ai nấy phải trả lời về những lời nói bừa bãi của mình.
MAT 12:37 Những lời các ngươi nói ra sẽ được dùng để xét xử các ngươi. Một số lời nói các ngươi sẽ chứng tỏ các ngươi vô tội, một số lời nói sẽ buộc tội các ngươi.”
MAT 12:38 Sau đó có một số người Pha-ri-xi và giáo sư luật thưa với Ngài rằng, “Thưa thầy, chúng tôi muốn được xem một phép lạ.”
MAT 12:39 Chúa Giê-xu đáp, “Những người tội lỗi gian ác mới đòi xem phép lạ. Sẽ không có phép lạ nào được làm ra cho họ ngoại trừ phép lạ của nhà tiên tri Giô-na.
MAT 12:40 Giô-na ở trong bụng con cá lớn ba ngày ba đêm; cũng thế Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.
MAT 12:41 Đến Ngày Xét Xử dân cư thành Ni-ni-ve sẽ đứng lên kết án các ngươi là người đang sống ở thời đại nầy. Vì khi Giô-na rao giảng thì họ ăn năn hối hận. Mà ta bảo, tại đây có một Đấng còn lớn hơn Giô-na nữa.
MAT 12:42 Đến Ngày Xét Xử, Nữ hoàng Nam Phương sẽ đứng lên kết án các ngươi là người đang sống ở thời đại nầy, vì bà ấy đến từ một xứ rất xa để nghe lời dạy dỗ khôn ngoan của Sô-lô-môn. Nhưng ta bảo, ngay tại đây có một Đấng còn lớn hơn Sô-lô-môn nữa.”
MAT 12:43 “Khi một ác quỉ ra khỏi một người, nó đi rảo qua các nơi khô khan kiếm chỗ nghỉ nhưng kiếm không được.
MAT 12:44 Nó tự nhủ, ‘Ta sẽ trở lại nhà ta vừa mới ra đi.’ Khi về thì nó thấy nhà trống trải, quét dọn sạch sẽ, ngăn nắp.
MAT 12:45 Nó liền đi ra rủ thêm bảy quỉ khác còn dữ hơn nó nữa, đến ở trong nhà đó. Cho nên tình cảnh người ấy sau nầy còn khốn đốn hơn trước. Những người ác đang sống ở thời đại nầy cũng gặp số phận như thế.”
MAT 12:46 Trong khi Chúa Giê-xu đang dạy dỗ dân chúng thì mẹ và anh em Ngài đến đứng bên ngoài, tìm cách vào để nói chuyện với Ngài.
MAT 12:47 Có người thưa, “Mẹ và anh em thầy đang đứng ở ngoài muốn nói chuyện với thầy kìa.”
MAT 12:48 Chúa Giê-xu đáp, “Ai là mẹ ta? Ai là anh em ta?”
MAT 12:49 Rồi Ngài chỉ các môn đệ và bảo, “Đây là mẹ và anh em ta.
MAT 12:50 Mẹ và anh chị em thật của ta là những người làm theo ý muốn Cha ta trên thiên đàng.”
MAT 13:1 Cùng hôm ấy Chúa Giê-xu đi ra khỏi nhà, ngồi bên bờ hồ.
MAT 13:2 Dân chúng tụ tập quanh Ngài rất đông nên Ngài xuống thuyền ngồi, còn dân chúng thì đứng trên bờ.
MAT 13:3 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn dạy họ nhiều điều. Ngài kể: “Có một nông gia kia đi ra gieo giống.
MAT 13:4 Trong khi gieo, một số hột rơi bên đường đi, chim đáp xuống ăn hết.
MAT 13:5 Một số rơi trên đất đá, có rất ít đất thịt. Hột giống ấy mọc lên mau vì có ít đất cạn.
MAT 13:6 Nhưng khi mặt trời mọc lên thì cây non chết héo vì rễ không sâu.
MAT 13:7 Một số hột rơi vào đám cỏ gai, gai mọc lên chèn ép cây non.
MAT 13:8 Một số hột rơi trên đất tốt, mọc lên và sinh hoa quả nhiều. Có cây ra một trăm hột, có cây sinh ra sáu chục, có cây sinh ra ba chục.
MAT 13:9 Ai có tai để nghe, hãy nghe cho kỹ.”
MAT 13:10 Các môn đệ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Sao thầy dùng ngụ ngôn để dạy dân chúng?”
MAT 13:11 Ngài đáp, “Các con đã được đặc ân để hiểu biết các điều bí ẩn về Nước Trời nhưng những người khác thì không được đặc ân ấy.
MAT 13:12 Ai có trí hiểu sẽ được cho thêm để họ có dư, nhưng ai không hiểu biết thì sẽ bị lấy luôn những gì họ có nữa.
MAT 13:13 Ta dùng ngụ ngôn để dạy họ vì họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu.
MAT 13:14 Như thế để lời nhà tiên tri Ê-sai đã viết về họ được thành tựu: ‘Các ngươi sẽ nghe đi nghe lại, mà không hiểu gì. Các ngươi sẽ nhìn đi nhìn lại mà không thấy gì.
MAT 13:15 Vì trí óc dân nầy đã trở nên ương ngạnh. Họ bịt tai không muốn nghe, nhắm mắt không muốn thấy. Vì nếu mắt họ thấy được, tai họ nghe được, trí họ sẽ hiểu. Rồi họ sẽ trở lại với ta để được chữa lành chăng.’
MAT 13:16 Nhưng các con có phúc vì mắt các con thấy được, tai các con nghe được.
MAT 13:17 Ta bảo thật, nhiều nhà tiên tri và những người nhân đức muốn thấy điều các con hiện đang thấy, mà không được. Họ muốn nghe điều các con hiện đang nghe cũng không được.
MAT 13:18 Các con hãy nghe ý nghĩa của ngụ ngôn về nông gia.
MAT 13:19 Hột giống rơi bên đường đi nghĩa là gì? Hột ấy như người nghe dạy về nước thiên đàng mà không hiểu. Kẻ Ác liền đến cướp lấy hột đã trồng trong lòng họ.
MAT 13:20 Còn về hột giống rơi nhằm chỗ đất đá thì sao? Hột ấy giống như người nghe lời dạy liền vui nhận.
MAT 13:21 Nhưng người ấy không để lời dạy ăn sâu vào trong lòng. Chỉ giữ một thời gian ngắn thôi. Khi khó khăn và bạo hành xảy đến do lời dạy thì họ liền bỏ cuộc.
MAT 13:22 Còn hột giống rơi nhằm cỏ gai nghĩa là gì? Hột ấy giống như người nghe đạo nhưng lại để những lo âu đời nầy và cám dỗ của giàu sang cản trở khiến lời dạy không nẩy nở và kết quả được trong đời sống người ấy.
MAT 13:23 Còn về hột giống rơi trên đất tốt là gì? Hột ấy giống như người nghe đạo và hiểu nên kết quả, một hột ra một trăm, sáu chục hoặc ba chục.”
MAT 13:24 Chúa Giê-xu lại kể một ngụ ngôn khác: “Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.
MAT 13:25 Đêm ấy, trong khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù đến gieo cỏ dại giữa đám lúa mì rồi bỏ đi.
MAT 13:26 Khi lúa mì nẩy mầm và bắt đầu sinh hột, thì cỏ dại cũng xuất hiện.
MAT 13:27 Các đầy tớ đến hỏi, ‘Có phải chủ đã gieo giống tốt trong ruộng không? Vậy cỏ dại ở đâu mà ra?’”
MAT 13:28 Người chủ đáp, “Kẻ thù đã làm chuyện đó.” Các đầy tớ hỏi, “Vậy chủ có muốn chúng tôi đi nhổ hết cỏ dại lên không?”
MAT 13:29 “Người chủ đáp, ‘Đừng. Vì khi các ngươi nhổ cỏ dại rất có thể các ngươi vô tình nhổ luôn lúa mì.
MAT 13:30 Hãy để cỏ dại và lúa mì cùng lớn lên cho đến mùa gặt. Lúc ấy ta sẽ bảo mấy người làm công: Hãy nhổ hết cỏ dại trước, bó lại rồi đốt đi. Sau mới gặt hết lúa mì mang vào kho ta.’”
MAT 13:31 Chúa Giê-xu lại kể một ngụ ngôn nữa: “Nước Trời giống như một hột cải mà người kia trồng trong ruộng.
MAT 13:32 Hột đó nhỏ nhất trong các hột giống, nhưng khi mọc lên nó trở thành một trong những cây lớn nhất trong vườn. Cây đó lớn và sum suê đến nỗi chim trời làm tổ trong nhánh nó được.”
MAT 13:33 Ngài kể tiếp một ngụ ngôn nữa: “Nước Trời giống như men mà người đàn bà nọ trộn trong một thau bột lớn cho đến chừng cả đống bột đều dậy lên.”
MAT 13:34 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn để dạy dỗ dân chúng; Ngài luôn luôn dùng ngụ ngôn để dạy họ.
MAT 13:35 Đúng như lời nhà tiên tri đã nói: “Ta sẽ dùng ngụ ngôn; Ta sẽ thuật ra những điều bí mật từ thuở trời đất được dựng nên.”
MAT 13:36 Chúa Giê-xu rời quần chúng đi vào nhà. Các môn đệ đến hỏi Ngài, “Xin thầy giải thích cho chúng con ý nghĩa về ngụ ngôn cỏ dại trong ruộng.”
MAT 13:37 Chúa Giê-xu đáp, “Người gieo giống tốt trong ruộng là Con Người.
MAT 13:38 Ruộng là thế gian, và giống tốt là tất cả những con cái của Thượng Đế thuộc về nước thiên đàng. Cỏ dại là những người của Kẻ Ác.
MAT 13:39 Còn kẻ thù gieo cỏ dại là ma quỉ. Mùa gặt là ngày tận thế, những thợ gặt là các thiên sứ.
MAT 13:40 Cỏ dại bị nhổ lên để đốt trong lửa ra sao thì ngày tận thế cũng như vậy.
MAT 13:41 Con Người sẽ sai các thiên sứ Ngài gom lại, từ trong nước Ngài, những người gây ra tội lỗi và những kẻ làm ác.
MAT 13:42 Các thiên sứ sẽ ném họ vào lò lửa hực, nơi đó họ sẽ khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.
MAT 13:43 Lúc bấy giờ người nhân đức sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai để nghe, hãy nghe cho kỹ.”
MAT 13:44 “Nước Trời giống như một kho báu chôn trong một thửa ruộng. Một hôm có người tìm được liền giấu lại trong ruộng. Anh mừng quá liền về nhà bán hết tài sản để mua thửa ruộng đó.
MAT 13:45 Nước Trời cũng giống như một thương gia kia đi tìm viên ngọc trai quí.
MAT 13:46 Khi tìm được rồi, liền về bán hết tài sản để lấy tiền mua viên ngọc trai ấy.
MAT 13:47 Nước Trời giống như lưới thả xuống hồ bắt đủ mọi thứ cá.
MAT 13:48 Khi lưới đầy rồi thì người đánh cá kéo lên bờ. Họ ngồi lại lựa cá tốt bỏ vào giỏ còn cá xấu thì ném đi.
MAT 13:49 Ngày tận thế cũng như vậy. Các thiên sứ sẽ đến phân chia kẻ ác và người thiện ra.
MAT 13:50 Các thiên sứ sẽ ném những kẻ ác vào lò lửa hực nơi có khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.”
MAT 13:51 Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Các con có hiểu mọi điều nầy không?” Họ thưa, “Dạ hiểu.”
MAT 13:52 Rồi Ngài bảo họ, “Giáo sư luật nào được dạy về Nước Trời cũng giống như một chủ nhà kia đem hết những đồ mới và cũ đã để dành lâu năm ra ngoài.”
MAT 13:53 Sau khi Chúa Giê-xu dạy xong thì Ngài rời nơi đó
MAT 13:54 trở về quê quán và dạy dỗ trong hội đường. Dân chúng rất kinh ngạc. Họ hỏi nhau, “Ông nầy học ở đâu và lấy quyền nào mà làm những phép lạ nầy?
MAT 13:55 Ông ta có phải là thợ mộc không? Có phải mẹ ông là Ma-ri và anh em ông là Gia-cơ, Giô-xép, Xi-môn và Giu-đa không?
MAT 13:56 Có phải các chị em ông ta đang sống ở giữa chúng ta đây sao? Ông ta lấy quyền phép ở đâu mà làm được những điều nầy?”
MAT 13:57 Nên họ ngần ngại không chịu tin Ngài. Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Nhà tiên tri nào cũng được khắp nơi tôn trọng, chỉ trừ tại quê quán và gia đình mình mà thôi.”
MAT 13:58 Ở đó Ngài không làm nhiều phép lạ vì họ chẳng có lòng tin.
MAT 14:1 Lúc ấy, vua Hê-rốt đang cai trị miền Ga-li-lê, nghe tin đồn về Chúa Giê-xu.
MAT 14:2 Ông bảo các quan hầu cận, “Giê-xu nầy là Giăng Báp-tít sống lại từ kẻ chết nên mới có thể làm nhiều phép lạ như thế.”
MAT 14:3 Trước đó ít lâu, Hê-rốt bắt trói Giăng, tống giam vào ngục. Hê-rốt làm như thế là vì Hê-rô-đia, trước kia vốn là vợ Phi-líp, em Hê-rốt.
MAT 14:4 Giăng có can ngăn Hê-rốt rằng, “Lấy Hê-rô-đia là không hợp pháp.”
MAT 14:5 Hê-rốt muốn giết Giăng nhưng sợ dân chúng vì ai nấy đều tin rằng Giăng là nhà tiên tri.
MAT 14:6 Nhân dịp sinh nhật Hê-rốt, con gái Hê-rô-đia vào nhảy múa cho Hê-rốt và các quan khách xem, vua rất thích.
MAT 14:7 Nên Hê-rốt thề hứa sẽ cho cô gái bất cứ điều gì cô ta xin.
MAT 14:8 Hê-rô-đia xúi con gái nên xin cái gì. Cô gái vào thưa với Hê-rốt, “Cho con xin cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm tại đây.”
MAT 14:9 Hê-rốt rất buồn, nhưng vì lỡ hứa rồi, mọi quan khách đều nghe nên Hê-rốt truyền lệnh làm theo điều cô gái xin.
MAT 14:10 Vua sai lính vào ngục chém đầu Giăng.
MAT 14:11 Rồi lính để trên mâm mang vào cho cô gái, cô gái mang đưa cho mẹ.
MAT 14:12 Các môn đệ Giăng đến lấy xác ông đem chôn rồi đi báo tin cho Chúa Giê-xu.
MAT 14:13 Sau khi nghe tin về việc Giăng thì Chúa Giê-xu xuống thuyền rời nơi ấy đi đến chỗ vắng vẻ một mình. Nhưng dân chúng từ các tỉnh quanh đó nghe tin liền đi tìm Ngài.
MAT 14:14 Khi đến nơi, Ngài thấy một đám đông đang chờ. Ngài cảm thương họ và chữa lành những kẻ đau.
MAT 14:15 Chiều xuống, các môn đệ đến thưa với Ngài, “Chỗ nầy hẻo lánh và cũng đã xế chiều rồi nên xin thầy cho họ về để họ đi vào các làng mạc gần đây mua thức ăn.”
MAT 14:16 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Họ không cần phải đi đâu cả. Các con phải cho họ ăn.”
MAT 14:17 Họ thưa, “Chúng con chỉ có năm ổ bánh và hai con cá thôi.”
MAT 14:18 Ngài bảo, “Mang bánh và cá lại đây cho ta.”
MAT 14:19 Rồi Ngài bảo dân chúng ngồi xuống trên cỏ. Ngài cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn Thượng Đế, xong chia bánh ra trao cho các môn đệ để phát cho dân chúng.
MAT 14:20 Ai nấy ăn no nê. Sau đó các môn đệ lượm lại được mười hai giỏ thức ăn thừa.
MAT 14:21 Nếu không tính đàn bà và trẻ con thì có khoảng năm ngàn đàn ông ăn bữa ấy.
MAT 14:22 Sau đó Ngài liền bảo các môn đệ xuống thuyền đi trước Ngài qua bờ bên kia. Còn Ngài ở lại để cho dân chúng về.
MAT 14:23 Khi cho họ về rồi, Ngài lên núi cầu nguyện riêng. Trời đã tối mà Chúa Giê-xu vẫn còn ở đó một mình.
MAT 14:24 Lúc ấy, thuyền đã ra cách bờ khá xa. Chiếc thuyền bị sóng đánh dữ, lại gặp gió ngược.
MAT 14:25 Vào khoảng ba đến sáu giờ sáng, Chúa Giê-xu đi trên mặt nước đến với các môn đệ.
MAT 14:26 Khi thấy Ngài đi trên mặt nước, họ hốt hoảng. Ai nấy sợ quá đều rú lên, “Ma đó!”
MAT 14:27 Nhưng Chúa Giê-xu liền trấn an họ, “Thầy đây mà, đừng sợ.”
MAT 14:28 Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, nếu đúng là Ngài, xin cho con đi trên mặt nước đến với Ngài.”
MAT 14:29 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy lại đây.” Phia-rơ bước ra khỏi thuyền, đi trên nước đến với Ngài.
MAT 14:30 Nhưng khi nhìn thấy sóng gió, Phia-rơ đâm sợ và bắt đầu chìm xuống nước. Ông kêu lên, “Chúa ơi, cứu con!”
MAT 14:31 Chúa Giê-xu lập tức giơ tay nắm lấy Phia-rơ. Ngài hỏi, “Đức tin con quá ít. Tại sao con nghi ngờ?”
MAT 14:32 Sau khi Chúa bước vào thuyền thì gió lặng.
MAT 14:33 Những người trong thuyền đến bái lạy Ngài mà rằng, “Thầy thật đúng là Con Thượng Đế!”
MAT 14:34 Sau khi băng qua hồ, họ cập bờ ở thành Ghê-nê-xa-rết.
MAT 14:35 Khi dân chúng ở đó nhận ra Chúa Giê-xu, liền báo cho mọi người quanh vùng biết là Chúa Giê-xu đã tới cho nên người ta mang các bệnh nhân đến với Ngài.
MAT 14:36 Họ chỉ xin được rờ ven áo Ngài thôi. Ai rờ đều được lành cả.
MAT 15:1 Lúc ấy có mấy người Pha-ri-xi và giáo sư luật từ Giê-ru-sa-lem đến hỏi Ngài,
MAT 15:2 “Tại sao các môn đệ thầy bỏ truyền thống của tổ tiên để lại cho chúng ta? Họ không rửa tay trước khi ăn.”
MAT 15:3 Chúa Giê-xu đáp, “Vậy tại sao các ông cũng bỏ mệnh lệnh của Thượng Đế mà lại đi theo truyền thống của mình?
MAT 15:4 Thượng Đế dạy, ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi,’ và ‘Ai chửi cha mắng mẹ mình sẽ bị xử tử.’
MAT 15:5 Nhưng các ông bảo rằng, con có thể thưa với cha mẹ, ‘Con có điều muốn giúp cha mẹ được, nhưng con đã dâng điều ấy cho Thượng Đế rồi.’
MAT 15:6 Như thế người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ mình nữa. Các ông đã ném bỏ lời dạy của Thượng Đế mà đi theo truyền thống của mình.
MAT 15:7 Các ông là kẻ giả đạo đức! Ê-sai nói tiên tri rất đúng về các ông:
MAT 15:8 ‘Dân nầy tôn kính ta bằng môi miệng, mà tấm lòng thì cách xa ta.
MAT 15:9 Lối thờ kính của chúng nó thật vô ích. Vì chúng chỉ dạy những qui tắc do con người đặt ra thôi.’”
MAT 15:10 Rồi Chúa Giê-xu gọi dân chúng lại bảo rằng, “Hãy nghe và hiểu điều ta nói đây.
MAT 15:11 Không phải cái gì người ta bỏ vào miệng làm người đó dơ bẩn đâu. Cái gì từ miệng ra mới làm dơ bẩn người ấy.”
MAT 15:12 Sau đó các môn đệ đến thưa với Ngài, “Thầy có biết các người Pha-ri-xi rất bất bình về điều thầy nói không?”
MAT 15:13 Chúa Giê-xu đáp, “Cây nào Cha ta trên thiên đàng không trồng thì phải nhổ lên tận rễ.
MAT 15:14 Hãy tránh xa bọn Pha-ri-xi; họ là những kẻ mù dắt kẻ mù. Mù mà dắt mù thì cả hai đều sẽ té xuống hố.”
MAT 15:15 Phia-rơ thưa, “Xin thầy hãy giải thích ngụ ngôn nầy cho chúng con.”
MAT 15:16 Chúa Giê-xu bảo, “Các con vẫn chưa hiểu sao?
MAT 15:17 Chắc hẳn các con biết là thức ăn đi vào miệng, xuống bao tử rồi đi ra ngoài thân thể.
MAT 15:18 Nhưng những gì từ miệng nói ra là xuất phát từ trong lòng. Đó là những điều làm dơ bẩn con người.
MAT 15:19 Vì từ trong tâm trí mà nẩy ra những ác tưởng, giết người, ngoại tình, tội nhục dục, trộm cắp, nói dối, và bêu xấu người khác.
MAT 15:20 Đó là những điều làm dơ bẩn người ta, chứ còn ăn mà không rửa tay không làm dơ bẩn con người đâu.”
MAT 15:21 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến khu vực thành Tia và Xi-đôn.
MAT 15:22 Có một phụ nữ người Ca-na-an ở vùng đó đến kêu xin Ngài, “Lạy Chúa, con cháu Đa-vít, xin thương xót tôi! Con gái tôi bị quỉ ám khổ sở lắm.”
MAT 15:23 Nhưng Chúa Giê-xu không đáp tiếng nào với bà. Các môn đệ đến nài nỉ Ngài, “Thưa thầy xin bảo bà ấy đi đi. Bà cứ theo sau chúng ta la khóc hoài.”
MAT 15:24 Chúa Giê-xu đáp, “Thượng Đế sai ta đến chỉ vì những con chiên lạc mất, tức dân Ít-ra-en mà thôi.”
MAT 15:25 Bà lại đến bái lạy trước mặt Ngài và thưa, “Lạy Chúa, xin cứu giúp con!”
MAT 15:26 Chúa Giê-xu đáp, “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó ăn.”
MAT 15:27 Bà ấy thưa, “Lạy Chúa, đúng thế, nhưng dù là chó đi nữa thì cũng được phép ăn những miếng bánh vụn từ bàn chủ nó rớt xuống.”
MAT 15:28 Nghe vậy Chúa Giê-xu bảo bà, “Chị à, chị có đức tin lớn! Ta sẽ làm điều chị xin.” Ngay lúc đó con gái bà được lành.
MAT 15:29 Rời nơi đó, Chúa Giê-xu đi dọc theo bờ hồ Ga-li-lê. Ngài lên ngồi trên một ngọn đồi kia.
MAT 15:30 Dân chúng kéo đến với Ngài rất đông, mang những người què, mù, bại xuội, câm điếc và những tật bệnh khác. Họ đặt những người ấy nơi chân Chúa Giê-xu, Ngài chữa lành tất cả.
MAT 15:31 Quần chúng rất kinh ngạc khi thấy những người câm nói được, người bại xuội được lành mạnh, người què đi được, người mù thấy được. Họ ca ngợi Thượng Đế của dân Ít-ra-en về những điều kỳ diệu ấy.
MAT 15:32 Chúa Giê-xu gọi các môn đệ lại bảo rằng, “Ta tội nghiệp đoàn dân nầy, vì họ đã ở với ta ba ngày nay mà không có gì ăn. Ta không muốn cho họ về trong khi bụng đói, vì có người sẽ bị xỉu dọc đường.”
MAT 15:33 Các môn đệ hỏi Ngài, “Làm sao chúng ta có đủ bánh cho chừng nầy người ăn? Thị trấn lại quá xa.”
MAT 15:34 Chúa Giê-xu hỏi, “Các con có bao nhiêu ổ bánh?” Họ thưa, “Dạ, bảy ổ và mấy con cá nhỏ.”
MAT 15:35 Chúa Giê-xu bảo dân chúng ngồi xuống đất.
MAT 15:36 Ngài cầm bảy ổ bánh cùng mấy con cá và cảm tạ Thượng Đế. Rồi Ngài chia bánh và cá ra, trao cho các môn đệ để phân phát cho dân chúng.
MAT 15:37 Ai nấy ăn no nê. Sau đó các môn đệ gom được bảy giỏ những thức ăn thừa.
MAT 15:38 Có khoảng bốn ngàn người đàn ông ăn bữa ấy, không kể đàn bà và trẻ con.
MAT 15:39 Sau khi cho dân chúng về thì Ngài xuống thuyền đi đến vùng Ma-ga-đan.
MAT 16:1 Các người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê đến gặp Chúa Giê-xu. Họ muốn gài bẫy Ngài nên xin Ngài cho xem một phép lạ từ Thượng Đế.
MAT 16:2 Chúa Giê-xu đáp, “Khi hoàng hôn xuống, bầu trời đỏ ửng thì các ông nói hôm nay thời tiết tốt.
MAT 16:3 Rồi đến bình minh, các ông nói hôm nay trời sẽ mưa vì bầu trời đỏ và tối sầm. Các ông nhìn dấu hiệu trên bầu trời mà đoán được những gì sẽ xảy ra. Nhưng các ông thấy những điềm lạ của thời đại mà lại không hiểu nghĩa gì sao?
MAT 16:4 Những người tội lỗi và gian ác nầy xin xem một phép lạ, nhưng họ sẽ không được cho dấu lạ nào ngoài dấu lạ về Giô-na.” Rồi Ngài bỏ đi.
MAT 16:5 Các môn đệ băng qua hồ nhưng quên mang bánh theo.
MAT 16:6 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con hãy thận trọng về men của người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.”
MAT 16:7 Các môn đệ bàn nhau về câu Ngài vừa nói. Họ bảo, “Thầy nói như thế là vì chúng ta quên mang bánh theo.”
MAT 16:8 Biết họ đang bàn với nhau nên Chúa Giê-xu hỏi, “Tại sao các con nói với nhau là vì các con quên đem bánh theo? Đức tin các con quá ít.
MAT 16:9 Các con cũng chưa hiểu sao? Các con còn nhớ năm ổ bánh cho năm ngàn người ăn không? Các con có nhớ thu lại được đầy bao nhiêu giỏ những bánh thừa không?
MAT 16:10 Hoặc bảy ổ bánh cho bốn ngàn người ăn và bao nhiêu giỏ bánh thừa các con gom được sao?
MAT 16:11 Ta không phải nói đến bánh đâu. Tại sao các con không hiểu điều đó? Ta bảo các con là phải thận trọng về men của các người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.”
MAT 16:12 Lúc bấy giờ các môn đệ mới hiểu rằng không phải Ngài nói coi chừng về men làm bánh mà là về những lời dạy dỗ của người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê.
MAT 16:13 Khi đến khu vực thành Xê-xa-rê Phi-líp, Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Người ta nói Con Người là ai?”
MAT 16:14 Họ thưa, “Có người nói thầy là Giăng Báp-tít. Kẻ khác nói thầy là Ê-li, người khác nữa nói thầy là Giê-rê-mi hoặc một trong các nhà tiên tri.”
MAT 16:15 Nhưng Ngài hỏi họ, “Còn các con nói ta là ai?”
MAT 16:16 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thầy là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế hằng sống.”
MAT 16:17 Chúa Giê-xu đáp, “Xi-môn con Giô-na ơi, con có phúc lắm vì không ai dạy cho con biết điều ấy đâu mà Cha ta trên trời tỏ cho con biết.
MAT 16:18 Ta bảo con, tên con là Phia-rơ. Ta sẽ lập hội thánh ta trên tảng đá nầy, quyền lực của sự chết cũng không thể thắng nổi hội đó.
MAT 16:19 Ta sẽ giao chìa khóa để đóng hay mở nước Trời cho con; những gì con buộc tội dưới đất cũng sẽ bị Thượng Đế trên trời buộc tội, còn những gì con tha thứ dưới đất cũng sẽ được Thượng Đế tha thứ.”
MAT 16:20 Rồi Chúa Giê-xu cấm các môn đệ không được cho người khác biết Ngài là ai.
MAT 16:21 Từ lúc ấy, Chúa Giê-xu bắt đầu cho các môn đệ biết là Ngài sẽ lên Giê-ru-sa-lem, ở đó các bô lão Do-thái, các giới trưởng tế và các giáo sư luật sẽ hành hạ Ngài đủ điều. Ngài cho họ biết là Ngài sẽ chịu chết và sau ba ngày sẽ sống lại từ kẻ chết.
MAT 16:22 Phia-rơ mang Chúa Giê-xu riêng ra và xin Ngài đừng nói như thế. Ông bảo, “Nguyện Thượng Đế cứu Ngài khỏi cảnh khổ ấy! Những điều đó không bao giờ xảy đến cho Chúa đâu!”
MAT 16:23 Nhưng Chúa Giê-xu quở Phia-rơ, “Sa-tăng kia! Hãy đi khuất mặt ta! Con chẳng giúp gì được cho ta! Con không lo nghĩ đến việc Thượng Đế mà chỉ lo nghĩ đến việc người ta thôi.”
MAT 16:24 Rồi Ngài bảo các môn đệ, “Nếu ai muốn theo ta thì phải từ bỏ những gì mình ưa thích. Họ phải chịu gian khổ đến nỗi hi sinh tính mạng để theo ta.
MAT 16:25 Người nào muốn cứu mạng sống mình thì sẽ đánh mất nó; còn ai hi sinh tính mạng vì ta, sẽ nhận được sự sống thật.
MAT 16:26 Nếu ai được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì chẳng ích gì. Không có giá nào để chuộc linh hồn mình lại được.
MAT 16:27 Con Người sẽ trở lại với vinh hiển của Cha Ngài và với các thiên sứ. Lúc ấy, Ngài sẽ thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ làm.
MAT 16:28 Ta bảo thật, trong số những người đứng đây, có vài người sẽ được chứng kiến Con Người trở lại trong nước Ngài trước khi họ qua đời.”
MAT 17:1 Sáu ngày sau, Chúa Giê-xu đem riêng Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng, em Gia-cơ lên một ngọn núi cao.
MAT 17:2 Trong khi họ đang nhìn thì hình dạng Chúa Giê-xu biến đổi; gương mặt Ngài trở nên chói lói như mặt trời, áo quần Ngài trắng như ánh sáng.
MAT 17:3 Bỗng nhiên có Mô-se và Ê-li hiện đến nói chuyện với Ngài.
MAT 17:4 Phia-rơ thưa với Ngài, “Lạy Chúa chúng ta ở đây rất tốt. Nếu Chúa muốn con sẽ dựng ba cái lều tại đây—một cái cho thầy, một cái cho Mô-se và một cái cho Ê-li.”
MAT 17:5 Trong khi Phia-rơ đang nói thì có một đám mây sáng bay đến che phủ họ. Từ trong đám mây có tiếng vọng ra, “Đây là Con ta yêu dấu, người mà ta rất vừa lòng. Hãy vâng theo người!”
MAT 17:6 Nghe tiếng phán, các môn đệ sợ quá, liền úp mặt xuống đất hết.
MAT 17:7 Nhưng Chúa Giê-xu đến đặt tay lên họ và bảo, “Hãy đứng dậy. Đừng sợ.”
MAT 17:8 Lúc họ ngước lên thì chỉ thấy có một mình Chúa Giê-xu thôi.
MAT 17:9 Khi đang đi xuống núi, Chúa Giê-xu căn dặn họ không được nói cho ai biết những gì họ mới vừa thấy cho đến khi Con Người sống lại từ kẻ chết.
MAT 17:10 Các môn đệ hỏi Ngài, “Tại sao các giáo sư luật nói rằng Ê-li phải đến trước?”
MAT 17:11 Chúa Giê-xu đáp, “Họ nói đúng. Ê-li phải đến để chuẩn bị mọi việc.
MAT 17:12 Nhưng ta bảo các con, Ê-li đã đến rồi mà họ không nhận ra. Họ đối xử với ông ấy theo ý họ muốn. Họ cũng sẽ đối với Con Người như vậy; đó là những kẻ sẽ hành hạ Con Người.”
MAT 17:13 Lúc ấy các môn đệ mới hiểu rằng Ngài nói về Giăng Báp-tít.
MAT 17:14 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ trở lại với dân chúng thì có một người đến quì trước mặt Ngài.
MAT 17:15 Ông ta lạy lục van nài, “Lạy Chúa xin thương con trai tôi. Nó mắc chứng động kinh khổ sở lắm, vì nó thường hay té vào lửa và vào nước.
MAT 17:16 Tôi đã mang nó đến cho các môn đệ thầy, nhưng họ chữa không được.”
MAT 17:17 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông không có đức tin, nếp sống các ông sai quấy. Ta phải chịu đựng các ông trong bao lâu nữa? Ta phải nhẫn nại với các ông trong bao lâu nữa? Mang đứa nhỏ lại đây.”
MAT 17:18 Chúa Giê-xu quở mắng quỉ đang ám đứa bé. Sau khi quỉ ra khỏi thì đứa bé được lành ngay giờ phút ấy.
MAT 17:19 Sau đó, khi chỉ còn một mình Chúa Giê-xu, các môn đệ đến hỏi Ngài, “Tại sao chúng con không đuổi quỉ ấy ra được?”
MAT 17:20 Chúa Giê-xu đáp, “Vì đức tin các con quá ít. Ta bảo thật, nếu đức tin các con chỉ cần lớn bằng hột cải thôi, các con có thể nói với hòn núi nầy rằng, ‘Hãy dời từ đây qua đó,’ thì nó sẽ dời đi. Việc gì các con làm cũng được cả.”
MAT 17:21 
MAT 17:22 Trong khi các môn đệ đang tụ họp ở Ga-li-lê, thì Chúa Giê-xu bảo họ rằng, “Con Người sẽ bị giao vào tay dân chúng.
MAT 17:23 Họ sẽ giết Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ từ kẻ chết sống lại.” Các môn đệ nghe như thế thì buồn bã lắm.
MAT 17:24 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ đến thành Ca-bê-nâm thì có mấy nhân viên thu thuế đền thờ đến gặp Phia-rơ và hỏi, “Thầy của mấy anh có đóng thuế đền thờ không?”
MAT 17:25 Phia-rơ đáp, “Có, Chúa Giê-xu có đóng.” Khi Phia-rơ vào nhà, trước khi ông có dịp lên tiếng thì Chúa Giê-xu hỏi đón, “Con nghĩ sao? Các vua chúa thế gian thu nhiều loại thuế khác nhau. Nhưng ai là người đóng thuế—con cái hay người ngoài?”
MAT 17:26 Phia-rơ thưa, “Người nộp thuế là người ngoài.” Chúa Giê-xu bảo Phia-rơ, “Vậy con vua khỏi đóng thuế.
MAT 17:27 Nhưng chúng ta không nên chọc tức mấy ông thâu thuế nầy. Con hãy ra ngoài hồ câu cá. Câu được con đầu tiên, mở miệng nó ra con sẽ thấy một quan tiền. Lấy quan tiền ấy đi nộp thuế cho ta với con.”
MAT 18:1 Lúc ấy các môn đệ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”
MAT 18:2 Chúa Giê-xu gọi một em nhỏ đến đứng trước mặt các môn đệ.
MAT 18:3 Rồi Ngài nói, “Ta bảo thật, các con phải thay đổi và trở nên giống như trẻ thơ. Nếu không các con không thể vào Nước Trời được đâu.
MAT 18:4 Người lớn nhất trong Nước Trời là người khiêm nhường như đứa trẻ nầy.
MAT 18:5 Ai nhân danh ta tiếp một em nhỏ như thế nầy tức là tiếp ta.
MAT 18:6 Nếu ai làm cho một trong những em nhỏ nầy, đã tin ta mà phạm tội thì nên lấy tảng đá buộc vào cổ người ấy quăng cho chết chìm dưới biển còn hơn.
MAT 18:7 Khốn cho người trong thế gian vì nguyên nhân khiến họ phạm tội. Những điều ấy phải xảy ra nhưng khốn cho ai gây ra nguyên nhân ấy.
MAT 18:8 Nếu tay hay chân khiến các con phạm tội, thì hãy chặt và ném đi, vì chẳng thà thiếu một phần cơ thể mà được sự sống thật còn hơn đủ cả hai tay hai chân mà bị ném vào lửa không hề tắt.
MAT 18:9 Nếu mắt khiến các con phạm tội, thì hãy móc nó ra ném đi, vì chẳng thà thiếu một mắt mà được sự sống thật còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào lửa hỏa ngục.
MAT 18:10 Hãy thận trọng! Đừng xem thường đứa nào trong các trẻ thơ nầy. Ta bảo cho các con biết là những thiên sứ của chúng nó lúc nào cũng ở cạnh Cha ta trên thiên đàng.
MAT 18:11 
MAT 18:12 Nếu ai có một trăm con chiên mà một con đi lạc thì sẽ làm gì? Có phải người ấy sẽ để chín mươi chín con lại trong núi, rồi đi tìm con chiên lạc không?
MAT 18:13 Ta bảo thật, người ấy sẽ hớn hở khi tìm được con chiên lạc hơn là chín mươi chín con không đi lạc.
MAT 18:14 Cũng thế, Cha các con trên thiên đàng không muốn cho một đứa nào trong các trẻ thơ nầy bị lạc mất.
MAT 18:15 Nếu một anh em tín hữu phạm tội cùng các con thì hãy đi trách riêng người ấy. Nếu người ấy nghe các con, thì được lại tình anh em.
MAT 18:16 Nhưng nếu người ấy không chịu nghe, thì hãy mang một hoặc hai người nữa cùng đi để nói chuyện. ‘Vấn đề gì cũng phải có hai hoặc ba nhân chứng.’
MAT 18:17 Nếu người ấy không chịu nghe họ nữa, thì thông báo với hội thánh. Và nếu người ấy không nghe hội thánh thì hãy xem người ấy như người không tin Thượng Đế hoặc như kẻ thu thuế vậy.
MAT 18:18 Ta bảo thật, những gì các con buộc tội dưới đất cũng là những điều Thượng Đế buộc tội. Còn những gì các con tha thứ dưới đất cũng là những gì Thượng Đế tha thứ.
MAT 18:19 Hơn nữa, ta bảo các con, nếu hai người trong các con ở dưới đất đồng ý với nhau mà cầu xin điều gì, thì Cha ta trên trời sẽ làm điều ấy cho.
MAT 18:20 Hễ nơi nào có hai hoặc ba người nhân danh ta họp lại thì có ta ở giữa họ.”
MAT 18:21 Bấy giờ Phia-rơ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa Chúa, khi anh em con phạm tội cùng con thì con phải tha thứ họ đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?”
MAT 18:22 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo con, con phải tha họ hơn bảy lần. Dù họ phạm tội cùng con đến bảy mươi lần bảy, con vẫn phải tha thứ.
MAT 18:23 Nước Trời giống như một vị vua kia ra lệnh đòi tiền những đầy tớ thiếu nợ mình.
MAT 18:24 Khi bắt đầu đòi thì người ta đưa đến cho vua một đầy tớ mắc nợ vua hơn mấy chục ngàn lượng vàng.
MAT 18:25 Vì người đầy tớ không đủ tiền trả chủ là vị vua đó, nên chủ ra lệnh bán tất cả tài sản của anh ta, luôn cả vợ con, để lấy tiền trả nợ.
MAT 18:26 Người đầy tớ ấy liền sụp lạy trước mặt vua và van xin, ‘Xin vua hãy hoãn nợ cho con, con sẽ trả hết.’
MAT 18:27 Chủ cảm thấy tội nghiệp nên tha nợ cho anh ta. Người đầy tớ được tha nợ ra về.
MAT 18:28 Sau đó, anh ta gặp một người đầy tớ khác, thiếu mình chỉ có một lượng vàng. Anh ta liền nắm bóp cổ người đầy tớ này, và gằn giọng bảo, ‘Mầy phải trả hết nợ cho tao!’
MAT 18:29 Người đầy tớ kia sụp lạy năn nỉ, ‘Hãy hoãn nợ cho tôi, tôi sẽ trả hết cho anh.’
MAT 18:30 Nhưng anh ta nhất định không chịu. Anh bắt nhốt người đầy tớ kia vào tù cho đến khi trả hết nợ.
MAT 18:31 Những đầy tớ khác rất buồn khi chứng kiến chuyện ấy nên trình lại cho chủ.
MAT 18:32 Chủ gọi người đầy tớ ấy lại bảo, ‘Nầy tên đầy tớ gian ác! Ta tha nợ cho ngươi vì ngươi van xin ta.
MAT 18:33 Ngươi đáng lẽ phải tỏ lòng nhân từ đối với đầy tớ kia như ta đã tỏ lòng nhân từ đối với ngươi.’
MAT 18:34 Ông chủ nổi giận tống giam hắn vào tù cho đến khi trả hết nợ.
MAT 18:35 Cha ta trên thiên đàng cũng sẽ làm như thế đối với các con nếu trong lòng các con không tha thứ cho anh chị em mình.”
MAT 19:1 Sau khi dạy xong những điều ấy, Chúa Giê-xu rời vùng Ga-li-lê đi đến miền Giu-đia phía bên kia sông Giô-đanh.
MAT 19:2 Dân chúng theo Ngài rất đông, Ngài chữa lành họ ở đó.
MAT 19:3 Có mấy người Pha-ri-xi đến gặp Chúa Giê-xu và định gài bẫy Ngài. Họ hỏi, “Không cần biết vì lý do gì, người đàn ông có được phép ly dị vợ hay không?”
MAT 19:4 Chúa Giê-xu đáp, “Chắc hẳn các ông đã đọc trong Thánh Kinh rằng: Khi Thượng Đế sáng tạo thế gian, ‘Ngài dựng nên loài người gồm nam và nữ.’
MAT 19:5 Thượng Đế phán rằng, ‘Người nam sẽ rời cha mẹ mà kết hiệp với vợ mình, và hai người sẽ trở thành một thân.’
MAT 19:6 Cho nên họ không còn là hai người nữa mà chỉ có một mà thôi. Vì Thượng Đế đã kết hiệp hai người, cho nên không ai được phân rẽ họ.”
MAT 19:7 Người Pha-ri-xi hỏi, “Vậy tại sao Mô-se cho phép người đàn ông ly dị vợ bằng cách trao cho vợ giấy ly hôn?”
MAT 19:8 Chúa Giê-xu đáp, “Mô-se cho phép các ông ly dị vợ là vì các ông không chịu chấp nhận lời dạy bảo của Thượng Đế; nhưng từ ban đầu không được phép ly dị đâu.
MAT 19:9 Ta bảo cho các ông biết, ai ly dị vợ và cưới người đàn bà khác là phạm tội ngoại tình. Lý do duy nhất mà người đàn ông có thể ly dị vợ là nếu vợ mình ăn nằm với người đàn ông khác.”
MAT 19:10 Các môn đệ thưa với Ngài, “Nếu đó là lý do duy nhất để ly dị, thì chẳng thà đừng lập gia đình còn hơn.”
MAT 19:11 Chúa Giê-xu đáp, “Không phải ai cũng có thể chấp nhận lời dạy nầy đâu. Thượng Đế khiến cho một ít người có khả năng chấp nhận thôi.
MAT 19:12 Có nhiều lý do khiến một người không lập gia đình được. Có người sinh ra là đã không thể có con rồi. Có người về sau bị tình trạng ấy do người khác gây ra. Cũng có người không lập gia đình vì Nước Trời. Nhưng ai có thể lập gia đình được phải chấp nhận lời dạy dỗ nầy về hôn nhân.”
MAT 19:13 Lúc ấy người ta mang các trẻ thơ đến cùng Chúa Giê-xu để Ngài đặt tay lên và cầu nguyện cho chúng nó nhưng các môn đệ Ngài ngăn cản họ.
MAT 19:14 Nhưng Chúa Giê-xu bảo rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến với ta, đừng ngăn trở, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng nó.”
MAT 19:15 Sau khi đặt tay trên các trẻ em, Ngài rời vùng ấy.
MAT 19:16 Có một người đến hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, tôi phải làm việc thiện gì để hưởng được sự sống đời đời?”
MAT 19:17 Chúa Giê-xu đáp, “Sao anh hỏi ta về việc thiện? Chỉ có một Đấng thiện là Thượng Đế mà thôi. Nhưng nếu anh muốn được sự sống đời đời thì phải vâng giữ các mệnh lệnh.”
MAT 19:18 Người đó hỏi, “Thưa thầy, mệnh lệnh gì?” Chúa Giê-xu đáp, “‘Không được giết người; không được phạm tội ngoại tình; không được trộm cắp; không được đặt điều nói dối về người láng giềng mình;
MAT 19:19 hãy hiếu kính cha mẹ’ và phải ‘yêu người láng giềng như mình vậy.’”
MAT 19:20 Chàng thanh niên ấy thưa, “Tôi đã vâng giữ mọi điều ấy. Tôi còn phải làm gì nữa?”
MAT 19:21 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu anh muốn được hoàn toàn, hãy đi bán hết tài sản, lấy tiền biếu người nghèo. Làm như thế anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
MAT 19:22 Nhưng khi nghe vậy thì anh rầu rĩ bỏ đi vì anh giàu lắm.
MAT 19:23 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Ta bảo thật, rất khó cho người giàu vào nước thiên đàng.
MAT 19:24 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.”
MAT 19:25 Nghe vậy các môn đệ Ngài vô cùng ngạc nhiên. Họ hỏi, “Thế thì ai được cứu?”
MAT 19:26 Chúa Giê-xu nhìn họ đáp, “Việc đó con người làm không được đâu nhưng Thượng Đế làm được mọi việc.”
MAT 19:27 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thầy xem, chúng con đã bỏ tất cả để đi theo thầy. Vậy chúng con sẽ nhận được gì?”
MAT 19:28 Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta bảo thật, thời kỳ đến, Con Người sẽ ngồi trên ngôi cao cả của Ngài. Tất cả các con là người đã theo ta sẽ được ngồi trên mười hai ngôi để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.
MAT 19:29 Còn ai đã bỏ nhà cửa, anh em, cha mẹ con cái, đất ruộng để theo ta thì sẽ nhận được nhiều hơn những gì họ đã từ bỏ, và được hưởng sự sống đời đời.
MAT 19:30 Trong tương lai, nhiều người hiện ở địa vị cao sẽ bị đem xuống chỗ thấp nhất, còn nhiều người hiện ở địa vị thấp nhất sẽ được mang lên chỗ cao nhất.”
MAT 20:1 “Nước Trời giống như một chủ đất kia. Buổi sáng nọ ông ra thuê người vào làm trong vườn nho.
MAT 20:2 Ông đồng ý trả mỗi người một quan tiền cho một ngày công. Rồi ông sai họ vào làm trong vườn nho.
MAT 20:3 Đến khoảng chín giờ sáng ông ra chợ thấy một số người đứng không.
MAT 20:4 Ông bảo, ‘Nếu mấy anh chịu vào làm trong vườn nho tôi, tôi sẽ trả công phải chăng cho.’
MAT 20:5 Họ liền đi vào vườn nho làm việc. Khoảng mười hai giờ trưa, rồi đến ba giờ chiều ông lại ra và làm y như trước.
MAT 20:6 Đến năm giờ chiều, ông lại ra chợ thì thấy mấy người nữa đang đứng không. Ông hỏi, ‘Tại sao mấy anh đứng đây cả ngày không làm gì cả?’
MAT 20:7 Họ đáp, ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’ Ông bảo, ‘Vậy thôi các anh cũng hãy vào làm trong vườn nho tôi.’
MAT 20:8 Đến cuối ngày, người chủ vườn nho bảo anh trưởng toán làm thuê, ‘Gọi mấy người làm thuê lại trả công cho họ. Bắt đầu từ người cuối cùng tôi mới mướn, cho đến người mướn đầu tiên.’
MAT 20:9 Những người mới được mướn lúc năm giờ chiều đến, mỗi người được lãnh một quan tiền.
MAT 20:10 Đến lượt những người được mướn đầu tiên tới lãnh tiền, họ tưởng sẽ được trả nhiều hơn. Nhưng mỗi người cũng chỉ được lãnh có một quan tiền.
MAT 20:11 Sau khi nhận tiền, họ phàn nàn với người chủ vườn nho.
MAT 20:12 Họ bảo, ‘Những người mới mướn sau cùng chỉ làm có một giờ đồng hồ mà ông trả cho họ cũng bằng chúng tôi, là những người cả ngày phải chịu nắng nôi.’
MAT 20:13 Nhưng người chủ vườn nho bảo với một người trong họ, ‘Bạn ơi, tôi bất công với bạn chỗ nào? Có phải bạn đã đồng ý làm việc mỗi ngày một quan tiền rồi không?
MAT 20:14 Thôi hãy nhận tiền công của bạn rồi về đi. Tôi muốn trả công cho người cuối bằng với tiền công tôi trả cho bạn.
MAT 20:15 Tiền của tôi, tôi muốn dùng sao mặc ý. Có phải các bạn ganh tức vì tôi đối tốt với những người kia không?’
MAT 20:16 Vì thế, người chót trong hiện tại sẽ trở thành người đầu trong tương lai, và người đầu trong hiện tại trở thành người chót trong tương lai là như thế.”
MAT 20:17 Trong khi đang đi lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đem các môn đệ riêng ra và bảo họ rằng,
MAT 20:18 “Nghe đây, chúng ta đang đi lên Giê-ru-sa-lem. Con Người sẽ bị trao vào tay các giới trưởng tế và các giáo sư luật, họ sẽ tuyên án xử tử Ngài.
MAT 20:19 Họ sẽ giao Ngài cho dân ngoại quốc. Những người ấy sẽ chế giễu Ngài, lấy roi đánh đập, rồi đóng đinh Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.”
MAT 20:20 Lúc ấy vợ của Xê-bê-đê và các con trai đến gặp Chúa Giê-xu. Bà bái lạy Ngài và xin Ngài làm cho bà một điều.
MAT 20:21 Chúa Giê-xu hỏi, “Bà xin điều gì?” Bà thưa, “Xin thầy hứa cho hai đứa con trai tôi, một đứa ngồi bên phải, một đứa ngồi bên trái thầy trong nước của thầy.”
MAT 20:22 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Các ngươi không hiểu điều mình xin. Các ngươi có uống được ly đau khổ ta sắp uống không?” Hai người con thưa, “Dạ được.”
MAT 20:23 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các ngươi sẽ uống ly đau khổ của ta nhưng ta không thể chọn người ngồi bên phải và bên trái ta; hai chỗ ấy dành cho những người nào mà Cha ta đã chuẩn bị trước.”
MAT 20:24 Khi mười môn đệ kia nghe thế thì tức giận hai anh em ấy.
MAT 20:25 Chúa Giê-xu gọi các môn đệ lại dạy rằng, “Các con biết những quan cai trị dân ngoại thích tỏ oai quyền với dân chúng. Còn những nhà lãnh đạo cao cấp thích sử dụng quyền hành mình.
MAT 20:26 Đối với các con thì không nên làm như vậy. Ai trong các con muốn làm lớn thì phải hầu việc người khác như tôi tớ.
MAT 20:27 Còn ai muốn làm đầu thì phải phục dịch mọi người như nô lệ.
MAT 20:28 Cũng vậy, Con Người đến không phải để người ta phục vụ mình mà để phục vụ người khác, và hi sinh mạng sống mình để cứu vớt nhiều người.”
MAT 20:29 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ rời thành Giê-ri-cô thì có đoàn dân rất đông đi theo Ngài.
MAT 20:30 Có hai người mù ngồi bên đường, nghe Chúa Giê-xu đi ngang qua liền kêu lớn, “Lạy Chúa, Con Đa-vít ơi, xin thương chúng tôi!”
MAT 20:31 Dân chúng la rầy hai người, bảo im đi nhưng họ lại còn la lớn hơn nữa, “Lạy Chúa, Con Đa-vít ơi, xin thương chúng tôi!”
MAT 20:32 Chúa Giê-xu dừng lại hỏi hai người, “Mấy anh muốn ta làm gì cho mấy anh đây?”
MAT 20:33 Họ thưa, “Thưa Chúa, chúng tôi muốn sáng mắt.”
MAT 20:34 Chúa Giê-xu cảm thương hai người. Ngài rờ mắt họ thì lập tức họ được sáng mắt trở lại và đi theo Chúa Giê-xu.
MAT 21:1 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ đi gần đến thành Giê-ru-sa-lem, thì dừng chân lại tại thị trấn Bết-phát, dưới chân núi Ô-liu. Từ đó Ngài sai hai môn đệ đi
MAT 21:2 và dặn, “Hãy đi đến thị trấn ngay trước mặt. Khi vào thành các con sẽ thấy một con lừa mẹ đang cột với con lừa con. Tháo ra dắt hai con lừa về cho ta.
MAT 21:3 Nếu ai hỏi tại sao dắt lừa đi thì bảo là Thầy cần chúng nó và Ngài sẽ trả lại ngay.”
MAT 21:4 Như vậy để hoàn thành lời nhà tiên tri đã nói:
MAT 21:5 “Hãy bảo cho dân cư Giê-ru-sa-lem biết, ‘Vua ngươi đến với ngươi. Ngài hiền hòa cỡi lừa, trên lưng lừa con, là con của lừa mẹ.’”
MAT 21:6 Các môn đệ đi và làm theo y như điều Chúa Giê-xu căn dặn.
MAT 21:7 Họ mang lừa mẹ và lừa con về cho Ngài, trải áo mình lên lưng lừa rồi Ngài cỡi lên.
MAT 21:8 Nhiều người trải áo mình trên đường. Kẻ khác chặt nhánh cây trải trên mặt đường.
MAT 21:9 Người trước kẻ sau hô lên, “Hoan hô con vua Đa-vít. Thượng Đế ban phúc cho Đấng đến trong danh Ngài! Ca ngợi Thượng Đế trên trời!”
MAT 21:10 Khi Chúa Giê-xu vào đến Giê-ru-sa-lem, cả thành hân hoan. Dân chúng hỏi nhau, “Người nầy là ai?”
MAT 21:11 Quần chúng đáp, “Người nầy là Giê-xu, nhà tiên tri từ Na-xa-rét, miền Ga-li-lê.”
MAT 21:12 Chúa Giê-xu đi vào đền thờ và đuổi tất cả những người đang buôn bán ở đó. Ngài lật đổ bàn của những kẻ đổi bạc, hất ghế của những người bán bồ câu.
MAT 21:13 Ngài bảo mọi người nơi đó, “Thánh Kinh viết, ‘Đền thờ ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện.’ Nhưng các ngươi đã biến nó thành ‘sào huyệt lũ cướp.’”
MAT 21:14 Những người mù lòa và què quặt đến với Chúa Giê-xu trong đền thờ, Ngài chữa lành họ.
MAT 21:15 Các giới trưởng tế và các giáo sư luật thấy Chúa Giê-xu làm những việc kỳ diệu và con trẻ ca ngợi Ngài trong đền thờ, “Hoan hô Con vua Đa-vít” thì họ tức giận.
MAT 21:16 Họ hỏi Ngài, “Thầy có nghe mấy đứa trẻ nầy nói gì không?” Chúa Giê-xu đáp, “Có. Vậy là các ông chưa đọc trong Thánh Kinh có viết, ‘Ngài dạy các con trẻ và hài nhi ca ngợi’ hay sao?”
MAT 21:17 Rồi Chúa Giê-xu rời họ và ra khỏi thành đến nghỉ đêm ở thị trấn Bê-tha-ni.
MAT 21:18 Sáng sớm hôm sau, khi trở vào thành thì Ngài đói.
MAT 21:19 Thấy có cây vả bên đường, Ngài bước lại gần xem nhưng không thấy trái nào, chỉ có lá thôi. Chúa Giê-xu bảo cây vả, “Mầy sẽ không bao giờ ra trái nữa.” Cây vả liền chết khô.
MAT 21:20 Các môn đệ thấy vậy vô cùng sửng sốt. Họ hỏi, “Tại sao cây vả chết khô nhanh như vậy?”
MAT 21:21 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, nếu các con có đức tin, không hoài nghi gì, thì các con có thể làm giống như ta đã làm cho cây nầy, hoặc hơn nữa. Các con có thể bảo hòn núi nầy rằng, ‘Hãy bứng lên và nhào xuống biển đi.’ Nếu các con có đức tin thì việc ấy sẽ xảy ra.
MAT 21:22 Nếu các con tin thì cầu xin điều gì cũng được cả.”
MAT 21:23 Chúa Giê-xu đi vào đền thờ. Trong khi đang dạy dỗ thì các giới trưởng tế và các bô lão đến gặp Ngài. Họ hỏi, “Thầy lấy quyền nào mà làm những việc nầy? Ai cho thầy quyền ấy?”
MAT 21:24 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi cũng hỏi các ông một câu. Các ông trả lời tôi thì tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm những việc nầy.
MAT 21:25 Các ông hãy cho tôi biết: Khi Giăng làm báp-têm cho dân chúng thì lễ ấy đến từ Thượng Đế hay từ người ta?” Họ bàn luận về câu hỏi Ngài như thế nầy, “Nếu chúng ta nói, ‘Lễ báp-têm của Giăng từ Thượng Đế đến,’ thì ông ta sẽ hỏi, ‘Tại sao các ông không tin ông ấy?’
MAT 21:26 Còn nếu chúng ta nói, ‘Lễ ấy đến từ người ta’ chúng ta sẽ bị quần chúng phản đối vì ai cũng tin Giăng là nhà tiên tri.”
MAT 21:27 Cho nên họ trả lời, “Chúng tôi không biết.” Chúa Giê-xu bảo họ, “Vậy tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm những việc nầy.”
MAT 21:28 “Các ngươi nghĩ sao về ngụ ngôn sau đây: Người kia có hai con trai. Ông đến bảo đứa đầu tiên, ‘Con ơi, hôm nay con hãy ra làm vườn nho của cha.’
MAT 21:29 Đứa con đáp, ‘Con không đi đâu.’ Nhưng sau đó nó đổi ý và đi làm.
MAT 21:30 Rồi ông đến nói với đứa thứ hai, ‘Con ơi, hôm nay con hãy ra làm vườn nho của cha.’ Đứa con thưa, ‘Dạ, con sẽ đi,’ nhưng rồi không đi.
MAT 21:31 Trong hai đứa, đứa nào vâng lời cha?” Các giới trưởng tế và các nhà lãnh đạo trả lời, “Đứa đầu tiên.” Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta bảo thật, kẻ thu thuế và phường đĩ điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông.
MAT 21:32 Giăng đã đến chỉ cho các ông biết đường ngay để sống. Các ông không tin ông ấy nhưng những kẻ thu thuế và đĩ điếm tin ông ta. Và sau nầy các ông thấy vậy cũng không thèm ăn năn và tin ông ấy.”
MAT 21:33 “Hãy nghe chuyện sau đây: Người chủ đất kia trồng một vườn nho. Ông xây tường xung quanh, đào một lỗ để đặt máy ép rượu và xây một cái tháp canh. Sau khi cho một số tá điền thuê thì ông liền lên đường đi xa.
MAT 21:34 Đến mùa hái nho, ông sai các đầy tớ đến để thu phần hoa lợi của mình.
MAT 21:35 Nhưng bọn tá điền bắt các đầy tớ, đánh đứa nầy, giết đứa nọ, còn đứa thứ ba bị chúng ném đá chết.
MAT 21:36 Ông chủ lại sai toán đầy tớ khác đến, đông hơn trước. Nhưng bọn tá điền cũng đối xử y như thế.
MAT 21:37 Vì vậy ông chủ vườn nho quyết định sai đứa con trai đến với bọn tá điền vì ông nghĩ bụng, ‘Chúng nó sẽ nể con ta.’
MAT 21:38 Nhưng khi bọn tá điền thấy đứa con liền bảo nhau, ‘Thằng nầy sẽ thừa hưởng vườn nho. Nếu chúng ta giết nó thì vườn nho sẽ thuộc về chúng ta.’
MAT 21:39 Cho nên bọn tá điền bắt đứa con, tống ra khỏi vườn rồi giết chết.
MAT 21:40 Như thế ông chủ vườn nho sẽ đối xử với bọn tá điền ấy ra sao?”
MAT 21:41 Các giới trưởng tế và các nhà lãnh đạo trả lời, “Chắc chắn ông ta sẽ giết hết bọn tá điền gian ác ấy rồi cho nhóm tá điền khác thuê, là những người đến mùa sẽ trả phần hoa lợi cho ông ta đàng hoàng.”
MAT 21:42 Chúa Giê-xu bảo họ, “Chắc hẳn các ông đã đọc lời Thánh Kinh nầy: ‘Tảng đá bị thợ xây nhà loại ra trở thành đá góc nhà. Thượng Đế đã làm điều ấy, quả thật kỳ diệu đối với chúng ta.’
MAT 21:43 Cho nên ta bảo các ông rằng Nước Trời sẽ được lấy khỏi các ông và cấp cho người xứng vào nước Ngài.
MAT 21:44 Ai rơi trên tảng đá đó sẽ bị dập nát, còn người nào bị tảng đá ấy rớt trúng sẽ bị tan xác.”
MAT 21:45 Khi các giới trưởng tế và các người Pha-ri-xi nghe những ngụ ngôn ấy thì hiểu ngay là Chúa Giê-xu nói về họ.
MAT 21:46 Họ muốn bắt Ngài nhưng sợ dân chúng, vì ai nấy đều tin rằng Chúa Giê-xu là nhà tiên tri.
MAT 22:1 Chúa Giê-xu lại dùng ngụ ngôn để dạy dân chúng. Ngài kể,
MAT 22:2 “Nước Trời giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con trai mình.
MAT 22:3 Vua mời một số khách đến dự. Khi tiệc đã sẵn sàng, vua sai đầy tớ đi nhắc, nhưng họ từ chối không đến.
MAT 22:4 Vua lại sai những đầy tớ khác, dặn chúng như sau, ‘Hãy đi nhắc các khách được mời là tiệc đã sẵn sàng. Ta đã cho giết bò và bê mập, mọi việc đã sẵn cả rồi. Hãy đến dự tiệc cưới.’
MAT 22:5 Nhưng họ chẳng đếm xỉa gì đến các đầy tớ, chỉ mải lo việc riêng. Người thì đi ra đồng làm việc, kẻ thì lo việc buôn bán.
MAT 22:6 Một số khác lại còn bắt mấy người đầy tớ đánh đập và giết đi.
MAT 22:7 Vua nổi giận sai quân lính giết bọn sát nhân ấy và đốt tiêu thành của chúng nó.
MAT 22:8 Rồi vua bảo các đầy tớ rằng, ‘Tiệc cưới sẵn sàng. Ta đã mời khách nhưng họ không xứng đáng đến dự.
MAT 22:9 Thôi bây giờ chúng bay hãy ra mọi góc đường gặp ai thì mời đến dự tiệc của ta.’
MAT 22:10 Nên các đầy tớ đi ra mọi góc đường, gặp ai cũng mời, bất luận xấu tốt. Phòng tiệc đầy khách.
MAT 22:11 Khi bước vào xem khách dự tiệc, vua thấy một người không mặc áo dành cho tiệc cưới.
MAT 22:12 Vua hỏi, ‘Bạn ơi, ai cho phép bạn vào đây? Tại sao bạn không mặc áo dành cho tiệc cưới?’ Nhưng người đó làm thinh.
MAT 22:13 Vua liền bảo mấy người đầy tớ, ‘Trói tay chân nó lại đem quăng ra chỗ tối tăm, nơi có khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.’
MAT 22:14 Thật vậy, nhiều người được mời nhưng ít người được chọn.”
MAT 22:15 Các người Pha-ri-xi rời nơi ấy tìm cách gài bẫy Chúa Giê-xu trong lời nói.
MAT 22:16 Họ cho mấy đồ đệ của họ và vài đảng viên đảng Hê-rốt đến. Chúng hỏi, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là người ngay thật, luôn luôn dạy sự thật theo đường lối của Thượng Đế. Thầy không sợ người ta nghĩ gì về thầy vì thầy không cần biết họ là ai.
MAT 22:17 Xin thầy cho chúng tôi biết: Chúng ta có nên đóng thuế cho Xê-xa hay không?”
MAT 22:18 Biết âm mưu gài bẫy của họ nên Ngài trả lời, “Mấy anh đạo đức giả! Sao mấy anh tìm cách đánh bẫy ta?
MAT 22:19 Đưa ta xem quan tiền dùng nộp thuế.” Chúng chìa ra một quan tiền.
MAT 22:20 Chúa Giê-xu hỏi, “Hình và danh hiệu trên đồng tiền nầy là của ai?”
MAT 22:21 Chúng đáp, “Của Xê-xa.” Chúa Giê-xu bảo, “Thế thì những gì của Xê-xa thì hãy trả lại cho Xê-xa còn những gì thuộc về Thượng Đế thì trả lại cho Thượng Đế.”
MAT 22:22 Khi nghe Chúa Giê-xu trả lời như thế thì chúng đâm ra ngỡ ngàng liền bỏ đi.
MAT 22:23 Cùng hôm ấy có mấy người Xa-đu-xê đến hỏi Chúa Giê-xu một câu. (Người Xa-đu-xê vốn không tin chuyện người ta sống lại.)
MAT 22:24 Họ hỏi, “Thưa thầy, Mô-se có nói rằng nếu người nào chết không con, thì em trai người ấy phải lấy chị dâu góa để nối dòng cho anh mình.
MAT 22:25 Chúng tôi có bảy anh em. Người anh cả lấy vợ rồi chết không con nên người em lấy góa phụ ấy.
MAT 22:26 Người em thứ hai cũng qua đời. Người em thứ ba và các người em trai khác cũng đồng chung số phận.
MAT 22:27 Sau cùng người đàn bà cũng qua đời.
MAT 22:28 Thế thì khi sống lại, người đàn bà sẽ là vợ ai, vì bảy người đều đã lấy chị ấy làm vợ?”
MAT 22:29 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông lầm vì không hiểu lời Thánh Kinh viết, cũng không biết quyền năng của Thượng Đế.
MAT 22:30 Khi người ta sống lại từ kẻ chết thì không còn cưới vợ gả chồng gì nữa cả. Tất cả đều giống như thiên sứ trên trời vậy.
MAT 22:31 Chắc các ông chưa đọc lời Thượng Đế phán về việc sống lại từ trong kẻ chết sao?
MAT 22:32 Ngài phán, ‘Ta là Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác và Thượng Đế của Gia-cốp.’ Ngài là Thượng Đế của người sống chứ không phải của người chết.”
MAT 22:33 Khi dân chúng nghe vậy, ai nấy đều kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài.
MAT 22:34 Khi các người Pha-ri-xi nghe rằng Chúa Giê-xu làm cho mấy người Xa-đu-xê cứng miệng thì liền họp lại.
MAT 22:35 Một người Pha-ri-xi là chuyên gia về luật Mô-se hỏi một câu để thử Ngài:
MAT 22:36 “Thưa thầy, mệnh lệnh nào quan trọng nhất trong luật pháp?”
MAT 22:37 Chúa Giê-xu đáp, “‘Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết trí não mà yêu mến Chúa là Thượng Đế ngươi.’
MAT 22:38 Đó là mệnh lệnh đầu tiên và quan trọng nhất.
MAT 22:39 Còn mệnh lệnh thứ hai cũng tương tự như vậy: ‘Hãy yêu người láng giềng như mình.’
MAT 22:40 Tất cả luật pháp và các lời viết của các nhà tiên tri đều dựa vào hai mệnh lệnh đó.”
MAT 22:41 Trong khi người Pha-ri-xi họp lại, Chúa Giê-xu hỏi họ,
MAT 22:42 “Các ngươi nghĩ thế nào về Đấng Cứu Thế? Ngài là con ai?” Họ đáp, “Đấng Cứu Thế là con vua Đa-vít.”
MAT 22:43 Ngài hỏi họ, “Vậy tại sao ông gọi Ngài là ‘Chúa’ khi ông cảm nhận quyền năng Thánh Linh mà viết rằng,
MAT 22:44 ‘Chúa nói cùng Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải ta, cho đến khi ta đặt các kẻ thù con dưới quyền quản trị của con.’
MAT 22:45 Nếu Đa-vít gọi Đấng Cứu Thế là ‘Chúa’ thì làm sao Ngài là con vua ấy được?”
MAT 22:46 Không ai trong nhóm người Pha-ri-xi trả lời được câu hỏi của Ngài. Từ lúc ấy trở đi không ai dám hỏi Ngài câu nào nữa.
MAT 23:1 Sau đó Chúa Giê-xu nói với dân chúng và các môn đệ rằng,
MAT 23:2 “Các giáo sư luật và người Pha-ri-xi có quyền bảo các ngươi những gì luật Mô-se dạy.
MAT 23:3 Cho nên hãy vâng giữ theo điều họ khuyên dạy nhưng đừng noi gương đời sống của họ. Vì họ dạy một đằng mà làm một nẻo.
MAT 23:4 Họ đặt ra các qui luật thật khắt khe khiến người ta theo không nổi, còn chính họ thì lại không động ngón tay vào.
MAT 23:5 Họ làm cái gì cũng muốn cho người ta thấy. Họ làm mấy hộp đựng Thánh Kinh để mang trên người cho lớn hơn, mặc mấy áo tụng kinh cho dài.
MAT 23:6 Những người Pha-ri-xi và giáo sư luật thích ngồi chỗ tốt nhất trong các đám tiệc và hàng ghế đầu nơi hội đường.
MAT 23:7 Họ thích người ta kính cẩn chào mình nơi phố chợ và ưa người ta gọi mình bằng ‘thầy.’
MAT 23:8 Nhưng các con đừng để ai gọi mình là ‘thầy’ vì các con chỉ có một Thầy, còn các con đều là anh chị em với nhau.
MAT 23:9 Cũng đừng gọi người nào trên đất là ‘cha’ vì các con chỉ có một Cha trên thiên đàng.
MAT 23:10 Cũng đừng để ai gọi mình là ‘chủ,’ vì các con chỉ có một Chủ là Đấng Cứu Thế.
MAT 23:11 Ai làm tôi tớ các con mới là người lớn nhất trong các con.
MAT 23:12 Người nào tự tôn sẽ bị hạ xuống. Người nào khiêm nhường sẽ được tôn cao.
MAT 23:13 Khốn cho các ông là người Pha-ri-xi và các giáo sư luật. Các ông là kẻ giả đạo đức! Các ông chận đường không cho ai vào Nước Trời. Chính mình các ông không vào mà ai muốn vào thì ngăn cản.
MAT 23:14 
MAT 23:15 Khốn cho các ông, giáo sư luật và người Pha-ri-xi! Các ông là kẻ giả đạo đức! Các ông đi ngang đất, dọc biển để cố gắng thuyết phục người theo mình. Khi làm được rồi thì các ông biến người đó đáng vô hỏa ngục hơn các ông nữa.
MAT 23:16 Khốn cho các ông là người mù dẫn đường kẻ khác. Các ông nói, ‘Nếu ai chỉ đền thờ mà thề điều gì thì không sao. Nhưng nếu chỉ vàng của đền thờ mà thề thì phải giữ lời thề ấy.’
MAT 23:17 Nầy kẻ vừa mù vừa dại! Vàng của đền thờ và đền thờ làm cho vàng hóa thánh, cái nào quan trọng hơn?
MAT 23:18 Các ông còn dạy, ‘Nếu ai chỉ bàn thờ mà thề thì không sao, nhưng nếu chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề thì phải giữ lời thề ấy.’
MAT 23:19 Nầy kẻ mù! Của lễ trên bàn thờ và bàn thờ làm cho của lễ hóa thánh, cái nào trọng hơn?
MAT 23:20 Ai chỉ bàn thờ mà thề là chỉ luôn bàn thờ cùng những của lễ trên đó.
MAT 23:21 Còn người nào chỉ đền thờ mà thề, là chỉ đền thờ và luôn cả những gì trong đền thờ.
MAT 23:22 Người nào chỉ trời mà thề, là chỉ ngôi Thượng Đế và Đấng ngự trên ngôi đó.
MAT 23:23 Khốn cho các ông, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi! Các ông là kẻ giả đạo đức! Các ông dâng cho Thượng Đế một phần mười về mọi món lợi tức, cho đến cả cọng bạc hà, hồi hương và rau cần. Nhưng các ông bỏ qua điều hệ trọng nhất trong luật pháp—công bằng, bác ái và lòng trung thành. Đó là những điều các ông phải làm mà cũng không được bỏ qua những điều kia.
MAT 23:24 Các ông là người mù dẫn người mù! Các ông gắp con ruồi ra khỏi ly nước, nhưng lại nuốt trửng con lạc đà!
MAT 23:25 Khốn cho các ông, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi! Kẻ đạo đức giả! Các ông rửa bên ngoài chén dĩa mà bên trong đầy những thứ dơ bẩn do lường gạt kẻ khác để cho đầy túi tham.
MAT 23:26 Nầy người Pha-ri-xi là những kẻ mù! Phải rửa bên trong dĩa cho sạch trước thì bên ngoài mới hoàn toàn sạch được.
MAT 23:27 Khốn cho các ông, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi! Kẻ giả đạo đức! Các ông giống như mồ mả phết sơn trắng. Bên ngoài nhìn rất đẹp mà bên trong thì đầy dẫy xương người chết và mọi thứ dơ bẩn.
MAT 23:28 Các ông cũng giống thế. Người ta nhìn bề ngoài thấy các ông đức hạnh, nhưng bên trong toàn là giả đạo đức và gian ác.
MAT 23:29 Khốn cho các ông, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi! Kẻ giả đạo đức! Các ông xây mồ mả cho các nhà tiên tri và tô điểm mộ của những người đức hạnh.
MAT 23:30 Các ông bảo, ‘Nếu chúng ta sống cùng thời với các tổ tiên, chúng ta sẽ không khi nào ra tay giết các nhà tiên tri.’
MAT 23:31 Chính các ông chứng tỏ rằng mình là con cháu của những người đã giết các nhà tiên tri ấy.
MAT 23:32 Vậy hãy làm cho xong tội lỗi mà tổ tiên các ông đã bắt đầu đi!
MAT 23:33 Các ông là loài rắn, gia đình rắn độc! Làm sao các ông thoát khỏi bản án của Thượng Đế và hình phạt nơi hỏa ngục được?
MAT 23:34 Ta bảo cho các ông biết: Ta sai các nhà tiên tri, những người thông thái và các giáo sư đến với các ông. Một số bị các ông giết, số khác bị các ông đóng đinh. Số khác nữa bị các ông đánh đập trong các hội đường và săn đuổi từ thành nầy qua thành kia.
MAT 23:35 Cho nên các ông sẽ gánh tội ác về cái chết của những người nhân đức đã bị giết trên đất—từ vụ giết người nhân đức A-bên cho đến vụ giết Xa-cha-ri, con của Bê-ra-kia, mà các ông đã giết chết khoảng giữa đền thờ và bàn thờ.
MAT 23:36 Ta bảo thật, tất cả những chuyện ấy sẽ xảy đến cho các ông là những kẻ hiện đang sống.
MAT 23:37 Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem ơi! Ngươi giết các nhà tiên tri và ném đá chết những người được sai đến cùng ngươi. Nhiều lần ta muốn gom dân cư ngươi lại như gà mẹ túc con vào dưới cánh mà ngươi không chịu.
MAT 23:38 Giờ đây nhà ngươi sẽ hoàn toàn bị bỏ hoang.
MAT 23:39 Ta bảo thật, ngươi sẽ không còn thấy ta nữa cho đến khi ngươi nói, ‘Phúc cho Đấng nhân danh Chúa mà đến.’”
MAT 24:1 Trong khi Chúa Giê-xu đang rời đền thờ thì các môn đệ chỉ cho Ngài thấy những tòa nhà của đền thờ.
MAT 24:2 Chúa Giê-xu hỏi, “Các con có thấy các tòa nhà nguy nga nầy không? Ta bảo thật, sẽ không còn một tảng đá nào nằm chồng trên tảng đá khác. Tất cả đều sẽ đổ nhào xuống đất hết.”
MAT 24:3 Sau đó, lúc Chúa Giê-xu đang ngồi trên núi Ô-liu, thì các môn đệ đến hỏi riêng Ngài rằng, “Xin thầy cho chúng con biết chừng nào những chuyện ấy xảy đến? Và có dấu hiệu gì cho thấy thầy sắp trở lại và tận thế không?”
MAT 24:4 Chúa Giê-xu đáp, “Hãy cẩn thận, đừng để ai phỉnh gạt các con.
MAT 24:5 Nhiều người sẽ mạo danh ta đến xưng rằng, ‘Ta là Đấng Cứu Thế,’ và họ sẽ lường gạt nhiều người.
MAT 24:6 Các con sẽ nghe về giặc giã và tiếng đồn về giặc nhưng đừng hoảng hốt. Những việc ấy phải đến, nhưng chưa phải tận thế đâu.
MAT 24:7 Nước nầy sẽ chống nước khác, vương quốc nầy nghịch vương quốc nọ. Sẽ có những thời kỳ đói kém và động đất ở nhiều nơi.
MAT 24:8 Những biến cố ấy chẳng khác nào những nỗi đau đớn bắt đầu trước khi sinh nở.
MAT 24:9 Người ta sẽ bắt các con, làm hại các con và giết các con nữa. Mọi người sẽ ghét các con vì các con tin ta.
MAT 24:10 Lúc đó, lắm người sẽ mất niềm tin, đâm ra phản bội nhau và ghen ghét nhau.
MAT 24:11 Nhiều tiên tri giả sẽ đến và dụ dỗ người ta tin những điều dối gạt.
MAT 24:12 Thế gian sẽ càng ngày càng đầy tội ác, rồi tình yêu của các tín hữu sẽ nguội dần.
MAT 24:13 Nhưng ai giữ vững niềm tin mình cho đến cuối cùng sẽ được cứu.
MAT 24:14 Tin Mừng về Nước Trời sẽ được rao giảng khắp thế gian cho muôn dân. Lúc đó mới tận thế.
MAT 24:15 Nhà tiên tri Đa-niên đã nói về ‘vật ghê tởm’ ở nơi thánh.” (Ai đọc điều nầy phải hiểu.)
MAT 24:16 “Lúc đó, dân chúng vùng Giu-đia hãy chạy trốn lên núi.
MAT 24:17 Ai đang ở trên mái nhà đừng trèo xuống mang đồ đạc trong nhà đi.
MAT 24:18 Ai đang ở ngoài đồng thì đừng trở về nhà lấy áo ngoài.
MAT 24:19 Khi ấy, thật khốn cho đàn bà đang mang thai và có con còn bú!
MAT 24:20 Hãy cầu nguyện để những biến cố ấy đừng xảy ra lúc mùa đông, hoặc nhằm ngày Sa-bát, khi các con phải chạy trốn,
MAT 24:21 vì sẽ có khốn khổ lớn. Từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ chưa hề có cảnh khốn khổ nào như thế và về sau nầy cũng sẽ không hề có nữa.
MAT 24:22 Thượng Đế đã quyết định rằng thời kỳ khốn khổ ấy sẽ ngắn thôi, nếu không sẽ chẳng có ai sống nổi. Sở dĩ Ngài rút ngắn những ngày ấy lại là vì những người Ngài đã chọn.
MAT 24:23 Khi đó nếu ai bảo các con, ‘Đấng Cứu Thế kia kìa!’ hoặc người nào nói, ‘Ngài ở đàng kia!’ thì đừng tin.
MAT 24:24 Nhiều đấng cứu thế giả và nhà tiên tri giả sẽ đến làm nhiều dấu kỳ và phép lạ. Nếu được, họ cũng sẽ tìm cách gạt gẫm chính những người được chọn.
MAT 24:25 Đó, ta đã bảo cho các con biết trước những việc ấy cả rồi.
MAT 24:26 Nếu người ta bảo các con, ‘Thượng Đế ở trong đồng hoang kìa,’ thì đừng đi. Hoặc nếu họ nói, ‘Thượng Đế ở trong phòng ấy’ thì đừng tin.
MAT 24:27 Lúc Con Người hiện đến thì mọi người đều sẽ thấy Ngài như chớp lòe từ Đông sang Tây.
MAT 24:28 Xác chết ở đâu, kên kên tụ lại đó.
MAT 24:29 Sau những ngày khốn khổ ấy thì, ‘mặt trời sẽ tối sầm lại, mặt trăng không chiếu sáng nữa. Các ngôi sao từ trời rơi xuống. Các quyền lực trên trời sẽ rúng động.’
MAT 24:30 Lúc ấy, dấu hiệu Con Người sẽ hiện ra trên bầu trời. Mọi dân tộc trên thế gian sẽ than khóc. Họ sẽ thấy Con Người hiện đến giữa mây trời với quyền lực và hiển vinh cao cả.
MAT 24:31 Ngài sẽ dùng tiếng kèn lớn, sai thiên sứ đi khắp đất để tập họp những người được chọn từ mọi nơi trên thế giới.
MAT 24:32 Hãy rút bài học từ cây vả: Lúc nhánh nó hóa xanh và mềm, lá non trổ ra thì các con biết mùa hạ gần tới.
MAT 24:33 Cũng thế, khi các con thấy những biến cố ấy, thì biết rằng thời kỳ đã gần kề, sắp đến rồi.
MAT 24:34 Ta bảo thật, tất cả những biến cố ấy sẽ xảy ra trong khi người ở thời đại nầy vẫn còn sống.
MAT 24:35 Trời đất sẽ bị tiêu hủy, nhưng lời ta nói sẽ không bao giờ bị tiêu hủy đâu.
MAT 24:36 Tuy nhiên không ai biết ngày, giờ ấy, các thiên sứ và ngay đến Con cũng không biết. Chỉ một mình Cha biết mà thôi.
MAT 24:37 Khi Con Người trở lại, cũng tương tự như thời đại Nô-ê.
MAT 24:38 Vào thời kỳ trước cơn lụt lớn, người ta ăn uống, cưới, gả cho đến ngày Nô-ê vào tàu.
MAT 24:39 Chẳng ai hay biết gì cả cho đến khi nước lụt tràn đến tiêu diệt hết. Khi Con Người trở lại cũng như thế.
MAT 24:40 Có hai người đang ở ngoài đồng, một người được rước đi, còn người kia bị bỏ lại.
MAT 24:41 Hai người đàn bà đang xay cối, một người được rước đi, còn người kia bị bỏ lại.
MAT 24:42 Cho nên phải sẵn sàng, vì các con không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
MAT 24:43 Nên nhớ điều nầy: Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến lúc ban đêm, thì chắc chắn người ấy sẽ đề phòng, không để nó lẻn vô nhà được.
MAT 24:44 Cho nên các con phải sẵn sàng, vì Con Người sẽ đến vào lúc các con không ngờ.
MAT 24:45 Ai là đầy tớ khôn ngoan và trung tín mà chủ nhà tin cậy giao cho nhiệm vụ phân phát thức ăn cho các đầy tớ khác đúng giờ giấc?
MAT 24:46 Khi chủ nhà đến, thấy nó đang làm phận sự, thì nó sẽ được khen thưởng.
MAT 24:47 Ta bảo thật, chủ nhà sẽ chọn người đầy tớ ấy cho cai quản tất cả tài sản mình.
MAT 24:48 Nhưng nếu tên đầy tớ gian ác đó nghĩ thầm, ‘Chủ ta còn lâu mới về,’
MAT 24:49 rồi bắt đầu đánh đập các đầy tớ khác và nhậu nhẹt với bạn bè.
MAT 24:50 Chủ nhà sẽ về thình lình trong lúc nó không chuẩn bị và chẳng ngờ tới.
MAT 24:51 Chủ sẽ xé xác nó, tống cổ nó chung với bọn đạo đức giả, là nơi người ta khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.
MAT 25:1 “Lúc ấy Nước Trời cũng ví như mười cô phù dâu mang đèn theo để đi đón chàng rể.
MAT 25:2 Trong số ấy có năm cô dại, năm cô khôn.
MAT 25:3 Năm cô dại mang đèn theo nhưng không mang thêm dầu dự trữ.
MAT 25:4 Năm cô khôn mang đèn và mang thêm dầu dự trữ trong bình.
MAT 25:5 Vì chú rể đến trễ nên các cô buồn ngủ và ngủ gục hết.
MAT 25:6 Đến nửa đêm, có tiếng kêu, ‘Chú rể đến! Hãy ra tiếp đón người!’
MAT 25:7 Tất cả các cô đều vội vàng thức dậy chuẩn bị đèn.
MAT 25:8 Năm cô dại nài nỉ năm cô khôn, ‘Các chị làm ơn chia chúng tôi ít dầu, vì đèn chúng tôi sắp tắt.’
MAT 25:9 Các cô khôn đáp, ‘Không được đâu, dầu chúng tôi đâu có đủ cho chúng tôi và các chị. Thôi các chị chịu khó đi đến người bán dầu mà mua.’
MAT 25:10 Trong khi năm cô dại đi mua dầu thì chú rể đến. Các cô khôn sẵn sàng đi với chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng và khoá cửa lại.
MAT 25:11 Lát sau các cô dại trở về kêu cửa, ‘Chú rể ơi, mở cửa cho chúng tôi vào với!’
MAT 25:12 Nhưng chú rể trả lời, ‘Tôi bảo thật, tôi không biết các chị là ai.’
MAT 25:13 Cho nên phải sẵn sàng, vì các con không biết ngày giờ nào Con Người sẽ đến.
MAT 25:14 Nước Trời giống như một người kia sắp đi xa. Trước khi lên đường, ông gọi các đầy tớ lại dặn dò chúng nó trông nom cửa nhà trong khi ông đi vắng.
MAT 25:15 Ông giao cho một đứa năm túi vàng, đứa kia hai túi, đứa khác một túi, tùy khả năng mỗi đứa. Rồi ông ra đi.
MAT 25:16 Người đầy tớ có năm túi vàng liền đi kinh doanh và làm lợi ra thêm năm túi nữa.
MAT 25:17 Người đầy tớ với hai túi vàng cũng thế. Nó đi ra kinh doanh làm lợi thêm hai túi nữa.
MAT 25:18 Còn đứa nhận được một túi thì đi đào lỗ dưới đất chôn giấu vàng của chủ.
MAT 25:19 Mãi lâu ngày ông chủ về, gọi mấy người đầy tớ lại khai trình, xem chúng nó làm ăn ra sao với số vàng của mình.
MAT 25:20 Người đầy tớ có năm túi vàng mang vào năm túi nữa trình chủ, ‘Thưa chủ, chủ giao cho tôi năm túi, tôi làm lợi ra được năm túi nữa.’
MAT 25:21 Chủ khen, ‘Giỏi. Anh là đầy tớ tốt và trung thành. Vì anh chứng tỏ đáng tin cậy trong việc nhỏ, ta sẽ cho anh quản lý những việc lớn. Hãy đến chung hưởng niềm vui với ta.’
MAT 25:22 Đến lượt người đầy tớ nhận hai túi vàng vào trình, ‘Thưa chủ, chủ giao cho tôi hai túi vàng, tôi làm lợi được hai túi nữa.’
MAT 25:23 Chủ khen, ‘Giỏi. Anh là đầy tớ tốt và trung thành. Anh đáng tin cậy trong việc nhỏ, ta sẽ cho anh quản lý những việc lớn. Hãy đến chung hưởng niềm vui với ta.’
MAT 25:24 Sau đó người đầy tớ có một túi vàng vào trình, ‘Thưa chủ, tôi biết chủ rất khó tính. Chủ gặt thứ mình không trồng, hái nơi mình không gieo.
MAT 25:25 Tôi sợ nên đem giấu vàng của chủ dưới đất. Bây giờ túi vàng của chủ đây.’
MAT 25:26 Ông chủ mắng, ‘Mầy là đứa đầy tớ độc ác và biếng nhác! Mầy bảo mầy biết ta gặt thứ mình không trồng, hái chỗ mình không gieo.
MAT 25:27 Đáng lý ra mầy phải gởi vàng ta vào ngân hàng để khi ta về sẽ thu lại cả vốn lẫn lời.’
MAT 25:28 Chủ liền bảo mấy người đầy tớ kia, ‘Lấy túi vàng của thằng nầy đem cho đứa có mười túi vàng.
MAT 25:29 Người nào có nhiều thì được cho thêm để có dư còn người nào có ít thì lại bị lấy luôn phần đã có.’
MAT 25:30 Rồi ông chủ ra lệnh, ‘Bắt tên đầy tớ vô ích nầy ném ra ngoài chỗ tối tăm, nơi người ta khóc lóc và nghiến răng vì đau đớn.’
MAT 25:31 Con Người sẽ trở lại trong vinh quang cùng với các thiên sứ. Ngài sẽ làm Vua ngự trên ngôi.
MAT 25:32 Mọi dân tộc trên thế giới sẽ nhóm họp trước mặt Ngài. Ngài sẽ phân họ ra làm hai nhóm, như người chăn chia chiên với dê riêng ra.
MAT 25:33 Ngài sẽ để chiên bên phải và dê bên trái.
MAT 25:34 Rồi Ngài sẽ nói với những người bên phải rằng, ‘Hãy lại đây, những người được Cha ta ban phước! Hãy nhận lãnh nước mà Thượng Đế đã dành cho các ngươi từ lúc tạo thành trời đất.
MAT 25:35 Vì khi ta đói, các ngươi cho ta ăn. Ta khát, các ngươi cho ta uống. Ta cô đơn và xa nhà các ngươi tiếp rước ta.
MAT 25:36 Ta không có quần áo, các ngươi mặc cho ta. Ta đau, các ngươi chăm sóc ta. Ta bị tù các ngươi viếng thăm ta.’
MAT 25:37 Lúc ấy những người nhân đức sẽ hỏi, ‘Thưa Chúa, lúc nào chúng tôi thấy Chúa đói mà cho Ngài ăn, khát mà cho Ngài uống?
MAT 25:38 Khi nào chúng tôi thấy Ngài cô đơn xa nhà mà mời Ngài vào trọ nhà chúng tôi? Còn khi nào chúng tôi thấy Ngài không quần áo mà mặc cho Ngài?
MAT 25:39 Khi nào chúng tôi thấy Ngài đau hoặc bị tù mà chăm sóc Ngài?’
MAT 25:40 Vua sẽ trả lời, ‘Ta bảo thật, điều gì các ngươi làm cho một người rất hèn mọn nầy của ta tức là đã làm cho ta.’
MAT 25:41 Sau đó Vua sẽ bảo với những người bên trái, ‘Hãy đi khuất mắt ta, những người bị Thượng Đế nguyền rủa. Hãy đi vào lửa đời đời đã được chuẩn bị cho ma quỉ và các thiên sứ của nó.
MAT 25:42 Ta đói, các ngươi không cho ta ăn. Ta khát các ngươi không cho ta uống.
MAT 25:43 Ta cô đơn và xa nhà các ngươi không thèm tiếp ta vào nhà. Ta không có áo quần các ngươi không mặc cho ta. Ta đau và bị tù các ngươi không thăm viếng và chăm sóc.’
MAT 25:44 Rồi mấy người đó sẽ hỏi, ‘Thưa Chúa lúc nào chúng tôi thấy Chúa đói khát, cô đơn, xa nhà, không quần áo hoặc đau ốm hay bị tù mà không chăm sóc Ngài?’
MAT 25:45 Vua sẽ trả lời, ‘Ta bảo thật, hễ các ngươi không làm điều ấy cho một trong những người rất hèn mọn nầy của ta tức là các ngươi không làm cho ta.’
MAT 25:46 Rồi họ sẽ đi vào sự trừng phạt đời đời, còn những người nhân đức sẽ đi vào sự sống đời đời.”
MAT 26:1 Sau khi dạy xong những điều ấy, Chúa Giê-xu bảo các môn đệ,
MAT 26:2 “Các con biết rằng ngày mốt là lễ Vượt Qua. Trong ngày đó Con Người sẽ bị trao vào tay kẻ thù Ngài để bị đóng đinh.”
MAT 26:3 Lúc ấy, các giới trưởng tế và các bô lão họp mặt tại nhà của Cai-pha là thầy tế lễ tối cao.
MAT 26:4 Trong phiên họp, họ tìm mưu kế để bắt và giết Ngài.
MAT 26:5 Nhưng họ bảo nhau, “Chúng ta không nên làm chuyện nầy trong kỳ lễ vì dân chúng sẽ nổi loạn.”
MAT 26:6 Chúa Giê-xu đang ở Bê-tha-ni, nơi nhà của Xi-môn là người trước kia mắc bệnh cùi.
MAT 26:7 Trong khi đang ở đó thì một người đàn bà đến gần Ngài, tay cầm một chai bằng ngọc đựng đầy dầu thơm rất đắt tiền. Chị đổ nguyên chai dầu thơm trên đầu Chúa Giê-xu trong khi Ngài đang ăn.
MAT 26:8 Các môn đệ thấy thế rất bất bình. Họ bảo, “Tại sao phí dầu thơm ấy như vậy?
MAT 26:9 Dầu đó có thể đem bán được nhiều tiền để giúp kẻ nghèo.”
MAT 26:10 Biết chuyện, Chúa Giê-xu bảo, “Sao các ông quấy rầy chị nầy? Chị đã làm việc rất tốt cho ta.
MAT 26:11 Các ông lúc nào cũng có người nghèo ở với mình nhưng không có ta bên cạnh luôn đâu.
MAT 26:12 Chị đổ dầu thơm trên thân ta là để chuẩn bị chôn cất ta đó.
MAT 26:13 Ta bảo thật, hễ nơi nào Tin Mừng nầy được truyền ra trong thế gian thì việc chị làm sẽ được nhắc đến để nhớ chị.”
MAT 26:14 Lúc đó Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ đến nói chuyện với các giới trưởng tế.
MAT 26:15 Hắn hỏi, “Các ông trả cho tôi bao nhiêu để tôi trao Giê-xu vào tay các ông?” Họ trả cho hắn ba chục đồng bạc.
MAT 26:16 Từ đó hắn rình cơ hội để giao nộp Chúa Giê-xu.
MAT 26:17 Hôm đầu tiên của ngày lễ Ăn Bánh Không Men, các môn đệ đến hỏi Chúa Giê-xu, “Thầy muốn chúng con dọn bữa ăn lễ Vượt Qua cho Thầy ở đâu?”
MAT 26:18 Ngài đáp, “Các con hãy đi vào thành và bảo người kia, ‘Thầy nói: Thì giờ đã đến rồi. Ta sẽ ăn lễ Vượt Qua cùng các môn đệ ta ở nhà anh.’”
MAT 26:19 Các môn đệ làm theo điều Chúa Giê-xu căn dặn và dọn bữa ăn lễ Vượt Qua.
MAT 26:20 Đến chiều, Chúa Giê-xu và các môn đệ ngồi vào bàn.
MAT 26:21 Trong khi đang dùng bữa, Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta.”
MAT 26:22 Nghe thế các môn đệ rất buồn bã. Mỗi người lần lượt hỏi Ngài, “Thưa Chúa, có phải con không?”
MAT 26:23 Chúa Giê-xu đáp, “Người nhúng tay với ta vào trong chén là người sẽ phản ta.
MAT 26:24 Con Người sẽ phải chịu chết theo như lời Thánh Kinh viết. Nhưng khốn cho người nào trao Con Người để bị giết. Thà nó đừng sinh ra đời còn hơn.”
MAT 26:25 Rồi Giu-đa, người sẽ trao Chúa Giê-xu vào tay các kẻ thù Ngài lên tiếng hỏi, “Thưa Thầy, có phải con là người ấy không?” Chúa Giê-xu đáp, “Phải, con chính là người ấy.”
MAT 26:26 Lúc đang ăn, Chúa Giê-xu lấy bánh mì, cảm tạ Thượng Đế xong bẻ ra. Rồi Ngài phát cho các môn đệ và nói, “Các con hãy ăn bánh nầy đi; đây là thân thể ta.”
MAT 26:27 Xong Ngài lấy ly, cảm tạ Thượng Đế rồi đưa cho các môn đệ và bảo, “Tất cả các con hãy uống đi.
MAT 26:28 Đây là huyết ta dùng làm giao ước mới mà Thượng Đế lập cùng dân Ngài. Huyết nầy đổ ra cho nhiều người được tha tội.
MAT 26:29 Ta bảo cho các con biết: Ta sẽ không uống rượu nầy nữa cho đến ngày ta uống rượu mới cùng với các con trên nước của Cha ta.”
MAT 26:30 Sau khi hát một bản thánh ca, tất cả mọi người đi ra núi Ô-liu.
MAT 26:31 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Đêm nay đức tin các con trong ta sẽ bị lung lay vì theo lời Thánh Kinh đã viết: ‘Ta sẽ giết người chăn, thì bầy chiên sẽ tản lạc hết.’
MAT 26:32 Nhưng sau khi ta sống lại từ trong kẻ chết, ta sẽ đi trước các con qua miền Ga-li-lê.”
MAT 26:33 Phia-rơ thưa, “Dù cho mọi người hoang mang trong đức tin vì Thầy, nhưng con thì chắc chắn là không.”
MAT 26:34 Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, đêm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối ta ba lần.”
MAT 26:35 Nhưng Phia-rơ cả quyết, “Dù cho con phải chết với Thầy đi nữa, con sẽ không bao giờ chối Thầy đâu!” Tất cả các môn đệ khác đều cả quyết như thế.
MAT 26:36 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ, “Các con ngồi đây đợi ta đi đến đàng kia cầu nguyện.”
MAT 26:37 Ngài đem Phia-rơ và hai con trai Xê-bê-đê theo. Ngài bắt đầu buồn bã lắm.
MAT 26:38 Ngài bảo họ, “Lòng ta buồn rầu lắm, có thể chết được. Các con hãy ở đây và thức với ta.”
MAT 26:39 Sau khi đi cách họ thêm một khoảng nữa, Chúa Giê-xu quì xuống đất và cầu nguyện, “Thưa Cha, nếu có thể được, xin đừng trao cho con ly đau khổ nầy. Nhưng xin hãy làm theo ý muốn Cha, chứ không phải theo ý muốn con.”
MAT 26:40 Rồi Ngài trở lại với các môn đệ, thì thấy họ ngủ gục hết. Ngài bảo Phia-rơ, “Các con không thức nổi với ta được một giờ sao?
MAT 26:41 Hãy thức và cầu nguyện để có sức chống chọi sự cám dỗ. Tinh thần rất muốn làm điều phải mà thân thể thì yếu đuối.”
MAT 26:42 Sau đó Chúa Giê-xu đi lần thứ hai và cầu nguyện, “Thưa Cha, nếu ly đau khổ nầy không thể cất khỏi con được mà con phải nhận thì con nguyện rằng ý muốn Cha được thực hiện.”
MAT 26:43 Ngài trở lại cùng các môn đệ, lại thấy họ vẫn còn ngủ gục vì mắt đừ quá rồi.
MAT 26:44 Ngài bỏ họ đi cầu nguyện lần thứ ba giống như trước.
MAT 26:45 Rồi Ngài trở lại bảo các môn đệ, “Bây giờ mà các con vẫn còn ngủ nghỉ sao? Đã đến lúc Con Người bị giao vào tay các kẻ tội lỗi.
MAT 26:46 Hãy đứng dậy. Chúng ta phải đi. Kẻ phản ta đang đến kìa.”
MAT 26:47 Khi Chúa Giê-xu đang nói thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ xuất hiện. Cùng đi với hắn có nhiều người mang gươm giáo và gậy gộc. Họ được các giới trưởng tế và các bô lão Do-thái sai đến.
MAT 26:48 Giu-đa ra dấu trước cho chúng, “Ai mà tôi hôn thì chính là người ấy. Hãy bắt đi.”
MAT 26:49 Giu-đa lập tức bước thẳng đến Chúa Giê-xu và nói, “Chào thầy!” rồi hôn Ngài.
MAT 26:50 Chúa Giê-xu bảo, “Bạn ơi, bạn định làm gì thì làm đi.” Thế là chúng nhào đến, ra tay bắt Chúa Giê-xu.
MAT 26:51 Thấy vậy, một trong các môn đệ vung gươm ra chém đứt vành tai người đầy tớ của thầy tế lễ tối cao.
MAT 26:52 Chúa Giê-xu bảo người ấy, “Cho gươm con vào vỏ đi. Ai dùng gươm sẽ bị chết vì gươm.
MAT 26:53 Con thừa biết rằng ta có thể xin Cha sai hơn mười hai sư đoàn thiên sứ đến mà.
MAT 26:54 Nhưng việc nầy phải xảy ra, nếu không thì làm sao lời Thánh Kinh viết trở thành sự thật được?”
MAT 26:55 Rồi Chúa Giê-xu bảo chúng, “Các anh mang gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta như thể ta là tên phạm pháp! Mỗi ngày ta giảng dạy trong đền thờ mà mấy anh không bắt.
MAT 26:56 Nhưng những việc nầy xảy ra đúng như lời các nhà tiên tri viết.” Lúc ấy tất cả các môn đệ đều bỏ Ngài chạy trốn hết.
MAT 26:57 Những người bắt Chúa Giê-xu giải Ngài đến nhà riêng của Cai-pha, thầy tế lễ tối cao, nơi các giáo sư luật và các bô lão Do-thái đang hội họp.
MAT 26:58 Phia-rơ đi theo sau xa xa, bước vào sân trước tư dinh của thầy tế lễ tối cao. Ông ngồi chung với mấy người lính gác để theo dõi xem người ta xử trí với Chúa Giê-xu ra sao.
MAT 26:59 Các giới trưởng tế và toàn thể hội đồng Do-thái tìm chứng dối tố cáo để giết Ngài.
MAT 26:60 Nhiều người đến bịa đặt những lời cáo về Ngài nhưng cả hội đồng không tìm được lý do chính đáng nào để giết Ngài. Bấy giờ có hai người đến vu cáo rằng,
MAT 26:61 “Người nầy nói, ‘Ta có thể phá sập đền thờ của Thượng Đế và xây lại trong ba ngày thôi.’”
MAT 26:62 Thầy tế lễ tối cao liền đứng dậy hỏi Ngài, “Anh không đối đáp gì hết sao? Người ta tố cáo anh đủ điều mà anh không trả lời à?”
MAT 26:63 Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh. Thầy tế lễ tối cao lại hỏi thêm, “Tôi nhân danh quyền của Thượng Đế hằng sống: Anh hãy nói cho chúng tôi biết, anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con Thượng Đế không?”
MAT 26:64 Chúa Giê-xu đáp, “Đúng như ông nói. Nhưng ta bảo thật, trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng Quyền Năng và ngự đến giữa mây trời.”
MAT 26:65 Nghe như thế, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Người nầy nói phạm thượng rồi! Chúng ta đâu cần thêm nhân chứng nữa; các anh đã nghe ông ta nói phạm đến Thượng Đế rồi.
MAT 26:66 Các anh nghĩ sao?” Dân chúng trả lời, “Hắn đáng chết.”
MAT 26:67 Rồi dân chúng khạc nhổ trên mặt Ngài và đấm Ngài. Người khác tát vào mặt Ngài.
MAT 26:68 Chúng bảo, “Hãy trổ tài nói tiên tri cho chúng ta thấy đi! Hãy nói xem ai đánh ngươi!”
MAT 26:69 Lúc ấy Phia-rơ đang ngồi trong sân. Một đứa tớ gái đến bảo, “Ông cũng theo ông Giê-xu miền Ga-li-lê phải không?”
MAT 26:70 Nhưng Phia-rơ chối phăng. Ông bảo, “Tôi không hiểu cô nói gì cả.”
MAT 26:71 Lúc Phia-rơ rời khỏi sân đi về phía cổng thì một cô gái khác thấy. Cô ta nói với mấy người đứng đó, “Ông nầy cũng đi theo Giê-xu người Na-xa-rét đó.”
MAT 26:72 Một lần nữa Phia-rơ lại chối. Ông cả quyết, “Tôi thề là tôi không hề biết ông Giê-xu nầy đâu!”
MAT 26:73 Một lúc sau, mấy người đứng quanh đó bước tới bảo Phia-rơ, “Đúng rồi, ông là một trong những người theo ông Giê-xu đó. Giọng nói của ông khai ra.”
MAT 26:74 Phia-rơ liền thề và cam đoan, “Tôi không hề biết người ấy đâu.” Tức thì gà gáy.
MAT 26:75 Phia-rơ liền nhớ lại lời Chúa Giê-xu đã bảo: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối ba lần, bảo là không hề biết ta.” Phia-rơ liền bước ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
MAT 27:1 Sáng sớm hôm sau, tất cả các trưởng tế và các bô lão trong dân chúng họp lại quyết định giết Ngài.
MAT 27:2 Họ trói Ngài lại, giải qua cho Phi-lát là quan tổng đốc.
MAT 27:3 Giu-đa, người trao Ngài vào tay kẻ thù, thấy chúng quyết định giết Ngài thì vô cùng hối hận. Hắn liền lấy ba mươi đồng bạc đem trả lại cho các trưởng tế và bô lão,
MAT 27:4 và bảo họ, “Tôi đã phạm tội, vì trao cho các ông một người vô tội.” Các nhà lãnh đạo trả lời, “Chuyện ấy có liên can gì đến chúng tôi đâu? Đó là chuyện của anh, kệ anh.”
MAT 27:5 Giu-đa liền ném tiền lại vào đền thờ, rồi đi ra ngoài treo cổ tự tử.
MAT 27:6 Các trưởng tế lượm lại các đồng bạc trong đền thờ và bảo nhau, “Luật chúng ta không cho phép giữ tiền nầy chung với tiền dâng hiến trong đền thờ, vì tiền nầy đã được trả cho cái chết của một mạng người.”
MAT 27:7 Nên họ quyết định dùng tiền ấy mua ruộng của Thợ Gốm để chôn cất những người ngoại quốc chết ở Giê-ru-sa-lem.
MAT 27:8 Do đó mà đến nay ruộng ấy vẫn được gọi là Ruộng Máu.
MAT 27:9 Như thế để hoàn thành lời tiên tri Giê-rê-mi nói rằng: “Chúng lấy ba mươi đồng bạc. Đó là giá dân Ít-ra-en định cho Ngài, chúng đánh giá Ngài thấp như thế đó.
MAT 27:10 Chúng dùng tiền ấy để mua ruộng thợ gốm theo như lời Thượng Đế truyền cho ta.”
MAT 27:11 Chúa Giê-xu đứng trước mặt Phi-lát, quan tổng đốc. Phi-lát hỏi Ngài, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?” Chúa Giê-xu đáp, “Quan nói đúng.”
MAT 27:12 Trong khi các giới trưởng tế và các bô lão hung hăng tố cáo Ngài thì Chúa Giê-xu làm thinh.
MAT 27:13 Nên Phi-lát hỏi, “Anh không nghe thấy họ tố cáo anh đủ điều sao?”
MAT 27:14 Nhưng Chúa Giê-xu không trả lời tiếng nào khiến Phi-lát vô cùng ngạc nhiên.
MAT 27:15 Mỗi năm vào dịp Lễ Vượt Qua, quan tổng đốc có lệ phóng thích một tù nhân tùy dân chọn.
MAT 27:16 Lúc đó có tên Ba-ra-ba đang ngồi tù. Hắn ta nổi tiếng gian ác.
MAT 27:17 Khi dân chúng tụ tập lại tại dinh tổng đốc thì Phi-lát hỏi, “Các anh muốn tôi tha ai: Ba-ra-ba hay là Giê-xu gọi là Đấng Cứu Thế?”
MAT 27:18 Vì Phi-lát biết rõ sở dĩ chúng giải Chúa Giê-xu đến cho mình chỉ vì ganh ghét mà thôi.
MAT 27:19 Trong khi Phi-lát đang ngồi nơi ghế xử án thì vợ Phi-lát cho người ra nhắn: “Đừng đụng đến người vô tội ấy. Vì ông ta mà hôm nay em thấy ác mộng.”
MAT 27:20 Nhưng các giới trưởng tế và bô lão xúi giục dân chúng xin thả Ba-ra-ba và xử tử Chúa Giê-xu.
MAT 27:21 Phi-lát hỏi, “Trong tay tôi có Ba-ra-ba và ông Giê-xu. Các anh muốn tôi thả người nào?” Dân chúng la lên, “Thả Ba-ra-ba.”
MAT 27:22 Phi-lát hỏi chúng, “Còn Giê-xu gọi là Đấng Cứu Thế thì tôi phải xử làm sao đây?” Chúng đồng thanh đáp, “Đóng đinh hắn đi!”
MAT 27:23 Phi-lát hỏi lại, “Tại sao? Người nầy đã làm điều gì quấy?” Nhưng chúng lại gào thét lớn hơn nữa, “Đóng đinh hắn đi!”
MAT 27:24 Khi Phi-lát thấy mình bất lực mà quần chúng sắp nổi loạn, liền lấy nước rửa tay trước mặt họ và bảo, “Tôi hoàn toàn vô tội về cái chết của người nầy. Mấy anh gây ra cái chết ấy!”
MAT 27:25 Tất cả dân chúng đồng thanh đáp, “Chúng tôi và con cháu chúng tôi chịu trách nhiệm về cái chết của người nầy.”
MAT 27:26 Phi-lát liền cho phóng thích Ba-ra-ba. Nhưng ra lệnh đánh đòn Chúa Giê-xu rồi giao Ngài cho đám lính hầu mang đi đóng đinh trên thập tự giá.
MAT 27:27 Bọn lính hầu của quan tổng đốc đem Chúa Giê-xu vào trong dinh, rồi chúng tập họp cả tiểu đoàn lại quanh Ngài.
MAT 27:28 Chúng cởi áo Ngài ra và mặc cho Ngài một áo dài màu đỏ.
MAT 27:29 Chúng đan một cái mão bằng nhành gai đội trên đầu Ngài và cho Ngài cầm một cây gậy. Rồi chúng chế giễu Ngài bằng cách giả vờ bái lạy truớc mặt Ngài và nói, “Muôn tâu, vua dân Do-thái!”
MAT 27:30 Chúng nhổ trên Ngài rồi lấy gậy của Ngài đập đầu Ngài.
MAT 27:31 Sau khi đã chế giễu Ngài, chúng cởi áo dài ra, mặc áo lại cho Ngài rồi mang đi đóng đinh.
MAT 27:32 Trong khi bọn lính hầu đang đi ra khỏi thành với Chúa Giê-xu, thì chúng gặp một người tên Xi-môn, xứ Xy-ren, liền bắt ông ta vác thập tự thế cho Chúa Giê-xu.
MAT 27:33 Chúng đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ.
MAT 27:34 Bọn lính cho Chúa Giê-xu uống rượu trộn với mật đắng. Ngài nếm rượu nhưng không chịu uống.
MAT 27:35 Sau khi đóng đinh Ngài, bọn lính bắt thăm xem ai được lấy quần áo Ngài.
MAT 27:36 Chúng cứ đứng đó nhìn Ngài.
MAT 27:37 Chúng làm một tấm bảng treo trên đầu Ngài với bản án như sau: đây là giê-xu, vua dân do-thái.
MAT 27:38 Có hai tên cướp cũng bị đóng đinh cùng với Ngài, một tên bên phải, một tên bên trái.
MAT 27:39 Người qua kẻ lại sỉ nhục Ngài và lắc đầu.
MAT 27:40 Chúng nói, “Ê! Anh bảo anh có thể phá sập đền thờ rồi xây lại trong ba ngày. Hãy tự cứu mình đi! Nếu anh thật là con Thượng Đế thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi!”
MAT 27:41 Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão cũng chế giễu Ngài.
MAT 27:42 Họ bảo, “Hắn cứu người khác mà cứu mình không được! Hắn bảo hắn là vua Ít-ra-en! Nếu hắn là vua thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi thì chúng ta mới tin.
MAT 27:43 Hắn tin cậy Thượng Đế thì hãy để Thượng Đế đến cứu hắn, nếu Thượng Đế thật sự cần hắn. Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’”
MAT 27:44 Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng nhiếc móc Ngài.
MAT 27:45 Đến trưa cả xứ đều tối mịt, hiện tượng ấy kéo dài đến ba tiếng đồng hồ.
MAT 27:46 Vào khoảng ba giờ chiều, Chúa Giê-xu kêu lớn, “Ê-li, Ê-li, la-ma xa-bách-tha-ni?” Nghĩa là “Thượng Đế tôi ơi, Thượng Đế tôi ơi, sao Ngài từ bỏ tôi?”
MAT 27:47 Có mấy người đứng đó nghe vậy bảo nhau, “Xem kìa, hắn đang kêu Ê-li.”
MAT 27:48 Liền có người chạy đi lấy một miếng bông đá nhúng đầy giấm, cột vào một cái que đưa lên cho Ngài uống.
MAT 27:49 Nhưng mấy người khác cản, “Cứ để yên xem Ê-li có đến cứu nó không.”
MAT 27:50 Nhưng Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn nữa rồi tắt thở.
MAT 27:51 Ngay lúc ấy bức màn trong đền thờ bị xé toạc làm đôi từ trên xuống dưới. Đất rung chuyển mạnh và các tảng đá lớn bể vụn.
MAT 27:52 Mồ mả mở ra và nhiều con dân thánh của Thượng Đế đã qua đời từ lâu sống lại.
MAT 27:53 Họ ra khỏi mồ sau khi Chúa Giê-xu sống lại và đi vào thành thánh, xuất hiện cho nhiều người thấy.
MAT 27:54 Khi viên sĩ quan và toán lính canh giữ Chúa Giê-xu thấy động đất và những hiện tượng khác, họ hoảng hốt bảo nhau, “Ông nầy quả là Con Thượng Đế!”
MAT 27:55 Nhiều phụ nữ theo giúp đỡ Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê đứng cách xa cây thập tự mà nhìn.
MAT 27:56 Trong số đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-xép cùng với mẹ của Gia-cơ và Giăng.
MAT 27:57 Chiều tối hôm đó có một người giàu tên Giô-xép, gốc thành A-ri-ma-thê, là một môn đệ của Chúa Giê-xu tới Giê-ru-sa-lem.
MAT 27:58 Giô-xép đến gặp Phi-lát xin xác Chúa Giê-xu. Phi-lát ra lệnh cho mấy người lính hầu giao xác Ngài cho ông ta.
MAT 27:59 Giô-xép lấy xác và tẩm liệm trong vải gai sạch.
MAT 27:60 Ông đặt xác Ngài trong một ngôi mộ mới mà ông đã đục cho mình từ trong vách đá, rồi lăn một tảng đá lớn chận cửa mộ lại, xong đi về.
MAT 27:61 Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác nữa ngồi gần mộ.
MAT 27:62 Hôm sau tức sau Ngày Chuẩn Bị, các giới trưởng tế và người Pha-ri-xi đến gặp Phi-lát.
MAT 27:63 Họ bảo, “Thưa quan, chúng tôi nhớ lại khi còn sống tên gian dối nầy có nói, ‘Sau ba ngày ta sẽ sống lại từ kẻ chết.’
MAT 27:64 Vì thế xin quan ra lệnh canh phòng mộ của hắn thật cẩn thận cho đến ngày thứ ba. Nếu không, các đồ đệ hắn đến đánh cắp xác hắn rồi rêu rao với dân chúng rằng hắn đã sống lại. Cái gian dối nầy sẽ còn tệ hơn cái gian dối trước nữa.”
MAT 27:65 Phi-lát bảo, “Cắt mấy người lính canh giữ cho kỹ đi.”
MAT 27:66 Họ liền đi niêm phong tảng đá chận cửa mộ để đề phòng trộm cắp và cắt lính canh giữ.
MAT 28:1 Sau ngày Sa-bát là ngày đầu tiên trong tuần. Sáng sớm hôm ấy Ma-ri Ma-đơ-len và một người đàn bà khác cũng tên Ma-ri đến thăm mộ.
MAT 28:2 Thình lình có cơn động đất dữ dội. Một thiên sứ của Chúa từ trời xuống lăn tảng đá chận cửa mộ rồi ngồi lên trên.
MAT 28:3 Hình dạng thiên sứ ấy sáng rực như chớp, áo trắng như tuyết.
MAT 28:4 Những lính canh hoảng hốt và đứng lặng người như chết khi thấy thiên sứ.
MAT 28:5 Thiên sứ bảo các bà ấy rằng, “Đừng sợ! Tôi biết các chị đi tìm Chúa Giê-xu, Đấng bị đóng đinh.
MAT 28:6 Ngài không có đây đâu. Ngài sống lại rồi như Ngài đã nói. Hãy đến xem chỗ xác Ngài nằm.
MAT 28:7 Mấy chị hãy mau đi báo cùng các môn đệ Ngài rằng, ‘Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Ngài đi trước các ông ấy qua miền Ga-li-lê. Ở đó họ sẽ gặp Ngài.’” Thiên sứ tiếp, “Tôi đã bảo cho các chị rồi đó.”
MAT 28:8 Các bà vội vàng rời mộ. Họ vừa sợ vừa mừng, chạy đi thuật lại cho các môn đệ Ngài.
MAT 28:9 Bỗng Chúa Giê-xu gặp họ. Ngài bảo, “Chào các chị.” Các bà đến ôm chân Ngài và bái lạy Ngài.
MAT 28:10 Chúa Giê-xu bảo họ, “Đừng sợ! Hãy đi bảo các anh em ta đi đến miền Ga-li-lê, họ sẽ gặp ta ở đó.”
MAT 28:11 Trong khi các bà ấy đi thuật chuyện lại với các môn đệ, thì toán lính gác mộ chạy vào thành, báo cáo với giới trưởng tế về sự việc vừa xảy ra.
MAT 28:12 Các trưởng tế liền họp với nhóm bô lão và bàn kế hoạch. Họ hối lộ cho bọn lính một số tiền lớn
MAT 28:13 rồi căn dặn, “Hãy bảo dân chúng là ban đêm trong khi mấy anh đang ngủ, thì bọn môn đệ Giê-xu đến đánh cắp xác hắn đi.
MAT 28:14 Nếu quan tổng đốc nghe vụ nầy, chúng tôi sẽ giải thích cho ông ta rõ để mấy anh khỏi gặp rắc rối.”
MAT 28:15 Cho nên bọn lính lấy tiền rồi làm theo y như điều căn dặn. Tiếng đồn ấy vẫn còn đến ngày nay trong vòng dân chúng.
MAT 28:16 Mười một môn đệ đi đến Ga-li-lê lên một ngọn núi mà Chúa Giê-xu đã chỉ.
MAT 28:17 Khi họ gặp Chúa Giê-xu ở đó thì bái lạy Ngài, nhưng có mấy người hoài nghi không biết có phải thật Ngài hay không.
MAT 28:18 Chúa Giê-xu đến bảo họ rằng, “Tất cả quyền phép trên trời và dưới đất đã giao cho ta.
MAT 28:19 Cho nên các con hãy đi ra làm cho mọi người trở thành môn đệ ta. Hãy làm lễ báp-têm cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Linh.
MAT 28:20 Dạy họ vâng giữ những gì ta đã dạy các con. Hãy vững tin rằng ta sẽ ở với các con luôn cho đến tận thế.”
MAR 1:1 Khởi đầu của Tin Mừng về Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Thượng Đế,
MAR 1:2 như nhà tiên tri Ê-sai đã viết: “Ta sẽ sai sứ giả đi trước con để dọn đường cho con.”
MAR 1:3 “Có tiếng người kêu trong sa mạc: ‘Hãy chuẩn bị đường cho Chúa. San phẳng lối đi cho Ngài.’”
MAR 1:4 Giăng làm lễ báp-têm cho dân chúng trong đồng hoang và giảng dạy một lễ báp-têm về sự ăn năn để được tha tội.
MAR 1:5 Mọi người từ miền Giu-đia và Giê-ru-sa-lem đều đến với ông. Sau khi họ xưng tội thì được Giăng làm lễ báp-têm dưới sông Giô-đanh.
MAR 1:6 Giăng mặc áo bằng lông lạc đà, thắt lưng bằng đai da, ăn châu chấu và mật ong rừng.
MAR 1:7 Đây là lời giảng của Giăng cho dân chúng: “Có Đấng đến sau tôi còn cao trọng hơn tôi; tôi không xứng đáng cúi xuống mở dép cho Ngài.
MAR 1:8 Tôi làm báp-têm cho các anh bằng nước, nhưng Ngài sẽ làm báp-têm cho các anh bằng Thánh Linh.”
MAR 1:9 Lúc ấy Chúa Giê-xu từ thành Na-xa-rét miền Ga-li-lê đến để Giăng làm báp-têm dưới sông Giô-đanh.
MAR 1:10 Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy thiên đàng mở ra. Thánh Linh lấy dạng chim bồ câu đáp xuống đậu trên Ngài,
MAR 1:11 và có tiếng từ thiên đàng vọng xuống rằng: “Con là Con ta yêu dấu, ta rất vừa lòng về Con.”
MAR 1:12 Ngay sau đó Thánh Linh đưa Chúa Giê-xu vào đồng hoang.
MAR 1:13 Ngài ở đó suốt bốn mươi ngày để chịu Sa-tăng cám dỗ. Ngài ở chung với muông thú và có các thiên sứ phục sự Ngài.
MAR 1:14 Sau khi Giăng bị tù, Chúa Giê-xu đến miền Ga-li-lê giảng Tin Mừng về Thượng Đế.
MAR 1:15 Ngài dạy, “Thời đã điểm. Nước Trời đã gần kề. Ai nấy hãy ăn năn và tiếp nhận Tin Mừng!”
MAR 1:16 Khi đang đi dọc theo hồ Ga-li-lê, Ngài thấy Xi-môn và em là Anh-rê đang quăng lưới xuống hồ vì hai người vốn làm nghề chài lưới.
MAR 1:17 Chúa Giê-xu bảo họ “Hãy theo ta, ta sẽ biến các anh thành những tay đánh lưới người.”
MAR 1:18 Xi-môn và Anh-rê lập tức bỏ lưới lại đi theo Ngài.
MAR 1:19 Đi một khoảng nữa, Ngài thấy hai anh em khác tên Giăng và Gia-cơ, con của Xê-bê-đê, đang ngồi trong thuyền vá lưới.
MAR 1:20 Ngài gọi hai người thì họ liền để cha mình lại trong thuyền với mấy người làm công rồi đi theo Ngài.
MAR 1:21 Chúa Giê-xu và các môn đệ đi đến thành Ca-bê-nâm. Đến ngày Sa-bát Ngài vào hội đường để dạy dỗ.
MAR 1:22 Dân chúng rất ngạc nhiên về lối giảng dạy của Ngài, vì Ngài dạy như người có quyền năng, chứ không giống các giáo sư luật.
MAR 1:23 Ngay lúc ấy trong hội đường có một người bị tà ma ám. Anh kêu lớn,
MAR 1:24 “Giê-xu ở Na-xa-rét ơi, Ngài muốn làm gì chúng tôi đây? Có phải Ngài đến để diệt chúng tôi không? Tôi biết Ngài là ai—Ngài là Đấng Thánh của Thượng Đế!”
MAR 1:25 Chúa Giê-xu mắng quỉ, “Im đi! Ra khỏi người nầy ngay!”
MAR 1:26 Quỉ liền vật mạnh anh ta xuống, rú lên một tiếng lớn, rồi ra khỏi.
MAR 1:27 Dân chúng vô cùng sửng sốt, hỏi nhau, “Việc nầy nghĩa là sao? Ông nầy dạy điều mới lạ và đầy quyền năng. Đến nỗi ông ta ra lệnh cho tà ma chúng cũng vâng theo.”
MAR 1:28 Thế là tiếng đồn về Chúa Giê-xu loan truyền nhanh chóng khắp cả miền Ga-li-lê.
MAR 1:29 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ vừa ra khỏi hội đường, thì cùng Gia-cơ và Giăng đi đến nhà của Xi-môn và Anh-rê.
MAR 1:30 Bà mẹ vợ Xi-môn đang sốt liệt giường. Người ta cho Chúa Giê-xu hay.
MAR 1:31 Ngài bước đến bên giường, cầm tay bà, đỡ dậy. Cơn sốt dứt ngay, bà liền bắt tay phục vụ mọi người.
MAR 1:32 Chiều hôm ấy, sau khi mặt trời lặn, dân chúng mang những người bệnh và bị quỉ ám đến cùng Chúa Giê-xu.
MAR 1:33 Cả thành tụ tập trước cửa.
MAR 1:34 Chúa Giê-xu chữa lành đủ thứ bệnh và đuổi quỉ ra khỏi nhiều người. Nhưng Ngài cấm không cho quỉ nói ra, vì chúng biết Ngài là ai.
MAR 1:35 Sáng sớm hôm sau khi trời hãy còn tối, Chúa Giê-xu thức dậy ra khỏi nhà. Ngài đến một nơi vắng vẻ để cầu nguyện.
MAR 1:36 Xi-môn và đồng bạn đi tìm Ngài.
MAR 1:37 Sau khi tìm được, họ thưa, “Ai cũng đi tìm thầy!”
MAR 1:38 Chúa Giê-xu bảo họ, “Chúng ta nên đi thăm các thành gần đây để ta giảng dạy nữa. Đó là lý do mà ta đến.”
MAR 1:39 Nên Ngài đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường và đuổi quỉ.
MAR 1:40 Có một người cùi đến quì gối van xin Chúa Giê-xu, “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Ngài có thể chữa lành cho con được.”
MAR 1:41 Chúa Giê-xu động lòng thương anh. Ngài giơ tay rờ trên người anh và bảo, “Ta muốn. Hãy lành bệnh đi!”
MAR 1:42 Bệnh liền dứt, anh được lành ngay.
MAR 1:43 Chúa Giê-xu bảo anh đi liền và nghiêm cấm,
MAR 1:44 “Đừng cho ai biết chuyện nầy. Anh hãy đi trình diện thầy tế lễ, rồi dâng của lễ theo như Mô-se đã qui định cho những người được lành bệnh. Như thế để cho mọi người thấy điều ta làm.”
MAR 1:45 Anh rời nơi đó, liền thuật cho mọi người biết Chúa Giê-xu đã chữa lành mình. Vì thế Ngài không thể công khai vào thành nữa. Ngài cư ngụ nơi hẻo lánh, nhưng dân chúng khắp nơi đều kéo đến tìm Ngài.
MAR 2:1 Vài ngày sau, Chúa Giê-xu trở lại thành Ca-bê-nâm, tiếng đồn loan ra là Chúa Giê-xu có mặt ở nhà.
MAR 2:2 Dân chúng kéo lại quá đông khiến nhà chật ních, đến nỗi ngoài cửa cũng không có chỗ chen chân. Trong khi Chúa Giê-xu đang giảng dạy dân chúng về lời của Thượng Đế,
MAR 2:3 thì có bốn người khiêng một người bị bại đến.
MAR 2:4 Vì dân chúng tụ tập quá đông, họ không làm sao mang anh ta đến trước mặt Chúa Giê-xu được nên họ mở một khoảng trống trên mái nhà ngay chỗ Chúa Giê-xu đang nói chuyện và thòng người bại đang nằm trên cáng xuống.
MAR 2:5 Khi thấy đức tin của họ, Ngài bảo người bại rằng, “Con ơi, tội con đã được tha rồi.”
MAR 2:6 Mấy giáo sư luật có mặt tại đó mới nghĩ thầm rằng,
MAR 2:7 “Ông nầy là ai mà dám ăn nói táo bạo như vậy? Ông ta nói như thể mình là Trời. Chỉ có một mình Trời mới có quyền tha tội thôi.”
MAR 2:8 Chúa Giê-xu biết ngay ý nghĩ của họ nên Ngài hỏi, “Tại sao các ông thầm nghĩ như thế trong lòng?
MAR 2:9 Trong hai điều nầy, điều nào dễ hơn: Một là nói với người bại rằng, ‘Tội con đã được tha,’ hai là bảo, ‘Hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu mà đi’?
MAR 2:10 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông thấy Con Người có quyền tha tội trên đất,” nên Chúa Giê-xu nói với người bại,
MAR 2:11 “Tôi bảo anh đứng dậy cuốn chăn chiếu đi về nhà.”
MAR 2:12 Người bại lập tức đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi ra trước sự chứng kiến của mọi người. Dân chúng vô cùng kinh ngạc và ngợi tôn Thượng Đế. Họ bảo nhau, “Từ trước tới giờ, chưa khi nào chúng ta thấy chuyện lạ như thế nầy!”
MAR 2:13 Chúa Giê-xu lại ra bờ hồ lần nữa, có dân chúng đi theo và Ngài dạy dỗ họ.
MAR 2:14 Trong khi Ngài đang đi thì thấy Lê-vi, con của A-phê đang ngồi ở trạm thu thuế. Chúa Giê-xu bảo ông, “Hãy theo ta,” ông liền đứng dậy theo Ngài.
MAR 2:15 Sau đó, Chúa Giê-xu dùng bữa tại nhà Lê-vi, có các nhân viên thu thuế, những kẻ có tội cùng các môn đệ Ngài ăn chung. Những người như thế đi theo Chúa Giê-xu.
MAR 2:16 Khi các giáo sư luật thuộc phái Pha-ri-xi thấy Chúa Giê-xu ăn chung với những người thu thuế và kẻ có tội, họ liền hỏi các môn đệ Ngài: “Sao ông ta ăn chung với phường thu thuế và kẻ có tội như thế?”
MAR 2:17 Chúa Giê-xu nghe vậy mới bảo họ rằng: “Người khoẻ mạnh đâu cần bác sĩ, chỉ có người bệnh mới cần thôi. Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà gọi tội nhân.”
MAR 2:18 Môn đệ của Giăng và người Pha-ri-xi thường hay cữ ăn trong một thời gian. Một số người đến hỏi Chúa Giê-xu, “Tại sao môn đệ của Giăng và môn đệ của người Pha-ri-xi cữ ăn còn môn đệ của thầy thì không?”
MAR 2:19 Chúa Giê-xu đáp, “Bạn của chú rể không cữ ăn khi chú rể đang còn ở với họ. Hễ chú rể còn ở với họ, họ không cữ ăn.
MAR 2:20 Nhưng khi nào chú rể đi rồi thì họ mới cữ ăn.
MAR 2:21 Không ai vá một viếng vải mới chưa bị rút vào lỗ rách của cái áo cũ vì miếng vải mới sẽ rút lại, chằng rách áo cũ. Lỗ rách sẽ càng xấu thêm.
MAR 2:22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ. Rượu mới sẽ làm nứt bầu, rượu cũng mất mà bầu cũng chẳng còn. Rượu mới phải đựng trong bầu da mới.”
MAR 2:23 Vào ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đi qua cánh đồng lúa, các môn đệ Ngài vừa đi vừa bứt bông lúa ăn.
MAR 2:24 Người Pha-ri-xi thấy thế mới hỏi, “Tại sao môn đệ của thầy làm điều trái phép trong ngày Sa-bát?”
MAR 2:25 Chúa Giê-xu đáp, “Thế các ông chưa đọc điều Đa-vít và những bạn đồng hành làm khi bị đói sao?
MAR 2:26 Trong thời A-bia-tha làm thầy tế lễ tối cao, Đa-vít vào lều của Thượng Đế, lấy bánh thánh ăn, loại bánh mà chỉ có thầy tế lễ mới được phép ăn. Ông ta cũng cho các bạn đồng hành ăn nữa.”
MAR 2:27 Rồi Chúa Giê-xu bảo người Pha-ri-xi “Ngày Sa-bát được lập ra để giúp loài người; chứ loài người không phải được dựng nên để lệ thuộc ngày Sa-bát.
MAR 2:28 Vì thế, Con Người cũng là Chúa của ngày Sa-bát.”
MAR 3:1 Một lần khác Chúa Giê-xu vào hội đường, ở đó có một người bị liệt bàn tay.
MAR 3:2 Vài người theo dõi xem thử Chúa Giê-xu có chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát không, để tố cáo Ngài.
MAR 3:3 Chúa Giê-xu nói với người bị liệt tay: “Anh hãy đứng lên trước mặt mọi người.”
MAR 3:4 Rồi Ngài hỏi dân chúng, “Điều nào có phép làm trong ngày Sa-bát: làm lành hay làm dữ, cứu người hay giết người?” Nhưng họ đều làm thinh.
MAR 3:5 Chúa Giê-xu nhìn họ mà tức giận, lòng Ngài buồn nản vì thấy họ ương ngạnh. Ngài liền bảo người bị liệt tay, “Anh hãy giơ tay ra.” Anh ta giơ ra thì tay được lành.
MAR 3:6 Những người Pha-ri-xi đi ra, bàn mưu với các đảng viên Hê-rốt để giết Chúa Giê-xu.
MAR 3:7 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ rời nơi ấy để đi đến hồ, có đoàn dân rất đông từ vùng Ga-li-lê đi theo Ngài.
MAR 3:8 Nhiều người từ miền Giu-đia, Giê-ru-sa-lem, Y-đu-mia, từ vùng đất phía Đông sông Giô-đanh và từ vùng Tia và Xi-đôn đến nữa. Khi nghe đồn những việc Chúa Giê-xu làm, thì có vô số người đến tìm Ngài.
MAR 3:9 Nhìn thấy đám đông, Chúa Giê-xu bảo các môn đệ chuẩn bị cho Ngài một chiếc thuyền để khỏi bị dân chúng lấn ép.
MAR 3:10 Vì Ngài đã chữa lành nhiều người bệnh nên những ai mắc bệnh đều chen lấn nhau để được rờ Ngài.
MAR 3:11 Khi tà ma thấy Chúa Giê-xu thì chúng quì xuống trước mặt Ngài và kêu lên “Ngài là Con Thượng Đế!”
MAR 3:12 Nhưng Chúa Giê-xu cấm chúng nó không được nói Ngài là ai.
MAR 3:13 Khi Chúa Giê-xu lên núi kia, Ngài gọi những người Ngài muốn, thì tất cả những người ấy đến với Ngài.
MAR 3:14 Chúa Giê-xu chọn mười hai người và gọi họ là sứ đồ Ngài muốn họ ở bên cạnh Ngài và sai họ đi ra giảng đạo,
MAR 3:15 đồng thời cho họ quyền đuổi quỉ ra khỏi những kẻ bị ám.
MAR 3:16 Đây là tên mười hai người Ngài chọn: Xi-môn mà Ngài đặt tên là Phia-rơ,
MAR 3:17 Gia-cơ và Giăng, con của Xê-bê-đê. Ngài đặt tên cho hai anh em nầy là Bô-a-nẹt, nghĩa là “Con của Sấm Sét,”
MAR 3:18 Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-mi, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con của A-phê, Tha-đê, Xi-môn thuộc đảng Xê-lốt,
MAR 3:19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người về sau phản Ngài.
MAR 3:20 Sau đó Chúa Giê-xu về nhà nhưng dân chúng lại tụ tập đông đảo đến nỗi Ngài và các môn đệ không ăn được.
MAR 3:21 Nghe thế nên thân nhân Ngài xuống để bắt Ngài về, vì họ cho rằng Ngài đã bị cuồng trí.
MAR 3:22 Nhưng các giáo sư luật đến từ Giê-ru-sa-lem bảo rằng, “Ông ta bị quỉ Sa-tăng ám! Ông ta chỉ giỏi dùng quyền chúa quỉ mà đuổi quỉ đó thôi.”
MAR 3:23 Chúa Giê-xu liền gọi dân chúng đến, dùng ngụ ngôn để dạy họ. Ngài bảo “Quỉ Sa-tăng không thể tự đuổi mình ra khỏi người ta được.
MAR 3:24 Một nước bị phân hóa không thể nào tồn tại,
MAR 3:25 và gia đình nào tự chia rẽ sẽ tan hoang.
MAR 3:26 Nếu quỉ Sa-tăng tự chống lại mình hoặc nghịch lại những kẻ theo nó thì làm sao nó tồn tại được? Thế là Sa-tăng đã đến đường cùng rồi.
MAR 3:27 Không ai có thể ập vào nhà một người lực lưỡng mà cướp đồ người ấy được. Phải trói anh ta lại trước rồi mới lấy đồ trong nhà sau.
MAR 3:28 Ta bảo thật, tất cả những tội lỗi người ta làm hoặc những lời nói phạm đến Thượng Đế sẽ được tha.
MAR 3:29 Nhưng ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không được tha đâu; người ấy sẽ mắc tội đời đời.”
MAR 3:30 Chúa Giê-xu nói thế là vì các giáo sư luật bảo rằng Ngài bị quỉ ám.
MAR 3:31 Bấy giờ có mẹ và anh em của Chúa Giê-xu đến đứng ở ngoài và cho người vào trong gọi Ngài ra.
MAR 3:32 Nhiều người đang ngồi vây quanh Chúa Giê-xu, có người thưa với Ngài, “Mẹ và anh em thầy đang chờ thầy ở ngoài kìa!”
MAR 3:33 Chúa Giê-xu hỏi, “Ai là mẹ ta và anh em ta?”
MAR 3:34 Rồi Ngài nhìn những người ngồi quanh Ngài và bảo, “Đây là mẹ ta và anh em ta!
MAR 3:35 Người nào làm theo ý muốn Thượng Đế, người đó mới thật là anh em, chị em và mẹ của ta.”
MAR 4:1 Chúa Giê-xu lại bắt đầu giảng dạy bên bờ hồ. Vì quần chúng tụ tập quanh Ngài quá đông nên Ngài lên ngồi trên một chiếc thuyền đậu gần bờ. Còn tất cả dân chúng thì ngồi trên bờ gần nước.
MAR 4:2 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn dạy dỗ họ nhiều điều. Ngài kể,
MAR 4:3 “Nghe đây! Có một nông gia đi ra gieo giống.
MAR 4:4 Trong khi gieo, một số hột rơi trên đường đi, chim đáp xuống ăn hết.
MAR 4:5 Một số hột rơi nhằm chỗ đất đá, có ít đất thịt. Những hột giống ấy mọc nhanh vì có đất cạn.
MAR 4:6 Nhưng khi mặt trời mọc lên liền bị chết héo, vì rễ không sâu.
MAR 4:7 Một số hột khác rơi nhằm chỗ cỏ gai, gai mọc mạnh chèn cây non tốt, nên cây ấy không sinh quả được.
MAR 4:8 Một số hột khác rơi vào chỗ đất tốt, liền mọc lên. Cây càng ngày càng lớn, kết quả càng nhiều. Có cây sinh ra ba chục hột, có cây sáu chục, có cây một trăm.”
MAR 4:9 Rồi Chúa Giê-xu bảo, “Người nào nghe ta được, hãy lắng tai nghe!”
MAR 4:10 Sau đó lúc có một mình Chúa Giê-xu, mười hai sứ đồ cùng một số người khác xúm quanh hỏi Ngài về các ngụ ngôn Ngài dùng.
MAR 4:11 Chúa Giê-xu bảo, “Các con được có trí hiểu những bí mật về Nước Trời, nhưng đối với người khác ta phải dùng chuyện ngụ ngôn
MAR 4:12 vì: ‘Họ thấy thì thấy mà không học được. Họ nghe thì nghe mà không hiểu được. Vì nếu họ học và hiểu được, họ sẽ trở lại với ta và được tha thứ chăng.’”
MAR 4:13 Sau đó Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Các con không hiểu ngụ ngôn nầy sao? Nếu truyện nầy mà không hiểu thì làm sao hiểu các truyện khác được?
MAR 4:14 Nông gia trong truyện cũng ví như người gieo lời của Thượng Đế vào lòng người ta.
MAR 4:15 Có khi lời giảng dạy rơi trên đường đi, giống như người nghe lời dạy dỗ của Thượng Đế nhưng vừa nghe xong thì Sa-tăng liền đến cướp lấy lời đã được gieo trong lòng họ.
MAR 4:16 Một số người khác như hột giống rơi trên đất đá. Họ nghe lời dạy liền hớn hở tiếp nhận.
MAR 4:17 Nhưng họ không để lời ấy thấm sâu vào đời sống, họ chỉ giữ lời dạy đó một thời gian ngắn thôi. Khi gặp khốn khổ hoặc gian nan vì lời dạy mà họ đã tiếp nhận, thì họ vội vàng rút lui.
MAR 4:18 Có những người giống như hột giống rơi vào cỏ gai; họ nghe lời dạy
MAR 4:19 nhưng lại để những lo âu đời nầy, bả vinh hoa phú quí và những ham muốn xấu xa khác khiến cho lời dạy bị nghẹt ngòi, không kết quả trong cuộc sống họ được.
MAR 4:20 Một số người khác giống như hột giống trồng nơi đất tốt. Họ nghe lời dạy và vui vẻ tiếp nhận rồi lớn lên và kết quả—có hột sinh ra ba chục, hột thì sáu chục, hột thì một trăm.”
MAR 4:21 Sau đó Chúa Giê-xu dạy họ, “Có bao giờ các con lấy cái đèn giấu dưới cái chậu hay dưới giường không? Không! Đèn thì các con để trên chân đèn.
MAR 4:22 Điều gì kín giấu trước sau cũng bị phơi bày ra, và việc nào bí mật rồi cũng bị lộ ra.
MAR 4:23 Ai có thể nghe ta được, hãy lắng nghe cho kỹ.
MAR 4:24 Hãy suy nghĩ thật cẩn thận điều mình nghe. Các con cho kẻ khác thể nào thì Thượng Đế cũng sẽ cho các con lại thể ấy, và còn cho thêm.
MAR 4:25 Ai có trí hiểu sẽ được cho thêm nhưng ai không có thì lại bị lấy luôn điều họ đã có nữa.”
MAR 4:26 Rồi Chúa Giê-xu dạy thêm, “Nước Trời giống như người gieo giống xuống đất.
MAR 4:27 Hết ngày đến đêm, dù người ngủ hay thức, hột giống tiếp tục nẩy mầm, nhưng người ấy không biết hột giống lớn lên ra sao.
MAR 4:28 Từ đất tạo ra hột. Trước là cây non, sau là hoa rồi đến hột.
MAR 4:29 Khi hột đã chín thì người ta gặt, vì đến mùa.”
MAR 4:30 Chúa Giê-xu dạy thêm, “Ta phải lấy gì để so sánh với Nước Trời? Ta phải dùng truyện gì để giải thích về nước ấy?
MAR 4:31 Nước Trời giống như một hột cải, nhỏ nhất trong các loại hột giống người ta trồng.
MAR 4:32 Nhưng khi trồng rồi, hột ấy mọc lên thành cây lớn nhất so với mọi thứ cây trồng trong vườn. Cây ấy có nhánh to rậm, đến nỗi chim trời làm tổ dưới bóng nó được.”
MAR 4:33 Chúa Giê-xu dùng nhiều ngụ ngôn tương tự để dạy dân chúng về lời của Thượng Đế—theo khả năng hiểu biết của họ.
MAR 4:34 Bao giờ Ngài cũng dùng ngụ ngôn để dạy dân chúng, nhưng khi ở riêng thì Ngài giải thích hết cho các môn đệ.
MAR 4:35 Chiều hôm ấy Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Chúng ta hãy đi qua bờ hồ bên kia.”
MAR 4:36 Rời đám đông dân chúng, các môn đệ dùng chiếc thuyền mà Ngài đã ngồi dạy đưa Ngài đi. Có các thuyền khác cùng đi nữa.
MAR 4:37 Bỗng một cơn bão nổi lên thổi tạt qua hồ. Sóng ào ạt tràn vào gần ngập thuyền.
MAR 4:38 Trong khi ấy, Chúa Giê-xu đang dựa gối ngủ phía đuôi thuyền. Các môn đệ hốt hoảng đến đánh thức Ngài dậy, “Thầy ơi, thầy không lo chúng ta sắp chết đuối hết sao?”
MAR 4:39 Chúa Giê-xu liền đứng dậy ra lệnh cho sóng và gió, “Hãy im đi! Lặng đi!” Gió liền ngưng, mặt hồ trở lại yên lặng như tờ.
MAR 4:40 Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Sao các con sợ? Các con vẫn chưa có đức tin sao?”
MAR 4:41 Các môn đệ vô cùng sợ hãi bảo nhau, “Ông nầy là ai mà đến nỗi sóng và gió cũng vâng lệnh?”
MAR 5:1 Chúa Giê-xu và các môn đệ qua bờ hồ bên kia nơi miền của dân Ghê-ra-sen.
MAR 5:2 Ngài vừa bước ra khỏi thuyền bỗng có một người bị quỉ ám từ vùng nghĩa trang chạy đến với Ngài.
MAR 5:3 Anh ở trong các hang chôn người chết, dù dùng xiềng cũng không ai trói anh được.
MAR 5:4 Nhiều lần người ta dùng xiềng trói tay chân anh, nhưng anh bẻ còng, tháo xiềng ra hết. Không ai mạnh đủ để kềm giữ anh được.
MAR 5:5 Đêm ngày anh lang thang trong các hang hốc và trên các đồi, kêu la inh ỏi, rồi lấy đá nhọn rạch thân mình.
MAR 5:6 Lúc Chúa Giê-xu còn ở đằng xa, anh đã nhìn thấy, liền chạy lại quì trước mặt Ngài.
MAR 5:7 Anh kêu lớn, “Chúa Giê-xu, Con của Thượng Đế Tối Cao ơi, Ngài muốn làm gì tôi đây? Tôi nhân danh Thượng Đế van xin Ngài đừng làm khổ tôi!”
MAR 5:8 Anh nói như thế vì Chúa Giê-xu ra lệnh, “Hỡi quỉ! hãy ra khỏi người nầy!”
MAR 5:9 Rồi Chúa Giê-xu hỏi, “Mầy tên gì?” Nó trả lời, “Lữ Đoàn, vì chúng tôi là một đám quỉ đông.”
MAR 5:10 Bọn quỉ van xin Ngài đừng đuổi chúng ra khỏi vùng ấy.
MAR 5:11 Gần đó có một bầy heo đông đang ăn trên một ngọn đồi.
MAR 5:12 Lũ quỉ nài nỉ Chúa Giê-xu, “Xin Ngài cho phép chúng tôi nhập vào bầy heo đi.”
MAR 5:13 Chúa Giê-xu cho phép. Chúng liền ra khỏi anh ta và nhập vào bầy heo. Thế là nguyên cả một đàn heo—khoảng hai ngàn con—lao xuống đồi, nhào xuống hồ chết đuối hết.
MAR 5:14 Mấy chú chăn heo bỏ chạy vào thành và vùng quê quanh đó thuật chuyện ấy cho mọi người. Dân chúng lũ lượt kéo nhau ra xem tự sự.
MAR 5:15 Họ gặp Chúa Giê-xu và người trước kia bị quỉ ám đang ngồi đó, mặc áo quần tươm tất, tinh thần tỉnh táo thì họ đâm hoảng.
MAR 5:16 Những người chứng kiến thuật lại cho họ nghe về chuyện xảy ra cho người bị quỉ ám và bầy heo.
MAR 5:17 Dân chúng vùng ấy liền yêu cầu Chúa Giê-xu rời khỏi địa phận của họ.
MAR 5:18 Khi Chúa Giê-xu trở lại thuyền thì người bị quỉ ám trước kia năn nỉ xin theo Ngài.
MAR 5:19 Nhưng Chúa Giê-xu không chịu. Ngài bảo, “Anh hãy trở về với gia đình và thuật lại cho mọi người nghe về những việc lớn lao mà Chúa đã làm cho anh, và Ngài thương xót anh ra sao.”
MAR 5:20 Vì thế anh ta trở về thuật cho mọi người ở vùng Thập Tỉnh về việc lớn lao mà Chúa Giê-xu đã làm cho mình. Ai nấy đều kinh ngạc.
MAR 5:21 Khi Chúa Giê-xu lên thuyền trở lại bờ bên kia, thì dân chúng vây quanh Ngài rất đông.
MAR 5:22 Có một người tên Giai-ru, làm chủ hội đường, nhìn thấy Chúa liền đến quì trước mặt Ngài.
MAR 5:23 Ông lạy lục van xin, “Con gái tôi sắp chết. Lạy thầy! Xin làm ơn đến đặt tay chữa cho nó sống.”
MAR 5:24 Chúa Giê-xu liền đi với ông. Dân chúng rất đông đi theo sau và lấn ép Ngài tứ phía.
MAR 5:25 Trong đó có một thiếu phụ mắc chứng xuất huyết đã mười hai năm.
MAR 5:26 Chị khổ sở trong tay nhiều y sĩ, và tốn hết tiền của mà bệnh chẳng những không thuyên giảm, lại còn trầm trọng thêm.
MAR 5:27 Khi nghe đồn về Chúa Giê-xu thì chị liền trà trộn vào đám đông đến phía sau và rờ áo Ngài.
MAR 5:28 Chị nghĩ thầm, “Nếu tôi chỉ rờ được áo Ngài thôi, thì chắc chắn tôi sẽ lành bệnh.”
MAR 5:29 Lập tức, chứng xuất huyết ngưng lại và chị cảm thấy hoàn toàn bình phục.
MAR 5:30 Ngay lúc ấy Chúa Giê-xu cảm biết có quyền lực ra từ mình nên Ngài quay lại hỏi dân chúng, “Ai vừa rờ áo ta?”
MAR 5:31 Các môn đệ thưa, “Thầy xem có bao nhiêu người xô đẩy thầy mà thầy còn hỏi, ‘Ai rờ áo ta?’”
MAR 5:32 Nhưng Chúa Giê-xu vẫn nhìn quanh, để xem thử ai rờ áo mình.
MAR 5:33 Thiếu phụ biết mình đã lành bệnh, liền đến quì trước chân Chúa Giê-xu. Chị run rẩy khai thật mọi việc.
MAR 5:34 Chúa Giê-xu bảo thiếu phụ “Chị à, chị được lành bệnh vì chị có lòng tin. Hãy về bình an; chị lành bệnh rồi.”
MAR 5:35 Trong khi Chúa Giê-xu đang nói thì một vài người nhà của ông quản lý hội đường đến báo, “Con gái ông chết rồi. Đừng làm phiền thầy nữa.”
MAR 5:36 Nhưng Chúa Giê-xu không để ý đến những lời ấy. Ngài bảo ông chủ hội đường, “Đừng sợ, chỉ cần tin mà thôi!”
MAR 5:37 Chúa Giê-xu chỉ cho phép Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng đi với Ngài.
MAR 5:38 Khi đến nhà ông quản lý hội đường thì Ngài thấy họ làm ồn ào và khóc lóc thảm thiết.
MAR 5:39 Chúa Giê-xu vào nhà và bảo họ, “Chuyện gì mà ồn ào khóc lóc như thế nầy? Cô bé không phải chết đâu, nó chỉ ngủ thôi.”
MAR 5:40 Nhưng họ cười nhạo Ngài. Sau khi đuổi họ ra khỏi nhà, Chúa Giê-xu dẫn cha mẹ cô gái và ba môn đệ vào phòng cô bé nằm.
MAR 5:41 Ngài cầm tay cô bé và nói, “Ta-li-tha cum!” Nghĩa là “Bé gái ơi, ta bảo con hãy ngồi dậy.”
MAR 5:42 Cô bé lập tức đứng dậy và chập choạng bước đi vì cô đã lên mười hai tuổi. Mọi người rất đỗi kinh ngạc.
MAR 5:43 Chúa Giê-xu ra lệnh tuyệt đối không ai được phép nói lại với người khác biết việc nầy. Rồi Ngài bảo họ cho cô bé ăn.
MAR 6:1 Chúa Giê-xu rời nơi ấy trở về thăm quê nhà, có các môn đệ cùng đi.
MAR 6:2 Đến ngày Sa-bát, Ngài vào hội đường dạy dỗ. Nhiều người nghe Ngài thì sững sờ hỏi nhau, “Ông ta học những điều nầy ở đâu? Ai cho ông ta sự khôn ngoan như thế? Ông ta lấy quyền ở đâu mà làm phép lạ?
MAR 6:3 Ông ta chẳng qua chỉ là thợ mộc, con của Ma-ri và anh của Gia-cơ, Giô-xép, Giu-đa và Xi-môn. Còn chị em ông ta vẫn sống ở giữa chúng ta đây mà.” Cho nên họ bực dọc về Ngài.
MAR 6:4 Chúa Giê-xu bảo họ, “Nhà tiên tri nào cũng được khắp nơi kính trọng, chỉ trừ quê quán và họ hàng mình.”
MAR 6:5 Cho nên Chúa Giê-xu không thể làm phép lạ ở đó được. Ngài chỉ đặt tay chữa lành một vài người bệnh thôi.
MAR 6:6 Ngài lấy làm ngạc nhiên vì nhiều người chẳng có lòng tin gì cả. Rồi Chúa Giê-xu vào các làng khác trong vùng ấy để giảng dạy.
MAR 6:7 Ngài gọi mười hai môn đệ lại và chuẩn bị sai họ đi ra từng đôi để giảng đạo, đồng thời cho họ quyền trừ tà ma.
MAR 6:8 Chúa Giê-xu căn dặn họ: “Đừng mang gì theo khi đi đường ngoài cây gậy. Đừng mang theo bánh mì, bao bị hoặc tiền trong túi.
MAR 6:9 Hãy mang dép nhưng chỉ đem đủ đồ mặc mà thôi.
MAR 6:10 Khi các con vào nhà ai thì cứ ở đó cho tới khi ra đi.
MAR 6:11 Nếu dân chúng nơi nào không chịu tiếp đón hoặc nghe các con, thì hãy rời khỏi nơi đó, phủi bụi nơi chân các con, để làm dấu cảnh cáo họ.”
MAR 6:12 Các sứ đồ đi ra giảng dạy và khuyên dân chúng ăn năn.
MAR 6:13 Họ đuổi quỉ, xức dầu ô-liu và chữa lành nhiều người bệnh.
MAR 6:14 Vua Hê-rốt nghe đồn về Chúa Giê-xu, vì lúc ấy Ngài đã nổi danh. Vài người bảo, “Ông ta là Giăng Báp-tít, người đã sống lại từ trong kẻ chết nên mới có thể làm những phép lạ như thế nầy.”
MAR 6:15 Kẻ khác nói, “Ông ta là Ê-li.” Người khác lại nói, “Ông ta là nhà tiên tri cũng như các tiên tri thời xưa.”
MAR 6:16 Khi Hê-rốt nghe vậy liền bảo, “Ta đã chém đầu Giăng, bây giờ ông ta đã sống lại từ trong đám người chết!”
MAR 6:17 Số là Hê-rốt ra lệnh cho quân sĩ dưới quyền tống giam Giăng, để làm vừa lòng vợ là Hê-rô-đia. Bà nầy trước kia là vợ của Phi-líp, em Hê-rốt, nhưng Hê-rốt lại lấy bà.
MAR 6:18 Giăng đã can ngăn Hê-rốt, “Lấy vợ của em mình là không phải lẽ.”
MAR 6:19 Vì thế Hê-rô-đia thù Giăng và muốn giết ông, nhưng không được
MAR 6:20 vì Hê-rốt sợ Giăng nên tìm cách che chở ông ta. Hê-rốt biết Giăng là người tốt và thánh thiện. Càng nghe Giăng bao nhiêu, Hê-rốt càng khó chịu bấy nhiêu, thế mà vua vẫn thích nghe.
MAR 6:21 Nhưng cơ hội tốt đã đến để Hê-rô-đia giết Giăng. Vào dịp sinh nhật Hê-rốt, vua làm tiệc thết đãi các đại quan văn võ trong triều đình, cùng các nhân vật quan trọng miền Ga-li-lê.
MAR 6:22 Lúc con gái Hê-rô-đia vào nhảy múa, Hê-rốt và các khách dự tiệc rất thích. Nên vua bảo cô gái, “Con muốn xin điều gì bây giờ cha cũng cho hết.”
MAR 6:23 Vua còn hứa thêm, “Xin cái gì cũng được—dầu cho xin nửa vương quốc của cha, cha cũng cho.”
MAR 6:24 Cô gái chạy vào hỏi mẹ, “Con xin cái gì bây giờ hả mẹ?” Bà mẹ đáp, “Con hãy xin cái đầu của Giăng Báp-tít.”
MAR 6:25 Cô gái vội vàng trở vào thưa với vua, “Con muốn xin cái đầu của Giăng Báp-tít để trên mâm ngay bây giờ.”
MAR 6:26 Vua rất buồn rầu nhưng vì đã trót hứa, mọi khách dự tiệc đều nghe, nên vua không muốn từ chối điều cô gái xin.
MAR 6:27 Vua liền truyền lệnh cho một người lính đi mang đầu Giăng đến. Người lính đi chém đầu Giăng trong ngục
MAR 6:28 để trên mâm mang vào. Người lính đưa mâm cho cô gái, cô gái mang vào đưa cho mẹ.
MAR 6:29 Các môn đệ Giăng nghe tin ấy liền đến lấy xác ông đem đi chôn cất.
MAR 6:30 Các môn đệ nhóm lại quanh Chúa Giê-xu và thuật lại cho Ngài nghe những gì họ làm và dạy.
MAR 6:31 Dân chúng kẻ đến người đi tấp nập đến nỗi Chúa Giê-xu và các môn đệ không có thì giờ để ăn. Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Thôi chúng ta hãy đi tìm chỗ nào vắng vẻ để nghỉ ngơi.”
MAR 6:32 Nên họ xuống thuyền đi đến chỗ vắng, xa quần chúng.
MAR 6:33 Nhưng nhiều người trông thấy thì biết, vì thế dân chúng từ đủ các tỉnh liền chạy bộ đến chỗ Ngài sắp tới và đến trước Chúa Giê-xu cùng các môn đệ.
MAR 6:34 Vừa tới nơi, Ngài thấy dân chúng đang đợi. Ngài cảm thương họ vì họ như chiên không có người chăn nên Chúa Giê-xu dạy dỗ họ nhiều điều.
MAR 6:35 Xế chiều các môn đệ đến thưa với Ngài, “Chỗ nầy vắng vẻ mà trời đã xế chiều rồi.
MAR 6:36 Xin thầy cho họ về để họ đi vào vùng quê và làng mạc quanh đây mua thức ăn.”
MAR 6:37 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Các con phải cho họ ăn.” Các môn đệ thưa, “Chúng con phải dùng nguyên một năm lương mới đủ tiền mua thức ăn cho chừng nầy người!”
MAR 6:38 Chúa Giê-xu hỏi họ, “Các con có bao nhiêu ổ bánh? Đi xem thử đi.” Sau khi đã kiểm điểm họ trình, “Dạ có năm ổ bánh và hai con cá.”
MAR 6:39 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ cho dân chúng ngồi từng nhóm trên cỏ xanh.
MAR 6:40 Họ liền ngồi từng nhóm năm chục, nhóm một trăm.
MAR 6:41 Chúa Giê-xu cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời tạ ơn Thượng Đế. Ngài bẻ bánh ra đưa cho các môn đệ phân phát cho dân chúng. Rồi Ngài cũng phát cá nữa.
MAR 6:42 Tất cả mọi người đều ăn uống no nê.
MAR 6:43 Các môn đệ gom được đầy mười hai giỏ bánh và cá thừa.
MAR 6:44 Trong số người ăn có hơn năm ngàn người đàn ông.
MAR 6:45 Chúa Giê-xu liền bảo các môn đệ xuống thuyền, qua thành Bết-sai-đa ở bờ bên kia trước Ngài. Còn Ngài thì ở lại để giải tán dân chúng.
MAR 6:46 Sau khi họ về rồi, Chúa Giê-xu lên núi cầu nguyện.
MAR 6:47 Đêm xuống, thuyền đã đến giữa hồ rồi mà Chúa Giê-xu vẫn còn ở một mình trên bờ.
MAR 6:48 Ngài thấy các môn đệ chèo chống rất cực nhọc vì gặp gió ngược. Vào khoảng ba đến sáu giờ sáng, Chúa Giê-xu đi trên mặt nước đến với họ và Ngài định đi qua mặt thuyền.
MAR 6:49 Khi các môn đệ thấy Ngài đi trên mặt nước, thì tưởng thấy ma, nên la lên.
MAR 6:50 Người nào cũng nhìn thấy, nên sợ hoảng. Nhưng Chúa Giê-xu lập tức trấn an họ, “Đừng sợ, ta đây mà.”
MAR 6:51 Lúc Ngài bước vào thuyền với họ thì gió lặng. Các môn đệ vô cùng kinh ngạc.
MAR 6:52 Họ không hiểu ý nghĩa phép lạ về năm ổ bánh vì trí họ còn tối tăm.
MAR 6:53 Sau khi băng qua hồ thì họ đến bờ Ghê-nê-xa-rét rồi buộc thuyền tại đó.
MAR 6:54 Chúa Giê-xu vừa bước ra khỏi thuyền thì dân chúng nhận ra Ngài.
MAR 6:55 Quần chúng khắp nơi đổ xô đến, hễ nghe Ngài đi đâu là người ta khiêng những người bệnh nằm trên cáng đến đó.
MAR 6:56 Bất cứ chỗ nào Ngài đi, từ làng mạc, thành thị hay vùng quê, dân chúng cũng đều đưa những người bệnh đến đó, vào trong phố chợ. Họ nài nỉ xin được rờ ven áo Ngài. Hễ ai rờ đều được lành cả.
MAR 7:1 Các người Pha-ri-xi và một số giáo sư luật từ Giê-ru-sa-lem đến họp chung quanh Chúa Giê-xu.
MAR 7:2 Họ thấy mấy môn đệ của Ngài dùng tay không sạch, nghĩa là chưa rửa, để ăn.
MAR 7:3 Người Pha-ri-xi và tất cả người Do-thái không bao giờ ăn trước khi rửa tay, như luật truyền miệng của họ đã qui định.
MAR 7:4 Còn khi mua đồ ở chợ về, nếu chưa rửa đúng cách, họ cũng không ăn. Họ còn giữ nhiều truyền thống khác về cách rửa ly chén, bầu nước và nồi niêu.
MAR 7:5 Người Pha-ri-xi và các giáo sư luật thưa với Chúa Giê-xu, “Tại sao các môn đệ thầy không giữ truyền thống của người xưa mà dùng tay không sạch để ăn?”
MAR 7:6 Chúa Giê-xu đáp, “Nhà tiên tri Ê-sai viết rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả: ‘Dân nầy tôn kính ta bằng môi miệng, mà lòng thì xa cách ta.
MAR 7:7 Lối thờ kính của họ thật vô ích. Những điều họ dạy chỉ là những qui tắc con người đặt ra thôi.’
MAR 7:8 Các ông không theo những mệnh lệnh của Thượng Đế mà chỉ theo lời dạy của con người.”
MAR 7:9 Rồi Chúa Giê-xu bảo họ, “Các ông khôn khéo ném bỏ mệnh lệnh của Thượng Đế để tuân theo những truyền thống của mình.
MAR 7:10 Mô-se dạy, ‘Hãy tôn kính cha mẹ ngươi,’ và ‘người nào chửi mắng cha mẹ mình phải bị xử tử.’
MAR 7:11 Nhưng các ông dạy rằng, con cái nào cũng có thể thưa với cha mẹ, ‘Điều con có thể giúp cha mẹ thì đã là Co-ban rồi—nghĩa là đã dâng cho Thượng Đế.’
MAR 7:12 Các ông không cho người đó dùng số tiền ấy để giúp cha mẹ nữa.
MAR 7:13 Cho nên, khi các ông dạy người ta theo truyền thống ấy, thì các ông đã ném bỏ lời dạy của Thượng Đế. Các ông còn làm nhiều điều tương tự như thế.”
MAR 7:14 Sau khi Chúa Giê-xu gọi dân chúng lại, Ngài bảo, “Mọi người hãy nghe và hiểu điều ta nói đây.
MAR 7:15 Không có cái gì từ ngoài đi vào thân thể người mà làm cho người dơ bẩn được. Người ta bị dơ bẩn là do những thứ phát xuất từ trong ra mà thôi.”
MAR 7:16 
MAR 7:17 Khi Chúa Giê-xu rời đoàn dân đi vào nhà thì các môn đệ hỏi Ngài về câu chuyện ấy.
MAR 7:18 Chúa Giê-xu bảo, “Các con vẫn chưa hiểu sao? Dĩ nhiên các con biết là không có cái gì từ ngoài vào trong người mà làm dơ bẩn con người được.
MAR 7:19 Vì cái đó không nhập vào tâm trí mà vào bao tử tiêu hóa rồi bài tiết khỏi thân thể.” Chúa Giê-xu nói như thế để ám chỉ rằng không có thức ăn nào gọi là dơ bẩn cả.
MAR 7:20 Ngài dạy tiếp, “Những gì từ trong con người ra mới làm dơ bẩn con người.
MAR 7:21 Những điều xấu xa sau đây phát xuất từ bên trong con người: ác tưởng, tội nhục dục, trộm cắp, giết người, ngoại tình,
MAR 7:22 tham lam, độc ác, nói dối, dâm đãng, ganh tị, nói xấu kẻ khác, kiêu căng và ăn ở bậy bạ.
MAR 7:23 Những điều ác đó từ bên trong ra mới làm dơ bẩn con người.”
MAR 7:24 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến khu vực gần thành Tia. Khi vào nhà, Ngài không muốn ai biết, nhưng không được.
MAR 7:25 Một thiếu phụ có cô con gái bị quỉ ám nghe tin Ngài ở đó. Bà liền đến quì trước mặt Chúa Giê-xu.
MAR 7:26 Bà là người Hi-lạp, sinh trưởng vùng Phê-ni-xi thuộc Xy-ri. Bà van xin Chúa Giê-xu đuổi quỉ ra khỏi cô con gái mình.
MAR 7:27 Chúa Giê-xu bảo bà, “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó ăn. Phải để con cái ăn no nê trước đã.”
MAR 7:28 Nhưng bà thưa, “Lạy Chúa đúng vậy, nhưng các con chó dưới gầm bàn cũng được ăn bánh vụn của mấy đứa nhỏ.”
MAR 7:29 Chúa Giê-xu đáp, “Vì câu đáp của bà, bà về đi, quỉ đã ra khỏi con bà rồi.”
MAR 7:30 Bà ấy trở về nhà thấy cô con gái nằm trên giường tỉnh táo, còn quỉ đã ra khỏi.
MAR 7:31 Sau đó, Chúa Giê-xu rời khu vực thành Tia, đi qua thành Xi-đôn, rồi đến hồ Ga-li-lê thuộc khu vực Thập Tỉnh.
MAR 7:32 Đang khi Ngài ở đó, có mấy người mang đến một người điếc và đớ lưỡi, ăn nói ngọng nghịu. Người ta xin Ngài đặt tay chữa lành cho anh.
MAR 7:33 Chúa Giê-xu dắt anh ra khỏi đám đông, riêng một mình với Ngài. Ngài đặt ngón tay trên lỗ tai anh, rồi nhổ nước miếng và sờ vào lưỡi anh ta.
MAR 7:34 Ngước mắt lên trời, Ngài thở dài và nói, “Ép-pha-tha!” nghĩa là, “Hãy mở ra.”
MAR 7:35 Lập tức người ấy nghe được, lưỡi trở nên thong thả, anh ta nói rõ ràng.
MAR 7:36 Chúa Giê-xu dặn mọi người không được cho ai biết việc ấy. Nhưng Ngài càng ngăn cấm bao nhiêu người ta lại càng đồn chuyện ấy ra bấy nhiêu.
MAR 7:37 Dân chúng vô cùng kinh ngạc và bảo rằng, “Chúa Giê-xu làm mọi việc thật hết sức tốt đẹp. Ngài khiến kẻ điếc nghe được và người câm nói được.”
MAR 8:1 Lần khác có một đám đông đi theo Chúa Giê-xu mà không có gì ăn nên Ngài gọi các môn đệ lại bảo,
MAR 8:2 “Ta tội nghiệp đoàn dân nầy, vì họ đã ở với ta hơn ba ngày nay mà không có gì ăn.
MAR 8:3 Nếu ta cho họ về trong khi bụng đói thế nầy chắc có người sẽ bị xỉu dọc đường, vì một số đã đến từ những nơi khá xa.”
MAR 8:4 Các môn đệ Ngài thưa, “Làm sao chúng ta có đủ bánh cho chừng nầy người ăn? Nơi đây cũng không gần thị trấn nào.”
MAR 8:5 Chúa Giê-xu hỏi, “Các con có bao nhiêu ổ bánh?” Họ thưa, “Dạ có bảy ổ.”
MAR 8:6 Chúa Giê-xu bảo dân chúng ngồi xuống đất. Rồi Ngài cầm bảy ổ bánh, cảm tạ Thượng Đế và bẻ bánh ra. Ngài trao bánh cho các môn đệ để phân phát cho dân chúng.
MAR 8:7 Các môn đệ cũng có vài con cá nhỏ. Sau khi cảm tạ Thượng Đế về mấy con cá, Ngài bảo các môn đệ phát cho dân chúng luôn.
MAR 8:8 Mọi người ăn uống no nê. Các môn đệ gom được bảy giỏ đầy những miếng thừa.
MAR 8:9 Có khoảng bốn ngàn người đàn ông ăn lần đó. Sau khi ăn xong, Ngài cho họ về.
MAR 8:10 Rồi Ngài cùng các môn đệ xuống thuyền đi qua miền Đan-ma-nu-tha.
MAR 8:11 Các người Pha-ri-xi đến gặp Chúa Giê-xu và bắt đầu gạn hỏi Ngài. Vì chủ tâm gài bẫy Ngài, nên họ yêu cầu Chúa Giê-xu làm một phép lạ từ trời cho họ xem.
MAR 8:12 Chúa Giê-xu thở dài bảo họ, “Sao các ông muốn xem phép lạ? Ta bảo thật, các ông sẽ không nhận được dấu lạ nào cả.”
MAR 8:13 Rồi Ngài bỏ họ, xuống thuyền sang bờ hồ bên kia.
MAR 8:14 Các môn đệ chỉ đem theo có một ổ bánh trong thuyền; đáng lẽ họ phải mang theo nhiều hơn.
MAR 8:15 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con phải thận trọng về men của người Pha-ri-xi và men của Hê-rốt.”
MAR 8:16 Các môn đệ thảo luận với nhau về ý nghĩa của lời Ngài nói. Họ bảo, “Thầy nói vậy là vì chúng ta quên mang bánh theo.”
MAR 8:17 Biết họ bàn như thế nên Chúa Giê-xu hỏi, “Sao các con nói tại vì không mang bánh theo? Các con cũng còn chưa thấy và chưa hiểu sao? Trí óc các con vẫn còn tối tăm sao?
MAR 8:18 Các con có mắt mà vẫn không thấy, có tai mà không nghe. Các con còn nhớ những lần
MAR 8:19 ta chia năm ổ bánh cho năm ngàn người sao? Các con thu lại được bao nhiêu giỏ bánh thừa?” Họ thưa, “Dạ, mười hai giỏ.”
MAR 8:20 “Còn khi ta phát bảy ổ bánh cho bốn ngàn người, các con gom được bao nhiêu giỏ bánh thừa?” Họ thưa, “Dạ, bảy giỏ.”
MAR 8:21 Chúa Giê-xu bảo họ rằng, “Đến bây giờ các con cũng chưa hiểu sao?”
MAR 8:22 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đến thành Bết-sai-đa. Người ta mang tới cho Ngài một người mù và xin Ngài đặt tay trên anh.
MAR 8:23 Chúa Giê-xu cầm tay người mù, dắt ra khỏi làng. Sau khi nhổ nước miếng lên mắt và đặt tay trên anh, Ngài hỏi, “Bây giờ anh thấy được chưa?”
MAR 8:24 Anh ngước lên thưa, “Dạ, tôi thấy người ta nhưng họ đi giống như cây cối.”
MAR 8:25 Chúa Giê-xu lại đặt tay lên mắt anh. Anh mở mắt ra thì mắt được sáng, thấy rõ ràng tất cả.
MAR 8:26 Chúa Giê-xu bảo anh đi về nhà và dặn, “Đừng trở vào thành.”
MAR 8:27 Chúa Giê-xu cùng môn đệ đi đến các thành quanh vùng Xê-xa-rê Phi-líp. Đang đi đường, Ngài hỏi các môn đệ, “Dân chúng nói ta là ai?”
MAR 8:28 Các môn đệ thưa, “Có người nói thầy là Giăng Báp-tít. Người khác nói thầy là Ê-li, còn người khác nữa thì cho thầy là một trong các nhà tiên tri.”
MAR 8:29 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi, “Còn các con nói ta là ai?” Phia-rơ đáp, “Thầy là Đấng Cứu Thế.”
MAR 8:30 Chúa Giê-xu nghiêm cấm các môn đệ không được nói cho người nào biết Ngài là ai.
MAR 8:31 Rồi Chúa Giê-xu bắt đầu dạy họ rằng, “Con Người phải chịu khổ nhiều, còn bị các bô lão Do-thái, các giới trưởng tế cùng các giáo sư luật loại ra.” Ngài cũng cho biết thêm là Con Người sẽ bị giết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại từ trong kẻ chết.
MAR 8:32 Chúa Giê-xu nói rõ ràng cho các môn đệ biết những sự việc sẽ xảy ra. Phia-rơ liền mang Ngài riêng ra và trách Ngài.
MAR 8:33 Nhưng Chúa Giê-xu quay lại nhìn các môn đệ rồi quở Phia-rơ. Ngài bảo, “Nầy Sa-tăng, hãy đi khỏi mặt ta! Con không nghĩ đến việc Thượng Đế mà chỉ nghĩ đến những việc loài người thôi.”
MAR 8:34 Sau đó Chúa Giê-xu gọi quần chúng và các môn đệ lại, bảo rằng, “Ai muốn theo ta phải từ bỏ chính mình và vác thập tự giá mình mà theo ta.
MAR 8:35 Ai tìm cách giữ mạng sống mình, sẽ bị mất nó, nhưng ai chịu mất mạng mình vì ta và vì Tin Mừng thì sẽ giữ được mạng sống.
MAR 8:36 Nếu ai được cả thế giới mà mất linh hồn mình thì ích lợi gì?
MAR 8:37 Lấy gì mà đánh đổi linh hồn mình?
MAR 8:38 Ai xấu hổ về ta và lời dạy dỗ của ta giữa thế hệ dâm ô và tội lỗi nầy thì Con Người cũng sẽ xấu hổ về người ấy khi Ngài hiện đến trong vinh quang của Cha Ngài cùng với các thiên sứ thánh.”
MAR 9:1 Rồi Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta bảo thật, một số người đứng đây sẽ không nếm cái chết trước khi Nước Trời hiện đến trong quyền uy.”
MAR 9:2 Sáu ngày sau, Chúa Giê-xu đem Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng đi riêng lên một ngọn núi cao. Ngài biến hóa trước mắt họ.
MAR 9:3 Áo quần Ngài đang mặc bỗng trở nên sáng trắng, đến nỗi không ai có thể làm trắng như thế được.
MAR 9:4 Bỗng có Ê-li và Mô-se hiện ra nói chuyện với Ngài.
MAR 9:5 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thưa thầy, chúng ta ở đây thật tuyệt. Chúng ta hãy dựng ba cái lều—một cái cho thầy, một cái cho Mô-se và một cái cho Ê-li.”
MAR 9:6 Phia-rơ chẳng biết mình nói gì vì ông và các đồng bạn quá khiếp sợ.
MAR 9:7 Có một đám mây bay đến bao phủ mọi người. Từ trong đám mây có tiếng vọng ra, “Đây là Con ta yêu dấu. Hãy nghe theo người!”
MAR 9:8 Bỗng nhiên Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng nhìn quanh quất thì chỉ thấy có một mình Chúa Giê-xu mà thôi.
MAR 9:9 Khi đang xuống núi, Ngài dặn họ không được kể cho ai nghe về việc họ vừa thấy cho đến khi Con Người sống lại từ trong vòng kẻ chết.
MAR 9:10 Vì thế các môn đệ giữ kín những điều ấy trong lòng, nhưng họ bàn luận với nhau không hiểu Ngài nói sống lại từ kẻ chết nghĩa là gì.
MAR 9:11 Họ hỏi Ngài, “Tại sao các giáo sư luật bảo là Ê-li phải đến trước?”
MAR 9:12 Chúa Giê-xu đáp, “Họ nói đúng, Ê-li phải đến trước để chuẩn bị mọi việc. Nhưng tại sao Thánh Kinh bảo là Con Người phải chịu khổ nhiều, bị gạt bỏ và khinh miệt?
MAR 9:13 Ta cho các con biết là Ê-li đã đến rồi, nhưng người ta đối xử với ông ấy theo điều họ muốn đúng như lời đã viết về ông.”
MAR 9:14 Khi Ngài trở lại với các môn đệ kia, thì thấy một đám đông vây quanh và các giáo sư luật đang tranh luận với họ.
MAR 9:15 Vừa thấy Chúa Giê-xu, đám đông vô cùng ngạc nhiên, nên chạy lại để chào mừng Ngài.
MAR 9:16 Chúa Giê-xu hỏi, “Các ông tranh luận với họ về việc gì thế?”
MAR 9:17 Một người đáp, “Thưa thầy, tôi mang con tôi đến cho thầy. Nó bị quỉ ám khiến nó không nói được.
MAR 9:18 Khi quỉ hành thì vật nó té xuống đất. Rồi nó sùi bọt mép, nghiến răng, người cứng đơ lại. Tôi đã xin các môn đệ thầy đuổi quỉ ra mà họ không làm được.”
MAR 9:19 Chúa Giê-xu đáp, “Nầy thế hệ vô tín, ta phải ở với các ông trong bao lâu nữa? Ta phải chịu đựng các ông trong bao lâu nữa? Mang nó đến đây cho ta.”
MAR 9:20 Họ mang cậu bé đến. Vừa khi thấy Ngài, quỉ vật cậu bé khiến nó té lăn nhào xuống đất, miệng sùi bọt mép.
MAR 9:21 Chúa Giê-xu hỏi người cha, “Nó bị thế nầy bao lâu rồi?” Người cha thưa, “Từ khi nó còn nhỏ.
MAR 9:22 Nhiều lúc quỉ xô nó vào lửa hoặc xuống nước để giết nó. Nếu thầy có thể làm được gì cho nó, xin thầy thương mà cứu giúp chúng tôi.”
MAR 9:23 Chúa Giê-xu bảo người cha, “Ông nói, ‘Nếu thầy có thể!’ Người nào tin thì việc gì cũng có thể được.”
MAR 9:24 Lập tức người cha kêu lên, “Tôi tin! Xin giúp tôi thắng lòng vô tín của tôi!”
MAR 9:25 Khi Chúa Giê-xu thấy đám đông đổ xô lại, Ngài liền quở ác quỉ, “Này, quỉ làm cho người không nghe và không nói được, ta bảo mầy phải ra khỏi cậu bé nầy, không được phép nhập vào nó nữa!”
MAR 9:26 Quỉ rú lên một tiếng, vật cậu bé xuống đất, rồi ra khỏi. Đứa bé nằm cứng đơ như người chết nên nhiều người bảo, “Nó chết rồi!”
MAR 9:27 Nhưng Chúa Giê-xu cầm tay đỡ nó đứng dậy.
MAR 9:28 Khi Chúa Giê-xu vào nhà, các môn đệ hỏi riêng Ngài, “Tại sao chúng con không đuổi được quỉ ấy?”
MAR 9:29 Ngài đáp, “Loại quỉ nầy phải cầu nguyện mới đuổi được.”
MAR 9:30 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ rời nơi đó, băng qua miền Ga-li-lê. Ngài không muốn ai biết Ngài ở đâu
MAR 9:31 vì Ngài cần dạy dỗ các môn đệ. Ngài bảo họ, “Con Người sẽ bị giao vào tay dân chúng, rồi họ sẽ giết Ngài. Sau ba ngày, Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết.”
MAR 9:32 Nhưng các môn đệ không hiểu Ngài nói gì mà lại sợ không dám hỏi.
MAR 9:33 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đến thành Ca-bê-nâm. Sau khi vào nhà, Chúa Giê-xu hỏi họ, “Lúc nãy đi đường các con tranh luận với nhau về việc gì vậy?”
MAR 9:34 Nhưng các môn đệ không dám trả lời, vì trên đường họ đã cãi nhau xem ai trong vòng họ là người lớn nhất.
MAR 9:35 Ngài ngồi xuống, gọi cả mười hai người lại, dạy rằng, “Ai muốn làm người lớn nhất phải là người thấp kém nhất, làm đầy tớ mọi người.”
MAR 9:36 Rồi Ngài dắt một em nhỏ lại đặt giữa họ. Bồng em nhỏ trong tay, Ngài dạy,
MAR 9:37 “Người nào nhân danh ta tiếp một em nhỏ như thế nầy tức là tiếp ta. Còn ai tiếp ta tức là tiếp Đấng phái ta đến.”
MAR 9:38 Bấy giờ Giăng lên tiếng, “Thưa thầy, chúng con thấy có người nhân danh thầy để đuổi quỉ ra. Chúng con cấm ngay vì người ấy không cùng nhóm với chúng ta.”
MAR 9:39 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Đừng cấm làm gì, vì không ai có thể vừa nhân danh ta làm phép lạ vừa nói xấu ta được.
MAR 9:40 Ai không chống chúng ta tức là về phía chúng ta.
MAR 9:41 Ta bảo thật, ‘Người nào cho các con một ly nước uống vì các con là người của Chúa Cứu Thế, người ấy chắc chắn không mất phần thưởng của mình đâu.’
MAR 9:42 Nếu ai gây cho một trong các em nhỏ nầy, đã tin ta mà phạm tội thì nên lấy tảng đá lớn buộc vào cổ người ấy, quăng xuống biển cho chết chìm còn hơn.
MAR 9:43 Nếu tay xui cho các con phạm tội, hãy chặt nó đi! Chẳng thà mất một phần thân thể mà được sống đời đời còn hơn đủ cả hai tay mà bị ném vào hỏa ngục, là nơi lửa không hề tắt.
MAR 9:44 
MAR 9:45 Còn nếu chân xui cho các con phạm tội, hãy chặt nó đi! Vì chẳng thà mất một phần thân thể mà được sống đời đời còn hơn đủ cả hai chân mà bị ném vào hỏa ngục.
MAR 9:46 
MAR 9:47 Nếu mắt xui cho các con phạm tội, hãy móc nó đi! Chẳng thà mất một mắt mà được vào Nước Trời, còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục.
MAR 9:48 Hỏa ngục là nơi sâu bọ không hề chết, lửa không hề tắt.
MAR 9:49 Mọi người sẽ bị muối bằng lửa.
MAR 9:50 Muối dùng được nhiều việc, nhưng nếu nó mất vị mặn đi thì làm sao cho nó mặn lại được? Cho nên các con phải có bản chất như muối và phải ăn ở hòa thuận với nhau.”
MAR 10:1 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến miền Giu-đia và vùng phía Đông sông Giô-đanh. Một lần nữa dân chúng lại tụ tập quanh Ngài, rồi Ngài dạy dỗ họ như vẫn thường làm.
MAR 10:2 Có vài người Pha-ri-xi đến gặp Chúa Giê-xu và hỏi để thử Ngài, “Người đàn ông có quyền ly dị vợ hay không?”
MAR 10:3 Chúa Giê-xu đáp, “Mô-se truyền điều gì cho các ông?”
MAR 10:4 Họ đáp, “Mô-se cho phép người đàn ông viết giấy ly dị và đuổi vợ đi.”
MAR 10:5 Chúa Giê-xu bảo, “Mô-se viết luật ấy cho các ông, vì các ông ương ngạnh.
MAR 10:6 Nhưng ban đầu khi Thượng Đế sáng tạo thế giới, ‘Ngài dựng nên người nam và người nữ.’
MAR 10:7 ‘Vì thế, người nam sẽ rời cha mẹ mà kết hợp với vợ mình,
MAR 10:8 hai người sẽ trở thành một thân mà thôi.’ Cho nên họ không còn là hai người nữa mà là một.
MAR 10:9 Thượng Đế đã kết hợp hai người thì không ai được phân rẽ họ.”
MAR 10:10 Sau đó khi vào nhà, các môn đệ hỏi Ngài thêm về vấn đề ấy.
MAR 10:11 Ngài đáp, “Người nào ly dị vợ mà lấy người đàn bà khác là phạm tội ngoại tình với vợ mình.
MAR 10:12 Còn người đàn bà nào ly dị chồng mà lấy người đàn ông khác cũng phạm tội ngoại tình.”
MAR 10:13 Có một số người mang các trẻ thơ đến cùng Chúa Giê-xu để Ngài đặt tay lên chúng nó, nhưng các môn đệ ngăn cấm.
MAR 10:14 Chúa Giê-xu thấy vậy không bằng lòng, mới bảo họ rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến cùng ta, đừng ngăn cấm, vì Nước Trời thuộc về những ai có tấm lòng như chúng nó.
MAR 10:15 Ta bảo thật, các con phải tiếp nhận Nước Trời giống như trẻ thơ, nếu không các con sẽ không thể vào đó được đâu.”
MAR 10:16 Rồi Ngài bồng ẵm chúng nó, đặt tay lên và chúc phước cho.
MAR 10:17 Khi Chúa Giê-xu sắp rời nơi ấy thì có một người chạy lại quì gối trước mặt Ngài và nói rằng, “Thưa thầy nhân đức, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”
MAR 10:18 Chúa Giê-xu đáp, “Sao anh gọi ta là nhân đức? Chỉ có một mình Thượng Đế là nhân đức thôi.
MAR 10:19 Anh biết các mệnh lệnh ‘Không được giết người. Không được ngoại tình. Không được trộm cắp. Không được làm chứng dối. Không được lường gạt. Phải tôn kính cha mẹ.’”
MAR 10:20 Anh đáp, “Thưa thầy, tôi đã vâng giữ những điều ấy từ khi còn nhỏ.”
MAR 10:21 Chúa Giê-xu âu yếm nhìn anh và bảo, “Anh còn thiếu một điều. Hãy bán hết của cải anh có, lấy tiền ấy phân phát cho người nghèo, thì anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
MAR 10:22 Khi nghe Chúa Giê-xu nói thế anh ta tỏ vẻ buồn nản thất vọng. Anh ủ rũ bỏ đi vì anh rất giàu.
MAR 10:23 Chúa Giê-xu nhìn quanh và bảo các môn đệ rằng, “Thật khó cho người giàu vào Nước Trời!”
MAR 10:24 Các môn đệ vô cùng ngạc nhiên về lời ấy. Ngài tiếp, “Các con ơi, vào Nước Trời không dễ đâu!
MAR 10:25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.”
MAR 10:26 Các môn đệ lại còn ngạc nhiên hơn nữa và hỏi nhau, “Thế thì ai được cứu?”
MAR 10:27 Chúa Giê-xu nhìn họ bảo rằng, “Điều gì con người không làm được thì Thượng Đế làm được. Thượng Đế làm điều gì cũng được cả.”
MAR 10:28 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thầy xem, chúng con đã bỏ tất cả để theo thầy.”
MAR 10:29 Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, không ai rời bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng vì ta và vì Tin Mừng
MAR 10:30 mà không nhận được gấp trăm lần trong đời nầy—nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng cùng với những sự ngược đãi, và được sống đời đời trong tương lai.
MAR 10:31 Người nào hiện ở hàng đầu sẽ bị xuống chót, còn người hiện ở hàng chót sẽ lên đầu.”
MAR 10:32 Trong khi họ đang lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đi trước. Các môn đệ thì sửng sốt còn những người đồng hành khác thì hoảng sợ. Một lần nữa Chúa Giê-xu đem riêng mười hai môn đệ ra, và bắt đầu cho họ biết những việc gì sẽ xảy đến cho Ngài.
MAR 10:33 Ngài bảo, “Nầy, chúng ta đang đi lên Giê-ru-sa-lem. Con Người sẽ bị trao vào tay các giới trưởng tế và các giáo sư luật. Họ sẽ tuyên án xử tử Ngài rồi giao Ngài cho dân ngoại quốc.
MAR 10:34 Chúng sẽ chế nhạo, phỉ nhổ, đánh đòn rồi giết Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
MAR 10:35 Lúc ấy Gia-cơ và Giăng, hai con trai của Xê-bê-đê đến xin Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, chúng con muốn xin thầy làm cho một điều.”
MAR 10:36 Chúa Giê-xu hỏi, “Các con muốn ta làm điều gì cho các con?”
MAR 10:37 Họ thưa, “Xin cho chúng con một đứa ngồi bên phải, một đứa ngồi bên trái thầy, trong vinh quang của thầy.”
MAR 10:38 Chúa Giê-xu bảo, “Các con không hiểu điều mình xin. Các con có uống được ly đau khổ ta sắp uống không? Và các con có chịu được phép báp-têm ta sắp chịu không?”
MAR 10:39 Họ thưa, “Dạ được.” Chúa Giê-xu bảo, “Các con sẽ uống ly ta sắp uống và chịu lễ báp-têm ta sắp chịu.
MAR 10:40 Nhưng ta không có quyền chọn người ngồi bên phải hoặc bên trái ta; hai chỗ ấy dành cho người nào đã được Thượng Đế chuẩn bị trước.”
MAR 10:41 Khi mười môn đệ kia nghe chuyện ấy thì bất bình với Gia-cơ và Giăng.
MAR 10:42 Ngài gọi họ lại và dạy rằng, “Những người cầm quyền của dân ngoại quốc thích cai trị dân, còn các đại quan thì thích tỏ quyền hành trên dân chúng.
MAR 10:43 Nhưng đối với các con, thì không nên như thế. Ai muốn làm lớn trong vòng các con, thì phải làm tôi tớ.
MAR 10:44 Ai muốn làm đầu trong các con phải như nô lệ vậy.
MAR 10:45 Cũng như Con Người đến không phải để được người khác phục vụ mình, mà để phục vụ người khác và hi sinh mạng sống mình để cứu vớt nhiều người.”
MAR 10:46 Sau đó họ đến thành Giê-ri-cô. Khi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ sắp rời nơi ấy cùng với đoàn dân thì có một người ăn xin mù tên Ba-ti-mê, con của Ti-mê, đang ngồi bên đường.
MAR 10:47 Khi nghe Chúa Giê-xu người Na-xa-rét đi ngang qua anh liền kêu lớn “Giê-xu, con của Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
MAR 10:48 Nhiều người trong đoàn dân quở anh mù để anh im đi nhưng anh lại la lớn hơn nữa, “Con Đa-vít ơi, xin thương tôi!”
MAR 10:49 Chúa Giê-xu dừng lại bảo, “Gọi anh ta đến đây.” Họ liền gọi anh mù và bảo, “Hãy mừng đi! Đứng dậy. Thầy Giê-xu gọi anh kia kìa.”
MAR 10:50 Người mù liền nhảy lên, quăng áo choàng lại và đến cùng Chúa Giê-xu.
MAR 10:51 Chúa Giê-xu hỏi, “Anh muốn ta làm gì cho anh đây?” Người mù thưa, “Thưa thầy, tôi muốn sáng mắt.”
MAR 10:52 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy đi, đức tin anh đã chữa lành anh.” Lập tức người mù được sáng mắt và đi theo Chúa Giê-xu trên đường.
MAR 11:1 Khi Chúa Giê-xu và các môn đệ gần tới thành Giê-ru-sa-lem thì đến các thị trấn Bết-phát và Bê-tha-ni, gần núi Ô-liu. Từ đó, Ngài bảo hai môn đệ đi
MAR 11:2 và dặn, “Đi đến thị trấn trước mặt các con. Vừa khi vào thành, các con sẽ thấy một con lừa con đang cột, chưa có ai cỡi. Tháo nó ra dắt về đây cho ta.
MAR 11:3 Nếu có ai hỏi tại sao làm như thế, thì bảo họ là Chúa cần nó và Ngài sẽ trả lại ngay.”
MAR 11:4 Họ đi và thấy một con lừa con đang cột bên đường, gần cửa một căn nhà, liền tháo ra.
MAR 11:5 Có mấy người đứng đó hỏi, “Mấy ông mở lừa con ra làm gì thế?”
MAR 11:6 Các môn đệ trả lời theo như Chúa Giê-xu dặn, thì họ liền để cho đi.
MAR 11:7 Họ mang lừa con về cho Chúa Giê-xu, lấy áo trải trên lưng lừa, rồi Chúa Giê-xu cỡi lên.
MAR 11:8 Nhiều người trải áo mình trên mặt đường. Kẻ khác chặt nhánh cây trong đồng và trải trên đường.
MAR 11:9 Dân chúng kẻ trước người sau hô lên, “Tung hô, Phúc cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
MAR 11:10 Phúc cho nước sắp đến của tổ tiên chúng ta là Đa-vít! Tung hô Thượng Đế trên trời cao!”
MAR 11:11 Chúa Giê-xu đến thành Giê-ru-sa-lem và đi vào đền thờ. Sau khi xem qua mọi việc, Ngài trở về làng Bê-tha-ni với mười hai môn đệ vì lúc ấy đã sập tối.
MAR 11:12 Hôm sau, khi Chúa Giê-xu rời làng Bê-tha-ni thì Ngài đói.
MAR 11:13 Thấy một cây vả có lá ở đàng xa, Ngài đến gần xem thử có trái không, nhưng chẳng thấy, chỉ có lá thôi, vì lúc ấy chưa phải mùa vả.
MAR 11:14 Chúa Giê-xu liền bảo cây vả, “Sẽ không có ai ăn trái của mầy nữa.” Các môn đệ đều nghe lời ấy.
MAR 11:15 Lúc trở lại thành Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đi vào đền thờ và đuổi những người buôn bán ở đó. Ngài lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền và hất ghế của những người bán bồ câu.
MAR 11:16 Ngài không cho phép ai mang hàng bán qua sân đền thờ.
MAR 11:17 Rồi Ngài dạy dân chúng, “Có phải Thánh Kinh viết rằng ‘Đền thờ ta sẽ được gọi là nhà nguyện cho muôn dân không?’ Nhưng các ngươi biến nơi nầy thành ‘sào huyệt lũ cướp.’”
MAR 11:18 Các giới trưởng tế và các giáo sư luật nghe thế liền tìm cách giết Chúa Giê-xu. Nhưng họ sợ Ngài vì dân chúng rất ham thích lời dạy dỗ của Ngài.
MAR 11:19 Chiều hôm ấy Chúa Giê-xu cùng các môn đệ rời thành.
MAR 11:20 Sáng hôm sau khi Chúa Giê-xu và các môn đệ đi ngang qua thì thấy cây vả đã chết khô tận rễ.
MAR 11:21 Phia-rơ nhớ lại chuyện liền thưa với Ngài, “Thầy xem kìa. Cây vả thầy rủa, bây giờ chết khô rồi!”
MAR 11:22 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con hãy có lòng tin nơi Thượng Đế.
MAR 11:23 Ta bảo thật, ai bảo hòn núi nầy, ‘Hãy bứng lên và nhào xuống biển đi!’ Nếu người ấy không có gì ngờ vực trong lòng, nhưng tin chắc điều mình nói sẽ thành sự thật, thì việc ấy sẽ xảy ra.
MAR 11:24 Nên ta bảo các con, hãy tin rằng mình đã nhận được điều mình khẩn xin trong khi cầu nguyện, thì sẽ nhận được điều ấy.
MAR 11:25 Khi đang đứng cầu nguyện, nếu các con có điều gì nghịch với người nào thì hãy tha thứ họ, để Cha các con trên trời cũng tha tội cho các con.”
MAR 11:26 
MAR 11:27 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ trở lại thành Giê-ru-sa-lem. Trong khi Ngài đang đi dạo trong đền thờ, thì các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão đến gặp Ngài.
MAR 11:28 Họ hỏi, “Thầy lấy quyền ở đâu mà làm những điều nầy? Ai cho thầy quyền ấy?”
MAR 11:29 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi cũng hỏi các ông một câu. Nếu các ông trả lời được, tôi sẽ nói cho các ông biết quyền của tôi đến từ đâu.
MAR 11:30 Các ông hãy cho tôi biết: Lễ báp-têm của Giăng đến từ trời hay từ người?”
MAR 11:31 Họ bàn nhau về câu hỏi của Ngài như thế nầy, “Nếu chúng ta trả lời, ‘Lễ báp-têm của Giăng đến từ trời,’ thì ông ta sẽ hỏi ‘Thế tại sao các ông không tin ông ấy?’
MAR 11:32 Nhưng nếu chúng ta nói, ‘Lễ ấy đến từ người,’ thì dân chúng sẽ phản đối chúng ta.” Các nhà cầm quyền nầy sợ dân chúng, vì ai cũng tin rằng Giăng là một nhà tiên tri.
MAR 11:33 Nên họ trả lời với Chúa Giê-xu “Chúng tôi không biết.” Chúa Giê-xu bảo họ, “Tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền năng nào mà làm những việc nầy.”
MAR 12:1 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn để dạy dỗ dân chúng. Ngài kể, “Người kia có một vườn nho. Ông xây tường chung quanh và đào một lỗ để đặt máy ép rượu, đồng thời xây một cái tháp canh. Sau đó ông cho một số tá điền thuê, rồi lên đường đi xa.
MAR 12:2 Đến mùa hái nho, chủ vườn sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.
MAR 12:3 Nhưng bọn tá điền bắt đầy tớ, đánh đập rồi đuổi về tay không.
MAR 12:4 Ông chủ liền sai một đầy tớ khác. Chúng đập đầu và nhục mạ người đầy tớ nầy.
MAR 12:5 Ông chủ sai một đầy tớ nữa đến, thì chúng giết chết. Ông chủ lại sai thêm nhiều đầy tớ khác nữa đến, thì chúng đánh người nầy, giết người nọ.
MAR 12:6 Sau cùng ông chủ chỉ còn có một người có thể sai được, đó là con trai yêu dấu của mình. Ông sai con đi và nghĩ bụng, ‘Có lẽ chúng nó sẽ nể con ta.’
MAR 12:7 Nhưng bọn tá điền bàn nhau, ‘Thằng nầy sẽ thừa hưởng vườn nho. Nếu chúng ta giết nó thì vườn nho sẽ thuộc về chúng ta.’
MAR 12:8 Cho nên chúng bắt đứa con, giết chết rồi ném xác ra ngoài vườn nho.
MAR 12:9 Thế thì ông chủ vườn nho sẽ đối xử với bọn tá điền ấy ra sao? Ông ta sẽ đến giết hết bọn ấy rồi giao vườn nho cho người khác.
MAR 12:10 Chắc hẳn các ông đã đọc lời Thánh Kinh: ‘Tảng đá bị thợ xây nhà loại bỏ, lại trở thành đá góc nhà.
MAR 12:11 Đó là điều Chúa làm và quả thật là kỳ diệu đối với chúng ta.’”
MAR 12:12 Các lãnh tụ Do-thái hiểu ngay là ngụ ngôn ấy ám chỉ họ. Họ muốn bắt Chúa Giê-xu nhưng sợ dân chúng, nên bỏ đi.
MAR 12:13 Sau đó họ cho vài người Pha-ri-xi và đảng viên Hê-rốt đến gặp Chúa Giê-xu để gài bẫy Ngài trong lời nói.
MAR 12:14 Họ đến cùng Ngài và hỏi, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là người chân thật. Thầy không cần biết người ta nghĩ gì về mình, vì thầy không đánh giá bề ngoài của họ. Thầy luôn luôn dạy sự thật theo đường lối của Thượng Đế. Xin thầy vui lòng cho biết: Chúng ta có nên đóng thuế cho Xê-xa không? Chúng ta nên đóng hay không nên đóng?”
MAR 12:15 Biết ác ý của họ nên Chúa Giê-xu bảo “Sao các ông tìm cách đánh bẫy ta? Đưa ta xem một đồng tiền.”
MAR 12:16 Họ chìa ra cho Ngài xem một đồng tiền. Ngài hỏi, “Hình và danh hiệu trên đồng tiền nầy là của ai?” Họ đáp, “Của Xê-xa.”
MAR 12:17 Chúa Giê-xu bảo họ, “Nếu thế thì cái gì của Xê-xa hãy trả lại cho Xê-xa, còn cái gì của Thượng Đế hãy trả lại cho Thượng Đế.” Bọn họ rất kinh ngạc về điều Chúa Giê-xu nói.
MAR 12:18 Lúc ấy có mấy người Xa-đu-xê đến gặp Chúa Giê-xu. Người Xa-đu-xê không tin có sự sống lại từ trong kẻ chết.
MAR 12:19 Họ hỏi, “Thưa thầy, Mô-se viết rằng nếu người nào có anh qua đời để vợ lại không con, thì người em trai phải lấy chị dâu góa ấy để sinh con nối dòng cho anh mình.
MAR 12:20 Trong chuyện nầy có bảy anh em. Người anh cả lấy vợ rồi chết không con.
MAR 12:21 Người em thứ hai lấy chị dâu góa ấy. Nhưng người em cũng chết không con. Đến lượt người em thứ ba cũng vậy.
MAR 12:22 Bảy người đều lấy người đàn bà ấy rồi qua đời nhưng không ai có con. Sau cùng người đàn bà cũng chết.
MAR 12:23 Thế thì đến ngày sống lại, chị ấy sẽ là vợ của ai vì tất cả bảy người đều đã lấy chị ta?”
MAR 12:24 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông lầm vì không hiểu lời Thánh Kinh cũng không hiểu quyền năng của Thượng Đế.
MAR 12:25 Khi người ta sống lại từ trong kẻ chết thì chẳng còn cưới gả gì nữa vì ai nấy đều giống như thiên sứ trên trời vậy.
MAR 12:26 Còn về những người sống lại từ trong kẻ chết thì các ông chưa đọc trong quyển sách Mô-se viết về bụi cây cháy sao? Trong đó ghi lời Thượng Đế phán với Mô-se, ‘Ta là Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia cốp.’
MAR 12:27 Thượng Đế là Thượng Đế của người sống chứ không phải của người chết. Các ông lầm to rồi!”
MAR 12:28 Một trong các giáo sư luật đến nghe Chúa Giê-xu biện luận với người Xa-đu-xê. Khi thấy Ngài khéo trả lời câu hỏi của họ, ông mới hỏi Ngài, “Trong tất cả các mệnh lệnh, điều nào quan trọng nhất?”
MAR 12:29 Chúa Giê-xu đáp, “Mệnh lệnh quan trọng nhất như sau: ‘Toàn dân Ít-ra-en nghe đây! Thượng Đế, Chúa chúng ta chỉ có một mà thôi.
MAR 12:30 Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí, hết sức mà yêu mến Ngài.’
MAR 12:31 Còn điều thứ nhì như sau, ‘Ngươi hãy yêu thương người láng giềng như mình vậy.’ Không có mệnh lệnh nào quan trọng hơn hai điều đó.”
MAR 12:32 Giáo sư ấy thưa, “Thưa thầy, thầy đáp đúng vì Thượng Đế là Chúa duy nhất, ngoài Ngài không có Chúa nào khác.
MAR 12:33 Mọi người phải hết lòng, hết trí, hết sức mà yêu mến Ngài. Và rằng ai cũng phải yêu người láng giềng như mình. Hai mệnh lệnh đó quan trọng hơn tất cả những sinh tế và của lễ.”
MAR 12:34 Thấy ông ta trả lời khôn ngoan như thế, Ngài bảo, “Ông hiện rất gần với Nước Trời.” Sau đó, không ai dám hỏi Ngài câu nào nữa.
MAR 12:35 Khi đang dạy dỗ trong đền thờ thì Chúa Giê-xu hỏi, “Tại sao các giáo sư luật bảo Chúa Cứu Thế là con vua Đa-vít?
MAR 12:36 Chính Đa-vít cảm nhận Thánh Linh và nói rằng: ‘Thượng Đế nói cùng Chúa tôi: Con hãy ngồi bên hữu ta, cho đến khi ta đặt kẻ thù của con dưới quyền quản trị của con.’
MAR 12:37 Nếu Đa-vít gọi Đấng Cứu Thế là Chúa thì làm sao Ngài là con vua ấy được?” Đoàn dân rất thích nghe Ngài.
MAR 12:38 Chúa Giê-xu tiếp tục dạy dỗ nữa. Ngài bảo, “Hãy thận trọng về các giáo sư luật. Họ thích mặc áo quần sang trọng đi dạo phố, muốn người ta kính cẩn chào mình giữa chợ.
MAR 12:39 Họ ưa ngồi chỗ cao trọng nhất trong hội đường và các đám tiệc.
MAR 12:40 Nhưng họ cướp đoạt nhà cửa của các đàn bà góa mà làm bộ đạo mạo bằng cách đọc lời cầu nguyện cho dài. Họ sẽ bị trừng phạt nặng hơn.”
MAR 12:41 Chúa Giê-xu ngồi gần hộp dâng hiến trong đền thờ để xem người ta bỏ tiền vào. Lắm người giàu bỏ vào thật nhiều tiền.
MAR 12:42 Rồi có một góa phụ nghèo bước đến bỏ vào hai đồng tiền chỉ đáng vài xu.
MAR 12:43 Chúa Giê-xu gọi các môn đệ lại bảo rằng, “Ta bảo thật, bà góa nghèo nầy đã dâng nhiều hơn tất cả những người giàu kia.
MAR 12:44 Vì họ dâng phần dư của họ, nhưng bà góa nầy tuy rất nghèo túng nhưng đã dâng hết của mình có, là của để nuôi thân.”
MAR 13:1 Khi Chúa Giê-xu đang rời khỏi đền thờ, thì một trong các môn đệ thưa với Ngài, “Thầy xem kìa! Các tòa nhà thuộc đền thờ và các tảng đá đẹp ghê chưa?”
MAR 13:2 Chúa Giê-xu bảo, “Các con có thấy các tòa nhà nguy nga nầy không? Rồi đây sẽ không có một tảng đá nào nằm chồng trên tảng đá khác. Tất cả đều sẽ đổ nhào xuống đất hết.”
MAR 13:3 Sau đó, trong khi đang ngồi một mình với Phia-rơ, Gia-cơ, Giăng và Anh-rê trên núi Ô-liu đối diện đền thờ, họ hỏi Ngài,
MAR 13:4 “Xin thầy làm ơn nói cho chúng con biết khi nào những việc ấy xảy ra? Và có điềm gì cho biết các biến cố đó sắp xảy ra không?”
MAR 13:5 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con hãy thận trọng để khỏi bị ai phỉnh gạt.
MAR 13:6 Nhiều người sẽ mạo danh ta đến bảo rằng, ‘Ta là Chúa Cứu Thế.’ Họ sẽ phỉnh dỗ nhiều người.
MAR 13:7 Khi các con nghe giặc giã và tiếng đồn về giặc thì đừng sợ. Chuyện ấy sẽ đến nhưng chưa phải là tận thế đâu.
MAR 13:8 Dân nầy sẽ đánh dân khác, nước nọ nghịch nước kia. Nhiều nơi sẽ có động đất và đói kém. Nhưng đó chỉ là một vài nỗi khổ sơ khởi thôi.
MAR 13:9 Các con phải cẩn thận. Người ta sẽ bắt các con, lôi ra trước tòa án và đánh đòn các con trong hội đường. Vì ta mà các con sẽ phải đứng trước mặt các vua, các nhà cầm quyền để làm chứng cho họ.
MAR 13:10 Nhưng Tin Mừng nầy phải được truyền giảng cho muôn dân trước.
MAR 13:11 Khi các con bị bắt và bị đem ra xét xử, đừng lo là sẽ nói gì. Lúc ấy những lời phải nói sẽ được ban cho các con vì thật ra không phải các con nói nữa mà Thánh Linh nói.
MAR 13:12 Anh sẽ gây cho em bị giết, cha mẹ sẽ làm cho con cái mình bị giết. Con cái sẽ nổi lên nghịch cha mẹ và gây cho cha mẹ bị giết.
MAR 13:13 Người ta sẽ ghét các con vì các con theo ta nhưng ai giữ vững niềm tin mình cho đến cuối cùng sẽ được cứu.
MAR 13:14 Các con sẽ thấy ‘điều ghê tởm’ ở nơi không nên có—ai đọc chỗ nầy phải hiểu—Lúc ấy ai ở miền Giu-đia hãy chạy trốn lên núi.
MAR 13:15 Ai đang ở trên mái nhà thì đừng trèo xuống lấy đồ trong nhà đi.
MAR 13:16 Ai đang ở ngoài đồng chớ trở về nhà lấy áo.
MAR 13:17 Lúc ấy đàn bà đang mang thai và cho con bú là khốn khổ nhất!
MAR 13:18 Các con hãy cầu nguyện để những biến cố ấy không xảy ra lúc mùa đông,
MAR 13:19 vì từ khi Thượng Đế tạo dựng vũ trụ cho tới bây giờ chưa bao giờ xảy ra cảnh khốn khổ như thế, và sau nầy cũng sẽ không hề có cảnh đó nữa.
MAR 13:20 Nếu Thượng Đế không rút ngắn thời gian khốn khổ ấy lại thì sẽ không có ai sống sót. Ngài đã thu ngắn thời gian đó lại vì những người Ngài đã chọn.
MAR 13:21 Lúc ấy, nếu có ai bảo các con, ‘Đấng Cứu Thế đây nầy!’ Hoặc có ai nói, ‘Ngài ở đàng kia!’ thì đừng tin.
MAR 13:22 Vì nhiều Đấng Cứu Thế giả và tiên tri giả sẽ xuất hiện và làm nhiều dấu kỳ cùng phép lạ. Nếu được họ sẽ tìm cách phỉnh dỗ chính những người được chọn.
MAR 13:23 Cho nên hãy cẩn thận. Ta đã bảo trước cho các con tất cả rồi.
MAR 13:24 Sau những ngày đại nạn ấy thì ‘mặt trời sẽ tối sầm lại, mặt trăng không chiếu sáng nữa.
MAR 13:25 Các ngôi sao ở trên trời sẽ rụng xuống. Các quyền lực trên các từng trời sẽ bị rúng động.’
MAR 13:26 Rồi mọi người sẽ thấy Con Người hiện đến giữa mây trời đầy quyền uy và vinh quang cao cả.
MAR 13:27 Ngài sẽ sai các thiên sứ Ngài đi khắp bốn phương thu nhóm tất cả mọi người được chọn từ chân trời đến cuối đất.
MAR 13:28 Hãy rút bài học từ cây vả: Khi nhánh nó đổi màu xanh và mềm, lá non trổ ra thì các con biết là mùa hạ sắp tới.
MAR 13:29 Cũng vậy, khi thấy những biến cố ấy xảy ra thì các con phải biết là thời kỳ đã gần kề, sắp đến rồi.
MAR 13:30 Ta bảo thật, thế hệ nầy sẽ không qua đi trước khi mọi điều ấy xảy đến.
MAR 13:31 Trời và đất sẽ bị tiêu hủy nhưng lời ta nói sẽ không bao giờ bị tiêu hủy đâu.
MAR 13:32 Không ai biết được ngày giờ đó, ngay cả thiên sứ và Con cũng không biết. Chỉ một mình Cha biết mà thôi.
MAR 13:33 Hãy thận trọng! Luôn luôn sẵn sàng vì các con không biết lúc nào thời kỳ ấy xảy đến.
MAR 13:34 Giống như một người sắp lên đường đi xa. Ông ta ra đi và giao cho các đầy tớ trông nom cửa nhà, mỗi đầy tớ được giao một nhiệm vụ riêng. Chủ nhà dặn đứa đầy tớ gác cửa là phải luôn luôn canh chừng.
MAR 13:35 Cho nên phải luôn sẵn sàng vì các con không biết lúc nào chủ nhà sẽ trở về. Có thể chiều, lúc nửa đêm, lúc gà gáy, hay lúc mặt trời mọc.
MAR 13:36 Phải luôn luôn sẵn sàng. Nếu không bất chợt chủ nhà về thấy các con ngủ quên chăng?
MAR 13:37 Ta nói điều nầy với các con, ta cũng nói cho tất cả mọi người: ‘Phải sẵn sàng!’”
MAR 14:1 Chỉ còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua và lễ Ăn Bánh Không Men. Các trưởng tế và giáo sư luật tìm mưu bắt giết Chúa Giê-xu.
MAR 14:2 Nhưng họ bàn, “Chúng ta không nên làm việc ấy trong kỳ lễ vì dân chúng sẽ nổi loạn.”
MAR 14:3 Chúa Giê-xu đang ở Bê-tha-ni dùng bữa trong nhà của Xi-môn là người trước kia mắc bệnh cùi, thì có một thiếu phụ đến cầm một chai nhỏ bằng ngọc đựng đầy dầu thơm nguyên chất rất đắt tiền. Chị đập ve dầu thơm ra đổ trên đầu Chúa Giê-xu.
MAR 14:4 Có vài người ở đó bất bình nói với nhau, “Tại sao phí dầu ấy như thế?
MAR 14:5 Dầu đó có thể bán được hơn ba trăm quan tiền để giúp người nghèo.” Họ chỉ trích chị.
MAR 14:6 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy để chị yên. Sao mấy ông quấy rầy chị? Chị đã làm một việc rất đáng khen cho ta.
MAR 14:7 Các ông luôn luôn có người nghèo ở gần mình nên lúc nào giúp họ cũng được cả chứ không có ta bên cạnh luôn đâu.
MAR 14:8 Chị đã làm điều chị có thể làm cho ta; chị đổ dầu thơm trên thân ta là chuẩn bị chôn cất ta đó.
MAR 14:9 Ta bảo thật, hễ nơi nào Tin Mừng nầy được rao giảng trên thế giới thì việc chị làm sẽ được thuật lại để nhớ đến chị.”
MAR 14:10 Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một trong mười hai môn đệ đến nói chuyện với các giới trưởng tế để đề nghị trao Chúa Giê-xu vào tay họ.
MAR 14:11 Các thầy tế lễ rất hài lòng về mưu của hắn và hứa trả tiền cho hắn. Cho nên hắn rình cơ hội tốt để phản bội Chúa Giê-xu.
MAR 14:12 Hôm ấy là ngày đầu tiên của ngày lễ Bánh Không Men lúc chiên con của lễ Vượt Qua phải bị giết. Các môn đệ thưa với Ngài, “Thầy muốn chúng con đi chuẩn bị cho thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”
MAR 14:13 Chúa Giê-xu sai hai môn đệ đi và dặn, “Đi vào thành các con sẽ gặp một người mang bầu nước. Hãy đi theo.
MAR 14:14 Khi người ấy vào nhà nào thì các con sẽ hỏi người chủ nhà, ‘Thầy hỏi: Cái phòng khách mà ta và các môn đệ sẽ ăn lễ Vượt Qua ở đâu?’
MAR 14:15 Người ấy sẽ chỉ cho các con một phòng rộng trên gác có bàn ghế sẵn. Các con hãy dọn lễ Vượt Qua ở đó.”
MAR 14:16 Các môn đệ đi vào thành thì gặp y như điều Chúa Giê-xu đã nói trước. Họ liền dọn bữa ăn lễ Vượt Qua.
MAR 14:17 Đến chiều, Chúa Giê-xu cùng mười hai môn đệ vào nhà ấy.
MAR 14:18 Đang khi ăn Chúa Giê-xu nói, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta—một trong những người hiện đang ăn ở đây với ta.”
MAR 14:19 Nghe thế các môn đệ rất buồn rầu. Mỗi người lần lượt hỏi, “Thưa thầy người đó có phải là con không?”
MAR 14:20 Chúa Giê-xu đáp, “Đó là một trong mười hai người—người sẽ chấm bánh chung chén với ta.
MAR 14:21 Con Người sẽ phải chịu chết đúng theo lời Thánh Kinh viết về Ngài. Nhưng khốn cho kẻ nào phản bội Con Người để Ngài bị giết. Thà nó đừng sinh ra đời còn hơn.”
MAR 14:22 Lúc đang ăn, Chúa Giê-xu cầm bánh mì, tạ ơn Thượng Đế và bẻ ra. Rồi Ngài trao cho các môn đệ và nói, “Các con hãy dùng bánh nầy; đây là thân thể của ta.”
MAR 14:23 Rồi Chúa Giê-xu cầm ly cảm tạ Thượng Đế và trao cho các môn đệ, ai nấy đều uống chung.
MAR 14:24 Sau đó Chúa Giê-xu nói, “Đây là huyết của ta đổ ra để làm giao ước mới mà Thượng lập với dân Ngài.
MAR 14:25 Ta bảo thật, ta sẽ không uống nước nho nầy nữa cho đến khi ta uống nước nho mới trong Nước Trời.”
MAR 14:26 Sau khi hát một bản thánh ca, tất cả mọi người đi ra núi Ô-liu.
MAR 14:27 Sau đó Chúa Giê-xu bảo các môn đệ “Các con sẽ vấp ngã trong niềm tin mình vì Thánh Kinh đã viết: ‘Ta sẽ giết người chăn, thì các con chiên sẽ bị tản lạc.’
MAR 14:28 Nhưng sau khi ta sống lại từ trong kẻ chết thì ta sẽ đi trước các con qua miền Ga-li-lê.”
MAR 14:29 Phia-rơ thưa, “Dù cho ai vấp ngã trong đức tin chứ con thì chắc chắn là không.”
MAR 14:30 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, đêm nay trước khi gà gáy hai lượt con sẽ chối ba lần, bảo là không hề biết ta.”
MAR 14:31 Nhưng Phia-rơ cả quyết, “Con sẽ không bao giờ chối thầy! Cho dù con phải chết với thầy đi nữa con cũng sẽ không bao giờ chối thầy đâu!” Tất cả các môn đệ khác đều quả quyết y như vậy.
MAR 14:32 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ, “Ngồi đây đợi ta cầu nguyện.”
MAR 14:33 Rồi Ngài mang Phia-rơ, Gia-cơ và Giăng đi với mình, lúc ấy lòng Ngài bắt đầu buồn rầu và bối rối lắm.
MAR 14:34 Ngài bảo họ, “Lòng ta buồn bã đến chết được. Các con hãy ở đây và tỉnh thức.”
MAR 14:35 Sau khi đi cách họ một khoảng, Ngài quì xuống cầu nguyện để, nếu có thể được, Ngài sẽ không phải trải qua giờ đau khổ nầy.
MAR 14:36 Ngài cầu nguyện như sau, “A-ba, thưa Cha! Cha có thể làm mọi điều. Xin lấy ly đau khổ nầy khỏi con. Nhưng xin hãy làm theo ý muốn Cha chứ không phải theo ý muốn con.”
MAR 14:37 Rồi Ngài trở lại với các môn đệ thì thấy họ đang ngủ. Ngài bảo Phia-rơ, “Xi-môn à, con ngủ sao? Con không thức nổi với ta trong một tiếng đồng hồ sao?
MAR 14:38 Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi rơi vào sự cám dỗ. Tinh thần thì muốn làm điều phải, nhưng thân thể thì mỏi mệt.”
MAR 14:39 Một lần nữa, Chúa Giê-xu lại đi cầu nguyện giống như trước.
MAR 14:40 Khi trở về thì Ngài vẫn thấy họ ngủ vì mắt họ đừ quá rồi. Họ cũng chẳng biết nói làm sao với Ngài.
MAR 14:41 Sau khi Chúa Giê-xu đi cầu nguyện lần thứ ba, Ngài trở lại với các môn đệ và bảo họ, “Các con vẫn còn ngủ nghỉ à? Thôi đủ rồi. Đến giờ Con Người sắp bị trao vào tay kẻ ác.
MAR 14:42 Đứng dậy. Chúng ta phải đi. Kẻ phản ta đang đến kia kìa.”
MAR 14:43 Ngay lúc Chúa Giê-xu còn đang nói thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ ập đến. Cùng đi với hắn có nhiều người mang gươm giáo, gậy gộc. Họ được các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão Do-thái phái đến.
MAR 14:44 Giu-đa ra dấu trước cho chúng rằng, “Ai mà tôi hôn là người ấy. Hãy bắt lấy và giải đi thật cẩn thận.”
MAR 14:45 Giu-đa tiến thẳng đến Chúa Giê-xu và nói, “Thưa thầy!” rồi hôn Ngài.
MAR 14:46 Chúng liền ra tay bắt Chúa Giê-xu.
MAR 14:47 Một trong các môn đệ đang đứng đó rút gươm ra chém đứt vành tai tên đầy tớ của thầy tế lễ tối cao.
MAR 14:48 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các anh dùng gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta như thể ta là tên phạm pháp.
MAR 14:49 Mỗi ngày ta giảng dạy trong đền thờ công khai mà các anh không dám bắt. Nhưng những việc nầy xảy ra để lời Thánh Kinh được thành tựu.”
MAR 14:50 Ngay lúc ấy tất cả các môn đệ đều bỏ Ngài chạy trốn hết.
MAR 14:51 Có một cậu thanh niên đi theo Chúa Giê-xu, trên người chỉ có tấm khăn vải quấn ngang. Chúng túm bắt anh ta.
MAR 14:52 Nhưng anh bỏ tấm khăn quấn người lại, trần truồng bỏ chạy.
MAR 14:53 Những người bắt Chúa Giê-xu giải Ngài đến nhà riêng của thầy tế lễ tối cao, nơi có đông đủ các giới trưởng tế, các bô lão Do-thái, cùng các giáo sư luật đang hội họp.
MAR 14:54 Phia-rơ theo sau xa xa, rồi bước vào sân của nhà riêng thầy tế lễ tối cao. Ông lại ngồi chung với mấy người lính gác và sưởi ấm gần đống lửa.
MAR 14:55 Các giới trưởng tế cùng cả hội đồng Do-thái cố tìm bằng cớ để có thể giết Ngài, nhưng cả hội đồng không tìm được chứng cớ nào.
MAR 14:56 Có nhiều người đến vu cáo Ngài nhiều điều, nhưng những lời họ khai mâu thuẫn nhau.
MAR 14:57 Bấy giờ có một vài người đứng dậy đặt điều nói dối về Chúa Giê-xu. Họ bảo,
MAR 14:58 “Chúng tôi nghe người nầy nói, ‘Ta sẽ phá sập đền thờ do tay người xây cất. Sau ba ngày, ta sẽ xây một đền thờ khác không nhờ tay người.’”
MAR 14:59 Nhưng ngay trong điều nầy, lời họ khai cũng không phù hợp với nhau.
MAR 14:60 Sau đó thầy tế lễ tối cao đứng trước mặt họ và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh không trả lời gì hết à? Anh không trả lời những điều người ta tố cáo anh sao?”
MAR 14:61 Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào. Thầy tế lễ tối cao hỏi Ngài một câu nữa, “Anh có phải là Đấng Cứu Thế, Con của Thượng Đế đáng chúc tụng không?”
MAR 14:62 Chúa Giê-xu đáp, “Phải, ta là Đấng Cứu Thế. Trong tương lai các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng quyền uy và sẽ ngự đến giữa mây trời.”
MAR 14:63 Nghe câu ấy, thầy tế lễ tối cao liền xé áo mình và tuyên bố, “Chúng ta đâu cần nhân chứng nữa!
MAR 14:64 Các ông đã nghe hắn nói phạm thượng, nghịch với Thượng Đế rồi. Các ông nghĩ sao?” Tất cả đồng thanh nói rằng Ngài có tội đáng bị xử tử.
MAR 14:65 Một số người ở đó phỉ nhổ Ngài. Họ bịt mắt Ngài lại, đấm Ngài mấy cái rồi bảo, “Hãy trổ tài nói tiên tri của ngươi đi! Rồi các lính hầu vừa giải Ngài đi vừa đánh đập Ngài.”
MAR 14:66 Lúc Phia-rơ đang đứng trong sân, thì một đứa tớ gái của thầy tế lễ tối cao đến.
MAR 14:67 Cô ta thấy Phia-rơ đang đứng sưởi gần đống lửa thì nhìn ông chăm chú. Rồi cô bảo, “Ông cũng ở với ông Giê-xu người Na-xa-rét phải không?”
MAR 14:68 Nhưng Phia-rơ chối phăng và bảo, “Tôi không hiểu cô nói gì.” Khi ông bỏ đi về phía cổng sân thì gà gáy.
MAR 14:69 Đứa tớ gái thấy Phia-rơ đứng đó liền nói với mấy người đứng quanh lần nữa, “Ông nầy cũng là một trong những người thuộc bọn đó.”
MAR 14:70 Một lần nữa Phia-rơ lại chối. Lát sau, mấy người đứng gần Phia-rơ lên tiếng, “Đúng rồi, anh là một trong những người ấy, vì anh cũng là người miền Ga-li-lê.”
MAR 14:71 Phia-rơ liền thề rằng, “Tôi không hề biết người mà các ông nói đâu.”
MAR 14:72 Lập tức gà gáy lần thứ nhì. Ông chợt nhớ lại lời Chúa Giê-xu đã bảo, “Trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối ta ba lần, bảo là không biết ta.” Quá xúc động, Phia-rơ bật khóc.
MAR 15:1 Sáng sớm hôm sau các giới trưởng tế, các bô lão, các giáo sư luật và toàn thể hội đồng Do-thái lập mưu. Họ trói Ngài lại, dẫn đi giải qua cho Phi-lát là quan tổng đốc.
MAR 15:2 Phi-lát hỏi Ngài, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?” Chúa Giê-xu đáp, “Đúng như lời quan nói.”
MAR 15:3 Các giới trưởng tế tố cáo Ngài đủ điều.
MAR 15:4 Phi-lát hỏi Chúa Giê-xu một câu nữa, “Anh thấy họ tố cáo anh đủ thứ không? Anh không chịu đối đáp gì cả sao?”
MAR 15:5 Nhưng Chúa Giê-xu im lặng khiến Phi-lát vô cùng ngạc nhiên.
MAR 15:6 Cứ mỗi năm vào dịp lễ Vượt qua, quan tổng đốc thường hay ân xá cho một tên tù phạm theo ý dân xin.
MAR 15:7 Lúc ấy có tên Ba-ra-ba đang ngồi tù với mấy tên phản loạn. Chúng đã phạm tội giết người trong một vụ bạo động.
MAR 15:8 Dân chúng đến xin Phi-lát ân xá cho một tù nhân theo thông lệ.
MAR 15:9 Nên Phi-lát hỏi họ, “Các ông có muốn tôi ân xá vua dân Do-thái không?”
MAR 15:10 Phi-lát biết rõ là do lòng ganh ghét mà các trưởng tế giải Chúa Giê-xu đến cho mình.
MAR 15:11 Nhưng các trưởng tế xúi giục dân chúng xin tha Ba-ra-ba chứ đừng tha Chúa Giê-xu.
MAR 15:12 Phi-lát lại hỏi dân chúng một lần nữa, “Còn người mà các anh gọi là vua dân Do-thái thì tôi phải xử làm sao đây?”
MAR 15:13 Dân chúng quát lớn, “Đóng đinh hắn đi!”
MAR 15:14 Phi-lát hỏi, “Tại sao? Ông ta đã làm điều gì phạm pháp đâu?” Nhưng họ lại hét lớn hơn nữa, “Đóng đinh hắn đi!”
MAR 15:15 Phi-lát muốn làm vừa lòng dân chúng nên tha Ba-ra-ba cho họ. Sau khi cho đánh đòn Chúa Giê-xu, ông giao Ngài cho các tên lính mang đi đóng đinh.
MAR 15:16 Bọn lính mang Chúa Giê-xu vào trong dinh tổng đốc gọi là tổng dinh, và tập họp tất cả các quân sĩ lại.
MAR 15:17 Chúng lấy áo dài tím mặc cho Chúa Giê-xu và dùng nhành gai nhọn làm mão đội lên đầu Ngài.
MAR 15:18 Rồi chúng bắt đầu kêu, “Muôn tâu, vua dân Do-thái!”
MAR 15:19 Bọn lính lấy gậy đập đầu Ngài nhiều lần. Chúng nhổ vào mặt Ngài và chế giễu Ngài bằng cách quì gối xuống giả vờ bái lạy Ngài.
MAR 15:20 Sau khi chế giễu xong bọn lính cởi áo tím của Ngài ra và mặc lại áo quần cho Ngài. Rồi chúng dẫn Ngài ra khỏi dinh để mang đi đóng đinh.
MAR 15:21 Có một người tên Xi-môn gốc xứ Xi-ren, cha của A-lịch-sơn và Ru-phu, từ ngoài đồng trở về thành. Bọn lính bắt ông ta phải vác cây thập tự thế cho Chúa Giê-xu.
MAR 15:22 Chúng đưa Ngài đến một nơi gọi là Gô-gô-tha nghĩa là Đồi Sọ.
MAR 15:23 Bọn lính định cho Chúa Giê-xu uống rượu trộn với mộc dược, nhưng Ngài không chịu uống.
MAR 15:24 Các tên lính đóng đinh Chúa Giê-xu và chia áo quần của Ngài bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào.
MAR 15:25 Lúc chúng đóng đinh Chúa Giê-xu là chín giờ sáng.
MAR 15:26 Có một bảng treo lên ghi án Ngài như sau: vua dân do-thái.
MAR 15:27 Chúng cũng treo hai tên cướp lên hai cây thập tự kế bên Ngài, một tên bên phải, một tên bên trái.
MAR 15:28 
MAR 15:29 Người qua kẻ lại sỉ nhục Ngài và lắc đầu, “Ê, anh nói anh sẽ phá đền thờ rồi xây lại trong ba ngày,
MAR 15:30 Bây giờ hãy tự cứu mình đi! Hãy xuống khỏi cây thập tự đi!”
MAR 15:31 Các giới trưởng tế và các giáo sư luật cũng chế giễu Ngài. Họ bảo nhau, “Hắn cứu người khác được mà cứu mình không được.
MAR 15:32 Nếu hắn thật là Đấng Cứu Thế, vua dân Ít-ra-en thì có giỏi nhảy xuống khỏi cây thập tự đi. Làm được vậy chúng ta mới tin.” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng sỉ nhục Ngài.
MAR 15:33 Từ giữa trưa, khắp xứ đều tối mịt hơn ba tiếng đồng hồ.
MAR 15:34 Đến ba giờ chiều Chúa Giê-xu kêu lớn, “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bách-tha-ni.” Nghĩa là, “Thượng Đế của tôi ơi, Thượng Đế của tôi ơi, sao Ngài bỏ tôi?”
MAR 15:35 Mấy người đứng đó nghe vậy bảo nhau rằng, “Nghe kìa, hắn đang kêu Ê-li.”
MAR 15:36 Có người ở đó chạy đi lấy một miếng bông đá, nhúng đầy giấm, cột vào một cái que đưa lên cho Ngài uống và bảo, “Chúng ta hãy xem thử Ê-li có đến đem hắn xuống khỏi cây thập tự không.”
MAR 15:37 Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn nữa rồi qua đời.
MAR 15:38 Cái màn trong đền thờ bị xé toạc làm đôi từ trên xuống dưới.
MAR 15:39 Viên sĩ quan đứng trước cây thập tự của Chúa Giê-xu thấy Ngài chết như thế liền bảo, “Người nầy đúng là Con Thượng Đế!”
MAR 15:40 Có mấy người đàn bà đứng xa xa nhìn; trong số đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Xa-lô-mê, Ma-ri mẹ của Gia-cơ (Gia-cơ là con út của Ma-ri) và Giô-xê.
MAR 15:41 Các bà nầy đã theo Chúa Giê-xu từ khi Ngài ở miền Ga-li-lê và phục vụ Ngài. Nhiều người đàn bà khác lên Giê-ru-sa-lem với Ngài cũng có mặt ở đó.
MAR 15:42 Hôm ấy là Ngày Chuẩn Bị, nghĩa là hôm trước ngày Sa-bát. Buổi chiều ngày ấy,
MAR 15:43 Giô-xép vùng A-ri-ma-thia can đảm đến gặp Phi-lát xin xác Chúa Giê-xu. Giô-xép, một hội viên quan trọng của Hội Đồng Do-thái, là một trong những người trông chờ Nước Trời hiện đến.
MAR 15:44 Phi-lát ngạc nhiên khi nghe Chúa Giê-xu chết nhanh như thế, nên ông gọi một sĩ quan hỏi để biết Ngài đã chết lâu chưa.
MAR 15:45 Sau khi nghe viên sĩ quan báo cáo thì Phi-lát giao xác Ngài cho Giô-xép.
MAR 15:46 Giô-xép có mua vải liệm, nên sau khi mang xác Chúa Giê-xu xuống khỏi cây thập tự thì quấn trong vải ấy. Ông đặt xác Ngài vào ngôi mộ đục từ vách đá. Rồi ông lăn một tảng đá lớn chận cửa mộ lại.
MAR 15:47 Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri mẹ của Giô-xê nhìn thấy chỗ chôn Chúa.
MAR 16:1 Đến hôm sau ngày Sa-bát, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ và Xa-lô-mê mua thuốc thơm để xức xác Chúa Giê-xu.
MAR 16:2 Sáng sớm hôm ấy tức ngày đầu tuần lễ, khi vừa rạng đông, các bà đi đến mộ.
MAR 16:3 Họ hỏi nhau, “Ai sẽ lăn giùm tảng đá lớn chận cửa mộ cho chúng ta đây?”
MAR 16:4 Nhưng khi nhìn, thì họ thấy tảng đá, mặc dù rất lớn, đã được lăn đi rồi.
MAR 16:5 Bước vào mộ, các bà thấy một thanh niên mặc áo trắng ngồi bên phải, họ hoảng hồn.
MAR 16:6 Nhưng anh bảo, “Các chị đi tìm Chúa Giê-xu Na-xa-rét, Đấng đã bị đóng đinh. Đừng sợ! Ngài đã sống lại từ kẻ chết rồi, Ngài không có đây đâu. Hãy xem! Đây là chỗ người ta đã đặt xác Ngài.
MAR 16:7 Bây giờ các chị hãy đi bảo với môn đệ Ngài và Phia-rơ rằng, ‘Chúa Giê-xu sẽ đi đến miền Ga-li-lê, các ông sẽ gặp Ngài tại đó như Ngài đã bảo trước với các ông.’”
MAR 16:8 Sững sờ và run rẩy vì sợ, các bà bỏ chạy khỏi mộ. Họ không dám thuật cho ai việc đã xảy ra, vì quá kinh hoàng.
MAR 16:9 Sau khi Chúa Giê-xu sống lại từ trong kẻ chết vào ngày đầu tuần, Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len là người được Ngài đuổi bảy quỉ dữ ra.
MAR 16:10 Sau khi Ma-ri gặp Chúa Giê-xu, cô đi thuật lại cho các môn đệ đang buồn thảm khóc than.
MAR 16:11 Nhưng khi nghe Ma-ri bảo rằng Chúa Giê-xu đã sống và chính cô ta đã trông thấy Chúa, thì họ không tin.
MAR 16:12 Sau đó Chúa Giê-xu lấy hình dạng khác hiện ra cùng hai môn đệ, trong khi họ đang đi về miền quê.
MAR 16:13 Họ trở về thuật lại chuyện ấy cho các môn đệ khác nhưng các môn đệ cũng không tin.
MAR 16:14 Sau đó Chúa Giê-xu hiện ra cùng mười một môn đệ lúc họ đang ăn, quở trách họ vì họ cứng lòng không chịu tin những người đã thấy Ngài sống lại từ kẻ chết.
MAR 16:15 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Các con hãy đi khắp nơi trên thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
MAR 16:16 Ai tin và chịu lễ báp-têm sẽ được cứu, ai không tin sẽ bị kết tội.
MAR 16:17 Người tin sẽ có thể làm những dấu lạ sau đây: Nhân danh ta đuổi quỉ. Họ sẽ nói các thứ ngôn ngữ mới.
MAR 16:18 Họ có thể bắt rắn trong tay hoặc uống độc dược mà không hại gì. Họ đặt tay trên kẻ đau thì kẻ đau sẽ lành.”
MAR 16:19 Sau khi Chúa Giê-xu nói những lời ấy xong với các môn đệ thì Ngài được đưa về thiên đàng và ngồi bên phải Thượng Đế.
MAR 16:20 Các môn đệ đi khắp nơi trên thế giới rao truyền Tin Mừng cho mọi người và được Chúa trợ giúp. Chúa cũng làm vững lời giảng về Tin Mừng của họ bằng những phép lạ kèm theo.
LUK 1:1 Nhiều người đã tường thuật những việc xảy ra giữa chúng ta.
LUK 1:2 Họ ghi lại những gì chúng ta đã nghe từ người khác là những người đã chứng kiến những việc ấy từ đầu, và phục vụ Thượng Đế bằng cách phổ biến lời của Chúa cho mọi người.
LUK 1:3 Thưa ngài Thi-ô-phi-lơ, vì tôi cũng đã nghiên cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, nên tôi thấy cần phải thuật lại cho ngài. Tôi sắp xếp những chuyện ấy
LUK 1:4 để ngài biết điều mình đã học là xác thật.
LUK 1:5 Trong thời kỳ vua Hê-rốt cai trị xứ Giu-đia, có một thầy tế lễ tên Xa-cha-ri thuộc nhóm A-bi-gia. Ê-li-xa-bét, vợ Xa-cha-ri thuộc dòng họ A-rôn.
LUK 1:6 Xa-cha-ri và Ê-li-xa-bét sống cuộc đời thánh thiện trước mặt Thượng Đế. Cả hai đều vâng giữ những lời dạy của Chúa và luật lệ Ngài một cách hoàn toàn, không chỗ nào chê trách được.
LUK 1:7 Nhưng hai ông bà không có con, vì Ê-li-xa-bét không thể sinh con được. Hơn nữa, cả hai người đều cao tuổi.
LUK 1:8 Một hôm Xa-cha-ri đang thi hành nhiệm vụ tế lễ trước mặt Thượng Đế, vì ngày đó là phiên của nhóm ông.
LUK 1:9 Theo tục lệ bắt thăm giữa các thầy tế lễ, Xa-cha-ri trúng thăm để vào đốt hương nơi đền thờ của Chúa.
LUK 1:10 Bên ngoài có rất đông người đang cầu nguyện trong giờ dâng hương.
LUK 1:11 Bỗng một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên phải bàn dâng hương.
LUK 1:12 Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri giật mình hốt hoảng.
LUK 1:13 Nhưng thiên sứ trấn an, “Xa-cha-ri ơi, đừng sợ. Thượng Đế đã nghe lời cầu nguyện của ông rồi. Ê-li-xa-bét, vợ ông sẽ sinh một trai, ông hãy đặt tên là Giăng.
LUK 1:14 Con ấy sẽ mang niềm vui sướng cho ông, và nhiều người sẽ mừng rỡ vì nó ra đời.
LUK 1:15 Giăng sẽ làm một vĩ nhân cho Chúa; sẽ không uống rượu hay thức uống say, và ngay từ khi mới sinh ra đã được đầy dẫy Thánh Linh.
LUK 1:16 Giăng sẽ đưa nhiều người trong Ít-ra-en trở về với Thượng Đế là Chúa mình.
LUK 1:17 Người sẽ đi trước mặt Chúa với thần linh và năng quyền của Ê-li. Người sẽ làm cho cha mẹ và con cái hòa thuận với nhau, và đưa những kẻ bất phục tùng Thượng Đế trở về đường chánh, để chuẩn bị dân chúng chào mừng Chúa đến.”
LUK 1:18 Xa-cha-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao tôi biết được lời ông nói là đúng? Vì tôi đã cao tuổi rồi còn vợ tôi cũng không trẻ trung gì.”
LUK 1:19 Thiên sứ đáp, “Tôi là Gáp-ri-ên đứng trước mặt Thượng Đế. Ngài sai tôi đến để báo tin mừng nầy cho ông.
LUK 1:20 Bây giờ hãy nghe đây! Ông sẽ bị câm cho đến ngày những điều tôi nói được thành tựu, vì ông không tin điều tôi nói. Những điều ấy chắc chắn sẽ xảy ra.”
LUK 1:21 Bên ngoài dân chúng đứng chờ Xa-cha-ri. Họ ngạc nhiên vì Xa-cha-ri ở quá lâu trong đền thờ.
LUK 1:22 Khi ông đi ra thì Xa-cha-ri không nói được với họ. Dân chúng hiểu ngay là ông ta đã thấy chuyện lạ trong đền thờ. Ông chỉ có thể ra dấu cho họ trong khi vẫn câm.
LUK 1:23 Lúc mãn phiên phục vụ trong đền thờ, Xa-cha-ri trở về nhà.
LUK 1:24 Sau đó Ê-li-xa-bét, vợ Xa-cha-ri thụ thai. Bà ở biệt trong nhà suốt năm tháng trời. Ê-li-xa-bét nói rằng,
LUK 1:25 “Hãy xem điều Chúa đã làm cho tôi! Đồng bào tôi xấu hổ về tôi nhưng Chúa đã lấy sự xấu hổ khỏi tôi.”
LUK 1:26 Sau khi Ê-li-xa-bét mang thai được sáu tháng thì Thượng Đế sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến Na-xa-rét, một thị trấn miền Ga-li-lê
LUK 1:27 gặp một trinh nữ. Cô đã hứa hôn với một người tên Giô-xép thuộc dòng họ vua Đa-vít. Cô tên Ma-ri.
LUK 1:28 Thiên sứ đến gặp cô và nói, “Chào cô! Chúa đã ban phúc cho cô và ở cùng cô.”
LUK 1:29 Nhưng Ma-ri sửng sốt về lời chào của thiên sứ, không hiểu lời ấy có nghĩa gì.
LUK 1:30 Thiên sứ bảo cô, “Cô Ma-ri ơi, đừng sợ; Thượng Đế đã ban ân phúc Ngài trên cô.
LUK 1:31 Hãy nghe đây. Cô sẽ mang thai và sinh một bé trai, cô hãy đặt tên là Giê-xu.
LUK 1:32 Em bé ấy sẽ rất cao trọng và được gọi là Con của Đấng Tối Cao. Thượng Đế sẽ cho Ngài ngôi vua Đa-vít là tổ tiên Ngài.
LUK 1:33 Ngài sẽ trị vì con cháu nhà Gia cốp mãi mãi. Nước Ngài còn đời đời.”
LUK 1:34 Ma-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao chuyện ấy xảy ra được, trong khi tôi là một trinh nữ?”
LUK 1:35 Thiên sứ đáp, “Thánh Linh sẽ đến trên cô và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ che phủ cô. Vì thế mà hài nhi sinh ra sẽ là hài nhi thánh và được gọi là Con Thượng Đế.
LUK 1:36 Hiện thời Ê-li-xa-bét, bà con cô đang mang thai một bé trai, mặc dù bà rất cao tuổi. Ai cũng nghĩ bà ấy không thể nào sinh con được, tuy nhiên bà đã mang thai được sáu tháng rồi.
LUK 1:37 Vì việc gì Thượng Đế làm cũng được cả!”
LUK 1:38 Ma-ri thưa, “Tôi đây là đầy tớ của Chúa. Xin việc ấy được thành theo điều người nói!” Rồi thiên sứ từ giã Ma-ri.
LUK 1:39 Ma-ri vội vã đi tới một thị trấn trong vùng đồi núi miền Giu-đia.
LUK 1:40 Cô đến nhà Xa-cha-ri và chào Ê-li-xa-bét.
LUK 1:41 Khi Ê-li-xa-bét nghe tiếng Ma-ri chào thì bào thai trong bụng bà nhảy lên và Ê-li-xa-bét được đầy Thánh Linh.
LUK 1:42 Bà kêu lên, “Thượng Đế đã ban phúc cho chị nhiều hơn các phụ nữ khác và Ngài cũng ban phúc cho hài nhi chị sắp sinh ra.
LUK 1:43 Tại sao tôi được diễm phúc nầy, là mẹ của Chúa tôi đến thăm tôi?
LUK 1:44 Khi tôi vừa nghe tiếng của chị, thì bào thai trong bụng tôi nhảy mừng.
LUK 1:45 Chị được ân phúc, vì chị tin rằng điều gì Chúa nói cùng với chị sẽ thành tựu.”
LUK 1:46 Rồi Ma-ri nói rằng, “Linh hồn tôi ca tụng Chúa;
LUK 1:47 Lòng tôi vui mừng trong Thượng Đế là Chúa Cứu Thế của tôi,
LUK 1:48 vì Ngài đoái đến đầy tớ gái hèn mọn của Ngài. Từ nay về sau mọi người sẽ cho tôi là người có phúc,
LUK 1:49 vì Đấng Toàn Năng đã làm những điều kỳ diệu cho tôi. Danh Ngài là Thánh.
LUK 1:50 Thượng Đế sẽ tỏ lòng nhân từ của Ngài cho những người thờ kính và phục vụ Ngài đến mãi mãi.
LUK 1:51 Ngài đã làm những việc lớn lao do quyền năng của Ngài. Ngài phân tán những kẻ kiêu ngạo và kẻ tự đề cao mình.
LUK 1:52 Ngài hạ bệ các kẻ cầm quyền khỏi ngôi họ và nâng những kẻ khiêm nhường lên.
LUK 1:53 Ngài cho những kẻ đói đầy đủ thức ăn ngon, và đuổi những kẻ giàu đi ra tay không.
LUK 1:54 Ngài giúp đỡ tôi tớ Ngài là dân Ít-ra-en, và không quên tỏ ra lòng nhân từ của Ngài đối với họ
LUK 1:55 như Ngài đã hứa cùng tổ tiên của chúng ta, cùng Áp-ra-ham và con cháu người đến mãi mãi.”
LUK 1:56 Ma-ri ở chơi với Ê-li-xa-bét khoảng ba tháng rồi trở về nhà.
LUK 1:57 Đến kỳ sinh nở, Ê-li-xa-bét sinh ra một bé trai.
LUK 1:58 Láng giềng và bà con đến chung vui vì nghe Chúa đã tỏ lòng nhân từ đối với bà.
LUK 1:59 Khi em bé được tám ngày, thì người ta đến làm phép cắt dương bì cho em. Họ định đặt tên em là Xa-cha-ri theo tên cha,
LUK 1:60 nhưng bà mẹ bảo, “Không! Phải đặt tên nó là Giăng.”
LUK 1:61 Họ bảo Ê-li-xa-bét, “Nhưng trong họ hàng bà không ai có tên ấy.”
LUK 1:62 Họ liền ra dấu cho cha đứa bé hỏi xem ông muốn đặt tên gì.
LUK 1:63 Xa-cha-ri xin tấm bảng nhỏ rồi viết lên, “Tên nó là Giăng.” Mọi người đều kinh ngạc.
LUK 1:64 Ngay lúc ấy Xa-cha-ri nói được trở lại và ca tụng Thượng Đế.
LUK 1:65 Hàng xóm, láng giềng đâm ra lo sợ, còn dân chúng khắp vùng đồi núi Giu-đia không ngớt bàn tán về chuyện đó.
LUK 1:66 Những người nghe chuyện hỏi nhau rằng, “Em bé ấy lớn lên sẽ ra sao?” vì quyền năng của Chúa ở cùng cậu ấy.
LUK 1:67 Bấy giờ Xa-cha-ri, cha của Giăng đầy Thánh Linh và nói tiên tri:
LUK 1:68 “Chúng ta hãy ca ngợi Chúa là Thượng Đế của Ít-ra-en, vì Ngài đến cứu giúp dân Ngài và giải thoát họ.
LUK 1:69 Ngài đã cho chúng ta một Đấng Cứu Thế quyền năng, xuất thân từ gia đình Đa-vít, tôi tớ Ngài.
LUK 1:70 Qua các nhà tiên tri thánh của Chúa đã sống từ ngàn xưa, Ngài hứa sẽ hoàn thành điều ấy:
LUK 1:71 Ngài hứa sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù và khỏi thế lực của những kẻ ghét chúng ta.
LUK 1:72 Ngài hứa sẽ tỏ lòng nhân từ cho cha ông chúng ta và cam kết sẽ giữ lời hứa thánh của Ngài.
LUK 1:73 Ngài hứa với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta
LUK 1:74 rằng Ngài sẽ giải cứu chúng ta khỏi quyền lực của kẻ thù để chúng ta có thể phục vụ Ngài mà không sợ hãi,
LUK 1:75 để chúng ta trở nên thánh thiện và nhân đức trước mặt Ngài suốt đời chúng ta.
LUK 1:76 Bây giờ, con ơi, con sẽ được gọi là nhà tiên tri của Đấng Tối Cao. Con sẽ đi trước để dọn đường cho Chúa.
LUK 1:77 Con sẽ khiến cho dân Ngài biết là họ sẽ được cứu, khi tội họ được xóa hết.
LUK 1:78 Do lòng nhân từ thương xót của Thượng Đế, một bình minh mới từ thiên đàng sẽ chiếu trên chúng ta.
LUK 1:79 Ánh sáng sẽ chiếu trên những kẻ sống trong tăm tối, ở dưới bóng chết, và dẫn chúng ta vào lối đi hòa bình.”
LUK 1:80 Đứa trẻ lớn lên, tinh thần thêm mạnh mẽ. Giăng sống trong đồng hoang cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.
LUK 2:1 Lúc ấy Xê-xa Au-gút-tơ ra sắc lệnh cho tất cả công dân thuộc các quốc gia dưới quyền của đế quốc La-mã phải đăng bộ.
LUK 2:2 Đây là lần đăng bộ đầu tiên được thực hiện khi Qui-ri-niu làm tổng đốc xứ Xy-ri.
LUK 2:3 Mọi người đều trở về nguyên quán để đăng bộ.
LUK 2:4 Vì Giô-xép thuộc dòng họ Đa-vít, nên ông từ Na-xa-rét, một thị trấn miền Ga-li-lê, đi đến Bết-lê-hem thuộc miền Giu-đia, cũng gọi là thành Đa-vít.
LUK 2:5 Ông đăng bộ cùng với Ma-ri là người đã hứa hôn với mình, lúc ấy đang mang thai.
LUK 2:6 Trong khi hai người ở đó, thì Ma-ri đến ngày sinh.
LUK 2:7 Cô sinh con trai đầu lòng, lấy vải bọc em bé và đặt nằm trong máng ăn súc vật, vì quán trọ không còn chỗ.
LUK 2:8 Đêm ấy, có mấy anh chăn chiên thức canh bầy giữa đồng trống.
LUK 2:9 Bỗng một thiên sứ của Chúa xuất hiện trước mặt họ. Vinh quang của Chúa chói lòa xung quanh. Các anh chăn chiên hốt hoảng.
LUK 2:10 Thiên sứ liền trấn an, “Đừng sợ. Tôi báo cho các anh một tin mừng, sẽ là niềm vui lớn cho toàn dân.
LUK 2:11 Hôm nay Đấng Cứu Thế đã được sinh ra trong thành Đa-vít. Ngài là Cứu Chúa.
LUK 2:12 Đây là dấu hiệu để các anh nhận ra Ngài: Các anh sẽ gặp một hài nhi bọc bằng vải, nằm trong máng ăn súc vật.”
LUK 2:13 Rồi một đoàn thiên sứ rất đông từ thiên đàng nhập cùng với vị thiên sứ đầu tiên, ca vang lời chúc tụng Thượng Đế:
LUK 2:14 “Vinh danh Thánh Chúa trên trời, Hòa bình dưới thế cho kẻ làm vui lòng Ngài.”
LUK 2:15 Sau khi các thiên sứ trở về thiên đàng, mấy anh chăn chiên bảo nhau, “Chúng ta hãy đi đến Bết-lê-hem để xem sự việc mà Chúa đã báo cho chúng ta.”
LUK 2:16 Nên họ vội vàng ra đi tìm gặp được Ma-ri, Giô-xép và hài nhi mới sinh đang nằm trong máng ăn súc vật.
LUK 2:17 Khi thấy hài nhi họ liền thuật lại lời thiên sứ nói về hài nhi ấy.
LUK 2:18 Ai nấy đều kinh ngạc về lời của các anh chăn chiên.
LUK 2:19 Nhưng Ma-ri ấp ủ và suy nghĩ những lời ấy trong lòng.
LUK 2:20 Các anh chăn chiên trở về, ca ngợi và cảm tạ Thượng Đế về những gì họ đã nghe và thấy như lời thiên sứ đã bảo họ.
LUK 2:21 Tám ngày sau khi sinh ra, hài nhi được cắt dương bì và đặt tên là Giê-xu, tức là tên mà thiên sứ đã đặt cho trước khi Ma-ri mang thai.
LUK 2:22 Khi đến kỳ Ma-ri và Giô-xép phải thi hành những điều đã qui định theo luật Mô-se về lễ tẩy sạch, hai ông bà đem hài nhi Giê-xu lên Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa.
LUK 2:23 Vì luật pháp Chúa có ghi: “Mọi con trai đầu lòng phải được dâng cho Chúa.”
LUK 2:24 Ma-ri và Giô-xép cũng mang theo một của lễ để dâng theo luật Chúa viết: “Các ngươi phải dâng hai con chim cu hoặc hai con bồ câu con.”
LUK 2:25 Ở Giê-ru-sa-lem có một người tên Xi-mê-ôn. Ông là một người đạo đức và thánh thiện. Ông chờ đợi lúc Thượng Đế cất sự đau khổ khỏi dân Ít-ra-en. Ông là người có Thánh Linh ngự.
LUK 2:26 Xi-mê-ôn được Thánh Linh cho biết là ông sẽ không chết trước khi gặp Đấng Cứu Thế mà Chúa đã hứa.
LUK 2:27 Thánh Linh hướng dẫn Xi-mê-ôn lên đền thờ đúng lúc Ma-ri và Giô-xép mang hài nhi Giê-xu đến để thi hành những điều mà luật pháp qui định.
LUK 2:28 Xi-mê-ôn bế em bé trong tay và cảm tạ Thượng Đế như sau:
LUK 2:29 “Lạy Chúa, bây giờ xin cho kẻ tôi tớ Chúa qua đời bình an theo như Ngài đã nói trước.
LUK 2:30 Vì mắt con đã thấy hài nhi mà Ngài đã chuẩn bị để cứu chúng con,
LUK 2:31 mọi dân tộc sẽ thấy điều ấy.
LUK 2:32 Ngài là ánh sáng soi đường cho các dân không phải Do-thái và đem vinh dự lớn cho dân Ngài, tức dân Ít-ra-en.”
LUK 2:33 Cha và mẹ của Chúa Giê-xu rất ngạc nhiên về điều Xi-mê-ôn nói về em bé.
LUK 2:34 Rồi Xi-mê-ôn chúc phước cho gia đình và bảo Ma-ri, “Thượng Đế đã chọn em nầy để gây vấp ngã và giục giã cho nhiều người trong Ít-ra-en. Em nầy sẽ là một dấu hiệu từ Thượng Đế, mà nhiều người không chấp nhận,
LUK 2:35 để cho ý tưởng của nhiều người được phơi bày ra. Còn những gì xảy ra sẽ làm cho chị rất đau lòng.”
LUK 2:36 Có một nữ tiên tri tên An-na, xuất thân từ gia đình Pha-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. An-na đã cao tuổi lắm. Sau khi lập gia đình, bà sống với chồng được bảy năm
LUK 2:37 rồi ở góa, đến nay đã tám mươi bốn tuổi. An-na không khi nào ra khỏi đền thờ nhưng bà trung tín thờ phụng Thượng Đế, cữ ăn và cầu nguyện ngày và đêm.
LUK 2:38 Lúc Xi-mê-ôn nói, bà cũng đang đứng đó. Bà cảm tạ Thượng Đế và thuật về hài nhi Giê-xu cho những người trông chờ Thượng Đế giải phóng Giê-ru-sa-lem.
LUK 2:39 Sau khi Giô-xép và Ma-ri thi hành xong những điều luật pháp Chúa qui định, thì trở về quê nhà ở Na-xa-rét thuộc miền Ga-li-lê.
LUK 2:40 Cậu bé dần dần khôn lớn và mạnh mẽ, ân phúc của Thượng Đế ở cùng cậu.
LUK 2:41 Mỗi năm cha mẹ Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt qua.
LUK 2:42 Lúc Ngài được mười hai tuổi thì cả gia đình lên dự lễ như vẫn thường làm.
LUK 2:43 Sau các ngày lễ thì gia đình lên đường trở về nhà. Nhưng cậu Giê-xu ở nán lại Giê-ru-sa-lem mà cha mẹ cậu không hay biết.
LUK 2:44 Hai người đi suốt một ngày đường, cứ yên trí cậu đi về chung với đồng bạn. Sau đó mới bắt đầu hỏi thăm tìm cậu trong đám thân nhân và bạn hữu.
LUK 2:45 Tìm không ra nên hai người liền đi trở lại Giê-ru-sa-lem để kiếm.
LUK 2:46 Mãi ba ngày sau, họ mới tìm được cậu đang ngồi trong đền thờ chung với các giáo sư luật, vừa nghe vừa hỏi.
LUK 2:47 Ai nghe cậu cũng lấy làm ngạc nhiên về trí thông minh và những câu trả lời của cậu.
LUK 2:48 Lúc cha mẹ tìm được cậu thì cả hai người đều sửng sốt. Mẹ cậu hỏi, “Con ơi, sao con đối với cha mẹ như thế nầy? Cha mẹ hết sức lo âu cho con và đã kiếm con khắp nơi!”
LUK 2:49 Cậu Giê-xu thưa, “Cha mẹ kiếm con làm gì? Cha mẹ không biết con phải ở trong nhà của Cha con sao?”
LUK 2:50 Nhưng cả hai người đều không hiểu cậu nói gì.
LUK 2:51 Chúa Giê-xu trở về Na-xa-rét và vâng phục cha mẹ. Còn mẹ Ngài ghi nhớ vào lòng những chuyện đã xảy ra.
LUK 2:52 Chúa Giê-xu càng trở nên khôn lớn. Mọi người và Thượng Đế đều quí mến cậu.
LUK 3:1 Vào năm thứ mười lăm triều đại Xê-xa Ti-bê-ri; những nhân vật sau đây ở dưới quyền Xê-xa: Bôn-ti Phi-lát cai quản miền Giu-đia; Hê-rốt cai trị miền Ga-li-lê; Phi-líp, em Hê-rốt, cai trị miền Y-tu-ria và Tra-cô-ni; và Ly-xa-nia cai quản miền A-bi-len.
LUK 3:2 An-na và Cai-pha làm chức tế lễ tối cao. Lúc ấy có lời của Thượng Đế bảo với Giăng, con của Xa-cha-ri trong đồng hoang.
LUK 3:3 Ông đi khắp vùng quanh sông Giô-đanh giảng lễ báp-têm về sự ăn năn để được tha tội.
LUK 3:4 Như sách tiên tri Ê-sai viết: “Đây là tiếng của người kêu trong sa mạc: ‘Hãy chuẩn bị đường cho Chúa. San phẳng lối đi cho Ngài.
LUK 3:5 Mọi thung lũng phải được lấp bằng, và mọi núi đồi phải được san phẳng. Đường quanh co phải sửa cho ngay, những lối đi gồ ghề phải san bằng.
LUK 3:6 Mọi người sẽ biết sự cứu rỗi của Thượng Đế!’”
LUK 3:7 Giăng bảo những người đến để chịu lễ báp-têm rằng, “Mấy anh là loài rắn độc! Ai đã cảnh cáo để các anh tránh khỏi cơn trừng phạt sắp đến của Thượng Đế?
LUK 3:8 Hãy kết quả để chứng tỏ mình đã thực sự ăn năn. Đừng tự khoe, ‘Áp-ra-ham là ông tổ chúng tôi.’ Tôi nói cho các anh biết rằng Thượng Đế có thể biến các viên đá nầy ra con cháu Áp-ra-ham được đó.
LUK 3:9 Bây giờ cái rìu đã đặt nơi rễ cây, sẵn sàng để đốn. Cây nào không sinh trái tốt đều sẽ bị chặt hết để chụm lửa.”
LUK 3:10 Dân chúng hỏi Giăng, “Vậy chúng tôi phải làm gì?”
LUK 3:11 Giăng đáp, “Nếu ai có hai áo, hãy chia một cái cho người không có áo. Còn ai có thức ăn, cũng làm như vậy.”
LUK 3:12 Ngay cả những nhân viên thu thuế cũng đến với Giăng để chịu lễ báp-têm. Họ hỏi, “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?”
LUK 3:13 Giăng đáp, “Đừng đòi nhiều hơn số thuế mà các ông được chỉ thị phải thu.”
LUK 3:14 Các quân nhân cũng hỏi, “Còn chúng tôi thì sao? Chúng tôi phải làm gì?” Giăng trả lời, “Đừng cướp đoạt tiền của dân chúng, và cũng đừng lường gạt họ. Hãy bằng lòng về lương bổng của mình.”
LUK 3:15 Vì dân chúng đang trông mong Đấng Cứu Thế đến nên họ tự hỏi không biết Giăng có phải là Đấng ấy không.
LUK 3:16 Giăng bảo với mọi người, “Tôi làm lễ báp-têm cho các anh bằng nước, nhưng có một Đấng sẽ đến, còn cao trọng hơn tôi. Tôi không xứng đáng cúi xuống mở dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các anh bằng Thánh Linh và bằng lửa.
LUK 3:17 Ngài đến để dùng nia sàng sạch sân lúa, tách lúa và trấu ra. Lúa thì chứa vào vựa còn trấu thì đốt hết trong lửa không bao giờ tắt.”
LUK 3:18 Giăng còn giảng thêm nữa về Tin Mừng, dùng nhiều điều để khích lệ dân chúng.
LUK 3:19 Nhưng Giăng can ngăn Hê-rốt, là quan tổng đốc, vì Hê-rốt phạm tội với Hê-rô-đia, vợ của em trai mình và vì những điều độc ác khác mà Hê-rốt làm.
LUK 3:20 Hê-rốt lại còn làm một điều tệ hại hơn nữa là tống giam Giăng vào ngục.
LUK 3:21 Khi Giăng làm lễ báp-têm thì Chúa Giê-xu cũng chịu báp-têm cùng với mọi người. Trong khi Ngài đang cầu nguyện thì thiên đàng mở ra.
LUK 3:22 Thánh Linh lấy dạng chim bồ câu đậu trên Ngài. Rồi có tiếng vọng từ thiên đàng rằng, “Con là Con yêu dấu của ta, ta rất vừa lòng về con.”
LUK 3:23 Khi Chúa Giê-xu bắt đầu thi hành chức vụ thì Ngài độ ba mươi tuổi. Người ta tin rằng Ngài là con Giô-xép. Giô-xép con Hê-li.
LUK 3:24 Hê-li con Ma-thát. Ma-thát con Lê-vi. Lê-vi con Mên-ki. Mên-ki con Gian-nai. Gian-nai con Giô-xép.
LUK 3:25 Giô-xép con Ma-ta-thia. Ma-ta-thia con A-mốt. A-mốt con Na-hâm. Na-hâm con Ét-li. Ét-li con Na-gai.
LUK 3:26 Na-gai con Ma-át. Ma-át con Ma-ta-thia. Ma-ta-thia con Xê-mên. Xê-mên con Giô-xét. Giô-xét con Giô-đa.
LUK 3:27 Giô-đa con Giô-a-nan. Giô-a-nan con Rê-xa. Rê-xa con Xê-ru-ba-bên. Xê-ru-ba-bên con Sê-a-tiên. Sê-a-tiên con Nê-ri.
LUK 3:28 Nê-ri con Mên-chi. Mên-chi con Át-đi. Át-đi con Cô-sam. Cô-sam con Ên-ma-đam. Ên-ma-đam con Ê-rơ.
LUK 3:29 Ê-rơ con Giô-suê. Giô-suê con Ê-li-ê-xe. Ê-li-ê-xe con Giô-rim. Giô-rim con Ma-thát. Ma-thát con Lê-vi.
LUK 3:30 Lê-vi con Xi-mê-ôn. Xi-mê-ôn con Giu-đa. Giu-đa con Giô-xép. Giô-xép con Giô-nam. Giô-nam con Ê-li-a-kim.
LUK 3:31 Ê-li-a-kim con Mê-lia. Mê-lia con Mê-na. Mê-na con Ma-ta-tha. Ma-ta-tha con Na-than. Na-than con Đa-vít.
LUK 3:32 Đa-vít con Gie-xê. Gie-xê con Ô-bết. Ô-bết con Bô-ô. Bô-ô con Sanh-môn. Sanh-môn con Na-ách-son.
LUK 3:33 Na-ách-son con A-mi-na-đáp. A-mi-na-đáp con Át-min. Át-min con A-mi. A-mi con Hết-rôn. Hết-rôn con Phê-rê. Phê-rê con Giu-đa.
LUK 3:34 Giu-đa con Gia-cốp. Gia-cốp con Y-sác. Y-sác con Áp-ra-ham. Áp-ra-ham con Thê-ra. Thê-ra con Na-ho.
LUK 3:35 Na-ho con Xê-rúc. Xê-rúc con Rêu. Rêu con Phê-léc. Phê-léc con Ê-be. Ê-be con Sê-la.
LUK 3:36 Sê-la con Cai-nan. Cai-nan con A-phác-xác. A-phác-xác con Sem. Sem con Nô-ê. Nô-ê con La-méc.
LUK 3:37 La-méc con Mê-tu-sê-la. Mê-tu-sê-la con Ê-nóc. Ê-nóc con Gia-rết. Gia-rết con Ma-ha-la-lên. Ma-ha-la-lên con Kê-nan.
LUK 3:38 Kê-nan con Ê-nóc. Ê-nóc con Sết. Sết con A-đam. A-đam con Thượng Đế.
LUK 4:1 Chúa Giê-xu được đầy dẫy Thánh Linh từ sông Giô-đanh trở về. Thánh Linh đưa Ngài vào vùng đồng hoang
LUK 4:2 để ma quỉ cám dỗ trong bốn mươi ngày. Ngài cữ ăn suốt thời gian ấy nên sau thì Ngài đói lả.
LUK 4:3 Ma quỉ mới nói với Ngài, “Nếu anh là Con Thượng Đế, hãy biến đá nầy thành bánh đi.”
LUK 4:4 Chúa Giê-xu đáp, “Nhưng Thánh Kinh viết: ‘Con người sống không phải chỉ nhờ bánh mà thôi đâu.’”
LUK 4:5 Ma quỉ liền mang Chúa Giê-xu lên một nơi cao và chỉ cho Ngài thấy mọi nước trên thế gian trong chốc lát.
LUK 4:6 Nó bảo Ngài, “Tôi sẽ cho anh hết các quốc gia nầy luôn cả quyền lực và vinh quang của chúng. Vì tất cả đều đã được giao cho tôi, nên tôi muốn cho ai tùy ý.
LUK 4:7 Nếu anh chịu bái lạy tôi, tôi sẽ cho anh hết.”
LUK 4:8 Chúa Giê-xu đáp, “Thánh Kinh dạy: ‘Ngươi phải tôn thờ Chúa là Thượng Đế của ngươi và chỉ phục vụ một mình Ngài mà thôi.’”
LUK 4:9 Sau đó ma quỉ đưa Chúa Giê-xu đến thành Giê-ru-sa-lem và đặt Ngài lên một đỉnh cao của đền thờ. Nó nói với Ngài, “Nếu anh là Con Thượng Đế, hãy nhảy xuống đi.
LUK 4:10 Vì có lời Thánh Kinh ghi: ‘Ngài sẽ cho thiên sứ chăm sóc ngươi và bảo bọc ngươi.’
LUK 4:11 Cũng có lời viết: ‘Các thiên sứ ấy sẽ giữ ngươi trong bàn tay để chân ngươi khỏi vấp nhằm đá.’”
LUK 4:12 Chúa Giê-xu đáp, “Nhưng cũng có lời Thánh Kinh ghi: ‘Ngươi chớ nên thách thức Chúa là Thượng Đế ngươi.’”
LUK 4:13 Sau khi tìm đủ cách cám dỗ Chúa Giê-xu, ma quỉ liền bỏ đi, chờ cơ hội khác.
LUK 4:14 Chúa Giê-xu trở lại miền Ga-li-lê với đầy năng quyền của Thánh Linh. Danh tiếng Ngài đồn ra khắp cả miền ấy.
LUK 4:15 Ngài bắt đầu giảng dạy trong các hội đường, mọi người đều ca tụng Ngài.
LUK 4:16 Chúa Giê-xu trở về Na-xa-rét là nơi sinh trưởng. Vào ngày Sa-bát, theo thói quen, Ngài vào hội đường và đứng dậy đọc.
LUK 4:17 Có người đưa cho Ngài sách tiên tri Ê-sai. Ngài mở ra gặp chỗ viết:
LUK 4:18 Chúa đặt Thần Linh Ngài trong ta, vì Ngài đã chỉ định ta rao Tin Mừng cho kẻ nghèo. Ngài sai ta báo cho những kẻ bị cầm tù là họ đã được trả tự do rồi, và cho người mù biết là họ sẽ sáng mắt trở lại. Ngài sai ta giải thoát những người bị áp bức,
LUK 4:19 và báo tin thời kỳ Chúa sẽ bày tỏ lòng nhân từ của Ngài.
LUK 4:20 Chúa Giê-xu xếp sách lại, trao cho người giữ và ngồi xuống. Mọi người có mặt trong hội đường nhìn Ngài chăm chú.
LUK 4:21 Ngài bảo, “Hôm nay, những lời các ông bà vừa mới nghe đang được thực hiện!”
LUK 4:22 Mọi người đều nói tốt về Ngài. Họ lấy làm ngạc nhiên về những lời kỳ diệu mà Ngài nói ra. Họ hỏi nhau, “Đây có phải là con Giô-xép không?”
LUK 4:23 Chúa Giê-xu bảo họ, “Tôi biết các ông bà muốn nói với tôi câu ngạn ngữ: ‘Ông bác sĩ ơi, hãy tự chữa mình đi.’ Các ông bà muốn nói, ‘Những gì chúng tôi nghe ông làm ở Ca-bê-nâm thì cũng hãy làm tại tỉnh nhà nầy đi!’”
LUK 4:24 Rồi Chúa Giê-xu nói, “Tôi bảo thật, nhà tiên tri không bao giờ được chấp nhận nơi quê quán của mình cả.
LUK 4:25 Thật vậy, vào thời Ê-li có rất nhiều bà góa trong Ít-ra-en. Suốt ba năm rưỡi đằng đẵng, khắp nước Ít-ra-en không có một giọt mưa, cả xứ không nơi nào có thức ăn.
LUK 4:26 Nhưng Ê-li không được sai đến với bà nào trong số đó cả mà lại được sai đến với một bà góa ở Xa-rép-ta, một tỉnh thuộc Xi-đôn.
LUK 4:27 Trong thời nhà tiên tri Ê-li-sê có rất nhiều người mắc bệnh cùi trong Ít-ra-en nhưng không có một ai được chữa lành, chỉ một mình Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi.”
LUK 4:28 Khi dân chúng trong hội đường nghe những chuyện ấy thì tức giận.
LUK 4:29 Họ đứng dậy, đẩy Ngài ra khỏi thành phố, lôi Ngài đến bờ vực nơi thành phố được xây, định xô Ngài xuống.
LUK 4:30 Nhưng Chúa Giê-xu lách qua giữa đám đông và đi khỏi.
LUK 4:31 Chúa Giê-xu đến Ca-bê-nâm, một thị trấn miền Ga-li-lê và vào ngày Sa-bát, Ngài dạy dỗ dân chúng.
LUK 4:32 Họ rất ngạc nhiên về lối dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy bằng quyền năng.
LUK 4:33 Trong hội đường có một người đang bị ác quỉ ám. Anh la lớn,
LUK 4:34 “Giê-xu người Na-xa-rét ơi! Ngài muốn làm gì chúng tôi đây? Có phải Ngài đến để diệt chúng tôi không? Tôi biết Ngài là ai—Ngài là Đấng Thánh của Thượng Đế!”
LUK 4:35 Chúa Giê-xu mắng quỉ, “Im đi! Ra khỏi người nầy ngay!” Ác quỉ vật anh xuống đất trước mặt mọi người, rồi ra khỏi mà không gây thương tích gì cho anh.
LUK 4:36 Dân chúng vô cùng kinh ngạc bảo nhau, “Việc nầy là nghĩa làm sao? Ngài dùng quyền năng ra lệnh cho tà ma, đuổi chúng ra khỏi người ta.”
LUK 4:37 Thế là danh tiếng Ngài đồn ra khắp vùng ấy.
LUK 4:38 Rời hội đường, Chúa Giê-xu đi đến nhà Xi-môn. Bà mẹ vợ của Xi-môn đang lên cơn sốt nặng. Người ta xin Ngài chữa cho bà.
LUK 4:39 Chúa Giê-xu đến bên giường ra lệnh cho cơn sốt. Cơn sốt dứt, bà lập tức ngồi dậy và phục vụ mọi người.
LUK 4:40 Khi mặt trời lặn, dân chúng mang những người bệnh đến với Chúa Giê-xu. Ngài đặt tay trên từng người và chữa lành cho tất cả.
LUK 4:41 Tà ma cũng ra khỏi nhiều người và la lớn, “Ngài là Con Thượng Đế.” Nhưng Chúa Giê-xu cấm chúng không được nói ra vì chúng nó biết Ngài là Đấng Cứu Thế.
LUK 4:42 Sáng sớm tinh sương, Chúa Giê-xu ra nơi vắng vẻ. Dân chúng kéo nhau đi tìm Ngài. Khi tìm được rồi, họ muốn giữ Ngài lại không cho đi.
LUK 4:43 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta phải rao giảng Nước Trời cho các tỉnh khác nữa. Vì lý do ấy mà Thượng Đế sai ta đến.”
LUK 4:44 Rồi Ngài tiếp tục giảng dạy trong các hội đường miền Giu-đia.
LUK 5:1 Một ngày nọ, khi Chúa Giê-xu đang đứng bên hồ Ga-li-lê, thì nhiều người chen lấn quanh Ngài để nghe lời của Thượng Đế.
LUK 5:2 Chúa Giê-xu thấy có hai chiếc thuyền đậu gần bờ hồ. Các người đánh cá đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới.
LUK 5:3 Ngài bước lên một trong hai chiếc thuyền, là chiếc của Xi-môn. Ngài bảo ông đẩy thuyền ra khỏi bờ một chút, rồi Ngài ngồi trong thuyền dạy dỗ dân chúng.
LUK 5:4 Sau khi dạy xong, Ngài bảo Xi-môn, “Anh cho thuyền ra chỗ nước sâu buông lưới xuống bắt ít cá đi.”
LUK 5:5 Xi-môn đáp, “Thưa thầy, chúng tôi đã vất vả đánh cá suốt đêm qua mà chẳng được con nào hết. Nhưng vì thầy bảo buông lưới, thì tôi xin vâng lời.”
LUK 5:6 Lúc làm theo lời Chúa Giê-xu bảo, họ kéo được một mẻ cá nhiều đến nỗi lưới sắp đứt.
LUK 5:7 Họ liền gọi đồng bạn từ thuyền khác đến giúp. Mấy người kia đến, đổ cá vào đầy ngập cả hai thuyền, đến nỗi gần chìm.
LUK 5:8 Xi-môn Phia-rơ thấy vậy liền quì trước mặt Chúa Giê-xu và thưa, “Lạy Chúa xin ra khỏi con vì con là người tội lỗi.”
LUK 5:9 Ông và mấy người đánh cá kia kinh ngạc vì số cá đánh được.
LUK 5:10 Gia-cơ và Giăng, con của Xê-bê-đê, cũng vậy. Hai người đó là bạn đồng nghiệp với Xi-môn. Chúa Giê-xu bảo Xi-môn, “Đừng sợ. Từ nay anh sẽ đánh lưới người.”
LUK 5:11 Sau khi đưa thuyền vào bờ, họ liền bỏ tất cả để đi theo Ngài.
LUK 5:12 Lúc Chúa Giê-xu đến một trong những tỉnh miền ấy thì có một người mắc bệnh cùi, lở lói đầy mình. Trông thấy Chúa Giê-xu, anh ta quì xuống van xin, “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Ngài có thể chữa lành cho con được.”
LUK 5:13 Chúa Giê-xu giơ tay rờ anh và nói, “Ta muốn. Hãy lành bệnh đi!” Tức thì bệnh biến mất.
LUK 5:14 Rồi Chúa Giê-xu dặn anh, “Đừng cho ai biết việc nầy, nhưng hãy đi trình diện thầy tế lễ và dâng của lễ để chứng nhận anh lành bệnh theo như Mô-se qui định. Như thế cho mọi người thấy anh đã lành.”
LUK 5:15 Nhưng tin đồn về Ngài lại càng lan rộng hơn nữa. Nhiều người đến nghe Ngài giảng dạy và được chữa lành.
LUK 5:16 Tuy nhiên Chúa Giê-xu hay đi lánh một mình để cầu nguyện.
LUK 5:17 Một ngày nọ, Chúa Giê-xu đang dạy dỗ dân chúng, trong đó có cả những người Pha-ri-xi cùng các giáo sư luật đến từ các tỉnh miền Ga-li-lê, Giu-đia và Giê-ru-sa-lem. Thượng Đế ban quyền cho Ngài chữa lành nhiều người.
LUK 5:18 Ngay lúc đó, có mấy người khiêng một người bại nằm trên cáng. Họ tìm cách khiêng anh đến trước mặt Chúa Giê-xu,
LUK 5:19 nhưng không được vì dân chúng chen chúc quá đông. Cho nên họ leo lên mái rồi thòng cáng của người bại xuống qua một khoảng trống trên trần nhà giữa đám đông ngay trước mặt Chúa Giê-xu.
LUK 5:20 Nhìn thấy đức tin của họ, Chúa Giê-xu bảo, “Bạn ơi, tội bạn được tha rồi.”
LUK 5:21 Mấy giáo sư luật và các người Pha-ri-xi nghĩ thầm, “Ông nầy là ai mà ăn nói ngang nhiên như mình là Trời vậy? Chỉ có một mình Trời mới có quyền tha tội được thôi.”
LUK 5:22 Nhưng Chúa Giê-xu biết ý nghĩ họ, nên Ngài nói, “Tại sao các ông nghĩ thầm như thế?
LUK 5:23 Giữa hai điều nầy, điều nào dễ tin hơn: Hoặc là nói, ‘Tội anh đã được tha,’ hay là nói, ‘Hãy đứng dậy đi’?
LUK 5:24 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông biết Con Người có quyền tha tội.” Nên Chúa Giê-xu nói với người bại, “Tôi bảo anh đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi về nhà.”
LUK 5:25 Anh liền đứng phắt dậy, cuốn chăn chiếu và vừa đi về nhà, vừa ca ngợi Thượng Đế.
LUK 5:26 Dân chúng vô cùng kinh ngạc và ca tụng Thượng Đế. Họ đầy lòng ngưỡng mộ và thốt lên, “Hôm nay chúng ta được thấy những điều kỳ diệu!”
LUK 5:27 Chúa Giê-xu đi ra, thấy một nhân viên thu thuế tên Lê-vi đang ngồi ở trạm. Chúa Giê-xu bảo ông, “Hãy theo ta!”
LUK 5:28 Lê-vi liền đứng dậy, bỏ tất cả để đi theo Ngài.
LUK 5:29 Sau đó ông làm tiệc lớn thết đãi Chúa Giê-xu tại nhà mình. Cũng có nhiều nhân viên thu thuế và những người khác cùng dự bữa ăn nữa.
LUK 5:30 Nhưng các người Pha-ri-xi và những giáo sư dạy luật giùm người Pha-ri-xi phàn nàn với các môn đệ Chúa Giê-xu, “Tại sao mấy anh ăn chung với bọn thu thuế và kẻ có tội như thế?”
LUK 5:31 Chúa Giê-xu đáp, “Người khoẻ mạnh đâu cần bác sĩ. Chỉ có người bệnh mới cần.
LUK 5:32 Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà là kêu gọi tội nhân ăn năn.”
LUK 5:33 Họ hỏi Chúa Giê-xu, “Các môn đệ của Giăng thường cữ ăn một thời gian và cầu nguyện như người Pha-ri-xi hay làm. Còn các môn đệ thầy lúc nào cũng ăn uống.”
LUK 5:34 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông có thể nào bắt khách dự tiệc cưới của chú rể cữ ăn lúc tiệc đang diễn tiến không?
LUK 5:35 Khi nào chú rể ra đi thì lúc ấy họ mới cữ ăn.”
LUK 5:36 Ngài bảo họ như sau, “Không ai cắt vải của áo mới để vá lỗ rách của áo cũ. Vì làm như thế sẽ hư áo mới, còn miếng vải của áo mới cũng không cùng màu với áo cũ.
LUK 5:37 Cũng vậy, không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ vì rượu mới sẽ làm nứt bầu, rượu đổ ra mất mà bầu cũng bị hư.
LUK 5:38 Rượu mới phải đựng trong bầu da mới.
LUK 5:39 Không ai uống rượu cũ mà còn đòi rượu mới vì người đó sẽ bảo, ‘Rượu cũ ngon hơn.’”
LUK 6:1 Vào ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đi ngang qua một đồng lúa. Các môn đệ bứt bông lúa, vò trong tay rồi ăn.
LUK 6:2 Vài người Pha-ri-xi bảo, “Tại sao mấy anh làm điều trái phép trong ngày Sa-bát?”
LUK 6:3 Chúa Giê-xu đáp, “Vậy là các ông chưa đọc truyện Đa-vít làm trong khi ông ta và những bạn đồng hành bị đói à?
LUK 6:4 Ông vào đền thờ của Thượng Đế, lấy bánh thánh ăn, thứ bánh mà chỉ có những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi. Ông lại còn cho những bạn đồng hành ăn nữa.”
LUK 6:5 Rồi Ngài bảo người Pha-ri-xi “Con Người cũng là Chúa ngày Sa-bát.”
LUK 6:6 Một ngày Sa-bát khác, Chúa Giê-xu vào hội đường dạy dỗ. Tại đó có một người bị liệt bàn tay phải.
LUK 6:7 Các giáo sư luật và mấy người Pha-ri-xi theo dõi Ngài thật kỹ, xem thử Ngài có chữa bệnh trong ngày Sa-bát không, để tố cáo Ngài.
LUK 6:8 Biết ý nghĩ của họ nên Ngài bảo người bị liệt bàn tay, “Anh hãy ra đứng giữa mọi người đây.” Anh đứng lên giữa mọi người.
LUK 6:9 Rồi Chúa Giê-xu hỏi họ, “Tôi hỏi các ông: Điều nào có phép làm trong ngày Sa-bát: làm lành hay làm dữ, cứu người hay giết người?”
LUK 6:10 Chúa Giê-xu liếc quanh mọi người rồi bảo người liệt bàn tay, “Giơ tay anh ra.” Anh giơ ra thì tay được lành.
LUK 6:11 Nhưng những người Pha-ri-xi và các giáo sư luật nổi giận và bàn nhau cách đối phó với Chúa Giê-xu.
LUK 6:12 Lúc ấy, Chúa Giê-xu đi lên núi kia để cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cả đêm cùng Thượng Đế.
LUK 6:13 Sáng hôm sau, Ngài gọi các môn đệ đến và chọn mười hai người mà Ngài gọi là sứ đồ:
LUK 6:14 Xi-môn thì Ngài đặt tên là Phia-rơ, em ông là Anh-rê; Gia-cơ, Giăng, Phi-líp, Ba-thê-lê-mi,
LUK 6:15 Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con của A-phê, Xi-môn còn gọi là Xê-lốt,
LUK 6:16 Giu-đa con của Gia-cơ và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người về sau trao Chúa Giê-xu cho các kẻ thù của Ngài.
LUK 6:17 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi xuống núi. Ngài đứng nơi chỗ đất bằng phẳng. Một số đông các môn đệ Ngài cùng dân chúng từ khắp miền Giu-đia, Giê-ru-sa-lem, các thành phố miền duyên hải như Tia và Xi-đôn cũng có mặt tại đó.
LUK 6:18 Họ đến để nghe Ngài dạy dỗ và được chữa lành bệnh tật. Ngài chữa lành nhiều người bị ác quỉ quấy nhiễu.
LUK 6:19 Ai nấy đều tìm cách rờ Ngài vì có quyền lực phát ra từ Ngài khiến mọi người được lành bệnh.
LUK 6:20 Chúa Giê-xu nhìn các môn đệ và nói, “Các con là những người nghèo khó, sẽ được hạnh phúc, Vì Nước Trời thuộc về các con.
LUK 6:21 Các con là những người đang đói, sẽ vui mừng, Vì các con sẽ được no đủ. Các con là những người hiện đang khóc lóc, sẽ hớn hở, Vì các con sẽ vui cười sung sướng.
LUK 6:22 Người ta sẽ ghét các con, cắt đứt liên lạc với các con, phỉ nhổ các con và xem các con là đồ gian ác, vì các con theo Con Người. Nhưng khi họ làm như thế, các con sẽ vui mừng.
LUK 6:23 Lúc ấy hãy hớn hở lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên thiên đàng. Tổ tiên của họ cũng đối xử với các nhà tiên tri như vậy.
LUK 6:24 Nhưng khốn cho các ngươi là người hiện đang giàu có, vì các ngươi có cuộc sống quá thoải mái.
LUK 6:25 Khốn cho các ngươi là người hiện đang no đủ, vì các ngươi sẽ đói. Khốn cho các ngươi là người hiện đang vui cười, vì các ngươi sẽ buồn bã khóc than.
LUK 6:26 Khốn cho các ngươi, khi người ta chỉ nói tốt về các ngươi, vì tổ tiên họ cũng nói với các nhà tiên tri giả y như thế.
LUK 6:27 Nhưng ta bảo các ngươi là người đang nghe, hãy yêu kẻ thù mình. Hãy đối tốt với kẻ ghét mình,
LUK 6:28 chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ độc ác với mình.
LUK 6:29 Nếu ai tát má nầy, hãy đưa luôn má kia. Nếu ai muốn lấy áo ngoài của các ngươi, cho họ lấy luôn áo trong, nếu họ muốn.
LUK 6:30 Người nào xin, hãy cho, còn ai giật đồ các ngươi, thì đừng đòi lại.
LUK 6:31 Điều gì mình muốn người khác làm cho mình, thì hãy làm điều ấy cho họ.
LUK 6:32 Nếu các ngươi chỉ yêu người yêu mình thì có gì đáng khen đâu? Vì tội nhân cũng yêu kẻ yêu mình.
LUK 6:33 Nếu các ngươi chỉ đối tốt với người đối tốt với mình, thì có gì đáng khen? Tội nhân cũng làm được như thế!
LUK 6:34 Nếu các ngươi cho người khác mượn mà lúc nào cũng trông mong được trả lại, thì có gì đáng nói? Ngay cả tội nhân cũng cho mượn và mong thu lại đủ số!
LUK 6:35 Nhưng các ngươi hãy yêu kẻ thù mình, đối tốt với họ, hãy cho mượn mà đừng mong trả lại. Như thế các ngươi mới nhận được phần thưởng lớn, và được làm con của Đấng Tối Cao, vì Ngài tỏ lòng nhân từ ngay cả cho những kẻ vô ơn và đầy tội lỗi.
LUK 6:36 Hãy tỏ lòng nhân ái như Cha các ngươi đã tỏ lòng nhân ái.
LUK 6:37 Đừng phê phán người khác, thì các ngươi sẽ không bị phê phán. Đừng cáo tội người khác, thì mình sẽ không bị cáo tội. Hãy tha thứ, mình sẽ được tha thứ.
LUK 6:38 Hãy cho, các ngươi sẽ nhận. Các ngươi sẽ được ban cho nhiều. Người ta sẽ nén chặt, lắc cho thật đầy tràn, đổ vào lòng các ngươi. Các ngươi cho người khác ra sao thì Thượng Đế cũng sẽ cho các ngươi như thế.”
LUK 6:39 Chúa Giê-xu kể họ nghe chuyện nầy: “Người mù có thể nào dắt người mù được không? Không được, vì cả hai sẽ cùng té xuống hố.
LUK 6:40 Trò không hơn thầy, nhưng nếu trò được huấn luyện đầy đủ thì cũng được như thầy.
LUK 6:41 Sao các ngươi nhìn thấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt bạn mình, mà lại không thấy cả khúc gỗ to trong mắt mình?
LUK 6:42 Sao các ngươi nói được với bạn mình, ‘Bạn ơi, để tôi lấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt anh ra,’ mà chính mình lại không thấy được khúc gỗ to trong mắt mình? Nầy kẻ giả đạo đức! Trước hết hãy lấy khúc gỗ ra khỏi mắt mình, rồi mới thấy rõ mà lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn mình được.
LUK 6:43 Cây tốt không thể sinh trái xấu, mà cây xấu cũng không thể sinh trái tốt.
LUK 6:44 Xem trái thì biết cây. Không ai hái trái vả nơi bụi gai, hoặc trái nho nơi lùm cây.
LUK 6:45 Người tốt làm việc tốt, vì tự trong lòng chứa điều tốt. Người xấu làm điều xấu, vì trong lòng chứa điều xấu. Người ta nói ra những điều chất chứa trong lòng.
LUK 6:46 Tại sao các ngươi gọi ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa,’ mà không làm theo điều ta dạy?
LUK 6:47 Ta sẽ cho các ngươi biết kẻ nào đến cùng ta, nghe lời ta dạy và vâng theo, thì giống ai.
LUK 6:48 Người ấy giống như người xây nhà đào móng sâu và đặt nền trên khối đá. Khi cơn lụt tràn đến, nước muốn cuốn trôi căn nhà ấy đi, nhưng không lay chuyển được, vì nhà ấy xây rất chắc.
LUK 6:49 Còn kẻ nghe lời ta mà không làm theo, thì giống như người xây nhà trên đất mà không có nền. Khi cơn lụt tràn đến, nhà đó bị sập liền, tan tành không còn gì.”
LUK 7:1 Sau khi Chúa Giê-xu dạy cho dân chúng những điều ấy xong thì Ngài đến thành Ca-bê-nâm.
LUK 7:2 Một viên sĩ quan ở đó có đứa đầy tớ rất tin cậy đang đau gần chết.
LUK 7:3 Nghe đồn về Chúa Giê-xu, ông liền nhờ các bô lão Do-thái đến nói giúp để Ngài chữa lành cho đầy tớ mình.
LUK 7:4 Các bô lão đi gặp Chúa Giê-xu và nài nỉ Ngài đến. Họ thưa, “Ông sĩ quan nầy rất đáng được thầy giúp.
LUK 7:5 Ông rất yêu thương dân ta và đã xây một hội đường cho chúng ta.”
LUK 7:6 Chúa Giê-xu liền đi với họ. Khi Chúa đi gần đến nhà ông, viên sĩ quan cho bạn ra thưa, “Xin Chúa đừng tự phiền như thế, vì tôi không đáng rước Chúa vào nhà.
LUK 7:7 Do đó mà tôi không đi ra gặp Chúa. Xin Ngài chỉ cần truyền lệnh thì đứa đầy tớ của tôi sẽ lành.
LUK 7:8 Vì tôi ở dưới quyền người khác, đồng thời tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi. Tôi bảo anh lính nầy, ‘Đi,’ thì nó đi. Tôi bảo anh lính khác, ‘Đến,’ thì nó đến. Tôi bảo đầy tớ tôi, ‘Làm cái nầy,’ thì nó làm.”
LUK 7:9 Khi nghe vậy, Chúa Giê-xu vô cùng ngạc nhiên. Ngài quay lại nói với dân chúng đang đi theo mình, “Ta bảo các ngươi, trong cả nước Ít-ra-en, ta chưa bao giờ thấy ai có đức tin lớn như thế nầy.”
LUK 7:10 Những người được sai đến gặp Chúa Giê-xu trở về nhà thì thấy người đầy tớ đã lành bệnh.
LUK 7:11 Ít lâu sau, Chúa Giê-xu đi đến một thành gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám đông dân chúng đi theo.
LUK 7:12 Đến gần cửa thành, Ngài thấy một đám tang đi ra. Người mẹ, là một bà góa, vừa mất đứa con trai một. Người từ thành ấy đưa xác rất đông cùng với bà mẹ, trong khi người ta đang khiêng quan tài cậu ra.
LUK 7:13 Nhìn thấy bà, Chúa động lòng thương. Ngài bảo, “Bà đừng khóc nữa.”
LUK 7:14 Ngài bước đến rờ nắp quan tài, thì những người khiêng dừng lại. Chúa Giê-xu gọi, “Cậu em ơi, ta bảo cậu hãy ngồi dậy!”
LUK 7:15 Cậu liền ngồi nhỏm dậy và bắt đầu nói chuyện. Chúa Giê-xu liền giao cậu lại cho bà mẹ.
LUK 7:16 Toàn thể dân chúng vô cùng kinh ngạc và bắt đầu ca ngợi Thượng Đế. Họ nói, “Có một đấng tiên tri lớn đã xuất hiện giữa chúng ta! Thượng Đế đã đến viếng thăm dân Ngài.”
LUK 7:17 Tin nầy được đồn ra khắp miền Giu-đia và các vùng xung quanh.
LUK 7:18 Các môn đệ của Giăng thuật lại những chuyện ấy cho ông nghe. Giăng gọi hai môn đệ
LUK 7:19 sai họ đi gặp Chúa để hỏi, “Thầy là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác?”
LUK 7:20 Lúc gặp Chúa Giê-xu, họ hỏi, “Giăng Báp-tít sai chúng tôi đến hỏi ‘Thầy là Đấng phải đến hay chúng tôi phải chờ Đấng khác?’”
LUK 7:21 Khi ấy Chúa Giê-xu đang chữa lành nhiều người khỏi đủ thứ tật bệnh, đuổi ác quỉ và khiến kẻ mù được sáng mắt.
LUK 7:22 Ngài bảo các môn đệ của Giăng, “Về thuật lại cho Giăng biết những điều các anh nghe và thấy hôm nay. Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, những người mắc bệnh cùi được chữa lành, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại và Tin Mừng được giảng cho kẻ nghèo.
LUK 7:23 Phúc cho ai không nao núng trong đức tin mình vì ta!”
LUK 7:24 Sau khi các môn đệ của Giăng về rồi, Chúa Giê-xu mới nói chuyện với dân chúng về Giăng: “Các ngươi ra đồng hoang để xem gì? Có phải xem cọng sậy bị gió thổi không?
LUK 7:25 Các ngươi đi ra xem gì nữa? Có phải xem người mặc đồ sang trọng không? Không, những người mặc đồ sang trọng và giàu có thì ở trong cung vua.
LUK 7:26 Nhưng các ngươi đi ra xem gì nữa? Có phải xem nhà tiên tri chăng? Thật vậy, ta bảo các ngươi, Giăng còn lớn hơn nhà tiên tri nữa.
LUK 7:27 Vì có lời viết về Giăng như sau: ‘Ta sẽ sai sứ giả ta đi trước mặt Con, để dọn đường cho Con.’
LUK 7:28 Ta nói với các ngươi, trong tất cả những người sinh ra đời, chưa có ai lớn hơn Giăng, nhưng trong Nước Trời, người nhỏ nhất còn lớn hơn cả Giăng nữa.”
LUK 7:29 Khi dân chúng, kể cả các nhân viên thu thuế nghe như thế thì nhìn nhau và đồng ý rằng, lời dạy dỗ của Thượng Đế là đúng và bằng lòng chịu Giăng làm lễ báp-têm.
LUK 7:30 Nhưng những người Pha-ri-xi và các chuyên gia về luật không chấp nhận chương trình Thượng Đế dành cho họ; họ không chịu Giăng làm lễ báp-têm.
LUK 7:31 Sau đó Chúa Giê-xu nói, “Bây giờ ta phải nói gì về dân nầy? So sánh họ với cái gì?
LUK 7:32 Họ giống như mấy đứa nhỏ ngồi ngoài chợ, bảo nhau rằng, ‘Tụi tao đã chơi nhạc cho chúng bay, mà chúng bay không chịu nhảy múa; Tụi tao đã ca bản nhạc buồn, mà chúng bay không chịu khóc lóc.’
LUK 7:33 Giăng Báp-tít đến, không ăn bánh cũng không uống rượu, các ngươi bảo, ‘Ông ta bị quỉ ám.’
LUK 7:34 Con Người đến, ăn và uống thì các ngươi phê bình, ‘Xem kìa! Ông ta ăn nhậu quá mức, lại còn kết bạn với bọn thu thuế và kẻ có tội!’
LUK 7:35 Nhưng những người khôn ngoan thì nhìn nhận sự khôn ngoan là do Thượng Đế mà đến.”
LUK 7:36 Có một người Pha-ri-xi mời Chúa Giê-xu dùng bữa tại nhà, nên Ngài đi đến nhà ông và ngồi ở bàn.
LUK 7:37 Một người đàn bà tội lỗi trong tỉnh nghe tin Chúa Giê-xu đang dùng bữa ở nhà người Pha-ri-xi, thì chị liền mang một bình bằng ngọc đầy nước hoa
LUK 7:38 đến, đứng đàng sau nơi chân Chúa Giê-xu khóc nức nở. Chị lấy nước mắt rửa chân Chúa Giê-xu rồi lấy tóc mình mà lau và hôn chân Ngài nhiều lần, đồng thời xức nước hoa nơi chân Ngài.
LUK 7:39 Khi người Pha-ri-xi, là người mời Ngài đến nhà, thấy vậy mới thầm nghĩ, “Nếu ông Giê-xu nầy thật là nhà tiên tri, thì hẳn ông ta phải biết rằng người đàn bà đang đụng đến mình là người xấu xa!”
LUK 7:40 Chúa Giê-xu bảo người Pha-ri-xi, “Xi-môn, tôi có chuyện muốn nói với ông.” Xi-môn thưa, “Thưa thầy, xin cứ nói.”
LUK 7:41 Chúa Giê-xu nói, “Có hai người mắc nợ một chủ cho vay tiền. Một người thiếu năm trăm quan tiền, người kia thiếu năm chục.
LUK 7:42 Vì họ không có tiền trả, nên chủ cho vay tha nợ cho cả hai. Thế thì người nào yêu chủ nợ hơn?”
LUK 7:43 Xi-môn, người Pha-ri-xi đáp, “Tôi nghĩ người mắc nợ nhiều hơn.” Chúa Giê-xu nói với Xi-môn, “Ông nói rất đúng.”
LUK 7:44 Quay sang phía thiếu phụ, Chúa Giê-xu bảo Xi-môn, “Ông có thấy chị nầy không? Khi tôi vào nhà ông, ông không thèm mang nước cho tôi rửa chân, còn chị nầy đã rửa chân tôi bằng nước mắt và lấy tóc mình mà lau.
LUK 7:45 Ông không chào đón tôi bằng cái hôn, nhưng từ khi tôi vào, chị hôn chân tôi hoài.
LUK 7:46 Ông không xức dầu trên đầu tôi nhưng chị nầy đã đổ nước hoa xức chân tôi.
LUK 7:47 Tôi bảo ông rằng chị nầy tuy có tội nhiều lắm nhưng được tha thứ hết nên chị tỏ tình thương nhiều. Còn người được tha ít thì yêu ít.”
LUK 7:48 Rồi Ngài nói với chị, “Tội chị đã được tha rồi.”
LUK 7:49 Những người ngồi cùng bàn bắt đầu hỏi nhau, “Ông nầy là ai mà cũng tha tội?”
LUK 7:50 Chúa Giê-xu bảo thiếu phụ, “Vì chị có lòng tin, nên chị đã được cứu khỏi tội. Thôi chị hãy yên tâm mà về.”
LUK 8:1 Sau đó, trong khi Chúa Giê-xu đi qua các thành phố và thị trấn nhỏ thì Ngài giảng Tin Mừng về Nước Trời. Có mười hai môn đệ cùng đi với Ngài.
LUK 8:2 Cũng có mấy thiếu phụ đã được Ngài chữa lành bệnh và đuổi ác quỉ như Ma-ri, còn gọi là Ma-đơ-len, người mà Ngài đã đuổi bảy quỉ ra;
LUK 8:3 Giô-a-na, vợ của Chu-xa, quản gia của Hê-rốt, Xu-gia-na và nhiều người khác nữa. Các bà nầy dùng tiền riêng của mình để giúp đỡ Chúa Giê-xu cùng các sứ đồ.
LUK 8:4 Dân chúng họp lại rất đông, họ đến từ đủ mọi tỉnh để gặp Chúa Giê-xu. Ngài kể cho họ nghe ngụ ngôn sau đây:
LUK 8:5 “Có một nông gia kia đi ra gieo giống. Trong khi gieo, một số hột rơi trên đường. Người qua kẻ lại dẫm lên rồi chim đáp xuống ăn hết.
LUK 8:6 Một số rơi trên đất đá, khi bắt đầu nẩy mầm thì chết héo vì thiếu nước.
LUK 8:7 Một số rơi giữa cỏ gai, cỏ gai cùng mọc lên chèn ép cây non.
LUK 8:8 Còn một số rơi trên đất tốt, mọc lên và sinh ra hàng trăm hột khác.” Sau khi kể chuyện ấy xong, Ngài kêu lên, “Ai nghe ta được hãy lắng tai nghe!”
LUK 8:9 Các môn đệ Chúa Giê-xu hỏi Ngài về ý nghĩa ngụ ngôn ấy.
LUK 8:10 Ngài đáp, “Các con được tuyển chọn để biết những bí mật về Nước Trời. Nhưng ta phải dùng ngụ ngôn nói chuyện với dân chúng để cho: ‘Họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu.’
LUK 8:11 Ý nghĩa ngụ ngôn nầy như sau: Hột giống là lời của Thượng Đế.
LUK 8:12 Hột rơi bên đường đi giống như những người nghe lời dạy của Thượng Đế, nhưng quỉ dữ đến cướp lời ấy khỏi lòng họ, để họ không tin và được cứu.
LUK 8:13 Hột rơi trên đá giống như những người nghe lời dạy của Thượng Đế và vui vẻ tiếp nhận, nhưng không để lời đó thấm sâu vào lòng. Họ chỉ tin hời hợt một thời gian thôi, đến khi gặp khó khăn liền bỏ cuộc.
LUK 8:14 Hột rơi nhằm bụi gai giống như những người nghe lời dạy của Thượng Đế, nhưng lại để những lo lắng, giàu sang và vui thú đời nầy khiến họ không thể lớn lên và kết quả được.
LUK 8:15 Còn hột rơi trên đất tốt giống như những người nghe lời dạy của Thượng Đế với tấm lòng chân thành, vâng theo lời đó và dần dần kết quả.
LUK 8:16 Không ai thắp đèn rồi lấy chậu úp lên hoặc giấu dưới giường. Trái lại, người ta đặt nó trên chân đèn để cho ai bước vào cũng thấy sáng.
LUK 8:17 Điều gì kín giấu rồi cũng phải lộ ra và điều bí mật nào rồi cũng bị phơi bày.
LUK 8:18 Nên hãy cẩn thận về cách các con nghe. Ai có trí hiểu sẽ được cho thêm. Còn ai không có trí hiểu sẽ bị lấy luôn điều họ tưởng họ có nữa.”
LUK 8:19 Mẹ và anh em Ngài đến để gặp Ngài nhưng vì dân chúng chen chúc quá đông nên không gặp được.
LUK 8:20 Có người thưa, “Mẹ và anh em thầy đang đứng ngoài chờ thầy kìa.”
LUK 8:21 Chúa Giê-xu đáp, “Mẹ và anh em ta là những người nghe và vâng theo lời dạy của Thượng Đế!”
LUK 8:22 Một hôm Chúa Giê-xu xuống thuyền với các môn đệ. Ngài bảo, “Chúng ta hãy qua bờ bên kia.” Họ liền chèo thuyền đi.
LUK 8:23 Trong khi thuyền đang lướt sóng thì Ngài ngủ. Bỗng có một cơn gió mạnh thổi qua hồ, nước ào vào đầy thuyền, mọi người sắp lâm nguy.
LUK 8:24 Các môn đệ hốt hoảng đến đánh thức Chúa Giê-xu dậy, “Thầy ơi, thầy ơi, chúng ta sắp chết đuối hết!” Chúa Giê-xu thức dậy ra lệnh cho gió và sóng. Sóng gió liền ngưng, mặt hồ trở lại yên lặng như tờ.
LUK 8:25 Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ, “Đức tin các con ở đâu?” Các môn đệ lấy làm kinh hãi và sửng sốt. Họ hỏi nhau, “Ông nầy là ai mà ra lệnh cho sóng gió, chúng cũng vâng theo?”
LUK 8:26 Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi thuyền băng qua hồ Ga-li-lê, đến miền của dân Ghê-ra-sen.
LUK 8:27 Khi họ vừa bước lên bờ, thì có một người bị quỉ ám từ thành chạy đến gặp Ngài. Lâu nay anh không mặc quần áo gì và chỉ ở trong các hang chôn người chết chứ không ở trong nhà.
LUK 8:28 Khi thấy Chúa Giê-xu, anh la lớn và sụp lạy trước mặt Ngài. Anh la lên, “Giê-xu Con Thượng Đế Tối Cao ơi, Ngài muốn làm gì tôi đây? Tôi van xin Ngài đừng làm khổ tôi!”
LUK 8:29 Anh kêu lên như thế là vì Chúa Giê-xu đang ra lệnh cho ác quỉ phải ra khỏi anh. Nhiều lần anh bị quỉ hành. Mặc dù người ta kềm giữ và xiềng tay chân nhưng anh bẻ xiềng và bị quỉ đưa đến vùng đồng không mông quạnh.
LUK 8:30 Chúa Giê-xu hỏi quỉ, “Mầy tên gì?” Nó đáp, “Lữ đoàn” vì có nhiều quỉ ám anh ta.
LUK 8:31 Lũ quỉ van xin Ngài đừng đuổi chúng xuống hố tăm tối đời đời.
LUK 8:32 Có một bầy heo đông đang ăn trên một ngọn đồi gần đó, nên lũ quỉ xin Chúa Giê-xu cho phép chúng nhập vào bầy heo. Ngài cho phép.
LUK 8:33 Bọn quỉ ra khỏi anh, liền nhập vào bầy heo. Cả bầy chạy lao xuống đồi, nhào xuống hồ chết đuối hết.
LUK 8:34 Mấy chú chăn heo thấy sự việc xảy ra liền bỏ chạy và thuật chuyện lại cho cả thành và vùng quê.
LUK 8:35 Dân chúng kéo ra xem sự thể ra sao. Khi họ đến gặp Chúa Giê-xu thì thấy người trước kia bị quỉ ám đang ngồi nơi chân Ngài, mặc áo quần chỉnh tề, tinh thần tỉnh táo vì quỉ đã ra khỏi. Nhưng dân chúng thì lại khiếp sợ.
LUK 8:36 Những kẻ chứng kiến sự việc kể lại cho mọi người biết Chúa Giê-xu đã chữa lành anh ta ra sao.
LUK 8:37 Cả dân chúng vùng Ghê-ra-sen liền yêu cầu Chúa Giê-xu rời địa phận họ vì họ quá hoảng sợ. Vì thế Chúa Giê-xu vào thuyền đi trở về miền Ga-li-lê.
LUK 8:38 Người được Chúa Giê-xu chữa lành năn nỉ xin đi theo Ngài, nhưng Chúa Giê-xu bảo anh trở về nhà và dặn,
LUK 8:39 “Anh hãy trở về nhà và thuật lại cho mọi người nghe việc lớn lao mà Thượng Đế đã làm cho anh.” Nên anh đi khắp tỉnh, thuật cho mọi người nghe việc lớn lao mà Chúa Giê-xu đã làm cho mình.
LUK 8:40 Khi Chúa Giê-xu trở lại miền Ga-li-lê thì dân chúng đông đảo ra chào đón Ngài, vì ai nấy cũng trông chờ Ngài.
LUK 8:41 Có một người tên Giai-ru, làm chủ hội đường, đến gặp Chúa Giê-xu và quì xuống van xin Ngài đến nhà mình.
LUK 8:42 Con gái một của Giai-ru khoảng mười hai tuổi đang hấp hối. Khi đang trên đường đến nhà Giai-ru thì Ngài bị dân chúng lấn ép tứ phía.
LUK 8:43 Có một thiếu phụ trong đám đông bị chứng xuất huyết đã mười hai năm. Chị đã tốn rất nhiều tiền cho y sĩ nhưng không ai chữa trị được.
LUK 8:44 Chị lén đến phía sau Chúa Giê-xu và rờ ven áo Ngài, lập tức chứng xuất huyết ngưng lại.
LUK 8:45 Chúa Giê-xu liền hỏi, “Ai rờ đến ta?” Mọi người đều chối thì Phia-rơ lên tiếng, “Thưa thầy, dân chúng xung quanh đang lấn ép thầy đó.”
LUK 8:46 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Có người rờ đến ta, vì ta cảm biết có quyền lực ra từ ta.”
LUK 8:47 Thiếu phụ thấy không giấu được nữa, nên bước ra, run lẩy bẩy và quì xuống trước mặt Ngài. Trong lúc mọi người lắng nghe thì chị kể lại tại sao chị đã rờ áo Ngài và được lành bệnh liền như thế nào.
LUK 8:48 Chúa Giê-xu bảo chị, “Chị à, chị được lành vì chị có lòng tin. Thôi chị hãy yên tâm ra về!”
LUK 8:49 Trong khi Chúa Giê-xu còn đang nói, thì người nhà của ông chủ hội đường đến báo, “Con gái ông chết rồi. Đừng làm phiền thầy nữa.”
LUK 8:50 Chúa Giê-xu nghe vậy liền bảo Giai-ru, “Đừng sợ. Cứ vững tin thì con gái ông sẽ lành bệnh.”
LUK 8:51 Chúa Giê-xu vào nhà. Ngài chỉ cho phép Phia-rơ, Giăng, Gia-cơ và cha mẹ cô gái vào với Ngài mà thôi.
LUK 8:52 Mọi người đang khóc lóc thảm sầu lắm, vì cô gái chết rồi nhưng Chúa Giê-xu an ủi, “Đừng khóc nữa. Em gái nầy không phải chết đâu. Nó chỉ ngủ thôi.”
LUK 8:53 Họ nhạo cười Ngài, vì họ biết cô bé gái đã chết.
LUK 8:54 Nhưng Chúa Giê-xu cầm tay cô gái kêu, “Con ơi, hãy ngồi dậy!”
LUK 8:55 Thần linh liền trở lại với cô bé và cô lập tức ngồi nhỏm dậy. Chúa Giê-xu liền bảo họ cho cô bé ăn.
LUK 8:56 Cha mẹ cô gái vô cùng kinh ngạc nhưng Chúa Giê-xu căn dặn họ không được nói cho ai biết chuyện ấy.
LUK 9:1 Chúa Giê-xu gọi mười hai môn đệ lại và ban cho họ quyền năng trị mọi tà ma và năng lực chữa bệnh.
LUK 9:2 Ngài sai họ ra đi rao giảng về Nước Trời và chữa lành những người đau yếu.
LUK 9:3 Ngài dặn họ, “Đừng mang đồ gì theo, đừng mang gậy, túi, bánh, tiền bạc hay quần áo dư.
LUK 9:4 Khi vào nhà nào các con hãy ở đó cho đến khi đi.
LUK 9:5 Nếu dân chúng không tiếp đón các con, thì hãy phủi bụi nơi chân khi các con rời tỉnh đó, để làm dấu cảnh cáo họ.”
LUK 9:6 Các sứ đồ ra đi thăm các thành, các làng mạc, rao giảng Tin Mừng và chữa lành người bệnh khắp nơi.
LUK 9:7 Hê-rốt, vua chư hầu, nghe được mọi chuyện, đâm ra hoang mang vì có người nói, “Giăng Báp-tít đã từ kẻ chết sống lại.”
LUK 9:8 Người khác thì nói, “Ê-li đã xuất hiện giữa chúng ta.” Còn người khác nữa lại nói, “Một trong các nhà tiên tri đời xưa sống lại từ trong kẻ chết.”
LUK 9:9 Hê-rốt nói, “Ta đã chém đầu Giăng, thế thì người nầy là ai mà nghe đồn rất nhiều?” Cho nên Hê-rốt tìm cách gặp Chúa Giê-xu.
LUK 9:10 Các sứ đồ trở về, tường thuật lại cho Chúa Giê-xu mọi điều họ làm. Sau đó Ngài mang họ cùng với Ngài đi đến một tỉnh gọi là Bết-xai-đa, để có thì giờ riêng tư với nhau.
LUK 9:11 Nhưng dân chúng nghe nói Chúa Giê-xu sắp đến, liền đi theo Ngài. Ngài tiếp họ và giảng cho họ nghe về Nước Trời, đồng thời chữa những người cần được chữa lành.
LUK 9:12 Lúc xế chiều, mười hai sứ đồ đến thưa với Ngài, “Xin thầy cho dân chúng về để họ đi vào các tỉnh và vùng quê quanh đây kiếm chỗ nghỉ ngơi và mua thức ăn vì chỗ nầy hoang vắng lắm.”
LUK 9:13 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con phải cho họ ăn.” Họ thưa, “Nếu không đi mua thêm thức ăn cho họ thì chúng con chỉ có năm ổ bánh và hai con cá thôi.”
LUK 9:14 Có khoảng năm ngàn người đàn ông tại đó. Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Cho dân chúng ngồi từng nhóm năm mươi người đi.”
LUK 9:15 Họ làm theo, và mọi người ngồi xuống.
LUK 9:16 Chúa Giê-xu cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, cảm tạ Thượng Đế đã ban cho thức ăn. Rồi Ngài trao thức ăn cho các môn đệ phân phát cho dân chúng.
LUK 9:17 Mọi người ăn uống no nê, chỗ còn thừa gom được mười hai giỏ đầy.
LUK 9:18 Một lần nọ, khi Chúa Giê-xu đang cầu nguyện riêng, có các môn đệ bên cạnh, thì Ngài hỏi, “Người ta nói ta là ai?”
LUK 9:19 Họ đáp, “Có người nói thầy là Giăng Báp-tít. Kẻ khác nói thầy là Ê-li, còn người khác nữa thì nói thầy là một trong những nhà tiên tri đời xưa sống lại.”
LUK 9:20 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi, “Còn các con nói ta là ai?” Phia-rơ thưa, “Thầy là Đấng Cứu Thế, do Thượng Đế sai đến.”
LUK 9:21 Chúa Giê-xu nghiêm cấm họ không được nói điều ấy cho ai.
LUK 9:22 Ngài bảo “Con Người phải chịu nhiều nỗi khổ. Ngài sẽ bị các bô lão Do-thái, các giới trưởng tế và các giáo sư luật loại ra. Ngài sẽ bị giết và sau ba ngày sẽ sống lại từ trong kẻ chết.”
LUK 9:23 Ngài bảo họ, “Nếu ai muốn theo ta thì phải từ bỏ những điều mình ưa thích. Mỗi ngày họ phải sẵn lòng hi sinh cuộc sống mà theo ta.
LUK 9:24 Ai tìm cách giữ mạng sống mình sẽ đánh mất sự sống thật. Còn ai hi sinh mạng sống mình vì ta sẽ nhận được sự sống thật.
LUK 9:25 Nếu người nào được cả thế giới, mà chính mình bị tiêu hủy hoặc chết mất, thì chẳng ích gì.
LUK 9:26 Ai xấu hổ về ta và lời dạy dỗ của ta, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ về người ấy khi Ngài hiện đến trong vinh quang của Cha và các thiên sứ thánh.
LUK 9:27 Ta bảo thật với các con, vài người đang đứng đây sẽ được trông thấy Nước Trời trước khi qua đời.”
LUK 9:28 Khoảng tám ngày sau khi Chúa Giê-xu dạy những điều ấy, thì Ngài mang Phia-rơ, Giăng và Gia-cơ lên một ngọn núi để cầu nguyện.
LUK 9:29 Trong khi đang cầu nguyện, hình dáng Ngài đổi khác, còn áo quần Ngài trở nên sáng trắng.
LUK 9:30 Bỗng có hai người, Mô-se và Ê-li, hiện ra nói chuyện với Chúa Giê-xu.
LUK 9:31 Họ hiện ra trong vinh quang của thiên đàng và nói chuyện về sự ra đi của Ngài sắp diễn ra ở Giê-ru-sa-lem.
LUK 9:32 Phia-rơ và hai môn đệ kia buồn ngủ quá sức, nhưng khi hoàn toàn tỉnh ngủ, họ thấy vinh quang của Chúa Giê-xu và hai người đang đứng với Ngài.
LUK 9:33 Khi Mô-se và Ê-li sắp ra đi, thì Phia-rơ thưa với Ngài, “Thưa thầy, chúng ta ở đây rất tốt. Để chúng con dựng ba cái lều—một cái cho thầy, một cái cho Mô-se và một cái cho Ê-li.” Phia-rơ cũng chẳng biết mình đang nói gì.
LUK 9:34 Lúc ông đang nói thì có đám mây bay đến che phủ họ, khiến họ hốt hoảng.
LUK 9:35 Từ trong đám mây có tiếng vọng ra, “Đây là Con ta, người mà ta đã chọn. Hãy nghe theo người!”
LUK 9:36 Khi tiếng ấy nói xong, thì chỉ còn có một mình Chúa Giê-xu ở đó. Phia-rơ, Giăng và Gia-cơ không nói gì cả và trong những ngày ấy cũng không kể cho ai nghe điều họ vừa mới trông thấy.
LUK 9:37 Hôm sau, khi xuống núi, thì có đám đông dân chúng đến đón Ngài.
LUK 9:38 Một người trong đám đông kêu lớn cùng Ngài, “Thưa thầy, làm ơn đến xem giùm con tôi vì nó là con một tôi.
LUK 9:39 Một ác quỉ ám nó, bỗng nhiên nó rú lên. Quỉ làm cho nó vật vã rồi sùi bọt mép. Quỉ muốn làm hại nó, gần như không bao giờ buông tha nó.
LUK 9:40 Tôi đã năn nỉ các môn đệ thầy đuổi quỉ ra mà họ làm không được.”
LUK 9:41 Chúa Giê-xu đáp, “Mấy ông không có đức tin, và nếp sống mấy ông sai quấy. Ta phải ở với các ông và chịu đựng các ông trong bao lâu nữa? Mang con ông đến đây.”
LUK 9:42 Lúc cậu bé đang đến thì quỉ vật nó té xuống đất, nằm giãy giụa. Nhưng Chúa Giê-xu quở mắng ác quỉ, chữa lành cậu bé và giao cậu lại cho người cha.
LUK 9:43 Mọi người đều sững sờ về quyền năng lớn lao của Thượng Đế. Trong khi mọi người đang kinh ngạc về những điều Chúa Giê-xu làm, thì Ngài bảo các môn đệ,
LUK 9:44 “Các con đừng quên điều thầy nói bây giờ với các con: Con Người sẽ bị trao vào tay dân chúng.”
LUK 9:45 Nhưng các môn đệ không hiểu điều ấy vì ý nghĩa đã bị che khuất khỏi họ, mà họ lại sợ không dám hỏi Ngài.
LUK 9:46 Các môn đệ bắt đầu tranh cãi với nhau để xem ai là người lớn nhất trong vòng họ.
LUK 9:47 Chúa Giê-xu biết được ý nghĩ ấy nên Ngài mang một em nhỏ đến đứng bên cạnh Ngài.
LUK 9:48 Rồi Ngài dạy, “Người nào nhân danh ta tiếp một em nhỏ nầy, tức là tiếp ta. Còn người nào tiếp ta tức là tiếp Đấng đã sai ta đến, vì người nào nhỏ nhất trong các con mới là người lớn nhất.”
LUK 9:49 Giăng thưa, “Thưa thầy, chúng con thấy có người dùng danh thầy đuổi quỉ ra khỏi người ta. Chúng con cấm ngay, vì anh ta không cùng nhóm với chúng ta.”
LUK 9:50 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Đừng cấm làm gì, vì người nào không chống chúng ta tức là về phía chúng ta.”
LUK 9:51 Khi gần đến lúc Chúa Giê-xu phải ra đi, Ngài quyết định lên thành Giê-ru-sa-lem.
LUK 9:52 Ngài cho vài người đi trước đến một tỉnh thuộc miền Xa-ma-ri để chuẩn bị cho Ngài.
LUK 9:53 Nhưng dân chúng ở đó không chịu tiếp đón Ngài, vì Ngài định tâm lên Giê-ru-sa-lem.
LUK 9:54 Thấy vậy Gia-cơ và Giăng, hai môn đệ của Chúa Giê-xu liền nói, “Thưa Chúa, Ngài có muốn chúng con khiến lửa từ trời giáng xuống đốt tiêu bọn người nầy không?”
LUK 9:55 Nhưng Chúa Giê-xu quay lại quở trách hai người.
LUK 9:56 Rồi họ đi qua tỉnh khác.
LUK 9:57 Đang khi đi đường, có người thưa với Chúa Giê-xu, “Thầy đi đâu tôi sẽ theo đó.”
LUK 9:58 Chúa Giê-xu bảo họ, “Chồn cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.”
LUK 9:59 Chúa Giê-xu bảo một người khác, “Hãy theo ta!” Anh đáp, “Thưa Chúa, để tôi chôn cất cha tôi trước đã.”
LUK 9:60 Nhưng Chúa Giê-xu bảo anh, “Hãy để người chết chôn người chết. Còn anh hãy đi ra rao giảng về Nước Trời.”
LUK 9:61 Người khác nữa thưa, “Thưa Chúa, tôi sẽ theo Ngài nhưng để tôi về chào từ giã gia đình tôi đã.”
LUK 9:62 Chúa Giê-xu bảo, “Ai bắt đầu cày ruộng mà cứ còn ngoái cổ nhìn lại phía sau thì hoàn toàn vô dụng cho Nước Trời.”
LUK 10:1 Sau đó Chúa chọn bảy mươi hai người khác, rồi sai họ đi trước từng toán hai người đến những tỉnh và địa điểm Ngài định ghé qua.
LUK 10:2 Ngài dặn họ, “Mùa gặt thì trúng nhưng thợ gặt thì thiếu. Nên hãy cầu xin Thượng Đế gởi thêm người đến tiếp tay gặt hái.
LUK 10:3 Bây giờ hãy lên đường, nhưng nghe đây! Ta sai các con ra đi chẳng khác nào chiên vào giữa muông sói.
LUK 10:4 Đừng mang theo ví, túi, giày và đừng phí thì giờ nói chuyện với ai dọc đường.
LUK 10:5 Trước khi các con bước vào nhà nào thì hãy chúc, ‘Bình an cho nhà nầy.’
LUK 10:6 Nếu những người ở đó có tinh thần hòa bình, thì phúc hòa bình các con sẽ ở với họ; nếu không, phúc lành đó sẽ trở về với các con.
LUK 10:7 Hãy ở trong nhà ấy, ăn uống những gì người ta mời. Người làm công phải được trả lương. Đừng chuyển từ nhà nầy sang nhà khác.
LUK 10:8 Nếu đến một thành nào mà dân chúng ở đó tiếp đón các con, hãy ăn những gì họ cho.
LUK 10:9 Hãy chữa lành những kẻ đau và bảo họ, ‘Nước Trời rất gần với các ông bà lắm.’
LUK 10:10 Còn nếu đến một thành nào mà dân chúng ở đó không tiếp đón các con, thì hãy đi ra giữa phố tuyên bố,
LUK 10:11 ‘Ngay cả bụi đất trong tỉnh các ông bà dính nơi chân, chúng tôi cũng phủi sạch hết để làm chứng nghịch lại các ông bà. Nhưng nên nhớ là Nước Trời gần đến rồi.’
LUK 10:12 Ta nói cho các con biết, đến Ngày Xét Xử, dân Xô-đôm còn bị phạt nhẹ hơn dân thành ấy.
LUK 10:13 Khốn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, thành Bết-xai-đa! Vì nếu những phép lạ ta đã làm giữa các ngươi mà đem làm giữa các thành Tia và Xi-đôn thì dân chúng ở đó đã ăn năn hối hận lâu rồi. Họ chắc chắn đã mặc vải sô, rắc tro lên đầu để chứng tỏ đã được thay đổi.
LUK 10:14 Đến Ngày Xét Xử hai thành Tia và Xi-đôn sẽ bị phạt nhẹ hơn các ngươi.
LUK 10:15 Còn ngươi, thành Ca-bê-nâm, ngươi được nâng lên đến tận trời sao? Không! Ngươi sẽ bị ném xuống âm phủ!
LUK 10:16 Ai nghe các con tức nghe ta, còn ai gạt bỏ các con tức gạt bỏ ta. Còn ai gạt bỏ ta tức gạt bỏ Đấng đã sai ta đến.”
LUK 10:17 Khi bảy mươi hai sứ đồ trở về, họ rất hớn hở và báo cáo, “Thưa Chúa, khi chúng con nhân danh Ngài thì đến ác quỉ cũng vâng lời chúng con!”
LUK 10:18 Chúa Giê-xu bảo, “Ta thấy Sa-tăng từ trời rơi xuống như chớp.
LUK 10:19 Nghe đây, ta ban cho các con quyền dẫm lên rắn rít và bọ cạp, quyền ấy lớn hơn quyền của kẻ thù nữa. Cho nên không có gì làm hại các con được.
LUK 10:20 Nhưng các con không nên mừng vì quỉ phục các con mà hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên thiên đàng.”
LUK 10:21 Bấy giờ Chúa Giê-xu mừng rỡ trong Thánh Linh. Ngài nói, “Thưa Cha, Con ca ngợi Cha là Chúa của trời đất, vì Cha đã giấu những điều nầy khỏi những người khôn ngoan thông sáng mà bày tỏ cho những người có lòng đơn sơ như trẻ thơ. Vâng, thưa Cha vì đó là điều Ngài muốn.
LUK 10:22 Cha đã giao mọi việc cho Con. Không ai biết Con là ai ngoại trừ Cha, cũng không ai biết Cha ngoại trừ Con và những người mà Con muốn tỏ cho biết.”
LUK 10:23 Rồi Chúa Giê-xu quay qua các môn đệ và nói riêng, “Các con có phúc vì được thấy những điều các con hiện đang thấy.
LUK 10:24 Ta nói cho các con biết, có rất nhiều nhà tiên tri và vua chúa mong được thấy điều các con hiện đang thấy, muốn nghe điều các con hiện đang nghe mà không được.”
LUK 10:25 Bấy giờ có một chuyên gia luật pháp đứng lên hỏi để thử Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”
LUK 10:26 Chúa Giê-xu đáp, “Trong luật pháp viết như thế nào? Ông đọc gì trong đó?”
LUK 10:27 Ông ta đáp, “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu Chúa là Thượng Đế của ngươi” và “Phải yêu người láng giềng như mình.”
LUK 10:28 Chúa Giê-xu bảo ông, “Ông đáp rất đúng. Hãy làm theo như thế thì sẽ được sống.”
LUK 10:29 Nhưng chuyên gia ấy muốn chứng tỏ rằng mình có lý, nên thưa với Chúa Giê-xu “Ai là người láng giềng của tôi?”
LUK 10:30 Chúa Giê-xu đáp, “Có một người đi từ Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, chẳng may rơi vào tay bọn cướp. Chúng nó xé nát quần áo, đánh đập gây thương tích và bỏ anh ta nằm đó, gần chết.
LUK 10:31 Tình cờ có một thầy tế lễ Do-thái đi ngang qua đường ấy. Nhìn thấy nạn nhân, ông liền đi tránh qua phía bên kia đường.
LUK 10:32 Sau đó có một người Lê-vi đi đến, bước tới gần, nhìn nạn nhân rồi cũng đi tránh qua phía bên kia đường.
LUK 10:33 Cuối cùng, có một người Xa-ma-ri cùng đi đường ấy đến chỗ nạn nhân đang nằm. Trông thấy nạn nhân, ông hết sức tội nghiệp.
LUK 10:34 Ông liền đến gần, thoa dầu, bóp rượu trên vết thương, và băng bó lại. Rồi ông đặt nạn nhân lên lưng lừa của mình, đưa đến quán trọ để săn sóc thêm.
LUK 10:35 Hôm sau, người Xa-ma-ri lấy hai quan tiền đưa cho chủ quán và dặn, ‘Ông hãy chăm sóc người nầy. Nếu tốn hơn, khi trở về tôi sẽ trả.’”
LUK 10:36 Rồi Chúa Giê-xu hỏi, “Trong ba người ấy, ông thấy ai là láng giềng với người bị bọn cướp đánh?”
LUK 10:37 Chuyên gia luật thưa, “Đó là người tỏ lòng nhân từ với nạn nhân.” Chúa Giê-xu bảo ông, “Vậy ông hãy đi và làm theo như thế.”
LUK 10:38 Trong khi Chúa Giê-xu và các môn đệ đi lưu hành, Ngài đến một thành nọ. Có một cô tên Ma-thê mời Ngài vào trọ nhà cô.
LUK 10:39 Ma-thê có một em gái tên Ma-ri, hay ngồi dưới chân Chúa Giê-xu để nghe Ngài dạy.
LUK 10:40 Nhưng Ma-thê mải lo bận rộn công việc trong nhà. Cô đến thưa với Ngài, “Thưa Chúa, Ngài không để ý là Ma-ri đẩy hết công việc cho con làm sao? Xin Ngài bảo nó giúp con một tay.”
LUK 10:41 Nhưng Chúa đáp, “Ma-thê ơi, con lo âu và bực dọc nhiều chuyện.
LUK 10:42 Chỉ có một điều quan trọng. Ma-ri đã chọn phần tốt hơn, là phần không ai lấy đi được.”
LUK 11:1 Có lần Chúa Giê-xu đang cầu nguyện ở nơi nọ. Ngài cầu nguyện xong thì một môn đệ thưa, “Thưa Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện như Giăng đã dạy môn đệ mình.”
LUK 11:2 Chúa Giê-xu bảo họ, “Khi các con cầu nguyện, hãy nói như sau: ‘Lạy Cha, nguyện cho danh Cha lúc nào cũng được tôn thánh, Nước Cha mau đến.
LUK 11:3 Xin cho chúng con đủ thức ăn mỗi ngày.
LUK 11:4 Xin tha tội cho chúng con, vì chúng con cũng tha thứ những người làm lỗi với chúng con. Xin đừng đưa chúng con vào sự cám dỗ.’”
LUK 11:5 Rồi Chúa Giê-xu dạy họ, “Giả sử một người trong các con đi đến nhà bạn mình nửa đêm, kêu cửa nói rằng, ‘Bạn ơi, làm ơn cho tôi mượn ba ổ bánh mì.
LUK 11:6 Có một người bạn lỡ đường ghé qua nhà tôi, mà tôi không có gì đãi anh ta ăn.’
LUK 11:7 Người bạn trong nhà trả lời, ‘Đừng quấy rầy tôi! Cửa khóa rồi. Tôi và con cái tôi đều đi ngủ hết. Tôi không thể dậy để lấy gì cho anh được đâu.’
LUK 11:8 Ta nói với các con, dù tình bạn không đủ khiến anh ta dậy để lấy bánh cho các con, nhưng vì không muốn mất thể diện, anh bạn ấy sẽ dậy lấy cho con những gì các con cần.
LUK 11:9 Cho nên ta bảo các con, hãy xin thì Thượng Đế sẽ cho. Hãy tìm, các con sẽ gặp. Hãy gõ, cửa sẽ mở cho các con.
LUK 11:10 Vì người nào xin, sẽ nhận được. Người nào tìm, thì gặp và người nào gõ, thì cửa mở.
LUK 11:11 Có ai trong các con khi con cái mình xin cá, mà lại cho rắn không?
LUK 11:12 Hoặc chúng xin trứng mà lại cho bò cạp sao?
LUK 11:13 Dù các con vốn là xấu, mà còn biết cho con cái mình vật tốt, huống hồ Cha các con trên trời. Ngài sẽ ban nhiều hơn nữa, tức là Thánh Linh, cho những người xin Ngài.”
LUK 11:14 Có lần Chúa Giê-xu đuổi quỉ câm. Khi quỉ ra khỏi, thì người câm nói được. Dân chúng vô cùng ngạc nhiên.
LUK 11:15 Nhưng vài người trong họ nói, “Ông Giê-xu chỉ giỏi dùng quyền của Sa-tăng, là chúa quỉ, mà đuổi quỉ ra khỏi người ta đó thôi.”
LUK 11:16 Một số người khác muốn thử Chúa Giê-xu nên xin Ngài cho họ xem một dấu lạ từ trời.
LUK 11:17 Biết ý tưởng họ, nên Ngài bảo, “Nước nào tự chia rẽ sẽ bị tiêu diệt. Gia đình nào phân hóa sẽ không tồn tại được.
LUK 11:18 Cho nên nếu quỉ Sa-tăng mà tự chia xé ra thì nước nó sẽ tan hoang. Các ngươi bảo ta lấy quyền Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỉ.
LUK 11:19 Nếu ta dùng quyền của Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỉ thì những người trong các ngươi dùng quyền nào để đuổi quỉ? Cho nên chính những người ấy sẽ kết án các ngươi.
LUK 11:20 Còn nếu ta dùng quyền của Thượng Đế để đuổi quỉ, thì phải biết rằng Nước Trời đã đến cùng các ngươi.
LUK 11:21 Khi một người lực lưỡng dùng nhiều vũ khí canh giữ nhà mình thì tài sản người ấy được an toàn.
LUK 11:22 Nhưng nếu có một người khác mạnh hơn đến đánh thắng anh ta, người mạnh hơn sẽ tước lấy vũ khí mà anh đã ỷ lại và phân tán hết tài sản của anh ấy.
LUK 11:23 Ai không theo ta là nghịch với ta, người nào không hợp tác với ta tức là chống lại ta.
LUK 11:24 Khi ác quỉ ra khỏi một người, nó đi lang thang ở những chỗ khô khan, kiếm nơi để nghỉ ngơi. Kiếm không được, nó liền tự nhủ, ‘Ta sẽ trở về nhà mà ta đã ra đi.’
LUK 11:25 Khi trở về, thấy nhà đã được quét dọn sạch sẽ tươm tất.
LUK 11:26 Nó mới đi ra mang về bảy quỉ ác hơn nó nữa đến ở trong nhà đó. Vì thế mà tình trạng người ấy sau đó còn khốn đốn hơn trước.”
LUK 11:27 Trong khi Chúa Giê-xu đang nói những lời ấy thì có một bà trong đám đông lên tiếng thưa với Ngài, “Phúc cho người mẹ nào đã sinh ra Ngài và đã nuôi dưỡng Ngài.”
LUK 11:28 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Không phải, người nào nghe và vâng theo lời dạy của Thượng Đế mới thật có phúc.”
LUK 11:29 Dân chúng càng ngày càng tụ tập đông thêm, Chúa Giê-xu bảo họ, “Những người đang sống trong thời kỳ nầy là những người ác. Họ muốn xem một dấu lạ nhưng họ sẽ không nhận được dấu lạ nào ngoài dấu lạ về Giô-na.
LUK 11:30 Như Giô-na là dấu lạ cho dân cư thành Ni-ni-ve, thì Con Người cũng sẽ là dấu lạ cho người của thời đại nầy.
LUK 11:31 Đến Ngày Xét Xử, nữ hoàng Nam Phương sẽ đứng lên cùng với người ở thời đại nầy. Bà ấy sẽ kết án họ vì bà đã đến từ xứ rất xa để nghe lời dạy dỗ khôn ngoan của Sô-lô-môn. Mà ta bảo thật, ngay tại đây có một Đấng còn cao trọng hơn Sô-lô-môn nữa.
LUK 11:32 Đến Ngày Xét Xử, dân cư thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy lên án người ở thời đại nầy. Vì khi Giô-na giảng thuyết thì họ ăn năn hối hận. Mà ta bảo thật, ngay tại đây có một Đấng còn tôn trọng hơn Giô-na.
LUK 11:33 Không ai thắp đèn rồi giấu ở chỗ khuất hay để dưới cái chậu, nhưng đặt trên chân đèn, để mọi người bước vào thấy sáng.
LUK 11:34 Mắt các con là đèn của thân thể. Nếu mắt tốt thì cả thân thể sẽ sáng. Còn nếu mắt xấu thì cả thân thể sẽ tối tăm.
LUK 11:35 Hãy thận trọng, đừng để ánh sáng trong các con trở thành bóng tối.
LUK 11:36 Nếu cả thân thể các con sáng láng, không có phần nào tối, thì các con sẽ chiếu sáng, như đèn rọi vào các con vậy.”
LUK 11:37 Sau khi Chúa Giê-xu nói xong, có một người Pha-ri-xi mời Ngài đến nhà dùng bữa. Chúa Giê-xu đến ngồi ở bàn.
LUK 11:38 Người Pha-ri-xi rất ngạc nhiên vì thấy Ngài không rửa tay trước khi ăn.
LUK 11:39 Chúa bảo ông, “Người Pha-ri-xi các ông rửa bên ngoài chén dĩa còn trong lòng các ông đầy tham lam và độc ác.
LUK 11:40 Nầy những người dại dột, Đấng dựng nên bề ngoài cũng dựng nên bề trong nữa.
LUK 11:41 Hãy lấy những gì bên trong dĩa của các ông mà cho người nghèo, thì các ông mới hoàn toàn trong sạch bên trong lẫn bên ngoài được.
LUK 11:42 Khốn cho các ông là người Pha-ri-xi! Các ông dâng cho Thượng Đế một phần mười bạc hà, đinh hương và các thứ cây khác trong vườn. Nhưng các ông không đối xử ngay thẳng với người khác và không yêu mến Thượng Đế. Đó là những điều các ông phải làm cùng với những điều kia.
LUK 11:43 Khốn cho các ông là người Pha-ri-xi, vì các ông chiếm chỗ cao sang nhất trong hội đường và thích người ta kính cẩn chào mình giữa phố chợ.
LUK 11:44 Khốn cho các ông vì các ông giống như mồ mả ẩn khuất, người ta dẫm lên mà không biết.”
LUK 11:45 Một trong các chuyên gia luật pháp nói với Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, thầy nói như thế cũng nhục mạ chúng tôi nữa.”
LUK 11:46 Chúa Giê-xu đáp, “Khốn cho các ông là những chuyên gia luật! Các ông đặt ra những qui tắc khó khăn khiến người ta tuân theo không nổi mà chính mình thì lại không thèm tuân theo.
LUK 11:47 Khốn cho các ông, vì các ông xây mộ cho các nhà tiên tri mà tổ tiên mình đã giết!
LUK 11:48 Như thế chứng tỏ các ông tán thành hành động của tổ tiên mình. Họ giết các nhà tiên tri còn các ông thì xây mộ cho các nhà tiên tri ấy!
LUK 11:49 Cho nên qua sự khôn sáng của Ngài, Thượng Đế đã nói, ‘Ta sẽ sai các nhà tiên tri và sứ đồ đến với họ. Một số bị họ giết, còn số kia bị họ ngược đãi.’
LUK 11:50 Cho nên mấy ông là người hiện đang sống, sẽ bị trừng phạt về cái chết của các nhà tiên tri đã bị giết từ thuở tạo thiên lập địa.
LUK 11:51 Từ cái chết của A-bên cho đến cái chết của Xa-cha-ri, là người bị giết giữa khoảng bàn thờ và đền thờ. Ta bảo các ông là người hiện đang sống, các ông sẽ bị trừng phạt về tất cả những cái chết ấy.
LUK 11:52 Khốn cho các ông là các chuyên gia luật pháp. Các ông cất chìa khóa sự hiểu biết về Thượng Đế. Chính các ông không muốn học mà ai muốn học thì các ông cản trở.”
LUK 11:53 Khi Chúa Giê-xu rời nơi đó, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi bắt đầu gây sự với Ngài và hạch hỏi Ngài nhiều điều,
LUK 11:54 tìm cách bắt lỗi xem Ngài có nói lời gì sơ xuất không.
LUK 12:1 Hàng ngàn người tụ tập đến nỗi dẫm lên nhau. Trước hết Chúa Giê-xu nói chuyện với các môn đệ, “Các con hãy thận trọng về men của người Pha-ri-xi vì họ là những kẻ giả đạo đức.
LUK 12:2 Điều gì kín giấu rồi sẽ lộ ra, việc gì bí ẩn rồi cũng bị phơi bày.
LUK 12:3 Điều gì các con nói trong tối sẽ được nghe trong ánh sáng, và điều gì các con thì thầm trong phòng kín sẽ được rao to trên nóc nhà.”
LUK 12:4 “Ta bảo điều nầy cho các con là bạn hữu ta: Đừng sợ kẻ giết phần xác, rồi không thể làm được gì nữa để hại các con.
LUK 12:5 Ta cho các con biết phải sợ ai. Phải sợ Đấng có quyền giết và ném các con vào hỏa ngục. Đó chính là Đấng mà các con phải sợ.
LUK 12:6 Năm con chim sẻ tuy chỉ đáng giá hai xu, nhưng Thượng Đế không quên một con nào cả.
LUK 12:7 Ngay đến tóc trên đầu các con có bao nhiêu sợi Ngài cũng biết. Đừng sợ, vì các con quí giá hơn chim sẻ nhiều.
LUK 12:8 Ta cho các con biết, hễ ai đứng trước mặt người khác mà nhận rằng mình tin theo ta thì ta đây, là Con Người, sẽ xác nhận trước mặt thiên sứ của Thượng Đế, là người ấy thuộc về ta.
LUK 12:9 Còn ai đứng trước mặt người khác mà chối bỏ ta thì ta cũng chối bỏ họ trước các thiên sứ của Thượng Đế.
LUK 12:10 Ai nói phạm đến Con Người có thể được tha thứ nhưng ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không được tha đâu.
LUK 12:11 Khi các con bị đưa vào các hội đường để trình diện với các lãnh tụ và các nhà cầm quyền thì đừng lo không biết phải tự bênh vực hoặc ăn nói làm sao.
LUK 12:12 Lúc đó Thánh Linh sẽ dạy các con những lời gì phải nói.”
LUK 12:13 Có người trong đám quần chúng thưa với Ngài, “Thưa thầy, xin bảo anh tôi chia cho tôi phần gia sản mà cha chúng tôi đã để lại.”
LUK 12:14 Nhưng Chúa Giê-xu nói với anh, “Ai giao cho ta nhiệm vụ phân xử giữa hai anh em của anh?”
LUK 12:15 Rồi Chúa Giê-xu dạy dân chúng, “Phải thận trọng và đề phòng mọi hình thức tham lam. Đời sống không phải được đo lường bằng của cải mình nhiều hay ít đâu.”
LUK 12:16 Sau đó Ngài kể chuyện nầy: “Người nhà giàu nọ có một số đất đai. Đất đó sinh lợi nhiều lắm.
LUK 12:17 Ông ta tự nhủ, ‘Bây giờ ta phải làm sao đây? Vì ta không có đủ chỗ chứa hết hoa màu.’
LUK 12:18 Rồi ông bảo, ‘Bây giờ ta sẽ làm thế nầy: Ta sẽ phá hết các kho, xây nhiều cái khác lớn hơn để chứa hết hoa màu và của cải.’
LUK 12:19 Rồi ta sẽ tự nhủ rằng, ‘Ta đã trữ đủ mọi vật tốt đủ dùng nhiều năm rồi. Thôi bây giờ hãy nghỉ ngơi, ăn uống và hưởng thụ đi!’
LUK 12:20 Nhưng Thượng Đế hỏi người ấy rằng, ‘Anh khờ kia ơi! Nếu đêm nay mạng sống anh sẽ bị cất đi thì ai sẽ hưởng những gì anh đã dành cho mình?’
LUK 12:21 Ai tích trữ của cải riêng cho mình mà không giàu có trong Thượng Đế cũng giống như thế.”
LUK 12:22 Chúa Giê-xu dạy các môn đệ, “Ta bảo các con, đừng lo phải ăn gì để sống hay mặc gì để che thân.
LUK 12:23 Mạng sống quí trọng hơn thức ăn, thân thể quí trọng hơn quần áo.
LUK 12:24 Hãy nhìn loài chim trời. Chúng nó không trồng trọt, chẳng gặt hái, cũng không có vựa kho gì, nhưng Thượng Đế còn nuôi chúng nó. Các con đáng giá hơn chim chóc nhiều.
LUK 12:25 Các con không thể lo âu mà làm cho đời mình dài thêm được giây phút nào.
LUK 12:26 Nếu ngay trong những việc rất nhỏ các con còn làm không được, thì tại sao lo âu đến những việc lớn?
LUK 12:27 Hãy xem loài hoa huệ; chúng nó chẳng vất vả cũng không may mặc gì, nhưng ta cho các con biết là dù vua Sô-lô-môn giàu sang đến đâu đi nữa cũng chưa được mặc đẹp bằng một trong những đóa hoa huệ ấy.
LUK 12:28 Hoa cỏ ngoài đồng là loài nay sống mai bị ném vào lửa để chụm mà Thượng Đế còn cho chúng mặc đẹp như thế, thì Ngài lại không mặc đẹp cho các con sao? Đừng quá ít đức tin.
LUK 12:29 Đừng luôn bận tâm lo nghĩ phải ăn gì, uống gì, đừng quá lo âu.
LUK 12:30 Ai trên đời nầy cũng đều tìm kiếm những thứ ấy, mà Cha các con đã biết các con cần những thứ ấy rồi.
LUK 12:31 Nhưng hãy tìm kiếm Nước Trời thì những thứ khác mà các con cần sẽ được ban cho các con.
LUK 12:32 Bầy trẻ thơ của ta ơi, đừng sợ, vì Cha các con muốn ban Nước Trời cho các con.
LUK 12:33 Hãy bán của cải các con mà phân phát cho người nghèo. Hãy kiếm cho mình ví không mòn, của cải trên thiên đàng không bao giờ cạn, nơi mà kẻ trộm không đánh cắp và mối mọt không hủy hoại.
LUK 12:34 Của đâu thì lòng đó.
LUK 12:35 Phải ăn mặc chỉnh tề, sẵn sàng phục vụ, đèn phải thắp sáng lên.
LUK 12:36 Phải làm giống như những đầy tớ chờ chủ dự tiệc cưới về. Khi chủ về đến nhà, gõ cửa thì nó liền mở.
LUK 12:37 Phúc cho những đầy tớ ấy khi chủ về mà thấy chúng nó chờ đợi mình. Ta bảo thật, chủ sẽ mặc đồ để hầu hạ và bảo đầy tớ ngồi vào bàn, còn chủ sẽ hầu những đầy tớ ấy.
LUK 12:38 Phúc cho những đầy tớ như thế khi chủ về, thấy chúng đang chờ mình, dù chờ đến nửa đêm hay khuya hơn.
LUK 12:39 Nên nhớ điều nầy: Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến thì chắc chắn ông ta không để cho nó lẻn vô nhà mình được.
LUK 12:40 Nên các con phải sẵn sàng vì Con Người sẽ đến vào lúc các con không ngờ!”
LUK 12:41 Phia-rơ hỏi, “Thưa Chúa, Ngài kể chuyện nầy cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”
LUK 12:42 Chúa đáp, “Ai là người đầy tớ khôn ngoan và tin cẩn để chủ nhà giao nhiệm vụ phân phát thức ăn cho các đầy tớ khác đúng giờ giấc?
LUK 12:43 Khi chủ nhà về, thấy đầy tớ ấy đang làm bổn phận thì nó sẽ có phúc.
LUK 12:44 Ta bảo thật, người chủ sẽ chọn người đầy tớ đó để quản lý tất cả tài sản của mình.
LUK 12:45 Nhưng nếu tên đầy tớ ấy nghĩ rằng, ‘Chủ ta còn lâu mới về,’ rồi đánh đập các đầy tớ trai và gái khác, xong ăn uống nhậu nhẹt say sưa.
LUK 12:46 Ông chủ sẽ về trong khi nó chẳng chuẩn bị và không ngờ đến. Chủ sẽ banh xác nó và tống cổ cho nó cùng chung số phận với những đứa đầy tớ bất tuân khác.
LUK 12:47 Người đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị hoặc không thèm làm theo sẽ bị trừng trị nặng hơn!
LUK 12:48 Nhưng người đầy tớ nào không biết ý chủ mà làm điều đáng trách thì bị trừng phạt nhẹ hơn. Người nào được cho nhiều thì bị đòi lại nhiều. Người nào được tin cẩn nhiều, thì bị đòi hỏi nhiều hơn.”
LUK 12:49 Ta đến để đốt cháy thế giới và ta mong nó phát hỏa!
LUK 12:50 Ta có một lễ báp-têm phải trải qua, và ta rất băn khoăn cho đến khi lễ ấy xong xuôi.
LUK 12:51 Các con tưởng rằng ta đến để mang hòa bình cho thế giới sao? Không, ta đến để phân rẽ thế giới.
LUK 12:52 Từ rày về sau, một gia đình năm người sẽ bị phân ly, ba chống hai và hai chống ba.
LUK 12:53 Họ sẽ bị chia rẽ: Cha nghịch con trai, con trai nghịch cha, mẹ nghịch con gái và con gái nghịch mẹ, mẹ chồng nghịch con dâu và con dâu nghịch mẹ chồng.
LUK 12:54 Sau đó Chúa Giê-xu bảo dân chúng, “Khi thấy mây kéo lên từ hướng Tây, các ngươi bảo, ‘Trời sắp mưa,’ thì quả đúng như thế.
LUK 12:55 Khi cảm thấy gió Nam thổi, các ngươi nói, ‘Hôm nay trời sẽ oi bức,’ thì quả đúng thế.
LUK 12:56 Nầy kẻ đạo đức giả! Các ngươi biết nhận dạng trời đất mà không nhận ra được những biến chuyển đang xảy ra sao?
LUK 12:57 Sao các ngươi không tự nhận biết điều phải?
LUK 12:58 Nếu kẻ thù lôi các ngươi ra trước tòa án thì hãy cố gắng giàn xếp với họ đang khi trên đường đi đến tòa. Nếu không, họ sẽ đưa các ngươi ra trước quan tòa, rồi quan tòa giao các ngươi cho chủ ngục và chủ ngục tống giam các ngươi vào tù.
LUK 12:59 Ta bảo thật, nếu các ngươi chưa trả hết đồng nợ cuối cùng thì không bước chân ra khỏi tù được đâu.”
LUK 13:1 Lúc ấy có vài người ở đó thuật cho Chúa Giê-xu hay rằng Phi-lát đã giết mấy người miền Ga-li-lê trong khi họ đang thờ phụng và trộn huyết của họ chung với huyết của những thú vật mà họ đem dâng làm của lễ cho Thượng Đế.
LUK 13:2 Chúa Giê-xu bảo, “Các ngươi tưởng rằng những người ấy bị giết vì họ tội lỗi xấu xa hơn những người Ga-li-lê khác sao?
LUK 13:3 Không phải đâu, ta cho các ngươi biết là nếu các ngươi không ăn năn hối hận thì cũng sẽ bị chết mất giống như thế.
LUK 13:4 Còn các ngươi nghĩ thế nào về mười tám người bị tháp Xi-lôm ngã đè chết kia? Các ngươi có cho rằng vì họ tội lỗi xấu xa hơn những người khác ở Giê-ru-sa-lem sao?
LUK 13:5 Không phải đâu. Ta cho các ngươi biết, nếu các ngươi không ăn năn thì cũng sẽ bị diệt mất như thế!”
LUK 13:6 Chúa Giê-xu thuật chuyện nầy: “Một người kia trồng một cây vả trong vườn nho. Ông ta đến để hái trái nhưng không thấy trái nào.
LUK 13:7 Nên ông bảo anh làm vườn, ‘Đã ba năm nay tôi chờ hái trái nơi cây nầy mà chẳng thấy gì. Đốn nó đi. Tại sao để nó choán đất vô ích?’
LUK 13:8 Nhưng anh làm vườn thưa, ‘Thưa chủ, hãy chờ thêm một năm nữa xem thử nó sinh trái không. Để tôi đào đất xung quanh, cho ít phân bón xem sao.
LUK 13:9 Chờ sang năm nó ra trái thì tốt, nếu không chủ sẽ đốn.’”
LUK 13:10 Vào ngày Sa-bát Chúa Giê-xu đang giảng dạy trong một hội đường.
LUK 13:11 Tại đó có một người đàn bà bị khòm suốt mười tám năm vì ác quỉ ám. Lưng bà cong khom, không đứng thẳng được.
LUK 13:12 Khi thấy bà, Chúa Giê-xu gọi lại bảo, “Bà ơi, bà khỏi bệnh rồi.”
LUK 13:13 Ngài đặt tay trên bà, lập tức bà đứng thẳng dậy được và bắt đầu ca ngợi Thượng Đế.
LUK 13:14 Người chủ hội đường nổi giận vì Chúa Giê-xu chữa bệnh trong ngày Sa-bát. Ông bảo dân chúng, “Có sáu ngày để làm việc. Hãy đến xin chữa bệnh trong mấy ngày đó chứ đừng đến trong ngày Sa-bát.”
LUK 13:15 Chúa đáp, “Đồ đạo đức giả! Chẳng lẽ trong ngày Sa-bát mà mấy ông không mở dây cho trâu bò đi uống nước hay sao?
LUK 13:16 Huống chi bà nầy mà ta chữa lành là con cháu Áp-ra-ham, đã bị Sa-tăng trói buộc suốt hơn mười tám năm trời đằng đẵng. Cho nên việc chữa cho bà ta trong ngày Sa-bát không có gì sai cả!”
LUK 13:17 Khi Chúa Giê-xu nói như thế thì những người chỉ trích Ngài đều xấu hổ, còn dân chúng thì rất vui thích về những điều diệu kỳ Ngài làm.
LUK 13:18 Sau đó Chúa Giê-xu dạy, “Nước Trời ra sao? Ta có thể so sánh với cái gì?
LUK 13:19 Nước ấy giống như một hột cải mà người kia trồng trong vườn. Hột ấy mọc lên trở thành cây lớn, chim trời có thể làm tổ trong nhánh nó được.”
LUK 13:20 Ngài dạy tiếp, “Ta có thể lấy gì để so sánh Nước Trời?
LUK 13:21 Nước ấy giống như men mà một người đàn bà trộn trong một thau bột lớn, cho đến chừng cả thau bột đều dậy lên.”
LUK 13:22 Chúa Giê-xu giảng dạy ở mỗi thành, mỗi làng mà Ngài ghé qua trên đường đi lên Giê-ru-sa-lem.
LUK 13:23 Có người hỏi Ngài, “Thưa Chúa, có phải số người được cứu rất ít không?” Chúa Giê-xu đáp,
LUK 13:24 “Hãy cố gắng đi vào cửa hẹp, vì có rất nhiều người muốn vào đó mà không được.
LUK 13:25 Khi chủ nhà thức dậy đóng cửa lại, các ngươi sẽ phải đứng ngoài kêu, ‘Chủ nhà ơi, mở cửa cho chúng tôi.’ Nhưng chủ nhà sẽ đáp, ‘Tôi có biết mấy anh là ai đâu?’
LUK 13:26 Các ngươi sẽ đáp, ‘Chúng tôi đã từng ăn uống chung với ông và ông cũng từng giảng dạy trong các đường phố chúng tôi đó mà!’
LUK 13:27 Nhưng chủ nhà sẽ bảo, ‘Tôi không biết mấy anh là ai. Đi chỗ khác, hỡi bọn gian tà!’
LUK 13:28 Các ngươi sẽ khóc lóc và nghiến răng trong đau khổ khi nhìn thấy Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp cùng các nhà tiên tri trong Nước Trời, còn các ngươi thì bị quăng ra ngoài.
LUK 13:29 Nhiều người từ Đông, Tây, Nam, Bắc đến ngồi bàn tiệc trong Nước Trời.
LUK 13:30 Rồi sẽ có những người thấp hèn nhất trong đời nầy lại chiếm chỗ cao trọng nhất trong tương lai. Và có người hiện nay đang ngồi ở chỗ cao trọng sẽ phải xuống ngồi chỗ thấp hèn nhất.”
LUK 13:31 Lúc ấy có mấy người Pha-ri-xi đến báo với Chúa Giê-xu, “Thầy nên rời khỏi đây ngay vì vua Hê-rốt muốn giết thầy đó!”
LUK 13:32 Chúa Giê-xu đáp, “Mấy ông hãy đi bảo con chồn cáo Hê-rốt ấy rằng, ‘Hôm nay, ngày mai ta đuổi quỉ và chữa bệnh. Đến ngày thứ ba, ta đã đạt được mục đích!’
LUK 13:33 Nhưng ta phải tiếp tục công tác hôm nay, ngày mai và ngày mốt. Vì không lẽ đấng tiên tri lại bị giết ở nơi nào khác ngoài Giê-ru-sa-lem sao?
LUK 13:34 Giê-ru-sa-lem ơi! Giê-ru-sa-lem ơi! Ngươi giết các nhà tiên tri và ném đá chết những sứ giả được sai đến. Nhiều lần ta muốn gom dân cư ngươi như gà mẹ túc con lại núp dưới cánh mà ngươi không cho.
LUK 13:35 Bây giờ thì nhà ngươi sẽ bị bỏ hoang. Ta cho ngươi biết, ngươi sẽ không thấy ta nữa cho đến ngày ngươi thốt lên, ‘Phúc cho Đấng nhân danh Chúa mà đến.’”
LUK 14:1 Một ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đến nhà một lãnh tụ người Pha-ri-xi dùng bữa, còn dân chúng thì theo dõi Ngài rất kỹ.
LUK 14:2 Trước mặt Ngài có một người mắc bệnh thũng.
LUK 14:3 Chúa Giê-xu hỏi người Pha-ri-xi và các chuyên gia luật pháp, “Có được phép chữa bệnh trong ngày Sa-bát hay không?”
LUK 14:4 Nhưng họ không trả lời. Chúa Giê-xu đem anh ra, chữa lành rồi cho về nhà.
LUK 14:5 Ngài hỏi các người Pha-ri-xi và các chuyên gia luật pháp, “Nếu con cái hoặc bò của các ông té xuống giếng trong ngày Sa-bát, thì các ông có kéo lên liền không?”
LUK 14:6 Họ cứng miệng không trả lời Ngài được.
LUK 14:7 Chúa Giê-xu để ý thấy vài khách được mời ăn tranh nhau chọn chỗ tốt nhất để ngồi, Ngài liền thuật họ nghe chuyện nầy:
LUK 14:8 “Khi người ta mời mình dự tiệc cưới, đừng chọn chỗ sang nhất, vì nếu có người khác quan trọng hơn cũng được mời
LUK 14:9 thì người chủ đã mời anh cùng người khách kia, sẽ đến nói với anh rằng, ‘Anh làm ơn nhường chỗ cho ông khách nầy.’ Rồi anh sẽ ngượng, vì phải xuống ngồi chỗ chót chăng?
LUK 14:10 Nên khi mình được mời, hãy kiếm chỗ thấp nhất. Khi chủ nhà đến với anh sẽ bảo, ‘Bạn ơi, hãy lên đây ngồi chỗ quan trọng hơn.’ Như thế các khách khác sẽ kính nể anh.
LUK 14:11 Vì hễ người nào làm cho mình ra quan trọng sẽ bị kéo xuống chỗ thấp kém, và người nào khiêm nhường sẽ được tôn cao.”
LUK 14:12 Sau đó Chúa Giê-xu nói với người đã mời Ngài dùng bữa rằng, “Khi anh dọn bữa trưa hoặc tối, đừng mời bạn hữu, gia đình, thân bằng quyến thuộc hoặc láng giềng giàu có đến dự mà thôi. Vì những người ấy sẽ mời anh lại lúc khác để trả bữa.
LUK 14:13 Trái lại, khi làm tiệc hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, đui mù.
LUK 14:14 Như thế anh mới được phước vì những người ấy không có cách gì để trả bữa lại cho anh. Nhưng anh sẽ được đền đáp, lúc những người nhân đức sống lại từ trong kẻ chết.”
LUK 14:15 Một trong những người ngồi cùng bàn với Chúa Giê-xu nghe những lời ấy thì nói với Ngài, “Phúc cho người nào được dự tiệc trong Nước Trời.”
LUK 14:16 Chúa Giê-xu kể cho ông ta câu chuyện sau, “Có người kia bày tiệc lớn và mời nhiều người.
LUK 14:17 Khi đến giờ khai tiệc, ông ta sai đầy tớ đi nhắc các khách được mời, ‘Mời quí vị đến dự. Tiệc đã sẵn sàng.’
LUK 14:18 Nhưng tất cả các khách được mời đều tìm mọi lý do để từ chối. Người đầu tiên nói, ‘Tôi mới mua một thửa ruộng, phải đi xem đã. Xin cho tôi kiếu đi.’
LUK 14:19 Người thứ nhì nói, ‘Tôi mới mua năm cặp bò phải đi thử đã. Xin cho tôi kiếu đi.’
LUK 14:20 Người thứ ba nói, ‘Tôi mới cưới vợ; tiếc quá không đến được.’
LUK 14:21 Đầy tớ về trình lại cho chủ. Ông chủ liền nổi giận bảo, ‘Thôi, mầy hãy đi ngay ra các đường, các hang cùng ngõ hẻm của thành phố, mang những người nghèo khổ, đui què mẻ sứt vào đây.’
LUK 14:22 Sau đó đứa đầy tớ trình, ‘Thưa chủ, tôi đã làm theo điều chủ dặn, nhưng bàn tiệc vẫn còn chỗ trống.’
LUK 14:23 Người chủ bảo đầy tớ, ‘Đi ra các đường tỉnh, đường làng cố mời mọc mọi người vào để đầy nhà ta.
LUK 14:24 Vì không một người nào được mời lúc đầu được phép ăn với ta đâu.’”
LUK 14:25 Dân chúng đi theo Chúa Giê-xu rất đông. Ngài quay lại dạy dỗ họ rằng,
LUK 14:26 “Nếu ai theo ta mà yêu cha, mẹ, vợ, con, anh chị em—hoặc chính mạng sống mình—hơn ta thì người đó không thể nào làm môn đệ ta được.
LUK 14:27 Người nào không bằng lòng vác thập tự giá mình theo ta thì không thể làm môn đệ ta.
LUK 14:28 Các ngươi muốn xây một cái tháp thì trước hết phải ngồi xuống tính phí tổn xem mình có đủ tiền để xây không.
LUK 14:29 Nếu không thì vừa đặt nền rồi là chẳng còn tiền để hoàn tất dự án. Mọi người qua lại thấy sẽ chê cười ngươi,
LUK 14:30 bảo rằng ‘Ông nầy khởi công xây mà làm không xong.’
LUK 14:31 Nếu một vua muốn đi ra đánh giặc với một vua khác, thì trước hết phải ngồi xuống trù tính kế hoạch. Phải tính xem thử với một vạn binh sĩ dưới quyền mình có đủ sức đánh bại vua kia với hai vạn binh sĩ không.
LUK 14:32 Nếu không thì trong khi vua kia còn ở xa, vội vàng sai sứ xin cầu hòa.
LUK 14:33 Cũng vậy, các ngươi phải bằng lòng từ bỏ những gì mình có mới làm môn đệ ta được.
LUK 14:34 Muối rất ích lợi nhưng nếu nó mất mặn đi thì không có cách gì làm cho nó mặn lại được.
LUK 14:35 Muối ấy trở thành vô dụng, dù để bón đất hoặc làm phân cũng không được; chỉ có ném bỏ thôi. Ai nghe ta được, hãy nghe cho kỹ!”
LUK 15:1 Các nhân viên thu thuế và những người có tội đến nghe Chúa Giê-xu.
LUK 15:2 Nhưng người Pha-ri-xi và các giáo sư luật bắt đầu phê phán: “Xem kìa, ông nầy giao du với người có tội và còn ăn chung với bọn ấy nữa.”
LUK 15:3 Chúa Giê-xu liền kể ngụ ngôn nầy:
LUK 15:4 “Giả sử một người trong các ngươi có một trăm con chiên, nhưng mất một con. Người đó sẽ để chín mươi chín con ngoài đồng trống rồi đi tìm con chiên lạc cho bằng được.
LUK 15:5 Khi tìm được rồi, vui mừng vác nó lên vai
LUK 15:6 đi về nhà. Sau đó anh ta mời bạn hữu và láng giềng lại nói, ‘Hãy chung vui với tôi vì tôi đã tìm được con chiên đi lạc.’
LUK 15:7 Cũng thế, ta cho các ngươi biết, trên thiên đàng sẽ rất vui mừng khi một tội nhân ăn năn hơn là chín mươi chín người tốt không cần ăn năn.
LUK 15:8 Giả sử một người đàn bà nọ có mười đồng bạc nhưng đánh mất một đồng. Chị đó sẽ thắp đèn, quét nhà và tìm cho ra đồng bạc bị mất.
LUK 15:9 Khi tìm được rồi, chị sẽ kêu bạn hữu láng giềng lại nói rằng, ‘Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc bị mất.’
LUK 15:10 Cũng thế, các thiên sứ và Thượng Đế sẽ hân hoan khi một tội nhân ăn năn.”
LUK 15:11 Sau đó Chúa Giê-xu dạy, “Ông nọ có hai con trai.
LUK 15:12 Một hôm đứa em thưa với cha, ‘Xin cha cho con lấy phần gia tài của con.’ Ông cha liền chia gia tài ra cho hai con.
LUK 15:13 Ít lâu sau, đứa em thu tóm hết của cải, rồi lên đường đi xa qua xứ khác. Ở đó nó ăn chơi phóng túng tiêu tán hết tiền của.
LUK 15:14 Sau khi hết sạch tiền rồi, thì lúc ấy trong xứ xảy ra nạn đói kém, nó lâm cảnh túng quẫn,
LUK 15:15 cho nên nó phải đi làm công cho một người dân xứ ấy. Ông ta sai nó ra đồng chăn heo.
LUK 15:16 Bụng đói như cào, nên nó muốn ăn vỏ đậu heo đang ăn để đỡ đói lòng, mà chẳng ai cho.
LUK 15:17 Chợt tỉnh ngộ về những hành vi điên rồ của mình, nó mới nghĩ, ‘Mấy đứa đầy tớ nhà cha ta còn được ăn uống dư giả mà ta đây phải chết đói.
LUK 15:18 Ta sẽ bỏ chỗ nầy trở về và thưa với cha: Cha ơi, con đã phạm tội với Trời và có lỗi với cha lắm.
LUK 15:19 Con không còn xứng đáng được gọi là con của cha nữa. Con chỉ xin được làm một trong những đứa đầy tớ của cha thôi.’
LUK 15:20 Nó liền đứng dậy trở về với cha. Trong khi nó còn ở đàng xa, ông cha trông thấy liền động lòng thương, chạy ra ôm chầm lấy con và hôn lấy hôn để.
LUK 15:21 Cậu con thưa, ‘Cha ơi, con đã phạm tội với Trời và có lỗi với cha lắm. Con không còn xứng đáng được gọi là con của cha nữa.’
LUK 15:22 Nhưng ông cha bảo đầy tớ, ‘Mau mau lấy áo tốt nhất mặc cho nó. Lấy nhẫn đeo vào ngón tay nó rồi mang giày cho nó.
LUK 15:23 Bắt một con bò con mập làm thịt đi để chúng ta làm tiệc ăn mừng.
LUK 15:24 Con ta đây đã chết, mà bây giờ sống lại! Nó bị mất tích, mà bây giờ tìm lại được!’ Rồi họ bắt đầu liên hoan.
LUK 15:25 Cậu con cả đang ở ngoài đồng về. Gần đến nhà, cậu nghe tiếng đờn ca nhảy múa huyên náo,
LUK 15:26 liền gọi một đứa đầy tớ hỏi xem chuyện gì.
LUK 15:27 Đứa đầy tớ trình, ‘Em cậu mới trở về, nên cha cậu làm thịt bò con mập để ăn mừng, vì em cậu về bình yên, mạnh khoẻ.’
LUK 15:28 Cậu con cả liền nổi giận không chịu vào dự tiệc nên ông cha phải đi ra năn nỉ cậu ta vào.
LUK 15:29 Cậu nói với cha, ‘Con đã phục dịch cha như một tên tôi mọi bao nhiêu năm nay, lúc nào cũng vâng lời cha mà cha chẳng bao giờ cho con một con dê con để thết đãi bạn bè.
LUK 15:30 Còn bây giờ, cái thằng con khốn nạn của cha, đứa đã tiêu tán tiền bạc của cha cho phường đĩ điếm, trở về nhà, thì cha làm thịt bò con mập ăn mừng nó!’
LUK 15:31 Người cha ôn tồn bảo cậu con cả, ‘Con ơi, con lúc nào cũng ở với cha, cái gì của cha đều là của con hết.
LUK 15:32 Thật chúng ta nên ăn mừng con à, vì em con đã chết mà bây giờ sống lại. Nó bị mất tích mà bây giờ tìm lại được.’”
LUK 16:1 Chúa Giê-xu dạy các môn đệ, “Có một ông nhà giàu nọ thuê một người làm quản lý cơ sở của mình. Nhưng anh quản lý bị tố cáo là tiêu tán tài sản của chủ.
LUK 16:2 Ông chủ liền gọi anh lại hỏi, ‘Việc tai tôi nghe về anh là làm sao? Anh hãy khai trình cho tôi những gì anh làm về tiền của tôi, vì từ nay về sau anh không được làm quản lý nữa.’
LUK 16:3 Anh quản lý thầm nghĩ, ‘Bây giờ phải làm sao đây vì ông chủ đuổi ta rồi? Ta không đủ sức đi đào rãnh, mà đi ăn mày thì nhục quá.
LUK 16:4 Ta biết phải làm gì rồi để khi mất việc thì có người tiếp ta vào nhà.’
LUK 16:5 Anh quản lý gọi tất cả các con nợ của chủ lại. Anh hỏi người đầu tiên, ‘Anh nợ chủ bao nhiêu?’
LUK 16:6 Người ấy đáp, ‘Tám trăm thùng dầu ô-liu.’ Anh quản lý bảo, ‘Ngồi xuống, lấy giấy nợ sửa lại mau: Bốn trăm thùng.’
LUK 16:7 Xong anh hỏi con nợ khác, ‘Anh thiếu chủ bao nhiêu?’ Người ấy đáp, ‘Một ngàn hộc lúa mì.’ Anh quản lý bảo, ‘Lấy giấy nợ sửa lại: Tám trăm hộc.’
LUK 16:8 Chủ khen quản lý bất lương ấy là khôn ngoan. Thật vậy, con người thế gian thường khôn ngoan hơn người thiêng liêng.
LUK 16:9 Ta bảo các ngươi, hãy dùng của phú quí trần gian nầy mà kết bạn để khi của ấy hết rồi, thì các ngươi được đón tiếp vào nhà đời đời.
LUK 16:10 Người nào đáng tin cậy trong việc nhỏ thì mới đáng tin cậy trong việc lớn, còn người nào bất lương trong việc nhỏ cũng bất lương trong việc lớn.
LUK 16:11 Nếu các ngươi không đáng tin cậy trong của cải trần gian nầy, thì ai mà dám giao cho các ngươi của cải thật?
LUK 16:12 Còn nếu các ngươi không đáng tin cậy đối với của cải của kẻ khác, thì ai dám giao cho các ngươi những của thuộc về các ngươi?
LUK 16:13 Không ai có thể làm tôi hai chủ. Nó sẽ ghét người nầy, yêu người kia hoặc theo chủ nầy mà bỏ chủ kia. Các ngươi không thể vừa phục vụ Thượng Đế mà vừa phục vụ của cải trần gian.”
LUK 16:14 Những người Pha-ri-xi vốn ham tiền tài nghe thế thì chê cười Ngài.
LUK 16:15 Ngài bảo họ, “Mấy ông làm ra vẻ đạo đức trước mặt người ta, nhưng Thượng Đế thấy rõ lòng dạ các ông. Điều gì con người ham chuộng là điều gớm ghiếc trước mặt Thượng Đế.
LUK 16:16 Luật pháp Mô-se và các lời viết của các nhà tiên tri được giảng ra cho tới khi Giăng đến. Từ lúc ấy trở đi, Tin Mừng về Nước Trời được giảng ra và người nào cũng chen nhau để vào.
LUK 16:17 Trời đất qua đi còn dễ hơn thay đổi một nét chữ trong luật pháp.
LUK 16:18 Nếu một người đàn ông ly dị vợ và lấy người đàn bà khác thì phạm tội ngoại tình, còn người đàn ông nào cưới một người đàn bà ly dị chồng cũng phạm tội ngoại tình.”
LUK 16:19 Chúa Giê-xu kể, “Có một ông nhà giàu kia, lúc nào cũng ăn mặc áo quần sang trọng và sống xa hoa mỗi ngày.
LUK 16:20 Còn có một anh nhà nghèo xác xơ tên La-xa-rơ, ghẻ chốc đầy mình, được người ta khiêng đến đặt nằm trước cổng ông nhà giàu.
LUK 16:21 Anh nghèo ấy chỉ mong được ăn mấy miếng bánh vụn rớt xuống từ trên bàn của ông nhà giàu. Có mấy con chó đến liếm ghẻ trên mình anh ta.
LUK 16:22 Sau đó, La-xa-rơ chết, thiên sứ mang anh đặt vào lòng của Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết và được chôn cất.
LUK 16:23 Trong chỗ người chết ông nhà giàu quá sức đau đớn. Từ xa xa ông nhìn thấy Áp-ra-ham và La-xa-rơ bên cạnh.
LUK 16:24 Ông kêu, ‘Áp-ra-ham, tổ của con ơi, xin thương xót con! Xin bảo La-xa-rơ nhúng ngón tay vào nước để làm mát lưỡi con một tí vì con khổ quá sức trong lửa nầy!’
LUK 16:25 Nhưng Áp-ra-ham đáp, ‘Con ơi, con hãy nhớ lại khi còn sống trên đời, con đã có đủ thứ của ngon vật lạ, còn La-xa-rơ chỉ gặp toàn những bất hạnh. Bây giờ anh ta được sống thoải mái ở đây, còn con phải chịu khổ hình.
LUK 16:26 Hơn nữa, có một hố sâu giữa chúng ta với con, cho nên không ai có thể từ đây băng qua đó hay từ đó băng qua đây được.’
LUK 16:27 Ông nhà giàu thưa, ‘Cha ơi, vậy xin sai La-xa-rơ đến nhà cha của con.
LUK 16:28 Con có năm anh em, bảo La-xa-rơ cảnh cáo họ để họ khỏi rơi vào chốn khổ hình nầy.’
LUK 16:29 Nhưng Áp-ra-ham đáp, ‘Họ có luật pháp Mô-se và lời dạy của các đấng tiên tri; họ phải vâng theo các lời dạy ấy.’
LUK 16:30 Ông nhà giàu tiếp, ‘Không phải vậy, Áp-ra-ham, cha con ơi! Nếu có người nào sống lại từ trong kẻ chết đến nới với họ, họ sẽ tin và ăn năn hối hận.’
LUK 16:31 Nhưng Áp-ra-ham đáp ‘Nếu họ không nghe Mô-se và các nhà tiên tri thì dù cho người chết sống lại bảo họ, họ cũng chẳng tin đâu.’”
LUK 17:1 Chúa Giê-xu dạy các môn đệ, “Những điều gây cho người ta phạm tội sẽ xảy ra nhưng khốn cho người nào gây ra nó!
LUK 17:2 Nên lấy tảng đá buộc vào cổ người ấy rồi quăng xuống biển còn hơn để người ấy gây cho một trong các trẻ nhỏ nầy phạm tội.
LUK 17:3 Cho nên phải thận trọng! Nếu một anh em các con phạm tội hãy cảnh cáo người ấy; nếu người ấy hối hận, thì hãy tha thứ.
LUK 17:4 Nếu trong một ngày, người ấy phạm tội bảy lần và cả bảy lần người ấy bảo rằng mình hối hận, thì hãy tha thứ.”
LUK 17:5 Các sứ đồ thưa với Chúa, “Xin thêm đức tin cho chúng con!”
LUK 17:6 Chúa bảo, “Nếu đức tin của các con chỉ bằng cỡ một hột cải thôi, thì các con có thể nói với cây dâu nầy, ‘Hãy bứng lên rồi trồng xuống biển đi,’ cây dâu ấy sẽ vâng lời các con.
LUK 17:7 Giả sử các con có một đầy tớ đang cày ruộng hoặc chăn chiên. Khi nó mới ở ngoài đồng về, không lẽ các con bảo, ‘Vào đây ngồi xuống ăn đi?’
LUK 17:8 Không, các con sẽ bảo, ‘Nấu đồ cho tao ăn đi. Chuẩn bị để hầu tao. Sau khi tao ăn uống xong rồi thì mày sẽ ăn.’
LUK 17:9 Dù làm theo điều chủ bảo, đứa đầy tớ cũng không được lời cám ơn đặc biệt nào cả.
LUK 17:10 Các con cũng thế. Khi các con làm xong nhiệm vụ thì nên nói, ‘Chúng con là đầy tớ không ra gì; chúng con chỉ làm bổn phận mình mà thôi.’”
LUK 17:11 Trong khi đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đi qua miền nằm giữa Xa-ma-ri và Ga-li-lê.
LUK 17:12 Vừa đến một thị trấn nhỏ nọ thì có mười người mắc bệnh cùi ra đón Ngài. Họ không đến gần Chúa Giê-xu
LUK 17:13 nhưng đứng đàng xa kêu, “Giê-xu ơi! Thầy ơi! Xin thương chúng tôi!”
LUK 17:14 Khi Chúa Giê-xu thấy họ, Ngài bảo, “Mấy anh hãy đi trình diện thầy tế lễ đi.” Trong khi họ đang đi thì được lành hết.
LUK 17:15 Một trong mười người ấy thấy mình được lành liền quay lại tìm Chúa Giê-xu, lớn tiếng ca ngợi Thượng Đế
LUK 17:16 và quì xuống dưới chân Chúa Giê-xu để cảm tạ Ngài. Anh ta là người Xa-ma-ri.
LUK 17:17 Chúa Giê-xu hỏi, “Có phải tất cả mười người đều được lành hết không? Còn chín người kia đâu rồi?
LUK 17:18 Sao chỉ có một người Xa-ma-ri duy nhất nầy trở lại cảm tạ Thượng Đế?”
LUK 17:19 Rồi Chúa Giê-xu bảo anh, “Hãy đứng dậy đi. Anh được chữa lành vì anh tin.”
LUK 17:20 Một số người Pha-ri-xi hỏi Chúa Giê-xu, “Chừng nào thì Nước Trời sẽ đến?” Chúa Giê-xu đáp, “Nước Trời đã đến rồi, nhưng không đến theo cách các ngươi nhận ra đâu.
LUK 17:21 Người ta không nói, ‘Nước Trời đây rồi!’ hay ‘Nước Trời ở đàng kia!’ vì Nước Trời ở trong lòng các ngươi.”
LUK 17:22 Bấy giờ Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Sẽ có lúc các con mong mỏi thấy một ngày của Con Người thôi mà không được.
LUK 17:23 Người ta sẽ bảo các con, ‘Ngài kia kìa!’ hoặc ‘Ngài đây rồi!’ Đừng đi đâu cả, đừng mất công tìm.
LUK 17:24 Khi Con Người trở lại, Ngài sẽ sáng như chớp, loè ra ngang bầu trời, chiếu từ đầu nầy đến đầu kia.
LUK 17:25 Nhưng trước hết Ngài phải chịu khổ hình và bị người thời nầy gạt bỏ.
LUK 17:26 Khi Con Người trở lại, thì cũng tương tự như thời Nô-ê.
LUK 17:27 Người ta ăn, uống, cưới, gả cho đến khi Nô-ê vào tàu. Rồi nước lụt tràn đến tiêu diệt hết.
LUK 17:28 Lúc ấy cũng giống như trong thời Lót. Người ta ăn, uống, mua, bán, trồng trọt, xây cất.
LUK 17:29 Rồi đến ngày Lót rời Xô-đôm thì lửa và diêm sinh mưa xuống từ trời, đốt cháy tiêu hết.
LUK 17:30 Ngày Con Người đến cũng như thế.
LUK 17:31 Trong ngày đó, ai đang ở trên mái mà còn đồ đạc trong nhà thì đừng trèo xuống mang đi. Còn ai đang ở ngoài đồng cũng đừng trở về nhà.
LUK 17:32 Hãy nhớ lại vợ của Lót.
LUK 17:33 Ai tìm cách giữ mạng sống mình sẽ mất. Nhưng ai hi sinh mạng sống mình sẽ giữ được mạng sống ấy.
LUK 17:34 Ta bảo các ngươi, đêm ấy có hai người cùng ngủ chung một giường, một người được rước đi, người kia bị bỏ lại.
LUK 17:35 Hai người đàn bà cùng xay cối; một người được rước đi, người kia bị bỏ lại.”
LUK 17:36 
LUK 17:37 Các môn đệ hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy việc ấy sẽ xảy ra ở đâu?” Chúa Giê-xu đáp, “Xác chết ở đâu, kên kên tụ lại đó.”
LUK 18:1 Rồi Chúa Giê-xu dùng chuyện sau đây để dạy các môn đệ Ngài phải khẩn nguyện luôn luôn, đừng nản lòng.
LUK 18:2 “Ở tỉnh nọ có một quan tòa không kính sợ Thượng Đế, cũng chẳng nể nang ai.
LUK 18:3 Cùng trong tỉnh có một bà goá cứ đến kêu nài ông quan tòa mãi. Chị van xin, ‘Ngài làm ơn phân xử lẽ công bằng cho tôi đối với kẻ thù của tôi.’
LUK 18:4 Bấy lâu nay, ông quan tòa không chịu giúp đỡ chị. Nhưng sau đó ông thầm nghĩ, ‘Dù rằng ta không kính sợ Thượng Đế cũng chẳng nể nang ai,
LUK 18:5 nhưng ta nên xét xử công bằng cho chị nầy. Nếu không chị cứ đến làm phiền ta hoài, mệt quá.’”
LUK 18:6 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy nghe kỹ lời ông quan tòa bất công ấy nói.
LUK 18:7 Thượng Đế lúc nào cũng ban lẽ công bằng cho dân Ngài, là dân ngày đêm cầu xin. Ngài không chậm trễ trong việc đáp lời kêu xin của họ đâu.
LUK 18:8 Ta bảo cho các con biết, Thượng Đế sẽ mau chóng đến giúp dân Ngài. Nhưng khi Con Người trở lại, liệu có tìm được ai trên đất còn tin ở Ngài hay không?”
LUK 18:9 Chúa Giê-xu kể chuyện nầy cho những người tự cho mình là đạo đức mà khinh dể kẻ khác:
LUK 18:10 “Có một người Pha-ri-xi và một người thu thuế cùng lên đền thờ cầu nguyện.
LUK 18:11 Người Pha-ri-xi đứng riêng một mình và cầu nguyện như sau, ‘Lạy Thượng Đế, con tạ ơn Ngài vì con không giống như những người khác: ăn cắp, lường gạt, ngoại tình hoặc như anh thu thuế nầy.
LUK 18:12 Con cữ ăn mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười về mọi nguồn lợi tức của con!’
LUK 18:13 Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời. Anh ta đấm ngực vì quá ân hận. Anh khẩn cầu, ‘Lạy Thượng Đế, xin thương xót con là một tội nhân.’
LUK 18:14 Ta bảo cho các ngươi biết, anh nầy về được Thượng Đế chấp nhận chứ không phải người Pha-ri-xi đâu. Ai tự đề cao mình sẽ bị hạ thấp còn ai khiêm nhượng sẽ được tôn cao.”
LUK 18:15 Có mấy người mang các trẻ em đến cùng Chúa Giê-xu, để Ngài đặt tay trên chúng nó. Nhưng các môn đệ Ngài vậy liền rầy họ.
LUK 18:16 Chúa Giê-xu gọi chúng đến và dạy rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến với ta. Đừng ngăn cản vì Nước Trời thuộc về những người có lòng giống như chúng nó.
LUK 18:17 Ta nói thật, các con phải tiếp nhận Nước Trời như một trẻ thơ, nếu không sẽ chẳng vào đó được đâu.”
LUK 18:18 Có một lãnh tụ kia hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy nhân đức, tôi phải làm gì mới được sống đời đời?”
LUK 18:19 Chúa Giê-xu trả lời, “Sao anh gọi ta là nhân đức? Chỉ một mình Thượng Đế là nhân đức thôi.
LUK 18:20 Anh biết các mệnh lệnh: ‘Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được giết người. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được đặt điều nói dối về người láng giềng mình. Ngươi phải hiếu kính cha mẹ.’”
LUK 18:21 Nhà lãnh tụ ấy thưa, “Tôi đã vâng giữ những mệnh lệnh ấy từ khi còn nhỏ.”
LUK 18:22 Nghe như thế Chúa Giê-xu bảo, “Anh cần làm một điều nữa. Hãy bán hết của cải anh có, phân phát cho người nghèo thì anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
LUK 18:23 Nhưng khi nghe xong thì anh đâm ra rầu rĩ vì anh giàu lắm.
LUK 18:24 Chúa Giê-xu nhìn anh bảo rằng, “Thật khó cho người giàu vào Nước Trời.
LUK 18:25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào Nước Trời.”
LUK 18:26 Khi quần chúng nghe vậy liền hỏi, “Vậy thì ai được cứu?”
LUK 18:27 Chúa Giê-xu đáp, “Điều gì loài người làm không được, thì Thượng Đế làm được.”
LUK 18:28 Phia-rơ thưa, “Thầy xem, chúng con đã bỏ hết tất cả để theo thầy.”
LUK 18:29 Chúa Giê-xu bảo, “Ta nói thật với các con, người nào bỏ nhà cửa, vợ con, cha mẹ, anh em vì Nước Trời
LUK 18:30 thì trong đời nầy sẽ nhận nhiều lần hơn và trong cõi tương lai sẽ được sự sống đời đời.”
LUK 18:31 Rồi Chúa Giê-xu đem các môn đệ riêng ra và bảo họ, “Chúng ta sẽ đi lên Giê-ru-sa-lem. Những gì các nhà tiên tri viết về Con Người sẽ được thành tựu.
LUK 18:32 Ngài sẽ bị giao vào tay những người ngoại quốc. Họ sẽ chế giễu Ngài, sỉ nhục Ngài, phỉ nhổ Ngài,
LUK 18:33 đánh đập Ngài và giết Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
LUK 18:34 Các môn đệ chẳng hiểu gì cả, vì ý nghĩa đã bị che khuất khỏi họ, cho nên họ không hiểu lời Ngài nói.
LUK 18:35 Chúa Giê-xu đang đi gần đến thành Giê-ri-cô, thì có một người mù ngồi xin ăn bên đường.
LUK 18:36 Lúc anh nghe tiếng dân chúng đi lại ồn ào trên đường mới hỏi, “Chuyện gì vậy?”
LUK 18:37 Họ đáp, “Giê-xu người Na-xa-rét sắp đi qua.”
LUK 18:38 Anh mù vùng kêu lớn, “Giê-xu, Con Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
LUK 18:39 Mấy người đi đầu đoàn dân la rầy bảo anh im đi. Nhưng anh còn la lớn hơn nữa, “Con Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
LUK 18:40 Chúa Giê-xu dừng lại bảo người ta dẫn anh mù đến. Khi anh đến, Chúa Giê-xu hỏi,
LUK 18:41 “Anh muốn ta làm gì cho anh đây?” Anh ta thưa, “Lạy Chúa, tôi muốn sáng mắt.”
LUK 18:42 Chúa Giê-xu bảo anh ta, “Vậy thì anh hãy sáng mắt. Anh được lành vì anh tin.”
LUK 18:43 Người mù lập tức thấy đường, đi theo Chúa Giê-xu và cảm tạ Thượng Đế. Mọi người chứng kiến chuyện ấy cũng ca ngợi Thượng Đế.
LUK 19:1 Chúa Giê-xu đi ngang qua thành Giê-ri-cô.
LUK 19:2 Ở đó có một người tên Xa-chê là nhân viên thuế vụ cao cấp rất giàu.
LUK 19:3 Ông muốn thấy Chúa Giê-xu nhưng không được vì ông quá lùn giữa đám đông dân chúng.
LUK 19:4 Ông liền chạy trước đón chỗ Chúa Giê-xu sẽ đi ngang qua, rồi trèo lên một cây sung để thấy Ngài.
LUK 19:5 Lúc Chúa Giê-xu đến nơi, Ngài ngước nhìn và gọi, “Xa-chê ơi, xuống mau. Hôm nay ta phải ghé lại nhà anh.”
LUK 19:6 Xa-chê vội vàng trèo xuống và hớn hở tiếp Ngài.
LUK 19:7 Dân chúng thấy thế bắt đầu xì xào, “Ông Giê-xu ghé nhà một người có tội!”
LUK 19:8 Nhưng Xa-chê đứng đó nói, “Thưa Chúa, tôi sẽ lấy phân nửa tài sản tôi phân phát cho người nghèo. Còn nếu tôi đã lường gạt ai, tôi sẽ đền lại gấp bốn lần.”
LUK 19:9 Chúa Giê-xu bảo ông, “Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến nhà nầy vì anh cũng là con cháu Áp-ra-ham.
LUK 19:10 Con Người đến để tìm và cứu những kẻ bị lầm lạc.”
LUK 19:11 Trong lúc dân chúng đang theo dõi chuyện ấy thì Chúa Giê-xu thuật cho họ một câu chuyện khác trong khi Ngài đi gần đến thành Giê-ru-sa-lem, còn dân chúng thì tưởng là Nước Trời sẽ hiện ra ngay.
LUK 19:12 Ngài kể, “Có một nhân vật quan trọng sắp đi đến một xứ xa để được tấn phong làm vua rồi trở về nhà.
LUK 19:13 Ông gọi mười người đầy tớ lại, giao cho mỗi người một túi tiền. Ông dặn, ‘Lấy tiền nầy mà kinh doanh cho đến khi ta trở về.’
LUK 19:14 Tuy nhiên dân chúng trong nước ghét ông cho nên họ cử một toán đại diện đi theo nói, ‘Chúng tôi không muốn ông nầy làm vua cai trị chúng tôi.’
LUK 19:15 Nhưng ông vẫn được phong làm vua. Khi trở về, ông bảo, ‘Gọi mấy đứa đầy tớ đã nhận tiền của ta xem thử chúng nó làm ăn ra sao.’
LUK 19:16 Người đầy tớ thứ nhất vào trình, ‘Thưa ngài, con đã dùng quan tiền ngài đưa và làm lợi được mười đồng nữa.’
LUK 19:17 Vua khen, ‘Giỏi! Anh là người đầy tớ tốt. Vì ta có thể tin cậy anh trong việc nhỏ, ta sẽ cho anh cai trị mười thành.’
LUK 19:18 Người đầy tớ thứ nhì vào trình, ‘Thưa ngài, một quan tiền ngài đưa con làm lợi được năm đồng nữa.’
LUK 19:19 Vua bảo, ‘Anh được cai trị năm thành.’
LUK 19:20 Đến lượt một người đầy tớ nữa vào trình vua, ‘Thưa ngài, đây là quan tiền ngài đưa, con đã gói vải kỹ và cất giấu cẩn thận.
LUK 19:21 Con sợ ngài vì ngài rất khó tính. Ngài hay rút tiền mình không bỏ vào, và gặt nơi mình không gieo.’
LUK 19:22 Vua liền bảo nó, ‘Lời của anh sẽ buộc tội anh, nầy tên đầy tớ gian ác. Anh biết ta khó tính, rút tiền mình không bỏ vào, gặt nơi mình không trồng.
LUK 19:23 Tại sao anh không gởi tiền ta vào ngân hàng để đến khi ta về thì ta cũng được một ít tiền lời?’
LUK 19:24 Vua bảo mấy người hầu cận, ‘Lấy quan tiền của thằng nầy cho đứa có mười đồng.’
LUK 19:25 Họ thưa, ‘Nhưng thưa ngài, anh ấy đã có mười đồng rồi.’
LUK 19:26 Vua bảo, ‘Ai có thì cho thêm, ai không có thì bị lấy luôn hết.
LUK 19:27 Còn bây giờ những ai là kẻ thù của ta không muốn ta làm vua cai trị? Chúng nó đâu? Đem ra đây xử tử hết trước mặt ta.’”
LUK 19:28 Sau khi kể chuyện ấy xong, thì Ngài đi về hướng Giê-ru-sa-lem.
LUK 19:29 Lúc gần đến Bết-phát và Bê-tha-ni, hai thị trấn cạnh sườn núi Ô-liu thì Ngài sai hai môn đệ đi
LUK 19:30 và dặn, “Các con hãy đi đến thị trấn ngay trước mặt. Khi vào phố các con sẽ thấy một con lừa con đang cột, chưa có ai cỡi. Tháo nó ra mang về đây cho ta.
LUK 19:31 Nếu có ai hỏi tại sao tháo nó ra, thì bảo là Chúa cần nó.”
LUK 19:32 Hai môn đệ đi vào thành, quả gặp con lừa con y như Chúa Giê-xu đã bảo.
LUK 19:33 Trong khi họ đang tháo lừa ra, thì mấy người chủ lừa đến hỏi, “Tại sao mấy anh tháo con lừa con của chúng tôi làm gì?”
LUK 19:34 Các môn đệ đáp, “Chúa cần dùng nó.”
LUK 19:35 Rồi họ mang lừa con về cho Chúa Giê-xu, lấy áo mình trải lên lưng lừa và nâng Ngài lên cỡi.
LUK 19:36 Trong khi Chúa Giê-xu cỡi lừa về phía Giê-ru-sa-lem thì nhiều người khác trải áo mình trên đường trước mặt Ngài.
LUK 19:37 Khi Ngài đến gần Giê-ru-sa-lem, trên đường xuống núi Ô-liu, đoàn môn đệ đông đảo reo vui ca ngợi Thượng Đế về những phép lạ họ đã chứng kiến.
LUK 19:38 Dân chúng la lên, “‘Nguyện Trời ban phước cho vua đến trong danh Chúa!’ Hoà bình trên thiên quốc, Vinh danh Thánh Chúa trên trời cao!”
LUK 19:39 Một số người Pha-ri-xi trong đoàn dân nói với Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, xin cấm các môn đệ nầy đừng ca ngợi như thế.”
LUK 19:40 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Ta cho các ông biết, nếu họ không ca ngợi thì đá sẽ hát lên.”
LUK 19:41 Lúc gần đến Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu trông thấy thành, thì bật khóc về thành.
LUK 19:42 Ngài nói, “Ước gì ngày nay ngươi biết điều gì mang đến hòa bình cho ngươi. Nhưng bây giờ điều ấy đã bị che khuất khỏi ngươi.
LUK 19:43 Sẽ đến lúc các kẻ thù ngươi xây tường, vây hãm ngươi khắp bốn bên.
LUK 19:44 Chúng sẽ tiêu diệt ngươi luôn cả dân cư ngươi, và rồi sẽ không có một hòn đá nào nằm chồng lên một hòn đá khác. Tất cả những biến cố đó sẽ đến, chỉ vì ngươi không biết lúc Thượng Đế đến cứu ngươi.”
LUK 19:45 Chúa Giê-xu đi vào đền thờ và đuổi tất cả những người buôn bán ở đó.
LUK 19:46 Ngài dạy, “Thánh Kinh đã ghi, ‘Đền thờ ta sẽ là nhà cầu nguyện.’ Nhưng các ngươi đã biến nó thành ‘sào huyệt lũ cướp’!”
LUK 19:47 Chúa Giê-xu dạy dỗ trong đền thờ mỗi ngày. Các giới trưởng tế, các chuyên gia luật pháp và một số lãnh tụ trong dân chúng muốn giết Ngài,
LUK 19:48 nhưng họ không biết làm cách nào vì tất cả dân chúng đều chăm chỉ nghe Ngài.
LUK 20:1 Một ngày nọ, Chúa Giê-xu đang ở trong đền thờ dạy dỗ dân chúng và giảng cho họ nghe về Tin Mừng. Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão đến hỏi Ngài như sau,
LUK 20:2 “Xin thầy cho chúng tôi biết, thầy lấy quyền ở đâu mà làm những việc nầy? Ai cho thầy quyền ấy?”
LUK 20:3 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi cũng hỏi các ông một câu. Các ông hãy cho tôi biết:
LUK 20:4 Khi Giăng làm lễ báp-têm cho dân chúng, thì ông ta lấy quyền từ Thượng Đế hay là từ người khác?”
LUK 20:5 Họ bàn nhau thế nầy, “Nếu chúng ta trả lời, ‘Lễ báp-têm của Giăng từ Thượng Đế đến,’ ông ta sẽ bảo, ‘Vậy tại sao các ông không tin ông ấy?’
LUK 20:6 Còn nếu chúng ta đáp, ‘Lễ đó đến từ người khác,’ thì dân chúng sẽ ném đá chúng ta chết, vì dân chúng tin rằng Giăng là nhà tiên tri.”
LUK 20:7 Cho nên họ trả lời là họ không biết lễ ấy đến từ đâu.
LUK 20:8 Chúa Giê-xu bảo, “Vậy tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền ở đâu mà làm những việc nầy.”
LUK 20:9 Sau đó Chúa Giê-xu kể cho dân chúng nghe chuyện nầy: “Có người kia trồng một vườn nho, xong cho mấy tá điền thuê. Rồi ông lên đường đi vắng lâu ngày.
LUK 20:10 Đến mùa hái nho, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. Nhưng họ đánh đập nó rồi đuổi về tay không.
LUK 20:11 Ông liền sai một đầy tớ khác. Chúng cũng đánh đập luôn, chẳng nể ông chút nào, rồi cũng đuổi về tay không.
LUK 20:12 Ông sai một đầy tớ thứ ba. Bọn tá điền đánh đập nó đến mang thương tích rồi tống khứ ra khỏi vườn.
LUK 20:13 Ông chủ vườn nho ngẫm nghĩ, ‘Bây giờ ta phải xử trí sao đây? Ta sẽ sai đứa con trai yêu dấu của ta. Có lẽ chúng sẽ nể nang con ta.’
LUK 20:14 Nhưng khi bọn tá điền thấy đứa con đến thì bàn nhau, ‘Thằng nầy sẽ thừa hưởng vườn nho. Nếu chúng ta giết nó thì vườn nho sẽ thuộc chúng ta.’
LUK 20:15 Cho nên bọn tá điền quẳng đứa con ra ngoài vườn rồi giết chết. Thế thì ông chủ vườn nho sẽ xử trí ra sao?
LUK 20:16 Ông sẽ đến giết hết bọn tá điền đó rồi cho những tá điền khác thuê.” Khi dân chúng nghe câu chuyện ấy thì thốt lên, “Làm sao mà có chuyện ấy?”
LUK 20:17 Nhưng Chúa Giê-xu nhìn họ hỏi rằng, “Thế thì câu nầy có nghĩa gì: ‘Tảng đá bị thợ xây nhà loại ra lại trở thành đá góc nhà’?
LUK 20:18 Người nào rơi trên tảng đá đó sẽ tan tành, còn người nào bị tảng đá đó rớt nhằm cũng bị dập nát luôn!”
LUK 20:19 Các giáo sư luật và các giới trưởng tế muốn bắt Chúa Giê-xu ngay lập tức vì họ biết câu chuyện ấy ám chỉ họ, nhưng họ sợ dân chúng phản ứng.
LUK 20:20 Họ theo dõi Chúa Giê-xu và cho mấy tên mật thám giả vờ làm người chất phác. Họ tìm cách gài bẫy, xem Ngài có nói điều gì sai quấy để có thể giao Ngài cho nhà cầm quyền và quan tổng đốc.
LUK 20:21 Mấy tên mật thám hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, chúng tôi biết lời thầy nói và điều thầy dạy là đúng. Thầy không cần biết ai vì thầy luôn dạy sự thật theo đường lối của Thượng Đế.
LUK 20:22 Xin thầy cho chúng tôi biết, chúng ta có nên đóng thuế cho Xê-xa hay không?”
LUK 20:23 Nhưng Chúa Giê-xu biết âm mưu họ muốn gài bẫy Ngài, nên hỏi,
LUK 20:24 “Đưa ta xem một đồng tiền. Hình và danh hiệu trên đồng nầy là của ai?” Họ đáp, “Của Xê-xa.”
LUK 20:25 Chúa Giê-xu bảo, “Thế thì cái gì của Xê-xa hãy trả lại cho Xê-xa, còn cái gì của Thượng Đế, thì hãy trả lại cho Thượng Đế.”
LUK 20:26 Cho nên, ngay trong những lời Ngài nói trước mặt dân chúng, họ không đánh bẫy Ngài được điều gì. Sững sờ về câu đáp của Ngài, họ im bặt.
LUK 20:27 Có mấy người Xa-đu-xê là giới người không tin chuyện người ta sống lại từ trong kẻ chết, đến gặp Chúa Giê-xu.
LUK 20:28 Họ hỏi, “Thưa thầy, Mô-se qui định rằng nếu anh của người nào qua đời, để vợ lại không con, thì người em trai phải lấy người đàn bà góa ấy để nối dòng cho anh mình.
LUK 20:29 Trong chuyện nầy có tất cả bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, rồi chết không con.
LUK 20:30 Người em thứ hai lấy góa phụ ấy rồi chết.
LUK 20:31 Đến người em thứ ba cũng lấy góa phụ ấy rồi qua đời. Bảy anh em đều cùng chung số phận; tất cả đều qua đời không con.
LUK 20:32 Sau cùng người đàn bà cũng chết.
LUK 20:33 Thế thì lúc người ta sống lại từ trong kẻ chết, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì tất cả bảy anh em đều đã lấy chị ta?”
LUK 20:34 Chúa Giê-xu đáp, “Trên trần thế nầy người ta lấy vợ gả chồng.
LUK 20:35 Nhưng những người xứng đáng để được sống lại từ kẻ chết trong tương lai sẽ không cưới vợ gả chồng gì nữa.
LUK 20:36 Vì trong đời sống mới ấy, họ giống như thiên sứ trên trời nên không chết nữa. Họ là con Thượng Đế, vì họ đã được sống lại từ trong kẻ chết.
LUK 20:37 Mô-se cũng đã chứng tỏ rằng người chết quả sống lại. Trong câu chuyện về bụi cây cháy, ông viết rằng Chúa là ‘Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác và Thượng Đế của Gia-cốp.’
LUK 20:38 Thượng Đế là Thượng Đế của người sống chứ không phải của người chết vì trước mặt Ngài không có ai chết cả.”
LUK 20:39 Một số giáo sư luật bảo, “Thưa thầy, câu đáp của thầy rất đúng.”
LUK 20:40 Rồi không ai dám hỏi Ngài câu nào nữa.
LUK 20:41 Sau đó Chúa Giê-xu hỏi, “Tại sao người ta nói Đấng Cứu Thế là Con vua Đa-vít?
LUK 20:42 Trong sách Thi thiên, chính Đa-vít đã nói: ‘Chúa nói cùng Chúa tôi: Con hãy ngồi bên hữu ta,
LUK 20:43 cho đến chừng ta đặt các kẻ thù của con dưới quyền quản trị của con.’
LUK 20:44 Nếu vua Đa-vít gọi Đấng Cứu Thế là ‘Chúa’ thì làm sao Ngài là con vua ấy được?”
LUK 20:45 Trong khi dân chúng lắng nghe, Chúa Giê-xu dạy các môn đệ như sau,
LUK 20:46 “Các con hãy thận trọng về các giáo sư luật. Họ thích mặc áo quần sang trọng đi dạo, và muốn dân chúng kính cẩn chào mình nơi phố chợ. Họ thích ngồi chỗ cao nhất trong hội đường và các bữa tiệc.
LUK 20:47 Nhưng họ lường gạt các đàn bà góa và cướp đoạt nhà cửa của các bà ấy, rồi làm bộ giả đạo đức bằng cách đọc lời cầu nguyện thật dài. Họ sẽ bị trừng phạt nặng hơn.”
LUK 21:1 Chúa Giê-xu ngước lên thấy mấy người giàu bỏ tiền vào hộp dâng hiến trong đền thờ.
LUK 21:2 Sau đó, Ngài cũng thấy một người đàn bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hộp.
LUK 21:3 Ngài nói, “Ta bảo thật với các con, bà góa nghèo nầy đã dâng nhiều hơn tất cả các người giàu kia.
LUK 21:4 Vì họ chỉ dâng phần dư thừa. Còn bà góa nầy tuy nghèo lắm, nhưng đã dâng hết tất cả của mình có để nuôi thân.”
LUK 21:5 Có mấy người nói chuyện về đền thờ. Họ trầm trồ về những khối đá đẹp tô điểm trong đền thờ cùng những của lễ mà người ta dâng. Nhưng Chúa Giê-xu bảo,
LUK 21:6 “Những gì đẹp mà các con thấy hôm nay rồi sẽ đến lúc mà không có hai khối đá nào nằm chồng lên nhau nữa. Tất cả đều sẽ đổ nhào xuống hết.”
LUK 21:7 Họ hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy bao giờ thì các biến cố ấy xảy đến? Có dấu hiệu gì cho thấy nó sắp xảy ra không?”
LUK 21:8 Chúa Giê-xu đáp, “Hãy thận trọng, đừng để bị lừa. Nhiều người sẽ mạo danh ta đến và tự xưng, ‘Ta là Đấng ấy’ hoặc ‘Thời đã điểm!’ Nhưng các con đừng theo họ.
LUK 21:9 Khi các con nghe tiếng đồn về giặc giã và loạn lạc thì đừng sợ, vì những biến cố ấy sẽ đến trước rồi sau mới tận thế.”
LUK 21:10 Rồi Ngài bảo họ, “Dân nầy sẽ đánh dân kia, nước nầy chống nước nọ.
LUK 21:11 Nhiều nơi sẽ có động đất lớn, dịch hạch và đói kém. Có nhiều biến cố đáng sợ và những dấu lạ từ trời xuống.
LUK 21:12 Nhưng trước khi những biến cố ấy xảy ra, người ta sẽ bắt và ngược đãi các con. Họ sẽ xét xử các con trong các hội đường, tống giam các con và bắt các con đứng trước mặt các vua, các quan tổng trấn chỉ vì các con làm môn đệ ta.
LUK 21:13 Nhưng việc ấy sẽ tạo cơ hội tốt cho các con làm chứng về ta.
LUK 21:14 Các con đừng lo âu là không biết sẽ nói gì.
LUK 21:15 Ta sẽ cho các con sự khôn ngoan để nói những điều mà kẻ thù không bẻ bác được.
LUK 21:16 Đến nỗi cha mẹ, anh em, thân nhân và bạn hữu cũng sẽ nghịch lại các con, họ cũng sẽ giết một vài người trong các con.
LUK 21:17 Mọi người sẽ ghét các con vì các con theo ta.
LUK 21:18 Nhưng không có gì làm hại các con được.
LUK 21:19 Các con sẽ cứu được mạng sống mình bằng cách giữ vững lòng tin.
LUK 21:20 Khi các con thấy quân lính vây hãm thành Giê-ru-sa-lem, thì phải biết rằng nó sắp bị tiêu hủy.
LUK 21:21 Lúc ấy, ai ở miền Giu-đia hãy chạy trốn lên núi. Ai ở trong thành Giê-ru-sa-lem hãy chạy thoát ra, và ai ở gần thành ấy thì chớ nên vào thành.
LUK 21:22 Đó là những ngày trừng phạt theo Thánh Kinh đã viết.
LUK 21:23 Khốn khổ nhất là đàn bà đang mang thai và có con còn bú! Tai họa sẽ đến trên đất vì Thượng Đế nổi giận cùng dân nầy.
LUK 21:24 Họ sẽ bị gươm giết và sẽ bị bắt làm tù binh rải rác khắp mọi quốc gia. Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại quốc giày xéo cho đến thời kỳ dành cho dân ngoại quốc chấm dứt.
LUK 21:25 Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Trên đất, nhiều quốc gia sẽ kinh khiếp và hoang mang vì tiếng gầm thét và sóng cồn dữ dội của biển cả.
LUK 21:26 Người ta sẽ khiếp đảm đến nỗi tuyệt vọng, tự hỏi thế giới sẽ đi về đâu vì các thế lực trên trời sẽ rúng động.
LUK 21:27 Lúc ấy người ta sẽ thấy Con Người hiện đến giữa mây trời với quyền lực và hiển vinh cao cả.
LUK 21:28 Khi những biến cố ấy bắt đầu, hãy ngẩng đầu lên, vì thời kỳ Thượng Đế giải thoát các con đã đến!”
LUK 21:29 Sau đó Chúa Giê-xu kể câu chuyện nầy: “Các con hãy xem cây vả cùng các loại cây khác.
LUK 21:30 Khi lá non trổ ra, thì các con biết mùa hạ gần tới.
LUK 21:31 Cũng thế, khi các con thấy những biến cố ấy xảy ra thì các con biết rằng Nước Trời gần đến rồi.
LUK 21:32 Ta cho các con biết là những biến cố ấy sẽ xảy ra trong khi người ở thời đại nầy hãy còn sống.
LUK 21:33 Trời đất sẽ bị tiêu hủy nhưng lời ta nói sẽ không bao giờ bị tiêu hủy đâu.
LUK 21:34 Phải thận trọng, đừng dành thì giờ ăn uống phè phỡn hoặc bận tâm đến những việc đời nầy. Nếu không, ngày ấy sẽ bất chợt xảy đến với các con,
LUK 21:35 giống như cái bẫy sập mọi người sống trên đất.
LUK 21:36 Cho nên lúc nào cũng phải sẵn sàng. Hãy cầu nguyện cho các con đủ sức thoát khỏi những biến cố đó để các con có thể đứng trước mặt Con Người.”
LUK 21:37 Ban ngày Chúa Giê-xu dạy dỗ dân chúng trong đền thờ, đêm xuống thì Ngài đi ra ngoài thành phố và ngụ trên núi Ô-liu.
LUK 21:38 Mỗi sáng, tất cả dân chúng dậy sớm đi vào đền thờ để nghe Ngài dạy.
LUK 22:1 Gần đến ngày lễ Bánh Không Men cũng còn gọi là lễ Vượt Qua.
LUK 22:2 Các giới trưởng tế và các giáo sư luật tìm cách giết Chúa Giê-xu nhưng chưa được vì họ sợ dân chúng phản ứng.
LUK 22:3 Quỉ Sa-tăng nhập vào Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một trong mười hai sứ đồ của Chúa Giê-xu.
LUK 22:4 Giu-đa đi gặp các giới trưởng tế cùng mấy tên lính canh gác đền thờ để bàn cách trao Ngài vào tay họ.
LUK 22:5 Họ rất mừng và đồng ý thưởng tiền cho hắn.
LUK 22:6 Hắn thỏa thuận và rình cơ hội để trao Chúa Giê-xu vào tay họ khi Ngài ở cách xa quần chúng.
LUK 22:7 Ngày đầu tiên của lễ Ăn Bánh Không Men là lúc chiên con của lễ Vượt Qua phải bị giết.
LUK 22:8 Chúa Giê-xu sai Phia-rơ và Giăng đi và dặn, “Các con hãy đi chuẩn bị bữa ăn lễ Vượt Qua cho chúng ta.”
LUK 22:9 Họ hỏi, “Thầy muốn chúng con dọn bữa ăn ấy ở đâu?” Chúa Giê-xu bảo,
LUK 22:10 “Khi các con vào thành sẽ có một người mang bầu nước ra đón các con. Hãy đi theo người ấy, hễ người ấy vào nhà nào
LUK 22:11 thì các con hãy nói với chủ nhà, ‘Thầy hỏi: Cái phòng khách mà ta sẽ ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ ta ở đâu?’
LUK 22:12 Người sẽ chỉ cho các con một phòng rộng trên gác, có bàn ghế sẵn sàng. Các con sẽ dọn lễ Vượt Qua tại đó.”
LUK 22:13 Phia-rơ và Giăng ra đi, quả gặp mọi chuyện như Chúa Giê-xu đã bảo. Họ liền dọn bữa ăn lễ Vượt Qua.
LUK 22:14 Đến giờ, Chúa Giê-xu và các sứ đồ đang ngồi ở bàn.
LUK 22:15 Ngài bảo họ, “Ta rất muốn ăn lễ Vượt Qua nầy với các con trước khi ta phải chịu khổ hình.
LUK 22:16 Ta sẽ không còn ăn lễ Vượt Qua nào nữa cho đến khi Lễ ấy được mang đầy đủ ý nghĩa trong Nước Trời.”
LUK 22:17 Rồi Ngài cầm ly, cảm tạ và nói, “Các con hãy lấy ly nầy và chia nhau uống.
LUK 22:18 Ta sẽ không uống nước nho nầy nữa cho tới khi Nước Trời hiện đến.”
LUK 22:19 Sau đó Ngài lấy bánh mì, cảm tạ và bẻ ra trao cho các sứ đồ và nói rằng, “Đây là thân thể ta hi sinh cho các con. Hãy làm điều nầy để nhớ đến ta.”
LUK 22:20 Cũng vậy, sau khi ăn, Ngài cầm ly và bảo, “Ly nầy là giao ước mới mà Thượng Đế kết lập với dân của Ngài. Giao ước mới nầy bắt đầu bằng huyết của ta đổ ra vì các con.”
LUK 22:21 “Nhưng một người trong các con sẽ phản bội ta, tay người ấy đang đặt chung với tay ta trên bàn.
LUK 22:22 Điều mà Thượng Đế đã định cho Con Người sẽ xảy ra, nhưng khốn cho kẻ nào phản Con Người.”
LUK 22:23 Các sứ đồ hỏi nhau xem ai trong vòng họ lại làm chuyện ấy.
LUK 22:24 Các môn đệ bắt đầu tranh luận với nhau xem ai trong họ là người quan trọng nhất.
LUK 22:25 Nhưng Chúa Giê-xu dạy họ, “Các vua chúa ngoại quốc cai trị dân chúng, và những người cầm quyền thích được gọi là ‘bạn dân.’
LUK 22:26 Tuy nhiên, các con không nên như thế. Trái lại, người nào lớn nhất trong các con phải là người thấp kém nhất và người lãnh đạo phải như kẻ tôi tớ vậy.
LUK 22:27 Giữa một người ngồi ở bàn và một người hầu hạ, người nào quan trọng hơn? Các con cho là người ngồi ở bàn quan trọng hơn. Nhưng ta giống như kẻ hầu hạ ở giữa các con vậy.
LUK 22:28 Các con đã ở cùng ta suốt những cuộc đấu tranh gay go của ta.
LUK 22:29 Cha đã ban cho ta một vương quốc thì ta cũng cho các con vương quốc ấy
LUK 22:30 để các con được ăn uống chung bàn với ta trong nước của ta. Các con sẽ ngồi trên ngôi, xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.”
LUK 22:31 “Xi-môn ơi, Xi-môn ơi, Sa-tăng đã xin thử nghiệm tất cả các con như nhà nông sàng sảy lúa vậy.
LUK 22:32 Ta đã cầu nguyện để con đừng mất đức tin! Khi con trở lại với ta thì hãy giục giã anh em con.”
LUK 22:33 Nhưng Phia-rơ thưa với Chúa Giê-xu, “Thưa Chúa, con sẵn sàng đồng tù, đồng chết với Chúa!”
LUK 22:34 Chúa Giê-xu bảo, “Phia-rơ à, hôm nay trước khi gà gáy con sẽ chối ta ba lần.”
LUK 22:35 Sau đó Chúa Giê-xu hỏi các sứ đồ, “Khi ta sai các con ra đi mà không mang ví, túi, hoặc giày theo các con có thiếu gì không?” Họ thưa, “Dạ không thiếu gì hết.”
LUK 22:36 Ngài bảo tiếp, “Bây giờ nếu các con có ví hoặc túi thì hãy mang theo. Nếu các con không có gươm hãy bán áo ngoài mà mua một cái.
LUK 22:37 Thánh Kinh viết, ‘Ngài bị đối xử như một tên tội phạm.’ Ta bảo các con biết là câu Thánh Kinh ấy phải được mang đầy đủ ý nghĩa. Câu ấy nói về ta và sự việc hiện đang xảy ra.”
LUK 22:38 Các môn đệ thưa, “Thưa Chúa, đây có hai cây gươm.” Ngài bảo, “Vậy đủ rồi.”
LUK 22:39 Chúa Giê-xu ra khỏi thành và đi đến núi Ô-liu như Ngài vẫn thường làm. Các môn đệ cùng đi với Ngài.
LUK 22:40 Khi đến nơi, Ngài bảo họ, “Các con hãy cầu nguyện cho có sức chống chọi sự cám dỗ.”
LUK 22:41 Rồi Ngài đi cách họ khoảng chừng liệng một viên đá, quì xuống và cầu nguyện,
LUK 22:42 “Thưa Cha, nếu Cha muốn, xin lấy ly đau khổ nầy đi. Nhưng hãy làm theo ý Cha chứ không phải theo ý con.”
LUK 22:43 Có một thiên sứ từ trời hiện đến thêm sức cho Ngài.
LUK 22:44 Trong cơn đau khổ Chúa Giê-xu càng cầu nguyện thiết tha. Mồ hôi Ngài rơi xuống đất như những giọt máu.
LUK 22:45 Khi cầu nguyện xong, Chúa Giê-xu trở lại với các môn đệ, thì thấy họ đang ngủ vì quá buồn bã.
LUK 22:46 Chúa Giê-xu bảo họ, “Sao các con ngủ? Hãy dậy cầu nguyện cho có sức chống chọi với sự cám dỗ.”
LUK 22:47 Trong khi Chúa Giê-xu còn đang nói thì một đám đông ập đến do Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ dẫn đầu. Hắn tiến đến gần Chúa Giê-xu để hôn Ngài.
LUK 22:48 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi hắn, “Giu-đa, có phải con dùng cái hôn để trao Con Người cho kẻ thù của Ngài không?”
LUK 22:49 Những người đứng quanh thấy vậy liền hỏi Ngài, “Thưa Chúa, chúng con nên lấy gươm chém bọn nầy không?”
LUK 22:50 Một trong những người ở đó rút gươm ra chém đứt vành tai phải của người đầy tớ thầy tế lễ tối cao.
LUK 22:51 Chúa Giê-xu bảo, “Thôi! Đừng chém nữa.” Rồi Ngài rờ vành tai của người đầy tớ và chữa lành cho.
LUK 22:52 Những người đến bắt Chúa Giê-xu là những trưởng tế, các vệ binh canh gác đền thờ, và các bô lão. Chúa Giê-xu bảo họ, “Các ông mang theo gươm giáo và gậy gộc đến bắt ta làm như thể ta là tên tội phạm.
LUK 22:53 Hằng ngày ta có mặt trong đền thờ mà các ông không bắt. Nhưng nay là giờ của các ông—giờ mà tăm tối ngự trị.”
LUK 22:54 Chúng bắt Chúa Giê-xu dẫn đi và giải Ngài đến nhà riêng của thầy tế lễ tối cao. Phia-rơ đi theo sau xa xa.
LUK 22:55 Sau khi bọn lính đốt một đống lửa giữa sân và ngồi sưởi gần nhau thì Phia-rơ cũng đến ngồi chung với họ.
LUK 22:56 Một đứa tớ gái thấy Phia-rơ ngồi đó qua ánh lửa chập chờn, cô nhìn Phia-rơ thật kỹ rồi bảo, “Ông nầy cũng ở với người ấy.”
LUK 22:57 Nhưng Phia-rơ chối phăng; ông bảo, “Chị ơi, tôi không hề biết người ấy.”
LUK 22:58 Lát sau, một người khác thấy Phia-rơ liền nói, “Ông cũng là người thuộc bọn đó.” Nhưng Phia-rơ đáp, “Anh ơi, tôi không thuộc đám đó đâu!”
LUK 22:59 Độ một giờ sau, một người nữa nhất quyết, “Chắc chắn người nầy từng ở với ông ấy vì ông ta cũng gốc Ga-li-lê.”
LUK 22:60 Nhưng Phia-rơ trả lời, “Anh à, tôi không hiểu anh nói gì cả!” Ngay lúc Phia-rơ còn đang nói thì gà gáy.
LUK 22:61 Chúa quay lại nhìn thẳng vào Phia-rơ. Ông ta chợt nhớ lại lời Ngài nói: “Hôm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối ba lần, bảo là không hề biết ta.”
LUK 22:62 Phia-rơ liền bước ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
LUK 22:63 Những tên canh giữ Chúa Giê-xu chế giễu và đánh đập Ngài.
LUK 22:64 Chúng bịt mắt Ngài và bảo, “Hãy trổ tài nói tiên tri của ông đi, xem thử người nào đánh ông.”
LUK 22:65 Chúng nhục mạ Chúa Giê-xu nhiều điều.
LUK 22:66 Đến sáng, hội đồng bô lão, gồm các trưởng tế và các giáo sư luật họp nhau lại và giải Ngài đến tòa án tối cao.
LUK 22:67 Họ nói, “Nếu ông là Đấng Cứu Thế hãy nói cho chúng tôi biết.” Chúa Giê-xu bảo họ, “Nếu ta nói các ông cũng chẳng tin.
LUK 22:68 Và nếu ta hỏi các ông cũng chẳng trả lời.
LUK 22:69 Nhưng từ nay về sau, Con Người sẽ ngồi bên tay phải của Thượng Đế quyền năng.”
LUK 22:70 Họ hỏi, “Vậy ông là Con Thượng Đế à?” Chúa Giê-xu đáp, “Đúng vậy.”
LUK 22:71 Họ đồng thanh, “Bây giờ chúng ta đâu cần nhân chứng làm gì nữa? Chính chúng ta đã nghe lời tuyên bố của ông ta rồi.”
LUK 23:1 Thế là toàn thể hội đồng đứng dậy giải Chúa Giê-xu qua cho Phi-lát.
LUK 23:2 Chúng bắt đầu tố cáo Ngài rằng, “Chúng tôi bắt quả tang tên nầy mê hoặc dân chúng. Hắn bảo chúng ta không nên nộp thuế cho Xê-xa và dám tự xưng mình là Đấng Cứu Thế, là vua.”
LUK 23:3 Phi-lát hỏi Chúa Giê-xu, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?” Chúa Giê-xu đáp, “Đúng như ngài nói.”
LUK 23:4 Phi-lát bảo các giới trưởng tế và toàn thể dân chúng, “Tôi chẳng thấy người nầy làm điều gì quấy.”
LUK 23:5 Họ khăng khăng, “Nhưng tên Giê-xu nầy đã sách động dân chúng, dạy dỗ khắp miền Giu-đia. Hắn bắt đầu từ Ga-li-lê rồi bây giờ đến đây.”
LUK 23:6 Phi-lát nghe thế mới hỏi có phải Ngài là gốc Ga-li-lê không.
LUK 23:7 Vì Chúa Giê-xu ở dưới quyền Hê-rốt nên Phi-lát giải Ngài sang cho Hê-rốt, lúc ấy đang có mặt ở Giê-ru-sa-lem.
LUK 23:8 Khi thấy Chúa Giê-xu, Hê-rốt mừng lắm, vì nghe tiếng Ngài từ lâu nên ông ta rất mong gặp Ngài. Ông muốn xem Ngài làm phép lạ.
LUK 23:9 Hê-rốt hỏi Ngài nhiều câu nhưng Chúa Giê-xu không trả lời.
LUK 23:10 Các trưởng tế và các giáo sư luật đứng đó hung hăng tố cáo Ngài.
LUK 23:11 Sau khi Hê-rốt và các tên lính dưới quyền chế giễu Ngài, chúng mặc cho Ngài một áo triều nhà vua rồi trả Ngài về cho Phi-lát.
LUK 23:12 Phi-lát và Hê-rốt trước kia vốn thù nghịch nhau, nhưng từ hôm ấy lại trở thành bạn.
LUK 23:13 Phi-lát triệu tập dân chúng lại cùng với giới trưởng tế và các lãnh tụ.
LUK 23:14 Ông nói, “Các anh giải người nầy đến với tôi, bảo rằng ông ta sách động quần chúng, nhưng tôi đã tra hỏi ông ta trước mặt mấy anh mà tôi không thấy ông ta phạm tội gì theo như mấy anh tố cáo.
LUK 23:15 Ngoài ra, Hê-rốt cũng không thấy ông ta có tội gì cho nên đã trả ông ta về đây. Mấy anh thấy đó, ông nầy không phạm tội gì đáng chết cả.
LUK 23:16 Cho nên tôi sẽ phạt ông ta xong rồi tha ra.”
LUK 23:17 
LUK 23:18 Nhưng dân chúng đồng thanh hét lên, “Diệt tên nầy đi! Hãy tha Ba-ra-ba!”
LUK 23:19 Ba-ra-ba đang ngồi tù vì tội gây loạn trong thành phố và tội giết người.
LUK 23:20 Phi-lát muốn thả Chúa Giê-xu nên bảo cho dân chúng biết.
LUK 23:21 Nhưng quần chúng lại la hét lần nữa, “Đóng đinh hắn đi! Đóng đinh hắn đi!”
LUK 23:22 Phi-lát hỏi chúng lần thứ ba, “Tại sao? Ông ta phạm lỗi gì? Tôi chẳng thấy ông ta có tội gì đáng chết. Cho nên tôi sẽ phạt ông ta rồi tha ra.”
LUK 23:23 Nhưng chúng tiếp tục gào thét đòi phải đóng đinh Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Tiếng la hét của chúng lớn đến nỗi
LUK 23:24 Phi-lát phải đành chiều theo ý chúng.
LUK 23:25 Ông tha tên đang ngồi tù theo như chúng xin. Tên ấy bị cáo vì tội nổi loạn và giết người. Còn ông giao Chúa Giê-xu vào tay dân chúng để họ muốn làm gì thì làm.
LUK 23:26 Lúc chúng đang giải Ngài đi thì Xi-môn, người gốc Xi-ren từ ngoài đồng về. Chúng bắt ông ta vác cây thập tự thế cho Chúa Giê-xu và đi theo sau Ngài.
LUK 23:27 Dân chúng đi theo sau Chúa Giê-xu rất đông, trong số ấy có các người đàn bà đang buồn rầu than khóc về Ngài.
LUK 23:28 Nhưng Chúa Giê-xu quay lại bảo họ, “Các phụ nữ Giê-ru-sa-lem ơi, đừng khóc về ta. Hãy khóc về các bà và con cháu các bà.
LUK 23:29 Sẽ đến lúc người ta nói, ‘Phúc cho bụng không sinh con và dạ không cho con bú.’
LUK 23:30 Rồi người ta sẽ nói với núi rằng, ‘Hãy rơi trên chúng ta!’ và bảo đồi rằng, ‘Hãy che lấp chúng ta!’
LUK 23:31 Vì nếu họ đối xử như thế nầy cho cây xanh thì cây khô sẽ ra sao?”
LUK 23:32 Cũng có hai tên tội phạm bị giải đi cùng với Chúa Giê-xu để chịu tử hình.
LUK 23:33 Khi đến một nơi gọi là Đồi Sọ, bọn lính đóng đinh Chúa Giê-xu và hai tên tù phạm—một tên bên phải, một tên bên trái Ngài.
LUK 23:34 Chúa Giê-xu cầu nguyện, “Lạy Cha, xin tha tội cho họ vì họ không biết mình làm gì.” Bọn lính bắt thăm xem ai lấy được áo quần của Ngài.
LUK 23:35 Dân chúng thì đứng nhìn. Các nhà lãnh đạo chế giễu Ngài bảo rằng, “Hắn đã cứu kẻ khác. Hắn hãy cứu mình đi nếu quả thực hắn ta là Người Được Chọn của Thượng Đế, là Đấng Cứu Thế.”
LUK 23:36 Bọn lính cũng chế giễu Ngài rồi lại gần cho Ngài uống giấm.
LUK 23:37 Chúng thách, “Nếu ông là vua dân Do-thái hãy tự cứu mình đi!”
LUK 23:38 Trên đầu thập tự giá có viết dòng chữ: đây là vua dân do-thái.
LUK 23:39 Một trong hai tên tù đang bị treo trên thập tự giá cũng bắt đầu sỉ nhục Ngài: “Anh là Đấng Cứu Thế à? Hãy tự cứu mình đi và cứu chúng ta nữa.”
LUK 23:40 Nhưng tên kia mắng hắn, “Mầy phải kính sợ Thượng Đế! Mầy cũng bị hình phạt giống như người nầy.
LUK 23:41 Chúng ta bị trừng phạt xứng đáng với tội phạm của chúng ta, chứ còn người nầy chẳng có làm điều gì quấy.”
LUK 23:42 Rồi anh ta xin, “Chúa Giê-xu ơi, khi Ngài vào trong nước mình xin nhớ đến con.”
LUK 23:43 Chúa Giê-xu bảo anh ta, “Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở với ta trong thiên đàng.”
LUK 23:44 Lúc ấy khoảng giữa trưa, cả xứ bỗng trở nên tối mịt cho đến ba giờ chiều
LUK 23:45 vì mặt trời không chiếu sáng nữa. Bức màn trong đền thờ bị xé toạc làm hai.
LUK 23:46 Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn, “Cha ơi, con giao sinh mạng trong tay Cha.” Nói xong Ngài tắt thở.
LUK 23:47 Viên đội trưởng chứng kiến sự việc xảy ra, ông ca ngợi Thượng Đế rằng, “Người nầy quả là người nhân đức!”
LUK 23:48 Quần chúng đến đó chứng kiến mọi việc trở về nhà thì ai nấy đều đấm ngực vì quá buồn nản.
LUK 23:49 Còn những bạn thân của Chúa Giê-xu trong số có những phụ nữ đã theo Ngài từ Ga-li-lê thì đứng xa xa mà nhìn.
LUK 23:50 Có một người rất nhân đức và mộ đạo tên Giô-xép, làm hội viên của Hội đồng Do-thái.
LUK 23:51 Nhưng ông không tán đồng các âm mưu và hành động của các giới lãnh đạo kia nghịch lại Chúa Giê-xu. Ông gốc tỉnh A-ri-ma-thê, thuộc Do-thái, và cũng đang trông chờ Nước Trời hiện đến.
LUK 23:52 Giô-xép đến gặp Phi-lát để xin xác Chúa Giê-xu.
LUK 23:53 Ông gỡ xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, lấy vải liệm lại và đặt trong một ngôi mộ được đục từ một vách đá. Ngôi mộ đó chưa chôn ai cả.
LUK 23:54 Lúc ấy đã gần cuối ngày Chuẩn Bị và hễ mặt trời lặn là bắt đầu ngày Sa-bát.
LUK 23:55 Các người đàn bà đã theo Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê đi theo Giô-xép. Họ trông thấy mộ cùng cách người ta đặt xác Ngài.
LUK 23:56 Rồi các bà về chuẩn bị thuốc thơm. Đến ngày Sa-bát họ nghỉ ngơi theo luật Mô-se qui định.
LUK 24:1 Sáng sớm tinh sương của ngày đầu tuần lễ, các bà đi đến mộ mang theo thuốc thơm đã chuẩn bị sẵn.
LUK 24:2 Họ thấy tảng đá chận cửa mộ đã được lăn đi rồi,
LUK 24:3 nhưng khi bước vào thì không thấy xác Chúa Giê-xu đâu cả.
LUK 24:4 Trong khi họ đang phân vân không hiểu đầu đuôi ra sao thì bỗng có hai thanh niên mặc áo sáng chóa hiện ra đứng cạnh họ.
LUK 24:5 Các bà hốt hoảng và cúi mặt xuống đất. Các người đó hỏi, “Tại sao các chị đi tìm người sống nơi chỗ người chết?
LUK 24:6 Ngài không có đây đâu. Ngài từ kẻ chết sống lại rồi. Các chị có nhớ lời Ngài nói trong khi còn ở Ga-li-lê không?”
LUK 24:7 Ngài nói rằng Con Người phải bị giao cho kẻ có tội, bị đóng đinh rồi đến ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại.
LUK 24:8 Họ liền sực nhớ lời Ngài đã nói.
LUK 24:9 Các bà rời khỏi mộ và thuật chuyện ấy cho mười một sứ đồ cùng các môn đệ khác.
LUK 24:10 Các bà ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Giô-a-na, Ma-ri mẹ của Gia-cơ, và một vài người đàn bà khác thuật lại cho các sứ đồ nghe chuyện đã xảy ra ở mộ.
LUK 24:11 Nhưng họ không tin các bà ấy vì có vẻ vô lý quá.
LUK 24:12 Tuy nhiên Phia-rơ đứng dậy chạy tới mộ. Ông cúi xuống nhìn vào thì chỉ thấy vải liệm xác Chúa Giê-xu mà thôi. Phia-rơ về nhà lấy làm kỳ lạ cho chuyện xảy ra.
LUK 24:13 Cùng ngày ấy, có hai môn đệ Chúa Giê-xu đang đi đến làng Em-ma-út cách Giê-ru-sa-lem khoảng mười hai cây số.
LUK 24:14 Họ nói chuyện với nhau về những chuyện mới xảy ra.
LUK 24:15 Trong khi đang thảo luận thì Chúa Giê-xu hiện đến cùng đi đường với họ,
LUK 24:16 Nhưng mắt họ bị che khuất không nhận ra Ngài.
LUK 24:17 Ngài hỏi, “Lúc đi đường hai anh đang thảo luận về chuyện gì thế?” Hai môn đệ dừng lại, vẻ mặt buồn thảm lắm.
LUK 24:18 Một người tên Cơ-lê-ô-ba trả lời, “Chắc chỉ có một mình ông là khách mới đến Giê-ru-sa-lem nên mới không biết những chuyện gì xảy ra mấy hôm nay.”
LUK 24:19 Chúa Giê-xu hỏi, “Chuyện gì?” Họ đáp, “Chuyện Giê-xu người Na-xa-rét. Ông ta là một nhà tiên tri đã nói và làm nhiều việc quyền năng trước mặt Thượng Đế và cả dân chúng.
LUK 24:20 Thế mà các nhà lãnh đạo và các giới trưởng tế của chúng ta giao Ngài để kết án tử hình, rồi họ đóng đinh Ngài.
LUK 24:21 Chúng tôi vẫn tưởng Ngài sẽ giải phóng quốc gia Ít-ra-en. Dù sao, chuyện xảy ra được ba hôm rồi.
LUK 24:22 Còn hôm nay có mấy người đàn bà trong chúng tôi làm chúng tôi sửng sốt. Sáng sớm hôm nay họ đến viếng mộ,
LUK 24:23 nhưng không thấy xác Ngài đâu. Họ trở về bảo là họ thấy có mấy thiên sứ hiện ra nói rằng Chúa Giê-xu đang sống!
LUK 24:24 Cho nên có vài người trong chúng tôi đến mộ. Họ cũng thấy giống như mấy người đàn bà nói, nhưng không thấy Chúa Giê-xu đâu cả.”
LUK 24:25 Chúa Giê-xu liền bảo họ, “Sao mấy anh quá tối dạ và chậm tin lời các nhà tiên tri nói như thế?
LUK 24:26 Các nhà tiên tri đã nói rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình trước khi bước vào vinh hiển của Ngài.”
LUK 24:27 Rồi bắt đầu từ Mô-se và các nhà tiên tri, Chúa Giê-xu giải thích cho họ biết những điều Thánh Kinh đã viết về Ngài.
LUK 24:28 Lúc gần đến Em-ma-út, Chúa Giê-xu có vẻ muốn đi thêm nữa
LUK 24:29 nhưng họ nài ép Ngài, “Xin mời ông ở lại với chúng tôi vì trời tối rồi.” Vì thế Ngài vào ở lại với họ.
LUK 24:30 Trong khi đang ngồi ở bàn, Ngài cầm bánh, tạ ơn rồi bẻ ra trao cho họ.
LUK 24:31 Lúc ấy mắt họ mới được mở ra và nhận biết Ngài nhưng Ngài vụt biến đi.
LUK 24:32 Họ bảo nhau, “Khi đi đường Ngài nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta không nóng sốt sao?”
LUK 24:33 Họ lập tức đứng dậy đi trở lại Giê-ru-sa-lem. Đến nơi họ gặp mười một môn đệ và những người khác đang nhóm họp.
LUK 24:34 Họ bảo, “Chúa quả đã sống lại và hiện ra với Xi-môn.”
LUK 24:35 Rồi hai người thuật lại chuyện xảy ra trên đường và nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh ra sao.
LUK 24:36 Trong khi hai môn đệ còn đang thuật chuyện thì Chúa Giê-xu hiện ra đứng giữa họ và nói, “Bình an cho các con.”
LUK 24:37 Mọi người hốt hoảng rụng rời vì tưởng thấy ma.
LUK 24:38 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Sao các con hoảng hốt? Tại sao các con ngờ vực trong lòng?
LUK 24:39 Hãy nhìn tay và chân ta. Chính thật là ta! Các con hãy rờ ta đi vì ma chẳng có xương thịt mà các con thấy ta có.”
LUK 24:40 Sau khi nói xong, Ngài giơ tay và chân cho họ xem.
LUK 24:41 Trong khi họ đang nửa tin nửa ngờ, vì vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thì Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ở đây các con có gì ăn không?”
LUK 24:42 Họ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.
LUK 24:43 Trong khi các môn đệ đang nhìn, thì Chúa Giê-xu cầm lấy cá và ăn trước mặt họ.
LUK 24:44 Ngài bảo, “Các con còn nhớ lúc ta ở với các con không? Ta đã nói rằng những gì được viết về ta phải xảy ra—tất cả những gì trong luật pháp Mô-se, các sách tiên tri và các Thi thiên.”
LUK 24:45 Rồi Ngài mở trí họ ra để họ hiểu lời Thánh Kinh.
LUK 24:46 Ngài nói với họ, “Thánh Kinh viết rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình và ngày thứ ba sẽ sống lại từ trong vòng kẻ chết
LUK 24:47 và rằng người ta sẽ nhân danh Ngài giảng cho mọi dân tộc về sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem.
LUK 24:48 Các con là nhân chứng cho những việc ấy.
LUK 24:49 Ta sẽ cho các con điều Cha đã hứa, nhưng các con hãy đợi trong thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi nhận được quyền năng từ thiên đàng.”
LUK 24:50 Chúa Giê-xu dắt các môn đệ ra đến làng Bê-tha-ni. Ngài giơ tay chúc phước cho họ.
LUK 24:51 Trong khi đang chúc phước, Ngài rời họ và được tiếp về thiên đàng.
LUK 24:52 Họ thờ lạy Ngài và hớn hở trở về Giê-ru-sa-lem.
LUK 24:53 Các môn đệ ở luôn trong đền thờ và ca ngợi Thượng Đế.
JOH 1:1 Ban đầu có Thiên Ngôn. Thiên Ngôn ở với Thượng Đế và Thiên Ngôn là Thượng Đế.
JOH 1:2 Ngài ở với Thượng Đế từ đầu.
JOH 1:3 Mọi vật đều do Ngài tạo dựng. Không có vật gì mà không do Ngài tạo ra.
JOH 1:4 Trong Ngài có nguồn sống, và chính nguồn sống ấy là ánh sáng cho nhân loại.
JOH 1:5 Ánh sáng chiếu trong bóng tối nhưng bóng tối không dập tắt được ánh sáng.
JOH 1:6 Có một người được Thượng Đế sai đến tên là Giăng.
JOH 1:7 Ông đến làm chứng về ánh sáng, để nhờ ông mà mọi người có thể tin.
JOH 1:8 Giăng không phải là ánh sáng nhưng ông đến để làm chứng cho dân chúng biết về ánh sáng.
JOH 1:9 Ánh sáng thật đã đến trần gian chiếu sáng cho mọi người.
JOH 1:10 Thiên Ngôn ở trong thế gian. Thế gian do Ngài sáng tạo, nhưng lại không nhận biết Ngài.
JOH 1:11 Ngài đến trong thế giới của Ngài, nhưng dân Ngài không tiếp nhận.
JOH 1:12 Nhưng ai bằng lòng tin nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở thành con Thượng Đế.
JOH 1:13 Họ trở thành con Thượng Đế không phải theo cách loài người, nghĩa là sinh ra do cha mẹ hoặc ý người mà họ được Thượng Đế sinh thành.
JOH 1:14 Thiên Ngôn trở thành người và sống giữa chúng ta. Chúng ta thấy vinh hiển của Ngài, là vinh hiển dành cho Con Một của Cha. Ngài đầy ân phúc và chân lý.
JOH 1:15 Giăng làm chứng về Ngài và kêu lên, “Đây là Đấng mà tôi đã nói với các ông bà: ‘Đấng đến sau tôi còn cao trọng hơn tôi vì Ngài có trước tôi.’”
JOH 1:16 Vì Ngài tràn đầy ân phúc cho nên nhờ Ngài mà chúng ta nhận hết ân phúc nầy đến ân phúc khác.
JOH 1:17 Luật lệ được Mô-se ban hành còn ân phúc và chân lý đến từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
JOH 1:18 Chưa có ai thấy được Thượng Đế trừ ra Con Một ở ngay cạnh Cha là Đấng đã bày tỏ Thượng Đế cho chúng ta biết.
JOH 1:19 Đây là sự thật mà Giăng xác nhận khi người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem sai các thầy tế lễ và người Lê-vi đến hỏi, “Ông là ai?”
JOH 1:20 Giăng tuyên bố công khai, không tránh né điều gì. Ông xác nhận, “Tôi không phải là Đấng Cứu Thế.”
JOH 1:21 Cho nên họ hỏi, “Thế thì ông là ai? Ông có phải là Ê-li không?” Giăng đáp, “Không phải.” Họ hỏi tiếp, “Ông có phải là nhà tiên tri không?” Ông đáp, “Cũng không phải.”
JOH 1:22 Họ hỏi thêm, “Thế thì ông là ai? Xin cho chúng tôi biết để trình lại với những người đã sai chúng tôi đến. Ông tự xưng mình là ai?”
JOH 1:23 Giăng trích lời nhà tiên tri Ê-sai như sau, “Tôi là tiếng người kêu trong sa mạc, ‘Hãy san phẳng lối đi cho Ngài.’”
JOH 1:24 Mấy người được nhóm Pha-ri-xi sai đến hỏi Giăng:
JOH 1:25 “Nếu ông không phải Đấng Cứu Thế, không phải Ê-li, cũng không phải nhà tiên tri thì tại sao ông làm lễ báp-têm cho dân chúng?”
JOH 1:26 Giăng đáp, “Tôi làm báp-têm bằng nước, nhưng có một Đấng ở giữa các anh mà các anh không biết.
JOH 1:27 Ngài đến sau tôi, còn tôi cũng chẳng xứng đáng mở dây giày Ngài nữa.”
JOH 1:28 Mọi chuyện ấy diễn ra ở làng Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, nơi Giăng làm báp-têm cho dân chúng.
JOH 1:29 Hôm sau Giăng thấy Chúa Giê-xu đi đến thì bảo rằng, “Kìa là Chiên Con của Thượng Đế, Đấng xóa tội trần gian.
JOH 1:30 Đây là người mà tôi đã nói, ‘Có Đấng đến sau tôi nhưng cao trọng hơn tôi vì Ngài vốn có trước tôi.’
JOH 1:31 Dù tôi chưa biết Ngài nhưng tôi đến làm báp-têm bằng nước để giúp dân Do-thái biết về Ngài.”
JOH 1:32 Sau đó Giăng kể, “Tôi thấy Thánh Linh từ trời hiện xuống giống hình chim bồ câu đậu trên Ngài.
JOH 1:33 Đến lúc ấy tôi vẫn chưa biết Ngài là ai nhưng Thượng Đế, Đấng đã sai tôi để làm báp-têm bằng nước, bảo tôi rằng, ‘Hễ con thấy Thánh Linh ngự xuống trên ai thì đó chính là người sẽ làm báp-têm bằng Thánh Linh.’
JOH 1:34 Tôi đã chứng kiến việc ấy nên tôi bảo thật: Người nầy là Con Thượng Đế.”
JOH 1:35 Hôm sau Giăng đang đứng đó với hai môn đệ
JOH 1:36 thì thấy Chúa Giê-xu đi ngang qua. Giăng liền bảo, “Kìa là Chiên Con của Thượng Đế!”
JOH 1:37 Hai môn đệ nghe Giăng nói thế liền đi theo Ngài.
JOH 1:38 Chúa Giê-xu quay lại thấy hai người theo mình liền hỏi, “Các anh em tìm gì?” Họ đáp, “Thưa Ra-bi ở đâu?” Chữ Ra-bi có nghĩa là “Thầy.”
JOH 1:39 Ngài bảo, “Mời các anh em đến xem.” Họ liền đi, thấy nơi Ngài ở và trọ lại với Ngài suốt hôm đó. Lúc ấy khoảng bốn giờ chiều.
JOH 1:40 Một trong hai người đi theo Chúa Giê-xu sau khi nghe Giăng nói về Ngài là Anh-rê, em của Xi-môn Phia-rơ.
JOH 1:41 Trước tiên ông đi tìm Xi-môn, anh mình và thuật, “Chúng em đã tìm được Đấng Mê-si.” Danh từ Mê-si có nghĩa Đấng Cứu Thế.
JOH 1:42 Sau đó ông đưa Xi-môn đến gặp Chúa Giê-xu. Vừa thấy Xi-môn Ngài bảo, “Tên anh là Xi-môn, con của Giăng. Từ nay anh sẽ được gọi là Xê-pha.” Xê-pha nghĩa là Phia-rơ.
JOH 1:43 Hôm sau Chúa Giê-xu quyết định lên miền Ga-li-lê. Ngài gặp Phi-líp và bảo, “Hãy theo ta!”
JOH 1:44 Phi-líp gốc gác ở thành Bết-xai-đa, cùng quê với Anh-rê và Phia-rơ.
JOH 1:45 Phi-líp gặp Na-tha-niên, bảo rằng, “Chúng tôi đã gặp được Đấng mà Mô-se có viết trong sách Luật và các nhà tiên tri cũng đề cập tới. Ngài là Giê-xu, con Giô-xép, quê ở Na-xa-rét.”
JOH 1:46 Na-tha-niên hỏi Phi-líp, “Có cái gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Phi-líp đáp, “Thì hãy đến mà xem.”
JOH 1:47 Khi Chúa Giê-xu thấy Na-tha-niên đến với mình liền bảo, “Đây là một người Ít-ra-en chân thật, không có chút gì giả dối.”
JOH 1:48 Na-tha-niên hỏi, “Làm sao thầy biết con?” Chúa Giê-xu đáp, “Trước khi Phi-líp gọi con, ta đã thấy con ngồi dưới gốc cây vả.”
JOH 1:49 Na-tha-niên thưa, “Thưa thầy, thầy đúng là Con Thượng Đế! Thầy thật là Vua của dân Ít-ra-en!”
JOH 1:50 Chúa Giê-xu hỏi Na-tha-niên, “Có phải con tin chỉ vì ta nói đã thấy con ngồi dưới gốc cây vả không? Con sẽ còn thấy nhiều điều kỳ diệu hơn thế nữa!”
JOH 1:51 Rồi Ngài bảo ông, “Ta bảo thật, các con sẽ thấy bầu trời mở ra và các thiên sứ của Thượng Đế lên xuống trên Con Người.”
JOH 2:1 Ba ngày sau có một đám cưới tại thành Ca-na, xứ Ga-li-lê. Mẹ Chúa Giê-xu có mặt ở đó.
JOH 2:2 Chúa Giê-xu và các môn đệ cũng được mời dự tiệc cưới.
JOH 2:3 Khi thiếu rượu, mẹ Ngài nói với Ngài, “Người ta hết rượu rồi.”
JOH 2:4 Chúa Giê-xu đáp, “Thưa mẹ, tại sao mẹ lại xen vào chuyện của con? Chưa đến giờ con hành động.”
JOH 2:5 Mẹ Ngài dặn các đầy tớ, “Người bảo gì thì hãy làm y như thế.”
JOH 2:6 Ở đó có sáu cái lu đá đựng nước mà người Do-thái dùng cho lễ rửa sạch, mỗi cái chứa khoảng một trăm hai mươi lít nước.
JOH 2:7 Chúa Giê-xu bảo những người đầy tớ, “Đổ nước thật đầy vào mấy cái lu nầy đi.” Họ liền đổ đầy tới miệng.
JOH 2:8 Rồi Ngài bảo, “Bây giờ múc nước ra mang đến cho người chủ tiệc.” Họ liền mang đến cho người chủ tiệc.
JOH 2:9 Khi ông nếm thử thì nước đã biến thành rượu. Ông không biết rượu đó từ đâu ra nhưng những đầy tớ đã múc nước thì biết rõ. Ông liền gọi chú rể
JOH 2:10 và nói, “Bao giờ người ta cũng đãi rượu ngon trước. Sau khi khách đã ngà ngà say rồi mới đãi rượu thường. Còn anh thì lại để dành rượu thật ngon cho đến bây giờ.”
JOH 2:11 Thế là tại Ca-na, miền Ga-li-lê, Chúa Giê-xu làm phép lạ đầu tiên, tỏ ra vinh hiển Ngài, nên các môn đệ tin Ngài.
JOH 2:12 Sau đó Chúa Giê-xu, mẹ Ngài, các em và môn đệ Ngài đến thành Ca-bê-nâm và ở đó vài hôm.
JOH 2:13 Gần đến đại lễ của dân Do-thái nên Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem.
JOH 2:14 Khi vào đền thờ, Ngài thấy người ta buôn bán bò, chiên cừu và bồ câu. Ngài cũng thấy mấy người đổi bạc đang ngồi ở bàn.
JOH 2:15 Ngài liền làm một cái roi bằng dây thừng và đánh đuổi tất cả ra khỏi đền thờ, từ chiên cừu cho đến bò. Ngài lật bàn và ném vung vãi tiền của những kẻ đổi bạc.
JOH 2:16 Rồi Ngài ra lệnh cho những kẻ bán bồ câu, “Mang hết những thứ nầy ra khỏi đây ngay lập tức! Không được phép biến nhà Cha ta thành nơi buôn bán!”
JOH 2:17 Chứng kiến sự việc ấy, các môn đệ Ngài liền nhớ lại lời Thánh Kinh viết, “Lòng sốt sắng về nhà Chúa nung cháy trong tôi.”
JOH 2:18 Các người Do-thái hỏi Ngài, “Ông chứng tỏ phép lạ gì mà có quyền làm như vậy?”
JOH 2:19 Chúa Giê-xu đáp, “Phá sập đền thờ nầy đi, ta sẽ dựng lại trong ba ngày cho xem.”
JOH 2:20 Người Do-thái bảo, “Người ta phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong đền thờ nầy mà ông bảo ông sẽ xây lại nổi trong ba ngày thôi à?”
JOH 2:21 Nhưng đền thờ mà Chúa Giê-xu muốn nói là thân thể Ngài.
JOH 2:22 Vì thế sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết, thì các môn đệ nhớ lại lời Ngài nói, liền tin lời Thánh Kinh và lời Chúa Giê-xu đã bảo.
JOH 2:23 Đang khi Chúa Giê-xu dự đại lễ Vượt Qua ở Giê-ru-sa-lem, có nhiều người tin theo Ngài vì họ thấy những phép lạ Ngài làm.
JOH 2:24 Nhưng Chúa Giê-xu không tin họ, vì Ngài hiểu mọi người.
JOH 2:25 Ngài cũng không cần ai nói với Ngài về người nào vì Ngài hiểu thấu lòng dạ con người.
JOH 3:1 Trong nhóm người Pha-ri-xi, có Ni-cô-đem, là một trong những lãnh tụ Do-thái.
JOH 3:2 Ban đêm ông đến thăm Chúa Giê-xu và nói rằng, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Thượng Đế phái xuống vì không ai có thể làm được những phép lạ mà thầy đã làm nếu không có Thượng Đế ở cùng.”
JOH 3:3 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật: Không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh lại.”
JOH 3:4 Ni-cô-đem thắc mắc, “Người già rồi thì làm thế nào mà sinh lại được? Chẳng lẽ trở vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao?”
JOH 3:5 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật, không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh bằng nước và Thánh Linh.
JOH 3:6 Sự sống xác thể do con người theo phần thể xác sinh ra, nhưng sự sống thiêng liêng do Thánh Linh sinh ra.
JOH 3:7 Đừng ngạc nhiên về điều tôi nói ‘Mọi người phải sinh lại.’
JOH 3:8 Gió muốn thổi đâu cũng được. Ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến rồi sẽ thổi đi đâu. Ai được sinh bởi Thánh Linh cũng giống như vậy.”
JOH 3:9 Ni-cô-đem hỏi, “Việc ấy làm thế nào được?”
JOH 3:10 Chúa Giê-xu đáp, “Ông là giáo sư nổi danh của người Ít-ra-en mà không hiểu những việc ấy sao?
JOH 3:11 Tôi bảo thật: Chúng tôi nói điều mình biết và thuật lại những gì mình thấy, nhưng các ông không chấp nhận những lời chứng của chúng tôi.
JOH 3:12 Tôi nói những việc dưới đất mà các ông còn không chịu tin, huống hồ khi tôi nói đến những việc trên trời thì làm sao các ông tin?
JOH 3:13 Người duy nhất đã từng lên trời là Đấng từ trời xuống. Đó là Con Người.
JOH 3:14 Xưa kia Mô-se treo con rắn lên trong sa mạc thế nào thì Con Người cũng phải bị treo lên như thế,
JOH 3:15 để ai tin Ngài đều được sự sống đời đời.
JOH 3:16 Vì Thượng Đế quá yêu nhân loại đến nỗi hi sinh Con Một của Ngài, để ai đặt niềm tin vào Con ấy sẽ không bị chết mất nhưng được sống đời đời.
JOH 3:17 Thượng Đế sai Con Ngài đến thế gian không phải để kết tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu.
JOH 3:18 Ai tin nhận Con Trời sẽ không bị kết tội, nhưng ai không chịu tin thì đã bị kết tội rồi, vì không tin nhận Con Một của Thượng Đế.
JOH 3:19 Họ bị kết tội vì lý do nầy: Ánh sáng đã đến trong thế gian, nhưng họ không thích ánh sáng. Họ lại ưa bóng tối vì việc làm của họ xấu xa.
JOH 3:20 Ai làm ác thì ghét và không thích đến gần ánh sáng vì sợ bị phơi bày việc làm xấu xa của mình.
JOH 3:21 Nhưng ai đi theo sự thật thì thích đến với ánh sáng, để ánh sáng bày tỏ rằng việc mình làm là do Thượng Đế hướng dẫn.”
JOH 3:22 Sau đó, Chúa Giê-xu cùng môn đệ đi đến miền Giu-đia. Ngài ở đó ít lâu với họ và làm lễ báp-têm.
JOH 3:23 Giăng cũng làm báp-têm ở Ê-nôn, gần Xa-lim vì nơi ấy có nhiều nước. Dân chúng kéo đến để chịu lễ báp-têm.
JOH 3:24 Lúc ấy Giăng chưa bị tù.
JOH 3:25 Vài môn đệ của Giăng cãi nhau với một người Do-thái về nghi lễ tẩy sạch.
JOH 3:26 Họ đến báo với Giăng, “Người trước kia ở với thầy phía bên kia sông Giô-đanh mà thầy đã làm chứng cho, hiện nay cũng đang làm lễ báp-têm và ai nấy đều đến với ông ấy!”
JOH 3:27 Giăng đáp, “Chẳng ai nhận được gì mà không phải Trời cho.
JOH 3:28 Chính các anh công nhận lời tôi nói, ‘Tôi không phải là Đấng Được Lựa Chọn, mà chỉ là người được sai đến trước để dọn đường cho Ngài mà thôi.’”
JOH 3:29 Cô dâu thuộc về chú rể; nhưng người bạn giúp đỡ chú rể đứng chờ và lắng nghe, lòng khấp khởi vui mừng khi nghe tiếng chú rể. Hiện tại tôi cũng vui mừng như thế.
JOH 3:30 Ngài phải càng trổi hơn, còn tôi phải càng kém đi.
JOH 3:31 “Đấng từ trên xuống cao trọng hơn tất cả. Ai từ đất ra là thuộc về đất, nói những điều thuộc về đất, nhưng Đấng từ trời xuống cao trọng hơn mọi loài.
JOH 3:32 Ngài nói những điều mình nghe thấy, nhưng không ai chịu tiếp nhận lời làm chứng của Ngài.
JOH 3:33 Nhưng ai tin nhận lời làm chứng của Ngài thì chứng tỏ rằng Thượng Đế là chân thật.
JOH 3:34 Đấng mà Thượng Đế sai đến nói ra những lời của Thượng Đế vì Thượng Đế ban cho Ngài đầy dẫy Thánh Linh.
JOH 3:35 Cha yêu Con nên giao tất cả mọi sự cho Con.
JOH 3:36 Ai tin Con thì được sống đời đời; còn ai không vâng phục Con thì sẽ chẳng có sự sống, trái lại cơn thịnh nộ của Thượng Đế hiện đang đè nặng trên người ấy.”
JOH 4:1 Khi Chúa Giê-xu biết việc người Pha-ri-xi nghe đồn Ngài chiêu mộ và làm lễ báp-têm cho nhiều người hơn Giăng,
JOH 4:2 thật ra không phải Chúa Giê-xu mà là các môn đệ Ngài làm lễ báp-têm,
JOH 4:3 thì liền rời miền Giu-đia trở về miền Ga-li-lê.
JOH 4:4 Trên đường về Ngài phải băng qua xứ Xa-ma-ri.
JOH 4:5 Đến một thị trấn thuộc xứ Xa-ma-ri gọi là Xi-kha, gần thửa ruộng mà Gia-cốp cho Giô-xép, con mình.
JOH 4:6 Ở đó có cái giếng Gia-cốp. Mỏi mệt vì đi đường xa, nên Chúa Giê-xu ngồi nghỉ chân bên giếng. Lúc ấy khoảng giữa trưa.
JOH 4:7 Có một người đàn bà Xa-ma-ri đến giếng để lấy nước. Chúa Giê-xu nói với chị, “Chị làm ơn cho tôi xin chút nước uống.”
JOH 4:8 Chuyện xảy ra khi các môn đệ Ngài đang vào phố mua thức ăn.
JOH 4:9 Người đàn bà Xa-ma-ri trả lời, “Ơ kìa, ông là đàn ông Do-thái mà tại sao lại xin nước uống ở tôi là đàn bà Xa-ma-ri?” Người Do-thái không thích tiếp xúc với người Xa-ma-ri.
JOH 4:10 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu chị biết được ơn lành từ Thượng Đế là gì và biết người xin chị nước uống là ai, chắc hẳn chị sẽ xin và người ấy sẽ cho chị nước sống.”
JOH 4:11 Chị hỏi, “Thưa ông, giếng thì sâu mà ông lại không có gàu để múc, vậy ông lấy nước sống ấy ở đâu?
JOH 4:12 Tổ tiên chúng tôi là Gia-cốp đã để lại cho chúng tôi giếng nầy; chính ông ấy cùng con cháu và bầy gia súc đều uống nước từ đó. Ông lớn hơn Gia cốp à?”
JOH 4:13 Chúa Giê-xu đáp, “Ai uống nước nầy rồi sẽ còn khát mãi,
JOH 4:14 nhưng người nào uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước tôi cho người ấy sẽ trở thành một suối nước tuôn trào từ bên trong và dẫn đến sự sống đời đời.”
JOH 4:15 Chị thưa, “Xin ông làm ơn cho tôi nước ấy đi để tôi không khát nữa và khỏi cần đến đây lấy nước.”
JOH 4:16 Chúa Giê-xu bảo, “Chị về gọi chồng chị đến đây.”
JOH 4:17 Chị đáp, “Tôi không có chồng.” Chúa Giê-xu tiếp, “Chị nói không có chồng là đúng lắm.
JOH 4:18 Thật ra chị đã có năm đời chồng rồi, còn người đàn ông mà chị đang chung sống cũng chẳng phải là chồng chị. Chị đã nói thật.”
JOH 4:19 Chị đáp, “Thưa ông, tôi nhận thấy ông là nhà tiên tri.
JOH 4:20 Tổ tiên chúng tôi thờ phụng trên núi nầy, còn người Do-thái các ông thì lại cho rằng nơi phải thờ phụng là Giê-ru-sa-lem.”
JOH 4:21 Chúa Giê-xu bảo, “Chị tin tôi đi. Đến lúc người ta không còn thờ phụng Cha trên núi nầy hay tại Giê-ru-sa-lem nữa.
JOH 4:22 Người Xa-ma-ri không biết điều mình thờ phụng; nhưng chúng tôi biết điều chúng tôi thờ phụng vì sự cứu rỗi đến từ người Do-thái.
JOH 4:23 Đã đến lúc mọi người thờ phụng chân thật sẽ thờ phụng Cha bằng tâm linh và sự thật. Thời điểm đó đã đến rồi. Chị thấy không, Cha đang tìm kiếm những kẻ thờ phụng như thế.
JOH 4:24 Thượng Đế là linh thần nên ai thờ phụng Ngài phải dùng tâm linh và lòng thành thật.”
JOH 4:25 Người đàn bà thưa, “Tôi biết Đấng Mê-si sắp đến.” Mê-si có nghĩa là Đấng Cứu Thế. “Khi Ngài đến, Ngài sẽ giải thích mọi việc cho chúng ta.”
JOH 4:26 Chúa Giê-xu bảo, “Đấng ấy chính là tôi đây, người đang nói chuyện với chị.”
JOH 4:27 Lúc đó các môn đệ Ngài cũng từ phố vừa về tới. Họ sửng sốt khi thấy Ngài nói chuyện với một người đàn bà. Tuy nhiên không ai hỏi Ngài, “Thầy cần gì?” hoặc “Sao thầy nói chuyện với chị ấy?”
JOH 4:28 Chị bỏ bầu nước lại, trở vào thành bảo dân chúng,
JOH 4:29 “Ra mà xem một người đã nói vanh vách hết tất cả những gì tôi làm. Biết đâu chừng ông ta là Đấng Cứu Thế?”
JOH 4:30 Do đó dân chúng lũ lượt từ thành kéo nhau ra gặp Chúa Giê-xu.
JOH 4:31 Trong khi ấy các môn đệ nài nỉ Chúa Giê-xu, “Mời thầy ăn một chút.”
JOH 4:32 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Ta có một thức ăn mà các con không biết.”
JOH 4:33 Các môn đệ hỏi nhau, “Có ai mang thức ăn cho thầy rồi sao?”
JOH 4:34 Chúa Giê-xu đáp, “Thức ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến và làm xong công việc Ngài.
JOH 4:35 Các con hay nói, ‘Còn bốn tháng nữa là tới mùa gặt.’ Nhưng ta bảo các con, hãy mở mắt nhìn cánh đồng; lúa đã chín, sẵn sàng để gặt rồi!
JOH 4:36 Thợ gặt được trả công và đang thu góp mùa màng vào sự sống đời đời. Vì thế mà cả người trồng lẫn người gặt đều vui chung.
JOH 4:37 Câu ngạn ngữ nói đúng, ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt.’
JOH 4:38 Ta sai các con đến gặt một loại hoa màu mà các con không phải bỏ công lao. Người khác đã ra sức, còn các con vào hưởng công lao của họ.”
JOH 4:39 Có nhiều người Xa-ma-ri ở thành ấy tin Chúa Giê-xu qua lời làm chứng của người đàn bà rằng, “Người kể vanh vách mọi điều tôi làm.”
JOH 4:40 Lúc các người Xa-ma-ri ra gặp Ngài thì nài nỉ Ngài ở lại với họ, nên Chúa Giê-xu nhận lời và ở lại tại đó hai ngày.
JOH 4:41 Có thêm nhiều người nữa tin, sau khi nghe những lời dạy của Ngài.
JOH 4:42 Họ bảo chị, “Lúc đầu chúng tôi tin, vì lời làm chứng của chị, nhưng bây giờ chúng tôi tin vì chúng tôi đã nghe Ngài tận tai và biết chắc rằng người nầy quả thật là Đấng Cứu Thế của nhân loại.”
JOH 4:43 Hai ngày sau, Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến miền Ga-li-lê.
JOH 4:44 Ngài đã từng nói là chẳng có nhà tiên tri nào được tôn trọng nơi quê hương mình cả.
JOH 4:45 Khi đến miền Ga-li-lê, dân chúng nơi ấy tiếp đón Ngài, vì họ đã chứng kiến mọi việc Ngài làm trong lễ Vượt Qua, và họ cũng có mặt tại đó.
JOH 4:46 Chúa Giê-xu trở lại viếng thành Ca-na thuộc Ga-li-lê, nơi Ngài đã biến nước thành rượu. Một sĩ quan cao cấp của nhà vua ở thành Ca-bê-nâm có đứa con trai đang lâm bệnh.
JOH 4:47 Khi nghe Chúa Giê-xu từ Giu-đia đã trở về Ga-li-lê, ông liền đi đón và van xin Ngài đến Ca-bê-nâm chữa lành cho con mình đang hấp hối.
JOH 4:48 Chúa Giê-xu bảo, “Tại sao các ông luôn luôn phải thấy dấu kỳ và phép lạ thì mới chịu tin?”
JOH 4:49 Viên sĩ quan nài nỉ, “Xin Ngài làm ơn đến trước khi con tôi chết.”
JOH 4:50 Chúa Giê-xu bảo, “Ông cứ về đi. Con của ông sẽ sống.” Viên sĩ quan đó tin lời Chúa Giê-xu bảo và đi về.
JOH 4:51 Trên đường về thì các đầy tớ ra đón và báo tin, “Con của chủ khỏi bệnh rồi!”
JOH 4:52 Ông hỏi họ, “Con tôi bắt đầu hết bệnh vào giờ nào?” Họ đáp, “Khoảng một giờ trưa hôm qua, cơn sốt dứt.”
JOH 4:53 Người cha liền nhớ lại đó chính là giờ mà Chúa Giê-xu bảo, “Con của ông sẽ sống!” Nên ông và cả nhà đều tin nhận Ngài.
JOH 4:54 Đó là phép lạ thứ nhì mà Chúa Giê-xu làm sau khi từ miền Giu-đia trở về Ga-li-lê.
JOH 5:1 Sau đó, Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem để dự một lễ đặc biệt của người Do-thái.
JOH 5:2 Ở Giê-ru-sa-lem có một hồ nước với năm vòm cửa có mái che; hồ đó gọi là Bết-xa-tha theo tiếng Do-thái và nằm gần Cổng Chiên.
JOH 5:3 Vô số người bệnh nằm la liệt dưới các vòm cửa cạnh hồ. Từ người mù, què cho đến bại xuội.
JOH 5:4 
JOH 5:5 Có một người bị bệnh bại xuội hơn ba mươi tám năm trời đang nằm đó.
JOH 5:6 Khi Chúa Giê-xu nhìn thấy thì biết ông đã liệt giường lâu lắm rồi, nên Ngài hỏi, “Ông có muốn lành bệnh không?”
JOH 5:7 Người bệnh đáp, “Thưa ông, tôi chẳng có ai giúp bỏ tôi xuống hồ khi nước động. Lần nào tôi tìm cách xuống hồ là đã có người khác xuống trước rồi.”
JOH 5:8 Chúa Giê-xu liền bảo, “Ông hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi.”
JOH 5:9 Lập tức người bệnh được lành. Ông liền cuốn chăn chiếu lại và bắt đầu bước đi. Chuyện xảy ra nhằm ngày Sa-bát.
JOH 5:10 Vì thế, các người Do-thái bảo người được chữa lành rằng, “Hôm nay là ngày Sa-bát, anh ôm chăn chiếu đi như thế là phạm luật.”
JOH 5:11 Nhưng anh trả lời, “Người đã chữa tôi lành bảo tôi, ‘Hãy cuốn chăn chiếu mà đi.’”
JOH 5:12 Họ hỏi, “Người nào bảo anh cuốn chăn chiếu mà đi?”
JOH 5:13 Nhưng người được chữa lành không biết ai vì nơi đó có đông người, còn Chúa Giê-xu đã trà trộn vào đám đông và đi khỏi rồi.
JOH 5:14 Sau đó Chúa Giê-xu gặp ông trong đền thờ thì Ngài bảo, “Bây giờ ông được lành bệnh rồi; đừng phạm tội nữa, nếu không sẽ có điều tệ hại hơn nữa xảy đến cho ông đó.”
JOH 5:15 Ông ta liền đi bảo các người Do-thái rằng Chúa Giê-xu là người đã chữa lành cho mình.
JOH 5:16 Họ liền tìm cách gây sự với Ngài vì Ngài dám chữa bệnh trong ngày Sa-bát.
JOH 5:17 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Cha ta luôn luôn làm việc, cho nên ta cũng làm việc.”
JOH 5:18 Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!”
JOH 5:19 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta nói thật với các ngươi: Con không tự mình làm điều gì được. Con chỉ làm điều Con thấy Cha làm. Điều gì Cha làm, Con cũng làm giống như thế.
JOH 5:20 Vì Cha yêu Con nên cho Con thấy mọi điều Cha làm. Ngài sẽ còn cho Con thấy nhiều điều lớn hơn thế nầy nữa để các ngươi kinh ngạc.
JOH 5:21 Vì Cha khiến kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ, nên Con cũng sẽ ban sự sống cho kẻ nào Ngài muốn.
JOH 5:22 Thật ra, Cha không xét xử ai nhưng đã giao toàn quyền xét xử cho Con,
JOH 5:23 để mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.
JOH 5:24 Ta bảo thật, ai nghe lời ta và tin Đấng đã sai ta đến, thì được sự sống đời đời. Người đó không bị kết tội, nhưng vượt từ chết qua sống.
JOH 5:25 Ta bảo thật, đến lúc mà những người chết nghe tiếng Con của Thượng Đế sẽ được sống. Thời kỳ ấy nay đã đến rồi.
JOH 5:26 Vì Cha là nguồn sống, nên Ngài khiến cho Con cũng trở nên nguồn sống.
JOH 5:27 Cha đã giao cho con quyền xét xử, vì Ngài là Con Người.
JOH 5:28 Đừng ngạc nhiên về điều nầy; đến lúc mọi người chết trong mồ mả sẽ nghe tiếng Ngài.
JOH 5:29 Họ sẽ bước ra khỏi mộ. Ai làm lành sẽ sống dậy để được sống đời đời, còn ai làm ác cũng sẽ sống dậy để chịu kết tội.
JOH 5:30 Tự mình ta không thể làm được gì. Ta phán đoán theo điều ta nghe nên sự phán đoán của ta là công bằng. Ta không tìm cách làm vừa lòng mình, nhưng vừa lòng Đấng sai ta đến.
JOH 5:31 Nếu ta tự làm chứng về mình thì lời làm chứng ta không giá trị gì.
JOH 5:32 Nhưng có một người khác làm chứng về ta và ta biết rằng lời chứng của người ấy về ta có giá trị.
JOH 5:33 Các ngươi đã sai người đến gặp Giăng và ông ta đã cho các ngươi biết sự thật.
JOH 5:34 Không phải ta cần lời chứng của Giăng; ta nói những điều nầy để các ngươi được cứu.
JOH 5:35 Giăng như một cái đèn cháy sáng, còn các ngươi vui lòng tạm nhận ánh sáng của ông ấy.
JOH 5:36 Nhưng có một lời chứng về ta còn lớn hơn lời chứng của Giăng nữa. Những gì Cha giao cho ta làm chứng tỏ rằng Ngài đã sai ta đến.
JOH 5:37 Chính Cha, Đấng đã sai ta đến làm chứng cho ta. Các ngươi chưa nghe tiếng Ngài và chưa hề thấy mặt Ngài.
JOH 5:38 Những lời dạy của Ngài không ở trong lòng các ngươi vì các ngươi không chịu tin Đấng Cha sai đến.
JOH 5:39 Các ngươi tra xem Thánh Kinh, vì tin rằng nhờ đó mà các ngươi sẽ được sống đời đời. Chính Thánh Linh làm chứng về ta.
JOH 5:40 Tuy nhiên các ngươi không chịu đến cùng ta để được sống!
JOH 5:41 Ta không cần lời ca tụng của loài người.
JOH 5:42 Nhưng ta biết các ngươi chẳng có tình yêu của Thượng Đế trong lòng.
JOH 5:43 Ta từ Cha mà đến và nói thay cho Ngài, nhưng các ngươi lại không bằng lòng tiếp nhận ta. Nếu có kẻ khác tự nhân danh mà đến chắc các ngươi sẽ tiếp nhận.
JOH 5:44 Làm sao các ngươi tin được nếu các ngươi chỉ thích nhận lời ca tụng lẫn nhau mà không hề tìm lời khen ngợi từ Thượng Đế duy nhất?
JOH 5:45 Đừng lầm tưởng rằng ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha. Mô-se, người mà các ngươi đang trông mong, mới chính là người lên án các ngươi.
JOH 5:46 Nếu các ngươi thật tin Mô-se thì chắc hẳn cũng đã tin ta vì Mô-se đã viết về ta.
JOH 5:47 Nhưng vì các ngươi không tin điều Mô-se viết, thì làm sao các ngươi tin điều ta nói cho được?”
JOH 6:1 Sau đó, Chúa Giê-xu băng qua hồ Ga-li-lê, hồ nầy cũng có tên là Ti-bê-ri-át.
JOH 6:2 Có rất đông người đi theo Ngài vì họ đã thấy nhiều phép lạ chữa bệnh của Ngài.
JOH 6:3 Chúa Giê-xu lên một ngọn đồi và ngồi với các môn đệ.
JOH 6:4 Đại lễ Vượt Qua của Do-thái gần đến.
JOH 6:5 Ngài ngẩng lên thấy một đoàn dân đông đi đến, liền hỏi Phi-líp, “Chúng ta phải mua bánh ở đâu để đủ cho chừng nầy người ăn đây?”
JOH 6:6 Ngài hỏi như thế để thử Phi-líp chứ Ngài biết điều Ngài định làm rồi.
JOH 6:7 Phi-líp đáp, “Tất cả chúng ta phải làm việc nguyên cả tháng mới mua đủ bánh cho mỗi người một ít.”
JOH 6:8 Một môn đệ khác của Ngài là Anh-rê, em của Xi-môn Phia-rơ, báo cáo,
JOH 6:9 “Đây có một cậu bé có năm ổ bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ. Nhưng đông thế nầy làm sao cho đủ?”
JOH 6:10 Chúa Giê-xu nói, “Bảo dân chúng ngồi xuống đi.” Nơi đó có nhiều cỏ. Trong số những người ngồi, nếu chỉ tính đàn ông thì có khoảng năm ngàn.
JOH 6:11 Chúa Giê-xu cầm lấy bánh, tạ ơn Thượng Đế và phân phát cho mọi người ngồi đó. Ngài cũng phân phát cá, ai muốn ăn bao nhiêu cũng được.
JOH 6:12 Sau khi mọi người ăn no nê rồi thì Ngài bảo các môn đệ, “Lượm hết những miếng bánh thừa và cá vụn để khỏi phí phạm.”
JOH 6:13 Cho nên họ lượm được đầy mười hai giỏ các miếng thừa từ năm ổ bánh lúa mạch.
JOH 6:14 Sau khi chứng kiến phép lạ nầy mà Chúa Giê-xu đã làm, thì dân chúng bảo nhau, “Đây đúng là nhà tiên tri phải đến thế gian!”
JOH 6:15 Chúa Giê-xu biết họ định ép Ngài, tôn làm vua, liền lánh đi vào trong núi một mình.
JOH 6:16 Chiều đến, các môn đệ của Chúa Giê-xu đi xuống hồ Ga-li-lê.
JOH 6:17 Trời tối rồi mà Ngài vẫn chưa trở lại với các môn đệ. Họ liền lên một chiếc thuyền chèo trở lại bờ bên kia về hướng thành Ca-bê-nâm.
JOH 6:18 Lúc đó có cơn gió mạnh thổi, làm dậy sóng ào ào trên mặt hồ.
JOH 6:19 Chèo được khoảng bốn năm cây số bỗng họ thấy Chúa Giê-xu đi trên mặt nước tiến về phía thuyền. Họ hốt hoảng.
JOH 6:20 Nhưng Ngài trấn an, “Đừng sợ! Ta đây mà!”
JOH 6:21 Họ liền vui mừng, rước Ngài vào thuyền. Lập tức thuyền cập bờ đúng nơi họ định đến.
JOH 6:22 Hôm sau đoàn dân đã ở bờ hồ bên kia, biết Chúa Giê-xu không có xuống thuyền đi chung với các môn đệ, vì họ ra đi mà không có Ngài đi chung. Hơn nữa, dân chúng biết ở đó chỉ có một chiếc thuyền mà thôi.
JOH 6:23 Tuy nhiên, sau đó có các thuyền khác từ hồ Ti-bê-ri-át cập bờ gần nơi dân chúng ăn, sau khi Chúa tạ ơn.
JOH 6:24 Vì thấy Chúa Giê-xu và các môn đệ không có ở đó, nên dân chúng liền lên thuyền chèo qua Ca-bê-nâm tìm Ngài.
JOH 6:25 Khi tìm được Ngài ở bờ hồ bên kia, họ hỏi Ngài, “Thưa thầy, thầy đến đây khi nào?”
JOH 6:26 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, các ngươi tìm ta chẳng phải vì thấy các phép lạ ta làm mà chỉ vì được ăn no nê.
JOH 6:27 Đừng phí sức cho thứ đồ ăn bị hư hỏng, nhưng hãy ra công về thứ đồ ăn còn tốt mãi và dẫn đến sự sống đời đời. Đó là thứ đồ ăn mà Con Người sẽ cho các ngươi vì Thượng Đế, Cha Ngài, đã cho Ngài quyền ấy.”
JOH 6:28 Họ hỏi, “Thế thì Thượng Đế muốn chúng tôi làm gì?”
JOH 6:29 Chúa Giê-xu đáp, “Điều Thượng Đế muốn các ngươi làm là tin nhận Đấng Ngài sai đến.”
JOH 6:30 Họ hỏi, “Thầy làm phép lạ gì để chúng tôi thấy và tin? Nếu chúng tôi thấy phép lạ thì chúng tôi sẽ tin thầy. Thầy làm được gì?
JOH 6:31 Tổ tiên chúng tôi ăn bánh ma-na trong sa mạc như Thánh Kinh ghi, ‘Ông ta cho họ ăn bánh từ trời xuống.’”
JOH 6:32 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, không phải Mô-se cho các ngươi bánh từ trời xuống đâu, nhưng chính Cha ta cho các ngươi bánh thật từ trời xuống.
JOH 6:33 Vì bánh của Thượng Đế là Đấng từ trời xuống, mang nguồn sống đến cho nhân loại.”
JOH 6:34 Họ thưa, “Vậy xin thầy cho chúng tôi bánh ấy luôn luôn!”
JOH 6:35 Chúa Giê-xu đáp, “Ta là bánh của sự sống. Ai đến cùng ta sẽ chẳng bao giờ đói, ai tin ta sẽ không bao giờ khát.
JOH 6:36 Như ta đã bảo, các ngươi đã thấy ta rồi nhưng vẫn không chịu tin.
JOH 6:37 Ai do Cha ta giao cho ta sẽ đến cùng ta, ta không bao giờ xua đuổi họ.
JOH 6:38 Vì ta từ trời xuống không phải để làm theo ý ta, mà làm theo ý của Đấng sai ta đến.
JOH 6:39 Ý muốn của Đấng đã sai ta đến là ta không được làm mất một người nào mà Ngài đã giao cho, nhưng ta sẽ khiến họ sống lại trong ngày cuối cùng.
JOH 6:40 Đây là ý muốn Cha: Ai nhìn thấy Con và tin Ngài thì được sự sống đời đời. Ta sẽ khiến họ sống lại trong ngày cuối cùng.”
JOH 6:41 Nhưng vì Ngài nói, “Ta là bánh từ trời xuống,” nên dân chúng xầm xì về Ngài.
JOH 6:42 Họ bảo nhau, “Ông nầy là Giê-xu, con Giô-xép phải không? Chúng ta biết rõ cha mẹ ông ta, tại sao ông ta dám xưng, ‘Ta từ trời xuống?’”
JOH 6:43 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Các ngươi đừng xầm xì với nhau làm gì.
JOH 6:44 Cha là Đấng đã sai ta đến. Không ai có thể đến với ta nếu Cha không dẫn họ đến; còn ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
JOH 6:45 Các nhà tiên tri đã viết, ‘Mọi người sẽ được Thượng Đế dạy bảo.’ Người nào vâng lời Cha và học theo Cha đều đến cùng ta.
JOH 6:46 Chưa hề có ai thấy Cha trừ ra Đấng từ Thượng Đế đến, là đã thấy Ngài mà thôi.
JOH 6:47 Ta bảo thật, ai tin đều được sống đời đời.
JOH 6:48 Ta là bánh ban sự sống.
JOH 6:49 Tổ tiên các ngươi ăn ma-na trong sa mạc nhưng vẫn chết.
JOH 6:50 Đây là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh nầy sẽ không chết nữa.
JOH 6:51 Ta là bánh sống từ trời xuống. Ai ăn bánh nầy sẽ sống mãi. Bánh đó là thịt ta mà ta sẽ cho để thế gian nhờ đó mà sống.”
JOH 6:52 Thế là người Do-thái bắt đầu cãi nhau rằng, “Người nầy làm sao lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”
JOH 6:53 Chúa Giê-xu nói với họ, “Ta bảo thật, các ngươi phải ăn thịt và uống huyết Con Người, nếu không sẽ chẳng nhận được sự sống trong các ngươi đâu.
JOH 6:54 Ai ăn thịt ta và uống huyết ta sẽ nhận được sự sống đời đời. Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
JOH 6:55 Vì thịt ta chính là thức ăn, huyết ta chính là thức uống.
JOH 6:56 Ai ăn thịt ta và uống huyết ta thì sống trong ta và ta sống trong người ấy.
JOH 6:57 Cha Hằng Sống đã sai ta đến và ta sống là nhờ Ngài. Vì thế, ai ăn nuốt ta cũng sẽ sống bởi ta.
JOH 6:58 Ta không phải như bánh mà tổ tiên các ngươi đã ăn rồi chết. Ta là bánh từ trời xuống, ai ăn bánh nầy sẽ sống mãi.”
JOH 6:59 Chúa Giê-xu nói những điều ấy khi đang dạy dỗ trong hội đường ở thành Ca-bê-nâm.
JOH 6:60 Khi các môn đệ Ngài nghe thế thì nhiều người bảo, “Lời dạy nầy thật khó, ai mà nghe được?”
JOH 6:61 Biết họ đang bàn tán nhau về lời dạy ấy nên Ngài hỏi, “Có phải lời dạy nầy làm các con khó chịu không?
JOH 6:62 Nếu các con thấy Con Người trở lên nơi xuất xứ của Ngài thì sao?
JOH 6:63 Chính thần linh cho sự sống, còn xác thịt chẳng ích gì. Những lời ta đã nói cùng các con là thần linh và sự sống.
JOH 6:64 Tuy nhiên có vài người trong các con không chịu tin.” Ngài nói vậy vì ngay từ đầu Chúa Giê-xu đã biết trước những ai không tin Ngài và ai là kẻ phản Ngài.
JOH 6:65 Ngài tiếp, “Chính vì thế mà ta đã bảo các con ‘Chẳng ai có thể đến cùng ta được nếu Thượng Đế không đưa đến.’”
JOH 6:66 Sau khi Chúa Giê-xu nói thế thì nhiều môn đệ rút lui, không đi theo Ngài nữa.
JOH 6:67 Chúa Giê-xu hỏi mười hai môn đệ, “Còn các con có muốn rút lui không?”
JOH 6:68 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, chúng con biết đến với ai? Chúa có lời của sự sống đời đời.
JOH 6:69 Chúng con tin và biết rằng thầy là Đấng Thánh mà Thượng Đế sai đến.”
JOH 6:70 Chúa Giê-xu tiếp, “Có phải ta chọn tất cả là mười hai người trong các con không? Thế mà một người trong các con là quỉ!”
JOH 6:71 Ngài muốn nói đến Giu-đa, con của Xi-môn Ít-ca-ri-ốt, là một trong số mười hai người về sau phản Ngài.
JOH 7:1 Sau đó, Chúa Giê-xu đi quanh miền Ga-li-lê. Ngài tránh miền Giu-đia vì các người Do-thái ở đó tìm cách giết Ngài.
JOH 7:2 Lễ Lều Tạm của dân Do-thái gần đến,
JOH 7:3 nên các em Ngài bảo, “Anh hãy rời vùng nầy, đi đến miền Giu-đia, để cho các người theo anh ở đó cũng được thấy những phép lạ anh làm nữa.
JOH 7:4 Ai muốn được người ta biết đến thì không giấu diếm điều mình làm. Vì anh đã làm những điều lạ lùng nầy thì phải cho thiên hạ biết đến anh chứ!”
JOH 7:5 Ngay đến chính các em Ngài cũng không tin Ngài.
JOH 7:6 Chúa Giê-xu bảo họ, “Thì giờ chưa tiện cho anh, nhưng với các em thì giờ lúc nào cũng thuận tiện.
JOH 7:7 Thế gian không thể ghét các em được, nhưng thế gian ghét anh vì anh chỉ ra những điều ác họ làm.
JOH 7:8 Thôi các em lên dự lễ đi. Anh không đi lần nầy đâu vì thì giờ chưa tiện cho anh.”
JOH 7:9 Nói xong, Ngài ở nán lại miền Ga-li-lê.
JOH 7:10 Tuy nhiên, sau khi các em Ngài đã đi lên dự lễ thì Chúa Giê-xu cũng lên nhưng đi kín đáo, không để ai thấy.
JOH 7:11 Các người Do-thái đi tìm Ngài trong kỳ lễ hỏi rằng, “Ông ta đâu rồi?”
JOH 7:12 Có nhiều lời xầm xì trong quần chúng về Ngài. Người thì nói, “Ông ta là người tốt.” Kẻ khác thì bảo, “Không, ông ta bịp dân chúng đó thôi.”
JOH 7:13 Nhưng không ai dám bàn tán công khai về Ngài vì họ sợ các người Do-thái.
JOH 7:14 Giữa kỳ lễ, Chúa Giê-xu đi vào đền thờ giảng dạy.
JOH 7:15 Các người Do-thái rất kinh ngạc và hỏi nhau, “Làm sao mà người nầy biết quá nhiều như thế, trong khi chưa bao giờ đặt chân đến trường?”
JOH 7:16 Chúa Giê-xu đáp, “Những điều ta dạy không phải tự ta mà do Đấng đã sai ta đến.
JOH 7:17 Ai làm theo ý muốn Thượng Đế sẽ biết rằng điều ta dạy là do Thượng Đế hay tự ý ta.
JOH 7:18 Ai dạy theo ý riêng thì chỉ tìm vinh dự cho mình thôi. Nhưng ai tìm vinh dự cho Đấng sai mình đến là người ngay thật, trong người ấy không có điều gì giả dối.
JOH 7:19 Mô-se đã ban hành Luật Lệ cho các ngươi nhưng không ai trong các ngươi tôn trọng Luật Lệ. Tại sao các ngươi tìm cách giết ta?”
JOH 7:20 Họ trả lời, “Ông bị quỉ ám. Ai tìm cách giết ông?”
JOH 7:21 Chúa Giê-xu đáp, “Ta làm một phép lạ mà các ngươi đều kinh ngạc.
JOH 7:22 Mô-se ban cho các ngươi luật về phép cắt dương bì. Thật ra không phải Mô-se cho các ngươi luật ấy mà là các tổ tiên. Cho nên các ngươi cắt dương bì trong ngày Sa-bát.
JOH 7:23 Nếu các ngươi làm lễ cắt dương bì trong ngày Sa-bát để khỏi vi phạm luật lệ Mô-se thì tại sao các ngươi bất bình khi ta khiến một bệnh nhân hoàn toàn bình phục trong ngày Sa-bát?
JOH 7:24 Đừng phán đoán theo bề ngoài mà hãy phán đoán cho đúng.”
JOH 7:25 Một vài người ở Giê-ru-sa-lem hỏi, “Đây có phải là người mà họ tìm cách giết không?
JOH 7:26 Thế sao ông ta công khai giảng dạy mà chẳng ai làm gì cả? Không chừng các nhà lãnh đạo biết chắc rằng ông ta là Đấng Cứu Thế.
JOH 7:27 Khi Đấng Cứu Thế đến sẽ không ai biết Ngài từ đâu đến, chứ còn người nầy thì chúng ta biết rõ gốc gác.”
JOH 7:28 Đang khi dạy trong đền thờ thì Chúa Giê-xu kêu lên, “Các ngươi biết ta và cũng biết ta từ đâu đến. Ta không tự lấy quyền mình mà đến. Đấng đã sai ta đến là chân thật. Các ngươi không biết Ngài
JOH 7:29 nhưng ta biết Ngài, vì ta từ Ngài mà đến và Ngài là Đấng đã sai ta.”
JOH 7:30 Khi nghe như thế thì dân chúng muốn bắt Chúa Giê-xu nhưng không ai dám ra tay vì thời điểm của Ngài chưa đến.
JOH 7:31 Tuy nhiên có nhiều người trong quần chúng tin Ngài. Họ hỏi nhau, “Khi Đấng Cứu Thế đến, liệu Ngài có làm nhiều phép lạ hơn người nầy không?”
JOH 7:32 Người Pha-ri-xi nghe quần chúng xì xào như thế về Chúa Giê-xu, liền cùng các giới trưởng tế sai một số lính gác đền thờ đến bắt Ngài.
JOH 7:33 Chúa Giê-xu bảo, “Ta còn ở với các ngươi một thời gian ngắn nữa, rồi ta sẽ trở về cùng Đấng đã sai ta.
JOH 7:34 Các ngươi sẽ tìm ta nhưng không gặp được, vì các ngươi không thể đến được nơi ta ở.”
JOH 7:35 Người Do-thái hỏi nhau, “Ông nầy đi đâu mà chúng ta không tìm được? Chẳng lẽ ông ta đi đến các thành phố Hi-lạp có dân ta cư ngụ để giảng cho người Hi-lạp sao?
JOH 7:36 Ông ta bảo, ‘Các ngươi sẽ tìm ta nhưng không tìm được và rằng các ngươi không thể đến nơi ta ở.’ Như thế nghĩa là gì?”
JOH 7:37 Vào ngày cuối cùng và cũng là ngày quan trọng nhất của kỳ lễ, Chúa Giê-xu đứng dậy kêu lên rằng, “Ai khát hãy đến cùng ta mà uống.
JOH 7:38 Người nào tin ta thì suối nước sống sẽ tuôn tràn từ tấm lòng người ấy như Thánh Kinh đã viết.”
JOH 7:39 Ngài muốn nói đến Thánh Linh. Lúc bấy giờ Thánh Linh chưa đến trên ai vì Chúa Giê-xu chưa được hiển vinh. Nhưng sau đó những người tin Ngài sẽ nhận Thánh Linh.
JOH 7:40 Khi quần chúng nghe Ngài nói như thế thì một số người bảo, “Người nầy quả thật là nhà tiên tri!”
JOH 7:41 Kẻ khác lại nói, “Ông ta là Đấng Cứu Thế!” Nhưng có người cãi, “Đấng Cứu Thế mà xuất thân từ Ga-li-lê à?
JOH 7:42 Thánh Kinh chép rằng Đấng Cứu Thế sẽ thuộc dòng vua Đa-vít và xuất thân ở Bết-lê-hem, thị trấn mà vua Đa-vít đã cư ngụ.”
JOH 7:43 Cho nên dân chúng bất đồng ý với nhau về Ngài.
JOH 7:44 Có vài người trong vòng họ muốn bắt Ngài, tuy nhiên không ai dám đụng đến Ngài.
JOH 7:45 Khi các lính gác đền thờ trở về thì các giới trưởng tế và người Pha-ri-xi hỏi, “Sao mấy anh không giải ông ta đến đây?”
JOH 7:46 Toán lính trả lời, “Chưa hề có ai ăn nói như người nầy!”
JOH 7:47 Mấy người Pha-ri-xi bảo, “Chắc mấy anh cũng bị ông Giê-xu gạt gẫm rồi chứ gì!
JOH 7:48 Hay là có ai trong giới lãnh đạo hoặc người Pha-ri-xi tin theo ông ta rồi sao? Không thể được!
JOH 7:49 Đám dân nầy chẳng biết gì về luật lệ cả, thật đáng bị Thượng Đế nguyền rủa!”
JOH 7:50 Ni-cô-đem, thuộc nhóm Pha-ri-xi, là người trước đây đã đến thăm Chúa Giê-xu, có mặt ở đó. Ông lên tiếng,
JOH 7:51 “Luật chúng ta không thể buộc tội ai trước khi nghe người ấy tự bênh vực để biết những gì người ấy làm.”
JOH 7:52 Họ đáp, “Vậy ra ông cũng xuất thân từ Ga-li-lê à! Ông hãy nghiên cứu Thánh Kinh đi, sẽ thấy không có nhà tiên tri nào từ Ga-li-lê ra cả.”
JOH 7:53 Rồi ai về nhà nấy.
JOH 8:1 Chúa Giê-xu lên núi Ô-liu.
JOH 8:2 Sáng hôm sau Ngài trở lại đền thờ thì dân chúng tụ tập xung quanh. Ngài liền ngồi xuống dạy dỗ họ.
JOH 8:3 Lúc ấy, các giáo sư luật và người Pha-ri-xi dẫn đến một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Họ bắt chị đứng trước mặt mọi người
JOH 8:4 rồi hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, chị nầy bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình.
JOH 8:5 Luật Mô-se qui định rằng hạng đàn bà như thế phải bị ném đá chết. Còn thầy thì nghĩ chúng tôi phải làm gì?”
JOH 8:6 Họ hỏi như thế cốt ý gài bẫy Ngài để có cớ tố cáo Ngài. Nhưng Chúa Giê-xu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.
JOH 8:7 Vì họ vẫn tiếp tục hỏi mãi, Ngài ngước lên bảo, “Ai ở đây chưa hề phạm tội thì hãy ném viên đá đầu tiên vào chị nầy.”
JOH 8:8 Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất.
JOH 8:9 Ai nghe vậy cũng lần lượt bỏ ra hết, già trước rồi đến trẻ. Chúa Giê-xu ở lại một mình, còn người đàn bà vẫn đang đứng trước mặt Ngài.
JOH 8:10 Ngài ngẩng lên hỏi chị, “Họ đâu cả rồi chị? Không ai buộc tội chị sao?”
JOH 8:11 Chị đáp, “Thưa thầy, không ai cả.” Chúa Giê-xu bảo, “Tôi cũng không buộc tội chị. Thôi chị về đi, từ nay trở đi đừng phạm tội nữa.”
JOH 8:12 Sau đó Chúa Giê-xu nói chuyện với dân chúng. Ngài tuyên bố, “Ta là ánh sáng của trần gian. Ai theo ta sẽ không sống trong tối tăm nhưng có ánh sáng của sự sống.”
JOH 8:13 Người Pha-ri-xi nói với Ngài, “Khi thầy tự làm chứng cho mình thì lời chứng của thầy không có giá trị gì.”
JOH 8:14 Chúa Giê-xu đáp, “Mặc dù ta làm chứng về ta, nhưng những điều ta nói là thật, vì ta biết ta từ đâu đến và sẽ đi đâu. Các ngươi không biết ta từ đâu đến và sẽ đi đâu.
JOH 8:15 Các ngươi phán đoán theo tiêu chuẩn loài người. Còn ta không phán đoán ai.
JOH 8:16 Nhưng hễ ta phán đoán thì phán đoán của ta là đúng, vì ta không tự mình hành động; Cha ta, là Đấng sai ta đến, làm chứng cho ta.
JOH 8:17 Luật các ngươi qui định rằng khi hai nhân chứng cùng khai giống nhau thì các ngươi phải chấp nhận lời chứng ấy.
JOH 8:18 Ta là nhân chứng thứ nhất cho ta, và Cha ta tức Đấng sai ta đến, là nhân chứng thứ hai.”
JOH 8:19 Họ hỏi, “Cha thầy ở đâu?” Chúa Giê-xu đáp, “Các ngươi không biết ta, cũng không biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta thì hẳn phải biết Cha ta nữa.”
JOH 8:20 Chúa Giê-xu nói những lời ấy khi đang dạy dỗ trong đền thờ, gần nơi để hộp đựng tiền dâng hiến. Tuy nhiên không ai dám bắt Ngài, vì thời điểm Ngài chưa đến.
JOH 8:21 Chúa Giê-xu lại dạy dỗ nữa. Ngài bảo họ rằng, “Ta sẽ ra đi, các ngươi sẽ tìm ta nhưng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Các ngươi sẽ không đến được nơi ta đi.”
JOH 8:22 Người Do-thái hỏi nhau, “Ông ta bảo chúng ta không thể đến được nơi ta đi. Vậy ông ta sẽ tự tử à?”
JOH 8:23 Chúa Giê-xu đáp, “Các ngươi thuộc về trần thế, còn ta từ trên cao xuống. Các ngươi thuộc về trần gian nầy nhưng ta không thuộc về trần gian.
JOH 8:24 Vì thế ta đã nói rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Thật vậy, các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình, nếu các ngươi không tin ta là Đấng từ trời xuống.”
JOH 8:25 Họ hỏi lại, “Vậy ông là ai?” Chúa Giê-xu đáp, “Ta là Đấng đã nói với các ngươi từ lúc đầu.
JOH 8:26 Ta có nhiều điều phải nói và phán đoán về các ngươi. Tuy nhiên ta chỉ nói cho thế gian những điều ta đã nghe từ Đấng sai ta đến. Ngài nói ra sự thật.”
JOH 8:27 Họ không hiểu là Ngài đang nói với họ về Cha Ngài.
JOH 8:28 Nên Chúa Giê-xu tiếp, “Khi các ngươi treo Con Người lên thì sẽ biết rằng ta là Đấng ấy. Các ngươi sẽ biết rằng ta không làm điều gì tự quyền mình, nhưng chỉ nói điều gì Cha chỉ dạy.
JOH 8:29 Đấng sai ta đến ở cùng ta. Ngài không để ta một mình, vì ta luôn luôn làm điều vừa lòng Ngài.”
JOH 8:30 Sau khi nghe Chúa Giê-xu nói như thế thì nhiều người tin Ngài.
JOH 8:31 Chúa Giê-xu bảo những người Do-thái đã tin Ngài rằng, “Nếu các ngươi trung thành với lời dạy của ta thì các ngươi sẽ là môn đệ thật của ta.
JOH 8:32 Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi.”
JOH 8:33 Họ đáp, “Chúng tôi là con cháu Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai. Tại sao thầy lại nói chúng tôi sẽ được giải thoát?”
JOH 8:34 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, ai phạm tội là tôi mọi của tội lỗi.
JOH 8:35 Kẻ tôi mọi không sống mãn đời với gia đình nhưng con cái thì suốt đời thuộc về gia đình.
JOH 8:36 Cho nên nếu Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi sẽ thật được tự do.
JOH 8:37 Ta biết các ngươi là con cháu Áp-ra-ham. Nhưng các ngươi tìm cách giết ta, vì các ngươi không chấp nhận lời dạy của ta.
JOH 8:38 Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha, còn các ngươi làm điều cha các ngươi dặn bảo.”
JOH 8:39 Họ đáp, “Cha chúng tôi là Áp-ra-ham.” Chúa Giê-xu bảo, “Nếu các ngươi thật là con cháu Áp-ra-ham thì cũng sẽ làm như chính Áp-ra-ham đã làm.
JOH 8:40 Ta là người nói cho các ngươi biết sự thật mà ta đã nghe từ Thượng Đế, nhưng các ngươi tìm cách giết ta. Áp-ra-ham không hề làm như thế bao giờ!
JOH 8:41 Các ngươi làm giống như điều cha mình đã làm.” Họ đáp, “Chúng tôi đâu có phải là con hoang. Thượng Đế là Cha chúng tôi. Chúng tôi chỉ có một Cha mà thôi.”
JOH 8:42 Chúa Giê-xu bảo họ, “Nếu Thượng Đế là Cha thật của các ngươi thì các ngươi sẽ yêu ta vì ta đến từ Thượng Đế và hiện nay ta đang có mặt tại đây. Ta không lấy quyền mình mà đến, nhưng Thượng Đế đã sai ta đến.
JOH 8:43 Các ngươi không hiểu điều ta nói, vì các ngươi không chịu chấp nhận lời dạy của ta.
JOH 8:44 Các ngươi thuộc về cha mình là ma quỉ, và làm theo ý muốn nó. Từ lúc đầu nó là kẻ giết người và lúc nào cũng nghịch lại sự thật, vì trong nó chẳng hề có sự thật. Khi nó nói dối, nó lộ bản tính thật của nó, vì nó là đứa nói dối và là cha của sự dối trá.
JOH 8:45 Nhưng vì ta nói sự thật nên các ngươi không chịu tin.
JOH 8:46 Có ai trong các ngươi buộc tội ta được không? Nếu ta nói sự thật, tại sao các ngươi không tin ta?
JOH 8:47 Ai thuộc về Thượng Đế thì nghe lời Thượng Đế. Các ngươi không thuộc về Thượng Đế nên các ngươi không nghe lời Ngài.”
JOH 8:48 Người Do-thái đáp, “Chúng tôi bảo ông là người Xa-ma-ri và bị quỉ ám, có đúng không?”
JOH 8:49 Chúa Giê-xu trả lời, “Ta không bị quỉ ám. Ta tôn kính Cha ta, còn các ngươi làm nhục ta.
JOH 8:50 Ta không tìm kiếm uy danh cho riêng mình. Có một Đấng đang tìm uy danh cho ta. Ngài là quan án xét xử.
JOH 8:51 Ta bảo thật, người nào vâng theo lời dạy của ta sẽ chẳng bao giờ chết.”
JOH 8:52 Người Do-thái bảo Chúa Giê-xu, “Bây giờ chúng tôi thấy đúng là ông bị quỉ ám! Áp-ra-ham và các nhà tiên tri cũng đã chết còn ông bảo rằng, ‘Người nào vâng theo lời dạy của ta sẽ chẳng bao giờ chết!’
JOH 8:53 Ông tổ chúng tôi là Áp-ra-ham đã chết; ông dám cho mình lớn hơn Áp-ra-ham sao? Các nhà tiên tri cũng đã chết. Vậy ông tự xưng là ai?”
JOH 8:54 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu ta tự tìm vinh dự cho mình thì vinh dự ấy không có giá trị gì. Đấng tôn cao ta là Cha ta trên trời. Đấng mà các ngươi nhận là Thượng Đế mình.
JOH 8:55 Các ngươi chưa thật biết Ngài, nhưng ta biết Ngài. Nếu ta nói ta không biết Ngài, thì ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng ta biết Ngài và vâng lời Ngài.
JOH 8:56 Tổ tiên các ngươi là Áp-ra-ham, hớn hở mong được thấy ngày ta đến trần gian. Ông đã thấy và mừng rỡ.”
JOH 8:57 Người Do-thái bảo, “Ông làm sao mà thấy được Áp-ra-ham trong khi ông chưa đầy năm mươi tuổi?”
JOH 8:58 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, trước khi Áp-ra-ham sinh ra đã có ta.”
JOH 8:59 Khi nghe Ngài nói thế thì họ liền lượm đá để ném Ngài, nhưng Chúa Giê-xu lẩn tránh và ra khỏi đền thờ.
JOH 9:1 Chúa Giê-xu đang đi đường, Ngài thấy một người mù từ lúc mới sinh.
JOH 9:2 Các môn đệ hỏi Ngài, “Thưa thầy, tại tội lỗi của anh nầy hay của cha mẹ mà anh sinh ra đã bị mù?”
JOH 9:3 Chúa Giê-xu đáp, “Không phải tại tội của anh hay của cha mẹ mà anh bị mù. Anh bị mù để cho quyền năng của Thượng Đế được bày tỏ trong anh ta.
JOH 9:4 Trong khi còn ban ngày, chúng ta phải làm việc của Đấng đã sai ta đến. Đêm xuống thì không ai làm việc được.
JOH 9:5 Trong khi còn ở trong thế gian ta là ánh sáng của thế gian.”
JOH 9:6 Nói xong Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn thành bùn xức vào mắt người mù.
JOH 9:7 Rồi Ngài bảo anh, “Đi đến hồ Xi-lôm rửa đi.” (Xi-lôm có nghĩa là “người được sai đi.”) Anh đi rửa và khi trở về thì mắt thấy được.
JOH 9:8 Hàng xóm, láng giềng và những người đã thấy anh thường ăn xin mới hỏi, “Đây có phải là người trước kia vẫn ngồi ăn xin không?”
JOH 9:9 Người thì nói, “Chính hắn chứ ai!” Nhưng kẻ khác bảo, “Không, chắc là một người nào giống hắn thôi.” Anh mù nói, “Chính tôi đây.”
JOH 9:10 Họ hỏi, “Làm sao mà bây giờ anh thấy được?”
JOH 9:11 Anh đáp, “Có một ông tên Giê-xu lấy bùn xức vào mắt tôi rồi bảo tôi đi rửa ở hồ Xi-lôm. Tôi đi rửa xong liền thấy đường.”
JOH 9:12 Họ hỏi, “Ông ta đâu?” Anh đáp, “Tôi không biết.”
JOH 9:13 Cho nên họ liền dẫn người trước bị mù đến với các người Pha-ri-xi.
JOH 9:14 Ngày mà Chúa Giê-xu lấy bùn chữa lành anh mù là ngày Sa-bát.
JOH 9:15 Các người Pha-ri-xi hỏi anh, “Làm sao anh thấy đường được vậy?” Anh đáp, “Ông ấy lấy bùn xức vào mắt tôi, tôi rửa xong, bây giờ thấy được.”
JOH 9:16 Vài người Pha-ri-xi nói rằng, “Người nầy không phải từ Thượng Đế đến đâu, vì không tôn trọng ngày Sa-bát.” Nhưng kẻ khác cãi, “Người có tội sao làm được những phép lạ như thế nầy?” Thế là họ bất đồng ý và chia phe ra.
JOH 9:17 Họ hỏi người mù, “Anh nghĩ sao về người đã chữa cho anh được sáng mắt?” Anh đáp, “Ông ta là nhà tiên tri.”
JOH 9:18 Người Do-thái không tin rằng một người trước kia bị mù mà bây giờ lại thấy đường nên họ cho gọi cha mẹ anh đến.
JOH 9:19 Họ hỏi, “Đây có phải là đứa con mà ông bà nói là bị mù không? Sao bây giờ nó thấy được?”
JOH 9:20 Cha mẹ anh đáp, “Đúng nó là con chúng tôi, nó bị mù từ lúc mới sinh.
JOH 9:21 Nhưng chúng tôi cũng không hiểu tại sao bây giờ nó thấy được hoặc ai đã mở mắt cho nó. Các ông hãy hỏi nó đi vì nó lớn rồi, nó tự trả lời được.”
JOH 9:22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Họ vốn đồng ý với nhau rằng, hễ ai xưng nhận Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, sẽ bị đuổi ra khỏi hội đường.
JOH 9:23 Vì thế nên cha mẹ anh mới nói, “Nó lớn rồi, hãy hỏi nó đi.”
JOH 9:24 Một lần nữa họ gọi người trước kia bị mù đến bảo, “Anh hãy hứa danh dự trước mặt Thượng Đế là anh sẽ nói sự thật! Chúng ta biết người nầy là kẻ tội lỗi.”
JOH 9:25 Anh đáp, “Tôi chẳng biết ông ta có tội hay không. Tôi chỉ biết một điều: Trước đây tôi mù, bây giờ tôi thấy được.”
JOH 9:26 Họ hỏi, “Ông ta chữa anh như thế nào? Ông ta làm sao mà anh thấy đường trở lại?”
JOH 9:27 Anh đáp, “Tôi đã kể cho các ông rồi mà các ông chẳng chịu nghe. Tại sao các ông muốn nghe lần nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ ông ta?”
JOH 9:28 Họ mắng anh “Mầy mới là môn đệ của hắn, còn chúng ta là môn đệ của Mô-se.
JOH 9:29 Chúng ta biết Thượng Đế phán qua Mô-se; còn người nầy thì chúng ta không biết từ đâu đến.”
JOH 9:30 Anh đáp, “Lạ chưa! Một người đã mở mắt cho tôi thấy đường mà các ông bảo là không biết từ đâu đến!
JOH 9:31 Chúng ta biết Thượng Đế không nghe lời kẻ có tội, nhưng nghe lời cầu xin của người thờ kính và vâng lời Ngài.
JOH 9:32 Xưa nay chưa hề có ai nghe người nào mở mắt kẻ mù từ thuở mới sinh.
JOH 9:33 Nếu ông nầy chẳng phải từ Thượng Đế đến chắc chắn không làm gì được đâu.”
JOH 9:34 Họ đáp, “Mầy sinh ra tội lỗi ngập đầu mà còn dám lên mặt dạy chúng ta à?” Họ liền đuổi anh ta ra.
JOH 9:35 Khi Chúa Giê-xu nghe họ đuổi anh ra, Ngài gặp anh liền hỏi, “Anh có tin nơi Con Người không?”
JOH 9:36 Anh đáp, “Thưa ông, Con Người là ai để tôi tin?”
JOH 9:37 Chúa Giê-xu bảo, “Anh đã gặp Ngài và Con Người là người đang nói chuyện với anh.”
JOH 9:38 Anh kêu lên, “Lạy Chúa, tôi tin.” Rồi liền quì xuống bái lạy Ngài.
JOH 9:39 Chúa Giê-xu nói, “Ta đến để xét xử thế gian. Ta đến để kẻ mù được thấy, còn người thấy lại hóa mù.”
JOH 9:40 Mấy người Pha-ri-xi đứng gần đó nghe thế liền hỏi, “Ông nói chúng tôi cũng mù luôn à?”
JOH 9:41 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu các anh mù thật, thì không có tội gì. Nhưng vì các anh vẫn cho rằng mình thấy, nên tội các anh vẫn còn đó.”
JOH 10:1 Chúa Giê-xu dạy, “Ta bảo thật, kẻ nào không vào ràn chiên bằng cổng chính mà trèo vào bằng ngả khác, là phường trộm cướp.
JOH 10:2 Còn ai đi vào bằng cổng chính là người chăn chiên.
JOH 10:3 Người gác cổng mở cửa cho người chăn. Chiên nghe tiếng người chăn. Người kêu tên từng con chiên của mình rồi dắt chúng ra.
JOH 10:4 Khi đã đưa chiên ra hết, người chăn đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người ấy.
JOH 10:5 Nhưng chiên sẽ không bao giờ theo người lạ. Chúng sẽ chạy trốn vì chiên không nhận ra tiếng người lạ.”
JOH 10:6 Chúa Giê-xu thuật chuyện nầy cho họ nghe nhưng họ không hiểu ý nghĩa là gì.
JOH 10:7 Chúa Giê-xu lại dạy dỗ nữa, “Ta bảo thật: Ta là cửa của chiên.
JOH 10:8 Tất cả những kẻ đến trước ta đều là quân trộm cướp nhưng chiên không nghe chúng nó.
JOH 10:9 Ta là cái cửa. Ai đi vào qua cửa của ta sẽ được cứu. Người ấy vào ra và gặp đồng cỏ xanh.
JOH 10:10 Kẻ trộm chỉ đến để đánh cắp, chém giết và hủy diệt. Nhưng ta đến để cho chiên được sống sung túc.
JOH 10:11 Ta là người chăn tận tụy. Người chăn tận tụy bằng lòng hi sinh mạng sống vì chiên.
JOH 10:12 Kẻ chăn thuê khác với người chăn thật vì chiên không phải của nó. Lúc thấy muông sói đến, nó liền bỏ chiên lại và chạy thoát thân. Muông sói cắn xé, làm chiên tản lạc hết.
JOH 10:13 Kẻ chăn thuê chỉ là người làm mướn nên không hết lòng lo cho chiên.
JOH 10:14 Ta là người chăn tận tụy. Ta biết chiên ta như Cha biết ta. Chiên ta biết ta như ta biết Cha ta. Ta bằng lòng hi sinh mạng sống vì chiên ta.
JOH 10:16 Ta còn có những chiên khác không thuộc về bầy nầy. Ta cũng phải tìm dẫn chúng về để chúng cũng nghe tiếng ta, và rồi sẽ chỉ có một bầy chiên và một người chăn mà thôi.
JOH 10:17 Cha yêu ta vì ta bằng lòng hi sinh mạng sống mình để ta có thể nhận lại mạng sống ấy.
JOH 10:18 Không ai cướp mạng sống ta được. Ta tình nguyện hi sinh mạng sống mình. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Đó là điều Cha ta bảo ta làm.”
JOH 10:19 Vì những lời ấy nên người Do-thái lại bất đồng ý với nhau.
JOH 10:20 Nhiều người bảo, “Quỉ ám khiến ông ta điên rồi! Sao mấy anh còn nghe ông ta làm gì?”
JOH 10:21 Nhưng kẻ khác cãi, “Người bị quỉ ám mà nói được như người nầy à? Quỉ làm sao mở mắt người mù được?”
JOH 10:22 Vào dịp kỷ niệm Lễ Khánh Thành đền thờ được cử hành tại Giê-ru-sa-lem. Lúc ấy nhằm mùa đông.
JOH 10:23 Chúa Giê-xu đang đi tản bộ dưới vòm cửa Sô-lô-môn trong đền thờ,
JOH 10:24 thì người Do-thái tụ tập quanh Ngài và hỏi rằng, “Thầy để chúng tôi thắc mắc đến bao giờ? Nếu thầy thật là Đấng Cứu Thế xin nói thẳng cho chúng tôi biết.”
JOH 10:25 Chúa Giê-xu đáp, “Ta đã nói với các ngươi rồi mà các ngươi không chịu tin. Những gì ta làm nhân danh Cha đã chứng tỏ ta là ai.
JOH 10:26 Nhưng các ngươi không chịu tin, vì các ngươi không phải là chiên của ta.
JOH 10:27 Chiên ta quen tiếng ta, ta biết chiên ta và chúng nó theo ta.
JOH 10:28 Ta cho chúng nó sự sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ chết, cũng không ai có thể giật chúng khỏi tay ta.
JOH 10:29 Cha ta đã cho ta các chiên ấy. Ngài lớn hơn tất cả mọi loài, không ai có thể cướp chúng khỏi tay Cha ta.
JOH 10:30 Ta với Cha là một.”
JOH 10:31 Người Do-thái lại lượm đá để ném Ngài.
JOH 10:32 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ta đã làm nhiều điều phúc đức từ Cha mà các ngươi đã thấy. Điều phước đức nào khiến các ngươi muốn giết ta?”
JOH 10:33 Người Do-thái đáp, “Không phải chúng tôi giết ông vì những việc phúc đức ông làm mà vì ông phạm thượng. Ông chỉ là người mà dám tự cho mình là Trời!”
JOH 10:34 Chúa Giê-xu đáp, “Luật Lệ các ngươi có viết rằng, ‘Ta bảo, các ngươi là thần’ kia mà.
JOH 10:35 Nếu Thánh Kinh gọi những người nhận lời của Thượng Đế là ‘thần’ và Thánh Kinh bao giờ cũng đúng,
JOH 10:36 thì tại sao các ngươi bảo rằng ta phạm thượng khi ta xưng mình là ‘Con Trời’? Ta là Đấng Cha đã chọn và sai đến thế gian.
JOH 10:37 Nếu ta không làm những điều Cha ta làm thì đừng tin ta.
JOH 10:38 Nhưng nếu ta làm những điều như Cha ta làm thì dù không tin ta cũng hãy tin những việc làm của ta, để các ngươi biết chắc rằng Cha ta ở trong ta và ta ở trong Cha ta.”
JOH 10:39 Một lần nữa họ tìm cách bắt Chúa Giê-xu, nhưng Ngài thoát khỏi tay họ.
JOH 10:40 Sau đó Ngài trở về cư ngụ phía Đông sông Giô-đanh nơi trước đây Giăng làm lễ báp-têm.
JOH 10:41 Nhiều người đến cùng Ngài. Họ bảo, “Giăng không làm phép lạ nào, nhưng tất cả những gì Giăng nói về người nầy đều là thật.”
JOH 10:42 Tại đó có nhiều người tin theo Ngài.
JOH 11:1 Ở làng Bê-tha-ni có một người tên La-xa-rơ lâm bệnh. Bê-tha-ni là nơi mà Ma-ri và chị là Ma-thê cư ngụ.
JOH 11:2 Ma-ri là người đã xức dầu thơm lên chân của Chúa, rồi lấy tóc mình mà lau. La-xa-rơ, người bị bệnh là anh của Ma-ri.
JOH 11:3 Hai chị em Ma-ri và Ma-thê nhờ người đến báo tin cho Chúa Giê-xu hay, “Thưa Chúa, người Chúa yêu đang bị bệnh.”
JOH 11:4 Khi được tin, Chúa Giê-xu bảo, “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu nhưng để làm vinh hiển Thượng Đế và Con Ngài cũng được rạng danh.”
JOH 11:5 Chúa Giê-xu yêu quí Ma-thê, em cô, và La-xa-rơ.
JOH 11:6 Khi nghe tin La-xa-rơ lâm bệnh thì Ngài ở nán thêm hai ngày nữa nơi Ngài đang ở.
JOH 11:7 Rồi Ngài bảo các môn đệ, “Chúng ta hãy đi trở về miền Giu-đia.”
JOH 11:8 Các môn đệ hỏi, “Thưa thầy, mới đây người Do-thái ở đó muốn ném đá giết thầy mà thầy còn định trở lại đó sao?”
JOH 11:9 Chúa Giê-xu đáp, “Mỗi ngày có mười hai giờ phải không? Ai đi ban ngày sẽ không vấp, vì thấy đường nhờ ánh sáng trần thế.
JOH 11:10 Nhưng ai đi ban đêm sẽ vấp té vì không có ánh sáng soi đường.”
JOH 11:11 Nói xong Ngài tiếp, “La-xa-rơ, bạn chúng ta đang ngủ nhưng ta sẽ đến để đánh thức anh ấy.”
JOH 11:12 Các môn đệ thưa, “Thưa Chúa, nếu anh ấy ngủ chắc sẽ lành bệnh.”
JOH 11:13 Chúa Giê-xu muốn nói La-xa-rơ đã chết rồi nhưng họ lại tưởng Ngài nói đến giấc ngủ thường.
JOH 11:14 Vì thế Chúa Giê-xu phải nói rõ ra, “La-xa-rơ chết rồi.
JOH 11:15 Ta mừng cho các con, vì ta không có ở đó để các con tin. Nhưng bây giờ chúng ta hãy đi đến với anh ấy.”
JOH 11:16 Thô-ma, còn có tên là Đi-đim, nói với các môn đệ khác, “Thôi chúng ta hãy đi đến đó để cùng chết với thầy.”
JOH 11:17 Khi đến nơi, Chúa Giê-xu nghe La-xa-rơ đã chết và được chôn trong mộ bốn ngày rồi.
JOH 11:18 Vì Bê-tha-ni chỉ cách Giê-ru-sa-lem khoảng ba cây số,
JOH 11:19 nên có nhiều người Do-thái đến thăm và an ủi hai chị em Ma-ri và Ma-thê về cái chết của anh các cô.
JOH 11:20 Vừa hay tin Chúa Giê-xu đến, Ma-thê liền đi ra đón Ngài nhưng Ma-ri thì ngồi lại nhà.
JOH 11:21 Lúc gặp Chúa Giê-xu, Ma-thê thổn thức, “Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh con không chết,
JOH 11:22 nhưng bây giờ con biết Thượng Đế sẽ ban cho Ngài bất cứ điều gì Ngài xin.”
JOH 11:23 Chúa Giê-xu bảo, “Anh con sẽ sống lại.”
JOH 11:24 Ma-thê thưa, “Con vẫn biết là anh con sẽ sống lại trong ngày cuối cùng.”
JOH 11:25 Chúa Giê-xu bảo cô, “Ta là sự sống lại và sự sống. Ai tin ta thì sẽ sống mặc dù đã chết.
JOH 11:26 Còn ai sống và tin ta sẽ không chết nữa. Ma-thê, con tin như vậy không?”
JOH 11:27 Cô thưa, “Lạy Chúa, con tin. Con tin rằng Ngài là Đấng Cứu Thế, Con Thượng Đế, Đấng phải đến thế gian.”
JOH 11:28 Nói xong, Ma-thê trở về nhà nói riêng với Ma-ri, “Thầy đến đây rồi và hỏi thăm em.”
JOH 11:29 Ma-ri nghe thế vội vàng đứng dậy đi đón Chúa Giê-xu.
JOH 11:30 Lúc ấy Chúa Giê-xu chưa vào làng. Ngài vẫn còn đang đứng nơi Ma-thê gặp Ngài.
JOH 11:31 Các người Do-thái đang có mặt trong nhà để an ủi Ma-ri thấy cô vội vã đứng dậy đi, họ liền đi theo vì tưởng cô ra mộ khóc.
JOH 11:32 Nhưng Ma-ri đi đến nơi Chúa Giê-xu đang đứng. Vừa thấy Ngài, Ma-ri quì xuống nơi chân Ngài nức nở, “Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh con không chết.”
JOH 11:33 Chúa Giê-xu thấy Ma-ri khóc và những người đi theo cô cũng khóc, lòng Ngài bồi hồi và vô cùng xúc động.
JOH 11:34 Ngài hỏi, “Các anh em chôn anh ấy ở đâu?” Họ thưa, “Lạy Chúa, xin hãy đến xem.”
JOH 11:35 Chúa Giê-xu khóc.
JOH 11:36 Người Do-thái bảo nhau, “Xem kìa, ông ta yêu anh ấy quá chừng!”
JOH 11:37 Nhưng một vài người trong đám họ nói, “Nếu ông ta đã mở mắt người mù được chẳng lẽ không thể khiến La-xa-rơ khỏi chết sao?”
JOH 11:38 Ngài lại mủi lòng nữa liền bước đến mộ. Mộ là một cái hang có tảng đá lớn chận miệng lại.
JOH 11:39 Chúa Giê-xu bảo, “Lăn tảng đá đi!” Ma-thê, em gái người chết thưa, “Lạy Chúa sẽ có mùi hôi xông ra vì anh ấy bị chôn bốn ngày rồi!”
JOH 11:40 Chúa Giê-xu đáp, “Ta đã chẳng nói với con là nếu con tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Thượng Đế sao?”
JOH 11:41 Họ liền lăn tảng đá đi. Chúa Giê-xu ngước mắt lên trời nói, “Lạy Cha, con tạ ơn Ngài vì Ngài nghe lời con.
JOH 11:42 Con biết rằng Cha nghe lời Con luôn luôn nhưng con nói những lời nầy là vì những người đứng đây, để họ tin rằng Cha sai con đến.”
JOH 11:43 Nói xong Ngài kêu lớn, “La-xa-rơ ơi, hãy đi ra!”
JOH 11:44 Người chết đi ra, tay chân còn quấn vải liệm, có miếng vải phủ qua mặt. Chúa Giê-xu bảo họ, “Hãy mở vải liệm để anh ấy đi.”
JOH 11:45 Trong số những người Do-thái đến thăm Ma-ri và chứng kiến việc Chúa Giê-xu làm, thì nhiều người tin Ngài.
JOH 11:46 Nhưng một vài người trong đám họ đi báo với người Pha-ri-xi về việc Chúa Giê-xu đã làm.
JOH 11:47 Cho nên người Pha-ri-xi cùng các giới trưởng tế triệu tập Hội đồng Do-thái. Họ hỏi nhau, “Chúng ta phải làm sao đây? Người nầy làm quá nhiều phép lạ.
JOH 11:48 Nếu chúng ta không ngăn chận thì mọi người sẽ theo ông ta, rồi quân La-mã sẽ đến chiếm đền thờ và quốc gia chúng ta!”
JOH 11:49 Một người trong nhóm họ tên Cai-pha, đang giữ chức tế lễ tối cao năm đó, lên tiếng, “Mấy anh chẳng biết gì cả!
JOH 11:50 Các anh không biết rằng chẳng thà một người vì dân chịu chết còn hơn cả dân tộc bị tiêu diệt sao?”
JOH 11:51 Ông nói như thế không phải tự ý mình mà là vì đang giữ chức tế lễ tối cao năm đó, nên thật ra ông nói tiên tri về việc Chúa Giê-xu sẽ phải chết vì toàn dân.
JOH 11:52 Không những vì dân Do-thái thôi, mà còn để thu nhóm tất cả con cái của Thượng Đế đang bị tản lạc khắp thế giới.
JOH 11:53 Từ ngày đó trở đi họ lập mưu giết Ngài.
JOH 11:54 Vì thế Chúa Giê-xu không đi công khai giữa người Do-thái nữa. Ngài rời vùng ấy đến một địa điểm gần sa mạc, tới một thị trấn gọi là Ép-ra-im, cư ngụ với các môn đệ.
JOH 11:55 Đại lễ Vượt Qua của Do-thái gần đến, nên vô số người từ vùng quê đổ lên thành Giê-ru-sa-lem để thi hành nghi thức tẩy sạch, chuẩn bị cho ngày đại lễ.
JOH 11:56 Dân chúng đi tìm Chúa Giê-xu. Họ đứng trong đền thờ hỏi nhau, “Mấy anh nghĩ sao? Ông ta dám đến dự Đại lễ không?”
JOH 11:57 Các giới trưởng tế và người Pha-ri-xi đã ra lệnh rằng hễ ai biết Ngài ở đâu phải báo để họ bắt Ngài.
JOH 12:1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Chúa Giê-xu đến làng Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ cư ngụ. La-xa-rơ là người mà Chúa Giê-xu đã khiến từ chết sống lại.
JOH 12:2 Họ tổ chức một bữa ăn cho Ngài tại đó. Ma-thê lo bưng thức ăn, còn La-xa-rơ là một trong những người cùng ăn với Ngài.
JOH 12:3 Ma-ri lấy nguyên một chai đựng một phần tư lít dầu thơm nguyên chất rất đắt tiền xức chân Chúa Giê-xu rồi lấy tóc mình mà lau. Mùi thơm của dầu đó bay tỏa khắp nhà.
JOH 12:4 Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một trong những môn đệ của Chúa Giê-xu, tức người về sau phản bội Ngài, có mặt ở đó. Hắn bảo,
JOH 12:5 “Dầu nầy đáng giá khoảng ba trăm quan tiền. Sao không bán đi lấy tiền ấy giúp người nghèo?”
JOH 12:6 Giu-đa nói thế không phải vì lo cho kẻ nghèo đâu nhưng vì hắn là tên trộm. Hắn là người giữ hộp tiền và thỉnh thoảng lấy tiêu riêng.
JOH 12:7 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Để cô ta yên! Cô làm việc rất phải vì đã để dành dầu thơm đến hôm nay là ngày chuẩn bị chôn cất ta.
JOH 12:8 Các ngươi lúc nào cũng có người nghèo ở cạnh mình chứ không có ta ở bên luôn đâu.”
JOH 12:9 Nhiều người nghe Chúa Giê-xu có mặt ở Bê-tha-ni nên kéo nhau đến, không những để xem Chúa Giê-xu mà còn để xem La-xa-rơ là người mà Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết.
JOH 12:10 Cho nên các giới trưởng tế bàn định giết luôn La-xa-rơ nữa.
JOH 12:11 Tại vì La-xa-rơ mà nhiều người Do-thái bỏ họ để tin theo Chúa Giê-xu.
JOH 12:12 Hôm sau dân chúng đến dự lễ Vượt Qua nghe tin Chúa Giê-xu sắp vào thành Giê-ru-sa-lem
JOH 12:13 nên họ lấy nhành chà là ra mừng đón Ngài, hô lên rằng, “Ca ngợi Thượng Đế! Phúc cho Đấng đến trong danh Ngài, là Vua của Ít-ra-en.”
JOH 12:14 Chúa Giê-xu gặp một con lừa con, liền cỡi lên như Thánh Kinh viết,
JOH 12:15 “Hỡi dân Ít-ra-en, đừng e sợ! Kìa vua các ngươi đến cỡi trên lưng lừa con.”
JOH 12:16 Lúc đầu các môn đệ của Ngài không hiểu việc nầy, nhưng sau khi Chúa Giê-xu đã được hiển vinh thì họ nhớ lại điều Thánh Kinh viết về Ngài và việc nầy mà dân chúng làm cho Ngài.
JOH 12:17 Những người có mặt khi Chúa Giê-xu khiến La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại và kêu ông ra khỏi mộ, thuật lại cho người khác nghe chuyện Ngài làm.
JOH 12:18 Nên dân chúng kéo ra đón Ngài rất đông, vì họ nghe Ngài là người làm phép lạ ấy.
JOH 12:19 Các người Pha-ri-xi bảo nhau, “Thấy không, chúng ta thua rồi! Xem kìa, cả thiên hạ đều chạy hùa theo ông ta!”
JOH 12:20 Có mấy người Hi-lạp cũng lên thành Giê-ru-sa-lem để thờ phụng trong kỳ đại lễ Vượt Qua.
JOH 12:21 Họ đến gặp Phi-líp, người thành Bết-xai-đa, miền Ga-li-lê, nói rằng, “Thưa ông, chúng tôi muốn gặp Chúa Giê-xu.”
JOH 12:22 Phi-líp đi nói với Anh-rê rồi cả hai cùng đi nói chuyện với Chúa Giê-xu.
JOH 12:23 Ngài bảo, “Đến giờ Con Người được hiển vinh.
JOH 12:24 Ta bảo thật, hột lúa phải được gieo xuống đất và chết đi thì mới sinh ra nhiều hột lúa khác. Nhưng nếu nó không chết thì sẽ vẫn chỉ là một hột lúa mà thôi.
JOH 12:25 Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất; nhưng ai ghét sự sống mình trên thế gian nầy thì sẽ giữ được sự sống thật mãi mãi.
JOH 12:26 Ai muốn phục vụ ta thì phải theo ta. Ta ở đâu thì họ cũng ở đó. Cha ta sẽ tôn trọng người phục vụ ta.
JOH 12:27 Hiện nay lòng ta rất băn khoăn—Ta nên nói, ‘Thưa Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy hay chăng?’ Không, đó là lý do mà Con đến giờ nầy để chịu đau khổ.
JOH 12:28 Thưa Cha, xin hãy làm vinh hiển danh Cha!” Có tiếng từ trời vọng xuống rằng, “Ta đã làm vinh hiển rồi, ta sẽ còn làm vinh hiển nữa.”
JOH 12:29 Dân chúng đứng đó nghe tiếng nói, tưởng tiếng sấm. Nhưng có kẻ khác bảo, “Một thiên sứ nói với Ngài!”
JOH 12:30 Chúa Giê-xu bảo, “Không phải vì ta mà tiếng ấy vang ra, mà vì các ngươi.
JOH 12:31 Đến lúc thế gian nầy bị xét xử; kẻ cầm quyền thế gian nầy sẽ bị lật đổ.
JOH 12:32 Khi ta được treo lên khỏi mặt đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta.”
JOH 12:33 Ngài nói vậy để ám chỉ Ngài sẽ chết cách nào.
JOH 12:34 Dân chúng hỏi, “Chúng tôi nghe luật pháp nói rằng Đấng Cứu Thế sẽ sống đời đời mà sao thầy lại nói rằng ‘Con Người phải bị treo lên’? ‘Con Người’ là ai?”
JOH 12:35 Chúa Giê-xu đáp, “Ánh sáng còn ở với các ngươi ít lâu nữa cho nên hãy bước đi trong khi còn có ánh sáng, để bóng tối không đuổi kịp các ngươi. Ai bước đi trong tối sẽ không biết lối đi.
JOH 12:36 Hãy tin nơi ánh sáng trong khi còn có ánh sáng, để các ngươi làm con dân của ánh sáng.” Nói xong Ngài đi ẩn mình xa họ.
JOH 12:37 Mặc dù Chúa Giê-xu đã làm nhiều phép lạ trước mặt dân chúng, nhưng họ vẫn không chịu tin Ngài.
JOH 12:38 Như thế để lời nhà tiên tri Ê-sai được thành tựu: “Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi? Ai chứng kiến quyền năng Ngài?”
JOH 12:39 Họ không thể tin vì như Ê-sai cũng đã nói:
JOH 12:40 “Ngài khiến mắt họ đui mù và đóng tâm trí họ lại, Vì nếu mắt họ thấy được, trí họ hiểu được, Họ sẽ trở lại với ta để được chữa lành.”
JOH 12:41 Ê-sai nói như thế vì ông đã thấy sự vinh hiển của Chúa Giê-xu nên ông làm chứng về Ngài.
JOH 12:42 Nhưng có nhiều người tin Ngài, trong số đó có cả những nhân vật cầm quyền. Tuy nhiên vì e ngại người Pha-ri-xi nên họ không dám tuyên bố công khai, họ sợ bị trục xuất ra khỏi hội đường.
JOH 12:43 Họ chuộng sự ca tụng của loài người hơn của Thượng Đế.
JOH 12:44 Chúa Giê-xu kêu lên rằng, “Ai tin ta thì không những tin ta, mà còn tin Đấng đã sai ta đến.
JOH 12:45 Ai thấy ta cũng thấy Đấng sai ta.
JOH 12:46 Ta đến làm ánh sáng cho trần gian để ai tin ta sẽ không còn ở trong tối tăm nữa.
JOH 12:47 Ai nghe lời ta mà không vâng theo, thì ta không xét xử họ. Ta đến không phải để xét xử thế gian nhưng để cứu nhân thế.
JOH 12:48 Ai gạt bỏ ta và không tin nhận lời ta, sẽ có Đấng xét xử họ. Lời ta dạy sẽ xét xử người đó nơi ngày cuối cùng.
JOH 12:49 Vì những điều ta dạy không phải tự ý mình. Cha là Đấng sai ta, truyền dặn ta phải nói gì, dạy bảo điều gì.
JOH 12:50 Ta biết rằng những lời giáo huấn của Ngài dẫn đến sự sống đời đời. Vì thế những gì ta nói là do Cha ta dặn bảo ta.”
JOH 13:1 Đại lễ Vượt Qua của dân Do-thái sắp đến, Chúa Giê-xu biết rằng đã đến giờ Ngài phải rời thế gian để trở về cùng Cha. Ngài đã yêu những kẻ thuộc về mình trong thế gian thì cũng sẽ yêu cho đến cùng.
JOH 13:2 Chúa Giê-xu và các môn đệ đang dùng bữa ăn tối. Ma quỉ đã dụ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Xi-môn để phản bội Ngài.
JOH 13:3 Chúa Giê-xu biết Cha đã giao trọn quyền cho mình. Ngài đã từ Thượng Đế đến và sẽ trở về cùng Thượng Đế.
JOH 13:4 Nên đang bữa ăn, Ngài đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ngoài, lấy khăn quấn ngang hông.
JOH 13:5 Rồi Ngài đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân các môn đệ, xong lấy khăn đã quấn ngang hông mà lau.
JOH 13:6 Khi Ngài đến cùng Xi-môn Phia-rơ thì ông hỏi, “Chúa mà rửa chân cho con sao?”
JOH 13:7 Chúa Giê-xu đáp, “Hiện nay con chưa hiểu điều ta làm nhưng về sau sẽ hiểu.”
JOH 13:8 Phia-rơ khăng khăng từ chối, “Con sẽ không bao giờ để thầy rửa chân con!” Chúa Giê-xu đáp, “Nếu ta không rửa chân cho con thì con sẽ không phải là môn đệ của ta nữa.”
JOH 13:9 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, nếu thế thì không những rửa chân thôi, sẵn rửa tay và gội đầu luôn đi!”
JOH 13:10 Chúa Giê-xu bảo, “Ai tắm rồi thì toàn thân được sạch. Chỉ cần rửa chân mà thôi. Các con đã sạch, nhưng không phải tất cả đều sạch đâu.”
JOH 13:11 Chúa Giê-xu đã biết ai sẽ phản Ngài cho nên Ngài nói, “Không phải tất cả các con đều được sạch.”
JOH 13:12 Sau khi rửa chân xong cho các môn đệ, Ngài mặc áo lại và trở về bàn ăn. Ngài hỏi, “Các con có hiểu điều ta vừa làm cho các con không?
JOH 13:13 Các con gọi ta là thầy là Chúa rất đúng, vì ta là Chúa.
JOH 13:14 Vậy nếu ta là Chúa là thầy mà đã rửa chân cho các con thì các con cũng hãy rửa chân lẫn cho nhau.
JOH 13:15 Vì ta đã nêu cho các con một gương, để các con theo đó mà đối xử với nhau.
JOH 13:16 Ta bảo thật, kẻ nô lệ không thể lớn hơn chủ mình. Sứ giả cũng không thể lớn hơn người sai mình đi.
JOH 13:17 Nếu các con biết sự thật ấy và làm theo thì các con sẽ có phúc!
JOH 13:18 Ta không nói về tất cả các con. Ta biết những người ta đã chọn. Nhưng lời Thánh Kinh đã viết phải được thành tựu: ‘Người đã ăn chung bàn ta giơ chân đạp ta.’
JOH 13:19 Nay ta bảo cho các con biết chuyện ấy trước khi xảy ra để khi nó đến thì các con sẽ tin ta là Đấng ấy.
JOH 13:20 Ta bảo thật, ai tiếp đón kẻ ta sai tức là tiếp đón ta, còn ai tiếp đón ta tức là tiếp đón Đấng đã sai ta đến.”
JOH 13:21 Nói xong thì tâm thần Ngài bối rối. Chúa Giê-xu tuyên bố công khai, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta.”
JOH 13:22 Các môn đệ nhìn nhau hoang mang, không hiểu Ngài nói về ai.
JOH 13:23 Một trong những môn đệ, tức người được Ngài yêu, đang ngồi cạnh Ngài.
JOH 13:24 Xi-môn Phia-rơ ra hiệu cho môn đệ ấy hỏi Chúa Giê-xu xem Ngài muốn ám chỉ ai.
JOH 13:25 Vì thế môn đệ ấy nghiêng lại gần Chúa Giê-xu và hỏi, “Thưa Chúa, người đó là ai vậy?”
JOH 13:26 Chúa Giê-xu đáp, “Ta sẽ nhúng miếng bánh nầy vào dĩa nước chấm. Ta trao cho ai thì đó là người phản ta.” Ngài lấy miếng bánh, nhúng vào nước chấm và trao cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Xi-môn.
JOH 13:27 Khi Giu-đa vừa nhận miếng bánh xong, Sa-tăng liền nhập vào hắn. Chúa Giê-xu bảo hắn, “Việc anh làm hãy làm mau lên!”
JOH 13:28 Nhưng không ai trong những người ngồi ăn hiểu tại sao Ngài nói như thế với Giu-đa.
JOH 13:29 Vì Giu-đa giữ hộp tiền nên vài môn đệ tưởng Ngài bảo anh ta đi mua đồ cần dùng cho kỳ lễ hoặc đi giúp đỡ người nghèo.
JOH 13:30 Khi Giu-đa nhận miếng bánh xong liền đi ra. Lúc ấy trời sập tối.
JOH 13:31 Sau khi Giu-đa đi rồi, Chúa Giê-xu nói, “Bây giờ Con Người đã được hiển vinh và Thượng Đế cũng được hiển vinh qua Ngài.
JOH 13:32 Nếu Thượng Đế được hiển vinh qua Ngài thì Thượng Đế sẽ ban vinh hiển cho Con Người qua Ngài, và Ngài sẽ làm điều ấy tức khắc.
JOH 13:33 Các con ơi, ta chỉ còn ở với các con ít lâu nữa thôi. Các con sẽ tìm ta và bây giờ ta nói với các con điều mà ta đã nói với người Do-thái: Các con không thể đến được nơi ta đi.
JOH 13:34 Ta cho các con một mệnh lệnh mới: Hãy yêu thương nhau. Các con hãy yêu nhau như ta đã yêu các con.
JOH 13:35 Nếu các con yêu nhau thì mọi người sẽ biết các con là môn đệ ta.”
JOH 13:36 Xi-môn Phia-rơ hỏi Ngài, “Thưa Chúa, Chúa đi đâu?” Chúa Giê-xu đáp, “Nơi ta đi hiện nay con không thể theo, nhưng sau nầy con sẽ đi theo ta.”
JOH 13:37 Phia-rơ thắc mắc, “Thưa Chúa, tại sao con không thể theo thầy bây giờ được? Con sẵn sàng chết vì thầy kia mà!”
JOH 13:38 Chúa Giê-xu đáp, “Con sẵn sàng chết vì ta sao? Ta bảo thật, trước khi gà gáy con sẽ ba lần chối không biết ta.”
JOH 14:1 Chúa Giê-xu bảo các môn đệ, “Lòng các con chớ nên lo âu. Hãy tin Thượng Đế, cũng hãy tin ta nữa.
JOH 14:2 Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở. Nếu không thì ta đã nói cho các con biết rồi. Ta đi để chuẩn bị chỗ ở cho các con.
JOH 14:3 Sau khi ta đi và chuẩn bị chỗ ở cho các con rồi thì ta sẽ trở lại đón các con đi để hễ ta ở đâu thì các con cũng ở đó.
JOH 14:4 Các con biết đường đi đến nơi ta ở.”
JOH 14:5 Thô-ma thưa, “Thưa Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, làm sao biết đường được?”
JOH 14:6 Chúa Giê-xu đáp, “Ta là đường đi, chân lý, và sự sống. Ta là Con đường duy nhất dẫn đến Cha.
JOH 14:7 Nếu các con biết ta, các con cũng biết Cha ta nữa. Nhưng bây giờ các con đã biết và thấy Ngài.”
JOH 14:8 Phi-líp nói, “Thưa Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con là đủ.”
JOH 14:9 Chúa Giê-xu đáp, “Phi-líp à, ta đã ở với các con lâu nay mà các con không biết ta sao? Ai đã thấy ta tức là đã thấy Cha. Tại sao con lại nói, ‘Xin chỉ Cha cho chúng con’?
JOH 14:10 Con không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta sao? Những lời ta nói với các con không phải tự ta mà do Cha sống trong ta và thực hành công việc Ngài.
JOH 14:11 Hãy tin khi ta nói ta ở trong Cha và Cha ở trong ta! Nếu không hãy tin qua những phép lạ ta đã làm.
JOH 14:12 Ta bảo thật, ai tin ta sẽ làm những việc ta làm và còn làm những việc lớn hơn nữa vì ta đi về cùng Cha.
JOH 14:13 Nếu các con nhân danh ta cầu xin điều gì thì ta sẽ làm cho, để Cha được hiển vinh qua Con.
JOH 14:14 Nếu các con nhân danh ta cầu xin điều gì thì ta sẽ làm cho.
JOH 14:15 Nếu các con yêu ta thì sẽ vâng giữ những lời dạy của ta.
JOH 14:16 Ta sẽ xin Cha, Ngài sẽ cho các con một Đấng Trợ Giúp khác để ở với các con mãi mãi.
JOH 14:17 Ngài là Thánh Linh của chân lý. Thế gian không thể tiếp nhận Ngài vì không thấy cũng không biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài vì Ngài sống trong các con và sẽ ở với các con.
JOH 14:18 Ta không để các con cô đơn côi cút đâu, ta sẽ trở lại với các con.
JOH 14:19 Ít lâu nữa, thế gian sẽ không thấy ta nhưng các con sẽ thấy ta, vì ta sống thì các con cũng sẽ sống.
JOH 14:20 Vào ngày ấy, các con sẽ biết rằng ta ở trong Cha, các con ở trong ta và ta ở trong các con.
JOH 14:21 Ai hiểu biết và tuân giữ các mệnh lệnh của ta là người yêu mến ta. Cha ta cũng yêu mến người nào yêu ta. Ta cũng yêu mến và tỏ mình ra cho người ấy.”
JOH 14:22 Lúc đó, Giu-đa, không phải Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, thưa rằng, “Thưa Chúa, tại sao Ngài tỏ mình cho chúng con, mà không tỏ mình cho thế gian?”
JOH 14:23 Chúa Giê-xu đáp, “Ai yêu mến ta thì vâng theo lời dạy của ta. Cha ta sẽ yêu mến người ấy. Cha ta và ta sẽ đến sống cùng người đó.
JOH 14:24 Ai không yêu mến ta thì không vâng giữ lời giáo huấn của ta. Lời dạy nầy mà các con nghe không phải từ ta mà từ Cha, Đấng sai ta đến.
JOH 14:25 Ta nói những điều nầy với các con trong khi còn ở với các con.
JOH 14:26 Nhưng Đấng Trợ Giúp, tức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh ta sai đến, sẽ dạy dỗ các con mọi điều và nhắc các con nhớ hết những gì ta đã bảo các con.
JOH 14:27 Ta để lại sự bình an cho các con. Ta cho các con sự bình an của ta, không phải như thế gian cho. Các con chớ nên để lòng mình băn khoăn hay sợ hãi.
JOH 14:28 Các con đã nghe ta nói, ‘Ta sẽ ra đi nhưng ta sẽ trở lại với các con.’ Nếu các con yêu ta thì các con sẽ vui mừng vì ta đi về cùng Cha. Ngài cao trọng hơn ta.
JOH 14:29 Bây giờ ta bảo trước điều nầy để khi việc ấy xảy đến thì các con tin.
JOH 14:30 Ta không thể nói nhiều thêm nữa với các con vì kẻ cầm quyền thế gian nầy đang đến. Kẻ ấy không có quyền gì trên ta
JOH 14:31 nhưng thế gian phải biết rằng ta yêu Cha nên ta làm đúng theo điều Cha dặn bảo. Thôi chúng ta hãy đi!”
JOH 15:1 “Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng vườn.
JOH 15:2 Ngài chặt hết nhánh nào trong ta mà không sinh trái và tỉa sửa những nhánh sinh trái để sai trái hơn.
JOH 15:3 Các con đã được sạch vì lời dạy của ta.
JOH 15:4 Hãy ở trong ta thì ta sẽ ở trong các con. Nhánh nho tự nó không thể sinh trái nếu không gắn liền với cây nho. Cũng vậy, các con không thể sinh trái được, nếu các con không ở trong ta.
JOH 15:5 Ta là cây nho, các con là nhánh. Ai ở trong ta và ta ở trong người ấy thì sai trái. Ở ngoài ta, các con không làm được gì.
JOH 15:6 Ai không ở trong ta thì giống như những nhánh bị ném bỏ rồi chết khô. Người ta gom lại rồi ném vào lửa để chụm.
JOH 15:7 Nếu các con ở trong ta và lời dạy của ta ở trong các con, thì các con có thể cầu xin bất cứ điều gì, sẽ được điều ấy.
JOH 15:8 Các con hãy ra trái thật sai để chứng tỏ là môn đệ ta. Như thế sẽ mang vinh hiển cho Cha ta.
JOH 15:9 Ta yêu các con cũng như Cha đã yêu ta. Các con hãy ở trong tình yêu của ta.
JOH 15:10 Ta đã vâng theo điều dạy bảo của Cha và ở trong tình yêu của Ngài. Cũng vậy, nếu các con vâng theo điều dạy bảo của ta, thì các con sẽ ở trong tình yêu của ta.
JOH 15:11 Ta nói những điều nầy với các con để các con có cùng niềm vui của ta và để cho niềm vui của các con được hoàn toàn.
JOH 15:12 Mệnh lệnh của ta là đây: Các con hãy yêu nhau như ta đã yêu các con.
JOH 15:13 Không có tình yêu nào lớn hơn khi một người hi sinh tính mạng vì bạn mình.
JOH 15:14 Nếu các con vâng theo lời ta truyền dặn thì các con là bạn của ta.
JOH 15:15 Ta không gọi các con là đầy tớ nữa vì đầy tớ không biết điều chủ mình làm. Nhưng ta gọi các con là bạn, vì ta đã bảo cho các con biết tất cả mọi điều ta đã nghe từ Cha.
JOH 15:16 Không phải các con đã chọn ta, mà ta đã chọn các con và giao cho các con công tác đi ra và sinh quả, loại quả còn mãi. Rồi những gì các con nhân danh ta mà cầu xin thì Cha sẽ cho.
JOH 15:17 Đây là mệnh lệnh của ta: Hãy yêu thương nhau.
JOH 15:18 Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng thế gian đã ghét ta trước rồi.
JOH 15:19 Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian sẽ yêu những kẻ thuộc về nó. Nhưng vì ta đã tuyển chọn các con từ trong thế gian, nên các con không thuộc về thế gian nữa. Do đó mà thế gian ghét các con.
JOH 15:20 Hãy nhớ điều ta đã bảo: Đầy tớ không thể lớn hơn chủ. Nếu họ ngược đãi ta, thì họ cũng sẽ ngược đãi các con. Nếu họ vâng lời dạy của ta, họ cũng sẽ vâng lời dạy các con.
JOH 15:21 Nhưng họ đối với các con như thế là tại ta, vì họ không biết Đấng sai ta đến.
JOH 15:22 Nếu ta không đến giảng dạy họ thì họ sẽ không phạm tội gì, nhưng bây giờ họ không còn lý lẽ gì để bào chữa tội mình cả.
JOH 15:23 Ai ghét ta cũng ghét Cha ta.
JOH 15:24 Ta làm giữa họ những việc chưa ai làm. Nếu ta không làm những việc ấy thì họ không có lỗi gì. Nhưng nay chính họ đã thấy những việc ta làm mà họ vẫn ghét ta và Cha ta.
JOH 15:25 Như thế để những gì viết trong Luật Lệ họ thành sự thật, ‘Họ ghét ta vô cớ.’
JOH 15:26 Ta sẽ sai Đấng Trợ Giúp đến từ Cha; Ngài là Thánh Linh của chân lý do Cha mà đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ giải thích về ta cho các con biết
JOH 15:27 và các con cũng phải giải thích về ta cho người khác biết, vì các con đã ở với ta từ đầu.”
JOH 16:1 “Ta bảo những điều nầy để các con đừng mất niềm tin.
JOH 16:2 Người ta sẽ đuổi các con ra khỏi các hội đường. Có khi người ta nghĩ rằng giết các con tức là phục vụ Thượng Đế.
JOH 16:3 Họ sẽ làm như thế vì họ không biết Cha cũng chẳng biết ta.
JOH 16:4 Ta nói cho các con biết để đến lúc ấy các con sẽ nhớ rằng ta đã bảo trước cho các con rồi. Lúc đầu ta chưa nói những điều nầy với các con vì ta đang ở với các con.
JOH 16:5 Nhưng bây giờ ta đi về cùng Đấng đã sai ta đến và không ai trong các con hỏi rằng ‘Thầy đi đâu?’
JOH 16:6 Bây giờ vì ta đã bảo cho các con những điều ấy thì lòng các con đầy buồn bã.
JOH 16:7 Nhưng ta bảo thật: Ta ra đi là ích lợi cho các con. Khi ta đi, Đấng Trợ Giúp sẽ đến. Nếu ta không đi thì Ngài sẽ không đến.
JOH 16:8 Khi đến thì Ngài sẽ lên án thế gian về tội lỗi, về sự công chính, và về sự xét xử.
JOH 16:9 Về tội lỗi vì họ không tin ta;
JOH 16:10 về sự công chính vì ta trở về cùng Cha và các con không thấy ta nữa;
JOH 16:11 về sự xét xử vì kẻ cầm quyền trên thế gian nầy đã bị xét xử.
JOH 16:12 Ta còn nhiều điều muốn nói với các con nữa nhưng hiện tại những điều ấy quá trí hiểu của các con.
JOH 16:13 Khi Thánh Linh của chân lý đến, Ngài sẽ đưa các con vào mọi chân lý. Ngài sẽ không nói tự ý mình mà chỉ nói những gì Ngài đã nghe và cho các con biết những điều sẽ đến.
JOH 16:14 Ngài sẽ làm rạng danh ta vì Ngài sẽ nhận những điều của ta mà thông báo cho các con.
JOH 16:15 Những gì Cha có là của ta. Vì thế mà ta bảo rằng Thánh Linh sẽ nhận những gì của ta phải nói mà thông báo cho các con.
JOH 16:16 Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con sẽ lại gặp ta.”
JOH 16:17 Một vài môn đệ hỏi nhau, “Thầy nói. ‘Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con lại gặp ta’ và ‘Vì ta đi về cùng Cha’ như thế nghĩa là gì?”
JOH 16:18 Họ lại hỏi nhau, “Thầy nói, ‘Ít lâu nữa’ nghĩa là gì, chúng ta không hiểu.”
JOH 16:19 Chúa Giê-xu biết các môn đệ muốn hỏi, nên Ngài nói, “Ta bảo, ‘Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con lại thấy ta. Các con hỏi nhau về ý nghĩa câu đó phải không’?
JOH 16:20 Ta bảo thật, các con sẽ khóc lóc buồn bã còn thế gian sẽ mừng rỡ. Các con sẽ buồn rầu, nhưng sự buồn rầu của các con sẽ biến ra vui mừng.
JOH 16:21 Người mẹ sinh con thì bị đau đớn vì đến giờ sinh nở; nhưng khi đứa bé đã lọt lòng thì người đó quên hết nhọc nhằn và vui mừng vì sinh được một em bé trong thế gian.
JOH 16:22 Đối với các con cũng vậy. Hiện nay các con buồn rầu, nhưng ta sẽ gặp lại các con, lúc ấy lòng các con sẽ vui mừng, một niềm vui không ai cướp được.
JOH 16:23 Vào ngày ấy, các con sẽ không xin ta điều gì. Ta bảo thật, Cha sẽ cho các con bất cứ điều gì các con nhân danh ta mà cầu xin.
JOH 16:24 Đến bây giờ các con chưa nhân danh ta mà cầu xin điều gì cả. Hãy cầu xin đi, các con sẽ nhận được, để cho sự vui mừng của các con được toàn vẹn.
JOH 16:25 Ta đã dùng nghĩa bóng để nói với các con những điều nầy. Nhưng ta sẽ không dùng nghĩa bóng nữa mà sẽ nói rõ ràng về Cha với các con.
JOH 16:26 Vào ngày ấy các con sẽ nhân danh ta mà cầu xin Cha nhưng ta không bảo rằng ta sẽ vì các con mà cầu xin Cha.
JOH 16:27 Chính Cha yêu các con. Ngài yêu các con, vì các con yêu ta và tin rằng ta từ Thượng Đế đến.
JOH 16:28 Ta từ Cha đến cùng thế gian; và bây giờ ta rời thế gian để trở về cùng Cha.”
JOH 16:29 Lúc ấy các môn đệ thưa với Ngài, “Bây giờ thầy nói rõ ràng, không dùng nghĩa bóng khó hiểu nữa.
JOH 16:30 Nay chúng con thấy thầy biết hết mọi điều. Thầy có thể trả lời trước khi câu hỏi được đặt ra. Vì thế chúng con tin rằng thầy từ Thượng Đế đến.”
JOH 16:31 Chúa Giê-xu bảo họ, “Bây giờ các con tin chưa?
JOH 16:32 Các con hãy nghe ta. Các con sẽ bị tản lạc, ai về nhà nấy. Các con sẽ bỏ ta lại một mình nhưng ta không cô đơn đâu vì Cha ở với ta.
JOH 16:33 Ta bảo trước những điều ấy để các con được an tâm trong ta. Các con sẽ gặp khốn khổ khi sống trên thế gian. Nhưng hãy can đảm lên! Ta đã chiến thắng thế gian rồi!”
JOH 17:1 Sau khi nói những lời ấy thì Chúa Giê-xu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng, “Thưa Cha, giờ đã đến; xin hãy làm vinh hiển Con để Con cũng làm vinh hiển Cha,
JOH 17:2 Vì Cha đã giao trọn quyền cho Con trên khắp nhân gian để Con ban sự sống đời đời cho những người Cha giao cho Con.
JOH 17:3 Sự sống đời đời là nhìn biết Cha, Thượng Đế chân thật duy nhất và nhận biết Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng Cha sai đến.
JOH 17:4 Con đã làm vinh hiển danh Cha trên đất và hoàn tất việc Cha giao cho.
JOH 17:5 Thưa Cha, bây giờ xin hãy cho Con sự vinh hiển mà Con đã có với Cha từ trước khi vũ trụ được dựng nên.
JOH 17:6 Con đã tỏ bày Cha cho những người Cha giao cho Con từ trong thế gian. Họ thuộc về Cha. Cha giao họ cho Con. Họ đã vâng giữ lời dạy của Cha.
JOH 17:7 Bây giờ họ biết rằng những gì Cha cho Con đều từ Cha mà đến.
JOH 17:8 Con đã dạy họ những điều Cha trao cho Con; họ đã tiếp nhận những lời dạy ấy và biết rằng Con thật đến từ Cha. Họ tin rằng Cha sai Con đến.
JOH 17:9 Con cầu thay cho họ, không phải cho những người trong thế gian. Con chỉ cầu thay cho những người Cha giao cho Con, vì họ thuộc về Cha.
JOH 17:10 Tất cả những gì Con có là của Cha, và những gì Cha có là của Con để Con được hiển vinh qua họ.
JOH 17:11 Bây giờ con trở về cùng Cha; Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ vẫn còn sống trong thế gian. Lạy Cha Thánh! Xin hãy giữ họ an toàn trong quyền năng của danh Cha là danh Cha đã cho Con, để họ hiệp nhất cũng như Cha và Con hiệp nhất.
JOH 17:12 Khi Con còn ở với họ, Con đã giữ họ an toàn trong quyền năng của danh Cha là danh mà Cha đã cho Con. Con đã bảo bọc họ, không ai trong họ bị lạc mất ngoài một kẻ đáng diệt, để lời Thánh Kinh được thành tựu.
JOH 17:13 Bây giờ Con trở về cùng Cha, Con cầu xin những điều nầy trong khi Con còn ở thế gian để cho họ đầy niềm vui của Con.
JOH 17:14 Con đã truyền cho họ lời dạy của Cha. Thế gian ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian.
JOH 17:15 Con không cầu xin Cha mang họ ra khỏi thế gian nhưng xin Cha giữ họ khỏi Kẻ Ác.
JOH 17:16 Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian.
JOH 17:17 Xin hãy dùng sự thật của Cha mà chuẩn bị để họ phục vụ Cha; lời dạy của Cha là sự thật.
JOH 17:18 Con sai họ vào thế gian cũng như Cha sai Con đến thế gian.
JOH 17:19 Vì họ mà Con hiến dâng chính mình Con để phục vụ Cha, để họ cũng dâng hiến chính mình họ mà phục vụ Cha.
JOH 17:20 Không những Con cầu thay cho họ, nhưng cũng cầu thay cho những kẻ sẽ nghe lời dạy của họ mà tin Con.
JOH 17:21 Lạy Cha, Con cầu xin cho họ được hiệp nhất như Cha trong Con và Con trong Cha. Con cầu xin cho họ ở trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha sai Con đến.
JOH 17:22 Con cho họ vinh hiển mà Cha đã cho Con, để họ hiệp nhất cũng như Cha và Con hiệp nhất.
JOH 17:23 Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ hoàn toàn hiệp nhất. Rồi thế gian sẽ biết rằng Cha đã sai Con đến và rằng Cha yêu họ cũng như Cha đã yêu Con.
JOH 17:24 Lạy Cha! Con cầu xin rằng hễ Con ở đâu thì những người Cha đã cho Con cũng ở đó để họ ngắm xem vinh hiển của Con mà Cha đã cho Con vì Cha đã yêu Con từ trước khi vũ trụ được dựng nên.
JOH 17:25 Lạy Cha công chính, thế gian không biết Cha nhưng Con biết Cha và những người nầy biết rằng Cha đã sai Con đến.
JOH 17:26 Con đã giải thích về Cha cho họ, Con sẽ còn giải thích nữa để tình yêu Cha dành cho Con sẽ ở trong họ, và Con cũng sẽ sống trong họ.”
JOH 18:1 Sau khi cầu nguyện xong, Chúa Giê-xu và các môn đệ băng qua thung lũng Kít-rôn. Phía bên kia thung lũng có một cái vườn, Ngài cùng các môn đệ vào đó.
JOH 18:2 Giu-đa, kẻ phản Ngài cũng biết địa điểm nầy, vì Chúa Giê-xu cùng các môn đệ thường hội họp tại vườn ấy.
JOH 18:3 Do đó Giu-đa hướng dẫn một toán lính cùng với những viên chức do các giới trưởng tế và phe Pha-ri-xi sai đến. Chúng mang theo đèn đuốc và vũ khí.
JOH 18:4 Chúa Giê-xu biết mọi việc sẽ xảy đến cho mình nên bước tới hỏi họ, “Các anh tìm ai?”
JOH 18:5 Chúng trả lời, “Tìm Giê-xu người Na-xa-rét.” Ngài nói, “Chính tôi đây.” Giu-đa, kẻ phản Ngài cũng đứng đó với chúng.
JOH 18:6 Khi Chúa Giê-xu nói, “Chính tôi đây!” thì chúng đều lùi lại và té xuống đất.
JOH 18:7 Một lần nữa Ngài lại hỏi, “Các anh tìm ai?” Chúng đáp, “Tìm Giê-xu, người Na-xa-rét.”
JOH 18:8 Chúa Giê-xu bảo, “Tôi đã nói rằng chính tôi đây. Nếu các anh tìm tôi thì hãy để cho những người nầy đi.”
JOH 18:9 Việc xảy ra để lời Ngài đã nói trước thành sự thật “Con không làm mất một người nào Cha đã giao cho Con.”
JOH 18:10 Xi-môn Phia-rơ có một thanh gươm, liền rút ra chém đứt vành tai phải của đầy tớ thầy tế lễ tối cao Người đầy tớ ấy tên Man-chu.
JOH 18:11 Chúa Giê-xu bảo Phia-rơ, “Hãy xỏ gươm con vào vỏ! Chẳng lẽ ta không uống ly đau khổ mà Cha đã đưa cho ta sao?”
JOH 18:12 Toán lính và sĩ quan chỉ huy người La mã cùng toán lính Do-thái liền ra tay bắt Chúa Giê-xu. Chúng trói Ngài lại
JOH 18:13 và trước hết giải đến An-na. Ông nầy là cha vợ của Cai-pha, thầy tế lễ tối cao năm đó.
JOH 18:14 Cai-pha là người đã gợi ý với người Do-thái rằng thà một người chết vì dân thì có lợi hơn.
JOH 18:15 Xi-môn Phia-rơ và một môn đệ khác đi theo Chúa Giê-xu. Môn đệ ấy quen biết với thầy tế lễ tối cao nên được vào trong sân nhà của thầy tế lễ sau Chúa Giê-xu.
JOH 18:16 Còn Phia-rơ đứng chờ ngoài cổng. Môn đệ quen với thầy tế lễ tối cao ra nói với cô gái gác cổng xin mang Phia-rơ vào.
JOH 18:17 Cô ta hỏi Phia-rơ, “Ông cũng là một trong những môn đệ của người ấy phải không?” Phia-rơ đáp, “Không phải.”
JOH 18:18 Vì trời lạnh nên những người đầy tớ và toán lính đốt một đống lửa rồi đứng quanh để sưởi ấm. Phia-rơ cũng đứng đó sưởi với họ.
JOH 18:19 Thầy tế lễ tối cao gạn hỏi Chúa Giê-xu về môn đệ Ngài và những điều dạy dỗ của Ngài.
JOH 18:20 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi đã nói công khai cho mọi người. Tôi thường dạy dỗ trong các hội đường và đền thờ, nơi mọi người Do-thái nhóm họp lại. Tôi chẳng giấu diếm điều gì.
JOH 18:21 Thế thì tại sao ông hạch hỏi tôi? Hãy hỏi những người đã nghe tôi dạy. Họ biết những gì tôi dạy.”
JOH 18:22 Khi Chúa Giê-xu nói thế thì một trong những tên lính hầu cận tát Ngài một cái rồi bảo, “Anh dám ăn nói kiểu đó với thầy tế lễ tối cao à?”
JOH 18:23 Chúa Giê-xu hỏi hắn, “Nếu tôi nói gì sai, hãy chỉ tôi sai chỗ nào. Còn nếu tôi nói đúng tại sao anh đánh tôi?”
JOH 18:24 Rồi An-na cho giải Ngài, lúc ấy vẫn còn bị trói, sang Cai-pha là thầy tế lễ tối cao.
JOH 18:25 Phia-rơ vẫn đang đứng sưởi ấm, thì mấy người đứng đó hỏi Phia-rơ, “Anh cũng là môn đệ của người ấy phải không?” Phia-rơ chối phăng, “Không phải.”
JOH 18:26 Một trong những người đầy tớ của thầy tế lễ tối cao đứng đó là bà con với người bị Phia-rơ chém đứt vành tai. Anh lên tiếng, “Tôi thấy anh ở trong vườn với ông ta, đúng không?”
JOH 18:27 Một lần nữa, Phia-rơ lại chối. Tức thì gà gáy.
JOH 18:28 Sáng sớm hôm sau họ giải Chúa Giê-xu từ nhà riêng của Cai-pha qua dinh tổng đốc La-mã. Họ không đi vào trong dinh vì sợ bị ô dơ, không ăn lễ Vượt Qua được.
JOH 18:29 Vì thế Phi-lát bước ra bên ngoài dinh hỏi họ, “Các anh cáo người nầy về tội gì?”
JOH 18:30 Họ đáp, “Nếu tên nầy không phải là tay gian ác, thì chúng tôi không giải đến cho quan.”
JOH 18:31 Phi-lát bảo họ, “Nếu thế mấy anh cứ việc mang ông ta ra xử theo luật của mấy anh đi!” Người Do-thái trả lời, “Chúng tôi không được phép xử tử ai cả.”
JOH 18:32 Điều nầy xảy ra để hoàn thành lời Chúa Giê-xu đã nói trước là Ngài sẽ chết cách nào.
JOH 18:33 Phi-lát trở vào trong dinh, cho mang Chúa Giê-xu đến hỏi, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?”
JOH 18:34 Chúa Giê-xu hỏi lại, “Ngài hỏi câu đó là tự ý mình hay có người nào nói với ngài về tôi?”
JOH 18:35 Phi-lát đáp, “Tôi có phải là người Do-thái đâu? Đồng bào anh và các giới trưởng tế giải anh đến cho tôi. Thế anh đã làm gì nên tội?”
JOH 18:36 Chúa Giê-xu đáp, “Quốc gia của tôi không thuộc về hạ giới nầy. Nếu nước tôi thuộc về hạ giới thì các đầy tớ tôi sẽ chiến đấu để tôi khỏi bị giải giao cho các người Do-thái. Quốc gia của tôi ở nơi khác.”
JOH 18:37 Phi-lát liền hỏi, “Thế anh là vua à?” Chúa Giê-xu đáp, “Đúng vậy. Chính ngài nói tôi là vua. Sở dĩ tôi được sinh ra và đến trần thế là để làm chứng về chân lý cho dân chúng. Người nào thuộc về chân lý thì nghe tôi.”
JOH 18:38 Phi-lát thắc mắc, “Chân lý là cái gì?” Nói xong, Phi-lát bước ra ngoài tuyên bố với người Do-thái, “Tôi chẳng thấy người nầy có tội gì.
JOH 18:39 Tuy nhiên theo tục lệ của các anh, đến ngày lễ Vượt Qua, tôi phóng thích một tù nhân. Thế các anh có muốn tôi phóng thích ‘Vua dân Do-thái’ không?”
JOH 18:40 Họ gào thét, “Không, đừng tha tên nầy! Hãy tha Ba-ra-ba!” Ba-ra-ba là tên phản loạn.
JOH 19:1 Sau đó Phi-lát ra lệnh mang Chúa Giê-xu đi và cho đánh đòn Ngài.
JOH 19:2 Bọn lính đan một mão triều bằng cành gai đội lên đầu Ngài và mặc cho Ngài một cái áo choàng tím.
JOH 19:3 Rồi chúng bước đến gần Ngài và hô mấy lần: “Vua dân Do-thái vạn tuế!” xong tát Ngài mấy cái.
JOH 19:4 Phi-lát lại đi ra một lần nữa và tuyên bố với quần chúng, “Đây nầy, tôi mang ông ta ra cho các anh để các anh biết tôi không tìm thấy ông ta có tội gì cả.”
JOH 19:5 Chúa Giê-xu đi ra đầu đội mão gai, mình mặc áo choàng tím. Phi-lát bảo họ, “Ông ta đây!”
JOH 19:6 Khi các giới trưởng tế và các tên lính thấy Ngài thì đồng thanh hét lớn, “Hãy đóng đinh hắn! Đóng đinh hắn lên cây thập tự đi!” Phi-lát bảo, “Mấy anh hãy tự tay bắt ông ta mà đóng đinh đi, vì tôi chẳng thấy ông ta có tội tình gì.”
JOH 19:7 Dân Do-thái trả lời, “Chúng tôi có luật, chiếu theo luật đó hắn phải chết vì hắn dám tự xưng mình là Con Trời.”
JOH 19:8 Phi-lát nghe vậy càng đâm ra sợ hãi.
JOH 19:9 Ông ta trở vào dinh và hỏi Chúa Giê-xu, “Anh từ đâu đến?” Nhưng Chúa Giê-xu làm thinh, không trả lời tiếng nào.
JOH 19:10 Phi-lát bảo, “Anh không đối đáp gì hết với tôi sao? Anh không biết rằng tôi có quyền thả anh và cũng có quyền đóng đinh anh sao?”
JOH 19:11 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu Thượng Đế không cho thì ngài chẳng có quyền gì trên tôi cả. Cho nên người giải giao tôi cho ngài lại càng nặng tội hơn.”
JOH 19:12 Từ lúc ấy trở đi, Phi-lát tìm cách thả Chúa Giê-xu. Nhưng người Do-thái la hét, “Nếu ngài thả tên nầy thì ngài không phải là bạn của Hoàng đế! Ai tự xưng là Vua tức nhiên phản nghịch lại với Hoàng đế!”
JOH 19:13 Khi Phi-lát nghe họ nói, ông cho mang Chúa Giê-xu ra và ngồi nơi ghế xử án, chỗ gọi là “Thềm Đá,” tiếng Do-thái gọi là Ga-ba-tha.
JOH 19:14 Lúc ấy khoảng giữa trưa của Ngày Chuẩn Bị cho tuần lễ Vượt Qua. Phi-lát bảo người Do-thái, “Vua của các anh đây!”
JOH 19:15 Họ gào thét, “Giết hắn đi! Diệt hắn đi! Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi!” Phi-lát hỏi họ, “Các anh muốn tôi đóng đinh vua của các anh sao?” Các giới trưởng tế trả lời, “Chúng tôi chỉ có một vua duy nhất là Hoàng đế mà thôi!”
JOH 19:16 Phi-lát đành giao Chúa Giê-xu cho chúng để đóng đinh. Bọn lính liền bắt Chúa Giê-xu mang đi.
JOH 19:17 Chúa Giê-xu vác cây thập tự đi đến một nơi gọi là “Đồi Sọ,” tiếng Do-thái gọi là Gô-gô-tha.
JOH 19:18 Họ đóng đinh Ngài tại đó. Họ cũng đóng đinh hai người nữa, mỗi người một bên, còn Chúa Giê-xu ở chính giữa.
JOH 19:19 Phi-lát viết một tấm bảng treo trên thập giá, bảng đề: giê-xu người na-xa-rét, vua dân do-thái.
JOH 19:20 Bảng ấy viết bằng tiếng Do-thái, La tinh, và Hi-lạp. Có nhiều người Do-thái đọc thấy vì nơi Chúa Giê-xu bị đóng đinh không xa thành phố bao nhiêu.
JOH 19:21 Các giới trưởng tế bảo Phi-lát, “Xin đừng viết ‘Vua dân Do-thái’ mà hãy viết, ‘Người nầy xưng, ta là Vua dân Do-thái.’”
JOH 19:22 Phi-lát trả lời, “Điều gì ta viết rồi thì để yên như thế.”
JOH 19:23 Sau khi bọn lính đã đóng đinh Chúa Giê-xu, chúng lấy áo xống Ngài và chia làm bốn phần, mỗi tên lính lấy một phần. Chúng cũng lấy áo dài của Ngài, áo đó không có đường may vì dệt bằng một tấm vải nguyên, từ trên xuống dưới.
JOH 19:24 Chúng bàn nhau, “Đừng xé áo nầy ra mà hãy bắt thăm, ai trúng nấy được.” Như thế để thực hiện lời Thánh Kinh viết: “Chúng chia áo xống ta, và bắt thăm áo dài ta.” Đó là việc bọn lính làm.
JOH 19:25 Đứng gần thập tự giá của Chúa Giê-xu có mẹ Ngài, em gái của mẹ Ngài, Ma-ri là vợ của Cơ-lô-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len.
JOH 19:26 Khi Chúa Giê-xu thấy mẹ Ngài và môn đệ Ngài yêu đứng bên cạnh thì nói với mẹ Ngài rằng, “Mẹ ơi, đó là con của mẹ.”
JOH 19:27 Rồi Ngài bảo môn đệ, “Đó là mẹ của con.” Kể từ giờ đó, môn đệ ấy rước mẹ Ngài về ở với mình.
JOH 19:28 Sau đó, Chúa Giê-xu biết mọi việc đã xong và để hoàn thành lời Thánh Kinh, Ngài thốt lên, “Tôi khát nước.”
JOH 19:29 Ở đó có một cái bầu đựng đầy giấm nên mấy tên lính liền lấy một miếng bông đá, nhúng vào giấm rồi lấy nhánh cây kinh giới đưa lên miệng Ngài.
JOH 19:30 Sau khi Chúa Giê-xu nếm giấm liền nói, “Sứ mạng đã xong!” Rồi Ngài gục đầu xuống và tắt hơi.
JOH 19:31 Hôm ấy là Ngày Chuẩn bị, và hôm sau là ngày Sa-bát đặc biệt. Các người Do-thái không muốn để xác chết còn trên cây thập tự trong ngày Sa-bát, nên họ xin Phi-lát ra lệnh đánh gãy chân những người bị đóng đinh để mang xác xuống.
JOH 19:32 Vì thế bọn lính đến đánh gãy chân người thứ nhất rồi người thứ nhì là hai người bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giê-xu.
JOH 19:33 Nhưng khi họ đến nơi Chúa Giê-xu thì thấy Ngài đã chết nên không đánh gãy chân Ngài.
JOH 19:34 Tuy nhiên có một tên lính phóng cây giáo đâm qua hông Ngài thì máu và nước liền tuôn ra.
JOH 19:35 Người chứng kiến chuyện nầy là người kể lại cho chúng ta và điều gì người kể là thật. Người biết mình nói thật và thuật lại để các ngươi tin.
JOH 19:36 Những sự việc nầy xảy ra để hoàn thành lời Thánh Kinh: “Sẽ không có một cái xương nào của Ngài bị gãy.”
JOH 19:37 Và cũng có lời Thánh Kinh nữa viết, “Họ sẽ nhìn thấy người mà họ đã đâm.”
JOH 19:38 Sau đó, Giô-xép người thành A-ri-ma-thê, đến xin Phi-lát để nhận xác Chúa Giê-xu. Giô-xép là một môn đệ kín của Chúa Giê-xu, vì ông sợ các người Do-thái. Phi-lát cho phép nên Giô-xép đến lấy xác Ngài.
JOH 19:39 Ni-cô-đem, người trước kia có thăm Chúa Giê-xu vào buổi tối cũng đến. Ông mang theo khoảng 30 lít mộc dược và trầm hương.
JOH 19:40 Hai người lấy xác Chúa Giê-xu, quấn trong vải liệm cùng với hương liệu theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.
JOH 19:41 Nơi Chúa Giê-xu bị đóng đinh có một cái vườn. Trong vườn ấy có một ngôi mộ mới chưa chôn ai.
JOH 19:42 Vì là ngày Chuẩn bị của ngày lễ Do-thái, và ngôi mộ lại ở gần, nên hai ông chôn Chúa Giê-xu tại đó.
JOH 20:1 Buổi sáng ngày đầu tuần lễ, khi trời hãy còn tối, Ma-ri Ma-đơ-len đến thăm mộ thì thấy tảng đá chận cửa mộ đã được lăn đi chỗ khác.
JOH 20:2 Cô vội vàng chạy về báo tin cho Phia-rơ và môn đệ Ngài yêu. Ma-ri bảo, “Người ta dời Chúa đi mất, không biết họ để Ngài ở đâu!”
JOH 20:3 Nghe thế Phia-rơ và môn đệ kia vội vàng chạy đến mộ.
JOH 20:4 Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn nên đến mộ trước.
JOH 20:5 Ông cúi xuống nhìn vào trong, thấy vải liệm nằm đó nhưng không bước vào.
JOH 20:6 Xi-môn Phia-rơ đến sau, vào thẳng trong mộ, thấy vải liệm nằm đó
JOH 20:7 và khăn liệm quấn quanh đầu Chúa Giê-xu được xếp lại để riêng ra, không cùng chỗ với vải liệm.
JOH 20:8 Rồi môn đệ kia, người đã đến mộ trước, cũng bước vào thì thấy và tin.
JOH 20:9 Lúc ấy hai người vẫn chưa hiểu lời Thánh Kinh nói rằng Ngài phải sống lại từ cõi chết.
JOH 20:10 Rồi hai người trở về nhà.
JOH 20:11 Còn Ma-ri thì đứng ngoài mộ sụt sùi khóc. Cô vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ
JOH 20:12 thì thấy hai thiên sứ mặc áo trắng ngồi chỗ đã đặt xác Chúa Giê-xu, một người ở phía đầu, một người phía chân.
JOH 20:13 Họ hỏi Ma-ri, “Cô ơi, sao cô khóc?” Cô trả lời, “Người ta mang Chúa tôi đi mất, không biết họ để Ngài ở đâu!”
JOH 20:14 Nói xong, cô quay lại, thấy Chúa Giê-xu đang đứng đó nhưng không nhận ra Ngài.
JOH 20:15 Chúa Giê-xu hỏi, “Cô ơi, sao cô khóc? Cô tìm ai vậy?” Tưởng là người làm vườn nên cô hỏi, “Thưa bác, có phải bác dời Ngài đi rồi không? Bác để Ngài ở đâu cho tôi biết để tôi đến lấy.”
JOH 20:16 Chúa Giê-xu gọi, “Ma-ri!” Ma-ri quay người lại về hướng Ngài và kêu lên bằng tiếng Do-thái, “Ra-bô-ni!” (nghĩa là “Thầy.”)
JOH 20:17 Chúa Giê-xu bảo, “Đừng ôm lấy ta vì ta chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi nói với các anh em ta rằng ‘Ta trở về cùng Cha ta cũng là Cha các con, cùng Thượng Đế của ta cũng là Thượng Đế của các con.’”
JOH 20:18 Ma-ri Ma-đơ-len về thuật cho các môn đệ rằng, “Tôi đã thấy Chúa!” đồng thời bảo họ những điều Ngài đã dặn.
JOH 20:19 Lúc ấy là chiều ngày đầu tiên trong tuần, các môn đệ đang nhóm họp lại, tất cả cửa nẻo đều khoá chặt vì sợ người Do-thái. Bỗng nhiên Chúa Giê-xu hiện ra đứng giữa họ và nói, “Bình an cho các con.”
JOH 20:20 Nói xong Ngài đưa tay và hông ra. Môn đệ vô cùng mừng rỡ khi thấy Chúa.
JOH 20:21 Ngài lại bảo, “Bình an cho các con! Cha đã sai ta ra sao thì ta cũng sai các con như thế.”
JOH 20:22 Nói xong Ngài hà hơi trên họ và nói, “Hãy nhận lãnh Thánh Linh.
JOH 20:23 Nếu các con tha tội cho ai thì tội người ấy sẽ được tha; còn nếu các con không tha thì tội người ấy sẽ không được tha.”
JOH 20:24 Thô-ma, còn gọi là Đi-đim, một trong mười hai môn đệ, không có mặt ở đó khi Chúa Giê-xu hiện ra.
JOH 20:25 Các môn đệ kia quả quyết với Thô-ma rằng, “Chúng tôi đã thấy Chúa!” Nhưng Thô-ma bảo, “Nếu tôi không thấy dấu sẹo đinh nơi tay Ngài, nếu ngón tay tôi không rờ được dấu đinh và bàn tay tôi không đụng vào hông Ngài thì tôi không tin.”
JOH 20:26 Một tuần sau, các môn đệ đang nhóm nhau trong phòng, lần nầy có mặt Thô-ma. Cửa đang khóa chặt thì Chúa Giê-xu bỗng hiện đến đứng giữa họ và nói rằng, “Bình an cho các con.”
JOH 20:27 Rồi Ngài bảo Thô-ma, “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn kỹ bàn tay ta. Hãy đến đặt bàn tay con vào hông ta. Đừng ngờ vực nữa mà hãy tin!”
JOH 20:28 Thô-ma kêu lên, “Lạy Chúa và Thượng Đế của con!”
JOH 20:29 Chúa Giê-xu bảo Thô-ma, “Bây giờ con tin vì mắt con đã thấy ta. Ai không thấy mà tin là người có phúc thật!”
JOH 20:30 Chúa Giê-xu còn làm nhiều phép lạ nữa trước mặt các môn đệ nhưng không ghi lại trong sách nầy.
JOH 20:31 Nhưng những việc nầy được viết ra để anh chị em tin rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, Con Thượng Đế, và nếu tin Ngài thì anh chị em sẽ hưởng sự sống nhờ danh Ngài.
JOH 21:1 Sau đó, Chúa Giê-xu hiện ra một lần nữa cho các môn đệ ở bờ hồ Ga-li-lê. Sự việc xảy ra như sau:
JOH 21:2 Một số môn đệ họp lại, có Xi-môn Phia-rơ, Thô-ma còn gọi là Đi-đim, Na-tha-niên người thành Ca-na miền Ga-li-lê, hai con trai Xê-bê-đê và hai môn đệ khác.
JOH 21:3 Xi-môn Phia-rơ bảo, “Tôi đi đánh cá đây.” Mấy người kia đồng tình, “Chúng tôi cùng đi với anh.” Họ xuống thuyền ra đi nhưng suốt đêm chẳng đánh được gì cả.
JOH 21:4 Sáng sớm hôm sau, Chúa Giê-xu đứng trên bờ nhưng họ không nhận ra Ngài.
JOH 21:5 Chúa Giê-xu hỏi họ, “Các bạn đánh được con cá nào không?” Họ đáp, “Chẳng được gì hết.”
JOH 21:6 Ngài bảo họ, “Quăng lưới phía bên phải thuyền đi, các bạn sẽ bắt được vài con.” Họ liền quăng lưới xuống nhưng kéo lên không nổi vì quá nhiều cá.
JOH 21:7 Môn đệ Chúa Giê-xu yêu bảo Phia-rơ, “Chúa đó!” Khi Phia-rơ nghe vậy liền lấy áo ngoài choàng qua người vì ông đã cởi hết quần áo ra, rồi nhảy ùm xuống nước.
JOH 21:8 Các môn đệ kia chèo thuyền vào bờ, kéo theo mẻ lưới đầy cá. Lúc ấy họ cũng không xa bờ lắm, chỉ cách khoảng một trăm thước.
JOH 21:9 Khi bước ra khỏi thuyền, vừa đặt chân lên bờ thì họ thấy có mấy con cá đang nướng trên than lửa đỏ và ít bánh mì.
JOH 21:10 Chúa Giê-xu bảo họ, “Mang cá các bạn mới đánh lại đây.”
JOH 21:11 Xi-môn lên thuyền kéo mẻ lưới đầy một trăm năm mươi ba con cá lớn lên bờ; và mặc dù nhiều cá như thế mà lưới vẫn không đứt.
JOH 21:12 Chúa Giê-xu mời họ, “Các anh em lại đây ăn đi.” Tuy nhiên không một môn đệ nào dám hỏi, “Ông là ai?” vì họ biết đúng là Chúa.
JOH 21:13 Chúa Giê-xu bước tới lấy bánh và cá mời họ ăn.
JOH 21:14 Đây là lần thứ ba Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đệ, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại.
JOH 21:15 Sau khi ăn xong Chúa Giê-xu hỏi Phia-rơ, “Xi-môn con của Giăng, con có yêu ta hơn những người nầy không?” Phia-rơ đáp, “Dạ có, Chúa biết con yêu Chúa.” Chúa Giê-xu bảo, “Hãy nuôi dưỡng các chiên con ta.”
JOH 21:16 Ngài lại hỏi lần nữa, “Xi-môn, con của Giăng, con có yêu ta không?” Ông thưa, “Dạ có, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Chúa Giê-xu bảo, “Hãy chăm sóc các chiên ta.”
JOH 21:17 Ngài lại hỏi lần thứ ba, “Xi-môn, con của Giăng, con có yêu ta không?” Phia-rơ buồn bực vì Chúa Giê-xu hỏi mình đến ba lần, “Con có yêu ta không?” Phia-rơ đáp, “Thưa Chúa, Chúa biết hết mọi việc. Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Chúa Giê-xu bảo, “Hãy nuôi dưỡng đàn chiên ta.
JOH 21:18 Ta bảo thật, khi còn trẻ, con tự nai nịt lấy và muốn đi đâu thì đi. Nhưng khi già rồi con sẽ giơ tay ra cho người khác nai nịt và dắt đi đến nơi con không muốn đi.”
JOH 21:19 Nói như thế, Chúa ám chỉ Phia-rơ sẽ chết cách nào để làm vinh hiển Thượng Đế. Rồi Ngài bảo Phia-rơ, “Con hãy theo ta!”
JOH 21:20 Phia-rơ quay lại thấy môn đệ mà Chúa Giê-xu yêu đang theo sau. Môn đệ nầy là người nghiêng qua Chúa Giê-xu trong bữa ăn tối để hỏi, “Thưa Chúa, ai là người phản Ngài?”
JOH 21:21 Khi thấy môn đệ ấy đi phía sau, Phia-rơ liền hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa Chúa còn người nầy thì sao?”
JOH 21:22 Chúa Giê-xu trả lời, “Nếu ta muốn người nầy sống cho đến khi ta trở lại thì không liên quan gì đến con cả. Phần con, hãy theo ta!”
JOH 21:23 Thế là có tiếng đồn trong vòng các anh em rằng người ấy sẽ không chết. Nhưng Chúa Giê-xu không nói là người ấy sẽ không chết. Ngài chỉ nói, “Nếu ta muốn người ấy sống cho đến khi ta trở lại thì chẳng liên quan gì đến con,” thế thôi.
JOH 21:24 Môn đệ ấy là người làm chứng và ghi lại những chuyện nầy. Chúng ta biết những lời chứng của người là thật.
JOH 21:25 Còn rất nhiều việc khác mà Chúa Giê-xu đã làm. Nếu người ta ghi lại từng điều một, thì tôi nghĩ rằng cả thế giới nầy không đủ chỗ chứa hết các sách được viết ra nữa.
ACT 1:1 Kính gởi Thê-ô-phi-lơ. Trong sách thứ nhất tôi thuật lại mọi điều Chúa Giê-xu đã làm và dạy từ ban đầu
ACT 1:2 cho đến lúc Ngài được tiếp về trời. Trước đó, qua Thánh Linh, Ngài đã cho các sứ đồ được chọn biết họ phải làm gì.
ACT 1:3 Sau khi chịu chết, Ngài hiện ra cùng họ và chứng minh bằng nhiều cách rằng Ngài thật đang sống. Các sứ đồ thấy Chúa Giê-xu trong bốn mươi ngày sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết. Ngài cũng nói cho họ biết về Nước Trời.
ACT 1:4 Có lần đang khi ăn với các môn đệ, Chúa dặn họ đừng rời thành Giê-ru-sa-lem. Ngài bảo, “Hãy ở đây chờ đợi điều Cha hứa mà ta đã cho các con biết.
ACT 1:5 Giăng làm lễ báp-têm cho dân chúng bằng nước, nhưng vài hôm nữa các con sẽ được làm báp-têm bằng Thánh Linh.”
ACT 1:6 Trong khi đang nhóm họp, các môn đệ hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa Chúa, có phải Ngài hiện đang tái lập nước Ít-ra-en không?”
ACT 1:7 Ngài đáp, “Cha là Đấng duy nhất có quyền định đoạt ngày giờ. Điều ấy các con không cần biết.
ACT 1:8 Nhưng khi Thánh Linh ngự xuống trên các con thì các con sẽ nhận lấy thần quyền và sẽ làm chứng cho ta—bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem, cả miền Giu-đia, miền Xa-ma-ri rồi lan ra đến toàn thế giới.”
ACT 1:9 Sau khi nói xong, Ngài được tiếp về trời, trước mắt họ, có một đám mây che khuất Ngài.
ACT 1:10 Lúc Ngài đang cất lên thì họ cứ nhìn chăm lên trời. Bỗng có hai người mặc áo trắng xuất hiện đứng cạnh họ.
ACT 1:11 Hai người ấy hỏi, “Các ông Ga-li-lê ơi, sao lại đứng nhìn chăm lên trời? Chúa Giê-xu mà các ông thấy đang được tiếp lên trời, cũng sẽ trở lại như cách các ông thấy Ngài về trời vậy.”
ACT 1:12 Rồi họ từ núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi đó cách Giê-ru-sa-lem khoảng nửa dặm.
ACT 1:13 Khi vào thành thì họ lên một phòng trên gác, nơi họ cư ngụ. Phia-rơ, Giăng, Gia-cơ, Anh-rê, Phi-líp, Thô-ma, Ba-thê-lê-mi, Ma-thi-ơ, Gia-cơ con A-phê, Xi-môn còn gọi là kẻ Quá khích và Giu-đa con Gia-cơ có mặt tại đó.
ACT 1:14 Cùng với một số phụ nữ, họ tiếp tục cầu nguyện. Trong số đó có Ma-ri, mẹ Chúa Giê-xu, và là mẹ các em Ngài.
ACT 1:15 Lúc ấy có một buổi họp của các tín hữu gồm khoảng một trăm hai mươi người. Phia-rơ đứng dậy nói rằng,
ACT 1:16 “Thưa anh chị em, trong Thánh Kinh, Đa-vít khi cảm nhận Thánh Linh có nói về việc Giu-đa. Hắn là một người trong chúng ta, cùng hầu việc chung với chúng ta nhưng hắn đã hướng dẫn người bắt Chúa Giê-xu.
ACT 1:18 Hắn mua một thửa ruộng bằng tiền kiếm được do hành vi gian ác của mình. Nhưng rồi té xuống chết, banh xác, đổ ruột ra.
ACT 1:19 Mọi người ở Giê-ru-sa-lem đều biết rõ chuyện ấy, cho nên họ gọi chỗ ấy là A-kên-đa-ma trong ngôn ngữ họ, nghĩa là ‘Ruộng Máu.’”
ACT 1:20 Phia-rơ tiếp, “Trong sách Thi thiên có viết như sau: ‘Nguyện chỗ ở của nó bị bỏ hoang; để không ai ở đó.’ Và cũng có lời viết thêm: ‘Nguyện có người khác lãnh đạo thế chỗ nó.’
ACT 1:21 Cho nên chúng ta phải chọn một người làm chứng cùng với chúng ta về việc Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết. Người ấy phải thuộc nhóm của chúng ta trong thời gian Chúa Giê-xu ở với chúng ta—từ lúc Giăng làm lễ báp-têm cho dân chúng cho đến lúc Ngài được tiếp về thiên đàng.”
ACT 1:23 Họ đưa hai tên ra trước mọi người trong nhóm. Một người tên là Ba-sa-ba cũng gọi là Giúc-tu, người kia tên Ma-thia.
ACT 1:24 Các sứ đồ cầu nguyện, “Lạy Chúa, Ngài biết tư tưởng của mọi người. Xin cho chúng con biết người nào được Ngài chọn để lo công việc Ngài. Xin cho chúng con biết ai sẽ làm sứ đồ thế Giu-đa, là người đã quay trở về nơi ở của nó.”
ACT 1:26 Sau đó họ bắt thăm. Thăm trúng Ma-thia cho nên ông được chọn gia nhập làm sứ đồ cùng với mười một người kia.
ACT 2:1 Vào ngày lễ Thất Tuần, họ đang họp chung một chỗ.
ACT 2:2 Bỗng nhiên có tiếng như gió mạnh thổi ào ào từ trời đầy khắp phòng nơi họ đang ngồi.
ACT 2:3 Họ thấy các ngọn lửa tản ra đậu trên mỗi người.
ACT 2:4 Tất cả được đầy Thánh Linh và bắt đầu nói các thứ ngôn ngữ khác theo quyền năng Thánh Linh cho.
ACT 2:5 Lúc ấy tại Giê-ru-sa-lem cũng có mấy người Do-thái sùng đạo đến từ mọi nước trên thế giới.
ACT 2:6 Khi nghe tiếng ồn ào thì nhiều người chạy lại. Ai nấy đều ngạc nhiên vì mỗi người nghe các tín hữu nói tiếng của chính nước mình.
ACT 2:7 Họ sửng sốt hỏi nhau, “Nầy, có phải tất cả mấy người đang nói đó đều là người Ga-li-lê không?
ACT 2:8 Vậy tại sao chúng ta nghe họ nói tiếng của nước chúng ta? Chúng ta thuộc nhiều nơi khác nhau:
ACT 2:9 Miền Ba-thia, Mê-đi, Ê-lam, Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đia, Cáp-ba-đốc, Bôn-tu, Á-châu,
ACT 2:10 Phi-ri-gi, Băm-phi-lia, Ai-cập, các miền thuộc Ly-bi gần Xy-ren, La-mã
ACT 2:11 gồm người Do-thái và những người đã trở thành dân Do-thái, miền Cơ-rết và Á-rập. Chúng ta nghe họ thuật lại những việc lớn mà Thượng Đế đã làm bằng chính ngôn ngữ của nước chúng ta!”
ACT 2:12 Mọi người đều ngạc nhiên và hoang mang hỏi nhau, “Việc nầy là nghĩa làm sao?”
ACT 2:13 Nhưng có kẻ khác nhạo cười bảo, “Họ đang say vì uống quá nhiều rượu đó.”
ACT 2:14 Nhưng Phia-rơ đứng lên cùng với mười một sứ đồ lớn tiếng nói với dân chúng rằng, “Thưa đồng bào Do-thái và tất cả các người có mặt ở Giê-ru-sa-lem! Xin nghe điều tôi sắp nói đây.
ACT 2:15 Những người nầy không phải say rượu như các anh chị em tưởng đâu vì bây giờ mới có chín giờ sáng thôi!
ACT 2:16 Nhà tiên tri Giô-ên đã viết về những việc xảy ra hôm nay như sau:
ACT 2:17 ‘Thượng Đế phán: Vào những ngày cuối cùng, ta sẽ đổ Thánh Linh ta trên mọi người. Con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri. Người trẻ tuổi sẽ thấy dị tượng, còn người lớn tuổi sẽ thấy chiêm bao.
ACT 2:18 Lúc ấy ta sẽ đổ Thánh Linh trên các đầy tớ nam và nữ, họ sẽ nói tiên tri.
ACT 2:19 Ta sẽ làm phép lạ trên trời và dưới đất: máu, lửa và khói đen.
ACT 2:20 Mặt trời sẽ tối sầm lại, mặt trăng hóa đỏ như máu, trước ngày vinh hiển lớn lao của Chúa đến.
ACT 2:21 Còn ai kêu xin Chúa thì sẽ được cứu.’
ACT 2:22 Hỡi anh chị em Ít-ra-en, hãy nghe: Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét là Đấng được Thượng Đế chọn qua các phép lạ, dấu kỳ mà Ngài làm. Tất cả anh chị em đều rõ chuyện nầy, vì mọi việc đều đã xảy ra ngay đây giữa vòng anh chị em.
ACT 2:23 Chúa Giê-xu đã được ban cho anh chị em nhưng anh chị em đã dùng tay của những kẻ không biết luật pháp để xử tử Ngài bằng cách đóng đinh Ngài vào thập tự giá. Nhưng đó là chương trình Thượng Đế đã định từ lâu; Ngài biết trước việc ấy.
ACT 2:24 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết, giải thoát Ngài khỏi khổ đau của sự chết vì sự chết không thể kềm giữ Ngài.
ACT 2:25 Vua Đa-vít đã nói về Ngài như sau: ‘Tôi nhìn thấy Chúa trước mặt tôi luôn. Vì Ngài ở bên tôi, nên tôi sẽ không bị tổn hại.
ACT 2:26 Cho nên lòng tôi vui mừng, môi miệng tôi hớn hở, thân thể tôi nuôi hi vọng,
ACT 2:27 vì Ngài không để tôi trong mồ mả. Ngài không để Đấng Thánh Ngài bị mục nát trong đó.
ACT 2:28 Ngài sẽ chỉ cho tôi con đường sự sống. Được ở với Ngài lòng tôi tràn đầy vui mừng.’
ACT 2:29 Thưa anh chị em, tôi phải nói thật rằng Đa-vít, tổ tiên chúng ta đã chết và được chôn. Mồ mả của ông vẫn còn ở giữa chúng ta hôm nay.
ACT 2:30 Ông là nhà tiên tri và biết Thượng Đế đã hứa với ông rằng Ngài sẽ chọn một người từ dòng họ Đa-vít để làm vua giống như ông vậy.
ACT 2:31 Vì biết trước việc ấy nên Đa-vít nói về việc Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết như sau: ‘Ngài không bị bỏ quên trong mồ mả. Thân thể Ngài không bị mục nát trong đó.’
ACT 2:32 Cho nên Chúa Giê-xu là Đấng mà Thượng Đế khiến sống lại từ kẻ chết. Còn chúng tôi đây là những người chứng kiến các việc ấy.
ACT 2:33 Chúa Giê-xu đã được tiếp lên thiên đàng và hiện đang ngồi bên phải Thượng Đế. Cha đã ban Thánh Linh cho Chúa Giê-xu như Ngài hứa. Cho nên Chúa Giê-xu đã đổ Thánh Linh ra, như anh chị em nghe thấy hôm nay.
ACT 2:34 Đa-vít không phải là người được tiếp lên thiên đàng nhưng ông nói: ‘Chúa phán cùng Chúa tôi, Hãy ngồi bên phải ta,
ACT 2:35 Cho đến khi ta đặt các kẻ thù ngươi dưới quyền quản trị của ngươi.’
ACT 2:36 Cho nên, toàn dân Ít-ra-en cần biết điều nầy: Thượng Đế đã lập Chúa Giê-xu—Đấng mà anh chị em đã đóng đinh vào thập tự giá—làm Chúa và Đấng Cứu Thế.”
ACT 2:37 Khi dân chúng nghe vậy thì họ cảm thấy trong lòng bị cáo trách nên hỏi Phia-rơ và các sứ đồ, “Bây giờ chúng tôi phải làm sao?”
ACT 2:38 Phia-rơ bảo họ, “Hãy ăn năn, mỗi người trong anh chị em hãy chịu lễ báp-têm nhân danh Chúa Giê-xu để được tha tội. Rồi anh chị em sẽ nhận được ân tứ của Thánh Linh.
ACT 2:39 Vì lời hứa nầy dành cho anh chị em, cho con cái anh chị em và cho những kẻ ở xa nghĩa là cho những người mà Thượng Đế đã gọi riêng cho Ngài.”
ACT 2:40 Phia-rơ cũng dùng nhiều lời nữa để khuyên răn và khích lệ họ. Ông khuyên, “Hãy cứu mình khỏi những gian ác của người đời nay!”
ACT 2:41 Sau đó những người tin nhận lời giảng Phia-rơ đều chịu lễ báp-têm. Trong ngày ấy có khoảng ba ngàn người gia nhập vào số các tín hữu.
ACT 2:42 Họ dùng thì giờ học hỏi lời dạy của các sứ đồ, san sẻ của cải, bẻ bánh và cầu nguyện chung với nhau.
ACT 2:43 Các sứ đồ làm nhiều phép lạ và dấu kỳ, ai nấy đều kính sợ Thượng Đế.
ACT 2:44 Mọi tín hữu đều họp chung nhau và chia xẻ mọi điều mình có.
ACT 2:45 Họ bán đất đai và của cải rồi chia tiền ra, theo nhu cầu mỗi người.
ACT 2:46 Mỗi ngày các tín hữu họp chung nhau trong đền thờ. Họ dùng bữa tại nhà mình, vui lòng san sẻ thức ăn với nhau.
ACT 2:47 Họ ca ngợi Thượng Đế và được dân chúng mến chuộng. Mỗi ngày Chúa thêm người được cứu vào đoàn thể các tín hữu.
ACT 3:1 Một ngày nọ, Phia-rơ và Giăng lên đền thờ khoảng ba giờ chiều, là giờ định sẵn mỗi ngày để cầu nguyện.
ACT 3:2 Nơi cổng đền thờ gọi là Cổng Đẹp, có một người bị què từ lúc mới sinh nằm đó. Mỗi ngày người ta mang anh ta đặt ở cổng ấy để xin tiền những người đi vào đền thờ.
ACT 3:3 Khi thấy Phia-rơ và Giăng vào thì anh mở miệng xin tiền hai người.
ACT 3:4 Phia-rơ và Giăng nhìn thẳng vào anh và bảo, “Hãy nhìn chúng tôi!”
ACT 3:5 Anh liền nhìn hai người, tưởng họ sẽ cho mình tiền.
ACT 3:6 Nhưng Phia-rơ bảo, “Tôi không có vàng bạc gì hết nhưng tôi sẽ cho anh điều tôi có. Nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu ở Na-xa-rét, hãy đứng lên và bước đi!”
ACT 3:7 Rồi Phia-rơ nắm tay phải anh đỡ dậy. Lập tức bàn chân và mắt cá anh trở nên vững vàng.
ACT 3:8 Anh nhảy lên, đứng trên chân rồi bắt đầu bước đi. Anh vào đền thờ với hai sứ đồ, vừa đi vừa nhảy vừa ca ngợi Thượng Đế.
ACT 3:9 Mọi người nhận ra anh là người què vẫn hay xin tiền nơi Cổng Đẹp. Bây giờ họ thấy anh vừa đi vừa ca ngợi Thượng Đế thì vô cùng sửng sốt.
ACT 3:11 Trong khi anh đang nắm tay Phia-rơ và Giăng thì dân chúng ngạc nhiên chạy lại xúm quanh họ nơi Cổng Sô-lô-môn.
ACT 3:12 Thấy vậy Phia-rơ bảo, “Nầy người Ít-ra-en, sao các anh chị em ngạc nhiên? Anh chị em nhìn chúng tôi như thể chúng tôi nhờ quyền năng hay công đức riêng mà khiến anh nầy đi được.
ACT 3:13 Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, Thượng Đế của tổ phụ chúng ta, ban vinh hiển cho Chúa Giê-xu, tôi tớ Ngài. Nhưng anh chị em đã giao Ngài cho Phi-lát giết. Ông ta định thả Ngài nhưng anh chị em gạt bỏ Ngài.
ACT 3:14 Anh chị em không muốn Đấng thánh và vô tội nhưng ngược lại, anh chị em yêu cầu Phi-lát giao cho mình một kẻ giết người.
ACT 3:15 Anh chị em giết Đấng ban sự sống, nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết. Chúng tôi là những người làm chứng về việc ấy.
ACT 3:16 Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu mà người què nầy được chữa lành là người mà anh chị em biết. Người nầy được hoàn toàn lành mạnh là nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu. Chính anh chị em thấy tận mắt chuyện ấy!
ACT 3:17 Thưa anh chị em, tôi biết sở dĩ anh chị em đối xử với Chúa Giê-xu như thế là vì anh chị em và các nhà lãnh đạo đều không hiểu điều mình làm.
ACT 3:18 Qua các nhà tiên tri, Thượng Đế đã nói rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình và chết. Nay Thượng Đế đã khiến mọi điều ấy xảy ra đúng như vậy.
ACT 3:19 Cho nên hãy ăn năn! Hãy trở lại cùng Thượng Đế thì Ngài sẽ tha tội cho anh chị em. Rồi Chúa sẽ mang đến thời kỳ nghỉ ngơi.
ACT 3:20 Ngài cũng sẽ sai Chúa Giê-xu, Đấng mà Ngài đã chọn làm Chúa Cứu Thế của anh chị em.
ACT 3:21 Tuy nhiên Chúa Giê-xu phải ở lại thiên đàng cho đến khi mọi việc được sửa sang lại. Từ xưa, qua các nhà tiên tri thánh, Thượng Đế đã nói về thời kỳ nầy.
ACT 3:22 Mô-se nói, ‘Chúa, là Thượng Đế các ngươi, sẽ ban cho các ngươi một nhà tiên tri giống như ta. Nhà tiên tri ấy là một người trong các ngươi. Các ngươi hãy nghe lời người.
ACT 3:23 Ai không vâng lời nhà tiên tri đó sẽ bị xử tử, cắt đứt khỏi dân Chúa.’
ACT 3:24 Sa-mu-ên và tất cả các nhà tiên tri khác thay mặt Thượng Đế đến sau ông cũng nói đến thời kỳ nầy.
ACT 3:25 Anh chị em là dòng dõi của các nhà tiên tri. Anh chị em đã nhận giao ước mà Thượng Đế lập với tổ tiên mình. Ngài bảo Áp-ra-ham, ông tổ của anh chị em như sau, ‘Nhờ dòng dõi ngươi mà các dân trên đất sẽ hưởng phúc.’
ACT 3:26 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại và trước hết sai Ngài đến để ban phúc lành cho anh chị em bằng cách giúp cho mỗi anh chị em quay khỏi điều ác.”
ACT 4:1 Trong khi Phia-rơ và Giăng đang nói chuyện với dân chúng thì các thầy tế lễ, sĩ quan chỉ huy toán lính canh gác đền thờ và các người Xa-đu-xê ập đến.
ACT 4:2 Họ bực mình vì hai sứ đồ giảng dạy dân chúng rằng Chúa Giê-xu đã sống lại từ kẻ chết.
ACT 4:3 Các nhà lãnh đạo Do-thái bắt giam Phia-rơ và Giăng. Vì lúc ấy đã tối, nên họ nhốt hai người trong ngục cho đến hôm sau.
ACT 4:4 Nhưng nhiều người đã nghe Phia-rơ và Giăng giảng thì tin điều hai sứ đồ nói. Lúc ấy có khoảng năm ngàn tín hữu.
ACT 4:5 Hôm sau, các lãnh tụ, các bô lão Do-thái và các giáo sư luật họp lại tại Giê-ru-sa-lem.
ACT 4:6 An-na, thầy tế lễ tối cao, Cai-pha, Giăng và A-lịch-sơn có mặt tại đó cùng với toàn thể gia đình thầy tế lễ tối cao.
ACT 4:7 Họ bắt Phia-rơ và Giăng trình diện và hạch hỏi, “Mấy anh lấy quyền hành nào hay ai cho các anh quyền làm chuyện nầy?”
ACT 4:8 Lúc ấy Phia-rơ cảm nhận Thánh Linh, nói với họ, “Thưa quí vị lãnh đạo dân chúng và các bô lão,
ACT 4:9 có phải quí vị hạch hỏi chúng tôi về việc lành chúng tôi làm cho một người què không? Có phải quí vị muốn biết ai đã chữa lành cho người đó không?
ACT 4:10 Chúng tôi muốn tất cả quí vị và toàn dân Do-thái biết rằng người nầy được chữa lành là nhờ quyền năng của Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét. Quí vị đã đóng đinh Ngài nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết. Người nầy trước bị què, nhưng nay được lành và đang đứng trước mặt quí vị đây, nhờ quyền năng Chúa Giê-xu.
ACT 4:11 Chúa Giê-xu là ‘tảng đá bị quí vị, là thợ xây nhà, loại bỏ, lại trở thành đá góc nhà.’
ACT 4:12 Ngoài Chúa Giê-xu ra không ai có thể cứu con người được. Danh Ngài là quyền năng duy nhất trên thế gian đã được ban cho nhân loại để cứu con người. Chúng ta phải nhờ Ngài mới được cứu.”
ACT 4:13 Các nhà lãnh đạo Do-thái thấy Phia-rơ và Giăng ăn nói bạo dạn, họ biết cả hai đều là người tầm thường, không học hành bao nhiêu nên vô cùng kinh ngạc. Họ nhận ra là Phia-rơ và Giăng đã từng ở với Chúa Giê-xu.
ACT 4:14 Vì thấy người được chữa lành đang đứng cạnh hai sứ đồ nên họ không thể bẻ bác gì được.
ACT 4:15 Sau khi các nhà lãnh đạo Do-thái ra lệnh đem hai sứ đồ khỏi phòng họp, họ bắt đầu bàn bạc.
ACT 4:16 Họ bảo, “Chúng ta phải xử trí thế nào với mấy người nầy? Ai ở Giê-ru-sa-lem cũng biết họ đã làm một phép lạ sờ sờ, chúng ta không thể chối cãi.
ACT 4:17 Nhưng để cho tin nầy khỏi lan rộng thêm giữa vòng dân chúng, chúng ta phải cấm họ không được dùng danh ấy giảng cho dân chúng nữa.”
ACT 4:18 Họ cho mang Phia-rơ và Giăng vào và cấm không được nói hay dạy dân chúng về danh Chúa Giê-xu nữa.
ACT 4:19 Nhưng Phia-rơ và Giăng trả lời, “Quí vị hãy xét điều nào Thượng Đế muốn. Chúng tôi nên vâng lời quí vị hay vâng lời Thượng Đế?
ACT 4:20 Vì chúng tôi không thể im lặng mà phải nói ra điều mình đã nghe và thấy.”
ACT 4:21 Các nhà lãnh đạo Do-thái cấm hai sứ đồ lần nữa, rồi thả ra. Họ không biết cách nào để trừng phạt các sứ đồ, vì cả dân chúng đều ca ngợi Thượng Đế về sự việc vừa xảy ra.
ACT 4:22 Người được chữa lành ấy hơn bốn mươi tuổi.
ACT 4:23 Sau khi Phia-rơ và Giăng rời cuộc họp với nhóm lãnh tụ Do-thái, hai người trở về thuật cho các tín hữu khác nghe những gì mà giới trưởng tế và các bô lão Do-thái đã bảo họ.
ACT 4:24 Khi các tín hữu nghe thế, họ đồng tâm cầu nguyện cùng Thượng Đế, “Lạy Chúa, Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó.
ACT 4:25 Nhờ Thánh Linh Ngài và qua tổ phụ chúng tôi là Đa-vít, tôi tớ Ngài, Ngài đã phán: ‘Tại sao các dân tức giận? Tại sao họ lập mưu vô ích?
ACT 4:26 Các vua trên đất chuẩn bị chiến đấu, các nhà lãnh đạo lập mưu chống lại Chúa và Đấng Cứu Thế của Ngài.’
ACT 4:27 Những việc ấy xảy ra khi Hê-rốt, Bôn-ti Phi-lát, những người không phải Do-thái cùng những người Do-thái họp nhau nghịch Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem. Chúa Giê-xu là đầy tớ thánh của Ngài mà Ngài đã lập làm Đấng Cứu Thế.
ACT 4:28 Họ làm cho kế hoạch Ngài được thành tựu do quyền năng và ý muốn Ngài.
ACT 4:29 Bây giờ, lạy Chúa, xin hãy lắng nghe lời hăm dọa của họ. Lạy Chúa, xin giúp tôi tớ Ngài mạnh dạn rao giảng lời Ngài.
ACT 4:30 Xin giúp chúng con can đảm bằng cách tỏ quyền năng chữa trị của Ngài. Xin chứng tỏ và làm nhiều phép lạ do quyền năng Chúa Giê-xu, tôi tớ thánh của Ngài.”
ACT 4:31 Sau khi họ cầu nguyện xong thì nơi họp rung chuyển. Mọi người đều được nhận Thánh Linh và mạnh dạn rao giảng lời Thượng Đế, không sợ hãi gì.
ACT 4:32 Các tín hữu đều đồng lòng và xem của riêng mình như của chung. Thật ra, họ san sẻ với nhau mọi thứ.
ACT 4:33 Nhờ quyền năng lớn lao, các sứ đồ thuật cho dân chúng biết là Chúa Giê-xu đã thật sống lại từ kẻ chết. Thượng Đế cũng ban phúc lành nhiều cho các tín hữu.
ACT 4:34 Không ai trong nhóm thiếu thốn điều gì. Thỉnh thoảng có người bán ruộng đất hoặc nhà cửa, mang tiền lại,
ACT 4:35 giao cho các sứ đồ. Rồi tiền ấy được phát cho người nào túng thiếu.
ACT 4:36 Có một tín hữu tên Giô-xép, người Lê-vi, sinh ở đảo Chíp. Các sứ đồ gọi ông là Ba-na-ba nghĩa là “người giục giã.”
ACT 4:37 Giô-xép có một thửa ruộng, bán đi rồi mang tiền giao cho các sứ đồ.
ACT 5:1 Tuy nhiên có một người tên A-na-nia và vợ là Xa-phi-ra bán một ít đất.
ACT 5:2 Ông giữ lại một phần tiền cho mình, bà vợ cũng biết chuyện ấy và đồng lòng với chồng. Ông đem phần tiền còn lại giao cho các sứ đồ.
ACT 5:3 Phia-rơ hỏi, “A-na-nia ơi, sao ông để Sa-tăng cai trị tư tưởng ông đến nỗi ông nói dối cùng Thánh Linh và giữ lại một phần tiền bán đất?
ACT 5:4 Trước khi ông bán đất thì đất đó thuộc về ông. Ngay sau khi bán rồi, ông có thể dùng tiền ấy cách nào cũng được. Tại sao ông lại định làm chuyện nầy? Ông đã nói dối Thượng Đế chứ không phải dối chúng tôi đâu!”
ACT 5:5 A-na-nia vừa nghe như thế liền té xuống tắt thở. Có mấy thanh niên vào, liệm xác ông, mang đi chôn. Ai nghe chuyện cũng kinh sợ.
ACT 5:7 Khoảng ba giờ sau, vợ ông vào, chưa hay biết sự việc vừa xảy ra.
ACT 5:8 Phia-rơ hỏi, “Bà hãy nói cho tôi biết, đây có phải là trọn số tiền bán đất của bà không?” Xa-phi-ra trả lời, “Dạ phải, đó là số tiền bán được.”
ACT 5:9 Phia-rơ bảo, “Tại sao hai vợ chồng bà đồng mưu thách thức Thánh Linh của Chúa? Kìa, mấy người vừa chôn chồng bà đã về đến cửa, họ sẽ mang bà đi luôn.”
ACT 5:10 Ngay lúc đó Xa-phi-ra té xuống nơi chân Phia-rơ và tắt thở. Khi các thanh niên bước vào thấy bà chết, họ liền mang bà ra chôn bên cạnh chồng.
ACT 5:11 Cả hội thánh và mọi người nghe chuyện ấy đều kinh sợ.
ACT 5:12 Các sứ đồ làm nhiều dấu kỳ và phép lạ trong dân chúng. Tất cả đều nhóm họp dưới vòm cổng Sô-lô-môn.
ACT 5:13 Không ai khác dám gia nhập nhóm của họ nhưng dân chúng thì rất kính nể họ.
ACT 5:14 Càng ngày càng có nhiều người, cả nam lẫn nữ, tin nhận Chúa và thêm vào số các tín hữu.
ACT 5:15 Dân chúng mang những người bệnh nằm trên chõng và trên chiếu đặt giữa phố để mong khi Phia-rơ đi qua thì bóng của ông có thể che phủ họ.
ACT 5:16 Quần chúng từ các tỉnh quanh Giê-ru-sa-lem mang những người bệnh và bị ác quỉ quấy nhiễu đến, tất cả đều được chữa lành.
ACT 5:17 Thầy tế lễ tối cao và các thân hữu của ông, thuộc nhóm gọi là Xa-đu-xê, đầy ganh tức.
ACT 5:18 Họ bắt các sứ đồ tống giam vào ngục.
ACT 5:19 Nhưng ban đêm, một thiên sứ Chúa mở cửa ngục, dẫn các sứ đồ ra ngoài. Thiên sứ dặn,
ACT 5:20 “Hãy ra đứng nơi đền thờ và giảng cho dân chúng mọi điều về sự sống mới nầy.”
ACT 5:21 Nghe thế, các sứ đồ vâng lời đi vào đền thờ lúc sáng sớm và tiếp tục dạy. Khi thầy tế lễ tối cao và các thân hữu đến triệu tập một cuộc họp gồm những nhà lãnh đạo và bô lão Do-thái. Họ sai người vào ngục để giải các sứ đồ đến.
ACT 5:22 Nhưng khi vào ngục thì các sĩ quan không thấy các sứ đồ đâu, nên họ trở về báo cáo với nhóm lãnh đạo Do-thái.
ACT 5:23 Họ trình, “Ngục đóng và khóa kỹ, có lính canh gác ngoài cửa, nhưng mở cửa thì chẳng thấy ai cả!”
ACT 5:24 Nghe thế, viên sĩ quan chỉ huy toán lính gác đền thờ và các giới trưởng tế vô cùng hoang mang, không hiểu đầu đuôi ra sao.
ACT 5:25 Bỗng có người đến báo, “Kìa! Mấy người các ông nhốt trong ngục đang đứng trong đền thờ dạy dỗ dân chúng.”
ACT 5:26 Viên sĩ quan chỉ huy cùng các lính dưới quyền liền đi ra bắt các sứ đồ mang đến, nhưng không dám mạnh tay vì sợ dân chúng ném đá.
ACT 5:27 Toán lính giải các sứ đồ ra giữa buổi họp, bắt đứng trước các nhà lãnh đạo Do-thái. Rồi thầy tế lễ tối cao hỏi họ,
ACT 5:28 “Chúng tôi đã ra lệnh tuyệt đối cấm các anh không được dạy danh ấy nữa, vậy mà xem kìa, mấy anh làm cho Giê-ru-sa-lem tràn ngập đạo giáo của mấy anh, và còn muốn đổ trách nhiệm trên chúng tôi về cái chết của người nầy nữa.”
ACT 5:29 Phia-rơ và các sứ đồ khác đáp, “Chúng tôi phải vâng lời Thượng Đế chứ không thể vâng lời nhà cầm quyền loài người!
ACT 5:30 Các ông giết Chúa Giê-xu bằng cách treo Ngài lên cây thập tự, nhưng Thượng Đế là Chúa của các tổ tiên chúng ta đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết!
ACT 5:31 Chúa Giê-xu là Đấng được Thượng Đế cất nhắc lên, ngồi bên phải Ngài, để làm Lãnh tụ và Cứu Chúa. Ngài làm như thế cho toàn dân Do-thái có cơ hội ăn năn để được tha tội.
ACT 5:32 Chúng tôi đã chứng kiến việc nầy. Thánh Linh, Đấng mà Thượng Đế ban cho những ai vâng phục, cũng xác nhận những điều nầy là thật.”
ACT 5:33 Khi các nhà lãnh đạo Do-thái nghe vậy, họ vô cùng tức giận và muốn giết các sứ đồ.
ACT 5:34 Nhưng có một người Pha-ri-xi tên Ga-ma-liên đứng lên giữa buổi họp. Ông là giáo sư luật được toàn dân kính nể. Ông bảo đem các sứ đồ ra khỏi buổi họp trong chốc lát.
ACT 5:35 Ông nói, “Dân Ít-ra-en nghe đây, các anh hãy cẩn thận về cách đối xử với mấy người nầy.
ACT 5:36 Các anh còn nhớ khi Thêu-đa nổi lên không? Hắn tự nhận mình là vĩ nhân, có khoảng bốn trăm người theo. Nhưng sau khi hắn bị giết, các kẻ theo hắn đều tan lạc, chẳng làm được trò gì.
ACT 5:37 Sau đó, có người tên Giu-đa từ miền Ga-li-lê xuất hiện vào thời kỳ đăng bộ. Hắn lãnh đạo một toán thuộc hạ nhưng sau khi hắn bị giết, bọn thuộc hạ cũng bị tiêu tan.
ACT 5:38 Cho nên tôi khuyên mấy anh: Tránh xa mấy người nầy đi, đừng đụng tới họ. Vì nếu kế hoạch nầy là do quyền lực con người mà ra thì sẽ bị sụp đổ.
ACT 5:39 Nhưng nếu từ Thượng Đế đến, thì mấy anh ngăn chặn họ không nổi đâu vì chẳng khác nào đánh giặc với Thượng Đế!” Các nhà lãnh tụ Do-thái đồng ý với lời bàn của Ga-ma-liên.
ACT 5:40 Họ cho gọi các sứ đồ vào, đánh đòn và cấm không cho giảng danh Chúa Giê-xu nữa rồi thả ra.
ACT 5:41 Các sứ đồ rời buổi họp, vui mừng vì được vinh dự chịu nhục trong danh Chúa Giê-xu.
ACT 5:42 Mỗi ngày trong đền thờ hay nhà riêng, họ luôn luôn dạy dỗ dân chúng về Tin Mừng rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế.
ACT 6:1 Số tín hữu càng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên lúc ấy có mấy tín hữu nói tiếng Hi-lạp cãi vã với các tín hữu nói tiếng A-ram vì các người đàn bà góa nói tiếng Hi-lạp không nhận được phần ăn phát ra hằng ngày.
ACT 6:2 Mười hai sứ đồ triệu tập toàn thể các tín hữu lại bảo rằng, “Nếu chúng tôi phải bỏ nhiệm vụ giảng dạy lời Thượng Đế mà lo phân phát thức ăn, là điều không tốt.
ACT 6:3 Vì thế, thưa anh chị em, xin hãy chọn giữa vòng anh chị em bảy người có uy tín, đầy khôn ngoan và Thánh Linh. Chúng tôi sẽ giao cho họ đảm trách việc nầy.
ACT 6:4 Còn chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và dạy dỗ lời Thượng Đế.”
ACT 6:5 Toàn thể chịu ý kiến ấy, nên họ chọn bảy người: Ê-tiên, một người có đức tin lớn và đầy dẫy Thánh Linh, Phi-líp, Bơ-cô-ru, Ni-ca-no, Ti-môn, Bạc-mê-na và Ni-cô-la quê ở An-ti-ốt và đã trở thành dân Do-thái.
ACT 6:6 Rồi họ trình diện mấy người ấy trước các sứ đồ. Các sứ đồ cầu nguyện xong thì đặt tay lên họ.
ACT 6:7 Lời của Thượng Đế lan rộng. Số tín hữu ở Giê-ru-sa-lem càng ngày càng gia tăng. Cũng có nhiều thầy tế lễ Do-thái tin theo và vâng phục Chúa Giê-xu.
ACT 6:8 Ê-tiên được đầy ơn Chúa. Ngài cho ông quyền năng làm nhiều phép lạ, dấu kỳ lớn lao trong dân chúng.
ACT 6:9 Tuy nhiên có mấy người Do-thái chống đối. Họ thuộc vào một hội đường của Người Tự Do, theo tên gọi, gồm những người Do-thái từ vùng Xy-ren, A-lịch-sơn, Xi-xi-li và Á-châu. Họ họp nhau lại và tranh luận với Ê-tiên.
ACT 6:10 Nhưng Thánh Linh cho ông sự khôn ngoan để đối đáp, nên lời lẽ của ông hùng hồn đến nỗi họ không thể nào biện bác được với ông.
ACT 6:11 Họ liền lén xúi một số người tố cáo rằng, “Chúng tôi nghe Ê-tiên nói phạm đến Mô-se và Thượng Đế.”
ACT 6:12 Nghe thế, quần chúng, các bô lão Do-thái và các giáo sư luật rất tức giận. Họ bắt Ê-tiên giải đến một phiên họp của các lãnh tụ Do-thái.
ACT 6:13 Họ đưa mấy tên chứng dối ra chống Ê-tiên và nói rằng, “Anh nầy luôn luôn nói phạm đến nơi thánh và luật Mô-se.
ACT 6:14 Chúng tôi nghe anh ta nói rằng Giê-xu, người Na-xa-rét, sẽ phá hủy chỗ nầy và sẽ thay đổi các tập tục Mô-se truyền cho chúng ta.”
ACT 6:15 Mọi người trong buổi họp đều nhìn Ê-tiên chăm chú, thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ vậy.
ACT 7:1 Thầy tế lễ tối cao hỏi Ê-tiên, “Có đúng thế không?”
ACT 7:2 Ê-tiên đáp, “Thưa các anh và các cha, xin nghe tôi nói. Thượng Đế vinh hiển của chúng ta hiện ra cùng Áp-ra-ham, tổ tiên của chúng ta ở Mê-sô-bô-ta-mi trước khi ông đến sinh sống tại Ha-ran.
ACT 7:3 Ngài nói cùng Áp-ra-ham rằng, ‘Hãy rời bỏ quê hương và bà con ngươi, rồi đi đến xứ mà ta sẽ chỉ cho.’
ACT 7:4 Vì thế Áp-ra-ham rời xứ Canh-đê đi đến cư ngụ tại Ha-ran cho tới khi cha ông qua đời. Sau đó Thượng Đế sai ông đến xứ mà quí vị hiện đang sống đây.
ACT 7:5 Thượng Đế không cho ông phần đất nào ở đây cả, dù là miếng đất bằng bàn chân đi nữa. Nhưng Ngài hứa sẽ cấp cho ông cùng dòng dõi ông đất nầy, ngay trước khi Áp-ra-ham có con.
ACT 7:6 Ngài bảo ông rằng, ‘Dòng dõi ngươi sẽ làm dân tạm trú trên đất xa lạ, không phải là quê hương mình. Dân xứ đó sẽ bắt họ làm nô lệ và ngược đãi họ trong bốn trăm năm.
ACT 7:7 Nhưng ta sẽ trừng phạt quốc gia mà họ bị làm nô lệ. Rồi con cháu ngươi sẽ rời xứ ấy và thờ phụng ta tại nơi nầy.’
ACT 7:8 Thượng Đế lập giao ước với Áp-ra-ham qua phép cắt dương bì. Khi Áp-ra-ham sinh con trai là Y-sác, thì làm phép cắt dương bì cho con, lúc Y-sác được tám ngày. Y-sác cắt dương bì cho con là Gia-cốp, Gia-cốp cắt dương bì cho mười hai người con là tổ tiên của dân ta.
ACT 7:9 Các con của Gia-cốp ganh ghét Giô-xép nên bán ông làm nô lệ sang Ai-cập. Nhưng Thượng Đế ở cùng, che chở
ACT 7:10 và cứu ông khỏi mọi cảnh nguy khốn. Vua Ai-cập thích Giô-xép và nể nang sự khôn ngoan mà Thượng Đế ban cho ông. Vua cử ông làm tể tướng toàn thể lãnh thổ Ai-cập và giao cho ông quản trị mọi người phục vụ trong cung vua.
ACT 7:11 Lúc xứ Ai-cập và Ca-na-an bị nạn hạn hán, không có gì mọc nổi, dân chúng rất đói khổ thì các con trai Gia-cốp, tổ tiên chúng ta cũng không có gì ăn.
ACT 7:12 Gia-cốp nghe xứ Ai-cập có lúa liền sai các con mình xuống. Đó là chuyến đi đầu tiên của họ sang Ai-cập.
ACT 7:13 Lúc họ đến Ai-cập lần thứ nhì, Giô-xép thú thật các anh em về gốc gác mình và nhà vua mới biết gia đình ông.
ACT 7:14 Rồi Giô-xép sai sứ giả mời Gia-cốp, cha mình xuống Ai-cập cùng với các gia đình anh em ruột thịt, tất cả là bảy mươi lăm người.
ACT 7:15 Gia-cốp liền xuống Ai-cập. Ông và các con qua đời tại đó.
ACT 7:16 Về sau xác họ được dời đến Sê-chem và được chôn trong cùng ngôi mộ mà Áp-ra-ham mua từ các con trai Hê-mô ở Sê-chem.
ACT 7:17 Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham trở thành sự thật, số người sống tại Ai-cập càng ngày càng gia tăng.
ACT 7:18 Rồi một vua khác lên thay, chẳng biết gì về Giô-xép cả.
ACT 7:19 Vua nầy lừa gạt dân ta và tàn bạo đối với các tổ tiên ta, buộc họ phải quăng bỏ các trẻ sơ sinh cho chết đi.
ACT 7:20 Lúc ấy Mô-se ra đời, trông rất kháu khỉnh. Suốt ba tháng, Mô-se được nuôi trong nhà cha mình.
ACT 7:21 Khi họ bỏ Mô-se ra ngoài thì công chúa, con nhà vua nhận ông làm con và nuôi nấng như con mình.
ACT 7:22 Người Ai-cập dạy Mô-se đủ thứ kiến thức. Ông rất hùng hồn trong lời nói cũng như việc làm.
ACT 7:23 Lúc Mô-se được khoảng bốn mươi tuổi, ông nghĩ nên đi thăm dân mình, tức dân Ít-ra-en.
ACT 7:24 Nhìn thấy một người Ai-cập ngược đãi một người Ít-ra-en, Mô-se liền giết người Ai-cập để bênh vực người Ít-ra-en.
ACT 7:25 Mô-se tưởng dân tộc mình sẽ hiểu rằng Thượng Đế đang dùng ông để giải cứu họ, nhưng họ lại không hiểu.
ACT 7:26 Hôm sau ông thấy hai người Ít-ra-en đánh nhau, Mô-se tìm cách can ngăn họ và bảo họ, ‘Nầy, chúng ta là anh em. Tại sao lại hại nhau như vậy?’
ACT 7:27 Người đang đánh người kia xô Mô-se ra nói, ‘Ai cử anh làm sếp và quan tòa?
ACT 7:28 Hay anh muốn giết tôi như đã giết người Ai-cập hôm qua sao?’
ACT 7:29 Mô-se nghe vậy liền bỏ Ai-cập trốn qua xứ Mi-đi-an, làm kẻ lưu vong. Trong khi cư ngụ ở Mi-đi-an, ông sinh hai con trai.
ACT 7:30 Bốn mươi năm sau, một thiên sứ hiện ra cùng ông trong đám lửa của một bụi cây đang cháy ở sa mạc gần núi Si-nai.
ACT 7:31 Khi thấy hiện tượng ấy, Mô-se ngạc nhiên nên bước lại gần để xem, thì nghe tiếng Chúa phán,
ACT 7:32 ‘Ta là Thượng Đế của tổ tiên ngươi, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.’ Mô-se run sợ không dám nhìn.
ACT 7:33 Chúa lại bảo ông rằng, ‘Hãy cởi dép ngươi ra, vì ngươi đang đứng trên đất thánh.
ACT 7:34 Ta đã thấy sự khốn khổ của dân ta tại Ai-cập. Ta đã nghe tiếng kêu than của họ nên ngự xuống để giải cứu họ. Cho nên bây giờ, Mô-se, ta sai ngươi trở về Ai-cập.’
ACT 7:35 Mô-se nầy mà hai người Ít-ra-en đã gạt ra và bảo ‘Ai đặt ngươi làm sếp và quan tòa?’ Mô-se là người mà Thượng Đế sai đến để làm lãnh tụ và người giải cứu, với sự giúp đỡ của thiên sứ mà ông đã thấy trong bụi cây cháy.
ACT 7:36 Mô-se dẫn dân chúng ra khỏi Ai-cập. Ông làm nhiều phép lạ và dấu kỳ tại Ai-cập, nơi Hồng hải và trong sa mạc suốt bốn mươi năm.
ACT 7:37 Cũng chính Mô-se nầy là người đã bảo dân Ít-ra-en rằng ‘Thượng Đế sẽ chọn một nhà tiên tri như ta từ trong vòng các ngươi.’
ACT 7:38 Chính Mô-se nầy là người đã ở với dân Ít-ra-en trong sa mạc, ở với thiên sứ là người nói chuyện cùng ông trên núi Si-nai, và ở với các tổ tiên chúng ta. Ông nhận lời của sự sống và truyền lại cho chúng ta.
ACT 7:39 Nhưng các tổ tiên chúng ta không muốn nghe Mô-se. Họ gạt bỏ ông và muốn quay trở về Ai-cập.
ACT 7:40 Họ yêu cầu A-rôn, ‘Xin hãy làm cho chúng tôi các thần để hướng dẫn chúng tôi. Dù Mô-se dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập, nhưng chúng tôi chẳng biết ông ta gặp chuyện gì rồi.’
ACT 7:41 Vì thế họ làm một thần tượng giống như bò con, rồi dâng của lễ cho nó, lấy làm hãnh diện về tượng do tay mình làm ra.
ACT 7:42 Nhưng Thượng Đế quay mặt khỏi họ và để mặc họ thờ mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Y như lời chép trong sách các nhà tiên tri: Thượng Đế phán, ‘Hỡi dân Ít-ra-en, các ngươi không mang cho ta các sinh tế và của lễ đang khi đi trong sa mạc suốt bốn mươi năm.
ACT 7:43 Các ngươi mang lều theo mình để thờ thần Mô-léc và tượng của thần ngôi sao Rê-phan mà các ngươi làm lấy để thờ. Cho nên ta sẽ đày các ngươi quá xa khỏi xứ Ba-by-lôn.’
ACT 7:44 Lều Thánh, nơi mà Thượng Đế phán với tổ phụ chúng ta, cùng đi với họ trong sa mạc. Thượng Đế chỉ cho Mô-se cách xây dựng Lều ấy, ông làm theo sơ đồ Thượng Đế chỉ cho.
ACT 7:45 Sau đó, Giô-suê hướng dẫn tổ tiên chúng ta chiếm đất của các dân khác. Dân ta xông vào, còn Thượng Đế đuổi các dân khác ra. Khi dân ta đi vào đất mới nầy, thì họ mang theo cái Lều mà họ đã nhận từ tổ tiên. Họ giữ Lều ấy cho đến đời Đa-vít,
ACT 7:46 là người làm vừa lòng Thượng Đế. Ông xin Thượng Đế cho phép ông cất một cái nhà cho Ngài, là Thượng Đế của Gia-cốp.
ACT 7:47 Nhưng Sô-lô-môn lại là người xây đền thờ.
ACT 7:48 Tuy nhiên Đấng Rất Cao không ngự trong nhà do tay người làm ra. Như nhà tiên tri đã nói:
ACT 7:49 ‘Trời là ngôi ta, đất là bệ chân ta. Cho nên các ngươi tưởng có thể xây nhà cho ta sao? Chúa phán như thế. Ta có cần chỗ nghỉ ngơi sao?
ACT 7:50 Nên nhớ, chính tay ta đã tạo ra mọi vật nầy!’”
ACT 7:51 Ê-tiên tiếp tục giảng thuyết: “Nầy dân ương ngạnh! Các ông không dâng lòng mình cho Thượng Đế, cũng không chịu nghe Ngài! Các ông luôn luôn chống lại lời dạy của Thánh Linh, giống y như tổ tiên các ông.
ACT 7:52 Tổ tiên các ông tìm cách giết hại tất cả các nhà tiên tri. Từ lâu các nhà tiên tri đó nói rằng có Đấng nhân đức sẽ đến, nhưng tổ tiên các ông giết họ. Bây giờ các ông lại chống nghịch và giết Đấng nhân đức ấy.
ACT 7:53 Các ông nhận luật pháp Mô-se mà Thượng Đế ban qua thiên sứ Ngài, nhưng các ông không thèm vâng giữ luật đó.”
ACT 7:54 Nghe thế các nhà lãnh đạo đùng đùng nổi giận, nghiến răng với Ê-tiên.
ACT 7:55 Nhưng Ê-tiên được đầy dẫy Thánh Linh. Ông nhìn lên trời thấy Chúa Giê-xu đứng bên phải Thượng Đế.
ACT 7:56 Ông nói, “Kìa, tôi thấy thiên đàng mở ra và Con Người đứng bên phải Thượng Đế.”
ACT 7:57 Họ liền la lớn, bịt lỗ tai lại và chạy ào tới Ê-tiên.
ACT 7:58 Họ kéo ông ra ngoài thành và ném đá cho chết. Những người làm chứng dối nghịch Ê-tiên giao áo họ cho một thanh niên tên Sau-lơ giữ.
ACT 7:59 Trong khi họ đang ném đá thì Ê-tiên cầu nguyện, “Lạy Chúa Giê-xu, xin tiếp linh hồn con.”
ACT 7:60 Ông quì gối xuống và kêu lớn, “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ.” Sau khi nói xong, Ê-tiên qua đời.
ACT 8:1 Sau-lơ đồng ý về việc giết Ê-tiên. Ngày ấy các nhóm tín hữu tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị những người Do-thái tàn hại. Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả tín hữu đều phải rời Giê-ru-sa-lem và phân tán khắp miền Giu-đia và Xa-ma-ri.
ACT 8:2 Có mấy người sùng đạo chôn cất Ê-tiên và than khóc ông.
ACT 8:3 Sau-lơ cũng tìm cách tiêu diệt hội thánh bằng cách đi lùng từng nhà, lôi cả đàn ông đàn bà ra và tống vào ngục.
ACT 8:4 Nhưng càng bị phân tán tới đâu thì các tín hữu càng rao truyền Tin Mừng tới đó.
ACT 8:5 Phi-líp đến thành Xa-ma-ri giảng về Chúa Cứu Thế.
ACT 8:6 Khi dân chúng nghe Phi-líp và nhìn thấy các phép lạ ông làm, thì họ lại càng chú ý thêm điều ông giảng.
ACT 8:7 Phi-líp đuổi quỉ ra khỏi nhiều người bị ám. Khi các ác quỉ bị đuổi ra thì chúng kêu lớn tiếng. Phi-líp cũng chữa lành nhiều người bại xuội và què quặt ở đó.
ACT 8:8 Cho nên dân cư ở thành ấy rất vui mừng.
ACT 8:9 Trong thành có một người tên Xi-môn. Trước khi Phi-líp đến, Xi-môn sống bằng nghề phù phép khiến nhiều người ở Xa-ma-ri rất thán phục. Anh ta tự khoe và tự cho mình là vĩ nhân.
ACT 8:10 Mọi người, từ giàu đến nghèo, đều nghe Xi-môn và bảo nhau rằng, “Ông nầy quả có một thứ quyền năng của Thượng Đế được gọi là ‘Đại Quyền’!”
ACT 8:11 Xi-môn dùng ma thuật gạt gẫm dân chúng quá lâu, đến nỗi có rất nhiều người tin theo.
ACT 8:12 Nhưng khi Phi-líp rao giảng Tin Mừng về Nước Trời và về quyền năng của Chúa Cứu Thế Giê-xu, thì nhiều người, cả nam lẫn nữ, tin Phi-líp và chịu lễ báp-têm.
ACT 8:13 Chính Xi-môn cũng tin, chịu lễ báp-têm và ở luôn với Phi-líp. Nhìn thấy các phép lạ và những việc quyền năng Phi-líp làm, Xi-môn rất thán phục.
ACT 8:14 Những sứ đồ còn ở lại Giê-ru-sa-lem nghe dân chúng tại Xa-ma-ri cũng đã tiếp nhận lời của Thượng Đế, nên họ cử Phia-rơ và Giăng xuống thăm.
ACT 8:15 Lúc đến nơi, Phia-rơ và Giăng cầu nguyện để các tín hữu Xa-ma-ri cũng nhận lãnh Thánh Linh.
ACT 8:16 Tuy các tín hữu đó đã nhân danh Chúa Giê-xu chịu lễ báp-têm nhưng Thánh Linh chưa ngự xuống trên người nào trong vòng họ cả.
ACT 8:17 Vì thế khi hai sứ đồ cầu nguyện và đặt tay thì tất cả đều nhận được Thánh Linh.
ACT 8:18 Xi-môn thấy hễ các sứ đồ đặt tay lên ai thì người ấy nhận Thánh Linh, liền lấy tiền đưa cho các sứ đồ và
ACT 8:19 nói rằng, “Xin cho tôi quyền ấy để hễ tôi đặt tay trên ai thì người đó nhận được Thánh Linh.”
ACT 8:20 Phia-rơ bảo Xi-môn, “Anh với tiền của anh hãy tiêu mất luôn đi, vì anh tưởng có thể mua ân tứ và quyền năng của Thượng Đế bằng tiền.
ACT 8:21 Anh không thể nào tham dự vào công tác nầy được, vì lòng anh không ngay thẳng trước mặt Thượng Đế.
ACT 8:22 Hãy ăn năn! Quay khỏi điều ác mà anh đã làm, cầu nguyện với Chúa. May ra Ngài sẽ tha thứ cho anh.
ACT 8:23 Tôi thấy anh đầy đố kỵ, cay đắng và đang bị tội lỗi kềm kẹp.”
ACT 8:24 Xi-môn đáp, “Xin hai ông hãy cầu nguyện Chúa cho tôi để những điều các ông vừa nói đó không xảy đến cho tôi.”
ACT 8:25 Sau khi Phia-rơ và Giăng dạy dân chúng về những điều họ thấy Chúa Giê-xu làm và rao giảng lời Ngài xong, thì hai người trở về Giê-ru-sa-lem. Trên đường về, họ ghé qua nhiều thị trấn Xa-ma-ri rao giảng Tin Mừng cho dân chúng.
ACT 8:26 Một thiên sứ của Chúa bảo Phi-líp, “Hãy lên đường đi về hướng nam theo con đường dẫn từ Giê-ru-sa-lem đến Ga-xa—con đường vắng vẻ.”
ACT 8:27 Phi-líp liền chuẩn bị đi. Trên đường, ông gặp một người Ê-thi-ô-bi, làm hoạn quan. Ông là một viên chức cao cấp, quản lý tiền bạc cho Can-đác, nữ hoàng Ê-thi-ô-bi. Ông vừa lên Giê-ru-sa-lem để thờ phụng.
ACT 8:28 Trên đường về, ông ngồi trên xe ngựa và đang đọc sách tiên tri Ê-sai.
ACT 8:29 Thánh Linh bảo Phi-líp, “Lại gần xe đó đi.”
ACT 8:30 Khi Phi-líp chạy đến gần xe, thì nghe ông ta đang đọc sách tiên tri Ê-sai. Phi-líp hỏi, “Ông có hiểu điều ông đọc không?”
ACT 8:31 Vị quan trả lời, “Nếu không ai giải nghĩa làm sao tôi hiểu được?” Rồi ông mời Phi-líp lên xe ngồi cạnh mình.
ACT 8:32 Khúc Thánh Kinh mà ông đang đọc như sau: “Người giống như con chiên bị dắt đi để giết. Người làm thinh như chiên con khi bị hớt lông; người không hề mở miệng.
ACT 8:33 Người bị sỉ nhục và bị ngược đãi. Người chết không con để nối dòng. Đời sống người trên đất đã chấm dứt.”
ACT 8:34 Vị quan ấy hỏi Phi-líp, “Xin cho tôi biết, nhà tiên tri đang nói về ai—về chính mình hay về người nào khác?”
ACT 8:35 Phi-líp liền giải thích, bắt đầu từ khúc Thánh Kinh ấy và giảng giải cho vị quan về Tin Mừng của Chúa Giê-xu.
ACT 8:36 Trong khi hai người đang đi đường, đến một nơi có nước. Vị quan bảo, “Ở đây có nước. Có gì cản trở tôi chịu lễ báp-têm không?”
ACT 8:37 
ACT 8:38 Ông liền cho dừng xe lại. Cả hai người đi xuống nước để Phi-líp làm báp-têm cho ông.
ACT 8:39 Khi hai người lên khỏi nước thì Thánh Linh của Chúa mang Phi-líp đi; vị quan không thấy ông nữa nhưng vẫn tiếp tục lên đường về nhà, lòng đầy vui mừng.
ACT 8:40 Còn Phi-líp thì người ta thấy ông nơi thành A-xốt, rao giảng Tin Mừng suốt các thành từ A-xốt cho đến Xê-xa-rê.
ACT 9:1 Ở Giê-ru-sa-lem, Sau-lơ vẫn đe dọa giết các tín hữu. Ông đi gặp thầy tế lễ tối cao,
ACT 9:2 xin thư giới thiệu gởi cho các hội đường ở thành Đa-mách để hễ tìm được người theo Đạo Chúa Cứu Thế, bất luận nam nữ, đều bắt giải về Giê-ru-sa-lem.
ACT 9:3 Cho nên Sau-lơ lên đường đi sang Đa-mách. Khi gần đến thành phố bỗng nhiên có ánh sáng chói lòa từ trời chiếu quanh ông.
ACT 9:4 Sau-lơ té xuống đất và nghe tiếng nói cùng mình rằng, “Sau-lơ, Sau-lơ! Tại sao ngươi tàn hại ta?”
ACT 9:5 Sau-lơ thưa, “Thưa Chúa, Ngài là ai?” Tiếng nói đáp lại, “Ta là Chúa Giê-xu, Đấng mà ngươi tàn hại.
ACT 9:6 Nhưng hãy đứng dậy đi vào thành. Ở đó sẽ có người bảo cho ngươi biết điều phải làm.”
ACT 9:7 Những bạn đồng hành với Sau-lơ đứng đó im thin thít. Họ nghe tiếng nói nhưng chẳng thấy ai.
ACT 9:8 Sau-lơ lồm cồm ngồi dậy, mắt mở nhưng không thấy đường. Cho nên những bạn đồng hành nắm tay dắt ông vào thành Đa-mách.
ACT 9:9 Suốt ba ngày, Sau-lơ chẳng nhìn thấy, cũng chẳng ăn uống gì.
ACT 9:10 Ở Đa-mách có một môn đệ Chúa Giê-xu tên A-na-nia. Chúa nói cùng ông trong một dị tượng rằng, “A-na-nia ơi!” Ông thưa, “Lạy Chúa, con đây.”
ACT 9:11 Chúa bảo, “Hãy dậy, đi đến Phố Thẳng tìm nhà Giu-đa và hỏi thăm một người tên Sau-lơ quê ở Tạt-xơ. Người hiện ở đó và đang cầu nguyện.
ACT 9:12 Trong dị tượng Sau-lơ đã thấy một người tên A-na-nia đến đặt tay trên mình để người thấy lại được.”
ACT 9:13 Nhưng A-na-nia thưa, “Lạy Chúa, người ta cho con hay rằng người nầy đã ngược đãi các con dân thánh của Ngài ở Giê-ru-sa-lem.
ACT 9:14 Bây giờ người đến Đa-mách đây với quyền của các giới trưởng tế để bắt hết những ai thờ phụng Ngài.”
ACT 9:15 Nhưng Chúa bảo A-na-nia, “Cứ đi! Ta đã chọn Sau-lơ làm một công tác quan trọng. Người sẽ rao giảng về ta cho những người không phải Do-thái, cho các vua và cho cả dân Ít-ra-en.
ACT 9:16 Ta sẽ cho người thấy sẽ phải khốn khổ vì danh ta.”
ACT 9:17 A-na-nia liền đi đến nhà Giu-đa. Ông đặt tay trên Sau-lơ và nói, “Anh Sau-lơ ơi, Chúa Giê-xu đã sai tôi đến. Ngài là Đấng anh đã gặp trên đường đến đây. Ngài sai tôi đến để anh được sáng mắt và nhận Thánh Linh.”
ACT 9:18 Lập tức có cái gì giống vảy cá rơi xuống khỏi mắt Sau-lơ, ông liền thấy được! Ông liền đứng dậy và chịu phép báp-têm.
ACT 9:19 Ăn xong, Sau-lơ thấy khoẻ lại. Sau-lơ ở lại với các môn đệ của Chúa tại Đa-mách vài ngày.
ACT 9:20 Sau đó ông rao giảng về Chúa Giê-xu trong các hội đường rằng, “Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế.”
ACT 9:21 Ai nghe ông cũng sửng sốt. Họ hỏi nhau, “Có phải đây là người ở Giê-ru-sa-lem xưa nay vẫn đang tìm cách tiêu diệt những ai tin đến danh ấy không? Ông ta đến đây để bắt những kẻ theo Chúa Giê-xu và giải về cho các giới trưởng tế.”
ACT 9:22 Nhưng Sau-lơ càng trở nên hùng hồn hơn nữa. Những bằng chứng ông đưa ra cho thấy Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế vững chắc đến nỗi các người Do-thái ở Đa-mách không bẻ bác được.
ACT 9:23 Sau nhiều ngày, có một số người Do-thái lập mưu giết Sau-lơ.
ACT 9:24 Họ canh gác cổng thành cả ngày lẫn đêm, nhưng Sau-lơ biết âm mưu đó.
ACT 9:25 Ban đêm các người đi theo Sau-lơ giúp ông thoát bằng cách cho ông ngồi trong thúng rồi thòng ông xuống qua một lỗ hổng trong vách thành.
ACT 9:26 Khi Sau-lơ trở về Giê-ru-sa-lem, thì ông tìm cách gia nhập nhóm các tín hữu nhưng ai cũng e ngại. Không ai tin ông ta là tín hữu thật.
ACT 9:27 Chỉ có Ba-na-ba tiếp nhận Sau-lơ và đưa ông ra giới thiệu với các sứ đồ. Ba-na-ba giải thích rằng, Sau-lơ đã thấy Chúa trên đường và Ngài đã phán với ông. Ba-na-ba cũng thuật lại Sau-lơ đã mạnh dạn rao giảng như thế nào về danh Chúa Giê-xu ở Đa-mách.
ACT 9:28 Vì thế Sau-lơ ở với các tín hữu, đi khắp nơi tại Giê-ru-sa-lem, mạnh bạo rao giảng về Chúa.
ACT 9:29 Ông thường tranh luận với các người Do-thái nói tiếng Hi-lạp, nhưng họ tìm cách giết ông.
ACT 9:30 Các tín hữu nghe vậy liền đưa Sau-lơ sang thành Xê-xa-rê và từ đó gởi ông về Tạt-xơ.
ACT 9:31 Hội thánh ở khắp miền Giu-đia, Ga-li-lê và Xa-ma-ri hưởng một thời kỳ hòa bình và nhờ Thánh Linh giúp đỡ càng trở nên vững mạnh. Nhóm các tín hữu càng ngày càng lớn mạnh vì trong cách ăn ở, họ tỏ ra kính sợ Chúa.
ACT 9:32 Trong khi đi viếng khắp vùng, Phia-rơ đến thăm các dân Chúa tại Lý-đa.
ACT 9:33 Ở đó ông gặp một người tên Ê-nê, bị tê bại liệt giường suốt tám năm trời.
ACT 9:34 Phia-rơ bảo ông, “Anh Ê-nê ơi, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chữa lành cho anh. Hãy đứng dậy dọn giường đi.” Ê-nê lập tức đứng dậy.
ACT 9:35 Mọi người ở Lý-đa và vùng đồng bằng Sa-rôn nhìn thấy việc đó đều trở lại tin nhận Chúa.
ACT 9:36 Trong thành Gióp-ba có một tín hữu tên Ta-bi-tha, tên Hi-lạp là Đô-ca. Chị luôn luôn làm việc nhân từ và phúc đức.
ACT 9:37 Trong khi Phia-rơ ở Lý-đa thì Ta-bi-tha bị bệnh và qua đời. Người ra tắm xác chị và đặt nằm trong một phòng trên gác.
ACT 9:38 Các tín hữu ở Gióp-ba nghe Phia-rơ đang có mặt ở Lý-đa và vì Lý-đa gần Gióp-ba nên họ sai hai người đi gặp Phia-rơ. Họ nài nỉ, “Xin ông làm ơn xuống với chúng tôi gấp!”
ACT 9:39 Phia-rơ liền đi với họ. Khi đến nơi, họ đưa ông lên phòng trên gác. Các người đàn bà góa đang ở trong phòng vây quanh Phia-rơ khóc nức nở. Họ cho Phia-rơ xem những áo xống Ta-bi-tha may khi còn sống.
ACT 9:40 Phia-rơ bảo mọi người ra ngoài rồi ông quì xuống cầu nguyện. Xong ông quay qua xác nói, “Chị Ta-bi-tha ơi, hãy đứng dậy.” Chị mở mắt, thấy Phia-rơ liền ngồi dậy.
ACT 9:41 Phia-rơ nắm tay chị đỡ dậy rồi ông gọi các thánh đồ và những người đàn bà góa vào phòng, chỉ cho thấy Ta-bi-tha sống rồi.
ACT 9:42 Mọi người ở Gióp-ba đều biết chuyện ấy và vì thế có nhiều người tin nhận Chúa.
ACT 9:43 Phia-rơ lưu lại Gióp-ba nhiều ngày, ở nhà Xi-môn, người làm nghề thuộc da.
ACT 10:1 Ở thành Xê-xa-rê có người tên Cọt-nây, làm sĩ quan của một trung đoàn Ý, thuộc quân đội La-mã.
ACT 10:2 Cọt-nây rất mộ đạo. Ông và mọi người trong nhà đều kính thờ Thượng Đế. Ông hay giúp tiền cho các người Do-thái nghèo và thường xuyên cầu nguyện với Thượng Đế.
ACT 10:3 Buổi xế chiều nọ khoảng ba giờ, Cọt-nây thấy một dị tượng. Một thiên sứ đến với ông và gọi, “Cọt-nây ơi!”
ACT 10:4 Cọt-nây nhìn chăm chăm thiên sứ. Ông đâm ra sợ và thưa, “Thưa ngài, ngài cần gì?” Thiên sứ bảo, “Thượng Đế đã nghe lời cầu nguyện của ông. Ngài đã thấy ông giúp đỡ người nghèo và Ngài nhớ tới ông.
ACT 10:5 Bây giờ hãy sai vài người xuống thành Gióp-ba rước một người tên Xi-môn, cũng gọi là Phia-rơ về đây.
ACT 10:6 Ông ấy hiện trọ tại nhà một người cũng tên Xi-môn, làm nghề thuộc da, gần biển.”
ACT 10:7 Sau khi thiên sứ nói chuyện với Cọt-nây đi rồi, thì ông gọi hai người đầy tớ và một người lính hầu cận cũng rất mộ đạo.
ACT 10:8 Cọt-nây giải thích mọi việc cho họ, rồi sai họ xuống Gióp-ba.
ACT 10:9 Trưa hôm sau khi họ gần đến thành Gióp-ba thì Phia-rơ đi lên mái nhà cầu nguyện.
ACT 10:10 Ông đói bụng thèm ăn, nhưng trong khi người ta đang làm thức ăn thì ông thấy một dị tượng.
ACT 10:11 Ông thấy trời mở ra và có vật gì giống như tấm khăn lớn hạ xuống đất nhưng treo bốn góc lên.
ACT 10:12 Trong đó gồm đủ loại thú vật, loài bò sát và chim chóc.
ACT 10:13 Rồi có tiếng bảo Phia-rơ, “Phia-rơ ơi, hãy ngồi dậy, giết chúng và ăn thịt đi.”
ACT 10:14 Nhưng Phia-rơ thưa, “Không được đâu, thưa Chúa! Tôi chưa hề bao giờ ăn vật gì không tinh sạch hoặc dơ dáy.”
ACT 10:15 Tiếng nói lại bảo ông lần nữa, “Thượng Đế đã làm cho sạch những thứ nầy rồi thì chớ gọi chúng là dơ bẩn!”
ACT 10:16 Câu ấy được lặp lại ba lần, rồi tấm khăn liền được kéo trở về trời.
ACT 10:17 Trong khi Phia-rơ đang suy nghĩ về ý nghĩa của dị tượng ấy, thì những người mà Cọt-nây sai đến đã tìm được nhà Xi-môn và đang đứng trước cửa.
ACT 10:18 Họ hỏi, “Ông Xi-môn Phia-rơ có ở đây không?”
ACT 10:19 Xi-môn vẫn mải suy nghĩ về dị tượng ấy thì Thánh Linh bảo, “Kìa có ba người đang tìm ngươi.
ACT 10:20 Hãy đứng dậy, xuống gặp họ, đừng ngần ngại vì chính ta sai họ đến tìm ngươi.”
ACT 10:21 Phia-rơ liền đi xuống gặp mấy người ấy và bảo, “Tôi là người mà các ông đang tìm. Các ông đến đây có việc gì?”
ACT 10:22 Họ đáp, “Có một thiên sứ thánh đã hiện ra cùng Cọt-nây, ông là sĩ quan và là một người đức hạnh, kính Chúa và được tiếng tốt với cả dân Do-thái. Thiên sứ bảo Cọt-nây mời ông xuống nhà ông ấy để nghe lời ông dạy.”
ACT 10:23 Phia-rơ liền mời họ vào nhà và nghỉ đêm ở đó. Hôm sau Phia-rơ lên đường đi với họ, có mấy anh em tín hữu ở Gióp-ba cùng đi chung.
ACT 10:24 Lúc họ đến Xê-xa-rê thì Cọt-nây đang chờ họ và đã tập họp đông đủ thân bằng quyến thuộc tại nhà.
ACT 10:25 Khi Phia-rơ bước vào, Cọt-nây ra đón và quì dưới chân Phia-rơ để bái lạy.
ACT 10:26 Nhưng Phia-rơ đỡ ông dậy, bảo “Xin hãy đứng dậy. Tôi cũng chỉ là người mà thôi.”
ACT 10:27 Lúc đang nói chuyện với Cọt-nây, Phia-rơ bước vào trong nhà thì thấy có đông người đang họp mặt.
ACT 10:28 Ông nói, “Các anh chị em biết là theo luật Do-thái thì người Do-thái không được phép giao tiếp hay viếng thăm người không phải Do-thái. Nhưng Thượng Đế đã cho tôi thấy là tôi chớ nên gọi người nào là ‘bất thánh’ hay ‘không sạch.’
ACT 10:29 Vì thế mà tôi chẳng chút e ngại khi được mời đến đây. Bây giờ xin cho tôi biết lý do gì quí vị mời tôi đến.”
ACT 10:30 Cọt-nây thưa, “Cách đây bốn hôm, cũng vào giờ nầy—khoảng ba giờ chiều—khi tôi đang cầu nguyện trong nhà, bỗng nhiên có một người mặc áo quần sáng chói đứng trước mặt tôi.
ACT 10:31 Người nói, ‘Cọt-nây ơi, Thượng Đế đã nghe lời cầu nguyện của ông và đã thấy ông giúp người nghèo, nên Ngài nhớ đến ông.
ACT 10:32 Cho nên hãy sai người xuống Gióp-ba mời Xi-môn Phia-rơ đến đây. Ông ta đang ở tại nhà của một người cũng tên Xi-môn, làm thợ thuộc da ở gần biển.’
ACT 10:33 Cho nên tôi liền mời ông đến, và ông đến là rất phải. Bây giờ tất cả chúng tôi ở trước mặt Chúa để nghe lời Ngài bảo ông truyền cho chúng tôi.”
ACT 10:34 Phia-rơ bắt đầu nói, “Bây giờ tôi hiểu rằng Thượng Đế đối với mọi người như nhau.
ACT 10:35 Bất kỳ nước nào, hễ ai thờ kính Ngài và làm điều phải thì Ngài chấp nhận.
ACT 10:36 Các anh chị em biết lời của Thượng Đế đã truyền cho dân Ít-ra-en. Tin Mừng ấy là sự hòa bình đến qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là Chúa của mọi người!
ACT 10:37 Anh chị em đã nghe những sự việc xảy ra khắp miền Giu-đia, bắt đầu từ Ga-li-lê sau khi Giăng rao giảng cho dân chúng về lễ báp-têm.
ACT 10:38 Anh chị em chắc biết về Chúa Giê-xu gốc Na-xa-rét, Ngài đã được Thượng Đế ban Thánh Linh và quyền năng. Ngài đi khắp nơi làm việc phúc đức, chữa lành những kẻ bị ma quỉ thống trị vì Thượng Đế ở cùng Ngài.
ACT 10:39 Chúng tôi được thấy những điều Ngài đã làm ở Giu-đia và Giê-ru-sa-lem, nhưng những người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem đã giết Ngài và đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
ACT 10:40 Tuy nhiên đến ngày thứ ba, Thượng Đế khiến Chúa Giê-xu sống lại và hiện ra,
ACT 10:41 không phải cho mọi người nhưng chỉ cho một số nhân chứng mà Thượng Đế đã chọn trước. Chúng tôi là những nhân chứng ấy, đã từng ăn uống với Ngài sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết.
ACT 10:42 Ngài bảo chúng tôi rao giảng cho tất cả mọi người Do-thái biết rằng Chúa là Đấng mà Thượng Đế đã chọn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết.
ACT 10:43 Tất cả các nhà tiên tri đều đã làm chứng điều nầy là hễ ai tin nhận Chúa Giê-xu thì sẽ được tha tội trong danh Ngài.”
ACT 10:44 Trong khi Phia-rơ nói như thế thì Thánh Linh ngự xuống trên mọi người đang nghe.
ACT 10:45 Những người Do-thái cùng đi với Phia-rơ lấy làm ngạc nhiên khi thấy Thánh Linh ngự trên những người không phải Do-thái nữa.
ACT 10:46 Các tín hữu Do-thái ấy nghe họ nói các ngôn ngữ khác và ca ngợi Thượng Đế. Phia-rơ tiếp,
ACT 10:47 “Có ai ngăn trở những người nầy làm lễ báp-têm bằng nước không? Họ cũng đã được nhận Thánh Linh giống như chúng ta vậy!”
ACT 10:48 Cho nên Phia-rơ bảo họ làm lễ báp-têm nhân danh Chúa Giê-xu. Sau đó họ mời Phia-rơ ở lại với họ thêm vài ngày.
ACT 11:1 Các sứ đồ và các tín hữu ở Giu-đia nghe rằng một số người không phải Do-thái cũng đã tiếp nhận lời dạy của Thượng Đế.
ACT 11:2 Nhưng lúc Phia-rơ trở về Giê-ru-sa-lem thì một số tín hữu Do-thái phản đối ông.
ACT 11:3 Họ bảo, “Anh đi vào nhà mấy người không chịu cắt dương bì mà ăn uống với họ!”
ACT 11:4 Vì thế Phia-rơ giải thích đầu đuôi câu chuyện cho họ biết.
ACT 11:5 Ông kể, “Tôi đang cầu nguyện ở Gióp-ba và thì thấy một dị tượng. Tôi thấy có vật gì giống như tấm khăn lớn thòng xuống từ trời, treo bốn góc lên. Khăn ấy tiến đến gần sát tôi.
ACT 11:6 Tôi nhìn vào trong thì thấy súc vật, muông thú, loài bò sát và chim chóc.
ACT 11:7 Tôi nghe tiếng bảo tôi rằng, ‘Phia-rơ, hãy ngồi dậy giết chúng và ăn đi.’
ACT 11:8 Nhưng tôi đáp, ‘Không được đâu, thưa Chúa! Tôi chưa hề bao giờ ăn thứ gì dơ dáy hay không sạch.’
ACT 11:9 Nhưng tiếng từ trời lặp lại lần nữa, ‘Thượng Đế đã làm sạch những thứ nầy rồi, ông chớ nên gọi chúng là không sạch.’
ACT 11:10 Lời đó lặp lại ba lần như thế, rồi tất cả liền được rút lên trời.
ACT 11:11 Ngay lúc ấy có ba người từ Xê-xa-rê được sai đến nhà tôi đang trọ.
ACT 11:12 Thánh Linh bảo tôi cứ đi với họ đừng ngờ vực gì. Sáu anh em tín hữu có mặt đây cùng đi với tôi. Chúng tôi vào nhà Cọt-nây.
ACT 11:13 Ông thuật cho chúng tôi nghe về thiên sứ mà ông thấy đứng trong nhà ông. Thiên sứ bảo, ‘Hãy sai mấy người xuống Gióp-ba mời Xi-môn Phia-rơ về đây.
ACT 11:14 Nhờ lời chỉ dạy của ông ấy, ngươi và cả gia đình đều sẽ được cứu.’
ACT 11:15 Khi tôi bắt đầu giảng giải thì Thánh Linh ngự xuống trên họ như đã ngự xuống trên chúng ta lúc đầu.
ACT 11:16 Rồi tôi sực nhớ lại lời Chúa Giê-xu phán, ‘Giăng làm lễ báp-têm cho các ngươi bằng nước nhưng các ngươi sẽ nhận được lễ báp-têm bằng Thánh Linh.’
ACT 11:17 Nếu Thượng Đế đã cho họ cùng một ân tứ như Ngài đã ban cho chúng ta là những người tin Chúa Cứu Thế Giê-xu thì tôi là ai mà dám ngăn trở công việc Ngài?”
ACT 11:18 Sau khi các tín hữu Do-thái nghe vậy thì họ thôi không gây gổ nữa. Họ ca ngợi Thượng Đế rằng, “Như thế là Thượng Đế cũng cho phép những người không phải Do-thái trở về cùng Ngài để được cứu nữa.”
ACT 11:19 Nhiều tín hữu tản lạc lúc bị tàn hại sau khi Ê-tiên bị giết. Một số chạy đến các nơi xa như Phê-ni-xi, Chíp, và An-ti-ốt, giảng Tin Mừng cho nhiều người, nhưng chỉ giảng cho người Do-thái mà thôi.
ACT 11:20 Có một số tín hữu quê quán ở Chíp và Xy-ren. Khi đến An-ti-ốt họ cũng giảng cho người Hi-lạp, rao truyền Tin Mừng về Chúa Giê-xu.
ACT 11:21 Quyền năng Chúa ở cùng các tín hữu ấy nên có rất đông người tin nhận và quay về cùng Ngài.
ACT 11:22 Hội thánh Giê-ru-sa-lem nghe tin ấy liền phái Ba-na-ba xuống An-ti-ốt.
ACT 11:23 Ba-na-ba là người đạo đức, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Lúc đến An-ti-ốt ông vui mừng vì thấy Thượng Đế đã ban phúc lành cho nhiều người. Ông khuyên các tín hữu ở An-ti-ốt luôn luôn hết lòng vâng phục Chúa. Nhiều người tiếp nhận Ngài.
ACT 11:25 Sau đó Ba-na-ba đi đến Tạt-xơ để tìm Sau-lơ.
ACT 11:26 Sau khi tìm được rồi thì đưa ông về An-ti-ốt. Trọn năm, Sau-lơ và Ba-na-ba gặp gỡ hội thánh và dạy dỗ nhiều người ở đó. Tại An-ti-ốt, lần đầu tiên các tín hữu được gọi là Cơ-đốc-nhân.
ACT 11:27 Trong khoảng thời gian ấy có mấy nhà tiên tri từ Giê-ru-sa-lem đến An-ti-ốt.
ACT 11:28 Một trong những người ấy tên A-ga-bút, được cảm Thánh Linh, đứng lên nói tiên tri rằng, “Sẽ có nạn đói kém trên khắp đất.” Biến cố nầy xảy ra trong đời hoàng đế Lau-đia.
ACT 11:29 Các tín hữu quyết định giúp đỡ anh chị em tín hữu ở Giu-đia, được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
ACT 11:30 Họ quyên góp tiền trợ giúp rồi trao cho Ba-na-ba và Sau-lơ để mang về cho các trưởng lão ở Giu-đia.
ACT 12:1 Cũng trong thời gian ấy vua Hê-rốt bắt đầu ngược đãi một số người trong hội thánh.
ACT 12:2 Vua ra lệnh chém Gia-cơ, là anh của Giăng.
ACT 12:3 Thấy người Do-thái bằng lòng về việc ấy nên ông cho bắt luôn Phia-rơ. Việc xảy ra trong thời gian lễ Bánh Không Men.
ACT 12:4 Sau khi bắt Phia-rơ, vua nhốt ông trong ngục và giao cho mười sáu tên lính canh giữ. Hê-rốt dự định sau lễ Vượt Qua sẽ mang Phia-rơ ra xét xử và giết trước nhân dân.
ACT 12:5 Phia-rơ bị giam trong ngục nhưng hội thánh vẫn hết lòng cầu nguyện Chúa cho ông.
ACT 12:6 Đêm trước khi Hê-rốt định mang Phia-rơ ra xử tử, ông đang ngủ giữa hai tên lính và bị xiềng bằng hai cái xích. Còn mấy tên lính kia thì canh giữ cổng ngục.
ACT 12:7 Bỗng một thiên sứ của Chúa hiện ra, ánh sáng chói lòa trong ngục tối. Thiên sứ đụng vào hông Phia-rơ, đánh thức ông dậy. Thiên sứ bảo, “Đứng dậy nhanh lên!” Xiềng liền rớt ra khỏi tay Phia-rơ.
ACT 12:8 Rồi thiên sứ tiếp, “Mặc áo quần và mang giày vào.” Phia-rơ làm theo. Thiên sứ tiếp, “Khoác áo ngoài và theo ta.”
ACT 12:9 Phia-rơ đi theo thiên sứ ra, nhưng vẫn không hiểu điều thiên sứ làm là thật hay mơ.
ACT 12:10 Khi họ qua toán lính gác thứ nhất và thứ nhì thì đến cổng sắt phân cách họ với thành phố. Cổng sắt tự động mở rồi hai người đi qua. Ra đến phố thì thiên sứ liền rời Phia-rơ.
ACT 12:11 Lúc ấy Phia-rơ mới sực tỉnh và nhận ra mọi việc. Ông nghĩ, “Bây giờ tôi biết quả thật Chúa sai thiên sứ Ngài đến và giải cứu tôi khỏi tay Hê-rốt và những gì người Do-thái định hại tôi.”
ACT 12:12 Nghĩ như thế xong, ông liền đi đến nhà Ma-ri, mẹ của Giăng Mác. Có đông người đang họp lại để cầu nguyện tại đó.
ACT 12:13 Phia-rơ gõ cửa ngoài thì một người tớ gái tên Rô-đa ra định mở.
ACT 12:14 Nhưng khi nhận ra tiếng Phia-rơ, cô mừng quá nên quên mở cửa. Cô vội chạy vào báo tin cho mọi người rằng, “Ông Phia-rơ đang đứng ngoài cửa!”
ACT 12:15 Họ bảo, “Mầy điên!” Nhưng cô nhất quyết là đúng, nên họ nói, “Chắc là thiên sứ của Phia-rơ đó.”
ACT 12:16 Phia-rơ tiếp tục gõ, khi họ mở cửa, thấy ông ai nấy đều sửng sốt.
ACT 12:17 Phia-rơ ra hiệu bảo họ im lặng. Rồi ông kể lại cho họ nghe Chúa đã giải thoát ông khỏi ngục ra sao. Ông bảo, “Báo cho Gia-cơ và các tín hữu khác biết tin nầy.” Rồi ông bước sang nơi khác.
ACT 12:18 Hôm sau bọn lính hoang mang vì không biết Phia-rơ đi đâu.
ACT 12:19 Vua Hê-rốt tìm Phia-rơ khắp nơi nhưng không thấy. Vua hạch hỏi bọn lính và ra lệnh giết chúng nó. Sau đó Hê-rốt dọn từ Giu-đia đến thành Xê-xa-rê cư ngụ.
ACT 12:20 Hê-rốt rất tức giận dân hai thành Tia và Xi-đôn vì họ cùng nhau đến gặp Hê-rốt. Sau khi thuyết phục Bờ-la-tu, đầy tớ của vua về phe họ thì họ xin hòa với Hê-rốt vì dân xứ đó sống nhờ lương thực của nước vua Hê-rốt.
ACT 12:21 Hê-rốt định gặp họ, cho nên một ngày nọ vua mặc áo triều, ngự trên ngôi và đăng đàn diễn thuyết cho quần chúng.
ACT 12:22 Dân chúng la lên, “Đó là tiếng nói của thần chứ không phải của con người đâu!”
ACT 12:23 Vì Hê-rốt không dành vinh hiển cho Thượng Đế nên một thiên sứ Chúa khiến ông ta lâm bệnh, ông bị vi trùng hành hại rồi chết.
ACT 12:24 Lời của Chúa càng ngày càng lan rộng ra đến nhiều người.
ACT 12:25 Sau khi Ba-na-ba và Sau-lơ làm xong công tác ở Giê-ru-sa-lem, thì trở về An-ti-ốt, có đem Mác theo.
ACT 13:1 Tại hội thánh An-ti-ốt có các nhà tiên tri và giáo sư sau đây: Ba-na-ba, Xi-mê-ôn cũng gọi là Ni-gie, Lu-xi-u quê ở Xy-ren, Ma-na-en là người cùng lớn lên với vua Hê-rốt và Sau-lơ.
ACT 13:2 Mọi người đều thờ kính Chúa và cữ ăn một thời gian. Lúc ấy Thánh Linh bảo họ, “Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho công tác đặc biệt mà ta đã giao cho họ làm.”
ACT 13:3 Vì thế sau khi cữ ăn và cầu nguyện thì họ đặt tay trên Ba-na-ba và Phao-lô rồi cử hai người đi.
ACT 13:4 Ba-na-ba và Sau-lơ được Thánh Linh sai đi, đến thành Xê-lêu-xia. Từ đó họ đáp thuyền qua đảo Chíp.
ACT 13:5 Đến Xa-la-mi họ rao giảng Tin Mừng của Thượng Đế trong các hội đường Do-thái. Giăng Mác cùng đi để giúp đỡ họ.
ACT 13:6 Họ đi qua suốt đảo Ba-phô và gặp một thuật sĩ Do-thái tên Ba-Giê-xu. Hắn là một tiên tri giả
ACT 13:7 lúc nào cũng ở cạnh Xẹt-gu Phao-lúc, quan tổng đốc và là người rất khôn ngoan. Ông mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến vì ông muốn nghe lời Chúa.
ACT 13:8 Nhưng Ê-ly-ma, tay thuật sĩ, nhất định chống đối. (Ê-ly-ma là tên Ba-Giê-xu trong tiếng Hi-lạp.) Hắn tìm cách ngăn cản không cho quan tổng đốc tin theo Chúa Giê-xu.
ACT 13:9 Nhưng Sau-lơ, cũng gọi là Phao-lô, đầy dẫy Thánh Linh, nhìn thẳng vào Ê-ly-ma
ACT 13:10 và quở, “Nầy con của ma quỉ! Anh chống nghịch điều lành! Anh đầy dẫy mưu mô xảo trá, lúc nào cũng tìm cách biến sự thật Chúa thành những điều dối gạt.
ACT 13:11 Giờ đây Chúa sẽ đụng đến anh, anh sẽ bị mù, không thấy gì cả trong một thời gian—đến nỗi không thấy được ánh sáng mặt trời nữa.” Bỗng nhiên, Ê-ly-ma thấy mọi vật tối sầm lại, hắn mò mẫm chung quanh tìm người dắt tay mình.
ACT 13:12 Quan tổng đốc thấy thế liền tin nhận Chúa vì ông sững sờ về sự dạy dỗ của Ngài.
ACT 13:13 Phao-lô và những bạn đồng hành đáp thuyền từ Ba-phô đến Bẹt-ga, thuộc miền Băm-phi-ly. Đến đó Giăng Mác bỏ họ và trở về lại Giê-ru-sa-lem.
ACT 13:14 Họ tiếp tục cuộc hành trình từ Bẹt-ga đến An-ti-ốt, một thành phố miền Bi-xi-đi. Vào ngày Sa-bát họ vào hội đường ngồi.
ACT 13:15 Sau khi người ta đọc xong luật Mô-se và các lời tiên tri thì các vị lãnh đạo hội đường hỏi Phao-lô và Ba-na-ba, “Nếu các ông có điều gì để khích lệ mọi người thì xin cứ nói đi.”
ACT 13:16 Phao-lô đứng dậy, giơ tay lên nói, “Thưa các anh chị em Ít-ra-en và những người thờ kính Thượng Đế, xin nghe đây!
ACT 13:17 Thượng Đế của Ít-ra-en đã chọn các tổ tiên chúng ta. Ngài khiến cho dân ta thành một dân lớn trong thời gian họ cư ngụ ở Ai-cập. Ngài đem họ ra khỏi nước ấy bằng quyền năng lớn lao của Ngài.
ACT 13:18 Ngài chịu đựng họ suốt bốn mươi năm trong sa mạc.
ACT 13:19 Thượng Đế tiêu diệt bảy dân tộc trong đất Ca-na-an rồi trao lãnh thổ ấy cho dân tộc của Ngài.
ACT 13:20 Các việc ấy diễn ra trong vòng bốn trăm năm mươi năm. Sau đó, Thượng Đế cho họ các quan án cho đến đời nhà tiên tri Sa-mu-ên.
ACT 13:21 Lúc dân chúng xin một vua, thì Ngài cho họ Sau-lơ, con của Kích. Sau-lơ thuộc chi tộc Bên-gia-min. Ông làm vua trong bốn mươi năm.
ACT 13:22 Sau khi phế bỏ ông, Thượng Đế chọn Đa-vít làm vua họ. Ngài nói về Đa-vít như sau, ‘Ta đã tìm được trong Đa-vít, con của Giê-xê, một mẫu người mà ta muốn. Người sẽ làm theo ý ta.’
ACT 13:23 Thượng Đế đã đưa Chúa Giê-xu, một người thuộc dòng dõi Đa-vít, đến cho dân Ít-ra-en để làm Cứu Chúa của họ đúng như Ngài đã hứa.
ACT 13:24 Trước khi Chúa Giê-xu đến, Giăng giảng lễ báp-têm về sự ăn năn cho toàn dân Ít-ra-en.
ACT 13:25 Sau khi làm xong công tác, Giăng nói, ‘Các ông bà nghĩ tôi là ai? Tôi không phải là Chúa Cứu Thế. Ngài sẽ đến sau, còn tôi không xứng đáng cởi dép cho Ngài.’
ACT 13:26 Thưa các anh chị em là con cháu của gia đình Áp-ra-ham và những người không phải Do-thái đang thờ phụng Thượng Đế, xin nghe đây! Tin Mừng về sự cứu rỗi nầy đã đến với chúng ta.
ACT 13:27 Dân chúng Giê-ru-sa-lem và các nhà lãnh đạo không nhận biết Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Họ không hiểu lời các nhà tiên tri mà họ nghe đọc mỗi ngày Sa-bát. Nhưng khi họ kết tội Chúa Giê-xu, thì vô tình họ đã thực hiện các lời tiên tri.
ACT 13:28 Mặc dù họ không tìm được lý do chính đáng nào để xử tử Chúa Giê-xu nhưng vẫn đòi Phi-lát giết Ngài.
ACT 13:29 Khi đã thực hiện xong tất cả những gì Thánh Kinh viết thì họ đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự và chôn trong mộ.
ACT 13:30 Nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết!
ACT 13:31 Sau đó, những người đã từng theo Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem nhìn thấy Chúa trong nhiều ngày. Hiện nay họ là những nhân chứng trước mặt dân chúng.
ACT 13:32 Chúng tôi thuật cho anh chị em Tin Mừng về lời mà Thượng Đế hứa cùng các tổ tiên chúng ta.
ACT 13:33 Thượng Đế đã làm thành lời hứa ấy cho chúng ta là con cái Ngài bằng cách khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết. Chúng ta đọc trong sách Thi thiên chương 2 như sau: ‘Ngươi là Con ta. Ngày nay ta sinh ngươi.’
ACT 13:34 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết, Ngài sẽ không trở lại mồ mả để thành tro bụi nữa. Ngài phán: ‘Ta sẽ cho ngươi những ân phúc thánh và vững chắc mà ta đã hứa cùng Đa-vít.’
ACT 13:35 Còn trong một chỗ khác, Thượng Đế phán: ‘Ngài không để Đấng Thánh của Ngài bị mục nát.’
ACT 13:36 Trọn đời sống Đa-vít làm theo ý Chúa. Khi chết ông được chôn bên cạnh các tổ tiên, thân xác ông bị mục nát trong mồ mả.
ACT 13:37 Nhưng Đấng mà Thượng Đế khiến sống lại từ kẻ chết không bị mục nát trong mồ mả.
ACT 13:38 Thưa anh chị em, anh chị em phải hiểu điều chúng tôi nói: Anh chị em có thể được tha tội qua Chúa Giê-xu. Luật pháp Mô-se không thể giải thoát anh chị em khỏi tội. Nhưng hễ ai tin thì đều được giải thoát khỏi tội lỗi qua Chúa Giê-xu.
ACT 13:40 Phải cẩn thận! Đừng để những gì các nhà tiên tri đã cảnh cáo xảy đến cho mình:
ACT 13:41 ‘Hỡi dân hay nghi ngờ, hãy nghe đây! Ngươi có thể sững sờ, rồi qua đời. Trong đời ngươi, ta sẽ làm một việc mà ngươi sẽ không chịu tin dù cho có người thuật lại cho ngươi!’”
ACT 13:42 Lúc Phao-lô và Ba-na-ba rời hội đường thì dân chúng yêu cầu hai ông đến ngày Sa-bát sau giảng thêm cho họ nghe nữa.
ACT 13:43 Nhóm họp xong, nhiều người Do-thái và những người mới theo đạo Do-thái và thờ kính Thượng Đế, từ hội đường đi theo Phao-lô và Ba-na-ba. Hai người khuyên họ cứ vững tin nơi ân phúc của Thượng Đế.
ACT 13:44 Ngày Sa-bát sau, hầu hết dân chúng trong thành phố đều đến nghe lời Chúa.
ACT 13:45 Thấy dân chúng đến đông, những người Do-thái đâm ra đố kỵ, thốt lên những lời nhục mạ và cãi vã lại những điều Phao-lô nói.
ACT 13:46 Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba nói rất mạnh dạn rằng, “Chúng tôi đã rao truyền lời của Thượng Đế cho các ông trước. Nhưng vì các ông không chịu nghe, tự cho mình không đáng nhận sự sống đời đời, cho nên chúng tôi mới quay sang các dân tộc khác.
ACT 13:47 Đó chính là điều Chúa dặn chúng tôi, ‘Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng cho các dân; ngươi sẽ chỉ cho mọi dân trên thế giới con đường cứu rỗi.’”
ACT 13:48 Những người không phải Do-thái nghe Phao-lô nói thế rất vui mừng và càng ham chuộng lời của Chúa. Những ai đã được lựa chọn để nhận sự sống đời đời đều tin lời ấy.
ACT 13:49 Lời Chúa được lan truyền ra khắp xứ.
ACT 13:50 Nhưng người Do-thái xúi giục một số các phụ nữ mộ đạo có uy tín và các giới lãnh đạo trong thành phố. Họ gây rối chống lại Phao-lô, Ba-na-ba và trục xuất hai người ra khỏi vùng ấy.
ACT 13:51 Vì thế Phao-lô và Ba-na-ba phủi bụi khỏi chân mình rồi đi sang Y-cô-ni.
ACT 13:52 Còn các tín hữu hết sức vui mừng và đầy Thánh Linh.
ACT 14:1 Ở Y-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba vào hội đường theo thông lệ. Họ giảng hùng hồn đến nỗi có nhiều người Do-thái và Hi-lạp tin theo.
ACT 14:2 Nhưng một số người Do-thái không chịu tin và xúi giục những người không phải Do-thái chống lại các tín hữu.
ACT 14:3 Phao-lô và Ba-na-ba ở lại Y-cô-ni khá lâu, mạnh dạn rao giảng cho Chúa. Ngài cho thấy lời dạy về ân phúc của Ngài là thật, bằng cách cho họ quyền làm nhiều phép lạ và dấu kỳ.
ACT 14:4 Nhưng trong thành chia phe ra. Một số theo người Do-thái, một số khác tin theo các sứ đồ.
ACT 14:5 Một số người không phải Do-thái và một số người Do-thái họp lại cùng với các giới cầm quyền định ngược đãi Phao-lô và Ba-na-ba bằng cách ném đá giết họ.
ACT 14:6 Hai ông nghe tin ấy liền trốn qua Lý-trà và Đẹt-bơ, hai thành phố miền Ly-cao-ni và các vùng chung quanh.
ACT 14:7 Ở đó họ cũng rao giảng Tin Mừng.
ACT 14:8 Tại Lý-trà có một người bị bại liệt từ lúc mới sinh, chưa bao giờ đi được.
ACT 14:9 Anh nghe Phao-lô giảng, Phao-lô nhìn anh chăm chú và thấy rằng Thượng Đế có thể chữa lành được.
ACT 14:10 Nên Phao-lô kêu lớn, “Hãy đứng lên!” Anh nhảy đứng lên và bắt đầu bước đi.
ACT 14:11 Quần chúng thấy phép lạ Phao-lô làm thì kêu lớn bằng tiếng Ly-cao-ni rằng, “Các thần đã trở thành người và ở giữa chúng ta!”
ACT 14:12 Thế là dân chúng bắt đầu gọi Ba-na-ba là Thần mộc, còn Phao-lô là Thần hỏa vì ông là diễn giả chính.
ACT 14:13 Thầy tế lễ trong đền thờ Thần mộc, gần thành phố, đem vài con bò đực và bông hoa đến cửa thành. Ông và dân chúng muốn dâng một sinh tế cho Phao-lô và Ba-na-ba.
ACT 14:14 Khi hai sứ đồ Ba-na-ba và Phao-lô nghe thế liền xé áo mình chạy đến giữa đám dân chúng la lớn,
ACT 14:15 “Các bạn làm gì vậy? Chúng tôi cũng chỉ là người như các bạn thôi. Chúng tôi mang Tin Mừng và khuyên anh chị em từ bỏ những thứ vô dụng nầy mà quay về cùng Thượng Đế hằng sống. Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó.
ACT 14:16 Trước kia Ngài để mặc cho các dân muốn làm gì thì làm.
ACT 14:17 Nhưng Ngài chứng minh rằng mình có thật bằng cách tỏ ra lòng nhân từ, cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, thực phẩm dồi dào và khiến lòng anh chị em đầy vui mừng.”
ACT 14:18 Dù nói như thế, hai người cũng chỉ đủ sức cản không cho quần chúng dâng của lễ cho mình.
ACT 14:19 Sau đó có mấy người Do-thái từ An-ti-ốt và Y-cô-ni xuống xúi giục dân chúng chống lại Phao-lô. Chúng ném đá Phao-lô, lôi ông ra ngoài thành, tưởng đã giết ông xong rồi.
ACT 14:20 Nhưng lúc các tín hữu nhóm lại quanh ông, Phao-lô vùng đứng dậy và đi vào thành. Hôm sau, ông và Ba-na-ba rời đó đi qua thành Đẹt-bơ.
ACT 14:21 Ở Đẹt-bơ, Phao-lô và Ba-na-ba giảng Tin Mừng, có nhiều người tin theo. Rồi Phao-lô và Ba-na-ba trở về Lý-trà, Y-cô-ni và An-ti-ốt,
ACT 14:22 khích lệ các tín hữu của Chúa Giê-xu thêm vững mạnh trong đức tin. Hai sứ đồ cảnh cáo, “Chúng ta còn phải qua nhiều gian khổ mới được vào Nước Trời.”
ACT 14:23 Cứ mỗi hội thánh họ chọn các trưởng lão, cầu nguyện và cữ ăn trong một thời gian. Các trưởng lão ấy đã tin cậy Thượng Đế, nên Phao-lô và Ba-na-ba giao phó họ cho Chúa chăm nom.
ACT 14:24 Rồi hai ông ghé thăm miền Bi-xi-đi và đến miền Băm-phi-li.
ACT 14:25 Sau khi đã giảng ở Bẹt-găm thì hai người đi xuống Át-ta-lia.
ACT 14:26 Từ đó họ đi thuyền qua An-ti-ốt xứ Xy-ri, nơi các tín hữu đã giao phó họ trong tay Chúa và cử họ đi ra lo công việc Ngài. Nay họ đã làm xong công tác ấy.
ACT 14:27 Khi trở về An-ti-ốt, Phao-lô và Ba-na-ba mời hội thánh nhóm họp lại. Họ thuật cho cả hội thánh nghe những gì Thượng Đế đã làm qua họ và Ngài khiến cho những người không phải Do-thái cũng tin Ngài ra sao.
ACT 14:28 Hai người ở lại đó khá lâu với các tín hữu.
ACT 15:1 Có mấy người từ Giu-đia đến An-ti-ốt dạy các tín hữu không phải người Do-thái rằng, “Các anh không thể nào được cứu, nếu không chịu cắt dương bì như Mô-se dạy chúng tôi.”
ACT 15:2 Phao-lô và Ba-na-ba nhất quyết chống đối sự dạy dỗ ấy và tranh luận với họ. Cho nên hội thánh quyết định phái Phao-lô, Ba-na-ba và một số người khác xuống Giê-ru-sa-lem để thảo luận về vấn đề nầy với các sứ đồ và trưởng lão.
ACT 15:3 Hội thánh giúp đỡ họ trong chuyến đi. Họ đi qua xứ Phê-ni-xi và Xa-ma-ri, thuật cho mọi người biết những người không phải Do-thái đã trở lại với Thượng Đế ra sao. Các tín hữu rất vui mừng.
ACT 15:4 Khi đến Giê-ru-sa-lem, họ được các sứ đồ, các trưởng lão, và hội thánh tiếp đón. Phao-lô, Ba-na-ba và mấy người khác thuật lại hết mọi điều Thượng Đế đã làm qua họ.
ACT 15:5 Tuy nhiên một số tín hữu trước kia thuộc phái Pha-ri-xi đứng lên nói rằng, “Những người không phải Do-thái cũng phải chịu phép cắt dương bì. Họ phải được dạy tuân giữ luật pháp Mô-se.”
ACT 15:6 Các sứ đồ và các trưởng lão liền họp lại để cứu xét vấn đề nầy.
ACT 15:7 Sau khi tranh luận khá lâu, Phia-rơ đứng lên nói với họ, “Thưa anh em, anh em biết là lúc đầu tiên Thượng Đế chọn lựa tôi giữa vòng anh em, để rao Tin Mừng cho những người không phải Do-thái. Họ nghe Tin Mừng từ tôi và tin nhận.
ACT 15:8 Thượng Đế, Đấng biết rõ tâm tư mỗi người, đã tiếp nhận họ. Ngài cho chúng ta thấy điều ấy qua việc Ngài ban Thánh Linh cho họ cũng như đã ban cho chúng ta.
ACT 15:9 Trước mặt Thượng Đế, họ không khác gì chúng ta. Lúc họ tin thì Ngài khiến lòng họ tinh sạch.
ACT 15:10 Vậy thì tại sao các anh em muốn thách thức Chúa bằng cách tròng một ách nặng vào cổ của những người không phải Do-thái? Ách đó chính chúng ta và các tổ tiên chúng ta cũng không mang nổi.
ACT 15:11 Nhưng chúng tôi tin rằng cả chúng ta lẫn họ đều được cứu qua ân phúc của Chúa Giê-xu.”
ACT 15:12 Mọi người đều yên lặng. Họ lắng nghe Phao-lô và Ba-na-ba thuật lại những phép lạ và dấu kỳ Thượng Đế đã làm qua hai ông cho những người không phải Do-thái.
ACT 15:13 Sau khi hai sứ đồ nói xong thì Gia-cơ lên tiếng, “Thưa các anh em, xin hãy nghe tôi.
ACT 15:14 Anh Xi-môn đã cho chúng ta thấy Thượng Đế tỏ tình yêu thương của Ngài cho những người không phải Do-thái ra sao. Lần đầu tiên Ngài chấp nhận họ làm dân Ngài.
ACT 15:15 Lời của các nhà tiên tri cũng xác nhận:
ACT 15:16 ‘Sau các việc ấy ta sẽ trở lại. Nước Đa-vít giống như lều bị sập. Nhưng ta sẽ xây dựng lại từ chốn điêu tàn, Ta sẽ dựng nước lại.
ACT 15:17 Rồi mọi dân còn sống sót sẽ kêu xin Chúa cứu giúp, và các dân tộc khác thuộc về ta, Ta là Đấng làm hoàn thành điều ấy.’
ACT 15:18 ‘Những điều nầy đã được biết đến từ đầu.’
ACT 15:19 Cho nên tôi nghĩ chúng ta không nên gây khó khăn cho các người không phải Do-thái muốn quay về với Thượng Đế.
ACT 15:20 Nhưng chúng ta nên viết một lá thư cho họ dặn dò những điều sau: Đừng dùng thức ăn đã cúng cho thần tượng, đồ cúng là đồ không thánh sạch. Tránh mọi hình thức dâm dục. Đừng ăn thú vật chết ngột và đừng ăn huyết.
ACT 15:21 Họ nên tuân giữ những điều ấy vì từ lâu luật Mô-se đã được dạy dỗ ở mỗi thành phố. Và ngày nay luật nầy vẫn được còn đọc ở hội đường vào mỗi ngày Sa-bát.”
ACT 15:22 Các sứ đồ, các trưởng lão và toàn thể hội thánh quyết định gởi một số người trong vòng họ đi cùng với Phao-lô và Ba-na-ba đến An-ti-ốt. Họ chọn Giu-đa Ba-sa-ba và Xi-la, là những người được các tín hữu kính nể.
ACT 15:23 Các vị ấy gởi bức thư sau đây nhờ họ mang theo: Các sứ đồ và trưởng lão, anh em của các anh chị em. Kính gởi các tín hữu không phải người Do-thái ở An-ti-ốt, Xy-ri và Xy-li-xi: Chào thăm anh chị em!
ACT 15:24 Chúng tôi nghe có một số người trong chúng tôi đến dạy một vài điều khiến anh chị em hoang mang. Chúng tôi không hề bảo họ làm như thế bao giờ.
ACT 15:25 Chúng tôi đồng ý chọn và gởi một số đại diện đến thăm anh chị em cùng với các anh Phao-lô và Ba-na-ba—
ACT 15:26 là hai đồng nghiệp đã liều mình hầu việc Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ACT 15:27 Chúng tôi phái Giu-đa và Xi-la, hai người nầy cũng sẽ nói chuyện với anh chị em về những việc ấy.
ACT 15:28 Thánh Linh muốn rằng anh chị em không nên mang một gánh quá nặng, và chúng tôi cũng đồng ý. Nhưng anh chị em nên làm những điều sau đây:
ACT 15:29 Đừng dùng những thức ăn đã cúng cho thần tượng. Đừng ăn các thú vật chết ngột, đừng ăn huyết. Tránh mọi hình thức dâm dục. Nếu anh chị em tránh được những điều ấy thì anh chị em làm đúng. Kính thư.
ACT 15:30 Phái đoàn rời Giê-ru-sa-lem đi An-ti-ốt. Họ triệu tập hội thánh và trao bức thư.
ACT 15:31 Khi đọc xong thư, mọi người rất vui mừng vì những lời khích lệ trong thư.
ACT 15:32 Giu-đa và Xi-la cũng đồng thời là các nhà tiên tri, khích lệ các tín hữu, giúp họ thêm vững mạnh.
ACT 15:33 Sau đó ít lâu, Giu-đa và Xi-la được các tín hữu tiễn đi bình yên. Hai người trở về với các người đã gởi họ đi.
ACT 15:34 
ACT 15:35 Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba thì ở lại An-ti-ốt cùng với các anh em khác, truyền giảng Tin Mừng và những sự dạy dỗ của Chúa.
ACT 15:36 Ít lâu sau, Phao-lô đề nghị với Ba-na-ba rằng, “Chúng ta nên trở lại thăm các thành phố mà chúng ta đã giảng đạo Chúa đồng thời viếng thăm tín hữu để biết tình hình của họ.”
ACT 15:37 Ba-na-ba muốn đem Giăng Mác đi chung.
ACT 15:38 Mác là người đã bỏ họ ở Băm-phi-ly, không chịu tiếp tay trong công tác, nên Phao-lô không chịu cho Mác đi theo.
ACT 15:39 Vì thế mà Phao-lô và Ba-na-ba cãi nhau dữ dội đến nỗi hai người chia tay nhau, đường ai nấy đi. Ba-na-ba đem Mác xuống thuyền qua đảo Chíp,
ACT 15:40 còn Phao-lô chọn Xi-la và lên đường. Các tín hữu ở An-ti-ốt giao phó Phao-lô cho Chúa chăm sóc.
ACT 15:41 Phao-lô đi qua Xy-ri và Xy-li-xi, khích lệ các hội thánh.
ACT 16:1 Phao-lô đến Đẹt-bơ và Lý-trà. Ở đó có một tín hữu tên Ti-mô-thê. Mẹ là người Do-thái mới theo đạo, còn cha là người Hi-lạp.
ACT 16:2 Các anh em tín hữu ở Lý-trà và Y-cô-ni rất quí Ti-mô-thê và làm chứng tốt về anh.
ACT 16:3 Phao-lô muốn đem Ti-mô-thê theo, nhưng mọi người Do-thái ở vùng ấy đều biết cha Ti-mô-thê là người Hi-lạp. Vì thế Phao-lô làm phép cắt dương bì cho Ti-mô-thê để làm vừa lòng những người Do-thái.
ACT 16:4 Phao-lô cùng những bạn đồng hành đi từ thành nầy sang thành khác, trao những quyết nghị của các sứ đồ và các trưởng lão ở Giê-ru-sa-lem để mọi người tuân theo.
ACT 16:5 Hội thánh càng ngày càng lớn mạnh trong đức tin và mỗi ngày một thêm tăng trưởng.
ACT 16:6 Phao-lô và các đồng bạn đi qua miền Phi-ri-gi và Ga-la-ti vì Thánh Linh không cho phép giảng Tin Mừng trong vùng Á-châu.
ACT 16:7 Khi đến miền gần My-xia, họ tìm cách đi vào Bi-thi-ni nhưng Thánh Linh của Chúa cũng không cho.
ACT 16:8 Vì thế họ đi rẽ gần My-xia rồi đến Trô-ách.
ACT 16:9 Đêm ấy trong dị tượng, Phao-lô thấy một người từ Ma-xê-đoan đứng nài nỉ, “Xin ông làm ơn qua Ma-xê-đoan giúp chúng tôi.”
ACT 16:10 Sau khi Phao-lô thấy dị tượng, chúng tôi liền chuẩn bị đi Ma-xê-đoan vì hiểu rằng Thượng Đế đã gọi chúng tôi rao truyền Tin Mừng cho những người ở vùng ấy.
ACT 16:11 Chúng tôi rời Trô-ách và đi thuyền thẳng qua đảo Sa-mô-trác. Hôm sau chúng tôi qua Nê-a-bô-li.
ACT 16:12 Rồi chúng tôi đi đường bộ đến Phi-líp, một thuộc địa La-mã và là thành phố lớn của miền Ma-xê-đoan. Chúng tôi ở lại đó khá lâu.
ACT 16:13 Vào ngày Sa-bát chúng tôi đi ra ngoài cửa thành đến bờ sông nơi chúng tôi mong tìm được một chỗ để cầu nguyện. Có mấy phụ nữ đang nhóm họp tại đó nên chúng tôi ngồi xuống nói chuyện với họ.
ACT 16:14 Trong số những người ngồi nghe có một phụ nữ tên Ly-đia, quê ở Thi-a-ti-rơ. Chị làm nghề buôn hàng vải tím. Chị kính thờ Thượng Đế nên Ngài mở trí để chị chăm chú nghe Phao-lô giảng.
ACT 16:15 Chị và tất cả mọi người trong nhà đều chịu lễ báp-têm. Sau đó chị mời chúng tôi về nhà. Chị bảo, “Nếu các anh em thấy tôi thật là tín hữu, thì xin đến trọ nhà tôi.” Rồi chị cố nài chúng tôi đến trọ nhà chị.
ACT 16:16 Một lần nọ, khi chúng tôi đi đến nơi cầu nguyện thì gặp một người tớ gái. Nó bị một tà linh đặc biệt ám, kiếm rất nhiều tiền cho chủ vì tài bói toán của nó.
ACT 16:17 Cô tớ gái ấy đi theo sau Phao-lô và chúng tôi rồi kêu lên, “Các người nầy là tôi tớ của Thượng Đế Rất Cao. Họ chỉ cho các ông bà biết con đường cứu rỗi.”
ACT 16:18 Cô ta làm như thế suốt nhiều ngày. Phao-lô rất bực mình cho nên quay lại mắng tà linh, “Nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu, ta ra lệnh cho mầy phải ra khỏi cô gái nầy!” Tà linh lập tức ra khỏi cô gái.
ACT 16:19 Khi chủ của người đầy tớ gái thấy không còn dùng nó để kiếm tiền được nữa liền bắt Phao-lô và Xi-la kéo đến phố chợ để gặp các nhà cầm quyền.
ACT 16:20 Họ giải Phao-lô và Xi-la đến cho các quan cầm quyền La-mã, cáo rằng, “Mấy người Do-thái nầy đang gây rối trong thành phố ta.
ACT 16:21 Họ dạy những điều mà người La-mã chúng ta không nên làm.”
ACT 16:22 Quần chúng cũng hùa theo tố cáo họ. Các sĩ quan La-mã cho xé áo quần Phao-lô và Xi-la rồi đánh đòn.
ACT 16:23 Sau đó tống giam Phao-lô và Xi-la vào ngục. Viên chủ ngục được lệnh phải canh giữ thật nghiêm ngặt.
ACT 16:24 Nhận được lệnh ấy, viên chủ ngục nhốt họ tận phòng giam trong cùng, rồi kềm chân hai người giữa mấy khối gỗ lớn.
ACT 16:25 Khoảng nửa đêm, Phao-lô và Xi-la đang cầu nguyện và hát Thánh ca tôn vinh Thượng Đế, các tù nhân khác đều nghe.
ACT 16:26 Thình lình có cơn động đất dữ dội làm rung chuyển nền ngục. Các cửa ngục đều mở toang và xiềng tù nhân đều rớt ra.
ACT 16:27 Viên chủ ngục giật mình thức giấc thấy cửa ngục mở toang, tưởng tù đã trốn thoát hết nên ông rút gươm định tự sát.
ACT 16:28 Nhưng Phao-lô kêu lên “Đừng hại mình! Chúng tôi còn đông đủ cả đây.”
ACT 16:29 Viên chủ ngục sai người mang đèn tới. Ông ta chạy vào, run rẩy quì nơi chân Phao-lô và Xi-la.
ACT 16:30 Rồi ông đưa hai người ra ngoài và hỏi, “Thưa các ông, tôi phải làm gì để được cứu?”
ACT 16:31 Họ đáp, “Hãy tin nhận Chúa Giê-xu, thì ông và cả gia đình ông đều sẽ được cứu.”
ACT 16:32 Phao-lô giảng giải lời của Chúa cho viên chủ ngục và mọi người trong gia đình.
ACT 16:33 Chính giờ ấy, giữa đêm khuya, viên chủ ngục mang Phao-lô và Xi-la ra rửa các vết thương rồi ông và cả nhà đều chịu lễ báp-têm.
ACT 16:34 Sau đó, viên chủ ngục mang Phao-lô và Xi-la về nhà mời ăn. Ông và cả gia đình đều hết sức vui mừng vì bây giờ họ đã tin nhận Chúa.
ACT 16:35 Sáng hôm sau, các sĩ quan La-mã sai cảnh sát đến bảo người chủ ngục, “Hãy thả mấy người đó đi.”
ACT 16:36 Viên chủ ngục nói với Phao-lô, “Các sĩ quan ra lệnh thả các ông. Cho nên bây giờ các ông hãy đi bình an.”
ACT 16:37 Nhưng Phao-lô bảo cảnh sát, “Họ đánh đòn chúng tôi công khai khi chưa xét xử gì, mặc dù chúng tôi là công dân La-mã. Rồi họ tống giam chúng tôi. Bây giờ lại định thả lén chúng tôi à! Không được! Chính mình họ phải đích thân đến đây mời chúng tôi ra.”
ACT 16:38 Cảnh sát thuật lại cho các sĩ quan La-mã lời Phao-lô nói. Khi các sĩ quan nghe rằng Phao-lô và Xi-la là công dân La-mã thì hoảng sợ.
ACT 16:39 Vì thế họ đến xin lỗi Phao-lô và Xi-la, hộ tống hai người ra khỏi ngục và yêu cầu họ rời khỏi thành phố.
ACT 16:40 Hai người vừa ra khỏi ngục liền đi đến nhà Ly-đia, gặp một số tín hữu. Họ khích lệ các anh chị em ấy rồi từ giã lên đường.
ACT 17:1 Phao-lô và Xi-la viếng qua miền Am-phi-bô-li, A-bô-lô-ni rồi đến Tê-sa-lô-ni-ca. Tại đó có một hội đường Do-thái.
ACT 17:2 Theo thông lệ, mỗi ngày Sa-bát Phao-lô đi vào hội đường, liên tiếp như thế trong ba tuần. Ông nói chuyện với người Do-thái về Thánh Kinh.
ACT 17:3 Ông giảng giải và chứng minh rằng Chúa Cứu Thế phải chịu chết rồi sống lại từ kẻ chết. Ông bảo, “Chúa Giê-xu, Đấng mà tôi nói với các ông bà, là Chúa Cứu Thế.”
ACT 17:4 Một số người Do-thái chịu tin. Họ hợp tác với Phao-lô và Xi-la, cùng với nhiều người Hi-lạp kính thờ Thượng Đế và các phụ nữ có uy tín.
ACT 17:5 Nhưng các người Do-thái khác đâm ra ganh ghét. Họ xúi giục mấy tên du đãng nơi phố chợ, họp thành bè lũ rồi gây bạo động. Chúng chạy đến nhà Gia-xôn tìm Phao-lô và Xi-la, định lôi họ ra trước dân chúng.
ACT 17:6 Tìm không được, chúng liền kéo Gia-xôn và vài tín hữu khác đến các nhà cầm quyền trong thành phố. Dân chúng la lên, “Bọn nầy chuyên gây rối khắp nơi trên thế giới, rồi bây giờ mò đến đây!
ACT 17:7 Gia-xôn đã chứa chấp chúng trong nhà. Tất cả bọn họ làm những việc chống nghịch luật pháp Xê-xa, bảo rằng có một vua khác tên là Giê-xu.”
ACT 17:8 Dân chúng và các nhà cầm quyền thành phố nghe thế liền nổi giận.
ACT 17:9 Chúng bắt Gia-xôn và mấy người kia đóng tiền thế chân rồi thả các tín hữu ra.
ACT 17:10 Đêm ấy các tín hữu đưa Phao-lô và Xi-la đến Bê-rê. Ở đó hai người đi vào hội đường của người Do-thái.
ACT 17:11 Những người Do-thái nầy sẵn lòng nghe đạo hơn những người Do-thái ở Tê-sa-lô-ni-ca. Người Bê-rê sốt sắng nghe Phao-lô và Xi-la giảng, và nghiên cứu Thánh Kinh mỗi ngày để xem lời giảng có đúng không.
ACT 17:12 Nhiều người tin đạo cùng với các người Hi-lạp có uy tín, cả đàn ông lẫn đàn bà.
ACT 17:13 Nhưng khi những người Do-thái ở Tê-sa-lô-ni-ca nghe rằng Phao-lô đang giảng lời Chúa ở Bê-rê, liền kéo đến, tạo hoang mang cho dân chúng và gây rối.
ACT 17:14 Các tín hữu lập tức đưa Phao-lô đi tới vùng bờ biển, nhưng Xi-la và Ti-mô-thê thì vẫn ở lại Bê-rê.
ACT 17:15 Những người dẫn Phao-lô cùng đi với ông đến A-thên. Phao-lô nhắn họ bảo Xi-la và Ti-mô-thê phải đến với ông thật gấp.
ACT 17:16 Trong khi Phao-lô chờ Xi-la và Ti-mô-thê ở A-thên, ông rất bực tức vì thấy cả thành phố đầy dẫy thần tượng.
ACT 17:17 Tại hội đường, Phao-lô thảo luận với các người Do-thái và Hi-lạp kính thờ Thượng Đế. Ông cũng nói chuyện với dân chúng trong phố chợ mỗi ngày.
ACT 17:18 Một vài triết gia thuộc phái Khoái lạc và phái Khắc kỷ tranh luận với Phao-lô. Họ bảo, “Lão nầy chẳng biết mình nói cái gì. Ông ta muốn nói gì thế?” Kẻ khác nói, “Hình như ông ta muốn giới thiệu với chúng ta về mấy ông thần mới,” vì Phao-lô nói chuyện với họ về Chúa Giê-xu và việc Ngài sống lại từ kẻ chết.
ACT 17:19 Họ mang Phao-lô đến một buổi họp của Đình nghị, và bảo, “Xin giải thích cho chúng tôi về tư tưởng mới nầy mà ông đang giảng dạy.
ACT 17:20 Điều ông nói rất mới với chúng tôi, nên chúng tôi muốn biết rõ thêm.”
ACT 17:21 (Dân A-thên và các dân ngoại quốc sống ở đó rất thích dành thì giờ để nói về những chuyện mới lạ.)
ACT 17:22 Phao-lô đứng giữa buổi họp của Đình nghị và lên tiếng, “Thưa đồng bào A-thên, trong mọi việc, tôi thấy các anh em rất nhiệt thành.
ACT 17:23 Lúc tôi viếng qua thành phố của anh em, tôi thấy nhiều vật được các anh em tôn thờ. Tôi thấy một bàn thờ có khắc dòng chữ: kính thờ thần chưa biết. Các anh em thờ một thần mình không biết, đó là Thượng Đế mà tôi sẽ trình bày với các anh em.
ACT 17:24 Thượng Đế là Đấng tạo dựng cả thế giới và mọi vật trong đó. Ngài là Chúa của trời và đất. Ngài không ngự trong các đền thờ do tay người xây nên.
ACT 17:25 Thượng Đế nầy là Đấng ban sự sống, hơi thở và mọi thứ khác cho chúng ta. Ngài không cần ai giúp đỡ, vì Ngài có đủ mọi thứ.
ACT 17:26 Ngài bắt đầu dựng nên một người, rồi từ người ấy sinh ra vô số người sống khắp nơi trên thế giới. Ngài định thời gian và chỗ ở cho mỗi người.
ACT 17:27 Thượng Đế làm như thế để con người tìm kiếm Ngài và có thể tìm được Ngài, dù Ngài không cách xa ai trong chúng ta cả.
ACT 17:28 ‘Chúng ta sinh sống, hoạt động và tồn tại trong Ngài.’ Như một vài thi sĩ các anh em đã nói, ‘Chúng ta là con cái Ngài.’
ACT 17:29 Vì chúng ta là con cái Thượng Đế, nên các anh em chớ nên nghĩ rằng Ngài giống như điều người ta tưởng tượng hoặc tạc ra từ vàng, bạc hay đá.
ACT 17:30 Trước kia, con người không biết Thượng Đế. Ngài tha thứ cho điều ấy. Nhưng bây giờ Ngài đã bảo mọi người trên thế giới hãy ăn năn hối hận.
ACT 17:31 Thượng Đế đã định một ngày để xét xử cả thế giới một cách công minh, qua một người Ngài đã chọn từ lâu. Ngài đã chứng tỏ điều nầy, do việc Ngài khiến người ấy từ kẻ chết sống lại.”
ACT 17:32 Khi nghe nói Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại, thì một số người chê cười. Còn người khác thì bảo, “Để lúc khác chúng tôi sẽ nghe ông nói thêm về chuyện nầy.”
ACT 17:33 Nên Phao-lô bước ra khỏi họ.
ACT 17:34 Tuy nhiên có một số người tin và theo Phao-lô. Trong số đó có Đi-ô-ni-xi, một hội viên Đình nghị, một phụ nữ tên Đa-ma-ri và vài người nữa.
ACT 18:1 Sau đó Phao-lô rời A-thên đi sang Cô-rinh.
ACT 18:2 Tại đây ông gặp một người Do-thái tên A-qui-la, sinh quán ở xứ Bôn-tu. A-qui-la và vợ là Bích-xi-la, mới từ nước Ý đến Cô-rinh vì hoàng đế Lau-đia ra lệnh trục xuất tất cả mọi người Do-thái khỏi La-mã. Phao-lô đến thăm A-qui-la và Bích-xi-la.
ACT 18:3 Vì hai vợ chồng cùng nghề may lều như Phao-lô, nên ông ở và làm việc chung với họ.
ACT 18:4 Mỗi ngày Sa-bát, Phao-lô thảo luận với các người Do-thái và Hi-lạp trong hội đường, tìm cách thuyết phục họ tin nhận Chúa Giê-xu.
ACT 18:5 Xi-la và Ti-mô-thê cũng mới từ Ma-xê-đoan đến nhập với Phao-lô ở Cô-rinh. Sau đó, Phao-lô dùng thì giờ rao giảng Tin Mừng, chứng minh cho người Do-thái thấy Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế.
ACT 18:6 Nhưng họ không chịu chấp nhận lời dạy của Phao-lô và buông ra những lời thô bỉ. Cho nên ông giũ bụi khỏi áo mình và cảnh cáo họ, “Nếu các anh em không được cứu là tại các anh em! Tôi đã làm hết sức mình rồi! Từ nay, tôi chỉ sẽ đi đến với những người không phải Do-thái thôi.”
ACT 18:7 Phao-lô rời hội đường, dọn đến nhà Tít Giúc-tu, kế bên hội đường. Ông nầy kính thờ Thượng Đế.
ACT 18:8 Cơ-rít-bu là quản lý hội đường ấy. Ông và mọi người trong nhà đều tin nhận Chúa. Nhiều người khác ở Cô-rinh cũng nghe Phao-lô, tin nhận và chịu lễ báp-têm.
ACT 18:9 Ban đêm, Chúa nói với Phao-lô qua một dị tượng rằng, “Đừng sợ. Chớ im lặng nhưng hãy tiếp tục rao giảng cho dân chúng.
ACT 18:10 Ta ở với ngươi, không ai hại ngươi được đâu vì có rất nhiều người của ta trong thành nầy.”
ACT 18:11 Phao-lô ở đó một năm rưỡi, giảng lời Chúa cho dân chúng.
ACT 18:12 Khi Ga-li-ô đang giữ chức tổng đốc miền Nam Hi-lạp thì có mấy người Do-thái họp lại chống Phao-lô và lôi ông ra tòa.
ACT 18:13 Họ tố cáo rằng, “Người nầy dạy dân ta thờ Thượng Đế theo lối trái nghịch với luật chúng ta.”
ACT 18:14 Phao-lô định lên tiếng thì Ga-li-ô bảo mấy người Do-thái, “Mấy anh Do-thái à, tôi sẵn sàng nghe mấy anh nếu mấy anh khiếu nại về chuyện phạm pháp hay lỗi lầm gì.
ACT 18:15 Chứ còn điều mấy anh cáo chỉ thuộc những vấn đề từ ngữ và danh hiệu—những chuyện tranh luận trong luật pháp mấy anh thôi. Cho nên, chuyện nầy mấy anh phải tự giải quyết lấy. Tôi không phân xử đâu.”
ACT 18:16 Ga-li-ô liền đuổi họ ra khỏi tòa án.
ACT 18:17 Chúng liền bắt Sốt-then, quản lý hội đường, đánh đòn ngay tại tòa án nhưng Ga-li-ô chẳng thèm để ý.
ACT 18:18 Phao-lô ở với các tín hữu nhiều ngày nữa rồi từ giã, xuống thuyền đi qua xứ Xy-ri, cùng với A-qui-la và Bích-xi-la. Ở Xen-cơ-rê Phao-lô cạo đầu, vì ông có lời hứa nguyện với Thượng Đế.
ACT 18:19 Rồi họ đến Ê-phê-sô, Phao-lô chia tay với Bích-xi-la và A-qui-la. Trong khi ở đó, Phao-lô đi vào hội đường và thảo luận với người Do-thái.
ACT 18:20 Họ yêu cầu ông ở thêm nữa nhưng Phao-lô từ chối.
ACT 18:21 Lúc từ giã, Phao-lô bảo họ, “Nếu Chúa muốn thì tôi sẽ trở lại thăm anh chị em.” Rồi ông xuống thuyền rời Ê-phê-sô.
ACT 18:22 Đến Xê-xa-rê, Phao-lô đi lên và chào mừng hội thánh, rồi ông qua An-ti-ốt.
ACT 18:23 Ở lại đó ít lâu, ông từ giã, đi qua thăm các miền thuộc Ga-la-ti và Phi-ri-gi. Đi từ thành nầy qua thành khác, ông khích lệ và nâng đỡ các tín hữu.
ACT 18:24 Có một người Do-thái tên A-bô-lô đến Ê-phê-sô. Quê ông ở thành A-lịch-sơn. Ông có tài ăn nói và biết Thánh Kinh rất khá.
ACT 18:25 Ông được dạy dỗ về đường lối Chúa và luôn luôn hăng hái giảng dạy sự thật của Chúa Giê-xu. Nhưng A-bô-lô chỉ biết có lễ báp-têm của Giăng mà thôi.
ACT 18:26 A-bô-lô bắt đầu giảng dạy rất hùng hồn trong hội đường. Khi Bích-xi-la và A-qui-la nghe ông giảng, liền mời về nhà giải thích thêm cho ông về đường lối Chúa.
ACT 18:27 A-bô-lô muốn đi đến miền Nam Hi-lạp, nên các anh em giúp đỡ và viết một bức thư giới thiệu ông với các tín hữu ở đó, yêu cầu họ tiếp đón ông. Các tín hữu nầy đã tin nhận Chúa Giê-xu, nhờ ân phúc Thượng Đế, cho nên khi A-bô-lô đến nơi, ông nâng đỡ họ rất nhiều.
ACT 18:28 Ông biện luận hùng hồn với mấy người Do-thái trước mặt cả dân chúng, dùng Thánh Kinh chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế.
ACT 19:1 Trong khi A-bô-lô đang ở Cô-rinh, thì Phao-lô viếng qua vài nơi trên đường đi đến Ê-phê-sô. Ở đó Phao-lô gặp một số tín hữu.
ACT 19:2 Ông hỏi, “Từ khi tin đạo, anh chị em đã nhận lãnh được Thánh Linh chưa?” Họ đáp, “Chúng tôi chưa hề nghe nói đến Thánh Linh nào cả.”
ACT 19:3 Nên Phao-lô hỏi, “Vậy anh chị em chịu lễ báp-têm của ai?” Họ đáp, “Lễ báp-têm của Giăng.”
ACT 19:4 Phao-lô bảo, “Lễ báp-têm của Giăng là báp-têm về sự ăn năn để được tha tội. Giăng khuyên dân chúng tin nhận Đấng sẽ đến sau mình. Đấng đó là Chúa Giê-xu.”
ACT 19:5 Khi nghe vậy, họ liền chịu lễ báp-têm trong danh Chúa Giê-xu.
ACT 19:6 Lúc Phao-lô đặt tay lên họ, thì họ nhận được Thánh Linh. Họ bắt đầu nói các thứ ngôn ngữ khác và nói tiên tri.
ACT 19:7 Có khoảng mười hai người trong nhóm ấy.
ACT 19:8 Phao-lô đi vào hội đường và mạnh dạn giảng dạy trong suốt ba tháng. Ông nói chuyện với các người Do-thái và khuyên họ chấp nhận những điều ông nói về Nước Trời.
ACT 19:9 Nhưng có mấy người Do-thái tỏ ra ương ngạnh. Họ chẳng những không chịu tin mà còn buông lời thô bỉ chống Đạo Chúa Giê-xu trước mặt dân chúng. Nên Phao-lô bỏ họ, mang theo một số tín hữu đi đến trường học của một người tên Ti-ra-nu và giảng dạy dân chúng mỗi ngày
ACT 19:10 suốt hai năm. Nhờ công tác của Phao-lô mà người Do-thái và Hi-lạp nào ở miền Tiểu Á cũng đều được nghe lời Chúa.
ACT 19:11 Thượng Đế dùng Phao-lô làm nhiều phép lạ lớn lao.
ACT 19:12 Vài người lấy khăn tay và quần áo Phao-lô đã dùng mà đặt trên người bệnh thì được lành và ác quỉ ra khỏi họ.
ACT 19:13 Nhưng có một số người Do-thái đi nhiều nơi đuổi quỉ. Họ dùng danh Chúa Giê-xu để đuổi quỉ bằng cách ra lệnh, “Ta nhân danh Chúa Giê-xu mà Phao-lô rao giảng, truyền cho mầy phải đi ra!”
ACT 19:14 Những người làm chuyện ấy là bảy con trai của Xê-va, một thầy tế lễ cao cấp.
ACT 19:15 Nhưng có lần quỉ bảo họ, “Ta biết Chúa Giê-xu, cũng biết Phao-lô, còn mấy anh là ai?”
ACT 19:16 Người bị quỉ ám liền xông vào họ. Vì người đó quá mạnh nên các cậu con trai đều bị thương, trần truồng bỏ chạy trốn.
ACT 19:17 Toàn thể dân chúng Ê-phê-sô—từ người Do-thái đến người Hi-lạp—nghe chuyện ấy đều sợ hãi và hết sức tôn kính Chúa Giê-xu.
ACT 19:18 Nhiều tín hữu bắt đầu xưng tội công khai về những việc xấu mình làm.
ACT 19:19 Có kẻ trước kia dùng tà thuật, nay gom sách vở lại đốt hết trước mặt mọi người. Các sách ấy trị giá khoảng năm mươi ngàn đồng bạc.
ACT 19:20 Lời Chúa càng ngày càng lan rộng mạnh mẽ.
ACT 19:21 Sau đó, Phao-lô quyết định lên Giê-ru-sa-lem. Trước hết ông dự định ghé qua các xứ thuộc Ma-xê-đoan và Nam Hi-lạp rồi đến Giê-ru-sa-lem. Ông bảo, “Sau khi ghé thăm Giê-ru-sa-lem, tôi cũng muốn thăm La-mã nữa.”
ACT 19:22 Phao-lô gởi hai đồng nghiệp là Ti-mô-thê và Ê-rát-tu đi trước đến Ma-xê-đoan, còn ông thì ở lại vùng Tiểu Á một thời gian nữa.
ACT 19:23 Trong lúc đó có náo loạn lớn vì đạo Chúa tại Ê-phê-sô.
ACT 19:24 Có một thợ bạc tên Đê-mê-triu, chế ra những mô hình nhỏ bằng bạc của đền thờ nữ thần Ạt-tê-mít. Những kẻ làm nghề ấy kiếm rất nhiều tiền.
ACT 19:25 Đê-mê-triu nhóm họp các đồng nghiệp và bàn, “Các bạn biết chúng ta kiếm khá nhiều tiền trong nghề nầy.
ACT 19:26 Nhưng hãy coi tên Phao-lô hại chúng ta biết bao nhiêu. Hắn thuyết phục nhiều người ở Ê-phê-sô và hầu hết dân chúng vùng Tiểu Á! Hắn nói rằng những thần do người làm ra không phải là thần.
ACT 19:27 Ngoài cái nguy là công việc làm ăn của chúng ta mất uy tín, còn cái nguy khác là dân chúng sẽ bắt đầu cho rằng đền thờ của đại nữ thần Ạt-tê-mít không ra gì nữa. Uy danh lớn của nữ thần sẽ bị tiêu diệt vì Ạt-tê-mít là nữ thần mà mọi người trong vùng Tiểu Á và cả thế giới tôn thờ.”
ACT 19:28 Khi các người kia nghe thế liền nổi giận hét lên, “Ạt-tê-mít là đại nữ thần của Ê-phê-sô!”
ACT 19:29 Cả thành xôn xao. Dân chúng bắt Gai-út và A-ri-tạc, hai bạn đồng hành của Phao-lô từ Ma-xê-đoan đến, xong chạy ùa tới rạp hát.
ACT 19:30 Phao-lô muốn đi vào nói chuyện với quần chúng nhưng các tín hữu không cho.
ACT 19:31 Ngoài ra, vài nhà cầm quyền vùng Tiểu Á, bạn của Phao-lô nhắn và khuyên ông chớ nên đi đến rạp hát.
ACT 19:32 Người thì la ó một đằng, kẻ thì hét lên một nẻo. Cuộc họp trở thành cực kỳ hỗn loạn. Đa số dân chúng đều không hiểu tại sao mình lại đến đó.
ACT 19:33 Người Do-thái bắt một người tên A-lịch-sơn đẩy ra trước công chúng rồi vài người biểu ông lên tiếng. A-lịch-sơn giơ tay ra hiệu muốn giải thích cho dân chúng.
ACT 19:34 Nhưng khi chúng thấy A-lịch-sơn là người Do-thái thì đồng thanh la lớn suốt hai giờ liền, “Ạt-tê-mít là đại nữ thần của người Ê-phê-sô!”
ACT 19:35 Bấy giờ viên tổng thư ký thành phố yêu cầu họ im lặng rồi bảo, “Dân Ê-phê-sô ơi, ai cũng biết Ê-phê-sô là thành phố bảo tồn đền thờ của đại nữ thần Ạt-tê-mít và tượng thánh của nữ thần từ trời rơi xuống.
ACT 19:36 Vì không ai chối cãi được điều ấy nên các bạn hãy bình tĩnh. Phải đắn đo suy nghĩ trước khi hành động.
ACT 19:37 Các bạn giải mấy người nầy đến đây, nhưng họ chưa có nói gì nghịch lại nữ thần của chúng ta hoặc đánh cắp món gì trong đền thờ của nữ thần cả.
ACT 19:38 Nếu Đê-mê-triu và các đồng nghiệp của anh ta muốn kiện cáo ai, thì họ nên ra trước tòa và các quan tòa để hai bên đối chất nhau.
ACT 19:39 Còn các bạn muốn thảo luận về vấn đề gì khác thì chờ đến phiên họp thường xuyên của hội đồng thành phố quyết định.
ACT 19:40 Tôi nói thế là vì nếu người ta thấy cuộc lộn xộn bữa nay thì sẽ đoán rằng chúng ta định gây loạn. Chúng ta không thể giải thích hành động nầy, vì thực tình buổi tập họp hôm nay chẳng có lý do chính đáng nào cả.”
ACT 19:41 Sau khi viên tổng thư ký thành phố nói xong thì cho họ ra về.
ACT 20:1 Lúc cuộc náo loạn đã chấm dứt, Phao-lô cho mời các tín hữu đến với mình. Sau khi khích lệ và từ giã họ, ông đi qua miền Ma-xê-đoan.
ACT 20:2 Trên đường đi đến Ma-xê-đoan, Phao-lô dùng nhiều lời khích lệ các tín hữu ở những nơi ông ghé qua. Rồi ông lên đường sang Hi-lạp,
ACT 20:3 ở đó ba tháng. Ông định đáp thuyền qua Xy-ri nhưng có mấy người Do-thái lập mưu hại ông, nên Phao-lô quyết định trở về Xy-ri qua ngả Ma-xê-đoan.
ACT 20:4 Những người cùng đi với ông là Xô-ba-tơ, con By-ru, gốc thành Bê-rê, A-ri-tạc và Xê-cung-đu, gốc Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út, gốc thành Đẹt-bơ; Ti-mô-thê cùng Ti-chi-cơ và Trô-phi-mu, hai người thuộc vùng Tiểu Á.
ACT 20:5 Mấy anh em ấy đi trước và chờ chúng tôi ở Trô-ách.
ACT 20:6 Sau ngày lễ Bánh Không Men chúng tôi xuống thuyền đi từ hải cảng Phi-líp. Năm ngày sau chúng tôi gặp họ ở Trô-ách rồi ở lại đó bảy ngày.
ACT 20:7 Vào ngày đầu tuần, chúng tôi họp lại để bẻ bánh, rồi Phao-lô nói chuyện với cả nhóm. Ông dự định ra đi ngày hôm sau, nên Phao-lô nói chuyện cho đến nửa đêm.
ACT 20:8 Chúng tôi họp ở một phòng trên lầu, đèn đuốc sáng trưng.
ACT 20:9 Có một cậu thanh niên tên Yêu-tích đang ngồi trên cửa sổ. Lúc Phao-lô đang nói chuyện, thì Yêu-tích ngủ gục, nên từ lầu ba té bịch xuống đất. Khi người ta đỡ lên thì anh đã chết.
ACT 20:10 Phao-lô đi xuống gặp Yêu-tích, quì xuống và ôm choàng qua xác. Ông nói, “Đừng lo. Anh ta sống lại rồi.”
ACT 20:11 Xong Phao-lô trở lên lầu, bẻ bánh và ăn. Phao-lô nói chuyện với họ rất lâu, cho đến sáng sớm, rồi lên đường.
ACT 20:12 Người ta đưa cậu thanh niên ấy về nhà, thấy anh ta sống lại, nên mọi người cảm thấy được an ủi rất nhiều.
ACT 20:13 Chúng tôi lên đường đi trước Phao-lô và đáp thuyền qua thành A-xốt, nơi Phao-lô sẽ cùng xuống thuyền đi chung với chúng tôi. Phao-lô định lộ trình như thế vì ông muốn đến A-xốt bằng đường bộ.
ACT 20:14 Lúc chúng tôi gặp Phao-lô ở đó, liền đón ông lên thuyền cùng đi qua My-ti-len.
ACT 20:15 Từ My-ti-len chúng tôi giương buồm đi, hôm sau đến một nơi gần Ki-ốt. Ngày sau chúng tôi đến Xa-mô và hôm sau nữa thì đến Mỹ-lệ.
ACT 20:16 Phao-lô đã định không ghé Ê-phê-sô vì ông không muốn ở lại vùng Tiểu Á quá lâu. Ông muốn đến Giê-ru-sa-lem gấp cho kịp ngày lễ Thất Tuần, nếu được.
ACT 20:17 Từ Mỹ-lệ, Phao-lô cho mời các trưởng lão của hội thánh ở Ê-phê-sô đến.
ACT 20:18 Sau khi họ tới, Phao-lô nói với họ, “Các anh em biết đời sống tôi từ ngày đầu tiên tôi đặt chân đến miền Tiểu Á. Anh em lúc nào cũng rõ tôi ăn ở ra sao với anh em.
ACT 20:19 Người Do-thái âm mưu hại tôi, khiến tôi lo ngại vô cùng. Nhưng anh em biết tôi luôn luôn hầu việc Chúa Giê-xu đến nỗi quên thân mình, tôi thường đổ nước mắt.
ACT 20:20 Anh em biết tôi rao giảng cho anh em và không quản ngại điều gì để có thể giúp anh em. Tôi đã dạy dỗ anh em từ nơi công cộng đến nhà riêng.
ACT 20:21 Tôi răn dạy cả người Do-thái lẫn Hi-lạp phải ăn năn trở lại cùng Thượng Đế và tin nhận Chúa Giê-xu chúng ta.
ACT 20:22 Nhưng nay tôi vâng lệnh Thánh Linh đi lên Giê-ru-sa-lem. Tôi chưa biết chuyện gì sẽ xảy đến cho tôi tại đó.
ACT 20:23 Có điều chắc là ở mỗi thành phố, Thánh Linh cho tôi biết là lao khổ và xiềng xích đang chờ tôi.
ACT 20:24 Nhưng tôi không coi trọng mạng sống mình. Điều quan trọng nhất đối với tôi là làm xong sứ mạng Chúa Giê-xu đã giao phó cho tôi—đó là rao giảng Tin Mừng về ân phúc của Thượng Đế.
ACT 20:25 Bây giờ tôi biết rằng không ai trong vòng anh em là những người đã nghe tôi giảng về Nước Trời, sẽ còn gặp lại tôi nữa.
ACT 20:26 Cho nên hôm nay tôi nói với anh em rằng, nếu ai trong anh em bị chết mất thì không phải lỗi ở tôi,
ACT 20:27 vì tôi đã giảng dạy tất cả những gì Thượng Đế muốn anh em biết.
ACT 20:28 Hãy thận trọng về chính mình và về những người mà Thánh Linh đã giao phó cho anh em chăm sóc. Anh em phải như người chăn bầy chiên của Thượng Đế mà Ngài đã mua bằng chính cái chết của Con Ngài.
ACT 20:29 Tôi biết rằng sau khi tôi ra đi, sẽ có người vồ đến như muông sói và tìm cách tiêu diệt bầy chiên.
ACT 20:30 Ngoài ra, sẽ có vài người trong anh em đứng lên bóp méo sự thật và hướng dẫn một số tín hữu đi lầm lạc.
ACT 20:31 Cho nên hãy thận trọng! Luôn nhớ rằng trong suốt ba năm, cả ngày lẫn đêm tôi thường răn dạy và đổ nước mắt vì anh em.
ACT 20:32 Bây giờ tôi giao phó anh em cho Thượng Đế và sứ điệp của ân phúc Ngài. Sứ điệp ấy sẽ thêm sức và giúp các anh em chung hưởng phần di sản mà Thượng Đế đã dành cho dân thánh của Ngài.
ACT 20:33 Lúc còn ở với anh em, tôi không hề đòi tiền bạc hay áo quần sang trọng của ai cả.
ACT 20:34 Anh em biết rằng tôi luôn luôn làm việc để cung ứng mọi điều cần dùng cho tôi và các đồng bạn tôi.
ACT 20:35 Tôi chứng tỏ cho anh em thấy là trong mọi việc hãy làm như tôi để giúp đỡ người yếu kém hơn. Tôi nhắc anh em nhớ lời Chúa Giê-xu đã nói, ‘Cho có phúc hơn nhận.’”
ACT 20:36 Sau khi Phao-lô nói xong thì cùng quì gối xuống với họ và cầu nguyện.
ACT 20:37 Mọi người đều khóc nhất là vì Phao-lô bảo rằng họ sẽ không gặp lại ông nữa. Họ ôm hôn ông rồi tiễn ông xuống thuyền.
ACT 21:1 Từ giã họ, chúng tôi đi thuyền thẳng đến đảo Cốt. Hôm sau chúng tôi đến tỉnh Rốt, rồi từ đó đi qua Ba-ta-ra.
ACT 21:2 Ở Ba-ta-ra chúng tôi thấy một chiếc thuyền sắp giương buồm qua Phê-ni-xi, nên chúng tôi liền đáp thuyền đi.
ACT 21:3 Chúng tôi đi gần đảo Chíp, nhìn thấy đảo ấy về hướng Bắc, chúng tôi rẽ phải và đi thẳng qua Xy-ri. Chúng tôi dừng lại ở thành Tia, vì thuyền cần xuống hàng tại đó.
ACT 21:4 Ở thành Tia, chúng tôi gặp vài tín hữu nên ở lại thăm họ một tuần. Được Thánh Linh mách bảo, họ khuyên Phao-lô không nên lên Giê-ru-sa-lem.
ACT 21:5 Sau khi thăm viếng xong, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Tất cả tín hữu, luôn cả đàn bà và trẻ con, đều đi ra ngoài thành phố để tiễn chúng tôi. Ai nấy cùng quì nơi bãi biển để cầu nguyện,
ACT 21:6 xong chia tay nhau, chúng tôi lên tàu, còn các tín hữu về nhà.
ACT 21:7 Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình từ Tia đến Tô-lê-mai. Chúng tôi ghé qua chào thăm các tín hữu và ở với họ một ngày.
ACT 21:8 Hôm sau chúng tôi rời Tô-lê-mai đi qua Xê-xa-rê. Chúng tôi ghé thăm nhà mục sư Phi-líp, một trong bảy chức viên.
ACT 21:9 Ông có bảy cô con gái nói tiên tri nhưng chưa lập gia đình.
ACT 21:10 Sau khi ở lại đó ít lâu thì có một nhà tiên tri tên A-ga-bút từ miền Giu-đia đến.
ACT 21:11 Ông mượn nịt lưng của Phao-lô, rồi tự trói tay chân mình lại và bảo rằng, “Thánh Linh bảo, ‘Người Do-thái sẽ trói người có nịt lưng nầy giống y như thế nầy. Rồi họ sẽ giao người ấy cho những người không phải Do-thái.’”
ACT 21:12 Nghe vậy, tất cả chúng tôi và các anh em van nài Phao-lô đừng nên đi lên Giê-ru-sa-lem.
ACT 21:13 Nhưng Phao-lô đáp, “Tại sao anh chị em khóc lóc để làm tôi nao núng? Không những tôi bằng lòng chịu trói ở Giê-ru-sa-lem mà còn sẵn lòng chết vì Chúa Giê-xu nữa!”
ACT 21:14 Vì không thể thuyết phục Phao-lô bỏ ý định lên Giê-ru-sa-lem, nên chúng tôi không van nài nữa và chỉ nói, “Nguyện ý Chúa được thành tựu.”
ACT 21:15 Sau đó, chúng tôi chuẩn bị lên đường đi Giê-ru-sa-lem.
ACT 21:16 Một số tín hữu từ Xê-xa-rê cùng đi với chúng tôi và đưa chúng tôi đến nhà Na-xon để tạm trú. Ông nầy người gốc đảo Chíp và là một trong những tín hữu đầu tiên.
ACT 21:17 Các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem rất mừng gặp lại chúng tôi.
ACT 21:18 Hôm sau Phao-lô cùng đi với chúng tôi đến thăm Gia-cơ và các trưởng lão ở đó.
ACT 21:19 Phao-lô chào thăm họ và thuật lại hết những điều Thượng Đế đã làm qua mình cho những người không phải Do-thái.
ACT 21:20 Nghe xong, họ đều ca ngợi Thượng Đế rồi nói với Phao-lô, “Anh ơi, anh đã thấy hàng ngàn người Do-thái trở thành tín hữu. Những tín hữu nầy cho rằng cần phải tôn trọng luật Mô-se.
ACT 21:21 Họ đã nghe đồn rằng anh dạy cho người Do-thái đang sống ở giữa vòng người không phải Do-thái, là hãy bỏ luật Mô-se. Họ cũng nghe đồn rằng anh bảo họ không cần cắt dương bì cho con cái và không cần giữ tập tục Do-thái làm gì.
ACT 21:22 Bây giờ chúng tôi phải làm thế nào? Dân chúng đã hay tin anh về.
ACT 21:23 Cho nên anh hãy làm thế nầy: Trong chúng tôi có bốn người đã có lời hứa nguyện với Thượng Đế.
ACT 21:24 Hãy mang bốn người nầy cùng đi và dự lễ tẩy sạch chung với họ. Anh hãy trả tiền cho họ cạo đầu. Như vậy để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng những điều họ nghe đồn về anh không đúng và rằng anh luôn tôn trọng luật Mô-se.
ACT 21:25 Chúng tôi đã gởi một bức thư cho các tín hữu không phải Do-thái. Thư viết như sau, ‘Đừng ăn đồ đã cúng cho thần tượng, đừng ăn huyết hay thú chết ngột. Đừng phạm tội nhục dục.’”
ACT 21:26 Hôm sau Phao-lô mang bốn người đi và cùng dự lễ tẩy sạch với họ. Rồi ông vào đền thờ và loan báo lúc nào thì những ngày tẩy sạch chấm dứt. Vào ngày cuối, mỗi người sẽ dâng một của lễ.
ACT 21:27 Khi bảy ngày ấy gần qua, thì có mấy người Do-thái từ Tiểu Á đến, thấy Phao-lô trong đền thờ. Họ xúi dân gây náo loạn và túm bắt Phao-lô.
ACT 21:28 Họ la lên, “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đến tiếp tay! Đây là tên đã đi khắp nơi dạy người ta chống lại luật Mô-se, chống lại dân ta và chống lại đền thờ nầy. Bây giờ hắn vào đây mang theo mấy người Hi-lạp làm dơ bẩn nơi thánh nầy!”
ACT 21:29 Người Do-thái nói như thế vì họ thấy Trô-phi-múc, người gốc Ê-phê-sô, cùng đi với Phao-lô ở Giê-ru-sa-lem nên họ tưởng Phao-lô dẫn anh ta vào đền thờ.
ACT 21:30 Cả dân chúng Giê-ru-sa-lem đều xôn xao. Chúng chạy ào lại, bắt Phao-lô lôi sềnh sệch ra khỏi đền thờ. Rồi lập tức đóng các cửa đền thờ lại.
ACT 21:31 Trong khi chúng đang định giết Phao-lô thì viên chỉ huy tiểu đoàn La-mã ở Giê-ru-sa-lem được tin báo là cả thành đang náo loạn.
ACT 21:32 Ông lập tức mang một số sĩ quan và quân sĩ chạy đến chỗ dân chúng đang tụ họp. Thấy quân lính đến, thì họ thôi, không đánh Phao-lô nữa.
ACT 21:33 Viên sĩ quan chỉ huy liền tiến đến bắt Phao-lô. Ông ra lệnh cho quân sĩ lấy hai cái xích xiềng Phao-lô lại. Rồi ông hỏi lai lịch và gốc gác Phao-lô.
ACT 21:34 Một số người trong đám đông la lên thế nầy, kẻ quát lên thế khác. Vì tình hình vô cùng hỗn độn và ồn ào, viên sĩ quan chẳng biết đầu đuôi ra sao nên ông ra lệnh cho quân sĩ giải Phao-lô vào bên trong hành dinh của tiểu đoàn.
ACT 21:35 Lúc Phao-lô tiến đến bực thềm thì quân sĩ phải khiêng ông vì dân chúng chực đánh đập ông.
ACT 21:36 Cả đám đông theo sau hò hét, “Giết hắn đi!”
ACT 21:37 Lúc quân sĩ sắp đưa Phao-lô vào trong hành dinh tiểu đoàn thì ông nói với viên chỉ huy, “Tôi xin phép nói vài lời với ông được không?” Viên chỉ huy đáp, “Anh biết nói tiếng Hi-lạp à?
ACT 21:38 Tôi cứ tưởng anh là tên Ai-cập trước đây gây rối chống chính phủ rồi dẫn bốn ngàn tên khủng bố trốn vào sa mạc dạo nào!”
ACT 21:39 Phao-lô đáp, “Không! Tôi là người Do-thái quê ở Tạt-xơ, miền Xi-xi-li. Tôi là công dân của thành phố nổi danh đó. Xin cho phép tôi nói với dân chúng.”
ACT 21:40 Viên chỉ huy cho phép, nên Phao-lô đứng trên bậc thềm giơ tay ra hiệu bảo dân chúng im lặng. Khi mọi người yên lặng cả rồi, Phao-lô bắt đầu nói với họ bằng tiếng Do-thái.
ACT 22:1 Phao-lô nói, “Thưa các bạn, thưa các vị lãnh đạo dân chúng Do-thái, xin hãy nghe lời tôi biện minh.”
ACT 22:2 Khi người Do-thái nghe ông nói tiếng Do-thái thì họ im bặt. Phao-lô tiếp,
ACT 22:3 “Tôi là người Do-thái, sinh ở Tạt-xơ, thuộc Xi-xi-li, nhưng lớn lên trong thành phố nầy. Tôi là học trò của Ga-ma-liên, người dạy tôi kỹ càng về luật lệ của tổ tiên chúng ta. Tôi rất nghiêm chỉnh trong việc phục vụ Thượng Đế, như tất cả các bạn ở đây.
ACT 22:4 Tôi tàn hại những người theo Đạo Chúa Giê-xu, đến nỗi giết một số người. Tôi bắt đàn ông, đàn bà tống giam vào ngục.
ACT 22:5 Thầy tế lễ tối cao và cả hội đồng bô lão Do-thái có thể xác nhận điều nầy. Họ cấp cho tôi thư giới thiệu đến các anh em Do-thái ở Đa-mách. Cho nên tôi đi đến đó để bắt những người theo đạo giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị.
ACT 22:6 Khoảng giữa trưa, khi tôi đi gần đến Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời chói lòa quanh tôi.
ACT 22:7 Tôi té xuống đất và nghe tiếng phán, ‘Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi tàn hại ta?’
ACT 22:8 Tôi đáp, ‘Thưa Chúa, Ngài là ai?’ Tiếng phán trả lời, ‘Ta là Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét mà ngươi đang tàn hại.’
ACT 22:9 Những người cùng đi với tôi thấy ánh sáng nhưng không nghe tiếng nói.
ACT 22:10 Tôi thưa, ‘Bây giờ tôi phải làm sao, thưa Chúa?’ Chúa đáp, ‘Hãy ngồi dậy, đi đến Đa-mách. Ở đó ngươi sẽ được chỉ bảo những gì ta muốn ngươi làm.’
ACT 22:11 Tôi không thấy đường gì cả, vì ánh sáng chói làm tôi mù mắt. Cho nên các bạn đồng hành dẫn tôi đến Đa-mách.
ACT 22:12 Tại đó có một người tên A-na-nia, đến thăm tôi. Ông ta là một người ngoan đạo, vâng giữ luật pháp Mô-se và được mọi người Do-thái kính nể.
ACT 22:13 Ông đứng bên tôi và nói, ‘Anh Sau-lơ ơi, hãy thấy đường lại đi!’ Lập tức tôi nhìn thấy ông.
ACT 22:14 Ông bảo, ‘Thượng Đế của tổ tiên chúng ta từ lâu đã chọn anh để anh được biết chương trình của Ngài, để thấy Đấng Công Bình và nghe lời từ miệng Ngài.
ACT 22:15 Anh sẽ làm nhân chứng của Ngài cho mọi dân, thuật cho họ những điều anh nghe thấy.
ACT 22:16 Vậy còn chần chờ gì nữa? Hãy ngồi dậy, chịu lễ báp-têm để rửa sạch tội mình, chứng tỏ lòng tin nơi Ngài.’
ACT 22:17 Sau đó, tôi trở về Giê-ru-sa-lem, đang khi cầu nguyện trong đền thờ thì tôi thấy một dị tượng.
ACT 22:18 Tôi thấy Chúa phán với tôi, ‘Hãy mau mau ra khỏi Giê-ru-sa-lem! Dân chúng ở đây không chịu chấp nhận sự thật về ta đâu.’
ACT 22:19 Nhưng tôi đáp, ‘Thưa Chúa, họ biết là ở mỗi hội đường tôi nhốt các tín hữu Ngài vào tù và đánh đập họ mà.
ACT 22:20 Họ cũng biết tôi có mặt ở đó khi Ê-tiên, nhân chứng cho Ngài, bị giết. Tôi đứng đó đồng tình và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy!’
ACT 22:21 Nhưng Chúa phán với tôi, ‘Hãy đi ngay đi. Ta sẽ sai ngươi đến các xứ xa xăm thuộc các dân không phải Do-thái.’”
ACT 22:22 Đám đông nghe Phao-lô đến đó thì vùng la lên, “Giết hắn đi! Diệt nó khỏi thế gian đi! Đừng để nó sống!”
ACT 22:23 Chúng la hét, xé quần áo và hất tung bụi lên trời.
ACT 22:24 Viên chỉ huy liền ra lệnh cho quân lính mang Phao-lô vào trong hành dinh tiểu đoàn để tra khảo. Ông ta muốn Phao-lô khai ra vì lý do gì mà dân chúng chống đối dữ dội đến như vậy.
ACT 22:25 Nhưng trong khi quân lính đang căng nọc ông ra để tra khảo, thì Phao-lô hỏi viên sĩ quan đứng gần đó, “Mấy anh có quyền đánh đòn một công dân La-mã trong khi chưa chứng minh được tội trạng sao?”
ACT 22:26 Viên sĩ quan nghe vậy liền lên trình viên chỉ huy. Viên sĩ quan bảo, “Ông có biết ông đang làm gì không? Anh nầy là công dân La-mã.”
ACT 22:27 Viên chỉ huy đến gặp Phao-lô, hỏi, “Anh là công dân La-mã thật à?” Phao-lô đáp, “Dạ đúng.”
ACT 22:28 Viên chỉ huy nói, “Tôi đã tốn rất nhiều tiền để mua quốc tịch La-mã.” Nhưng Phao-lô bảo, “Còn tôi thì mới sinh ra đã là công dân La-mã rồi.”
ACT 22:29 Những người chuẩn bị hạch hỏi Phao-lô liền lui xa ngay lập tức. Còn viên chỉ huy đâm ra hoảng sợ vì đã trói Phao-lô, một công dân La-mã.
ACT 22:30 Hôm sau viên chỉ huy muốn biết tại sao người Do-thái tố cáo Phao-lô nên ông triệu tập hội đồng Do-thái và các giới trưởng tế. Viên chỉ huy tháo xiềng khỏi Phao-lô và đưa ông ra trước buổi họp.
ACT 23:1 Phao-lô nhìn chăm vào hội đồng Do-thái và trình bày, “Thưa các anh em, suốt đời tôi đã sống một cuộc đời toàn thiện trước mặt Thượng Đế cho đến hôm nay.”
ACT 23:2 A-na-nia, thầy tế lễ tối cao, nghe vậy liền bảo mấy người đứng gần đó vả miệng Phao-lô.
ACT 23:3 Phao-lô bảo A-na-nia, “Thượng Đế cũng sẽ vả ông! Ông như bức tường tô trắng. Ông ngồi dùng luật Mô-se xét xử tôi, mà lại biểu người ta đánh tôi, như thế là trái luật.”
ACT 23:4 Mấy người đứng gần Phao-lô mắng, “Anh không được phép nhục mạ thầy tế lễ tối cao của Thượng Đế như thế!”
ACT 23:5 Phao-lô trả lời, “Thưa anh em, tôi không biết ông nầy là thầy tế lễ tối cao, vì Thánh Kinh viết, ‘Ngươi không được phép chửi rủa người lãnh đạo dân mình.’”
ACT 23:6 Một số người có mặt trong buổi họp là người Xa-đu-xê, số còn lại là Pha-ri-xi. Biết vậy nên Phao-lô nói lớn với họ rằng, “Thưa các anh em, tôi là người Pha-ri-xi, cha tôi cũng là người Pha-ri-xi. Hôm nay tôi bị xét xử ở đây là vì tôi tin vào sự sống lại từ kẻ chết.”
ACT 23:7 Khi Phao-lô nói như thế thì các người Pha-ri-xi và Xa-đu-xê cãi vã nhau, rồi họ chia phe ra.
ACT 23:8 Vì người Xa-đu-xê không tin có thiên sứ, thần linh hay sự sống lại gì cả. Còn người Pha-ri-xi thì tin mọi điều ấy.
ACT 23:9 Cho nên có náo loạn lớn. Có mấy giáo sư luật thuộc phái Pha-ri-xi đứng lên cãi, “Chúng tôi chẳng thấy ông nầy có tội gì. Biết đâu một thiên sứ hay thần linh đang nói với ông ta.”
ACT 23:10 Cuộc cãi vã biến thành cuộc đánh nhau dữ dội đến nỗi viên chỉ huy sợ rằng người Do-thái sẽ xâu xé Phao-lô, nên ông sai quân lính đi xuống cướp Phao-lô và giữ ông trong hành dinh tiểu đoàn.
ACT 23:11 Đêm sau Chúa hiện đến đứng bên Phao-lô. Ngài phán, “Hãy can đảm lên! Con đã làm chứng về ta cho dân chúng ở Giê-ru-sa-lem. Con cũng phải làm chứng về ta ở La-mã nữa.”
ACT 23:12 Sáng hôm sau, có một số người Do-thái bàn định giết Phao-lô. Họ thề nhịn ăn nhịn uống cho tới khi giết được ông.
ACT 23:13 Có hơn bốn mươi người tham dự vào âm mưu ấy.
ACT 23:14 Họ đến nói với các giới trưởng tế và các bô lão Do-thái rằng, “Chúng tôi đã thề không ăn không uống cho đến khi giết được Phao-lô.
ACT 23:15 Các ông nên làm thế nầy: Yêu cầu viên chỉ huy cho mang Phao-lô đến, làm như thể các ông muốn hạch hỏi hắn thêm. Chúng tôi sẽ phục kích giết hắn trên con đường hắn đi đến đây.”
ACT 23:16 Nhưng cháu Phao-lô nghe lén được âm mưu ấy, vội chạy đến hành dinh tiểu đoàn báo cho Phao-lô biết.
ACT 23:17 Phao-lô liền gọi một sĩ quan bảo, “Đưa cậu nầy đi đến gặp viên chỉ huy ngay. Cậu có tin riêng báo cho ông ta.”
ACT 23:18 Viên sĩ quan liền dắt cháu Phao-lô đến viên chỉ huy và trình, “Tên tù Phao-lô yêu cầu tôi dắt cậu nầy đến cho sếp. Cậu ta có tin riêng cho sếp.”
ACT 23:19 Viên chỉ huy nắm tay cậu thiếu niên kéo riêng ra và hỏi, “Cậu có tin gì cho tôi vậy?”
ACT 23:20 Cậu đáp, “Người Do-thái định yêu cầu ông giải Phao-lô xuống trước phiên họp hội đồng ngày mai. Họ giả vờ để ông tưởng rằng họ cần hạch hỏi Phao-lô thêm.
ACT 23:21 Nhưng xin ông chớ tin họ! Có hơn bốn mươi người đang rình và phục kích để giết Phao-lô. Họ đã thề nhịn ăn, nhịn uống cho đến khi giết được ông ta. Bây giờ họ chỉ chờ ông đồng ý thôi.”
ACT 23:22 Viên chỉ huy cho cậu thiếu niên ra về và dặn, “Đừng cho ai biết âm mưu của họ mà cậu vừa nói với tôi, nghe chưa!”
ACT 23:23 Rồi viên chỉ huy gọi hai sĩ quan hầu cận bảo, “Tôi cần một số người đi Xê-xa-rê. Hãy chuẩn bị hai trăm lính, bảy mươi lính cỡi ngựa và hai trăm lính mang gươm giáo sẵn sàng lên đường lúc chín giờ tối nay.
ACT 23:24 Chuẩn bị ngựa cho Phao-lô cỡi để anh ta được giải an toàn xuống cho tổng đốc Phê-lít.”
ACT 23:25 Xong ông thảo một lá thơ nội dung như sau:
ACT 23:26 “Lau-đia Ly-xia Kính gởi ngài Thống Đốc Phê-lít: Kính thưa ngài.
ACT 23:27 Người Do-thái bắt tên nầy định giết hắn. Nhưng tôi nghe rằng hắn là công dân La-mã nên tôi và binh-sĩ của tôi vội đến giải cứu hắn.
ACT 23:28 Tôi muốn biết tại sao họ tố cáo hắn, cho nên tôi đưa hắn ra trước phiên họp của hội đồng,
ACT 23:29 thì thấy người Do-thái cáo rằng hắn phạm mấy điều trong luật của họ nhưng chẳng có cáo trạng nào đáng tù hay đáng chết cả.
ACT 23:30 Có người cho tôi hay rằng vài người Do-thái định giết hắn, nên tôi cho giải hắn ngay xuống ngài. Tôi cũng bảo người Do-thái là nếu muốn kiện cáo hắn điều gì thì đến gặp ngài mà trình bày.”
ACT 23:31 Cho nên quân sĩ thi hành lệnh và mang giải Phao-lô xuống thành Ăng-ti-ba-tri trong đêm ấy.
ACT 23:32 Sáng hôm sau, đội lính cỡi ngựa hộ tống Phao-lô đến Xê-xa-rê còn các quân sĩ khác thì đi trở về hành dinh tiểu đoàn ở Giê-ru-sa-lem.
ACT 23:33 Khi đến Xê-xa-rê và trao thư cho tổng đốc xong, đội kỵ binh giao Phao-lô cho ông ta.
ACT 23:34 Thống đốc đọc xong thư liền hỏi Phao-lô, “Anh gốc miền nào?” Khi biết Phao-lô thuộc miền Xi-xi-li,
ACT 23:35 ông bảo, “Tôi sẽ xét trường hợp của anh khi những người cáo anh đến đây.” Rồi quan tổng đốc ra lệnh canh giữ Phao-lô trong hoàng cung Hê-rốt.
ACT 24:1 Năm ngày sau, A-na-nia, thầy tế lễ tối cao đến Xê-xa-rê cùng với các bô lão và một luật sư tên Tẹt-tu-lu. Họ đến trình cáo trạng chống Phao-lô lên cho quan tổng đốc.
ACT 24:2 Phao-lô được gọi ra trước phiên họp. Tẹt-tu-lu bắt đầu cáo Phao-lô như sau, “Thưa ngài tổng đốc Phê-lít! Dân ta được an hưởng thái bình là nhờ ngài và nhiều cải cách tốt đẹp cho nước ta đã được thực hiện, qua tài lãnh đạo khôn khéo của ngài.
ACT 24:3 Chúng tôi vui hưởng mọi điều đó và luôn luôn biết ơn ngài.
ACT 24:4 Nhưng để khỏi phí thì giờ ngài, xin ngài chịu khó nghe chúng tôi đôi lời.
ACT 24:5 Chúng tôi thấy tên nầy là tay gây rối, sách động người Giu-đa khắp nơi trên thế giới. Hắn là thủ lãnh của nhóm Na-xa-rét.
ACT 24:6 Ngoài ra hắn còn tìm cách làm dơ bẩn đền thờ nhưng chúng tôi ngăn chận kịp thời.
ACT 24:8 Xin Ngài cứ tra hỏi hắn thì sẽ biết những lời chúng tôi trình là thật hay không.”
ACT 24:9 Tất cả mọi người Do-thái đồng xác nhận mọi điều ấy là thật.
ACT 24:10 Khi tổng đốc ra hiệu cho Phao-lô được phát biểu ý kiến, ông liền nói, “Thưa ngài Thống đốc Phê-lít, tôi biết ngài là thẩm phán quốc gia nầy lâu năm, nên hôm nay tôi hết sức vui mừng được có dịp tự bênh vực trước mặt ngài.
ACT 24:11 Ngài có thể tra xét thì biết rằng chỉ mới cách đây mười hai ngày tôi đến Giê-ru-sa-lem thờ phụng.
ACT 24:12 Những người cáo tôi không hề thấy tôi cãi vã với ai trong đền thờ hoặc xúi giục dân chúng trong các hội đường hay trong thành phố.
ACT 24:13 Họ không thể đưa ra bằng cớ nào về những điều họ cáo tôi hôm nay.
ACT 24:14 Nhưng tôi xin thưa với ngài điều nầy: Tôi thờ kính Thượng Đế của tổ tiên chúng ta. Tôi cũng là một người theo Đạo Chúa Giê-xu. Người Do-thái bảo rằng Đạo Chúa Giê-xu không phải là chánh đạo. Nhưng tôi tin tất cả những gì được chép trong luật Mô-se và trong các sách tiên tri.
ACT 24:15 Tôi có cùng một hi vọng nơi Thượng Đế giống như họ—rằng mọi người, bất luận xấu tốt, đều chắc chắn sẽ sống lại từ kẻ chết.
ACT 24:16 Vì thế mà tôi luôn luôn tìm cách làm điều phải trước mặt Thượng Đế và trước mặt dân chúng.
ACT 24:17 Sau nhiều năm vắng mặt ở Giê-ru-sa-lem, tôi trở về, mang tiền cho dân tộc ta và dâng của lễ.
ACT 24:18 Tôi đang làm những điều ấy khi họ thấy tôi trong đền thờ. Tôi vừa mới làm xong lễ tẩy sạch và không hề gây rối; chung quanh tôi chẳng có ai tụ tập cả.
ACT 24:19 Nhưng có mấy người Do-thái ở miền Tiểu Á đáng lẽ phải có mặt ở đây để trình diện Ngài. Nếu tôi làm điều gì quấy thì những người đó mới chính là người cáo tôi được.
ACT 24:20 Hoặc Ngài thử hỏi các người Do-thái ở đây xem tôi có làm gì quấy khi tôi đứng trước hội đồng Do-thái ở Giê-ru-sa-lem không.
ACT 24:21 Có một điều tôi có thể bị kết tội là khi đứng trước họ tôi la lớn rằng, ‘Các ông xét xử tôi hôm nay là vì tôi tin người ta sẽ sống lại từ kẻ chết!’”
ACT 24:22 Phê-lít vốn đã hiểu về Đạo Chúa Giê-xu, nên ông cho đình vụ án và bảo, “Khi viên chỉ huy Ly-xia đến đây tôi sẽ quyết định vụ của anh.”
ACT 24:23 Phê-lít bảo viên sĩ quan cứ tiếp tục giam giữ Phao-lô nhưng cho ông tự do đôi chút và để bạn hữu mang cho ông những đồ cần dùng.
ACT 24:24 Ít hôm sau, Phê-lít cùng với vợ là Ru-xi-la, người Do-thái, yêu cầu đưa Phao-lô ra gặp mặt. Phê-lít nghe Phao-lô nói về đức tin trong Chúa Giê-xu.
ACT 24:25 Nhưng Phê-lít đâm ra sợ khi nghe Phao-lô nói về cách sống đạo, sự tiết độ và thời kỳ Thượng Đế xét xử thế gian. Ông bảo, “Thôi anh về đi. Khi nào rảnh tôi sẽ gọi anh.”
ACT 24:26 Phê-lít cũng mong Phao-lô hối lộ cho mình nên thường hay gọi để nói chuyện với ông.
ACT 24:27 Sau hai năm, Bôn-xi Phết-tu thay Phê-lít làm tổng đốc. Nhưng Phê-lít muốn vừa lòng người Do-thái nên cứ tiếp tục giam giữ Phao-lô.
ACT 25:1 Ba ngày sau khi nhậm chức tổng đốc, Phết-tu từ Xê-xa-rê lên Giê-ru-sa-lem.
ACT 25:2 Tại đó các giới trưởng tế và các lãnh tụ cao cấp của Do-thái tố cáo Phao-lô dữ dội trước mặt Phết-tu.
ACT 25:3 Họ yêu cầu Phết-tu làm ơn giải Phao-lô về Giê-ru-sa-lem mà kỳ thực âm mưu của họ là phục kích để giết Phao-lô dọc đường.
ACT 25:4 Nhưng Phết-tu trả lời rằng Phao-lô sẽ vẫn phải bị giam giữ ở Xê-xa-rê và rằng chính ông sắp về đó.
ACT 25:5 Phết-tu bảo, “Một số người trong mấy anh có thể đi với tôi. Muốn kiện cáo người ấy thì cứ xuống Xê-xa-rê mà kiện, nếu quả thật ông ta phạm pháp.”
ACT 25:6 Phết-tu ở lại Giê-ru-sa-lem khoảng tám đến mười ngày nữa rồi trở về Xê-xa-rê. Hôm sau ông cho lính giải Phao-lô ra trình diện mình. Phết-tu đang ngồi trên ghế xử án
ACT 25:7 thì Phao-lô được đưa vào phòng xử. Những người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem đứng vây quanh ông tố cáo đủ điều nhưng không đưa ra được bằng cớ nào.
ACT 25:8 Phao-lô tự bênh vực mình như sau, “Tôi không hề làm điều gì chống lại luật pháp Do-thái, chống lại đền thờ hay chống lại Xê-xa.”
ACT 25:9 Nhưng Phết-tu muốn làm vừa lòng người Do-thái nên hỏi Phao-lô, “Anh có muốn lên Giê-ru-sa-lem để tôi xét xử về những lời cáo nầy không?”
ACT 25:10 Phao-lô đáp, “Hiện tôi đang đứng trước tòa án của Xê-xa, là nơi tôi phải được xét xử. Tôi không phạm lỗi gì đối với người Do-thái; Ngài biết điều ấy.
ACT 25:11 Nếu tôi có làm gì quấy và luật định rằng tôi phải chết thì tôi sẽ không xin ân xá. Nhưng nếu những lời cáo nầy không có căn cứ gì thì không ai được giao tôi cho họ. Tôi muốn khiếu nại lên cho hoàng đế phân xử!”
ACT 25:12 Phết-tu tham khảo ý kiến với các cố vấn rồi bảo, “Nếu anh đã khiếu nại đến Xê-xa thì anh sẽ ra trước Xê-xa!”
ACT 25:13 Vài hôm sau, vua A-ríp-ba và vợ là Bê-nít đến Xê-xa-rê để thăm xã giao Phết-tu.
ACT 25:14 Hai người ở lại thành phố ấy ít lâu nên Phết-tu thuật cho vua nghe về trường hợp Phao-lô. Phết-tu trình, “Có một người bị Phê-lít giam giữ.
ACT 25:15 Khi tôi lên Giê-ru-sa-lem thì các trưởng tế và các bô lão Do-thái tố cáo hắn, yêu cầu tôi xử tử hắn đi.
ACT 25:16 Nhưng tôi bảo, ‘Luật La-mã không phép giao người bị cáo về tội hình cho ai cả cho đến khi bị cáo được đối chất với nguyên cáo và tự bào chữa.’
ACT 25:17 Cho nên khi mấy người Do-thái nầy đến Xê-xa-rê để tham dự vụ xử, thì tôi không bỏ phí thì giờ. Hôm sau tôi ra ngồi ghế xử án và truyền đem anh ta ra.
ACT 25:18 Người Do-thái đứng lên cáo anh ta nhưng tôi không thấy họ cáo về những trọng tội nào mà tôi đã dự đoán.
ACT 25:19 Mấy điều họ cáo toàn về đạo giáo của họ và về một người tên Giê-xu đã chết nhưng Phao-lô cả quyết là vẫn còn sống.
ACT 25:20 Không biết phải điều tra manh mối vụ nầy ra sao, tôi hỏi Phao-lô, ‘Anh muốn lên Giê-ru-sa-lem để chịu xét xử không?’
ACT 25:21 Nhưng anh ta yêu cầu được giam giữ ở Xê-xa-rê và muốn hoàng đế quyết định. Cho nên tôi ra lệnh cứ giữ anh ta ở đây cho đến khi tôi có thể giải anh đến Xê-xa.”
ACT 25:22 A-ríp-ba bảo Phết-tu, “Tôi cũng muốn tận tai nghe anh ta trình bày.” Phết-tu đáp, “Ngày mai vua sẽ nghe.”
ACT 25:23 Hôm sau A-ríp-ba và bà Bê-nít long trọng đến, với đầy đủ lễ nghi quan cách. Hai người vào phòng xử với các cấp chỉ huy quân lực và viên chức quan trọng vùng Xê-xa-rê. Phết-tu ra lệnh cho lính mang Phao-lô đến.
ACT 25:24 Phết-tu mở đầu, “Kính thưa vua A-ríp-ba và các quan khách, mọi người Do-thái đang có mặt ở đây và ở Giê-ru-sa-lem đã tố cáo anh nầy và hô hoán rằng anh ta không đáng sống nữa.
ACT 25:25 Khi xét xử, tôi không thấy có lý do gì để kết án tử hình. Nhưng vì anh ta yêu cầu được hoàng đế phân xử nên tôi sẽ gởi anh đến hoàng đế.
ACT 25:26 Tuy nhiên, tôi chưa có điều gì rõ ràng để tâu lên hoàng đế về việc anh ấy. Cho nên hôm nay tôi đưa anh ta ra trước quí vị đây—nhất là ngài A-ríp-ba. Tôi mong Ngài sẽ hạch hỏi anh ta và cho tôi lý do gì để viết phúc trình.
ACT 25:27 Vì tôi nghĩ giải một tên tù đến cho hoàng đế mà không kèm theo lời tố cáo là điều vô lý.”
ACT 26:1 Vua A-ríp-ba bảo Phao-lô, “Anh được phép tự bênh vực.” Phao-lô liền giơ tay lên và bắt đầu nói.
ACT 26:2 “Tâu vua A-ríp-ba, tôi rất vui được đứng trước mặt ngài và trả lời về những điều người Do-thái cáo tôi.
ACT 26:3 Ngài đã rõ phong tục tập quán Do-thái cùng những điều họ biện luận, nên xin Ngài kiên nhẫn nghe tôi trình bày.
ACT 26:4 Mọi người Do-thái đều biết rõ đời sống tôi từ đầu đến cuối, lúc đầu tôi sống trong xứ tôi và về sau sống ở Giê-ru-sa-lem ra sao.
ACT 26:5 Họ biết tôi lâu lắm rồi. Nếu muốn, họ có thể làm chứng rằng tôi là một người Pha-ri-xi gương mẫu. Mọi người Pha-ri-xi đều tuân theo luật pháp Mô-se và giữ đạo Do-thái cẩn thận, kỹ càng hơn tất cả các nhóm khác.
ACT 26:6 Hôm nay tôi bị xét xử vì tôi hi vọng vào lời hứa Thượng Đế hứa cho tổ tiên chúng ta.
ACT 26:7 Lời hứa mà mười hai chi tộc của dân ta hi vọng nhận được khi họ phục vụ Thượng Đế ngày và đêm. Tâu vua, người Do-thái cáo tôi vì tôi có cùng một hi vọng giống như họ vậy!
ACT 26:8 Tại sao quí vị cho rằng Thượng Đế không thể khiến người ta từ kẻ chết sống lại?
ACT 26:9 Trước kia, tôi cũng nghĩ nên tìm mọi cách để chống lại Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét.
ACT 26:10 Tôi đã làm như thế ở Giê-ru-sa-lem. Các trưởng tế cho quyền tôi bắt giam các dân Chúa và khi họ bị giết hại, tôi hoàn toàn đồng ý.
ACT 26:11 Trong mỗi hội đường, tôi thường trừng trị và ép họ xúc phạm đến danh Chúa Giê-xu. Tôi ghét họ đến nỗi tôi đi lùng họ ở các thành phố khác để trị tội.
ACT 26:12 Có lần các trưởng tế cho phép và trao quyền cho tôi đi sang Đa-mách.
ACT 26:13 Trên đường đi, khoảng giữa trưa, tôi thấy ánh sáng từ trời chiếu xuống, sáng hơn mặt trời, chói lòa chung quanh tôi và các bạn đồng hành.
ACT 26:14 Chúng tôi đều té xuống đất. Rồi tôi nghe tiếng phán với tôi bằng tiếng Do-thái rằng, ‘Sau-lơ, Sau lơ, sao ngươi tàn hại ta? Chống ta là ngươi tự hại mình đó.’
ACT 26:15 Tôi thưa, ‘Thưa Chúa, Ngài là ai?’ Chúa phán, ‘Ta là Chúa Giê-xu mà ngươi đang tàn hại.
ACT 26:16 Hãy đứng lên! Ta đã chọn ngươi làm đầy tớ và nhân chứng cho ta—ngươi sẽ thuật cho mọi người điều chính mắt ngươi thấy và những điều ta sẽ tỏ cho ngươi. Vì thế mà ta đến với ngươi hôm nay.
ACT 26:17 Ta sẽ che chở ngươi khỏi dân tộc ngươi và các dân tộc không phải Do-thái, vì ta sai ngươi đến với họ
ACT 26:18 để mở mắt họ, dẫn dắt họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tăng trở về cùng Thượng Đế. Rồi tội lỗi họ sẽ được tha và họ được ngồi chung với những người mà Thượng Đế đã chọn cho Ngài do tin nhận ta.’
ACT 26:19 Tâu vua A-ríp-ba, sau khi thấy khải tượng ấy, tôi tuyệt đối tuân theo.
ACT 26:20 Tôi bắt đầu khuyên mọi người phải ăn năn, trở về cùng Thượng Đế và chứng tỏ mình đã thực sự thay đổi qua hành động. Tôi khởi đầu từ Đa-mách, sang Giê-ru-sa-lem rồi đến toàn vùng Giu-đia, đồng thời rao giảng cho những người không phải Do-thái.
ACT 26:21 Vì thế mà người Do-thái bắt tôi và định giết tôi trong đền thờ.
ACT 26:22 Nhưng Thượng Đế đã che chở tôi cho nên hôm nay tôi đứng đây, thuật lại cho tất cả quí vị, từ cấp thấp đến cấp cao, những điều chính mắt tôi thấy. Tôi chỉ kể lại điều mà Mô-se và các nhà tiên tri nói trước sẽ xảy đến—
ACT 26:23 rằng Đấng Cứu Thế là người đầu tiên sống lại từ kẻ chết, và Ngài sẽ mang ánh sáng đến cho người Do-thái cũng như người không phải Do-thái.”
ACT 26:24 Trong khi Phao-lô đang thao thao bênh vực mình thì Phết-tu kêu lên, “Phao-lô ơi, anh quẫn trí rồi! Học thức nhiều quá khiến anh điên khùng!”
ACT 26:25 Phao-lô đáp, “Thưa ngài Phết-tu, tôi không điên đâu. Những lời tôi nói là thật.
ACT 26:26 Vua A-ríp-ba biết rõ những điều nầy và tôi có thể tự do trình bày mọi điều cho vua. Tôi biết vua đã nghe những điều nầy, vì những việc ấy đâu có phải xảy ra nơi xó xỉnh nào?
ACT 26:27 Thưa vua A-ríp-ba, ngài có tin các lời tiên tri không? Tôi biết ngài tin.”
ACT 26:28 Vua A-ríp-ba bảo Phao-lô, “Anh tưởng chỉ trong chốc lát mà thuyết phục được tôi để trở thành tín hữu Cơ-đốc à?”
ACT 26:29 Phao-lô thưa, “Dù sớm hay muộn, tôi cầu xin Thượng Đế rằng không những vua mà tất cả mọi người nghe tôi hôm nay sẽ được cứu và giống như tôi—ngoại trừ xiềng xích mà tôi đang mang đây thôi.”
ACT 26:30 Sau đó vua A-ríp-ba, tổng đốc Phết-tu, bà Bê-nít và mọi người ngồi với họ đứng dậy
ACT 26:31 rời phòng xử. Họ thảo luận với nhau và đồng ý rằng, “Không có lý do gì để xử tử hay giam giữ anh nầy cả.”
ACT 26:32 Vua A-ríp-ba bảo Phết-tu, “Chúng ta có thể thả anh nầy được nếu anh ta chưa kháng án lên Xê-xa.”
ACT 27:1 Họ quyết định gởi chúng tôi sang Ý nên chỉ định một sĩ quan tên Giu-li-út, phục vụ trong quân lực hoàng đế, canh giữ Phao-lô và các tù nhân khác.
ACT 27:2 Chúng tôi xuống một chiếc tàu, khởi hành từ thành A-ra-mi và sắp đi các hải cảng vùng Tiểu Á. A-ri-tạc, quê ở Tê-sa-lô-ni-ca thuộc miền Ma-xê-đoan cùng đi với chúng tôi.
ACT 27:3 Hôm sau chúng tôi đến Xi-đôn. Giu-li-út rất tử tế với Phao-lô, cho phép ông đi thăm bạn hữu để họ lo những thứ cần dùng.
ACT 27:4 Chúng tôi rời Xi-đôn và chạy gần đảo Chíp vì gặp gió ngược.
ACT 27:5 Chúng tôi băng qua biển gần Xi-xi-li và Băm-phi-li, rồi cập bến Mi-ra thuộc Lý-sa.
ACT 27:6 Ở đó, viên sĩ quan thấy có chiếc tàu từ thành A-lịch-sơn đến và sắp khởi hành sang Ý, nên ông cho chúng tôi qua tàu ấy.
ACT 27:7 Trong nhiều ngày tàu đi rất chậm. Phải khó khăn lắm chúng tôi mới đến được Ni-đu, nhưng rồi không đi được nữa vì gặp gió ngược, nên chúng tôi đi ven theo hướng Nam của đảo Cơ-rết gần Xanh-môn.
ACT 27:8 Thật rất vất vả mới qua khỏi đảo ấy rồi chúng tôi đến một nơi gọi là Mỹ-cảng, gần thành La-xa.
ACT 27:9 Chúng tôi thiệt mất nhiều thì giờ mà nếu giương buồm ra đi cũng nguy hiểm, hơn nữa đã gần ngày cữ ăn của người Do-thái nên Phao-lô cảnh cáo,
ACT 27:10 “Thưa các bạn, tôi thấy chuyến đi nầy rất nguy hiểm. Chúng ta có thể mất mạng cùng với chiếc tàu nầy và hàng hóa.”
ACT 27:11 Nhưng viên thuyền trưởng và người chủ tàu không nghe Phao-lô, còn viên sĩ quan thì tin lời họ hơn lời Phao-lô.
ACT 27:12 Vì hải cảng ấy không tiện để trú lúc mùa đông nên đa số người đồng ý tiếp tục đi. Họ hi vọng chạy đến cảng Phượng Hoàng rồi trú qua mùa đông tại đó. Phượng Hoàng là một thành phố nằm trên đảo Cơ-rết, có một hải cảng hướng về phía Tây Nam và Tây Bắc.
ACT 27:13 Khi thấy gió xuôi thổi từ phía Nam tới, các thủy thủ trên tàu tưởng rằng, “Đây là gió thuận, chúng ta nên ra đi,” vì thế họ nhổ neo, cho thuyền chạy dọc theo đảo Cơ-rết.
ACT 27:14 Nhưng bỗng có một luồng gió mạnh gọi là “gió Đông Bắc” từ đảo thổi xuống.
ACT 27:15 Tàu bị kẹt trong luồng gió ngược ấy, không chạy tới được nên chúng tôi để mặc gió đưa tàu đi đâu thì đi.
ACT 27:16 Gió thổi tàu chúng tôi trôi dạt đến phía dưới một đảo nhỏ tên Cầu Đá. Họ hết sức vất vả lắm mới kéo được chiếc thuyền cấp cứu lên tàu.
ACT 27:17 Sau khi kéo lên được rồi, họ cột dây thừng chung quanh tàu để tàu khỏi vỡ tung. Họ sợ tàu tấp phải bãi phù sa vùng Xia-tít, nên họ hạ buồm xuống để gió đưa tàu đi.
ACT 27:18 Hôm sau cơn bão lại càng dữ dội hơn, đến nỗi họ phải ném bớt hàng hóa xuống biển.
ACT 27:19 Qua bữa sau nữa họ đích thân ném các máy móc trên tàu xuống biển.
ACT 27:20 Trong nhiều ngày chúng tôi chẳng thấy mặt trời hay trăng sao gì cả mà cơn bão càng ngày càng mạnh, chúng tôi hết hi vọng được cứu sống.
ACT 27:21 Vì ai cũng nhịn đói đã lâu nên Phao-lô đứng lên khuyên, “Các bạn à, nếu các bạn nghe tôi đừng rời đảo Cơ-rết thì chắc hẳn đã tránh được cảnh trạng nguy khốn và thiệt hại nầy.
ACT 27:22 Nhưng bây giờ tôi khuyên các bạn hãy vững lòng vì không ai trong chúng ta sẽ mất mạng đâu. Chỉ mất tàu thôi.
ACT 27:23 Đêm qua, một thiên sứ của Thượng Đế mà tôi phục vụ và thờ phụng đến với tôi.
ACT 27:24 Thiên sứ bảo rằng, ‘Phao-lô ơi, đừng sợ. Ngươi sẽ phải đứng trước mặt Xê-xa. Thượng Đế hứa rằng Ngài sẽ cứu mạng mọi người cùng đi với ngươi.’
ACT 27:25 Cho nên, hãy can đảm lên các bạn. Tôi tin nơi Thượng Đế rằng mọi việc sẽ xảy ra đúng theo lời thiên sứ bảo tôi.
ACT 27:26 Nhưng chúng ta sẽ bị mắc cạn ở một đảo nào đó.”
ACT 27:27 Đến đêm thứ mười bốn mà chúng tôi vẫn còn lênh đênh trên biển A-ria-tích. Khoảng nửa đêm, các thủy thủ tưởng đã gần đến đất,
ACT 27:28 nên họ thả trái dò xuống nước, thấy sâu một trăm hai mươi bộ. Chạy được một khoảng nữa, họ lại thả trái dò xuống thì thấy sâu chín mươi bộ.
ACT 27:29 Sợ tàu đụng phải đá ngầm nên các thủy thủ quăng bốn cái neo xuống biển rồi chờ đến sáng.
ACT 27:30 Một số thủy thủ định bỏ tàu trốn đi nên hạ thuyền cấp cứu xuống, giả vờ như đang quăng neo phía trước mũi thuyền.
ACT 27:31 Nhưng Phao-lô bảo viên sĩ quan và các binh sĩ khác rằng, “Nếu mấy người ấy không ở lại trong tàu thì các anh không giữ mạng sống được đâu.”
ACT 27:32 Vì thế quân lính cắt đứt dây thừng cho thuyền cấp cứu rơi tòm xuống biển.
ACT 27:33 Gần đến rạng đông, Phao-lô khuyên mọi người nên ăn đôi chút. Ông bảo, “Mười bốn ngày qua anh em đã chờ đợi, trông ngóng mà không ăn uống gì.
ACT 27:34 Tôi khuyên anh em nên ăn chút ít đi để lấy lại sức. Dù một sợi tóc trên đầu của anh em cũng sẽ không mất đâu.”
ACT 27:35 Nói xong, Phao-lô cầm bánh mì tạ ơn Thượng Đế trước mặt mọi người. Rồi ông bẻ bánh ăn.
ACT 27:36 Mọi người cảm thấy phấn khởi cũng bắt đầu ăn.
ACT 27:37 Trên tàu có tất cả hai trăm bảy mươi sáu người.
ACT 27:38 Sau khi đã ăn uống xong, họ bắt đầu quăng lúa gạo xuống biển để nhẹ tàu.
ACT 27:39 Khi mặt trời lên, các thủy thủ nhìn thấy đất. Tuy không biết đó là vùng đất nào nhưng họ thấy có cái vịnh, với bãi biển nên muốn hướng cho tàu chạy thẳng vào bãi, nếu được.
ACT 27:40 Vì thế, họ cắt dây thừng buộc neo cho neo rơi xuống biển đồng thời họ tháo dây thừng buộc bánh lái tàu. Rồi họ giương cánh buồm trước, hướng vào gió để chạy thẳng vào bờ.
ACT 27:41 Nhưng tàu đụng phải bãi cát. Mũi tàu bị kẹt cứng không động đậy được còn đuôi tàu thì bị sóng lớn đánh nên vỡ tan.
ACT 27:42 Quân lính định giết tù vì sợ họ nhảy xuống biển bơi vào bờ trốn thoát.
ACT 27:43 Nhưng Giu-li-út muốn cứu Phao-lô nên gạt bỏ ý định ấy. Trái lại, ông ra lệnh cho ai biết bơi thì nhảy xuống nước bơi vào bờ trước.
ACT 27:44 Những người còn lại theo sau bằng cách ôm các tấm ván hay mảnh gỗ của tàu. Nhờ thế mà mọi người đều bơi vào bờ an toàn.
ACT 28:1 Khi chúng tôi lên bờ an toàn rồi, thì được biết đảo ấy tên Man-tơ.
ACT 28:2 Cư dân trên đảo rất tử tế với chúng tôi. Vì trời lạnh và đang mưa nên họ đốt một đống lửa đón tiếp chúng tôi.
ACT 28:3 Phao-lô ôm một bó củi và đặt trên đống lửa thì tình cờ có một con rắn độc bị nóng bò ra quấn lấy tay ông.
ACT 28:4 Dân cư trên đảo thấy con rắn treo lủng lẳng trên tay Phao-lô nên bảo nhau, “Người nầy chắc là tay giết người! Cho nên dù thoát chết trên biển cả nhưng thần Công Lý vẫn không cho sống.”
ACT 28:5 Nhưng Phao-lô rảy con rắn vào lửa, không sao cả.
ACT 28:6 Dân chúng trên đảo đoán chắc Phao-lô sẽ bị sưng vù lên hoặc ngã xuống chết ngay lập tức. Họ chờ mãi không thấy ông bị việc gì nên đổi ý nói rằng, “Ông nầy đúng là thần!”
ACT 28:7 Quanh đó có mấy thửa ruộng của Búp-liêu, một người có uy tín trên đảo. Ông mời chúng tôi vào nhà và thết đãi trong ba ngày.
ACT 28:8 Cha của Búp-liêu đang bị sốt rét và kiết lỵ. Phao-lô đến thăm, cầu nguyện, đặt tay lên ông và chữa lành cho.
ACT 28:9 Sau đó, tất cả những người đau yếu nào trên đảo cũng đến với Phao-lô và đều được chữa lành cả.
ACT 28:10 Dân chúng tiếp chúng tôi rất niềm nở. Ba tháng sau, khi chúng tôi sắp rời đảo thì họ cung cấp đủ mọi thứ cần dùng cho chúng tôi. Chúng tôi lên một chiếc tàu khởi hành từ A-lịch-sơn nhưng trú trên đảo suốt mùa đông. Trước mũi tàu có vẽ hình thần sinh đôi.
ACT 28:12 Chúng tôi dừng lại bến Xi-ra-qui ba ngày.
ACT 28:13 Từ đó chúng tôi giương buồm đi Rê-gum. Hôm sau gió Nam bắt đầu thổi thì ngày sau chúng tôi đến Bu-teo-li.
ACT 28:14 Chúng tôi tìm được một số tín hữu ở đó, họ mời chúng tôi ở lại chơi một tuần. Sau cùng chúng tôi đến La-mã.
ACT 28:15 Các tín hữu địa phương nghe tin chúng tôi đến, nên từ những nơi xa như Chợ A-bi-út và Ba Lữ Quán kéo đến thăm. Gặp gỡ họ, Phao-lô cảm thấy phấn khởi và cảm tạ Thượng Đế.
ACT 28:16 Đến La-mã, Phao-lô được phép ở riêng, chỉ có một người lính canh giữ mà thôi.
ACT 28:17 Ba ngày sau, ông cho mời các lãnh tụ người Do-thái ở đó đến. Khi họ họp lại, Phao-lô trình bày, “Thưa anh em, tôi chưa hề làm điều gì chống lại dân ta hay phong tục của tổ tiên chúng ta. Nhưng tôi bị bắt ở Giê-ru-sa-lem, rồi bị giải sang cho người La-mã.
ACT 28:18 Sau khi hạch hỏi nhiều điều mà vẫn không tìm thấy lý do nào để xử tử, họ định thả tôi,
ACT 28:19 nhưng người Do-thái ở đó chống đối. Cho nên tôi phải đến La-mã để Xê-xa phân xử chứ không phải để tố cáo dân ta đâu.
ACT 28:20 Vì thế mà tôi muốn gặp các anh em để nói chuyện. Tôi mang xiềng xích nầy là vì tôi tin vào niềm hi vọng của dân Ít-ra-en.”
ACT 28:21 Họ đáp, “Chúng tôi chưa nhận được thư từ gì từ Giu-đia nói về vụ của anh. Không ai trong vòng các anh em Do-thái mới đến đây đem tin hoặc nói điều gì không hay về anh.
ACT 28:22 Nhưng chúng tôi muốn nghe ý kiến anh, vì biết rằng mọi người khắp nơi đều chống lại đạo nầy.”
ACT 28:23 Phao-lô và những người Do-thái đồng ý chọn một ngày họp lại. Vào hôm ấy có rất đông người Do-thái đến chỗ ông trọ. Ông dành suốt ngày nói chuyện với họ. Dùng luật pháp Mô-se và các lời tiên tri, ông giải thích về Nước Trời và tìm cách thuyết phục họ tin những lời viết về Chúa Giê-xu.
ACT 28:24 Có người tin lời Phao-lô, có kẻ chẳng chịu tin.
ACT 28:25 Cho nên họ bất đồng ý với nhau và bắt đầu tản mác ra về sau khi Phao-lô nói với họ một điều nữa: “Thánh Linh nói rất đúng về tổ tiên các anh qua nhà tiên tri Ê-sai,
ACT 28:26 ‘Hãy đi bảo cùng dân nầy rằng: Các ngươi nghe thì nghe, nhưng không hiểu gì. Nhìn thì nhìn mà chẳng học được gì.
ACT 28:27 Vì dân nầy đã trở nên ương ngạnh. Có tai mà không nghe, họ nhắm mắt lại. Nếu không, họ hiểu được mắt họ thấy được, tai họ nghe được. Trí họ thật hiểu rồi họ sẽ trở về cùng ta để được chữa lành.’
ACT 28:28 Anh em nên biết rằng Thượng Đế đã đem sự cứu rỗi nầy đến cho các dân không phải Do-thái và họ bằng lòng tiếp nhận!”
ACT 28:29 
ACT 28:30 Phao-lô ở suốt hai năm tại một nhà thuê, tiếp đón những người đến thăm.
ACT 28:31 Ông mạnh dạn rao giảng Nước Trời và dạy dỗ về Chúa Giê-xu, không bị ai ngăn trở cả.
ROM 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, được Thượng Đế gọi làm sứ đồ và được chọn rao Tin Mừng của Ngài cho mọi người.
ROM 1:2 Từ xưa, qua các nhà tiên tri của Ngài, Thượng Đế đã hứa ban Tin Mừng theo Thánh Kinh viết.
ROM 1:3 Tin Mừng về Con Thượng Đế: Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Về bản chất loài người, Ngài được sinh trong dòng họ vua Đa-vít nhưng qua Thánh Linh, Ngài được chỉ định làm Con Thượng Đế, với quyền năng cao cả, chứng tỏ bằng việc Ngài sống lại từ kẻ chết.
ROM 1:5 Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã giao cho tôi nhiệm vụ đặc biệt của một sứ đồ, để đưa dẫn mọi người trên thế giới trở lại tin nhận và vâng phục Chúa. Tôi làm công tác nầy vì Ngài.
ROM 1:6 Còn quí anh chị em ở La-mã cũng được kêu gọi để thuộc riêng về Ngài.
ROM 1:7 Kính gởi: Anh chị em ở La-mã là người đã được Thượng Đế yêu thương và kêu gọi để trở thành dân thánh của Ngài. Cầu chúc anh chị em nhận được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 1:8 Trước hết tôi cảm tạ Thượng Đế tôi, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu về tất cả anh chị em, vì khắp nơi ai nấy đều ca ngợi đức tin anh chị em.
ROM 1:9 Thượng Đế, Đấng mà tôi hết lòng phục vụ bằng cách rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, biết rằng tôi luôn luôn nhắc đến anh chị em
ROM 1:10 mỗi khi cầu nguyện. Tôi cầu xin được đến thăm anh chị em và nếu đẹp ý Thượng Đế, thì việc ấy sẽ thành.
ROM 1:11 Tôi rất muốn gặp gỡ anh chị em để dùng những ân tứ thuộc linh tôi có mà giúp anh chị em lớn mạnh hơn.
ROM 1:12 Tôi muốn mỗi người trong chúng ta nên giúp đỡ lẫn nhau, theo đức tin mình có. Đức tin anh chị em sẽ khích lệ tôi, ngược lại, đức tin tôi sẽ khích lệ anh chị em.
ROM 1:13 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, nhiều lần tôi dự định đến thăm các anh chị em nhưng chưa được. Tôi muốn thăm để giúp các anh chị em lớn lên về mặt tâm linh như tôi đã giúp các người ngoại quốc khác.
ROM 1:14 Tôi mang nặng một nghĩa vụ đối với mọi người—từ người Hi-lạp hay không phải Hi-lạp, người khôn ngoan cũng như người ngu dốt.
ROM 1:15 Vì thế mà tôi rất muốn rao truyền Tin Mừng cho quí anh chị em là người La-mã.
ROM 1:16 Tôi rất hãnh diện về Tin Mừng nầy, vì là quyền năng của Thượng Đế để cứu những ai tin—trước hết là người Do-thái rồi đến những người không phải Do-thái.
ROM 1:17 Tin Mừng ấy cho thấy Thượng Đế giúp cho con người hòa thuận lại với Ngài—bắt đầu và kết thúc đều qua đức tin. Như Thánh Kinh viết, “Những ai đã hòa thuận lại với Ngài sẽ sống mãi bằng đức tin.”
ROM 1:18 Cơn giận của Thượng Đế từ trời đã tỏ ra để chống lại mọi điều ác và trái phép mà con người làm. Qua nếp sống độc ác của họ, con người đã che giấu sự thật.
ROM 1:19 Thượng Đế nổi giận, vì những gì họ cần biết về Thượng Đế thì đã trình bày rõ ràng cho họ. Chính Thượng Đế đã phơi bày những điều ấy ra cho họ.
ROM 1:20 Có nhiều điều về Thượng Đế mà con người không thể thấy—chẳng hạn như quyền năng vô hạn và thiên tính của Ngài. Nhưng từ thuở tạo thiên lập địa, hai đặc tính nầy đều sờ sờ ra đó và ai cũng hiểu được. Cho nên họ không có lý do gì để bào chữa về những việc làm xấu xa của mình.
ROM 1:21 Họ đã biết Thượng Đế, nhưng không chịu tôn kính hoặc tạ ơn Ngài. Tư tưởng họ thật vô dụng. Trí óc họ đầy ngu tối.
ROM 1:22 Họ bảo rằng mình khôn ngoan nhưng lại hóa ra ngu dại.
ROM 1:23 Họ đánh đổi vinh hiển của Thượng Đế, là Đấng sống đời đời, để thờ lạy những thần tượng tạc giống hình người, chim chóc, súc vật hoặc rắn rết.
ROM 1:24 Vì họ hành động như thế nên Thượng Đế bỏ mặc họ đi theo con đường tội lỗi, lúc nào họ cũng muốn làm ác. Do đó, họ đầy dẫy tội nhục dục, sử dụng thân thể với nhau một cách bậy bạ.
ROM 1:25 Họ đã đánh đổi sự thật của Thượng Đế để lấy sự dối trá. Họ thờ phụng những vật được tạo dựng, thay vì thờ Đấng Tạo Hóa là Đấng đáng được ca ngợi đời đời. A-men.
ROM 1:26 Vì thế cho nên Thượng Đế đã bỏ mặc họ làm những việc nhơ nhuốc theo ý họ. Đàn bà không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà trái lại, hành dục với nhau.
ROM 1:27 Đàn ông cũng vậy, không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà lại hành dục với nhau. Đàn ông làm những việc nhơ nhuốc với nhau, vì lý do đó thân thể họ phải mang lấy hình phạt về tội phạm của mình.
ROM 1:28 Người ta không cho việc hiểu biết thực sự về Thượng Đế là quan trọng. Nên Thượng Đế bỏ mặc họ suy nghĩ theo ý tưởng ngông cuồng, làm những việc bậy bạ.
ROM 1:29 Lòng họ đầy dẫy tội lỗi, độc ác, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, giết người, tranh giành, dối trá, làm hại nhau. Họ nói hành,
ROM 1:30 bêu xấu lẫn nhau và thù ghét Thượng Đế. Họ cộc cằn, kiêu căng và khoác lác. Lúc nào họ cũng nghĩ đến chuyện làm quấy, không vâng lời cha mẹ.
ROM 1:31 Họ ngu dại, không giữ lời hứa, thiếu nhân từ và khoan dung với người khác.
ROM 1:32 Họ biết luật Thượng Đế dạy rằng những ai có đời sống như vậy thật đáng chết, nhưng không những họ vẫn tiếp tục làm ác, mà lại còn xúi giục kẻ khác làm nữa.
ROM 2:1 Nếu bạn nghĩ rằng mình có thể lên án người khác, thì bạn lầm. Khi lên án người khác là tự lên án mình, vì chính mình cũng làm như họ.
ROM 2:2 Thượng Đế lên án những người làm như thế và chúng ta biết phán quyết của Ngài là công bằng.
ROM 2:3 Bạn lên án những người phạm tội, mà chính mình cũng phạm tội như họ. Bạn tưởng sẽ thoát khỏi sự trừng phạt của Thượng Đế sao?
ROM 2:4 Ngài rất nhân từ và kiên nhẫn, chờ đợi bạn thay đổi, nhưng bạn không đếm xỉa gì đến lòng nhân từ Ngài. Bạn không biết rằng Thượng Đế nhân từ cốt để cho bạn ăn năn.
ROM 2:5 Nhưng bạn ương ngạnh, không chịu thay đổi, cho nên bạn sẽ rước lấy sự trừng phạt nặng nề hơn, trong ngày Thượng Đế nổi giận. Vào ngày ấy, mọi người sẽ thấy sự xét xử công bình của Ngài.
ROM 2:6 Thượng Đế sẽ thưởng phạt mỗi người theo việc họ đã làm.
ROM 2:7 Một số người luôn làm lành, sống cho vinh hiển của Thượng Đế, cho danh dự và những gì bất diệt. Ngài sẽ ban cho họ sự sống đời đời.
ROM 2:8 Còn những kẻ sống ích kỷ, không vâng theo sự thật mà đi theo điều ác, thì Thượng Đế sẽ giáng trừng phạt và cơn giận của Ngài.
ROM 2:9 Ngài sẽ mang khốn khổ đến cho những kẻ làm ác—trước là người Do-thái, sau là cho những người không phải Do-thái.
ROM 2:10 Nhưng Ngài sẽ ban vinh dự và bình an cho những người làm lành—trước là người Do-thái sau là những người không phải Do-thái.
ROM 2:11 Vì Thượng Đế đối xử mọi người như nhau.
ROM 2:12 Ai không có luật pháp mà phạm tội sẽ phải chết, dù không có luật pháp. Cũng thế, những người có luật pháp mà phạm tội thì sẽ bị luật pháp xét xử.
ROM 2:13 Chỉ nghe luật pháp suông thôi, không thể nào giúp người ta hòa thuận lại với Thượng Đế đâu. Người nào vâng theo luật pháp mới hòa thuận lại với Ngài được.
ROM 2:14 Những người không phải Do-thái, dù không có luật pháp, nhưng nếu do bản chất tự nhiên làm theo những điều luật pháp qui định, thì những điều ấy là luật pháp của họ rồi.
ROM 2:15 Họ cho thấy rằng, tự lòng mình đã biết phân biệt phải quấy theo như luật pháp qui định. Họ chứng tỏ điều ấy qua lương tâm. Lương tâm có khi bảo rằng mình làm đúng, có khi bảo rằng mình làm sai.
ROM 2:16 Việc ấy sẽ xảy đến trong ngày mà Thượng Đế, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, sẽ xét xử những tâm tư thầm kín của con người. Đó là điều dạy dỗ của Tin Mừng mà tôi rao giảng.
ROM 2:17 Còn bạn thì sao? Bạn tự cho mình là người Do-thái. Bạn tin luật pháp Mô-se và khoe rằng mình sống gần Thượng Đế.
ROM 2:18 Bạn biết Ngài muốn bạn làm gì và điều gì là hệ trọng vì bạn học biết luật pháp.
ROM 2:19 Bạn tự cho mình là người dẫn đường kẻ mù, ánh sáng cho kẻ đi trong tối tăm.
ROM 2:20 Bạn tự cho mình có thể chỉ bảo điều phải cho kẻ ngu, và dạy những kẻ dốt nát. Vì bạn có luật pháp, nên bạn nghĩ mình biết mọi thứ và có sự thật theo mình.
ROM 2:21 Bạn dạy người khác mà không dạy bản thân mình sao? Bạn dạy kẻ khác đừng ăn cắp mà chính mình lại ăn cắp.
ROM 2:22 Bạn bảo kẻ khác không nên phạm tội ngoại tình mà chính mình lại phạm tội ấy. Bạn ghét thần tượng, mà lại đánh cắp hình tượng trong đền thờ.
ROM 2:23 Bạn khoe khoang là biết luật Thượng Đế, nhưng lại làm nhục danh Ngài bằng cách phạm luật ấy,
ROM 2:24 thật đúng như Thánh Kinh chép, “Vì ngươi mà dân ngoại xúc phạm đến danh CHÚA.”
ROM 2:25 Nếu bạn tuân giữ luật pháp, thì phép cắt dương bì có ý nghĩa. Còn nếu bạn phạm luật, thì cắt dương bì cũng như không.
ROM 2:26 Những người không phải Do-thái vốn không chịu phép cắt dương bì, nhưng nếu họ làm theo điều luật pháp dạy bảo, thì xem như họ đã chịu phép ấy rồi.
ROM 2:27 Còn bạn là người Do-thái có luật pháp viết thành chữ và có phép cắt dương bì, nhưng bạn lại phạm luật. Cho nên những người không chịu phép cắt dương bì về phần thể xác, mà tuân theo luật pháp, sẽ kết án bạn.
ROM 2:28 Họ có thể làm như thế được là vì nếu một người chỉ có cái vỏ Do-thái về phần xác mà thôi thì không phải là người Do-thái thật; phép cắt dương bì thật không phải chỉ có bề ngoài thân thể thôi đâu.
ROM 2:29 Người Do-thái thật là người Do-thái bên trong lòng; phép cắt dương bì thật là do Thánh Linh làm trong lòng, chứ không phải qua luật pháp viết thành chữ. Người như thế được Thượng Đế ca ngợi, chứ không phải con người.
ROM 3:1 Thế thì người Do-thái có gì hơn những dân tộc khác? Phép cắt dương bì có gì đặc biệt?
ROM 3:2 Dĩ nhiên là có, về nhiều mặt. Điểm quan trọng nhất là: Thượng Đế đã trao lời dạy dỗ của Ngài cho người Do-thái.
ROM 3:3 Nếu có một vài người Do-thái bất trung với Ngài, có phải vì vậy mà Ngài không thực hiện lời Ngài đã hứa sao?
ROM 3:4 Không phải! Thượng Đế vẫn chân thật dù cho mọi người giả dối. Như Thánh Kinh viết: “Ngài được chứng tỏ là đúng khi Ngài phán, và lẽ phải sẽ về phần Ngài.”
ROM 3:5 Khi chúng ta phạm tội, điều đó chứng tỏ Thượng Đế đúng. Như thế có thể nào bảo rằng Thượng Đế trừng phạt chúng ta là sai chăng? (Tôi nói như một vài người thường nói)
ROM 3:6 Không! Nếu Thượng Đế không trừng phạt chúng ta thì làm thế nào Ngài xét xử thế gian?
ROM 3:7 Có người sẽ bảo, “Khi tôi nói dối tức là tôi làm vinh hiển Ngài, vì sự dối của tôi chứng tỏ Thượng Đế là thật. Thế thì tại sao tôi bị xét xử như người có tội?”
ROM 3:8 Nói như thế cũng chẳng khác nào lập luận, “Phải làm ác để mang cái thiện đến.” Có người bịa đặt, cho rằng chúng tôi dạy như thế. Họ nói bậy và thật đáng phạt.
ROM 3:9 Thế thì người Do-thái có gì khá hơn dân tộc khác không? Không! Chúng ta đã nói rằng người Do-thái và tất cả dân tộc khác đều phạm tội.
ROM 3:10 Như lời Thánh Kinh viết: “Chẳng có ai làm điều phải, kiếm một người cũng không ra.
ROM 3:11 Chẳng có ai hiểu biết. Không một người nào nhờ Thượng Đế cứu giúp.
ROM 3:12 Mọi người đều quay lưng đi. Ai nấy đều trở thành vô dụng. Chẳng có một người làm lành, dù một người cũng chẳng có.”
ROM 3:13 “Miệng chúng mở toang ra như huyệt mả; dùng lưỡi mình để nói dối.” “Lời nói chúng hiểm độc như nọc rắn.”
ROM 3:14 “Môi miệng chúng đầy nguyền rủa và ganh ghét.”
ROM 3:15 “Lúc nào cũng sẵn sàng để giết hại người khác.
ROM 3:16 Nơi nào chúng đi đều gây ra tai hại và đau khổ.
ROM 3:17 Chúng không biết sống hòa bình là gì.”
ROM 3:18 “Chúng chẳng biết sợ Thượng Đế gì cả.”
ROM 3:19 Chúng ta biết rằng những gì luật pháp dạy là dành cho những người có luật pháp. Vì thế không ai có thể bào chữa được, cho nên cả thế gian đều nằm dưới sự trừng phạt của Thượng Đế,
ROM 3:20 vì không ai nhờ tuân theo luật pháp mà được hòa thuận lại với Thượng Đế cả. Luật pháp chỉ cho chúng ta biết tội lỗi thôi.
ROM 3:21 Nhưng Thượng Đế đã cho chúng ta phương cách hòa thuận lại với Ngài, mà không qua luật pháp. Phương cách ấy đã được luật pháp và các nhà tiên tri dạy chúng ta.
ROM 3:22 Ngài khiến con người hòa thuận lại với Ngài qua đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu. Hễ ai tin Chúa Cứu Thế đều được hòa thuận với Thượng Đế, vì mọi người đều đồng một tình trạng:
ROM 3:23 Mọi người đều phạm tội, không đáng hưởng vinh hiển của Thượng Đế.
ROM 3:24 Mọi người phải hòa thuận lại với Ngài qua ân phúc của Ngài, đó là một quà tặng từ Thượng Đế. Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, loài người được tha tội.
ROM 3:25 Thượng Đế đã hi sinh mạng sống Chúa Giê-xu để con người được xóa tội, nhờ tin vào sự chết của Ngài. Thượng Đế làm như thế để tỏ ra sự công chính của Ngài, như xưa kia Ngài bỏ qua tội lỗi mà con người đã phạm.
ROM 3:26 Ngày nay Thượng Đế đã ban Chúa Giê-xu để chứng tỏ điều Ngài làm là đúng. Như vậy, Ngài có thể xét xử công bình và hòa thuận lại với người nào đặt niềm tin mình nơi Chúa Giê-xu.
ROM 3:27 Thế thì chúng ta có lý do gì để tự khoe hay không?—Không! Tại sao? Vì con đường đức tin khiến cho chẳng còn ai có thể tự khoe như khi họ nhờ con đường vâng giữ luật pháp.
ROM 3:28 Con người được hòa thuận lại với Thượng Đế nhờ đức tin, chứ không phải nhờ vâng giữ luật pháp.
ROM 3:29 Có phải Thượng Đế chỉ là Thượng Đế của người Do-thái mà thôi hay Ngài cũng là Thượng Đế của những người không phải Do-thái nữa? Dĩ nhiên Ngài cũng là Thượng Đế của người không phải Do-thái nữa
ROM 3:30 vì chỉ có một Thượng Đế duy nhất thôi. Nếu Ngài đã làm cho người Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ, thì Ngài cũng sẽ khiến cho mọi người không phải Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ.
ROM 3:31 Thế thì có phải chúng ta đã phá bỏ luật pháp qua con đường đức tin không? Không phải! Trái lại, nhờ đức tin chúng ta làm cho luật pháp thêm vững chắc.
ROM 4:1 Chúng ta có thể nói Áp-ra-ham, tổ tiên của dân tộc ta, đã học được gì về đức tin?
ROM 4:2 Nếu Áp-ra-ham được hòa thuận với Thượng Đế nhờ những điều ông làm thì ông sẽ có lý do chính đáng để khoe. Nhưng Áp-ra-ham không thể tự khoe trước Thượng Đế.
ROM 4:3 Vì Thánh Kinh viết, “Áp-ra-ham đặt niềm tin nơi Thượng Đế, Ngài chấp nhận niềm tin của ông và niềm tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.”
ROM 4:4 Ai làm việc thì lương bổng không thể xem là quà biếu mà là tiền công của mình.
ROM 4:5 Nhưng con người không thể làm cách nào để hòa thuận lại với Thượng Đế được. Nên con người phải trông cậy vào Thượng Đế là Đấng có thể khiến cho kẻ ác hòa thuận lại với Ngài. Thượng Đế sẽ chấp nhận đức tin của họ, nhờ đó họ được hòa thuận lại với Ngài.
ROM 4:6 Đa-vít cũng đã nói tương tự như thế. Ông bảo rằng ai được hòa thuận với Thượng Đế, nghĩa là được Ngài tha thứ những tội lỗi của mình, thật có phúc.
ROM 4:7 “Phúc cho người nào được xóa hết tội, bao nhiều việc phạm pháp đều được tha thứ.
ROM 4:8 Phúc cho kẻ mà Chúa không kết tội.”
ROM 4:9 Có phải phúc lành nầy chỉ dành cho người được cắt dương bì thôi hay là cũng dành cho người không được cắt dương bì nữa? Chúng ta đã nói rằng Thượng Đế chấp nhận niềm tin của Áp-ra-ham và chính niềm tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.
ROM 4:10 Ông được hòa thuận ra sao? Thượng Đế chấp nhận Áp-ra-ham trước khi ông chịu phép cắt dương bì hay là sau?—Trước khi ông chịu phép cắt dương bì.
ROM 4:11 Áp-ra-ham chịu cắt dương bì để chứng tỏ ông đã hòa thuận lại với Thượng Đế vì ông tin Ngài trước khi chịu cắt dương bì. Cho nên Áp-ra-ham trở nên cha của những người tin nhưng không được cắt dương bì; ông là cha của mọi tín hữu đã hòa thuận lại với Thượng Đế.
ROM 4:12 Áp-ra-ham cũng đồng thời là cha của những người đã chịu cắt dương bì và sống theo niềm tin mà Áp-ra-ham, tổ tiên chúng ta đã có trước khi chịu cắt dương bì.
ROM 4:13 Áp-ra-ham và dòng dõi ông đã nhận lời hứa rằng sản nghiệp của họ sẽ gồm toàn thế giới. Ông nhận lời hứa ấy không nhờ luật pháp mà nhờ giảng hòa lại với Thượng Đế qua đức tin.
ROM 4:14 Nếu chúng ta có thể nhận được lời hứa của Thượng Đế bằng cách tuân giữ luật pháp thì đức tin trở nên vô ích. Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham cũng vô ích,
ROM 4:15 Vì luật pháp chỉ đưa đến cơn thịnh nộ của Thượng đế mà thôi. Nhưng nơi nào không có luật pháp thì cũng không có việc phạm pháp.
ROM 4:16 Cho nên chúng ta nhận được lời hứa của Thượng Đế qua đức tin. Lời hứa ấy trở thành một quà tặng, mà tất cả con cháu Áp-ra-ham đều có thể nhận. Lời hứa ấy không phải dành cho những người sống dưới luật pháp Mô-se mà là cho những người sống trong đức tin như Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta.
ROM 4:17 Như Thánh Kinh viết, “Ta lập ngươi làm cha của nhiều dân tộc.” Điều nầy được thực hiện trước mặt Thượng Đế vì Áp-ra-ham tin cậy Ngài là Đấng ban sự sống cho kẻ chết và đã sáng tạo mọi vật từ chỗ hư vô.
ROM 4:18 Áp-ra-ham không hi vọng có con cái nối dòng, nhưng ông tin cậy Thượng đế và vẫn nuôi hi vọng, nên ông đã trở thành cha của nhiều dân tộc. Đúng như Thượng Đế đã bảo, “Dòng dõi ngươi sẽ đông không thể đếm được.”
ROM 4:19 Lúc ấy Áp-ra-ham đã gần một trăm tuổi, quá tuổi bình thường để có con, còn Sa-ra thì không thể nào sinh con được. Áp-ra-ham lo âu về điều ấy nhưng niềm tin của ông nơi Thượng Đế vẫn không lay chuyển.
ROM 4:20 Ông không bao giờ hoài nghi rằng Thượng Đế sẽ không giữ lời hứa của Ngài, trái lại ông nắm chắc niềm tin. Ông vững tin hơn và ca ngợi Thượng Đế.
ROM 4:21 Áp-ra-ham tin chắc rằng những gì Ngài hứa thì Ngài cũng có quyền thực hiện được.
ROM 4:22 Cho nên “Thượng Đế chấp nhận đức tin của Áp-ra-ham, và đức tin ấy khiến ông hòa thuận lại với Ngài.”
ROM 4:23 Câu “Thượng Đế chấp nhận đức tin của Áp-ra-ham” không phải chỉ viết cho ông mà thôi
ROM 4:24 mà còn cho chúng ta nữa. Thượng Đế sẽ chấp nhận chúng ta vì chúng ta tin nơi Đấng đã khiến Giê-xu, Chúa chúng ta, sống lại từ kẻ chết.
ROM 4:25 Chúa Giê-xu đã chịu chết vì tội chúng ta, Ngài đã sống lại để chúng ta được hòa thuận lại với Thượng Đế.
ROM 5:1 Vì đã trở nên công chính trước Thượng Đế qua đức tin, nên chúng ta hòa thuận lại với Ngài. Đó là nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu,
ROM 5:2 Đấng đã đưa chúng ta vào ân phúc của Thượng Đế mà chúng ta hiện đang hưởng. Cho nên, chúng ta vui mừng vì hi vọng được dự phần trong vinh hiển của Thượng Đế.
ROM 5:3 Chúng ta cũng vui trong cảnh khổ, vì cảnh khổ dạy chúng ta nhẫn nhục.
ROM 5:4 Nhẫn nhục rèn luyện cá tính, cá tính đưa tới hi vọng.
ROM 5:5 Hi vọng ấy sẽ không làm chúng ta thất vọng vì Thượng Đế đã trút đầy tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta qua Thánh Linh mà Ngài đã cho chúng ta.
ROM 5:6 Trong khi chúng ta không thể tự cứu mình được thì đúng lúc ấy, Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì chúng ta, mặc dù chúng ta đang sống như thù nghịch với Ngài.
ROM 5:7 Dù là người tốt đi nữa, cũng ít ai chịu hi sinh tính mạng để cứu người khác.
ROM 5:8 Nhưng Thượng Đế đã tỏ tình yêu lớn lao của Ngài như sau: Trong khi chúng ta đang là tội nhân thì Chúa Cứu Thế chịu chết vì chúng ta.
ROM 5:9 Cho nên nhờ Chúa Cứu Thế, chúng ta chắc chắn được cứu khỏi cơn giận của Thượng Đế vì chúng ta đã được hòa thuận lại với Ngài, qua huyết hi sinh của Chúa Cứu Thế.
ROM 5:10 Trong khi chúng ta còn là thù nghịch với Thượng Đế, thì chúng ta được hòa thuận lại với Ngài qua sự chết của Con Ngài. Vì đã được hòa thuận lại với Ngài, nên chắc chắn Ngài sẽ cứu chúng ta, qua chính mạng sống của Con Ngài.
ROM 5:11 Không những thế, ngày nay chúng ta vui mừng trong Thượng Đế qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nhờ Ngài mà bây giờ chúng ta đã hòa thuận lại với Thượng Đế.
ROM 5:12 Do hành động của một người mà tội lỗi nhập vào thế gian, rồi tội lỗi dẫn đến sự chết. Vì thế mọi người phải chết—vì mọi người đều phạm tội.
ROM 5:13 Tội lỗi đã thống trị trên thế gian trước khi có luật pháp Mô-se, nhưng khi chưa có luật thì việc phạm luật không bị xem là tội.
ROM 5:14 Từ đời A-đam cho đến đời Mô-se, mọi người đều phải chết, dù cho người ấy chưa hề phạm tội do việc phạm điều ngăn cấm, như A-đam đã phạm chẳng hạn. A-đam là hình ảnh của Đấng sẽ đến trong tương lai.
ROM 5:15 Quà tặng của Thượng Đế không giống như tội lỗi của A-đam. Do tội lỗi của một người mà nhiều người phải chết, nhưng ân phúc của Thượng Đế lớn hơn thế; nhiều người nhận được quà tặng từ Thượng Đế nhờ ân phúc của một người, đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 5:16 Sau khi A-đam phạm tội một lần, ông liền bị kết tội. Nhưng ân phúc của Thượng Đế thì khác. Ân phúc của Thượng Đế được ban cho sau khi xảy ra nhiều tội để chúng ta được hòa thuận lại với Ngài.
ROM 5:17 Một người phạm tội, khiến tất cả mọi người phải chết do tội của người ấy, nhưng bây giờ thì hễ ai nhận ân phúc của Thượng Đế và được hòa thuận với Ngài, sẽ nhận được sự sống thật và được quyền quản trị nhờ vào một người thôi, đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 5:18 Cho nên, nếu một tội mà A-đam phạm đã mang đến cái chết cho mọi người, thì cũng qua một hành vi nhân đức của Chúa Cứu Thế mà mọi người được hòa thuận lại với Thượng Đế, để họ nhận được sự sống thật.
ROM 5:19 Vì sự bất vâng phục Thượng Đế của một người khiến mọi người mắc tội. Cũng thế, nhờ sự vâng phục Thượng Đế của một người mà mọi người được hòa thuận lại với Ngài.
ROM 5:20 Luật pháp khiến tội lỗi gia tăng. Nhưng khi tội lỗi gia tăng, ân phúc Thượng Đế lại nhiều hơn nữa.
ROM 5:21 Trước kia tội lỗi dùng sự chết thống trị trên chúng ta, nhưng Thượng Đế đã ban ân phúc dồi dào để chúng ta được hòa thuận lại với Ngài. Do đó chúng ta được sống đời đời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 6:1 Anh chị em có nghĩ rằng chúng ta nên tiếp tục sống trong tội lỗi để ân phúc Thượng Đế thêm nhiều không?
ROM 6:2 Không được! Chúng ta đã chết vì nếp sống cũ của bản tính tội lỗi, thì chẳng lẽ lại cứ mãi sống trong tội lỗi sao?
ROM 6:3 Anh chị em quên rằng khi chúng ta chịu lễ báp-têm là đã trở thành một phần của thân thể Đấng Cứu Thế Giê-xu rồi sao? Chúng ta dự phần trong cái chết Ngài qua lễ báp-têm.
ROM 6:4 Khi chúng ta chịu báp-têm, chúng ta được chôn với Chúa Cứu Thế và dự phần trong cái chết của Ngài. Cho nên như Chúa Cứu Thế đã sống lại từ kẻ chết qua quyền năng kỳ diệu của Cha thế nào, chúng ta cũng sẽ sống một đời mới như thế.
ROM 6:5 Vì Chúa Cứu Thế chịu chết, chúng ta đồng chết với Ngài, nên chúng ta cũng sẽ đồng sống lại với Ngài từ kẻ chết giống như Ngài.
ROM 6:6 Chúng ta biết rằng đời cũ của chúng ta đã chết với Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, để bản tính tội lỗi không còn cầm quyền và chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa.
ROM 6:7 Vì ai đã chết là thoát khỏi gông cùm tội lỗi.
ROM 6:8 Nếu chúng ta chết với Chúa Cứu Thế, thì chúng ta biết mình cũng sẽ sống lại với Ngài.
ROM 6:9 Chúa Cứu Thế đã sống lại từ kẻ chết, chúng ta biết rằng Ngài không thể chết nữa. Sự chết hiện nay chẳng còn quyền gì trên Ngài.
ROM 6:10 Thật vậy, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thì Ngài đánh bại quyền lực của tội lỗi một lần đủ cả. Bây giờ Ngài đã nhận sự sống mới nên Ngài sống cho Thượng Đế.
ROM 6:11 Cũng thế, anh chị em hãy xem mình như chết về quyền lực của tội lỗi nhưng sống với Thượng Đế qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 6:12 Cho nên đừng để tội lỗi thống trị đời sống anh chị em trên đất đặng làm theo ý muốn con người xác thịt của mình.
ROM 6:13 Đừng hiến dâng chi thể mình mà phục vụ tội lỗi, làm công cụ cho điều ác. Trái lại hãy hiến dâng chính mình cho Thượng Đế như là người đã chết mà nay được sống lại. Hãy hiến thân thể mình cho Thượng Đế, để phục vụ điều lành.
ROM 6:14 Tội lỗi không còn thống trị anh chị em nữa, vì anh chị em không còn ở dưới luật pháp nhưng ở dưới ân phúc của Thượng Đế.
ROM 6:15 Thế thì chúng ta phải làm sao? Chẳng lẽ vì bây giờ chúng ta không còn ở dưới luật pháp mà ở dưới ân phúc thì chúng ta cứ phạm tội sao? Không được!
ROM 6:16 Chắc hẳn anh chị em biết rằng khi mình chịu làm tôi mọi cho người nào thì phải vâng phục người ấy. Người mà mình vâng phục là chủ mình. Anh chị em có thể đi theo tội lỗi để dẫn đến cái chết về mặt thiêng liêng hoặc vâng theo Thượng Đế là Đấng có thể khiến anh chị em hòa thuận với Ngài.
ROM 6:17 Trước kia anh chị em làm nô lệ cho tội lỗi—tội lỗi thống trị anh chị em. Nhưng tạ ơn Thượng Đế, anh chị em đã hoàn toàn vâng theo những điều được dạy bảo.
ROM 6:18 Đã được giải thoát khỏi tội lỗi, bây giờ anh chị em làm nô lệ cho điều thiện.
ROM 6:19 Tôi phải dùng ví dụ nầy vì hơi khó cho anh chị em hiểu. Nếu trước kia anh chị em hiến dâng thân thể mình làm nô lệ cho tội lỗi và điều ác; chỉ sống cho điều ác thôi. Cũng thế, nay anh chị em hãy hiến thân thể mình để làm tôi cho điều thiện. Nghĩa là anh chị em chỉ sẽ sống cho Thượng Đế mà thôi.
ROM 6:20 Trước kia anh chị em làm nô lệ cho tội lỗi nên điều thiện không quản trị anh chị em.
ROM 6:21 Trước kia anh chị em làm điều ác, đến nỗi ngày nay anh chị em vẫn còn xấu hổ về việc ấy. Những điều ác đó chỉ dẫn đến sự chết.
ROM 6:22 Nhưng nay anh chị em đã thoát khỏi tội lỗi, và trở thành nô lệ cho Thượng Đế để sống cho Ngài và nhận sự sống đời đời.
ROM 6:23 Ai phạm tội thì phải lãnh tiền công của tội lỗi—đó là sự chết. Nhưng quà tặng của Thượng Đế là sự sống đời đời trong Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
ROM 7:1 Thưa anh chị em, anh chị em đều hiểu luật Mô-se và biết rằng luật pháp áp dụng cho người nào là chỉ khi người ấy còn sống mà thôi.
ROM 7:2 Chẳng hạn, chồng còn sống bao lâu thì luật buộc người đàn bà phải gắn bó với chồng bấy lâu. Nếu chồng chết thì người vợ được giải thoát khỏi luật hôn nhân.
ROM 7:3 Trong khi chồng còn sống mà vợ đi lấy người khác thì bị luật pháp kết tội ngoại tình. Nhưng khi chồng chết rồi, thì dù cho lấy người khác cũng không bị kết tội ngoại tình.
ROM 7:4 Cũng thế, thưa anh chị em, khi con người cũ của mình chết rồi, thì anh chị em được giải thoát khỏi luật pháp, nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế. Nghĩa là, ngày nay các anh chị em thuộc về một Đấng khác—Đấng đã sống lại từ kẻ chết—để anh chị em sống ích lợi cho Thượng Đế.
ROM 7:5 Trước kia anh chị em bị con người tội lỗi của mình thống trị. Luật pháp khiến chúng ta hành động theo tội lỗi thống trị bên trong chúng ta, cho nên mọi hành động chúng ta chỉ dẫn đến sự chết.
ROM 7:6 Trước kia, luật pháp kềm giữ chúng ta như tù nhân, nhưng nay con người cũ đã chết, nghĩa là chúng ta được giải thoát khỏi luật pháp. Cho nên chúng ta phục vụ Thượng Đế theo cách mới trong Thánh Linh, chứ không theo cách cũ qua những luật viết thành chữ nữa.
ROM 7:7 Có lẽ anh chị em nghĩ rằng tôi cho luật pháp là tội lỗi. Không phải! Nhưng luật pháp cho tôi biết thế nào là tội lỗi. Nếu luật pháp không nói, “Ngươi không được thèm muốn đồ vật của kẻ khác” thì tôi sẽ không biết tội trộm cắp là gì.
ROM 7:8 Tội lỗi đã tìm cách dùng điều răn ấy khiến tôi tham muốn đủ thứ điều trái phép. Nhưng khi không có luật pháp, tội lỗi không có quyền gì.
ROM 7:9 Trước khi tôi biết luật pháp thì tôi vẫn sống, nhưng khi luật pháp đến thì tội lỗi sống trong tôi,
ROM 7:10 còn tôi thì chết. Điều răn đáng lẽ giúp tôi sống, hóa ra làm cho tôi chết.
ROM 7:11 Tội lỗi đã tìm cách phỉnh gạt tôi bằng cách dùng luật pháp làm cho tôi chết.
ROM 7:12 Cho nên luật pháp là thánh thiện, điều răn cũng thánh thiện, tốt và công chính.
ROM 7:13 Như thế nghĩa là điều tốt lại mang cái chết đến cho tôi sao? Không phải! Tội lỗi dùng cái tốt để mang cái chết đến cho tôi. Như thế để tôi biết tội lỗi là gì, và điều răn cho thấy tội lỗi quả thật là xấu.
ROM 7:14 Chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng, nhưng tôi không thiêng liêng vì tôi làm nô lệ cho tội lỗi.
ROM 7:15 Tôi không hiểu điều mình làm. Tôi không làm điều mình thích mà lại làm điều mình ghét.
ROM 7:16 Nếu tôi làm điều tôi ghét, thì tôi nhìn nhận luật pháp là đúng.
ROM 7:17 Nhưng thực ra không phải tôi làm những điều tôi ghét mà là do tội lỗi bên trong xui khiến tôi.
ROM 7:18 Thật thế, tôi biết trong con người tôi chẳng có tính thiện nào—nghĩa là trong xác thể trần tục và tội lỗi của tôi không có cái gì gọi là thiện cả. Tôi muốn làm điều phải mà tôi lại không làm.
ROM 7:19 Điều thiện mình muốn làm, thì không làm, nhưng lại làm điều ác mà mình không muốn.
ROM 7:20 Cho nên khi tôi làm điều mình ghét, thì chẳng phải tôi làm nữa mà là tội lỗi bên trong xui khiến tôi.
ROM 7:21 Nên tôi đã học được luật nầy: Khi muốn làm điều thiện, thì điều ác đeo đuổi tôi.
ROM 7:22 Lòng tôi rất ưa thích luật pháp Thượng Đế,
ROM 7:23 nhưng tôi lại thấy một luật khác tác động bên trong con người tôi, chiến đấu với luật mà lòng tôi đã chấp nhận. Đó là luật tội lỗi sống trong tôi, cố bắt tôi làm tôi mọi cho nó.
ROM 7:24 Thật khốn cho tôi! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân thể chết nầy?
ROM 7:25 Cảm tạ Thượng Đế đã cứu tôi qua Giê-xu, Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta! Vì vậy, lòng tôi thì làm nô lệ cho luật pháp của Thượng Đế, còn xác thể tôi thì làm nô lệ cho luật pháp của tội lỗi.
ROM 8:1 Hiện nay những ai ở trong Đấng Cứu Thế Giê-xu không còn bị kết tội nữa.
ROM 8:2 Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, luật pháp của Thánh Linh ban cho tôi sự sống mới và giải thoát tôi khỏi luật pháp là điều vốn đưa đến tội lỗi và sự chết.
ROM 8:3 Thực ra luật pháp không có quyền gì, vì đã trở thành yếu đuối qua con người tội lỗi của chúng ta. Nhưng Thượng Đế đã làm điều mà luật pháp không làm được. Ngài sai Con Ngài đến thế gian, mang thân thể mà con người dùng để phục vụ tội lỗi. Khi Con Ngài chết để chuộc tội chúng ta, Thượng Đế dùng một sinh mạng để tiêu diệt tội lỗi.
ROM 8:4 Thượng Đế làm như thế để hoàn thành điều mà luật pháp đòi hỏi. Cho nên hiện nay chúng ta không còn sống theo con người tội lỗi của mình nữa, mà sống theo Thánh Linh.
ROM 8:5 Ai sống theo bản tính tội lỗi thì lúc nào cũng nghĩ theo ý muốn của tội lỗi. Nhưng ai sống theo Thánh Linh, thì nghĩ đến những điều Thánh Linh ưa thích.
ROM 8:6 Nếu con người tội lỗi quản trị trong tâm tư sẽ dẫn đến sự chết. Nhưng nếu Thánh Linh ngự trị tâm tư sẽ đưa đến sự sống và hòa bình.
ROM 8:7 Khi tâm tư ai bị con người tội lỗi quản trị thì người ấy nghịch lại Thượng Đế vì không tuân giữ luật pháp của Ngài, mà thực ra họ cũng chẳng có khả năng tuân giữ.
ROM 8:8 Những ai bị con người tội lỗi thống trị không thể nào làm vừa lòng Thượng Đế.
ROM 8:9 Nhưng anh chị em không còn bị con người tội lỗi thống trị nữa. Anh chị em được Thánh Linh ngự trị, nếu Thánh Linh của Thượng Đế thật sự sống trong anh chị em. Ai không có Thánh linh của Chúa Cứu Thế, thì không thuộc về Chúa Cứu Thế.
ROM 8:10 Thân thể của anh chị em lúc nào cũng xem như chết vì tội lỗi. Nhưng nếu Chúa Cứu Thế sống trong anh chị em, thì Thánh Linh sẽ cho anh chị em sự sống, vì Chúa Cứu Thế đã giúp anh chị em hoà thuận lại với Thượng Đế.
ROM 8:11 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết và nếu Thánh Linh của Thượng Đế sống trong anh chị em, thì Ngài cũng ban sự sống cho thân thể vốn chết của anh chị em. Thượng Đế là Đấng khiến Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết, cũng sẽ ban sự sống qua Thánh Linh là Đấng sống trong anh chị em.
ROM 8:12 Cho nên, anh chị em ơi, đừng để con người tội lỗi thống trị mình để sống theo ý muốn con người cũ của mình nữa.
ROM 8:13 Nếu anh chị em sống theo ý muốn xấu xa của con người tội lỗi, tâm linh anh chị em sẽ chết. Nhưng nếu anh chị em nhờ Thánh Linh để không còn làm quấy qua xác thịt mình, thì anh chị em sẽ sống thật.
ROM 8:14 Con cái thật của Thượng Đế là những người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh Ngài.
ROM 8:15 Thánh Linh mà anh chị em nhận lãnh không để chúng ta làm nô lệ cho sự sợ hãi nữa; Ngài biến chúng ta trở nên con cái Thượng Đế. Nhờ Thánh Linh đó mà chúng ta có thể gọi, “Thưa Cha!”
ROM 8:16 Chính Thánh Linh cùng với tâm linh của chúng ta chứng nhận rằng chúng ta là con cái Thượng Đế.
ROM 8:17 Nếu chúng ta là con cái Thượng Đế thì chúng ta sẽ nhận lãnh phúc lành từ Thượng Đế cùng với Chúa Cứu Thế miễn là chúng ta đồng chịu khổ với Ngài để chúng ta cùng nhận vinh hiển với Ngài.
ROM 8:18 Những sự đau khổ mà chúng ta hiện đang nếm trải không đáng gì so với vinh hiển sẽ được phô bày ra cho chúng ta.
ROM 8:19 Mọi vật Thượng Đế mà tạo dựng rất nóng lòng trông mong lúc mà Thượng Đế bày tỏ con cái Ngài cho thế gian.
ROM 8:20 Mọi vật Thượng Đế tạo dựng đã thay đổi và trở thành vô dụng, không phải do ý muốn của những vật ấy, mà là do ý muốn Thượng Đế, vì luôn luôn có hi vọng nầy:
ROM 8:21 Những vật Thượng Đế tạo dựng sẽ không còn bị tổn hại nữa mà nhận được sự tự do và vinh hiển dành cho con cái Thượng Đế.
ROM 8:22 Cho đến bây giờ chúng ta biết mọi vật Thượng Đế tạo dựng đang mong đợi trong quặn thắt như người đàn bà sắp sinh nở.
ROM 8:23 Không phải chỉ thế giới hữu hình thôi đâu, mà bên trong chúng ta cũng chờ đợi trong quặn thắt. Chúng ta nhận được Thánh Linh là phần đặt cọc của lời hứa từ Thượng Đế. Cho nên chúng ta chờ đợi Thượng Đế làm xong việc biến hóa chúng ta thành con cái Ngài, nghĩa là sẽ giải thoát con người chúng ta.
ROM 8:24 Vì đã được cứu rồi, nên chúng ta nuôi hi vọng ấy. Nếu chúng ta đã thấy điều mình đang trông mong thì không thể gọi là hi vọng nữa. Thấy rồi thì đâu còn gì để mà trông mong?
ROM 8:25 Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa nhận được thì chúng ta kiên nhẫn chờ đợi điều ấy.
ROM 8:26 Ngoài ra, Thánh Linh cũng giúp cho bản chất yếu đuối của chúng ta. Vì chúng ta không biết nên cầu xin như thế nào. Nhưng chính Thánh Linh cầu xin Thượng Đế giùm cho chúng ta, đến nỗi van xin Ngài bằng những tâm tư sâu kín mà ngôn ngữ không diễn tả được.
ROM 8:27 Thượng Đế nhìn thấy lòng dạ mỗi người. Ngài cũng biết ý nghĩ của Thánh Linh vì Thánh Linh cầu thay cho con dân Thượng Đế theo ý muốn Ngài.
ROM 8:28 Chúng ta biết mọi việc hợp lại đều mang lợi ích đến cho những ai yêu mến Thượng Đế, là những người Ngài đã gọi, theo mục đích của Ngài.
ROM 8:29 Thượng Đế biết họ trước khi tạo dựng vũ trụ và Ngài đã dự định rằng họ sẽ giống như Con Ngài để Chúa Giê-xu trở thành con đầu lòng của tất cả các anh chị em.
ROM 8:30 Ngài muốn họ trở nên giống như Con Ngài. Những người Ngài muốn trở nên giống như Con Ngài thì Ngài đã gọi. Những người Ngài đã gọi, Ngài cũng đã làm cho hòa thuận lại với mình; và những người Ngài đã làm cho hòa thuận thì được Ngài tôn vinh.
ROM 8:31 Cho nên chúng ta sẽ nói sao về điều nầy? Nếu Thượng Đế ở cùng chúng ta thì không ai có thể thắng chúng ta được.
ROM 8:32 Ngài đã không tiếc Con Ngài nhưng đã hi sinh Con ấy vì chúng ta. Cho nên Ngài cũng sẽ cho chúng ta mọi điều cùng với Con Ngài.
ROM 8:33 Ai có thể kiện cáo người mà Thượng Đế đã chọn? Không một ai, vì Thượng Đế là Đấng khiến họ trở nên công chính.
ROM 8:34 Ai có thể kết tội con dân của Thượng Đế? Không một ai, vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chết, nhưng cũng đã sống lại từ kẻ chết và hiện nay đang ngồi bên phải Thượng Đế để cầu thay cho chúng ta.
ROM 8:35 Có gì phân cách tình yêu của Chúa Cứu Thế dành cho chúng ta không? Có phải khốn khó, hoạn nạn, đau khổ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay chết chóc không?
ROM 8:36 Như Thánh Kinh viết: “Vì Ngài mà chúng tôi lúc nào cũng kề cái chết. Người ta xem chúng tôi không khác gì mấy con chiên sẵn sàng bị làm thịt.”
ROM 8:37 Nhưng trong mọi hoàn cảnh ấy chúng ta toàn thắng nhờ Thượng Đế là Đấng đã bày tỏ tình yêu của Ngài cho chúng ta.
ROM 8:38 Tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, thiên sứ, thần linh, việc hiện tại, việc tương lai, quyền lực,
ROM 8:39 những gì bên trên chúng ta, bên dưới chúng ta, hoặc bất cứ biến cố nào trên thế giới, không điều gì có thể phân cách chúng ta khỏi tình yêu mà Thượng Đế đã bày tỏ ra trong Giê-xu, Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta.
ROM 9:1 Tôi ở trong Chúa Cứu Thế cho nên tôi nói thật, không nói dối với anh chị em điều nầy. Lương tâm tôi được Thánh Linh ngự trị và xác nhận rằng tôi không nói dối.
ROM 9:2 Tôi hết sức đau khổ và luôn luôn buồn rầu.
ROM 9:3 Tôi rất muốn giúp đỡ anh chị em tôi là người Do-thái, dân tộc tôi. Đến nỗi tôi ước ao rằng nếu vì họ mà chính mình tôi bị nguyền rủa và bị phân cách khỏi Chúa Cứu Thế, tôi cũng sẵn lòng.
ROM 9:4 Họ là dân Ít-ra-en, con cái được Thượng Đế tuyển chọn. Họ đã thấy vinh hiển Ngài và cũng đã nhận giao ước mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Thượng Đế cho họ luật pháp Mô-se đồng thời chỉ bảo họ cách thờ phụng Ngài và cho họ lời hứa của Ngài.
ROM 9:5 Họ là con cháu của những ông tổ nổi danh của chúng ta, và thuộc về quốc gia mà Đấng Cứu Thế xuất thân, Ngài là Thượng Đế cao cả, đáng chúc tụng đời đời. A-men.
ROM 9:6 Không phải Thượng Đế chẳng giữ lời hứa đối với họ. Nhưng chỉ có một số người Ít-ra-en là con dân thật của Thượng Đế,
ROM 9:7 và cũng chỉ có một số ít con cháu Áp-ra-ham là con cháu thật của Áp-ra-ham thôi. Thượng Đế bảo Áp-ra-ham rằng, “Dòng dõi của ngươi mà ta hứa sẽ ra từ Y-sác.”
ROM 9:8 Như thế nghĩa là không phải tất cả con cháu của Áp-ra-ham đều là con cái thật của Thượng Đế đâu. Con cháu thật của Áp-ra-ham là những người trở thành con cái Thượng Đế qua lời hứa của Ngài cho Áp-ra-ham.
ROM 9:9 Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham như sau, “Vào lúc nầy khi ta trở lại, Sa-ra sẽ sinh một con trai.”
ROM 9:10 Không những thế, hai con trai của Rê-be-ca cùng có chung một cha là Y-sác, tổ tiên chúng ta.
ROM 9:11 Trước khi hai đứa trẻ ra đời, Thượng Đế nói với Rê-be-ca rằng, “Đứa anh sẽ làm tôi cho đứa em.” Lời ấy được thông báo trước khi hai đứa trẻ biết làm điều phải hay quấy. Thượng Đế nói như thế để cho thấy rằng người được chọn là do dự định riêng của Ngài. Đứa trẻ được chọn là vì Thượng Đế tự ý chọn, chứ không phải vì điều gì nó làm.
ROM 9:13 Như Thánh Kinh viết, “Ta yêu Gia-cốp mà ghét Ê-sau.”
ROM 9:14 Thế thì chúng ta nghĩ sao? Có phải Thượng Đế bất công không? Không phải.
ROM 9:15 Thượng Đế bảo Mô-se, “Ta muốn làm ơn cho ai thì làm, ta muốn thương ai thì thương.”
ROM 9:16 Như thế, sự lựa chọn của Ngài không tùy thuộc vào ý muốn người nào hay do cố gắng mà được.
ROM 9:17 Trong Thánh Kinh, Thượng Đế bảo vua Ai-cập như sau, “Ta lập ngươi làm vua vì lý do nầy: Để chứng tỏ quyền năng của ta qua ngươi và để cho danh ta được phổ biến khắp đất.”
ROM 9:18 Như thế, Thượng Đế muốn thương xót ai thì thương xót, làm ai cứng lòng thì làm.
ROM 9:19 Có lẽ anh chị em sẽ hỏi tôi, “Vậy tại sao Thượng Đế còn khiển trách chúng ta về tội lỗi chúng ta?” Có ai chống lại ý muốn Ngài được đâu?
ROM 9:20 Các anh chị em chỉ là người, mà hễ là người thì không có quyền hạch hỏi Thượng Đế. Đồ vật có quyền gì để hỏi người làm ra mình rằng, “Tại sao anh làm tôi như thế nầy?”
ROM 9:21 Thợ gốm muốn nắn hình gì thì nắn. Cùng một tảng đất sét mà người thợ có thể vừa làm ra một món đồ dùng đặc biệt và một món đồ dùng tầm thường.
ROM 9:22 Thượng Đế cũng thế. Ngài muốn tỏ cơn giận của Ngài để con người thấy uy quyền của Ngài. Nhưng Ngài cũng nhẫn nhục chịu đựng những người mà Ngài nổi giận—là những người đáng bị diệt.
ROM 9:23 Ngài kiên nhẫn chờ đợi để tỏ ra vinh hiển vô hạn của Ngài cho những người mà Ngài thương xót. Ngài đã chuẩn bị họ trước để nhận vinh hiển của Ngài,
ROM 9:24 và chúng ta chính là những người được chọn ấy. Ngài kêu gọi chúng ta không những từ giữa vòng người Do-thái mà còn từ những người không phải Do-thái nữa.
ROM 9:25 Như lời Thánh Kinh viết trong Ô-sê, “Ta gọi những người không phải dân ta—là dân ta. Và ta sẽ tỏ tình yêu của ta cho những người trước kia ta không yêu.”
ROM 9:26 “Trước kia Thượng Đế bảo: ‘Các ngươi không phải dân ta,’ nhưng sau nầy họ được gọi là con cái của Thượng Đế hằng sống.”
ROM 9:27 Ê-sai cũng đã lên tiếng về dân Ít-ra-en rằng: “Dù dân Ít-ra-en nhiều như cát bãi biển, nhưng chỉ có một số rất nhỏ được cứu thôi,
ROM 9:28 vì Chúa sẽ nhanh chóng trừng phạt toàn thể dân cư trên đất.”
ROM 9:29 Và như tiên tri Ê-sai đã nói, “Nhờ Chúa Toàn Năng để lại một ít con dân của chúng ta sống, nếu không thì chúng ta chắc chắn đã bị tiêu diệt hoàn toàn như hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ rồi.”
ROM 9:30 Điều ấy có nghĩa gì? Những người chẳng phải Do-thái không thể tìm cách hòa thuận với Thượng Đế nhưng họ được hòa thuận lại với Ngài qua đức tin.
ROM 9:31 Còn dân Ít-ra-en tìm cách tuân theo luật pháp để hòa thuận lại với Thượng Đế thì không kết quả.
ROM 9:32 Tại sao? Vì họ ỷ lại vào việc làm của mình chớ không nhờ vào Thượng Đế để hòa thuận lại với Ngài. Họ vấp nhằm tảng đá vốn làm cho nhiều người vấp.
ROM 9:33 Như Thánh Kinh viết, “Nầy, Ta đặt tại Giê-ru-sa-lem một tảng đá làm cho nhiều người vấp, tảng đá làm cho họ ngã. Nhưng ai tin cậy Ngài sẽ không thất vọng.”
ROM 10:1 Thưa anh chị em, điều tôi mong mỏi hơn hết và lời khẩn nguyện của tôi với Thượng Đế là làm sao cho người Do-thái được cứu.
ROM 10:2 Tôi có thể nói thế nầy về họ: Họ cố gắng đi theo Thượng Đế nhưng không biết cách.
ROM 10:3 Vì họ không hiểu phương cách mà Thượng Đế dùng để làm cho con người hòa thuận lại với Ngài. Họ muốn hòa thuận theo cách của họ, nên họ không chịu chấp nhận đường lối giảng hòa của Thượng Đế.
ROM 10:4 Đấng Cứu Thế đã chấm dứt luật pháp, để hễ ai tin Ngài đều được hòa thuận lại với Thượng Đế.
ROM 10:5 Mô-se cũng viết về đường lối hòa thuận với Thượng Đế bằng cách tuân giữ luật pháp như sau, “Người nào vâng theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà sống.”
ROM 10:6 Nhưng đây là điều Thánh Kinh dạy về việc hòa thuận với Thượng Đế qua đức tin, “Đừng tự nhủ, ‘Ai sẽ lên thiên đàng?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ lên thiên đàng để mang Đấng Cứu Thế xuống?”
ROM 10:7 “Cũng đừng nói, ‘Ai xuống chốn thẳm sâu dưới đất?’” Nói thế có nghĩa là, “Ai sẽ xuống đó để đem Đấng Cứu Thế sống lại từ kẻ chết?”
ROM 10:8 Nhưng đây là lời Thánh Kinh nói, “Lời rất gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi.” Đó là lời dạy dỗ về đức tin mà chúng tôi rao giảng.
ROM 10:9 Nếu miệng bạn xưng rằng “Đức Giê-xu là Chúa,” và nếu lòng bạn tin rằng Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết thì bạn sẽ được cứu.
ROM 10:10 Nhờ lòng tin mà được hòa thuận lại với Thượng Đế, còn nhờ môi miệng xác nhận mà được cứu.
ROM 10:11 Như Thánh Kinh nói, “Hễ ai tin Ngài thì chẳng bao giờ thất vọng.”
ROM 10:12 Thánh Kinh nói, “hễ ai” có nghĩa là tất cả mọi người, bất luận Do-thái hay không Do-thái. Chúa là Chúa của mọi người. Ngài ban phúc lành cho bất cứ ai tin nơi Ngài,
ROM 10:13 như Thánh Kinh nói, “Ai kêu xin Chúa giúp sẽ được cứu.”
ROM 10:14 Nhưng trước khi kêu xin Chúa cứu giúp, thì họ phải tin Ngài đã; mà trước khi tin thì phải được nghe về Ngài. Muốn cho người ta nghe đến Ngài thì phải có người rao giảng,
ROM 10:15 và trước khi có người rao giảng thì phải có người được sai đi. Như có viết, “Hình ảnh của người rao Tin Mừng thật là tuyệt diệu.”
ROM 10:16 Không phải người Do-thái nào cũng đều chấp nhận tin mừng đâu. Nhà tiên tri Ê-sai đã nói, “Lạy Chúa, ai tin điều chúng tôi rao giảng?”
ROM 10:17 Cho nên niềm tin có được là do người ta nghe Tin Mừng, và người ta được nghe Tin Mừng là khi có người rao giảng Chúa Cứu Thế cho họ.
ROM 10:18 Nhưng tôi hỏi: Có phải họ đã nghe Tin Mừng rồi sao? Phải, họ đã nghe rồi—như Thánh Kinh viết: “Tiếng nói của họ vang khắp thế giới; lời của họ đi quanh trái đất.”
ROM 10:19 Tôi muốn hỏi thêm: Có phải dân Ít-ra-en đã hiểu rồi sao? Phải, họ đã hiểu. Trước hết, Mô-se viết: “Ta sẽ dùng những người chưa trở thành dân tộc khiến các ngươi ganh tị. Ta sẽ dùng một dân tộc chưa hiểu biết khiến các ngươi tức giận.”
ROM 10:20 Nhà tiên tri Ê-sai cũng đã nói: “Người không tìm thì đã gặp được ta. Ta tỏ mình ta ra cho kẻ không hỏi đến ta.”
ROM 10:21 Nhưng về dân Ít-ra-en thì Thượng Đế phán, “Suốt ngày ta đứng chờ tiếp nhận một dân ương ngạnh, không vâng lời ta.”
ROM 11:1 Nên tôi xin hỏi: Có phải Thượng Đế đã từ bỏ dân của Ngài rồi sao? Không phải! Tôi là người Ít-ra-en, thuộc dòng dõi Áp-ra-ham, về chi tộc Bên-gia-min.
ROM 11:2 Thượng Đế đã chọn dân Ít-ra-en cho Ngài trước khi họ sinh ra. Ngài chưa gạt bỏ họ. Chắc anh chị em còn nhớ lời Thánh Kinh viết về Ê-li khi ông oán trách dân Ít-ra-en với Thượng Đế.
ROM 11:3 Ông thưa, “Lạy Chúa, họ đã giết các nhà tiên tri của Ngài, phá sập bàn thờ Ngài. Chỉ một mình con còn sót lại, và họ cũng tìm cách giết con luôn.”
ROM 11:4 Nhưng Thượng Đế trả lời cho Ê-li ra sao? Ngài đáp, “Ta đã để dành bảy ngàn người trong Ít-ra-en chưa bái lạy thần Ba-anh.”
ROM 11:5 Ngày nay cũng thế, do ân phúc của Ngài, Thượng Đế đã chọn một số người.
ROM 11:6 Nếu Ngài chọn họ theo ân phúc của Ngài thì chắc chắn sự tuyển chọn ấy không do công lao của họ. Nếu họ trở thành con dân Thượng Đế qua công lao của họ thì ân phúc của Ngài không thể nào được xem là “ân” nữa.
ROM 11:7 Cho nên chúng ta phải hiểu như sau: Mặc dù dân Ít-ra-en tìm cách hòa thuận lại với Thượng Đế nhưng không được; chỉ những người Ngài chọn là được hòa thuận lại với Ngài mà thôi. Những người còn lại trở nên ương ngạnh và phản nghịch Thượng Đế.
ROM 11:8 Như Thánh Kinh viết: “Thượng Đế khiến tâm trí họ đờ đẫn để họ không còn hiểu biết.” “Ngài khép con mắt họ lại để họ không thấy bịt tai họ lại để họ không nghe. Cho đến ngày nay họ vẫn y như thế.”
ROM 11:9 Như Đa-vít nói: “Nguyện yến tiệc chúng nó trở thành bẫy sập cho chúng nó, khiến chúng nó bị tổn hại; Nguyện tiệc yến chúng nó khiến chúng nó vấp ngã cho đáng đời.
ROM 11:10 Nguyện mắt chúng nó bị mù để không thấy; Nguyện lưng chúng nó bị khòm mãi vì khốn khổ.”
ROM 11:11 Cho nên tôi xin hỏi: Khi người Do-thái vấp ngã thì sự vấp ngã đó có tiêu diệt họ không? Không! Nhưng lỗi lầm của họ mang sự cứu rỗi đến cho người không phải Do-thái để họ ganh tức.
ROM 11:12 Nếu lỗi lầm của người Do-thái đã mang vô số phúc lành đến cho thế gian, và sự mất mát của họ đã mang ân phúc đến cho người không phải Do-thái thì thế gian sẽ còn nhận được phúc lành biết bao nhiêu nữa khi đủ số người Do-thái trở thành dân tộc của Thượng Đế!
ROM 11:13 Tôi muốn nói với anh chị em là những người không phải Do-thái. Tôi làm sứ đồ cho những người không phải Do-thái và vì tôi nhận công tác ấy, nên tôi cố gắng làm hết sức mình.
ROM 11:14 Tôi mong kích thích lòng ganh đua của dân tộc tôi để có thể cứu một số người trong vòng họ.
ROM 11:15 Khi Thượng Đế quay mặt khỏi người Do-thái, thì Ngài kết bạn với các dân tộc khác trên thế giới. Cho nên, khi Thượng Đế chấp nhận người Do-thái thì chẳng khác nào khiến họ đã chết mà lại sống.
ROM 11:16 Nếu miếng bánh đầu tiên được dâng cho Thượng Đế, thì cả ổ bánh sẽ hóa thánh. Nếu rễ là thánh, thì các nhánh cũng thánh.
ROM 11:17 Giống như một vài nhánh ô-liu đã bị gãy. Anh chị em là người không phải Do-thái như nhánh ô-liu hoang được tháp vào gốc ô-liu thật. Hiện nay anh chị em nhận được sức sống từ gốc ô-liu thật là người Do-thái.
ROM 11:18 Vì thế đừng khoe khoang vì những nhánh đã bị gãy. Nếu anh chị em khoe khoang thì nên nhớ rằng không phải anh chị em nâng đỡ cái rễ, mà là cái rễ nâng đỡ anh chị em.
ROM 11:19 Anh chị em có thể bảo, “Mấy nhánh kia bị gãy để ta được tháp vào.”
ROM 11:20 Đúng. Nhưng những nhánh kia bị gãy vì không tin, còn anh chị em được tháp vào cây chỉ vì anh chị em tin. Đừng tự phụ nhưng hãy lo sợ.
ROM 11:21 Nếu Thượng Đế đã chặt bỏ những nhánh tự nhiên đó khỏi cây, thì Ngài cũng sẽ có thể làm như thế đối với anh chị em.
ROM 11:22 Cho nên anh chị em thấy rằng, tuy Thượng Đế rất nhân từ nhưng Ngài cũng rất nghiêm khắc. Ngài trừng phạt những ai không tin nhận Ngài. Nhưng Thượng Đế tỏ lòng nhân từ đối với anh chị em, nếu anh chị em cứ ở trong lòng nhân từ Ngài. Nếu không, Ngài sẽ chặt anh chị em khỏi cây.
ROM 11:23 Còn nếu người Do-thái chịu trở lại tin Ngài, thì Thượng Đế cũng sẽ tiếp nhận họ. Ngài có quyền tháp họ vào chỗ cũ.
ROM 11:24 Nhánh hoang không thể mọc tự nhiên từ gốc cây tốt. Anh chị em là người không phải Do-thái như những nhánh chặt từ một cây ô-liu hoang, được tháp vào cây ô-liu tốt. Còn người Do-thái giống như nhánh mọc tự nhiên từ cây tốt, cho nên họ có thể được tháp vào gốc cây nguyên thủy rất dễ dàng.
ROM 11:25 Tôi muốn anh chị em biết điều mầu nhiệm ấy để anh chị em hiểu rằng mình không biết đủ thứ được. Một phần dân Do-thái đã trở nên ương ngạnh, nhưng tình trạng ấy sẽ thay đổi khi đủ số những người không phải Do-thái trở lại với Thượng Đế.
ROM 11:26 Đó là cách mà dân Ít-ra-en sẽ được cứu. Như Thánh Kinh viết: “Đấng Cứu Thế từ Giê-ru-sa-lem đến; Ngài sẽ dẹp mọi gian ác khỏi nhà Gia-cốp.
ROM 11:27 Và ta sẽ lập giao ước nầy với họ khi ta đã xóa tội lỗi họ.”
ROM 11:28 Người Do-thái không chịu tiếp nhận Tin Mừng nên họ đã trở thành thù nghịch với Thượng Đế. Nhờ đó mà anh chị em là người không phải Do-thái được hưởng ân phúc. Nhưng người Do-thái vẫn là dân được lựa chọn của Thượng Đế. Vì lời hứa Ngài đã lập với các tổ tiên họ, nên Ngài vẫn yêu thương họ.
ROM 11:29 Thượng Đế không bao giờ đổi ý về những người Ngài đã chọn và những gì Ngài đã dành cho họ.
ROM 11:30 Trước kia anh chị em cũng đã chống nghịch Thượng Đế, nhưng hiện nay anh chị em đã nhận ơn thương xót vì những người kia chống nghịch Ngài.
ROM 11:31 Và vì người Do-thái chống nghịch, nên Ngài tỏ lòng thương xót đối với anh chị em. Như thế để họ cũng nhận ơn thương xót từ Ngài.
ROM 11:32 Ngài bỏ mặc họ cho mọi sự chống nghịch để Ngài tỏ lòng nhân từ đối với mọi người.
ROM 11:33 Sự giàu có của Thượng Đế vô cùng bao la, sự khôn ngoan và hiểu biết của Ngài thật vô hạn! Không ai có thể giải thích, phê phán hay hiểu được đường lối Ngài.
ROM 11:34 Như Thánh Kinh nói, “Ai biết được ý Chúa, hoặc cố vấn cho Ngài?”
ROM 11:35 “Ngài không chịu ơn ai, mà cũng không phải trả ơn cho ai cả.”
ROM 11:36 Thượng Đế đã tạo nên muôn loài, mọi vật được sống còn là nhờ Ngài và vì Ngài. Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời! A-men.
ROM 12:1 Thưa anh chị em, vì Thượng Đế đã tỏ lòng từ ái lớn lao với chúng ta như thế nên tôi nài xin anh chị em hãy dâng đời mình làm của lễ sống và thánh cho Ngài; đó chính là cách thờ phụng thiêng liêng của anh chị em.
ROM 12:2 Đừng rập khuôn theo người thế gian, nhưng hãy thay đổi từ bên trong theo tư tưởng mới. Như thế anh chị em sẽ phân biệt được ý muốn của Thượng Đế, đồng thời sẽ biết những gì tốt đẹp, toàn hảo và vừa lòng Ngài.
ROM 12:3 Vì Thượng Đế đã cho tôi một ân tứ đặc biệt, cho nên tôi khuyên mỗi một người trong anh chị em: Đừng tự đánh giá mình quá cao hơn con người thật của mình mà phải hiểu rõ mình đúng theo lượng đức tin mà Thượng Đế đã cho.
ROM 12:4 Mỗi người chúng ta có một thân thể gồm nhiều bộ phận. Mỗi bộ phận làm một nhiệm vụ riêng.
ROM 12:5 Cũng thế, chúng ta tuy gồm nhiều người nhưng trong Đấng Cứu Thế cũng chỉ cùng một thân mà thôi. Mỗi người trong chúng ta là một bộ phận trong thân thể ấy, và mỗi bộ phận lệ thuộc vào những bộ phận khác.
ROM 12:6 Chúng ta có nhiều ân tứ khác nhau theo ân phúc mà Thượng Đế cho chúng ta. Ai được ân tứ nói tiên tri hãy dùng ân tứ ấy cho hợp với đức tin.
ROM 12:7 Ai có ân tứ phục vụ hãy chuyên tâm phục vụ. Ai có ân tứ dạy dỗ hãy sốt sắng dạy dỗ.
ROM 12:8 Ai có ân tứ khích lệ người khác hãy khích lệ. Ai có ân tứ dâng hiến hãy dâng hiến rộng rãi. Ai có ân tứ lãnh đạo hãy lãnh đạo hết mình. Còn ai có ân tứ tỏ lòng nhân đức đối với người khác hãy hớn hở tỏ lòng nhân đức.
ROM 12:9 Tình yêu của anh chị em phải chân thật. Hãy ghét điều ác mà mến điều thiện.
ROM 12:10 Hãy yêu nhau như anh chị em trong gia đình. Hãy coi trọng người khác hơn mình.
ROM 12:11 Đừng biếng nhác nhưng hãy siêng năng, hết lòng phục vụ Chúa.
ROM 12:12 Hãy vui lên vì anh em đầy hi vọng. Lúc gặp khó khăn, hãy nhẫn nhục, phải luôn luôn khẩn nguyện.
ROM 12:13 Hãy san sẻ đồ cần dùng với các con cái Chúa đang gặp thiếu thốn. Hãy tiếp khách lạ vào nhà.
ROM 12:14 Hãy chúc lành cho người làm hại mình; hãy chúc lành, đừng nguyền rủa.
ROM 12:15 Hãy vui với kẻ vui, buồn với kẻ buồn.
ROM 12:16 Hãy sống hòa thuận với nhau. Đừng tự phụ nhưng hãy thân thiện với người kém hơn mình. Đừng tự cho mình là khôn ngoan.
ROM 12:17 Ai làm hại mình điều gì, đừng trả đũa. Hãy cố gắng làm điều phải trước mặt mọi người.
ROM 12:18 Nếu có thể được, hãy cố gắng sống hòa thuận đối với mọi người.
ROM 12:19 Các bạn thân mến của tôi ơi, đừng trả thù kẻ làm hại mình nhưng hãy chờ Thượng Đế trừng phạt họ trong cơn giận của Ngài, như có viết rằng, “Ta sẽ phạt người làm ác; ta sẽ báo trả,” Chúa phán vậy.
ROM 12:20 Nhưng các anh chị em phải làm thế nầy, “Nếu kẻ thù mình đói, hãy cho họ ăn; nếu họ khát, hãy cho họ uống. Làm như thế sẽ khiến họ xấu hổ.”
ROM 12:21 Đừng để điều ác thắng mình mà hãy lấy thiện thắng ác.
ROM 13:1 Anh chị em phải vâng phục chính quyền, vì chẳng ai có thể cầm quyền nếu Thượng Đế không cho phép. Các nhà cầm quyền đều do Thượng Đế thiết lập.
ROM 13:2 Cho nên ai chống chính quyền tức là chống Thượng Đế. Người ấy sẽ rước lấy trừng phạt.
ROM 13:3 Ai làm đúng thì không có gì phải sợ chính quyền; ai làm sai mới sợ thôi. Anh chị em muốn khỏi sợ nhà cầm quyền không? Hãy làm điều phải thì anh chị em sẽ được khen ngợi.
ROM 13:4 Các quan quyền là đầy tớ Thượng Đế, để phục vụ anh chị em. Nhưng nếu anh chị em làm quấy thì hãy thận trọng vì họ có quyền trừng phạt. Họ là đầy tớ Thượng Đế để trừng phạt người làm quấy.
ROM 13:5 Cho nên các anh chị em phải vâng phục chính quyền, không phải để khỏi bị phạt mà là vì anh chị em biết làm điều phải.
ROM 13:6 Vì thế mà anh chị em đóng thuế. Các nhà cầm quyền phục vụ Thượng Đế khi họ thi hành nhiệm vụ.
ROM 13:7 Mắc nợ ai thì trả cho người ấy. Thiếu thuế ai thì trả cho người đó. Hãy trọng người đáng trọng, kính người đáng kính.
ROM 13:8 Đừng mắc nợ ai điều gì ngoài nợ tình yêu mà thôi, vì người nào yêu thương người khác tức là vâng giữ trọn luật pháp.
ROM 13:9 Luật pháp nói, “Ngươi không được phạm tội ngoại tình. Không được giết người. Không được trộm cắp. Không được tham muốn của cải người khác.” Tất cả những mệnh lệnh vừa kể và tất cả những mệnh lệnh khác đều có thể gồm tóm trong một qui tắc duy nhất, “Hãy yêu người láng giềng như mình.”
ROM 13:10 Tình yêu không bao giờ làm thiệt hại cho người láng giềng. Yêu thương tức là tuân giữ trọn luật pháp.
ROM 13:11 Hãy sống như thế vì chúng ta đang ở vào một thời kỳ nghiêm trọng. Đến lúc anh chị em phải thức dậy vì bây giờ sự cứu rỗi của chúng ta gần hơn so với lúc chúng ta mới tin.
ROM 13:12 “Đêm” sắp tàn, “ngày” đã ló dạng cho nên chúng ta hãy ném bỏ những gì thuộc về bóng tối mà nai nịt vũ khí của ánh sáng.
ROM 13:13 Chúng ta hãy sống mạnh dạn như người của ban ngày. Không nên tiệc tùng say sưa. Không nên phạm tội nhục dục dù dưới hình thức nào, đừng cãi vã và đố kỵ nhau.
ROM 13:14 Hãy trở nên giống như Chúa Cứu Thế Giê-xu để khi mọi người nhìn thấy anh em là nhìn thấy Chúa trong đời sống mình.
ROM 14:1 Hãy tiếp nhận người yếu đức tin vào đoàn thể của anh chị em và đừng tranh luận ý kiến nầy nọ của họ.
ROM 14:2 Có người thì tin rằng ăn thứ gì cũng được. Người khác yếu hơn, tin rằng chỉ nên ăn chay.
ROM 14:3 Người tin rằng ăn thứ gì cũng được không nên gạt bỏ người ăn chay. Người ăn chay cũng đừng nên nghĩ người ăn đủ mọi thứ là sai, vì Thượng Đế đã tiếp nhận người ấy.
ROM 14:4 Anh chị em là ai mà phê phán đầy tớ người khác? Chỉ có một mình chủ nó mới có quyền phê phán nó làm việc giỏi hay dở thôi. Nhưng đầy tớ Chúa sẽ làm giỏi vì được Ngài giúp đỡ.
ROM 14:5 Có người cho rằng ngày nầy quan trọng hơn ngày khác, có người thì cho rằng ngày nào cũng như nhau. Ai tin chắc điều gì, thì cứ tin như thế.
ROM 14:6 Vì Chúa mà có người cho rằng ngày nầy quan trọng hơn ngày khác. Còn người ăn đủ thứ cũng vì Chúa, bởi họ làm như thế để tạ ơn Chúa. Người cữ một vài loại thức ăn cũng vì Chúa, họ cũng tạ ơn Thượng Đế.
ROM 14:7 Chẳng ai trong chúng ta vì mình mà sống hay vì mình mà chết.
ROM 14:8 Nếu chúng ta sống là sống cho Chúa và chết cũng chết cho Chúa. Cho nên dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa cả.
ROM 14:9 Đấng Cứu Thế đã chết và sống lại để làm Chúa của kẻ sống lẫn kẻ chết.
ROM 14:10 Thế thì tại sao anh chị em phê phán người khác trong Đấng Cứu Thế? Tại sao anh chị em nghĩ mình khá hơn họ? Tất cả chúng ta đều sẽ đứng trước mặt Thượng Đế để chịu xét xử,
ROM 14:11 như Thánh Kinh viết, “Thượng Đế phán: Thật chắc chắn như ta hằng sống, Mọi người sẽ bái lạy trước mặt ta; ai nấy sẽ thừa nhận ta là Thượng Đế.”
ROM 14:12 Cho nên mỗi người chúng ta sẽ trả lời với Thượng Đế.
ROM 14:13 Vì thế cho nên chúng ta đừng phê phán nhau nữa. Chúng ta phải nhất quyết không làm điều gì khiến cho tín hữu khác phạm tội.
ROM 14:14 Tôi ở trong Chúa Giê-xu nên tôi biết rằng không có món ăn nào là xấu. Nhưng nếu có ai tin rằng điều gì là xấu, thì điều đó trở thành xấu cho người ấy.
ROM 14:15 Nếu vì món ăn mà làm tổn thương niềm tin của anh chị em mình tức là mình không còn sống theo con đường yêu thương nữa. Đừng phá đổ niềm tin người khác bằng cách ăn món gì mà người ấy cho là tội, vì Chúa Cứu Thế cũng đã chết thay cho họ.
ROM 14:16 Đừng để những điều mình cho là phải trở thành điều kẻ khác cho là quấy.
ROM 14:17 Trong Nước Trời, ăn uống không quan trọng mà điều quan trọng là sống hòa thuận với Thượng Đế, được bình an và vui vẻ trong Thánh Linh.
ROM 14:18 Ai phục vụ Đấng Cứu Thế theo cách ấy sẽ làm vừa lòng Thượng Đế và được mọi người chấp nhận.
ROM 14:19 Cho nên, chúng ta hãy cố gắng mang sự hòa thuận và giúp đỡ mọi người.
ROM 14:20 Đừng để món ăn, thức uống làm hỏng việc của Thượng Đế. Ăn gì cũng được nhưng ăn thứ có thể gây cho người khác phạm tội là quấy.
ROM 14:21 Tốt hơn là đừng ăn thịt, uống rượu hay làm điều gì khiến cho anh chị em mình phạm tội.
ROM 14:22 Niềm tin của anh chị em về những vấn đề ấy là việc riêng tư giữa anh chị em với Thượng Đế. Người ta hạnh phúc là khi làm điều gì mình cho là đúng mà không cảm thấy bị cáo trách lương tâm.
ROM 14:23 Nhưng người nào ăn mà không chắc mình đúng tức là quấy, vì người ấy không tin rằng mình hành động đúng. Điều gì làm mà không tin chắc rằng đúng là có tội.
ROM 15:1 Chúng ta, những người mạnh trong đức tin, phải giúp kẻ yếu, đừng chỉ biết lo làm vừa lòng mình.
ROM 15:2 Mỗi người trong chúng ta hãy làm vừa lòng người láng giềng để làm ích cho họ và giúp họ mạnh thêm trong đức tin.
ROM 15:3 Ngay cả Chúa Cứu Thế cũng không tìm cách làm vừa lòng mình. Thánh Kinh viết, “Khi họ sỉ nhục các ngươi, ta cũng đau lòng.”
ROM 15:4 Những gì đã được ghi trong quá khứ là để dạy dỗ chúng ta. Thánh Kinh giúp chúng ta kiên nhẫn và khích lệ để chúng ta nuôi hi vọng.
ROM 15:5 Kiên nhẫn và khích lệ từ Thượng Đế mà đến. Tôi cầu xin Thượng Đế giúp anh chị em sống hòa thuận như ý muốn Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 15:6 Lúc ấy anh chị em sẽ hiệp nhất với nhau và dâng vinh hiển cho Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta.
ROM 15:7 Chúa Cứu Thế đã tiếp nhận anh chị em, cho nên anh chị em hãy tiếp nhận lẫn nhau để mang vinh hiển về cho Thượng Đế.
ROM 15:8 Tôi xin thưa rằng Chúa Cứu Thế đã trở thành tôi tớ cho người Do-thái để chứng tỏ rằng lời hứa của Thượng Đế với các tổ tiên của họ là chân thật.
ROM 15:9 Như thế cũng để cho những người không phải Do-thái dâng vinh hiển cho Ngài vì lòng nhân từ Ngài đã tỏ ra cho họ. Như Thánh Kinh viết, “Tôi sẽ ca tụng Ngài giữa những người không phải Do-thái. Tôi sẽ hát tôn vinh danh Ngài.”
ROM 15:10 Thánh Kinh cũng nói, “Những người không phải Do-thái ơi, hãy cùng với dân Ngài hớn hở lên đi.”
ROM 15:11 Thánh Kinh cũng nói, “Các ngươi là người không phải Do-thái, hãy ca tụng Thượng Đế. Hỡi các dân hãy hát tôn vinh Ngài.”
ROM 15:12 Nhà tiên tri Ê-sai cũng viết, “Một vì vua mới sẽ xuất thân từ dòng họ Gie-xê Vua ấy sẽ trị vì những dân không phải Do-thái, và họ sẽ đặt hi vọng vào Ngài.”
ROM 15:13 Tôi cầu xin Thượng Đế là Đấng ban hi vọng, sẽ khiến anh chị em đầy vui mừng và bình an, khi anh chị em đặt niềm tin nơi Ngài. Rồi anh chị em sẽ tràn đầy hi vọng trong Thánh Linh.
ROM 15:14 Thưa anh chị em, tôi tin rằng anh chị em đầy dẫy điều lành. Tôi biết anh chị em đầy đủ hiểu biết để có thể dạy dỗ lẫn nhau.
ROM 15:15 Nhưng tôi thấy cần viết thẳng thắn cho anh chị em về một vài vấn đề mà tôi muốn các anh chị em ghi nhớ. Tôi làm như thế vì Thượng Đế ban cho tôi ân tứ đặc biệt nầy:
ROM 15:16 Tôi được sai làm sứ giả của Chúa Cứu Thế Giê-xu cho những người không phải Do-thái. Tôi phục vụ Thượng Đế bằng cách rao Tin Mừng để người không phải Do-thái cũng trở thành một của lễ mà Thượng Đế chấp nhận—của lễ đã được thánh hóa bởi Thánh Linh.
ROM 15:17 Nên tôi rất hãnh diện trong Chúa Cứu Thế Giê-xu về điều tôi đã làm cho Thượng Đế.
ROM 15:18 Tôi sẽ không đề cập đến điều gì khác ngoài việc Chúa Cứu Thế dùng tôi để dẫn đưa nhiều người không phải Do-thái trở lại vâng phục Thượng Đế. Họ vâng phục Ngài vì những điều tôi giảng dạy và thực hành,
ROM 15:19 vì quyền năng trong các phép lạ và những điều kỳ diệu họ đã chứng kiến, qua quyền năng Thánh Linh của Thượng Đế. Từ Giê-ru-sa-lem tôi rao giảng Tin Mừng cho đến khắp miền Y-li-ri-cum, và làm xong phần công tác ấy của tôi.
ROM 15:20 Tôi muốn rao Tin Mừng ở những nơi chưa bao giờ được nghe về Chúa Cứu Thế, vì tôi không muốn dẫm chân lên công trình của người khác.
ROM 15:21 Theo như Thánh Kinh viết, “Những người chưa được rao giảng về Ngài sẽ thấy, còn những người chưa được nghe về Ngài sẽ hiểu.”
ROM 15:22 Đó là lý do tại sao nhiều lần tôi muốn đến thăm anh chị em mà không được.
ROM 15:23 Nhưng nay công tác của tôi tại đây đã xong. Nhiều năm qua tôi rất muốn đến thăm anh chị em.
ROM 15:24 Tôi hi vọng ghé thăm anh chị em trên đường đi Tây-ban-nha. Sau khi thăm anh chị em một thời gian, tôi hi vọng anh chị em sẽ giúp tôi hoàn tất cuộc hành trình.
ROM 15:25 Bây giờ tôi lên Giê-ru-sa-lem để giúp đỡ dân Chúa ở đó.
ROM 15:26 Các tín hữu ở Ma-xê-đoan và miền Nam Hi-lạp cũng sốt sắng gởi tiền giúp các con cái Chúa đang túng thiếu ở Giê-ru-sa-lem.
ROM 15:27 Họ rất vui có dịp giúp đỡ vì họ cảm thấy chịu ơn các anh chị em ấy. Họ là những người không phải Do-thái đã được san sẻ ân phúc thiêng liêng của người Do-thái, cho nên họ thấy phải dùng của cải vật chất giúp lại người Do-thái.
ROM 15:28 Sau khi trao tiền giúp đỡ cho các tín hữu túng thiếu ở Giê-ru-sa-lem, tôi sẽ lên đường đi Tây-ban-nha và nhân tiện ghé qua thăm các anh chị em.
ROM 15:29 Tôi biết rằng khi đến thăm, tôi sẽ mang theo nhiều phước lành của Chúa Cứu Thế.
ROM 15:30 Thưa anh chị em, tôi xin anh chị em giúp tôi bằng cách cầu nguyện Thượng Đế cho công tác của tôi vì Chúa Giê-xu và vì tình yêu mà Thánh Linh đã ban cho chúng ta.
ROM 15:31 Xin cầu nguyện cho tôi thoát khỏi tay những kẻ không tin ở miền Giu-đia, và để cho món quà tương trợ mà tôi mang đến sẽ làm cho dân Chúa ở Giê-ru-sa-lem vui mừng.
ROM 15:32 Rồi sau đó, nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến thăm anh chị em và chúng ta sẽ có dịp tiện nghỉ ngơi.
ROM 15:33 Nguyện Chúa của hòa bình ở cùng tất cả các anh chị em. A-men.
ROM 16:1 Tôi giới thiệu với anh chị em, chị Phê-bê, một trợ tá trong hội thánh tại Xen-cơ-ria.
ROM 16:2 Tôi xin anh chị em đón tiếp chị trong Chúa theo tập tục của các tín hữu. Chị cần gì, xin anh chị em giúp đỡ vì chị đã giúp tôi và nhiều người khác.
ROM 16:3 Chuyển lời tôi chào thăm Bích-xi-la và A-qui-la, những người đã cộng tác với tôi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
ROM 16:4 Họ cũng đã liều mình cứu mạng tôi. Tôi hết sức mang ơn họ; tất cả các hội thánh ngoài nước Do-thái cũng vậy.
ROM 16:5 Ngoài ra, chuyển lời tôi chào thăm hội thánh họp tại nhà hai anh chị em ấy. Tôi gởi lời chào bạn Ê-bên-nê-túc, người đầu tiên trong miền Tiểu Á trở lại tin nhận Chúa Cứu Thế.
ROM 16:6 Tôi gởi lời chào Ma-ri, người đã khó nhọc vì anh chị em.
ROM 16:7 Tôi gởi lời chào Anh-rô-ni và Giu-nia, hai người bà con tôi, cũng đã ngồi tù chung với tôi. Họ tin nhận Chúa Cứu Thế trước tôi. Hai người ấy là các nhà truyền giáo rất quan trọng mà Chúa Cứu Thế sai để làm công việc Ngài.
ROM 16:8 Tôi gởi lời chào Am-lia-túc, bạn thân tôi trong Chúa.
ROM 16:9 Tôi gởi lời chào U-ba-núc, đồng nghiệp với tôi trong Chúa Cứu Thế. Tôi chào thăm bạn Ích-ta-chi thân mến.
ROM 16:10 Tôi gởi lời chào A-ben-lê là người đã chịu thử nghiệm và đã chứng tỏ thực lòng yêu mến Chúa Cứu Thế. Chuyển lời tôi chào thăm mọi người trong gia đình A-ri-tô-bu-lu.
ROM 16:11 Tôi chào thăm Hê-rô-đi-ôn, bạn đồng hương với tôi. Tôi gởi lời chào thăm mọi người trong gia đình Nạc-xi-xúc thuộc về Chúa.
ROM 16:12 Tôi chào thăm Tri-phê-na và Tri-phô-sa, hai chị em đã hết lòng lo việc Chúa. Tôi cũng chào thăm bạn Bẹt-xi, người có công trong việc Chúa.
ROM 16:13 Tôi cũng gởi lời chào Ru-phu, một đầy tớ đặc biệt được chọn lựa trong Chúa, đồng thời tôi cũng kính chào mẹ anh, người mà tôi xem như mẹ tôi.
ROM 16:14 Tôi cũng xin chào A-xinh-ri-tu, Phơ-lê-gôn, Hẹt-mê, Ba-trô-ba và các anh em có mặt.
ROM 16:15 Tôi cũng chào thăm Phi-lô-lô-gúc và Giu-lia, Nơ-rêu và chị của anh ấy, Ô-lim-ba và các con cái Chúa đang có mặt với họ.
ROM 16:16 Các anh chị em hãy chào nhau bằng cái hôn thánh. Tất cả các hội thánh của Chúa Cứu Thế chào thăm anh chị em.
ROM 16:17 Thưa anh chị em, tôi xin anh chị em hãy thận trọng về những người gây rối và phá đổ đức tin người khác. Họ chống báng những điều dạy dỗ chân thật mà anh chị em đã nhận, cho nên hãy xa lánh họ.
ROM 16:18 Không phải họ phục vụ Chúa Cứu Thế đâu mà chỉ phục vụ bản thân mình thôi. Họ thích nói văn hoa bóng bẩy để phỉnh dỗ đầu óc của những người không phân biệt được thiện ác.
ROM 16:19 Tất cả mọi tín hữu đều nghe rằng anh chị em rất vâng phục cho nên tôi rất vui mừng về anh chị em. Tôi muốn anh chị em khôn ngoan trong việc thiện nhưng ngây thơ trong việc ác.
ROM 16:20 Thượng Đế là Đấng ban hòa bình sẽ sớm đánh bại Sa-tăng và cho anh chị em quyền thống trị nó. Nguyền xin ân phúc Chúa Giê-xu ở với các anh chị em.
ROM 16:21 Ti-mô-thê, bạn đồng công với tôi gởi lời chào thăm anh chị em cùng với Lu-xơ, Gia-sôn và Sô-si-ba-tơ, bà con tôi.
ROM 16:22 Tôi là Tẹt-tu, người viết thư nầy giùm Phao-lô kính lời chào thăm anh chị em trong Chúa.
ROM 16:23 Gai-út là người đã cho phép tôi và toàn thể hội thánh ở đây họp tại nhà anh ấy cũng kính thăm anh chị em. Ê-rát-tu, thủ quỹ thành phố và anh em chúng tôi là Quát-tu cũng vậy.
ROM 16:24 
ROM 16:25 Nguyền vinh hiển thuộc về Thượng Đế, là Đấng có thể khiến anh chị em vững mạnh qua Tin Mừng và lời của Chúa Cứu Thế Giê-xu mà tôi truyền cho mọi người. Lời ấy về Chúa Cứu Thế là điều huyền bí đã được giấu kín từ các đời nhưng nay được tiết lộ
ROM 16:26 và tỏ bày qua lời các nhà tiên tri ghi lại. Do mệnh lệnh của Thượng Đế là Đấng sống đời đời, điều huyền bí ấy đã được biểu lộ ra để muôn dân tin nhận và vâng phục Ngài.
ROM 16:27 Nguyền vinh hiển muôn đời thuộc về Thượng Đế, Đấng duy nhất biết hết mọi điều qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. A-men.
1CO 1:1 Phao-lô, được gọi làm sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, theo ý muốn Thượng Đế, cùng với Sốt-then, anh em chúng ta trong Ngài.
1CO 1:2 Kính gởi hội thánh Chúa tại Cô-rinh, là những người đã được thánh hóa qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Anh chị em đã được Thượng Đế kêu gọi làm dân thánh cho Ngài cùng với các dân tộc khác ở khắp nơi, là những người cầu khẩn danh Chúa Cứu Thế Giê-xu—Ngài là Chúa của họ cũng như của chúng ta.
1CO 1:3 Nguyền xin anh chị em nhận được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1CO 1:4 Tôi luôn luôn cảm tạ Thượng Đế vì ân phúc Ngài đã đổ trên anh chị em qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1CO 1:5 Tôi cảm tạ Ngài vì trong Chúa Cứu Thế anh chị em được giàu có về mọi phương diện, về lời nói cũng như về sự hiểu biết.
1CO 1:6 Vì lời chứng về Chúa Cứu Thế đã vững chắc trong lòng anh chị em
1CO 1:7 cho nên anh chị em đã nhận được mọi phúc lành từ Thượng Đế trong khi chờ đợi Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta trở lại.
1CO 1:8 Ngài sẽ giúp anh chị em vững mạnh cho đến cuối cùng, để đến ngày Chúa trở lại anh chị em sẽ được thánh sạch hoàn toàn.
1CO 1:9 Thượng Đế, Đấng thành tín đã kêu gọi anh chị em dự phần với Con Ngài là Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
1CO 1:10 Thưa anh chị em, nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu, tôi xin anh chị em hãy đồng tâm, không nên chia bè phái. Anh chị em hãy hoàn toàn hiệp nhất từ tư tưởng cho đến mục tiêu.
1CO 1:11 Thưa anh chị em, gia đình Cơ-lô đã thuật cho tôi nghe rằng có những cãi vã giữa anh chị em.
1CO 1:12 Tôi muốn nói: Người thì tuyên bố, “Tôi theo Phao-lô”; kẻ thì nói, “Tôi theo A-bô-lô”; người thì bảo, “Tôi theo Phia-rơ”; kẻ khác lại nói, “Tôi theo Chúa Cứu Thế.”
1CO 1:13 Chúa Cứu Thế đã bị chia xé ra thành nhiều nhóm sao? Có phải Phao-lô chết trên cây thập tự thế cho anh chị em không?—Không! Có phải anh chị em nhân danh Phao-lô làm lễ báp-têm không?—Không!
1CO 1:14 Tôi cảm tạ Thượng Đế vì ngoài Ri-bút và Gai-út, tôi không có làm báp-têm cho người nào trong anh chị em cả
1CO 1:15 để chẳng ai trong anh chị em có thể nói rằng mình đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô.
1CO 1:16 Tôi cũng đã làm báp-têm cho gia đình Tê-pha-na, ngoài ra tôi không nhớ đã làm báp-têm cho ai khác.
1CO 1:17 Chúa Cứu Thế sai tôi không phải để làm báp-têm nhưng để rao Tin Mừng mà không cần phải dùng những lời lẽ khôn ngoan của loài người để cho thập tự giá của Chúa Cứu Thế khỏi trở thành vô dụng.
1CO 1:18 Những người bị lầm lạc xem việc dạy dỗ về thập tự giá như chuyện điên rồ, nhưng đối với chúng ta là kẻ đã được cứu, thì đó là năng lực của Thượng Đế.
1CO 1:19 Như Thánh Kinh đã viết: “Ta sẽ khiến kẻ khôn mất thông sáng; Ta sẽ dẹp bỏ sự hiểu biết của người thông thái.”
1CO 1:20 Người khôn đâu? Kẻ có học đâu? Tay ăn nói lưu loát đời nầy đâu? Thượng Đế đã biến sự khôn ngoan đời nầy thành ra ngu dại.
1CO 1:21 Thế gian không thể biết Thượng Đế qua cái khôn của mình. Vì thế mà Ngài đã dùng những lời giảng có vẻ ngu dại của chúng ta để cứu những người tin.
1CO 1:22 Trong khi người Do-thái đòi xem phép lạ, người Hi-lạp thì tìm sự khôn ngoan.
1CO 1:23 Còn chúng ta lại rao giảng Chúa Cứu Thế bị đóng đinh. Đó là điều chướng tai gai mắt đối với người Do-thái và là chuyện điên rồ đối với người không phải Do-thái.
1CO 1:24 Nhưng đối với những người Ngài đã gọi—dù là Do-thái hay Hi-lạp thì Chúa Cứu Thế là quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế.
1CO 1:25 Sự ngu dại của Thượng Đế vượt xa sự khôn ngoan của loài người, còn sự yếu đuối của Thượng Đế cũng mạnh hơn năng lực con người.
1CO 1:26 Thưa anh chị em, hãy nhớ lại lúc anh chị em mới được Thượng Đế gọi. Trong vòng anh chị em đâu có bao nhiêu người khôn ngoan theo tiêu chuẩn đời nầy? Đâu có bao nhiêu người có địa vị? Đâu có bao nhiêu người xuất thân từ gia đình danh giá?
1CO 1:27 Nhưng Thượng Đế đã dùng những việc khờ dại đời nầy để làm xấu hổ cái khôn và dùng cái yếu ở thế gian để làm xấu hổ cái mạnh.
1CO 1:28 Ngài dùng những việc thấp hèn mà thế gian xem thường để phá hủy những gì thế gian xem trọng.
1CO 1:29 Thượng Đế làm như thế để không ai có thể khoe khoang trước mặt Ngài.
1CO 1:30 Vì nhờ Ngài, anh chị em được ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng đã trở nên khôn ngoan vì chúng ta trong Thượng Đế. Qua Chúa Cứu Thế anh chị em trở nên công chính trước mặt Thượng Đế, được thánh hóa và được giải thoát khỏi tội lỗi.
1CO 1:31 Như Thánh Kinh viết, “Ai khoe, chỉ nên khoe về Chúa mà thôi.”
1CO 2:1 Anh chị em thân mến, khi đến thăm anh chị em, tôi không dùng những lời lẽ cao kỳ hoặc phô trương sự khôn ngoan loài người để rao giảng sự thật sâu kín về Thượng Đế.
1CO 2:2 Tôi đã nhất quyết rằng khi ở với anh chị em tôi sẽ không biết gì khác ngoài Chúa Cứu Thế Giê-xu và sự chết của Ngài trên thập tự giá.
1CO 2:3 Vì thế mà khi đến với anh chị em tôi run sợ lắm.
1CO 2:4 Trong khi giảng dạy, tôi không dùng những lời lẽ khôn ngoan con người để thuyết phục nhưng dùng những bằng chứng về quyền năng mà Thánh Linh cho tôi.
1CO 2:5 Như thế để anh chị em đặt đức tin mình trên quyền năng của Thượng Đế chứ không đặt trên sự khôn ngoan loài người.
1CO 2:6 Tuy nhiên, với người trưởng thành, tôi sẽ dạy sự khôn ngoan, nhưng không phải khôn ngoan đời nầy hay khôn ngoan theo các giới cầm quyền thế gian là những kẻ đang suy tàn.
1CO 2:7 Tôi nói về sự khôn ngoan của Thượng Đế đã được giấu kín. Trước khi sáng thế, Thượng Đế đã hoạch định sự khôn ngoan nầy để chúng ta được hiển vinh.
1CO 2:8 Không một người cầm quyền nào trên thế gian nầy hiểu được điều ấy. Nếu họ hiểu thì họ đã không đóng đinh Chúa của vinh hiển.
1CO 2:9 Nhưng như Thánh Kinh viết, “Chưa ai thấy, chưa ai nghe điều ấy. Chưa ai tưởng tượng được điều Thượng Đế chuẩn bị cho những người yêu mến Ngài.”
1CO 2:10 Nhưng qua Thánh Linh, Thượng Đế đã cho chúng ta thấy những phúc lành ấy. Thánh Linh dò xét mọi điều, cả đến những điều sâu thẳm của Thượng Đế nữa.
1CO 2:11 Ai biết được tư tưởng người khác ngoài thần linh trong người ấy? Cũng thế, không ai biết được tư tưởng Thượng Đế ngoại trừ Thánh Linh của Thượng Đế.
1CO 2:12 Chúng ta không nhận thần linh của thế gian nhưng chúng ta nhận Thánh Linh từ Thượng Đế để có thể hiểu được mọi điều Ngài cho chúng ta.
1CO 2:13 Chúng ta dạy những điều nầy bằng những lời lẽ Thánh Linh chỉ cho chúng ta chứ không dùng lời lẽ khôn ngoan con người. Chúng ta giải thích những chân lý thiêng liêng cho những người thiêng liêng.
1CO 2:14 Người không có Thánh Linh không thể tiếp nhận những chân lý đến từ Thánh Linh của Thượng Đế. Họ cho những điều ấy là điên rồ, không hiểu được vì chỉ có thể hiểu được qua Thánh Linh mà thôi.
1CO 2:15 Nhưng người thiêng liêng thì cân nhắc mọi điều và không ai phê phán được họ. Thánh Kinh viết,
1CO 2:16 “Ai biết được ý tưởng Chúa? Ai có thể chỉ bảo Ngài?” Nhưng chúng ta thì có ý tưởng của Chúa Cứu Thế.
1CO 3:1 Thưa anh chị em, trước kia tôi chưa thể nói với anh chị em như với người thiêng liêng. Tôi chỉ có thể nói với anh chị em như người thuộc về trần gian—giống như các em bé trong Chúa Cứu Thế vậy.
1CO 3:2 Tôi chỉ có thể lấy sữa nuôi anh chị em chứ không thể dùng thức ăn cứng. Ngay đến bây giờ anh chị em cũng chưa sẵn sàng nhận thức ăn cứng.
1CO 3:3 Anh chị em chưa trưởng thành về mặt thiêng liêng vì giữa vòng anh chị em vẫn còn có đố kỵ, cãi vã. Những điều ấy chứng tỏ anh chị em chưa đủ thiêng liêng. Anh chị em hành động giống y như người thế gian.
1CO 3:4 Có người trong vòng anh chị em nói, “Tôi theo Phao-lô,” người khác thì nói, “Tôi theo A-bô-lô,” như thế có phải anh chị em đã hành động như người trần tục không?
1CO 3:5 A-bô-lô là gì?—Hẳn là không! Phao-lô có ra gì không?—Hẳn là không! Chúng tôi chỉ là đầy tớ của Thượng Đế giúp hướng dẫn anh chị em tin theo Ngài thôi. Mỗi người chúng tôi làm phần vụ Ngài giao cho.
1CO 3:6 Tôi trồng, A-bô-lô tưới. Nhưng Thượng Đế, Đấng làm cho lớn lên mới quan trọng.
1CO 3:7 Người trồng, kẻ tưới không đáng kể gì cả. Người quan trọng là Đấng làm cho lớn lên.
1CO 3:8 Người trồng và kẻ tưới đều theo đuổi cùng một mục đích, mỗi người đều sẽ nhận lãnh thù lao theo công khó mình.
1CO 3:9 Chúng tôi là nhân công của Thượng Đế, cùng cộng tác với nhau; còn anh chị em là đồng ruộng và là nhà của Ngài.
1CO 3:10 Nhờ ân tứ Thượng Đế ban cho tôi, tôi đã đặt nền móng như một thợ xây nhà khéo. Còn những người khác xây trên nền ấy. Nhưng ai nấy hãy thận trọng về cách mình xây.
1CO 3:11 Nền đã đặt là Chúa Cứu Thế Giê-xu, ngoài Ngài ra không ai có thể đặt nền nào khác.
1CO 3:12 Nhưng nếu có ai dùng vàng, bạc, châu báu, gỗ, cỏ tranh, rơm rạ mà xây trên nền ấy
1CO 3:13 thì đến Ngày Xét Xử, công tác họ sẽ được phơi bày rõ ràng. Vì ngày ấy sẽ đến cùng với lửa, lửa sẽ thử nghiệm công tác mỗi người để bày tỏ ra.
1CO 3:14 Nếu kiến trúc của ai xây trên nền còn đứng vững, người ấy sẽ được thưởng.
1CO 3:15 Còn nếu kiến trúc bị cháy sập, thợ xây đó sẽ chịu lỗ. Thợ xây thì vẫn được cứu, nhưng giống như người vừa thoát cơn hỏa hoạn.
1CO 3:16 Anh chị em không biết rằng mình là đền thờ của Thượng Đế và Thánh Linh của Ngài đang sống trong anh chị em sao?
1CO 3:17 Nếu ai phá hủy đền thờ Thượng Đế thì Thượng Đế sẽ hủy phá họ vì đền thờ Thượng Đế là thánh mà anh chị em là đền thờ của Ngài.
1CO 3:18 Chớ nên tự gạt. Nếu anh chị em cho rằng mình khôn ngoan theo đời nầy thì nên hóa ra khờ dại để thực sự khôn ngoan,
1CO 3:19 vì cái khôn đời nầy là điều khờ dại trước mặt Thượng Đế. Như Thánh Kinh viết, “Ngài bắt kẻ khôn trong chính mưu mô của họ.”
1CO 3:20 Thánh Kinh cũng viết thêm, “Thượng Đế biết ý nghĩ kẻ khôn. Ngài biết tư tưởng họ hoàn toàn vô dụng.”
1CO 3:21 Vì thế anh chị em không nên tự hào về ai cả. Tất cả đều thuộc về anh chị em:
1CO 3:22 Dù Phao-lô, A-bô-lô, Phia-rơ; thế gian nầy, sự sống, sự chết, thời hiện tại hay thời tương lai—tất cả đều thuộc về anh chị em.
1CO 3:23 Anh chị em thuộc về Chúa Cứu Thế và Chúa Cứu Thế thuộc về Thượng Đế.
1CO 4:1 Mọi người nên xem chúng tôi như đầy tớ của Chúa Cứu Thế, những người đã được Thượng Đế ủy thác để giải thích các điều kín giấu của Ngài.
1CO 4:2 Người được ủy thác phải chứng tỏ mình là người đáng tin cẩn.
1CO 4:3 Phần tôi, tôi không lưu ý đến những sự phê phán dù là của anh chị em hay bất cứ tòa án nào của loài người. Đến nỗi tôi cũng không tự phê phán mình nữa.
1CO 4:4 Tôi biết mình chẳng làm điều gì quấy, nhưng chẳng phải vì thế mà tôi vô tội đâu. Chỉ có Chúa mới phê phán tôi được thôi.
1CO 4:5 Vì thế nên đừng vội phê phán; hãy đợi Chúa đến. Lúc ấy Ngài sẽ mang những điều bí ẩn trong bóng tối ra ánh sáng và sẽ phơi bày những mục đích thầm kín trong thâm tâm con người. Nếu ai đáng được thưởng, người ấy sẽ được Thượng Đế thưởng công.
1CO 4:6 Thưa anh chị em, tôi đã dùng A-bô-lô và cá nhân tôi dẫn chứng để anh chị em học được ý nghĩa của câu ngạn ngữ, “Hãy noi theo lời dạy của Thánh Kinh.” Như thế anh chị em sẽ không trọng người nầy, mà khinh người kia.
1CO 4:7 Ai làm cho anh chị em cảm thấy mình hơn người khác? Có gì anh chị em có mà không phải là quà tặng đâu? Còn nếu là quà tặng thì tại sao anh chị em lại tự hào như thể quà ấy do tay mình làm ra?
1CO 4:8 Anh chị em đã có đủ mọi điều cần dùng cho nên tưởng mình giàu có rồi. Anh chị em tự cho mình là vua mà không cần chúng tôi. Tôi mong cho anh chị em làm vua thật để tôi cũng được làm vua chung với anh chị em.
1CO 4:9 Nhưng hình như Thượng Đế đã đưa các sứ đồ chúng tôi xuống hàng chót, giống những tù nhân bị kết án tử hình. Chúng tôi chẳng khác nào trò diễn cho cả thế giới xem—khán giả là thiên sứ và loài người.
1CO 4:10 Chúng tôi trở nên điên dại vì Chúa Cứu thế nhưng anh chị em rất khôn ngoan trong Ngài. Chúng tôi yếu ớt, anh chị em mạnh mẽ. Anh chị em được tôn trọng, chúng tôi bị sỉ nhục.
1CO 4:11 Ngay đến giờ nầy chúng tôi cũng không đủ ăn, đủ mặc. Chúng tôi bị đánh đập, không chỗ trú thân.
1CO 4:12 Chúng tôi dùng hai bàn tay mình làm việc cực nhọc để nuôi thân. Khi bị chưởi rủa, chúng tôi chúc phước. Khi bị ngược đãi, chúng tôi cam chịu.
1CO 4:13 Khi bị vu oan, chúng tôi lấy lời hòa nhã đáp lại. Cho đến giờ nầy chúng tôi vẫn bị đối xử như rác rưởi của thế gian—cặn bã của nhân loại.
1CO 4:14 Không phải tôi tìm cách làm anh chị em xấu hổ đâu. Sở dĩ tôi viết những điều nầy là để cảnh tỉnh vì tôi xem anh chị em như con cái yêu dấu của tôi vậy.
1CO 4:15 Dù cho anh chị em có cả vạn ông thầy trong Chúa Cứu Thế đi nữa thì anh chị em vẫn không có nhiều cha. Qua Tin Mừng, tôi đã trở thành cha của anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu,
1CO 4:16 Cho nên tôi xin anh chị em hãy noi gương tôi.
1CO 4:17 Vì thế mà tôi sai Ti-mô-thê, con tôi trong Chúa, đến cùng anh chị em. Tôi yêu Ti-mô-thê, người rất trung tín. Anh sẽ nhắc anh chị em nhớ lại lối sống của tôi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, cũng như tôi đã dạy dỗ các hội thánh khắp nơi.
1CO 4:18 Một số người trong anh chị em đâm ra tự phụ, tưởng rằng tôi sẽ không đến với anh chị em nữa.
1CO 4:19 Nhưng nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến thăm anh chị em một ngày rất gần. Lúc ấy tôi sẽ biết những kẻ tự phụ đã làm được gì, chứ không phải dựa theo điều họ nói,
1CO 4:20 vì Nước Trời được chứng tỏ bằng năng lực chứ không phải bằng lời nói.
1CO 4:21 Anh chị em muốn điều nào: Muốn tôi mang trừng phạt đến cho anh chị em hay tình yêu và lòng hòa nhã?
1CO 5:1 Tôi nghe đồn trong vòng anh em có chuyện dâm dục, bậy bạ đến nỗi người không biết Thượng Đế cũng chẳng làm nữa. Nghĩa là có người ăn nằm với mẹ kế của mình.
1CO 5:2 Thế mà anh chị em lại còn tự hào! Lẽ ra anh chị em phải cảm thấy đau buồn để khai trừ kẻ phạm tội đó ra khỏi anh chị em.
1CO 5:3 Dù tôi không có mặt giữa anh chị em về phần xác nhưng tôi vẫn có mặt giữa anh chị em về phần tâm linh. Cho nên tôi lên án người phạm tội ấy giống như tôi có mặt.
1CO 5:4 Vì thế, khi anh chị em nhân danh Chúa Giê-xu họp lại thì tôi cũng có mặt giữa anh chị em qua quyền năng Chúa Giê-xu.
1CO 5:5 Anh chị em hãy trao người ấy cho Sa-tăng để thân xác tội lỗi của họ bị tiêu hủy nhưng thần linh sẽ được cứu trong ngày Chúa chúng ta trở lại.
1CO 5:6 Sự khoe khoang của anh chị em không tốt đâu. Anh chị em biết câu ngạn ngữ, “Một chút men đủ làm dậy cả đống bột.”
1CO 5:7 Hãy lấy hết men cũ ra để anh chị em trở nên như bột mới không men. Vì Đấng Cứu Thế, là Chiên Con của lễ Vượt Qua của chúng ta đã chịu chết.
1CO 5:8 Chúng ta hãy kỷ niệm lễ ấy không phải với bánh pha men cũ—men của tội lỗi và gian ác. Chúng ta hãy kỷ niệm với bánh không pha men—bánh của sự thành thật.
1CO 5:9 Trong thư trước, tôi có nói đừng tương giao với những người dâm dục.
1CO 5:10 Không phải tôi muốn nói là đừng tương giao với những người đời nầy là những người phạm tội dâm dục, hoặc tham lam, lường gạt, hoặc những người thờ thần tượng. Nếu thế thì anh chị em phải ra khỏi thế gian.
1CO 5:11 Tôi muốn nói là anh chị em không nên tương giao với những người tự nhận là tín hữu của Chúa Cứu Thế mà dâm dục, tham lam, thờ thần tượng, chưởi mắng, rượu chè be bét hay lường gạt. Không nên ăn chung với những người như thế nữa.
1CO 5:12 Tôi không có nhiệm vụ phân xử những người ngoài hội thánh. Thượng Đế sẽ xét xử họ. Nhưng anh chị em phải phân xử những người bên trong hội thánh. Thánh Kinh viết, “Hãy khai trừ kẻ gian ác khỏi các ngươi.”
1CO 6:1 Khi ai trong anh chị em có tranh chấp với tín hữu khác, sao lại đưa nhau đến trước những quan án chưa hề làm hòa với Thượng Đế? Tại sao anh chị em không nhờ con dân Chúa phân xử?
1CO 6:2 Anh chị em vốn biết con dân Chúa sẽ xét xử thế gian. Cho nên nếu chúng ta sẽ xét xử thế gian thì chẳng lẽ lại không phân xử nổi những chuyện bất hòa nhỏ nhặt giữa anh chị em sao?
1CO 6:3 Anh chị em biết rằng trong tương lai chúng ta sẽ xét xử các thiên sứ thì dĩ nhiên chúng ta có thể phân xử những việc tầm thường đời nầy.
1CO 6:4 Nếu anh chị em có những xích mích cần phải được phân xử sao lại giao cho những người ngoài là những quan án mà hội thánh xem thường?
1CO 6:5 Tôi nói thế để anh chị em tự thẹn. Chắc hẳn trong vòng anh chị em phải có người đủ sáng suốt để phân xử chuyện bất hòa giữa các tín hữu với nhau chứ!
1CO 6:6 Nhưng nay lại có chuyện tín hữu nầy lôi tín hữu kia ra tòa—trước mặt những người ngoại đạo!
1CO 6:7 Việc anh chị em kiện tụng nhau chứng tỏ anh chị em thất bại rồi. Tại sao không chịu thiệt thòi? Tại sao không xem như mình bị lường gạt đi?
1CO 6:8 Nhưng anh chị em làm bậy và lường gạt các anh em tín hữu khác.
1CO 6:9 Anh chị em biết rằng những kẻ bất chính không thể nào hưởng được Nước Trời. Đừng bị lừa. Những kẻ dâm dục, thờ thần tượng, ngoại tình, trụy lạc, đồng tính ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, lường gạt, bêu xấu người khác, cướp bóc—đều không thể nào vào Nước Trời được.
1CO 6:11 Trước kia trong anh chị em cũng có vài người như thế nhưng nay anh chị em đã được tinh sạch, được thánh hóa và giảng hòa lại với Thượng Đế trong danh Chúa Cứu Thế và với Thánh Linh của Thượng Đế chúng ta.
1CO 6:12 “Tôi được phép làm mọi điều,” nhưng không phải điều nào cũng tốt. “Tôi được phép làm mọi điều,” nhưng tôi không để điều gì làm chủ tôi.
1CO 6:13 “Thức ăn là vì bụng, bụng vì thức ăn,” Thượng Đế sẽ tiêu hủy cả hai. Nhưng thân thể không phải để phạm tội dâm dục đâu mà là dành cho Chúa, Chúa dành cho thân thể.
1CO 6:14 Nhờ quyền năng Ngài, Thượng Đế đã khiến Chúa chúng ta sống lại từ kẻ chết, Ngài cũng sẽ khiến chúng ta sống lại từ kẻ chết nữa.
1CO 6:15 Chắc hẳn anh chị em biết rằng thân thể mình là chi thể của Chúa Cứu Thế. Lẽ nào tôi lấy chi thể của Chúa Cứu Thế kết hợp với điếm đĩ sao?—Không thể được.
1CO 6:16 Vì Thánh Kinh viết, “Hai người sẽ trở thành một thân.” Do đó anh chị em biết rằng ai kết hợp với đĩ điếm là trở thành một thân với nó.
1CO 6:17 Nhưng ai kết liên với Chúa sẽ trở nên một tâm linh như Ngài.
1CO 6:18 Cho nên hãy lánh xa tội nhục dục. Tội nào cũng ở bên ngoài con người nhưng ai phạm tội nhục dục là phạm tội với chính thân thể mình.
1CO 6:19 Anh chị em nên biết rằng thân thể mình là đền thờ của Thánh Linh, là Đấng sống trong lòng anh chị em. Anh chị em đã nhận Thánh Linh từ Thượng Đế nên anh chị em không thuộc về chính mình nữa,
1CO 6:20 vì đã được Thượng Đế chuộc bằng giá cao nên anh chị em hãy lấy thân thể mình làm vinh hiển danh Ngài.
1CO 7:1 Bây giờ tôi sẽ đề cập đến những điều anh chị em hỏi trong thư. Tốt hơn cả là đàn ông không nên ăn nằm với đàn bà.
1CO 7:2 Nhưng vì tội nhục dục là một hiểm họa cho nên đàn ông nên lấy vợ, đàn bà nên lấy chồng.
1CO 7:3 Chồng phải thỏa mãn vợ. Vợ cũng phải thỏa mãn chồng.
1CO 7:4 Vợ không có toàn quyền trên thân mình, chồng có một phần quyền trên đó. Chồng cũng không có toàn quyền trên thân mình, vợ có một phần quyền trên đó.
1CO 7:5 Đừng từ chối phục vụ lẫn nhau về thể xác ngoại trừ hai bên thỏa thuận kiêng cữ việc gối chăn trong một thời gian để dành thì giờ khẩn nguyện. Sau đó phải tái hợp lại với nhau để Sa-tăng không thể cám dỗ anh chị em khi anh chị em không tự kiềm chế mình được.
1CO 7:6 Tôi nói như thế để cho phép anh chị em kiêng cữ việc gối chăn trong một thời gian. Tuy nhiên đó không phải là mệnh lệnh của Chúa đâu.
1CO 7:7 Tôi mong mỗi người đều giống như tôi, tuy nhiên mỗi người được Thượng Đế cho ân tứ khác nhau. Người có ân tứ nầy, kẻ có ân tứ khác.
1CO 7:8 Còn về những ai chưa kết hôn và các góa phụ thì tôi khuyên: ở một mình như tôi tốt hơn.
1CO 7:9 Nhưng nếu họ không tự chế được thì nên kết hôn. Chẳng thà kết hôn còn hơn bị lửa dục nung đốt.
1CO 7:10 Về phần người đã lập gia đình thì tôi khuyên. Thật ra không phải tôi khuyên mà Chúa dạy. Vợ không được bỏ chồng.
1CO 7:11 Nhưng nếu vợ bỏ chồng thì không được tái giá, hoặc phải giải hòa lại với chồng. Chồng cũng không được ly dị vợ.
1CO 7:12 Còn những người khác thì tôi khuyên. Đây là lời khuyên của tôi, không phải của Chúa: Nếu một tín hữu có vợ là người ngoại đạo bằng lòng sống chung với mình thì không được ly dị nàng.
1CO 7:13 Hoặc nếu một nữ tín hữu có chồng là người ngoại đạo bằng lòng sống chung với mình thì nàng cũng không được ly dị chồng.
1CO 7:14 Tuy chồng là người ngoại đạo nhưng được thánh hóa nhờ vợ là tín hữu. Và tuy vợ là người ngoại đạo nhưng được thánh hóa vì chồng là tín hữu. Nếu không, con cái anh chị em sẽ không tinh sạch, nhưng hiện nay con cái anh chị em đã được tinh sạch rồi.
1CO 7:15 Tuy nhiên, nếu người ngoại đạo đòi phân ly thì cứ cho họ phân ly. Trong trường hợp đó, tín hữu nam hoặc nữ được hoàn toàn tự do, không bị ràng buộc gì. Thượng Đế đã gọi chúng ta để sống trong hòa bình.
1CO 7:16 Nầy chị vợ, biết đâu trong tương lai chị sẽ cứu được chồng mình? Còn anh chồng, biết đâu anh sẽ cứu được vợ mình?
1CO 7:17 Trong trường hợp nào cũng vậy, mỗi người nên tiếp tục sống theo cách mà Chúa ban cho mình tức là địa vị mình đã có trước khi Thượng Đế gọi. Đó là qui tắc tôi lập ra cho tất cả các hội thánh.
1CO 7:18 Nếu một người đã chịu cắt dương bì trước khi được gọi thì đừng chối bỏ phép ấy làm gì. Nếu chưa chịu phép cắt dương bì khi được gọi thì không cần phải chịu phép cắt dương bì nữa.
1CO 7:19 Dù cắt dương bì hay không, việc ấy chẳng quan trọng gì; điều quan trọng là tuân giữ mệnh lệnh của Thượng Đế.
1CO 7:20 Ai đang ở địa vị nào thì khi Thượng Đế gọi, hãy cứ ở địa vị ấy.
1CO 7:21 Nếu đang làm tôi mọi mà được Thượng Đế gọi thì đừng lo. Nhưng nếu được tự do thì nên tận dụng sự tự do ấy.
1CO 7:22 Người đang làm nô lệ mà được Chúa gọi thì trở thành tự do và thuộc về Ngài. Cũng vậy, người đang tự do mà được gọi thì trở thành nô lệ của Chúa Cứu Thế.
1CO 7:23 Các anh chị em đã được mua bằng giá cao cho nên đừng làm nô lệ cho người ta nữa.
1CO 7:24 Thưa các anh chị em, mỗi người đang ở địa vị nào khi được gọi, hãy tiếp tục ở địa vị ấy cho Thượng Đế.
1CO 7:25 Bây giờ tôi bàn đến những người chưa lập gia đình. Về vấn đề nầy tôi chưa nhận được lời dạy nào từ Chúa cả; tôi chỉ cho ý kiến riêng của tôi thôi. Nhưng anh chị em có thể tin tôi được vì Chúa đã tỏ lòng nhân ái của Ngài đối với tôi.
1CO 7:26 Hiện nay là thời kỳ khó khăn vì thế anh chị em nên ở vậy tốt hơn.
1CO 7:27 Nếu anh em đang có vợ thì đừng tìm cách bỏ vợ. Nếu anh em chưa có vợ thì đừng kiếm vợ.
1CO 7:28 Nhưng nếu anh em muốn lấy vợ thì không phạm tội gì. Còn nếu thiếu nữ nào muốn lấy chồng, cũng không phạm tội gì. Tuy nhiên những người lập gia đình sẽ gặp khó khăn trong đời nầy, mà tôi thì muốn anh chị em tránh khỏi khó khăn.
1CO 7:29 Thưa anh chị em, đây là điều tôi muốn nói: Thì giờ không còn bao nhiêu. Cho nên từ nay người có vợ phải sống như không có vợ.
1CO 7:30 Kẻ khóc hãy sống như không khóc. Kẻ vui hãy sống như không vui. Kẻ mua cũng hãy sống như không có gì.
1CO 7:31 Kẻ dùng của cải đời nầy cũng đừng quá chuộng những của ấy vì thế gian chúng ta đang thấy đây rồi sẽ qua đi.
1CO 7:32 Tôi muốn anh chị em khỏi bận tâm. Người chưa lập gia đình thì chăm lo công việc Chúa để làm vui lòng Ngài.
1CO 7:33 Nhưng người có gia đình thì bận lo việc đời nầy để tìm cách làm vừa lòng vợ.
1CO 7:34 Người đó phải lo một lúc hai việc—làm vừa lòng Chúa và vừa lòng vợ mình. Người đàn bà không có gia đình hoặc trinh nữ thì chăm lo việc Chúa. Người ấy muốn được thánh hóa cả phần thể xác lẫn phần tâm linh cho Chúa. Nhưng người có gia đình thì bận rộn việc đời nầy, lo làm sao cho vừa lòng chồng mình.
1CO 7:35 Tôi nói như thế để giúp chứ không phải để hạn chế anh chị em. Nhưng tôi muốn anh chị em sống phải lẽ, dành trọn thì giờ cho Chúa mà không bận bịu việc khác.
1CO 7:36 Nếu người đang đính hôn cho rằng mình quấy nếu không cưới vợ đã hứa, và nếu lửa tình quá mạnh khiến người ấy nghĩ nên kết hôn với nàng thì cứ làm theo điều mình muốn. Hai người nên kết hôn với nhau, không tội lỗi gì cả.
1CO 7:37 Nhưng người khác lại tin chắc rằng chẳng cần phải lập gia đình thì người ấy tự do hành động. Nếu người ấy quyết định không kết hôn với người mình đã hứa, thì người ấy làm đúng.
1CO 7:38 Người kết hôn với nàng làm đúng mà người không kết hôn với nàng còn làm đúng hơn nữa.
1CO 7:39 Chồng còn sống bao lâu thì vợ phải sống chung với chồng bấy lâu. Còn nếu chồng chết, vợ được tự do lấy ai cũng được nhưng phải kết hôn trong Chúa.
1CO 7:40 Nàng có thể hạnh phúc hơn nếu không lập gia đình một lần nữa. Đó là ý kiến của tôi. Tôi tin rằng tôi cũng có Thánh Linh của Thượng Đế.
1CO 8:1 Bây giờ tôi sẽ bàn đến vấn đề đồ cúng cho thần tượng. Chúng ta biết rằng “Ai cũng hiểu biết.” Hiểu biết đâm ra kiêu căng, nhưng lòng yêu thương luôn gây dựng.
1CO 8:2 Nếu anh chị em tưởng mình biết điều gì, thật ra anh chị em chưa biết đủ đâu.
1CO 8:3 Nhưng nếu ai yêu mến Thượng Đế thì Ngài biết người ấy.
1CO 8:4 Còn về việc ăn đồ cúng cho thần tượng thì chúng ta biết rằng thần tượng chẳng là gì cả trong thế gian vì chúng ta cũng biết chỉ có một Thượng Đế mà thôi.
1CO 8:5 Mặc dù có nhiều vật được người ta gọi là thần, trên trời hay dưới đất và có nhiều “thần” hoặc nhiều “chúa,”
1CO 8:6 nhưng đối với chúng ta chỉ có một Thượng Đế mà thôi—là Cha. Mọi vật đều từ Ngài mà ra và chúng ta sống cho Ngài. Cũng chỉ có một Chúa—Chúa Cứu Thế Giê-xu. Mọi vật đều do Ngài sáng tạo và chúng ta sống là nhờ Ngài.
1CO 8:7 Nhưng không phải ai cũng biết điều ấy. Một số người quá quen thuộc với thần tượng cho nên khi họ ăn thịt, họ vẫn nghĩ là thịt ấy đang được dâng cho thần. Vì thế khi ăn họ cảm thấy có tội vì lương tâm họ yếu ớt.
1CO 8:8 Nhớ rằng thức ăn không làm cho chúng ta gần hơn với Thượng Đế đâu. Không ăn cũng chẳng thiệt hại gì, mà ăn cũng chẳng thêm lợi lộc gì.
1CO 8:9 Cho nên anh chị em phải thận trọng đừng để sự tự do của mình gây cho những người yếu đức tin phạm tội.
1CO 8:10 Anh chị em là người có “sự hiểu biết” nên thản nhiên ăn uống trong đền thờ tà thần. Nhưng nếu người yếu đức tin nhìn thấy anh chị em ăn nơi ấy sẽ được thúc giục ăn thịt cúng cho thần trong khi vẫn tin rằng làm như thế là phạm tội.
1CO 8:11 Tín hữu yếu ớt ấy là người mà Chúa Cứu Thế đã chịu chết cho sẽ bị hư hỏng vì “sự hiểu biết” của anh chị em.
1CO 8:12 Khi phạm tội với anh chị em mình trong Chúa Cứu Thế như thế và làm tổn thương họ bằng cách dẫn họ làm điều mà họ cho là sai quấy tức là đã phạm tội cùng Ngài.
1CO 8:13 Cho nên nếu thức ăn tôi dùng mà khiến anh chị em tôi rơi vào tội lỗi thì tôi sẽ chẳng bao giờ ăn thịt nữa để khỏi khiến họ phạm tội.
1CO 9:1 Tôi là người tự do. Tôi làm sứ đồ. Tôi đã thấy Giê-xu, Chúa chúng ta. Các anh chị em là kết quả của công tác tôi trong Chúa Giê-xu.
1CO 9:2 Nếu kẻ khác không chấp nhận tôi làm sứ đồ, anh chị em chắc vẫn chấp nhận tôi vì chính anh chị em là bằng cớ của chức sứ đồ tôi trong Chúa.
1CO 9:3 Đây là câu trả lời của tôi cho những người thắc mắc về chức sứ đồ của tôi:
1CO 9:4 Chúng tôi không có quyền ăn uống sao?
1CO 9:5 Chúng tôi không có quyền mang theo một nữ tín hữu làm vợ mình giống các sứ đồ khác, như anh em Chúa hay như Phia-rơ đã làm sao?
1CO 9:6 Hay chỉ một mình Ba-na-ba và tôi phải làm việc để sinh sống?
1CO 9:7 Không có binh sĩ nào phục vụ trong quân ngũ mà lại tự trả lương cho mình. Chẳng ai trồng vườn nho mà không ăn trái. Không ai nuôi gia súc mà chẳng uống sữa của bầy gia súc.
1CO 9:8 Không phải tôi nói theo kiểu con người đâu; luật pháp của Thượng Đế cũng nói như thế nữa.
1CO 9:9 Vì như luật Mô-se có viết: “Đừng khớp miệng con bò đang đạp lúa, không cho nó ăn.” Khi Thượng Đế phán như thế có phải Ngài chỉ lo cho bò thôi sao? Không phải.
1CO 9:10 Ngài lo cho chúng ta nữa. Thánh Kinh viết về chúng ta như sau, “Người cày ruộng và người đạp lúa phải trông mong thu được mùa màng để đền bù công khó mình.”
1CO 9:11 Nếu chúng tôi đã gieo giống thiêng liêng giữa vòng anh chị em thì có gì quá đáng khi chúng tôi mong gặt hái ít nhiều về phần đời nầy từ anh chị em?
1CO 9:12 Nếu những người khác có quyền làm như thế từ anh chị em thì chúng tôi cũng vậy. Nhưng chúng tôi đã không sử dụng quyền ấy. Chúng tôi cam chịu mọi sự để khỏi làm nguyên nhân cản trở việc rao Tin Mừng của Chúa Cứu Thế.
1CO 9:13 Chắc hẳn anh chị em biết rằng ai phục vụ trong đền thờ thì lãnh thức ăn trong đền thờ, còn ai phục vụ nơi bàn thờ thì nhận được một phần của lễ dâng trên bàn thờ.
1CO 9:14 Cũng thế, Chúa chúng ta đã dạy rằng ai rao Tin Mừng thì sống bằng Tin Mừng.
1CO 9:15 Nhưng tôi chưa hề sử dụng những quyền ấy. Tôi viết những lời nầy không phải để mong nhận được gì từ anh chị em đâu. Tôi thà chết còn hơn đánh mất lý do kiêu hãnh nầy.
1CO 9:16 Rao truyền Tin Mừng không phải là dịp để tôi khoe khoang. Đó là nhiệm vụ của tôi—tôi buộc phải làm. Nếu tôi không rao Tin Mừng thì tôi sẽ vô cùng khốn khổ.
1CO 9:17 Nhưng nếu tôi tự chọn việc rao giảng thì tôi nhận được phần thưởng. Còn nếu tôi không tự chọn việc rao giảng thì tôi chỉ làm bổn phận Chúa giao cho.
1CO 9:18 Thế thì tôi nhận được phần thưởng gì? Phần thưởng tôi nhận như sau: Khi tôi giảng Tin Mừng thì tôi rao giảng không thù lao. Riêng tôi đã không sử dụng quyền nhận thù lao trong công tác rao Tin Mừng.
1CO 9:19 Tôi được tự do, chẳng bị ai ràng buộc. Nhưng tôi tự làm nô lệ cho mọi người để có thể cứu càng nhiều người càng tốt.
1CO 9:20 Đối với người Do-thái tôi trở nên như người Do-thái để cứu được người Do-thái. Chính tôi không ở dưới luật pháp. Nhưng đối với những người ở dưới luật pháp thì tôi trở nên giống như họ. Tôi làm như thế để cứu những người ở dưới luật pháp.
1CO 9:21 Đối với những người không có luật pháp, tôi sống như người không có luật pháp để cứu những người không có luật pháp. Thật ra tôi chưa thoát ly khỏi luật pháp của Thượng Đế—tôi bị luật pháp của Chúa Cứu Thế ràng buộc.
1CO 9:22 Đối với người yếu đuối tôi trở nên yếu đuối để cứu những người yếu đuối. Tôi đã trở nên như mọi người để có thể cứu một số người bằng mọi cách.
1CO 9:23 Tôi làm những điều ấy vì Tin Mừng để hi vọng được có phần ân phúc trong đó.
1CO 9:24 Anh chị em biết rằng trong một cuộc chạy đua, mọi người cùng chạy nhưng chỉ có một người thắng giải mà thôi. Cho nên hãy cố gắng chạy thế nào để thắng giải!
1CO 9:25 Ai thi đua trong các cuộc tranh tài đều phải hết sức tự chế để nhận được vương miện. Vương miện trần thế ấy sẽ khô héo sau một thời gian ngắn nhưng vương miện của chúng ta không bao giờ khô héo.
1CO 9:26 Cho nên, tôi chạy nhưng không phải chạy mông lung. Tôi đánh nhưng không phải đánh gió.
1CO 9:27 Tôi không dễ dãi với thân thể tôi, trái lại rất gắt gao với nó, bắt nó làm nô lệ cho tôi để tôi khỏi bị Thượng Đế gạt bỏ sau khi giảng cho kẻ khác.
1CO 10:1 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết những gì xảy ra cho tổ tiên chúng ta là những người đi theo Mô-se. Họ đều ở dưới đám mây, băng qua biển.
1CO 10:2 Việc ấy giống như lễ báp-têm cho những người đi theo Mô-se.
1CO 10:3 Họ đều ăn chung một thức ăn thiêng liêng,
1CO 10:4 uống chung một thức uống thiêng liêng, từ tảng đá thiêng liêng đi theo họ. Tảng đá ấy là Chúa Cứu Thế.
1CO 10:5 Nhưng đa số người trong vòng họ không làm Thượng Đế vừa lòng nên đã bỏ xác trong sa mạc.
1CO 10:6 Những việc ấy xảy ra để làm gương răn dạy chúng ta đừng ham muốn những điều xấu xa như họ.
1CO 10:7 Đừng thờ thần tượng như một số người trong họ đã làm. Như Thánh Kinh chép, “Họ ngồi xuống ăn uống rồi đứng dậy nhảy múa.”
1CO 10:8 Chúng ta không nên dâm dục như một số người trong họ mà chỉ trong một ngày, hai mươi ba ngàn người bỏ mạng vì tội ấy.
1CO 10:9 Chúng ta cũng không nên thách thức Chúa Cứu Thế như một vài người trong họ đã làm mà bị rắn cắn chết.
1CO 10:10 Cũng đừng phàn nàn oán trách như một số người trong họ đến nỗi bị thiên sứ giết.
1CO 10:11 Những gì xảy ra cho họ là để làm gương và được ghi lại để nhắc nhở chúng ta là những người sống trong thời kỳ cuối cùng nầy.
1CO 10:12 Ai tự đắc cho rằng mình đang đứng vững hãy coi chừng, kẻo ngã.
1CO 10:13 Những thử thách xảy đến cho anh chị em cũng đã xảy đến cho mọi người. Tuy nhiên, anh chị em có thể tin chắc nơi Thượng Đế vì Ngài không để cho anh chị em bị thử thách quá sức chịu đựng đâu. Trong cơn thử thách, Ngài sẽ mở lối thoát để anh chị em chịu đựng được.
1CO 10:14 Cho nên các bạn thân yêu của tôi ơi, hãy xa lánh việc thờ thần tượng.
1CO 10:15 Tôi nói với các anh chị em như với người hiểu biết; anh chị em hãy tự cân nhắc điều tôi nói đây.
1CO 10:16 Chúng ta cảm tạ về ly phước lành tức dự phần với huyết của Chúa Cứu Thế. Bánh chúng ta cùng bẻ chung với nhau là cùng dự phần trong thân thể Ngài.
1CO 10:17 Vì chỉ có một ổ bánh thôi. Chúng ta dù nhiều người nhưng chỉ là một thân vì tất cả chúng ta đều cùng dự phần trong ổ bánh ấy.
1CO 10:18 Hãy xem người Do-thái: Có phải những ai ăn các sinh tế nơi bàn thờ tức là dự phần vào bàn thờ không?
1CO 10:19 Tôi không nói rằng của lễ dâng cho thần tượng có giá trị gì hoặc thần tượng quan trọng gì cả.
1CO 10:20 Nhưng tôi nói rằng của lễ dâng cho thần tượng là cúng cho ma quỉ chứ không phải cho Thượng Đế. Tôi không muốn anh chị em dự phần với ma quỉ.
1CO 10:21 Anh chị em không thể vừa uống ly của Chúa mà đồng thời lại cũng uống ly của ma quỉ nữa. Không thể ngồi bàn ăn của Chúa mà cũng ngồi bàn ăn của ma quỉ.
1CO 10:22 Anh chị em muốn chọc tức Chúa sao? Sức chúng ta tới đâu?
1CO 10:23 “Chúng ta được tự do làm mọi điều,” nhưng không phải điều nào cũng tốt. “Chúng ta được tự do làm mọi điều,” nhưng không phải điều nào cũng giúp người khác lớn mạnh.
1CO 10:24 Đừng chỉ lo cho mình mà phải nghĩ đến lợi ích người khác nữa.
1CO 10:25 Những gì bán ở hàng thịt thì cứ ăn. Đừng thắc mắc có nên hay không nên ăn.
1CO 10:26 Anh em được phép ăn, “vì đất và những gì trong đó đều thuộc về Thượng Đế.”
1CO 10:27 Nếu có người ngoại đạo mời anh chị em ăn chung với họ và anh chị em nghĩ nên nhận lời thì hễ những gì họ dọn ra trước mặt cứ việc ăn, đừng thắc mắc tự hỏi có nên ăn hay không.
1CO 10:28 Nhưng nếu có ai bảo với anh chị em, “Món nầy đã cúng cho thần tượng,” thì không nên ăn để tránh làm tổn thương lương tâm của người đã bảo cho anh chị em biết.
1CO 10:29 Tôi không nói lương tâm anh chị em nhưng lương tâm của người kia. Tại làm sao sự tự do của tôi mà bị lương tâm người khác phê phán?
1CO 10:30 Nếu tôi tạ ơn mà dùng bữa thì tại sao tôi bị lên án về món ăn mà tôi đã cảm tạ ơn Chúa?
1CO 10:31 Cho nên dù anh chị em ăn, uống hay làm bất cứ điều gì, hãy làm vì vinh hiển Chúa.
1CO 10:32 Đừng gây tổn thương phần thiêng liêng của người khác, dù là người Do-thái, Hi-lạp hay hội thánh của Thượng Đế.
1CO 10:33 Cũng như tôi đã cố gắng làm vừa lòng mọi người bằng mọi cách. Tôi không tìm cách làm ích lợi cho cá nhân tôi mà làm ích lợi cho hầu hết mọi người để họ được cứu.
1CO 11:1 Hãy noi gương tôi vì tôi noi theo gương Chúa Cứu Thế.
1CO 11:2 Tôi khen anh chị em vì anh chị em luôn luôn nhớ đến tôi và vâng theo những điều mà tôi khuyên dạy.
1CO 11:3 Nhưng tôi muốn anh chị em biết điều nầy: Chúa Cứu Thế là đầu người đàn ông, đàn ông là đầu người đàn bà, và Thượng Đế là đầu của Chúa Cứu Thế.
1CO 11:4 Đàn ông nào mà trùm đầu trong khi cầu nguyện hay nói tiên tri là làm nhục đầu mình.
1CO 11:5 Còn đàn bà mà cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà không trùm đầu cũng làm nhục đầu mình vì chẳng khác nào bị cạo trọc đầu.
1CO 11:6 Nếu đàn bà không trùm đầu thì cũng như cạo đầu. Nhưng nếu người nào cảm thấy xấu hổ khi hớt tóc ngắn hay cạo trọc thì nên trùm đầu lại.
1CO 11:7 Đàn ông không nên trùm đầu vì đàn ông được dựng nên theo hình ảnh và vinh hiển của Thượng Đế. Còn đàn bà mang vinh hiển cho đàn ông.
1CO 11:8 Không phải đàn ông ra từ đàn bà mà đàn bà ra từ đàn ông.
1CO 11:9 Không phải đàn ông được dựng nên vì đàn bà, mà đàn bà được dựng nên vì đàn ông.
1CO 11:10 Vì thế mà đàn bà phải có dấu hiệu uy quyền trên đầu mình, vì tôn trọng thiên sứ.
1CO 11:11 Nhưng trong Chúa, đàn bà lệ thuộc đàn ông, và đàn ông cũng lệ thuộc đàn bà.
1CO 11:12 Vì nếu đàn bà sinh ra từ đàn ông, thì đàn ông cũng được sinh ra từ đàn bà. Mọi vật đều ra từ Thượng Đế.
1CO 11:13 Anh chị em hãy tự xét xem: Đàn bà để đầu trần khi cầu nguyện với Thượng Đế có thích nghi không?
1CO 11:14 Ngay cả thiên nhiên cũng dạy anh chị em rằng đàn ông để tóc dài là điều xấu hổ.
1CO 11:15 Nhưng tóc dài là vinh hiển Thượng Đế ban cho đàn bà để dùng như khăn trùm đầu.
1CO 11:16 Có vài người sẽ tranh luận về vấn đề nầy, nhưng tôi xin thưa là chúng tôi cũng như các hội thánh của Thượng Đế không có tập tục nào khác.
1CO 11:17 Có mấy điều tôi không thể nào khen anh chị em được vì khi họp lại anh chị em làm chuyện xấu hơn là tốt.
1CO 11:18 Trước hết, tôi nghe rằng khi nhóm họp lại thì có chia rẽ, tôi hơi tin điều ấy.
1CO 11:19 Thật ra phải có khác biệt trong vòng anh chị em để chứng tỏ người nào thuộc về Chúa thật.
1CO 11:20 Khi họp lại không phải anh chị em thật sự dự Bữa Ăn của Chúa nữa.
1CO 11:21 Là vì mạnh ai nấy ăn, không chờ đợi nhau cho nên người thì không đủ ăn còn người thì say sưa quá độ.
1CO 11:22 Anh chị em có thể ăn uống ở nhà mình được chứ? Hình như anh chị em xem thường hội thánh của Thượng Đế vì anh chị em làm nhục người nghèo. Tôi phải nói gì với anh chị em đây? Khen sao? Tôi không thể nào khen anh chị em trong chuyện nầy được.
1CO 11:23 Tôi truyền cho anh chị em điều tôi đã nhận lãnh từ nơi Chúa: Trong đêm Chúa Giê-xu bị phản, Ngài lấy bánh
1CO 11:24 cảm tạ rồi bẻ ra và nói, “Đây là thân thể ta hi sinh vì các con. Hãy làm điều nầy để tưởng nhớ ta.”
1CO 11:25 Cũng vậy, sau khi ăn, Ngài cầm ly và nói, “Ly nầy là giao ước lập bằng huyết ta. Khi nào các con uống hãy tưởng nhớ ta.”
1CO 11:26 Vì thế lúc ăn bánh và uống ly tức là anh chị em rao truyền cho người khác biết về sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.
1CO 11:27 Ai ăn bánh hay uống ly của Chúa không xứng đáng với ý nghĩa của bữa ăn ấy sẽ phạm tội với thân và huyết của Ngài.
1CO 11:28 Hãy tự xét lòng mình trước khi ăn bánh và uống ly,
1CO 11:29 vì người nào ăn bánh và uống ly mà không ý thức rằng chúng ta là thân thể Chúa thì ăn uống án phạt cho mình.
1CO 11:30 Vì thế mà trong anh em có nhiều người đau yếu và qua đời.
1CO 11:31 Nếu chúng ta biết tự xét mình thì Thượng Đế sẽ không xét xử chúng ta.
1CO 11:32 Nhưng khi Ngài xét xử chúng ta thì Ngài sửa dạy để chúng ta không bị kết án chung với thế gian.
1CO 11:33 Anh chị em của tôi ơi, khi họp chung lại để ăn, hãy chờ đợi nhau.
1CO 11:34 Người nào quá đói thì nên ăn trước ở nhà để khi họp lại anh chị em không chuốc lấy án phạt cho mình. Còn những việc khác khi tôi đến sẽ hướng dẫn thêm.
1CO 12:1 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em hiểu về ân tứ thiêng liêng.
1CO 12:2 Anh chị em biết lối sống cũ của mình trước khi tin nhận Chúa. Anh chị em bị hướng dẫn lầm lạc mà thờ thần tượng câm.
1CO 12:3 Nên tôi muốn anh chị em biết là không một ai cảm nhận Thánh Linh của Thượng Đế lại nói rằng “Chúa Giê-xu đáng rủa.” Và cũng không ai có thể thốt lên, “Giê-xu là Chúa,” nếu không cảm nhận Thánh Linh.
1CO 12:4 Mặc dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều cùng một Thánh Linh ban cho.
1CO 12:5 Có nhiều lối phục vụ khác nhau nhưng chung qui chỉ phục vụ cùng một Chúa thôi.
1CO 12:6 Thượng Đế hành động trên mỗi người một khác nhưng tất cả đều do một Thượng Đế thôi. Những gì chúng ta làm là do Thượng Đế hành động.
1CO 12:7 Một số ân tứ có thể thấy được từ mỗi người qua Thánh Linh để làm ích lợi chung.
1CO 12:8 Thánh Linh cho người nầy ân tứ nói điều khôn ngoan và cũng Thánh Linh ấy cho người khác nói điều thông sáng.
1CO 12:9 Cùng một Thánh Linh cho người nầy có đức tin, người khác được ân tứ chữa bệnh.
1CO 12:10 Thánh Linh cho người nầy quyền năng làm phép lạ, người kia có khả năng nói tiên tri, còn người khác nữa có khả năng phân biệt thần thật và thần giả. Thánh Linh cho người nầy khả năng nói được nhiều loại ngôn ngữ lạ, người khác có khả năng diễn giải những ngôn ngữ ấy.
1CO 12:11 Những ân tứ đó đều do cùng một Thánh Linh mà ra. Ngài phân phát mỗi người một ân tứ riêng theo ý Ngài.
1CO 12:12 Thân thể con người chỉ là một nhưng gồm nhiều bộ phận. Mặc dù thân thể gồm nhiều bộ phận nhưng tất cả đều họp thành một thân. Chúa Cứu Thế cũng vậy.
1CO 12:13 Mặc dù trong chúng ta gồm người Do-thái, Hi-lạp, nô lệ và tự do nhưng tất cả chúng ta đều chịu lễ báp-têm để trở thành một thân qua một Thánh Linh. Tất cả chúng ta đều nhận cùng một Thánh Linh ấy.
1CO 12:14 Thân thể con người gồm nhiều bộ phận chứ không phải chỉ có một.
1CO 12:15 Chân có thể nói, “Vì tôi không phải là tay nên tôi không thuộc về thân.” Nhưng không phải vì nói như thế mà chân không thuộc về thân.
1CO 12:16 Lỗ tai có thể nói, “Vì tôi không phải là mắt nên tôi không thuộc về thân.” Cũng không phải vì nói thế mà lỗ tai không thuộc về thân nữa.
1CO 12:17 Nếu toàn thân đều là mắt thì làm sao nghe được? Hay nếu toàn thân đều là lỗ tai làm sao ngửi được?
1CO 12:18 Còn nếu toàn thân chỉ có một bộ phận thì làm thế nào gọi là thân được? Nhưng chúng ta thấy Thượng Đế đã đặt mỗi bộ phận theo vai trò của nó trong thân thể như ý Ngài muốn.
1CO 12:20 Cho nên dù có nhiều bộ phận nhưng chỉ có một thân mà thôi.
1CO 12:21 Mắt không thể nói với tay, “Tao không cần mầy!” Và đầu không thể nói với chân, “Tao không cần mầy.”
1CO 12:22 Trái lại những phần nào trông có vẻ yếu ớt trong cơ thể lại là tối cần.
1CO 12:23 Những phần ít được tôn trọng thì chúng ta lại chăm sóc. Chúng ta trọng những phần chúng ta che giấu.
1CO 12:24 Những phần đáng trọng trong thân thì không cần chăm sóc nhiều. Nhưng Thượng Đế đã xếp đặt thân thể và cho những phần nào đáng trọng thì được tôn trọng
1CO 12:25 để thân thể chúng ta không bị phân hóa. Thượng Đế muốn mỗi bộ phận lo nghĩ đến nhau.
1CO 12:26 Nếu phần nào bị đau đớn thì những phần khác cùng chịu chung. Nếu phần nào được tôn trọng thì những phần khác cùng chung hưởng.
1CO 12:27 Cho nên anh chị em đều là thân thể Chúa Cứu Thế, mỗi người là một phần của thân thể ấy.
1CO 12:28 Trong hội thánh, Thượng Đế đã sắp đặt trước hết là sứ đồ, thứ nhì là các nhà tiên tri, thứ ba là giáo sư. Ngài cũng đặt để người làm phép lạ, kẻ được ân tứ chữa bệnh, người có ân tứ giúp đỡ, kẻ có tài quản trị, người có tài nói ngôn ngữ lạ.
1CO 12:29 Đâu phải ai cũng là sứ đồ, ai cũng là nhà tiên tri, ai cũng làm giáo sư, ai cũng làm phép lạ,
1CO 12:30 đâu phải ai cũng có ân tứ chữa bệnh, ai cũng nói ngôn ngữ lạ, ai cũng diễn giải ngôn ngữ ấy?
1CO 12:31 Nhưng các anh chị em nên ao ước ân tứ tốt nhất.
1CO 13:1 Dù tôi có thể nói được các ngôn ngữ loài người và thiên sứ nhưng nếu không có tình yêu thương thì tôi chẳng khác nào tiếng chuông vang hay chập chỏa ồn ào.
1CO 13:2 Dù tôi có ân tứ nói tiên tri, hiểu biết mọi điều nhiệm mầu của Thượng Đế và thông biết đủ thứ, dù tôi có đức tin có thể dời núi được nhưng nếu không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì.
1CO 13:3 Tôi có thể bố thí hết của cải, hi sinh thân mình để làm của lễ thiêu nhưng nếu không có tình yêu thương thì chẳng ích gì cho tôi.
1CO 13:4 Tình yêu thương nhẫn nại và nhân từ. Tình yêu thương không đố kỵ, không khoe khoang, không tự phụ.
1CO 13:5 Tình yêu thương không cộc cằn, không ích kỷ, không nóng nảy. Tình yêu thương bỏ qua các tổn thương đã chịu.
1CO 13:6 Tình yêu thương không vui về điều ác nhưng vui trong sự thật.
1CO 13:7 Tình yêu thương chấp nhận mọi điều. Lúc nào cũng tin tưởng, lúc nào cũng hi vọng, lúc nào cũng chịu đựng.
1CO 13:8 Tình yêu thương không bao giờ dứt. Ân tứ nói tiên tri có lúc sẽ ngưng. Ân tứ nói ngôn ngữ lạ có lúc sẽ không còn. Ân tứ hiểu biết sẽ chấm dứt.
1CO 13:9 Vì rằng sự hiểu biết và khả năng nói tiên tri của chúng ta không hoàn toàn.
1CO 13:10 Nhưng khi cái hoàn hảo đến thì những gì không hoàn hảo phải chấm dứt.
1CO 13:11 Khi tôi còn nhỏ, tôi nói như trẻ con, lý luận như trẻ con. Nhưng khi tôi trưởng thành, tôi không làm những việc trẻ con nữa.
1CO 13:12 Chúng ta cũng thế. Điều chúng ta hiện đang thấy chỉ là phản ảnh mờ mờ thôi, giống như đang nhìn trong gương nhưng đến lúc ấy chúng ta sẽ thấy rõ. Hiện giờ tôi chỉ biết có một phần, nhưng đến lúc ấy tôi sẽ biết hết như Thượng Đế đã biết tôi.
1CO 13:13 Cho nên chỉ có ba điều nầy là còn mãi: đức tin, hi vọng và tình yêu thương. Mà điều cao quí hơn cả là tình yêu thương.
1CO 14:1 Các anh chị em hãy tìm kiếm tình yêu thương và hãy thật lòng ao ước các ân tứ thiêng liêng, nhất là ân tứ nói tiên tri.
1CO 14:2 Tôi sẽ giải thích tại sao. Những người nói ngôn ngữ lạ không phải nói với người ta mà là nói với Thượng Đế. Không ai hiểu họ vì họ nói những điều bí ẩn qua Thánh Linh.
1CO 14:3 Nhưng những người nói tiên tri là nói với người ta để gây dựng, khuyến khích và an ủi.
1CO 14:4 Người nói ngôn ngữ lạ chỉ giúp ích cho chính mình thôi còn người nói tiên tri giúp ích toàn thể hội thánh.
1CO 14:5 Tôi mong tất cả anh chị em đều có ân tứ nói ngôn ngữ lạ nhưng tôi mong hơn nữa là anh chị em có ân tứ nói tiên tri. Những người nói tiên tri ích lợi hơn những người nói ngôn ngữ lạ mà không có ai diễn giải để hội thánh được gây dựng.
1CO 14:6 Thưa các anh chị em, nếu tôi đến thăm mà nói ngôn ngữ lạ thì có ích gì cho anh chị em không? Chắc là không. Chỉ ích lợi là khi tôi mang đến một chân lý mới, kiến thức mới, lời tiên tri mới hay một sự dạy dỗ mới mà thôi.
1CO 14:7 Đối với những vật vô tri phát ra tiếng cũng thế—chẳng hạn như sáo hay đờn cầm. Nếu những nhạc khí ấy trổi lên không theo âm điệu nào thì có ai biết chúng đang trổi bản gì.
1CO 14:8 Còn khi chiến tranh, nếu kèn không thổi lớn tiếng rõ ràng thì ai biết mà chuẩn bị ra trận?
1CO 14:9 Đối với anh chị em cũng vậy. Nếu anh chị em không nói rõ ràng thì đâu ai hiểu anh chị em nói cái gì. Chẳng khác nào anh chị em nói với không khí.
1CO 14:10 Đành rằng trên thế gian có nhiều ngôn ngữ và ngôn ngữ nào cũng có nghĩa.
1CO 14:11 Nhưng nếu ai nói với tôi bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu thì đối với người ấy tôi chẳng khác nào người ngoại quốc, còn người ấy thì cũng như người ngoại quốc đối với tôi.
1CO 14:12 Đối với anh chị em cũng thế. Vì anh chị em rất mong mỏi nhận được các ân tứ thiêng liêng nên hãy tìm ân tứ nào có thể gây dựng hội thánh thêm lớn mạnh.
1CO 14:13 Người được ân tứ nói ngôn ngữ lạ nên cầu xin có ân tứ diễn giải ngôn ngữ ấy.
1CO 14:14 Nếu tôi cầu nguyện bằng ngôn ngữ lạ thì tâm linh tôi cầu nguyện nhưng trí óc tôi thụ động.
1CO 14:15 Thế thì tôi phải làm sao? Tôi phải cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng bằng trí óc nữa. Tôi sẽ hát bằng tâm linh nhưng cũng hát bằng trí óc nữa.
1CO 14:16 Nếu anh chị em chỉ ca ngợi Thượng Đế bằng tâm linh thì những người ngồi nghe không hiểu anh chị em nói gì, làm sao họ nói A-men cùng với lời cầu nguyện tạ ơn của anh chị em được?
1CO 14:17 Có thể lời cảm tạ Thượng Đế của anh chị em rất tốt nhưng người khác không được gây dựng.
1CO 14:18 Tôi cảm tạ Thượng Đế vì tôi có ân tứ nói được nhiều ngôn ngữ lạ hơn tất cả anh chị em.
1CO 14:19 Nhưng trong các cuộc nhóm họp chung, chẳng thà tôi nói năm lời mà tôi hiểu để dạy dỗ gây dựng người khác hơn là nói hàng ngàn lời bằng ngôn ngữ lạ.
1CO 14:20 Anh chị em ơi, về tư tưởng thì không nên như trẻ con nữa. Về việc gian ác thì nên ngây thơ như trẻ con nhưng còn về tư tưởng thì nên như người trưởng thành.
1CO 14:21 Thánh Kinh có chép: “Ta sẽ nhờ những người dùng tiếng lạ và ngôn ngữ lạ để nói với họ. Dù vậy họ cũng chẳng thèm nghe.” Chúa phán vậy.
1CO 14:22 Cho nên ân tứ nói ngôn ngữ lạ là bằng chứng cho người không tin chứ không phải cho người đã tin. Còn lời tiên tri dành cho người đã tin chứ không phải cho người chưa tin.
1CO 14:23 Giả sử toàn thể hội thánh nhóm họp lại, người nào cũng nói tiếng khác nhau. Nếu có người ngoại cuộc hoặc chưa tin bước vào, có phải họ sẽ tưởng rằng anh chị em điên khùng rồi không?
1CO 14:24 Nhưng giả sử mọi người đều nói tiên tri mà có người ngoại cuộc hay chưa tin bước vào, họ không hiểu nhưng nếu mọi người đều nói tiên tri thì tội lỗi họ sẽ bị phơi bày ra và họ sẽ bị xét xử về những điều họ nghe.
1CO 14:25 Những điều bí ẩn trong lòng họ sẽ bị phơi ra. Họ sẽ bái lạy Thượng Đế và xưng rằng, “Thượng Đế đang ở với anh chị em.”
1CO 14:26 Như thế, thưa anh chị em phải làm sao? Khi họp lại, người thì hát, người thì dạy, người thì có chân lý mới từ Thượng Đế, người nói ngôn ngữ lạ, người diễn giải ngôn ngữ ấy. Tất cả đều phải làm để gây dựng hội thánh lớn mạnh.
1CO 14:27 Khi nhóm họp lại, nếu có ai nói ngôn ngữ lạ thì chỉ cần chừng hai chứ không nên quá ba người nói. Phải thay phiên nhau mà nói và phải có người diễn giải.
1CO 14:28 Nếu không có ai diễn giải thì người nói ngôn ngữ lạ nên im lặng trong giờ nhóm họp. Họ chỉ nên nói thầm với mình và với Thượng Đế mà thôi.
1CO 14:29 Chỉ nên có hai hoặc ba người nói tiên tri còn người khác cân nhắc điều họ nói.
1CO 14:30 Nếu có sứ điệp do Thượng Đế đến với một trong những người ngồi đó thì người nói đầu tiên phải ngưng.
1CO 14:31 Tất cả anh chị em có thể tuần tự nói tiên tri. Như thế mọi người sẽ được dạy dỗ và nâng đỡ.
1CO 14:32 Thần linh của các tiên tri ở dưới quyền kiểm soát của các người nói tiên tri.
1CO 14:33 Thượng Đế không phải là Chúa của sự rối loạn mà là Chúa của sự hòa bình. Trong tất cả các hội thánh của Thượng Đế
1CO 14:34 đàn bà phải im lặng trong các buổi nhóm họp, không được lên tiếng, nhưng phải tuân theo luật pháp qui định.
1CO 14:35 Nếu họ muốn học điều gì thì phải hỏi chồng mình ở nhà. Đàn bà lên tiếng trong các buổi nhóm họp là không phải lẽ.
1CO 14:36 Có phải lời dạy dỗ của Thượng Đế đến từ anh chị em không? Hay là chỉ có một mình anh chị em là có sự dạy dỗ ấy?
1CO 14:37 Ai cho mình là nhà tiên tri hay người thiêng liêng thì phải hiểu rằng lời tôi viết cho anh chị em đây là mệnh lệnh của Chúa.
1CO 14:38 Ai gạt bỏ lời dạy nầy sẽ bị Thượng Đế gạt bỏ lại.
1CO 14:39 Thưa anh chị em, hãy thật lòng ao ước nói tiên tri. Tuy nhiên không nên ngăn cản việc nói ngôn ngữ lạ.
1CO 14:40 Nhưng việc nào cũng phải làm cho đúng cách và theo thứ tự.
1CO 15:1 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em nhớ lại Tin Mừng tôi đã mang đến mà anh chị em đã nhận và đang vững mạnh trong đó.
1CO 15:2 Anh chị em sẽ được cứu nếu cứ vững tin theo điều tôi đã chỉ dạy. Nếu không thì dù có tin cũng vô ích.
1CO 15:3 Tôi truyền lại cho anh chị em điều tôi đã nhận mà điều hệ trọng nhất như sau: Chúa Cứu Thế chết vì tội chúng ta theo lời Thánh Kinh;
1CO 15:4 Ngài được chôn và sống lại vào ngày thứ ba theo lời Thánh Kinh;
1CO 15:5 Ngài hiện ra cho Phia-rơ và mười hai sứ đồ.
1CO 15:6 Sau đó Ngài hiện ra cho hơn năm trăm tín hữu cùng thấy. Hầu hết những người ấy vẫn còn sống, tuy một số đã qua đời.
1CO 15:7 Rồi Ngài hiện ra cho Gia-cơ và sau đó hiện ra cho tất cả các sứ đồ.
1CO 15:8 Cuối cùng, Ngài hiện ra cho tôi—như người sinh sau đẻ muộn.
1CO 15:9 Vì tất cả các sứ đồ khác đều cao trọng hơn tôi. Thật ra tôi chẳng đáng được gọi là sứ đồ nữa vì tôi đã tàn hại hội thánh của Thượng Đế.
1CO 15:10 Nhưng ân phúc của Ngài đã giúp tôi được như ngày nay, và ân ấy quả không uổng phí. Tôi làm việc vất vả hơn tất cả các sứ đồ khác. Thật ra không phải tôi mà là ân phúc Thượng Đế cho tôi.
1CO 15:11 Cho nên dù tôi hay các sứ đồ kia giảng cho anh chị em, việc ấy không quan trọng. Điều quan trọng là chúng tôi giảng cùng một điều, là điều anh chị em đã tin nhận.
1CO 15:12 Vì chúng tôi rao giảng rằng Chúa Cứu Thế đã sống lại từ kẻ chết thì tại sao trong anh chị em vẫn có người bảo rằng kẻ chết sẽ không sống lại?
1CO 15:13 Nếu chưa hề có ai chết mà sống lại thì Chúa Cứu Thế cũng đã không sống lại từ kẻ chết nữa.
1CO 15:14 Và nếu Chúa Cứu Thế không sống lại thì lời giảng của chúng tôi vô ích, và đức tin anh chị em cũng vậy.
1CO 15:15 Ngoài ra, chúng tôi còn mang tội nói dối về Thượng Đế vì chúng tôi làm chứng rằng Ngài đã khiến Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết. Nếu kẻ chết không sống lại thì Thượng Đế cũng không khiến Chúa Cứu Thế sống lại nữa.
1CO 15:16 Nếu kẻ chết không sống lại thì Chúa Cứu Thế cũng không sống lại.
1CO 15:17 Và nếu Chúa Cứu Thế không sống lại thì đức tin anh chị em chẳng có nền tảng; anh chị em vẫn còn mang tội mình.
1CO 15:18 Và những người chết trong Chúa Cứu Thế sẽ bị diệt mất.
1CO 15:19 Nếu chúng ta chỉ nuôi hi vọng về Chúa Cứu Thế trong đời nầy mà thôi thì chúng ta là người đáng thương nhất trong tất cả mọi người sống trên thế gian.
1CO 15:20 Nhưng Chúa Cứu Thế đã thật sống lại từ trong kẻ chết—Ngài là người đầu tiên và là bằng chứng cho thấy rằng những người đã qua đời sẽ sống lại.
1CO 15:21 Vì do một người mà sự chết đến, thì cũng do một người mà có sự sống lại từ kẻ chết.
1CO 15:22 Trong A-đam, tất cả chúng ta đều chết. Cũng thế, trong Chúa Cứu Thế tất cả chúng ta đều sẽ được sống lại.
1CO 15:23 Tuy nhiên mọi người sẽ được sống lại theo thứ tự. Chúa Cứu Thế là người đầu tiên sống lại, rồi đến những người thuộc về Ngài, khi Chúa Cứu Thế trở lại.
1CO 15:24 Sau đó là thời kỳ tận thế. Lúc ấy Chúa Cứu Thế sẽ tiêu diệt tất cả các bậc cầm quyền, các thế lực và giao nước lại cho Thượng Đế là Cha Ngài.
1CO 15:25 Chúa Cứu Thế sẽ cai trị cho đến khi Ngài đặt hết mọi kẻ thù dưới quyền cai trị của mình.
1CO 15:26 Kẻ thù bị tiêu diệt cuối cùng là sự chết.
1CO 15:27 Thánh Kinh chép rằng Thượng Đế sẽ đặt hết mọi vật dưới quyền cai trị của Ngài. Khi Thánh Kinh viết “mọi vật” dưới quyền Ngài thì điều ấy không có nghĩa là kể luôn Thượng Đế, Đấng đặt mọi vật dưới quyền Chúa Cứu Thế.
1CO 15:28 Sau khi mọi vật đã được đặt dưới quyền mình xong thì Đức Chúa Con cũng sẽ tự đặt mình dưới quyền Thượng Đế là Đấng đã đặt mọi sự dưới quyền mình. Bấy giờ Thượng Đế sẽ hoàn toàn quản trị mọi loài.
1CO 15:29 Nếu kẻ chết không sống lại thì tại sao người ta chịu phép báp-têm vì những người chết? Nếu kẻ chết không sống lại thì chịu phép báp-têm vì họ để làm gì?
1CO 15:30 Còn chúng tôi thì sao? Tại sao chúng tôi lại tự đưa mình vào chốn hiểm nguy mỗi giờ?
1CO 15:31 Tôi chết mỗi ngày. Thưa anh chị em, điều ấy quả đúng như thế cũng như điều tôi khoe về anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta cũng đúng nữa.
1CO 15:32 Nếu tôi suy nghĩ theo con người mà chiến đấu với dã thú ở thành Ê-phê-sô thì có ích gì đâu? Nếu kẻ chết không sống lại thì “Chúng ta hãy ăn, uống cho thỏa thích vì ngày mai chúng ta đều chết hết.”
1CO 15:33 Đừng mắc lừa, “Bạn xấu làm hư tính tốt.”
1CO 15:34 Hãy trở lại lối suy nghĩ chính đáng của anh chị em và đừng phạm tội nữa. Một vài người trong anh chị em không biết Thượng Đế là gì—tôi nói thế để anh chị em tự thẹn.
1CO 15:35 Tuy nhiên có người sẽ hỏi, “Người chết sống lại ra sao? Họ sẽ mang thân xác nào?”
1CO 15:36 Kẻ dại ơi! Khi gieo hột giống thì hột ấy phải chết dưới lòng đất trước rồi mới sống lại và mọc lên.
1CO 15:37 Khi gieo hột thì hình thể của nó khác với hình thể sau nầy. Hột giống anh chị em gieo có thể chỉ là một hột thường, lúa mì hay bất cứ hột gì.
1CO 15:38 Nhưng Thượng Đế đã định hình thể cho nó. Mỗi loại hột có một hình thể riêng.
1CO 15:39 Mọi loài xác thịt đều khác nhau: Xác thịt loài người khác, loài thú khác, loài chim khác, loài cá khác.
1CO 15:40 Có những hình thể thuộc về trời, có hình thể thuộc về đất. Hình thể thuộc về trời có vẻ đẹp khác với vẻ đẹp của hình thể thuộc về đất.
1CO 15:41 Mặt trời có một vẻ đẹp của nó, mặt trăng có vẻ đẹp khác, ngôi sao cũng có vẻ đẹp khác nữa. Mỗi ngôi sao có vẻ đẹp riêng của nó.
1CO 15:42 Kẻ chết sống lại cũng vậy. Thân thể đã được gieo sẽ bị mục nát tiêu tan nhưng sẽ được phục sinh và mang lấy một sự sống bất diệt.
1CO 15:43 Thân thể khi gieo là nhục, nhưng sống lại là vinh. Khi gieo là yếu, nhưng sống lại là mạnh.
1CO 15:44 Khi gieo là thân xác vật chất, khi sống lại là thể chất thiêng liêng. Có thân xác vật chất thì cũng có thân thể thiêng liêng.
1CO 15:45 Như Thánh Kinh ghi, “A-đam, người đầu tiên trở nên con người sống.” Nhưng A-đam sau cùng là thần linh ban sự sống.
1CO 15:46 Không phải người thiêng liêng đến trước, mà là người vật chất đến trước rồi mới đến người thiêng liêng.
1CO 15:47 Người đầu tiên đến từ bụi đất. Người thứ nhì đến từ thiên đàng.
1CO 15:48 Người thuộc về đất thì giống người từ đất ra. Nhưng ai thuộc về trời thì giống người thuộc về trời.
1CO 15:49 Chúng ta được tạo nên giống người thuộc về đất ra sao, thì cũng sẽ được tạo nên giống người thuộc về trời như thế.
1CO 15:50 Anh chị em ơi, tôi xin thưa điều nầy: Thịt và máu không thể hưởng Nước Trời được đâu. Vật mục nát không thể nào dự phần với vật không bao giờ bị mục nát.
1CO 15:51 Tôi tiết lộ cho anh em điều bí mật nầy: Tất cả chúng ta đều sẽ không chết hết mà sẽ được biến hóa.
1CO 15:52 Sự biến hóa ấy sẽ xảy ra trong tích tắc, nhanh như chớp mắt—khi tiếng kèn chót trỗi lên. Lúc đó, những người đã chết sẽ thức dậy để sống đời đời và tất cả chúng ta là kẻ đang sống đều sẽ được biến hóa.
1CO 15:53 Thân thể mục nát nầy phải mặc lấy thân thể không bao giờ mục nát. Thân thể chết nầy phải mặc lấy thân thể không bao giờ chết.
1CO 15:54 Cho nên thân thể mục nát nầy sẽ mặc lấy thân thể không bao giờ mục nát. Thân thể chết nầy sẽ mặc lấy thân thể không bao giờ chết. Khi biến cố ấy xảy ra thì lời Thánh Kinh sau đây sẽ được thành tựu: “Sự chết đã bị tiêu diệt đời đời bởi sự đắc thắng.”
1CO 15:55 “Nầy sự chết, chiến thắng của mầy đâu rồi? Nầy sự chết, nọc độc của mầy đâu rồi?”
1CO 15:56 Nọc độc của sự chết là tội lỗi, và quyền lực của tội lỗi là luật pháp.
1CO 15:57 Nhưng cảm tạ Thượng Đế! Ngài đã cho chúng ta chiến thắng qua Chúa Giê-xu, Đấng Cứu Thế của chúng ta.
1CO 15:58 Cho nên thưa anh chị em, hãy vững mạnh. Đừng để điều gì lay chuyển mình. Hãy hết lòng phục vụ Chúa vì biết rằng công khó của anh chị em trong Chúa không uổng phí đâu.
1CO 16:1 Bây giờ tôi sẽ bàn đến việc quyên góp cho các con dân Chúa. Anh chị em nên làm theo điều tôi khuyên dạy các hội thánh miền Ga-la-ti:
1CO 16:2 Vào ngày đầu tuần, mỗi người trong anh chị em dành riêng ra một số tiền tùy khả năng. Làm như thế thì không cần đợi tôi đến rồi mới thu góp.
1CO 16:3 Khi tôi đến, tôi sẽ gởi cho đại diện của anh chị em mang tiền quyên góp của tôi về Giê-ru-sa-lem cùng với thư giới thiệu,
1CO 16:4 và nếu tôi nên đi thì họ sẽ đi chung với tôi.
1CO 16:5 Tôi dự định băng qua Ma-xê-đoan rồi sau đó sẽ ghé thăm anh chị em.
1CO 16:6 Có lẽ tôi sẽ thăm anh chị em ít lâu hoặc ở lại suốt mùa đông. Rồi nhờ anh chị em giúp tôi lên đường đến nơi nào tôi định đi.
1CO 16:7 Tôi không muốn chỉ ghé qua thăm anh chị em mà thôi. Nếu Chúa cho phép thì tôi sẽ ở lại thăm anh chị em lâu hơn.
1CO 16:8 Nhưng tôi sẽ lưu lại Ê-phê-sô cho đến lễ Thất Tuần,
1CO 16:9 vì tôi có một cơ hội rất tốt để thực hiện một công tác đang lớn mạnh của tôi tại đó. Nhưng đồng thời cũng có nhiều người chống đối.
1CO 16:10 Khi Ti-mô-thê đến, anh chị em hãy giúp anh ấy để anh thấy thoải mái. Nhớ rằng anh cùng làm công việc Chúa giống như tôi vậy.
1CO 16:11 Vì thế, chớ có ai xem thường anh nhưng hãy giúp anh lên đường bình yên để anh có thể trở về với tôi. Tôi mong anh trở về cùng với các anh em khác.
1CO 16:12 Còn về phần anh A-bô-lô: Tôi khuyến khích anh thăm anh chị em cùng với các anh em khác. Hiện tại anh chưa thể đi được nhưng anh sẽ đến thăm khi có dịp.
1CO 16:13 Hãy sáng suốt và thận trọng. Hãy vững mạnh trong đức tin. Hãy can đảm và bạo dạn.
1CO 16:14 Làm việc gì cũng phải do tình yêu thúc đẩy.
1CO 16:15 Anh chị em biết gia đình Tê-pha-na là những tín hữu đầu tiên thuộc miền Nam Hi-lạp. Họ đã hết lòng giúp đỡ con dân Chúa. Thưa anh chị em, tôi xin anh chị em
1CO 16:16 hãy vâng theo sự lãnh đạo của những người như thế cùng những người khác đang làm việc và phục vụ chung với họ.
1CO 16:17 Tôi mừng vì Tê-pha-na, Pho-tu-na và A-chai-cút đã đến nơi. Mặc dù anh chị em không có mặt tại đây nhưng họ đã đại diện anh chị em.
1CO 16:18 Họ khích lệ lòng tôi và anh chị em rất nhiều. Anh chị em nên nhìn nhận giá trị của những người như thế.
1CO 16:19 Các hội thánh miền Á-châu gởi lời chào thăm anh chị em. A-qui-la và Bích-xi-la cũng gởi lời chào thăm thân ái đến anh chị em trong Chúa. Hội thánh họp lại tại nhà họ cũng chào thăm anh chị em.
1CO 16:20 Tất cả anh chị em có mặt tại đây chào thăm. Mỗi người hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau.
1CO 16:21 Tôi, Phao-lô, chính tay viết lời chào nầy cho anh chị em.
1CO 16:22 Ai không yêu mến Chúa thì hãy để cho họ xa cách Chúa—chịu chết mất đời đời! Lạy Chúa, xin hãy đến.
1CO 16:23 Nguyện ân phúc Chúa Giê-xu ở với anh chị em.
1CO 16:24 Nguyện tình yêu của tôi ở với tất cả anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2CO 1:1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu theo ý muốn Thượng Đế, cùng với Ti-mô-thê, anh em chúng ta trong Ngài. Kính gởi hội thánh của Chúa tại Cô-rinh và tất cả con dân Chúa khắp miền Nam Hi-lạp.
2CO 1:2 Nguyền xin ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu, ở cùng anh chị em.
2CO 1:3 Cảm tạ Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng đầy lòng thương xót và an ủi.
2CO 1:4 Ngài an ủi chúng tôi trong mọi cảnh khó khăn, nên chúng tôi có thể dùng sự an ủi ấy mà an ủi những người cũng gặp đồng hoàn cảnh.
2CO 1:5 Chúng tôi san sẻ mọi nỗi khổ mà Chúa Cứu Thế đã gánh chịu. Do đó chúng tôi đã nhận được nhiều an ủi qua Ngài.
2CO 1:6 Nếu chúng tôi gặp cảnh khó khăn là để cho anh chị em được an ủi và được cứu rỗi, và nếu chúng tôi được an ủi thì chính anh chị em cũng được an ủi. Cho nên anh chị em có thể nhẫn nại chịu đựng những nỗi khổ như chúng tôi.
2CO 1:7 Chúng tôi hi vọng vững chắc về anh chị em vì biết rằng anh chị em cũng san sẻ những nỗi khổ và niềm an ủi mà chúng tôi đã nhận.
2CO 1:8 Thưa anh chị em, chúng tôi muốn anh chị em biết những nỗi khổ chúng tôi đã chịu trong miền Á-châu. Chúng tôi bị đè nén quá sức đến nỗi hết hi vọng sống.
2CO 1:9 Thật thế, chúng tôi yên trí mình sắp chết đến nơi. Nhưng việc ấy xảy ra để chúng tôi không còn tin vào mình nhưng tin cậy Thượng Đế là Đấng khiến kẻ chết sống lại.
2CO 1:10 Thượng Đế đã giải thoát chúng tôi khỏi những hiểm nguy kề cái chết đó, nên chúng tôi tin chắc rằng Ngài sẽ còn giải cứu chúng tôi nữa.
2CO 1:11 Anh chị em có thể giúp chúng tôi bằng lời cầu nguyện. Nhờ thế mà nhiều người sẽ cảm tạ vì chúng tôi và nhờ lời cầu nguyện của anh chị em mà Thượng Đế đã ban phúc cho chúng tôi.
2CO 1:12 Đây là điều chúng tôi có thể kiêu hãnh và là điều chúng tôi mạnh dạn tuyên bố mà không xấu hổ với lương tâm: Tức là trong mọi việc chúng tôi làm trên thế gian và nhất là đối với anh chị em, chúng tôi đều làm với lòng chân thành ngay thật từ Thượng Đế vì chúng tôi làm nhờ ân phúc của Thượng Đế chứ không nhờ sự khôn ngoan của thế gian.
2CO 1:13 Chúng tôi chỉ viết những gì mà anh chị em có thể đọc và hiểu. Hi vọng rằng nếu anh chị em hiểu một ít về chúng tôi, anh chị em sẽ có thể hiểu tất cả. Lúc ấy anh chị em sẽ hãnh diện về chúng tôi cũng như chúng tôi sẽ hãnh diện về anh chị em vào ngày Chúa Giê-xu chúng ta trở lại.
2CO 1:15 Tôi tin chắc điều ấy cho nên tôi đã dự định thăm viếng anh chị em để anh chị em nhận ân phúc gấp đôi.
2CO 1:16 Tôi định thăm anh chị em trên đường qua Ma-xê-đoan và trên đường về. Tôi cần anh chị em giúp cho chuyến đi của tôi sang miền Giu-đia.
2CO 1:17 Anh chị em nghĩ rằng tôi dự định như thế một cách lửng lơ sao? Hay là anh chị em cho rằng tôi hoạch định chương trình giống như thế gian, nghĩa là khi thế nầy, khi thế khác?
2CO 1:18 Nếu anh chị em tin Thượng Đế và Ngài là Đấng đáng tin, thì anh chị em có thể tin rằng điều chúng tôi nói với anh chị em trước sau như một.
2CO 1:19 Chúa Cứu Thế, Con Thượng Đế mà tôi, Xi-la và Ti-mô-thê rao giảng cho anh chị em không thể vừa phải lại vừa không được. Trong Ngài chỉ có phải mà thôi.
2CO 1:20 Vì mọi lời hứa của Thượng Đế chỉ có ‘phải’ ở trong Chúa Cứu Thế và qua Chúa Cứu Thế chúng ta ‘thưa phải’ cho vinh hiển Ngài.
2CO 1:21 Nên nhớ rằng Thượng Đế là Đấng khiến chúng ta vững mạnh trong Chúa Cứu Thế. Ngài cũng đã khiến chúng ta làm dân được Ngài chọn.
2CO 1:22 Ngài đóng ấn trên chúng ta để chứng tỏ rằng chúng ta thuộc về Ngài đồng thời ban Thánh Linh vào lòng để làm vật bảo đảm cho lời hứa của Ngài.
2CO 1:23 Tôi thưa với anh chị em điều nầy và có Thượng Đế làm chứng rằng: Lý do tôi không trở về Cô-rinh được là để tránh cho anh chị em khỏi bị trừng phạt và đau buồn.
2CO 1:24 Chúng tôi không muốn cai trị đức tin anh chị em. Đức tin anh chị em đã vững mạnh rồi. Còn chúng tôi là bạn đồng công cùng làm việc để anh chị em được vui mừng.
2CO 2:1 Cho nên tôi nhất quyết rằng chuyến viếng thăm sắp đến của tôi không phải là một dịp để khiến anh chị em buồn.
2CO 2:2 Nếu tôi làm anh chị em buồn thì ai là người làm cho tôi vui? Chỉ có một mình anh chị em có thể làm cho tôi vui được thôi—đó là những người mà tôi đã làm buồn lòng.
2CO 2:3 Tôi viết thư nầy là vì lý do sau: Khi tôi đến cùng anh chị em tôi sẽ không bị buồn vì những người đáng lẽ làm cho tôi vui. Tôi tin chắc tất cả các anh chị em cũng chia xẻ niềm vui ấy của tôi.
2CO 2:4 Lúc viết bức thư trước, lòng tôi rất bối rối và đau buồn. Tôi viết cho anh chị em mà rơi nước mắt. Tôi viết, không phải để làm cho anh chị em buồn mà là để anh chị em biết tôi yêu anh chị em đến mức nào.
2CO 2:5 Có người trong anh chị em gây ra điều buồn rầu, không phải cho tôi mà là cho anh chị em. Tôi muốn nói là người ấy gây buồn cho tất cả chúng ta ít nhiều. Tôi không muốn phóng đại làm gì.
2CO 2:6 Sự trừng phạt mà hầu hết anh chị em làm cho người đó đã đủ rồi.
2CO 2:7 Nhưng bây giờ anh chị em nên tha thứ và an ủi người ấy để họ không quá buồn bã đến nỗi muốn bỏ cuộc.
2CO 2:8 Cho nên tôi xin anh chị em hãy tiếp tục chứng tỏ tình yêu thương với người ấy.
2CO 2:9 Tôi viết để thử xem anh chị em có vâng theo mọi việc hay không.
2CO 2:10 Nếu anh chị em tha thứ ai thì tôi cũng tha thứ người ấy. Và điều tôi tha—nếu có gì để tha—là vì anh chị em, giống như Chúa Cứu Thế đang ở cùng tôi.
2CO 2:11 Tôi làm như thế để Sa-tăng không thể lợi dụng, vì chúng ta đã rõ âm mưu của nó.
2CO 2:12 Khi tôi đến thành Trô-ách để rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu Thế thì thấy Ngài đã cho tôi một cơ hội tốt tại đó.
2CO 2:13 Nhưng tôi không an tâm vì không gặp anh em tôi là Tít ở đó. Cho nên tôi từ giã các anh chị em ở Trô-ách để lên đường qua Ma-xê-đoan.
2CO 2:14 Nhưng tạ ơn Thượng Đế, Đấng lúc nào cũng đưa chúng ta đến đắc thắng trong Chúa Cứu Thế. Ngài dùng chúng tôi rải sự hiểu biết về Ngài khắp nơi như hương thơm.
2CO 2:15 Của lễ chúng tôi dâng cho Thượng Đế là hương thơm của Chúa Cứu Thế ở giữa những người được cứu và những người bị chết mất.
2CO 2:16 Đối với những kẻ bị chết mất, chúng tôi là mùi của sự chết đưa đến cái chết, nhưng đối với người được cứu, chúng tôi là mùi thơm của sự sống đưa đến sự sống. Ai có thể làm được điều ấy?
2CO 2:17 Chúng tôi không thủ lợi bằng cách buôn bán lời của Thượng Đế như nhiều người khác đã làm nhưng trong Chúa Cứu Thế chúng tôi nói ra lời chân thật như những sứ giả của Thượng Đế đứng trước mặt Ngài.
2CO 3:1 Có phải chúng tôi lại bắt đầu tự khoe khoang rồi chăng? Chúng tôi có cần thư giới thiệu đến cho anh chị em hoặc từ anh chị em như những người khác không?
2CO 3:2 Chính anh chị em là bức thư ấy, viết trên lòng chúng tôi, mọi người đều biết và đọc.
2CO 3:3 Anh chị em chứng tỏ rằng mình là bức thư từ Chúa Cứu Thế gởi qua chúng tôi. Thư ấy không viết bằng mực mà bằng Thánh Linh của Thượng Đế hằng sống. Không phải viết trên bảng đá mà là trên lòng người.
2CO 3:4 Chúng tôi dám nói như thế là vì qua Chúa Cứu Thế chúng tôi tin chắc nơi Thượng Đế.
2CO 3:5 Chúng tôi không dám bảo rằng tự mình làm nổi việc gì nhưng Thượng Đế là Đấng giúp chúng tôi.
2CO 3:6 Ngài khiến chúng tôi trở thành đầy tớ phục vụ giao ước mới kết lập giữa Ngài và dân chúng của Ngài. Giao ước mới nầy không phải là luật pháp viết bằng chữ mà là do Thánh Linh. Luật viết bằng chữ đưa đến sự chết nhưng Thánh Linh dẫn đến sự sống.
2CO 3:7 Nếu hệ thống cũ vốn đưa đến sự chết đã được viết bằng chữ trên bảng đá, được trao cùng với vinh quang của Thượng Đế khiến gương mặt Mô-se sáng rực đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nhìn. Sau đó vinh quang ấy biến mất.
2CO 3:8 Huống hồ khi hệ thống mới do Thánh Linh mang đến lại còn vinh quang hơn thế nào nữa.
2CO 3:9 Nếu giao ước cũ vốn kết tội loài người còn vinh quang như vậy thì huống hồ giao ước mới khiến con người hòa thuận lại với Thượng Đế sẽ vinh quang rực rỡ đến mức nào.
2CO 3:10 Hệ thống cũ có vinh quang nhưng vinh quang ấy bị lu mờ khi so với vinh quang rực rỡ hơn của hệ thống mới.
2CO 3:11 Nếu hệ thống cũ vốn biến mất mà còn có vinh quang thì hệ thống mới vốn còn đời đời sẽ có vinh quang rực rỡ đến mức nào.
2CO 3:12 Vì có hi vọng ấy nên chúng ta rất bạo dạn.
2CO 3:13 Không giống như Mô-se phải lấy khăn che để dân Ít-ra-en không thấy mặt mình. Vinh quang ấy dần dần biến đi còn Mô-se thì không muốn họ thấy nó biến mất.
2CO 3:14 Nhưng trí họ bị khép kín, cho nên đến ngày nay khi nghe đọc giao ước cũ thì họ vẫn còn như bị cái màn che khuất. Chỉ có Chúa Cứu Thế mới cất cái màn ấy khỏi họ thôi.
2CO 3:15 Đến nỗi đến ngày nay, khi đọc luật Mô-se, trí họ vẫn như bị cái màn che.
2CO 3:16 Nhưng khi họ thay đổi và trở lại theo Chúa thì cái màn ấy sẽ bị lấy đi.
2CO 3:17 Chúa là Thánh Linh. Hễ Thánh Linh của Chúa ở đâu thì nơi đó có tự do.
2CO 3:18 Chúng ta không phải che mặt vì chúng ta thấy vinh quang của Chúa và chúng ta đã được biến hóa trở nên giống như Ngài. Sự biến hóa ấy trong chúng ta càng mang vinh quang rực rỡ hơn nữa vì vinh quang đó đến từ Chúa là Thánh Linh.
2CO 4:1 Thượng Đế, Đấng giàu lòng thương xót, trao cho chúng tôi công tác nầy, nên chúng tôi không bỏ cuộc.
2CO 4:2 Nhưng chúng tôi đã từ bỏ những lối hư xấu và lén lút cũ. Chúng tôi không dùng mưu mẹo và cũng không tráo đổi lời dạy của Thượng Đế. Chúng tôi giảng dạy sự thật một cách rõ ràng, cho mọi người thấy chúng tôi là ai để trong lòng họ biết chúng tôi là người thế nào trước mặt Thượng Đế.
2CO 4:3 Nếu Tin Mừng mà chúng tôi rao giảng bị che khuất, là chỉ che khuất với những người bị chết mất thôi.
2CO 4:4 Ma quỉ là kẻ thống trị đời nầy làm mù tâm trí những người không tin. Họ không thể nhìn thấy ánh sáng của Tin Mừng—tức Tin Mừng về sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế, hình ảnh của Thượng Đế.
2CO 4:5 Chúng tôi không giảng về chính mình nhưng giảng rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa và vì Ngài chúng tôi làm tôi tớ phục vụ anh chị em.
2CO 4:6 Thượng Đế xưa kia đã phán, “Ánh sáng phải chiếu ra từ trong tối tăm!” Cũng chính Thượng Đế ấy đã khiến ánh sáng Ngài soi trong lòng chúng tôi để chúng tôi biết vinh hiển của Thượng Đế nơi gương mặt của Chúa Cứu Thế.
2CO 4:7 Chúng tôi nhận được của báu nầy từ Thượng Đế nhưng chúng tôi chẳng khác nào cái bình bằng đất dùng đựng của báu ấy. Như thế để chứng tỏ rằng quyền năng lớn lao là do Thượng Đế đến chứ không phải do chúng tôi.
2CO 4:8 Chúng tôi bị vây khốn nhưng không bị đè bẹp, bị bối rối nhưng không tuyệt vọng.
2CO 4:9 Chúng tôi bị hành hại nhưng Thượng Đế không lìa bỏ chúng tôi. Đôi khi chúng tôi bị tổn thương nhưng chưa chết.
2CO 4:10 Chúng tôi mang cái chết của Chúa Giê-xu trong thân thể để sự sống của Ngài cũng được tỏ ra trong thân thể chúng tôi.
2CO 4:11 Tuy rằng chúng tôi sống, nhưng vì Chúa Giê-xu, chúng tôi luôn luôn gặp nguy hiểm, kề cái chết để sự sống của Ngài tỏ ra trong thân thể chết của chúng tôi.
2CO 4:12 Cho nên sự chết hành động trong chúng tôi còn sự sống hành động trong anh chị em.
2CO 4:13 Như Thánh Kinh viết, “Tôi tin nên tôi nói.” Đức tin của chúng tôi cũng như thế. Chúng tôi tin nên mới nói.
2CO 4:14 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết nên chúng tôi tin rằng Ngài cũng sẽ khiến chúng tôi sống lại với Chúa Giê-xu và đặt chúng tôi cùng anh chị em đứng trước mặt Ngài.
2CO 4:15 Mọi điều ấy được thực hiện vì ích lợi cho anh chị em để ân phúc Thượng Đế được ban cho nhiều người, để họ tạ ơn vì sự vinh hiển của Ngài càng tràn ngập.
2CO 4:16 Cho nên chúng tôi không thất vọng, dù thân xác bề ngoài càng ngày càng già yếu nhưng tinh thần bên trong mỗi ngày một đổi mới.
2CO 4:17 Hiện chúng tôi đang gặp ít nhiều khó khăn tạm nhưng những điều ấy chuẩn bị cho chúng tôi nhận được vinh hiển đời đời vô hạn.
2CO 4:18 Chúng ta không đặt tầm mắt mình trên điều thấy được mà trên điều không thấy được. Vì điều thấy được chỉ tạm thời thôi nhưng điều không thấy được mới còn đời đời.
2CO 5:1 Chúng ta biết khi thân xác nầy—tức cái lều tạm mà chúng ta đang sống trên đất nầy—bị tiêu hủy thì Thượng Đế sẽ cho chúng ta một nhà khác không do tay người xây nên, là nhà còn đời đời trên thiên đàng.
2CO 5:2 Hiện tại chúng ta đang rên rỉ trong lều tạm nầy. Chúng ta mong Thượng Đế cho chúng ta nhà trên thiên đàng,
2CO 5:3 vì ở trong nhà ấy chúng ta sẽ không bị trần truồng.
2CO 5:4 Trong khi đang sống trong thân xác nầy chúng ta rên rỉ dưới gánh nặng. Chúng ta không muốn bị trần truồng nhưng chúng ta mong được mặc lấy nhà trên thiên đàng. Lúc ấy thân xác chết nầy sẽ được mặc lấy sự sống.
2CO 5:5 Vì thế mà Thượng Đế dựng nên chúng ta và Ngài cũng đã cho Thánh Linh làm vật bảo đảm cho sự sống mới ấy.
2CO 5:6 Cho nên chúng tôi rất bạo dạn. Chúng tôi biết rằng khi còn sống trong thân xác nầy thì cách xa Chúa.
2CO 5:7 Chúng ta sống bằng đức tin, không phải bằng mắt thấy.
2CO 5:8 Vì thế mà tôi nói, chúng tôi rất bạo dạn. Chúng tôi rất muốn rời bỏ thân xác nầy để về nhà với Chúa.
2CO 5:9 Dù ở đây hay ở thiên đàng, mục đích duy nhất của chúng tôi là làm vui lòng Thượng Đế.
2CO 5:10 Tất cả chúng ta đều sẽ trình diện trước Chúa Cứu Thế để chịu xét xử. Mỗi người sẽ nhận lãnh điều mình đáng lãnh do những việc tốt hay xấu mình làm trong thân xác nầy.
2CO 5:11 Vì kính sợ Chúa nên chúng tôi tìm cách thuyết phục mọi người biết sự thật. Thượng Đế hiểu rõ chúng tôi và tôi tin rằng trong thâm tâm anh chị em cũng hiểu rõ chúng tôi nữa.
2CO 5:12 Chúng tôi không cần tự khoe với anh chị em lần nữa, nhưng muốn tìm cách cho anh chị em biết để anh chị em có thể tự hào về chúng tôi. Như thế anh chị em có thể đối đáp với những kẻ chỉ khoe về bề ngoài mà không có trong lòng.
2CO 5:13 Nếu chúng tôi điên rồ, là vì Chúa. Nếu chúng tôi tỉnh táo, là vì anh chị em.
2CO 5:14 Tình yêu Chúa Cứu Thế ngự trị trong chúng tôi nên chúng tôi tin Đấng đã chết vì mọi người để tất cả chúng ta đồng chết.
2CO 5:15 Chúa Cứu Thế chết vì mọi người để những người sống không còn vì mình mà sống nữa. Ngài chết thay cho họ và sống lại từ kẻ chết để từ nay trở đi, họ sẽ sống cho Ngài.
2CO 5:16 Từ nay về sau chúng tôi không còn suy nghĩ theo cách thế gian nữa. Trước kia chúng tôi suy nghĩ về Chúa Cứu Thế theo cách thế gian nhưng nay chúng tôi không suy nghĩ về ai theo cách ấy nữa.
2CO 5:17 Nếu ai thuộc về Chúa Cứu Thế thì người ấy là một người mới. Mọi việc cũ đã qua đi hết; hiện giờ mọi việc đều đã đổi mới!
2CO 5:18 Đó là do Thượng Đế thực hiện. Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã làm cho chúng ta giảng hòa lại với Ngài; đồng thời Ngài giao cho chúng ta nhiệm vụ rao cho mọi người biết về sự giảng hòa mà chúng ta hiện đang có với Ngài.
2CO 5:19 Thượng Đế ngự trong Chúa Cứu Thế và giảng hòa thế gian lại với Ngài. Trong Chúa Cứu Thế, Thượng Đế không còn kết tội thế gian nữa. Ngài giao cho chúng ta nhiệm vụ giảng hòa nầy.
2CO 5:20 Chúng tôi được sai rao giảng về Chúa Cứu Thế như thể Thượng Đế đã nhờ chúng tôi kêu gọi anh chị em. Khi chúng tôi nài xin anh chị em giảng hòa lại với Thượng Đế là chúng tôi nói thay cho Chúa Cứu Thế.
2CO 5:21 Chúa Cứu Thế vốn không có tội lỗi nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài trở nên tội lỗi vì chúng ta để nhờ Ngài mà chúng ta có được các đức tính của Thượng Đế.
2CO 6:1 Chúng tôi là bạn đồng công với Thượng Đế cho nên chúng tôi nài xin anh chị em: Đừng làm uổng phí ân tứ anh chị em đã nhận từ Thượng Đế.
2CO 6:2 Thượng Đế đã phán, “Ta đã nghe lời cầu nguyện của ngươi đúng lúc. Ta đã cứu giúp ngươi trong ngày cứu rỗi.” Tôi xin thưa với anh chị em, bây giờ là “đúng lúc,” và bây giờ là “ngày cứu rỗi.”
2CO 6:3 Chúng tôi không muốn làm cớ vấp ngã cho người nào để không ai chỉ trích việc làm của chúng tôi.
2CO 6:4 Trong mọi việc, chúng tôi luôn luôn chứng tỏ mình là đầy tớ Thượng Đế: Chúng tôi chấp nhận khốn khó, vất vả và thử thách.
2CO 6:5 Chúng tôi bị đòn vọt, tù đày. Gặp những người tức giận với chúng tôi rồi gây bạo động. Chúng tôi làm việc vất vả, có khi thiếu ăn, mất ngủ.
2CO 6:6 Để chứng tỏ mình là đầy tớ của Thượng Đế chúng tôi dùng đời sống tinh sạch, hiểu biết, kiên nhẫn, nhân từ, bằng Thánh Linh, bằng lòng yêu thương chân thật,
2CO 6:7 bằng lời nói thật, và bằng quyền năng Thượng Đế. Chúng tôi dùng nếp sống ngay thật để bênh vực mình khỏi mọi thứ.
2CO 6:8 Có người tôn trọng chúng tôi nhưng cũng có kẻ chê trách chúng tôi. Có kẻ nói xấu chúng tôi nhưng cũng có người nói tốt về chúng tôi. Có người cho chúng tôi là kẻ nói dối nhưng chúng tôi luôn luôn nói điều chân thật.
2CO 6:9 Trông như không ai biết, thế mà có nhiều người biết. Trông như sắp chết, thế mà vẫn còn sống, chúng tôi bị hình phạt nhưng chưa bị giết.
2CO 6:10 Gặp đủ cảnh buồn mà trong lòng vẫn vui. Tuy nghèo mà lại làm cho nhiều người giàu có trong đức tin. Trông như không có gì cả mà lại có đủ mọi thứ.
2CO 6:11 Chúng tôi đã thẳng thắn giảng dạy anh chị em ở Cô-rinh và đã mở rộng lòng ra cho anh chị em.
2CO 6:12 Lòng yêu mến của chúng tôi dành cho anh chị em không hề dứt nhưng chính anh chị em đã dứt lòng yêu mến mà anh chị em dành chúng tôi.
2CO 6:13 Tôi nói với anh chị em như với con cái mình. Hãy đối với chúng tôi như chúng tôi đối với anh chị em—hãy mở rộng lòng ra với chúng tôi.
2CO 6:14 Anh chị em không như những người chưa tin. Cho nên đừng kết bạn với họ. Xấu và tốt không thể đi chung nhau. Sáng và tối cũng không hòa hợp được.
2CO 6:15 Làm sao mà Chúa Cứu Thế và Bê-li-an, tức ma quỉ, thỏa hiệp được với nhau? Người tin có phần nào chung với người không tin?
2CO 6:16 Đền thờ Thượng Đế làm sao liên kết được với thần tượng, mà chúng ta là đền thờ của Thượng Đế hằng sống. Như Thượng Đế đã phán, “Ta sẽ sống và đi lại giữa họ. Ta sẽ là Thượng Đế của họ, còn họ sẽ làm dân ta.”
2CO 6:17 “Chúa phán, Hãy ra khỏi chúng nó, hãy tách riêng ra. Đừng đụng đến đồ dơ bẩn, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi.”
2CO 6:18 “Ta sẽ làm cha các ngươi, còn các ngươi sẽ làm con trai và con gái ta, Chúa Toàn Năng phán như vậy.”
2CO 7:1 Các bạn thân mến, vì chúng ta có những lời hứa ấy cho nên chúng ta hãy giữ mình cho thánh sạch—khỏi những điều làm thân thể và linh hồn chúng ta dơ bẩn. Chúng ta hãy cố gắng trở nên thánh thiện trong nếp sống vì chúng ta kính sợ Thượng Đế.
2CO 7:2 Hãy mở rộng lòng anh chị em cho chúng tôi. Chúng tôi không làm thiệt hại ai, không làm tổn thương đức tin người nào và cũng không lường gạt ai.
2CO 7:3 Tôi nói thế không phải để đổ lỗi cho anh chị em đâu. Tôi đã từng nói là chúng tôi yêu thương anh chị em đến nỗi có thể chết vì anh chị em được.
2CO 7:4 Tôi rất tin tưởng và rất hãnh diện về anh chị em. Anh chị em an ủi tôi rất nhiều, nên trong mọi hoàn cảnh khó khăn lúc nào tôi cũng hết sức vui mừng.
2CO 7:5 Khi đến Ma-xê-đoan chúng tôi không yên thân. Chung quanh toàn là đe dọa. Bên ngoài thì tranh chiến, bên trong thì lo sợ.
2CO 7:6 Nhưng Thượng Đế là Đấng an ủi kẻ khốn cùng, đã an ủi chúng tôi khi Tít đến.
2CO 7:7 Chúng tôi được an ủi không những vì việc Tít đến mà còn vì sự an ủi anh chị em dành cho anh ấy. Tít đã thuật cho chúng tôi nghe rằng anh chị em rất mong gặp tôi và hơn nữa anh chị em rất hối hận về những điều anh chị em đã làm. Anh cũng cho tôi biết anh chị em rất lo lắng cho tôi, cho nên khi nghe như thế tôi lại càng vui hơn nữa.
2CO 7:8 Dù bức thư của tôi làm anh chị em buồn thì tôi cũng không hối hận. Lúc đầu tôi hối hận vì đã làm anh chị em buồn nhưng cái buồn ấy ngắn thôi.
2CO 7:9 Nay thì tôi vui không phải vì anh chị em buồn mà là vì cái buồn đã khiến anh chị em ăn năn. Anh chị em đã buồn rầu theo ý muốn Thượng Đế nên chúng tôi đã không làm tổn thương anh chị em tí nào.
2CO 7:10 Sự buồn rầu theo ý Thượng Đế đưa đến sự ăn năn. Điều đó dẫn đến sự cứu rỗi, vì thế anh chị em không nên ân hận về cái buồn ấy. Nhưng cái buồn kiểu thế gian dẫn đến sự chết.
2CO 7:11 Anh chị em ngẫm mà xem—cái buồn theo ý Thượng Đế—đã thực hiện những gì trên anh chị em? Nó khiến anh chị em sốt sắng hơn. Nó khiến anh chị em muốn chứng tỏ rằng mình không làm bậy. Nó khiến anh chị em vừa giận vừa lo sợ. Nó khiến anh chị em muốn gặp tôi. Nó khiến anh chị em lo âu. Nó khiến anh chị em muốn làm điều phải. Anh chị em đã chứng tỏ mình vô tội trong các điều ấy.
2CO 7:12 Tôi viết bức thư đó, không phải để ám chỉ người làm quấy hoặc người bị thiệt hại mà để cho anh chị em thấy sự chăm sóc của anh chị em đối với tôi trước mặt Thượng Đế.
2CO 7:13 Vì thế mà chúng tôi được yên ủi. Không những chúng tôi được yên ủi mà thôi nhưng vui hơn nữa là vì thấy Tít rất hớn hở. Anh chị em khiến Tít được khích lệ rất nhiều.
2CO 7:14 Tôi khoe với Tít về anh chị em và anh chị em đã chứng tỏ lời khoe của tôi là đúng. Những gì chúng tôi nói về anh chị em là thật và anh chị em chứng tỏ rằng những gì tôi khoe với Tít cũng thật.
2CO 7:15 Tình yêu của Tít đối với anh chị em càng gia tăng khi Tít nhớ rằng tất cả anh chị em sẵn sàng vâng lời. Anh chị em đã tiếp đón Tít trong sợ sệt và kính nể.
2CO 7:16 Tôi hết sức vui vì tôi có thể đặt hết lòng tin tưởng vào anh chị em.
2CO 8:1 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết về ân phúc mà Thượng Đế đã cho hội thánh ở Ma-xê-đoan.
2CO 8:2 Dù họ bị thử nghiệm trăm chiều và rất nghèo khó thế mà họ đã dâng hiến rộng rãi vì niềm vui ở trong lòng họ.
2CO 8:3 Tôi có thể nói rằng họ dâng hết khả năng của họ và còn vượt khả năng nữa. Không ai bảo họ phải dâng như thế.
2CO 8:4 Nhưng họ nài nỉ chúng tôi cho họ được góp phần trong việc phục vụ con dân Chúa.
2CO 8:5 Họ đã dâng theo cách mà chúng tôi không ngờ đến: Trước hết họ đã dâng chính mình họ cho Chúa rồi dâng cho chúng tôi. Đó là điều Thượng Đế muốn.
2CO 8:6 Cho nên tôi yêu cầu Tít giúp anh chị em hoàn tất công tác về ân phúc nầy vì Tít là người khởi đầu công tác ấy.
2CO 8:7 Anh chị em xuất sắc về mọi mặt—về đức tin, về cách ăn nói, về sự hiểu biết, về lòng mong muốn giúp đỡ, và về lòng yêu thương mà anh chị em đã học nơi chúng tôi. Vì thế chúng tôi cũng muốn anh chị em xuất sắc trong ơn dâng hiến nữa.
2CO 8:8 Tôi không truyền bảo anh chị em phải dâng nhưng tôi muốn xem thử tình yêu thương anh chị em ra sao so với những người khác là những người thực tâm muốn giúp đỡ.
2CO 8:9 Anh chị em biết ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta. Ngài vốn giàu nhưng vì anh chị em, Ngài đã trở nên nghèo để vì sự nghèo khó của Ngài mà anh chị em trở nên giàu.
2CO 8:10 Đây là điều tôi nghĩ anh chị em nên làm: Năm ngoái anh chị em là người đầu tiên muốn dâng hiến và cũng là người đầu tiên đã dâng.
2CO 8:11 Bây giờ anh chị em nên hoàn tất công tác mà anh chị em đã bắt đầu. Như thế để cho “hành động” và “ước muốn” của anh chị em đi đôi với nhau. Có bao nhiêu dâng bấy nhiêu.
2CO 8:12 Nếu anh chị em muốn dâng thì của dâng hiến của anh chị em sẽ được chấp nhận. Của dâng sẽ quí ở điều mình có chứ không phải dựa trên điều mình không có.
2CO 8:13 Chúng tôi không muốn anh chị em túng quẫn trong khi những người khác dư dả, nhưng chúng tôi muốn mọi người đều bằng nhau.
2CO 8:14 Nay thì anh chị em đã dư dả. Những gì anh chị em có sẽ giúp những người túng thiếu. Sau nầy, nếu anh chị em túng thiếu thì họ có thể giúp đỡ lại anh chị em, vậy là công bằng.
2CO 8:15 Như Thánh Kinh chép, “Người lượm nhiều cũng không dư, và kẻ lượm ít cũng chẳng thiếu.”
2CO 8:16 Tôi tạ ơn Thượng Đế vì Ngài cho Tít có cùng một tình yêu giống như tình yêu tôi dành cho anh chị em.
2CO 8:17 Tít vui lòng nhận công tác chúng tôi giao cho. Anh ấy rất muốn đến thăm anh chị em vì đó là ao ước của Tít.
2CO 8:18 Chúng tôi gởi Tít đi cùng với một anh em nữa mà tất cả các hội thánh rất ca tụng vì tinh thần rao giảng Tin Mừng của anh.
2CO 8:19 Ngoài ra, anh ấy còn là người được các hội thánh chọn lựa để cử đi cùng với chúng tôi khi chúng tôi trao món tiền tặng nầy. Chúng tôi làm việc nầy để mang vinh hiển về cho Chúa và cũng để chứng tỏ chúng tôi thực lòng muốn giúp đỡ.
2CO 8:20 Chúng tôi hết sức thận trọng để không ai chỉ trích cách chúng tôi quản lý một món tiền lớn như thế.
2CO 8:21 Chúng tôi hết sức cố gắng để cả Chúa lẫn người đều thấy chúng tôi làm đúng.
2CO 8:22 Ngoài số tiền quyên tặng, chúng tôi cử một anh em cùng đi, một người lúc nào cũng sẵn lòng giúp đỡ. Anh đã chứng tỏ rất đáng tin trong nhiều việc, và bây giờ anh lại càng mong muốn giúp đỡ nhiều hơn nữa vì anh rất tin tưởng anh chị em.
2CO 8:23 Về phần Tít—anh ấy là bạn đồng công với tôi. Còn về các anh em khác thì họ là những người được các hội thánh gởi đi. Họ mang vinh hiển về cho Chúa Cứu Thế.
2CO 8:24 Cho nên anh chị em hãy cho họ thấy lòng yêu thương của mình và lý do tại sao chúng tôi kiêu hãnh về anh chị em để các hội thánh khác trông thấy.
2CO 9:1 Thật ra tôi không cần viết cho anh chị em về vấn đề giúp đỡ các con dân Chúa.
2CO 9:2 Tôi biết anh chị em muốn giúp đỡ. Tôi đã từng khoe với các anh chị em ở Ma-xê-đoan là các anh chị em miền Nam Hi-lạp đã sẵn lòng giúp đỡ từ năm ngoái. Và lòng mong muốn dâng hiến của anh chị em khích lệ hầu hết các anh chị em khác.
2CO 9:3 Nhưng tôi gởi các anh em kia đến trước để cho thấy những lời khoe của chúng tôi về anh chị em không phải trống rỗng. Tôi muốn anh chị em sẵn sàng theo như điều tôi nói.
2CO 9:4 Vì nếu người nào từ tôi hay từ Ma-xê-đoan đến mà thấy anh chị em không sẵn sàng thì chúng tôi sẽ ngượng vì chúng tôi cứ yên trí anh chị em đã chuẩn bị rồi. Dĩ nhiên anh chị em cũng ngượng nữa.
2CO 9:5 Cho nên tôi nhờ các anh em ấy đến với anh chị em trước chúng tôi. Các anh em đó sẽ chuẩn bị món quà rộng rãi mà anh chị em đã hứa, để khi chúng tôi đến thì mọi việc đã sẵn sàng. Và cũng để cho thấy đó là món quà tự nguyện chứ không phải miễn cưỡng.
2CO 9:6 Nên nhớ điều nầy: Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều.
2CO 9:7 Mỗi người nên tùy lòng mình mà dâng. Đừng dâng một cách miễn cưỡng hay gượng ép, vì Thượng Đế yêu người vui lòng dâng hiến.
2CO 9:8 Ngài có thể cho anh chị em dư dả ân phúc để có thể dâng hiến cho các việc thiện.
2CO 9:9 Như Thánh Kinh chép, “Người rộng rãi giúp đỡ kẻ nghèo. Những việc từ thiện người làm còn đến đời đời.”
2CO 9:10 Thượng Đế là Đấng cấp hột giống cho người làm ruộng, cho bánh làm thức ăn. Ngài sẽ cho các anh chị em đủ hột giống để gieo, khiến những hột ấy mọc lên và trúng mùa do lòng tốt của anh chị em.
2CO 9:11 Ngài sẽ làm cho anh chị em được giàu có mọi mặt để anh chị em có thể dâng hiến rộng rãi. Và sự dâng hiến của anh chị em qua chúng tôi sẽ khiến cho nhiều người dâng lên lời cảm tạ Thượng Đế.
2CO 9:12 Sự giúp đỡ của anh chị em không những cứu giúp những con dân Chúa đang túng thiếu mà còn khiến cho nhiều người tạ ơn Thượng Đế.
2CO 9:13 Đó là bằng cớ của đức tin anh chị em. Nhiều người sẽ ca ngợi Thượng Đế vì rằng anh chị em vâng theo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế—Tin Mừng mà anh chị em tin nhận—vì anh chị em chia xẻ rộng rãi với họ cùng tất cả mọi người khác.
2CO 9:14 Khi cầu nguyện, họ sẽ ao ước được ở chung với anh chị em vì ân phúc lớn lao mà Thượng Đế đã cho anh chị em.
2CO 9:15 Cảm tạ Thượng Đế vì ân phúc Ngài ban cho không bút nào mô tả được.
2CO 10:1 Tôi, Phao-lô, lấy lòng mềm mại và nhân ái của Chúa Cứu Thế nài xin anh chị em. Có người bảo rằng khi tôi có mặt thì dễ dãi với anh chị em mà khi vắng mặt thì lại mạnh bạo.
2CO 10:2 Họ cho rằng chúng tôi sống như kiểu thế gian, nhưng tôi nói trước rằng khi tôi đến tôi sẽ chứng tỏ sự bạo dạn cho họ thấy. Tôi mong rằng khi tôi đến, tôi sẽ không phải dùng sự mạnh bạo ấy với anh chị em.
2CO 10:3 Mặc dù chúng ta sống trong thế gian nhưng chúng ta không chiến đấu như thế gian.
2CO 10:4 Chúng ta dùng những khí giới khác với thế gian. Khí giới của chúng ta có quyền năng từ Thượng Đế để tiêu diệt những đồn lũy của kẻ thù. Chúng ta phá đổ những lý luận con người
2CO 10:5 và những sự kiêu căng lên mình, nghịch lại sự hiểu biết của Thượng Đế. Chúng ta buộc mọi tư tưởng phải vâng theo Chúa Cứu Thế.
2CO 10:6 Chúng ta sẵn sàng trừng phạt những người bất tuân, nhưng trước hết chúng tôi muốn anh chị em hoàn toàn vâng phục.
2CO 10:7 Anh chị em phải nhìn những thực trạng trước mắt mình. Nếu anh chị em tin chắc rằng mình thuộc về Chúa Cứu Thế thì chúng tôi cũng vậy.
2CO 10:8 Đành rằng chúng tôi hơi khoe khoang về quyền hành của Chúa cho nhưng quyền hành ấy là để xây dựng anh chị em chứ không phải để hủy phá, vì thế chúng tôi sẽ không xấu hổ.
2CO 10:9 Tôi không muốn anh chị em nghĩ rằng tôi dùng thư từ để dọa nạt anh chị em.
2CO 10:10 Có người bảo, “Thư của Phao-lô viết có vẻ mạnh bạo và quan trọng nhưng khi có mặt giữa chúng ta thì ông rất hèn yếu, nói năng không ra gì.”
2CO 10:11 Những người ấy nên biết rằng: Hiện thời vì không có mặt giữa anh chị em nên tôi phải dùng thư từ nhưng khi chúng tôi có mặt, chúng tôi sẽ chứng tỏ bằng hành động mà chúng tôi đã chứng tỏ qua thư từ.
2CO 10:12 Chúng tôi không dám so sánh mình với những kẻ tự đề cao. Họ tự lấy mình so với mình và lấy chính con người mình làm tiêu chuẩn. Điều ấy cho thấy họ chẳng biết gì hết.
2CO 10:13 Nhưng chúng tôi sẽ không khi nào khoe khoang ngoài công tác đã được ủy thác cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ khoe về công tác Chúa giao, kể cả công tác chúng tôi làm giữa anh chị em.
2CO 10:14 Chúng tôi không dám khoe khoang thái quá nếu chúng tôi chưa đến cùng anh chị em. Nhưng chúng tôi đã mang Tin Mừng của Chúa Cứu Thế đến cho anh chị em rồi.
2CO 10:15 Chúng tôi chỉ khoe về công tác của chính mình chứ không phải công tác người khác đã làm. Chúng tôi hi vọng rằng đức tin anh chị em sẽ lớn mạnh để anh chị em có thể giúp công việc chúng tôi càng mở rộng thêm nữa.
2CO 10:16 Chúng tôi muốn truyền Tin Mừng cho những miền bên ngoài vùng của anh chị em. Chúng tôi không muốn khoe về những công tác thuộc khu vực người khác.
2CO 10:17 Nhưng “ai muốn khoe, hãy khoe trong Chúa mà thôi.”
2CO 10:18 Không phải những người tự cho mình tốt là được chấp nhận đâu mà chỉ có những người Chúa khen ngợi mới được chấp nhận thôi.
2CO 11:1 Tôi ước ao anh chị em hãy kiên nhẫn với tôi một chút dù rằng đôi khi tôi hơi khờ dại. Tuy nhiên anh chị em đã tỏ ra kiên nhẫn rồi.
2CO 11:2 Tôi ghen tức với anh chị em bằng sự ghen tức của Thượng Đế. Tôi đã hứa gả anh chị em cho Chúa Cứu Thế, Ngài là chồng duy nhất của anh chị em. Tôi muốn gả anh chị em cho Ngài như một nàng dâu trinh khiết.
2CO 11:3 Nhưng tôi e rằng tâm trí anh chị em sẽ bị hướng dẫn lầm lạc, không theo Chúa Cứu Thế bằng tấm lòng chân thật và thanh khiết, như Ê-va xưa kia đã bị con rắn phỉnh dỗ bằng mưu mô gian xảo.
2CO 11:4 Anh chị em chịu nghe bất cứ ai đến rao giảng về một Chúa Giê-xu khác với Đấng mà chúng tôi rao giảng. Anh chị em bằng lòng chấp nhận một thần linh hay một tin mừng khác hơn Thánh Linh và Tin Mừng mà anh chị em đã nhận từ chúng tôi.
2CO 11:5 Tôi không nghĩ rằng các “đại sứ đồ” kia khá hơn tôi tí nào.
2CO 11:6 Tôi có thể không phải là tay ăn nói giỏi nhưng tôi có sự hiểu biết. Chúng tôi đã từng trình bày điểm nầy rõ ràng cho anh chị em thấy bằng mọi cách.
2CO 11:7 Tôi rao giảng Tin Mừng của Thượng Đế cho anh chị em mà không nhận thù lao. Tôi tự hạ mình để nâng anh chị em lên. Anh chị em có cho rằng làm như thế là sai không?
2CO 11:8 Tôi nhận lương hướng từ các hội thánh khác, dùng tiền của họ để phục vụ anh chị em.
2CO 11:9 Lúc ở với anh chị em, nếu cần gì thì tôi không hề làm phiền ai cả. Vì các anh em từ Ma-xê-đoan đến đã cung cấp đủ mọi điều cần dùng cho tôi. Tôi không để mình làm gánh nặng cho anh chị em và tôi cũng sẽ không bao giờ làm phiền anh chị em.
2CO 11:10 Không một ai thuộc miền Nam Hi-lạp có thể ngăn cản tôi về lời khoe khoang ấy. Tôi nói những điều nầy với lòng thành thật của Chúa Cứu Thế trong tôi.
2CO 11:11 Nhưng tại sao tôi không chịu lệ thuộc anh chị em? Có phải vì tôi chẳng yêu thương anh chị em không? Thượng Đế biết rằng tôi yêu thương anh chị em.
2CO 11:12 Tôi sẽ tiếp tục hành động như hiện nay vì tôi không muốn những người kia khoe khoang. Họ muốn nói rằng công tác mà họ khoe cũng không thua kém công tác chúng tôi làm.
2CO 11:13 Những người như thế không phải là sứ đồ thật mà chỉ là kẻ làm công cho sự dối trá. Họ đội lốt sứ đồ của Chúa Cứu Thế.
2CO 11:14 Có gì lạ đâu. Sa-tăng cũng giả dạng làm thiên sứ sáng láng được.
2CO 11:15 Cho nên chúng tôi không ngạc nhiên gì cả khi đầy tớ của Sa-tăng giả dạng làm tôi tớ của sự công chính. Nhưng cuối cùng chúng nó sẽ bị trừng phạt về điều mình làm.
2CO 11:16 Tôi nói với anh chị em lần nữa: Đừng ai xem tôi như kẻ khờ dại. Nhưng nếu ai nghĩ vậy thì hãy chấp nhận tôi như kẻ khờ dại để tôi có thể khoe khoang đôi chút.
2CO 11:17 Sở dĩ tôi khoe là vì tôi tin chắc ở chính mình. Tôi không nói theo lối Chúa nói nhưng nói như kẻ khờ dại.
2CO 11:18 Nhiều người khoe về cuộc đời họ trong thế gian nên tôi cũng khoe.
2CO 11:19 Vì anh chị em khôn ngoan nên chắc anh chị em sẵn lòng kiên nhẫn với những kẻ khờ dại.
2CO 11:20 Đến nỗi anh chị em còn chịu đựng những kẻ sai khiến mình, lợi dụng mình, lừa phỉnh mình, kẻ tự tôn hoặc tát vào mặt mình.
2CO 11:21 Tôi cảm thấy xấu hổ khi nói như thế vì chúng tôi quá “hèn yếu,” không dám làm những chuyện ấy với anh chị em! Nhưng nếu có ai khoe khoang thì tôi cũng dám khoe. (Tôi nói theo kiểu kẻ khờ dại.)
2CO 11:22 Họ là người Hê-bơ-rơ à? Tôi cũng vậy. Họ là người Ít-ra-en à? Tôi cũng thế. Họ thuộc dòng họ Áp-ra-ham à? Tôi cũng vậy.
2CO 11:23 Họ đang phục vụ Chúa Cứu Thế à? Tôi còn phục vụ nhiều hơn nữa. (Tôi nói thế nầy giống như người điên.) Tôi vất vả nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, bị đòn vọt nhiều hơn. Lắm phen suýt chết.
2CO 11:24 Năm lần bị người Do-thái quất, mỗi lần ba mươi chín roi.
2CO 11:25 Ba lần bị đập bằng gậy. Một lần bị ném đá gần chết. Ba lần bị chìm tàu, trong đó có một lần tôi bị lênh đênh trên biển cả suốt một ngày một đêm.
2CO 11:26 Tôi đi nhiều nơi, gặp nguy biến trên sông ngòi, nguy với trộm cướp, nguy với đồng bào mình là người Do-thái và người không phải Do-thái. Tôi gặp hiểm nguy trong các thành phố, những nơi hẻo lánh và trên biển cả. Tôi cũng gặp nguy khốn với các tín hữu giả hiệu.
2CO 11:27 Tôi làm việc cực nhọc, nhiều đêm không ngủ. Tôi bị đói khát, lắm khi không có gì ăn. Tôi chịu lạnh và trần truồng.
2CO 11:28 Ngoài những nỗi cơ cực ấy, hằng ngày lòng tôi còn nặng gánh lo âu cho các hội thánh.
2CO 11:29 Khi có ai yếu đuối, tôi cũng thấy yếu đuối. Tôi bực tức khi có người rơi vào cạm bẫy của tội lỗi.
2CO 11:30 Nếu tôi phải khoe, tôi sẽ khoe về những điều chứng tỏ rằng tôi yếu đuối.
2CO 11:31 Thượng Đế biết rằng tôi không nói dối đâu. Ngài là Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu và là Đấng đáng chúc tụng đời đời.
2CO 11:32 Khi tôi ở Đa-mách, quan tổng trấn dưới quyền vua A-rê-ta muốn bắt tôi nên sai lính canh chừng quanh thành.
2CO 11:33 Nhưng các bạn tôi lấy thúng thòng tôi xuống xuyên qua một lỗ trong vách thành, thế là tôi thoát khỏi tay ông ta.
2CO 12:1 Tôi cần phải khoe thêm. Có lẽ không ích lợi gì nhưng tôi muốn nói đến những khải tượng và khải thị mà Chúa cho tôi.
2CO 12:2 Tôi biết một người trong Chúa Cứu Thế, cách đây mười bốn năm, được đưa lên đến từng trời thứ ba. Tôi không rõ việc ấy xảy ra trong thân thể hay ngoài thân thể người đó, nhưng Thượng Đế biết.
2CO 12:3 Tôi biết người ấy được đưa lên thiên đàng. Tôi cũng không rõ việc ấy xảy ra trong thân thể hay ngoài thân thể người đó, nhưng Thượng Đế biết. Người ấy nghe những việc không thể mô tả được mà cũng không cho phép ai nói ra.
2CO 12:5 Tôi sẽ khoe về một người như thế, nhưng về phần tôi, tôi sẽ không khoe ngoài ra khoe về sự yếu đuối của tôi thôi.
2CO 12:6 Nếu tôi muốn tự khoe thì tôi sẽ không phải là người khờ dại nữa vì tôi nói thật. Nhưng tôi sẽ không tự khoe. Tôi không muốn người nào quá trọng tôi hơn điều họ thấy hoặc nghe tôi nói.
2CO 12:7 Để cho tôi khỏi khoe khoang quá đáng về những điều diệu kỳ đã được tỏ ra cho tôi thì thân thể tôi đã phải mang một chứng đau. Chứng đau ấy là sứ giả của Sa-tăng sai đến trừng trị tôi, để tôi đừng kiêu căng.
2CO 12:8 Đã ba lần tôi cầu xin Chúa lấy tật nguyền ấy ra khỏi tôi
2CO 12:9 nhưng Ngài đáp, “Ân phúc ta đủ cho con rồi. Khi con bị yếu đuối thì năng lực ta được hoàn thành trong con.” Vì thế mà tôi rất thích khoe về sự yếu đuối của tôi để quyền năng Chúa Cứu Thế tỏ ra trong tôi.
2CO 12:10 Do đó mà mỗi khi tôi cảm thấy yếu sức, bị sỉ nhục, gặp cảnh khốn khổ và đủ thứ gian nan vì Chúa Cứu Thế thì tôi lại vui mừng. Vì khi tôi yếu đuối lại là lúc tôi thật mạnh mẽ.
2CO 12:11 Từ đầu đến giờ tôi nói như người khờ dại là vì anh chị em buộc tôi làm như thế. Anh chị em là người đáng phải nói tốt về tôi. Tôi tuy không ra gì nhưng các “đại sứ đồ” kia cũng không khá hơn tôi đâu!
2CO 12:12 Khi tôi có mặt giữa anh chị em tôi đã nhẫn nhục làm những điều chứng tỏ tôi là sứ đồ—chẳng hạn như các dấu kỳ và phép lạ.
2CO 12:13 Cho nên anh chị em đã nhận lãnh đầy đủ mọi điều giống như các hội thánh khác đã nhận. Chỉ có một điểm khác biệt duy nhất là tôi chưa hề làm gánh nặng cho anh chị em. Xin hãy tha thứ cho tôi về điểm ấy.
2CO 12:14 Bây giờ tôi đã sẵn sàng đến thăm anh chị em lần thứ ba, tôi cũng sẽ không làm gánh nặng cho anh chị em nữa. Tôi không xin gì ở anh chị em ngoại trừ xin chính anh chị em. Con cái không phải dành giụm cho cha mẹ mà cha mẹ nên dành giụm cho con cái.
2CO 12:15 Cho nên tôi rất vui mà biếu anh chị em tất cả những gì tôi có, kể cả việc hi sinh chính mình tôi nữa. Nếu tôi yêu anh chị em nhiều hơn thì anh chị em sẽ yêu tôi ít hơn không?
2CO 12:16 Rõ ràng là tôi chưa hề làm gánh nặng cho anh chị em, nhưng anh chị em lại tưởng tôi mưu mô và nói dối với anh chị em.
2CO 12:17 Tôi có dùng những người mà tôi sai đến cùng anh chị em để phỉnh gạt anh chị em không? Chắc chắn là không, anh chị em biết điều ấy.
2CO 12:18 Tôi yêu cầu Tít đến thăm anh chị em, và tôi cũng cho một anh em khác cùng đi với Tít. Tít có phỉnh gạt anh chị em không? Chắc là không vì anh chị em biết rõ Tít và tôi đồng tâm và đồng công hầu việc.
2CO 12:19 Anh chị em có nghĩ rằng lúc nào chúng tôi cũng tự bênh vực không? Chúng tôi chỉ nói trong Chúa Cứu Thế và trước mặt Thượng Đế. Anh chị em là thân hữu tôi cho nên những gì tôi làm là để giúp anh chị em thêm vững mạnh.
2CO 12:20 Tôi e rằng khi tôi đến, tôi không thấy anh chị em như tôi mong ước và anh chị em cũng không thấy tôi như anh chị em mong ước. Tôi sợ rằng trong vòng anh chị em vẫn còn cãi vã, ganh tị, giận dữ, tranh dành, bêu xấu, dèm pha, kiêu căng và hỗn loạn.
2CO 12:21 Tôi ngại rằng khi tôi đến, Thượng Đế sẽ khiến tôi cảm thấy xấu hổ trước mặt anh chị em. Tôi có thể sẽ đau buồn vì những người trước đây phạm tội mà chưa ăn năn, chưa quay khỏi tội nhục dục và những điều nhơ nhuốc họ làm.
2CO 13:1 Tôi sẽ đến thăm anh chị em lần thứ ba. “Việc gì cũng phải căn cứ vào hai hoặc ba nhân chứng.”
2CO 13:2 Trong chuyến viếng thăm anh chị em lần thứ nhì, tôi đã cảnh cáo những người phạm tội. Bây giờ dù tôi vắng mặt khỏi anh chị em, tôi lại cảnh cáo họ và những người khác một lần nữa. Nếu tôi đến tôi sẽ không nương tay với họ đâu.
2CO 13:3 Anh chị em muốn thấy bằng chứng Chúa Cứu Thế phán qua tôi. Bằng chứng ấy là Chúa Cứu Thế không yếu đuối nhưng rất mạnh mẽ.
2CO 13:4 Đành rằng khi Ngài chịu chết trên thập tự giá thì Ngài yếu đuối thật nhưng hiện nay Ngài đang sống bằng quyền năng Thượng Đế. Chúng tôi hiện yếu đuối trong Đấng Cứu Thế nhưng vì anh chị em, chúng tôi sẽ sống trong Chúa Cứu Thế bằng quyền năng của Thượng Đế.
2CO 13:5 Hãy xét kỹ mình và trắc nghiệm xem anh chị em có sống trong đức tin không? Anh chị em biết Chúa Cứu Thế Giê-xu sống trong anh chị em—trừ trường hợp anh chị em không qua nổi cuộc trắc nghiệm ấy.
2CO 13:6 Nhưng tôi hi vọng anh chị em nhận thấy rằng chúng tôi không thất bại trong cuộc trắc nghiệm.
2CO 13:7 Chúng tôi cầu xin Thượng Đế để anh chị em không làm điều gì sai quấy. Việc chúng tôi thành công trong cuộc trắc nghiệm không quan trọng, điều quan trọng là anh chị em làm điều hợp lẽ cho dù chúng tôi trông có vẻ như không qua nổi cuộc trắc nghiệm.
2CO 13:8 Chúng tôi không thể làm gì nghịch với sự thật, nhưng chỉ có thể phục vụ sự thật.
2CO 13:9 Nếu anh chị em mạnh mẽ thì dù cho chúng tôi yếu đuối, chúng tôi vẫn vui. Chúng tôi cầu xin cho anh chị em đạt mức toàn hảo.
2CO 13:10 Tôi viết thư nầy trong khi tôi ở xa anh chị em để lúc tôi đến thì tôi không phải dùng quyền hành của tôi một cách nghiêm khắc. Chúa ban cho chúng tôi quyền hành ấy để gây dựng anh chị em chứ không phải để phá đổ.
2CO 13:11 Bây giờ tôi xin chào tạm biệt anh chị em. Hãy cố gắng đạt mức toàn thiện. Hãy làm theo điều tôi yêu cầu. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, sống trong hoà bình. Thượng Đế yêu thương và hoà bình sẽ ở với anh chị em.
2CO 13:12 Hãy lấy cái hôn thánh chào nhau.
2CO 13:13 Mọi công dân Thượng Đế chào thăm anh chị em.
2CO 13:14 Nguyền xin ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, lòng yêu thương của Thượng Đế và sự tương giao của Thánh Linh ở cùng tất cả anh chị em.
GAL 1:1 Phao-lô, sứ đồ được chọn và được sai đi, không do loài người mà do Chúa Cứu Thế Giê-xu và Thượng Đế, Cha chúng ta, là Đấng khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết.
GAL 1:2 Thư nầy cũng do những anh chị em thuộc gia đình Thượng Đế đang có mặt với tôi tại đây đồng viết. Kính gởi các hội thánh vùng Ga-la-ti.
GAL 1:3 Nguyền xin ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng anh chị em.
GAL 1:4 Chúa Giê-xu đã hi sinh mạng sống Ngài vì tội chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi thế giới độc ác mà chúng ta hiện đang sống, theo như ý muốn của Thượng Đế, Cha chúng ta.
GAL 1:5 Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
GAL 1:6 Do ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Thượng Đế đã gọi anh chị em làm dân Ngài. Cho nên tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chị em vội vàng quay đi và tin theo một Tin Mừng khác.
GAL 1:7 Thật ra chẳng có Tin Mừng nào khác đâu. Chỉ có những người gây hoang mang cho anh chị em đó thôi; họ muốn đánh tráo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế.
GAL 1:8 Chúng tôi đã rao giảng Tin Mừng cho anh chị em. Cho nên nếu chúng tôi hoặc thiên sứ nào trên trời rao giảng cho anh chị em một Tin Mừng nào khác thì chúng tôi đáng rủa!
GAL 1:9 Tôi vừa nói rồi, bây giờ tôi lặp lại: Anh chị em đã tiếp nhận Tin Mừng. Nếu ai rao giảng cho anh chị em một Tin Mừng nào khác thì người đó đáng rủa!
GAL 1:10 Anh chị em có nghĩ rằng tôi tìm cách làm cho người khác chấp nhận tôi không?—Không, nếu tôi chỉ muốn làm vừa lòng người đời thì tôi không phải là tôi tớ của Chúa Cứu Thế.
GAL 1:11 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng Tin Mừng mà tôi rao giảng cho anh chị em chẳng phải do con người bịa đặt đâu.
GAL 1:12 Tôi không hề nhận Tin Mừng ấy từ người nào, cũng không ai dạy tôi Tin Mừng ấy, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã tỏ bày cho tôi.
GAL 1:13 Anh chị em đã nghe nói về cuộc đời của tôi trước kia trong đạo Do-thái. Tôi tàn phá hội thánh của Thượng Đế và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt hội ấy.
GAL 1:14 Trong việc học và tuân giữ các truyền thống của tổ tiên, tôi xuất sắc hơn mọi người.
GAL 1:15 Nhưng Thượng Đế đã có những chương trình đặc biệt cho tôi và chọn riêng tôi ra cho công việc Ngài ngay từ trước khi tôi chào đời. Qua ân phúc, Ngài đã gọi tôi
GAL 1:16 và tỏ bày con Ngài cho tôi để tôi rao Tin Mừng của Ngài cho những người không phải Do-thái. Cho nên khi Thượng Đế gọi tôi thì tôi không cần hỏi ý kiến của bất cứ ai.
GAL 1:17 Tôi cũng chẳng đi lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị làm sứ đồ trước tôi. Nhưng tôi lập tức đi qua vùng Á-rập và sau đó trở về Đa-mách.
GAL 1:18 Sau ba năm, tôi lên Giê-ru-sa-lem để làm quen với Phia-rơ và ở với ông mười lăm ngày.
GAL 1:19 Trong thời gian ấy tôi cũng không gặp các sứ đồ nào khác ngoài Gia-cơ là em của Chúa.
GAL 1:20 Thượng Đế biết rằng những lời tôi viết đây cho anh chị em không phải bịa đặt đâu.
GAL 1:21 Sau đó tôi đi qua vùng Xy-ri và Xi-li-xi.
GAL 1:22 Các hội thánh của Chúa Cứu Thế ở miền Giu-đia cũng không hề gặp tôi.
GAL 1:23 Họ chỉ nghe rằng: Người trước kia tàn hại chúng ta hiện nay đang rao giảng về niềm tin mà trước kia ông ta đã cố gắng tiêu diệt.
GAL 1:24 Các tín hữu ấy ca ngợi Thượng Đế vì tôi.
GAL 2:1 Mười bốn năm sau tôi lại lên Giê-ru-sa-lem, lần nầy có Ba-na-ba cùng đi. Tôi cũng có mang Tít theo.
GAL 2:2 Tôi lên là vì Thượng Đế bảo tôi. Tại đó, tôi gặp các tín hữu và trong buổi gặp gỡ riêng, tôi trình bày với các vị được xem như lãnh đạo về Tin Mừng mà tôi đang rao giảng cho những người không phải Do-thái. Tôi không muốn công khó của tôi trong quá khứ cũng như hiện tại bị uổng phí.
GAL 2:3 Cùng đi với tôi có Tít, anh ta cũng không bị bắt buộc phải chịu phép cắt dương bì mặc dù anh ta là người Hi-lạp.
GAL 2:4 Sở dĩ chúng tôi nói đến vấn đề nầy vì có một vài anh em giả đã lén trà trộn vào trong nhóm chúng tôi để dò la sự tự do mà chúng tôi đã nhận được từ Chúa Giê-xu Cứu Thế, nhưng thật ra trong thâm tâm họ muốn bắt chúng tôi làm nô lệ.
GAL 2:5 Nhưng chúng tôi không chịu nhường họ một giây phút nào. Chúng tôi muốn bảo vệ sự thật về Tin Mừng cho anh chị em.
GAL 2:6 Các vị được xem như lãnh đạo ấy không thay đổi gì trong Tin Mừng mà tôi rao giảng. Họ có quan trọng hay không, điều ấy không quan hệ gì đối với tôi. Trước mặt Thượng Đế mọi người đều như nhau thôi.
GAL 2:7 Các nhà lãnh đạo ấy nhận thấy tôi đã được ủy thác nhiệm vụ rao Tin Mừng cho người không phải Do-thái cũng như Phia-rơ được giao cho nhiệm vụ truyền giảng cho người Do-thái.
GAL 2:8 Thượng Đế đã giao cho Phia-rơ chức sứ đồ cho người Do-thái và Ngài giao cho tôi nhiệm vụ làm sứ đồ cho những người không phải Do-thái.
GAL 2:9 Gia-cơ, Phia-rơ và Giăng, hình như là các cột trụ, hiểu rằng Thượng Đế đã cho tôi ân phúc đặc biệt nầy nên họ chấp nhận tôi và Ba-na-ba. Họ bắt tay thân thiện và thỏa thuận rằng họ sẽ đi đến với người Do-thái còn chúng tôi sẽ đi đến với người không phải Do-thái.
GAL 2:10 Họ khuyên chúng tôi nên nhớ đến người nghèo—điều mà chính tôi cũng rất muốn làm.
GAL 2:11 Lúc Phia-rơ đến An-ti-ốt, tôi thẳng thắn trách ông tận mặt vì ông đã làm sai.
GAL 2:12 Vì trước khi những người từ sứ đồ Gia-cơ sai đến An-ti-ốt thì Phia-rơ ăn chung với những người không phải Do-thái. Nhưng lúc họ đến thì Phia-rơ thôi không ăn chung nữa và đứng riêng ra vì ông sợ mấy người Do-thái.
GAL 2:13 Như thế rõ ràng Phia-rơ là người đạo đức giả. Những tín hữu Do-thái khác cũng vậy. Đến nỗi Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn mà giả đạo đức giống như họ.
GAL 2:14 Khi thấy họ không đi theo sự thật của Tin Mừng, tôi thẳng thắn trách Phia-rơ trước mặt mọi người rằng, “Anh Phia-rơ à, anh là người Do-thái mà anh không sống theo lối Do-thái. Anh sống như những người không phải Do-thái. Thế tại sao anh lại ép những người không phải Do-thái sống theo kiểu Do-thái?”
GAL 2:15 Chúng ta khi sinh ra đã là người Do-thái rồi, chứ không phải là những người không phải Do-thái có tội.
GAL 2:16 Tuy nhiên, chúng ta biết con người được trở nên công chính trước mặt Thượng Đế là nhờ tin nhận Chúa Giê-xu Cứu Thế chứ không phải nhờ vâng giữ luật pháp đâu. Cho nên chúng ta hãy đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu Cứu Thế để được công chính trước mặt Thượng Đế. Không ai được công chính trước mặt Thượng Đế bằng cách vâng giữ luật pháp cả.
GAL 2:17 Chúng ta là người Do-thái đến cùng Chúa Cứu Thế để được công chính trước mặt Thượng Đế, điều đó chứng tỏ rõ rằng chúng ta cũng là tội nhân. Như thế có phải Chúa Cứu Thế phục vụ tội lỗi sao? Không phải.
GAL 2:18 Nhưng nếu tôi dạy lại những điều mà tôi đã phá đổ thì tôi là kẻ phạm luật.
GAL 2:19 Luật pháp đã khiến tôi chết nhờ đó mà giải thoát tôi khỏi quyền lực nó để từ nay tôi sẽ sống cho Thượng Đế.
GAL 2:20 Tôi chịu đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Cứu Thế. Bây giờ tuy tôi sống nhưng không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Cứu Thế sống trong tôi. Tôi vẫn sống trong thân xác nhưng thật ra tôi sống bằng niềm tin vào Con Thượng Đế, Đấng đã yêu tôi và chịu chết để cứu tôi.
GAL 2:21 Nói như thế không phải tôi gạt bỏ ân phúc Thượng Đế đâu. Trái lại, nếu nhờ luật pháp mà tôi được công chính trước mặt Thượng Đế thì việc Chúa Cứu Thế chịu chết là vô ích.
GAL 3:1 Các anh chị em là người ở Ga-la-ti đã được trình bày rõ ràng trước mắt về sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, nhưng anh chị em lại quá dại dột để người khác lừa gạt mình.
GAL 3:2 Hãy cho tôi biết một điều: Anh chị em nhận lãnh Thánh Linh cách nào? Có phải nhờ vâng giữ luật pháp không?—Không! Anh chị em nhận Thánh Linh là nhờ nghe và tiếp nhận Tin Mừng.
GAL 3:3 Anh chị em đã bắt đầu cuộc đời mới trong Chúa Cứu Thế nhờ Thánh Linh rồi bây giờ lại nhờ sức riêng để hoàn tất công tác ấy. Thật là dại!
GAL 3:4 Phải chăng những sự khốn khổ mà anh chị em đã chịu hóa ra vô ích sao? Tôi hi vọng là không!
GAL 3:5 Có phải nhờ vâng giữ luật pháp mà Thượng Đế ban Thánh Linh và thực hiện nhiều phép lạ trong vòng anh chị em không? Không phải. Ngài thực hiện những việc ấy là vì anh chị em nghe và nhận.
GAL 3:6 Thánh Kinh cũng đã nói tương tự về Áp-ra-ham như sau, “Áp-ra-ham tin Thượng Đế, Ngài chấp nhận đức tin của ông và đức tin ấy khiến ông trở thành công chính trước mặt Thượng Đế.”
GAL 3:7 Cho nên anh chị em phải biết rằng những người có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham.
GAL 3:8 Thánh Kinh cũng đã thấy trước việc tương lai và nói rằng Thượng Đế sẽ khiến những người không phải Do-thái trở nên công chính qua đức tin của họ. Tin Mừng nầy đã được loan báo trước cho Áp-ra-ham rằng, “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được hưởng ân phúc.”
GAL 3:9 Cho nên hễ ai tin đều được ân phúc như Áp-ra-ham, là người có niềm tin.
GAL 3:10 Còn những người mong được trở nên công chính bằng cách vâng giữ luật pháp thì bị nguyền rủa như Thánh Kinh viết, “Người nào không bền lòng vâng giữ mọi điều đã được ghi chép trong Sách Luật sẽ bị nguyền rủa.”
GAL 3:11 Như thế rõ ràng là không ai có thể trở thành công chính trước mặt Thượng Đế qua luật pháp vì Thánh Kinh viết, “Những ai trở nên công chính nhờ đức tin sẽ sống.”
GAL 3:12 Luật pháp không dựa trên đức tin. Luật pháp chỉ nói phương cách duy nhất để con người tìm được sự sống qua luật pháp là vâng giữ các điều luật ấy.
GAL 3:13 Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp. Ngài đổi địa vị thay cho chúng ta và tự đặt mình dưới sự nguyền rủa ấy. Như Thánh Kinh viết, “Người nào bị treo lên cây thật đáng rủa.”
GAL 3:14 Chúa Cứu Thế đã làm điều ấy để phúc lành hứa cho Áp-ra-ham sẽ được thực hiện qua Chúa Cứu Thế cho những người không phải Do-thái; do đó nhờ đức tin chúng ta sẽ nhận được Thánh Linh mà Thượng Đế đã hứa.
GAL 3:15 Thưa anh chị em, chúng ta hãy suy nghĩ theo cách loài người đi: Một khi di chúc đã thành hiệu lực thì không ai có thể hủy bỏ hay thêm bớt điều gì.
GAL 3:16 Thượng Đế đã hứa với Áp-ra-ham và dòng dõi ông. Ngài không nói, “và cho các dòng dõi ngươi” để chỉ về nhiều người nhưng nói “và cho dòng dõi ngươi” để chỉ về một người mà thôi, người ấy là Chúa Cứu Thế.
GAL 3:17 Đây là điều tôi muốn nói: Thượng Đế đã lập giao ước với Áp-ra-ham theo đúng thể thức ấy. Còn luật pháp thì mãi đến bốn trăm ba mươi năm sau mới có nên không thể thay đổi giao ước ấy hoặc hủy bỏ lời hứa mà Thượng Đế dành cho Áp-ra-ham được.
GAL 3:18 Nếu chúng ta có thể hưởng gia tài qua luật pháp thì không cần lời hứa nữa. Nhưng không phải thế, vì Thượng Đế đã ban phúc lành nhiều trên Áp-ra-ham qua lời hứa mà Ngài đã lập.
GAL 3:19 Thế thì mục đích của luật pháp là gì? Luật pháp được đặt ra vì những vi phạm của con người. Luật pháp được kéo dài cho đến khi một người thuộc dòng dõi ấy tức Đấng đã được hứa từ trước, xuất hiện. Luật pháp được các thiên sứ trao cho Mô-se, như người trung gian để truyền lại cho dân chúng.
GAL 3:20 Nhưng nếu chỉ có một phía thì không cần người trung gian nữa vì chỉ có một mình Thượng Đế mà thôi.
GAL 3:21 Như thế có phải luật pháp nghịch lại với lời hứa của Thượng Đế không? Không phải. Giá như có luật nào ban cho con người mà lại có khả năng làm cho sống thì đúng là con người được nên công chính nhờ luật pháp.
GAL 3:22 Trái lại, Thánh Kinh cho thấy cả thế gian bị tội lỗi trói buộc để hễ ai đặt niềm tin trong Chúa Cứu Thế đều nhận được lời hứa.
GAL 3:23 Trước khi đức tin đến, tất cả chúng ta đều bị luật pháp giam giữ cho tới khi đức tin được bày tỏ ra.
GAL 3:24 Nói khác đi, luật pháp là người giám hộ dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cứu Thế để chúng ta trở nên công chính trước mặt Thượng Đế qua đức tin.
GAL 3:25 Hiện nay đức tin đã đến nên chúng ta không còn sống dưới quyền người giám hộ nữa.
GAL 3:26 Qua đức tin trong Chúa Cứu Thế, anh chị em trở nên con cái Thượng Đế vì anh chị em đều đã chịu báp-têm trong Chúa Cứu Thế nên được mặc lấy chính mình Ngài.
GAL 3:27 Trong Chúa Cứu Thế không còn phân biệt người Do-thái, Hi-lạp, tôi mọi, tự do, đàn ông hay đàn bà gì cả. Tất cả chúng ta đều là một trong Ngài.
GAL 3:29 Vì anh chị em thuộc về Chúa Cứu Thế cho nên cũng thuộc dòng dõi Áp-ra-ham. Do đó, anh chị em sẽ hưởng mọi phúc lành nhờ lời hứa mà Thượng Đế đã lập cùng Áp-ra-ham.
GAL 4:1 Tôi muốn trình bày với anh chị em điều nầy: Người sẽ thừa kế gia tài của cha mẹ mà còn nhỏ tuổi thì chẳng khác gì kẻ nô lệ, dù rằng trong tương lai người ấy sẽ làm chủ trọn gia tài đi nữa.
GAL 4:2 Trong khi còn nhỏ phải vâng theo lời người giám hộ và quản lý tài sản mình. Chỉ khi đến tuổi thành niên theo người cha đã định thì người ấy mới được tự do.
GAL 4:3 Chúng ta cũng thế. Trước kia khi còn thơ ấu, chúng ta làm tôi mọi cho những quyền lực vô ích đang thống trị thế gian.
GAL 4:4 Nhưng đúng kỳ đã định, Thượng Đế sai Con Ngài đến, sinh ra do một người nữ và sống dưới luật pháp.
GAL 4:5 Thượng Đế đã định như vậy để Ngài có thể chuộc sự tự do cho những người sống dưới luật pháp và cũng để cho chúng ta có thể trở thành con nuôi Ngài.
GAL 4:6 Vì anh chị em là con cái Ngài nên Thượng Đế đưa Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta. Thánh Linh đó kêu lên, “Thưa Cha!”
GAL 4:7 Cho nên anh chị em không còn là nô lệ nữa mà là con Thượng Đế. Và vì anh chị em là con Ngài nên Ngài sẽ cho anh chị em hưởng ân phúc của Ngài.
GAL 4:8 Trước kia anh chị em không biết Thượng Đế nên làm nô lệ cho những thần giả.
GAL 4:9 Nhưng nay anh chị em đã biết Thượng Đế chân chính. Thật ra Thượng Đế biết anh chị em thì đúng hơn. Thế thì tại sao anh chị em lại quay trở về với những qui tắc vô dụng trước kia? Anh chị em lại muốn làm nô lệ cho những thứ ấy nữa sao?
GAL 4:10 Anh chị em lại vẫn muốn giữ ngày, tháng, mùa và năm à?
GAL 4:11 Tôi rất lo ngại, vì tôi e rằng tôi đã phí công cho anh chị em.
GAL 4:12 Thưa anh chị em, vì tôi đã trở nên giống như anh chị em, xin anh chị em hãy trở nên giống như tôi. Trước đây anh chị em đối với tôi rất tốt.
GAL 4:13 Chắc anh chị em còn nhớ, lần đầu tiên, dù đang đau yếu nhưng tôi vẫn đến giảng Tin Mừng cho anh chị em.
GAL 4:14 Mặc dù bệnh tật là một thử thách nhưng anh chị em không ghét tôi hoặc xua đuổi tôi, mà trái lại, anh chị em đã tiếp đón tôi như thiên sứ của Thượng Đế và xem tôi như Chúa Cứu Thế vậy!
GAL 4:15 Lúc ấy anh chị em rất vui mừng, bây giờ thì niềm vui ấy đâu rồi? Tôi có thể làm chứng rằng lúc ấy nếu có thể được thì anh chị em cũng dám móc mắt mà cho tôi.
GAL 4:16 Bây giờ chẳng lẽ tôi trở thành kẻ thù anh chị em chỉ vì tôi nói sự thật sao?
GAL 4:17 Những người kia tìm mọi cách thuyết phục anh chị em nhưng lòng dạ họ không tốt. Họ muốn dụ dỗ anh chị em chống lại chúng tôi để anh chị em hăng hái đi theo họ.
GAL 4:18 Người nào có nhiệt tâm với anh chị em đều tốt miễn là động lực của họ cũng tốt, chớ không phải chỉ tốt khi nào tôi có mặt giữa anh chị em mà thôi đâu.
GAL 4:19 Các con yêu dấu của ta ơi, ta đang chịu đau đớn để sinh ra các con cho đến khi Chúa Cứu Thế thành hình trong các con.
GAL 4:20 Ta muốn có mặt giữa các con để có thể thay đổi cách nói chuyện với các con vì hiện tại ta không biết nghĩ thế nào về các con.
GAL 4:21 Một vài người trong anh chị em vẫn còn muốn sống dưới luật pháp. Anh chị em nghe luật pháp nói gì không?
GAL 4:22 Thánh Kinh viết rằng Áp-ra-ham có hai con trai. Một đứa là con của người nữ nô lệ, còn đứa kia là con của người nữ tự do.
GAL 4:23 Đứa con của Áp-ra-ham do người nữ nô lệ sinh ra theo lối thông thường của loài người. Nhưng đứa con do người nữ tự do được sinh ra theo lời hứa của Thượng Đế với Áp-ra-ham.
GAL 4:24 Câu chuyện nầy còn mang một ý nghĩa khác: Hai người nữ ấy là hai giao ước mà Thượng Đế lập. Một giao ước được trao cho từ núi Si-nai và sinh ra con cái nô lệ. A-ga, tên người mẹ, là giao ước ấy.
GAL 4:25 Ha-ga có thể ví như núi Si-nai ở Á-rập và tương tự như thành Giê-ru-sa-lem ngày nay. Thành ấy và luôn cả dân cư đều là nô lệ cho luật pháp.
GAL 4:26 Nhưng Giê-ru-sa-lem trên trời thì tự do. Thành ấy là mẹ của chúng ta.
GAL 4:27 Như Thánh Kinh viết: “Giê-ru-sa-lem ơi, hãy vui lên. Ngươi là đàn bà chưa hề sinh con, hãy ca hát và reo vui lên đi. Con cái của phụ nữ bị bỏ rơi sẽ đông hơn con cái của phụ nữ có chồng.”
GAL 4:28 Thưa anh chị em, anh chị em là con cái Thượng Đế do lời hứa của Ngài, giống như Y-sác đời xưa vậy.
GAL 4:29 Đứa con sinh ra theo lối tự nhiên bắt nạt đứa con sinh ra theo quyền lực của Thánh Linh. Ngày nay cũng thế.
GAL 4:30 Nhưng Thánh Kinh nói gì? “Hãy đuổi người đàn bà nô lệ và con của nó đi. Con người đàn bà nô lệ sẽ không được phép hưởng thụ điều gì chung với con của người đàn bà tự do đâu.”
GAL 4:31 Vì thế, thưa anh chị em, chúng ta không phải là con của người đàn bà nô lệ mà là con của người đàn bà tự do.
GAL 5:1 Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta để chúng ta được tự do nên hãy vững mạnh. Đừng mang ách nô lệ dưới luật pháp nữa.
GAL 5:2 Tôi, Phao-lô bảo anh em điều nầy: Nếu anh chị em trở lại theo luật pháp bằng cách chịu phép cắt dương bì thì Chúa Cứu Thế sẽ không ích gì cho anh em cả.
GAL 5:3 Ngoài ra, tôi nhắc nhở mọi người đàn ông là nếu họ chịu phép cắt dương bì thì họ phải vâng giữ toàn thể luật pháp.
GAL 5:4 Nếu anh chị em tìm cách làm vừa lòng Thượng Đế qua con đường luật pháp thì đời sống của anh chị em trong Chúa Cứu Thế xem như chấm dứt—anh chị em mất ân phúc của Thượng Đế rồi.
GAL 5:5 Nhưng nhờ đức tin, chúng ta nóng lòng chờ đợi sự công chính mà chúng ta hi vọng qua Thánh Linh.
GAL 5:6 Trong Chúa Cứu Thế thì dù chịu cắt dương bì hay không, chẳng quan hệ gì cả. Điều quan trọng là đức tin—loại đức tin tác động qua tình yêu.
GAL 5:7 Anh chị em đã chạy đua giỏi. Ai cản trở anh chị em vâng theo chân lý?
GAL 5:8 Sự xúi giục ấy không phải đến từ Đấng đã gọi anh chị em đâu.
GAL 5:9 Hãy coi chừng vì “chỉ cần một chút men là đủ làm dậy cả đống bột.”
GAL 5:10 Nhưng trong Chúa, tôi tin rằng anh chị em không nghĩ khác. Những người gây rối trong anh chị em sẽ bị trừng phạt, dù cho họ là ai đi nữa.
GAL 5:11 Thưa anh chị em, tôi chưa hề dạy rằng đàn ông phải chịu cắt dương bì. Nếu thỉnh thoảng tôi dạy về phép cắt dương bì thì tại sao tôi vẫn còn bị ngược đãi? Nếu tôi dạy phép cắt dương bì thì việc tôi giảng về thập tự giá không có gì trở ngại.
GAL 5:12 Tôi mong cho những người đang quấy nhiễu anh chị em tự thiến hết!
GAL 5:13 Thưa anh chị em, Thượng Đế đã gọi anh chị em nhận sự tự do nhưng đừng lạm dụng sự tự do ấy để thỏa mãn dục vọng tội lỗi của mình. Hãy dùng tình yêu mà phục vụ nhau.
GAL 5:14 Tất cả luật pháp có thể tóm tắt trong một mệnh lệnh nầy: “Hãy yêu người láng giềng như yêu mình.”
GAL 5:15 Cho nên nếu anh chị em cứ mãi làm hại nhau hay cắn nuốt nhau thì hãy coi chừng, vì người nầy có thể bị người khác tiêu diệt.
GAL 5:16 Cho nên tôi khuyên: Hãy sống theo Thánh Linh thì anh chị em sẽ không làm theo ý muốn của con người tội lỗi của mình.
GAL 5:17 Thể xác nghịch với Thánh Linh và Thánh Linh nghịch với thể xác. Hai bên đối nghịch nhau như thế cho nên anh chị em không làm được điều mình muốn.
GAL 5:18 Nhưng nếu Thánh Linh hướng dẫn thì anh chị em không ở dưới luật pháp.
GAL 5:19 Những điều mà thể xác của con người tội lỗi chúng ta ham muốn rất rõ ràng: loạn luân, không tinh sạch, gian dâm,
GAL 5:20 thờ thần tượng, phù phép, ganh ghét, gây rối, đố kỵ, giận dữ, ích kỷ, gieo xung khắc với nhau, gây chia rẽ,
GAL 5:21 ganh tị, say sưa, nhậu nhẹt chè chén cùng những việc tương tự. Tôi cảnh cáo anh chị em cũng như tôi đã từng cảnh cáo: Những người làm những việc như thế không thể nào hưởng được Nước Trời đâu.
GAL 5:22 Nhưng Thánh Linh sinh ra những bông trái như yêu thương, vui mừng, bình an, kiên nhẫn, ôn hòa, đức độ, trung tín,
GAL 5:23 khiêm nhường, tiết độ. Không có luật nào cấm đoán những điều ấy.
GAL 5:24 Những ai thuộc về Chúa Cứu Thế đã đóng đinh con người tội lỗi của mình cùng với tình cảm ích kỷ và những điều ác trong lòng vào thập tự giá rồi.
GAL 5:25 Vì đã nhận được nếp sống mới từ Thánh Linh nên chúng ta hãy bước theo Thánh Linh.
GAL 5:26 Chúng ta không nên tự phụ, châm chọc nhau hoặc hiềm khích nhau.
GAL 6:1 Thưa anh chị em, nếu người nào trong anh chị em bắt gặp ai làm điều gì sai, thì anh chị em là người thiêng liêng, hãy đến gặp người ấy và ôn hòa giúp họ trở về. Nhưng phải cẩn thận, nếu không thì anh chị em cũng sẽ bị cám dỗ.
GAL 6:2 Đỡ lấy gánh nặng cho nhau là tuân theo luật pháp của Chúa Cứu Thế.
GAL 6:3 Nếu người nào chẳng ra gì mà tự thấy mình quan trọng thì chỉ tự gạt thôi.
GAL 6:4 Mỗi người phải tự cân nhắc hành vi của chính mình, đừng so với người khác. Như thế mỗi người sẽ hãnh diện về điều mình làm.
GAL 6:5 Ai nấy phải gánh riêng phần mình.
GAL 6:6 Người nào được dạy về lời Thượng Đế nên san sẻ mọi vật tốt với người dạy mình.
GAL 6:7 Đừng bị lừa: Thượng Đế không thể bị xem thường. Ai gieo gì thì gặt nấy.
GAL 6:8 Ai gieo những điều thỏa mãn con người tội lỗi của mình thì sẽ gặt lấy sự tổn hại. Nhưng nếu gieo những điều đẹp lòng Thánh Linh thì sẽ nhận sự sống đời đời từ Thánh Linh.
GAL 6:9 Chúng ta không nên mệt mỏi trong việc làm điều thiện. Đến kỳ, chúng ta sẽ gặt hái sự sống đời đời, nếu chúng ta không bỏ cuộc.
GAL 6:10 Khi có dịp giúp đỡ ai thì hãy làm. Nhưng chúng ta phải đặc biệt chăm sóc những người thuộc gia đình các tín hữu.
GAL 6:11 Hãy nhìn những dòng chữ lớn mà tôi viết phần kết thư cho anh em.
GAL 6:12 Có người buộc anh em phải chịu phép cắt dương bì để khỏi bị quấy rầy và để cho người Do-thái chấp nhận. Họ sợ rằng sẽ gặp khó khăn nếu họ chỉ tuân theo thập tự giá của Chúa Cứu Thế.
GAL 6:13 Chính những người chịu phép cắt dương bì cũng không tuân theo luật pháp nhưng họ chỉ muốn anh em chịu phép ấy để họ có lý do khoe khoang về bề ngoài của anh chị em.
GAL 6:14 Tôi không bao giờ khoe khoang điều gì ngoại trừ khoe về thập tự giá của Chúa Cứu Thế chúng ta mà thôi. Qua thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi xem như đã chết rồi và tôi cũng xem như đã chết đối với thế gian.
GAL 6:15 Chịu phép cắt dương bì hay không chịu phép cắt dương bì chẳng quan trọng gì hết. Điều quan trọng là có được nếp sống mới mà Thượng Đế đã tạo dựng.
GAL 6:16 Nguyền xin bình an và nhân ái ban cho những người theo qui tắc nầy—tức là cho tất cả mọi con dân của Thượng Đế.
GAL 6:17 Sau hết, xin đừng ai gây khó khăn cho tôi nữa. Vì trong người tôi có vết sẹo chứng tỏ tôi thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu.
GAL 6:18 Nguyền xin ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở với tâm linh anh chị em. A-men.
EPH 1:1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu theo ý muốn Thượng Đế, Kính gởi dân thánh của Chúa ở Ê-phê-sô, tức các tín hữu trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
EPH 1:2 Nguyền xin anh chị em nhận được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
EPH 1:3 Chúc tụng Thượng Đế là Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta, Đấng đã ban cho chúng ta mọi phúc lành thiêng liêng từ trời.
EPH 1:4 Qua Chúa Cứu Thế, Ngài đã chọn lựa chúng ta trước khi sáng thế để chúng ta thánh thiện và toàn vẹn trước mặt Ngài.
EPH 1:5 Do tình yêu Ngài, Thượng Đế đã quyết định cho chúng ta trở nên con cái Ngài qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Đó là ý muốn Ngài và là điều đẹp lòng Ngài,
EPH 1:6 đồng thời cũng là điều đem lại sự tôn ngợi cho Chúa, vì ân phúc kỳ diệu của Ngài. Thượng Đế đã ban cho chúng ta ân phúc ấy một cách rộng rãi trong Chúa Cứu Thế, Đấng mà Ngài yêu thương.
EPH 1:7 Cũng trong Chúa Cứu Thế, chúng ta được giải thoát do huyết của sự chết Ngài để chúng ta được tha tội, vì ân phúc Thượng Đế thật giàu có vô cùng,
EPH 1:8 là ân phúc mà Ngài đã cho chúng ta thật rộng rãi. Qua sự khôn ngoan và hiểu biết vô hạn, Thượng Đế
EPH 1:9 đã phơi bày mục đích kín giấu của Ngài cho chúng ta. Đó là ý muốn và dự định mà Ngài sẽ thực hiện qua Chúa Cứu Thế.
EPH 1:10 Mục đích của Ngài là làm xong chương trình theo đúng thời điểm, để kết hợp mọi vật trên trời và dưới đất trong Chúa Cứu Thế là Đấng đứng đầu mọi vật.
EPH 1:11 Trong Chúa Cứu Thế, chúng ta đã được chọn lựa vì từ nguyên thủy Thượng Đế đã trù liệu như thế theo mục đích của Ngài. Ngài là Đấng khiến cho mọi việc phù hợp với ý muốn và quyết định của Ngài.
EPH 1:12 Chúng ta là công dân đầu tiên nuôi hi vọng trong Chúa Cứu Thế và là những người được chọn lựa để ca ngợi sự vinh hiển của Thượng Đế.
EPH 1:13 Cho nên anh chị em cũng vậy. Khi anh chị em nghe lời dạy dỗ chân thật, tức Tin Mừng về sự cứu rỗi, anh chị em đã tin nhận Chúa Cứu Thế. Trong Ngài, Thượng Đế đã đóng ấn chủ quyền đặc biệt trên anh chị em bằng cách ban Thánh Linh mà Ngài đã hứa.
EPH 1:14 Thánh Linh là vật bảo chứng rằng chúng ta sẽ nhận điều Thượng Đế đã hứa cho dân Ngài, vì nhờ đó những người thuộc về Ngài được hoàn toàn tự do và mang sự ca ngợi về cho vinh hiển Ngài.
EPH 1:15 Cho nên, sau khi nghe về đức tin anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu và tình yêu anh chị em dành cho các con dân Chúa,
EPH 1:16 tôi luôn luôn tạ ơn Thượng Đế vì anh chị em. Tôi thường nhớ đến anh chị em mỗi khi cầu nguyện.
EPH 1:17 Tôi nài xin Thượng Đế của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta, Cha vinh hiển, ban sự khôn ngoan và khải thị để anh chị em hiểu thêm về Ngài.
EPH 1:18 Tôi cũng cầu xin Thượng Đế mở trí anh chị em để hiểu biết thêm về hi vọng mà Ngài đã kêu gọi chúng ta, đồng thời biết sự giàu có và vinh hiển của ân lành mà Thượng Đế đã hứa cho dân Ngài.
EPH 1:19 Anh chị em sẽ biết quyền năng lớn lao vô hạn mà Thượng Đế dành cho chúng ta, là những người tin. Đó cũng là quyền năng
EPH 1:20 mà Thượng Đế dùng để khiến Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết và đặt Ngài ngồi bên phải mình trên thiên quốc.
EPH 1:21 Thượng Đế đã đặt Chúa Cứu Thế lên trên các bậc cầm quyền, các thế lực, các vua chúa, không những trong đời nầy mà cả trong đời tương lai nữa.
EPH 1:22 Thượng Đế đã đặt vạn vật dưới quyền Ngài và chỉ định Ngài làm đầu hội thánh,
EPH 1:23 hội thánh là thân thể Ngài. Hội thánh được đầy dẫy Chúa Cứu Thế và Chúa Cứu Thế làm cho mọi vật được hoàn tất về mọi phương diện.
EPH 2:1 Trước kia anh chị em chết về phần tâm linh vì tội lỗi và vì những điều anh chị em làm nghịch với Thượng Đế.
EPH 2:2 Thật vậy, trong quá khứ anh chị em sống như người thế gian, đi theo Sa-tăng là kẻ cai quản những quyền lực gian ác đang thống trị trên không trung. Thần linh đó hiện đang hành động trong lòng của những người không vâng phục Thượng Đế.
EPH 2:3 Trước kia tất cả chúng ta đều sống y như họ, tìm cách thỏa mãn con người tội lỗi của mình và hành động theo ý muốn của xác thịt và tâm trí. Sống theo lối đó, đáng lẽ chúng ta phải gánh lấy cơn thịnh nộ của Thượng Đế, vì chúng ta chẳng khác nào người thế gian.
EPH 2:4 Nhưng lòng nhân ái của Thượng Đế thật lớn lao và Ngài quá yêu thương chúng ta.
EPH 2:5 Dù trước kia chúng ta chết về mặt tâm linh do những hành động phản nghịch Thượng Đế, nhưng Ngài đã ban cho chúng ta sự sống mới cùng với Chúa Cứu Thế. Anh chị em đã được cứu do ân phúc của Thượng Đế.
EPH 2:6 Ngài đã khiến chúng ta sống lại cùng với Chúa Cứu Thế, đồng thời cho chúng ta cùng ở trong nước thiên đàng với Ngài. Ân phúc ấy dành cho những người ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu,
EPH 2:7 để tương lai Thượng Đế sẽ bày tỏ sự giàu có vô hạn của ân phúc Ngài, do lòng nhân từ Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
EPH 2:8 Tôi muốn nói rằng anh chị em đã được cứu bởi ân phúc do lòng tin. Anh chị em không thể tự cứu mình được. Ơn ấy là món quà tặng của Thượng Đế,
EPH 2:9 không phải do công lao của anh chị em; cho nên chẳng ai có thể khoe khoang được.
EPH 2:10 Thượng Đế đã tạo nên chúng ta được như ngày nay trong Chúa Cứu Thế Giê-xu để chúng ta làm việc phúc đức, điều mà Ngài đã định trước cho đời sống chúng ta.
EPH 2:11 Anh chị em không phải được sinh ra theo dòng giống Do-thái. Anh chị em thuộc về loại người mà dân Do-thái gọi là “kẻ không chịu phép cắt dương bì.” Những người gọi anh em là “kẻ không chịu phép cắt dương bì” tự gọi mình là “kẻ chịu phép cắt dương bì.” Phép cắt dương bì là điều họ làm cho thân thể họ.
EPH 2:12 Nên nhớ rằng trước kia anh chị em sống không có Chúa Cứu Thế. Anh chị em không phải là công dân Ít-ra-en và cũng chẳng có phần gì trong giao ước về lời hứa mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Anh chị em không có hi vọng gì vì chẳng biết Thượng Đế.
EPH 2:13 Nhưng trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, anh chị em ngày trước cách xa Thượng Đế nay được đến gần Ngài, qua sự chết Chúa Cứu Thế.
EPH 2:14 Chính Chúa Cứu Thế đã tạo sự hòa bình giữa người Do-thái và người không phải Do-thái, khiến họ trở thành một dân. Trước kia có bức tường phân cách hai nhóm dân, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dùng chính thân Ngài phá đổ bức tường ganh ghét ấy.
EPH 2:15 Luật pháp Do-thái có nhiều mệnh lệnh và qui tắc, nhưng Chúa Cứu Thế đã chấm dứt luật đó. Mục đích của Ngài là làm sao cho hai nhóm trở thành một dân mới trong Ngài để tạo nên sự hòa bình.
EPH 2:16 Mục đích của Ngài cũng để chấm dứt sự hận thù giữa hai nhóm dân, biến họ trở thành một thân và giảng hoà họ lại với Thượng Đế. Ngài đã hoàn thành những mục tiêu ấy qua sự chết của Ngài trên thập tự giá.
EPH 2:17 Chúa Cứu Thế đến rao giảng sự hòa bình cho anh chị em, là những người trước kia cách xa Thượng Đế, và cũng giảng cho những người ở gần Ngài.
EPH 2:18 Thật thế, qua Chúa Cứu Thế mà cả hai nhóm chúng ta có quyền đến với Cha nhờ một Thánh Linh.
EPH 2:19 Cho nên hiện nay dù anh chị em không phải là người Do-thái nhưng anh chị em không còn là người ngoại quốc hay xa lạ nữa mà là công dân cùng với dân thánh của Thượng Đế. Anh chị em thuộc về gia đình của Thượng Đế.
EPH 2:20 Anh chị em giống như một tòa nhà được xây trên nền của các sứ đồ và các nhà tiên tri. Chúa Cứu Thế Giê-xu là đá góc nhà,
EPH 2:21 vì tất cả tòa nhà đều được kết liên trong Chúa Cứu Thế. Ngài khiến cho tòa nhà ấy lớn lên và trở thành đền thờ trong Chúa.
EPH 2:22 Cũng trong Chúa Cứu Thế, anh chị em cùng với những người Do-thái tạo thành một nơi có Thượng Đế ngự qua Thánh Linh.
EPH 3:1 Cho nên, tôi, Phao-lô, làm tù nhân cho Chúa Cứu Thế Giê-xu, vì anh chị em là những người không phải Do-thái.
EPH 3:2 Hẳn anh chị em đã biết rằng Thượng Đế giao cho tôi công tác nầy do ân phúc của Ngài để giúp đỡ anh chị em.
EPH 3:3 Ngài đã bày tỏ chương trình kín giấu của Ngài cho tôi. Trước đây tôi đã đề cập ít nhiều về vấn đề nầy rồi.
EPH 3:4 Nếu đọc thư trước chắc anh chị em thấy rằng tôi hiểu được chương trình kín giấu của Chúa Cứu Thế.
EPH 3:5 Những người sống trong các thời đại trước không được Ngài cho biết chương trình kín giấu ấy; nhưng nay qua Thánh Linh, Thượng Đế đã bày tỏ điều kín giấu nầy cho các thánh đồ và các nhà tiên tri của Ngài.
EPH 3:6 Chương trình kín giấu ấy như sau: Qua Tin Mừng, những người ngoại quốc cũng được hưởng phần thừa kế chung với người Do-thái. Họ thuộc cùng một thân và cùng san sẻ lời hứa mà Thượng Đế đã lập trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
EPH 3:7 Do ân phúc đặc biệt mà Thượng Đế ban cho tôi qua quyền năng Ngài, tôi được làm đầy tớ rao truyền Tin Mừng.
EPH 3:8 Tôi là người thấp kém nhất trong vòng dân Chúa, nhưng Thượng Đế đã ban cho tôi đặc ân nầy, là được rao Tin Mừng về sự giàu có vô hạn của Chúa Cứu Thế cho những người ngoại quốc.
EPH 3:9 Ngài cũng giao cho tôi công tác rao giảng cho mọi người biết về chương trình mầu nhiệm của Ngài, đã được giấu kín từ thuở sáng thế. Ngài là Đấng tạo dựng mọi loài.
EPH 3:10 Mục đích của Ngài là qua hội thánh, các bậc cầm quyền và các thế lực trên trời sẽ hiểu được sự khôn ngoan của Thượng Đế, một sự khôn ngoan đa dạng.
EPH 3:11 Điều ấy cũng phù hợp với mục đích của Ngài từ buổi sáng thế, Ngài đã thực hành chương trình của Ngài qua Chúa Giê-xu, Đấng Cứu Thế của chúng ta.
EPH 3:12 Trong Chúa Cứu Thế, nhờ đức tin nơi Ngài, chúng ta có thể tự do đến gần Thượng Đế mà không sợ hãi gì.
EPH 3:13 Cho nên tôi khuyên anh chị em đừng nản lòng khi thấy những khổ sở mà tôi đang chịu vì anh chị em. Những khốn khổ của tôi là để mang vinh quang cho anh chị em.
EPH 3:14 Cho nên tôi cúi đầu khẩn nguyện trước mặt Cha
EPH 3:15 vì do Ngài mà mọi gia tộc trên trời và dưới đất đều được đặt tên.
EPH 3:16 Tôi cầu xin Cha đầy vinh hiển giúp anh chị em được mạnh dạn bề trong, qua Thánh Linh của Ngài.
EPH 3:17 Tôi nguyện rằng Chúa Cứu Thế sẽ sống trong lòng anh chị em qua đức tin, và rằng đời sống anh chị em sẽ vững mạnh trong tình yêu, đồng thời được xây dựng trên tình yêu.
EPH 3:18 Tôi cũng cầu xin cho anh chị em và mọi dân thánh của Thượng Đế có được quyền năng am hiểu sự lớn lao về tình yêu Chúa Cứu Thế; cả chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu của tình yêu đó.
EPH 3:19 Tình yêu của Chúa Cứu Thế vượt quá trí hiểu của loài người. Tôi cầu xin cho anh chị em hiểu thấu được tình yêu đó. Lúc ấy anh chị em sẽ đầy dẫy Thượng Đế.
EPH 3:20 Quyền năng của Thượng Đế hoạt động trong chúng ta, nên Ngài có thể làm hơn những điều chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng.
EPH 3:21 Nguyền vinh hiển của hội thánh và của Chúa Cứu Thế thuộc về Ngài đời đời. A-men.
EPH 4:1 Tôi ngồi tù là vì Chúa. Thượng Đế đã chọn anh chị em làm dân Ngài, nên tôi khuyên anh chị em hãy ăn ở xứng đáng với đời sống mới mà Thượng Đế đã gọi anh chị em.
EPH 4:2 Bao giờ cũng phải khiêm nhường, hòa nhã, kiên nhẫn và chấp nhận lẫn nhau trong tình yêu.
EPH 4:3 Anh chị em đã được buộc chặt với nhau do Thánh Linh, Đấng kết hợp chúng ta trong hòa bình, nên hãy cố gắng sống như thế.
EPH 4:4 Chỉ có một thân, một Thánh Linh, một Thượng Đế, là Đấng đã gọi anh chị em để nhận một hi vọng.
EPH 4:5 Chỉ có một Chúa, một đức tin, một lễ báp-têm.
EPH 4:6 Chỉ có một Thượng Đế, là Cha của mọi loài. Ngài quản trị mọi loài, hiện diện khắp nơi và ở trong mọi loài.
EPH 4:7 Chúa Cứu Thế đã ban cho mỗi người chúng ta một ân phúc đặc biệt theo quyết định của Ngài.
EPH 4:8 Vì thế mà Thánh Kinh đã viết, “Khi Ngài lên chốn cao, dắt theo một đoàn tù nhân, và ban ân phúc cho loài người.”
EPH 4:9 Thánh Kinh nói, “Ngài lên”; điều đó có nghĩa gì? Có nghĩa là trước hết Ngài đã phải xuống nơi đất thấp nầy.
EPH 4:10 Cho nên, Chúa Giê-xu đã xuống, và Ngài cũng là Đấng vượt trên các từng trời để có thể đầy dẫy trong mọi loài.
EPH 4:11 Chúa Cứu Thế cũng đã ban ân phúc cho con người: Ngài lập người nầy làm sứ đồ, người kia làm nhà tiên tri, người khác rao giảng Tin Mừng, người khác nữa lo chăm sóc và dạy dỗ dân Chúa.
EPH 4:12 Chúa Cứu Thế đã ban các ân phúc ấy để trang bị dân thánh của Thượng Đế trong công tác làm vững mạnh thân thể Ngài.
EPH 4:13 Công tác đó phải tiếp tục cho tới khi tất cả chúng ta đều hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết về Con Thượng Đế. Chúng ta phải trở nên người trưởng thành, càng ngày càng lớn lên cho đến khi chúng ta trở nên giống như Chúa Cứu Thế và đạt đến mức toàn thiện như Ngài.
EPH 4:14 Lúc đó chúng ta sẽ không còn là trẻ con nữa. Chúng ta sẽ không còn bị xô đẩy như thuyền gặp sóng. Chúng ta sẽ không còn bị lung lạc bởi các giáo lý mới mà có kẻ muốn phỉnh dỗ chúng ta. Họ lập mưu và tìm thủ đoạn dẫn dụ người ta vào đường lầm lạc.
EPH 4:15 Trái lại, chúng ta nói ra chân lý bằng tình yêu và trở nên giống như Chúa Cứu Thế về mọi mặt, Ngài là đầu của thân thể.
EPH 4:16 Cả thân đều lệ thuộc vào Chúa Cứu Thế, mọi phần trong thân đều được kết hợp với nhau nhờ Ngài. Mỗi phần làm nhiệm vụ riêng để cho toàn thân được lớn mạnh trong tình yêu.
EPH 4:17 Nhân danh Chúa, tôi khuyên anh chị em không nên sống theo kiểu người vô tín nữa. Tư tưởng họ thật vô dụng.
EPH 4:18 Họ không muốn hiểu biết và cũng chẳng muốn nghe, nên họ không thể nào nhận được sự sống mà Thượng Đế ban cho.
EPH 4:19 Họ mất tất cả liêm sỉ và dùng đời mình đeo đuổi những việc vô luân. Họ thích làm điều ác.
EPH 4:20 Nhưng anh chị em đã học về Chúa Cứu Thế thì đừng theo nếp sống ấy.
EPH 4:21 Anh chị em đã nghe biết về Ngài và được dạy dỗ trong Ngài nên anh chị em đã học sự thật trong Chúa Giê-xu.
EPH 4:22 Anh chị em được dạy rằng phải từ bỏ con người cũ, tức từ bỏ nếp sống độc ác trước kia. Con người cũ đó đã hư hỏng rồi, vì đã bị lừa phỉnh bởi những ham muốn xấu xa.
EPH 4:23 Nhưng anh chị em đã được dạy là phải có tấm lòng mới và một tinh thần mới,
EPH 4:24 trở thành người mới, được tạo nên giống như Thượng Đế; tức trở thành thật tốt và thánh thiện.
EPH 4:25 Anh chị em hãy bỏ tính nói dối. Mỗi người hãy nói thật với nhau vì chúng ta đều là chi thể của cùng một thân.
EPH 4:26 “Khi đang nóng giận chớ nên phạm tội”, và hãy nguôi giận trước khi mặt trời lặn.
EPH 4:27 Đừng tạo cho ma quỉ cơ hội đánh bại anh chị em.
EPH 4:28 Ai hay trộm cắp hãy thôi trộm cắp mà bắt đầu làm việc. Phải kiếm việc làm lương thiện để có thể giúp đỡ những người nghèo khó hơn mình.
EPH 4:29 Khi nói, hãy tránh những lời lẽ làm tổn thương nhưng hãy dùng những lời khuyến khích và làm ích người khác. Như thế lời nói của anh chị em sẽ ích lợi cho người nghe.
EPH 4:30 Đừng làm buồn Thánh Linh. Thánh Linh của Thượng Đế là bằng chứng rằng anh chị em thuộc về Ngài. Thượng Đế ban Thánh Linh cho anh chị em để cho thấy rằng đến ngày cuối cùng Ngài sẽ giải thoát anh chị em.
EPH 4:31 Hãy dẹp bỏ những sự cay đắng và giận dữ. Đừng thốt ra những lời hung hăng làm tổn thương người khác. Đừng làm điều gì gian ác.
EPH 4:32 Hãy đối với nhau trong nhân từ và yêu thương, tha thứ nhau như Thượng Đế đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
EPH 5:1 Anh chị em là con cái yêu dấu của Thượng Đế, vậy hãy trở nên giống như Ngài.
EPH 5:2 Hãy sống một cuộc đời yêu thương như Chúa Cứu Thế đã yêu chúng ta và hi sinh mạng sống Ngài cho chúng ta, để làm một sinh tế có hương thơm dâng lên cho Thượng Đế.
EPH 5:3 Trong vòng anh chị em không nên phạm tội nhục dục, không được có hình thức gian ác hay tham lam nào. Những điều ấy không xứng hợp với thánh dân của Thượng Đế.
EPH 5:4 Ngoài ra anh chị em đừng nên nói tục, đừng phát ngôn bừa bãi và cũng đừng nói chuyện đùa dơ bẩn. Những điều ấy cũng không xứng hợp cho anh chị em. Trái lại hãy cảm tạ Thượng Đế.
EPH 5:5 Anh chị em nên biết rõ điều nầy: Không một người nào phạm tội nhục dục, làm ác hay tham lam mà được dự phần trong nước Chúa Cứu Thế và Nước Trời đâu. Ai tham lam tức là đang hầu việc thần giả.
EPH 5:6 Đừng để ai lấy lời giả dối phỉnh dỗ anh chị em, vì đó là những điều đưa đến cơn thịnh nộ của Thượng Đế cho những người chống nghịch Ngài.
EPH 5:7 Vì thế, anh chị em chớ nên giao du với họ.
EPH 5:8 Trước kia anh chị em đầy dẫy sự tối tăm, nhưng nay được đầy dẫy ánh sáng của Chúa Cứu Thế, nên hãy sống như con cái của ánh sáng.
EPH 5:9 Vì ánh sáng mang lại đủ thứ điều lành, cuộc sống tốt đẹp và chân thật.
EPH 5:10 Hãy tìm biết những điều làm đẹp lòng Chúa.
EPH 5:11 Đừng tham dự vào những việc làm lén lút là những việc không ra gì, nhưng hãy phơi bày sự thật xấu xa của những hành động ấy.
EPH 5:12 Vì chỉ nói đến những điều họ làm lén lút cũng đủ xấu hổ rồi.
EPH 5:13 Còn ánh sáng khiến chúng ta dễ dàng nhìn thấy mọi vật,
EPH 5:14 và những gì nhìn thấy được là nhờ ánh sáng. Vì thế mà có lời viết, “Nầy kẻ ngủ, hãy thức dậy! Hãy vùng dậy từ cõi chết, thì Chúa Cứu Thế sẽ chiếu sáng ngươi.”
EPH 5:15 Cho nên, hãy cẩn thận về nếp sống của anh chị em. Đừng sống theo kiểu những người kém khôn ngoan nhưng hãy sống như người khôn ngoan.
EPH 5:16 Hãy dùng mọi dịp tiện để làm điều lành vì bây giờ là thời kỳ gian ác.
EPH 5:17 Cho nên đừng sống như người dại dột, nhưng hãy tìm biết ý muốn Chúa.
EPH 5:18 Đừng say rượu vì rượu làm hư hỏng anh chị em, nhưng hãy đầy dẫy Thánh Linh.
EPH 5:19 Hãy xướng họa với nhau qua thi thiên, thánh ca, bài hát thiêng liêng, âm nhạc trong lòng mà dâng lên cho Chúa.
EPH 5:20 Hãy luôn luôn cảm tạ Thượng Đế, Cha chúng ta về mọi điều, nhân danh Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
EPH 5:21 Hãy thuận phục lẫn nhau vì anh chị em kính sợ Chúa Cứu Thế.
EPH 5:22 Người làm vợ, hãy thuận phục chồng như vâng phục Chúa
EPH 5:23 vì chồng là đầu vợ như Chúa Cứu Thế là đầu hội thánh. Ngài là Chúa Cứu Thế của thân, tức hội thánh.
EPH 5:24 Như hội thánh vâng phục Chúa Cứu Thế ra sao thì vợ cũng phải vâng phục chồng mình trong mọi sự.
EPH 5:25 Người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Chúa Cứu Thế yêu hội thánh và hi sinh mạng sống mình
EPH 5:26 khiến hội thuộc về Thượng Đế. Ngài dùng lời phán làm cho hội được tinh sạch, sau khi đã rửa bằng nước.
EPH 5:27 Ngài đã chịu chết để có thể nhận hội thánh làm nàng dâu của mình với đầy đủ mọi vẻ đẹp. Ngài đã hi sinh chính mình để sửa soạn hội thánh được hoàn toàn tinh sạch, không dấu bợn, chẳng tì vết, không khuyết điểm hầu cho hội được thánh hóa và không chỗ chê trách được.
EPH 5:28 Cũng vậy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Người nào yêu vợ tức là yêu thân mình.
EPH 5:29 Không ai ghét thân mình nhưng nuôi nấng và chăm sóc nó cẩn thận. Đó chính là điều Chúa Cứu Thế làm cho hội thánh,
EPH 5:30 vì chúng ta là chi thể của thân Ngài.
EPH 5:31 Thánh Kinh viết, “Cho nên người đàn ông sẽ rời cha mẹ mà kết hiệp với vợ mình, hai người sẽ trở thành một thân.”
EPH 5:32 Điều mầu nhiệm nầy rất quan trọng, nhưng tôi nói về hội thánh và Chúa Cứu Thế.
EPH 5:33 Mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính thân mình; còn vợ phải kính chồng.
EPH 6:1 Con cái, hãy vâng lời cha mẹ như Chúa muốn, vì đó là điều phải.
EPH 6:2 Mệnh lệnh có nói, “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi.” Đó là mệnh lệnh đầu tiên có một lời hứa kèm theo:
EPH 6:3 “thì mọi việc ngươi làm đều suông sẻ và ngươi sẽ được sống lâu trên đất.”
EPH 6:4 Bậc làm cha, đừng chọc tức con cái mình nhưng hãy nuôi dạy chúng nó theo sự rèn luyện và giáo huấn của Chúa.
EPH 6:5 Kẻ tôi mọi, hãy vâng phục chủ mình trên đất, tỏ lòng kính sợ trong chân thật như vâng phục Chúa Cứu Thế.
EPH 6:6 Không những vâng phục khi chủ có mặt để làm vừa lòng người ấy, nhưng với tấm lòng chân thành, anh chị em phải làm theo điều Thượng Đế muốn, như nô lệ của Chúa Cứu Thế.
EPH 6:7 Hãy sốt sắng phục vụ, như phục vụ Chúa chứ không phải phục vụ loài người.
EPH 6:8 Nên nhớ rằng Chúa là Đấng ban thưởng tương xứng cho mọi người làm điều thiện, dù là nô lệ hay tự do.
EPH 6:9 Cũng vậy, kẻ làm chủ, phải đối xử tử tế với những người nô lệ của mình. Đừng đe dọa họ. Nên nhớ rằng cả họ lẫn anh chị em đều có chung một Chủ trên trời. Ngài đối xử với mọi người như nhau.
EPH 6:10 Sau hết, anh chị em hãy mạnh mẽ trong quyền năng Chúa.
EPH 6:11 Hãy trang bị mọi vũ khí của Thượng Đế để chống lại những âm mưu của ma quỉ.
EPH 6:12 Vì cuộc chiến của chúng ta không phải là chống với loài người trên đất mà là chiến đấu chống mọi kẻ cầm quyền và các thế lực của thế gian tối tăm nầy, cùng với quyền lực tâm linh gian ác trên các từng trời.
EPH 6:13 Vì thế mà anh chị em phải mang đầy đủ khí giới và áo giáp của Thượng Đế, để trong thời của bọn gian ác anh chị em có thể đứng vững vàng. Và sau khi chiến đấu xong anh chị em vẫn đứng vững.
EPH 6:14 Cho nên hãy đứng thật vững, thắt lưng bằng chân lý và bảo vệ ngực bằng nếp sống tốt đẹp.
EPH 6:15 Hãy mang giày bằng Tin Mừng bình an để giúp anh chị em đứng vững vàng.
EPH 6:16 Ngoài ra hãy lấy thuẫn đức tin để ngăn chặn mọi tên lửa của Kẻ Ác.
EPH 6:17 Hãy đội mũ sắt bằng sự cứu rỗi và cầm gươm của Thánh Linh, tức là lời của Thượng Đế.
EPH 6:18 Hãy thường xuyên dâng đủ thứ lời cầu nguyện trong Thánh Linh, nài xin những điều anh chị em cần. Hãy luôn luôn sẵn sàng, đừng bỏ cuộc, và cầu nguyện cho các con dân thánh của Chúa.
EPH 6:19 Cũng hãy cầu nguyện cho tôi để khi tôi giảng dạy, Thượng Đế sẽ cho tôi lời lẽ dạn dĩ khi trình bày những điều kín giấu của Tin Mừng.
EPH 6:20 Tôi được sai rao truyền Tin Mừng nầy và dù hiện nay đang ở trong ngục tù, tôi vẫn rao giảng. Anh chị em hãy cầu nguyện để khi tôi rao giảng Tin Mừng thì tôi đầy lòng dạn dĩ theo nhiệm vụ của tôi.
EPH 6:21 Tôi phái Ty-chi-cơ, anh em yêu dấu và là đầy tớ trung thành trong công việc Chúa, đến cùng anh chị em. Anh sẽ thuật cho anh chị em biết về tôi và tình hình của tôi.
EPH 6:22 Tôi phái anh đến là để anh chị em biết về tôi, và cũng để anh ấy có thể khích lệ anh chị em.
EPH 6:23 Nguyền xin sự bình an và tình yêu cùng với đức tin từ Thượng Đế, Cha chúng ta và Chúa Giê-xu, Đấng Cứu Thế chúng ta ở cùng anh chị em.
EPH 6:24 Nguyền xin ân phúc ở cùng anh chị em, là những người yêu mến Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta với một tình yêu bất diệt.
PHI 1:1 Phao-lô và Ti-mô-thê, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Kính gởi các dân thánh của Thượng Đế thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu tại thành Phi-líp cùng với các trưởng lão và các phụ tá.
PHI 1:2 Nguyền xin ân phúc và bình an của Thượng Đế, Cha chúng ta và của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng anh chị em.
PHI 1:3 Mỗi khi nhớ đến anh chị em tôi đều cảm tạ Thượng Đế tôi,
PHI 1:4 tôi luôn luôn vui mừng cầu nguyện cho tất cả anh chị em.
PHI 1:5 Tôi cảm tạ Ngài vì sự giúp đỡ của anh chị em trong công tác rao giảng Tin Mừng từ đầu cho đến bây giờ.
PHI 1:6 Tôi tin rằng Thượng Đế đã khởi sự làm việc lành trong vòng anh chị em sẽ tiếp tục việc ấy cho đến ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại.
PHI 1:7 Tôi nghĩ rất đúng như thế về anh chị em vì lòng tôi lúc nào cũng nhớ đến anh chị em. Tất cả anh chị em đều đang dự phần ân phúc của Thượng Đế không những trong khi tôi đang ngồi tù mà cả khi tôi bênh vực và xác nhận chân lý của Tin Mừng nữa.
PHI 1:8 Thượng Đế làm chứng rằng tôi ao ước gặp anh chị em trong tình yêu của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHI 1:9 Tôi cầu nguyện cho tình yêu của anh chị em càng ngày càng gia tăng trong sự hiểu biết sâu đậm
PHI 1:10 để anh chị em có thể phân biệt được điều tốt đẹp nhất, và trở nên tinh sạch, toàn thiện vào ngày Chúa Cứu Thế trở lại;
PHI 1:11 và nhờ sự giúp đỡ của Chúa Cứu Thế anh chị em sẽ làm nhiều điều phước đức để đem tiếng khen và vinh hiển về cho Thượng Đế.
PHI 1:12 Tôi muốn anh chị em biết những điều xảy đến cho tôi đã giúp đỡ cho công tác rao truyền Tin Mừng
PHI 1:13 vì tất cả các lính gác cung điện và mọi người khác đều biết rằng tôi bị tù là vì tôi theo Chúa Cứu Thế.
PHI 1:14 Hơn nữa, việc tôi ngồi tù khiến cho nhiều tín hữu thêm bạo dạn, không còn e sợ khi rao giảng lời Thượng Đế.
PHI 1:15 Đành rằng có một số người rao giảng vì đố kỵ nhưng cũng có người rao giảng Chúa Cứu Thế với lòng chân thành.
PHI 1:16 Những anh em nầy rao giảng vì họ có tình yêu và biết rằng Thượng Đế giao cho tôi công tác bênh vực Tin Mừng.
PHI 1:17 Còn những người kia rao giảng Chúa Cứu Thế vì những tham vọng ích kỷ, không chính đáng, nghĩ rằng sẽ gây thêm khổ sở cho tôi trong tù.
PHI 1:18 Nhưng đâu có sao. Dù bởi động lực nào đi nữa, chính đáng hay không chính đáng, điều quan trọng là Chúa Cứu Thế được rao giảng. Đó là điều tôi đang mừng, và sẽ còn mừng nữa.
PHI 1:19 Nhờ anh chị em cầu nguyện và Thánh Linh của Chúa Cứu Thế Giê-xu giúp đỡ nên tôi tin chắc tôi sẽ sớm được trả tự do.
PHI 1:20 Tôi tin rằng tôi sẽ không thất vọng điều gì vì với sự can đảm của tôi, Chúa Cứu Thế sẽ được hiển vinh trong tôi dù tôi sống hay chết.
PHI 1:21 Đối với tôi, sống là vì Chúa Cứu Thế, còn chết là điều ích lợi.
PHI 1:22 Nếu tôi còn sống trong thân xác thì tôi có thể vui hưởng kết quả của công tác mình làm. Thật ra tôi không biết chọn lựa điều nào.
PHI 1:23 Giữa hai cái thật khó cho tôi chọn. Tôi rất muốn lìa đời nầy để được đi ở cùng Chúa Cứu Thế thì tốt hơn,
PHI 1:24 nhưng tôi sống trong thân xác lại là điều cần cho anh chị em.
PHI 1:25 Vì tôi biết chắc điều ấy nên tôi sẽ tiếp tục sống để giúp đỡ anh chị em lớn mạnh trong đời thiêng liêng và càng vui hơn trong đức tin của anh chị em.
PHI 1:26 Anh chị em sẽ có lý do kiêu hãnh về tôi trong Chúa Cứu Thế khi tôi thăm viếng anh chị em.
PHI 1:27 Anh chị em hãy sống thế nào cho xứng đáng với Tin Mừng của Chúa Cứu Thế để dù cho tôi đến thăm hay ở xa anh chị em tôi cũng vui vì nghe rằng anh chị em đứng vững vàng trong Chúa Cứu Thế, theo đuổi cùng một mục tiêu, chung nhau chiến đấu cho đức tin trong Tin Mừng,
PHI 1:28 và rằng anh chị em không sợ những người chống đối mình. Đó là bằng chứng cho thấy kẻ chống đối anh chị em sẽ bị tiêu diệt còn anh chị em sẽ được Thượng Đế cứu.
PHI 1:29 Vì anh chị em được vinh dự là không những tin Chúa Cứu Thế mà thôi, lại còn chịu khổ vì Ngài nữa.
PHI 1:30 Anh chị em đã tham dự vào những cuộc thử nghiệm mà tôi đã trải qua, và bây giờ anh chị em cũng vẫn nghe về những cuộc thử nghiệm ấy.
PHI 2:1 Vậy nếu trong anh chị em có sự giục giã nào của Chúa Cứu Thế, nếu có sự an ủi nào trong tình yêu, nếu có sự san sẻ nào của Thánh Linh, nếu có tình yêu mến và thông cảm nào giữa anh chị em
PHI 2:2 thì hãy làm cho tôi vui mừng hoàn toàn. Tôi xin anh chị em hãy đồng lòng, đồng tình yêu, đồng tư tưởng, đồng mục tiêu với nhau.
PHI 2:3 Đừng làm điều gì do lòng ích kỷ và tự phụ. Trái lại phải khiêm nhường, tôn trọng người khác hơn mình.
PHI 2:4 Đừng chỉ nghĩ đến ích lợi bản thân mà nên nghĩ đến lợi ích của người khác nữa.
PHI 2:5 Hãy có đồng tư tưởng như Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHI 2:6 Ngài vốn giống như Thượng Đế về mọi mặt, nhưng không xem sự bình đẳng mình với Thượng Đế là điều phải nắm giữ.
PHI 2:7 Trái lại, Ngài đã từ bỏ ngôi sang trọng để lấy hình dạng tôi tớ, sinh ra làm người.
PHI 2:8 Và khi làm con người, Ngài rất khiêm nhường, hoàn toàn vâng phục Thượng Đế cho đến chết, đến nỗi bằng lòng chết trên thập tự giá.
PHI 2:9 Vì thế nên Thượng Đế đã nâng Ngài lên địa vị cao tuyệt đỉnh, ban cho Ngài danh cao hơn hết mọi danh
PHI 2:10 để hễ khi nghe đến danh Chúa Giê-xu, thì mọi đầu gối đều quì xuống—mọi người trên trời, trên đất, dưới đất
PHI 2:11 và mọi lưỡi đều xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa để mang vinh hiển về cho Thượng Đế là Cha.
PHI 2:12 Cho nên anh chị em yêu dấu, anh chị em đã luôn luôn vâng theo lời Chúa khi tôi có mặt thì khi tôi vắng mặt anh chị em lại càng nên làm hơn nữa. Hãy cố gắng sống sao cho xứng đáng với ơn cứu rỗi của Chúa ban cho anh chị em trong tinh thần kính sợ Ngài hoàn toàn
PHI 2:13 vì Thượng Đế là Đấng đang hành động trong anh chị em sẽ cho anh chị em ước muốn và khả năng thực hiện điều đẹp lòng Ngài.
PHI 2:14 Làm việc gì cũng đừng nên phàn nàn và cãi vã
PHI 2:15 để anh chị em được trong sạch, làm con cái toàn thiện của Thượng Đế trong khi đang sống giữa thế hệ gian tà nầy. Hãy chiếu rọi như sao sáng giữa thế gian sa đọa
PHI 2:16 khi anh chị em đưa ra bài học sống cho họ, tôi sẽ hãnh diện về anh chị em khi Chúa Cứu Thế trở lại vì công khó của tôi không uổng phí. Tôi đã chạy đua và thắng cuộc.
PHI 2:17 Dù tôi phải lấy huyết mình mà rưới lên của lễ của anh chị em tôi cũng sẵn lòng và vui mừng với anh chị em.
PHI 2:18 Anh chị em cũng nên vui chung với tôi.
PHI 2:19 Tôi hi vọng rằng nhờ Chúa tôi sẽ sớm gởi Ti-mô-thê đến thăm anh chị em để tôi được giục giã khi nghe tin tức về anh chị em.
PHI 2:20 Tôi không có ai khác giống như Ti-mô-thê là người đồng tâm tình với tôi, luôn luôn thật lòng lo nghĩ đến anh chị em.
PHI 2:21 Những người khác chỉ lo lợi riêng mình, không lo đến lợi ích của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHI 2:22 Anh chị em đã biết tấm lòng của Ti-mô-thê ra sao rồi. Anh đã phục vụ chung với tôi trong công tác rao Tin Mừng, như con phục vụ cha.
PHI 2:23 Tôi mong sớm gởi Ti-mô-thê đến thăm anh chị em sau khi tôi biết rõ tình trạng của tôi.
PHI 2:24 Tôi tin rằng nhờ Chúa giúp tôi sẽ sớm đến thăm anh chị em.
PHI 2:25 Tôi cũng nghĩ cần sai Ép-ba-phô-đai đến cùng anh chị em. Anh ấy là anh em của tôi, bạn đồng công, và đồng chiến đấu, đại diện của anh chị em để lo cho tôi.
PHI 2:26 Tôi gởi anh về vì anh rất muốn gặp lại anh chị em. Anh rất lo vì anh chị em nghe tin anh bị đau.
PHI 2:27 Thật vậy, anh bị đau nặng gần chết nhưng Thượng Đế đã tỏ lòng nhân ái đối với anh và cả với tôi nữa để tôi khỏi phải buồn thêm.
PHI 2:28 Nên tôi sốt sắng mà gởi anh về cùng anh chị em để khi gặp lại, anh chị em sẽ vui mừng và tôi cũng sẽ khỏi phải lo lắng.
PHI 2:29 Hãy niềm nở tiếp đón anh trong Chúa. Hãy tôn trọng những người như thế.
PHI 2:30 Anh ta suýt thiệt mạng vì công việc Chúa. Chính anh đã liều mình giúp đỡ tôi trong khi anh chị em không làm gì được.
PHI 3:1 Tóm lại, anh chị em yêu dấu ơi, hãy vui mừng trong Chúa. Tôi không ngại mà nhắc lại điều nầy để anh chị em đề phòng.
PHI 3:2 Hãy coi chừng lũ chó, hãy coi chừng những người làm công gian ác, hãy coi chừng những kẻ cắt da thịt người khác.
PHI 3:3 Chúng ta là những người chịu phép cắt dương bì thật vì chúng ta thờ phụng Thượng Đế qua Thánh Linh và đặt niềm kiêu hãnh mình trong Chúa Cứu Thế. Chúng ta không ỷ lại theo bề ngoài
PHI 3:4 mặc dù về bề ngoài tôi có nhiều lý do tự hào lắm. Nếu ai cho rằng mình có lý do để tự hào bề ngoài thì tôi còn có nhiều lý do hơn họ nữa.
PHI 3:5 Tôi được cắt dương bì tám ngày sau khi ra đời. Tôi là người Ít-ra-en, thuộc chi tộc Bên-gia-min. Là người Hê-bơ-rơ, cha mẹ tôi cũng là người Hê-bơ-rơ. Nói về mặt luật pháp thì tôi thuộc phe Pha-ri-xi.
PHI 3:6 Nói về lòng nhiệt thành thì trước kia tôi là người gây khó dễ cho hội thánh. Còn về sự công bình theo luật pháp đòi hỏi thì không chỗ nào chê trách được.
PHI 3:7 Tuy nhiên, những điều truớc kia tôi cho là lợi thì bây giờ tôi xem như lỗ vì Chúa Cứu Thế.
PHI 3:8 Ngoài ra tôi xem mọi điều như lỗ khi so với điều tuyệt vời trong sự hiểu biết về Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa của tôi. Vì Ngài, tôi mất tất cả. Tôi xem mọi thứ như rơm rác để tôi có thể nhận Chúa Cứu Thế
PHI 3:9 và được liên kết cùng Ngài, không nhờ sự công bình của tôi theo luật pháp mà nhờ sự công bình có được do lòng tin trong Chúa Cứu Thế, tức công bình đến từ Thượng Đế qua đức tin.
PHI 3:10 Tôi muốn biết Chúa Cứu Thế và nhận được quyền năng đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết. Tôi cũng muốn san sẻ những khổ đau của Chúa Cứu Thế và trở nên giống như Ngài trong sự chết Ngài,
PHI 3:11 với hi vọng là tôi cũng sẽ được sống lại từ kẻ chết.
PHI 3:12 Tôi không nghĩ rằng mình đã đạt mục tiêu hay đến mức toàn thiện rồi đâu, nhưng tôi vẫn đang cố gắng theo đuổi để có thể chiếm được phần thưởng vì chính tôi đã bị Chúa Cứu Thế chiếm lấy rồi.
PHI 3:13 Thưa anh chị em, tôi không xem mình đã đạt được mục đích nhưng tôi quyết chí làm một điều: Quên đi quá khứ mà ráng tiến đến mục tiêu trước mặt.
PHI 3:14 Tôi nhắm mục tiêu để đoạt giải thưởng cao quí mà Thượng Đế đã gọi chúng ta trong Chúa Cứu Thế.
PHI 3:15 Ai trong chúng ta trưởng thành về mặt tâm linh nên có thái độ đó. Còn nếu anh chị em nghĩ khác thì Thượng Đế sẽ soi sáng anh chị em trong điều nầy.
PHI 3:16 Nhưng chúng ta hãy tiếp tục theo đuổi chân lý mà chúng ta đã nhận.
PHI 3:17 Thưa anh chị em, hãy noi gương tôi và để ý những người sống theo cách chúng tôi đã chỉ cho anh chị em.
PHI 3:18 Tôi đã từng nói cho anh chị em, bây giờ tôi khóc mà nói nữa rằng lắm người sống y như thù nghịch với thập tự giá của Chúa Cứu Thế.
PHI 3:19 Cuối cùng họ sẽ bị diệt. Họ lấy bụng mình làm Chúa mình, hãnh diện về những hành vi nhơ nhuốc, đầu óc chỉ nghĩ đến những việc thuộc về thế gian thôi.
PHI 3:20 Nhưng chúng ta là công dân trên trời, chúng ta đang trông mong Đấng Giải Cứu trở lại, Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHI 3:21 Ngài sẽ dùng quyền năng quản trị mọi loài mà biến hóa thân thể hèn mọn của chúng ta trở nên như thân thể vinh hiển của Ngài.
PHI 4:1 Anh chị em yêu dấu, là những người tôi rất yêu thương và mong gặp, là niềm vui và là mão triều của tôi. Hãy đứng vững vàng trong Chúa như tôi đã khuyên.
PHI 4:2 Tôi xin hai chị Êu-đia và Xinh-ty-chê hãy đồng tâm trong Chúa.
PHI 4:3 Đồng thời tôi cũng xin anh là bạn đồng lao của tôi giúp đỡ hai chị ấy, là những người đã từng chiến đấu với tôi trong việc rao Tin Mừng cùng với Cơ-lê-man và những bạn đồng công khác. Tên họ đã được ghi vào Sách Sự Sống rồi.
PHI 4:4 Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lặp lại lần nữa, hãy vui mừng đi!
PHI 4:5 Hãy cho mọi người thấy tính tình hòa nhã và nhân từ của anh chị em. Chúa sắp đến rồi.
PHI 4:6 Đừng lo âu gì hết nhưng trong mọi hoàn cảnh hãy dùng lời khẩn nguyện và tạ ơn mà trình những nhu cầu mình cho Thượng Đế
PHI 4:7 thì sự bình an của Ngài vượt quá mọi sự hiểu biết của loài người sẽ bảo vệ lòng và trí của anh chị em trong Chúa Giê-xu.
PHI 4:8 Tóm lại, thưa anh chị em, hãy nghĩ đến những gì tốt và đáng khen. Điều gì chân thật, vinh dự, phải lẽ, thanh sạch, tốt đẹp, và đáng trọng thì anh chị em nên nghĩ đến.
PHI 4:9 Hãy làm theo những gì anh chị em đã học, đã nhận, đã nghe, đã thấy tôi làm, thì Thượng Đế là nguồn gốc của sự bình an sẽ ở với anh chị em.
PHI 4:10 Tôi rất vui mừng trong Chúa vì một lần nữa anh chị em tỏ lòng chăm sóc tôi. Anh chị em đã lo tưởng đến tôi nhưng không có dịp để bày tỏ.
PHI 4:11 Tôi nói như vậy không phải vì tôi cần điều gì đâu. Tôi đã tập mãn nguyện trong mọi hoàn cảnh.
PHI 4:12 Tôi biết sống túng thiếu hay sung túc. Trong mọi hoàn cảnh và mọi lúc, tôi đã học bí quyết sống, khi no cũng như khi đói, khi dư dả cũng như khi thiếu thốn.
PHI 4:13 Tôi đối phó được với mọi hoàn cảnh là nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu thêm sức cho tôi.
PHI 4:14 Tuy nhiên anh chị em san sẻ những nỗi khó khăn của tôi thật quí hóa vô cùng.
PHI 4:15 Các anh chị em ở thành Phi-líp còn nhớ, khi tôi mới bắt đầu giảng Tin Mừng lần đầu tiên sau khi rời miền Ma-xê-đoan, không có hội thánh nào giúp đỡ tôi gì cả ngoài anh chị em.
PHI 4:16 Còn khi tôi ở thành Tê-sa-lô-ni-ca, nhiều lần anh chị em đã gởi đồ cần dùng cho tôi.
PHI 4:17 Thật ra không phải tôi mong nhận quà từ anh chị em đâu, nhưng tôi muốn anh chị em lớn lên và kết quả.
PHI 4:18 Bây giờ thì tôi có đủ mọi thứ cần dùng và còn dư nữa. Tôi đã đủ dùng vì Ép-ba-phô-đai đã mang quà của anh chị em đến cho tôi. Quà đó giống như của lễ có hương thơm dâng lên cho Thượng Đế, được Ngài vui nhận.
PHI 4:19 Thượng Đế của tôi sẽ dùng sự giàu có vinh hiển của Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu để đáp ứng mọi nhu cầu của anh chị em.
PHI 4:20 Nguyền vinh hiển thuộc về Thượng Đế và Cha chúng ta đời đời vô cùng! A-men.
PHI 4:21 Xin hãy chào các dân thánh trong Chúa Cứu Thế. Các anh em đang có mặt với tôi tại đây cũng chào thăm anh chị em.
PHI 4:22 Tất cả các dân thánh Chúa tại đây chào thăm anh chị em, nhất là những người thuộc hoàng gia Xê-xa.
PHI 4:23 Nguyền xin sự nhân từ và ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở với mỗi anh chị em.
COL 1:1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu theo ý muốn Thượng Đế, cùng với Ti-mô-thê, anh em chúng ta.
COL 1:2 Kính gởi các anh chị em tín hữu thánh trung thành trong Chúa Cứu Thế ở Cô-lô-se: Nguyền xin ân phúc và sự bình an của Thượng Đế, Cha chúng ta ở cùng anh chị em.
COL 1:3 Mỗi khi cầu nguyện chúng tôi luôn luôn tạ ơn Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta về anh chị em,
COL 1:4 vì chúng tôi nghe về đức tin anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu và tình yêu anh chị em dành cho các con dân Chúa.
COL 1:5 Đức tin và tình yêu mà anh chị em hiện có là vì hi vọng, một hi vọng đã dành sẵn cho anh chị em trên thiên đàng. Anh chị em học biết hi vọng đó khi nghe về lời của sự thật, tức Tin Mừng
COL 1:6 đã được rao giảng cho anh chị em. Ở mọi nơi trên thế giới Tin Mừng nầy đều mang đến ân phúc và lớn mạnh. Còn anh chị em cũng nhận được điều ấy vì anh chị em đã nghe Tin Mừng và hiểu biết sự thật về ân phúc của Thượng Đế.
COL 1:7 Anh chị em đã học biết ân phúc của Thượng Đế qua Ê-pháp-ra, anh em yêu dấu của chúng tôi. Anh đã làm việc chung với chúng tôi và là đầy tớ trung thành của Chúa Cứu Thế.
COL 1:8 Anh cũng đã thuật cho chúng tôi nghe tình yêu của anh chị em qua Thánh Linh.
COL 1:9 Vì thế, từ ngày chúng tôi nghe về anh chị em chúng tôi luôn luôn cầu nguyện cho anh chị em để anh chị em hoàn toàn hiểu biết ý muốn Thượng Đế. Chúng tôi cũng cầu xin cho anh chị em được khôn ngoan và hiểu biết những việc thiêng liêng
COL 1:10 để anh chị em sống một cuộc đời mang vinh hiển và làm vừa lòng Chúa về mọi mặt. Đời sống anh chị em cũng sẽ kết quả trong mọi việc phúc đức và lớn lên trong sự hiểu biết về Thượng Đế.
COL 1:11 Thượng Đế sẽ dùng quyền năng lớn lao của Ngài khiến anh chị em thêm vững mạnh để không bỏ cuộc khi gặp cảnh khổ nhưng trái lại nhẫn nhục.
COL 1:12 Anh chị em sẽ vui mừng tạ ơn Cha chúng ta là Đấng khiến anh em đồng dự phần thừa kế mà Ngài đã chuẩn bị cho dân Ngài trong nước sáng láng.
COL 1:13 Thượng Đế đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của tối tăm và đưa chúng ta vào nước của Con yêu dấu Ngài.
COL 1:14 Con Ngài đã trả thế cho tội lỗi chúng ta và trong Ngài chúng ta nhận được sự tha tội.
COL 1:15 Chưa có ai thấy Thượng Đế nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu là hình ảnh của Ngài. Chúa Cứu Thế cao trọng hơn tất cả các vật được tạo dựng.
COL 1:16 Qua quyền năng Ngài, muôn vật được thành hình: vật trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, mọi quyền năng, các vua chúa, các kẻ cầm quyền. Tất cả đều được tạo nên qua Chúa Cứu Thế và vì Chúa Cứu Thế.
COL 1:17 Ngài đã có trước mọi vật và mọi vật được tồn tại là vì Ngài.
COL 1:18 Ngài là đầu của thân thể, thân thể là hội thánh. Mọi vật đều từ Ngài mà ra. Ngài là người đầu tiên sống lại từ trong kẻ chết cho nên Chúa Cứu Thế đứng đầu mọi vật.
COL 1:19 Thượng Đế đã vui lòng sống trong Ngài.
COL 1:20 Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã mang mọi vật trở về với Ngài, vật trên trời và dưới đất mà Ngài đã giảng hòa qua huyết của sự chết Chúa Cứu Thế trên thập tự giá.
COL 1:21 Trước kia anh chị em bị phân cách khỏi Thượng Đế. Trong tư tưởng, anh chị em thù nghịch với Ngài và những việc ác anh chị em làm đều chống nghịch Ngài.
COL 1:22 Nhưng nay Thượng Đế đã khiến anh chị em trở nên bạn hữu Ngài qua sự chết của Chúa Cứu Thế. Do đó Ngài có thể đưa anh chị em vào trong sự hiện diện của Ngài để làm một dân thánh, không vết dơ, không điều gì khiến Thượng Đế có thể kết tội anh chị em được.
COL 1:23 Nếu anh chị em cứ vững mạnh trong đức tin thì anh chị em sẽ hưởng được mọi điều ấy. Anh chị em không nên ra khỏi hi vọng mà Tin Mừng đã mang đến cho anh chị em. Tin Mừng nầy được loan báo cho mọi người khắp nơi và tôi, Phao-lô là người giúp rao Tin Mừng ấy.
COL 1:24 Tôi vui mừng chịu khổ vì anh chị em. Chúa Cứu Thế còn phải chịu khổ vì thân thể Ngài, tức là Hội Thánh. Tôi vui lòng nhận phần chịu khổ của tôi trong thân thể.
COL 1:25 Tôi trở nên đầy tớ của hội thánh vì Thượng Đế đã giao cho tôi phần vụ đặc biệt để giúp đỡ anh chị em, phần việc đó là rao giảng toàn vẹn thông điệp của Thượng Đế.
COL 1:26 Thông điệp ấy là sự thật đã được giấu kín từ thuở tạo thiên lập địa nhưng nay đã được bày tỏ ra cho các con dân Thánh của Ngài.
COL 1:27 Thượng Đế muốn cho con dân Ngài biết về sự giàu có và điều kín giấu đầy vinh hiển nầy mà Ngài đã dành sẵn cho con dân Ngài. Điều kín giấu ấy là Chúa Cứu Thế sống trong anh chị em. Ngài là nguồn hi vọng về vinh hiển duy nhất của chúng ta.
COL 1:28 Cho nên, chúng tôi tiếp tục rao giảng Chúa Cứu Thế cho mọi người, dùng mọi sự khôn ngoan mà khuyên răn, dạy dỗ để đưa mọi người vào sự hiện diện của Thượng Đế và làm những người trưởng thành trong Chúa Cứu Thế.
COL 1:29 Muốn đạt mục tiêu ấy, tôi ra công phấn đấu, nhờ vào quyền năng lớn lao của Thượng Đế đang hoạt động mãnh liệt trong tôi.
COL 2:1 Tôi muốn anh chị em biết rằng tôi đang cố gắng hoạt động cho anh chị em, cho những người ở Lao-đi-xê và những người chưa hề gặp mặt tôi.
COL 2:2 Tôi muốn mọi người được vững mạnh và đoàn kết với nhau trong tình yêu để đầy lòng hiểu biết. Do đó họ sẽ hoàn toàn hiểu rõ điều kín giấu của Thượng Đế, là Chúa Cứu Thế.
COL 2:3 Trong Ngài mọi sự quí báu khôn ngoan và hiểu biết được cất giữ an toàn.
COL 2:4 Tôi nói những điều nầy cho anh chị em để không ai phỉnh dỗ anh chị em bằng những lời lẽ văn hoa nhưng thật ra là giả tạo.
COL 2:5 Thân tôi tuy cách xa anh chị em nhưng lòng không cách. Tôi rất vui mừng khi thấy đời sống đạo đức và đức tin vững mạnh của anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
COL 2:6 Vì anh chị em đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Chúa mình nên hãy cứ sống trong Ngài.
COL 2:7 Hãy đâm rễ sâu và xây dựng đời sống mình trong Chúa. Hãy vững mạnh trong đức tin theo như điều anh chị em đã được khuyên dạy, luôn luôn đầy lòng tạ ơn.
COL 2:8 Đừng để ai dẫn anh chị em đi theo con đường lầm lạc bằng những lời dạy dỗ rỗng tuếch của loài người, do các thần linh cai trị đời nầy đưa đến chứ không phải từ Chúa Cứu Thế.
COL 2:9 Tất cả những gì thuộc về Thượng Đế đều ngự trong Chúa Cứu Thế, dù cho khi Ngài đang sống trên đất,
COL 2:10 anh chị em đã có mọi điều mình cần trong Chúa Cứu Thế, Ngài là Vua các vua, Chúa các chúa.
COL 2:11 Đồng thời trong Ngài, anh chị em nhận được một phép cắt dương bì mới không phải do tay người. Qua phép cắt dương bì trong Chúa Cứu Thế Giê-xu tức sự chết của Ngài, anh chị em được giải thoát khỏi quyền lực của bản chất tội lỗi mình.
COL 2:12 Khi chịu lễ báp-têm, anh chị em đã được chôn với Chúa Cứu Thế Giê-xu và cũng đã được sống lại với Ngài qua đức tin, trong quyền năng của Thượng Đế, là quyền năng đã được bày tỏ khi Ngài khiến Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết.
COL 2:13 Trước kia, đang khi anh chị em chết về mặt tâm linh vì tội lỗi và nô lệ cho bản chất tội lỗi mình thì Thượng Đế đã làm cho anh chị em sống lại với Chúa Cứu Thế. Ngài cũng đã tha thứ mọi tội lỗi chúng ta.
COL 2:14 Ngài cũng đã xóa hết nợ, tức những qui tắc mà chúng ta đã vi phạm. Ngài lấy giấy nợ, đóng đinh nó vào thập tự giá.
COL 2:15 Thượng Đế cũng tước đoạt quyền thế của các kẻ cai trị phần tâm linh. Qua thập tự giá, Ngài đã đắc thắng và chứng tỏ cho thế gian thấy các quyền thế ấy bất lực.
COL 2:16 Cho nên, đừng để ai bắt anh chị em tuân theo qui luật về ăn uống, lễ đạo, ngày Trăng Mới hay ngày Sa-bát.
COL 2:17 Những điều đó chỉ là hình bóng của những điều sẽ đến nhưng thực chất đã đến rồi và ở trong Chúa Cứu Thế.
COL 2:18 Đừng để ai chê trách anh chị em bằng cách bắt anh chị em hạ mình thờ lạy các thiên sứ. Những người đó đi tìm ảo ảnh, trong lòng đầy tính kiêu căng khờ dại vì chỉ suy nghĩ theo kiểu loài người mà thôi.
COL 2:19 Họ không kết hợp với cái đầu là Chúa Cứu Thế, từ Ngài mà các phần trong thân lo chăm sóc nhau và kết hợp với nhau để lớn lên theo cách mà Thượng Đế đã xếp đặt.
COL 2:20 Nếu anh chị em đã chết với Chúa Cứu Thế và được giải thoát khỏi các thần linh thống trị thế gian thì tại sao anh chị em lại sống như thể mình còn thuộc về thế gian bằng cách vâng giữ những qui tắc như:
COL 2:21 “Không nên ăn cái nầy,” “Không nên nếm món kia,” “Đừng đụng đến thứ nọ”?
COL 2:22 Những qui tắc ấy dành cho những vật thuộc thế gian, hễ dùng xong là vô dụng. Đó là những qui tắc do loài người đặt ra và dạy dỗ thôi,
COL 2:23 mới xem qua thì thấy như khôn ngoan nhưng thật ra chỉ là một phần của đạo giáo loài người. Những qui tắc ấy có vẻ như dễ dãi, bắt người ta ép xác nhưng thật ra không thể chế ngự được dục vọng xấu xa của con người tội lỗi.
COL 3:1 Vì anh chị em đã được sống lại với Chúa Cứu Thế, cho nên hãy hướng trông về Thiên đàng, nơi Chúa Cứu Thế ngồi bên phải Thượng Đế.
COL 3:2 Hãy suy nghĩ đến những việc trên trời, đừng suy nghĩ những việc thuộc về đất.
COL 3:3 Con người cũ tội lỗi của anh chị em đã chết, sự sống mới của anh chị em nay đã được giấu với Chúa Cứu Thế trong Thượng Đế.
COL 3:4 Chúa Cứu Thế là sự sống của chúng ta, và khi Ngài trở lại, chúng ta cũng sẽ dự phần với Ngài trong vinh hiển.
COL 3:5 Cho nên, hãy cất bỏ những điều ác ra khỏi đời sống anh chị em, như tội nhục dục, hành vi gian ác, các tư tưởng xấu xa đang quản trị mình, ham muốn những điều sai quấy và tính tham lam. Những việc ấy chẳng khác nào các thần giả mà anh chị em đang phục vụ
COL 3:6 và cũng là những điều khiến Thượng Đế nổi giận cùng những kẻ không vâng lời.
COL 3:7 Trong nếp sống cũ và độc ác trước kia anh chị em đã ăn ở như thế.
COL 3:8 Nhưng nay hãy cất bỏ những điều sau đây ra khỏi đời sống anh chị em: giận dữ, nóng nảy, hành động hoặc lời nói làm tổn thương người khác và phát ngôn bậy bạ.
COL 3:9 Đừng nói dối nhau. Anh chị em đã từ bỏ nếp sống cùng những hành vi xấu xa cũ
COL 3:10 để bắt đầu cuộc sống mới, một cuộc sống đã được tái tạo theo hình ảnh Đấng đã dựng nên anh chị em. Cuộc sống mới đó giúp anh chị em hiểu biết sâu xa thêm về Thượng Đế và trở nên giống như Ngài.
COL 3:11 Trong cuộc sống mới nầy không còn phân chia người Hi-lạp hay Do-thái, người chịu phép cắt dương bì hay không chịu cắt dương bì, người văn minh hay dã man, người nô lệ hay tự do gì cả. Chúa Cứu Thế ngự trong tất cả các tín hữu, và chỉ có Chúa Cứu Thế mới quan trọng thôi.
COL 3:12 Thượng Đế đã chọn anh chị em làm dân Thánh của Ngài. Ngài yêu thương anh chị em cho nên hãy tỏ lòng nhân ái đối với người khác, luôn luôn tử tế, khiêm nhường, hòa nhã và kiên nhẫn.
COL 3:13 Hãy ăn ở hòa thuận với nhau và khoan dung tha thứ nhau. Nếu có ai làm tổn thương mình điều gì thì hãy tha thứ cho họ vì Chúa đã tha thứ anh chị em.
COL 3:14 Hãy sống như thế nhưng trên hết hãy yêu thương nhau. Tình yêu thương ràng buộc anh chị em với nhau trong tình đoàn kết trọn vẹn.
COL 3:15 Hãy để sự bình an của Chúa quản trị tâm tư ý tưởng anh chị em. Ngài đã chọn chúng ta làm một thân trong tinh thần hòa bình, hãy luôn luôn tạ ơn.
COL 3:16 Hãy để lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế sống đầy dẫy trong lòng anh chị em. Hãy dùng mọi khôn ngoan để dạy dỗ khuyên lơn nhau qua thi thiên, thánh ca, bài hát thiêng liêng với lòng tạ ơn mà dâng lên Thượng Đế.
COL 3:17 Mọi điều anh chị em nói hay làm hãy vì Giê-xu, Chúa chúng ta. Việc gì anh chị em làm hãy tạ ơn Thượng Đế, Cha chúng ta trong Chúa Giê-xu.
COL 3:18 Người làm vợ, hãy vâng phục quyền hành của chồng vì đó là điều phải trước mặt Chúa.
COL 3:19 Người làm chồng, hãy yêu thương và đối xử dịu dàng với vợ.
COL 3:20 Con cái, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi việc vì điều ấy vừa lòng Chúa.
COL 3:21 Bậc làm cha, không nên cau có với con cái mình vì nếu anh em quá khó tính, chúng nó sẽ bỏ cuộc.
COL 3:22 Kẻ làm tôi tớ, hãy vâng phục chủ mình trong mọi việc. Đừng giả bộ vâng phục trước mặt để chủ vừa lòng nhưng phải phục vụ một cách lương thiện vì anh chị em kính sợ Chúa.
COL 3:23 Làm việc gì cũng phải hết lòng như làm cho Chúa chứ không phải làm cho người.
COL 3:24 Nên nhớ rằng anh chị em sẽ nhận phần thưởng từ nơi Chúa mà Ngài đã hứa cho dân Ngài. Chính anh chị em đang phục vụ Chúa Cứu Thế,
COL 3:25 phải nhớ rằng người nào phạm tội sẽ bị trừng phạt về tội của mình vì Chúa đối xử mọi người như nhau.
COL 4:1 Người làm chủ, hãy đối xử tốt và công bằng đối với kẻ tôi tớ mình vì nên nhớ rằng anh chị em cũng có một chủ chung trên trời.
COL 4:2 Hãy siêng năng cầu nguyện, hãy sáng suốt, luôn luôn tạ ơn Thượng Đế.
COL 4:3 Cũng nhớ cầu nguyện để Thượng Đế cho chúng tôi cơ hội rao giảng lời của Ngài. Hãy khẩn xin cho chúng tôi có thể rao giảng điều kín giấu mà Thượng Đế đã bày tỏ về Chúa Cứu Thế. Cũng vì lý do ấy mà tôi đang bị tù tội.
COL 4:4 Hãy cầu nguyện để tôi có thể giảng dạy rõ ràng.
COL 4:5 Phải khôn ngoan khi đối xử với mọi người không tin, hãy tận dụng mọi cơ hội.
COL 4:6 Khi nói chuyện hãy tỏ ra nhân từ, hòa nhã để anh chị em biết cách đối đáp với mọi người.
COL 4:7 Ti-chi-cơ là anh em yêu dấu của tôi trong Chúa Cứu Thế và là một người giúp đỡ đắc lực với tôi trong Chúa, anh sẽ thuật cho anh chị em biết tin tức về tôi.
COL 4:8 Vì thế mà tôi sai anh đến để anh chị em biết tin về chúng tôi và cũng để khích lệ anh chị em.
COL 4:9 Cùng đi với anh có Ô-nê-xim, một anh em yêu dấu và trung tín trong Chúa Cứu Thế. Anh cũng thuộc đoàn của chúng tôi, cả hai người sẽ thuật cho anh chị em biết tin tức ở đây.
COL 4:10 A-ri-tạc, bạn tù với tôi và Mác, bà con với Ba-na-ba, chào thăm anh chị em. Tôi đã cho anh chị em biết phải đối với Mác ra sao, nếu anh đến hãy niềm nở đón tiếp.
COL 4:11 Giê-xu, còn gọi là Giúc-tu cũng chào thăm anh chị em. Đó là những tín hữu Do-thái cùng cộng tác với tôi cho nước Thiên đàng. Họ là nguồn an ủi lớn cho tôi.
COL 4:12 Ê-pháp-ra, một đầy tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu thuộc nhóm chúng tôi cũng gởi lời chào thăm anh chị em. Anh luôn luôn cầu nguyện để anh chị em được trưởng thành về mặt thiêng liêng và có đầy đủ mọi điều theo ý muốn Thượng Đế.
COL 4:13 Tôi biết anh đã khó nhọc lo cho anh chị em cùng các anh chị em ở Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-phô.
COL 4:14 Đê-ma và Lu-ca, bác sĩ yêu dấu chào thăm anh chị em.
COL 4:15 Chuyển lời tôi chào anh chị em ở Lao-đi-xê, cũng chuyển lời tôi chào thăm chị Nim-pha và Hội thánh đang họp tại nhà chị.
COL 4:16 Sau khi đọc thư nầy xong, xin chuyển cho hội thánh Lao-đi-xê cùng đọc, đồng thời anh chị em cũng nhớ đọc thư tôi gởi cho hội thánh Lao-đi-xê nữa.
COL 4:17 Xin nhắn với A-chíp rằng: “Hãy hoàn tất công tác Chúa giao cho.”
COL 4:18 Tôi, Phao-lô, chào thăm anh chị em. Chính tay tôi viết thư nầy. Xin nhớ đến tôi đang bị tù tội. Nguyền xin ân phúc ở cùng anh chị em.
1TH 1:1 Phao-lô, Xi-la và Ti-mô-thê, kính gởi hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca là hội thánh của Thượng Đế, Cha chúng ta, và của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nguyền xin ân phúc và bình an ở cùng anh chị em.
1TH 1:2 Tôi luôn luôn vì anh chị em mà cảm tạ Thượng Đế và thường nhắc đến anh chị em mỗi khi cầu nguyện.
1TH 1:3 Chúng tôi luôn luôn nhớ đến anh chị em mỗi khi chúng tôi đến cùng Thượng Đế, Cha chúng ta, về những việc làm do đức tin và tình yêu thương của anh chị em đã chứng tỏ bằng việc làm. Chúng tôi cũng tạ ơn Ngài vì anh chị em luôn vững mạnh trong hi vọng nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta.
1TH 1:4 Thưa anh chị em, chúng tôi biết Thượng Đế yêu thương anh chị em nên Ngài đã chọn lựa anh chị em.
1TH 1:5 Vì Tin Mừng mà chúng tôi mang đến cho anh chị em không những bằng lời nói mà còn bằng năng lực cùng với Thánh Linh và niềm tin chắc rằng đó là Tin Mừng thật. Anh chị em cũng biết chúng tôi đã sống giữa anh chị em như thế nào để giúp đỡ anh chị em.
1TH 1:6 Anh chị em giống như chúng tôi, đồng thời cũng giống như Chúa. Anh chị em đã chịu khổ nhiều nhưng vẫn chấp nhận lời dạy dỗ với niềm vui mừng do Thánh Linh mang đến.
1TH 1:7 Vì thế anh chị em đã nêu gương sáng cho các tín hữu ở Ma-xê-đoan và miền Nam Hi-lạp.
1TH 1:8 Và lời dạy dỗ của Chúa từ anh chị em không những đã truyền ra khắp miền Ma-xê-đoan và miền Nam Hi-lạp mà đức tin của anh chị em cũng đã vang ra khắp nơi cho nên chúng tôi không cần phải nói thêm gì nữa.
1TH 1:9 Ở mọi nơi ai nấy đều khen ngợi cách anh chị em tiếp đãi khi chúng tôi đến. Họ cũng nói đến việc anh chị em từ bỏ sự thờ cúng thần tượng và trở về phục vụ Chúa chân thật và hằng sống.
1TH 1:10 Anh chị em cũng chờ đợi Con Thượng Đế, Đấng mà Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết và sẽ từ thiên đàng trở lại. Ngài là Giê-xu, Đấng cứu chúng ta khỏi cơn trừng phạt giận dữ của Thượng Đế chắc chắn sẽ đến.
1TH 2:1 Thưa anh chị em, anh chị em biết rằng cuộc viếng thăm anh chị em của chúng tôi không phải là thất bại.
1TH 2:2 Trước khi đến thăm anh chị em, chúng tôi đã phải chịu khổ nhiều ở thành Phi-líp. Như anh chị em biết, nhiều người phỉ nhổ và chống đối chúng tôi. Nhưng Thượng Đế giúp chúng tôi can đảm vững lòng rao truyền Tin Mừng cho anh chị em.
1TH 2:3 Khi kêu gọi anh chị em, không phải chúng tôi muốn lừa dối, mưu mô hoặc gạt gẫm anh chị em.
1TH 2:4 Nhưng chúng tôi giảng Tin Mừng vì chúng tôi đã được Thượng Đế thử nghiệm và giao cho nhiệm vụ ấy. Khi rao giảng, chúng tôi không tìm cách làm vừa lòng người mà vừa lòng Thượng Đế là Đấng thử nghiệm lòng chúng tôi.
1TH 2:5 Anh chị em biết rằng chúng tôi không tìm cách khuyến dụ anh chị em bằng những lời ca tụng. Chúng tôi cũng không tìm cách lạc quyên tiền bạc của anh chị em vì chúng tôi không hề có động lực ích kỷ nào phải dấu giếm. Thượng Đế biết rằng lời chúng tôi nói đây là thật.
1TH 2:6 Chúng tôi không tìm lời ca ngợi của loài người, dù của anh chị em hay của bất cứ ai khác.
1TH 2:7 Dù rằng với tư cách là sứ đồ của Chúa Cứu Thế chúng tôi có thể dùng quyền của mình đối với anh chị em nhưng chúng tôi đã tỏ ra rất mềm mại như mẹ lo cho con mình vậy.
1TH 2:8 Vì quá yêu mến anh chị em nên chúng tôi vui mừng san sẻ không những Tin Mừng của Thượng Đế mà còn san sẻ chính mình chúng tôi nữa. Anh chị em đã trở nên thân thiết với chúng tôi.
1TH 2:9 Thưa anh chị em, chắc anh chị em còn nhớ công khó của chúng tôi. Trong khi rao giảng Tin Mừng của Thượng Đế cho anh chị em chúng tôi làm lụng ngày đêm để khỏi trở thành gánh nặng cho anh chị em.
1TH 2:10 Còn khi ở giữa anh chị em, chúng tôi sống một cuộc đời thánh thiện, không thể chê trách được. Anh chị em biết điều đó và Thượng Đế cũng biết như thế.
1TH 2:11 Anh chị em biết rằng chúng tôi đối với anh chị em như cha đối với con.
1TH 2:12 Chúng tôi khuyến khích, giục giã và nài xin mỗi người trong anh chị em hãy sống một cuộc đời tốt đẹp cho Thượng Đế là Đấng gọi anh chị em vào nước vinh hiển của Ngài.
1TH 2:13 Ngoài ra, chúng tôi cũng luôn luôn tạ ơn Thượng Đế vì khi nghe lời của Ngài từ chúng tôi, anh chị em đã tiếp nhận như là lời của Thượng Đế chứ không phải của loài người. Thật thế, đó là thông điệp của Thượng Đế hành động trong anh chị em là những người tin.
1TH 2:14 Thưa anh chị em, kinh nghiệm của anh chị em cũng giống như của các hội thánh Chúa Cứu Thế tại miền Giu-đia. Anh chị em chịu khổ vì đồng bào mình cũng như họ đã chịu khổ trong tay người Do-thái
1TH 2:15 là những kẻ đã giết Chúa Giê-xu cùng các tiên tri và cũng chính họ săn đuổi chúng tôi ra khỏi nước. Hành động của họ khiến Thượng Đế bất bình. Họ chống nghịch tất cả mọi người.
1TH 2:16 Họ tìm cách ngăn cản không cho chúng tôi giảng dạy những người không phải Do-thái để những người ấy được cứu. Hành động của họ đã gia tăng tội lỗi của họ lên quá mức. Sau cùng cơn giận của Thượng Đế đã giáng trên họ.
1TH 2:17 Thưa anh chị em, thân chúng tôi tuy xa cách anh chị em nhưng lòng không cách. Chúng tôi rất muốn thăm anh chị em và cố gắng đến.
1TH 2:18 Thật vậy, chúng tôi muốn đến thăm anh chị em. Chính tôi, Phao-lô, đã hơn một lần cố gắng đến thăm anh chị em nhưng bị Sa-tăng ngăn trở.
1TH 2:19 Anh chị em là hi vọng, niềm vui và mão triều mà chúng tôi rất hãnh diện khi Chúa Cứu Thế trở lại.
1TH 2:20 Thật vậy, anh chị em là vinh hiển và niềm vui của chúng tôi.
1TH 3:1 Khi không thể chờ đợi được nữa thì chúng tôi quyết định nên ở lại A-thên một mình
1TH 3:2 và gởi Ti-mô-thê đến với anh chị em. Ti-mô-thê, anh em chúng tôi cùng hầu việc Chúa chung và giúp chúng tôi rao tin Mừng về Chúa Cứu Thế. Chúng tôi sai anh đi để khích lệ và làm vững mạnh đức tin của anh chị em
1TH 3:3 để không một ai trong anh chị em nản lòng vì những cảnh khó khăn ấy. Anh chị em biết rằng chúng ta phải đương đầu với những khó khăn.
1TH 3:4 Ngay khi còn ở với anh chị em, chúng tôi thường nói rằng tất cả chúng ta sẽ phải chịu khổ và như anh chị em thấy, cảnh khổ ấy đã xảy ra rồi.
1TH 3:5 Vì thế, khi không chờ đợi được nữa, tôi sai Ti-mô-thê đi thăm cho biết đức tin anh chị em. Vì tôi sợ rằng ma quỉ đã cám dỗ anh chị em khiến cho công khó của chúng tôi hóa ra vô ích.
1TH 3:6 Nhưng Ti-mô-thê mới trở về thuật lại tin vui về đức tin và lòng yêu thương của anh chị em. Anh kể rằng anh chị em luôn luôn nhớ đến chúng tôi và rất mong gặp chúng tôi cũng như chúng tôi mong gặp anh chị em.
1TH 3:7 Cho nên, thưa anh chị em, mặc dù đang gặp khốn khó và lao khổ nhưng chúng tôi được khích lệ vì đức tin của anh chị em.
1TH 3:8 Đời sống chúng tôi xem như toàn vẹn nếu anh chị em đứng vững trong Chúa.
1TH 3:9 Chúng tôi có lý do vui mừng trong Chúa vì anh chị em. Chúng tôi không biết lấy lời gì để tạ ơn Ngài về niềm vui trong lòng chúng tôi.
1TH 3:10 Chúng tôi ngày đêm hết lòng cầu nguyện để có thể viếng thăm anh chị em lần nữa đặng giúp anh chị em vững mạnh trong đức tin.
1TH 3:11 Hiện nay chúng tôi cầu xin Thượng Đế, là Cha và Chúa Giê-xu chúng ta, để Ngài mở đường cho chúng tôi có thể viếng thăm anh chị em.
1TH 3:12 Nguyện Chúa giúp tình yêu anh chị em thêm lớn mạnh, càng yêu thương lẫn nhau và yêu thương mọi người như chúng tôi yêu thương anh chị em.
1TH 3:13 Nguyện xin lòng anh chị em được vững mạnh để anh chị em trở nên thánh khiết toàn vẹn trước mặt Thượng Đế là Cha khi Chúa Cứu Thế chúng ta trở lại cùng với các con dân thánh của Ngài.
1TH 4:1 Thưa anh chị em, chúng tôi đã khuyên bảo anh chị em phải sống thế nào để đẹp lòng Thượng Đế và anh chị em hiện đang sống như thế. Trong Chúa Giê-xu chúng tôi khuyên anh chị em nên sống đẹp lòng Ngài hơn nữa.
1TH 4:2 Anh chị em biết những gì chúng tôi dặn bảo anh chị em là nhân danh thẩm quyền của Chúa Giê-xu.
1TH 4:3 Thượng Đế muốn anh chị em thánh hóa và tránh tội nhục dục.
1TH 4:4 Ngài muốn mỗi người trong anh chị em biết tự kìm hãm thân thể mình trong đường lối thánh khiết và đáng trọng.
1TH 4:5 Đừng dùng thân thể mình cho tội nhục dục như những kẻ không biết Thượng Đế.
1TH 4:6 Ngoài ra, không nên làm hại hoặc lường gạt anh em tín hữu khác theo lối ấy. Chúa sẽ trừng phạt những kẻ hành động như thế, như tôi đã thường răn bảo anh chị em.
1TH 4:7 Thượng Đế đã gọi chúng ta để được thánh hóa. Ngài không muốn chúng ta sống trong tội lỗi.
1TH 4:8 Cho nên ai không vâng theo lời dạy dỗ nầy tức không vâng phục Thượng Đế chứ chẳng phải không vâng lời dạy của loài người. Thượng Đế là Đấng ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta.
1TH 4:9 Chúng tôi không cần viết cho anh chị em về vấn đề yêu thương gia đình con cái Chúa vì Thượng Đế đã dạy anh chị em phải yêu thương nhau.
1TH 4:10 Và anh chị em đã yêu thương các tín hữu thuộc khắp miền Ma-xê-đoan. Anh chị em yêu dấu, tôi khuyên anh chị em phải yêu thương họ hơn nữa.
1TH 4:11 Hãy cố gắng sống trong hòa bình. Lo chuyện mình và tự mình kiếm sống theo như chúng tôi đã dặn bảo anh chị em.
1TH 4:12 Làm như thế thì những người không phải tín hữu sẽ kính nể anh chị em và anh chị em sẽ không phải sống lệ thuộc vào người khác.
1TH 4:13 Thưa anh chị em, chúng tôi muốn anh chị em biết về các tín hữu đã qua đời để anh chị em không quá buồn rầu như những người không có niềm hi vọng.
1TH 4:14 Chúng ta biết Chúa Giê-xu đã chết và sống lại. Cho nên vì Ngài, Thượng Đế cũng sẽ khiến những người trong Chúa Giê-xu đã qua đời được sống lại.
1TH 4:15 Điều chúng tôi sắp nói với anh chị em đây là lời của chính Chúa. Chúng ta là những người còn sống khi Chúa trở lại sẽ không đi trước những người đã chết.
1TH 4:16 Sẽ có tiếng kêu lớn khi Chúa từ thiên đàng trở lại, cùng với tiếng thiên sứ trưởng và tiếng kèn vang dội của Thượng Đế. Lúc ấy những tín hữu đã qua đời sẽ sống lại trước hết.
1TH 4:17 Sau đó, chúng ta, là những người còn sống, sẽ được tiếp lên cùng với họ trong đám mây để gặp Chúa giữa không trung. Rồi chúng ta sẽ ở với Chúa mãi mãi.
1TH 4:18 Cho nên hãy dùng những điều nầy mà khích lệ nhau.
1TH 5:1 Thưa các anh chị em, hiện chúng tôi không cần viết cho anh chị em biết về ngày và giờ.
1TH 5:2 Anh chị em biết là ngày Chúa đến bất thần như kẻ trộm lúc ban đêm.
1TH 5:3 Trong khi người ta tuyên bố, “Chúng ta đang hưởng hòa bình và an ninh,” thì họ bị tiêu diệt nhanh chóng. Giống như đàn bà đang đau đẻ, họ không thoát được đâu.
1TH 5:4 Nhưng anh chị em không nên sống trong bóng tối để ngày ấy bất chợt đến với anh chị em như kẻ trộm.
1TH 5:5 Anh chị em là những người thuộc về ánh sáng và ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm hay bóng tối.
1TH 5:6 Chúng ta không nên ngủ mê như kẻ khác mà phải sáng suốt và tiết độ.
1TH 5:7 Ai ngủ thì ngủ ban đêm, say thì say ban đêm.
1TH 5:8 Còn chúng ta thuộc ban ngày nên phải tiết độ. Chúng ta hãy lấy đức tin và tình yêu thương mà tự vệ. Đội mũ sắt bằng hi vọng về sự cứu rỗi chúng ta.
1TH 5:9 Thượng Đế không định cho chúng ta gánh chịu cơn giận của Ngài mà cho chúng ta nhận được sự cứu rỗi qua Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta.
1TH 5:10 Ngài chịu chết vì chúng ta để chúng ta có thể cùng sống với Ngài dù chúng ta còn sống hay qua đời lúc Ngài trở lại.
1TH 5:11 Cho nên hãy khích lệ và nâng đỡ nhau như anh chị em hiện đang làm.
1TH 5:12 Thưa anh chị em, chúng tôi xin anh chị em hãy biết ơn những người có công khó giữa vòng mình là những người hướng dẫn trong Chúa và dạy dỗ anh chị em.
1TH 5:13 Hãy tôn trọng họ bằng một tình yêu đặc biệt vì công tác họ làm. Hãy sống hòa thuận với mọi người.
1TH 5:14 Hãy cảnh cáo những kẻ không chịu làm việc. Hãy khuyến khích những kẻ sợ sệt, giúp đỡ kẻ yếu đuối, kiên nhẫn với mọi người.
1TH 5:15 Đừng ai lấy ác trả ác nhưng bao giờ cũng cư xử tốt với nhau và với tất cả mọi người.
1TH 5:16 Hãy vui mừng luôn luôn,
1TH 5:17 thường xuyên khẩn nguyện.
1TH 5:18 Dù trong hoàn cảnh nào cũng hãy dâng lời tạ ơn. Đó là ý muốn của Thượng Đế đối với anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1TH 5:19 Đừng cản trở công tác của Thánh Linh.
1TH 5:20 Chớ xem thường các lời tiên tri
1TH 5:21 nhưng hãy trắc nghiệm mọi điều. Điều gì tốt thì giữ lấy,
1TH 5:22 còn điều ác thì hãy tránh xa.
1TH 5:23 Nguyền Thượng Đế, Chúa của hòa bình, khiến anh chị em trở nên thánh sạch để thuộc về một mình Ngài. Nguyện toàn thể con người anh chị em từ tinh thần, linh hồn đến thể xác đều được bình an, không chỗ chê trách khi Chúa Cứu Thế Giê-xu của chúng ta trở lại.
1TH 5:24 Anh chị em có thể tin cậy Đấng đã kêu gọi mình vì Ngài làm được mọi điều ấy.
1TH 5:25 Thưa anh chị em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi.
1TH 5:26 Hãy lấy cái hôn thánh chào nhau.
1TH 5:27 Nhân danh thẩm quyền của Chúa, tôi xin anh chị em đọc thư nầy cho tất cả các tín hữu.
1TH 5:28 Nguyền xin ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở với anh chị em.
2TH 1:1 Phao-lô, Xi-la và Ti-mô-thê, kính gởi hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca trong Thượng Đế, Cha chúng ta và trong Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta.
2TH 1:2 Nguyền xin ân phúc và sự bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta, ở với anh chị em.
2TH 1:3 Chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thượng Đế về anh chị em vì đức tin anh chị em càng ngày càng vững mạnh, đồng thời tình yêu anh chị em dành cho nhau càng ngày càng gia tăng.
2TH 1:4 Chúng tôi thường khoe về anh chị em với các hội thánh khác của Thượng Đế. Chúng tôi thuật cho họ biết anh chị em mạnh mẽ và vững niềm tin mặc dù hiện thời đang bị ngược đãi và chịu nhiều cảnh khổ đau.
2TH 1:5 Đây là bằng chứng Thượng Đế rất công bằng khi xét xử. Ngài muốn anh chị em xứng đáng cho nước Ngài vì thế mà anh chị em đang chịu khổ.
2TH 1:6 Thượng Đế rất công bằng. Ngài sẽ làm khổ những kẻ đã làm khổ anh chị em.
2TH 1:7 Ngài sẽ ban sự bình an cho anh chị em là những người đang chịu khổ và cho chúng tôi khi Chúa Giê-xu hiện ra trong đám lửa hừng từ thiên đàng cùng với đoàn thiên sứ hùng hậu của Ngài.
2TH 1:8 Lúc ấy Ngài sẽ trừng phạt những kẻ không biết Thượng Đế và chống nghịch Tin Mừng về Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TH 1:9 Họ sẽ bị hình phạt đời đời tức là bị phân cách khỏi Chúa cũng như khỏi quyền năng vinh hiển của Ngài.
2TH 1:10 Việc đó sẽ xảy ra trong ngày Chúa Giê-xu hiện đến để nhận vinh hiển cùng với con dân thánh của Ngài. Và những người tin sẽ kinh ngạc về Chúa Giê-xu. Anh chị em cũng thuộc nhóm người ấy vì anh chị em tin điều chúng tôi nói.
2TH 1:11 Vì thế mà chúng tôi luôn luôn cầu nguyện để Thượng Đế chúng ta giúp anh chị em sống xứng đáng với nếp sống mà Ngài đã gọi anh chị em. Chúng tôi nguyện rằng với quyền năng Ngài, Thượng Đế sẽ giúp anh chị em hoàn thành những việc phúc đức mà anh chị em muốn làm và thực hiện những kết quả phát xuất do đức tin anh chị em.
2TH 1:12 Chúng tôi cầu xin danh Chúa Giê-xu sẽ được hiển vinh trong anh chị em và anh chị em cũng được vinh hiển trong Ngài. Vinh hiển ấy do ân phúc của Thượng Đế và của Chúa Cứu Thế chúng ta.
2TH 2:1 Thưa anh chị em, chúng tôi muốn nói qua về sự hiện đến của Chúa Giê-xu chúng ta và lúc mà chúng ta sẽ gặp gỡ Ngài.
2TH 2:2 Đừng quá sốt ruột và lo âu trong lòng khi nghe nói rằng ngày của Chúa đã đến rồi. Có kẻ dám tuyên bố như thế, bảo đó là lời tiên tri, lời giảng hoặc thư từ như thể là do chúng tôi viết.
2TH 2:3 Đừng để ai phỉnh gạt anh chị em điều gì. Ngày của Chúa chưa đến cho tới khi có sự chối bỏ Thượng Đế xảy ra và Con Người Tội Ác, trên con đường xuống hỏa ngục, xuất hiện.
2TH 2:4 Hắn sẽ chống nghịch và tự tôn mình lên trên những gì được gọi là thần hoặc những gì được người ta tôn thờ. Con Người Tội Ác ấy sẽ dám đi vào đền thờ Thượng Đế và xưng mình là Trời.
2TH 2:5 Lúc còn ở với anh chị em, tôi thường nhắc rằng những chuyện ấy sẽ đến. Anh chị em quên rồi sao?
2TH 2:6 Nay anh chị em biết điều gì ngăn trở Con Người Tội Ác ấy để cho nó chỉ xuất hiện đúng kỳ mà thôi.
2TH 2:7 Quyền lực gian ác bí mật đã hành động trong thế gian nhưng có một Đấng ngăn chận quyền lực ấy. Ngài sẽ tiếp tục ngăn chận đến khi Ngài bị cất đi.
2TH 2:8 Lúc đó Con Người Tội Ác sẽ xuất hiện nhưng Chúa Giê-xu sẽ giết nó bằng hơi của miệng Ngài. Ngài sẽ diệt nó bằng vinh quang của sự hiện đến của Ngài.
2TH 2:9 Con Người Tội Ác sẽ đến trong quyền lực Sa-tăng. Nó sẽ có quyền lực lớn lao và làm được nhiều phép lạ giả cùng các dấu kỳ để lường gạt người ta.
2TH 2:10 Nó sẽ dùng mọi mưu chước gian ác để phỉnh gạt những kẻ đang trên đường bị chết mất vì họ không thích sự thật. Nếu họ thích sự thật thì họ chắc chắn đã được cứu.
2TH 2:11 Vì thế Thượng Đế sẽ sai đến một quyền lực khiến những kẻ lầm lạc rời xa sự thật để họ tin theo sự dối trá.
2TH 2:12 Cho nên kẻ bị kết tội là những ai không tin sự thật, mà chỉ thích làm ác.
2TH 2:13 Thưa anh chị em yêu dấu của Chúa, Thượng Đế đã chọn lựa anh chị em từ đầu để nhận ơn cứu rỗi. Do đó chúng tôi luôn luôn tạ ơn Thượng Đế vì anh chị em. Anh chị em được cứu do Thánh Linh, Đấng thánh hóa anh chị em và cũng do lòng tin vào sự thật của anh chị em.
2TH 2:14 Thượng Đế đã dùng Tin Mừng do chúng tôi rao giảng cứu anh chị em để anh chị em được dự phần trong vinh hiển của Chúa Cứu Thế chúng ta.
2TH 2:15 Cho nên xin anh chị em hãy vững tin vào những điều chúng tôi giảng dạy và qua thư từ.
2TH 2:16 Nguyền xin chính Chúa Giê-xu Cứu Thế và Thượng Đế Cha chúng ta thúc giục và thêm sức cho anh chị em trong mọi điều tốt lành về hành động lẫn lời nói. Thượng Đế đã yêu chúng ta, nên qua ân phúc Ngài đã ban cho chúng ta hi vọng tốt đẹp và sự thúc giục sẽ còn mãi mãi.
2TH 3:1 Xin anh chị em nhớ cầu nguyện cho chúng tôi để những lời dạy dỗ của Chúa được loan truyền nhanh chóng và được tôn trọng như anh chị em đã chứng tỏ.
2TH 3:2 Cũng hãy cầu nguyện để chúng tôi tránh khỏi kẻ ngoan cố và người gian ác vì không phải ai cũng chịu tin đâu.
2TH 3:3 Nhưng Chúa chúng ta là Đấng thành tín, Ngài sẽ thêm sức cho anh chị em và giữ anh chị em khỏi Kẻ Ác.
2TH 3:4 Chúa khiến chúng tôi tin chắc những gì anh chị em hiện đang làm và sẽ làm những điều tôi chỉ bảo anh chị em.
2TH 3:5 Nguyện Chúa hướng dẫn lòng anh chị em vào trong tình yêu của Thượng Đế và sự kiên nhẫn của Chúa Cứu Thế.
2TH 3:6 Thưa anh chị em, nhân danh Giê-xu Cứu Chúa chúng ta, chúng tôi khuyên anh chị em hãy tránh xa những kẻ biếng nhác không chịu làm việc và gạt bỏ lời chúng tôi dạy dỗ.
2TH 3:7 Anh chị em biết phải sống giống như chúng tôi. Khi ở với anh chị em chúng tôi không hề biếng nhác.
2TH 3:8 Hễ ăn của ai chúng tôi đều trả tiền sòng phẳng. Ngày và đêm chúng tôi chịu khó làm việc để không hao tốn cho bất cứ ai trong anh chị em.
2TH 3:9 Mặc dù chúng tôi có quyền yêu cầu anh chị em giúp đỡ nhưng chúng tôi tự lo lấy để làm gương cho anh chị em.
2TH 3:10 Khi ở với anh chị em chúng tôi thường bảo rằng: “Ai không chịu làm việc thì cũng không nên ăn nữa.”
2TH 3:11 Chúng tôi nghe nói một vài người trong anh chị em không chịu làm việc. Không những họ ở không mà còn xen vào chuyện người khác.
2TH 3:12 Trong Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng tôi răn bảo và van lơn những người ấy phải yên lặng làm việc để tự kiếm sống.
2TH 3:13 Anh chị em chớ mệt mỏi khi làm việc lành.
2TH 3:14 Ai không vâng theo lời chúng tôi viết trong thư nầy thì hãy lưu ý và đừng giao tiếp với họ để họ tự xấu hổ.
2TH 3:15 Tuy nhiên không nên xem họ như kẻ thù mà hãy răn bảo họ như anh em tín hữu.
2TH 3:16 Nguyền xin Chúa bình an luôn ban sự bình an của Ngài cho anh chị em trong mọi cách. Nguyền xin Chúa ở cùng anh chị em.
2TH 3:17 Tôi, Phao-lô chính tay viết phần cuối của thư nầy. Tất cả các thư của tôi, tôi đều làm như thế để chứng tỏ là thư của tôi. Đây là lối tôi viết.
2TH 3:18 Nguyền xin ân phúc của Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta ở với tất cả anh chị em.
1TI 1:1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, theo mệnh lệnh của Thượng Đế, Cứu Chúa chúng ta và của Chúa Giê-xu, niềm hi vọng chúng ta.
1TI 1:2 Gởi cho Ti-mô-thê, con thật của ta trong đức tin: Nguyền xin con nhận được ân phúc, lòng nhân ái và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta.
1TI 1:3 Khi ta đi qua Ma-xê-đoan, ta yêu cầu con ở lại Ê-phê-sô thêm ít lâu để ngăn cấm một số người không được dạy những điều sai lạc.
1TI 1:4 Hãy khuyên răn họ không được phí thì giờ kể chuyện bông lông hay thuật gia phổ dài dòng vì chỉ đưa đến cãi vã và tranh luận thôi chứ chẳng giúp ích gì cho công việc Chúa, là công tác phải thực hiện trong đức tin.
1TI 1:5 Mục đích của lời răn dạy nầy là để mọi người có tình yêu, một tình yêu phát xuất từ tấm lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin chân thành.
1TI 1:6 Một số người đã từ bỏ mục đích ấy và phí thì giờ nói những chuyện bông lông.
1TI 1:7 Họ muốn làm giáo sư luật mà chẳng hiểu điều mình dạy hoặc điều mình tin nữa.
1TI 1:8 Chúng ta biết luật pháp rất tốt lành nếu biết dùng phải phép.
1TI 1:9 Luật pháp không phải được đặt ra cho người lương thiện mà cho những kẻ chống luật hoặc bất kính. Luật pháp cũng dành cho những kẻ chống nghịch Thượng Đế, kẻ phạm tội, kẻ vô luân và phàm tục, kẻ giết cha mẹ, kẻ sát nhân,
1TI 1:10 kẻ chìm sâu trong tội nhục dục, kẻ đồng tính ái, kẻ buôn tôi mọi, kẻ nói dối, kẻ đặt điều cũng như những kẻ làm những việc nghịch với sự dạy dỗ chân thật của Thượng Đế.
1TI 1:11 Sự dạy dỗ ấy là một phần của Tin Mừng về Thượng Đế đáng chúc tụng mà Ngài giao cho ta rao giảng.
1TI 1:12 Ta cảm tạ Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta, Đấng thêm sức cho ta vì Ngài đã tín nhiệm ta và trao cho ta công tác nầy để phục vụ Ngài.
1TI 1:13 Trước kia ta chống nghịch Chúa Cứu Thế, tác hại Ngài và làm đủ điều tổn thương Ngài. Nhưng Thượng Đế đã tỏ lòng nhân ái đối với ta vì lúc ấy ta dại dột, chẳng biết mình làm gì và vì ta chưa tin.
1TI 1:14 Nhưng ân phúc của Chúa đã đổ ra trên ta, cùng với đức tin và tình yêu trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1TI 1:15 Điều ta nói đây là thật, con nên chấp nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến thế gian để cứu tội nhân, trong số đó ta là người nặng tội nhất.
1TI 1:16 Nhưng lòng nhân ái của Ngài đã tỏ ra cho ta, là tội nhân hàng đầu, để Chúa Cứu Thế Giê-xu bày tỏ lòng kiên nhẫn vô hạn của Ngài, khiến ta làm một thí dụ điển hình cho những ai sẽ tin nhận Ngài để được sự sống đời đời.
1TI 1:17 Nguyền danh dự, vinh hiển thuộc về Vua trị vì đời đời, là Đấng sống mãi mãi, Đấng không ai thấy được, là Thượng Đế duy nhất. A-men.
1TI 1:18 Ti-mô-thê, con ta ơi, ta cho con một mệnh lệnh giống như những lời tiên tri mà con đã học trước kia. Ta nhắc con điều nầy để con nhớ những lời tiên tri ấy và chiến đấu anh dũng trong đức tin.
1TI 1:19 Hãy giữ vững niềm tin và lương tâm. Một số người đã từ bỏ lời dạy nầy, nên đức tin của họ đã bị hủy hoại
1TI 1:20 chẳng hạn như Hy-mê-nê và A-léc-xăng-đơ, là hai người ta đã giao cho Sa-tăng để học biết mà đừng phạm thượng nữa.
1TI 2:1 Trước hết ta dặn con phải cầu nguyện cho mọi người, khẩn xin Thượng Đế ban cho họ những gì họ cần, đồng thời tạ ơn Ngài.
1TI 2:2 Hãy cầu nguyện cho các quan quyền để chúng ta có được cuộc sống an lành mà thờ kính Thượng Đế.
1TI 2:3 Đó là điều phải và vừa lòng Thượng Đế, Chúa Cứu Thế chúng ta.
1TI 2:4 Ngài muốn cho mọi người được cứu và hiểu biết sự thật.
1TI 2:5 Chỉ có một Thượng Đế và một con đường dẫn nhân loại đến với Ngài mà thôi. Con đường ấy là Chúa Cứu Thế Giê-xu, chính Ngài đã làm người.
1TI 2:6 Ngài hi sinh tính mạng làm giá trả để giải thoát mọi người. Chúa Giê-xu đến đúng lúc. Ngài là bằng chứng cho thấy Thượng Đế muốn cứu chúng ta.
1TI 2:7 Vì lý do ấy mà ta được chọn rao Tin Mừng và làm sứ đồ. (Ta nói thật, không nói dối đâu.) Ta được chọn để dạy bảo những người không phải Do-thái để họ tin và hiểu chân lý.
1TI 2:8 Cho nên ta muốn mọi người đàn ông khắp nơi cầu nguyện, giơ tay thánh sạch lên trời, không giận dữ hoặc cãi cọ.
1TI 2:9 Ngoài ra, đàn bà cũng phải ăn mặc chỉnh tề để chứng tỏ tinh thần tự trọng và tiết chế, không dùng tóc kết, vàng bạc, ngọc ngà hoặc y phục đắt tiền.
1TI 2:10 Trái lại, phải làm việc phước đức là điều phù hợp với những đàn bà nào cho rằng mình thờ phụng Thượng Đế.
1TI 2:11 Đàn bà phải yên lặng nghe, sẵn sàng hợp tác trong mọi việc.
1TI 2:12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông nhưng phải im lặng nghe,
1TI 2:13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va.
1TI 2:14 Và cũng không phải A-đam bị phỉnh gạt mà là người đàn bà bị phỉnh mà phạm tội.
1TI 2:15 Tuy nhiên, người đàn bà sẽ được cứu do việc sinh con nếu họ bền vững trong đức tin, yêu thương, thánh khiết và tiết độ.
1TI 3:1 Điều ta nói đây là thật. Ai mong làm trưởng lão, đó là điều ao ước tốt.
1TI 3:2 Trưởng lão không được làm gì để người khác chỉ trích mình, chỉ có một vợ. Phải tiết độ, khôn ngoan, được người khác kính nể, hiếu khách và có khả năng dạy dỗ.
1TI 3:3 Không được nghiện rượu hoặc gây gỗ, nhưng phải dịu dàng và hòa nhã, không tham tiền.
1TI 3:4 Người ấy phải khéo hướng dẫn gia đình mình, con cái phải nết na, lễ độ.
1TI 3:5 Nếu ai không hướng dẫn nổi gia đình mình thì làm sao chăm sóc được hội thánh của Thượng Đế?
1TI 3:6 Tín hữu mới tin không được làm trưởng lão vì có thể đâm ra tự phụ và bị kết tội như ma quỉ chăng.
1TI 3:7 Trưởng lão cũng phải được những người ngoài hội thánh kính nể để khỏi bị chỉ trích hoặc rơi vào mưu chước của ma quỉ.
1TI 3:8 Cũng vậy, các trợ tá trong hội thánh phải được người khác kính nể, đừng ăn nói bừa bãi. Không được nghiện rượu hoặc thủ lợi bằng cách lường gạt người khác.
1TI 3:9 Họ phải dùng lương tâm trong sạch đi theo sự nhiệm mầu của đức tin mà Thượng Đế đã tỏ ra cho chúng ta.
1TI 3:10 Phải trắc nghiệm họ trước. Nếu không có khuyết điểm thì mới được làm trợ tá.
1TI 3:11 Cũng vậy, đàn bà cũng phải được người khác kính nể. Không được nói xấu. Phải tiết độ và đáng tin trong mọi phương diện.
1TI 3:12 Các trợ tá chỉ được có một vợ, khéo hướng dẫn con cái và gia đình mình.
1TI 3:13 Người làm trợ tá giỏi tạo một địa vị đáng kính cho chính mình, bạo dạn trong đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1TI 3:14 Dù rằng ta mong sớm đến gặp con, nhưng ta viết thư nầy cho con
1TI 3:15 để nếu ta có chậm đến thì con biết cách sống trong gia đình của Chúa. Gia đình đó là hội thánh của Thượng Đế hằng sống, cột trụ và nền tảng của chân lý.
1TI 3:16 Thật vậy, điều bí mật về đời đạo lý của chúng ta quả là lớn: Chúa Cứu Thế đã được tỏ ra cho chúng ta trong thân thể loài người, được Thánh Linh chứng minh rằng Ngài đáng tin, được thiên sứ trông thấy, được rao giảng cho những người không phải Do-thái, được thế gian tin nhận, và được cất lên trong vinh hiển.
1TI 4:1 Thánh Linh nói rõ ràng rằng trong tương lai một số người sẽ không còn niềm tin. Họ đi theo các thần nói dối và lời dạy dỗ của ma quỉ.
1TI 4:2 Những lời dạy ấy phát xuất từ những lời xảo trá của các kẻ nói dối có lương tâm đã bị chai lì như bị thanh sắt đỏ nung đốt.
1TI 4:3 Họ sẽ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ một số thức ăn mà Thượng Đế đã dựng nên cho chúng ta là những người tin và biết chân lý, để dùng trong tinh thần cảm tạ.
1TI 4:4 Mọi vật Thượng Đế dựng nên đều tốt lành, không có vật gì phải kiêng cữ nếu cảm tạ mà dùng lấy,
1TI 4:5 vì nhờ lời phán của Thượng Đế và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.
1TI 4:6 Con dạy dỗ những điều ấy cho anh chị em thì con sẽ là đầy tớ tốt của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Những lời của đức tin và những sự dạy dỗ tốt lành mà con vâng theo sẽ làm con thêm vững mạnh.
1TI 4:7 Nhưng con đừng nghe theo những chuyện nhảm không xứng hợp với chân lý của Thượng Đế, mà hãy tự luyện tập để phục vụ Ngài.
1TI 4:8 Việc tập luyện thân thể có ích một phần, nhưng phục vụ Thượng Đế giúp ích mọi đường vì con nhận được ân phúc trong đời nầy và cả đời sau nữa.
1TI 4:9 Điều ta nói đây là thật, con nên nhận lấy.
1TI 4:10 Lý do chúng ta làm việc và chiến đấu là vì chúng ta hi vọng nơi Thượng Đế hằng sống, Cứu Chúa của mọi người và nhất là của các tín hữu.
1TI 4:11 Hãy khuyên răn và dạy bảo những điều ấy.
1TI 4:12 Đừng để ai xem thường con vì trẻ tuổi, nhưng hãy làm gương cho các tín hữu qua lời nói, việc làm, lòng yêu thương, đức tin và đời sống thanh sạch.
1TI 4:13 Hãy chăm chỉ đọc Thánh Kinh cho mọi người nghe, khích lệ và dạy dỗ họ tới khi ta đến.
1TI 4:14 Hãy dùng ân tứ con có qua lời tiên tri được ban cho con khi nhóm trưởng lão đặt tay lên con.
1TI 4:15 Hãy cố gắng làm cho xong mọi điều ấy; hãy hết lòng mà làm để mọi người nhìn thấy sự tiến bộ của con.
1TI 4:16 Hãy thận trọng trong cách sống và lời dạy dỗ của con. Nếu con cứ sống và dạy dỗ phải cách thì con và những kẻ nghe con sẽ được cứu.
1TI 5:1 Đừng nặng lời quở trách người lớn tuổi, nhưng hãy khuyên họ như cha. Đối với người trẻ tuổi thì đối xử như anh em,
1TI 5:2 đàn bà lớn tuổi xem như mẹ, thiếu nữ như chị em. Luôn luôn đối với họ một cách trong sạch.
1TI 5:3 Hãy chăm sóc các quả phụ sống một mình không nơi nương tựa.
1TI 5:4 Nhưng nếu các quả phụ có con cháu thì con cháu trước hết phải tỏ lòng tôn kính Thượng Đế bằng cách lo tròn bổn phận đối với gia đình và báo đáp cha mẹ hoặc ông bà vì điều đó đẹp lòng Chúa.
1TI 5:5 Quả phụ đúng nghĩa là người sống cô đơn. Họ đặt hết hi vọng vào Thượng Đế, ngày đêm cầu nguyện xin Chúa cứu giúp.
1TI 5:6 Nhưng quả phụ nào dùng đời mình để thỏa mãn riêng tư thì dù sống cũng như chết.
1TI 5:7 Hãy khuyên các tín hữu làm theo những lời dạy ấy để không bị ai chỉ trích.
1TI 5:8 Ai không chăm sóc thân thuộc mình, nhất là người trong gia đình mình, tức là đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn người chưa tin Chúa nữa.
1TI 5:9 Muốn được vào danh sách quả phụ thì người đàn bà phải được ít nhất sáu mươi tuổi. Phải đã tỏ ra trung thành với chồng.
1TI 5:10 Phải được nhiều người biết đến vì những việc phúc đức—chẳng hạn như nuôi dạy con cái, tiếp đãi khách, rửa chân các con dân Chúa, giúp đỡ những kẻ gặp khó khăn và dành đời mình làm nhiều việc đáng khen.
1TI 5:11 Nhưng không nên cho các quả phụ trẻ vào danh sách trên, vì sau khi họ đã hứa nguyện dâng mình cho Chúa Cứu Thế rồi thì rút lui vì nhu cầu thể xác và muốn kết hôn trở lại.
1TI 5:12 Họ sẽ bị hình phạt vì không giữ lời hứa lúc ban đầu.
1TI 5:13 Ngoài ra, họ hoang phí thì giờ, la cà từ nhà nầy sang nhà khác. Không những họ phí thì giờ mà còn ngồi lê đôi mách, xen vào chuyện người khác, nói những điều không đáng nói.
1TI 5:14 Cho nên ta muốn những góa phụ còn trẻ nên lấy chồng, sinh con cái, lo chăm sóc gia đình để kẻ thù không có cớ phê phán.
1TI 5:15 Vì có vài người đã quay đi theo Sa-tăng rồi.
1TI 5:16 Nếu nữ tín hữu nào có quả phụ trong gia đình thì người ấy phải lo cho họ. Đừng để họ làm gánh nặng cho hội thánh vì hội thánh còn phải lo cho những quả phụ theo đúng nghĩa của danh từ ấy.
1TI 5:17 Các trưởng lão khéo léo hướng dẫn hội thánh phải nhận tưởng thưởng gấp đôi, nhất là những người có công giảng dạy.
1TI 5:18 Vì Thánh Kinh viết: “Đừng khớp miệng con bò đang đạp lúa” và “ai làm việc phải được trả công.”
1TI 5:19 Đừng nghe ai kiện cáo trưởng lão nếu không có hai hoặc ba người làm chứng.
1TI 5:20 Hãy răn bảo những kẻ phạm tội. Răn bảo họ công khai trước mặt hội thánh để kẻ khác lấy đó làm gương.
1TI 5:21 Trước mặt Thượng Đế và trước mặt Chúa Cứu Thế Giê-xu cùng các thiên sứ được lựa chọn, ta bảo con hãy làm theo như vậy, đừng có thành kiến hay thiên vị bên nào.
1TI 5:22 Hãy cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đặt tay lên người nào, đừng tham dự vào tội lỗi người khác. Giữ mình con cho luôn luôn thanh sạch.
1TI 5:23 Không nên uống nước mà thôi, nhưng thỉnh thoảng nên uống một ít rượu để giúp bao tử của con và vì con hay đau yếu.
1TI 5:24 Tội lỗi một số người bị phơi bày trước khi họ bị trừng phạt, nhưng có người thì về sau tội lỗi mới bị phơi ra.
1TI 5:25 Cũng thế, việc tốt rất dễ nhận ra còn những việc chưa thấy thì trước sau rồi cũng không giấu kín mãi được.
1TI 6:1 Những kẻ ở dưới ách nô lệ phải tôn trọng chủ mình về mọi phương diện để không ai bêu xấu danh Chúa và sự dạy dỗ của chúng ta.
1TI 6:2 Người nô lệ nào có chủ là tín hữu thì không nên xem thường. Trái lại phải càng phục vụ chủ mình đắc lực hơn vì chẳng khác nào giúp đỡ tín hữu mình yêu mến.
1TI 6:3 Con phải giảng dạy điều nầy cho họ. Ai dạy khác đi tức là đi sai lạc với sự dạy dỗ chân thật của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta, cùng sự dạy dỗ dẫn đến một đời sống đúng đắn để phục vụ Thượng Đế.
1TI 6:4 Người đó kiêu căng, không biết gì cả, nhưng có tật thích cãi vã, tranh biện về từ ngữ. Tác phong đó chỉ đưa đến đố kỵ, gây gổ, nói xấu nhau và nghĩ xấu cho nhau,
1TI 6:5 và đưa đến cãi vã thường xuyên từ những kẻ có đầu óc gian tà đã đánh mất chân lý. Họ xem việc phục vụ Thượng Đế là phương cách làm giàu.
1TI 6:6 Thật vậy, sự hầu việc Chúa khiến chúng ta rất sung túc nếu chúng ta biết vừa lòng với những gì mình có.
1TI 6:7 Chúng ta không mang gì vào khi chào đời thì cũng sẽ chẳng mang gì theo được khi lìa đời.
1TI 6:8 Nếu đủ ăn đủ mặc thì nên mãn nguyện.
1TI 6:9 Những ai tham giàu tự mang cám dỗ đến cho mình và rơi vào cạm bẫy. Họ ham muốn nhiều điều dại dột và có hại, là những điều hủy hoại nhiều người.
1TI 6:10 Yêu tiền tài là nguyên nhân mọi điều ác. Vài người, vì muốn có thêm tiền của mà bỏ đức tin, đã chuốc lấy lắm điều buồn khổ.
1TI 6:11 Nhưng con là người của Thượng Đế, hãy tránh xa những việc ấy. Trái lại hãy sống một đời đàng hoàng, phục vụ Ngài, vững đức tin, đầy lòng yêu thương, kiên nhẫn và hòa nhã.
1TI 6:12 Hãy chiến đấu anh dũng để giữ vững niềm tin, nắm chắc sự sống đời đời. Con đã được kêu gọi để nhận sự sống ấy khi con công khai xưng nhận trước mặt nhiều nhân chứng.
1TI 6:13 Trước mặt Thượng Đế, Đấng ban sự sống cho mọi loài, và trước mặt Chúa Cứu Thế Giê-xu, ta ban mệnh lệnh cho con. Chúa Cứu Thế Giê-xu khi đứng trước Bôn-ti Phi-lát cũng đã công khai xưng nhận.
1TI 6:14 Hãy làm theo những điều con được dặn bảo một cách toàn hảo cho đến khi Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta trở lại.
1TI 6:15 Thượng Đế sẽ làm điều ấy theo đúng thời điểm. Ngài là Đấng đáng chúc tụng, Lãnh tụ duy nhất, Vua các vua, Chúa các chúa.
1TI 6:16 Là Đấng sống mãi mãi, Ngài ở nơi ánh sáng rực rỡ, không ai đến gần được. Chưa ai từng thấy Ngài. Nguyền vinh dự và quyền năng thuộc về Ngài đời đời. A-men.
1TI 6:17 Hãy răn bảo kẻ giàu có đời nầy đừng tự phụ. Khuyên họ hãy đặt hi vọng nơi Thượng Đế, đừng ỷ lại vào của cải bấp bênh. Ngài là Đấng ban cho chúng ta dư dật mọi điều để vui hưởng.
1TI 6:18 Khuyên họ hãy làm điều nhân đức, giàu có trong các việc lành, rộng rãi và sẵn sàng san sẻ của cải với người khác.
1TI 6:19 Như thế họ sẽ xây cho mình một kho báu làm nền tảng vững chắc cho tương lai. Họ sẽ nhận được sự sống thật.
1TI 6:20 Ti-mô-thê ơi, con hãy cẩn thận giữ gìn những gì Chúa đã giao cho con. Tránh xa những chuyện nhảm nhí vô ích và những lời biện luận theo kiểu “tri thức” giả tạo.
1TI 6:21 Vì tự cho mình có “tri thức” mà nhiều người đã bỏ mất đức tin thật. Nguyền xin ân phúc ở với con.
2TI 1:1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu theo ý muốn Thượng Đế. Ngài sai ta rao giảng lời hứa về sự sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TI 1:2 Gởi cho Ti-mô-thê, con yêu dấu của ta: Nguyền xin con được ân phúc, lòng nhân từ và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Giê-xu, Chúa Cứu Thế của chúng ta.
2TI 1:3 Ta tạ ơn Thượng Đế và luôn nhắc đến con mỗi khi cầu nguyện cả ngày lẫn đêm. Ta hầu việc Ngài và làm những gì ta cho là phải, như tổ tiên ta đã làm.
2TI 1:4 Nhớ nước mắt của con, nên ta rất muốn thăm con để ta được vui mừng.
2TI 1:5 Ta cũng nhớ đức tin thật của con. Đức tin đó trước hết đã ở trong Lô-ít, bà ngoại con và trong Ơ-nít, mẹ con, và ta biết hiện nay cũng ở trong con.
2TI 1:6 Vì thế mà ta nhắc con nên dùng ân tứ mà Thượng Đế ban cho con khi ta đặt tay lên con. Hãy để ân tứ ấy lớn lên như ngọn lửa nhỏ bùng cháy.
2TI 1:7 Thượng Đế không ban cho chúng ta tinh thần nhút nhát mà là tinh thần mạnh mẽ, có tình yêu thương và tiết độ.
2TI 1:8 Đừng xấu hổ khi nói về Chúa Giê-xu cho người khác và cũng đừng xấu hổ về việc ta ngồi tù, nhưng hãy cùng ta chịu khổ vì Tin Mừng. Thượng Đế là Đấng ban cho chúng ta sức lực để thực hiện điều đó.
2TI 1:9 Ngài đã cứu chúng ta, khiến chúng ta trở nên con dân thánh của Ngài, không phải vì công đức gì của chúng ta mà do mục đích và ân phúc Ngài. Từ trước khi có trời đất Ngài đã ban ân tứ ấy cho chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TI 1:10 Nay Ngài đã sai Cứu Chúa Giê-xu đến để tỏ bày ân tứ ấy cho chúng ta. Ngài tiêu diệt sự chết và qua Tin Mừng Ngài chỉ cho chúng ta con đường để nhận sự sống bất diệt.
2TI 1:11 Vì lý do ấy mà ta đã được chọn rao Tin Mừng, làm sứ đồ và giáo sư.
2TI 1:12 Nay ta đang chịu khổ vì Tin Mừng nhưng ta không xấu hổ vì ta biết Chúa Giê-xu, Đấng ta tin. Và ta tin chắc Ngài có thể gìn giữ điều Ngài ủy thác cho ta đến ngày ấy.
2TI 1:13 Hãy noi theo khuôn mẫu về sự dạy dỗ chân thật mà con đã nghe từ ta qua đức tin và tình yêu trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TI 1:14 Hãy giữ gìn chân lý mà con đã nhận bằng Thánh Linh là Đấng sống trong chúng ta.
2TI 1:15 Con biết mọi người thuộc vùng Tiểu Á đã bỏ ta, trong số có Phi-ghê-lu và Hẹt-mô-gen.
2TI 1:16 Cầu Chúa tỏ lòng nhân ái đối với gia đình Ô-ni-sê-phô-rơ, người đã thường giúp ta và không hề xấu hổ về việc ta bị tù tội.
2TI 1:17 Khi đến La-mã, anh hết sức kiếm ta mãi cho đến khi kiếm được.
2TI 1:18 Nguyện Chúa cho anh nhận được lòng nhân từ của Ngài vào ngày ấy. Con biết anh đã giúp ta rất nhiều khi ta còn ở Ê-phê-sô.
2TI 2:1 Ti-mô-thê, con ta, con hãy mạnh dạn trong ân phúc mà chúng ta nhận lãnh trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TI 2:2 Con hãy dạy những điều con đã nghe nơi ta và các người khác cho những người đáng tin để họ dạy lại kẻ khác.
2TI 2:3 Hãy chịu gian khổ như người lính giỏi của Chúa Giê-xu.
2TI 2:4 Binh sĩ nào muốn làm vừa lòng sĩ quan tuyển mộ mình thì không thể vừa phục vụ trong quân ngũ mà lại bận tâm đến việc dân sự.
2TI 2:5 Lực sĩ tham dự một cuộc tranh tài phải tôn trọng qui luật mới mong thắng cuộc.
2TI 2:6 Người làm ruộng vất vả phải là người đầu tiên hưởng được hoa quả mình trồng.
2TI 2:7 Hãy suy nghĩ những lời ta nói đây vì Chúa sẽ ban cho con khả năng hiểu biết mọi điều.
2TI 2:8 Hãy nhớ lại Chúa Cứu Thế Giê-xu, thuộc dòng họ vua Đa-vít, Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Đó là Tin Mừng mà ta rao giảng,
2TI 2:9 đồng thời ta cũng đang chịu khổ đến nỗi bị xiềng như phạm nhân. Nhưng lời dạy của Thượng Đế không bị xiềng đâu.
2TI 2:10 Cho nên ta nhẫn nhục, cam chịu mọi khổ cực để những người được Thượng Đế chọn có được sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế. Cùng với sự cứu rỗi là vinh hiển không bao giờ dứt.
2TI 2:11 Lời dạy dỗ sau đây là thật: Nếu chúng ta chết với Ngài thì cũng sẽ sống với Ngài.
2TI 2:12 Nếu chúng ta chấp nhận gian khổ thì cũng sẽ đồng cai trị với Ngài. Nếu chúng ta từ bỏ Ngài thì Ngài cũng từ bỏ chúng ta.
2TI 2:13 Dù chúng ta không thành tín, nhưng Ngài vẫn thành tín vì Ngài không thể tự dối mình được.
2TI 2:14 Hãy tiếp tục dạy bảo những điều nầy. Trước mặt Thượng Đế hãy răn dạy mọi người là chớ nên cãi vã về từ ngữ vì chẳng những không ích gì mà còn làm thiệt hại người nghe.
2TI 2:15 Hãy cố gắng dâng mình cho Chúa bằng con người mà Thượng Đế chấp nhận. Hãy chứng tỏ con là người làm công dạn dĩ, giảng dạy chân thật.
2TI 2:16 Hãy tránh những cuộc tranh luận vô bổ vì những việc ấy chỉ kéo con người ta xa cách Thượng Đế mà thôi.
2TI 2:17 Lời dạy dỗ xấu xa của họ lan ra như bệnh tật trong cơ thể. Hy-mê-nê và Phi-lê-tu giống như vậy.
2TI 2:18 Họ đã từ bỏ lời dạy dỗ chân thật, bảo rằng sự sống lại đã đến rồi mà tiêu hủy đức tin của một số người.
2TI 2:19 Nhưng nền tảng vững chắc của Thượng Đế còn đứng mãi. Những lời sau đây được đóng ấn: “Chúa biết người thuộc về Ngài.” và “Người nào thuộc về Chúa phải thôi phạm tội.”
2TI 2:20 Trong một cái nhà lớn, ngoài những đồ bằng vàng hay bạc, cũng còn có những đồ bằng gỗ hay đất sét. Có thứ dành cho những công dụng đặc biệt, có thứ dùng cho những việc tầm thường.
2TI 2:21 Người nào tẩy sạch mình khỏi những điều ác thì được dùng vào những công dụng đặc biệt. Họ sẽ được thánh hóa, ích lợi cho chủ mình, sẵn sàng làm mọi việc phúc đức.
2TI 2:22 Nhưng hãy tránh xa những điều ác mà thanh thiếu niên thích làm. Cùng với những người tin cậy Chúa bằng tấm lòng trong sạch hãy cố gắng sống phải cách, có đức tin, tình yêu thương, hòa thuận.
2TI 2:23 Hãy tránh những lời biện luận dại dột ngu xuẩn vì chỉ đưa đến cãi vã.
2TI 2:24 Tôi tớ Chúa không nên cãi vã nhưng phải nhân hậu với mọi người, khéo dạy dỗ và nhẫn nhục.
2TI 2:25 Tôi tớ Chúa phải ôn tồn dạy dỗ những người không đồng ý với mình. Mong rằng Thượng Đế sẽ thay đổi lòng họ để họ nhận chân lý
2TI 2:26 và tỉnh ngộ để thoát khỏi cạm bẫy ma quỉ vì ma quỉ đang muốn bắt họ làm theo ý muốn nó.
2TI 3:1 Con hãy ghi nhớ điều nầy: Vào thời kỳ cuối cùng sẽ có nhiều khó khăn,
2TI 3:2 vì người ta chỉ lo cho mình, tham tiền, khoe khoang và tự phụ. Họ sẽ bêu xấu nhau, không vâng lời cha mẹ, bội bạc, không sống theo ý muốn Thượng Đế.
2TI 3:3 Họ cũng chẳng yêu thương kẻ khác, không tha thứ, nói xấu và không tự chế. Họ độc ác, ghét điều phải,
2TI 3:4 phản bạn và làm những điều ngu xuẩn mà không thèm suy nghĩ. Họ kiêu căng, yêu thú vui hơn là yêu mến Thượng Đế,
2TI 3:5 và hành động như thể họ hầu việc Thượng Đế nhưng lại chẳng có chút sức mạnh gì của Ngài. Hãy tránh xa những người như thế.
2TI 3:6 Một số vào nhà dụ dỗ những phụ nữ dại dột, đầy tội lỗi và bị các ham muốn xấu xa xúi giục.
2TI 3:7 Những phụ nữ ấy lúc nào cũng học điều mới lạ, vậy mà họ vẫn không thể hiểu tường tận chân lý.
2TI 3:8 Như xưa kia Gian-nét và Giăm-rê chống đối Mô-se ra sao thì họ cũng chống đối chân lý như thế. Tư tưởng họ bị hư hỏng, họ không còn đi theo đức tin nữa.
2TI 3:9 Nhưng họ sẽ thất bại trong mọi việc vì như Gian-nét và Giăm-rê, mọi người đều thấy họ quả là dại dột.
2TI 3:10 Nhưng con đã vâng theo lời ta dạy bảo, cách ta sống, mục đích, đức tin, kiên nhẫn và lòng yêu thương của ta. Con biết ta không khi nào chịu bỏ cuộc.
2TI 3:11 Con vốn biết ta bị tổn hại và khổ sở ở các thành phố như Ăng-ti-tốt, Y-cô-ni và Lý-trà. Mặc dù ta chịu khổ nhưng Chúa đã giải cứu ta khỏi mọi cảnh khốn khó.
2TI 3:12 Những ai muốn sống theo ý Thượng Đế trong Chúa Cứu Thế Giê-xu sẽ gặp khốn khó do những kẻ không tin gây ra.
2TI 3:13 Còn những người gian ác và lường gạt người khác sẽ đi xuống dốc. Họ tưởng gạt được người khác nhưng thật ra họ chỉ tự gạt mình thôi.
2TI 3:14 Nhưng con nên tiếp tục sống theo lời dạy dỗ mà con đã học. Con biết những lời dạy đó là thật vì con tin cậy nơi người dạy mình.
2TI 3:15 Vì từ khi còn nhỏ con đã biết Thánh Kinh có thể khiến con khôn ngoan để dẫn tới sự cứu rỗi trong đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2TI 3:16 Toàn thể Thánh Kinh đều do Thượng Đế soi dẫn, có ích cho việc dạy dỗ, khiển trách, sửa sai và dạy cách sống ngay thật.
2TI 3:17 Nhờ Thánh Kinh, người hầu việc Thượng Đế sẽ có đủ khả năng làm điều phúc đức.
2TI 4:1 Trước mặt Thượng Đế và trước mặt Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng sẽ xét xử kẻ sống và kẻ chết cùng sự trở lại và nước của Ngài, ta dặn con:
2TI 4:2 Hãy rao giảng Tin Mừng. Lúc nào cũng phải sẵn sàng nói cho mọi người những điều phải làm. Khuyên họ đừng phạm tội và sửa dạy nếu họ phạm tội. Dùng lòng kiên nhẫn để khuyến khích và dạy dỗ cẩn thận
2TI 4:3 vì thời kỳ đến, người ta sẽ không chịu nghe lời dạy dỗ chân thật nữa mà đi tìm những giáo sư nói những lời êm tai để vừa lòng mình.
2TI 4:4 Họ sẽ không nghe chân lý mà chạy theo các chuyện giả tạo.
2TI 4:5 Nhưng con phải luôn luôn tự chế, chấp nhận gian lao, thực hiện công tác rao giảng Tin Mừng và hoàn tất nhiệm vụ của đầy tớ Thượng Đế.
2TI 4:6 Đời sống ta đang được dâng lên làm của lễ cho Thượng Đế vì sắp đến lúc ta lìa đời rồi.
2TI 4:7 Ta đã chiến đấu anh dũng, hoàn tất cuộc đua và giữ được đức tin.
2TI 4:8 Hiện nay mão triều đang dành cho ta. Chúa là quan án công minh sẽ đội mão đó cho ta trong ngày ấy, không những cho ta thôi mà còn cho tất cả những ai trông đợi Ngài trở lại.
2TI 4:9 Con hãy cố gắng mau đến với ta,
2TI 4:10 vì Đê-ma ham mến thế gian nên đã bỏ ta đi qua Tê-sa-lô-ni-ca. Cơ-rết-xen đi Ga-la-ti, còn Tít thì đi Đan-ma-tia.
2TI 4:11 Lu-ca là người duy nhất đang ở với ta. Khi con đến hãy đem Mác đi với con vì Mác có thể giúp đỡ công việc ta ở đây.
2TI 4:12 Ta gởi Ti-chi-cơ đi Ê-phê-sô.
2TI 4:13 Hồi ở Trô-ách ta bỏ quên áo ngoài nơi nhà Cát-bu cho nên khi con đến nhớ mang cho ta cùng với các sách vở của ta, nhất là những tài liệu viết trên cuộn giấy da.
2TI 4:14 A-léc-xăng-đơ, thợ kim khí đã làm hại ta nhiều chuyện lắm. Chúa sẽ trừng phạt điều hắn làm cho ta.
2TI 4:15 Con phải cẩn thận về hắn nếu không hắn cũng làm hại con vì hắn khăng khăng chống đối lời dạy dỗ của chúng ta.
2TI 4:16 Lần đầu tiên khi ta tự bào chữa, không có một người nào giúp đỡ ta, ai cũng bỏ ta. Cầu Chúa tha tội cho họ.
2TI 4:17 Nhưng Chúa ở cùng ta và thêm sức cho ta để ta được tự do rao Tin Mừng cho những người không phải Do-thái. Ta cũng được cứu thoát khỏi miệng sư tử.
2TI 4:18 Chúa sẽ cứu ta khi có ai muốn làm hại ta. Ngài sẽ đưa ta an toàn vào nước thiên đàng của Ngài. Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
2TI 4:19 Kính lời ta chào thăm Bích-xi-la và A-qui-la cùng gia đình Ô-nê-si-phô-rơ.
2TI 4:20 Ê-ra-túc vẫn ở Cô-rinh, còn Trô-phi-múc bị đau ta để ở lại Mi-lê.
2TI 4:21 Cố gắng đến với ta trước mùa đông. Êu-bu-lúc chào thăm con. Bu-đen, Li-núc, Lau-đia và các anh chị em trong Chúa chào thăm con.
2TI 4:22 Nguyện Chúa ở với tâm linh con. Nguyền ân phúc Ngài ở cùng con.
TIT 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Thượng Đế, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, được sai đi để nâng đỡ đức tin của các con dân mà Ngài đã chọn và giúp đỡ họ biết chân lý soi dẫn họ về phương cách hầu việc Chúa.
TIT 1:2 Đức tin và sự hiểu biết đó do hi vọng vào sự sống đời đời mà Thượng Đế đã hứa từ thuở tạo thiên lập địa. Ngài không thể nói dối.
TIT 1:3 Đến đúng kỳ Thượng Đế tỏ lời của Ngài ra cho thế gian biết qua sự giảng dạy của tôi tớ Ngài. Ngài ủy thác cho ta nhiệm vụ ấy và ta rao giảng theo mệnh lệnh của Thượng Đế, Cứu Chúa chúng ta.
TIT 1:4 Gởi cho Tít, con thật của ta trong cùng một đức tin. Nguyền xin ân phúc và sự bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng con.
TIT 1:5 Ta để con ở lại Cơ-rết để lo cho xong mọi việc cần và cũng để con bổ nhiệm các trưởng lão ở mỗi thị trấn, như ta đã dặn con.
TIT 1:6 Trưởng lão phải là người có uy tín, chồng của một vợ và con cái phải tin Chúa. Chúng nó không được mang tiếng hoang đàng hay bất hợp tác.
TIT 1:7 Với vai trò quản lý nhà Chúa, trưởng lão không được làm điều gì tai tiếng, không tự phụ, hay nóng tính. Trưởng lão không được ghiền rượu, hung hăng hoặc gạt gẫm kẻ khác để làm giàu.
TIT 1:8 Trưởng lão phải là người hiếu khách, mến điều lành, khôn ngoan, sống phải cách, thánh khiết và tiết độ.
TIT 1:9 Họ phải gắn bó với lời đáng tin mà chúng ta đã dạy để có thể hướng dẫn người khác bằng giáo lý lành mạnh, và chứng tỏ cho những kẻ chống nghịch giáo lý ấy thấy mình sai lầm.
TIT 1:10 Có nhiều người bất hợp tác, chuyên nói chuyện nhảm và hướng dẫn kẻ khác đi trong đường lầm lạc—nhất là một số tín hữu Do-thái.
TIT 1:11 Con phải ngăn chận họ vì họ quấy rối gia đình bằng cách dạy điều không nên dạy để tìm cách làm giàu bất chính.
TIT 1:12 Đến nỗi một trong các nhà tiên tri của họ đã nói, “Người Cơ-rết chuyên nói dối, là thú dữ, lười biếng và tham ăn.”
TIT 1:13 Lời của nhà tiên tri họ nói rất đúng. Cho nên hãy thẳng thắn trách họ để họ trở nên lành mạnh trong đức tin.
TIT 1:14 Đừng nghe những huyền thoại của người Do-thái hay lời dạy của những kẻ gạt bỏ chân lý.
TIT 1:15 Đối với người tinh sạch, mọi sự đều tinh sạch nhưng đối với người dơ bẩn và vô tín thì chẳng có gì tinh sạch cả. Trí óc và lương tâm của họ đã bị hư hỏng rồi.
TIT 1:16 Họ tự nhận là biết Thượng Đế nhưng qua hành động thì chối bỏ Ngài. Họ đáng ghê tởm, không vâng phục và không thể làm điều phúc đức nào.
TIT 2:1 Con hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh.
TIT 2:2 Dạy người lớn tuổi phải biết tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, vững vàng trong đức tin, yêu thương và kiên nhẫn.
TIT 2:3 Cũng thế, hãy dạy các phụ nữ lớn tuổi phải có tác phong thánh khiết, đừng nói xấu người khác, đừng nghiện rượu, phải biết dạy điều lành.
TIT 2:4 Sau đó họ mới có thể dạy các thiếu nữ trẻ tuổi yêu chồng con,
TIT 2:5 khôn ngoan và trong sạch, chăm lo việc nhà và thuận phục chồng để lời dạy của Chúa không bị phê phán.
TIT 2:6 Khuyên các thanh niên phải khôn ngoan.
TIT 2:7 Trong mọi sự con phải nêu gương về việc làm phúc. Khi dạy dỗ, con hãy tỏ ra chân thật và nghiêm trọng.
TIT 2:8 Hãy nói chân lý lành mạnh để không ai chỉ trích và để những người chống đối chúng ta sẽ xấu hổ vì họ chẳng có dịp để bêu xấu chúng ta.
TIT 2:9 Dạy kẻ nô lệ phải luôn luôn vâng phục chủ, cố gắng làm vừa lòng chủ, không được cãi lại.
TIT 2:10 Không được trộm cắp đồ của chủ nhưng trái lại phải tỏ ra mình hoàn toàn đáng tin để trong mọi việc đạo lý của Chúa thu hút mọi người.
TIT 2:11 Đó là cách chúng ta phải sống vì ân phúc của Thượng Đế để cứu mọi người đã đến rồi.
TIT 2:12 Ân phúc ấy dạy chúng ta từ bỏ nếp sống chống nghịch Thượng Đế trước kia và những điều gian ác theo thế gian nhưng phải luôn luôn sống khôn ngoan, đoan chính và thánh thiện để chứng tỏ chúng ta phục vụ Thượng Đế.
TIT 2:13 Chúng ta nên sống như vậy trong khi chờ đợi hi vọng lớn lao và sự hiện đến vinh hiển của Thượng Đế cùng Đấng Giải Cứu là Chúa Giê-xu chúng ta.
TIT 2:14 Ngài đã hi sinh mạng sống để giải thoát chúng ta khỏi mọi điều ác để rửa sạch một dân cho Ngài tức những người sốt sắng làm điều phúc đức.
TIT 2:15 Con hãy dạy dỗ những điều ấy, khích lệ họ và làm cho họ tỉnh ngộ khỏi nếp sống tội lỗi, dùng mọi thẩm quyền con có. Đừng để ai xem thường con.
TIT 3:1 Nhắc nhở các tín hữu phải vâng phục các bậc cầm quyền, các nhà lãnh đạo, sẵn sàng làm điều lành.
TIT 3:2 Đừng nói xấu ai, hãy sống trong hòa thuận, ân cần và lễ độ với mọi người.
TIT 3:3 Trước kia chúng ta dại dột, không vâng phục, lầm lạc, làm nô lệ cho đủ thứ ham mê và dục vọng. Chúng ta chuyên làm ác, đố kỵ. Mọi người ghét chúng ta đồng thời chúng ta cũng ghét nhau nữa.
TIT 3:4 Nhưng khi Thượng Đế, Cứu Chúa chúng ta tỏ lòng nhân từ và yêu thương
TIT 3:5 thì Ngài đã cứu chúng ta do lòng nhân ái của Ngài chứ không phải nhờ vào việc lành nào của chúng ta cả. Ngài cứu chúng ta do sự rửa sạch chúng ta bằng sự tái sinh và đổi mới qua Thánh Linh.
TIT 3:6 Thượng Đế đã ban Thánh Linh dồi dào trên chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-xu
TIT 3:7 để chúng ta được Thượng Đế chấp nhận qua ân phúc của Ngài, và chúng ta trở thành người thừa kế vì mang niềm hi vọng đời đời.
TIT 3:8 Lời dạy nầy là đáng tin, ta muốn con nhấn mạnh để ai nấy đều am hiểu mọi điều ấy. Như thế các tín hữu sẽ thận trọng biết dùng đời mình làm việc phúc đức vì những việc đó rất tốt và có ích cho mọi người.
TIT 3:9 Nhưng hãy tránh xa những kẻ tranh luận ngu dại về gia phổ vô bổ, hoặc tranh cãi về luật pháp. Những điều ấy thật vô dụng, không ích lợi gì cho ai cả.
TIT 3:10 Sau khi cảnh cáo họ một hai lần thì nên tránh xa những kẻ hay gây sự.
TIT 3:11 Con có thể biết những người như thế thuộc loại gian ác vì chính tội lỗi của họ tự kết án họ.
TIT 3:12 Khi ta sai Át-tê-ma và Ti-chi-cơ đến với con thì con hãy cố gắng gặp ta ở Ni-cô-bô-li vì ta định ở suốt mùa đông tại đó.
TIT 3:13 Cố gắng giúp luật sư Xê-na và A-bô-lô đủ đồ cần dùng trong cuộc hành trình của họ.
TIT 3:14 Những người của chúng ta phải học cách dùng đời mình vào những việc phúc đức để cung ứng nhu cầu khẩn cấp cho người khác và để đời mình khỏi trở thành vô dụng.
TIT 3:15 Tất cả anh em ở với ta chào thăm con. Hãy chào thăm những thân hữu có cùng niềm tin như chúng ta. Nguyền xin ân phúc Thượng Đế ở với các anh em.
PHM 1:1 Phao-lô, tù nhân của Chúa Giê-xu Cứu Thế và Ti-mô-thê, anh em chúng ta, gởi cho Phi-lê-môn, bạn đồng công yêu dấu;
PHM 1:2 cùng chị A-phia, A-chíp, chiến hữu với chúng tôi và hội thánh họp lại tại nhà anh.
PHM 1:3 Nguyền xin anh chị em được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHM 1:4 Mỗi khi cầu nguyện tôi luôn luôn tạ ơn Chúa khi nhắc đến anh
PHM 1:5 vì tôi nghe về lòng yêu thương của anh dành cho các con dân Chúa và về đức tin của anh trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
PHM 1:6 Tôi cầu xin cho đức tin và sự tương giao mà anh san sẻ với mọi người sẽ giúp anh hiểu được mọi ơn lành mà chúng ta nhận được trong Chúa Cứu Thế.
PHM 1:7 Thưa anh, tôi rất vui và được an ủi vì lòng yêu thương của anh dành cho các con dân Chúa đã làm tươi mát lòng họ rất nhiều.
PHM 1:8 Cho nên, trong Chúa Cứu Thế tôi có thể bạo dạn bảo anh làm điều phải.
PHM 1:9 Nhưng vì tôi quí mến anh nên tôi van xin anh. Tôi, Phao-lô, nay đã già rồi và còn bị tù tội vì Chúa Cứu Thế Giê-xu nữa.
PHM 1:10 Tôi van xin anh vì con tôi là Ô-nê-xim, người đã trở nên con tôi trong đức tin khi tôi đang ngồi tù.
PHM 1:11 Trước kia anh ta chẳng có ích gì cho anh nhưng bây giờ anh ấy rất ích lợi cho cả anh lẫn tôi.
PHM 1:12 Tôi gởi anh ta về với anh đồng thời gởi cho anh tấm lòng tôi.
PHM 1:13 Tôi rất muốn giữ anh ấy lại với tôi để anh ta có thể thay anh mà giúp đỡ tôi trong khi tôi ngồi tù vì Tin Mừng.
PHM 1:14 Nhưng tôi không muốn làm điều mà anh không đồng ý để những gì anh làm cho tôi là tự ý anh chứ không phải vì tôi ép buộc.
PHM 1:15 Có thể Ô-nê-xim đã xa cách anh tạm thời để anh nhận lại anh ấy vĩnh viễn—
PHM 1:16 không phải nhận lại một tên tôi mọi nữa mà khác tôi mọi—nghĩa là một anh em yêu dấu. Tôi rất mến anh ấy nhưng tôi chắc anh sẽ mến anh ấy nhiều hơn vì là một thân hữu và tín hữu.
PHM 1:17 Cho nên nếu anh xem tôi là bạn đồng công thì xin anh hãy tiếp đón anh ta như tiếp đón tôi.
PHM 1:18 Nếu anh ấy đã làm thiệt hại hay mắc nợ anh điều gì thì cứ tính cho tôi.
PHM 1:19 Tôi, Phao-lô, chính tay viết điều nầy. Tôi sẽ trả cho anh nhưng còn về điều anh thiếu tôi, tức là đời sống của anh thì tôi sẽ không nhắc đến.
PHM 1:20 Cho nên, thưa anh, xin anh làm ơn giùm tôi điều nầy. Hãy làm tươi mát lòng tôi trong Chúa Cứu Thế.
PHM 1:21 Tôi viết thư nầy cho anh, tin chắc nơi sự vâng phục của anh, biết rằng anh sẽ làm hơn điều tôi yêu cầu.
PHM 1:22 Còn một việc nữa—xin anh chuẩn bị một phòng trọ cho tôi vì tôi hi vọng Thượng Đế sẽ đáp lời cầu nguyện của anh để tôi có thể đến thăm anh.
PHM 1:23 Ê-pháp-ra, bạn đồng tù với tôi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, gởi lời chào thăm anh.
PHM 1:24 Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, các bạn đồng công với tôi cũng gởi lời chào thăm anh.
PHM 1:25 Nguyền xin ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở với tâm linh anh.
HEB 1:1 Xưa kia Thượng Đế dùng các nhà tiên tri phán dạy tổ tiên chúng ta nhiều lần, nhiều cách.
HEB 1:2 Nhưng trong những ngày cuối cùng nầy Ngài phán cùng chúng ta qua Con Ngài là Con mà Ngài đã chọn để làm chủ tể mọi loài. Ngài cũng đã tạo dựng toàn thế gian qua Con ấy.
HEB 1:3 Con tượng trưng cho vinh hiển của Thượng Đế và là hình ảnh trung thực của bản chất Ngài. Nhờ lời đầy quyền năng Ngài, các vật được kết hiệp lại bền vững. Khi Con tẩy sạch tội lỗi loài người thì trở về ngồi bên phải Thượng Đế, Đấng Cao cả trên thiên đàng.
HEB 1:4 Con được tôn trọng hơn các thiên sứ vì Thượng Đế cho Con một danh trổi hơn danh các thiên sứ.
HEB 1:5 Vì Thượng Đế chưa hề phán với thiên sứ nào rằng, “Ngươi là Con ta. Ngày nay ta đã sinh ngươi.” Ngài cũng không bảo với thiên sứ nào, “Ta sẽ sinh con ra, còn ngươi sẽ làm Con ta.”
HEB 1:6 Còn khi đưa Con đầu lòng vào thế gian thì Ngài phán, “Các thiên sứ của Thượng Đế phải thờ lạy Con.”
HEB 1:7 Đây là lời Thượng Đế phán về các thiên sứ: “Thượng Đế khiến các thiên sứ giống như gió. Ngài làm cho các tôi tớ Ngài như ngọn lửa.”
HEB 1:8 Còn về Con Ngài thì Thượng Đế phán: “Lạy Thượng Đế, ngôi Ngài vững bền đời đời. Ngài sẽ lấy sự công chính cai trị nước của Ngài.
HEB 1:9 Chúa thích điều thiện, ghét điều ác, cho nên Thượng Đế đã chọn ngươi từ giữa các bạn hữu ngươi; Ngài ban cho ngươi sự vui mừng lớn hơn tất cả các bạn hữu ngươi.”
HEB 1:10 Thượng Đế cũng phán, “Lạy Chúa, từ ban đầu Ngài dựng nên trái đất tay Ngài tạo ra các bầu trời.
HEB 1:11 Chúng sẽ bị tiêu diệt, nhưng Ngài sẽ còn đời đời. Chúng sẽ cũ mòn như áo,
HEB 1:12 Ngài sẽ cuốn chúng lại như cái áo, và thay chúng như thay áo. Nhưng Chúa không thay đổi, các năm tháng Ngài không bao giờ chấm dứt.”
HEB 1:13 Thượng Đế cũng chưa bao giờ bảo với thiên sứ nào: “Hãy ngồi bên phải ta, cho đến khi ta đặt kẻ thù con dưới quyền cai trị của con.”
HEB 1:14 Các thiên sứ là thần linh hầu việc Thượng Đế được sai đến để giúp những kẻ sẽ nhận được sự cứu rỗi.
HEB 2:1 Cho nên chúng ta càng nên thận trọng giữ theo những điều đã được dạy bảo để khỏi bị trôi lạc khỏi chân lý.
HEB 2:2 Sự dạy dỗ Thượng Đế phán qua các thiên sứ đã chứng tỏ là đúng, người nào không vâng theo đều chịu trừng phạt xứng đáng.
HEB 2:3 Vì thế chúng ta cũng sẽ bị trừng phạt nếu chúng ta xem thường sự cứu rỗi lớn lao ấy. Chính Chúa đã cho chúng ta biết sự cứu rỗi nầy và những ai nghe Ngài đều chứng tỏ sự cứu rỗi ấy là chân thật.
HEB 2:4 Thượng Đế cũng đã minh chứng điều đó bằng nhiều dấu kỳ, phép lạ cùng ân tứ qua Thánh Linh theo ý muốn Ngài.
HEB 2:5 Thượng Đế không chọn thiên sứ để quản trị thế giới mới sắp đến mà chúng ta đã nói.
HEB 2:6 Như Thánh Kinh có chỗ viết, “Tại sao Ngài xem loài người là quan trọng? Tại sao Ngài lo cho con người?
HEB 2:7 Ngài làm cho con người hơi thấp hơn các thiên sứ một ít đội cho người mão triều vinh hiển và tôn trọng.
HEB 2:8 Ngài đặt mọi vật dưới quyền quản trị của con người.” Khi Thượng Đế đã đặt mọi vật dưới quyền quản trị của con người thì không có gì mà con người không quản trị. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thấy con người quản trị mọi loài.
HEB 2:9 Nhưng chúng ta thấy Chúa Giê-xu là Đấng đã được đặt thấp hơn các thiên sứ một chút trong một thời gian ngắn. Nay Ngài đang đội mão triều vinh hiển và tôn trọng vì Ngài đã chịu khổ và chết. Do ân phúc Thượng Đế, Ngài chết thay cho mọi người.
HEB 2:10 Thượng Đế là Đấng tạo dựng muôn loài và muôn loài được sáng tạo để làm vinh hiển Ngài. Ngài muốn nhiều con cái cùng san sẻ vinh hiển với mình, nên Ngài tạo ra Đấng đưa dắt các con cái đó đến sự cứu rỗi hoàn toàn bằng cách để cho Đấng ấy phải chịu khổ hình.
HEB 2:11 Chúa Giê-xu, Đấng thánh hóa con người, cùng những ai đã được thánh hóa đều thuộc chung một gia đình. Cho nên Ngài không xấu hổ mà gọi họ là anh chị em.
HEB 2:12 Ngài phán, “Rồi tôi sẽ thuật về Ngài cho các anh chị em Ít-ra-en tôi; Tôi sẽ ca ngợi Ngài giữa buổi họp công cộng.”
HEB 2:13 Ngài cũng phán, “Tôi sẽ tin cậy Thượng Đế.” và Ngài phán thêm, “Tôi đang hiện diện đây, cùng với các con cái mà Thượng Đế đã ban cho tôi.”
HEB 2:14 Vì con cái là người có thân thể nên Chúa Giê-xu đã trở nên giống như con cái. Như thế để nhờ sự chết Ngài, Chúa Giê-xu có thể tiêu diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ
HEB 2:15 và giải thoát những kẻ suốt đời làm tôi mọi vì sợ chết.
HEB 2:16 Hiển nhiên Ngài không làm điều đó cho các thiên sứ mà cho con cháu Áp-ra-ham.
HEB 2:17 Vì thế mà Ngài phải trở nên giống như anh em Ngài trong mọi phương diện để Ngài có thể làm thầy tế lễ tối cao trung tín và nhân ái trong khi phục vụ Thượng Đế, nhờ đó có thể xóa tội con người.
HEB 2:18 Vì chính Ngài đã chịu khổ và bị cám dỗ cho nên có thể giúp người bị cám dỗ.
HEB 3:1 Cho nên thưa các anh chị em thánh là người được Thượng Đế kêu gọi, hãy nhớ tới Chúa Giê-xu, Đấng được sai đến với chúng ta và làm thầy tế lễ tối cao cho đức tin của chúng ta.
HEB 3:2 Chúa Giê-xu trung tín với Thượng Đế là Đấng chọn Ngài làm thầy tế lễ tối cao như Mô-se trung tín trong gia đình Thượng Đế.
HEB 3:3 Chúa Giê-xu cao trọng hơn Mô-se, cũng như thợ xây nhà cao trọng hơn cái nhà.
HEB 3:4 Bất cứ nhà nào cũng phải có thợ xây, nhưng thợ tạo nên mọi loài là Thượng Đế.
HEB 3:5 Mô-se trung tín trong gia đình Thượng Đế như một tôi tớ. Ông thuật lại lời Thượng Đế sẽ phán trong tương lai.
HEB 3:6 Nhưng Chúa Cứu Thế trung tín như con trung tín trong nhà cha mình. Chúng ta là nhà của Thượng Đế nếu chúng ta giữ lòng can đảm và nắm chắc vào hi vọng lớn lao của chúng ta.
HEB 3:7 Cho nên như Thánh Linh phán: “Ngày nay khi nghe tiếng Ngài phán,
HEB 3:8 thì đừng ương ngạnh như tổ tiên các ngươi xưa kia khi họ phản nghịch Thượng Đế và thách thức Ngài trong sa mạc.
HEB 3:9 Nơi đó họ thử ta và thách thức ta mặc dù đã thấy những điều ta làm trong bốn mươi năm.
HEB 3:10 Ta nổi giận cùng họ. Ta bảo, ‘Ý tưởng chúng nó luôn luôn lầm lạc chúng không hề hiểu biết đường lối ta.’
HEB 3:11 Ta nổi giận và cam kết rằng, ‘Chúng nó sẽ không bao giờ được vào sự an nghỉ ta.’”
HEB 3:12 Cho nên thưa anh chị em, hãy thận trọng đừng ai có lòng độc ác, chẳng tin, quay khỏi Thượng Đế hằng sống.
HEB 3:13 Nhưng hằng ngày hãy khích lệ giục giã nhau trong khi còn gọi là “ngày nay.” Hãy giúp nhau để không ai trong anh chị em cứng lòng vì bị tội lỗi phỉnh gạt.
HEB 3:14 Chúng ta cùng dự phần trong Chúa Cứu Thế nếu chúng ta bền giữ cho đến cuối cùng đức tin mà chúng ta có từ ban đầu.
HEB 3:15 Đây là lời Thánh Kinh dạy: “Ngày nay khi nghe lời Ngài phán thì đừng ương ngạnh như xưa kia khi các ngươi chống nghịch Thượng Đế.”
HEB 3:16 Ai nghe tiếng phán Thượng Đế mà chống nghịch Ngài? Đó là những kẻ mà Mô-se dẫn ra khỏi Ai-cập.
HEB 3:17 Ngài nổi giận với ai suốt bốn mươi năm?—Với những kẻ phạm tội đã bỏ xác trong sa mạc.
HEB 3:18 Ngài phán về ai khi Ngài thề rằng họ sẽ không được vào sự an nghỉ Ngài?—Ngài phán về những kẻ chống nghịch.
HEB 3:19 Cho nên chúng ta thấy họ không được phép vào sự an nghỉ của Thượng Đế vì chẳng chịu tin.
HEB 4:1 Vì hiện nay Thượng Đế đã để lại cho chúng ta lời hứa vào sự an nghỉ Ngài nên chúng ta phải rất thận trọng kẻo có ai không được vào sự an nghỉ ấy.
HEB 4:2 Tin Mừng được giảng ra cho chúng ta cũng như đã giảng ra cho họ. Nhưng lời dạy dỗ họ nghe chẳng ích lợi gì vì họ nghe mà không chịu tiếp nhận bằng đức tin.
HEB 4:3 Còn chúng ta là người đã tin thì được hưởng sự an nghỉ của Thượng Đế như Ngài phán, “Ta nổi giận và thề, Chúng nó không được hưởng sự an nghỉ ta.” Ngài phán như thế mặc dù công tác của Ngài đã làm xong từ khi sáng tạo thế gian.
HEB 4:4 Trong Thánh Kinh Ngài nói đến ngày thứ bảy trong tuần: “Rồi đến ngày thứ bảy Thượng Đế nghỉ ngơi các công việc Ngài.”
HEB 4:5 Và cũng trong Thánh Kinh Ngài lại phán, “Chúng nó sẽ không được vào sự an nghỉ ta.”
HEB 4:6 Đành rằng có một số người sẽ vào sự an nghỉ của Thượng Đế nhưng những người đầu tiên đã nghe Tin Mừng ấy không vào được vì không vâng lời.
HEB 4:7 Vì thế, Thượng Đế định cho một ngày khác gọi là “Ngày nay.” Mãi về sau Ngài nói với Đa-vít về ngày ấy và được chép trong cùng khúc Thánh Kinh đã nói trước đó: “Ngày nay khi các ngươi nghe lời Ngài dạy, thì đừng ương ngạnh.”
HEB 4:8 Chúng ta biết Giô-suê không có dẫn dân chúng vào sự an nghỉ ấy vì về sau Thượng Đế nói về một ngày an nghỉ khác.
HEB 4:9 Do đó ta thấy sự an nghỉ của dân Chúa là việc sắp đến.
HEB 4:10 Ai được vào sự an nghỉ của Thượng Đế cũng sẽ nghỉ ngơi khỏi các công việc mình như Thượng Đế đã nghỉ.
HEB 4:11 Cho nên chúng ta hãy cố gắng vào sự nghỉ ngơi của Thượng Đế để không ai bị loại ra vì bắt chước các gương phản nghịch.
HEB 4:12 Lời Thượng Đế rất sống động, sắc bén hơn gươm hai lưỡi, cắt sâu vào chúng ta, thấu đến hồn, linh, xương, tủy, cân nhắc tư tưởng và cảm nghĩ trong lòng.
HEB 4:13 Không điều gì trên thế gian có thể che giấu khỏi Thượng Đế được. Mọi việc đều sẽ phơi bày rõ ràng trước mặt Ngài, là Đấng mà chúng ta sẽ phải giải thích nếp sống của mình.
HEB 4:14 Vì chúng ta có một thầy tế lễ tối cao rất lớn là Chúa Giê-xu, Con Thượng Đế, đã về thiên đàng nên chúng ta hãy giữ vững đức tin.
HEB 4:15 Vì thầy tế lễ tối cao của chúng ta có thể thông cảm những yếu kém của chúng ta. Khi còn sống trên đất, Ngài đã bị cám dỗ đủ cách như chúng ta nhưng không phạm tội.
HEB 4:16 Cho nên chúng ta hãy dạn dĩ đến trước ngôi ân phúc của Thượng Đế để nhận được lòng nhân ái và ân phúc hầu giúp chúng ta lúc cần.
HEB 5:1 Thầy tế lễ tối cao nào cũng được chọn trong vòng dân chúng và được giao phó nhiệm vụ thay mặt dân chúng đến trước Thượng Đế để dâng của lễ và sinh tế chuộc tội.
HEB 5:2 Vì chính thầy tế lễ cũng yếu đuối cho nên có thể khoan dung đối với những người kém hiểu biết hoặc lầm lỡ.
HEB 5:3 Vì chính mình cũng yếu đuối nên thầy tế lễ tối cao phải dâng sinh tế chuộc tội mình và tội dân chúng.
HEB 5:4 Chức tế lễ tối cao là một vinh dự nhưng không ai tự chọn lấy chức ấy cho mình. Người đó phải được Thượng Đế kêu gọi như A-rôn.
HEB 5:5 Cũng vậy, Chúa Cứu Thế không chọn vinh dự tế lễ tối cao ấy cho mình nhưng Thượng Đế, là Đấng chọn Ngài, phán cùng Ngài, “Con là Con ta. Ngày nay ta sinh Con ra.”
HEB 5:6 Cũng trong một khúc Thánh Kinh khác Thượng Đế phán, “Con làm thầy tế lễ đời đời, y như Mên-chi-xê-đéc.”
HEB 5:7 Trong khi sống trên đất, Chúa Giê-xu cầu xin Thượng Đế giúp mình. Ngài cầu nguyện và lớn tiếng kêu khóc cùng Đấng có thể cứu mình khỏi chết; lời cầu nguyện Ngài được nghe vì Ngài tôn kính và vâng phục Thượng Đế.
HEB 5:8 Dù là Con Thượng Đế nhưng Ngài cũng đã học tập vâng phục bằng cách chịu khổ đau.
HEB 5:9 Và vì Ngài đã trở nên toàn thiện cho nên có thể ban sự cứu rỗi đời đời cho những ai vâng phục Ngài.
HEB 5:10 Đó là cách Thượng Đế khiến Ngài trở thành thầy tế lễ tối cao, một chức tế lễ giống như Mên-chi-xê-đéc.
HEB 5:11 Chúng tôi còn muốn nói thêm nữa về vấn đề nầy nhưng hơi khó giải thích vì anh chị em không chịu hiểu.
HEB 5:12 Đến bây giờ đáng lý ra anh chị em đã làm thầy rồi nhưng anh chị em vẫn còn cần người dạy lại những điểm sơ đẳng về lời của Thượng Đế. Anh chị em vẫn còn phải dùng những điều nhẹ như sữa chứ chưa sẵn sàng dùng thức ăn cứng.
HEB 5:13 Ai còn sống bằng sữa là còn thơ ấu, chưa biết sự dạy dỗ về điều chân chính.
HEB 5:14 Nhưng thức ăn cứng dành cho người trưởng thành. Nhờ luyện tập thường xuyên mà họ phân biệt được thiện và ác.
HEB 6:1 Cho nên chúng ta hãy học những điều trưởng thành. Đừng đi trở lại những bài vỡ lòng khi chúng ta mới học về Chúa Cứu Thế. Chúng ta không cần học lại về đức tin nơi Thượng Đế hoặc làm thế nào để tránh khỏi những việc đưa đến cái chết.
HEB 6:2 Chúng ta không nên trở về những bài học về lễ báp-têm, về sự đặt tay, về sự sống lại của kẻ chết và về sự trừng phạt đời đời.
HEB 6:3 Và nếu Thượng Đế cho phép, chúng ta sẽ bước lên những bài học trưởng thành.
HEB 6:4 Có vài người mà chúng ta không thể làm cho họ ăn năn được. Trước kia họ đã ở trong ánh sáng của Thượng Đế, vui hưởng ân phúc thiên đàng và nhận lãnh Thánh Linh. Họ đã nếm lời Thượng Đế ngọt ngào biết bao nhiêu và cũng đã biết quyền phép của cuộc đời tương lai trong Ngài. Nhưng họ quay lưng khỏi Chúa Cứu Thế cho nên không thể nào khiến họ ăn năn hối hận vì họ đã đóng đinh Con Thượng Đế một lần nữa và làm nhục Ngài trước mặt kẻ khác.
HEB 6:7 Còn có người giống như đất thấm nhuần mưa, sinh ra mùa màng tốt đẹp cho người trồng trọt và nhận ân phúc Thượng Đế.
HEB 6:8 Kẻ khác giống như đất mọc đầy chông gai và cỏ dại, hoàn toàn vô dụng. Đất ấy bị Thượng Đế nguyền rủa và sẽ bị lửa tiêu hủy.
HEB 6:9 Các anh chị em thân mến, chúng tôi nói với các anh chị em như thế nhưng thật tình chúng tôi mong anh chị em làm nhiều điều tốt hơn nữa là những điều dẫn anh chị em đến sự cứu rỗi.
HEB 6:10 Thượng Đế rất công bằng; Ngài không quên công khó của anh chị em và tình yêu anh chị em tỏ ra với Ngài khi giúp đỡ dân Ngài. Ngài nhớ rằng anh chị em vẫn đang giúp họ.
HEB 6:11 Chúng tôi muốn mỗi người trong anh chị em tiếp tục chịu khó suốt đời để chắc chắn nhận lãnh điều mình trông mong.
HEB 6:12 Chúng tôi không muốn anh chị em biếng nhác. Hãy noi gương những người đã nhận được điều Thượng Đế hứa vì họ có đức tin và lòng nhẫn nhục.
HEB 6:13 Khi lập lời hứa với Áp-ra-ham, vì không có Đấng nào lớn hơn nên Thượng Đế chỉ chính mình mà thề cùng Áp-ra-ham
HEB 6:14 rằng, “Ta chắc chắn sẽ ban phúc cho ngươi và cho ngươi có con cháu đông vô số.”
HEB 6:15 Áp-ra-ham kiên nhẫn chờ đợi điều ấy và nhận được điều Thượng Đế đã hứa.
HEB 6:16 Người ta thường chỉ Đấng lớn hơn mình khi thề thốt. Lời thề cam đoan rằng điều mình nói là thật, để không còn tranh biện nữa.
HEB 6:17 Thượng Đế cũng muốn chứng tỏ rằng lời hứa của Ngài là thật cho những kẻ sẽ nhận. Ngài muốn họ hiểu rõ mục đích bất biến của Ngài nên Ngài thề.
HEB 6:18 Cho nên khi Ngài hứa và thề thì hai điều ấy không thể thay đổi được. Hai điều ấy thúc giục chúng ta đến với sự che chở của Thượng Đế và giúp chúng ta mạnh dạn nắm chắc hi vọng đã cho chúng ta.
HEB 6:19 Chúng ta có hi vọng nầy như cái neo vững chắc cho linh hồn. Hi vọng ấy đi vào phía sau bức màn của Nơi Chí Thánh trên thiên đàng,
HEB 6:20 chỗ Chúa Giê-xu đã đi trước chúng ta. Ngài đã trở thành thầy tế lễ đời đời giống như Mên-chi-xê-đéc.
HEB 7:1 Mên-chi-xê-đéc là vua Xa-lem và là thầy tế lễ của Thượng Đế Chí Cao. Ông ra đón Áp-ra-ham lúc Áp-ra-ham trở về sau khi chiến thắng các vua. Lúc hai người gặp nhau, Mên-chi-xê-đéc chúc phước cho Áp-ra-ham,
HEB 7:2 còn Áp-ra-ham dâng cho vua một phần mười của các món cướp được từ quân giặc. Trước hết, tên Mên-chi-xê-đéc nghĩa là “vua nhân đức” và là vua của Xa-lem, nghĩa là “vua hòa bình.”
HEB 7:3 Không ai biết gốc gác Mên-chi-xê-đéc, hoặc ông từ đâu đến, sinh ra khi nào hoặc chết lúc nào. Mên-chi-xê-đéc giống như Con Thượng Đế. Ông làm thầy tế lễ đời đời.
HEB 7:4 Như vậy anh chị em thấy Mên-chi-xê-đéc cao trọng đến mức nào vì Áp-ra-ham, tổ phụ đáng kính của chúng ta dâng cho vua một phần mười những chiến lợi phẩm.
HEB 7:5 Luật pháp buộc những người thuộc chi tộc Lê-vi đang giữ chức tế lễ thu một phần mười từ dân chúng—tức đồng bào mình—mặc dù cả thầy tế lễ và dân chúng đều cùng thuộc gia đình Áp-ra-ham.
HEB 7:6 Mên-chi-xê-đéc không thuộc chi tộc Lê-vi nhưng ông lại thu một phần mười từ Áp-ra-ham. Ông chúc phước cho Áp-ra-ham là người nhận được lời hứa của Thượng Đế.
HEB 7:7 Ai cũng biết rằng người bậc trên chúc phước cho kẻ bậc dưới là lẽ đương nhiên.
HEB 7:8 Các thầy tế lễ thu một phần mười dù rằng họ cũng chỉ là người sống rồi cũng chết. Nhưng Mên-chi-xê-đéc, người nhận được một phần mười từ Áp-ra-ham, sống mãi, theo như Thánh Kinh ghi.
HEB 7:9 Chúng ta cũng có thể nói Lê-vi, người nhận một phần mười, cũng đã trả một phần mười qua Áp-ra-ham khi Áp-ra-ham dâng một phần mười cho Mên-chi-xê-đéc.
HEB 7:10 Mặc dù khi Mên-chi-xê-đéc ra đón Áp-ra-ham thì Lê-vi lúc ấy chưa sinh ra vì còn ở trong lòng của tổ tiên.
HEB 7:11 Dân chúng được ban cho luật pháp dựa trên một hệ thống thầy tế lễ thuộc chi tộc Lê-vi, nhưng họ không thể nhờ hệ thống ấy mà trở nên toàn thiện cho nên phải cần một thầy tế lễ khác, giống như Mên-chi-xê-đéc chứ không như A-rôn.
HEB 7:12 Và khi một loại thầy tế lễ khác đến thì luật pháp cũng phải thay đổi.
HEB 7:13 Những điều nầy chỉ về Chúa Cứu Thế. Ngài thuộc về một chi tộc khác. Chưa có ai thuộc chi tộc ấy phục vụ chức tế lễ nơi bàn thờ cả.
HEB 7:14 Hiển nhiên là Chúa chúng ta xuất thân từ chi tộc Giu-đa. Mô-se không hề đề cập đến các thầy tế lễ thuộc chi tộc ấy.
HEB 7:15 Điểm nầy sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta thấy một thầy tế lễ sẽ đến giống như Mên-chi-xê-đéc.
HEB 7:16 Ngài được lập làm tế lễ không phải theo qui tắc và luật pháp loài người, căn cứ vào gia thế nhưng qua quyền năng của đời sống Ngài, là một đời sống còn mãi mãi.
HEB 7:17 Có lời viết về Ngài như sau, “Con làm thầy tế lễ đời đời, như Mên-chi-xê-đéc.”
HEB 7:18 Qui tắc cũ được gác qua một bên vì yếu kém và vô dụng.
HEB 7:19 Luật pháp Mô-se không thể làm cho điều gì toàn thiện được. Nhưng nay chúng ta được ban cho một hi vọng tốt hơn và nhờ hi vọng ấy chúng ta có thể đến gần Thượng Đế.
HEB 7:20 Điều nầy quan trọng đến nỗi Thượng Đế phải thực hiện bằng lời thề. Các thầy tế lễ khác lãnh chức vụ mà không cần lời thề.
HEB 7:21 Nhưng Chúa Cứu Thế trở thành thầy tế lễ bằng lời thề của Thượng Đế. Ngài phán: “Chúa đã thề và sẽ không đổi ý. ‘Con làm thầy tế lễ đời đời.’”
HEB 7:22 Điều nầy có nghĩa là Chúa Giê-xu là sự bảo đảm về một giao ước tốt hơn do Thượng Đế kết lập với dân sự Ngài.
HEB 7:23 Khi một trong những thầy tế lễ qua đời thì chức vụ của thầy tế lễ ấy bị gián đoạn nên cần có nhiều thầy tế lễ.
HEB 7:24 Nhưng Chúa Giê-xu sống mãi cho nên bao giờ Ngài cũng giữ chức tế lễ.
HEB 7:25 Nghĩa là lúc nào Ngài cũng có quyền cứu những người đến cùng Thượng Đế qua Ngài, vì Ngài luôn luôn sống để nài xin Thượng Đế giúp họ.
HEB 7:26 Chúa Giê-xu chính là thầy tế lễ mà chúng ta cần. Ngài thánh thiện, không tội lỗi, trong sạch, không bị tội nhân ảnh hưởng và trổi cao hơn các từng trời.
HEB 7:27 Ngài không như các thầy tế lễ khác phải dâng sinh tế mỗi ngày, trước vì tội mình, sau vì tội dân chúng. Chúa Cứu Thế dâng chính mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả.
HEB 7:28 Luật pháp chọn lựa các thầy tế lễ tối cao là những người bất toàn như mọi người nhưng lời thề của Thượng Đế đến sau khi có luật pháp. Lời ấy lập Con Thượng Đế làm thầy tế lễ tối cao, và Con ấy là Đấng toàn thiện đời đời.
HEB 8:1 Đây là điểm chúng ta đang nói: Chúng ta có một thầy tế lễ tối cao đang ngồi bên phải ngôi của Thượng Đế trên thiên đàng.
HEB 8:2 Thầy tế lễ tối cao của chúng ta phục vụ Nơi Chí Thánh, chỗ thờ phụng thật sự, không phải do loài người lập mà do Thượng Đế lập ra.
HEB 8:3 Thầy tế lễ nào cũng được chỉ định dâng của lễ và hi sinh cho Thượng Đế, nên thầy tế lễ tối cao của chúng ta cũng phải dâng món gì cho Ngài.
HEB 8:4 Nếu thầy tế lễ tối cao của chúng ta vẫn đang sống trên đất thì không phải là thầy tế lễ nữa, vì đã có các thầy tế lễ khác trên đất đang tuân theo luật pháp mà dâng của lễ cho Thượng Đế rồi.
HEB 8:5 Nhiệm vụ tế lễ chỉ là tượng trưng và hình bóng của những việc trên thiên đàng. Vì thế Thượng Đế căn dặn Mô-se rất kỹ khi ông chuẩn bị dựng Lều Thánh: “Hãy thận trọng làm y theo như sơ đồ ta chỉ cho ngươi trên núi.”
HEB 8:6 Nhưng nhiệm vụ tế lễ giao cho Chúa Giê-xu lớn hơn nhiệm vụ của các thầy tế lễ kia rất nhiều. Cũng thế, giao ước mới mà Chúa Giê-xu mang từ Thượng Đế xuống cho dân Ngài lớn hơn giao ước cũ. Giao ước mới dựa trên lời hứa về những điều tốt đẹp hơn.
HEB 8:7 Nếu giao ước đầu tiên không có khuyết điểm gì thì không cần phải thay thế bằng giao ước thứ nhì.
HEB 8:8 Nhưng Thượng Đế thấy dân sự Ngài sơ xuất nên Ngài phán: “Chúa phán, thời kỳ đến khi ta lập một giao ước mới với dân Ít-ra-en và dân Giu-đa.
HEB 8:9 Không giống như giao ước ta lập với tổ tiên họ khi ta dắt họ ra khỏi Ai-cập. Nhưng vì họ không tôn trọng giao ước ấy, nên ta quay mặt khỏi họ, Chúa phán vậy.
HEB 8:10 Chúa phán, Đây là giao ước ta sẽ lập với dân Ít-ra-en lúc bấy giờ, Ta sẽ đặt luật lệ ta trong trí họ, ghi những lời ấy vào lòng họ. Ta sẽ làm Thượng Đế của họ, còn họ sẽ làm dân ta.
HEB 8:11 Không ai còn cần dạy xóm giềng hay thân quyến mình học biết về Chúa nữa, vì mọi người đều sẽ biết ta, từ người thấp kém nhất cho đến người cao trọng nhất.
HEB 8:12 Ta sẽ tha thứ họ về những điều ác họ làm, Ta sẽ không nhớ đến tội lỗi họ nữa.”
HEB 8:13 Thượng Đế gọi giao ước nầy là mới cho nên Ngài biến giao ước đầu tiên thành cũ. Cái gì đã cũ và vô dụng thì sẽ biến mất.
HEB 9:1 Giao ước cũ có những qui tắc thờ phụng và nơi thờ phụng do tay người dựng nên.
HEB 9:2 Lều Thánh có hai phần riêng biệt. Phần đầu tiên của Lều gọi là Nơi Thánh. Trong đó có cái đèn và cái bàn chưng bánh được Thượng Đế thánh hóa.
HEB 9:3 Sau bức màn thứ nhì là một phòng gọi là Nơi Chí Thánh.
HEB 9:4 Trong đó có bàn thờ bằng vàng để đốt hương và Rương Giao ước bọc vàng, bên trong hộp đựng giao ước cũ. Bên trong hộp có một cái bình đựng bánh ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn và hai bảng đá của giao ước cũ.
HEB 9:5 Phía trên hộp là các thiên sứ phô bày sự vinh hiển của Thượng Đế và các cánh che nắp hộp. Các thiên sứ ngồi trên nắp thương xót. Nhưng bây giờ chúng ta không thể mô tả tỉ mỉ những vật ấy.
HEB 9:6 Khi mọi vật trong Lều được sắp xếp sẵn sàng như thế rồi thì mỗi ngày các thầy tế lễ đi vào gian phòng đầu tiên để thờ phụng.
HEB 9:7 Nhưng chỉ có một mình thầy tế lễ tối cao mới được vào gian phòng thứ nhì, mỗi năm một lần thôi. Thầy tế lễ tối cao không thể vào phòng ấy mà không mang huyết theo dâng cho Thượng Đế để chuộc tội mình và chuộc tội vô tình của dân chúng.
HEB 9:8 Thánh Linh dùng điều nầy để cho thấy rằng khi hệ thống Lều Thánh cũ vẫn đang được dùng thì đường vào Nơi Chí Thánh chưa mở ra.
HEB 9:9 Đây là ví dụ về thời hiện tại. Hình ảnh ấy cho thấy rằng các của lễ và sinh tế không thể khiến lương tâm kẻ thờ phụng toàn thiện được.
HEB 9:10 Các của lễ và sinh tế chỉ liên quan đến thực phẩm, thức uống và nghi thức tẩy sạch. Đó là những qui luật cho thân thể phải tuân theo cho đến khi Thượng Đế chỉ cách thức mới.
HEB 9:11 Khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến làm thầy tế lễ tối cao mang những điều tốt đẹp chúng ta hiện đang hưởng, thì Ngài đi vào một lều lớn hơn và hoàn toàn hơn, không do tay người làm ra và cũng không thuộc về trần gian nầy.
HEB 9:12 Chúa Cứu Thế đi vào Nơi Chí Thánh một lần đủ cả. Ngài không mang theo huyết của dê hoặc bò con. Sinh tế của Ngài mang vào là chính huyết mình, nhờ huyết ấy Ngài giải thoát chúng ta đời đời khỏi tội lỗi.
HEB 9:13 Nếu huyết của dê, bò đực và tro của bò cái rắc lên những người không tinh sạch còn làm cho thân thể họ được sạch,
HEB 9:14 huống chi huyết của Chúa Cứu Thế còn hữu hiệu đến mức nào nữa. Ngài dâng chính mình qua Thần linh đời đời để làm một sinh tế toàn vẹn cho Thượng Đế. Huyết Ngài tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi những hành vi dẫn đến cái chết để chúng ta có thể thờ kính và phục vụ Thượng Đế hằng sống.
HEB 9:15 Do đó, Chúa Cứu Thế mang đến cho dân chúng một Giao Ước Mới từ Thượng Đế. Những ai được Thượng Đế kêu gọi thì bây giờ có thể hưởng được phúc lành đời đời mà Ngài đã hứa. Họ nhận được những phúc lành ấy là vì Chúa Cứu Thế chịu chết để ai sống dưới giao ước cũ đều được giải thoát khỏi tội.
HEB 9:16 Khi có tờ di chúc thì phải chứng tỏ rằng người viết di chúc đó đã qua đời.
HEB 9:17 Di chúc ấy chẳng có giá trị gì khi người đó còn sống; nó chỉ có hiệu lực sau khi người ấy qua đời.
HEB 9:18 Vì thế giao ước đầu tiên không thể bắt đầu nếu không có huyết để chứng tỏ đã có một cái chết.
HEB 9:19 Trước hết, Mô-se dạy dân sự mọi mệnh lệnh mà luật pháp dặn bảo. Sau đó ông lấy huyết của bò con và dê trộn với nước, rồi lấy len đỏ và nhánh kinh giới rưới lên sách luật và trên dân chúng.
HEB 9:20 Ông nói, “Đây là huyết để bắt đầu Giao ước mà Thượng Đế truyền cho các ngươi phải vâng giữ.”
HEB 9:21 Cũng thế, Mô-se rưới huyết lên Lều Thánh và trên mọi vật dùng trong việc thờ phụng.
HEB 9:22 Luật pháp qui định rằng mọi việc phải được tẩy sạch nhờ huyết vì nếu không đổ huyết thì không thể được tha tội.
HEB 9:23 Cho nên những gì tượng trưng cho các việc thật trên trời phải được tẩy sạch qua của lễ bằng thú vật; nhưng những việc thật trên trời cần những sinh tế tốt hơn thú vật.
HEB 9:24 Chúa Cứu Thế Giê-xu không phải đi vào Nơi Chí Thánh do tay người làm ra, một nơi tiêu biểu cho Nơi Chí Thánh thật. Ngài đi vào chính thiên đàng và hiện nay đang ở trước mặt Thượng Đế để cầu khẩn cho chúng ta.
HEB 9:25 Thầy tế lễ tối cao mỗi năm đi vào Nơi Chí Thánh một lần mang theo huyết mà không phải huyết mình. Nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu không cần phải hi sinh mạng Ngài nhiều lần.
HEB 9:26 Nếu không thì kể từ khi tạo thiên lập địa, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần. Nhưng Ngài chỉ đến một lần đủ cả vào thời kỳ cuối cùng nầy để xóa tội lỗi đi bằng cách hi sinh chính mình.
HEB 9:27 Vì đã định cho mọi người phải chết một lần rồi chịu xét xử,
HEB 9:28 cho nên Chúa Cứu Thế Giê-xu dâng mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả để xóa tội lỗi của nhiều người. Ngài sẽ trở lại lần thứ hai, không phải để hi sinh vì tội lỗi nữa, mà là đem sự cứu rỗi đến cho những kẻ chờ đợi Ngài.
HEB 10:1 Luật pháp chỉ là tượng trưng những điều tốt đẹp hơn sẽ đến trong tương lai; luật pháp không phải là hình ảnh chính xác của vật thật. Những ai ở dưới luật pháp cứ phải dâng sinh tế mỗi năm, nhưng những sinh tế ấy không thể làm cho những kẻ đến gần để thờ phụng Thượng Đế trở thành toàn thiện được.
HEB 10:2 Vì nếu luật pháp có thể khiến họ toàn thiện thì khỏi cần phải dâng sinh tế nữa. Nếu những kẻ thờ phụng nhờ đó mà được tẩy sạch thì không còn mặc cảm tội lỗi nữa.
HEB 10:3 Nhưng mỗi năm những sinh tế ấy nhắc họ nhớ lại tội lỗi,
HEB 10:4 vì huyết của bò đực và dê đực không thể nào xóa tội lỗi được.
HEB 10:5 Cho nên khi Chúa Cứu Thế đến thế gian thì Ngài phán, “Chúa chẳng muốn sinh tế và của lễ nhưng đã chuẩn bị cho tôi một thân thể.
HEB 10:6 Ngài không hài lòng về của lễ thiêu và của lễ xóa tội lỗi.
HEB 10:7 Rồi tôi nói, ‘Lạy Thượng Đế, tôi đến. Trong sách có viết về tôi. Tôi đến để làm theo ý muốn Ngài.’”
HEB 10:8 Trong khúc Thánh Kinh nầy lúc đầu Ngài nói, “Chúa không muốn sinh tế và của lễ, Chúa không hài lòng về của lễ thiêu và của lễ xóa tội lỗi” mặc dù đó là những của lễ mà luật pháp qui định.
HEB 10:9 Rồi Ngài nói, “Lạy Thượng Đế, tôi đến để làm theo ý muốn Ngài.” Thượng Đế đã bãi bỏ hệ thống hi sinh cũ để thiết lập hệ thống mới.
HEB 10:10 Vì thế, chúng ta được thánh hóa qua sự hi sinh thân thể của Chúa Cứu Thế một lần đủ cả.
HEB 10:11 Mỗi ngày các thầy tế lễ đứng thi hành nhiệm vụ bao giờ cũng dâng cùng một loại sinh tế. Những sinh tế ấy không bao giờ xóa tội được.
HEB 10:12 Nhưng sau khi Chúa Cứu Thế hi sinh vì tội lỗi một lần đủ cả thì Ngài ngồi bên phải Thượng Đế.
HEB 10:13 Hiện nay Ngài đang chờ đợi kẻ thù bị đặt dưới quyền Ngài.
HEB 10:14 Chỉ cần một của lễ hi sinh thôi, Ngài đã làm cho toàn thiện đời đời những kẻ đã được thánh hóa.
HEB 10:15 Thánh Linh cũng có đề cập về điều nầy cho chúng ta. Trước Ngài nói,
HEB 10:16 “Chúa phán, Đây là giao ước ta sẽ lập với họ lúc ấy. Ta sẽ đặt luật lệ ta trong lòng họ và ghi những lời đó vào tâm trí họ.”
HEB 10:17 Rồi Ngài phán, “Ta sẽ không nhớ những tội lỗi và điều ác họ làm nữa.”
HEB 10:18 Sau khi những tội lỗi ấy đã được tha thứ thì không cần sinh tế để chuộc tội nữa.
HEB 10:19 Cho nên, thưa anh chị em, bây giờ chúng ta nay được hoàn toàn tự do và dạn dĩ đi vào Nơi Chí Thánh do sự chết của Chúa Giê-xu mang lại.
HEB 10:20 Chúng ta có thể đi trên con đường mới và sống mà Chúa Giê-xu đã mở ra cho chúng ta, dẫn chúng ta qua bức màn—tức xác Ngài.
HEB 10:21 Và vì chúng ta có một thầy tế lễ tối cao rất lớn quản trị cả nhà Thượng Đế
HEB 10:22 cho nên chúng ta hãy lấy lòng chân thành với đức tin vững chắc mà đến gần Thượng Đế vì chúng ta đã được tẩy sạch khỏi lương tâm tội lỗi, thân thể được rửa bằng nước trong.
HEB 10:23 Hãy nắm vững hi vọng mà chúng ta đã xưng nhận vì tin chắc Thượng Đế sẽ làm được điều Ngài hứa.
HEB 10:24 Chúng ta hãy suy nghĩ đến nhau và tìm cách khuyến khích nhau, bày tỏ tình yêu thương và làm điều thiện.
HEB 10:25 Đừng xao lãng các cuộc nhóm họp, như một số người đang làm, nhưng hãy siêng năng nhóm họp và khích lệ nhau. Khi thấy ngày ấy đến gần chừng nào thì anh chị em hãy càng sốt sắng thêm chừng nấy.
HEB 10:26 Nếu sau khi đã học biết chân lý mà chúng ta nhất quyết tiếp tục phạm tội thì không còn sinh tế nào để chuộc lỗi nữa.
HEB 10:27 Chỉ còn có lo sợ chờ đợi sự trừng phạt và lửa khủng khiếp tiêu diệt những kẻ chống nghịch Thượng Đế mà thôi.
HEB 10:28 Ai không vâng giữ luật pháp Mô-se thì bị kết tội dựa theo bằng cớ của hai hoặc ba nhân chứng và bị xử tử, không khoan hồng.
HEB 10:29 Cho nên anh chị em nghĩ phải đối xử thế nào với những kẻ coi thường Con Thượng Đế, xem huyết giao ước đã thánh hóa họ chẳng khác nào một thứ huyết khác, sỉ nhục Thánh Linh của ân phúc Thượng Đế? Chắc chắn họ phải bị trừng phạt nặng hơn.
HEB 10:30 Chúng ta biết Thượng Đế phán, “Ta sẽ trừng phạt kẻ phạm tội; ta sẽ báo trả họ.” Ngài cũng phán thêm, “Chúa sẽ xét xử dân Ngài.”
HEB 10:31 Rơi vào tay Thượng Đế hằng sống là điều khủng khiếp.
HEB 10:32 Hãy nhớ lại trước kia lúc anh chị em mới học biết chân lý. Anh chị em phải chiến đấu gay go với nhiều khổ đau nhưng vẫn vững mạnh.
HEB 10:33 Đôi khi bị chế giễu và bị ngược đãi công khai và đôi lúc anh chị em cùng san sẻ với những người gặp đồng hoàn cảnh.
HEB 10:34 Anh chị em giúp đỡ và chia xẻ nỗi khổ của những kẻ tù tội và khi bị người ta tước đoạt tài sản mà vẫn vui dù vì biết mình có những của cải tốt hơn và bền vững hơn.
HEB 10:35 Cho nên đừng mất lòng can đảm của anh chị em, vì có phần thưởng rất lớn đi theo.
HEB 10:36 Anh chị em hãy bền lòng vâng theo ý muốn Thượng Đế và nhận được điều Ngài hứa.
HEB 10:37 Vì ít lâu nữa thôi, “Đấng phải đến sẽ đến. Ngài không chậm trễ đâu.
HEB 10:38 Người đã giảng hòa cùng ta sẽ sống bằng đức tin. Nhưng nếu sợ hãi mà quay đi, thì ta sẽ không vui lòng chút nào.”
HEB 10:39 Nhưng chúng ta không phải là những kẻ quay đi để bị chết mất. Chúng ta là những người có đức tin và đã được cứu rỗi.
HEB 11:1 Đức tin là nắm chắc những gì mình hi vọng và vững tin vào những điều mình chưa thấy.
HEB 11:2 Đức tin khiến chúng ta nhớ lại các vĩ nhân xưa kia sống vừa lòng Thượng Đế.
HEB 11:3 Nhờ đức tin chúng ta biết cả vũ trụ được dựng nên bằng lời phán của Thượng Đế, cho nên vật hữu hình đều đến từ những cõi vô hình.
HEB 11:4 Cũng nhờ đức tin, A-bên dâng cho Thượng Đế một của lễ tốt hơn của Ca-in. Thượng Đế nói rằng Ngài vui nhận lễ vật của A-bên và gọi ông là người công chính vì đức tin của ông. Dù A-bên đã chết nhưng qua đức tin, ông vẫn còn đang nói.
HEB 11:5 Nhờ đức tin, Ê-nóc được tiếp về thiên đàng, không hề nếm cái chết. Không ai thấy ông nữa, vì Thượng Đế đã tiếp ông đi bởi vì trước khi được tiếp đi, Thánh Kinh nói rằng ông sống vừa lòng Thượng Đế.
HEB 11:6 Nếu không có đức tin thì không ai có thể sống vừa lòng Thượng Đế được. Ai đến cùng Ngài phải tin rằng có Thượng Đế và Ngài thưởng cho người thật lòng tìm kiếm Ngài.
HEB 11:7 Nhờ đức tin Nô-ê nghe lời Thượng Đế cảnh cáo về những điều ông chưa thấy. Ông vâng lời Ngài và đóng một chiếc tàu lớn để cứu gia đình mình. Nhờ đức tin, Nô-ê chứng tỏ thế gian sai lầm vì ông là người được giảng hòa với Ngài qua đức tin.
HEB 11:8 Nhờ đức tin, Áp-ra-ham vâng theo tiếng gọi của Thượng Đế đi đến một nơi Ngài hứa ban cho ông. Ông rời quê hương mà không biết mình sẽ đi đâu.
HEB 11:9 Qua đức tin mà ông sống như dân tạm trú trên xứ mà Thượng Đế hứa ban cho. Ông sống trong các lều giống như Y-sác và Gia-cốp là những người cùng nhận lời hứa từ Thượng Đế.
HEB 11:10 Áp-ra-ham chờ đợi một thành có nền thật sự—do Thượng Đế vẽ kiểu và xây dựng.
HEB 11:11 Áp-ra-ham quá cao tuổi không thể nào có con, còn Sa-ra thì không thể sinh sản được. Nhưng nhờ đức tin ông đã sinh con vì ông tin Thượng Đế có quyền thực hiện được lời hứa của Ngài.
HEB 11:12 Do đó, từ một người già gần qua đời mà lại sinh ra vô số con cháu đông như sao trên trời, cát bãi biển, không thể đếm được.
HEB 11:13 Tất cả các vĩ nhân ấy đều chết trong đức tin, chưa nhận được điều Thượng Đế hứa cho dân Ngài nhưng chào mừng những điều ấy đang đến từ tương lai rất xa. Họ nhận mình là lữ khách xa lạ trên đất.
HEB 11:14 Những ai nói như thế đều chứng tỏ đang đi tìm quê hương.
HEB 11:15 Nếu họ tưởng nhớ đến quê hương mà họ đã ra đi thì họ đã có thể trở về rồi.
HEB 11:16 Nhưng trái lại, họ mơ ước một quê hương tốt hơn—trên thiên đàng. Cho nên Thượng Đế không xấu hổ mà nhận mình làm Thượng Đế của họ vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành.
HEB 11:17 Cũng nhờ đức tin mà khi Thượng Đế thử nghiệm Áp-ra-ham, ông dâng con một của mình là Y-sác làm của lễ hi sinh. Tuy ông đã nhận lời hứa của Thượng Đế nhưng vẫn sẵn sàng dâng con mình làm sinh tế.
HEB 11:18 Thượng Đế phán cùng ông, “Dòng dõi mà ta đã hứa cho ngươi sẽ ra từ Y-sác.”
HEB 11:19 Áp-ra-ham tin rằng Thượng Đế có thể khiến người chết sống lại và thật thế, việc ấy chẳng khác nào Áp-ra-ham nhận lại con mình từ chốn người chết.
HEB 11:20 Nhờ đức tin, Y-sác chúc phước cho tương lai của Gia-cốp và Ê-sau.
HEB 11:21 Cũng nhờ đức tin, Gia-cốp lúc sắp qua đời chúc phước cho các con trai của Gia-cốp. Rồi ông cúi mình bái lạy đang khi tì trên cây gậy.
HEB 11:22 Cũng nhờ đức tin, Giô-xép lúc sắp chết, nói đến việc dân Ít-ra-en ra khỏi nước Ai-cập và dặn dò về thân xác mình.
HEB 11:23 Nhờ đức tin, khi mới sinh, Mô-se được cha mẹ đem giấu trong ba tháng. Hai ông bà thấy con mình ngộ nghĩnh cho nên không sợ trái lệnh vua.
HEB 11:24 Nhờ đức tin, khi khôn lớn thì Mô-se từ bỏ danh hiệu là con trai của công chúa vua Ai-cập.
HEB 11:25 Ông chọn phần chịu khổ với dân của Thượng Đế thay vì tạm hưởng sự vui sướng nhất thời của tội lỗi.
HEB 11:26 Ông cho rằng chẳng thà chịu khổ vì Chúa Cứu Thế còn hơn là hưởng châu báu xứ Ai-cập vì ông trông mong phần thưởng từ Thượng Đế.
HEB 11:27 Cũng nhờ đức tin cho nên Mô-se rời bỏ xứ Ai-cập mà không sợ vua nổi giận. Mô-se đứng vững vàng như nhìn thấy Thượng Đế là Đấng không ai thấy được.
HEB 11:28 Qua đức tin Mô-se chuẩn bị lễ Vượt Qua và bôi huyết trên khung cửa để thiên sứ hủy diệt không giết con trai đầu lòng của dân Ít-ra-en.
HEB 11:29 Nhờ đức tin mà dân chúng băng qua Hồng hải như đi trên đất khô. Nhưng khi người Ai-cập thử băng qua thì đều bị chết đuối hết.
HEB 11:30 Nhờ đức tin mà các tường thành Giê-ri-cô sập xuống sau khi dân chúng đi vòng quanh bảy ngày.
HEB 11:31 Nhờ đức tin mà Ra-háp, một cô gái làng chơi, đón tiếp các gián điệp cho nên cô không bị giết cùng với những kẻ không tin Thượng Đế.
HEB 11:32 Tôi có cần đưa thêm dẫn chứng nào khác nữa không? Tôi không đủ thì giờ để thuật cho anh chị em nghe về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các nhà tiên tri.
HEB 11:33 Nhờ đức tin họ chiến thắng các vương quốc. Họ làm điều phải. Họ nhận lời hứa từ Thượng Đế và bịt mồm sư tử,
HEB 11:34 dập tắt ngọn lửa hừng và được cứu khỏi lưỡi gươm. Họ tuy yếu đuối nhưng lại mạnh mẽ. Họ can đảm trong chiến trận nên đánh bại các đạo quân thù.
HEB 11:35 Nhiều người đàn bà nhận thân nhân sống lại từ kẻ chết. Những người khác thà chịu bị hành hạ chứ không đổi lấy tự do để được sống lại vào một đời tốt đẹp hơn.
HEB 11:36 Một số bị nhạo cười, đánh đập. Kẻ khác bị xiềng xích và bị tống giam vào ngục tối.
HEB 11:37 Họ bị ném đá chết, bị cưa xẻ làm đôi, bị gươm giết. Người thì lang thang rày đây mai đó, phải che thân bằng da cừu, da dê. Họ khốn khổ, bị hành hạ và ngược đãi.
HEB 11:38 Thế gian nầy không xứng đáng cho họ! Họ lưu lạc trong sa mạc, rừng núi, sống trong hang hốc dưới đất.
HEB 11:39 Tất cả những người ấy đều được nổi danh vì đức tin, nhưng chưa ai trong họ nhận được điều Thượng Đế đã hứa.
HEB 11:40 Thượng Đế đã dự liệu cho chúng ta một điều tốt hơn để cho họ chỉ trở trên toàn thiện cùng với chúng ta mà thôi.
HEB 12:1 Những người ấy vây quanh chúng ta và chứng minh ý nghĩa của đức tin qua đời sống họ. Cho nên chúng ta hãy tham dự cuộc chạy đua trước mặt chúng ta, đừng bỏ cuộc. Chúng ta hãy dẹp bỏ khỏi đời sống những chướng ngại vật và tội lỗi dễ trì kéo chúng ta lại.
HEB 12:2 Chỉ nhìn xem Chúa Giê-xu, Đấng khởi đầu và làm toàn thiện đức tin chúng ta. Ngài chịu chết trên cây thập tự. Ngài chấp nhận và xem thường sự sỉ nhục vì nhắm vào niềm vui Thượng Đế đã đặt trước mặt mình. Hiện nay Ngài đang ngồi bên phải ngôi Thượng Đế.
HEB 12:3 Hãy nhìn gương Chúa Giê-xu là Đấng chịu đựng những sự ngược đãi của kẻ có tội để chúng ta không mỏi mệt và chán nản.
HEB 12:4 Anh chị em đang chiến đấu chống tội lỗi nhưng những cuộc chiến đấu ấy chưa khiến anh chị em phải thiệt mạng.
HEB 12:5 Anh chị em đã quên lời giục giã kêu gọi anh chị em là con: “Con ơi, đừng xem thường sự sửa trị của Chúa, và đừng bỏ cuộc khi Ngài sửa dạy.
HEB 12:6 Vì Chúa sửa trị kẻ Ngài yêu, và Ngài sửa phạt người nào Ngài nhận làm con.”
HEB 12:7 Cho nên khi chịu khổ hãy bền lòng vì những điều ấy chẳng khác nào sự sửa trị của người cha. Thượng Đế xem anh chị em như con cái Ngài. Con nào mà không bị cha răn dạy?
HEB 12:8 Nếu anh chị em không bao giờ bị cha sửa dạy thì anh chị em chưa phải là con thật, không thuộc gia đình Thượng Đế.
HEB 12:9 Tất cả chúng ta đều có cha trên đất nầy sửa dạy chúng ta. Chúng ta kính sợ cha mình. Chúng ta lại càng phải chấp nhận kỷ luật của Cha về phần tâm linh để được sự sống.
HEB 12:10 Cha trên đất sửa trị chúng ta trong một thời gian ngắn theo cách mà người cha cho là tốt nhất. Nhưng sự sửa trị của Thượng Đế là để giúp chúng ta trở nên thánh thiện như Ngài.
HEB 12:11 Lúc đang bị sửa trị thì chúng ta không thích vì đau đớn, nhưng về sau, khi đã học được ý nghĩa của sự sửa trị ấy rồi, thì chúng ta sẽ được bình an vì bắt đầu sống phải cách.
HEB 12:12 Anh chị em đã trở nên yếu đuối, hãy làm mình thêm mạnh trở lại.
HEB 12:13 Hãy sống cho phải cách để được cứu và để cho sự yếu đuối anh chị em không khiến mình bị chết mất.
HEB 12:14 Hãy sống cuộc đời thanh sạch và hòa thuận với mọi người. Chẳng ai có thể thấy Chúa được nếu đời sống không thánh thiện.
HEB 12:15 Hãy thận trọng vì e rằng có người không nhận được ân phúc của Thượng Đế. Đừng ai trở thành nguyên nhân gây rối giữa vòng anh chị em. Một người như thế có thể làm hư hỏng nhiều người trong anh chị em.
HEB 12:16 Hãy thận trọng, đừng ai phạm tội nhục dục, hoặc như Ê-sau là người không bao giờ nghĩ đến Thượng Đế. Với địa vị con trưởng, đáng lý ra Ê-sau được hưởng trọn tài sản của cha mình, nhưng chỉ vì một bữa ăn mà ông bán hết mọi thứ.
HEB 12:17 Anh chị em còn nhớ là sau khi Ê-sau làm như thế, ông muốn cha mình chúc phước nhưng bị cha từ chối. Ê-sau hối hận thì đã quá trễ mặc dù ông ao ước phúc lành đó đến nỗi phát khóc.
HEB 12:18 Anh chị em chưa đến gần hòn núi có thể rờ được và đang bốc cháy, hoặc đến chỗ tăm tối, buồn bã và giông bão.
HEB 12:19 Anh chị em chưa đến gần tiếng kèn thổi hoặc tiếng nói mà dân Ít-ra-en nghe và nài nỉ xin đừng nghe thêm tiếng nào nữa.
HEB 12:20 Họ không muốn nghe lệnh cấm: “Bất cứ vật gì dù là súc vật đi nữa, đụng đến núi sẽ bị ném đá chết.”
HEB 12:21 Điều mắt họ thấy, kinh hoàng đến nỗi Mô-se thú nhận, “Ta hết sức run sợ.”
HEB 12:22 Nhưng anh chị em đã đến gần núi Xi-ôn, thành của Thượng Đế hằng sống, Giê-ru-sa-lem trên trời. Anh chị em đã đến nơi hàng ngàn thiên sứ hân hoan nhóm họp.
HEB 12:23 Anh chị em đã đến nơi gặp gỡ của các con đầu lòng của Thượng Đế được ghi tên trên thiên đàng. Anh chị em đã đến cùng Thượng Đế, quan án của mọi người, và đến cùng các thần linh của những người tốt đã trở nên toàn thiện.
HEB 12:24 Anh chị em đã đến cùng Chúa Giê-xu, Đấng mang giao ước từ Thượng Đế đến cho dân Ngài, và anh chị em đã đến cùng huyết rưới ra, huyết mang theo một ý nghĩa tốt hơn huyết A-bên.
HEB 12:25 Cho nên hãy thận trọng, đừng bỏ ngoài tai lời Thượng Đế phán. Những kẻ khác không chịu nghe lời Ngài thì Ngài đã cảnh cáo họ trên đất, họ không thoát khỏi trừng phạt. Cho nên nếu chúng ta không nghe lời Ngài khi Ngài cảnh cáo chúng ta từ thiên đàng thì số phận chúng ta còn bi đát đến thế nào nữa.
HEB 12:26 Trước kia khi Ngài phán, tiếng phán Ngài làm rung chuyển đất. Nay thì Ngài hứa, “Một lần nữa ta sẽ không những làm rung chuyển đất mà còn rung chuyển cả trời nữa.”
HEB 12:27 Từ ngữ, “một lần nữa” cho chúng ta thấy những gì được dựng nên—tức những vật có thể bị rung chuyển—đều sẽ bị tiêu hủy. Chỉ những gì không bị rung chuyển mới còn lại thôi.
HEB 12:28 Cho nên chúng ta hãy cảm tạ vì chúng ta có một quốc gia vững bền, không lay chuyển. Chúng ta hãy lấy lòng kính sợ mà thờ phụng Thượng Đế cho đẹp lòng Ngài,
HEB 12:29 vì Thượng Đế của chúng ta là ngọn lửa đốt cháy mọi vật.
HEB 13:1 Hãy yêu nhau như anh chị em.
HEB 13:2 Hãy niềm nở tiếp đón khách vào nhà vì có người đã vô tình tiếp đón thiên sứ mà không biết.
HEB 13:3 Hãy nhớ những người bị tù tội như thể mình cũng đồng tù với họ. Hãy nhớ những kẻ đang chịu khổ như thể mình cũng chịu khổ với họ.
HEB 13:4 Mọi người phải kính trọng hôn nhân, vợ chồng phải giữ hôn nhân cho tinh sạch. Thượng Đế sẽ kết tội những kẻ phạm tội ngoại tình và các hình thức khác của tội nhục dục.
HEB 13:5 Hãy tránh việc tham tiền trong cuộc sống. Hãy bằng lòng với những gì mình có. Thượng Đế đã hứa, “Ta không bỏ ngươi; Ta không rời ngươi đâu.”
HEB 13:6 Cho nên chúng ta vững vàng khi nói, “Tôi không sợ gì cả vì Chúa là Đấng giúp đỡ tôi. Con người không làm gì được tôi.”
HEB 13:7 Hãy nhớ những người lãnh đạo đã dạy lời của Thượng Đế cho mình. Hãy nhớ cách họ sống và chết ra sao mà học đòi đức tin họ.
HEB 13:8 Chúa Cứu Thế Giê-xu hôm qua, ngày nay và muôn đời không thay đổi.
HEB 13:9 Đừng để những lời dạy dỗ xa lạ dắt dẫn anh chị em lầm lạc. Lòng anh chị em phải vững mạnh nhờ ân phúc chứ không phải nhờ vâng theo các qui tắc ăn uống, là những qui tắc không ích gì cho người vâng giữ.
HEB 13:10 Chúng ta có một sinh tế mà các thầy tế lễ phục vụ nơi Lều Thánh không được phép ăn.
HEB 13:11 Thầy tế lễ tối cao mang huyết thú vật vào Nơi Chí Thánh để dâng lên làm của lễ chuộc tội. Nhưng xác thú vật thì đem đốt ngoài vòng đai của doanh trại.
HEB 13:12 Cho nên Chúa Giê-xu cũng đã chịu khổ bên ngoài thành để thánh hóa dân Ngài bằng chính huyết Ngài.
HEB 13:13 Chúng ta cũng hãy đi ra ngoài vòng đai của doanh trại đến cùng Chúa Giê-xu để cùng chịu sỉ nhục như Ngài.
HEB 13:14 Trên đất nầy chúng ta không có thành còn muôn đời nhưng chúng ta trông đợi một thành chúng ta sẽ có trong tương lai.
HEB 13:15 Cho nên, qua Chúa Giê-xu chúng ta hãy luôn luôn dâng lên Thượng Đế sinh tế của chúng ta bằng lời ca ngợi từ môi miệng xưng nhận Ngài.
HEB 13:16 Hãy luôn đối xử tốt với kẻ khác, chia xẻ của cải với họ vì những sự hi sinh như thế đẹp lòng Thượng Đế.
HEB 13:17 Hãy vâng lời các bậc lãnh đạo và phục tùng quyền hành của họ. Họ chăm sóc linh hồn anh chị em vì họ chịu trách nhiệm trước mặt Chúa về anh chị em. Hãy vâng lời họ để họ thi hành nhiệm vụ một cách vui vẻ chứ không buồn rầu. Đừng gây khó khăn cho công việc của họ vì chẳng ích gì cho anh chị em.
HEB 13:18 Hãy cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi biết chắc mình có lương tâm trong sạch vì chúng tôi luôn muốn làm điều phải.
HEB 13:19 Đặc biệt, tôi nài xin anh chị em cầu nguyện để Thượng Đế sẽ sớm sai tôi đến cùng anh chị em.
HEB 13:20 Tôi cầu Thượng Đế hòa bình ban cho anh chị em đủ mọi điều tốt lành để làm theo ý Ngài. Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu chúng ta sống lại từ trong kẻ chết, Ngài là Đấng Chăn Chiên Cao Cả do huyết Ngài đã đổ ra. Huyết Ngài khởi đầu giao ước muôn đời mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Tôi cầu xin Thượng Đế thực hiện trong chúng ta điều đẹp lòng Ngài, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
HEB 13:22 Thưa anh chị em, tôi nài xin anh chị em hãy nhẫn nhục vâng theo lời tôi viết đây vì thư nầy không dài lắm đâu.
HEB 13:23 Tôi muốn anh chị em biết rằng anh em chúng ta là Ti-mô-thê đã được thả. Nếu anh ấy sớm đến với anh chị em thì cả hai chúng tôi sẽ gặp lại anh chị em.
HEB 13:24 Hãy chào hết các bậc lãnh đạo của anh chị em và các con dân Thượng Đế. Những anh em từ nước Ý chào thăm anh chị em.
HEB 13:25 Nguyền xin ân phúc ở với tất cả anh chị em.
JAM 1:1 Gia-cơ, tôi tớ của Thượng Đế và của Chúa Cứu Thế Giê-xu, kính gởi các dân Chúa đang sống tản lạc khắp nơi trên thế giới. Kính thăm anh chị em.
JAM 1:2 Thưa anh chị em, khi gặp đủ thứ nghịch cảnh, hãy nên vui mừng,
JAM 1:3 vì biết rằng nghịch cảnh thử nghiệm đức tin anh chị em, từ đó tạo ra tính nhẫn nhục.
JAM 1:4 Hãy để tính nhẫn nhục nẩy nở đầy đủ trong việc làm, để anh chị em được hoàn toàn, không khiếm khuyết điều gì.
JAM 1:5 Trong anh chị em có ai thiếu khôn ngoan, hãy cầu xin Thượng Đế. Ngài là Đấng rộng rãi, sẵn sàng ban cho mọi người, nên chắc hẳn Ngài sẽ cho anh chị em sự khôn ngoan.
JAM 1:6 Tuy nhiên khi cầu xin phải có lòng tin, không được ngờ vực; vì người hoài nghi giống như sóng biển nhấp nhô theo luồng gió.
JAM 1:7 Những người hoài nghi như thế hay phân vân giữa hai việc, lòng không ổn định. Người như vậy đừng mong nhận được gì từ nơi Chúa.
JAM 1:9 Các tín hữu đang ở địa vị thấp hèn nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ giàu có về tâm linh.
JAM 1:10 Còn người giàu cũng nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ nghèo về tâm linh. Kẻ giàu sẽ chết như hoa dại trong đồng cỏ.
JAM 1:11 Mặt trời lên, nắng cháy khiến cỏ cây khô héo. Hoa rơi, vẻ đẹp tồi tàn. Cũng vậy, người giàu sẽ biến mất trong khi mải lo công việc làm ăn.
JAM 1:12 Ai bị cám dỗ mà còn đứng vững, hãy vui mừng; vì sau khi đã chứng tỏ đức tin mình thì Thượng Đế sẽ ban thưởng cho họ sự sống đời đời là điều Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài.
JAM 1:13 Khi bị cám dỗ thì không nên nói, “Thượng Đế cám dỗ tôi.” Thượng Đế không bị điều ác nào cám dỗ, mà chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
JAM 1:14 Người ta bị cám dỗ khi dục vọng xấu xa bên trong thúc đẩy họ lầm lạc và khiến họ sập bẫy.
JAM 1:15 Dục vọng đó đưa đến tội lỗi, tội lỗi sinh sôi nẩy nở và dẫn đến sự chết.
JAM 1:16 Các anh chị em yêu dấu, chớ mắc lừa về điều nầy.
JAM 1:17 Mọi hành vi tốt đẹp và mọi ân tứ hoàn toàn đều từ Thượng Đế mà đến là Đấng dựng nên mặt trời, mặt trăng, các vì sao. Ngài không thay đổi như bóng di động của các tinh tú đó.
JAM 1:18 Ngài đã ban cho chúng ta sự sống qua lời của chân lý để chúng ta đứng đầu trong mọi vật Ngài dựng nên.
JAM 1:19 Anh chị em yêu dấu, lúc nào cũng phải mau nghe mà chậm nói. Đừng nóng tính,
JAM 1:20 vì sự nóng giận không giúp anh chị em sống đẹp lòng Thượng Đế đâu.
JAM 1:21 Cho nên, hãy dẹp khỏi đời sống anh chị em mọi điều gian ác, mọi hành động sái bậy. Hãy hiền hòa đón nhận lời dạy của Thượng Đế đã được trồng trong lòng, là lời có thể cứu rỗi anh chị em.
JAM 1:22 Hãy làm theo lời dạy của Thượng Đế, vì nếu chỉ nghe mà không làm, thì chỉ tự gạt mình thôi.
JAM 1:23 Kẻ nào nghe lời Thượng Đế mà không làm theo, giống như người soi gương,
JAM 1:24 trông thấy mặt mình rồi bỏ đi, quên mất mặt mình ra sao.
JAM 1:25 Nhưng người hạnh phúc thật là người học hỏi kỹ càng luật pháp toàn vẹn của Thượng Đế để giải thoát con người, họ tiếp tục học mãi. Họ không quên điều mình nghe, nhưng làm theo lời dạy của Thượng Đế.
JAM 1:26 Ai cho mình ngoan đạo mà ăn nói bừa bãi thì chỉ tự gạt mình. “Đạo” của người đó thật vô dụng.
JAM 1:27 Đạo được Thượng Đế xem như thanh sạch và hoàn toàn là: chăm sóc trẻ mồ côi và người góa bụa cần giúp đỡ, giữ mình khỏi bị ảnh hưởng xấu xa của thế gian.
JAM 2:1 Thưa anh chị em yêu dấu là tín hữu của Chúa Cứu Thế Giê-xu vinh hiển, đừng thiên vị người nào.
JAM 2:2 Giả sử có một người mặc áo quần sang trọng, đeo nhẫn vàng bước vào lúc đang thờ phụng, đồng thời cũng có một người nghèo mặc áo quần rách rưới, dơ bẩn cũng bước vào.
JAM 2:3 Anh chị em niềm nở nói với người mặc áo quần sang trọng, “Mời ông ngồi chỗ tốt nầy.” Rồi bảo người nghèo, “Đứng đàng kia,” hoặc “Ngồi dưới đất nơi chân ta.”
JAM 2:4 Vậy nghĩa là sao? Anh chị em đã thiên vị, do ác tưởng trong lòng, trọng người nầy khinh người kia.
JAM 2:5 Anh chị em yêu dấu, hãy nghe đây! Thượng Đế đã chọn những người nghèo trên thế gian để họ giàu có trong đức tin và nhận được Nước Trời mà Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài.
JAM 2:6 Nhưng anh chị em xem thường người nghèo. Chính kẻ giàu là những người muốn cai quản cuộc đời anh chị em, lôi anh chị em ra tòa.
JAM 2:7 Họ cũng là những người nói phạm đến danh Chúa Giê-xu là Đấng chủ tể của anh chị em.
JAM 2:8 Khuôn vàng thước ngọc sau đây được chép trong Thánh Kinh, “Hãy yêu người láng giềng như mình.” Nếu anh chị em vâng theo khuôn phép đó thì anh chị em làm đúng.
JAM 2:9 Nhưng nếu anh chị em thiên vị tức là anh chị em vi phạm luật pháp của Thượng Đế.
JAM 2:10 Ai vâng giữ tất cả luật pháp của Thượng Đế mà chỉ vi phạm một điều thôi thì xem như vi phạm toàn thể luật pháp.
JAM 2:11 Thượng Đế là Đấng đã phán, “Ngươi chớ phạm tội ngoại tình,” cũng là Đấng phán, “Ngươi chớ giết người.” Cho nên, nếu anh chị em không phạm tội ngoại tình nhưng giết người thì xem như anh chị em đã vi phạm toàn thể luật pháp của Thượng Đế.
JAM 2:12 Trong bất cứ điều gì anh chị em nói và làm, nên nhớ rằng anh chị em sẽ bị xét xử theo luật pháp là luật giải thoát con người.
JAM 2:13 Cho nên, hãy tỏ lòng nhân từ đối với người khác nếu không thì khi Thượng Đế xét xử anh chị em, Ngài cũng sẽ không tỏ lòng nhân từ đối với anh chị em. Còn ai tỏ lòng nhân ái thì không có gì phải sợ ngày xét xử.
JAM 2:14 Thưa anh chị em, nếu có ai nói mình có đức tin mà không chứng tỏ được bằng việc làm thì đức tin đó vô dụng. Đức tin có cứu người ấy được không?
JAM 2:15 Giả sử có một tín hữu trong Chúa Cứu Thế đang thiếu ăn, thiếu mặc,
JAM 2:16 mà nếu anh chị em bảo họ, “Nguyện Chúa ở cùng anh chị, tôi mong anh chị ăn no mặc ấm,” nhưng không cho họ đồ cần dùng gì cả, thì lời nói của anh chị em vô ích.
JAM 2:17 Cũng vậy, đức tin không có việc làm kèm theo là đức tin chết.
JAM 2:18 Có người sẽ bảo, “Anh có đức tin, còn tôi có việc làm.” Hãy cho tôi thấy đức tin không có việc làm của anh rồi tôi sẽ cho anh thấy đức tin bằng việc làm của tôi.
JAM 2:19 Anh chị em tin có Thượng Đế. Tốt lắm! Nhưng ma quỉ cũng tin như vậy và còn run sợ nữa.
JAM 2:20 Kẻ dại ơi! Anh có muốn trông thấy đức tin mà thiếu việc làm là vô ích không?
JAM 2:21 Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, được xưng công chính trước mặt Thượng Đế qua việc làm khi ông dâng con là Y-sác trên bàn thờ.
JAM 2:22 Cho nên, anh chị em thấy đức tin và việc làm của Áp-ra-ham đi đôi với nhau. Đức tin ông được toàn thiện qua việc làm.
JAM 2:23 Do đó, chúng ta thấy ý nghĩa đầy đủ của lời Thánh Kinh, “Áp-ra-ham tin Thượng Đế, Ngài chấp nhận đức tin của ông, đức tin đó khiến ông trở nên công chính trước mặt Ngài.” Và Áp-ra-ham được gọi là bạn của Thượng Đế.
JAM 2:24 Cho nên người ta được trở nên công chính trước Thượng Đế không những chỉ qua đức tin mà còn qua việc làm nữa.
JAM 2:25 Một dẫn chứng khác là Ra-háp, cô gái làng chơi. Cô được trở nên công chính trước Thượng Đế qua việc làm khi cô tiếp đón các người do thám vào nhà mình và giúp họ thoát thân qua con đường khác.
JAM 2:26 Xác không có hồn thì chết, đức tin không dẫn đến việc làm cũng chết như vậy.
JAM 3:1 Thưa anh chị em, trong vòng anh chị em không nên có quá nhiều người mong làm thầy vì sẽ bị phê phán gắt gao hơn.
JAM 3:2 Chúng ta ai cũng có sơ xuất. Nếu ai không hề sơ xuất trong lời nói, người đó thật hoàn toàn, biết kiểm soát cả con người mình.
JAM 3:3 Khi chúng ta tra khớp vào miệng ngựa, bắt nó vâng theo mình thì có thể kiểm soát toàn thân nó.
JAM 3:4 Chiếc tàu mặc dù to lớn, bị gió mạnh xô đẩy, nhưng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ cũng đủ điều khiển chiếc tàu lớn đó đi theo ý người cầm lái.
JAM 3:5 Cái lưỡi cũng tương tự như vậy. Tuy chỉ là một chi thể nhỏ nhưng khoe khoang nhiều chuyện lớn. Chỉ cần một ngọn lửa nhỏ là có thể bắt đầu đám cháy rừng lớn.
JAM 3:6 Cái lưỡi cũng giống như ngọn lửa. Trong tất cả mọi chi thể nó tập trung cả khối gian ác và rải nọc độc ra toàn thân. Nó bị hỏa ngục bắt cháy rồi chính nó cũng khởi đầu một đám cháy ảnh hưởng cả đời người.
JAM 3:7 Loài người có thể chế ngự mọi dã thú, từ chim chóc, loài bò sát cho đến cá. Loài nào cũng chế ngự được,
JAM 3:8 nhưng chưa ai chế ngự được cái lưỡi. Nó hung hăng, gian ác, đầy nọc độc chết người.
JAM 3:9 Chúng ta dùng cái lưỡi để ca ngợi Chúa là Cha chúng ta, nhưng cũng dùng chính cái lưỡi ấy để chửi rủa người khác, là người được Thượng Đế tạo dựng theo hình ảnh Ngài.
JAM 3:10 Vừa khen ngợi, vừa chửi rủa, cả hai đều phát xuất từ một môi miệng sao? Thưa anh chị em, không nên làm như vậy.
JAM 3:11 Có lý nào từ một con suối mà ra cả hai loại nước vừa ngọt vừa mặn sao?
JAM 3:12 Thưa anh chị em, có thể nào cây vả sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh ra trái vả không? Không thể được! Cũng vậy, giếng nước mặn chẳng thể cho nước ngọt được.
JAM 3:13 Trong anh chị em có ai thật sự khôn ngoan hiểu biết chăng? Người ấy nên chứng tỏ qua nếp sống tốt đẹp và hành vi đáng khen phản ảnh qua tính mềm mại do khôn ngoan mà ra.
JAM 3:14 Nhưng nếu anh chị em ích kỷ và đố kỵ cay đắng trong lòng, thì chớ nên khoe khoang, vì khoe như thế là giả dối, giấu giếm sự thật.
JAM 3:15 Loại “khôn ngoan” đó không phải từ Thượng Đế đến đâu mà từ thế gian ra. Khôn ngoan đó không thuộc tâm linh mà thuộc ma quỉ.
JAM 3:16 Nơi nào có đố kỵ và ích kỷ, nơi đó có hỗn loạn và đủ thứ gian ác.
JAM 3:17 Nhưng sự khôn ngoan đến từ Thượng Đế thì trước hết là tinh sạch, rồi tới hòa thuận, dịu dàng và chân thật. Loại khôn ngoan nầy lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn và làm ích cho kẻ khác. Lúc nào cũng phải chăng và lương thiện.
JAM 3:18 Người làm việc cho hòa bình gieo trồng hoa màu tốt cho nếp sống phải lẽ.
JAM 4:1 Anh chị em có biết những hục hặc và cãi vã giữa anh chị em đến từ đâu không? Chúng đến từ lòng ham muốn ích kỷ đang tranh chiến bên trong con người anh chị em.
JAM 4:2 Anh chị em thèm muốn nhiều thứ mà không được, thành thử anh chị em sẵn sàng giết chóc và ganh tị với người khác nhưng vẫn không nhận được điều mình ham muốn rồi đâm ra cãi vã, giành giựt. Anh chị em không được điều mình muốn là vì không xin Thượng Đế.
JAM 4:3 Hoặc xin mà vẫn không nhận được vì động lực cầu xin của anh chị em sai lầm cốt để thỏa mãn tư dục mình.
JAM 4:4 Anh chị em không trung thành với Thượng Đế! Nên biết rằng yêu thế gian tức là ghét Thượng Đế. Ai làm bạn với thế gian đương nhiên trở thành thù nghịch với Thượng Đế.
JAM 4:5 Đừng cho rằng Thánh Kinh nói đùa khi viết, “Thánh Linh mà Thượng Đế khiến sống trong lòng chúng ta chỉ muốn chúng ta thuộc về một mình Ngài mà thôi.”
JAM 4:6 Nhưng Ngài ban cho chúng ta ân phúc lớn hơn nữa như Thánh Kinh viết, “Thượng Đế chống kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân phúc cho người khiêm nhường.”
JAM 4:7 Cho nên, hãy hiến dâng toàn thân cho Thượng Đế. Hãy chống cự ma quỉ thì nó sẽ bỏ chạy khỏi anh chị em.
JAM 4:8 Hãy đến gần Thượng Đế, Ngài sẽ đến gần anh chị em. Kẻ có tội, hãy tẩy sạch nếp sống mình đi. Người nào vừa theo Chúa vừa theo đời, hãy rửa sạch lòng mình đi.
JAM 4:9 Hãy buồn bã, than vãn, khóc lóc! Hãy đổi cười ra khóc, vui ra buồn.
JAM 4:10 Trước mặt Chúa đừng quá tự phụ thì Ngài sẽ cất nhắc anh chị em lên.
JAM 4:11 Thưa anh chị em, đừng bêu xấu nhau. Vì bêu xấu hoặc phê phán tín hữu khác tức là anh chị em phê phán và nói xấu luật pháp. Mà khi phê phán luật pháp thì anh chị em không phải là người tôn trọng luật mà là quan án.
JAM 4:12 Chỉ có một mình Thượng Đế là Đấng ban hành luật và là Quan Án. Chỉ một mình Ngài là Đấng có thể cứu vớt và tiêu diệt. Cho nên, đừng phê phán người láng giềng mình.
JAM 4:13 Có người trong vòng anh chị em tuyên bố, “Nay mai tôi sẽ đi đến thành phố nọ, ở đó một năm để kinh doanh rồi làm giàu.”
JAM 4:14 Nhưng anh chị em không biết ngày mai sẽ ra sao! Sự sống anh chị em chẳng khác gì sương mù, xuất hiện trong chốc lát rồi tan mất.
JAM 4:15 Anh chị em nên nói, “Nếu Chúa muốn và tôi còn sống thì tôi sẽ làm công nầy việc nọ.”
JAM 4:16 Nhưng anh chị em tự phụ và khoe khoang. Khoe khoang như thế không tốt.
JAM 4:17 Ai biết đều phải mà không làm là phạm tội.
JAM 5:1 Các anh chị em là người giàu, hãy nghe đây! Hãy khóc lóc và buồn bã vì nghịch cảnh sẽ đến trên anh chị em.
JAM 5:2 Sự giàu có của anh chị em bị mục nát rồi, áo quần anh chị em bị mối mọt ăn hư hết.
JAM 5:3 Vàng bạc anh chị em bị rỉ sét. Rỉ sét đó là bằng chứng cho thấy anh chị em đã lầm. Chúng nó sẽ gậm nhấm thân thể anh chị em như lửa. Anh chị em đã để dành của báu cho những ngày sau cùng.
JAM 5:4 Tiền lương của nhân công gặt ruộng mà anh chị em không chịu trả kêu la nghịch cùng anh chị em. Tiếng kêu của họ đã lên thấu đến Chúa Toàn Năng.
JAM 5:5 Đời sống anh chị em sung túc, dư dật mọi thứ mình muốn. Anh chị em đã mập béo như con thú sẵn sàng bị hạ thịt.
JAM 5:6 Anh chị em đã kết án rồi giết người vô tội mà họ không chống lại anh chị em.
JAM 5:7 Thưa anh chị em, hãy nhẫn nhục cho tới khi Chúa đến. Nông gia cũng phải kiên nhẫn chờ đợi mùa màng tốt đẹp từ đất sinh ra và được thấm nhuần mưa thu và mưa xuân.
JAM 5:8 Anh chị em cũng phải kiên nhẫn. Đừng tuyệt vọng vì Chúa sắp đến rồi.
JAM 5:9 Thưa anh chị em, đừng phàn nàn lẫn nhau, nếu không anh chị em sẽ mang tội. Quan Án sẵn sàng đến rồi.
JAM 5:10 Thưa anh chị em, hãy noi gương các nhà tiên tri nói thay cho Chúa. Họ chịu đựng nhiều khốn đốn nhưng vẫn nhẫn nhục.
JAM 5:11 Chúng ta cho họ có phúc vì họ không bỏ cuộc. Anh chị em đã nghe về sự nhẫn nhục của Gióp và biết mục đích cuối cùng Chúa dành cho ông như thế nào. Anh chị em biết Chúa đầy lòng nhân từ.
JAM 5:12 Thưa anh chị em, điều quan trọng là đừng bao giờ thề thốt khi hứa nguyện. Đừng chỉ trời, đất hay bất cứ điều gì để cam đoan lời mình nói. Điều gì phải thì nói phải, không thì nói không để khỏi bị kết tội.
JAM 5:13 Ai đang gặp nghịch cảnh hãy cầu nguyện. Ai đang vui mừng hãy hát ca ngợi.
JAM 5:14 Người nào đau yếu hãy mời các trưởng lão của hội thánh đến. Họ sẽ nhân danh Chúa cầu nguyện và xức dầu cho người đó.
JAM 5:15 Lời cầu nguyện trong đức tin sẽ chữa lành người đau, Chúa sẽ chữa bệnh cho người ấy; nếu họ phạm tội cũng sẽ được tha.
JAM 5:16 Hãy xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau để Thượng Đế chữa lành anh chị em. Khi một tín hữu cầu nguyện, những việc lớn có thể xảy ra.
JAM 5:17 Ê-li cũng là người như chúng ta thôi. Ông cầu nguyện xin đừng mưa, thì trời không mưa trên khắp nước suốt ba năm rưỡi.
JAM 5:18 Rồi Ê-li cầu xin thì mưa xuống, đất lại sinh sản hoa màu.
JAM 5:19 Thưa anh chị em, nếu một người trong anh chị em đi sai lạc khỏi chân lý mà có ai đưa dắt người đó trở về,
JAM 5:20 thì hãy nhớ điều nầy: Ai giúp một tội nhân trở lại khỏi đường lầm lạc, là cứu linh hồn người đó khỏi chết, khiến cho bao nhiêu tội lỗi đều được tha thứ hết.
1PE 1:1 Phia-rơ, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Kính gởi dân được Thượng Đế chọn lựa hiện đang sống ly hương rải rác quanh các miền Bông-tu, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, Á-châu và By-thi-ni.
1PE 1:2 Từ xưa Thượng Đế là Cha đã trù liệu việc lựa chọn anh chị em làm dân thánh cho Ngài. Đó là công tác của Thánh Linh. Ngài muốn anh chị em vâng phục Ngài và trở nên tinh sạch nhờ huyết qua sự chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nguyền xin ân phúc và sự bình an ở với anh chị em càng thêm.
1PE 1:3 Chúc tụng Thượng Đế, Cha của Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta. Nhờ lòng nhân ái lớn lao của Ngài chúng ta được sinh lại để nhận một hi vọng sống vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã sống lại từ trong kẻ chết.
1PE 1:4 Hiện nay chúng ta nuôi hi vọng về ân phúc Thượng Đế đã dành cho con cái Ngài. Ân phúc ấy không tiêu mất, không hư hỏng, không tàn héo hiện đang được để dành trên thiên đàng cho anh chị em.
1PE 1:5 Quyền năng của Thượng Đế đã giữ gìn anh chị em qua đức tin cho đến khi sự cứu rỗi được tỏ ra cho anh chị em vào lúc tận thế.
1PE 1:6 Anh chị em rất vui về điều nầy, mặc dù hiện nay những khốn khổ tạm thời đang khiến anh chị em buồn bã trong ít lâu.
1PE 1:7 Những khốn khổ xảy đến để chứng tỏ đức tin anh chị em thật tinh khiết, quí hơn vàng đã được thử lửa. Tuy nhiên sự tinh khiết của đức tin anh chị em sẽ khiến anh chị em nhận được sự khen ngợi, vinh hiển và tôn trọng khi Chúa Cứu Thế Giê-xu hiện ra.
1PE 1:8 Anh chị em chưa thấy Ngài nhưng yêu mến Ngài. Hiện anh chị em chưa thể thấy Ngài nhưng vẫn tin Ngài. Do đó, anh chị em tràn ngập vui mừng khôn tả, một niềm vui đầy vinh hiển.
1PE 1:9 Anh chị em đang nhận mục đích của đức tin tức là sự cứu rỗi cho linh hồn mình.
1PE 1:10 Các nhà tiên tri đã tìm tòi kỹ lưỡng và cố gắng học biết về sự cứu rỗi nầy. Họ đã nói tiên tri về ân phúc sẽ đến với anh chị em.
1PE 1:11 Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự trong các nhà tiên tri và báo cho họ biết trước về những khổ hình mà Đấng Cứu Thế phải chịu cùng với vinh hiển đến sau đó. Các nhà tiên tri ấy cố gắng học hỏi điều Thánh Linh đã tiết lộ cho họ, để biết khi nào những sự việc ấy sẽ xảy ra và thế gian sẽ như thế nào vào thời kỳ ấy.
1PE 1:12 Họ được biết rằng công tác của họ không phải ích lợi cho chính họ mà cho anh chị em, khi họ giảng cho anh chị em biết về chân lý mà anh chị em hiện đang nghe. Những người rao giảng Tin Mừng thuật cho anh chị em các điều ấy—những điều mà chính các thiên sứ cũng ao ước được thấy—qua sự soi dẫn của Thánh Linh, Đấng từ thiên đàng sai xuống.
1PE 1:13 Cho nên anh chị em hãy chuẩn bị tinh thần phục vụ và hãy tiết độ. Anh chị em hãy đặt hết hi vọng nơi ân phúc mà Thượng Đế sẽ cho anh chị em khi Chúa Cứu Thế hiện ra.
1PE 1:14 Hiện nay anh chị em đã trở nên con cái vâng phục của Thượng Đế nên đừng sống theo lối cũ nữa. Trước kia anh chị em không hiểu biết nên làm những điều ác theo ý mình.
1PE 1:15 Nhưng hãy thánh hóa trong mọi hành vi, như Thượng Đế, Đấng gọi anh chị em là thánh, thì anh chị em cũng hãy thánh hóa.
1PE 1:16 Thánh Kinh viết, “Các ngươi hãy thánh hóa vì ta là thánh.”
1PE 1:17 Anh chị em cầu nguyện với Thượng Đế và gọi Ngài là Cha, Ngài cân nhắc công việc mỗi người một cách công bằng. Cho nên trong khi còn là lữ khách trên đất hãy sống một cuộc đời kính sợ Thượng Đế.
1PE 1:18 Trước kia anh chị em sống một cuộc đời vô dụng, theo nếp sống của tổ tiên truyền lại. Nhưng nay anh chị em đã được cứu khỏi cuộc sống vô dụng ấy rồi. Anh chị em được cứu chuộc, không phải bằng thứ có thể hư nát như vàng hay bạc,
1PE 1:19 nhưng là bằng chính huyết quí báu của Chúa Cứu Thế. Như chiên con tinh sạch hoàn toàn,
1PE 1:20 Chúa Cứu Thế đã được chọn từ trước khi sáng thế nhưng vì anh chị em mà Ngài được tỏ ra cho thế gian vào các thời kỳ cuối cùng nầy.
1PE 1:21 Nhờ Chúa Cứu Thế, anh chị em tin nhận Thượng Đế, là Đấng khiến Ngài sống lại từ kẻ chết và ban cho Ngài sự vinh hiển. Vì thế đức tin và hi vọng anh chị em được đặt trong Thượng Đế.
1PE 1:22 Nay anh chị em đã làm linh hồn mình tinh khiết do vâng phục chân lý để có một tình yêu chân thành đối với các anh chị em tín hữu khác, vậy hãy hết lòng yêu mến nhau.
1PE 1:23 Anh chị em đã được sinh lại, sự sống mới nầy không phải đến từ hột giống mục nát mà đến từ hột giống còn sống mãi qua lời còn đời đời của Thượng Đế.
1PE 1:24 Thánh Kinh viết, “Mọi người đều như cỏ, và mọi vinh hiển họ giống như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa rơi,
1PE 1:25 nhưng lời của Thượng Đế còn đời đời.” Đó là lời đã được giảng ra cho anh chị em.
1PE 2:1 Cho nên hãy dẹp khỏi anh chị em mọi điều gian ác, mọi thứ dối trá, giả hình, ganh tị và lời hiểm độc.
1PE 2:2 Như trẻ sơ sinh cần sữa, anh chị em hãy ham thích sự dạy dỗ thiêng liêng trong sạch. Nhờ đó anh chị em sẽ lớn lên và được cứu,
1PE 2:3 vì anh chị em đã nếm biết Chúa rất tốt lành.
1PE 2:4 Hãy đến cùng Chúa Giê-xu là “tảng đá” sống. Người thế gian gạt bỏ tảng đá ấy nhưng Ngài là tảng đá đã được Thượng Đế chọn lựa, vô cùng quí giá.
1PE 2:5 Hãy làm những tảng đá sống, xây đền thờ thiêng liêng—làm thầy tế lễ thánh, dâng của lễ thiêng liêng cho Thượng Đế. Ngài sẽ nhận các của lễ ấy qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1PE 2:6 Thánh Kinh viết, “Ta sẽ đặt một tảng đá ở Giê-ru-sa-lem. Một tảng đá quan trọng và quí báu. Ai tin vào tảng đá ấy sẽ không bị thất vọng.”
1PE 2:7 Tảng đá ấy rất quí báu đối với anh chị em là người tin. Nhưng cho những kẻ không tin thì, “tảng đá bị thợ xây nhà loại bỏ lại trở thành đá góc nhà.”
1PE 2:8 Ngoài ra, Ngài là “hòn đá gây vấp ngã, tảng đá gây vấp ngã.” Họ vấp ngã vì họ không vâng lời Thượng Đế, vì thế Thượng Đế đã dự liệu việc ấy xảy đến cho họ.
1PE 2:9 Nhưng anh chị em là dân được lựa chọn, giữ chức tế lễ nhà vua, là dân thuộc riêng về Thượng Đế. Anh chị em được chọn để rao truyền những việc diệu kỳ của Ngài, Đấng đã gọi anh chị em ra khỏi chốn tối tăm để bước vào ánh sáng huyền diệu của Ngài.
1PE 2:10 Trước kia anh chị em không phải là một dân tộc nhưng nay anh chị em là con dân của Thượng Đế. Trước kia, anh chị em không nhận được lòng từ ái, nhưng nay anh chị em nhận ơn từ ái của Ngài.
1PE 2:11 Các bạn yêu dấu ơi, anh chị em như kiều dân và lữ khách trên đất. Tôi khuyên anh chị em đừng sống theo ước muốn thế gian là những điều chống nghịch với linh hồn anh chị em.
1PE 2:12 Những kẻ không tin đang sống ở chung quanh anh chị em và vu khống rằng anh chị em là người gian ác. Hãy sống một cuộc đời đạo đức để họ thấy những hành vi đáng khen của anh chị em mà dâng vinh hiển cho Thượng Đế khi Ngài đến.
1PE 2:13 Vì danh Chúa, mọi người hãy vâng lời các nhà cầm quyền trên thế gian: vua chúa là người có thẩm quyền tối cao,
1PE 2:14 và các quan quyền được vua sai đến để trừng phạt kẻ làm quấy và khen ngợi người làm phải.
1PE 2:15 Ý muốn của Thượng Đế là khi anh chị em làm phải thì anh chị em bịt miệng những kẻ ngu dại để họ khỏi nói những điều ngu xuẩn về anh chị em.
1PE 2:16 Hãy sống như người tự do nhưng đừng lạm dụng tự do ấy để làm ác. Hãy sống như những tôi tớ của Thượng Đế.
1PE 2:17 Hãy tôn trọng mọi người: Yêu anh chị em, kính Thượng Đế, trọng vua.
1PE 2:18 Hỡi kẻ tôi tớ, hãy vâng phục quyền hành của chủ mình với lòng tôn kính. Không những chỉ vâng phục những người chủ tốt và nhân từ mà cũng phải vâng lời người chủ bất công nữa.
1PE 2:19 Nếu chịu khổ trong cảnh bất công mà nhớ đến Thượng Đế là điều đáng khen.
1PE 2:20 Nếu bị đòn vì làm quấy thì dù cam chịu cũng chẳng có gì đáng khen, nhưng nếu chịu khổ vì làm điều phải thì được Thượng Đế ban phúc lành.
1PE 2:21 Đó là điều Thượng Đế kêu gọi anh chị em làm, vì Chúa Cứu Thế đã chịu khổ thay cho anh chị em để nêu gương cho anh chị em noi theo. Cho nên hãy làm như Ngài đã làm.
1PE 2:22 “Ngài chưa hề phạm tội, chưa hề nói dối.”
1PE 2:23 Khi bị sỉ nhục, Ngài không trả miếng. Chúa Cứu Thế chịu khổ nhưng không hề hăm dọa. Ngài để Thượng Đế, Đấng xử đoán công bằng, lo cho mình.
1PE 2:24 Chúa Cứu Thế đã gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên thập tự giá để chúng ta không sống cho tội lỗi nữa mà sống theo điều thiện. Nhờ vết thương Ngài mà anh chị em được chữa lành.
1PE 2:25 Trước kia anh chị em như chiên lạc nhưng nay đã trở về với Người Chăn và là Đấng Bảo Bọc cho linh hồn mình.
1PE 3:1 Cũng vậy, vợ phải vâng phục chồng mình, để nếu có người chồng nào không vâng theo lời dạy của Thượng Đế thì sẽ được cảm hóa do nếp sống của người vợ, không cần ai khuyên bảo.
1PE 3:2 Chồng của các chị em sẽ thấy nếp sống tinh sạch và kính sợ Thượng Đế của chị em.
1PE 3:3 Vẻ đẹp của chị em không phải do làm tóc, đeo nữ trang vàng bạc, hoặc mặc áo quần lòe loẹt đâu.
1PE 3:4 Vẻ đẹp của chị em là do bề trong—một cái đẹp thùy mị, dịu dàng và tâm thần bình thản không bao giờ tiêu mất mới quí báu trước mặt Thượng Đế.
1PE 3:5 Các nữ thánh xưa cũng sống như thế, nhờ tin cậy Thượng Đế, vâng phục chồng mình mà họ trở nên đẹp.
1PE 3:6 Sa-ra vâng phục Áp-ra-ham, chồng mình, gọi ông là chủ mình. Chị em sẽ là con cháu thật của Sa-ra nếu chị em luôn luôn làm điều phải, không sợ hãi gì.
1PE 3:7 Ngược lại, chồng cũng phải thông cảm vợ vì vợ yếu đuối hơn mình. Hãy biết quí trọng vợ, vì nàng cũng được thừa kế phần ân phúc của sự sống, để không có gì cản trở sự cầu nguyện của anh em.
1PE 3:8 Sau hết, tất cả các anh chị em phải sống hòa thuận với nhau, thông cảm nhau, yêu thương nhau như người trong gia đình, hãy nhân từ và khiêm nhường.
1PE 3:9 Đừng lấy ác trả ác, lấy sỉ nhục trả sỉ nhục, nhưng hãy đáp lại bằng lời chúc phước vì anh chị em được kêu gọi phải đối xử với mọi người như thế để nhận được ân phúc.
1PE 3:10 Thánh Kinh viết, “Ai muốn vui hưởng cuộc đời và sống hạnh phúc, thì nên sống như thế. Không nên nói lời cay độc, không nên nói dối.
1PE 3:11 Phải tránh điều ác, theo đuổi điều thiện. Hãy tìm kiếm và phục vụ cho hòa bình.
1PE 3:12 Mắt Chúa trông chừng người nhân đức, lỗ tai Ngài nghe lời cầu nguyện của họ. Nhưng Ngài nghịch lại những kẻ làm ác.”
1PE 3:13 Nếu anh chị em cố gắng làm lành thì ai có thể hại anh chị em được?
1PE 3:14 Nhưng nếu anh chị em chịu khổ vì làm điều phải thì anh chị em có phúc. “Đừng sợ điều họ sợ; đừng kinh hãi vì những điều ấy.”
1PE 3:15 Hãy tôn Chúa Cứu Thế làm thánh trong lòng mình. Luôn luôn sẵn sàng trả lời bất cứ người nào yêu cầu anh chị em giải thích về hi vọng của mình,
1PE 3:16 hãy trả lời một cách ôn hòa, lễ độ. Hãy giữ lương tâm cho trong sạch để những kẻ chê bai nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Chúa Cứu Thế cảm thấy xấu hổ.
1PE 3:17 Thà chịu khổ vì làm lành còn hơn chịu khổ vì làm ác, nếu đó là ý muốn Thượng Đế.
1PE 3:18 Chính Chúa Cứu Thế đã chịu khổ khi Ngài chịu chết vì anh chị em. Nhờ sự chết ấy Ngài đền tội cho anh chị em. Ngài là Đấng vô tội, nhưng đã chịu khổ thay cho kẻ có tội để đưa anh chị em về với Thượng Đế. Thân thể Ngài chịu giết nhưng đã được sống lại nhờ Thánh Linh.
1PE 3:19 Và nhờ Thánh Linh, Ngài đi loan báo sự đắc thắng của Ngài cho các linh hồn trong tù,
1PE 3:20 là những người không vâng phục Thượng Đế từ xưa lắm, vào thời Nô-ê. Trong khi Nô-ê đóng tàu thì Thượng Đế kiên nhẫn chờ đợi. Thế mà chỉ có vài người—tất cả chỉ có tám người—được cứu qua nước mà thôi.
1PE 3:21 Nước ấy cũng giống như phép báp-têm ngày nay cứu rỗi anh chị em—không phải rửa sạch thân thể nhưng là lời cam kết với Thượng Đế để sống bằng lương tâm trong sạch. Được như thế là nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu đã sống lại từ trong kẻ chết.
1PE 3:22 Nay Ngài đã trở về thiên đàng, ngồi bên phải Thượng Đế và đang cai quản các thiên sứ, các bậc cầm quyền và mọi thế lực.
1PE 4:1 Vì Chúa Cứu Thế đã chịu khổ về phần xác thể cho nên hãy lấy tư tưởng nầy làm khí giới. Ai chịu khổ về phần xác thì đã cắt đứt liên quan với tội lỗi.
1PE 4:2 Làm như thế để khi còn sống trên đất nầy thì anh chị em sẽ làm theo ý muốn Thượng Đế chứ không theo điều ác mà kẻ khác muốn.
1PE 4:3 Trước kia, anh chị em phí quá nhiều thì giờ làm theo những điều các kẻ không tin ưa thích. Anh chị em phạm tội nhục dục, theo đuổi ham muốn xấu xa, say sưa, nhậu nhẹt chè chén và thờ cúng thần tượng gớm ghiếc.
1PE 4:4 Hiện nay thì những kẻ không tin ngạc nhiên vì anh chị em không còn làm những điều trụy lạc như họ nên họ sỉ nhục anh chị em.
1PE 4:5 Nhưng họ sẽ phải giải thích điều ấy với Thượng Đế, Đấng sẵn sàng xét xử kẻ sống và kẻ chết.
1PE 4:6 Vì lý do đó mà Tin Mừng đã được rao giảng cho kẻ hiện đã chết, để họ được xét xử như loài người theo phần xác ở thế gian nhưng được sống về phần hồn trước mặt Thượng Đế.
1PE 4:7 Thời tận thế đã gần rồi cho nên hãy suy nghĩ rõ ràng và tiết độ để anh chị em có thể khẩn nguyện.
1PE 4:8 Nhất là hãy hết lòng yêu nhau vì tình yêu khỏa lấp vô số tội lỗi.
1PE 4:9 Hãy mở rộng cửa nhà đón tiếp nhau, đừng phàn nàn.
1PE 4:10 Mỗi người trong anh chị em nên dùng ân tứ mình có để giúp kẻ khác. Hãy quản lý khéo léo các ân tứ của Thượng Đế.
1PE 4:11 Ai rao giảng hãy như nói ra lời của Thượng Đế. Ai phục vụ hãy phục vụ theo sức Chúa cho để trong mọi việc Thượng Đế sẽ được vinh hiển qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nguyện quyền năng và vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
1PE 4:12 Các bạn ơi, đừng ngạc nhiên vì cảnh khó khăn ghê gớm đang đến để thử nghiệm các bạn như lửa. Đừng xem việc ấy như là chuyện khác thường.
1PE 4:13 Nhưng hãy vui mừng vì được dự phần trong sự đau khổ của Chúa Cứu Thế để anh chị em được hớn hở khi Ngài trở lại trong vinh hiển.
1PE 4:14 Nếu vì theo Chúa Cứu Thế mà bị sỉ nhục thì anh chị em có phúc vì Thánh Linh vinh hiển của Thượng Đế ở với anh chị em.
1PE 4:15 Chớ có ai chịu khổ vì giết người, trộm cắp, phạm pháp hoặc gây chuyện với người khác.
1PE 4:16 Nhưng nếu anh chị em chịu khổ vì làm tín hữu của Chúa thì đừng xấu hổ. Hãy ca ngợi Thượng Đế vì được mang danh hiệu ấy.
1PE 4:17 Nay đã đến lúc xét xử, bắt đầu từ trong gia đình của Thượng Đế. Nếu chúng ta còn bị xét xử thì thử hỏi những người không vâng theo Tin Mừng của Thượng Đế sẽ ra sao?
1PE 4:18 “Nếu người nhân đức còn khó được cứu rỗi, thì kẻ chống Thượng Đế và tội nhân sẽ ra sao?”
1PE 4:19 Cho nên những ai đang chịu khổ theo ý muốn Thượng Đế hãy phó thác mạng sống mình cho Đấng Tạo Hóa thành tín và cứ tiếp tục làm điều phải.
1PE 5:1 Bây giờ tôi có vài điều dặn dò các trưởng lão trong vòng anh chị em. Tôi cũng là trưởng lão. Tôi đã chứng kiến sự đau khổ của Chúa Cứu Thế và tôi sẽ dự phần trong sự vinh hiển được bày tỏ cho chúng ta. Tôi kêu gọi các trưởng lão
1PE 5:2 hãy chăn bầy chiên Của Thượng Đế, là bầy đã được giao phó cho anh chị em. Hãy chăm sóc bầy vì muốn làm chứ không phải vì miễn cưỡng. Đó là điều Thượng Đế muốn. Hãy làm vì anh em vui mừng hầu việc chứ không phải vì cần tiền.
1PE 5:3 Đừng làm như thể anh chị em thống trị họ nhưng hãy nêu gương tốt cho bầy.
1PE 5:4 Khi Chúa Cứu Thế là Đấng Chăn Chiên Trưởng đến, anh em sẽ nhận được mão triều vinh hiển không bao giờ phai.
1PE 5:5 Người trẻ tuổi phải sẵn lòng dưới quyền người lớn tuổi. Mọi người hãy đối xử với nhau trong sự khiêm nhường. “Thượng Đế chống nghịch kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân phúc cho người khiêm nhường.”
1PE 5:6 Hãy khiêm nhường dưới tay toàn năng của Thượng Đế để đến đúng kỳ Ngài sẽ nâng anh chị em lên.
1PE 5:7 Hãy giao mọi lo âu cho Ngài vì Ngài chăm sóc anh chị em.
1PE 5:8 Hãy tiết độ và thận trọng! Kẻ thù anh chị em là ma quỉ, đi rình quanh như sư tử rống để tìm người mà nó có thể cắn nuốt được.
1PE 5:9 Hãy đứng vững trong đức tin để chống cự nó. Nên biết rằng gia đình tín hữu Cơ đốc khác ở khắp thế gian cũng đang chịu khổ như mình.
1PE 5:10 Sau khi anh chị em đã chịu khổ một thời gian ngắn, Thượng Đế sẽ chỉnh đốn lại mọi việc. Ngài sẽ khiến anh chị em mạnh mẽ, sẽ nâng đỡ và giữ anh chị em khỏi ngã. Ngài đã gọi anh chị em vào trong vinh hiển Chúa Cứu Thế, một vinh hiển còn mãi mãi.
1PE 5:11 Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
1PE 5:12 Tôi nhờ Xi-la, anh em rất trung tín trong Chúa Cứu Thế trao bức thư ngắn nầy để giục giã anh chị em vì điều tôi viết đây bày tỏ ân phúc thật của Thượng Đế. Hãy vững vàng trong ân phúc ấy.
1PE 5:13 Hội thánh ở Ba-by-lôn là hội thánh cũng được chọn lựa như anh chị em gởi lời thăm. Mác, con tôi trong Chúa Cứu Thế cũng kính lời chào thăm anh chị em.
1PE 5:14 Hãy lấy cái hôn thánh trong tình yêu của Chúa Cứu Thế mà chào nhau. Nguyện sự bình an ở với tất cả các anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
2PE 1:1 Xi-môn Phia-rơ, tôi tớ và sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Kính gởi các anh chị em là những người đã nhận cùng một đức tin quí báu như chúng tôi qua sự công chính của Thượng Đế và Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta.
2PE 1:2 Nguyền xin anh chị em nhận được ân phúc và bình an càng ngày càng thêm vì anh chị em thật biết Thượng Đế và Giê-xu, Chúa chúng ta.
2PE 1:3 Vì có quyền năng của Thượng Đế nên Chúa Giê-xu đã dùng quyền năng ấy mà cho chúng ta mọi sự để sống và phục vụ Ngài. Chúng ta nhận được mọi điều ấy qua sự hiểu biết về Đấng đã kêu gọi chúng ta do vinh hiển và lòng nhân từ Ngài.
2PE 1:4 Nhờ đó, Ngài đã cho chúng ta những lời hứa rất lớn lao và quí báu để chúng ta được dự phần trong bản tính của Thượng Đế và tránh dục vọng xấu xa trong thế gian làm hại con người.
2PE 1:5 Vì đã nhận được những ân phúc ấy nên anh chị em hãy thêm các điều nầy vào đời sống mình: có niềm tin, thêm nhân đức; có nhân đức, thêm hiểu biết;
2PE 1:6 có hiểu biết, thêm tiết độ; có tiết độ, thêm nhẫn nhục; có nhẫn nhục, thêm thánh thiện;
2PE 1:7 có thánh thiện, thêm lòng nhân từ đối với anh chị em và có nhân từ, thêm tình yêu thương.
2PE 1:8 Nếu anh chị em có được những điều đó và đang nẩy nở thì các đức tính ấy sẽ khiến anh chị em hữu dụng trong sự hiểu biết về Giê-xu Chúa Cứu Thế chúng ta.
2PE 1:9 Nhưng ai không có những đức tính ấy thì bị mù lòa; quên rằng mình đã được tẩy sạch khỏi tội lỗi trước kia.
2PE 1:10 Thưa anh chị em, phải cố gắng để biết chắc rằng mình thật được Thượng Đế kêu gọi và chọn lựa. Như thế anh chị em sẽ không bao giờ vấp ngã
2PE 1:11 mà còn được đón nhận vào nước đời đời của Chúa chúng ta, là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
2PE 1:12 Anh chị em đã biết những điều nầy và rất vững mạnh trong sự thật, nhưng lúc nào tôi cũng muốn nhắc anh chị em nhớ.
2PE 1:13 Tôi nghĩ rằng ngày nào tôi còn sống trong xác thịt nầy thì tôi nên giúp anh chị em nhớ.
2PE 1:14 Vì tôi biết mình sắp rời thân thể nầy như Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta đã cho tôi biết.
2PE 1:15 Tôi sẽ cố gắng giúp anh chị em luôn nhớ những điều ấy ngay cả sau khi tôi qua đời.
2PE 1:16 Khi chúng tôi thuật cho anh chị em về sự trở lại oai nghi của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta, không phải chúng tôi kể lại chuyện bịa đặt từ người khác đâu. Nhưng chúng tôi đã tận mắt chứng kiến sự uy nghi cao cả của Chúa Giê-xu.
2PE 1:17 Ngài đã nghe tiếng nói của Thượng Đế, Đấng Hiển Vinh Cao Cả khi Ngài nhận vinh hiển và danh dự từ Thượng Đế là Cha Ngài. Tiếng đó phán rằng, “Đây là Con ta, người ta yêu dấu, ta rất hài lòng về Con.”
2PE 1:18 Chính chúng tôi nghe tiếng đó vọng xuống từ thiên đàng khi chúng tôi ở với Chúa Giê-xu trên núi thánh.
2PE 1:19 Do đó chúng tôi lại càng tin chắc lời các nhà tiên tri nói. Anh chị em nên theo sát lời họ nói như theo sát ngọn đèn chiếu trong nơi tối tăm cho đến khi bình minh ló dạng và sao mai mọc lên trong lòng anh chị em.
2PE 1:20 Trên hết anh chị em hãy biết điều nầy: Không có lời tiên tri nào trong Thánh Kinh là do sự diễn giải riêng của cá nhân nhà tiên tri ấy.
2PE 1:21 Không có một lời tiên tri nào do nhà tiên tri ấy tự ý nói nhưng họ được soi dẫn bởi Thánh Linh mà nói ra lời phán của Thượng Đế.
2PE 2:1 Trước kia đã có một số tiên tri giả giữa vòng con dân của Thượng Đế cũng như anh chị em sẽ có một vài giáo sư giả trà trộn giữa vòng mình. Họ sẽ dạy dỗ những điều sái bậy—những điều hủy diệt con người. Đến nỗi họ cũng chối bỏ Đấng Chủ Tể đã mua sự tự do cho họ. Vì thế họ sẽ chuốc lấy sự diệt vong.
2PE 2:2 Nhiều người sẽ chạy theo đường vô luân và làm nhục chân lý.
2PE 2:3 Các giáo sư giả ấy chỉ muốn móc túi các anh chị em thôi cho nên họ sẽ dối gạt anh chị em. Hình phạt dành cho họ đã được định đoạt từ lâu rồi và đang dần tới. Sự diệt vong của họ là điều chắc chắn.
2PE 2:4 Khi các thiên sứ phạm tội, Thượng Đế chẳng để họ yên mà không trừng phạt. Ngài tống họ xuống hỏa ngục, nhốt trong hầm tối cho đến ngày xét xử.
2PE 2:5 Thượng Đế cũng đã trừng phạt thế gian xưa kia khi Ngài sai nước lụt tiêu diệt một thế giới đầy những người chống nghịch Ngài. Nhưng Thượng Đế cứu Nô-ê, là người giảng sự công chính, cùng với bảy người khác.
2PE 2:6 Ngài cũng tiêu diệt hai thành phố độc ác là Xô-đôm và Gô-mô-rơ bằng cách hỏa thiêu ra tro. Ngài dùng hai thành ấy để làm gương về số phận của những ai chống nghịch Ngài.
2PE 2:7 Nhưng Ngài cứu Lót ra khỏi hai thành ấy. Lót là người tốt nên lòng ông đau xót khi thấy nếp sống trụy lạc của những kẻ gian ác ấy.
2PE 2:8 Lót tuy là người tốt, nhưng vì sống chung đụng với những người gian ác mỗi ngày nên ông đau lòng trước những điều độc ác ông nghe thấy.
2PE 2:9 Cho nên Chúa sẽ cứu những kẻ phục vụ Ngài đang gặp thử thách. Ngài sẽ để dành những kẻ gian ác và trừng phạt họ trong khi chờ đợi Ngày Xét Xử.
2PE 2:10 Sự trừng phạt ấy dành riêng cho những kẻ lúc sống chuyên làm ác theo ham muốn dơ bẩn của thế gian và khinh dể các bậc cầm quyền. Mấy giáo sư giả ấy táo bạo, dám làm đủ thứ chuyện, đến nỗi dám nói xấu các thiên sứ.
2PE 2:11 Ngay như các thiên sứ, dù mạnh hơn họ rất nhiều, mà khi tố cáo họ trước mặt Thượng Đế cũng không sỉ nhục họ.
2PE 2:12 Nhưng họ dám chống nghịch điều mình không biết. Họ như con thú hung hăng không suy nghĩ, tức những con thú sinh ra để bị bắt làm thịt. Số phận họ rồi cũng như những con thú kia, nghĩa là đi đến diệt vong thôi.
2PE 2:13 Họ làm cho nhiều người chịu khốn khổ, để chính mình họ cũng khốn khổ. Đó là hậu quả của việc họ làm. Họ thích làm ác công khai như những vết dơ bẩn giữa vòng anh chị em. Dù đang khi ăn chung với anh chị em, họ cũng lấy những chuyện ấy làm thích thú.
2PE 2:14 Mỗi khi họ nhìn đàn bà là động lòng tham muốn. Ao ước phạm tội trong lòng họ không bao giờ thỏa mãn. Họ dụ dỗ những người yếu đuối rơi vào cạm bẫy tội lỗi, họ tự dặn lòng là hãy vơ đầy túi tham. Thượng Đế sẽ trừng phạt họ.
2PE 2:15 Các giáo sư giả ấy rời bỏ con đường ngay thẳng, đâm ra lầm lạc, theo con đường của tiên tri Ba-la-am, con của Bê-ô, thích được người ta mướn để làm quấy.
2PE 2:16 Nhưng một con lừa, vốn không biết nói, trách Ba-la-am rằng ông đang phạm tội. Nó nói tiếng người và cản được ý tưởng ngông cuồng của nhà tiên tri ấy.
2PE 2:17 Họ giống như suối cạn nước, như mây bị gió bão thổi dạt đi. Nơi tối tăm nhất đang dành cho họ.
2PE 2:18 Họ khoe khoang và khoác lác. Họ dùng dục vọng xấu xa đưa người ta vào cạm bẫy tội lỗi—tức những người vừa mới thoát khỏi tay của những kẻ ăn ở bậy bạ.
2PE 2:19 Họ tự hứa cho mình sự tự do nhưng chính mình chẳng có tự do. Họ làm tôi mọi cho nếp sống bại hoại. Vì hễ điều gì làm chủ mình tức là mình đã làm nô lệ cho điều ấy.
2PE 2:20 Họ đã được giải thoát khỏi sự gian ác của thế gian vì nhìn biết Chúa Cứu Thế, nhưng nếu họ trở lại làm điều ác và những điều trước kia thống trị họ thì lại còn tệ hại hơn lúc đầu nữa.
2PE 2:21 Thật thế, chẳng thà họ chưa bao giờ biết đường ngay còn hơn biết rồi mà lui đi khỏi sự dạy dỗ thánh đã được ban cho họ.
2PE 2:22 Điều họ làm thật đúng như câu ngạn ngữ, “Chó ăn lại đồ nó đã mửa ra,” và “heo tắm rồi lại lăn lóc trong bùn lầy.”
2PE 3:1 Các bạn yêu dấu, đây là bức thư thứ hai tôi viết để giúp các anh chị em nhớ và gợi lòng hiểu biết của anh chị em.
2PE 3:2 Tôi muốn các anh chị em nhớ những lời các nhà tiên tri thánh đã nói từ xưa, và nhớ lại mệnh lệnh của Chúa là Đấng Cứu Thế chúng ta truyền qua các sứ đồ.
2PE 3:3 Anh chị em phải biết những gì sẽ xảy đến trong những ngày cuối cùng. Người ta sẽ nhạo cười anh chị em. Họ sẽ sống để làm điều ác theo ý muốn mình.
2PE 3:4 Họ sẽ bảo, “Chúa Giê-xu hứa sẽ trở lại. Vậy Ngài đâu rồi? Cha ông chúng ta đều chết, nhưng mọi vật vẫn y nguyên như hồi tạo thiên lập địa.”
2PE 3:5 Nói như thế là họ cố tình làm ngơ trước những gì đã xảy ra từ xưa rằng nhờ lời Thượng Đế mà trời đất được tạo dựng từ nước và bằng nước.
2PE 3:6 Rồi cũng do lời Thượng Đế mà cả thế giới bị nước lụt tiêu diệt.
2PE 3:7 Cũng nhờ lời Thượng Đế mà trời đất chúng ta thấy ngày nay được tồn tại để dành cho lửa thiêu đốt. Cả thế gian được dành cho Ngày Xét Xử và tiêu diệt những kẻ không kính sợ Thượng Đế.
2PE 3:8 Nhưng thưa các bạn, đừng bao giờ quên điều nầy: Đối với Chúa một ngày như ngàn năm và ngàn năm như một ngày.
2PE 3:9 Thượng Đế không chậm trễ thực hiện lời hứa như một số người lầm tưởng. Nhưng Ngài đang nhẫn nhục với anh chị em. Ngài không muốn cho một người nào bị chết mất nhưng muốn cho mọi người đều ăn năn.
2PE 3:10 Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Trời sẽ biến đi trong tiếng kêu lớn. Mọi công trình trong đó đều sẽ bị lửa thiêu đốt, đất và muôn vật trên đất cũng sẽ bị cháy tiêu.
2PE 3:11 Mọi vật đều sẽ bị tiêu diệt như thế cho nên các anh chị em phải ăn ở ra sao?—Anh chị em nên sống cuộc đời thánh thiện và hầu việc Thượng Đế
2PE 3:12 để trông chờ Ngài và làm cho ngày Chúa mau đến. Vào ngày ấy, trời sẽ bị tiêu diệt bằng lửa và những công trình trong đó đều sẽ tan chảy dưới sức nóng của lửa.
2PE 3:13 Nhưng Thượng Đế đã lập một lời hứa với chúng ta, nên chúng ta hãy trông chờ một trời mới, đất mới, nơi sự công chính ngự trị.
2PE 3:14 Các bạn yêu dấu, vì chúng ta đang chờ đợi ngày ấy nên hãy cố gắng hết sức sống thánh thiện và hòa thuận với Ngài.
2PE 3:15 Nên nhớ rằng Ngài nhẫn nhục để chúng ta được cứu rỗi. Anh Phao-lô yêu dấu của chúng ta cũng đã đề cập đến vấn đề nầy qua bức thư anh viết cho anh chị em nhờ sự khôn ngoan mà Thượng Đế đã cho anh.
2PE 3:16 Trong tất cả các thư anh đều đã nói về điều nầy. Có vài điểm trong các thư anh viết hơi khó hiểu cho nên những kẻ dốt nát và yếu đức tin giải thích sai lạc. Họ cũng giải thích sai lạc những phần khác của Thánh Kinh nên họ phải lãnh lấy sự tiêu diệt cho chính họ.
2PE 3:17 Các bạn thân mến, vì các bạn đã biết những điều nầy cho nên hãy thận trọng. Đừng để kẻ ác hướng dẫn mình đi lầm lạc bằng những điều sai quấy họ làm. Hãy cẩn thận để không rơi khỏi đức tin vững mạnh của anh em.
2PE 3:18 Nhưng hãy để ân phúc và sự hiểu biết Chúa và Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta giúp anh chị em lớn mạnh. Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài từ nay cho đến muôn đời! A-men.
1JO 1:1 Điều đã có từ đầu, điều chúng tôi đã nghe, chứng kiến tận mắt, đã ngắm nhìn, và đã rờ tận tay. Đó là lời của sự sống.
1JO 1:2 Sự sống đã hiện ra. Chúng tôi đã thấy Ngài và làm chứng về Ngài. Bây giờ chúng tôi thuật cho anh chị em biết sự sống đời đời. Ngài ở với Thượng Đế và đã được bày tỏ ra cho chúng ta.
1JO 1:3 Chúng tôi thuật lại cho anh chị em điều chúng tôi nghe thấy, vì chúng tôi muốn anh chị em được tương giao với chúng tôi. Chúng tôi tương giao với Thượng Đế, là Cha và Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu.
1JO 1:4 Chúng tôi viết thư nầy để anh chị em cùng tràn ngập niềm vui với chúng tôi.
1JO 1:5 Đây là điều chúng tôi đã nghe từ Chúa Cứu Thế và truyền lại cho anh chị em: Thượng Đế là ánh sáng, trong Ngài không có chút tối tăm nào.
1JO 1:6 Vì thế nếu chúng ta tương giao với Ngài mà còn tiếp tục sống trong tối tăm tức là chúng ta nói dối, không đi theo sự thật.
1JO 1:7 Nhưng nếu chúng ta sống trong ánh sáng như chính Ngài ở trong ánh sáng thì chúng ta tương giao với nhau. Huyết của Chúa Giê-xu, Con Thượng Đế tẩy sạch mọi tội lỗi chúng ta.
1JO 1:8 Nếu chúng ta nói mình không có tội là tự gạt, sự thật của Ngài không có trong chúng ta.
1JO 1:9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là Đấng đáng tin và công bình sẽ xóa tội và tẩy sạch mọi điều ác trong chúng ta.
1JO 1:10 Nếu chúng ta cho mình chưa hề phạm tội tức là chúng ta cho Ngài nói dối, lời dạy của Ngài không có trong chúng ta.
1JO 2:1 Các con yêu dấu. Ta viết thư nầy cho các con để các con không phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội thì chúng ta có một Đấng Bênh Vực đứng trước mặt Cha để bào chữa cho chúng ta. Ngài là Chúa Cứu Thế, Đấng Công Bình.
1JO 2:2 Ngài là con sinh tế chuộc tội không những cho chúng ta mà cho cả thế gian.
1JO 2:3 Chúng ta có thể tin chắc mình biết Ngài nếu chúng ta vâng theo mệnh lệnh Ngài.
1JO 2:4 Ai nói, “Tôi biết Thượng Đế,” nhưng không vâng giữ mệnh lệnh Ngài là người nói dối, sự thật không có trong người ấy.
1JO 2:5 Nhưng nếu ai vâng giữ lời dạy dỗ của Ngài thì tình yêu của Thượng Đế thật là hoàn toàn trong người ấy. Chúng ta biết chắc mình được sống trong Thượng Đế là như sau:
1JO 2:6 Ai nói mình tương giao với Thượng Đế thì cũng phải sống như chính Chúa Giê-xu đã sống.
1JO 2:7 Các bạn yêu dấu, tôi truyền cho các bạn, không phải một mệnh lệnh mới mà là một mệnh lệnh cũ mà các bạn đã nghe từ ban đầu. Đó là điều dạy dỗ mà các bạn đã nghe theo một nghĩa khác.
1JO 2:8 Nhưng tôi cũng truyền cho các bạn mệnh lệnh nầy một lần nữa, vì sự thật đã được chứng tỏ qua sự sống của Chúa Cứu Thế cũng như qua các bạn. Các bạn thấy sự thật nầy là đúng trong Ngài, trong Chúa Giê-xu, và trong các bạn nữa vì tăm tối đã qua đi, ánh sáng thật đang chiếu rọi.
1JO 2:9 Ai nói, “Tôi ở trong ánh sáng,” mà ghét anh chị em mình thì vẫn còn ở trong tối tăm.
1JO 2:10 Ai yêu thương anh chị em mình thì sống trong ánh sáng và không có điều gì trong họ khiến họ vấp ngã.
1JO 2:11 Nhưng ai ghét anh chị em mình thì còn sống trong tối tăm, dò dẫm trong đêm vì bóng tối đã làm mù mắt người ấy.
1JO 2:12 Các con yêu dấu, ta viết cho các con vì tội lỗi các con đã được tha thứ qua Chúa Cứu Thế.
1JO 2:13 Các bậc cha mẹ, tôi viết cho anh chị em vì anh chị em đã biết Đấng có từ ban đầu. Các bạn trẻ, tôi viết cho các bạn vì các bạn đã chiến thắng Kẻ Ác.
1JO 2:14 Các con trẻ, ta viết cho các con, vì các con biết Cha. Các bậc cha mẹ, tôi viết cho các anh chị em, vì anh chị em đã biết Đấng có từ ban đầu. Các bạn trẻ, tôi viết cho các bạn, vì các bạn mạnh dạn; lời dạy của Thượng Đế sống trong các bạn và các bạn đã chiến thắng Kẻ Ác.
1JO 2:15 Đừng yêu thế gian tội lỗi cùng những gì thuộc về thế gian. Vì nếu ai yêu thế gian thì lòng yêu mến Cha không có trong người ấy.
1JO 2:16 Những điều thuộc về thế gian là khêu gợi nhục dục, thèm muốn của mắt, và tự hào về của cải đời nầy hoặc những gì mình có. Những điều ấy không phải từ Cha mà đến đâu nhưng từ thế gian ra.
1JO 2:17 Thế gian và những dục vọng nó đều qua đi nhưng ai làm theo ý muốn Thượng Đế thì còn đời đời.
1JO 2:18 Các con yêu dấu ơi, thời kỳ cuối cùng gần đến rồi. Các con đã nghe rằng kẻ thù của Chúa Cứu Thế đang đến và hiện nay có nhiều kẻ thù của Chúa Cứu Thế đã xuất hiện. Vì thế mà chúng ta biết nay là thời kỳ cuối cùng.
1JO 2:19 Những kẻ thù ấy từ chúng ta mà ra nhưng họ vốn không thuộc về chúng ta, vì nếu họ thuộc về chúng ta thì họ đã ở với chúng ta. Nhưng họ đã bỏ đi, chứng tỏ rằng họ chẳng hề thuộc đoàn thể chúng ta.
1JO 2:20 Các con đã được Đấng Thánh ban cho Thánh Linh, nên các con đều hiểu sự thật.
1JO 2:21 Ta viết cho các con, không phải vì các con chẳng biết sự thật mà là vì các con đã biết sự thật. Các con biết rằng trong sự thật không có điều dối trá nào.
1JO 2:22 Ai là kẻ nói dối? Đó là kẻ không nhìn nhận Giê-xu là Chúa Cứu Thế và là Kẻ Thù của Chúa Cứu Thế vì chối bỏ Cha và Con.
1JO 2:23 Ai không chịu tiếp nhận Con cũng không thể có mối tương giao với Cha. Còn ai tiếp nhận Con thì cũng có mối tương giao với Cha.
1JO 2:24 Hãy luôn luôn tuân giữ lời dạy mà các con đã nghe từ ban đầu. Nếu các con tuân giữ lời dạy mình nghe từ ban đầu thì các con ở trong Con và ở trong Cha.
1JO 2:25 Lời hứa của Con dành cho chúng ta là sự sống đời đời.
1JO 2:26 Tôi viết thư nầy để nói đến những người đang tìm cách dẫn các con đi lầm lạc.
1JO 2:27 Thánh Linh mà Chúa Cứu Thế đã cho các con, sống trong các con, cho nên các con không cần ai dạy mình. Ngài dạy các con mọi điều. Thánh Linh mà các con được Đấng Thánh ban cho là chân thật, không phải giả. Cho nên hãy cứ ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu theo như Ngài dạy.
1JO 2:28 Thật vậy, các con yêu dấu ơi, hãy cứ sống trong Ngài để khi Chúa trở lại, chúng ta có thể mạnh dạn đứng trước mặt Ngài mà không xấu hổ.
1JO 2:29 Nếu các con biết rằng Chúa Cứu Thế làm điều công chính thì những ai làm điều công chính đều là con cái Thượng Đế.
1JO 3:1 Cha đã quá yêu chúng ta đến nỗi nhận chúng ta làm con cái Ngài. Và chúng ta quả thật là con cái Ngài. Lý do người đời không biết chúng ta là vì họ không biết Chúa Cứu Thế.
1JO 3:2 Các bạn thân mến, hiện chúng ta là con Thượng Đế, còn tương lai chúng ta ra sao thì Ngài chưa cho chúng ta biết. Nhưng chúng ta biết khi Chúa Cứu Thế đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài thật sự.
1JO 3:3 Chúa Cứu Thế rất tinh sạch cho nên ai có hi vọng nầy trong Ngài đều phải giữ mình tinh sạch như Ngài.
1JO 3:4 Ai phạm tội tức là phạm luật Thượng Đế vì tội lỗi là sự phạm luật Thượng Đế.
1JO 3:5 Các con biết Chúa Cứu Thế Giê-xu đến để xóa tội lỗi đi. Trong Ngài không hề có chút tội lỗi nào.
1JO 3:6 Cho nên ai sống trong Chúa Cứu Thế không thể tiếp tục phạm tội. Người nào cứ mãi phạm tội là người chưa hề hiểu biết gì về Chúa Cứu Thế cả.
1JO 3:7 Các con cái yêu dấu ơi, đừng để ai dẫn các con vào đường lầm lạc. Chúa Cứu Thế làm điều công chính cho nên ai muốn giống như Ngài đều phải làm điều công chính.
1JO 3:8 Ma quỉ là đứa phạm tội từ ban đầu cho nên ai cứ mãi phạm tội đều thuộc về ma quỉ. Con của Thượng Đế đến thế gian để hủy phá công việc của nó.
1JO 3:9 Người nào làm con Thượng Đế thì không thể nào cứ mãi phạm tội vì trong họ có bản tính của Ngài. Họ không thể nào cứ tiếp tục phạm tội vì họ đã trở thành con Thượng Đế.
1JO 3:10 Cho nên chúng ta có thể phân biệt con Thượng Đế với con ma quỉ như sau: Ai không làm điều ngay thẳng thì không phải là con Thượng Đế, và người nào không yêu thương anh chị em mình cũng vậy.
1JO 3:11 Đây là lời dạy dỗ các con đã nghe từ ban đầu: Chúng ta phải yêu nhau.
1JO 3:12 Đừng như Ca-in, vốn thuộc về Kẻ Ác nên ra tay giết em mình. Tại sao Ca-in làm như thế? Vì những việc ông làm là ác, còn những việc em ông làm là thiện.
1JO 3:13 Thưa các anh chị em, đừng ngạc nhiên khi thế gian ghét anh chị em.
1JO 3:14 Chúng ta biết mình từ chết qua sống khi chúng ta yêu mến nhau. Ai không yêu thì vẫn còn ở trong sự chết.
1JO 3:15 Ai ghét anh chị em mình là kẻ giết người và các con biết không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời trong mình.
1JO 3:16 Do đó chúng ta biết được tình yêu chân thật là gì: Chúa Giê-xu đã hi sinh mạng sống Ngài vì chúng ta. Cho nên chúng ta cũng phải hi sinh mạng sống cho anh chị em mình.
1JO 3:17 Giả sử có người sống sung túc mà thấy anh chị em mình thiếu thốn lại không chịu giúp đỡ thì làm sao nói được rằng tình yêu của Thượng Đế ở trong lòng mình?
1JO 3:18 Các con ơi, đừng chỉ yêu suông bằng lời nói mà phải yêu bằng việc làm và chăm sóc thật sự.
1JO 3:19 Chúng ta biết mình thuộc về sự thật là như sau: Dù khi lòng mình cắn rứt nhưng chúng ta vẫn được an tịnh trước mặt Thượng Đế. Ngài lớn hơn lòng chúng ta và biết hết mọi điều.
1JO 3:21 Các bạn yêu dấu, nếu lòng mình không cắn rứt thì chúng ta có thể dạn dĩ đến trước mặt Thượng Đế.
1JO 3:22 Bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, Thượng Đế sẽ cho vì chúng ta vâng theo mệnh lệnh Ngài và làm đẹp lòng Ngài.
1JO 3:23 Đây là mệnh lệnh của Ngài: Chúng ta phải tin nơi Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu và yêu thương nhau như Ngài truyền dặn.
1JO 3:24 Ai vâng giữ mệnh lệnh Thượng Đế thì sống trong Ngài, và Ngài sống trong họ. Chúng ta biết Thượng Đế sống trong chúng ta do Thánh Linh mà Ngài ban cho chúng ta.
1JO 4:1 Các bạn yêu dấu, nhiều tiên tri giả đã xuất hiện khắp thế gian. Cho nên đừng tin hết mọi thần linh nhưng hãy thử xem thần linh nào đến từ Thượng Đế.
1JO 4:2 Đây là cách chúng ta thử nghiệm để biết thần linh nào đến từ Thượng Đế: Thần linh nào xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu trở thành người đến thế gian thì thần linh ấy đến từ Thượng Đế.
1JO 4:3 Thần nào không nhìn nhận Chúa Giê-xu theo cách ấy đều không phải từ Thượng Đế đến. Đó là thần của kẻ thù Chúa Cứu Thế mà các con đã nghe là đang đến, và hiện đã đến trong thế gian.
1JO 4:4 Các con yêu dấu, các con thuộc về Thượng Đế và đã chiến thắng chúng nó; vì Thánh Linh của Thượng Đế, Đấng đang ngự trong các con lớn hơn ma quỉ là kẻ ở trong thế gian.
1JO 4:5 Những kẻ nghịch lại Thượng Đế thuộc về thế gian và những gì chúng nói đều từ thế gian mà ra và thế gian bằng lòng nghe theo chúng.
1JO 4:6 Nhưng chúng ta thuộc về Thượng Đế và những ai biết Thượng Đế thì bằng lòng nghe chúng ta. Còn ai không thuộc về Thượng Đế thì không chịu nghe chúng ta. Bởi thế mà chúng ta biết được thần nào có sự thật, thần nào dẫn người ta đi lầm lạc.
1JO 4:7 Các bạn thân mến, chúng ta nên yêu thương nhau vì tình yêu đến từ Thượng Đế. Người nào yêu thương đã trở thành con Thượng Đế và biết Ngài.
1JO 4:8 Ai không yêu, không nhìn biết Thượng Đế vì Thượng Đế là tình yêu thương.
1JO 4:9 Thượng Đế đã tỏ tình yêu thương của Ngài cho chúng ta như sau: Ngài sai Con Một của Ngài đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Con ấy.
1JO 4:10 Tình yêu thật là thế nầy: Không phải vì chúng ta đã yêu Thượng Đế nhưng vì Thượng Đế đã yêu chúng ta nên sai Con Ngài chịu chết chuộc tội cho chúng ta.
1JO 4:11 Các bạn thân mến, nếu Thượng Đế đã yêu chúng ta nhiều như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau.
1JO 4:12 Chưa hề có ai thấy Thượng Đế, nhưng nếu chúng ta yêu nhau thì Thượng Đế sống trong chúng ta, và tình yêu của Ngài được hoàn thành trong chúng ta.
1JO 4:13 Chúng ta biết mình sống trong Thượng Đế và Ngài sống trong chúng ta vì Ngài ban Thánh Linh cho chúng ta.
1JO 4:14 Chúng tôi đã thấy nên làm chứng rằng Cha sai Con đến làm Chúa Cứu Thế của nhân loại.
1JO 4:15 Ai xưng nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế thì có Thượng Đế sống trong người ấy, và người ấy sống trong Thượng Đế.
1JO 4:16 Chúng ta biết tình yêu Thượng Đế dành cho chúng ta và chúng ta tin cậy vào tình yêu ấy vì Thượng Đế là tình yêu thương. Ai sống trong tình yêu là sống trong Thượng Đế và Thượng Đế sống trong người ấy.
1JO 4:17 Tình yêu được hoàn thành trong chúng ta như sau: Đến ngày Thượng Đế xét xử, chúng ta sẽ không sợ hãi gì vì trong thế gian chúng ta đã sống giống như Ngài.
1JO 4:18 Trong tình yêu không có sự sợ hãi vì tình yêu hoàn toàn xua đuổi sự sợ hãi. Sự hình phạt gây ra sự sợ hãi cho nên ai sợ hãi không thể có tình yêu toàn vẹn được.
1JO 4:19 Chúng ta yêu vì Thượng Đế đã yêu chúng ta trước.
1JO 4:20 Nếu ai nói, “Tôi yêu Thượng Đế,” nhưng ghét anh chị em mình, đó là người nói dối. Ai không yêu anh chị em mình thấy thì làm sao yêu Thượng Đế là Đấng mình không thấy được?
1JO 4:21 Thượng Đế cho chúng ta mệnh lệnh nầy: Ai yêu Ngài cũng phải yêu anh chị em mình.
1JO 5:1 Ai tin nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế, thì người ấy là con Thượng Đế, và người nào yêu Cha cũng yêu con cái của Cha.
1JO 5:2 Chúng ta biết mình yêu con cái Thượng Đế khi chúng ta yêu Thượng Đế và vâng theo mệnh lệnh Ngài.
1JO 5:3 Yêu Chúa tức là vâng giữ mệnh lệnh Ngài. Mệnh lệnh Ngài không phải quá khó khăn
1JO 5:4 vì người nào là con Thượng Đế đều chiến thắng thế gian. Nguyên nhân giúp chúng ta chiến thắng thế gian là niềm tin trong Ngài.
1JO 5:5 Thế thì ai chiến thắng thế gian? Đó là những người tin nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế.
1JO 5:6 Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đến bằng nước và huyết. Không phải Ngài đến bằng nước mà thôi nhưng bằng nước và huyết. Thánh Linh làm chứng cho điều ấy vì Thánh Linh là sự thật.
1JO 5:7 Cho nên có ba điều làm chứng:
1JO 5:8 Thánh Linh, nước và huyết; cả ba hoàn toàn đồng ý với nhau.
1JO 5:9 Nếu chúng ta nhận lời chứng của người thì lời chứng của Thượng Đế còn quan trọng hơn. Lời chứng ấy như sau: Thượng Đế đã làm chứng về chính Con Ngài.
1JO 5:10 Ai tin nơi Con Thượng Đế cũng có lời chứng ấy trong mình. Ai không tin Thượng Đế thì cho Ngài là kẻ nói dối vì gạt bỏ lời chứng của Thượng Đế về Con Ngài.
1JO 5:11 Đây là lời chứng ấy: Thượng Đế đã cho chúng ta sự sống đời đời, sự sống ấy ở trong Con Ngài.
1JO 5:12 Ai có Con thì có sự sống, còn ai không có Con Thượng Đế sẽ không có sự sống.
1JO 5:13 Ta viết thư nầy cho các con là những người tin nơi Con Thượng Đế để các con biết mình đã nhận được sự sống đời đời.
1JO 5:14 Chúng ta có được sự bạo dạn khi đến với Thượng Đế: Điều gì chúng ta cầu xin theo ý Ngài thì Ngài nghe chúng ta.
1JO 5:15 Chúng ta biết Ngài nghe chúng ta mỗi khi chúng ta cầu xin thì chúng ta chắc chắn nhận được điều mình cầu xin Ngài.
1JO 5:16 Nếu ai thấy anh chị em mình phạm tội, loại tội chưa đưa đến cái chết, người ấy nên cầu nguyện cho anh em mình để Thượng Đế ban sự sống cho người có tội ấy. Ta muốn nói đến tội chưa dẫn tới cái chết. Có tội dẫn đến cái chết. Ta không bảo chúng ta nên cầu nguyện cho loại tội lỗi ấy.
1JO 5:17 Làm quấy bao giờ cũng là tội lỗi nhưng có loại tội không đưa đến cái chết.
1JO 5:18 Chúng ta biết ai làm con cái Thượng Đế không thể cứ mãi phạm tội. Con Thượng Đế giữ người ấy an toàn, Kẻ Ác không thể đụng tới họ được.
1JO 5:19 Chúng ta biết mình thuộc về Thượng Đế mặc dù thế gian quanh chúng ta ở dưới quyền Kẻ Ác.
1JO 5:20 Chúng ta cũng biết Con Thượng Đế đến ban cho chúng ta trí hiểu để chúng ta biết Đấng Chân Thật. Chúng ta ở trong Đấng Chân Thật qua Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là Thượng Đế thật và là nguồn gốc của sự sống đời đời.
1JO 5:21 Cho nên, các con yêu dấu của ta ơi, hãy tránh xa các thần.
2JO 1:1 Trưởng lão Kính gởi chị được Chúa chọn cùng các con của chị: Tôi yêu tất cả các con trong sự thật, không những tôi mà thôi nhưng tất cả mọi người biết sự thật đều yêu mến chị.
2JO 1:2 Vì sự thật đang sống trong chúng ta và sẽ ở mãi trong chúng ta.
2JO 1:3 Nguyền xin ân phúc, lòng nhân ái và sự bình an từ Thượng Đế là Cha và từ Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu, ở cùng chúng ta trong sự thật và tình yêu.
2JO 1:4 Tôi rất vui khi nghe một số con cái chị đi theo sự thật như Cha đã truyền dạy cho chúng ta.
2JO 1:5 Chị yêu dấu, đây không phải là mệnh lệnh mới nhưng là mệnh lệnh chúng ta đã nghe từ ban đầu. Tôi khuyên chị là chúng ta hãy yêu nhau.
2JO 1:6 Yêu thương tức là sống theo cách Thượng Đế đã truyền dạy chúng ta. Như chị đã nghe từ ban đầu, mệnh lệnh của Ngài là: Hãy sống một cuộc đời yêu thương.
2JO 1:7 Nhiều kẻ phỉnh gạt đã xuất hiện khắp thế gian. Chúng không nhìn nhận Chúa Giê-xu Cứu Thế làm người đến thế gian. Ai không nhìn nhận điều nầy đều là kẻ phỉnh gạt và là kẻ thù của Chúa Cứu Thế.
2JO 1:8 Chị và con cái hãy thận trọng, nếu không thì công khó của chị từ trước tới giờ hóa ra vô ích. Nhưng tôi mong chị và các con nhận được phần thưởng xứng đáng với công khó ấy.
2JO 1:9 Ai đi quá xa lời dạy dỗ về Chúa Cứu Thế và không tin lời dạy dỗ ấy đều không có Thượng Đế. Nhưng ai tin lời dạy dỗ về Ngài thì có được cả Cha và Con.
2JO 1:10 Ai đi đến với các con mà không mang theo lời dạy dỗ nầy thì đừng tiếp họ vào nhà.
2JO 1:11 Nếu các con tiếp họ vào nhà tức các con cũng đồng lõa với việc ác của họ.
2JO 1:12 Tôi còn nhiều điều muốn viết cho các con nhưng không muốn viết qua giấy mực. Tôi mong đến thăm và nói chuyện với các con, mặt đối mặt để chúng ta tràn ngập vui mừng.
2JO 1:13 Con cái của chị được Thượng Đế chọn kính lời thăm chị.
3JO 1:1 Trưởng lão Kính gởi bạn Gai-út thân mến, người tôi yêu trong sự thật.
3JO 1:2 Bạn thân mến, tôi biết đời thiêng liêng của bạn tốt đẹp và tôi cầu mong rằng bạn được mạnh khoẻ và may mắn trong mọi sự.
3JO 1:3 Tôi rất vui khi nghe các anh chị em đến thuật với tôi về đời sống bạn cùng tinh thần vâng giữ sự thật của bạn.
3JO 1:4 Không có gì vui mừng hơn là khi nghe con cái tôi đi theo sự thật.
3JO 1:5 Bạn thân mến, bạn giúp đỡ các anh chị em như vậy là tốt lắm, bạn lại còn giúp cả những người mà bạn không quen biết.
3JO 1:6 Họ thuật cho hội thánh nghe về tình yêu thương của bạn. Xin bạn hãy cứ giúp họ trên lộ trình theo ý muốn Thượng Đế.
3JO 1:7 Các anh chị em đó bắt đầu phục vụ Chúa Cứu Thế mà không nhận một món gì từ những người không phải tín hữu.
3JO 1:8 Giúp đỡ những người như vậy là dự phần với họ trong công việc của sự thật.
3JO 1:9 Tôi có viết thư cho hội thánh nhưng Đi-ô-trê-phe, người thích lãnh đạo, không chịu nghe chúng tôi.
3JO 1:10 Cho nên khi tôi đến, tôi sẽ vạch ra điều hắn làm cùng việc hắn nói dối và bêu xấu chúng tôi ra sao. Không những hắn không đón tiếp họ mà còn ngăn cản những ai muốn đón tiếp các anh chị em đó bằng cách đuổi họ ra khỏi hội thánh.
3JO 1:11 Bạn thân mến, đừng theo điều xấu mà hãy theo điều tốt. Người làm điều tốt thuộc về Thượng Đế nhưng kẻ làm điều xấu không hề biết Thượng Đế là ai.
3JO 1:12 Mọi người đều làm chứng tốt cho Đê-mê-triu và đời sống anh ấy chứng tỏ anh sống theo sự thật. Chúng tôi cũng làm chứng tốt về anh ấy và bạn biết điều chúng tôi nói là thật.
3JO 1:13 Tôi còn nhiều điều muốn viết cho bạn nhưng không muốn viết qua giấy mực.
3JO 1:14 Tôi mong sớm gặp bạn, mặt đối mặt để nói chuyện.
3JO 1:15 Nguyền xin bạn được bình an. Các bạn hữu có mặt ở đây chào thăm bạn. Xin chuyển lời tôi chào thăm đích danh từng người.
JUD 1:1 Giu-đe, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu và là anh em của Gia-cơ. Kính gởi tất cả mọi người được Thượng Đế kêu gọi, được yêu thương và che chở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
JUD 1:2 Nguyền xin anh chị em nhận được lòng nhân ái rời rộng, sự bình an và tình yêu thương.
JUD 1:3 Các bạn thân mến, tôi muốn viết cho các bạn về sự cứu rỗi mà chúng ta cùng san sẻ nhưng tôi thấy cần phải viết cho các bạn về một điều khác: Tôi khuyên các bạn hãy hết lòng chiến đấu cho đức tin mà các con dân thánh của Thượng Đế đã được ban cho một lần đủ cả.
JUD 1:4 Có một vài người đã lẻn vào nhóm của các bạn. Từ xưa các nhà tiên tri đã nói về họ là những người sẽ bị án phạt. Họ chống nghịch Thượng Đế và chuyển ân phúc của Thượng Đế chúng ta ra thành ra cớ để phạm tội nhục dục. Họ cũng từ chối không chịu vâng phục Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chủ và Chúa duy nhất của chúng ta.
JUD 1:5 Tôi muốn nhắc các bạn nhớ điều các bạn đã biết: Chúa đã cứu dân Ngài khi giải thoát họ ra khỏi Ai-cập. Nhưng sau đó Ngài diệt những kẻ không tin.
JUD 1:6 Còn về các thiên sứ không chịu giữ địa vị và quyền hành mà rời bỏ chỗ của mình thì Chúa nhốt họ trong nơi tối tăm, xiềng lại đời đời chờ Ngày Xét Xử lớn.
JUD 1:7 Hãy nhớ lại hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ và các thành chung quanh, giống như các thiên sứ ấy, là những thành đầy ngập tội nhục dục, dân cư chúng nó ham muốn hành dục. Chúng phải chịu trừng phạt trong lửa đời đời để làm gương cho chúng ta.
JUD 1:8 Những kẻ lẻn vào trong đoàn thể anh chị em cũng thế. Họ bị các mộng ước dắt dẫn và làm mình ra nhơ nhuốc vì tội lỗi. Họ gạt bỏ uy quyền Thượng Đế và nhục mạ các thiên sứ vinh hiển.
JUD 1:9 Ngay như thiên sứ trưởng Mi-chen khi tranh dành xác Mô-se với ma quỉ cũng không dám sỉ vả nó về tội nhục mạ. Người chỉ nói, “Cầu Chúa trừng phạt ngươi.”
JUD 1:10 Còn bọn nầy thì lại dám mạ lỵ những điều mình không hiểu và những gì mà chúng không nhận biết qua bản năng, như thú vật ngu si không biết lý luận, đó là những điều sẽ tiêu diệt chúng.
JUD 1:11 Số phận chúng nó sẽ khốn đốn. Vì đi theo con đường của Ca-in và vì tham tiền nên chúng phạm tội như Ba-la-am. Chúng chống nghịch Thượng Đế như Co-ra và chắn chắn rồi cũng sẽ bị diệt như Co-ra thôi.
JUD 1:12 Chúng giống như những vết dơ trong bữa ăn của anh chị em. Chúng ăn chung với anh chị em, không biết liêm sỉ là gì mà chỉ biết nuôi thân. Chúng nó như mây không chứa mưa, bị gió thổi dạt đi đây đó. Chúng như cây mùa thu chẳng ra trái đúng mùa, bị nhổ bật gốc giống như chết hai lần.
JUD 1:13 Chúng như sóng cuồng trong biển cả, xô đẩy các hành động nhơ nhuốc mình như bọt sóng. Chúng như sao lạc trên bầu trời. Nơi tối tăm nhất đang dành cho chúng nó đời đời.
JUD 1:14 Ê-nóc, cháu bảy đời của A-đam cũng nói về chúng như sau, “Kìa, Chúa đến với muôn ngàn thiên sứ thánh để
JUD 1:15 xét xử mọi người. Ngài đến để trừng phạt mọi người về những điều ác họ làm nghịch lại Thượng Đế và những điều chúng nhục mạ Ngài.”
JUD 1:16 Bọn nầy phàn nàn chỉ trích người khác, làm ác theo ý mình. Chúng khoe khoang khoác lác và nịnh bợ người khác để lấy lợi về cho mình.
JUD 1:17 Các bạn thân mến, hãy nhớ lời các sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dặn,
JUD 1:18 “Trong thời kỳ cuối cùng, người ta sẽ nhạo cười Thượng Đế, đi theo những dục vọng xấu xa để chống nghịch Ngài.”
JUD 1:19 Đó là những người chia rẽ anh chị em, tư tưởng bị dục vọng ích kỷ cai trị, trong lòng không có Thánh Linh.
JUD 1:20 Nhưng các bạn thân mến, hãy gây dựng lẫn nhau trên đức tin. Hãy nhờ Thánh Linh mà cầu nguyện.
JUD 1:21 Hãy giữ mình trong tình yêu Thượng Đế trong khi chờ đợi Chúa Cứu Thế Giê-xu ban cho các anh chị em sự sống đời đời qua lòng nhân ái của Ngài.
JUD 1:22 Hãy tỏ lòng nhân đối với những kẻ đang lưỡng lự.
JUD 1:23 Hãy kéo kẻ khác ra khỏi lửa bỏng để cứu họ. Hãy tỏ lòng nhân cùng niềm lo sợ đối với kẻ khác, gớm ghét cả đến những quần áo ô dơ vì tội của họ.
JUD 1:24 Thượng Đế toàn năng có thể giúp các anh chị em khỏi vấp ngã, cho các anh chị em đứng trước sự hiện diện vinh hiển của Ngài, hoàn toàn không vết dơ, đồng thời ban cho các anh chị em niềm vui tột đỉnh.
JUD 1:25 Ngài là Thượng Đế duy nhất, Đấng cứu chúng ta. Nguyền vinh hiển, oai nghi, quyền năng, thế lực qua Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta từ xa xưa, hiện nay và cho đến đời đời thuộc về Ngài. A-men.
REV 1:1 Khải thị của Chúa Cứu Thế Giê-xu, ban từ Thượng Đế, để trình bày cho các tôi tớ Ngài những việc sắp xảy ra. Chúa Giê-xu sai thiên sứ bày tỏ cho tôi tớ Ngài là Giăng được biết.
REV 1:2 Giăng thuật lại mọi điều mình chứng kiến. Đây là lời của Thượng Đế và là thông điệp của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
REV 1:3 Phúc cho ai đọc thông điệp của Thượng Đế; phúc cho người nào nghe thông điệp nầy và làm theo những lời đã được ghi chép vì những việc ấy sắp xảy đến.
REV 1:4 Giăng kính gởi bảy hội thánh thuộc miền Á-châu. Nguyền xin ân phúc và bình an ở cùng anh em. Bình an và ân phúc do Đấng đã đến, đang đến và sắp đến cùng do bảy thần linh trước ngôi Ngài,
REV 1:5 và do Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là nhân chứng chân thật, người đầu tiên sống lại từ trong kẻ chết và là vua các vua trên đất. Ngài yêu chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi bằng huyết của sự chết Ngài.
REV 1:6 Ngài biến chúng ta thành một nước và thầy tế lễ để phục vụ Thượng Đế, Cha Ngài. Nguyền vinh hiển và quyền năng thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu đời đời! A-men.
REV 1:7 Kìa, Chúa Giê-xu đang đến giữa đám mây, mọi người sẽ nhìn thấy, kể cả những kẻ đã đâm Ngài. Mọi dân tộc trên thế gian sẽ than khóc về Ngài. Thật vậy, các điều ấy sẽ xảy đến! A-men.
REV 1:8 Chúa là Thượng Đế phán, “Ta là An-pha và Ô-mê-ga. Ta là Đấng hiện có, trước đã có và sẽ còn đời đời. Ta là Đấng Toàn Năng.”
REV 1:9 Tôi, Giăng là anh em của anh chị em. Tất cả chúng ta đều dự phần trong sự đau khổ của Chúa Cứu Thế, trong Nước Trời và trong sự nhẫn nhục. Tôi bị đày trên đảo Bát-mô vì rao giảng lời Thượng Đế và lời của Chúa Giê-xu.
REV 1:10 Vào ngày của Chúa, khi được cảm nhận Thánh Linh, thì tôi nghe tiếng vang sau lưng tôi như tiếng kèn.
REV 1:11 Tiếng ấy nói rằng, “Hãy viết điều ngươi thấy vào một quyển sách rồi gởi cho bảy hội thánh: Ê-phê-sô, Xi-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Xạt-đi, Phi-la-đen-phia và Lao-đi-xê.”
REV 1:12 Tôi quay lại để xem ai nói với tôi. Vừa quay lại, tôi bỗng thấy bảy chân đèn vàng
REV 1:13 và có ai trông “giống như Con Người” đứng giữa bảy chân đèn. Ngài mặc áo dài, thắt đai vàng ngang ngực.
REV 1:14 Đầu và tóc Ngài giống len trắng như tuyết, mắt như ngọn lửa.
REV 1:15 Chân Ngài giống như đồng cháy đỏ khi nung trong lửa, tiếng Ngài như tiếng nước lũ ào ào.
REV 1:16 Tay phải Ngài cầm bảy ngôi sao, miệng Ngài thò ra gươm hai lưỡi sắc bén. Ngài giống như mặt trời rực sáng.
REV 1:17 Vừa thấy Ngài, tôi té xuống chân Ngài như chết nhưng Ngài đặt tay phải trên tôi và bảo, “Đừng sợ. Ta là Đầu tiên và Cuối cùng.
REV 1:18 Ta là Đấng sống. Ta đã chết nhưng bây giờ ta sống đời đời! Ta cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ.
REV 1:19 Cho nên hãy viết điều ngươi thấy, điều đang xảy đến và sắp xảy đến.
REV 1:20 Đây là ý nghĩa bí mật về bảy ngôi sao mà ngươi thấy ta đang cầm trong tay phải và bảy chân đèn vàng. Bảy chân đèn vàng là bảy hội thánh, còn bảy ngôi sao là thiên sứ của bảy hội thánh ấy.”
REV 2:1 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Ê-phê-sô như sau: Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay phải và đi giữa bảy chân đèn vàng phán:
REV 2:2 Ta biết điều ngươi làm, ngươi chịu khó và không bao giờ bỏ cuộc. Ta biết ngươi không dung túng những kẻ ác. Ngươi đã thử nghiệm những kẻ mạo xưng là sứ đồ mà thật ra không phải, ngươi biết chúng nó nói dối.
REV 2:3 Ngươi kiên nhẫn và chịu khổ vì danh ta, không bỏ cuộc.
REV 2:4 Nhưng có điều ta không bằng lòng về ngươi: Ngươi đã bỏ tình yêu buổi đầu.
REV 2:5 Cho nên hãy nhớ lại ngươi sa sút từ đâu. Hãy ăn năn, trở lại như lúc đầu vì nếu ngươi không thay đổi, ta sẽ đến rút chân đèn ngươi ra khỏi chỗ nó.
REV 2:6 Nhưng ngươi có điểm đáng khen: Ngươi ghét việc bọn Ni-cô-la làm như ta ghét vậy.
REV 2:7 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh. Kẻ nào thắng ta sẽ ban cho quyền ăn trái cây sự sống trong vườn của Thượng Đế.”
REV 2:8 “Hãy viết cho hội thánh Xi-miệc-nơ như sau: Đấng Đầu tiên và Cuối cùng, Đấng đã chết và sống lại, phán:
REV 2:9 Ta biết những khốn khổ ngươi, ngươi tuy nghèo nhưng thật ra là giàu! Ta biết những điều kẻ khác nói xấu ngươi. Chúng tự xưng là người Do-thái nhưng không phải Do-thái thật. Chúng thuộc hội của quỉ Sa-tăng.
REV 2:10 Đừng sợ những nỗi khổ ngươi sắp chịu. Ta cho ngươi biết, ma quỉ sẽ ném một số trong các ngươi vào ngục để thử ngươi. Ngươi sẽ chịu khổ trong mười ngày. Nhưng hãy trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ cho ngươi mão triều của sự sống.
REV 2:11 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh. Kẻ nào thắng sẽ không bị hại gì về cái chết thứ nhì.”
REV 2:12 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Bẹt-găm như sau: Đấng có gươm hai lưỡi sắc bén phán như sau:
REV 2:13 Ta biết nơi ngươi ở, đó là ngôi của quỉ Sa-tăng. Nhưng ngươi chân thật đối với ta. Ngươi không chối bỏ đức tin nơi ta dù lúc An-ti-ba, nhân chứng trung thành của ta bị giết ở thành ngươi, là nơi Sa-tăng ở.
REV 2:14 Nhưng có điều ta không bằng lòng về ngươi: Trong ngươi có những kẻ đi theo lời dạy của Ba-la-am là người dạy Ba-lác xui cho dân Ít-ra-en phạm tội bằng cách ăn của cúng thần tượng và phạm tội nhục dục.
REV 2:15 Trong ngươi cũng có mấy người nghe theo lời dạy của bọn Ni-cô-la.
REV 2:16 Cho nên hãy ăn năn hối hận đi vì nếu không ta sẽ vội đến và lấy gươm của miệng ta mà giao chiến với chúng nó.
REV 2:17 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh. Kẻ nào thắng ta sẽ cho ma-na kín giấu. Ta sẽ cho mỗi người một viên sỏi trắng có khắc một tên mới. Ngoài kẻ nhận viên sỏi ra, không ai biết được tên ấy.”
REV 2:18 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Thi-a-ti-rơ như sau: Con Thượng Đế, Đấng có mắt rực như lửa và chân như đồng sáng phán:
REV 2:19 Ta biết điều ngươi làm. Ta biết tình yêu, đức tin, tinh thần phục vụ và lòng nhẫn nhục của ngươi. Ta biết hiện nay ngươi đang làm nhiều hơn lúc đầu.
REV 2:20 Nhưng có điều ta không bằng lòng về ngươi: Ngươi dung túng Giê-sa-bên, người đàn bà gieo rắc đạo lạc. Nó mạo xưng là nữ tiên tri nhưng các lời dạy dỗ của nó đưa dân ta vào tội nhục dục và ăn uống đồ cúng thần tượng.
REV 2:21 Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, quay khỏi tội lỗi nhưng nó không chịu.
REV 2:22 Cho nên ta sẽ ném nó trên giường đau khổ. Những kẻ phạm tội nhục dục với nó cũng sẽ khốn khổ nếu chúng không ăn năn, từ bỏ tội lỗi của nó.
REV 2:23 Ta cũng sẽ giết những kẻ theo nó. Rồi mọi hội thánh sẽ biết rằng ta là Đấng dò xét tâm trí loài người và tùy công việc làm của mỗi người mà báo lại.
REV 2:24 Nhưng ở Thi-a-ti-rơ có những người không theo lời dạy ấy và không học đòi điều mà một số người gọi là bí mật sâu kín của Sa-tăng. Ta cho ngươi biết, ta sẽ không chất thêm gánh nặng trên ngươi.
REV 2:25 Miễn là ngươi giữ vững điều mình có cho tới khi ta đến.
REV 2:26 Ai thắng và bền lòng vâng phục ta đến cuối cùng ta sẽ ban cho quyền cai quản mọi dân tộc.
REV 2:27 Người ấy sẽ cai trị chúng nó bằng một cây roi sắt, đập bể chúng ra tan tành như bình gốm.
REV 2:28 Đó là quyền ta nhận từ nơi Cha. Ta cũng sẽ cho người ấy ngôi sao mai.
REV 2:29 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh.”
REV 3:1 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Sạt-đi như sau: Đấng có bảy linh thần và bảy ngôi sao phán: Ta biết công việc ngươi. Ngươi có tiếng là sống mà thật ra là chết.
REV 3:2 Hãy thức dậy! Hãy tỏ ra mạnh bạo trước khi những gì còn sót trong ngươi bị chết mất hoàn toàn. Ta thấy công việc ngươi còn thiếu sót lắm trước mặt Thượng Đế ta.
REV 3:3 Cho nên đừng quên những gì mình đã nhận và nghe. Hãy vâng theo đó và ăn năn. Ngươi hãy tỉnh giấc, nếu không ta sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm, vì ngươi cũng không biết lúc nào ta đến.
REV 3:4 Nhưng ở Sạt-đi ngươi còn có một số ít người chưa làm dơ áo xống mình cho nên họ sẽ cùng đi với ta và được mặc áo trắng vì họ xứng đáng.
REV 3:5 Kẻ nào thắng cũng sẽ được mặc áo trắng như họ. Ta sẽ không xóa tên họ khỏi sách sự sống nhưng sẽ nhìn nhận họ là những người của ta trước mặt Cha ta và các thiên sứ.
REV 3:6 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh.”
REV 3:7 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Phi-la-đen-phia như sau: Đây là lời phán của Đấng thánh và chân thật, Đấng cầm chìa khóa của Đa-vít. Hễ Ngài mở cửa thì không ai đóng được và hễ Ngài đóng thì không ai mở được.
REV 3:8 Ta biết công việc ngươi. Ta đã mở một cửa trước mặt ngươi, không ai có thể đóng được. Ta biết ngươi tuy sức kém nhưng chịu vâng theo lời dạy của ta, không chối bỏ danh ta.
REV 3:9 Có những kẻ thuộc hội quỉ Sa-tăng tự nhận là người Do-thái nhưng thật ra không phải vì chúng nói dối. Ta sẽ khiến chúng nó đến quì dưới chân ngươi để chúng biết rằng ta yêu ngươi.
REV 3:10 Ngươi đã vâng theo lời dạy của ta, không chối bỏ đức tin mình cho nên ta sẽ tránh cho ngươi khỏi gặp cảnh khổ sẽ đến trên khắp thế gian. Cảnh khổ ấy là cách ta thử nghiệm mọi người trên thế gian.
REV 3:11 Ta sắp đến rồi. Hãy giữ vững điều ngươi có để không ai lấy mão triều thiên của ngươi.
REV 3:12 Kẻ nào thắng ta sẽ cho làm cột trụ của đền thờ Thượng Đế ta, họ sẽ ở đó mãi mãi. Ta sẽ khắc trên họ danh của Thượng Đế ta và tên của thành Thượng Đế, tức Giê-ru-sa-lem mới từ trời xuống. Ta cũng ghi trên họ tên mới của ta.
REV 3:13 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh.”
REV 3:14 “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Lao-đi-xê như sau: Đấng A-men, là người làm chứng chân thật, nguồn sáng tạo của Thượng Đế, phán như sau:
REV 3:15 Ta biết công việc ngươi, ngươi không lạnh cũng không nóng. Ta ước gì ngươi hoặc nóng hoặc lạnh thì tốt!
REV 3:16 Nhưng vì ngươi âm ấm—không nóng cũng không lạnh—cho nên ta sẽ phun ngươi ra khỏi miệng ta.
REV 3:17 Ngươi nói, ‘Ta giàu có rồi nên ta không cần gì cả.’ Nhưng ngươi không biết mình khốn đốn, đáng thương, nghèo khó, đui mù và trần truồng.
REV 3:18 Ta khuyên ngươi hãy mua vàng đã thử lửa của ta để ngươi giàu có thật sự. Hãy mua áo trắng của ta để mặc và che giấu sự trần truồng xấu hổ của ngươi. Hãy mua thuốc xức mắt của ta để ngươi thấy cho rõ.
REV 3:19 Ta sửa trị kẻ ta yêu. Cho nên ngươi hãy hăng hái làm điều phải, hãy ăn năn hối hận đi.
REV 3:20 Nầy ta đang đứng gõ nơi cửa. Nếu ai nghe tiếng ta và mở cửa thì ta sẽ vào dùng bữa với người ấy và người ấy với ta.
REV 3:21 Kẻ nào thắng sẽ được ngồi với ta trên ngôi ta, cũng như ta đã thắng và đang ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài.
REV 3:22 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán cùng các hội thánh.”
REV 4:1 Sau các việc ấy, tôi nhìn trước mặt thì thấy có một cửa mở ra trên thiên đàng. Tiếng tôi nghe trước đây vang như tiếng kèn, lại nói, “Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy những gì sắp xảy đến.”
REV 4:2 Tôi lập tức cảm nhận Thánh Linh, thấy trước mặt tôi một ngôi trên thiên đàng, trên ngôi có Đấng đang ngồi.
REV 4:3 Đấng ngồi trên ngôi giống loại đá quí, như cẩm thạch và mã não. Quanh ngôi có cái mống, màu như bửu thạch.
REV 4:4 Quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi khác, trên đó có hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi. Tất cả đều mặc áo trắng, đầu đội mão triều thiên vàng.
REV 4:5 Sấm chớp vang rầm lòe ra từ ngôi. Trước ngôi có bảy ngọn đèn đang cháy là bảy thần linh của Thượng Đế.
REV 4:6 Lại cũng có vật gì trông giống như biển bằng gương, trong suốt như pha lê. Ở chính giữa và quanh ngôi có bốn con vật, trên thân đầy mắt, phía trước và phía sau.
REV 4:7 Con vật thứ nhất giống như sư tử. Con thứ hai giống như bò con. Con thứ ba có mặt giống như người và con thứ tư giống như phượng hoàng đang bay.
REV 4:8 Mỗi con vật có sáu cánh, mình đầy những mắt, bên trong và bên ngoài. Đêm ngày chúng kêu lên không nghỉ: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay. Chúa là Thượng Đế Toàn Năng. Ngài trước đã có, nay hiện có và đang đến.”
REV 4:9 Mỗi khi bốn con vật dâng vinh hiển, danh dự và cảm tạ cho Đấng ngồi trên ngôi là Đấng sống đời đời
REV 4:10 thì hai mươi bốn trưởng lão cúi mình trước Đấng ngồi trên ngôi và bái lạy Ngài là Đấng sống đời đời. Họ đặt mão triều thiên xuống trước ngôi và thưa rằng:
REV 4:11 “Lạy Chúa là Thượng Đế, Ngài đáng được vinh hiển, danh dự và quyền năng, vì Ngài đã tạo nên muôn vật. Mọi vật hiện có đều được tạo dựng theo ý muốn Ngài.”
REV 5:1 Sau đó tôi thấy Đấng ngồi trên ngôi cầm một cuộn sách trong tay phải. Cuộn sách được viết bên trong lẫn bên ngoài và được niêm phong bằng bảy ấn.
REV 5:2 Rồi tôi thấy một thiên sứ dũng mãnh kêu lớn, “Ai xứng đáng bẻ ấn và mở cuộn sách?”
REV 5:3 Trên trời, dưới đất hoặc dưới lòng đất không ai có thể mở cuộn sách hoặc nhìn vào trong đó.
REV 5:4 Tôi khóc thảm thiết vì không ai xứng đáng mở cuộn sách hoặc nhìn vào trong.
REV 5:5 Nhưng một trong các trưởng lão bảo tôi, “Đừng khóc! Vì Sư tử của chi tộc Giu-đa, con cháu Đa-vít đã chiến thắng, cho nên Ngài có thể mở cuộn sách và bảy ấn ấy.”
REV 5:6 Rồi tôi thấy một Chiên Con đứng giữa ngôi, và giữa các con vật cùng các trưởng lão. Chiên Con trông giống như vừa mới bị giết. Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt tức bảy thần linh của Thượng Đế được sai đi đến khắp thế gian.
REV 5:7 Chiên Con bước đến lấy cuộn sách khỏi tay phải của Đấng ngồi trên ngôi.
REV 5:8 Khi Ngài vừa lấy cuộn sách thì bốn con vật và hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống bái lạy trước Chiên Con. Mỗi người cầm một cây đờn cầm, lư hương vàng đựng đầy hương tức là lời cầu nguyện của các thánh đồ.
REV 5:9 Họ đồng ca bài hát mới tôn vinh Chiên Con: “Ngài xứng đáng lấy cuộn sách và mở các ấn, vì Ngài đã bị giết, và dùng huyết của sự chết Ngài đã chuộc lại cho Thượng Đế một dân gồm mọi chi tộc, mọi thứ tiếng, mọi chủng tộc, mọi quốc gia.
REV 5:10 Ngài biến họ trở nên một nước và làm thầy tế lễ phục vụ Thượng Đế, và họ sẽ cai trị thế gian.”
REV 5:11 Rồi tôi nhìn thì nghe tiếng của nhiều thiên sứ đứng quanh ngôi, của bốn con vật và của các trưởng lão. Hàng ngàn hàng vạn thiên sứ
REV 5:12 kêu lớn lên rằng: “Chiên Con đã bị giết đáng nhận quyền năng, giàu có, khôn ngoan, sức lực, danh dự, vinh hiển và tôn ngợi!”
REV 5:13 Rồi tôi nghe mọi vật được tạo dựng trên trời, trên đất, dưới đất và trong biển kêu lên: “Nguyền Đấng ngồi trên ngôi và Chiên Con được tôn cao, danh dự cùng vinh hiển và quyền năng cho đến đời đời.”
REV 5:14 Bốn con vật nói, “A-men,” rồi các trưởng lão sấp mình xuống bái lạy.
REV 6:1 Tôi nhìn trong khi Chiên Con mở ấn đầu tiên trong bảy ấn. Tôi nghe một trong bốn con vật nói vang rền như tiếng sấm, “Hãy đến đây!”
REV 6:2 Tôi nhìn thì trước mặt tôi có một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa cầm một cây cung và được trao cho một mão miện, rồi thúc ngựa đi như người đã đắc thắng và đi ra để chiến thắng.
REV 6:3 Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe con vật thứ hai nói, “Hãy đến đây!”
REV 6:4 Rồi một con ngựa hồng xuất hiện. Người cỡi ngựa được ban quyền cướp lấy sự hòa bình trên thế gian để người ta chém giết nhau. Người được trao cho một cây gươm lớn.
REV 6:5 Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con vật thứ ba nói, “Hãy đến!” Tôi nhìn thì thấy một con ngựa ô trước mặt, người cỡi ngựa cầm trong tay một cái cân.
REV 6:6 Rồi tôi nghe như có tiếng phát ra từ giữa bốn con vật. Tiếng ấy nói rằng, “Một lít lúa mì đổi một ngày công, ba lít lúa mạch đổi một ngày công, còn dầu ô liu và rượu thì đừng làm hư!”
REV 6:7 Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe con vật thứ tư nói, “Hãy đến đây!”
REV 6:8 Tôi nhìn thì trước mặt tôi có con ngựa xanh tái. Người cỡi ngựa tên là sự chết và Ha-đe đi theo sau. Chúng được trao quyền trên một phần tư địa cầu để gây chết chóc bằng chiến tranh, đói kém, dịch hạch và bằng các thú dữ trên đất.
REV 6:9 Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ, có các oan hồn của những người bị giết vì lời làm chứng của họ và vì trung tín với lời Thượng Đế.
REV 6:10 Các oan hồn đó kêu la, “Lạy Chúa thánh và chân thật, chừng nào Ngài mới xét xử những người trên đất và trừng phạt họ về tội giết chúng con?”
REV 6:11 Rồi mỗi người trong vòng họ được cấp cho một áo dài trắng và dặn phải chờ thêm ít lâu nữa vì có những đầy tớ và các anh chị em khác phục vụ Chúa Cứu Thế cũng sẽ bị giết như họ vậy. Họ phải chờ cho đến khi những chuyện ấy xảy ra xong xuôi.
REV 6:12 Tôi nhìn, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu thì có cơn động đất dữ dội. Mặt trời trở nên tối sầm lại như tấm vải sô đen còn mặt trăng hóa đỏ như máu.
REV 6:13 Các ngôi sao trên trời rụng xuống đất như trái vả rơi khỏi cành khi gió thổi.
REV 6:14 Bầu trời biến mất như quyển sách cuốn lại còn núi non và hải đảo cũng dời chỗ.
REV 6:15 Lúc ấy các vua chúa trên đất, các bậc cầm quyền, các tướng lãnh, các bậc giàu sang, quyền thế, các kẻ nô lệ và tự do đều ẩn trốn trong hang hốc và kẽ đá trên núi.
REV 6:16 Họ kêu la cùng núi và đá rằng, “Hãy rơi trên chúng ta. Hãy che chúng ta khỏi mặt Đấng ngồi trên ngôi và khỏi cơn giận của Chiên Con!
REV 6:17 Vì ngày thịnh nộ lớn đã đến, ai có thể chịu nổi?”
REV 7:1 Sau những việc ấy tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc trên đất. Các thiên sứ nắm bốn hướng gió lại không cho thổi trên đất, biển hoặc cây cối nữa.
REV 7:2 Rồi tôi thấy một thiên sứ khác từ phía Đông đi đến, trong tay có ấn của Thượng Đế hằng sống. Người kêu lớn cùng bốn thiên sứ đã được Thượng Đế trao quyền làm hại đất và biển
REV 7:3 rằng, “Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đã đánh dấu xong trên trán những người phục vụ Thượng Đế chúng ta.”
REV 7:4 Rồi sau đó tôi nghe số người được đóng dấu. Tất cả các chi tộc Ít-ra-en có một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đánh dấu.
REV 7:5 chi tộc Giu-đa mười hai ngàn người được đánh dấu, chi tộc Ru-bên mười hai ngàn, chi tộc Gát mười hai ngàn,
REV 7:6 chi tộc A-se mười hai ngàn, chi tộc Náp-ta-li mười hai ngàn, chi tộc Ma-na-xe mười hai ngàn,
REV 7:7 chi tộc Xi-mê-ôn mười hai ngàn, chi tộc Lê-vi mười hai ngàn, chi tộc Y-xa-ca mười hai ngàn,
REV 7:8 chi tộc Xê-bu-lôn mười hai ngàn, chi tộc Giô-xép mười hai ngàn, và chi tộc Bên-gia-min mười hai ngàn người được đánh dấu.
REV 7:9 Sau các việc ấy, tôi nhìn thì thấy một đoàn người vĩ đại, đông vô số, không thể đếm được. Họ từ mọi quốc gia, mọi chi tộc, mọi dân, mọi thứ tiếng trên thế giới. Tất cả đứng trước ngôi và Chiên Con, mặc áo trắng, tay cầm nhành chà là.
REV 7:10 Họ kêu lớn, “Sự cứu rỗi thuộc về Thượng Đế chúng ta, Đấng ngồi trên ngôi và về Chiên Con.”
REV 7:11 Tất cả các thiên sứ đứng quanh ngôi cùng các trưởng lão và các con vật. Ai nấy đều sấp mặt trước ngôi và bái lạy Thượng Đế
REV 7:12 kêu lên rằng, “A-men! Nguyện sự ca ngợi, vinh hiển, khôn ngoan, cảm tạ, danh dự, quyền lực thuộc về Thượng Đế đời đời. A-men!”
REV 7:13 Rồi một trong các trưởng lão hỏi tôi, “Những người mặc áo dài trắng đó là ai vậy? Họ từ đâu đến?”
REV 7:14 Tôi đáp, “Thưa ngài, ngài biết điều ấy.” Trưởng lão nói với tôi, “Đó là những người đã thoát cơn khốn khổ lớn. Họ đã giặt áo mình và làm sạch trong huyết Chiên Con.”
REV 7:15 Nhờ đó họ được đứng trước ngôi Thượng Đế. Họ thờ phụng ngày và đêm trong đền thờ Ngài. Đấng ngồi trên ngôi sẽ ở với họ mãi mãi.
REV 7:16 Họ sẽ không còn đói hay khát nữa. Mặt trời cũng không làm hại họ, sức nóng cũng không làm phỏng họ.
REV 7:17 Vì Chiên Con ở giữa ngôi sẽ chăn dắt họ. Ngài sẽ dẫn họ đến suối nước sự sống. Thượng Đế sẽ lau hết nước mắt khỏi họ.
REV 8:1 Khi Chiên Con mở ấn thứ bảy thì trên thiên đàng im phăng phắc khoảng nửa giờ.
REV 8:2 Rồi tôi thấy bảy thiên sứ đứng trước Thượng Đế được cấp cho bảy cái kèn.
REV 8:3 Một thiên sứ khác đến đứng nơi bàn thờ, tay cầm lư hương vàng. Người được cấp cho rất nhiều hương để dâng lên cùng với lời cầu nguyện của các thánh đồ. Thiên sứ đặt của lễ trên bàn thờ vàng trước ngôi.
REV 8:4 Khói hương từ tay thiên sứ nghi ngút bay tỏa lên đến Thượng Đế cùng với lời cầu nguyện của các thánh đồ.
REV 8:5 Rồi thiên sứ lấy lửa từ bàn thờ bỏ vào lư hương và ném xuống đất, lập tức có chớp, sấm vang rầm và động đất.
REV 8:6 Tiếp đó bảy thiên sứ cầm kèn chuẩn bị thổi.
REV 8:7 Khi thiên sứ thứ nhất thổi kèn liền có mưa đá lẫn với lửa và máu đổ xuống đất. Một phần ba mặt đất, mọi cỏ xanh, và một phần ba cây cối đều bị cháy tiêu.
REV 8:8 Lúc thiên sứ thứ hai thổi kèn liền có vật gì giống như hòn núi lớn đang cháy rực, bị ném xuống biển. Một phần ba biển hóa ra máu,
REV 8:9 một phần ba sinh vật trong biển đều chết và một phần ba tàu bè bị tiêu diệt.
REV 8:10 Rồi thiên sứ thứ ba thổi kèn liền có một ngôi sao lớn, cháy sáng như đuốc từ trời rơi xuống đất. Ngôi sao đó rơi trên một phần ba các sông và các suối nước.
REV 8:11 Tên của ngôi sao đó là Ngải cứu. Một phần ba nước hóa đắng, và nhiều người bị chết vì uống nước đắng ấy.
REV 8:12 Sau đó thiên sứ thứ tư thổi kèn, thì một phần ba mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao liền bị mất ánh sáng. Vì thế một phần ba các tinh tú hóa tối, ban ngày mất đi một phần ba ánh sáng và ban đêm cũng vậy.
REV 8:13 Trong khi tôi nhìn thì nghe chim phượng hoàng bay giữa trời kêu lớn, “Khốn thay, khốn thay, khốn thay cho dân cư trên đất vì tiếng kèn của ba thiên sứ còn lại sắp thổi nữa!”
REV 9:1 Lúc thiên sứ thứ năm thổi kèn, thì tôi thấy một ngôi sao trên trời rơi xuống đất. Ngôi sao ấy được trao cho chìa khóa của lỗ sâu dẫn tới hố không đáy.
REV 9:2 Khi ngôi sao mở lỗ dẫn đến hố không đáy thì có luồng khói bay lên như khói của lò lửa lớn. Luồng khói ấy che mặt trời khiến bầu trời tối sầm lại.
REV 9:3 Từ luồng khói túa ra vô số cào cào tràn lan trên đất. Chúng được trao cho quyền chích như bọ cạp.
REV 9:4 Chúng được lệnh không được làm hại cây cỏ mà chỉ được phép làm hại những người không có dấu của Thượng Đế trên trán thôi.
REV 9:5 Chúng không được quyền giết ai nhưng chỉ được gây đau nhức cho người ta trong vòng năm tháng. Cái đau nhức đó giống như khi bị bọ cạp chích.
REV 9:6 Trong những ngày ấy người ta tìm cái chết mà không được. Họ mong chết nhưng sự chết tránh xa.
REV 9:7 Các con cào cào ấy giống như ngựa sẵn sàng ra trận. Trên đầu chúng đội giống như mão triều thiên vàng, mặt giống mặt người.
REV 9:8 Tóc chúng như tóc đàn bà và răng như răng sư tử.
REV 9:9 Ngực chúng giống như thuẫn che ngực, tiếng vỗ cánh bay của chúng nghe như tiếng ngựa rầm rập và chiến xa đổ ra trận.
REV 9:10 Chúng có đuôi mang nọc như bọ cạp và chúng dùng đuôi để làm khổ người ta trong vòng năm tháng.
REV 9:11 Chúng có một vua là thiên sứ của hố không đáy. Tên của vua ấy theo tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, còn tiếng Hi-lạp gọi là A-bô-li-ôn.
REV 9:12 Nạn thứ nhất vừa qua thì còn hai nạn nữa sắp đến.
REV 9:13 Đến lượt thiên sứ thứ sáu thổi kèn thì tôi liền nghe có tiếng phát ra từ các sừng nơi bàn thờ vàng trước mặt Thượng Đế.
REV 9:14 Tiếng đó nói với thiên sứ thứ sáu cầm kèn rằng, “Hãy mở trói cho bốn thiên sứ đang bị cột nơi bờ sông lớn Ơ-phơ-rát đi.”
REV 9:15 Người ta liền mở trói cho bốn thiên sứ là những người đã được chuẩn bị sẵn sàng cho đến ngày, giờ, năm và tháng nầy để tiêu diệt một phần ba dân cư trên đất.
REV 9:16 Tôi nghe con số quân sĩ cỡi ngựa trong đạo quân họ—hai trăm triệu.
REV 9:17 Ngựa và người cỡi mà tôi thấy trong khải tượng giống thế nầy: Họ mang thuẫn che ngực màu đỏ lửa, xanh đậm và vàng đậm như diêm sinh. Đầu của ngựa giống như đầu sư tử, miệng phun lửa, khói và diêm sinh.
REV 9:18 Một phần ba dân số thế giới bị giết do những đại nạn khủng khiếp phát ra từ miệng các con ngựa: lửa, khói và diêm sinh.
REV 9:19 Quyền lực của các con ngựa là ở miệng và đuôi chúng; đuôi chúng giống như rắn có đầu và chúng dùng đuôi để làm hại người ta.
REV 9:20 Còn những người không bị giết bởi những đại nạn ấy vẫn không ăn năn hoặc từ bỏ những gì do tay họ làm ra. Họ cũng không từ bỏ việc thờ cúng ma quỉ và các thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá và gỗ—là những vật không thấy, không nghe cũng không đi được.
REV 9:21 Họ cũng không ăn năn, quay khỏi tội giết người hoặc phù phép gian ác, khỏi tội nhục dục và trộm cắp.
REV 10:1 Rồi tôi thấy một thiên sứ dũng mãnh khác từ thiên đàng xuống có đám mây bao bọc, trên đầu có cái mống, mặt giống như mặt trời, chân như trụ lửa.
REV 10:2 Người cầm trong tay một cuộn sách nhỏ mở ra. Chân phải người đặt trên biển và chân trái đặt trên đất.
REV 10:3 Rồi người kêu lớn như tiếng sư tử rống. Khi vừa kêu xong thì có bảy tiếng sấm rền đáp lại.
REV 10:4 Khi các tiếng sấm vừa đáp lại thì tôi định viết. Nhưng tôi nghe tiếng từ trời vọng xuống rằng, “Hãy giữ kín những điều các tiếng sấm nói, đừng viết xuống làm gì.”
REV 10:5 Rồi thiên sứ mà tôi thấy đứng trên biển và trên đất giơ tay phải lên trời,
REV 10:6 và thề, nhân danh quyền của Đấng sống đời đời là Đấng dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó. Thiên sứ thề rằng, “Sẽ không còn chần chờ gì nữa!
REV 10:7 Vào ngày mà thiên sứ thứ bảy thổi kèn thì những chương trình giấu kín của Thượng Đế sẽ làm xong. Bí mật ấy là Tin Mừng mà Thượng Đế trình bày ra cho các tôi tớ Ngài tức các nhà tiên tri của Ngài.”
REV 10:8 Sau đó cũng nghe tiếng từ thiên đàng phán xuống lần nữa với tôi rằng, “Hãy đến lấy cuộn sách nơi tay của thiên sứ đang đứng trên biển và đất.”
REV 10:9 Tôi liền bước đến xin thiên sứ trao cho tôi cuộn sách nhỏ. Người bảo tôi, “Hãy lấy cuộn sách nầy và ăn đi. Nó sẽ chua trong bụng ngươi nhưng trong miệng ngươi sẽ ngọt như mật.”
REV 10:10 Tôi liền lấy cuộn sách nơi tay thiên sứ và ăn. Trong miệng tôi nó ngọt như mật nhưng sau khi ăn xong bụng tôi thấy chua.
REV 10:11 Rồi người bảo tôi, “Ngươi còn phải nói tiên tri thêm về nhiều dân tộc, quốc gia, ngôn ngữ và về các vua chúa.”
REV 11:1 Tôi được trao cho một thước đo giống cái roi và được dặn, “Hãy đi đo đền thờ của Thượng Đế và bàn thờ, đồng thời đếm số người thờ phụng tại đó.
REV 11:2 Nhưng đừng đo sân ngoài đền thờ. Hãy để yên vì phần ấy đã được giao cho những người không thuộc dân Chúa. Họ sẽ chà đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng.
REV 11:3 Ta sẽ giao quyền lực cho hai nhân chứng. Họ sẽ nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Họ sẽ ăn mặc vải sô để bày tỏ sự buồn thảm.”
REV 11:4 Hai nhân chứng ấy tức là hai cây ô-liu và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của cả thế gian.
REV 11:5 Nếu ai muốn làm hại họ, lửa sẽ ra từ miệng họ giết mọi kẻ thù. Nếu ai muốn hại họ cách nào khác thì cũng sẽ bị giết như thế.
REV 11:6 Hai nhân chứng ấy có quyền ngăn không cho mưa xuống đất trong thời gian họ nói tiên tri. Họ cũng có quyền biến nước ra máu và gây ra đủ thứ khốn khổ trên đất bao nhiêu lần cũng được.
REV 11:7 Sau khi hai nhân chứng làm xong công tác thì một con vật từ hố không đáy lên chiến đấu cùng họ. Con vật sẽ thắng và giết họ.
REV 11:8 Xác của họ sẽ nằm phơi trên phố của thành lớn nơi Chúa bị đóng đinh vào thập tự giá. Thành ấy gọi là Xô-đôm và Ai-cập, mang ý nghĩa thiêng liêng.
REV 11:9 Mọi người từ mọi dân, mọi chi tộc, mọi thứ tiếng, mọi quốc gia sẽ nhìn thấy xác hai nhân chứng ấy trong ba ngày rưỡi vì chúng không cho phép ai chôn cất họ.
REV 11:10 Dân cư trên đất sẽ vui mừng sung sướng vì hai người ấy đã chết. Họ gởi quà biếu lẫn nhau vì hai tiên tri ấy đã gây khốn khổ nhiều cho mọi người trên đất.
REV 11:11 Nhưng sau ba ngày rưỡi, Thượng Đế cho hơi sống vào hai tiên tri trở lại. Họ sẽ đứng lên, mọi người sẽ trông thấy và hốt hoảng.
REV 11:12 Rồi hai tiên tri sẽ nghe tiếng gọi lớn từ thiên đàng rằng, “Hãy lên đây!” Rồi họ sẽ cất lên trời trong đám mây trước mắt các kẻ thù.
REV 11:13 Cùng lúc ấy có cơn động đất dữ dội, một phần mười thành phố sẽ sụp đổ. Bảy ngàn người chết trong cơn động đất, còn những kẻ sống sót rất kinh sợ và dâng vinh hiển cho Thượng Đế trên trời.
REV 11:14 Nạn thứ nhì vừa xong. Xin lưu ý: Nạn thứ ba sắp đến ngay sau đó.
REV 11:15 Khi thiên sứ thứ bảy thổi kèn liền có nhiều tiếng lớn từ thiên đàng kêu lên rằng: “Quyền cai trị thế gian nay thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Cứu Thế của Ngài, Ngài sẽ cai trị đời đời.”
REV 11:16 Rồi hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi trên ngôi trước mặt Thượng Đế, sấp mặt xuống bái lạy Thượng Đế.
REV 11:17 Họ nói: “Lạy Chúa Toàn Năng, chúng tôi tạ ơn Ngài, là Đấng hiện có, trước đã có vì Ngài đã dùng quyền năng lớn lao và bắt đầu cai trị!
REV 11:18 Dân cư trên thế giới nổi giận, nhưng cơn thịnh nộ Ngài đã đến. Tới lúc Ngài xét xử kẻ chết và ban thưởng cho các tôi tớ Ngài là các nhà tiên tri và các dân thánh của Ngài, những người kính sợ Ngài cả lớn lẫn nhỏ. Đã đến lúc hủy diệt những kẻ hủy diệt thế gian!”
REV 11:19 Rồi đền thờ của Thượng Đế trên thiên đàng mở ra. Người ta có thể thấy Rương Giao Ước trong đền thờ, trong đó đựng giao ước của Thượng Đế lập với dân Ngài. Tiếp sau có chớp, sấm vang rầm, động đất và cơn mưa đá lớn.
REV 12:1 Sau đó có một dấu lạ lớn hiện ra trên trời: Một người đàn bà mặc áo bằng mặt trời, có mặt trăng dưới chân, đầu đội mão triều có mười hai ngôi sao.
REV 12:2 Nàng đang mang thai và kêu la đau đẻ vì gần đến giờ sinh nở.
REV 12:3 Rồi có một dấu lạ khác hiện ra trên trời: Một con rồng khổng lồ màu đỏ có bảy đầu, mỗi đầu có bảy mão triều. Con rồng cũng có mười sừng.
REV 12:4 Đuôi nó quét một phần ba ngôi sao trên trời và ném xuống đất. Nó đứng trước mặt người đàn bà sắp sinh nở để chực hễ đứa nhỏ lọt lòng là nuốt sống nó ngay.
REV 12:5 Người đàn bà sinh ra một bé trai, đứa bé đó sẽ cai trị mọi dân tộc với một cây roi sắt. Đứa bé được tiếp lên nơi Thượng Đế và ngôi Ngài.
REV 12:6 Còn người đàn bà thì chạy trốn vào sa mạc, đến một nơi Thượng Đế đã chuẩn bị sẵn để được chăm sóc trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
REV 12:7 Rồi có cuộc tranh chiến trên trời. Mi-chen và các thiên sứ người chiến đấu cùng con rồng, con rồng cùng các thiên sứ nó cũng chống trả lại.
REV 12:8 Nhưng con rồng không thắng nổi cho nên nó và các thiên sứ nó mất chỗ đứng trên thiên đàng.
REV 12:9 Con rồng khổng lồ bị ném ra khỏi thiên đàng. Nó là con rắn đời xưa, tức ma quỉ hay Sa-tăng, chuyên đi lường gạt thế gian. Con rồng cùng các thiên sứ nó bị ném xuống đất.
REV 12:10 Sau đó tôi nghe tiếng vang trên thiên đàng rằng: “Sự cứu rỗi và quyền năng cùng nước của Thượng Đế chúng ta và quyền của Đấng Cứu Thế hiện đã đến. Kẻ tố cáo anh chị em chúng ta, đã tố cáo họ ngày và đêm trước mặt Thượng Đế chúng ta đã bị ném xuống.
REV 12:11 Anh chị em chúng ta đã chiến thắng nó bằng huyết của Chiên Con và bằng lời giảng của họ. Họ đã không coi trọng mạng sống mình vì chẳng sợ chết.
REV 12:12 Cho nên, các từng trời và mọi vật trong đó hãy vui lên! Nhưng khốn cho đất và biển vì ma quỉ đã đến trên ngươi! Nó đầy lòng căm giận vì nó biết nó không còn bao nhiêu thì giờ nữa.”
REV 12:13 Khi con rồng thấy đã bị ném xuống đất nó liền đuổi theo người đàn bà đã sinh bé trai.
REV 12:14 Nhưng người đàn bà được ban cho cặp cánh chim phượng hoàng lớn để bay đến chỗ đã dành sẵn nơi sa mạc. Nơi đó nàng được chăm sóc trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, tránh xa khỏi con rồng.
REV 12:15 Con rồng liền lấy miệng phun nước như sông theo sau để làm nước lụt cuốn người đàn bà đi.
REV 12:16 Nhưng đất giúp người đàn bà bằng cách hả miệng nuốt con sông phun ra từ miệng con rồng.
REV 12:17 Con rồng vô cùng tức giận người đàn bà nên nó đi tranh chiến với con cái nàng—tức những người vâng theo mệnh lệnh của Thượng Đế và giữ lời dạy của Chúa Giê-xu.
REV 12:18 Rồi con rồng đứng trên bờ biển.
REV 13:1 Sau đó tôi thấy một con vật từ biển lên. Nó có mười sừng và bảy đầu, mỗi sừng có một mão triều. Trên mỗi đầu có viết một danh phạm thượng.
REV 13:2 Nó giống như con beo, chân như chân gấu và miệng như miệng sư tử. Con rồng cho nó mọi quyền thế và ngôi.
REV 13:3 Một trong những đầu của con vật trông giống như đã chết vì một vết thương nhưng được chữa lành, cho nên cả thế giới kinh ngạc và đi theo nó.
REV 13:4 Dân chúng thờ lạy con rồng vì con rồng đã cấp quyền phép cho con vật. Họ cũng thờ lạy con vật và nói rằng, “Ai giống như con vật? Ai tranh chiến với nó được?”
REV 13:5 Con vật được phép nói những lời xấc xược và phạm thượng. Nó được dùng quyền lực của nó trong bốn mươi hai tháng.
REV 13:6 Nó dùng miệng nói phạm thượng, phạm đến danh Ngài, nơi Ngài ngự và phạm đến mọi người sống trên thiên đàng.
REV 13:7 Nó lại được cấp cho quyền gây chiến với các thánh đồ và thắng họ. Nó được ban quyền trên mọi chi tộc, mọi dân, mọi thứ tiếng và mọi nước.
REV 13:8 Mọi người trên đất sẽ thờ lạy con vật tức là tất cả những người từ thuở sáng thế mà không có tên trong sách sự sống của Chiên Con. Chiên Con là Đấng đã bị giết.
REV 13:9 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe:
REV 13:10 Nếu số ai phải bị cầm tù thì sẽ bị cầm tù. Nếu số ai phải bị giết bằng gươm thì sẽ bị gươm giết. Như thế có nghĩa là dân thánh Chúa phải nhẫn nhục và có đức tin.
REV 13:11 Rồi tôi thấy một con vật khác từ đất lên. Nó có hai sừng giống như chiên con nhưng tiếng nói giống như con rồng.
REV 13:12 Con lên sau đứng trước mặt con thứ nhất và dùng đủ quyền giống như con trước. Với quyền ấy nó bắt mọi người sống trên đất phải thờ lạy con vật đầu tiên tức con vật có vết thương suýt chết nhưng được lành.
REV 13:13 Con vật thứ nhì còn làm nhiều phép lạ lớn, đến nỗi nó có thể khiến lửa từ trời rơi xuống đất trước mắt mọi người.
REV 13:14 Nó phỉnh gạt dân cư trên đất bằng những phép lạ mà nó được phép làm. Nó dùng phép lạ để phục vụ con vật trước. Con vật thứ nhì còn bắt người ta tạc tượng thờ con vật trước, tức con vật bị thương vì lưỡi gươm giết hại nhưng vùng sống lại.
REV 13:15 Con vật thứ nhì còn có quyền ban sự sống cho tượng của con vật trước để tượng nói được. Tượng ấy còn có quyền ra lệnh giết những người không chịu bái lạy nó.
REV 13:16 Nó còn buộc mọi người lớn nhỏ, giàu nghèo, tự do hay nô lệ phải ghi dấu trên tay mặt và trên trán.
REV 13:17 Không ai có thể mua bán gì nếu không có dấu đó tức tên con vật hay mã số của tên nó.
REV 13:18 Phải cần khôn ngoan để hiểu điều nầy. Người nào khôn ngoan hãy tìm hiểu ý nghĩa con số, tức con số của một người. Số đó là sáu trăm sáu mươi sáu.
REV 14:1 Rồi tôi thấy trước mặt tôi là Chiên Con đang đứng trên núi Xi-ôn. Cùng với Ngài có một trăm bốn mươi bốn ngàn người có ghi tên Ngài và tên cha Ngài nơi trán.
REV 14:2 Liền đó tôi nghe một tiếng lớn từ thiên đàng như tiếng nước lụt và tiếng sấm lớn. Tiếng tôi nghe như người ta chơi đờn cầm.
REV 14:3 Họ hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con vật và các trưởng lão. Không ai biết được bài ca ấy ngoài một trăm bốn mươi bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất.
REV 14:4 Đó là những người chưa bị ô dơ với đàn bà vì họ còn giữ mình tinh sạch. Chiên Con đi đâu thì họ đều đi theo đó. Một trăm bốn mươi bốn ngàn người nầy được chuộc từ dân cư trên đất để làm của lễ dâng lên cho Thượng Đế và Chiên Con.
REV 14:5 Họ chưa hề nói dối; họ hoàn toàn thánh thiện.
REV 14:6 Rồi tôi thấy một thiên sứ khác bay thật cao giữa trời. Người có Tin Mừng đời đời để rao truyền cho dân cư trên đất—cho mọi nước, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi dân.
REV 14:7 Người lớn tiếng kêu lên rằng, “Hãy kính sợ và ca ngợi Thượng Đế vì đã đến giờ Ngài xét xử mọi người. Cho nên hãy thờ lạy Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển cùng các suối nước.”
REV 14:8 Tiếp đó, thiên sứ thứ hai đi theo thiên sứ thứ nhất và kêu lên, “Thành Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, sụp đổ rồi! Nó khiến mọi quốc gia uống rượu thịnh nộ của Thượng Đế nghịch lại tội nhục dục của nó.”
REV 14:9 Rồi thiên sứ thứ ba nhập chung với hai thiên sứ trước, kêu lên, “Người nào thờ lạy con vật và hình tượng nó cùng có dấu của nó nơi trán và nơi tay,
REV 14:10 sẽ phải uống rượu phẫn nộ của Thượng Đế đã được pha rất mạnh trong ly của Ngài. Người ấy sẽ bị khốn khổ trong lửa diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và Chiên Con.
REV 14:11 Khói của sự khốn khổ họ sẽ bốc lên cho đến đời đời. Dù ngày hay đêm sẽ không có lúc nào nghỉ ngơi cho những kẻ thờ con vật, thờ tượng nó hay có ghi dấu của tên nó trên người.”
REV 14:12 Như thế nghĩa là dân thánh của Chúa phải nhẫn nhục. Họ phải vâng mệnh lệnh của Thượng Đế và giữ vững niềm tin nơi Chúa Giê-xu.
REV 14:13 Sau đó tôi nghe tiếng từ trời nói rằng, “Hãy viết đi: Phúc thay cho những người từ nay về sau chết trong Chúa.” Thánh Linh nói, “Phải, họ sẽ nghỉ ngơi khỏi sự vất vả của mình và phần thưởng công khó của họ sẽ luôn luôn theo họ.”
REV 14:14 Sau đó tôi nhìn thì trước mặt tôi có một đám mây trắng, trên mây có ai giống như Con Người đang ngồi. Đầu Ngài đội mão triều thiên vàng, tay Ngài cầm lưỡi liềm bén.
REV 14:15 Có một thiên sứ nữa từ đền thờ đi ra kêu lớn cùng Đấng ngồi trên mây rằng, “Hãy lấy lưỡi liềm của Ngài mà gặt hái đất vì mùa gặt đã đến, trái trên đất đã chín.”
REV 14:16 Đấng ngồi trên mây liền vung lưỡi liềm xuống đất thì cả đất được gặt hái.
REV 14:17 Rồi một thiên sứ khác từ đền thờ trên thiên đàng đi ra, cũng cầm lưỡi liềm bén.
REV 14:18 Một thiên sứ khác nữa có quyền trên lửa, từ bàn thờ đi ra. Thiên sứ nầy gọi thiên sứ có lưỡi liềm bén rằng, “Hãy lấy lưỡi liềm bén của ngươi gặt các chùm nho trên đất vì nho đã chín rồi.”
REV 14:19 Thiên sứ liền vung lưỡi liềm trên đất. Người gom hết nho trên đất và ném vào máy ép nho lớn của cơn thịnh nộ Thượng Đế.
REV 14:20 Nho bị chà đạp trong máy ép bên ngoài thành và máu chảy ra từ máy ép dâng lên đến cổ ngựa dài khoảng ba trăm cây số.
REV 15:1 Sau đó tôi trông thấy một dấu lớn hết sức kỳ lạ trên thiên đàng. Có bảy thiên sứ mang bảy cơn khốn khổ lớn. Đây là những cơn khốn khổ cuối cùng vì sau đó cơn giận của Thượng Đế sẽ nguôi.
REV 15:2 Tôi thấy có cái gì giống như biển thủy tinh trộn với lửa. Tất cả những người chiến thắng con vật và hình tượng nó cùng thắng con số của tên nó đều đứng bên cạnh biển thủy tinh. Họ ôm đờn cầm mà Thượng Đế đã trao cho.
REV 15:3 Họ hát bài ca Mô-se, tôi tớ của Thượng Đế và bài ca Chiên Con như sau: “Ngài làm những việc lớn lao và diệu kỳ, Lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng. Mọi điều Ngài làm đều đúng và chân thật, Lạy Vua của mọi dân tộc.
REV 15:4 Lạy Chúa, mọi người sẽ kính sợ Ngài, và ca ngợi Ngài. Chỉ một mình Ngài là thánh. Mọi dân tộc sẽ đến thờ phụng Ngài, vì những điều phải Ngài làm nay đã phơi bày ra.”
REV 15:5 Sau đó tôi thấy đền thờ tức Lều Giao Ước trên thiên đàng mở ra.
REV 15:6 Bảy thiên sứ mang bảy cơn đại nạn từ đền thờ đi ra. Tất cả đều mặc áo vải gai sạch và sáng, ngực thắt đai vàng.
REV 15:7 Rồi một trong bốn con vật trao cho mỗi thiên sứ một chén vàng đựng đầy cơn thịnh nộ của Thượng Đế là Đấng sống đời đời.
REV 15:8 Đền thờ dầy đặc khói của vinh hiển và quyền năng Thượng Đế. Không ai được vào đền thờ cho đến khi bảy cơn khốn khổ của bảy thiên sứ đã xảy ra xong xuôi.
REV 16:1 Sau đó tôi nghe một tiếng lớn từ đền thờ bảo bảy thiên sứ, “Hãy đi ra trút bảy chén thịnh nộ của Thượng Đế xuống đất.”
REV 16:2 Thiên sứ thứ nhất đi ra trút chén xuống đất liền có ung nhọt ghê tởm trên những người có dấu con vật và thờ lạy hình tượng nó.
REV 16:3 Thiên sứ thứ hai trút chén trên biển thì biển hóa ra như máu người chết, mọi sinh vật trong biển đều chết hết.
REV 16:4 Thiên sứ thứ ba trút chén trên các sông và suối nước thì tất cả liền hóa ra máu.
REV 16:5 Rồi tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng, “Lạy Đấng Thánh, Ngài là Đấng hiện đang có và trước đã có. Ngài rất công bình khi phán quyết những điều nầy.
REV 16:6 Họ đã làm đổ máu của dân thánh và các nhà tiên tri Ngài cho nên nay Ngài cho chúng nó uống máu là phải.”
REV 16:7 Rồi tôi nghe tiếng từ bàn thờ nói rằng, “Phải, lạy Chúa là Thượng Đế Toàn Năng, Ngài trừng phạt những người gian ác như thế là đúng và công bằng.”
REV 16:8 Thiên sứ thứ tư trút chén trên mặt trời thì mặt trời được phép đốt cháy người ta.
REV 16:9 Họ bị sức nóng cháy phỏng nên nguyền rủa Thượng Đế là Đấng có quyền trên các sự khốn khổ ấy. Họ vẫn không chịu ăn năn hối hận để dâng vinh hiển cho Ngài.
REV 16:10 Thiên sứ thứ năm trút chén trên ngôi con vật thì liền có bóng tối bao phủ toàn nước nó. Người ta cắn lưỡi vì đau đớn.
REV 16:11 Họ cũng nguyền rủa Thượng Đế vì đau đớn và ghẻ chốc, nhưng họ vẫn không chịu ăn năn hối hận để quay khỏi điều ác họ làm.
REV 16:12 Thiên sứ thứ sáu trút chén trên sông lớn Ơ-phơ-rát để sông cạn nước đặng chuẩn bị cho các vua từ phương Đông đến.
REV 16:13 Rồi tôi thấy ba ác linh giống như ếch nhái bò ra từ miệng con rồng, miệng con vật và miệng của tiên tri giả.
REV 16:14 Mấy ác linh ấy là tà linh của ma quỉ, có quyền làm phép lạ. Chúng đi ra cùng các vua trên thế gian, tập họp họ lại để chuẩn bị trận chiến trong ngày lớn của Chúa Toàn Năng.
REV 16:15 “Nghe đây! Ta sẽ đến như kẻ trộm! Phúc cho người nào thức tỉnh và mặc áo quần, khỏi trần truồng để mọi người không thấy sự xấu hổ của mình.”
REV 16:16 Rồi các tà linh tập họp các vua tại một nơi mà tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ma-ghê-đôn.
REV 16:17 Thiên sứ thứ bảy trút chén trong không khí liền có tiếng lớn từ ngôi trong đền thờ kêu rằng, “Xong rồi!”
REV 16:18 Liền có chớp, sấm rền trời và động đất dữ dội—cơn động đất lớn chưa từng có kể từ khi con người sống trên đất.
REV 16:19 Thành lớn bị nứt ra làm ba còn các thành phố của các quốc gia đều bị tiêu hủy. Thượng Đế nhớ lại tội lỗi của thành Ba-by-lôn lớn cho nên Ngài bắt nó uống chén đầy rượu thịnh nộ kinh hoàng của Ngài.
REV 16:20 Các hải đảo đều trốn đi, núi cũng biến mất.
REV 16:21 Có những tảng mưa đá khổng lồ, mỗi tảng nặng khoảng 36 kí-lô từ trời rơi xuống trên người ta. Dân chúng nguyền rủa Thượng Đế do nạn mưa đá vì cơn khốn khổ đó quá khủng khiếp.
REV 17:1 Sau đó, một trong bảy thiên sứ đã cầm bảy chén đến nói với tôi, “Hãy đến đây, ta sẽ cho ngươi thấy sự trừng phạt giáng trên con điếm lớn đang ngồi trên nhiều nguồn nước.
REV 17:2 Các vua trên đất đã ăn nằm với nó và các dân trên đất đã say sưa vì rượu dâm dục nó.”
REV 17:3 Rồi thiên sứ nhờ Thánh Linh đưa tôi vào sa mạc. Ở đó tôi thấy một người đàn bà đang cỡi một con vật màu đỏ. Mình mẩy nó ghi toàn những danh hiệu phạm thượng. Nó có bảy đầu và mười sừng.
REV 17:4 Người đàn bà mặc áo tím và đỏ, trên người đeo đầy nữ trang sáng chói bằng vàng, đá quí và ngọc trai. Trong tay nó cầm một chén vàng chứa đầy những điều gian ác và ghê tởm của tội dâm dục nó.
REV 17:5 Trên trán nó ghi một danh hiệu bí mật. Danh đó như sau: ba-by-lôn lớn, mẹ của đĩ điếm và của mọi gian ác trên thế gian
REV 17:6 Tôi thấy người đàn bà đó say huyết của con dân thánh Thượng Đế và của những người bị giết vì xưng nhận niềm tin mình nơi Chúa Giê-xu. Khi nhìn thấy người đàn bà tôi hết sức kinh ngạc.
REV 17:7 Thiên sứ bảo tôi, “Tại sao ngươi ngạc nhiên? Ta sẽ cho ngươi biết về bí mật của người đàn bà nầy cùng con vật mà nó cỡi—con vật có bảy đầu và mười sừng.
REV 17:8 Con vật mà ngươi thấy đang sống trước đây nhưng nay không sống nữa. Ít lâu nữa nó sẽ từ hố không đáy đi lên để rồi bị tiêu diệt. Có những người sống trên đất mà tên không được ghi vào sách sự sống từ thuở trời đất được dựng nên. Họ sẽ kinh ngạc khi thấy con vật vì trước kia nó sống, bây giờ chết, rồi lại sống.
REV 17:9 Ngươi cần có một trí khôn ngoan mới hiểu được điều nầy. Bảy đầu của con vật là bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên.
REV 17:10 Đó cũng là bảy vua. Năm vua đã bị tiêu diệt rồi, một vua còn đang sống và một vua nữa sắp đến. Khi vua ấy đến thì chỉ tồn tại một thời gian ngắn thôi.
REV 17:11 Con vật trước kia sống nhưng bây giờ không còn sống là vua thứ tám. Vua đó thuộc về bảy vua trước nhưng rồi sẽ đi đến chỗ chết mất.
REV 17:12 Mười sừng mà ngươi thấy là mười vua chưa cai trị nhưng họ sẽ nhận được quyền cùng cai trị với con vật trong một tiếng đồng hồ.
REV 17:13 Tất cả mười vua đều có cùng một mục đích, và họ sẽ trao quyền hành cho con vật.
REV 17:14 Họ sẽ gây chiến với Chiên Con nhưng Chiên Con sẽ thắng họ vì Ngài là Chúa các Chúa và Vua các Vua. Ngài cùng các môn đệ trung thành của Ngài là những người được gọi và chọn lựa sẽ chiến thắng họ.”
REV 17:15 Rồi thiên sứ nói với tôi, “Các suối nước mà ngươi thấy, nơi con điếm ngồi là các dân, các chủng tộc, các quốc gia và các thứ tiếng trên thế gian.
REV 17:16 Mười sừng và con vật mà ngươi thấy sẽ ghét con điếm ấy. Chúng nó sẽ lột hết mọi thứ con điếm có khiến nó trần truồng. Chúng nó sẽ ăn xác con điếm và thiêu nó trong lửa.
REV 17:17 Thượng Đế khiến mười sừng thực hiện mục tiêu của Ngài bằng cách cho con vật quyền cai trị đến khi lời Thượng Đế phán được thành sự thật.
REV 17:18 Người đàn bà mà ngươi thấy là thành lớn đã cai trị các vua trên đất.”
REV 18:1 Sau khi chứng kiến những việc ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ thiên đàng đi ra. Người có quyền rất lớn và vinh hiển của người sáng rực khắp đất.
REV 18:2 Người la lớn lên rằng: “Thành Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, sụp đổ rồi! Nó đã trở nên sào huyệt của ác quỉ và ngục thất của tà ma, của mọi loài chim dơ bẩn và của mọi loài vật không sạch.
REV 18:3 Nó đã bị sụp đổ vì mọi dân trên đất đã uống rượu thịnh nộ của Thượng Đế, nghịch lại sự dâm dục của nó. Nó cũng đã bị sụp đổ vì các vua trên đất đã ăn nằm cùng nó, và các lái buôn trên đất đã làm giàu nhờ sự xa hoa của nó.”
REV 18:4 Rồi tôi nghe một tiếng nữa từ thiên đàng phán xuống rằng: “Hỡi dân ta, hãy ra khỏi thành ấy, để khỏi tham gia vào tội lỗi nó, và tránh thảm họa sẽ đổ xuống trên nó.
REV 18:5 Tội lỗi nó đã chồng chất cao đến tận trời, vì Thượng Đế không hề quên tội ác nó đã phạm.
REV 18:6 Xin hãy báo trả cho thành ấy những gì nó đã làm cho kẻ khác. Xin hãy báo trả gấp đôi điều nó làm. Xin hãy pha sẵn rượu cho nó mạnh gấp hai lần rượu nó pha cho kẻ khác.
REV 18:7 Nó đã tự tôn vinh và sống xa hoa. Xin hãy cho nó nhiều khốn khổ và đau buồn. Nó tự nhủ, ‘Ta là nữ hoàng ngự trên ngôi. Ta không phải đàn bà góa. Ta sẽ không biết buồn bã là gì.’
REV 18:8 Nên nội trong một ngày, những thảm họa sau đây sẽ đến trên nó: chết chóc, khóc lóc và đói khổ, nó sẽ bị diệt bằng lửa, vì Chúa là Thượng Đế, Đấng xét xử nó có quyền năng vô cùng.”
REV 18:9 Các vua trên đất là những kẻ đã ăn nằm cùng nó và chia xẻ sự giàu sang nó sẽ thấy khói bốc lên do lửa thiêu đốt nó. Họ sẽ kêu khóc và buồn thảm vì cái chết của nó.
REV 18:10 Họ sẽ hoảng sợ về sự khốn khổ nó cho nên đứng xa và kêu rằng: “Thật khốn cho ngươi, thành lớn và hùng cường Ba-by-lôn ơi, vì chỉ trong một giờ, sự hình phạt đã đến trên ngươi!”
REV 18:11 Các lái buôn trên đất sẽ khóc lóc sầu thảm về nó vì nay không còn ai mua hàng hóa của họ nữa—
REV 18:12 hàng hóa gồm vàng, bạc, nữ trang, ngọc trai, vải gai mịn, vải tím, tơ, vải đỏ; đủ loại gỗ thanh yên và đủ loại đồ làm bằng ngà, gỗ quí, đồng, sắt, và cẩm thạch;
REV 18:13 quế, gia vị, trầm hương, nhũ hương, mộc dược, rượu, dầu ô-liu, bột mịn, lúa mì, gia súc, chiên cừu, ngựa, xe ngựa, tôi mọi và nhân mạng.
REV 18:14 Các lái buôn sẽ nói, “Ba-by-lôn ơi, những gì tốt đẹp mà ngươi ao ước đã bị cất khỏi ngươi. Mọi vật giàu có và sang trọng của ngươi đã biến mất. Ngươi sẽ không bao giờ có được những thứ ấy nữa.”
REV 18:15 Các lái buôn trước kia làm giàu vì bán các món hàng ấy cho nó sẽ sợ hãi vì sự khốn khổ của nó cho nên tránh xa. Họ sẽ khóc lóc buồn thảm
REV 18:16 và thốt lên: “Thật khốn cho thành lớn! Nó đã mặc vải gai mịn, vải tím và đỏ, nó đeo vàng chói lói, cùng bửu thạch và ngọc trai!
REV 18:17 Chỉ trong một giờ tất cả những giàu sang đó bị tiêu diệt!” Các thuyền trưởng, hành khách và thủy thủ cùng những người sinh sống bằng nghề biển đều tránh xa khỏi Ba-by-lôn.
REV 18:18 Khi nhìn thấy khói của thành đó bốc cháy lên, họ khóc lớn, “Chưa hề có thành nào vĩ đại như thành nầy!”
REV 18:19 Họ hất bụi lên đầu, kêu khóc lớn rất thảm não. Họ than, “Thật khốn cho thành lớn! Mọi người có thuyền bè vượt biển đã trở nên giàu có vì sự sung túc của nó! Nhưng chỉ trong một giờ nó bị diệt!
REV 18:20 Hỡi trời hãy vui mừng! Hỡi các con dân thánh của Thượng Đế hãy hớn hở cùng với các sứ đồ và các nhà tiên tri! Thượng Đế đã trừng phạt nó vì những điều nó đã làm cho các ngươi.”
REV 18:21 Rồi một thiên sứ dũng mãnh nhấc một tảng đá lớn, như đá người ta dùng xay lúa và ném xuống biển. Người nói, “Thành lớn Ba-by-lôn cũng bị ném xuống giống như vậy, không ai tìm ra được nó nữa.
REV 18:22 Trong ngươi sẽ không còn ai nghe tiếng đờn cầm, tiếng nhạc khí, tiếng sáo, tiếng kèn nữa. Sẽ không ai tìm được giữa ngươi những tay thợ khéo. Sẽ không còn ai nghe tiếng xay lúa nơi ngươi nữa.
REV 18:23 Sẽ không còn đèn nào chiếu nơi ngươi nữa, cũng không còn ai nghe tiếng dâu rể trong vòng ngươi nữa. Các lái buôn của ngươi trước kia là những người có thế lực trên thế giới và mọi quốc gia bị phỉnh gạt vì phù phép của ngươi.
REV 18:24 Ngươi phải chịu tội về cái chết của các nhà tiên tri và các dân thánh của Chúa, cùng những người đã bị giết trên đất.”
REV 19:1 Sau các việc ấy, tôi nghe như tiếng của rất đông người trên thiên đàng hô lên rằng: “Ha-lê-lu-gia! Sự đắc thắng, vinh hiển và quyền năng thuộc về Thượng Đế,
REV 19:2 vì những sự xét xử của Ngài là chân thật và công bằng. Ngài đã trừng phạt con điếm đã khiến cả đất mang tội ác vì tội nhục dục của nó. Ngài đã báo trả nó về cái chết của các tôi tớ Ngài.”
REV 19:3 Họ lại kêu lên, “Ha-lê-lu-gia! Nó bị thiêu đốt và khói nó bốc lên đời đời.”
REV 19:4 Rồi hai mươi bốn trưởng lão và bốn con vật cúi xuống bái lạy Thượng Đế tức là Đấng ngồi trên ngôi. Họ thưa, “A-men, Ha-lê-lu-gia!”
REV 19:5 Rồi có tiếng từ ngôi nói rằng, “Hãy ca ngợi Thượng Đế, hỡi tất cả những kẻ hầu việc và kính sợ Ngài, cả lớn lẫn nhỏ!”
REV 19:6 Sau đó tôi nghe như tiếng của rất đông người, như tiếng nước lụt và tiếng của sấm rền. Họ đồng nói, “Ha-lê-lu-gia! Thượng Đế là Chúa chúng ta, Đấng Toàn Năng cai trị.
REV 19:7 Chúng ta hãy vui mừng và hớn hở dâng vinh hiển cho Thượng Đế vì lễ cưới Chiên Con đã đến, và nàng dâu của Chiên Con đã sẵn sàng.
REV 19:8 Nàng được cấp cho vải gai mịn, sáng và sạch để mặc.” Vải gai mịn là những việc phước đức của các thánh đồ.
REV 19:9 Rồi thiên sứ ấy nói với tôi, “Hãy viết: Phúc cho người nào được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!” và thiên sứ tiếp, “Đây là những lời chân thật của Thượng Đế.”
REV 19:10 Tôi cúi xuống bái lạy nơi chân thiên sứ nhưng người bảo tôi, “Đừng bái lạy ta! Ta cũng chỉ là tôi tớ như ngươi và là anh chị em cùng nhận sự dạy dỗ chân chính của Chúa Giê-xu. Hãy bái lạy Thượng Đế vì lời Ngài là tinh thần của lời tiên tri.”
REV 19:11 Rồi tôi thấy trời mở ra, trước mặt tôi có con ngựa bạch. Người cỡi ngựa tên là Đấng Trung Tín và Chân Thật. Ngài luôn luôn công bằng khi xét xử và gây chiến.
REV 19:12 Mắt Ngài sáng rực như ngọn lửa, đầu đội nhiều mão triều thiên. Trên người Ngài có ghi một tên, ngoài Ngài ra không ai biết được tên ấy.
REV 19:13 Ngài mặc áo đã nhúng trong huyết và tên Ngài là Lời của Thượng Đế.
REV 19:14 Các đạo quân trên trời đều mặc áo vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch đi theo sau Ngài.
REV 19:15 Từ miệng người cỡi ngựa thò ra lưỡi gươm bén dùng để chiến thắng các dân tộc. Ngài sẽ cai trị họ bằng một cây roi sắt và sẽ ép rượu từ bàn ép rượu thịnh nộ kinh khiếp của Thượng Đế Toàn Năng.
REV 19:16 Trên áo và đùi Ngài có ghi danh hiệu: vua các vua và chúa các chúa
REV 19:17 Sau đó tôi thấy một thiên sứ đứng giữa mặt trời. Người kêu lớn cùng các loài chim đang bay giữa trời rằng, “Hãy đến nhóm lại dự tiệc lớn của Thượng Đế
REV 19:18 để các ngươi ăn thịt các vua, các quan tướng, các người thế lực, ngựa và người cỡi cùng xác của mọi người—từ tự do đến nô lệ, cả lớn lẫn nhỏ.”
REV 19:19 Rồi tôi thấy con vật và các vua trên đất. Các đạo quân chúng nó tập họp lại để tranh chiến cùng người cỡi ngựa và đạo quân Ngài.
REV 19:20 Nhưng con vật bị bắt cùng với tiên tri giả đã làm nhiều phép lạ cho nó. Tiên tri giả đã dùng các phép lạ để phỉnh gạt những người có dấu của con vật và thờ lạy hình tượng nó. Tiên tri giả và con vật bị ném vào lò lửa diêm sinh.
REV 19:21 Các đạo quân chúng nó đều bị giết bằng lưỡi gươm thò ra từ miệng người cỡi ngựa còn tất cả các chim trời ăn xác chúng nó no nê.
REV 20:1 Tôi thấy một thiên sứ từ thiên đàng xuống. Người cầm chìa khóa của hố không đáy và dây xiềng lớn trong tay.
REV 20:2 Người bắt con rồng, tức con rắn xưa, là ma quỉ và Sa-tăng, xiềng nó lại trong một ngàn năm.
REV 20:3 Rồi quăng nó xuống hố không đáy, đóng và khóa hố lại, nhốt nó trong đó. Như thế để nó không còn đi phỉnh gạt dân cư trên đất cho đến hết một ngàn năm. Sau một ngàn năm, nó sẽ được thả ra trong ít lâu.
REV 20:4 Rồi tôi thấy có các ngôi và những người ngồi trên ngôi được quyền xét xử. Tôi thấy linh hồn của những người đã bị giết vì xưng nhận Chúa Giê-xu và truyền bá lời Thượng Đế. Họ chưa bái lạy con vật hay hình tượng nó và chưa nhận dấu của nó trên trán hay trên tay. Họ được sống lại để cai trị với Chúa Cứu Thế trong một ngàn năm.
REV 20:5 Còn những người khác sẽ không sống lại cho đến khi mãn một ngàn năm. Đó là sự sống lại thứ nhất.
REV 20:6 Phúc cho người nào được dự phần trong sự sống lại thứ nhất vì sự chết thứ hai không có quyền gì trên họ. Họ sẽ làm thầy tế lễ cho Thượng Đế, cho Chúa Cứu Thế và sẽ cai trị với Ngài trong một ngàn năm.
REV 20:7 Cuối một ngàn năm thì Sa-tăng sẽ được thả ra khỏi ngục.
REV 20:8 Nó sẽ đi phỉnh dỗ các dân trên đất—dân Góc và dân Ma-góc—để tập họp họ lại chuẩn bị chiến tranh. Chúng nó đông như cát bờ biển.
REV 20:9 Đạo quân của Sa-tăng tràn qua mặt đất và bao vây doanh trại của dân Thượng Đế và thành yêu dấu của Ngài. Nhưng lửa từ trời giáng xuống thiêu đốt chúng nó.
REV 20:10 Còn Sa-tăng là kẻ phỉnh dỗ chúng bị ném vào hồ lửa diêm sinh nơi có con vật và tiên tri giả đã bị ném. Chúng sẽ bị trừng phạt khổ sở ngày đêm cho đến đời đời.
REV 20:11 Rồi tôi thấy một ngai trắng và lớn cùng Đấng ngự trên ngai. Trước mặt Ngài trời đất trốn mất hết.
REV 20:12 Tôi thấy những người chết, cả lớn lẫn nhỏ đều đứng trước ngai. Các sách mở ra, rồi một sách khác là sách sự sống cũng mở ra nữa. Những người chết bị xét xử theo những điều họ đã làm đã được ghi trong các sách.
REV 20:13 Biển đem trả lại những kẻ chết nó chứa, còn Sự Chết và Ha-đe cũng mang trả những kẻ chết chúng chứa. Mỗi người đều bị xét xử theo điều mình làm.
REV 20:14 Rồi Sự Chết và Ha-đe bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
REV 20:15 Người nào không có tên trong sổ sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
REV 21:1 Rồi tôi thấy trời mới và đất mới vì trời và đất thứ nhất đã biến mất, biển cũng không còn.
REV 21:2 Tôi cũng thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới từ thiên đàng của Thượng Đế xuống. Thành ấy được chuẩn bị như cô dâu ăn mặc sẵn sàng chờ chồng mình.
REV 21:3 Rồi tôi nghe một tiếng lớn phát ra từ ngôi rằng, “Bây giờ lều tạm của Thượng Đế ở giữa dân Ngài, Ngài sẽ sống giữa họ còn họ sẽ làm dân Ngài. Chính Ngài sẽ ở giữa họ và làm Thượng Đế của họ.
REV 21:4 Ngài sẽ lau hết nước mắt khỏi mắt họ; sẽ không còn chết chóc, buồn thảm, khóc lóc hay đau đớn nữa vì những việc cũ đã qua rồi.”
REV 21:5 Đấng ngồi trên ngai nói, “Nầy, ta làm mới lại mọi việc!” Rồi Ngài tiếp, “Hãy viết, vì đây là những lời chân thật và đáng tin.”
REV 21:6 Đấng ngồi trên ngai phán cùng tôi, “Xong rồi. Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu cũng là Cuối. Ta sẽ tặng không nước từ suối sự sống cho kẻ nào khát.
REV 21:7 Kẻ nào thắng sẽ nhận được các ân phúc ấy. Ta sẽ làm Thượng Đế của họ, và họ sẽ làm con cái ta.
REV 21:8 Còn những kẻ hèn nhát, kẻ vô tín, kẻ làm ác, kẻ giết người, kẻ dâm dục, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng và kẻ nói dối—chỗ của chúng nó là hồ lửa diêm sinh. Đó là cái chết thứ hai.”
REV 21:9 Rồi một trong bảy thiên sứ trước cầm bảy chén đầy bảy nỗi khốn khổ cuối cùng đến nói với tôi, “Hãy đi với ta, ta sẽ cho ngươi thấy cô dâu là vợ của Chiên Con.”
REV 21:10 Tôi được thiên sứ nhờ quyền năng của Thánh Linh mang đến một hòn núi rất lớn và cao. Người chỉ cho tôi thấy thành thánh Giê-ru-sa-lem từ thiên đàng của Thượng Đế xuống.
REV 21:11 Thành sáng rực do vinh hiển Thượng Đế và chói như bửu ngọc, giống như bích ngọc, trong như pha lê.
REV 21:12 Thành có tường cao lớn với mười hai cửa, mỗi cửa có một thiên sứ đứng gác, trên mỗi cửa có khắc tên của một trong mười hai chi tộc Ít-ra-en.
REV 21:13 Ba cửa hướng Đông, ba cửa hướng Bắc, ba cửa hướng Nam và ba cửa hướng Tây.
REV 21:14 Tường thành xây trên mười hai tảng đá nền và trên các tảng đá có ghi tên mười hai sứ đồ của Chiên Con.
REV 21:15 Vị thiên sứ nói chuyện với tôi cầm một thước đo bằng vàng để đo thành, cổng và tường.
REV 21:16 Thành xây hình vuông, chiều dài và chiều rộng bằng nhau. Thiên sứ lấy thước đi đo thành. Chiều dài của thành là mười hai ngàn ếch-ta-đia, chiều rộng cũng mười hai ngàn ếch-ta-đia, và chiều cao cũng vậy.
REV 21:17 Thiên sứ cũng đo vách thành. Vách cao một trăm bốn mươi bốn bộ, theo thước đo loài người mà thiên sứ dùng.
REV 21:18 Tường làm bằng bích ngọc, thành xây bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt.
REV 21:19 Các nền thì làm bằng đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất làm bằng bích ngọc, nền thứ nhì làm bằng lam bửu thạch, nền thứ ba bằng lục mã não, nền thứ tư bằng lục bửu thạch,
REV 21:20 nền thứ năm bằng hồng ngọc, nền thứ sáu bằng hồng bửu thạch, nền thứ bảy bằng hoàng ngọc, nền thứ tám bằng ngọc thủy thương, nền thứ chín bằng ngọc hồng bích, nền thứ mười bằng ngọc phỉ túy, nền thứ mười một bằng ngọc da cam, nền thử mười hai bằng ngọc tử bửu.
REV 21:21 Mười hai cửa làm bằng mười hai hột ngọc trai khổng lồ, mỗi cửa làm bằng một hột ngọc trai nguyên khối. Đường thì làm toàn bằng vàng ròng, trong vắt như thủy tinh.
REV 21:22 Tôi không thấy một đền thờ nào khác trong thành vì Chúa, Thượng Đế Toàn Năng và Chiên Con là đền thờ của thành.
REV 21:23 Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng chiếu sáng vì vinh hiển của Thượng Đế là ánh sáng cho thành và Chiên Con là đèn của thành.
REV 21:24 Nhờ ánh sáng ấy các dân trên thế giới sẽ bước đi còn các vua trên đất sẽ mang vinh hiển mình vào đó.
REV 21:25 Các cổng thành chẳng bao giờ đóng vì ở đó không còn có đêm nữa.
REV 21:26 Các dân tộc sẽ mang vinh hiển và uy danh vào đó.
REV 21:27 Mọi điều dơ bẩn, các kẻ làm những việc nhơ nhuốc và các kẻ nói dối đều không được vào. Chỉ những người có tên trong sách Chiên Con mới được phép vào thành thôi.
REV 22:1 Rồi thiên sứ chỉ cho tôi thấy sông nước sự sống trong suốt như pha lê chảy ra từ ngôi Thượng Đế và ngôi Chiên Con
REV 22:2 giữa phố thành. Cây sự sống mọc hai bên bờ sông. Mỗi năm ra trái mười hai lần, mỗi tháng một lần. Lá của cây dùng chữa lành cho các dân.
REV 22:3 Những gì bị Thượng Đế nguyền rủa không được phép vào thành. Ngôi của Thượng Đế và của Chiên Con ngự ở đó và các tôi tớ Thượng Đế sẽ thờ phụng Ngài.
REV 22:4 Họ sẽ nhìn mặt Ngài và trán họ ghi tên Ngài.
REV 22:5 Cũng không còn đêm nữa. Họ không cần ánh sáng đèn hay mặt trời vì Thượng Đế là ánh sáng cho họ còn họ sẽ làm vua cai trị đến muôn đời.
REV 22:6 Thiên sứ bảo tôi, “Những lời nầy đáng tin và trung thực.” Chúa là Thượng Đế của các thần linh soi dẫn các nhà tiên tri đã sai thiên sứ Ngài đến báo cho các tôi tớ Ngài những gì sắp xảy đến.
REV 22:7 “Hãy nghe đây! Ta sắp đến rồi! Phúc cho những ai vâng giữ những lời tiên tri trong sách nầy.”
REV 22:8 Tôi, Giăng là người đã nghe và thấy những điều nầy. Khi tôi nghe thấy như vậy, tôi cúi xuống nơi chân thiên sứ là người đã chỉ cho tôi mọi việc nầy để bái lạy.
REV 22:9 Nhưng người bảo tôi, “Đừng thờ lạy ta! Ta cũng chỉ là tôi tớ như ngươi, như các anh em là các nhà tiên tri và những kẻ vâng giữ lời trong sách nầy. Hãy thờ lạy Thượng Đế!”
REV 22:10 Rồi thiên sứ bảo tôi, “Đừng niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy vì những điều ấy sắp đến rồi.
REV 22:11 Người nào làm ác thì cứ tiếp tục làm ác. Người nào dơ dáy thì cứ tiếp tục dơ dáy. Ai làm điều phải cứ tiếp tục làm phải. Kẻ thánh thiện hãy cứ tiếp tục thánh thiện.”
REV 22:12 “Hãy nghe đây! Ta sắp đến rồi! Ta sẽ đem phần thưởng theo và sẽ ban thưởng mỗi người theo điều họ làm.
REV 22:13 Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu Tiên và Cuối Cùng, Khởi Điểm và Kết Thúc.
REV 22:14 Phúc cho kẻ nào giặt áo mình để họ được quyền ăn trái cây sự sống và được phép đi qua cổng vào thành.
REV 22:15 Bên ngoài thành là những loài chó, kẻ làm phù phép, kẻ dâm dục, kẻ giết người, kẻ thờ thần tượng, kẻ thích điều giả trá và kẻ nói dối.
REV 22:16 Ta, Giê-xu đã sai thiên sứ ta cho ngươi biết những điều nầy cho các hội thánh. Ta là dòng dõi của gia đình Đa vít, ta là Sao Mai sáng.”
REV 22:17 Thánh Linh và cô dâu nói, “Hãy đến!” Kẻ nào nghe hãy nói, “Hãy đến! Kẻ nào khát hãy đến; kẻ nào muốn hãy đến nhận nước sự sống như quà biếu không.”
REV 22:18 Tôi cảnh cáo những người nghe lời tiên tri trong sách nầy: Nếu ai thêm vào điều gì trong những lời nầy, Thượng Đế sẽ thêm sự khốn khổ đã ghi trong sách nầy cho người ấy.
REV 22:19 Còn nếu ai bớt điều gì trong sách tiên tri nầy thì Thượng Đế sẽ bớt phần của họ nơi cây sự sống và thành thánh đã được mô tả trong sách nầy.
REV 22:20 Chúa Giê-xu, Đấng xác nhận rằng những lời nầy là chân thật phán, “Phải, ta sắp đến rồi.” A-men. Lạy Chúa Giê-xu xin hãy đến!
REV 22:21 Nguyền xin ân phúc của Chúa Giê-xu ở với mọi người. A-men.
